📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Biên-giới Việt-Trung và sự đối-đầu Trung-Pháp vào thời-kỳ chinh-phục Bắc-Kỳ 🔒

1 trả lời, 1.046 lượt xem — Trang 1 / 1
Tác giả: Charles Fourniau
Thể loại: Lịch sử, Bài viết
Dịch giả: Trương Nhân Tuấn

(La frontière sino-vietnamienne et le face à face franco-chinois à l’époque de la conquête du Tonkin, Charles Fourniau, trong quyển Les Frontière du Vietnam, Pierre-Bernard Lafont làm chủ-biên, nxb Harmattan, Paris 1989, trang 85-103 – Trương Nhân Tuấn lược dịch)
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-24 23:14:40Ct.Ly>
Những vấn-đề về biên-giới giữa hai nước Việt-Nam và Trung-Hoa, cho đến năm 1874, thì chỉ liên-quan đến hai nước nầy.
Nhưng bắt đầu từ hậu-bán thế-kỷ thứ XIX, những vấn-đề nầy được lẫn-lộn chung với các biến-động kinh-hoàng xãy ra ở Viễn-Ðông, đem lại từ sự đụng-chạm với các đế-quốc Tây-Phương. Việc đụng-chạm nầy tạo ra, trước hết một sự khủng-hoảng tận gốc-rễ lan tràn đến toàn vùng phía Nam sông Dương-Tử của Trung-Hoa trong các năm 60 và 70, thứ đến là sự thống-trị của Pháp ở An-Nam, và cuối cùng là sự suy-thoái từng bước của quân-đội Trung-Hoa.
Các yếu-tố địa-phương cũng bị thay đổi lớn-lao: Sự hiện-diện những đảng cướp Tàu tại Bắc-Kỳ cũng như sự việc đế-quốc Pháp thay mặt An-Nam về quân-sự và ngoại-giao đối với Trung-Hoa.
Mặc khác, đường biên-giới Việt-Trung trở thành một trong những tuyến-đầu cho sự đối-chọi giữa hai thế-giới hoàn-toàn xa-lạ nhau. Nó là mối quan-tâm của các nước trong vùng cũng như những Ðế-Quốc lo-ngại cho việc cân-bằng thế-lực ở địa-phương và thế-giới.
Vấn-đề biên-giới, cũng như những vấn-đề khác của Ðông-Nam Châu-Á, đã đi qua từ một  thời-kỳ lịch-sử nầy sang một thời-kỳ lịch-sử khác.
Nhưng việc đáng ghi-nhận, mặc dầu với sự chấn-động mãnh-liệt đặc-biệt của thời-kỳ nầy, đường biên-giới đã được thiết-lập từ thời xa-xưa giữa Việt-Nam và Trung-Hoa vẫn được giữ khá toàn-vẹn, ngoại-trừ một vài thay đổi nhỏ. Biên-giới Việt-Trung vì thế có được tính chính-xác khoa-học cũng như tính bó-buộc của đường biên-giới hiện-đại.
Như vậy rõ-ràng là sự xác-định đường biên-giới Việt-Trung dưới thời thuộc-địa đã không tạo ra một “biên-giới thuộc-địa”, có nghĩa là một đường biên-giới bất-kỳ được áp-đặt do sự can-thiệp từ bên ngoài, mà nó chỉ phản-ảnh từ một thực-tế lịch-sử đã bắt rễ sâu-xa.
Trong 10 năm, từ 1885 cho đến 1895, hai đối-thủ (Pháp và Thanh-triều), mỗi khi có dịp thuận-tiện là thử tìm cách thay-đổi biên-giới để dành phần lợi về mình, lúc dựa vào thực-địa, lúc dựa vào tương-quan lực-lượng. Cuối cùng hai bên thỏa-thuận trên căn-bản “giữ nguyên-trạng”, chỉ có một vài thay-đổi rất giới-hạn về lãnh-thổ.
Từ hiệp-ước Philastre (15 mars 1874), tình-hình không mấy thay-đổi, đến hiệp-ước Patenôtre và hiệp-ước Thiên-Tân vấn-đề đổi mới hoàn-toàn.
Hiệp-ước Patenôtre tháng 6 năm 1884 đã đặt An-Nam dưới sự bảo-hộ của Pháp (trước đó Nam-Kỳ “Cochinchine” đã bị nhượng cho Pháp); toàn-bộ nước Việt vì vậy chịu sự bảo-hộ của Pháp.
Tháng 6 năm 1885, dựa lên một công-ước đã ký trước đó một năm, công-ước Thiên-Tân được ký-kết nhằm kết-thúc chiến-tranh Pháp-Hoa và qui-định cho các đạo-binh của Tàu ở Bắc-Kỳ phải lui-binh (việc nầy đã được nhanh-chóng thực-hiện). Công-ước nầy cũng là bằng-chứng cho sự công-nhận của Trung-Hoa về sự hiện-diện của Pháp tại Việt-Nam, có nghĩa là mối liên-hệ thượng-quốc – chư-hầu giữa Trung-Hoa và Việt-Nam từ thế-kỷ thứ X được chấm-dứt vĩnh-viễn.
Như vậy là nước Pháp thay mặt quốc-gia Việt-Nam về mặt luật-pháp cũng như hành-động để cán-đán những công-việc liên-quan đến biên-giới của các vùng Quảng-Ðông, Quảng-Tây và Vân-Nam. Bởi vì hiệp-ước Patenôtre ghi rằng nước Pháp phải “bảo-đảm từ nay sự toàn-vẹn lãnh-thổ của vua nước An-Nam, bảo-vệ nước nầy chống lại những gây-hấn từ bên ngoài và phản-loạn trong nước. Vì thế chính-quyền Pháp có thể cho quân-đội của mình đóng trên những phần đất An-Nam và Bắc-Kỳ (Tonkin) tại các địa-điểm xét thấy cần-thiết nhằm thực-hiện quyền bảo-hộ” (điều 15).
Từ đó nước Pháp phải phòng-vệ ở vùng biên-giới với Trung-Hoa, việc nầy đặt ra giả-thiết phải bình-định và đóng quân trên vùng thượng-du Bắc-Kỳ. Ðây là một công-việc rất khổ-nhọc, phải cần đến 10 năm nỗ-lực về chính-trị và quân-sự.
