Giá trị của tấm bằng đại học Việt Nam
Thứ năm, 12/7/2007, 04:53 GMT+7
(VieTimes) - Trong xu hướng xã hội hóa giáo dục, số lượng các trường đại học ở Việt Nam ngày càng gia tăng: trường công lập, trường dân lập, trường theo mô hình liên kết đào tạo…; hình thức đào tạo cũng ngày càng phong phú: chính quy, tại chức, đào tạo từ xa… Nếu nhìn nhận bản chất vấn đề, người học đại học là học nghề, nhưng là nghề đòi hỏi chất xám, trình độ…, thì những trường dạy nghề "chất lượng cao" này, họ làm được những gì và có thực hiện đúng cam kết đối với người học?
Chu trình đào tạo của một trường đại học ở Việt Nam hiện nay, tùy theo từng ngành học, thời gian đào tạo có sự khác nhau, nhưng tối thiểu là 4 năm cho một ngành học (đối với các ngành thuộc khối xã hội). Một số ngành học khác kéo dài vượt quá con số 4 năm (các trường khối ngành kỹ thuật, ngành y...). Trong 4 năm đó, việc đảm bảo khối lượng sinh viên theo học của các trường được sắp xếp theo kiểu luân chuyển: khóa học này ra trường sẽ được thay thế bằng khóa học mới theo hình thức thi tuyển như đã nói ở trên.
Vậy, có thể nói, công việc, đồng thời cũng là nhiệm vụ chính của trường, là tuyển sinh sinh viên mới – cấp bằng cho ra trường lứa sinh viên đã hoàn thành chương trình học. Nó được mặc định, dù không trên văn bản chính thức: nhiệm vụ của trường chỉ là đào tạo.
Những vấn đề phát sinh sau khi sinh viên tốt nghiệp, trường không hề "liên quan". Quyền lợi và nghĩa vụ của người học đối với ngôi trường mà mình đã gửi gắm trong suốt quá trình theo học, chấm dứt khi họ cầm tấm bằng, nhận toàn bộ giấy tờ, hồ sơ… (những giấy tờ, hồ sơ này của sinh viên được nộp cho trường vào thời gian nhập học) được trao trả nguyên vẹn. Khi đó là "đường ai nấy đi”!
Vấn đề quan trọng nhất, người học có khả năng và cơ hội đối với việc tìm kiếm một vị trí công việc như thế nào, không có trường đại học nào ghi trong tiêu chí. Có thể họ tìm kiếm được một công việc tốt, đúng chuyên ngành học. Có thể họ tìm được một công việc hoàn toàn không liên quan gì đến ngành học mà họ theo học. Và có thể, họ thất nghiệp.
Cho đến nay, chưa có trường đại học nào ở Việt Nam có sự thống kê, các sinh viên đã tốt nghiệp trường mình, bao nhiêu % tìm được công việc ngay trong năm đó? bao nhiêu % sinh viên làm đúng công việc, bao nhiêu % sinh viên làm trái ngành, trái nghề? Và bao nhiêu % sinh viên thất nghiệp? Nói vô trách nhiệm không hoàn toàn sai. Nói, đó không thuộc nghĩa vụ của trường cũng không hoàn toàn đúng! Trên thực tế, việc kiểm soát, thống kê này có ý nghĩa quan trọng và không hề khó khăn chút nào.
Người ta hoàn toàn có được những con số trên bằng việc quy định: những ai tìm được công việc sẽ quay trở lại nhận hồ sơ, giấy tờ mà trường lưu giữ (không bao gồm bằng tốt nghiệp, vì bằng tốt nghiệp là "giấy thông hành" thiết yếu cho một người đi tìm việc thay vì trả chúng cho sinh viên cùng lúc khi họ nhận bằng tốt nghiệp).
