
HOÀNG NGỌC PHÁCH
TỐ TÂM
(tiểu thuyết tâm lý)
QUYỂN TỐ TÂM RA ĐỜI
Quyển tiểu thuyết TỐ TÂM ra đời cũng là một việc ngẫu nhiên nghĩa là chưa định thời kỳ xuất bản mà xuất bản.Nguyên lúc ông SONG AN còn ở trường Cao Đẳng Sư Phạm, ông thường cùng tôi đàm đạo luận về luân lý giáo dục theo tân học ngày nay. Ông hay đưa tôi xem những điều ông đã sao tập được lúc ông viết quyển tiểu thuyết TỐ TÂM này đưa tôi đọc,tôi cũng phục cái tài trước thuật của ông và biểu đồng tình một vài vấn đề ông phân giải.Tôi khuyên ông đưa đăng vào tập Kỷ yếu của Hội Cao Đẳng Ái Hữu để các bạn cùng phẩm bình,vì trước khi đem in đã có nhiều người xem và cũng đồng ý như tôi vậy.Nhưng tác giả vẫn có ý ngần ngại,một là ông không muốn xuât bản tiểu thuyết như ta thường thấy hàng ngày,hai là ông cho rằng quyển TỐ TÂM ra đời khí sớm quá,lại viết theo lối mới,ta chưa từng xem quen,tất có người hiểu nhầm thì cái hay chưa thấy đâu đã thấy cái dở. Ông xưa nay viết văn thường cẩn thận về những điều đó.Về sau bởi những lời quả quyết của các bạn mà ông thuận đem đăng,nhưng tập Kỷ yếu mấy lâu nay vì có một vài lẽ riêng mà không xuất bản,thành tiểu thuyết đăng dở dang nên phải in thành sách,sợ đọc giả đợi chờ,và những tiểu thuyết về tâm lý như quyển TỐ TÂM này không nên để dở chừng câu chuyện.
Ấy thế là TỐ TÂM ra đời.TỐ TÂM ra đời chắc sẽ có đọc giả tự hỏi rằng người ta viết một quyển tiểu thuyết tất phải có một chút mục đích gì về luân lý,vậy thì tiểu thuyết có liên lạc gì với đạo xử thế,cách làm người và câu chuyện là chuyện thuộc về ái tình,biết đã bổ ích gì cho giáo dục, đang lúc này bạn thiếu niên ta cần đem hết tâm hồn thờ một chủ nghĩa thiêng liêng về tương lai chủng tộc? Ấy đó là điều cần phải giải tỏ cùng đọc giả trước khi xem đến quyển TỐ TÂM này.
Học thuyết ngày nay không phải là học thuyết tín ngưỡng cho những lý thuyết lặp sẵn từ mấy muôn đời để lại cho kẻ hậu sinh,không ai cần xét đế.Học thuyết ấy ông Descartes đã đánh đổ đi từ hơn ba trăm năm nay rồi.Học thuyết bây giờ bất cứ về môn nào cũng phải tìm đến nguyên ủy,phải dùng câu TẠI LÀM SAO,VÌ LẼ GÌ để khảo sát lại những điều mà tự xưa ta vẫn công nhận là “bất dịch”.Vậy thì Luân lý học phải cần đến tâm lý học để xét những điều hành độngnhững trạng thái trong tâm lý loài người liên tiếp với nhau có mạch lạc,có luật pháp để cho nhà luân lý xem xét theo đó mà định phương châm,mà đạt những luật chung cho nhân đạo,cũng như nhà giải phẫu tách bạch những cơ quan của thân thể người để cho các Y gia biết những bộ máy lưu hành mà chữa bệnh.Cho nên xét luân lý mà không biết tâm lý thì cũng như chữa bệnh mà không biết phủ tạng ở đâu.
Vậy thì viết tâm lý tiểu thuyết tức là giải phẫu một câu chuyện đời khuất khúc éo le theo nguốn các luật của tâm lý để đọc giả xem đến tự ngẫm nghĩ vào mình. Đại khái như nguyên nhân kia thì phải có kết quả nọ:tính tình ấy thì phải có hành động này v.v...Cho nên xem tâm lý tiểu thuyết phải nhận kỹ những điều phát động đó,phải trông rõ cái dỡ lẫn với cái hay, ức là những tính tình tương phản xô xát với nhau torng tâm trí con người ta một cách éo le phiền phức.Nếu xem chỉ xem cho biết chuyện thì không bổ ích gì mà có khi thủ hại.Vì không phải là lối tiểu thuyết chỉ rõ cái hay cái dở ra một cách nhất thiết,nghiễm nhiên là một ông thầy truyền phải làm điều này,phải tránh điều kia,mà nhiều khi không nói rõ tại sao mà làm,tại sao mà tránh.Tâm lý tiểu thuyết không phải là lối chuyện chỉ kết cấu ở cái hy vọng báo ứng, ở điều thưởng phạt huyền vi, để dạy người đời bằng cái hoạ phúc về việc lành,hay việc ác.Cho nên các đọc giả không có lòng tín ngưỡng ấy không lấy làm thỏa óc,mà nhiều khi thủ ích gì.Những tiểu thuyết kết cấu như vậy không phải là không hay,xưa nay biết bao nhiêu quyển đã cảm hoá được lòng người nhờ những tấm gương sáng láng trong chuyện,nhưng ta cứ theo mãi một lối tưởng cũng thành sáo cũ lắm rồi,mà lối dạy điều dỡ điều hay bằng cách “truyền lệnh” chỉ mới là một phương tiện luân lý giáo dục mà thôi.