Tuy-nhiên, văn-bản của hiệp-ước Thiên-Tân chỉ nói về những vấn-đề tổng-quát. Nó dự-trù thiết-lập hai công-ước phụ: một là về việc thương-mại giữa Trung-Hoa và Bắc-Kỳ và hai là việc phân-định biên-giới. Ðiều 3 hiệp-ước trên ghi rằng: “Trong một khoảng thời-gian 6 tháng, các ủy-viên của hai bên sẽ ra thực-địa để nhìn-nhận đường biên-giới giữa Trung-Hoa và Bắc-Kỳ. Những người nầy sẽ cắm mốc ở mọi nơi thấy cần-thiết để đường biên-giới được rõ-ràng...”. Nhưng thực-tế thì việc phân-định và phân-giới cắm mốc kéo dài trên 10 năm, từ năm 1885 cho đến năm 1895.
Những dữ-kiện của vấn-đề:
Có ba yếu-tố chính đã đóng những vai trò quyết-định trong diễn-tiến của công-trình xác-định đường biên-giới: 1. điều-kiện địa-hình và địa-vật ở các vùng biên-giới; 2. dữ-kiện xã-hội và chính-trị phía bên Trung-Hoa; 3. dữ-kiện chính-trị và quân-sự phía người Pháp.
Ðể kiểm-soát vùng thượng-du, đặc-biệt cần-thiết cho việc phân-giới, các đạo quân Pháp phụ-trách việc nầy chạm trán trước tiên là điều-kiện địa-lý.
“Cái khó-khăn của địa-hình” do “cấu-trúc hiểm-trở của núi-non” (J. Sion) và một sự soi-mòn rất mạnh do mưa lũ, tạo thành vô-số các sơn-cốc và rãnh sâu, nhất là tại các vùng nham-động (karstiques), tiếp theo là rừng-rậm nhiệt-đới, làm việc lưu-thông của quân Pháp cực-kỳ khó-khăn, nhưng nó lại dễ-dàng cho các lực-lượng đối-nghịch thiết-lập sào-huyệt. Mặc khác, vùng đất nầy rất nghèo, ít dân, (vài trăm ngàn dân cho một vùng đất lớn bằng một phần ba nước Pháp),  chỉ cống-hiến cho đạo-quân chiếm-đóng một nguồn sống nghèo-nàn. Việc tiếp-viện cho đạo-quân nầy vì thế rất khổ-nhọc và rất hao-tốn cho hậu-phương xa-xôi.
Thêm nữa, chính-quyền bảo-hộ còn thừa-hưởng một tình-hình chính-trị không tốt-đẹp.
Người ta đã biết rằng quyền-lực của triều-đình An-Nam thì thường-xuyên yếu-ớt và chỉ cai-trị gián-tiếp tại các vùng thổ-dân sinh-sống. Những người thần-phục vua An-Nam là do liên-quan huyết-thống hay do sự qua lại của dân-chúng cư-ngụ tại Lào hay Trung-Hoa.
Hệ-thống xã-hội ở đây - sẽ không phi-lý khi gọi là phong-kiến – cho phép sự hiện-hữu một khu-vực rộng lớn, thần-phục một dòng-họ, mà thái-độ của dòng-họ nầy có thể đem lại sự thuận-thảo hay chống-đối đối với triều-đình hay chính-quyền bảo-hộ. Như trường-hợp của gia-đình Ðèo-Văn-Trị, quyền-lực của người nầy trải ra một vùng rộng lớn chung-quanh Lai-Châu, vượt qua các giới-hạn biên-giới cổ-truyền giữa vương-quốc An-Nam và Trung-Hoa. Sự xây-dựng một hệ-thống quyền-lực khác ở ngoài vương-quốc chỉ thành-tựu nhờ ở một tập-hợp phức-tạp những thương-lượng về ngoại-giao và vận-động quân-sự, đã được triều-đình An-Nam thực-hành từ hàng thế-kỷ nay, và lần-hồi các sĩ-quan Pháp cũng áp-dụng. Nhưng phải cần một thời-gian nhiều năm để các viên-sĩ-quan trên thấu-hiểu được những sự-thật rắc-rối và đặt ra các phương-pháp chế-ngự, chấm-dứt phương-pháp chinh-phục cổ-điển không những không có hiệu-quả mà gây ra nhiều tốn-kém.
Mặc khác, vào khoảng năm 60 của thế-kỷ thứ XIX, một phiền-phức khác đáng chú-ý đó là sự xâm-nhậm của người Hoa.
Những thảm-trạng xảy ra vào các thập-niên 50-70 của thế-kỷ 19 ở vùng Hoa-Nam đã đem lại những hậu-quả là làm rắc-rối thêm cho vấn-đề xác-định đường biên-giới 1885-1895.
Các tỉnh phía Nam và Tây-Nam của Trung-Hoa đã không phục-hồi lại sau các cuộc tàn-phá dữ-dội, đó là việc nổi dậy của Thái-Bình Thiên-Quốc và của những người theo Hồi-Giáo; sau đó là các cuộc đàn-áp và  truy-quét của triều-đình(1853-1878). Chỉ ở các tỉnh nầy thiệt-hại nhân-mạng lên đến hàng triệu người (ước-lượng tổng-quát là 50 triệu người chết). Hàng chục năm sau, có vùng thật rộng lớn hoàn-toàn không có một bóng người ở. Việc nầy đem lại hai hậu-quả: Thứ nhứt là sự hiện-diện chính-quyền Trung-Hoa ở vùng nầy rất mờ-nhạt, vì thế việc kiểm-soát biên-giới không hữu-hiệu, cho dầu có nhiều quan-chức tại đây rất muốn làm. Thứ hai, quan-trọng hơn, trên lãnh-thổ Việt-Nam, trong vòng một góc tư thế-kỷ là cảnh thanh-bình an-lạc - người ta sẽ thấy ở đây sự cần-thiết một đường-lối chính-trị về biên-giới. Vì thế mà vùng thượng-du Bắc-Kỳ đã bị tràn-ngập những nhóm người xa-lạ đến từ bên Trung-Hoa: đợt di-cư của dân-tộc Mèo lần thứ ba (và cũng là lần cuối cùng), dân số trên 10.000 người đến từ các tỉnh Quí-Châu, Vân-Nam và Quảng-Tây; những nhóm vũ-trang là những đầu-lĩnh nổi-loạn như Lý-Hồng-Choi (1878-1879), hay những nhóm nhỏ thuộc Thái-Bình Thiên-Quốc như giặc Cờ Ðen, Cờ Vàng v.v.. và cuối cùng là khối nạn-nhân, những người khốn-khổ, chạy trốn sự giết-chóc và chết-đói – hôm nay chúng ta gọi là dân tị-nạn. Ðể sống còn, nhóm người nầy phải gia-nhập vào các đảng cướp. Cuộc “nam-tiến” nầy tạo thành những đoàn quân vũ-trang hùng-mạnh, tiến sâu cho đến cao-nguyên Cammon ở Lào (ngang với Nghệ-Tĩnh ở VN), được Pháp gọi dưới cái tên “invasion des Hô” – “sự xâm-lược của quân Hồ”.
