📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Kinh nghiệm sống

Nạn đói năm Ất Dậu

3 trả lời, 453 lượt xem — Trang 1 / 1
Nạn Đói Năm Ất Dậu 60 Năm Về Trước[/align]Ngày 13/03/2005 [/align]

Sáu mươi năm đã trôi qua kể từ nạn đói khủng khiếp của năm Ất Dậu (1945) ấy mà bây giờ nhắc lại nhiều người trong cuộc vẫn còn bàng hoàng khiếp đảm.
 
 Những người miền Bắc đã kinh qua nạn đói ấy bây giờ có người vẫn còn sống và họ là những chứng nhân cho biến cố bi thảm này. Trong số đó, có những người đang tiếp tục làm kiếp tha hương trên đất lạ; nhưng mùa Xuân đói kém của năm Ất Dậu năm xưa ấy vẫn là nỗi ám ảnh bi thảm khó xóa nhòa trong tâm khảm dù đã 60 năm chuyển dịch của trời đất và dù họ cùng gia đình con cháu ngày nay đang có cuộc sống vật chất quá no đủ ở xứ người.
 
 Vậy nguyên do nào đưa tới nạn đói bi thảm của năm Ất Dậu (1945) cách 60 năm về trước? Trở lại bối cảnh chính trị của đất nước ta vào những năm cuối của cuộc đệ nhị thế chiến để truy tìm nguyên nhân của thảm trạng này.
 
1. Quân Nhật kiểm soát Đông Dương: Trong khi quân Đức quốc xã tiến chiếm kinh đô Paris của Pháp (14/06/1940) thì quân Nhật ở Á Châu cũng đã tiến chiếm vùng Quảng Đông của Trung Hoa. Với thắng lợi này của phe Trục (gồm Đức, Ý, Nhật), Nhật đã gởi tối hậu thư ngày 18/06/1940 cho Toàn Quyền Catroux đòi kiểm soát hai đường xe lửa Hải Phòng-Vân Nam và Hà Nội-Lạng Sơn để ngăn không cho Pháp vận tải, tiếp tế xăng dầu, vũ khí cho quân đội của Tưởng Giới Thạch. Toàn quyền Catroux phải nhượng bộ và sau đó đã bị Đô Đốc Decoux, tư lệnh hải quân Pháp ở Viễn Đông lúc bấy giờ lên thay thế. Với hiệp ước ký ngày 30/08/1940 tại Tokyo giữa Pháp và Nhật thì uy quyền của Pháp ở Đông Dương bắt đầu sút giảm, và ảnh hưởng của Nhật ngày càng lấn lướt. Và với hiệp ước 08/12/1941 (sau khi oanh tạc Trân Châu Cảng), Nhật đã ép chính phủ Pétain của Pháp đi đến nhiều nhượng bộ về quân sự và quân đội Nhật được quyền đóng quân từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu với quân số buổi đầu từ 6.000 người nay tăng thành 35.000 người (Lữ Giang, "Những bí ẩn lịch sử đằng sau cuộc chiến Việt Nam", California, Hoa Kỳ, 1998, tr.159).
 
Và đặc biệt, Nhật lại có một vị Đại Sứ, ông Yoshizawa, bên cạnh Toàn quyền Đông Dương, điều từ trước đến nay chưa bao giờ có. Như vậy tình thế Đông Dương cho đến khi Nhật đầu hàng (15/08/1945), ngoài ông chủ cũ là người Pháp, nay thêm một ông chủ mới cao hơn là người Nhật. Dân Việt bây giờ lại sống trong cảnh "một cổ hai tròng".
 
2.Bối cảnh kinh tế trước khi nạn đói xảy ra: Ngày 06/05/1941, Pháp lại phải ký với Nhật về một thỏa ước thương mại trong đó có hai khoản chính yếu sau:

  Người Nhật và các công ty Nhật được làm một số nghề, được khai thác hầm mỏ, đất đai, được kinh doanh về thủy điện...
  Các hàng hóa nhập cảng vào Đông Dương được hưởng quy chế tối huệ quốc (most favored nation), một số mặt hàng được hưởng hối suất nhẹ.
 
 Theo thỏa ước này, Việt Nam bị ép buộc phải sản xuất một số mặt hàng theo yêu cầu của Nhật để đổi lấy hàng kỹ nghệ của họ. Việt Nam buộc phải cung cấp cho quân đội Nhật Bản đồn trú trên lãnh thổ của mình một số lượng gạo khổng lồ được ấn đinh: 700.000 tấn năm 1941, 1 triệu 50 ngàn tấn năm 1942, 950.000 tấn năm 1943 và 900.000 tấn năm 1944 (Lữ Giang, sđd, tr.158).
 
Một mặt họ đời hỏi cung ứng một lượng gạo lớn lao hàng năm như thế, mặt khác họ lại buộc phải phá bỏ đất trồng lúa, trồng bắp để trồng đay, trồng gai phục v ụ cho nhu cầu chiến tranh của họ. Đây là một trong số những yếu tố dẫn đến nạn đói năm Ất Dậu (1945) khởi đi từ mùa Đông 1944 đến tháng 5/1945.
 
 Năm 1944, vì bị áp lực của Nhật, chính quyền Pháp tại Đông Dương đã ép giá nông dân Việt, chỉ trả 25 đồng cho một tạ lúa trong khi giá thị trường trước đây là 200 đồng và giá vốn là 80 đồng. Tạp chí Thanh Nghị số ra ngày 26/02/1944 có kể lại tình cảnh bi thảm của dân quê Bác Kỳ lúc bấy giờ:"Ở Trung Châu Bắc Kỳ, dân nghèo năm thì mười họa mới được ăn một miếng thịt, cả đến giai cấp trung lưu, trung bình 20 gr một ngày, (trong khi) theo viện Pasteur thì phải cần có 55 gr thịt một ngày (mới đủ). Dân ở nông thôn đại đa số là bần nông thì chỉ dùng những dụng cụ bằng gỗ, rất ít có dụng cụ cơ khí, ngoài ra không có vốn liếng gì cả. Ở Bắc Kỳ từ tháng 4 đến tháng 10, nông dân chỉ còn được 10% hoa lợi. Nông dân đói ăn, mặc rét, kệ thây, thuế đã". (dẫn lại trong Cao Thế Dung, "Việt Nam huyết lệ sử", Hoa Kỳ, nxb Đồng Hướng, 1996, tr. 719) Khi Nhật chưa đến Đông Dương, Việt Nam chỉ đóng có 44.308.000 đồng thuế năm 1939 đến năm 1944, tiền thuế tăng hơn gấp đôi (98.072.000 đồng).
 
 Dưới áp lực của người Nhật, chính quyền Pháp tại Đông Dương ép dân Việt phải bán 3/4 số thóc thu hoạch được, nhiều trường hợp không đủ số thóc quy định, người dân phải mua ngoài bù vào với giá 200 đồng một tạ. Dân sống trong cảnh một cổ hai tròng ( Pháp - Nhật), nên đời sống ngày càng khốn đốn, sản xuất gặp những năm mất mùa, không đủ ăn, lại đóng thuế quá cao nên người dân không còn gì để ăn cả. Trong "Việt Nam: A long History" xuất bản tại Hà Nội, 1987, Ông Nguyễn Khắc Viện cũng đã đề cập đến sự tàn tệ của người Nhật khi thúc ép chính quyền Pháp ở Đông Giương cung ứng chi phí chiến tranh cho họ, ngoài sự tận thu thóc lúa và bóc lột đến tận xương tủy của người dân khốn khổ.
 
Để cung ứng chi phí chiến tranh cho quân đội Nhật, chính quyền Pháp tại Đông Dương đã phải ấn hành số tiền tệ cần thiết lên đến 723 triệu đồng (cho tới năm 1943), gấp 7 lần ngân sách Đông Dương của năm 1939 và đến 1944 lên đến 1 tỉ 52 triệu đồng. Vì vậy vật giá tăngcao chưa từng thấy trước đó. Dân nghèo nông thôn gánh đủ hậu quả này. Gánh nặng lớn lao nhất vẫn là cung cấp gạo. Ngay ở vùng Bắc Bộ, nơi đang thiếu ăn trầm trọng, thế mà đã phải cung cấp cho Nhật 130.205 tấn (1943) và 186.130 tấn (1944). Bất kể vụ mùa tốt hay xấu, dân quê cũng phải đóng số lượng gạo đã được phân bổ theo đất trồng trọt với giá 19 đồng cho một tạ lúa; trong trường hợp mất mùa, người dân đã phải mua gạo, theo giá thị trường đến gấp ba (54 đồng cho một tạ gạo) (Nguyễn Khắc Viện, sđđ, tr 241). Người nông dân đã không thể nào kiếm đủ ăn cho bản thân chứ chưa nói là cho gia đình. Chính sách tận thu nông sản nghiệt ngã này đã đẩy người dân vào nạn đói không thể nào tránh khỏi.
 
Để phục vụ cho nhu cầu chiến tranh, Nhật đã bắt nông dân phá bỏ ruộng lúa để trồng đay trên một số diện tích rất lớn. Năm 1944, khi người Mỹ ném bom ngan cản việc chuyên chở than đá về Sài Gòn, người Pháp và Nhật đã cho lệnh sử dụng gạo và bắp (ngô) như là nguyên liệu để chạy máy. Họ tận thu thóc, ngô cho mục tiêu này. Đây lại là lý do nữa dẫn tới nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu (gạo ở miền Nam không chở ra Bắc được vì không có nhiên liệu để vận chuyển xe cộ, tàu bè...) Trong khi các dấu hiệu đói kém đã dần dần hiện rõ, thì năm 1941, Nhật đòi 700.000 tấn gạo, Pháp chỉ cung cấp được 585.000 tấn. Năm 1942, Nhật đòi 1 triệu 74 ngàn tấn, nhưng Đông Dương chỉ cung cấp được 973.908 tấn. Năm 1943, Nhật đòi 1 triệu 125 ngàn 904 tấn, Pháp chỉ nộp được 1 triệu 23 ngàn 471 tấn. Năm 1944, dù mất mùa nặng, ngũ cốc khan hiếm, Nhật vẫn đòi 900.000 tấn, Pháp chỉ cung cấp được gần 500 ngàn tấn mà thôi. (J.Gauthier, " L’Indochine au travail dans la Paix Francaise", Paris, 1947, tr. 283). Ngoài gạo ra, Nhật đòi cung cấp thêm bắp (ngô) để nuôi ngựa. Năm 1942, Pháp phải cung cấp 124.923 tấn ngô. Năm 1943, cấp thêm 98.700 tấn. Năm 1944 vì số ruộng trồng gnô bị phá nhiều nên chỉ cung cấp được cho Nhật 18.263 tấn, và đầu 1945 là 12.134 tấn. (Annuaire statistique de l’ Indochine, 1939 - 1946, tr. 166, được dẫn alị trong Cao Thế Dung, sđd, tr.728). 3.Nạn đói năm Ất Dậu (1945) xảy ra: Nghiêm Xuân Yêm đã viết:"Cảnh nghèo ở thôn quê" đăng trong tạp chí Thanh Nghị số 47 ra ngày 16/10/1943:"Những năm bình thường, dân nghèo đói quanh năm, một ngày chỉ một bữa cơm độn khoai, (con một bữa cháo). Hết việc ruộng đi làm mướn thất thường, quanh năm công nợ, nai lưng gỡ nợ, gỡ nợ rồi lại mắc". Giáo sư Cao Thế Dung dẫn lại tài liệu của Decoux, "A la Barre de l’Indochine" kể rằng: "Nạn đói Ất Dậu bắt đầu vào mùa Đông 1944 kéo dài cho đến tháng 5/1945".
 