Đọc giả xem quyển TỐ TÂM xin nhớ là một quyển tâm lý tiểu thuyết,không phải là một tấm gương đúc sẵn cho người ta xem.Quyển TỐ TÂM chỉ tách bạch ra những điều éo le phiền phức của một thứ ái tình, ái tình viễn vông khuất khúc,làm cho đôi lứa thiếu niên kia phải lầm lỗi,lầm lỗi mà không tự biết, để đến lụy mình mà phiền cho gia đình xã hội.Lầm lỗi những gì,cái nguyên nhân năng lực kết quả ra làm sao?Tác giả bày tỏ rất rõ.Tác giả đã chịu khó thăm dò ở đáy con sông tình kia mà cắm biển,nhắn cùng những bạn thiếu niên đương lãng vãng trên bờ sông,trong khi cần phải để tâm vào những chủ nghĩa cao xa khác,mấy chữ rằng: ĐÂY LÀ GHỀNH CAO VỰC THẲM ! Âý đó là công tác giả chép lại chuyện,mà chính đó là nơi đọc giả phải lưu tâm.
Còn về phần văn chương tư tưởng trong quyển Tố Tâm này thì cái văn nghiệp của bấy lâu nay tác giả là ông Song An đã đủ giới thiệu cho ông rồi,tôi không phải bình phẩm.
SẦM SƠN juillet 1922
LÊ HỮU PHÚC
MẤY LỜI CỦA NGƯỜI CHÉP CHUYỆN
Nhiều khi anh em ngồi đàm luận về tân học ngày nay,ký giả thường nghe nói đến một bậc thanh niên tân tiến có tính tình,văn chương,tư tưởng,thường hay lạm dụng những tài liệu đó đem ra làm tài liệu cho ái tình,ghẹo lòng người nhi nữ,vội thi hành những ý tưởng trong sách hay,những cảnh mình tưởng tượng ra.Có lúc cố ý mà làm,cũng nhiều khi làm mà không tự biết,miễn là tìm được nơi thí nghiệm ý tưởng của mình mà thôi,nên xảy ra lắm tấn bi kịch,thiệt cho mình mà khổ cho người,quấy rầy đến gia đình,xã hội.
Nguyên do những bức có văn chương tư tưởng như vậy,bên cái hy vọng to lớn về việc công ích,thường vẫn hay mơ màng những cảnh tuyệt vời của ái tình,cố tìm cho được một người cùng mình mà đi tới những cảnh mơ màng ấy,không nghĩ cho rằng phàm những cảnh viễn vông phảng phất tự ta mơ tưởng mà vẽ ra trên đường đời cũng như giọt sương buổi sáng lóng lánh trên ngọc cây,như ánh nắng buổi chiều thướt tha trên đỉnh núi,xa trông thì đẹp lạ thường,nhưng tìm đến tận nơi thì tan đi hết,không còn thấy gì là đẹp nữa.Cho nên lúc hai người nam nữ rũ nhau mơ màng đi tìm những cảnh ấy,chợt gặp một quãng gai góc đầy đường,rẽ nhau lạc lối,hoặc vì lứa đôi trắc trở với người biết trước ,hoặc vì duyên nài phận ép với người đến sau,mà diễn nên bi kịch,bởi một nổi tính tình không hợp với người đến sau đó,hay lòng đã đem gởi đi cho người biết trước kia rồi,không lấy lại được nữa,nên thất vọng ngã lòng, điều đau đớn đưa đến ngay.Thường cứ bảo tại sao tạo hoá lại không cho hưởng hết những cuộc đặt ra để giữ người nhưng lấy lẽ phải mà xét thì phàm việc gì không thường tất không vững.
Nếu người cùng mình đi thi hành điều mơ tưởng đó là một bậc thiếu nữ tầm thường,tính tình thấp hẹp, ý tưởng nhỏ nhen, để vào đâu cũng được,gặp cảnh nào cũng xong,thì cái hại không là mấy,nhưng gặp một hạng thiếu nữ cũng thích văn chương,cũng có tư tưởng, đã xem được vài chục bộ tiểu thuyết tây, đã viết được ít nhiều văn quốc ngữ,tính tình lại rất là đằm thắm,mà thường hay mơ màng những chuyện đâu đâu, ít khi nghĩ đến thực tình thế sự,thì thật là bị một “mũi tên tình ái sát nhân”vì bao nhiêu tinh thần đã bị thu hết,bị thứ văn chương hay tả những tính tình lai láng,bị những ý tưởng lạ bày ra lắm cảnh tuyệt vời,khéo lựa chiều mà dần dần gieo trong lòng người thiếu nữ một thứ tình mài dũa riêng vào một khuôn khổ.
Ta nên biết,khi hai người nam nữ yêu nhau, đem đánh vào tinh thần vẫn đau lâu hơn đánh vào thể chất mà khiến thì cực nồng nàn,nhưng lại chóng tan,mà có thể lấy thể chật nọ thay thể chất kia được,vì thể chất thường giống nhau,tinh thần thì không thể, ảnh hưởng tinh thần vào hành động chậm,nhưng ở lâu dần dần mà thấm vào gan óc khó gỡ ra được,dù có được cũng để vết về sau,suốt đời cứ vơ vẩn bên mình mãi.
Mới đây,ký giả nghe được câu chuyện riêng của bạn vừa kể lại mà bạn lại là vai chính trong chuyện này,chuyện rất hợp với điều quan sát kể trên kia,nên ký giả chép ra đây,có ý muốn bày ra trước mặt bạn thiếu niên,một việc hiển nhiên của tâm tình,liên lạc với nhau,có nguyên nhân,có kết quả.Chuyện tức là một cuộc hành động của các nguồn tâm lý của ái tình,phát hiện ra ngoài rất hợp với nội dung người trong chuyện,vì lúc xét một việc e về tâm lý phát hiện phải xét đến cả điều liên lạc chung quanh, đại khái như giaó dục ấy,tính chất ấy,tinh thần ấy thì phải có hành động ấy v.v...Hành động đã hợp với nguyên nhân thì tất là phải theo vào một luật,mà việc bày ra không thể là việc lạ thường,chỉ là một mối riêng trong một mối khác của tâm lý mà thôi nên ký giả chép ra đây để các bạn thiếu niên xét đoán,có lẽ cũng bổ ích cho những lúc bạn thiếu niên tự xét đoán đến tính tình mình,tư tưởng mình.