Có nhiều hậu-quả xãy ra: phần lớn vùng thượng-du Bắc-Việt chạy dài cho đến phía bên kia rặng núi ở Trung-Việt đã bị những nhóm vũ-trang Tàu xâm-chiếm mà các nhóm nầy có những mối tương-quan phức-tạp với những quan-lại phong-kiến địa-phương. Toàn vùng vì thế càng thêm nghèo-khổ. Tuy-nhiên, Trung-Hoa thì hưởng phần lợi từ những việc nầy. Bởi vì quân cướp ở bên Tàu bị đuổi ra khỏi biên-giới, Trung-Hoa trút được một gánh nặng. Mặc khác, bọn nầy trở thành một lực-lượng nhằm Hán-hóa dân-chúng ở Bắc-Kỳ, như là một khả-năng bành-trướng thường-trực của Trung-Hoa (để đồng-hóa những dân-tộc khác). Việc nầy càng sâu-sắc hơn qua hai vụ can-thiệp quân-sự do quân-đội địa-phương (Hoa-Nam) tiến vào Bắc-Kỳ lần thứ nhất để tảo-thanh tàn quân của Ly-Hồng-Choi và lần thứ hai, theo lời kêu gọi của vua nhà Nguyễn (Tự-Ðức) bắt đầu từ năm 1883 vì sự gây-hấn của Pháp. Nếu biến-động tổng-quát nầy bắt nguồn trực-tiếp từ việc hỗn-loạn tại Hoa-Nam vào tiền bán thế-kỷ thứ 19, thì ta không thể bỏ qua một thực-tế bao-quát và sâu-xa hơn, việc di-dân xãy ra liên-tục, từ thời tiền-sử, do những khối dân-chúng sinh-sống trong vùng rừng-núi Tây-Nam đến Nam Trung-Hoa, có nghĩa là trong bán-đảo Ấn-Trung (indochinoise - sự di-cư của dân Tày).
Việc thành-lập đường biên-giới đã là kết-quả của sự đụng-độ trên thực-địa Bắc-Kỳ giữa hai đế-quốc Pháp và Trung-Hoa, dưới những điều-kiện đặc-biệt như sau:
- Trung-Hoa bành-trướng trên vùng cao Bắc-Kỳ, khởi-đầu cho việc Hán-hóa dân-chúng. Sự việc các băng-đảng Tàu đóng-chốt lâu dài, sự việc rút quân của quân-đội Trung-Hoa cũng như quân giặc Cờ Ðen sau khi hiệp-ước Thiên-Tân được ký-kết. Tham-vọng của Trung-Hoa cố giữ những phần đất càng nhiều càng tốt thuộc An-Nam, việc nầy sẽ được thấy sau năm 1885. Việc thành-lập đường biên-giới hiện-đại không những chỉ nhằm vào việc đảo chiều cho những sự việc quan-trọng vừa xãy ra, đuổi về phía Trung-Hoa những đảng cướp Tàu, mà còn chận đứng một luồng di-dân cơ-bản từ Trung-Hoa xuống vùng Ðông-Nam Á, đồng-thời chuyển toàn vùng Ấn-Trung sang một thời-kỳ lịch-sử khác.
- Một tình-hình quốc-tế phức-tạp, bất-lợi cho Trung-Hoa hơn là Pháp. Vì việc chinh-phục Bắc-Kỳ và Trung-Kỳ của Pháp đã được các đế-quốc khác chấp-nhận mà không có ngăn-trở đáng kể. Trong bối-cảnh ảnh-hưởng hổ-tương và quyền-lợi chính-trị giữa các đế-quốc, Pháp có nhiều thuận-lợi hơn là trở-ngại để mở-mang thuộc-địa. Hiệp-ước Thiên-Tân chấm-dứt và ngăn-chặn mọi khả-năng can-thiệp của các cường-quốc Tây-Phương vào vấn-đề Bắc-Kỳ.
Việc phân-định biên-giới vì thế đã được thực-hiện giữa Trung-Hoa và Pháp qua ba giai-đoạn.
Sự phân-định biên-giới và công-ước 1887.
Ban đầu cả hai chính-phủ đều mong-muốn công-việc thực-hiện mau lẹ và nghĩ rằng nó sẽ chấm-dứt  nhanh-chóng. Từ 14 tháng 8 năm 1885 có những công-lệnh chỉ-định nhân-viên cho Ủy-Ban Pháp phụ-trách phân-định biên-giới và ngày 1 tháng 9, ông Patenôtre ở Bắc-Kinh đã thông-báo rằng các ủy-viên Trung-Hoa cũng đã được chỉ-định.
Hai ủy-ban họp tại Ðồng-Ðăng (gần Lạng-Sơn) từ tháng giêng đến tháng 4 năm 1886 để giải-quyết biên-giới vùng Quảng-Tây, từ tháng 6 đến tháng 11 năm 1886 tại Lào-Cai cho biên-giới Vân-Nam và từ tháng 12 năm 1886 đến tháng 4 năm 1887 tại Móng-Cái cho biên-giới Quảng-Ðông và biên-giới trên biển. Nhưng thực-tế công-việc không đơn-giản như mọi người đã tưởng ở Paris.