Ở Trung Châu Bắc Việt, gà vịt lợn biến mất, dần dần biến mất cả chó, có những xóm không còn một con vật nào. Các tiểu nông đi đến chỗ tuyệt vọng. Ruộng nương trâu bò phải bán đứt hay bán đợ. Lúa phải bán non, đồ đặc phải cấm cố. Làng Thượng Cẩm, phủ Thái Ninh, Thái Bình có 900 suất đinh vào năm 1944, ngày 27/05/1945 chết hết còn 400. Nam phụ lão ấu trong làng Thượng Cẩm Thái Bình là 4000 người chết đi còn lại 2000 người (CTD, sđd, tr.722). Một tác giả người Pháp đã kể lại trong "Témoignages et documents francais relatifs a la Colonisation francaise au Vietnam" cái cảnh tượng thê thảm của nạn đói năm Ất Dậu đó như sau:"Họ đi thành rặng dài bất tận...toàn thân lõa lồ, gầy guộc, trơ xương ra, run rẩy...Thỉnh thoảng, họ dừng lại để vuốt mắt cho một người trong bọn họ ngả xuống và không bao giờ thức dậy được nữa..."
 
 Nhìn những hình người xấu hơn con vật xấu nhất, nhìn thấy những xác chết co quắp cạnh đường chỉ có một vài nhánh rơm vừa làm quần áo, vừa làm vải liệm, người ta thật lấy làm xấu hổ cho cái kiếp con người" (CTD, sđd, tr.723) Sau Tết Ất Dậu (1945), khoảng tháng 3, nạn đói ngày càng gia tăng và con số người chết có lúc lên cả hai vạn người một ngày. Trong lúc đó lừa ngựa của Nhật vẫn được nuôi ăn đầy đủ bằng bắp và gạo thu được từ trước và được chất đầy trong các kho lương thực dọc theo quốc lộ 1, nhưng người Nhật vẫn không cho mở các kho gạo ra để cứu trợ. Cho đến tháng 5/1945, có làng như làng Thượng Cẩm, phủ Thái Ninh, tỉnh Thái Bình, dân số ước chừng 4000 người thì chết hết 2000 như đã nói ở trên.
 
Và sau đây là những con số đáng ghi nhớ. Dân số Thái Bình 700.200 người, chết đói khoảng trên 260.000. Nam Định là một vựa thóc, dân số khoảng 680.000, chết đói 229.650 người. Ninh Bình dân số 200.000, chết đói 37.936 người. Hà Nam, dân số khoảng 400.000, chết đói 50.383 người (tập san "Nghiên Cứu Lịch Sử" số 4, 1990, tr.50 - 56; Cao Thế Dung, sđd, tr.728) Theo tổng kết của viên Toàn Quyền Decoux thì trận đói năm Ất Dậu (1945) đã khiến khoảng 1 triệu người chết, nhưng thực tế chắc con số này cao hơn nhiều. Qua phần trình bày các tài liệu như trên đây thì lý do để giải thích hợp lý cho trận đói năm Ất Dậu, ngoài lý do thiên tai, hạn hán, mất mùa, là chính sách tàn ác của quân đội Nhật cho lệnh thu mua lúa gạo, ngô (bắp) tích trữ; phần khác cho lệnh phá bỏ những cánh đồng trồng lúa, ngũ cốc để trồng đay phục vụ cho nhu cầu chiến tranh khi phe trục Đức-Ý-Nhật đang làm mưa làm gió trên toàn thế giới trong trận đệ nhị thế chiến.
 
Dĩ nhiên, người ta không quên kể đến lý do trong Nam không tiếp tế gì cho miền Bắc được vì các mõ than để chạy xe tàu đã bị bom Hoa Kỳ đánh phá dữ dội và một số lượng gạo, ngô đã bị chính quyền Pháp chế biến thành nhiên liệu phục vụ cho vận chuyển trong Nam. Và cũng phải kể thêm nạn đầu cơ tích trữ lúa gạo của các thương buôn người Hoa, thành phần nắm chủ lực về kinh tế từ nông thôn ra đến thành thị và từ cả miền Nam ra đến miền Bắc, khiến người nông dân ngày càng kiệt quệ không sản xuất được mà cũng không có tiền để mua thực phẩm. Cốt lõi của thảm cảnh năm Ất Dậu vẫn là chính sách tàn ác vô nhân đạo của người Nhật khi họ tràn vào xâm lăng Trung Hoa và Đông Nam Á. Họ biết dân Bắc Việt đang đói kém ghê gớm, họ biết mỗi ngày có đến cả hàng ngàn người chết đói nhưng họ vẫn không mở kho lương thực nào để cứu đói cả và theo sự thú nhận của một viên chức Nhật quản lý lúa gạo sau khi Nhật đảo chánh (09/03/1945) thì "gạo vẫn được chất cao như núi trong các kho vựa của Nhật" (xem "Nghiên Cứu Lịch Sử", số 4, 1990, tr.50 - 56).
 
Thật quả đây là một tội ác chiến tranh của người Nhật trong đệ nhị thế chiến mà chính họ khó gột bỏi hình ảnh xấu xa này trước công luận thế giới và trước lương tâm nhân loại. San Jose, Mùa Xuân Ất Dậu 2005 Lê Đình Cai (viết để ghi nhớ những nỗi đau của dân tộc Việt)
 
 
http://www.huongduong.com.au/article_46.html
[/align]
..........Sáu Tỷ
...
Đăng nhập để trả lời
0
HỒ ĐINH . Việt Báo Thứ Sáu, 6/3/2005, 12:00:00 AM 
 

 
Từ Nạn Đói Năm Ất Dậu 1945
Tới Những Ngày Trơ Xương Mắt Trắng Tại Miền Nam VN Sau 30-4-1975
 





Thế chiến 2 tuy chính thức mở màn từ tháng 9-1939 giữa phe trục Đức-Ý và Đồng Minh (Anh, Pháp, Hà Lan) nhưng tới ngày 10-5-1940, Hitler mới khai hoả cuộc chiến tại Âu Châu.
 
 Ngày 14-6-1940, chính phủ Pháp của nội các Reynaud di tản chiến thuật xuống tận Bordeaux, rồi tan vở. Kinh đô Paris bị bỏ ngõ, quân Phát Xít Đức vào tiếp thu và ngày 17-6-1940, tướng Pétain lãnh đạo lâm thời nước Pháp lúc đó, ký hiệp ước đầu hàng Đức. Biến cố trên, đã là một bước ngoặt quan trong nhất, trong dòng lịch sử cận đại của VN, vì chính nó đã mở đường để quân phiệt Nhật vào Đông Dương (1940-1945), gây nên thảm kịch 2 triệu người VN bị chết đói năm Ất Dậu 1945.
 
Cộng sản đệ tam quốc tế do Hồ Chí Minh đứng đầu, đã núp trong Mặt Trận Việt Minh, lợi dụng nạn đói trên cùng những biến chuyển lịch sử trong thế chiến 2,làm sụp đổ chính phủ Trần Trọng Kim và cướp được chính quyền lúc đó đang bị bỏ ngỏ. Do những bí ẩn của lịch sử chưa được khai quật trong nấm mộ thời gian, nên chúng ta cũng đừng ngạc nhiên, khi thấy VC từ đó đến nay, vẫn tỉnh bơ trước biến cố dân chết đói năm Ất Dậu 1945. Đã thế các sử gia đỏ còn to mồm một mực chỉ đổ thừa cho Pháp-Nhật là nguyên nhân gây nên thảm kịch. Nhưng giấy làm sao gói được lửa và thúng cũng chẳng úp giấu được voi bao lâu, nên ngày nay chẳng những người Việt, mà cả thế giới, đều biết chính bọn cọng sản quốc tế trong Mặt Trận Việt Minh lúc đó, cũng là những tòng phạm giấu mặt, đã cùng với Pháp-Nhật, gây nên thảm án thiên cổ kinh hoàng nhất trong dòng sông lịch sử Hồng Lạc.

Ngày 30-4-1975, Miền Nam VN sụp đổ hoàn toàn vì thù trong giặc ngoài, khiến cho cả nước phải sống trong vũng bùn ô uế của xã nghĩa thiên đàng từ đó đến nay. Cũng từ đó, thảm kich đói cơm ăn áo mặc và không khí tự do thở hít, đã thường trực hằng hằng , làm cho người dân Miền Nam trơ xương mắt trắng, khi phải bó buộc chấp nhận, cái ưu việt của nền kinh tế quốc doanh, lấy hộ khẩu và sổ tem phiếu làm cơ bản, mà đảng mang từ Hà Nội vào, nói là để thay thế kinh tế tư bản của VNCH, chỉ có bóc lột xấu xa và phồn vinh giả tạo vì lệ thuộc vào Mỹ Nhật.
 
Cũng vì quá sợ sự giàu mạnh, bình đẳng và tự chủ của chủ nghĩa cọng sản, nên người Việt cả nước, trong số này có rất nhiều thành phần từng đâm sau lưng người lính trận miền Nam, đã cùng cây cột đèn, liều chết vượt biển vượt biên,đi tìm tự do trong cái chết. Phong trào bỏ quê làng đất mẹ ra đi, trốn lánh sự kềm kẹp mang rơ của giặc Hồ, có một không hai trong lịch sử của nhân loại và Hồng-Lạc, đã đánh thức lương tâm mù lòa của thế giới, cũng như một số khoa bản-trí thức, học cho nhiều mà tim óc thì ù ù cạc cạc , nghĩ suy nông cạn, tuyên bồ hồ đồ, trước chiến cuộc Đông Dương lần thứ ba (1945-1975), do đệ tam quốc tế Nga-Tàu khởi xướng.

Năm 1945 Nhật Pháp và Việt Minh gây nên thảm nạn 2 triệu người chết đói từ Quảng Trị ra tới Miền Bắc VN. Tháng 4-1975, Cọng sản đệ tam quốc tế Hà Nội, lại gây nên cơn hồng thủy biển đông, mà mở màn từ những ngày di tản tại Huế, Đà Nẳng..vào đầu tháng 4-1975., khi Quân Đoàn 1 mất, và kéo dài tới nay vẫn chưa chấm dứt nổi oan khiên trầm thống của một dân tộc, luôn bị khổ đau hờn hận, vì sự bán đứng của bọn cầm quyền mọi thời. Cái giá tự do mà người Việt tị nạn khắp nơi trên thế giới ngày nay đã có, là đã phải trả cho Việt Cộng bằng vàng, tiền, nước mắt, máu xương bản thân gia đình, cùng với những sự hãi hùng trên biển đông, khi đối diện với sóng gió và nạn hải tặc tàn bạo dã mang Thái Lan.
 