Sau nữa,ký giả chép lại chuyện gọi tỏ lòng thương đôi lứa thiếu niên xô nhau vào bể ải,lôi kéo nhau đến nỗi kẻ bị trọng thương,người không cần sống, để đời thiệt mất một người thiếu nữ đã có tính tình đằm thắm biết chịu thiệt mình để khỏi lụy đến người yêu,lại biết thương một bạn gái khác chính là người “kình địch vô tội” của mình là một hạng người ít có.Tính tình ấy dùng vào đâu cũng là bậc trên cả, đem dùng với nhà thì thành con hiếu, đem dùng với nước thì thành tôi ngay, đem dùng vào cảnh vợ chồng đẹp đôi thì thành vợ thuận,vợ thuận tức nhiên là mẹ hiền.Nhưng tiếc thay ! Chỉ vì quá mơ màng những ngoài vòng đời,lỡ lầm vào một cuộc tình ái,nên việc đời chếch lệch mà thành như mây tan,như khói toả,rút lại không được ích gì,cảnh huống ấy bọn thiếu niên nên lưu ý.
Ký giả không có gì thoa vẽ,mà cũng không quen đem đạo đức luận ái tình,ký giả xét là xét cái tình trạng của lòng người,chép là chép cái hành động của tâm lý,còn lý luận luân lý phẩm bình xin để phần dư luận.Ký giả chưa đến tuổi biết sáng tạo ra người trong chuyện,thì chỉ chép lại chuyện là hơn;nếu có bạn nào quá nghiêm mà trách ký giả sao tuổi còn non,người còn trẻ đã vội đem tách bạch những nỗi éo le bí mật của ái tình mà bày cả ra đây thì ký giả xin thưa rằng,nếu những điều quan sát và lý luận kể trên kia là đúng thì lới trách ấy quá nghiêm,nếu mà sai,thì xin biết cho rằng ký giả vì những điều quan sát đó mà chép.
Août 1922
HOÀNG NGỌC PHÁCH
CHƯƠNG 1
Kỳ nghĩ hè vừa đến,anh em bạn học trong trường đại học về nghĩ đã gần hết rồi,chỉ những học sinh mới chiếm bảng hay sắp đi thi còn ở lại.Quang cảnh nhà trường lúc đó có vẻ ủ ê mệt nhọc như người lao động bấy lâu,bây giờ sắp thiu thỉu ngủ,tựa bên gốc cây me,hay dưới bóng cây bàng,tránh ánh nắng chang chang mùa hạ.Trong các buồng mới rồi rộn rịp những tiếng cười đùa,những câu tranh luận,bây giờ đã im phăng phắc như đứng thở hơi,mấy bức tường vôi hình như đương thầm thì với nhau những tính tình và cử chỉ của bạn thiếu niên mới về khỏi.Trong những câu chuyện của bức tường,ta chỉ đoán mà không nghe được,chắc điều hay cũng lắm, điều dở cũng nhiều,nhưng cái dở,cái hay đều có vẻ thú,là cái thú của quãng đời niên thiêu, ở nhà trường.Buổi thanh niên là buổi hăng hái,lúc trong mình khí huyết bừng bừng,tư tưởng đang như ngọn suối xa vời,chưa định,chắc hy vọng phải to,hy vọng to thì cái dở cái hay,trong khi tính dưỡng cho lên đến hy vọng,phải mạnh như nhau cả.
Ký giả có chút việc riêng phải ở lại trường,lúc sang chơi bên buồng những bạn tân khoa ở thì thấy bạn chí thân của ký giả là Lê Thanh Vân,biệt hiệu là Đạm Thủy, đương soạn hòm để vinh quy,ký giả ngồi xem bạn soạn. Áo quần không sắc gì rực rỡ,chỉ toàn là màu trắng với màu đen,những vật cần dùng đến màu thắm thì chỉ thấy màu vàng nhợt và màu da trời,thật có vẻ thanh đạm.Sách vở phần nhiều là thuộc về khoa triết học, đại khái như tâm lý học,luân lý học,như xã hội học của DURKHEIM,sư phạm khoa của FRÖBEL,và COMPAYTÉ v.v...và dễ thường dù mọi tiểu thuyết trữ danh của BOURGET và BARRÈS.
Bạn tôi thích về những khoa ấy mà cũng đã nổi tiếng trong học đường.Hy vọng của bạn tôi muốn đem những khoa ấy mà so sánh và tham bác với lý tưởng Á đông rồi lấy quốc văn mà diễn ra một thứ luân lý sư phạm thích hợp với tính tình người Nam Việt.
Về khoa quốc văn thì Đạm Thủy lại có biệt tài,trong học đường,ngoài xã hội đã có nhiều phen đắc thắng.
Các thư từ giấy má thì rất nhiều, để vào trong những phong bì to,cái thì đề “Những điều trông thấy”,cái thì “Ý tưởng của một bọn thiếu niên”,cái thì “Việc năm 1918”,cái thì “Bóng chim tăm cá”v.v...Lúc bạn tôi soạn đến một cái hộp Nhật Bản có khóa,ngoài đề chữ : “Mấy mảnh di tình” thì mặt bạn tôi có vẻ khác.Tôi giơ tay với lấy cái hộp thì bạn giữ lại mà mĩm cười,nói rằng: đừng xem:cái vẻ cười ấy là cười nhếch mép,cái cười chạy qua nét buồn,làm cho người ngoài trông thấy cũng am hiểu tình trong có sự bi ai.Ký giả liền hỏi có phải câu chuyện ngày trước anh bảo tôi đi xem đám cưới đó phải không?
Đạm Thủy bảo :phải.
Ký giả nói:Vậy thì hay lắm,anh cứ đưa tôi xem,anh đã hẹn tôi mấy lần sẽ cho tôi biết hết.Nay nhân công việc nhà trường đã rỗi mà chuyện cũng đã qua rồi,vậy tiện đây,anh kể tôi nghe,hoặc tôi chung vui hay chia buồn cùng anh một lúc.