Ngoài những khó-khăn về địa-lý thiên-nhiên, còn có thêm sự cản-trở của tướng De Courcy, ông nầy từ-chối không cung-cấp lính bảo-vệ cần-thiết cho ủy-ban. Trở-ngại nầy do từ tranh-chấp giữa các nhân-viên một bên thuộc ngoại-giao và một bên là quân-đội. Cuối cùng trở-ngại được giải-quyết qua sự can-thiệp của ông Freycinet, bộ-trưởng bộ ngoại-giao. Nó cũng hàm-ý cho thấy thời đó chính-phủ Pháp đã lựa-chọn một đường-lối chính-trị là quyết-định chiếm-đóng toàn-cõi Bắc-Kỳ, thay cho một đường-hướng chính-trị khác. Tướng De Courcy và bộ chiến-tranh Pháp chủ-trương một sự chiếm-đóng hạn-chế, chỉ giới-hạn trong vùng bình-nguyên và vùng chung-quanh, bỏ trống vùng thượng-du là một vùng không người “no man’s land”, và việc nầy sẽ có lợi cho các đảng cướp Tàu. Từ công-ước Bourée cho đến chương-trình thống-trị toàn-cõi nầy, cả một đường-lối chính-trị của Pháp đã được biểu-lộ theo chiều-hướng đó. Việc phân-định biên-giới đòi hỏi một sự chiếm-đóng toàn vùng thượng-du như được dự-trù trong công-ước Patenôtre 1884, việc nầy đã gây ra nhiều hậu-quả đáng kể. Việc xây-dựng những đồn-trại ở các vùng Lạng-Sơn, Lào-Cai v.v.. đã đặt ra vấn-đề tiếp-liệu cho các đoàn quân tại các nơi nầy. Việc nầy được thực-hiện liên-tục nhiều năm bằng những đoàn cu-li cực-kỳ tốn-kém, nhân-lực cũng như tài-lực. Cũng như việc xây-dựng đường xe lửa Hà-Nội - Lạng-Sơn trở thành cần-thiết trong khi ngân-quĩ lại không có. Nhất là nước Pháp đã dấn-thân trong lúc công-luận tại đây lại đòi hỏi chấm-dứt mọi cuộc động-binh quan-trọng và lúc chính-phủ Pháp giới-hạn ngân-khoản cho đội-quân viễn-chinh vào việc đánh-đuổi các đảng cướp Tàu đang chiếm-đóng vùng thượng-du. Việc đánh-đuổi nầy kéo dài khoảng 10 năm, chiếm phần lớn lực-lượng quân-sự. Với hậu-quả, sự đối-cực của hai bên Pháp-Trung đã ảnh-hưởng đến cả việc bình-định các vùng dân-cư  ở đồng-bằng.
Phía bên Trung-Hoa cũng vậy, sự xác-định biên-giới gây ra nhiều vấn-đề chính-trị phức-tạp, đem lại từ những chống-đối phe-phái, những chống-đối cá-nhân hay đến từ sự mâu-thuẫn của chính-quyền địa-phương và chính-quyền trung-ương. Ðiều 3 của hiệp-ước Thiên-Tân đã gợi-ý về một khả-năng, là nếu cần-thiết, “chấp-nhận những thay-đổi nhỏ ở đường biên-giới-hiện-nay ở Bắc-Kỳ”. Phía Trung-Hoa đã suy-diễn chi-tiết nầy như là một  dấu-hiệu chấp-nhận thay-đổi đường biên-giới, họ cho rằng đó là sự thỏa-thuận đền-bồi đất đai với việc nhượng-bộ chính-trị.
Lý-Hồng-Chương nói với tướng Rieunier rằng: “Nước Pháp đã đạt được nhiều quyền-lợi khi có được Bắc-Kỳ, xứ nầy là thuộc-quốc của Trung-Hoa từ 600 năm, và việc nầy là nhờ trung-gian của tôi. Nó đã gây cho tôi nhiều phiền-phức; tôi nghĩ rằng một sự đền-bồi dưới dạng nhượng vài vùng đất nhỏ trên vùng biên-giới là cần-thiết”. Lề-lối chính-trị “tiền trà-nước” (pourboires) của Trung-Hoa lần nữa được sử-dụng và nó gây ảnh-hưởng từ đầu đến cuối lên việc phân-định biên-giới cho tới năm 1887.
Thật ra thái-độ của Lý-Hồng-Chương bắt nguồn từ nhiều yếu-tố phức-tạp, nhất là các vấn-đề ở Miến-Ðiện, ở Triều-Tiên và những hoạt-động của định-thủ chính-trị, nhất là Trương-Chi-Ðộng, Tổng-Ðốc Lưỡng-Quảng. Vào lúc nước Pháp chiếm Bắc-Kỳ thì cũng là lúc Anh-Quốc đã hoàn-thành việc chiếm đóng Miến-Ðiện. Công-ước Anh-Hoa về Miến-Ðiện (và Tây-Tạng) 24-7-1886 đã dự-trù thành-lập một ủy-ban phân-định biên-giới. Tất-cả những gì Tàu nhượng-bộ cho nước Pháp sẽ có thể ảnh-hưởng đến những thương-thuyết sau nầy với Anh-Quốc, ngược lại, tất-cả những thành-quả đạt được tại Bắc-Kỳ sẽ là những ưu-thế của Tàu đối với Miến-Ðiện. Những vấn-đề ở Miến-Ðiện đã làm cho Lý-Hồng-Chương rất cứng rắn. Còn về phía biên-giới với Triều-Tiên, tình-hình tại đây đòi hỏi phải kết-thúc công-việc liên-quan biên-giới phía Nam để tập-trung một lực-lượng quân-sự lớn nhất có thể cho vùng Ðông-Bắc, là vùng mà ông nầy có nhiều quyền-lợi, vì ông đang làm Tổng-Ðốc Tchi-Li.
Nhưng Lý-Hồng-Chương không quyết-định được tất-cả. Nếu ông ta có thể giải-quyết được nhiều vấn-đề ở Bắc-Kinh thì trên thực-địa, dọc theo biên-giới, chính-quyền ở các địa-phương có thể có một đường-hướng chính-trị khác. Riêng ông Trương-Chi-Ðộng, Tổng-Ðốc Lưỡng-Quảng, một đối-thủ chính-trị với Lý-Hồng-Chương, là một người điển-hình chống triệt-đễ chủ-nghĩa đế-quốc của các nước thực-dân. Ông nầy đã thành-công trong việc hủy-bỏ hiệp-ước Livadia ký-kết với nước Nga đồng-thời kết-án người thương-thuyết hiệp-ước, (vì người nầy đã làm cho Trung-Hoa thiệt-thòi). Vì là Tổng-Ðốc Lưỡng-Quảng, ông nầy cũng đã cầm quân đánh với quân Pháp (1884-1885). Những bản tường-trình Pháp cho thấy tại Quảng-Ðông cũng có sự hiện-diện của Lưu-Vĩnh-Phúc, chủ-tướng giặc Cờ-Ðen.