 Năm 1945 những người VN chết đói, chỉ mới có ăn cỏ cây xác động vật nhưng sau năm 1975, những người tị nạn VN trên biển Đông, chết đói, đã phải ăn thịt người thân của mình. Ba mươi năm qua rồi, nay cũng đã đến lúc phải lột trần lịch sử, để trả lại sự oan khiên cho triệu triệu hồn ma uổng tử, đang sống vất vưởng trên vạn nẻo đường đất nước và trong lòng biển xanh mông mênh . Tất cả đều do VC gây ra từ năm 1930 tới bây giờ, những tội lỗi trong muôn ngàn tổi lỗi không sao dung thứ được.

Hưng thịnh và tồn vong của một triều đại, ngoài việc để cho nhân thế về sau viết nhớ, phê phán khen chê nhưng tội ác đối với dân tộc như chế độ phi nhân VC, chẳng những bị lịch sử bôi đen mà còn mãi mãi nằm trong bia miệng đay nghiến muôn đời:
" thằng khùng thì đã vượt biên
còn thằng ở lại, nửa điên nửa khùng
bác hồ chết giữa ngày trùng
để toàn dân tộc nửa khùng nửa điên."

1 - Nạn Đói Năm Ất Dậu 1945:

Sau khi được Minh Trị Thiên Hoàng canh tân đất nước, Nhật đã trở thành một cường quốc Châu Á, đánh bại Mãn Thanh lẫn Nga Hoàng và nuôi mộng làm bá chủ Đế Quốc Đại Á. Từ đó Nhật bành trướng thế lực quân sự không ngừng. Thập niên 20-30, Nhật chiếm Cao Ly, Mãn Châu và Bán Đảo Liêu Đông. Tháng 7-1937, Nhật gây chiến với Trung Hoa và gần như chiếm trọn nước Tàu, đuổi Tưởng Giới Thạch và Chính phủ Trung Hoa kháng chiến chạy tới Trùng Khánh và bắt đầu dòm ngó Đông Dương.

Tháng 2-1939 Nhật chiếm Đảo Hải Nam, Hoàng Sa và Trường Sa, khiến Pháp phải cử tướng Georges Catroux làm Toàn Quyền Đông Dương, để lo phòng thủ và chống đỡ. Cùng lúc Cường Để cũng từ Đông Kinh về Thượng Hải, thành lập VN. Phục Quốc Đồng Minh Hội, trong đó có Nguyễn Hải Thần, Hồ Học Lâm, Trần Trọng Khắc chuẩn bị trở về VN lật đổ thực dân Pháp.

Ngày 19-6-1940, Bộ Ngoại Giao Nhật gủi tối hậu thư , đòi Toàn Quyền Đông Dương phải chấm dứt tiếp tế cho Chính phủ Kháng Chiến Trung Hoa ở Hoa Nam, đồng thời cho quân Nhật vào đóng tại Bắc Việt. Ngày 17-7-1940, Decoux thay Catroux làm Toàn Quyền, qua thái độ phách lối trong lúc đã yếu thế, tạo thêm cớ để Nhật tiến vào VN, Miên, Lào, nhất là lúc phe quân phiệt của Tướng Tojo Hideki đang nắm quyền.

Ngày 1-8-1940 Nhật công khai thiết lập Khối Thịnh Vượng Chung Đại Đông Á, bao gồm Đông Dương thuộc Pháp và Đông Ấn (Indonesia) thuộc Hòa Lan. Tóm lại chỉ vì quyền lợi, mà thực dân Pháp đã muối mặt ký với Nhật, một hiệp ước ngày 30-8-1940, theo đó Nhật cho Pháp làm chủ Đông Dương và ngược lại Pháp hợp tác với Nhật, để chia sẻ những quyền lợi trên, đồng thời để quân Nhật đóng tại Bắc Việt , cũng như được di chuyển khắp lãnh thổ Đông Dương. Từ đó Nhật gia nhập Liên Minh Quân Sự với Đức-Ý, đưa Quân Đoàn Viễn Chinh Đông Dương (Indoshina Hakengun ) , do Thiếu Tướng Nishimurs Takuma làm tư lệnh, vào đóng khắp Việt-Miên-Lào. Nói chung, suốt thời gian 1940-9/1945, trên danh nghĩa Nhật vẫn để cho Pháp coi về Hành Chánh, An Ninh mà thội, còn tất cả tự thao túng một mình một chợ, gây nên nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu 1945, khiến hơn hai triệu đồng bào phải chết tức tủi trong oan khiên , khổ nhục.

Ngày nay, qua các tài liệu lịch sử được giãi mật, cho thấy Nạn Đói Năm Ất Dậu 1945, do nhiều nguyên nhân gây ra từ Pháp-Nhật, Chiến Tranh, Thiên Tai và Bàn Tay đẫm máu của Việt Minh. Qua dòng lịch sử, ta biết Dân Tộc VN từ thời lập nước Văn Lang Vua Hùng đầu tiên, tới nay do lấy nông nghiệp làm căn bản, nên không bao giờ bị đói , nếu như đất nước không bị chiến tranh hay thiên tai bất thường.

Đói là nguyên nhân gây chiến tranh và làm sụp đổ nhiều triều đại trên thế giới nhất là nước Tàu. Trong dòng Việt Sử , thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh, vùng đất Bắc và Nam Bố Chánh, từ Thanh Nghệ vào tới Thuận Quảng, luôn là bãi chiến trường, khiến cho dân chúng phải hứng chịu nhiều đau khổ. Hơn nửa vùng này lại là trung tâm bảo tố thiên tai của VN, nên luôn luôn bị mất mùa đói kém.
 
 Từ năm 1774-1778, ở Nghệ An mất mùa khiến nhiều người phải chết đói, trong lúc đó tại Thuận Hóa tình hình cũng không khá gì hơn, vì thiên tại nên không đủ gạo. Vả lại dù có gạo nhưng giá bán quá mắc mõ, một chén tới một quan, nên dân chúng chết đói nằm la liệt ngoài đường. Thời nhà Nguyễn (1802-1945), cũng nhiều lần dân bị đói , vì cảnh loạn lạc, chiến tranh và nhất là bị thiên tai, hạn hán, nạn châu chấu phá hại mùa màng....nhưng hầu hết chỉ có tính cách địa phương và được Triều đình giải quyết khắc phục được, chỉ trong một thời gian ngắn. Nhưng tát cả các lần đói trên, dù có căn cứ vào Việt Sử hay tài liệu của các nhà truyền giáo Pháp như La Bartette.thì chỉ là muối đem bỏ biển, trước mức độ thiệt hại trên 2 triệu người bị chết đói , từ Quảng Trị ra Miền Bắc vào năm Ất Dậu 1945.

Năm 1942 nhà văn tiền chiến nổi tiếng Tô Hoài, đã viết "Quê Người". Qua tác phẩm này, ta đã thấy được sự báo trước tai họa đói kém của miền quê Bắc Việt, thường cùng sống chung một nghề, để rồi cả làng tổng cùng chịu những tai biến như nhau khi bị hoạn nạn. Do hàng ế ẩm, mọi người phải nghĩ và đổ xô đi làm thuê, còn đồng lúa thì mất mùa, khiến gạo càng thêm kém.

Rồi thì nạn đói ập đến thật khủng khiếp, trong cảnh ngàn ngàn vạn vạn người khắp các nẻo đường đất Bắc vào tận Quảng Trị, Đồng bào bị Thực dân Pháp lẫn Quân Phiệt Nhật, bóc lột tận xương tủy , khi quy vào đất ruộng mà thu thóc, không cần biết có làm ruộng hay không. Bởi vậy cả miền trung châu sông Hồng, vốn là cái vựa lúa toàn miền, cũng phải lâm vào cái cảnh không còn gạo để mà nấu. Túng quẩn, mọi người phải ăn gia súc, khoai sắn cây cỏ, chuột mèo và những gì có thể ăn được. Sau đó cả làng bỏ nhà cùng đi lần ra tỉnh thành và Hà Nội để xin ăn và cùng chết gục dần mòn trên đường hành khuất.

Đó là một trong những trang vong quốc sử thời Pháp thuộc, từ lúc chúng sang cai trị cho tới khi bị đánh đuổi nhục nhã phải rời VN trở về cố quốc. Trong gần trăm năm cưỡng chiếm nước ta, thực dân ngoài việc bóc lột và đàn áp đồng bào mình, chúng còn dùng rượu, thuốc phiện, bài bạc và văn chương thi phú lãng mạn để ru ngũ, đầu độc mọi tầng lớp thanh niên nam nữ trụy lạc, vong bản để không còn chống đối giặc thù cướp nước. Theo tài liệu của Toàn quyền Đông Dương Decoux, ghi lai trong " À la barre de L'indochine ", thì chỉ riêng thời gia từ tháng 10-1940 tới tháng 3-1945, thực dân Pháp đã cướp của VN số bạc lên tới 723 triệu đồng Đông Dương, để dâng nạp cho Nhật Bổn, đánh đổi chủ quyền về Hành Chánh-An Ninh, tại Việt -Miên-Lào.
 
 Từ năm 1943-1945, tuân theo lệnh Đông Kinh, Pháp bắt nông dân phải nộp 3/4 hay nhiều hơn số thóc đã thu hoạch được hay nhiều hơn, số lượng đã gặt tại ruộng. Sự bóc lột tàn nhẫn quá đáng này, là nguyên nhân chính đã gây ra nạn đói năm Ất Dậu 1945.

Trên tờ Thanh Nghị số 110 ngày 26-5-1945, Vũ Đình Hòe đã viết bài " Giá` thóc phải nộp cho nhà nước ", cho thấy Pháp lẩn Nhật, đã tận tuyệt vơ vét bóc lột nông dân VN lúc đó, để lập các kho dự trữ , phòng bị chiến tranh, khắp cả nước, từ Bắc vào Nam. Điều vô lý bất nhân của thảm kịch là Pháp Nhật đã " quân phân " số lương thu mua thóc, tới tất cả mọi người. Trong lúc đó, theo nguyên tắc, chính quyền Bảo Hộ chỉ nên thu mua gạo lúa của các đại điền chủ, có ruộng đất cò bay thẳng cánh, gạo thóc núi bồ, chờ mọt ăn trong khi đợi các chủ chành gạo Ba Tàu-Chợ Lớn tới chở về Sài Gòn và các tỉnh thị, đầu cơ tích trữ, bán lại cho dân nghèo bằng cái giá cắt cổ, theo qui định của bọn thực dân Pháp và quân phiệt Nhật, đang làm trùm tại Đông Dương lúc đó. Theo các nguồn sử liệu còn lưu trữ, thì thực dân Pháp lúc đó, chỉ cần thu mua lúa gạo, từ các điền chủ có số ruộng trên 13 mẫu, cũng dư sức lập kho dự trữ lúa gạo, theo ý chúng là 120.000 tấn, mà không cần phải vơ vét thu mua gạo thóc của các tiểu điền chủ, nông dân nghèo. Cuối cùng Pháp và Nhật, qua mưu đồ chính trị riêng, đã công khai đồng lõa với bọn nhà giàu, khi miễn trừ đem luật trừng phạt gian thương ( Requisitionner) của luật pháp hiện hành, để bắt đại điền chủ bán gạo cho nhà nước khi cần thiết.
 