Đạm Thủy vừa soạn hòm vừa nói rằng:Tôi đã trót hẹn với anh thì tôi xin kể,vì anh là chổ bạn chí thân,nhưng nói ra ai biết tưởng cũng không làm gì,việc riêng của mình chỉ để mình hay,một mình mình biết,nói cho ai hay không có ích gì,bắt người ta phải ngồi nghe những câu chuyện riêng của mình,tưởng là dở,mà hà tất phải cần cho ai biết đến tâm sự mình.Tức nhiên có ai thấu hiểu mà rỏ cho mình được một giọt nước mắt,thì nước mắt ấy có mát chỉ mát được một lúc,phương chi đời hay lấy cái ngoại diện mà cả gan kết đoán một việc phát nguyên từ trong những từng đáy bí mật của lòng người.
Ký giả nói:Anh nói vậy thì trách đời cũng khi quá nghiêm khắc một chút.Phàm ở đời những điều gì có thể chuyển động được nhiều người vì lòng nhân loại có những giây cảm giác nhau,duy chỉ nhiều, ít khác nhau và cách cảm xúc hơn hay kém, đại khái như người có nghị lực nhiều thì đè được cái nhu cảm mà chôn sâu cái đau đớn của mình,người không có nghị lực thì không đương được nổi đau lòng mà thành âu sầu ủ dột.Vả lại một câu chuyện bất cứ bởi tính bí mật hay bởi cảnh thế éo le mà xây nên, đã hợp những cái hoạt động của đời lại xếp thành ra một tấn kịch có thể lay chuyển được lòng người là người xem đến,tất hữu ích,chỗ hay có ích về hay,mà chỗ dở cũng làm tránh được cái hại.
-Về phương diện nhân tâm thế sự không phải tôi vội trách đời là nguội lạnh quá đâu, ý tô muốn nói rằng,phàm trong lòng người ta có một chuyện đau đớn thì cứ để một mình mình biết mà thôi,không cần phải báo ai hay;ta cứ điềm nhiên mà chịu.Lúc đau đớn mà khóc than bi thảm,mà muốn để kẻ khác phàn nàn cho mình một câu thế là người non nớt.Tôi lấy câu thơ VIGNY tiên sinh rằng: “Khóc than,kêu cầu,khấn vái đèu là hèn”,làm một câu kiệt tác mà giúp sức cho tôi trong lúc bi ai.Vả lại câu chuyện của tôi cũng như chuyện khác,thuộc về các loại “ái tình”mà thôi.
-Phàm chuyện hay phần nhiều chỉ ái tình cả.Kim Vân Kiều,Tây Sương Ký,Trà Hoa Nữ,Lục Vân Tiên,Mai Nương Lệ Cốt v.v...có tiếng là chuyện hay chẳng qua là một pho tình sử,chép nhặt lấy lúc tan lúc hợp,cái vui,cái buồn,cái yêu cái ghét của loài người mà thôi.Nhưng cái yêu ghét,vui buồn đó để vào trong thứ người cao thượng, đặt ở quãng đường đời éo le,nên khiến người xem đến phải lấy làm cảm,làm hay mà phải phục tính tình người trong cuộc.
Đạm Thủy vừa trả lời thì ký giả lại nói tiếp luôn:
-Thôi ta thuyết lý mãi cũng vô ích,anh đã hứa kể cho tôi nghe thì xin anh kể đi,dù về sau anh có phải phàn nàn rằng:ta trót nói thật với bạn ta một câu chuyện riêng thì lời phàn nàn đó tức là lòng tử tế của anh đối với tôi rồi.
-Vâng,anh cứ ngồi xem hết cái hộp này,tôi soạn xong hòm sẽ kể hết cho anh nghe.
Ký giả mở ra xem thấy đầy một hộp thư bỏ vào phong bì trên đề mấy chữ: “Tố Tâm di bút”, ở dưới những phong thư ấy thấy mấy cái khăn thêu,hai chiếc nhẫn vàng,một caí kim vàng đầu đính một đoá hoa lan nhỏ.Còn cái gói giấy khác thì ký giả không mở đến.Lúc ký giả sắp mở thư ra xem, Đạm Thủy đã soạn xong hòm đứng dậy bảo ký giả ra ghế ngoài vườn hoa.Ký giả cầm cả cái hộp đi theo bạn.
Lúc ra ngồi ghế, Đạm Thủy hơi cau mặt,hai mắt dòm thẳng ngang trời rồi khoan thai mà nói rằng:
-“Năm đó...tôi vào học trường Cao đẵng được hơn một năm thì về nghĩ tết Nguyên đán ở nhà quê bên tỉnh B,hôm 28 tháng chạp,xuống một ga kia còn phải đi bộ 13,14 cây số,gặp hôm gió to, đường xấu nên phải xuống xe luôn, áo quần xốc xếch.Lúc đi đến một cái quán kia,mở ví gấy ra biên mấy chữ thì ví đã mất lúc nào rồi,tìm mãi không thấy nhưng biết rằng chỉ mới đánh rơi ở quãng đường này vì lúc xuống ga hãy còn ví.Tôi lấy làm buồn rầu bối rối lắm vì trong ví có nhiều giấy má cần..Kỷ vật quí của tôi không gì bằng mấy tờ giấy và quyển sổ trong ví đó.Lúc đi qua một huyện kia,tôi có vào trình quan huyện;một là để mong có ai lượm được đem trả,hai nữa trong ví nhiều giấy má cần,hình ảnh và danh thiếp,sợ có kẻ lợi dụng đem làm điều phi pháp.Lúc vào công đường,quan huyện tiếp một cách rất nhã.Tôi cũng giữ một lối lễ phép lịch sự của người “vào hầu quan”.Quan huyện hỏi tính danh và chức phẩm thì tôi cũng chưa thật là sinh viên ở ban Văn chương một trường Cao đẵng kia...Ngài có ý lấy làm thích vì nghe đâu ngài là một tay khoa cử giỏi văn chương,trước có học qua giáo ban và ở chân giáo thụ ra tri huyện.Ngài hỏi qua về việc học trong trường Cao đẵng rồi bàn về hán học và quốc văn,về các nhật trình và tạp chí,tôi tiếp chuyện cũng trôi.Ngài có vẻ đắc ý.Ngồi độ nữa giờ,uống nước xong,tôi xin phép ra.Ngài khẩn khoản mà bảo rằng:Thầy cứ ra về,rồi tôi sức cho tổng lý,có ai bắt được ví giấy thì phải đem lên nộp.Nếu tìm được toôi sẽ gởi đến tận trường trả thầy.Tôi cảm ơn rồi ra ra.