Những quan-hệ giữa Pháp và Trung-Hoa tại vùng biên-giới Quảng-Ðông vì vậy rất khó-khăn. Mở đầu bằng một cuộc thảm-sát, một nhân-viên trẻ thuộc Ủy-Ban Pháp cùng với nhiều người khác cùng đi với ông nầy, đó là ông Haitce, tại Hải-Ninh, đối-diện với Móng-Cái ngày 25 tháng 11 năm 1886, đã bị giết chết. Người Pháp quả-quyết đàng sau vụ sát-nhân nầy là Trương-Chi-Ðộng. Sau đó là sự tranh-chấp rất gay-cấn một vùng đất gọi là “enclave annamite” và mũi Bạch-Long (phía bên kia Móng-Cái). Việc thương-thuyết bế-tắt và hai bên sắp-sữa động-binh. Bộ Ngoại-Giao Pháp (Quai d’Orsay) bình thường ít hiếu-chiến, lần nầy cũng tuyên-bố không cho lính Trung-Hoa tiến vào vùng đất đang tranh-chấp, nếu tất-cả những biện-pháp dùng cho việc nầy không kết-quả, “quân-đội của ta phải chống lại quân thù”. Tướng Munier tổng-tư-lệnh quân-đội chuẫn-bị chiến-tranh với Tàu và việc nầy không làm ông phiền lòng: “Nếu nước Pháp chấp-nhận tốn-kém đem lại do việc động-binh (đánh Canton hay Bắc-Kinh) để một lần là chấm-dứt, thì đây sẽ là một quyết-định tốt, vì cuối cùng tính ra sẽ ít tốn kém hơn, bởi vì chúng ta ở đây (Bắc-Kỳ) chỉ cần một cuộc chiến tự-vệ mà sự cần-thiết về viện-binh ít quan-trọng”.
Dầu vậy việc thương-thuyết vẫn được tiếp-tục và một công-ước về biên-giới đã được ký-kết tại Bắc-Kinh vào ngày 26 tháng 6 năm 1887. Tại sao và trên căn-bản nào ?
Trong lúc các ủy-viên và các trắc-địa-viên làm việc trên thực-địa thì tại Bắc-Kinh, một viên Ðặc-Sứ Pháp (Ministre plénipotentiaire) tên là Constans được gởi đến. Ðây là một người ảnh-hưởng nặng chủ-nghĩa cơ-hội, được chỉ-định để ký-kết hai công-ước phụ được dự-trù trong hiệp-ước Thiên-Tân, đó là công-ước về thương-mại và công-ước về biên-giới. Ông Constans cùng lúc thương-thuyết cho hai công-ước với Lý-Hồng-Chương. Trên bình-diện thương-mại thì xét lại thỏa-ước Congordan ký năm 1886, vì nó được xem là rất tệ-hại ở Ðông-Dương, và nhất là đạt được việc mở cửa vùng Hoa-Nam cho hàng-hóa Pháp đồng-thời dựng hai tòa lãnh-sự Pháp tại Vân-Nam và Quảng-Tây. Vì quyền-lợi quan-trọng về thương-mãi thúc-đẩy mà Constans cố phải thành-công trong việc thương-thảo. Về phương-diện chính-trị cũng thế, nó bắt buộc ông Constans phải nhanh-chóng kết-thúc để trở lại vị-trí của ông tại nghị-trường. Trong những điều-kiện như thế thì việc nhượng-bộ sẽ phải ở về mặt lãnh-thổ.
Công-ước về phân-định biên-giới được ký ngày 26 tháng 6 năm 1887 chấp-nhận như thế việc bỏ rơi vài phần đất thuộc các vùng có sự tranh-chấp giữa hai ủy-ban. Hai phần đất chính: một là tổng Tụ-Long, tiếp-cận biên-giới Vân-Nam, vùng đất nầy hoàn-toàn thuộc vương-quốc An-Nam mà ¾ của nó, tức vào khoảng 750 cây số vuông bị nhượng cho Trung-Hoa; hai là vùng đất ở về phía cực Ðông của biên-giới Quảng-Ðông, mũi Bạch-Long và “enclave annamite”, tức phần đất nằm trong lãnh-thổ Trung-Hoa nhưng toàn người Việt sinh-sống. Nhưng việc nhượng đất nầy có tầm quan-trọng bội-phần: nó lấy đi một phần đất của An-Nam và nó xác-định đường biên-giới trên biển và chủ-quyền các đảo ven bờ: “những đảo ở về phía Ðông của đường kinh-tuyến Paris 105° 43’ kinh-độ Ðông, có nghĩa là đường thẳng Bắc-Nam đi qua đông-điểm của đảo Trà-Cổ và làm thành đường biên-giới thì thuộc về Trung-Hoa...”. Từ đó không có một thỏa-ước nào phải ký-kết về vấn-đề biên-giới trên biển giữa hai nước Trung-Hoa và Pháp.
Cuối cùng, có một phần biên-giới chưa bao giờ được trắc-địa. Ðó là vùng Phong-Thổ, phía Tây Lào-Cai, ở giữa sông Hồng và sông Ðà. Ðồ-tuyến đoạn biên-giới nầy chỉ được được thực-hiện qua sự so-sánh các bản-đồ, sau đó được sửa-đổi rất nhiều qua công-ước 1895.
Ðường biên-giới Việt-Trung đã được xác-định như thế. Có ba điểm đáng ghi-nhận:
1/ Mặc dầu việc tranh-cải rất gay-gắt nhưng ảnh-hưởng của nó chỉ rất giới-hạn, chỉ du-di vài trăm thước hay một hai cây-số chiều sâu. Bởi vì hai bên không nhằm mục-đích thiết-lập một đường biên-giới đã được thỏa-thuận trước mà họ chỉ xác-định và công-nhận một đường biên-giới lịch-sử đã hiện-hữu, nó được chứng-minh bằng lịch-sử lâu đời và bằng một lượng hồ-sơ rất đáng kể (đặc-biệt là tài-liệu địa-chí của các nhà truyền-giáo Jésuites đã đo-đạc ở bên Trung-Hoa vào thế-kỷ thứ XVIII).
2/ Sau cuộc chiến giữa Pháp và Trung-Hoa thì luật-lệ về biên-giới cũng được hai bên chấp-thuận, nhưng việc nầy đã không những không làm nguy-hại đến sự toàn-vẹn lãnh-thổ của Trung-Hoa, ngược lại nó đem lại cho nước nầy một vài thắng-lợi về đất đai. Qua hiệp-ước Thiên-Tân, Trung-Hoa đánh mất quyền thượng-quốc (suzeraineté) ở Việt-Nam. Nhưng tại Pháp, bị mắc bẩy trong việc phiên-dịch, người ta đã quá thổi-phồng sự quan-trọng về ý-nghĩa của danh-từ “thượng-quốc, suzeraineté”. Bằng-chứng là nước Anh, thực-tế hơn, vẫn để cho Miến-Ðiện là chư-hầu của Trung-Hoa, nhưng không vì vậy mà nước nầy ít thần-phục nước Anh hơn. Người ta cũng thấy rằng vào thập-niên 80, mặc dầu với những tham-vọng chiếm đất của các đế-quốc thực-dân, Trung-Hoa không những vẫn giữ được toàn-vẹn vùng Hoa-Nam, mà còn đủ thực-lực để chống-chõi với kẻ địch và đạt những thắng-lợi về đất-đai. Trung-Hoa thời cuộc chiến Lạng-Sơn chưa phải là thời-kỳ bị phân-hủy.