 Một điều quan trọng khác, là Pháp-Nhật khi thu mua gạo lúc đó, đã không theo giá thị trường, mà lại áp dụng một thứ giá đặc biệt rất thấp, khiến cho đại đa số đồng bào VN, với 90 % sống bằng nghề làm ruộng, tức khắc bi thương tổn, vì thu hoạch không đủ bù vào tiền vốn cầy cấy, nên phải vơ vét hết gạo thóc để dành trong mùa sau, đem bán lấy tiền trả nợ hoặc sống qua ngày. Về lý thuyết thì giá gạo trên thị trường, năm 1943 đối với năm 1940 có tăng từ 11$50-14$50/1tạ, nhưng trong lúc đó vật giá, cũng đã tăng lên tới 300%, nên giá thóc phải được ấn định là 35$/1ta, còn gạo 75$/1tạ mới hợp lý, theo sinh hoạt giá cả năm 1943 đã tăng gấp 3 lần năm 1940.

Cũng liên quan tới thảm kịch chết đói năm 1945, một Pháp kiều ở VN đã viết " Témoignages et documents Francais relatifs à la colonization Francais au VN " , tố cáo sự kiện thực dân Pháp gây nên trận đói năm Ất Dậu, làm chết 2 triệu người từ Quảng Trị ra đất Bắc, chỉ nhằm hai mục đích chính, như Thống Sứ Bắc Kỳ lúc đó là Chauvet đã tự nhận : Bắt dân VN chết đói để nhận chìm phong trào cả nước đang nổi lên khắp nơi chống sự đô hộ của giặc Pháp, lúc đó bản quốc tại Âu Châu, cũng đang sống ô nhục dưới gót giầy sắt của Phát Xít Đức. Gây nạn đói, khi cho phép các công ty Pháp-Nhật ( Cenis Frères và Mitsubishi ) độc quyền thu mua bốc lột gạo thóc với giá rẻ mạt, khiến cho dân chúng lâm vào đường cùng. Từ đó mới có nhiều người đi làm phu đồn điền cao su và hầm mỏ cho thực dân tại thuộc địa ở đảo Nouvelle Calédonie gần Úc Châu.
 
Một tác giả Nhật tên Yoshizawa Minami, trong tác phẩm " Chiến tranh Châu Á , trong tiềm thức của chúng ta " đã xác nhận là sự hiện diện của 80.000 quân Thiên Hoàng và hơn 200.000 Nhật Kiều từ năm 1940-1945, đã làm cho đất nước VN hỗn loạn cùng cực, khi Nhật lấy Đông Dương làm vị trí then chốt, trong việc cung cấp lương thực, chẳng những cho quân Nhật đang chiến đấu tại đây, mà còn cả Châu Á và Thái Bình Dương. Đây mới chính là nguyên nhân gây chết đói năm 1945.

Vì muốn duy trì quyền lợi tại Đông Dương trong lúc yếu thế, thực dân Pháp qua toàn quyền Decoux, bất chấp thủ đoạn và lương tâm con người, đã bán đứng Dân Tộc cũng như Đất nước VN cho quân phiệt Nhật, qua các hiệp ước bất bình đẳng , chỉ làm tổn hại cho VN, mà lợi cho cả Pháp và Nhật lúc đó, quan trọng nhất là sự Pháp càng lúc càng xuất cảng sang Nhật thêm nhiều lúa gạo,thực phẩm dành nuôi sống người trong nước. Để thực hiện cái kế hoạch lưu manh trên, từ tháng 12-1942, Decoux cho thành lâp Uỷ Ban Ngu$ Cốc (Comité des Céréales), độc quyền cấp giấy phép cũng như mua bán các loại nhu yếu phẩm này. Ngoài ra Pháp còn ra lệnh cho nông dân cả nước phải dành một số đồng ruộng, trồng bông vải, day, gai, thầu dầu, theo đòi hỏi của Nhật. Sự kiện trên đã làm cho đất đai miền Bắc và Bắc Trung Phần, vốn đã ít ỏi, lại càng bị thu hẹp hơn, đã khiến cho nông dân bình thường vốn chỉ đủ gạo để mà ăn nếu không bị thiên tai mất mùa, nay bị đói là điều không sao tránh được.
 
 Rồi giữa lúc nạn đói đã bắt đầu, dân chúng nông thôn phải ăn độn khoai sắn, thì Pháp lại ra lệnh dân chúng phải bán hết số thóc gạo dự trữ của mình, để chúng lâp kho quân lương, tại Yên Bái, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Phú Thọ từ tháng 3/1944-1945. Song song quân Nhật cũng lập kho dự trữ gạo dành cho Quân Đoàn 38.

Trong lúc đó, tại Bắc Việt và vùng Thanh-Nghệ-Tỉnh-Bình, từ năm 1936-1945, không năm nào là không có bảo tố, lụt lội, khiến cho mùa màng bị hư hại vì ngập nước, làm cho nhiều gia đình quá nghèo, không đủ tiền mua gạo giá chợ đen, phải dắt díu nhau ra tỉnh thành xin ăn qua ngày. Rồi chiến tranh càng lúc càng ác liệt, sau khi Hoa Kỳ trực tiếp tham dự vào Thế Chiến 2, đối đầu với Nhật ở Châu Á. Tại Đông Dương, từng giờ, tàu ngầm tàu chiến, máy bay Đồng Minh, không ngớt oanh tạc tấn công các đơn vị Nhật trấn đóng tại VN, khiến cho mọi phương tiện chuyên chở, giao thông, từ Nam ra Bắc đều bị bế tắc. Tình trạng trên khiến cho gạo trong Nam chất đống như núi tại bến cảng, nhà kho, trong khi ngoài Bắc không có một hột, làm cho nhiều người lâm cảnh đói. Ngoài rat hay vì tận dụng số phương tiện còn lại thật ít ỏi, để chở gạo ra Bắc cứu dân đói nhưng Pháp và Nhật đã cùng chiếm lĩnh các phương tiện này, trong đó có xe lửa, để chuyển quân đội và quân trang dụng mà thôi.

2 - Chính Phủ Trần Trọng Kim cứu đói và Việt Minh lợi dụng nạn đói để cướp chính quyền:
Ngày 9-3-1945 quân phiệt Nhật chính thức xóa bỏ sự cầm quyền của thực dân Pháp tại bán đảo Đông Dương, kéo dài hơn 80 năm thống trị và đô hộ các quốc gia Việt Miên Lào.
Biến cố lịch sử trọng đại này, lại ngẫu nhiên trùng hợp với nạn đói năm Ất Dậu 1945 tại miền Bắc và bắc Trung Kỳ, càng tô thêm sự bi thảm của Dân Tộc VN, trong thời kỳ cận sử . Nhưng đây cũng chính là thời cơ, để cho Mặt Trận Việt Minh, một tổ chức ngoại vi của đảng cọng sản Đông Dương, do Hồ Chí Minh cầm đầu từ năm 1941, lợi dụng tình trạng đói kém của đồng bào để mà tuyên truyền lôi kéo mọi người vào đảng :
"Đồng bào hãy vùng dậy !
quyết tâm theo bác hồ
nông dân sẽ có đất
người nghèo sẽ có ăn
gạo lúa sẽ đầy sân
đả đảo địa chủ
đả đảo cường hào ác bá "

Nương theo thời cơ và sự giúp đỡ của Mỹ, do nhu cầu tình báo lúc đó, Việt Minh đã trương bảng hiệu "Chống phát xít Nhật và thực dân Pháp ". Theo các tài liệu mật được giải mã, thì chính sự giúp đỡ của Đại Uý Archimede L.Patti, một nhân viên OSS (tiền thân của CIA), qua vũ khí đạn dược, thuốc men cũng như sự công nhận của Mỹ, làm cho Việt Minh, chẳng những không bị Nhật tiêu diệt và còn có cơ hội cướp được chính quyền vào mùa thu tháng tám năm 1945, trong lúc cả Hoa Kỳ lẫn Patti đều biết Hồ Chí Minh là một điệp viên ngoại hạng của Đệ Tam Cọng Sản Quốc Tế, làm việc cho điện Cẩm Linh (Liên Xô và Trung Cộng ).

Sau ngày 9-3-1945 Nhật lật đổ thực dân Pháp, thì phong trào quốc gia ngày một sôi sục và dâng cao khắp nước, khiến cho Người Nhật lúc đó phải ủng hộ vai trò cầm quyền của vua Bảo Đại, để đối kháng với Mặt trận Việt Minh, được người Mỹ giúp đỡ, trong vai trò chống Nhật. Ngày 17-3-1945 Hoàng Đế tuyên cáo nước VN độc lập, dù chỉ liên quan tới Bắc và Trung Kỳ, đồng thời với sự ra đời của Chính Phủ Trần Trọng Kim (17/4/1945-25-8-1945).

Tuy Chính phủ này chỉ hiện diện trên chính trường VN một thời gian ngắn ngủi và trong quá khứ đã không ngớt bị VC xuyên tạc bôi bác là "Cải Cách Giấy ". Nhưng nay qua sự soi sáng của lịch sử, ta mới biết được Thủ tướng Kim và nội các chính phủ, đã làm được rất nhiều chuyện có lợi ích cho quốc dân VN, đồng thời đã phản ảnh được quan điểm chung của tầng lớp thương lưu trí thức đương thời. Ngày 4-5-1945, chính phủ quyết định lấy lại quốc hiệu Việt Nam, để chỉ sự vẹn toàn lãnh thổ ba miền Bắc-Trung-Nam như năm 1801 khi vua Gia Long thống nhất được đất nước. Việc làm ý nghĩa này, tức khắc được quốc dân cũng nhu cả thế giới chấp nhân. Cũng từ đó nhân loại dùng danh từ "Vietnamese" để chỉ người VN và loại bỏ các danh xưng của Pháp trước tháng 3-1945 với ác ý phân chia đất nước chúng ta thành ba miền riêng biệt để cai trị. Ngày 2-6-1945 chính phủ đã chọn lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, theo hình Quẻ Ly, làm Quốc Kỳ Mới của Quốc Gia VN. Đồng thời vào ngày 30-6-1945, lại chọn bài " Đăng Đàn Cung " làm Quốc Thiều.

Giữa lúc đất nước hỗn loạn vì chiến tranh, cộng thêm nạn đói hoành hành và trên hết là sự chống phá của phe nhóm thưc dân Pháp theo DeGaulle và Việt Minh được Mỹ yểm trợ, trong khi Chính Phủ Trần Trọng Kim không có quân đội và phương tiện, để thực thi những quốc sách. Tuy nhiên nhờ uy tín và tài năng từ vị Thủ Tướng, cũng như nhiều Bộ Trưởng trong nội các, nên vào tháng 7-1945 Nhật trên nguyên tắc, đồng ý trao trả Nam Việt lại VN.