Bằng cách đó, trường sẽ có được những căn cứ để đưa ra số lượng tuyển sinh cho khóa học mới, điều chỉnh lại chương trình đào tạo để phù hợp với những tiêu chí công việc và số lượng công việc mà xã hội đưa ra để tuyển dụng nhân lực. Và quan trọng nhất, đó là "trách nhiệm" của trường đối với chính sinh viên của mình!
Việc làm này sẽ tăng thêm niềm tin, uy tín của trường đối với xã hội. Người học, trước khi vào trường, có một cái nhìn thực tế về ngành học của mình. Trên cơ sở đó, họ sẽ tự điều chỉnh để tránh cho mình những chi phí cơ hội không đáng có!
Trong những năm gần đây, sự gia tăng về số lượng các trường đào tạo nghề, trường đại học; sự phong phú về các loại hình đào tạo (từ xa, chính quy, liên kết, tại chức, ngắn hạn, văn bằng 2…) đã mở ra nhiều cơ hội cho người học. Điều này đã nâng lên đáng kể trình độ dân trí và trình độ nghề nghiệp của lao động trong nước. Tuy nhiên, nó không hề làm giảm đi phần nào tình trạng thất nghiệp, một vấn đề xã hội luôn bức xúc và khó có thể giải quyết trong ngày một ngày hai. Bức tranh bất hợp lý về sự phân bố nguồn nhân lực theo ngành, theo vùng không hề được vẽ lại. Trái lại, nó còn thêm phức tạp và gia tăng mức độ mất cân đối trầm trọng này.
Bằng đại học: điều kiện cần và đủ để tìm được việc làm?
Câu trả lời là: KHÔNG!
Hãy căn cứ trên nhu cầu tuyển nhân sự của một nhà tuyển dụng: tốt nghiệp đại học, chuyên ngành…, bằng tiếng Anh, trình độ vi tính… Để có đủ những yêu cầu này, người học cần có sự khôn ngoan và năng động. 4 năm học tại trường, họ chỉ có bằng tấm đại học. Những yêu cầu khác (bằng vi tính B, bằng ngoại ngữ Anh, Pháp… trình độ A, B, C…), không trường đại học nào cấp kèm theo. Để có được chúng, người học “thân ai nấy lo”.
Có thể, họ tranh thủ học thêm vào thời gian gần tốt nghiệp. Có thể, họ đi mua bằng, chứng chỉ giả… Vô hình trung, yêu cầu của nhà tuyển dụng, sự lỏng lẻo của không ít trường đại học, đã tạo kẽ hở để phát sinh những tiêu cực trong xã hội! Nếu các trường có trách nhiệm với sinh viên, họ hoàn toàn có đủ thẩm quyền và uy tín để cấp cho sinh viên những "chứng chỉ phụ" ấy. Năm nào công luận cũng lên tiếng về những trung tâm, cá nhân làm chứng chỉ giả. Nhưng kêu rồi để đấy. Tình trạng không hề thay đổi, khi mức “cầu” luôn gia tăng và nguồn "cung" lại bó hẹp!
Ngay cả những người có bằng tốt nghiệp đại học loại khá giỏi, có đầy đủ những “chứng chỉ phụ”, họ cũng không dễ dàng tìm được công việc như mong muốn!
Lý do: họ vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng: có kinh nghiệm.
Và, ngành học của họ, xã hội không có nhu cầu!
Những người rơi vào tình trạng này, họ ở vào trạng thái "tiễn thoái lưỡng nan". Nếu đi học một nghề mới, họ sẽ bắt đầu lại từ con số 0. Giải pháp mà nhiều người tìm đến, đó là học văn bằng 2 hoặc làm những công việc trái ngành, trái nghề. Kiến thức 4 năm học trong trường, không giúp ích nhiều cho họ!
Phạm Thị Định (sinh năm 1982, quê Thái Bình) – tốt nghiệp Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội năm 2005. Định là một sinh viên xuất sắc trong khoa. Em có rất nhiều dự định, hoài bão sau khi ra trường. Thế nhưng, khi cầm tấm bằng đại học loại giỏi trong tay, Định vẫn thất nghiệp. Lý do: Định học chuyên ngành tiếng Nga.