3/ Sự phân-định biên-giới năm 1887 thì có rất nhiều thiếu-sót. Kết-quả cụ-thể chỉ là một số bản-đồ liên-quan đến các vùng biên-giới, những nơi có sự thỏa-thuận hai bên về đồ-tuyến của đoạn biên-giới. Nhưng việc trắc-địa thì được thực-hiện quá nhanh-chóng và không đầy-đủ. Vấn-đề còn phải áp-dụng đồ-tuyến trong bản-đồ lên thực-địa và cắm các cột mốc.
Sự phân-giới
Toàn vùng biên-giới Việt-Trung thì ở dưới sự kiểm-soát của các băng-đảng cướp Tàu. Việc đi lại của một nhóm nhỏ trắc-địa viên trên vùng nầy trong một hai tuần-lễ là một việc cực-kỳ khó-khăn, nếu không nói là vô-phương. Sự cắm mốc vì thế đòi hỏi sự kiểm-soát thực-sự của nhà cầm-quyền tại vùng nầy và việc loại-trừ bọn cướp. Ðể đạt được kết-quả, người ta phải mất nhiều năm dài với những nỗ-lực hoạt-động quân-sự không ngừng nghỉ.
Công việc phân-giới vô cùng khó-khăn, thêm vào đó các viên sĩ-quan trách-nhiệm việc nầy lại không nắm vững được những ý-nghĩa lịch-sử của các vùng đất. Những việc họ quan-tâm đến là các việc tức-thời, như là làm thế nào để “bình-định” vùng thượng-du và đuổi các băng-đảng, hay tìm hiểu thái-độ của nhà cầm-quyền Trung-Hoa như thế nào. Ðối với các băng-đảng thì có nhiều phương-cách khác nhau đã được sử-dụng. Từng đoàn quân đông-đảo hàng ngàn người trang bị vũ-khí nặng (như là việc chiếm lại Chợ Mới và Chợ Chu do tướng Borgnis-Desbordes vào năm 1888), nếu việc nầy đã là nguyên-nhân cho vô-số những huân-chương và văn-thư khen tặng nhưng thực-tế cho thấy nó vừa không cần-thiết vừa làm đổ máu nhiều quá. Ngược lại quí ông Pavie (1888) và Pennequin, là những gương mặt quân-sự phụ-trách việc bình-định vùng thượng-du, họ không cần phải nổ súng mà cũng đạt được những kết-quả quan-trọng bằng thương-thuyết. Cũng đã có những kết-ước xãy ra như với Ba-Ky và Lương Tam Kỳ, là những đầu-lĩnh cướp Tàu, điều-kiện trao-đổi là phải cung-cấp tiền-bạc cho bọn nầy cũng như để yên cho họ cai-trị một vùng nào đó; sau đó là những cuộc hành-quân thường ngày ở các đồn biên-giới, chính-sách “vết dầu loang” mà quí ông Galliéni và Lyautey sử-dụng sau nầy được mọi người biết tới. Hoạt-động nầy rất mạnh đến khoảng 1895, nó che đậy dư-luận một khía cạnh khác của vấn-đề là những sinh-hoạt do những người ái-quốc Việt-Nam đã khởi-động tại Trung và Bắc-Kỳ như phong-trào Cần-Vương, các phong-trào yêu nước tiếp-tục chống lại sự bảo-hộ của Pháp. Ðây là một cuộc tranh-đấu bền-bỉ ngược dòng lịch-sử và nó bị che-dấu lâu dài, kể cả dưới mắt chính-quyền, sự hiện-hữu thường-trực của một luồng hoạt-động ái-quốc của người Việt.
Sự lo-ngại khác của những viên-chức có trách-nhiệm việc phân-giới là thái-độ của chính-quyền Trung-Hoa. Những lời phản-đối thường-xuyên của Ðặc-Sứ Pháp tại Bắc-Kinh dường như cũng đạt được kết-quả ở năm 1889, lúc mà Trương-Chi-Ðộng, một đối-thủ lợi-hại đã bị đổi từ Lưỡng-Quảng để đi Hồ-Nam và Hồ-Bắc. Ông nầy được em của Lý-Hồng-Chương thay thế và công-việc tưởng sẽ được dễ-dàng. Nhưng ở tại Lưỡng-Quảng vẫn còn những lực-lượng mạnh không chấp-nhận việc Pháp đặt chân ở Việt-Nam. Chúng có khả-năng áp-đặt một đường-lối chính-trị hoàn-toàn trái-ngược với chính-quyền Trung-Ương là Tổng-Lý Nha-Môn hay với Tổng-Ðốc Lưỡng-Quảng. Hai đường-hướng chính-trị đối-chọi nầy kéo dài làm cản-trở những quyết-định ở Bắc-Kinh và tình-hình thực-tế của các vùng. Tám trại quân dọc trên biên-giới Lưỡng-Quảng thì do tướng Phùng-Chí-Tài chỉ-huy. Ðây là một võ-quan thuộc-hàng cao cấp nhất trong quân-đội Trung-Hoa, trên áo có những hột nút làm bằng đá quí, mang tước “Thái-Tử Thiếu-Bảo” (Ministre gardien du Prince héritier). Ông nầy được xếp vào hạng anh hùng quốc-gia vì đã thắng Pháp trong trận Lạng-Sơn. Ðược các con giúp-đỡ, ông nầy thực-tế trở-thành một thế-lực lớn và “với thế-lực nầy cũng như tiếng-tăm của ông ta, Phùng-Chí-Tài mới là thực-sự là Tổng-Ðốc Quảng-Ðông”, là lời kết-luận của ông chủ-tịch Ủy-Ban Phân-Giới Chiniac de La Bastide. Nếu ta thêm vào đây, lời ghi lại của Chiniac De La Bastide, quan Toàn-Quyền phê-bình ông “không hoàn-toàn lột hết khả-năng Tham-Mưu Phó của quân-đội viễn-chinh tại Ðông-Dương mà địch-thủ là người Trung-Hoa... và như thế chỉ có một ý-tưởng duy-nhất luôn luôn nổi bật trong những bản tường-trình: chứng tỏ sự trội hơn về thông-minh và đạo-đức của ủy-ban Pháp đối với ủy-ban Trung-Hoa”. Chúng ta hiểu vì thế, công việc phân-giới bắt đầu rất chậm-chạp và khó-khăn.