Đối với Nạn Đói năm Ất Dậu 1945, tuy phương tiện và nhân lực rất hạn chế, Chính Phủ Kim cũng đã dồn hết nỗ lực để cứu giúp đồng bào trong cơn hoạn nạn. Một mặt Ông yêu cầu Nhật bỏ lệ thu mua gạo tại Miền Trung, đồng thời Miền Bắc chỉ thu mua gạo cho ai có trên 3 mẫu ruộng. Bộ trưởng Tiếp tế là Nguyễn Hữu Thí cũng được cử vào Sài Gòn , lo việc chuyên chở gạo Miền Nam ra Bắc cứu đói, bằng các chuyến thuyền buồm và ghe bầu. Ngoài ra còn cho phép các tư nhân được tự do và toàn quyền mua bán gạo, nhưng nghiêm trị những gian thương, đầu cơ tích trữ lúa gạo bằng hình luật tử hình và tịch biên tài sản. Chính phủ cũng cho tập trung tất cả những nạn nhân vụ đói còn sống sót, cũng như thành phần vô gia cư, vào các Trung Tâm Cứu Trợ Đặc Biệt , để chăm sóc họ. Báo chí trong nước đều tham gia kêu gọi cưu trợ.
 
Nhờ vậy đến cuối tháng 3-1945, miền Bắc đã thành lập được Tổng Hội Cứu Tế , do Nguyễn Văn Tố cầm đầu và tới cuối tháng 5-1945 đã quyên góp được 783.403 đồng tiền Đông Dương. Ở Nam Kỳ , qua lời kêu gọi của Chính Phủ Kim, chỉ trong tháng 5-1945, đã quyên góp được 1.677.886 đồng, cùng 1.592 tạ gạo, mà tiền mua và chuyên chở ra Bắc tốn hết 481.403 đồng. Tuy hầu hết các ghe bầu chạy buồm bị Nhật trưng dụng và Hải cảng Hải Phòng bị Hoa Kỳ phong tỏa và oang tạc, nhưng cuối cùng việc chuyển gạo từ Nam ra Bắc cứu đói của Chính Phủ Trần Trọng Kim, cũng đạt được hiệu quả, giảm bớt phần nào thảm trạng đau khổ của nạn nhân, đồng thời tạo cơ hội cho đồng bào cả nước, nhất là giới trẻ và trí thức, đoàn kết nhau trong các sinh hoạt xã hội.

Nhưng hỡi ơi lòng tham của con người thật là tàn nhẫn, trong lúc Chính Phủ banh ruột xẻ gan để cứu trợ hơn hai triệu người bị chết đói, bỏ xác phơi thây khắp cc nẻo đường, thì Việt Minh bằng mọi cách, phá hoại các công tác nhân đạo, cứu trợ đồng bào. Một mặt thì cho du kích chận đường cướp gạo cứu tế từ trong Nam ra, nơi đường biển lẫn đường bộ. Nhưng quan trọng nhất là Việt Minh không ngớt xúi dục đồng bào, đánh phá cướp giựt các kho vựa chứa gạo lúa của Chính Phủ, dành tiếp tế cứu đói. Ngoài ra Việt Minh còn cho người ám sát hay tuyên truyền bôi nhọ, những nhân vật cầm đầu các Hội Từ Thiện. Nhưng tàn ác vô nhân đạo nhất, vẫn là cung cấp tin tình báo cho Hoa Kỳ về ngày giờ các chuyến xe lửa hay ghe bầu chở gạo, trong Nam ra Bắc cứu đói. Nhờ vậy Người Mỹ đã đạt được chiến thắng vinh quang, khi oanh tạc trúng phóc những chuyến tàu thuyền chở gạo cứu đói, làm cho Miền Bắc phải lâm vào thảm kịch Chết đói năm Ất Dậu , có một không hai trong Việt Sử.
 
Tóm lại nhờ sự tận tâm vô bờ của Chính Phủ, đồng thời do Trời Phật thương xót nên trong vụ lúa tháng 5-1945, Miền bắc được mùa, nên đã giải quyết phần nào nạn đói và chấm dứt hẳn, khi các tàu chở gạo trong Nam cấp được các bến trên đất Bắc. Ngày 25-8-1945 chính quyền Nhật tại Đông Dương, coi như bị sụp đổ khi Mỹ dội hai trái bom nguyên tử trên Đất Nhật, kéo theo sự tan vỡ của người Quốc Gia. Trong lúc đó, Việt Minh từ bưng tiến về Thành, qua sự yểm trợ hùng hậu của người Mỹ, nên đã thừa lúc dâu đổ bìm leo, cướp được chính quyền lúc đó, đang lăn lóc bên vệ đường trong cơn hỗn loạn chính trị.

Tóm lại trong nạn đói năm Ất Dậu 1945, làm chết đói hơn 2 triệu người, do Pháp và Nhật gây nên. Ngoài ra còn có Mặt Trận Việt Minh, đã thừa nước đục thả câu, lợi dụng nạn đói, cướp giựt thực phẩm tiếp tế dành cho đồng bào, để tuyên truyền chống Pháp-Nhật, theo nhu cầu của người Mỹ lúc đó, khiến cho người dân chết đói càng thêm bi thảm tận tuyệt.

Thế chiến 2 chấm dứt, bao nhiêu thảm kịch của nhân loại lần lượt được phơi bày ra ánh sáng công lý nhưng thảm kịch hai triệu người VN bị chết đói năm Ất Dậu 1945, vẫn chưa thấy Pháp, Nhật hay Việt Cộng nhắc tới. Thời VNCH, người Nhật bồi thường chiến tranh 39 triệu US, đồng thời cho Chính phủ vay tiền xây dựng hệ thống thủy diện Đa Nhim, nên vụ chết đói 1945 coi như được xóa sổ. Sau 1975 VC cưỡng đoạt và trùm cả nước, sống nhờ tiền Nhật đầu tư cũng như giúp tiền xây dựng Cầu Sông Hậu tại Cần Thơ, thực hiện từ năm 2001, nên VC cũng câm họng, ngậm miệng ăn tiền. Nhưng lịch sử vẫn là lịch sử, nếu Người Trung Hoa và Triều Tiên , chỉ vì một thiểu số đàn bà con gái bị Nhật bắt làm trợ lý, mà không ngớt đòi bồi thường hay hạ nhục nước Nhật trên công luận quốc tế, thì người VN sớm muộn, cũng sẽ bắt Pháp -Nhật và kẻ tòng phạm mang mặt nạ là Việt Minh, phải công khai nhận trách nhiệm giết người, trước lương tâm nhân loại.

3 - Những ngày trơ xương mắt trắng tại Miền NamVN sau tháng 5-1975:
Sau khi VNCH bị sụp đổ, ngoài thành phần Quân,Công, Cán, Cảnh của Miền Nam bị trả thù, cọng sản Hà Nội còn tận tuyệt hủy diệt các tầng lớp tư sản qua tội danh bóc lột, phồn vinh giả tạo..Tại Đại Hội đảng lần thứ IV vào tháng 5-1975, Lê Duẩn đã vênh váo tuyên bố rằng, từ nay người VN sẽ đi trên thảm vàng, đồng thời đuổi kịp rồi qua mặt Nhật Bản trong vòng 15 năm tới. Trên thực tế ai cũng biết trước tháng 4-1975, Bắc Việt chỉ có hai công trình vĩ đại nhất là Lăng Hồ Chí Minh tại Ba Đình Hà Nội và Khách sạn quốc tế trên bờ Hồ Tây, do Fidel Castro của Cu Ba xây tặng. Trong lúc đó tại VNCH, đâu đâu cũng có những cơ sở kỹ nghệ nặng và nhẹ, đều được trang bị máy móc mới và tối tân, nhất là các ngành dệt, điện, lắp ráp các loại hàng sản xuất tiêu thụ. Khi VC vào, đã tận tình vơ vét máy móc đem về Bắc, bắt nhiều nhà máy ngưng hoạt động hay biến thành quốc doanh, hữu danh vô thực.

Song song với kế hoạch trả thù và tận diệt các tầng lớp trên, VC còn bày thêm quốc sách kinh tế mới vào cuối năm 1975, để đuổi hết số gia đình có liên hệ tới chế độ VNCH, đang sống tại Sài Gòn và các tỉnh thành, đi lao động canh tác tại rừng sâu, núi cao, ma thiêng nước độc. Kế hoạch thâm độc này, vừa tống khứ được những thành phần còn lại mà VC đã xếp loại nguy hiểm, sau khi chồng con thân nhân của họ đã bi đảng gạt vào tù. Ngoài ra có như vậy, VC mới chiếm được nhà cửa ruộng vườn và các tiện nghi của Miền Nam, để phân phối cho cán bộ miền Bắc, lúc đó chỉ có súng đạn, tăng pháo và mớ lý thuyết của Mác-Lê-Mao-Hồ mà thôi.

Ai đã từng là tù nhân của VC dù có ở trong Nam hay được đưa ra miền Bắc, dù bị nhốt lâu hay mau, chắc hẳn sẽ chẳng bao giờ quên nổi những đau đớn về vật chất và nhất là sự tủi nhục tinh thần, khi bị bọn VC gọi chúng ta là ngụy quân, ngụy quyền, là những đống rác bẩn thỉu, cặn bã của xã hội, đánh giặc thuê cho Mỹ, Pháp, Nhật..

Ai đã từng bị VC cướp của, cướp nhà, đày đoạ lên tận miền rừng núi để phát triển kinh tế mới. Đa số đã ngã quỵ vì không chịu nổi mưa nắng, cùng cảnh ma thiêng nước độc, bệnh sốt rét rừng, ghẻ lở, kiết lỵ, mà không có thuốc uống. Cuối cùng những người còn sống, kiệt sức vì đói bệnh, nên đã bỏ rừng chạy ngược về thành. Họ đã trở nên vô gia cư và ở bất cừ nơi nào, kể cả nghĩa địa, gầm cầu, chùa miễu. ăn sống, phó mặc cho định mệnh và bọn công an, tới hốt bắt, đưa lên lại vùng kinh tế mới, rồi họ lại về.Rốt cục huề cả làng, và càng ngày càng có nhiều người vô gia cư sống khắp mọi nẻo đường đất nước, trong xã nghĩa thiên đường.

Đầu tháng 4-1975, Người Mỹ đã bắt đầu chạy khỏi Nam VN bằng chuyến bay định mệnh, đưa 250 trẻ mồ côi và 37 nhân viên của Dao đi theo săn sóc. Nhưng chiếc C5 đó đã bị tai nạn, chỉ còn 175 em sống sót với một số người lớn may mắn. Tai nạn này đã báo trước những thảm kịch sắp tới cho làn sóng người bỏ nước ra đi vì không muốn sống chung với rợ Hồ, giết người cướp của.

Ngày 15-4-1975, thượng viên Hoa Kỳ thông qua đạo luật, cho phép 200.000 dân tị nạn Đông Dương, được vào sống trên đất Mỹ. Song song, chính phủ Mỹ cũng mở chién dịch Frequent Wind tại Sài Gòn, để di tản các công dân Mỹ và 17.000 người Việt có liên hệ. Máu lệ và thảm kịch VN đã khơi nguồn từ đó, vào những ngày cuối tháng 4-1975, khi ngàn ngàn vạn vạn người với đủ mọi phương tiện, tiến ra biển Đông, để mong được Đệ Thất Hạm Đội cứu vớt những chỉ tới ngày 2-5-1975 thì chấm dứt. Tóm lại từ tháng 5-1975 tới bây giờ, người Việt bỏ nước ra đi để tìm tự do và đất sống, hoàn toàn chấp nhận may rủi " một sống chín chết ", trong hoàn cảnh bơ vơ tự cứu. Do trên hầu hết những người đến được bờ đất hứa, đã phải trả một giá thật đắt, trong đó một dạo có hằng trăm ngàn câu chuyện, bi thảm não nùng của thuyền nhân VN, bị HẢI TẶC THÁI LAN cướp giết, trôi giạt vào hoang đảo và đã ĂN THỊT NGƯỜI lẫn nhau để mà sống.