Thời gian em tốt nghiệp, nhu cầu sử dụng tiếng Nga trong nước không nhiều, thậm chí rất hiếm hoi. Cơ hội tìm công việc của Định, do đó, cũng hẹp lại. Đa số các bạn cùng khóa của Định đều phải đăng ký học thêm văn bằng 2 của một ngành học khác. Họ hy vọng, với văn bằng 2 của ngoại ngữ mới (tiếng Anh, Pháp, Hoa…), họ sẽ dễ dàng tìm được một công việc cho mình. Tuy nhiên, khoa tiếng Nga của trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội vẫn liên tục tuyển sinh. Và, tiếp tục cho ra trường những sinh viên nhìn thấy trước khả năng thất nghiệp của mình!
Đó là một trong nhiều ví dụ về sự bất hợp lý giữa việc tuyển dụng đào tạo với nhu cầu về số lượng công việc của xã hội. Vô hình trung, các trường đào tạo đã làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp. Nhiều sinh viên khi được hỏi: sau này tốt nghiệp ngành học của mình, bạn sẽ làm gì? Họ không có được câu trả lời. Đó là thực trạng của những sinh viên theo học các ngành học như: Việt Nam học, bảo tàng… Những ngành học thực sự "mập mờ" về công việc cụ thể hay cơ hội tìm việc hết sức khó khăn!
Câu chuyện con gà và quả trứng!
Trở lại vấn đề về hình thức thi tuyển đầu vào của các trường đại học Việt Nam hiện nay. Mỗi năm, hội đồng tuyển sinh của các trường đều đưa ra các con số về “tỷ lệ chọi”, nghĩa là một thí sinh phải cạnh tranh với bao nhiều người dự thi để giành một chiếc ghế trên giảng đường. Con số này, tất nhiên, không hoàn toàn chính xác. Bởi vì, bên cạnh nó vẫn tồn tại các khái niệm khác: "tỷ lệ chọi ảo", "thí sinh chọi ảo"… Mục đích của việc công bố con số đó là gì?
Nó tạo ra 2 "hiệu ứng": Thứ nhất, đó là sự chênh lệch về lượng thí sinh tham dự giữa các trường. Bên cạnh những trường có "tỷ lệ chọi" trên dưới 100 (100 người thi lấy 1 người trúng), có trường là 1/180, trong khi đó cũng có những trường 1/6, 1/7 (tỷ lệ chọi dưới 2 con số). Điều này cho thấy, "chất lượng" và độ “hot”, khả năng hấp dẫn thí sinh của các trường đại học khác nhau. Đương nhiên, điểm sàn giữa các trường cũng khác nhau. Bên cạnh những trường điểm đầu vào cao (trung bình 8-9 điểm/ môn) vẫn có những trường điểm đầu vào dưới 20 điểm/3 môn thi. Kẻ cười, người khóc cũng bắt đầu từ việc nộp hồ sơ dự thi! Vì khi đó, chưa có con số về “tỷ lệ chọi”. Sự “may rủi” khi đặt bút đăng ký mã trường, mã ngành thi, nhiều khi mang lại niềm hạnh phúc không ngờ cho nhiều thí sinh "đăng ký liều!”.
Hiệu ứng thứ 2, đó là sự mất cân đối về chất lượng đầu vào của thí sinh. Thông thường, những trường lấy điểm sàn cao, những thí sinh có học lực khá trở lên mới dám đăng ký. Những thí sinh học lực yếu hơn đăng ký những trường tỷ lệ chọi thấp, điểm đầu vào không cao. Sẽ có rất nhiều thí sinh có năng lực bị trượt ở vòng thi thứ nhất. Số thí sinh này sẽ "tồn" lại vào mùa thi năm sau. Trong khi đó, những thí sinh trung bình, vẫn có suất ghế trên giảng đường đại học sớm hơn những người “kém may mắn” hơn mình! Đó có phải là sự bất bình đẳng?