Mặc khác, phía bên Pháp vào việc khá trễ. Vì biết được ít nhiều những khó-khăn to-tác đang chờ đợi, những vị quan toàn-quyền (Constans, sau đó là Richaud) và những viên sĩ-quan chỉ-huy cố ý trì-trệ việc thi-hành những lệnh đến từ Paris, bắt đầu từ tháng 12 năm 1887. Phía người Hoa thì họ tuyên-bố rằng đã sẵn-sàng để bắt đầu công việc. Cho đến tháng 5 năm 1889 ông Toàn-Quyền Piquet mới thành-lập một ủy-ban “để bắt đầu cho công việc phân-giới toàn vùng biên-giới Việt-Hoa”. Từ năm 1889 đến năm 1891 đã có như vậy một ủy-ban đặc-biệt phụ-trách phân-giới toàn vùng biên-giới, trước hết do một viên sĩ-quan, đó là ông Chiniac de La Bastide, sau đó là một nhà ngoại-giao chuyên-môn về Viễn-Ðông là ông Flandin. Kết-quả của công-việc không là bao trong lúc chi-phí lại quá tốn-kém cho vị chủ-tịch cũng như những nhân-viên của ủy-ban. Năm 1891, với việc tổ-chức những Vùng Quân-Sự, ông Toàn-Quyền mới là ông Lanessan giao công-việc phân-giới ở những Vùng Quân-Sự nầy cho các vị chỉ-huy trưởng ở vùng đó. Vấn-đề phân-giới vì thế được trở thành nhiệm-vụ của quân-đội phụ-trách kiểm-soát vùng biên-giới. Nhờ vậy mà việc phân-giới được dễ-dàng và ít tốn kém trong khi hiệu-suất làm việc cao hơn. Mặc khác, việc phân-giới đã được giao cho những nhân-vật tài-giỏi, Ðại-Tá Servière, sau đó Ðại-Tá Galliéni.
Về phía Trung-Hoa, ở Quảng-Tây, tướng Sou (Sử Kinh Báo) cũng theo khuynh-hướng hợp-tác và giao-hảo. Ðại-Tá Galliéni kể lại trong một câu chuyện khôi-hài về những buổi đại-yến mà tướng Sou đải ông nầy hay là tình bạn thật sự đã nẩy-nở giữa hai người. Ở Quảng-Ðông và Vân-Nam sự-việc cũng tương-tự như thế. Hai bên Pháp và Trung-Hoa làm như không còn nhớ đến trận Lạng-Sơn, không còn vấn-đề phục thù cho những trận chiến vào các năm 1884-1885. Hai bên chấp-nhận lần-hồi những gì đã xãy ra và chuẫn-bị cho tương-lai, vì quyền-lợi hỗ-tương giữa Pháp và Trung-Hoa.
Và vì không còn những mâu-thuẫn chính-trị cơ-bản, việc  phân-giới trở thành không quan-trọng và không được sự chú-ý của chính-quyền trung-ương nữa.
Tuy-nhiên, những khó-khăn trên thực-địa không phải là không có. Sự diễn-dịch đồ-tuyến trên thực-địa cần phải có một vài thay-đổi để phù-hợp với thực-tế. Bởi vì các bản-đồ và các biên-bản phân-định năm 1887 thường thì không chính-xác. Vì thế trước khi cắm mốc người ta phải lấy địa-hình để vẽ lại bản-đồ và việc nầy dễ-dàng đặt lại vấn-đề công-ước 1887. Vài viên sĩ-quan Pháp có chủ-trương thay-đổi sâu-xa. Ý-kiến được chấp-nhận là trao-đổi và đền-bù đất đai, tùy theo yếu-tố chiến-lược đòi hỏi. Vì vậy mà mặt lịch-sử của đường biên-giới bị xem nhẹ. Công việc đã gặp nhiều trở-ngại, mất thì-giờ ở tại một số vùng có tranh-chấp. Hai vùng quan-trọng đó là Ðèo-Lương trên biên-giới Quảng-Tây và Tụ-Long trên biên-giới Vân-Nam. Vùng Tụ-Long đã được giải-quyết phần lớn vào năm 1894, nhưng những điểm tranh-chấp chính-yếu chỉ được giải-quyết ở cấp cao hơn, tại Bắc-Kinh, giữa ông Gérard và Tổng-Lý Nha-Môn, qua công-ước 1895.
Tại Ðèo-Lương thì Ðại-Tá Galliéni nhượng-bộ và bỏ một phần đất (diện-tích giới-hạn) của tổng nầy vì ông cho rằng, điều quan-trọng cho quân-đội Pháp là không phải tranh-chấp từng tất đất, mà “đạt được những đền-bồi xứng-đáng để có được một đường biên-giới thiên-nhiên thuận-lợi nhằm ngăn-cản dễ-dàng những đảng cướp xâm-phạm vào lãnh-thổ”. Vấn-đề chủ-yếu không còn là lãnh-thổ mà là chiến-lược. Vì thế vấn-đề biên-giới mỗi lúc được lẫn vào trong những vấn-đề khác về bình-định và cảnh-sát biên-phòng, chống lại những đảng cướp Tàu còn ở trên đất Việt, và chống lại sự xâm-nhập của các băng đảng khác đến từ Tàu, hai phương-diện nầy thực ra liên-hệ với nhau.
Cũng như thế mà Ðại-Tá Pennequin, từ tháng 8 năm 1893, đuổi được những đảng cướp Tàu đóng trên thượng-lưu sông Hồng, bằng cách cam-kết sẽ rút khỏi vùng Tụ-Long mà người Tàu muốn lấy vùng nầy. Nhưng những đảng cướp nầy lại đụng-độ với quân triều-đình; quân triều-đình bị thua nặng. Ðể có được sự bình-yên, viên quan Tàu trấn-thủ vùng nầy là ông Tao-tai Mường-Tè phải kết-hợp với chúng và hứa là không đánh-đuổi cũng như cung-cấp cho chúng tiền bạc và đạn-dược, sau đó viên quan nầy nhượng vùng đất có tranh-chấp nầy lại cho Pháp. Pháp đồng-ý tiếp-nhận và vào tháng 2 năm 1894, gởi một đạo quân gồm 500 người do ông Prétet chỉ-huy. Những đảng cướp tại đây vì thế phải bỏ nơi nầy, một số trở lại phía thượng-lưu sông Ðà; là nơi mà Ðại-Tá Pennequin đã đuổi chúng đi năm trước.