Quan huyện ra đến bờ hè thì trở vào,tôi chợt trông qua cửa tò vò nhà công đường thấy ở thềm nha cầu trong tư thất mấy người thiếu nữ, đuôi gà tha thướt, đương xúm nhau lại làm bánh hay bổ cau gì không rõ.Nghe thấy tiếng giầy thì một người ngửng mặt lên nhìn,rồi lại cúi xuống ngay.Tôi nom thoáng hình như đã thấy đâu một vài lần,nhưng lúc đương ngẩn ngơ tiếc cái ví giấy nên không để tâm vào.Lúc lên xe,vẫn ngậm ngùi về cái ví,nhưng còn chút hy vọng là quan huyện sẽ sức cho dân xã,và trogn ví không có mấy đồng tiền chỉ nhiều giấy má thì người nhà quê bắt được tất đem trả.
Ra giêng tôi lên học, đương ngôi trong lớp thâý người “gác” vào nói có người nhà,lúc ra đến cửa chỉ thấy có một thằng bé con không quen mặt đứng đó.Tôi chưa kịp hỏi người “gác” thì thằng bé ấy đã hỏi:Bẩm thầy,thầy có phải là thầy Vân không?
Tôi bảo phải,mày là người nhà ai?Hỏi gì?
-Thưa thầy,cậu con mời thầy ra chơi.
-Cậu nào?
-Bẩm cậu Tân con ở phố X số nhà 58.
Tôi ngạc nhiên không hiểu là ai hỏi vì không quen cậu Tân ở phố ấy bao giờ.Tôi lại hỏi : “Cậu mày hỏi ai?Nó nói:hỏi ông Lê Thanh Vân học trường thầy giáo.
Vậy thì chính là mình rồi,tôi vẫn lưỡng lự lại hỏi rằng cậu mày có viết thư không?Nó nói:Bẩm có một mảnh giấy nhưng con bỏ túi lúc chạy đánh rơi đâu không biết.
-Cậu mày học ở đâu?
-Bẩm học ở trường con Tây gần sở ông Bảy.
-Cậu mày con ai?
-Bẩm con bà con.
-Bà nào?
-Bà lớn án con.
-Bà án nào?
-Bẩm con mới đến ở,con cũng chả biết.
Tôi thấy thằng bé này ngơ ngẩn,hỏi không ăn thua, định để ra xem ai hỏi.Tôi nghĩ vậy rồi bảo nó rằng:
-Sáng mai chủ nhật đúng 8 giờ thì tao sẽ ra,chiều hôm nay không ra được.
Thằng bé về,tôi vào lớp nghĩ mãi không biết ai hỏi chuyện gì,nhưng sắp có giờ học,chỉ mong cho đến sáng mai.Tôi hỏi mấy người bạn cùng ở phố ấy xem nhà 58 là nhà ai,thì hcỉ thấy bọn họ dòm nhau mà cười,tôi ngạc nhiên lắm.Tôi hỏi nhiều bạn cũng hơi hơi thân,thường anh em vẫn gọi đùa là “thổ công thành phố” thì bạn đó cười và nói “58” mà không biết nhà ai à?Hay bác lại hỏi dò tôi đấy?Tôi chợt nhớ đến tiếng “58” thường nghe nói luôn,nhưng tôi không để ý mấy.Thấy bạn có ý cợt mình như vậy,thì không hỏi ai nữa, định chờ đến sáng mai.Sáng chủ nhật quần áo chỉnh tề đi ra. Đến đầu phố X...thì tôi đổ xe xuống, đi bộ dần dần xem số nhà, đến số 58 thì ra nhà ấy là một nhà quen mắt ở phố này,ngoài có bán hàng tấm,trông vào nhà trong thấy câu đối khảm,câu đối thêu,trên bức tường giữa có treo bức hoành sơn son đã cũ, để bốn chữ “Kiều mộc thế thần”. Đồ bày thì cũng tủ chè khảm,ghế bành tàu,nom ra quang cảnh một nhà hưu quan ở thành phố.Tôi tự bảo,hẳn đây là nhà “bà lớn án”nên chỉ hỏi qua ngoài cửa rồi đi thẳng vào nhà? Đến cửa thâý một người thiếu nữ với một cậu bé con ngồi ở trường kỷ để sát tường cùng nhau đương xem một quyển sách gì không biết,thấy tôi đến,cô thiếu nữ chạy vào nhà trong,tôi trông thoáng hình như người mà tôi đã thâý ở huyện nọ,nên nghĩ ngay ra chuyện mất ví hôm xưa.Lúc ấy tôi không được xem rõ mặt là bởi tôi theo lối giao thiệp,vào nhà là tôi không muốn nhìn mặt con gái đàn bà,nhưng lúc nàng cất cái mình manh mảnh đi vào nhà,tay hất cái đuôi gà ra sau vai,và đem mái tóc lại,phô ra hai cái vẻ tương phản ở chỗ đám tóc đen toả trên cái gáy trắng,tôi trông thấy có vẻ yểu điệu của một vị giai nhân.Cảnh tượng ấy làm cho tôi hiểu những vẻ cười của bạn hôm trước.
Cậu bé độ chừng 15,16 tuổi người cũng manh mảnh,mặt trắng da nhỏ,mặc tây phục bằng dạ tím,cổ áo đính hai cành lá bằng kim tuyến nom rõ là cậu bé học “ly-xê”,nhưng đây là một thứ bé con ngoan, ít nói mà lễ phép.