Sau khi cưỡng chiếm xong VN, đảng Hồ và đảng Mao trở mặt, nên VC đã quy tội cho Ba Tàu Sài Gòn-Chợ Lớn là mối đe dọa, rồi đòi Trung Cộng phải qua hốt hết 1,2 triệu người Việt gốc Hoa về nước. Sự kiện được Tàu Cộng chấp nhận, phái hai chiến hạm tới các hải cảng VN để nhận người. Nhưng đến cho có mặt, chứ Tàu Cộng đâu có ngu, lãnh đám dân nghèo này về nước đê nuôi ăn, vì vậy nửa đêm nhổ neo rút cầu, âm thầm về nước. Sáng ngày 24-3-1978 trên khắp các nẻo đường Sai Gòn-Chợ Lớn, bổng xuất hiện rất nhiều xe vận tải, chở công an, bộ đội và hằng ngàn thanh niên nam nữ đeo băng đỏ trên tay áo. Theo đài phát thanh của VC thông báo, thì đây là chiến dịch " Đánh Tư Bản - Diệt Thương Gia ". Trước đây vào sáng ngày 20-3-1978, tại Chợ Lớn, cũng đã có một cuộc xô xát, giữa trăm người Hoa và công An VC ph3n đối bắt bắt lính, bắt đi kinh tế mới và đòi được trở về Tàu, sống với Trung Cộng.
 
 Nhưng lần này, cuộc bố ráp qui mô không phải để bắt người Hoa chống đối hôm trước, mà là xộc vào từng nhà,cùng các cửa tiệm, để kiếm tiền đôla và vàng cất dấu, cũng như kiểm kê tất cả hàng hóa kể cả cây chổi, ngoại trừ hình " bác " và lá cờ " đảng ", máu đỏ sao vàng. Nghe nói lần đó, đảng đã hốt của Người Hoa gần 7 tấn vàng và cả mấy bao tiền đô Mỹ, khiến cho mấy chục người uất hận phải tự tử chết. Vậy là đảng đã ba bước nhảy vọt, chiến thắng tư bản chủ nghĩa, bước lên thiên đàng xã nghĩa ưu việt. Cũng từ đó đã có trên 250.000 Hoa phải bỏ nước ra đi và theo thống kê của Cao Ủy Tị Nạn năm 1983, trong số này có trên 50.000 đã chết trên biển vì sóng gío và hải tặc Thái Lan.

Sau ngày 30-4-1975 khi Miền Nam bị VC Hà Nội cưởng chiếm, thì Biển Đông đã trở thành cửa ngỏ để đồng bào vượt thoát tìm tự do. Nhưng đồng thời biển cũng đã biến thành hỏa ngục và trên hết, đảng VC đã thưc hiện được công trình vĩ đại nhất trong Việt Sử. Đó là KỸ NGHỆ XUẤT CẢNG NGƯỜI, từ cho thuyền nhân vượt biển chính thức, tới các chương trình ra đi có trật tự (ODP), hồi hương con Mỹ Lai và Mua Vợ Bán Chồng giả. Tất cả các nghiệp vụ trên, đều giúp cho tập thể lãnh đạo đảng giàu to nhờ thu vào được nhiều vàng, tính tới cuối năm 1989, đảng thu vào chừng 3.000 triệu mỹ kim, con số nhìn vào thấy rởn tóc gáy nhưng lại là sự thật. Bởi vậy đâu có ngạc nhiên, khi biết xã nghĩa VN, là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới, lại có nhiều tỷ phú đứng hàng đầu nhân loại.

Theo sử liệu thì năm 1978 là năm VC chính thức trục xuất người Hoa ra biển. Đây cũng là thời gian đảng xuất cảng người nhiều nhất, mà theo thống kê của Cao Uỷ Tị Nạn, số người tạm trú tại các Trại khắp Đông Nam Á, lên tới 292.315 người. Cũng theo tài liệu của Hồng Thập Tự Quốc Tế, thì từ năm 1977-1983 đã có khoảng 290.000 người đã chết hay mất tích trên biển Đông.

Ngày 15-1-1990 khi mà Mỹ chuẩn bị bãi bỏ lệnh cấm vận và lập bang giao với VC, thì tại vùng biển Nakhon Si Thammarat, có 11 thi thể PHỤ NỮ VIỆT NAM, tất cả đều trần tuồng thê thảm, trôi tắp vào bờ. Theo Thiếu tá cảnh sát Thái Chumphol, người có trách nhiệm lập biên bản khám nghiệm, cho báo chí biết, thì tất cả các nạn nhân, có tuổi từ 18-20. Họ bị giết sau khi bị hải tặc Thái Lan hãm bức nhiều lần. Đây cũng chỉ là một trong ngàn muôn thảm kịch máu lệ của thân phận VN, từ khi VC cưỡng chiếm được đất nước. Đã có hằng triệu người chết lòng biển, khi tìm tới những địa danh Songkla, Pulau Tanga, Pulau Bidong, Galang..Có nhiều cái chết của thuyền nhân thật tức tưởi và oan khiên, mà không bút mực nào viết cho nổi, chẳng hạn như Tàu của Chủ Khách Sạn " Lộc Hotel " ở An Đông, chở trên 500 người, đi bán chính thức nhưng khi tới Gò Công thì bị gài bom nổ, chết sạch chỉ có tài công và 3 người may mắn sống sót. Tàu Lập Xương di bán chính thức ngày 22-1-1979, chở 200 người, cũng bị gài bom nổ ngoài biển, chỉ còn một vài người may mắn sống sót được Tàu Panama cứu đem vào trại Tị Nạn. Đây cũng chỉ là một vài chuyện nhỏ trong ngàn muôn thảm kịch mà thuyền nhân, đã chịu từ khi phong trào vượt biển bùng nổ vào đầu năm 1977-1989.

Người vượt biển tìm tự do, ngoài sóng gió bão tố bất thường không biết trước, còn chịu thêm cảnh săn đuổi của công an, bộ đội biên phòng và ghe tàu đánh cá quốc doanh có trang bị súng máy và súng cá nhân. Nhưng hãi hùng nhất vẫn là Nạn Hải Tặc Thái Lan. Bọn này rất hung ác, tàn bạo, sau khi chận bắt thuyền vượt biển, chúng cướp giựt hết tất cả tài sản, đánh đập mọi người, hãm hiếp phụ nữ và bắn bỏ những ai muốn trố. Sau đó để phi tang, chúng đốt thuyền cho chìm, giết hết đàn ông và bắt đem theo phụ nữ, hành lạc cho tàn tạ và đem về đất liền bán cho các động đĩ.

Câu chuyện của một chiếc tàu vượt biển lênh đênh sau 32 ngày bị hải tặc Thái Lan đánh cướp, chỉ còn có 52 người sống sót, thì gặp được Chiến Hạm USN.Dubuque, do Đại Tá Alexander chỉ huy, nhưng bị từ chối không cứu vớt, khiến cho số người trên chết gần hết. Những người sống sót phải ăn thịt bạn bè để cầu sinh. Viên Đại Tá Mỹ vô nhân đạo trên, bị Bộ Hải Quân Mỹ lột chức và truy tố ra Tòa Quân Sự.

Cũng do hằng ngàn câu chuyện đứt ruột của người vượt biển tìm tự do, mà nhân loại ngày nay có thêm một danh từ độc đáo " Boat People ", giống như trước kia người Do Thái, qua cuộc hành trình tìm đường về đất hứa, cũng đã làm nảy sinh danh từ " Holocaust ". Tuy nhiên, nếu đem so sánh, kể cả chuyện người Do Thái bị Đức Quốc Xã tàn sát trong thế chiến 2, thì thảm kịch vượt biển của người VN trên biển Đông, vẫn bi đát hơn nhiều.

Năm 1945, VC núp trong Mặt Trận Việt Minh, lợi dụng nạn đói năm Ất Dậu, để tuyên truyền và cướp chính quyền từ trong tay người Quốc Gia, nhờ vào súng đạn của người Mỹ. Từ năm 1955-1975 VC gây nên cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai, và đã cưỡng chiếm được VNCH, nhờ Nixon-Kissinger dàn dựng lên Hiệp định ngưng bắn 1973, hợp thức hóa sự chiếm đóng của cọng sản Hà Nội trên lãnh thổ Miền Nam. Ngày nay, VC lại đem tình thương nhớ quê hương VN ra khuyến dụ người tị nạn, mong mọi người hòa hợp hòa giải, xóa bỏ hận nước thù nhà. Nhưng VC đã lầm, cho dù đã có nhiều người tị nạn trở về VN nhưng thực tế hầu hết chỉ vì gia đình. Sau đó ai cũng quay lại miền đất tự do, để chờ một ngày chính thức được theo sau gót voi của Quang Trung Đại Đế về giải phóng Thủ Đo Sài Gòn-Huế-Hà Nội. Ngày đó chắc không xa, vì hiện nay cả nước đều biết chế độ cọng sản đã sụp đổ toàn diện, từ ý thức hệ, lãnh đạo, kể cả huyền thoại Hồ Chí Minh, cho tới đời sống tinh thần, kinh tế, xã hôi. Chính sự xét lại của đảng, đã minh chứng sự sụp đổ trên.

Bổng thấy thấm thía vô cùng, khi nhớ lại câu nói của nhà cách mạng vĩ đại trong thế kỷ XX là Phan Bội Châu " Tòng Lai Quốc Dân Sở Dĩ Suy Đồi, Chỉ vì Hai Nguyên Nhân: BỤNG ĐÓI VÀ ÓC ĐÓI". Từ năm 1930-2005, cộng sản VN đã đấu tranh đẫm máu, giết hại triệu triệu người, cũng chỉ muốn đạt cho được mục đích là đưa Dân Tộc vào con đường cách mạng vô sản, bằng thống trị ngục tù, bằng gầy mòn đói khát., bằng áp chế dối gian. Nhưng tất cả ngày nay đã trở thành những chiếc đinh rỉ, đóng cứng chiếc quan tài đỏ, trong đó có chứa bao triệu oan hồn VN,kể cả những người đã chết đói năm Ất Dậu 1945,những người sinh bắc tử nam, những thuyền nhân chết trên biển. Tất cả là những nhân chứng, bia miệng ngàn đời bôi đen VC trong dòng sử dân tộc. /-

Xóm Cồn 2005
HỒ ĐINH



 HỒ ĐINH

http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=6&nid=21615
 
 
 
..........Sáu Tỷ
...
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-23 17:25:21Quang Khôi>
Trận đói năm Ất Dậu


2005.01.25
Nguyễn Xuân Nghĩa

Thiên tai sóng thần giết hơn 200 ngàn người ngay trước năm Ất Dậu khiến người Việt Nam không khỏi nhớ lại cách đây 60 năm, một tai họa kinh hoàng đã đổ xuống các tỉnh Bắc bộ và miền Bắc Trung bộ của Việt Nam.