Theo đó, chất lượng đào tạo cử nhân, kỹ sư trên bình diện chung, sẽ có sự mất cân đối giữa các trường. Điều này liên quan tới chất lượng, trình độ, năng lực của nguồn nhân lực tương lai 4 năm sau đó!
Thấy gì từ chương trình học đại học ở Việt Nam?
Tiến sỹ Vũ Quang Việt đã có bài viết so sánh về giáo dục đại học ở Việt Nam và ở Mỹ trên tạp chí Khám phá (ngày 17/12/2005). Theo ông, chương trình học ở Việt Nam là quá dài. Thời gian học 4 năm ở lớp tại Việt Nam là 2.183 giờ so với 1.380 giờ ở Mỹ. Như vậy chương trình ở Việt Nam dài hơn gần 60%. Điều này có thể là do thiếu sách vở, nên thầy phải vào lớp đọc cho sinh viên chép hoặc là do thói quen từ quá khứ để lại. Với thời gian ngồi lớp như vậy, Việt Nam sẽ còn ít thì giờ để tự học, nghiên cứu.
Chương trình ở Việt Nam không phải là dạy nghề, cũng không đào tạo một người có kiến thức sâu và tính sáng tạo. Tiến sỹ Vũ Quang Việt đã đưa ra dẫn chứng cụ thể: Chương trình học Kinh tế cần 1.451 giờ học Kinh tế, so với ở Mỹ chỉ cần tối thiểu là 480 giờ (tức là 1/3 chương trình Đại học). Như vậy, sinh viên Việt Nam phải phải học gấp 3 lần số giờ ở đại học Mỹ.
Chương trình giảng dạy ở Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, sinh viên trong 4 năm phải học gần như tất cả mọi thứ trên đời về Kinh tế mà nhà trường có thể nghĩ ra được. Họ học từ các môn cơ bản như Kinh tế vĩ mô và vi mô, đến các môn như Kinh tế lao động, quản trị xí nghiệp, kế toán, địa lý Kinh tế, luật kinh tế, dân số học, chính sách thương mại, kinh tế tài nguyên và môi trường, phân tích dự án Kinh tế, thị trường chứng khoán… Đây là những môn ít khi dạy ở cấp đại học 4 năm và có dạy thì chỉ là những môn để sinh viên có thể chọn lựa.
Đây cũng là những môn mà trường đại học có thầy đã và đang nghiên cứu chuyên sâu. Đòi hỏi mỗi thứ một tí, sinh viên không có khả năng hoặc thì giờ đi sâu vào bất cứ vấn đề gì và chắc chắn là thầy cũng chỉ đọc sách nói lại (mà không biết thầy có hiểu hết không nữa!?!). Theo các tài liệu giáo khoa của trường, thì nội dung rất nặng lý thuyết mà nhiều phần sinh viên ở Mỹ chỉ học trong chương trình sau cử nhân. Như vậy trường chỉ nhằm nhồi sọ kiến thức lý thuyết Kinh tế mà sự phân chia chi li các lớp học thì có vẻ thực dụng như dạy nghề.
Chương trình ở Việt Nam không trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản và toàn diện, khoa học tự nhiên, nhân văn, văn chương và nghệ thuật, không có một lớp nào về phương pháp nghiên cứu và viết luận văn. Chương trình ở Mỹ (các Đại học danh tiếng) đòi hỏi sinh viên phải học một chương trình cơ bản dù là học ngành gì khoa học cơ bản đó là học ngành gì khoa học cơ bản, xã hội hoặc nhân văn. Đây chính là chương trình thể hiện đích đào tạo những cá nhân có tri thức cơ bản, có phương pháp suy nghĩ và phân tích các vấn đề, có khả năng viết luận văn nghiên cứu. Chương trình cơ bản bắt buộc này cũng chiếm 1/3 thời gian học 4 năm như thời gian tối thiểu dành cho ngành học chính.