Cậu bé mời tôi ngồi,tôi đoán chắc là cậu Tân,tôi nói rằng:
-Hôm qua có thằng bé vào trường bảo tôi ra chơi cậu hỏi chuyện,chăc& trong giấy cậu có nói rõ,nhưng thằng bé đánh rơi mất giấy,nên tôi vội ra hỏi lại cậu.
Cậu Tân nói:
-Vâng,chú huyện tôi bảo rằng năm ngoái ông đánh rơi ví giấy,vào trình ở huyện chú tôi.Vừa rồi có người lý trưởng đem lên nộp,vậy chú tôi bảo đem trả ông.
Nói xong,mở cái tráp con khảm con để ở bàn lấy ví đưa cho tôi,ví bọc lại và niêm phong cẩn thận,tôi rất làm mừng,nhưng cố điềm nhiên mà cầm lấy,tôi vội gửi lời về cảm tạ quan huyện và cảm công cậu em mang hộ lên đây.Lúc tôi cầm ví xong,cậu Tân mời uống nước,thì thấy một bà cụ ở trên gác xuống,già trạc 48,49 tuổi người đậm đà mà khổ mặt hơi rộng.Tôi đoán là bà Án, nên đứng dậy chào.Bà cụ ngồi xuống một cái ghế bành mở tráp lấy thuốc ra hút,lấy khăn lau hai bên mép,lấy một tý sáp bôi vào môi,nom ra còn quan cách lắm.Bà cụ mời tôi uống nước và hỏi chuyện về quê quán cùng gia thân tôi,tôi nói thật cả thì bà cụ bảo có biết gia quyến tôi.Bà Án lại hỏi việc học,hỏi có quen cậu X, ở cùng phố,cậu V,con quan tuần Lang,cậu C,cháu cụ Thượng Trần v,v...cùng học trường Cao đẳng.Bà cụ nói cả đến việc học cậu Tân và nói cậu bé mới được phần thưởng nhiều,tôi xem chuyện đã khá lâu nên xin về,bà Án nói rằng:
-Thỉnh thoảng thầy ra chơi với em.
Câu nói có giọng đằm thắm,không biết là câu đưa đẩy,hay bởi lòng tốt yêu học trò đi học xa nhà.Lúc đi ra tôi ngó vào một cái bàn con để toàn nhật trình và tạp chí,thấy quyển tiểu thuyết của tôi xuất bản đã xộc xệch rách hết bìa ngoài,hình như đã có người xem nhiều lâu lắm,ra đến cửa cậu bé chào và nói rằng:
-Chúng tôi tuy mới được tiếp ông hôm nay,nhưng vẫn biết tiếng ông,văn thơ của ông chúng tôi thích xem lắm.Nay gặp ông đây lấy làm hân hạnh,thật là không hẹn mà nên,từ đây mong thừa tiếp ông luôn,vậy thứ năm này ông có thư thả mời ông quá bộ ra chơi.
Tôi cảm ơn bắt tay cậu bé tự nghĩ rằng cậu bé này còn ít tuổi mà nói năng gọn gàng văn hoa lắm,không biết nghĩ sẵn hay một câu giao thiệp đã dùng quen.
Chiều thứ năm tôi đi ra đã thấy cậu bé đi xe đạp đến chực ở cửa trường,thấy tôi cậu vội hỏi ngay rằng:
-Hôm nọ tôi quên thưa chuyện với ông rằng chú tôi dặn hễ khi ông nhận được ví thì viết thư cho chú tôi biết và chú tôi sợ bỏ quên thất lạc đi chăng.
Tôi nói:
-Tôi đã viết thư cảm ơn quan lớn rồi.
Hai chúng tôi cùng đi bộ ra đến bờ hồ thì cậu bé ngồi mời tôi lại nhà chơi,tôi có ý ngần ngại vì mới quen mà chơi luôn bất tiện,nhưng xem cậu bé có ý yêu tôi lắm,cách ăn nói chào mời tỏ ra một thứ quyến luyến tự nhiên của trẻ con lúc yêu một người hơn tuổi,tôi nể lời cậu bé mà vào chơi nhà.Lúc đó nhà vắng cả.Ngồi nói chuyện uống nước,cậu Tân đem sách nhà trường cho tôi xem,cậu ấy học khá đà lắm.Xong chuyện học thì cậu đem tôi đi xem tranh vẽ và các bức ảnh treo.Nghe lời bình phẩm,cậu bé hiểu tôi biết chụp ảnh,cậu lên gác mang hòm ảnh xuống cho tôi xem.Lúc cậu Tân lên gác,tôi nhân đứng bên bàn để các báo cầm một quyển tạp chí xem,giở ngay vào trang có văn tôi đăng năm trước,nhiều giòng có nét bút chì gạch đánh dấu.Mở một quyển nữa tôi tìm đến những bài thơ của tôi.Bên bài “Vịnh cảnh Sầm Sơn”có chữ đàn bà viết bằng bút chì,chữ viết nhỏ quá mà dấu tay cầm đã mờ đi chỉ nhìn rõ mấy câu rằng: “Đem non nước ấy vẽ thành bức tranh vân cẩu ngọn bút kia”.Bên bài “Chơi thuyền Hồ Tây”thấy mấy chữ phê “lai láng văn như sóng mấy từng”còn ở những bài khác của tôi cũng có chữ đề nhưng không trông rõ.Tôi đương cố ý nhìn kỹ thì cậu Tân mang hòm ảnh xuống,mở cho tôi xem,tôi giảng cho cậu em nghe các hạng ống kính và mỹ thuật trong cách làm ảnh,cậu Tân lấy làm thích lắm,vì cậu chỉ thích chơi ảnh và đàn “Vi-ô-long” (violon).