Bấm vào đây để nghe tiết mục này
Tải xuống để nghe

    [/align]Đó là trận đói năm Ất Dậu 1945 khiến hàng triệu ngườiViệt Nam ta thiệt mạng. Nhân dịp Xuân Ất Dậu sắp trở về, Diễn đàn Kinh tế xin được trở lại hồ sơ thảm khốc này qua phần trao đổi sau đây cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa.

    Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, trên diễn đàn này, ông thường đưa ra những dự đoán về kinh tế trong tương lai. Kỳ này, chúng tôi xin đề nghị ông trở về quá khứ để mở lại một hồ sơ u ám của 60 năm về trước là trận đói năm Ất Dậu tại miền Bắc Việt Nam.
     
    Cũng nhân thảm kịch sóng thần giết hơn 200 ngàn người mới đây, đề nghị với ông là đồng thời cũng xem những gì có thể học hỏi qua thảm kịch Ất Dậu ở Việt Nam trong quá khứ để đề phòng cho tương lai chăng.

    Đáp: Thưa vâng, một hồ sơ u ám mà dư luận thế giới ít biết và nhiều thế hệ người Việt có khi lại đã quên. Và nói về chuyện dự báo thì một trường hợp tương tự vẫn có thể xảy ra trong thế kỷ 21 này, nếu ta theo dõi những gì đang xảy ra tại Trung Quốc. Đó là chưa nói đến dịch cúm gia cầm nay đã tái phát ngay tại Việt Nam với tốc độ rất đáng e ngại.

    Hỏi: Ta chỉ còn hai tuần nữa là sẽ ăn Tết Ất Dậu. Chúng tôi không muốn vào đầu năm lại nói về chuyện u buồn của quá khứ, sợ bà con cho là xui xẻo, nên mới yêu cầu đề tài trên vào tuần này. Xin ông trước hết cho biết kích thước của thảm kịch, cụ thể là số tử vong của trận đói.
     
    Đáp: Chỉ một sự kiện này cũng đủ cho thấy kích thước của thảm kịch vì các chính quyền hay giới chức liên hệ đến tình hình Việt Nam vào thời ấy không thống nhất được số tử vong trực tiếp của trận đói, chưa nói đến hậu quả gián tiếp về nhân mạng, thí dụ như dịch bệnh. Mà lúc đó thì các chính quyền liên hệ thực ra lại có rất nhiều, chúng ta có người Pháp, người Nhật, và mấy chính quyền của người Việt.
    Nói vắn tắt thì trận đói xảy ra từ tháng 10 năm 1944 đến tháng Sáu năm 1945, nặng nhất là ở các tỉnh miền Bắc như Hải Dương, Kiến An, Nam Định, Ninh Bình và Thái Bình, và tại hai tỉnh miền Bắc Trung phần là Nghệ An và Hà Tĩnh. Duy nhất có một chính quyền có nỗ lực cứu đói là Chính phủ Trần Trọng Kim thì chính phủ này bị lật đổ bởi cuộc chính biến 19 tháng Tám năm 1945 và không kịp kiểm tra hay báo cáo tình hình tổn thất về nhân mạng.

    Hỏi: Nghĩa là một trận đói lớn lao như vậy xảy ra mà mình không biết rõ về số tử vong?
     
    Đáp: Đấy là điều ai oán vì những kẻ có trách nhiệm sau đó bị quét sạch và những người còn lại thì lao vào một thảm kịch khác là chiến tranh. Về số tử vong thì tháng Năm, năm 1945, tức là bảy tháng sau khi trận đói bùng nổ tại miền Bắc, toà Khâm Sai tại Hà Nội ra lệnh các tỉnh miền Bắc phúc trình về tổn thất.

    Có 20 tỉnh báo cáo số người chết vì đói ngoài Bắc là hơn 380 ngàn, chết vì bệnh – mà không rõ bệnh gì – là hơn 20 ngàn, vị chi là 400 ngàn cho riêng miền Bắc. Qua tháng 10 năm đó, một giới chức quân sự Pháp tại Đông Dương là Tướng Mordant báo cáo là khoảng nửa triệu người chết.
    Toàn quyền Pháp Jean Decoux thì viết trong hồi ký của ông về thời cầm quyền tại Đông Dương – À la barre de l’Indochine – là có một triệu người miền Bắc chết đói. Phần mình, người Việt ước đoán là từ một đến hai triệu. Nhiều sử gia về sau nêu ra con số một triệu trong khi những người sinh sống tại miền Bắc khi đó thì thiên về con số hai triệu, là điều ông Hồ Chí Minh có nói đến trong bài tuyên ngôn Độc lập của Việt Minh ngày mùng hai tháng Chín năm 1945.

    Để thấy rõ tầm mức thiệt hại thì mình cần nhớ là khi đó dân số miền Bắc và miền Bắc Trung phần chỉ vỏn vẹn có 10 triệu người. Toàn quốc thì có thể là hơn 20 triệu. Một tai họa khiến cho từ 5 đến 10% dân số toàn quốc bị chết, mà lại chết vì đói, là điều đáng buồn.

    Hỏi: Bây giờ, ta hãy nói về những nguyên nhân. Vì sao lại có một tai họa như vậy?
     
    Đáp: Trả lời câu hỏi này, có lẽ ta phải thận trọng gỡ cho ra một mớ bòng bong chằng chịt rất nhiều yếu tố. Nguyên nhân xa là sự tệ hại của chế độ thực dân Pháp tại Việt Nam, với những biện pháp cải cách kinh tế nhằm phục vụ chế độ và nhu cầu chiến tranh, vì Pháp khi đó đang lâm chiến và bị xâm chiếm.

    Nguyên nhân gần là các hậu quả về chiến tranh tại Đông Đương, vì hai rồi ba cường quốc liên hệ là Pháp, Nhật rồi cả Hoa Kỳ đã can thiệp vào Việt Nam và gây nhiều tai họa ảnh hưởng đến sinh hoạt kinh tế của người Việt. Đó là cái nhân, cái duyên là thiên tai gây mất mùa tại miền Bắc, là những biến động quân sự và chính trị dồn dập xảy ra khiến miền Bắc vốn dĩ đã thiếu gạo nên bị đói.

    Hỏi: Ta hãy lần giở từng phần của mớ bòng bong ấy, đầu tiên là nmhững nguyên nhân xa...
     
    Đáp: Sau vụ tổng khủng hoảng kinh tế năm 1930, Pháp lui về chính sách bảo hộ mậu dịch và muốn độc quyền khai thác Đông Dương theo đường lối rõ rệt là thực dân. Tức là toàn thể dân chúng Đông Dương cùng ra sức nâng cao giá trị kinh tế của khu vực, nhưng hưởng lợi thì chỉ có người Pháp, một thiểu số người Việt và người Hoa gần với Pháp hay một số dân chúng thành thị.

    Pháp nói đến công lao khai hoá và xây dựng hạ tầng, nhưng dân Việt ra sức tài trợ việc đó bằng sức lao động và sưu thuế, còn lợi lộc thì chỉ nước Pháp và một thiểu số bản xứ được hưởng. Hậu quả là trước Thế chiến II, Việt Nam vẫn là một xứ lạc hậu và nghèo đói so với nhiều xứ Á châu khác, kể cả các thuộc địa của Anh.

    Hỏi: Và xứ sở nghèo đói ấy lại bị lôi cuốn vào chiến tranh phải không?
     
    Đáp: Vâng, khi Thế chiến II bùng nổ, Pháp bị yếu thế. Tại Đông Á, Nhật bắt đầu bành trướng và nhìn vào Đông Dương như đầu cầu tiến qua Nam Á và khống chế Trung Quốc. Giữa năm 1940, Pháp bị Đức chiếm và Nhật gây sức ép với Pháp rồi năm sau tiến vào Đông Dương.

    Tức là sau khi bị khai thác và vẫn còn nghèo túng, Việt Nam tuột dần vào nền kinh tế thời chiến, với việc Pháp và Nhật cố tranh giành quyền kiểm soát kinh tế. Người ta nói đến lý do là Nhật bắt dân ta trồng đay thay trồng gạo để phục vụ chiến tranh. Thực ra, Pháp tiến hành việc ấy từ trước, cụ thể là thu hẹp diện tích canh tác các hoa màu phụ như ngô, khoai, sắn, để trồng bông, đay gai hay cây kỹ nghệ. Khi thiếu gạo, dân ta còn ăn độn khoai sắn, loại lương thực hạng nhì đó cũng hết nên mới chết. Cụ thể là sản lượng gạo tại miền Bắc tăng không dịp với dân số vì diện tích canh tác bị thu hẹp. Và miền Bắc cần gạo trong Nam, sau khi gửi phân đạm vào Nam....

    Hỏi: Rồi thì chiến tranh phá vỡ thế hỗ tương ấy, và ta đang tiến đến các nguyên nhân gần, phải không thưa ông?
     
    Đáp: Vâng, là những nguyên nhân khiến dân ta vốn dĩ đã nghèo nay lại thiếu ăn trầm trọng. Nói chung thì miền Bắc có thể tạm đủ lương thực để cầm hơi, nhưng vì Việt Nam bị Nhật chiếm đóng và Đồng minh - chủ yếu là Hoa Kỳ - thường xuyên oanh tạc đường vận tải để tấn công quân Nhật nên gạo Nam hết ra Bắc, và than hay phân bón từ miền Bắc hết vào Nam.
    Hậu quả là sản lượng gạo trong Nam có sụt nhưng vẫn thừa và thóc còn bị Nhật đốt thay than để chạy xe lửa như nhiều người đã kể lại. Thực ra, lý do chính yếu là cả Pháp và Nhật đều ra sức vét gạo với chế độ cưỡng bách thu mua cho nhu cầu chiến tranh của họ trong khi bộ máy chính quyền của Pháp đã tan rã nên không đảm bảo được việc tiếp vận và phân phối. Nạn thiếu ăn biến thành nạn đói, manh nha từ đầu năm 1944.

    Hỏi: Đã vậy, ta còn gặp các yếu tố thời cơ ông gọi là cái duyên của cái nhân đã có sẵn?
     
    Đáp: Thưa đúng vậy. Vì chiến tranh và sự tê liệt của guồng máy nhà nước, ta đã có nạn vật giá leo thang, nhất là giá lương thực. Thế rồi, miền Bắc lại bị hạn hán và côn trùng phá hoại khiến vụ Đông Xuân năm 1944 bị sụt khoảng 20%.

    Kế tiếp là lũ lụt lại xảy ra vào vụ Chiêm nên khủng hoảng bắt đầu bùng nổ. Thế rồi trong khi cả Pháp và Nhật cùng vét gạo thì một lực lượng khác là Việt Minh cũng tung ra thủ đoạn ấy. Điều này thì các văn kiện đảng về lịch sử đảng Cộng sản tất nhiên không nói đến.

    Hỏi: Nghĩa là ông cho rằng trúơc ngày ông Hồ Chí Minh đọ tuyện ngôn độc lập hôm mùng hai tháng 9 năm 1945 thì lực lượng Việt minh đã có mặt đều khắp ở Bắc bộ?
     