Như thế, đào tạo đại học ở Việt Nam, trên bình diện khách quan và nhìn nhận như là những "trường dạy nghề chất lượng cao", sản phẩm mà nó cho ra đời, là những người "nửa thầy nửa thợ". Điều này không chỉ khó khăn cho người học mà cũng gây khó khăn cho cả những người tuyển dụng. Muốn có việc làm, người học buộc phải học thêm những kỹ năng nghề nghiệp cần thiết để đáp ứng công việc. Muốn có nhân lực, người sử dụng lao động buộc phải đào tạo lại. Đó là một thực tế không thể phủ nhận.
Vậy, các trường đại học Việt Nam làm được gì? Giá trị thực của tấm bằng đại học "lớn" từng nào?
Câu trả lời xin nhường các nhà hữu trách!
Di Linh
"Hãy tự cứu mình!"
Thứ sáu, 13/7/2007, 06:33 GMT+7
(VieTimes) - Người phương Tây duy lý, người phương Đông duy tình. Người phương Tây thực tế, người phương Đông trọng danh... Những đặc thù ăn sâu trở thành bản chất, thành thuộc tính riêng biệt của hai nền văn hóa, đã chi phối đến nhận thức của con người, từ đó tác động đến hành động của họ.
Trong khi đại học đang là con đường tối ưu để mở cánh cửa cuộc đời cho những người trẻ (ở các nước áp dụng thi tuyển đại học, trong đó có Việt Nam), việc thế hệ trẻ lựa chọn nó là một tất yếu. Lật ngược vấn đề, nếu như xã hội có sự định hướng tốt để thay đổi tư duy ấy, chúng ta sẽ không phải lấn bấn mãi trong việc tìm ra các giải pháp để hạn chế tiêu cực thi cử, không phải tranh cãi về việc cải tổ nền giáo dục, không phải khó khăn trong việc sắp xếp lại nguồn nhân lực và bố trí việc làm… như suốt cả một thời gian dài qua. Cần có một cuộc cách mạng trong nhận thức, để khắc phục và cải thiện vấn đề đó từ tận gốc…
Trong lúc các cơ quan hữu quan còn chưa đưa ra được quyết định: thời gian nào sẽ cải cách nền giáo dục nói chung; thời gian nào các trường đại học Việt Nam thực sự đào tạo được những nhân lực có kiến thức, có trình độ chuyên môn, có kỹ năng nghề nghiệp… và sẵn sàng đáp ứng được yêu cầu của công việc, giá trị của tấm bằng đại học trong nước được thừa nhận ở bên ngoài lãnh thổ…, thì mỗi cá nhân, trước tiên là các thí sinh, những người đã đủ khả năng nhận thức và chịu trách nhiệm được về hành vi, về sự lựa chọn con đường vào đời của mình, cần phải thay đổi nhận thức. Quan trọng nhất, họ phải biết khả năng của mình đến đâu để chọn ngành, chọn nghề phù hợp. Họ cần có kế hoạch cuộc đời của mình! Họ cần phải tự mình cứu mình!
Hãy cho tôi điểm tựa!
Greig Craff là một người Mỹ đến Việt Nam từ những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ XX. Ông là người sáng lập ra Quỹ phòng chống thương vong Châu Á và là người trực tiếp điều hành chương trình này ở Việt Nam. Ông cũng là cha đẻ của chiếc mũ bảo hiểm Protect – một vật dụng góp phần quan trọng bảo đảm an toàn tính mạng cho người tham gia giao thông. Khi Craff đến Việt Nam, chúng ta đang ở những năm đầu của công cuộc đổi mới nền kinh tế (1986). Tính đến năm 2007, Greig Craff đã định cư tại Việt Nam gần 20 năm. Như thế, Craff đồng thời cũng là người chứng kiến sự đổi thay từng ngày của đất nước Việt Nam.