Đương nói chuyện thì người thiếu nữ đi ra,thọat có dáng e lệ nhưng lại giữ ngay vẻ tự nhiên như không,không phải như một vài hạng thiếu nữ khác,hễ thấy người lạ,nhất là thấy bạn tu my thì đỏ má,cau mày,luống cuống,ngoảnh mặt đi tỏ ra là ta đình ý không nhìn,cái vẻ không tự nhiên ấy dù mình làm ra nghiêm chỉnh thế nào cũng tỏ rằng người lạ đứng trước mặt mình đó làm động đến cảm giác của mình,thế có phải là không muốn phô tính tình của mình ra mà thành người ta biết, ấy cũng là một chỗ yếu của lòng nữ nhi.Tôi nom khuôn mặt người thiếu nữ với cậu Tân thì biết ngay là chị em ruột cùng một nước da rất nhỏ,cùng một khuôn mặt trái xoan,nhưng ở người chị là nữ nhi nên tay thợ tạo có sắc sảo mà dịu dàng hơn một chút:cái đường mũi hơi cao cao mà nhỏ thẳng xuống cái miệng xinh xinh,viền hai đường môi mỏng mà thăm thắm,tạo ra cái vẻ mặt rất thanh tao tinh xảo,nhưng trên cái khuôn mặt mơn mởn tơ đào đó có một vẻ buồn cao xa kín đáo bởi ở nơi con mắt trong mà lại lờ đờ,tức là thứ mắt của người có tư tưởng mà hay mơ màng những chuyện viễn vông.Cái khuôn mặt thiên nhiên đó để trên một tấm thân thanh mảnh cao làm cho tôi bấy giờ mới trông thấy thứ đẹp thanh tú tĩnh mặc có cái vẻ thiêng liêng.
Lạ cho nhan sắc ở đời có thứ đẹp nồng nàn làm cho người ta ham muốn,có thứ thanh đạm làm cho người ta kính yêu như một bức nữ thần treo ở các nhà đạo giáo.
Người thiếu nữ ra ngoài cửa hàng một lúc rồi lại vào nhà trong,một lúc lại ra soạn trong tủ chè lấy bao chè mới đưa cho thằng nhỏ.
Tôi vẫn ngồi điềm nhiên nói chuyện với cậu bé,chuyện lân la mà biết được nhà chỉ có ba người,bà cụ,cô chị và cậu em.
Lúc tôi ở đó ra về,lại nhà người bạn cùng ở một phố,hỏi dò mới biết là nhà quan Án Nguyễn T,ngài mất về bệnh thổ huyết đã năm năm nay,ngài được hai người con,một gái,một trai,người con gái năm nay 20 tuổi gọi là cô Lan hay là Nguyễn thị Xuân Lan,tức là người thiếu nữ tôi nói chuyện,người con trai còn bé tức là cậu Tân,học lớp ba trường “Ly-xê”.
Cô Lan là con gái đẹp nhất phố,có tiếng là người văn hoa,mà lại giỏi thêu thùa,bánh trái,nhưng phải tính hơi kiêu một chút,cách cư xử, ăn nói,tiếp đãi thì rất lễ phép dịu dàng nhưng vẫn ngụ một cái ý ngạo đời.Cô ta lúc bé học chữ nHo; đến 15 tuổi,lúc quan Án mất,bà Án về Hà Nội,cô Lan đi học chữ Tây,lấy được bằng Sơ học thì ở nhà buôn bán.
Từ lúc bà Án về Hà Nội,chung vốn buôn tơ lụa,gia tư cũng khá,có nhà phố,có ruộng ở quê,một ấp độ chừng vài trăm mẫu,nhưng bà khí vô tâm một chút mà cũng nản việc đời,nhà cửa ít khi trông nom,giao cả cho cô Lan coi sóc;còn bà lúc chùa Hương,khi đền Kếp,thỉnh thoảng lại thưởng mấy cuộc tổ tôm mà tiêu dao cùng tuế nguyệt vì bà hay đau yếu luôn.Quan Án còn có một người em đương làm Tru huyện ở tỉnh B (tức là quan Huyện tôi đến trình mất ví ngày nọ).Cô Lan cậu Tân thường hay sang chơi bên Huyện.Nhà Quan Án cũng thịnh nên hai người con thông minh mà tính nết hiền hậu cả.
Từ đó trở đi,chủ nhật,thứ năm nào tôi cũng đến chơi nhà cậu Tân,một là vì cái ơn trả ví,hai là bởi lòng cậu bé rất quyến luyến tôi,thường cứ đem hòm ảnh bắt tôi đi chụp các chổ thắng cảnh ở hương thôn,ba là lòng tự nhiên cứ thích đến đó,hễ chủ nhật nào không đến là lòng không yên,mà những lúc đi ra chơi,thế nào cũng phải đi qua cửa một lượt.Tôi đến lắm thành thân,lúc rửa ảnh,lúc hòa đàn,lúc giảng sách,chả mấy chốc mà thành ra một ông giáo dạy tư.
Bà Án thấy thế vui lòng lắm mà rất quí tôi,tôi nói đến đây chắc anh mím cười mà hỏi rằng:
-Thế thì cô Lan ra làm sao? Vâng,cô Lan,cô Lan tôi xin kể nốt anh nghe,bây giờ mới đến giờ thú tội,giờ đau đớn của tôi đây.
Khi tôi đã quen biết nhà bà Án như vậy thì cô Lan cũng lấy chuyện tôi đến chơi là thường mà cũng coi tôi như mtộ người anh hay người bạn,thường vẫn ra ngồi tiếp chuyện tôi luôn,rất thích nghe tôi thuyết lý và bình phẩm văn chương,vì cô Lan thích quốc văn lắm.Những văn thơ nàng làm thường đem cho tôi xem và nhờ tôi chỉnh đốn lại.
Bao nhiêu những tản văn,vận văn của tôi nàng cũng mượn xem không sót quyển nào.
Thơ của nàng còn non nhưng cũng có câu được,tôi còn nhớ mấy câu tôi đọc anh nghe,anh có thể hiểu qua được hồn thơ và tính tình của nàng.