    Đáp: Đều khắp thì không phải nhưng có lực lượng ở nhìêu địa phương, và họ đã cho cán bộ kêu gọi và thu mua gạo thóc của nông dân. Trong cảnh đói kém triền miên khiến cho các làng xã hết còn bảo bọc được nhau như truyền thống, lực lượng nào có gạo thì hy vọng có dân.
    Về đại thể, chính quyền Pháp thời đó còn có chút cố gắng giới hạn để lo tiếp tế chứ khi Nhật đảo chính Pháp xong, vào tháng Ba năm 1945, họ không có biện pháp cấp cứu gì. Nỗ lực cứu đói của Chính phủ Trần Trọng Kim và cứu tế của một số người như bác sĩ Phan Quang Đán cùng các phong trào thanh niên thời ấy mới là điều đáng ghi nhớ.

    Hỏi: Nếu tổng kết lại, ông cho rằng trận đói năm Ất Dậu bùng nổ vì là hậu quả của nhiều yếu tố trùng hợp, xảy ra một cách bất hạnh cho người Việt thời ấy?
     
    Đáp: Quả như thế. Thiên tai như hạn hán, lũ lụt hay côn trùng phá hoại mùa màng lẫn cả nạn giặc giã thì lịch sử Việt Nam thấy đã nhiều, nhưng chưa bao giờ khiến cả vạn hay cả triệu người chết đói. Nguyên do sâu xa là chế độ thực dân làm một xứ nông nghiệp lại thiếu lương thực. Tai họa chiến tranh trong một lãnh thổ mà chính quyền bị tê liệt là nguyên nhân gần. Kế tiếp mới là những tính toán chính trị bất nhân của các phe tham chiến. Ngần ấy yếu tố mới dẫn tới thảm kịch mà ngày nay có hỏi thế giới thì hầu hết đều không biết.

    Hỏi: Và hậu quả sau đó ra sao, ông có thể rút kết luận gì?
     
    Đáp: Hậu quả gần là sự cáo chung của chế độ thực dân tại Việt Nam và cơ hội cho cuộc chính biến của Việt Minh ngày 19 tháng Tám năm 1945. Lúc đó, Nhật bại trận phải đầu hàng và rút quân, để lại một khoảng trống chính trị cho những hỗn loạn kế tiếp khi Thế chiến II kết thúc lại mở màn cho Chiến tranh lạnh, rồi Việt Nam lại bị lôi vào một cuộc chiến khác.
    Hậu quả xa là vì lương thực và nông nghiệp là chuyện sinh tử, người cộng sản mới đi tới giải pháp tai hại là cải cách ruộng đất khiến cả vạn người lại bị mất mạng nữa, rồi còn chủ trương hợp tác hoá nông nghiệp khiến cả triệu người bị đói... Mãi đến gần đây - từ 10 năm trở lại - dân ta mới hết bị cái đói ám ảnh...

    Hỏi: Câu hỏi cuối, vào đầu chương trình ông có nói là một biến cố tương tự vẫn có thể xảy ra tại Hoa Lục. Vì sao lại như vậy, trong khi Trung Quốc đang đạt đà tăng truởng kinh tế nhanh chóng mà cả thế giới phải nhìn nhận?
     
    Đáp: Trung Quốc có một tỷ ba trăm triệu dân, trong số này, gần 900 triệu là nông dân nghèo và bất mãn. Một vụ khủng hoảng kinh tế vẫn có thể xảy ra và vì hệ thống chính trị lạc hậu với ách độc tài, khủng hoảng bùng nổ tất nhiên sẽ lan qua chính trị và đánh xập bộ máy nhà nước.

    Trong trường hợp ấy, nhiều người có thể chết đói mà thế giới vẫn không biết để can thiệp hay cấp cứu. Ngay tại Bắc Kinh, tháng Sáu năm 1989, quân đội đã tàn sát cả ngàn người tại quảng trường Thiên an môn mà thế giới chưa biết đích xác số nạn nhân. Vì vậy, nhiều tỉnh, huyện hay xã ấp sẽ có người chết đói mà mình không biết. Cũng như đã không biết là khoảng 65 triệu cho một dân số gần 500 triệu đã chết vì cuộc cách mạng của Mao Trạch Đông.

    [/align]
    http://www.rfa.org/vietnamese/binhluan/2005/01/25/economic_1945_famine/
    [/align]
    ..........Sáu Tỷ
    ...
    Đăng nhập để trả lời
    0
    <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-23 17:39:33Quang Khôi>
    Nạn đói năm Ất Dậu
     
     
    Nạn đói năm Ất Dậu là một nạn đói xảy ra tại miền Bắc Việt Nam trong khoảng từ tháng 10 năm 1944 đến tháng 5 năm 1945 làm khoảng từ 400.000 đến 2 triệu người dân chết đói.

    Mục lục
    [/align]
      1 Nguyên nhân

      2 Hậu quả
      3 Xem thêm
      4 Liên kết ngoài

      Nguyên nhân
    • Nguyên nhân trực tiếp: Các hậu quả của chiến tranh tại Đông Dương. Các cường quốc liên quan như Pháp, Nhật Bản và cả Hoa Kỳ đã can thiệp vào Việt Nam và gây nhiều tai họa ảnh hưởng đến sinh hoạt kinh tế của người Việt. Những biến động quân sự và chính trị dồn dập xảy ra khiến miền Bắc vốn dĩ đã thiếu gạo nên càng bị đói.
    • Nguyên nhân gián tiếp: Là sự tệ hại của chế độ thực dân Pháp tại Việt Nam, với những biện pháp cải cách kinh tế nhằm phục vụ chế độ và nhu cầu chiến tranh, do tại nước Pháp khi đó đang có chiến tranh và cũng đang bị xâm chiếm.
    • Nguyên nhân tự nhiên: Thiên tai, lũ lụt gây mất mùa tại miền Bắc.

      Từ phía Pháp
      Sau vụ khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 1930, Pháp quay lại với chính sách bảo hộ mậu dịch và độc quyền khai thác Đông Dương theo đường lối thực dân. Toàn thể dân Đông Dương phải ra sức nâng cao giá trị kinh tế của khu vực, nhưng chỉ có người Pháp, một thiểu số rất ít người Việt và người Hoa gần gũi với Pháp hay một số dân chúng thành thị được hưởng lợi. Hậu quả là trước Đại chiến thế giới lần thứ hai, Việt Nam vẫn chỉ là một xứ lạc hậu và nghèo đói so với nhiều quốc gia châu Á khác. Khi Đại chiến thế giới bùng nổ, Pháp bị yếu thế.

      Tại Đông Á, Nhật Bản bắt đầu bành trướng và nhìn vào Đông Dương như đầu cầu tiến qua Nam Á và khống chế Trung Quốc. Giữa năm 1940, Pháp bị Đức chiếm và Nhật Bản gây sức ép với Pháp rồi năm sau tiến vào Đông Dương. Việt Nam bị cuốn vào nền kinh tế thời chiến, với việc Pháp và Nhật tranh giành quyền kiểm soát kinh tế. Người ta nói đến lý do là Nhật Bản bắt dân Việt Nam trồng đay thay trồng lúa gạo để phục vụ chiến tranh, nhưng thực ra Pháp đã tiến hành việc ấy từ trước, cụ thể là thu hẹp diện tích canh tác các hoa màu phụ như ngô, khoai, sắn, để trồng bông, đay, gai hay cây kỹ nghệ. Sản lượng lúa gạo và hoa mầu quy ra thóc tại miền Bắc giảm xuống rất mạnh do diện tích canh tác bị thu hẹp.

      Từ phía Nhật Bản và Hoa Kỳ
      Việt Nam bị Nhật Bản chiếm đóng và Đồng Minh - chủ yếu là Hoa Kỳ -thường xuyên oanh tạc các tuyến đường vận tải để tấn công quân Nhật Bản, nên gạo từ miền nam ra bắc rất khó khăn. Cả Pháp và Nhật Bản đều ra sức vơ vét gạo với chế độ cưỡng bách thu mua cho nhu cầu chiến tranh của họ, trong khi bộ máy chính quyền của Pháp đã tan rã nên không đảm bảo được việc tiếp vận và phân phối. Nạn thiếu ăn biến thành nạn đói, đã xuất hiện từ đầu năm 1944. Tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, lập ra chính quyền do Trần Trọng Kim đứng đầu. Chính quyền này mặc dù đã có một số cố gắng để cứu đói cho dân, nhưng mọi việc đã trở nên khó khăn hơn rất nhiều khi mà Nhật vẫn tích cực áp dụng chính sách cũ.

      Thiên tai
      Do chiến tranh và sự tê liệt của guồng máy nhà nước, giá cả các mặt hàng thiết yếu liên tục leo thang, đặc biệt là lương thực. Miền bắc cũng bị hạn hán và côn trùng phá hoại, khiến sản lượng vụ đông-xuân năm 1944 bị sụt khoảng 20%. Sau đó là lũ lụt xảy ra vào vụ mùa nên khủng hoảng bắt đầu bùng nổ.

      Hậu quả
      Không có số liệu chính xác về số người đã chết đói, nhưng một số nguồn khác nhau ước tính là từ khoảng 400.000 đến 2 triệu người đã bị chết đói tại miền bắc Việt Nam trong thời điểm này. Tháng 5 năm 1945, bảy tháng sau khi trận đói bùng nổ tại miền bắc, toà khâm sai tại Hà Nội ra lệnh cho các tỉnh miền Bắc phúc trình về tổn thất. Có 20 tỉnh báo cáo số người chết vì đói ở miền bắc là hơn 380.000, chết vì bệnh – không rõ nguyên nhân – là hơn 20.000, tổng cộng 400.000 cho riêng miền bắc. Tháng 10 năm 1945, theo báo cáo của một quan chức quân sự của Pháp tại Đông Dương khi đó là tướng Mordant thì khoảng nửa triệu người chết.

      Toàn quyền Pháp Jean Decoux thì viết trong hồi ký của ông về thời kỳ cầm quyền tại Đông Dương "À la barre de l’Indochine" – là có 1 triệu người miền Bắc chết đói. Các nhà sử học Việt Nam ước đoán là từ 1 đến 2 triệu. Nhiều nhà sử học sau này nêu con số 1 triệu trong khi những người sinh sống tại miền Bắc khi đó thì thiên về con số 2 triệu, là điều Hồ Chí Minh có nhắc đến trong bài Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945.

      Sau ngày Quốc khánh 2 tháng 9, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên sáu vấn đề cấp bách nhất mà Chính phủ cần giải quyết ngay và vấn đề số 1 là cứu đói: "Nhân dân ta đang đói... Những người thoát chết đói, nay cũng bị đói. Chúng ta phải làm thế nào cho họ sống...".
    • Kho ảnh tư liệu của nghệ sĩ nhiếp ảnh Võ An Ninh
    • http://vi.wikipedia.org/wiki/N%E1%BA%A1n_%C4%91%C3%B3i_%E1%BA%A4t_D%E1%BA%ADu
      [/align]
    ..........Sáu Tỷ
    ...
    Đăng nhập để trả lời
    0