Craff tâm sự: trong 20 năm qua, thế hệ trẻ Việt Nam đã có sự thay đổi lớn trong tư duy nhận thức, trong cách nghĩ cách làm. Thời kỳ những năm thập niên 90, đa số thanh niên Việt Nam chọn các nước Đông Âu, Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa… để tu nghiệp, học tập mô hình phát triển kinh tế về áp dụng ở đất nước mình. Thế hệ ấy, hiệu quả mang lại không nhiều. Đó là nguyên nhân mang tính chất chính trị và là xu thế của thời kỳ trước. Từ năm 1995 trở đi, “dòng chảy" này đã đổi hướng. Họ đã sang học tập, áp dụng các kỹ năng, kinh nghiệm, mô hình của các nước phương Tây. Sự thay đổi trong tư duy ấy được thể hiện ở hiệu quả trong công việc. Craff nhận xét: sự vận động trong thay đổi tư duy của thế hệ trẻ ngày nay đã khác với thế hệ trước họ. Họ tự tin, bản lĩnh, và làm được việc. Đó là một tín hiệu tốt của sự phát triển nguyên khí quốc gia.
Đó là nhận xét khách quan của một người nước ngoài về thế hệ trẻ Việt Nam. Thực tế, thế hệ trẻ Việt Nam thế kỷ XXI có sự chuyển biến lớn theo hướng tích cực.
Vậy, lý do nào họ không dám chọn một con đường đi cho riêng mình?
Bên cạnh hệ thống các trường đại học, cao đẳng, chúng ta có một hệ thống không nhỏ các trường trung cấp, trung học dạy nghề… trên khắp cả nước, phân bố rộng khắp ở các tỉnh, trung tâm dân cư. Đó là chiếc nôi đào tạo những người thợ lành nghề - những người trực tiếp tham gia lao động sản xuất, làm những công việc chân tay. Quan trọng nhất, đó là những mắt xích không thể thiếu để một guồng máy được vận hành. Tuy nhiên, những cơ sở đào tạo nghề đó chưa thực sự hấp dẫn thế hệ trẻ!
Dễ dàng chỉ ra được nguyên nhân của nó: chất lượng đào tạo của các trung tâm dạy nghề, phần lớn chưa đạt được chất lượng như mong muốn. Song, nguyên nhân chính, đó là tư duy "sính đại học” đã ăn sâu vào tiềm thức của người Việt Nam. Họ nghĩ rằng, chiếc ghế trên giảng đường “oai” hơn chiếc ghế của một học viên trường nghề. Tấm bằng đại học sẽ có nhiều cơ hội tìm kiếm những công việc tốt hơn, nhàn hạ hơn và thu nhập cao hơn. Các bậc cha mẹ cũng mong muốn con cái mình được học trong những ngôi trường danh giá. Và sự thật, nhiều gia đình đã "nhịn ăn, nhịn mặc” cho con theo học đại học! Kết quả là, họ lại luẩn quẩn trong một vòng quay: thi đầu vào – vật lộn 4 năm học – vật lộn tìm kiếm công việc. Trong khi đó, trên bản đồ nguồn nhân lực, những vùng thiếu nhân lực trầm trọng đối nghịch hoàn toàn với những vùng thừa nhân lực!
Thử phân tích về nguồn thí sinh tham dự kỳ thi tuyển các trường đại học. Hàng năm, sau mỗi mùa tuyển sinh, các hội đồng tuyển sinh đều “nhặt” được những bài thi "không giống ai" và đăng tải lên một vài tờ báo, biến nó thành một câu chuyện cười. Đó là sự nhầm lẫn về kiến thức của thí sinh (một cách trầm trọng, đặc biệt là môn thi Sử của các ngành khối C!). Hiện trạng này chỉ ra một sự thực chua xót: những thí sinh này chưa đủ khả năng để tham dự chương trình đào tạo của bậc học đại học. Nhiều thí sinh quan niệm: thi đại học là quyền lợi, tham dự một lần cho biết! Họ là người nắm rõ nhất cơ hội trúng tuyển của mình. Nếu như, thay vì tham dự kỳ thi tuyển đại học, họ tham dự khóa học của một trường dạy nghề, họ sẽ không phải tốn kém về những chi phí cho mùa thi ấy. Theo đó, những vấn đề xã hội phát sinh trong mùa thi sẽ được giảm thiểu. Quan trọng nhất, đó là họ tìm được con đường vừa với sức mình!