Thơ tả tình có câu:
Phận liễu dám nguôi lòng sớm tối
Tơ đào riêng thẹn mặt non sông
Thơ đề ảnh:(ngồi xem sách)
Tựa mình bên án xem người cổ
Ẩn bóng trong gương ngẫm chuyện đời
Bài cảm tác có câu rằng:
Trên đời nào biết ai tri kỹ?
Chung thủy bên mình chiếc bóng theo
Tả cảnh có câu:
Áo tà tha thướt gác non tây
Phơn phớt mầu đào nhuộm áng mây
Thẳng cánh đàn chim bay nhaó nhác
Cỏ về quê nội bảo ai hay
Giữa dòng nước chảy mong mênh
Bên Sườn núi biếc treo tranh ác tà
Cánh bèo,tầu lá, đài hoa
Chảy theo dòng đục biết là đi đâu?
Giang sơn ai nhuộm vẻ sầu
Con sông chảy thằng nhịp cầu bắt ngang
Chiều chiều đứng tựa gốc cây
Trông chim bay liệng trông mây lưng trời
Trông xa,xa tít ,xa vời
Những non cùng nước,những đồi cùng cây
Mấy bài tả cảnh này nàng viết lúc quan Án làm quan ở tỉnh thượng du,nàng ở lâu chỗ “xa nhân công,gần tạo vật”,trừ những lúc chơi đùa với chị em trong nhà,cả ngày chỉ “những non cùng nước,những đồi cùng cây”mà vơ vẩn ngắm “mây bay chim liệng”,người đã thiên về tình cảm,lại để vào chỗ phong cảnh đìu hiu,thành ra tinh thần cũng phản phất mơ màng như đám mây xanh lơ lửng giữa trời,như ánh vàng tha thướt đầu non vậy.Hoàn cảnh ấy không khỏi có ảnh hưởng về tính tình nàng sau này.Và những người sinh trưởng ở cao sơn lưu thủy,thường hay có những cãm giác viễn vông. Điều đó xét trong lịch sử với địa dư không phải là việc lạ.
Những bài thơ của nàng đại khái cũng thế cả,nhưng giọng còn bi ai hơn nhiều.
Văn chương đàn bà ta bây giờ phần nhiều thuộc về lối rất bi ai,réo rắc,bởi nhu cảm thái đa,thành tinh thần nhược bại,nên lúc hạ ngọn bút viết là thỏa giọng sầu,tự trong lòng mà ra cũng sớm mà chịu ảnh hưởng ở ngoài phần nhiều.Tôi xem như tính tính cô Lan về sau này,tôi biết đàn bà hay chịu ảnh hưởng nhiều lắm.
Tôi hỏi nàng tập làm văn từ bao giờ và làm thế nào thì nàng nói rằng nàng vẫn sở thích quốc văn từ bé;nhưng không có ai dạy cả,theo hùa chị em bạn,nàng chỉ xem các tạp chí và các sách xuất bản,thâý câu nào hay thì chép vào một quyển sổ con,nàng đọc luôn đến thuộc lòng bao giờ cái giọng văn cũng phảng phất bên tai.Nhưgn cái hay của nàng là cái giọng thơ nỉ non réo rắc,giọng càng buông bao nhiêu thì càng thích bấy nhiêu.Nàng ít thích về ý mà lắm khi cũng không hểu ý nữa,thế rồi nàng cứ góp nhặt những câu làm sẵn,như “liễu ủ hoa sầu”, “năm canh giọt lệ”v,v...Chắp bốn chữ làm sẵn đoạn trên,ba chữ thêm làm dưới,thành câu thơ của mình,cho nên cảnh mùa hè mà cũng “tuyết phủ mây mờ”,những bài thơ nàng làm ra như vậy đọc lên nàng nghe lấy làm thích lắm,mà giọng đó cứ vơ vẩn luôn trong óc,hễ trong lòng có một tí gì hơi buồn đem ngâm lên tự thấy tinh thần có một thứ cảm giác phảng phất bát ngát vô cùng.Về sau,lúc các báo công kích thứ văn “bi ai vô nghĩa” thì nàng bỏ lối thơ này.
Nhân lại được ông cậu giỏi quốc văn dạy nàng viết văn luận thuyết và làm lối thơ chuộng ý hơn tứ,bắt nàng tự đặt câu,tự nghĩ ấy tứ,mà hết sức tránh những sáo cũ.Từ độ ấy thì nàng viết lối văn này,nhưng lối cũ đã tiêm nhiễm từ xưa nên còn vướng lại.
Tôi thấy nàng có ý thích văn luận thuyết nên thường tôi hay đem những ý tưởng tân học mà giảng cho nàng nghe,nàng cũng hiểu.Tư chất nàng rất tốt mà ý tưởng cũng cao.
Một hôm tôi bảo nàng cắt nghĩa câu: “Đàn bà sở dĩ qúi là tại vì đàn bà là đàn bà” để xem lối quắt quéo này nàng có hiểu không.Nàng không phải suy nghĩ,trả lời gọn gàng rằng:
-Người ta sở dĩ quí đàn bà là bởi từ tâm,bởi những vẻ yểu điệu dịu dàng của hoá công ban riêng cho bên phụ nữ.
Nhiều khi tôi hỏi nàng một vài ý kiến về tâm lý và luân lý,có lắm câu trả lời tôi lấy làm ngạc nhiên nên nàng giúp tôi được nhiều điều trong việc quan sát về tính tình và giaó dục phụ nữ.
Từ đó,tôi với nàng thường hay đàm luận về văn chương,thế sự.
Nàng nhờ tôi đặt hộ hai chữ biệt hiệu để khi ký tên cho tiện.Nhân tên nàng là Lan?tôi đặt hai chữ “Tố Tâm”nàng lấy làm vui mừng lắm.
Tôi xem chừng nàng quyến luyến tôi lắm, đã có khi nói đến việc nhà.Nàng thấy cậu em gọi tôi bằng anh thì nàng cũng gọi vậy,nên tôi gọi nàng bằng em cho tiện.Hai bên tuy không nói ra mà định nhận là anh em,lấy tình bè bạn ra mà đối đãi.
(hết chương một)