Theo nhận định, mùa thi năm 2007, chất lượng đầu vào sẽ tăng do chất lượng thí sinh được sàng lọc từ kỳ thi tốt nghiệp bậc Trung học Phổ thông. Đó là năm Bộ Giáo dục - Đào tạo thực hiện quyết tâm "nói KHÔNG với tiêu cực". Quả thực, hiệu quả xã hội của việc làm này là rất lớn. Chúng ta thẳng thắn nhìn vào sự thật: trình độ thực tế của học sinh chúng ta là như thế. Gần 40% học sinh không đủ điều kiện tốt nghiệp Trung học Phổ thông sẽ làm giảm tình trạng những sinh viên ngồi nhầm giảng đường. Tuy nhiên, điều này không phải là giải pháp để có thể giải quyết vấ đề lao động – việc làm và thất nghiệp!
Nhà văn Lỗ Tấn (Trung Quốc) trong tác phẩm “Cố hương” có một câu nói nổi tiếng: “Trên đời này làm gì có đường. Người ta đi nhiều mà thành đường đấy thôi!”. Vậy, tại sao thế hệ trẻ Việt Nam không dám chọn con đường cho riêng mình, con đường vừa với sức mình để có thể tiếp cận gần hơn với cơ hội của mình? Nếu như họ chưa có kế hoạch cuộc đời của mình, xã hội cần thiết có sự định hướng cho họ. Nên chăng, trong tiêu chí tuyển sinh của các trường đại học, cần đưa vào tiêu chí về học lực tham dự của các thí sinh! Tất nhiên, tiêu chí về học lực này cần có sự chính xác. Sự chính xác này chỉ có thể có được nếu như chúng ta trung thực từ các bậc đào tạo dưới đại học (Tiểu học, Trung học Cơ sở, Trung học Phổ thông). Như thế, vấn đề là một sự xâu chuỗi liên quan một cách mật thiết với nhau!
Nhìn vào tấm gương Bill Gates!
Cả thế giới đang thần tượng Bill Gates – một người dám rẽ ngang con đường học vấn để tìm cho mình một con đường khác với mọi người. Tất nhiên, đó là một cá biệt. Sự thành công của Bill Gates ngày hôm nay, trước khi nói đến tài năng, yếu tố bản lĩnh chiếm tỷ lệ lớn trong thành công của ông.
Chúng tôi không đưa ra một lời khuyên với các bạn trẻ, rằng hãy từ bỏ con đường đại học như Bill Gates để chọn một con đường đi khác, bởi vì những con đường mới, không ai nhìn thấy được lối ra. Nó tiềm ẩn nhiều ẩn họa và sự rủi ro. Nó ngược với xu thế chung của xã hội. Nó ngược với cả tâm lý chung của xã hội. Điều mà chúng tôi mong muốn các bạn trẻ nhận ra từ những bài viết này, đó là cần có một kế hoạch cuộc đời của mình. Cần có sự thực tế trước khi quyết định lựa chọn hướng đi nào cho tương lai của mình. Đôi khi, sự lựa chọn ấy cần thực dụng. Ví như, sức học của bạn, khả năng tài chính của bạn phù hợp với một trường đào tạo nghề hơn là một trường đại học, tại sao các bạn không chọn con đường đi ấy. Sẽ không ai dám nhìn bạn bằng con mắt dưới, bởi bạn sẽ là một lao động chính góp phần vận hành guồng máy. Và hơn hết, lao động là vinh quang, dẫu câu nói ấy, nhiều bạn trẻ vẫn nghĩ, đó là một lời "hô khẩu hiệu"!
Dưới đây là những trích đoạn trong bài viết của Bill Gates – thần tượng của giới trẻ trên thế giới, biểu tượng của sự thành công – về những quan điểm giáo dục của ông ngày 11/4/1998. Những suy nghĩ của Bill Gates, rất thực tế, và đôi khi có cả sự thực dụng. Nhưng nó là những lời khuyên hữu ích cho các bạn trẻ khi các bạn chưa lập được “kế hoạch cuộc đời” của mình:
"Hàng năm, có hàng trăm học sinh gửi email cho tôi để hỏi xin lời khuyên về việc học hành. Các bạn trẻ muốn biết nên học gì, hoặc liệu có nên nghỉ ngang đại học như tôi đã làm không.
Cũng có nhiều phụ huynh gửi thư chân thành đề nghị tôi hướng dẫn cách chỉ bảo con em mình. Họ hỏi: "làm thế nào chúng tôi có thể hướng dẫn con em mình đến thành công?".
Lời khuyên quan trọng nhất của tôi rất đơn giản và chân thành: hãy đạt đến trình độ học vấn cao nhất mà bạn có thể. Hãy tận dụng thời gian trung học và đại học. Hãy học cách học!
…Trường đại học không phải là nơi duy nhất có thông tin. Bạn có thể học trong một thư viện. Nhưng ai đó trao cho bạn một quyển sách cũng chưa phải đã tạo nên điều kiện thuận lợi cho việc học tập. bạn cần học cùng với những người khác, đặt câu hỏi, thử nghiệm ý tưởng và tìm cách kiểm tra năng lực của mình. Việc này đòi hỏi nhiều hơn là chỉ một quyển sách.
…Tôi nghĩ rằng, các bạn trẻ đôi khi lại tự bẫy mình vào một phạm vi chật hẹp. Tôi hình dung rằng bạn vừa quyết định: “Được rồi, tôi sẽ là một chuyên gia về kế toán". Một người bạn hỏi: "Này, cậu đang đọc gì vậy?". "À, tôi đang đọc về kế toán”. Đây chỉ là cách các bạn tự khẳng định, và cũng là điều tốt. Nhưng thật không may nếu để có được điều này bạn lại phải hy sinh kiến thức về thế giới rộng lớn hơn hay khả năng làm việc tập thể.
…Trường đại học là nơi thích hợp để cân nhắc về một chuyên môn. Lựa chọn một chuyên ngành theo đúng lĩnh vực mình yêu thích có thể giúp bạn thành công – trừ khi chuyên ngành này rút cuộc lại đi vào ngõ cụt, hoặc bạn thật sự không đủ khả năng. Học tập đại học là một cách đạt được những kiến thức chuyên môn, tuy rằng xét theo khía cạnh kinh tế thuần túy thì việc học đại học và trên đại học không phải là một sự đầu tư tốt!”.
Lối vào cuộc sống có nhiều con đường. Nhiều khi, vì một quyết định sai lầm do không cân nhắc, không có kế hoạch cuộc đời cụ thể của mình, chúng ta đã "tự bẫy mình vào một phạm vi chật hẹp".
Mỗi người, do đó, theo năng lực, hoàn cảnh, theo xuất phát điểm của cá nhân, cần tìm cho mình một con đường phù hợp nhất. Con đường ấy sẽ giúp bạn tiệm tiến đến những cơ hội của mình.
Sẽ có những con đường khác, những lối đi khác, không phải chỉ có con đường độc đạo là gõ cửa các trường đại học. Chúng ta cần một cái đầu duy lý khi cầm bút đánh dấu vào hồ sơ cuộc đời của chính mình!
Di Linh