Cũng vậy ở khắp nơi trên đường biên-giới, những băng đảng cướp từ bên Tàu sang lãnh-thổ Việt-Nam để cướp-bóc.
“Tất-cả những quan-lại Trung-Hoa ở vùng biên-giới biết rằng họ có thể cướp bóc và giết người vô-tội-vạ như ý muốn ở Bắc-Kỳ, sau đó chuyên-chở phẩm-vật cướp về lại bên Tàu mà không có một trở ngại. Những viên quan trong vùng biên-giới Quảng-Tây nầy dung-dưởng cho bọn cướp vì họ sống nhờ vào đó. Ở mỗi trạm gác họ lấy một phần những gì mà bọn cướp đã cướp được, quân lính của họ là những nhân-viên đắc-lực phụ-trách công việc nầy” (theo Galliéni au Tonkin). Bọn cướp ăn cướp không từ món gì, từ trâu bò cho đến đàn bà, con nít.
Những hoạt-động tàn-ác của bọn cướp Tàu – trên biển cũng như trên đất liền – là bắt cóc trẻ em và phụ-nữ, sau đó bán sang Tàu để làm nô-lệ, thứ thiếp hay làm điếm; sự phân-biệt ba tình-trạng nầy thì thông-thường rất khó. Galliéni viết (Galliéni au Tonkin): “Ở Quảng-Tây thì phụ-nữ rất hiếm-hoi... Riêng ở Long-Châu thì tỉ-lệ chỉ có một phụ-nữ cho 5 hay 6 đàn ông; hơn nữa phụ-nữ Việt thì được ưa-chuộng vì giỏi-giang trong mọi lãnh-vực, làm việc nhà, tiết-kiệm và biết thương-lượng buôn-bán. Vì thế những thương-buôn Tàu rất muốn có những người phụ-nữ nầy để giúp họ trong việc buôn-bán... Một số lớn, theo lời ông Lãnh-Sự Long-Châu, thì được đối xử tốt, họ theo các thói quen của Tàu để phù-hợp với nếp sống mới và không tìm cách trở về quê-quán. Nhưng một số khác thì nhớ quê nhà và có khi tìm đến lãnh-sự Pháp để xin được hồi-hương”.
Việc phân-giới thực-sự đã làm giãm lần hồi số lượng đảng cướp Tàu vùng biên-giới, việc nầy còn có hiệu-quả hơn khi các đồn bót được dựng lên. Việc xây-dựng nầy nhằm vào một mục-tiêu chiến-lược, nhưng thực-tế, nó được dùng vào, hay thử dùng vào, việc kiểm-soát (police) để ngăn-chận sự hỗn-loạn và nghèo-đói từ các vùng Hoa-Nam đã bị tàn-phá tràn sang và việc buôn lậu vũ-khí hay thuốc phiện. Chất ma-túy nầy thực-tế mới đóng  vai-trò tiền-tệ thực-sự ở các vùng biên-giới.
Trong năm 1894, trên các vùng biên-giới thuộc tỉnh Quảng-Ðông, Quảng-Tây và Vân-Nam việc phân-giới và cắm mốc đã kết-thúc, ngoại trừ một vài địa-phương còn tranh-chấp thuộc tổng Tụ-Long và vùng hữu-ngạn sông Hồng. (Ông Charles Fourniau viết sai ở nơi đây: toàn vùng biên-giới Vân-Nam, khu-vực tả-ngạn sông Hồng chỉ được phân-giới và cắm mốc ... do Ðại-Tá Pennequin phụ-trách. Xem bản tường-trình của Pennequin và các biên-bản phân-giới vùng Vân-Nam)
Sự phân-giới vùng hữu-ngạn sông Hồng.
Ở vùng thượng-du Tây-Bắc Việt-Nam, phía Tây Lào-Cai, giữa sông Hồng và thượng-lưu Sông Ðà thì không được phân-giới và vùng nầy cũng không được phân-định (vì quên) trong công-ước 1887.
Về đoạn thứ 5 của vùng biên-giới Vân-Nam, Ủy-Ban Phân-Ðịnh đã ký một biên-bản vô-lực (procès-verbal de carence) vào ngày 19 tháng 10 năm 1886 : không thể có được sự thỏa-thuận “vì những trở-ngại hiện-hữu trên đoạn biên-giới nầy, Ủy-Ban quyết-định rằng, trong lúc nầy không thể đi ra thực-địa. Vì thế, ..., các Ủy-Viên hai bên sẽ đệ-trình việc nầy lên chính-phủ của họ, hai bên sẽ thỏa-thuận về thời-điểm và phương-thức cho việc phân-định lại vùng biên-giơi nầy”.
Nhưng để có thể ký-kết các hiệp-ước bổ-túc một cách nhanh-chóng, toàn thể chiều dài của vùng biên-giới được vẽ trên bản-đồ. Ông Constans ở Bắc-Kinh thỏa-thuận với nhà Thanh để vẽ đồ-tuyến nầy trên bản-đồ của Trung-Hoa, thiếu mọi  công việc đo-đạc trên thực-địa. Phía Trung-Hoa đòi-hỏi toàn vùng nầy, được biết dưới tên là Phong-Thổ. Những người thương-lượng phía bên Pháp gộp vấn-đề nầy với những tranh-chấp ở tổng Tụ-Long, đạt được là đường biên-giới chia vùng Phong-Thổ ra làm hai, Việt-Nam được một nửa.
Công-Ươc được ký-kết như thế nhưng trên thực-tế thì đường phân-chia nầy chỉ là một đường vạch trên bản-đồ mà bản đồ nầy hoàn-toàn sai, nó không hề phù-hợp với một thực-tế lịch-sử, thực-tế chính-trị hiện-thời cũng như thực-tế từ sự đo-đạc trắc-địa.
Nhưng làm sao mà phía Pháp biết được vì chưa hề có một người Pháp nào đi vào vùng nầy, một vùng hoàn-toàn thoát khỏi sự kiểm-soát của chính-quyền Việt-Nam cũng như Trung-Hoa. Vùng nầy được điều-khiển do những đầu-lĩnh phong-kiến địa-phương hay những đảng cướp, mặc khác, vùng nầy bị tàn-phá dữ-dội.
Lý-do, một mặt do hậu-quả của việc lập sào-huyệt của các đảng cướp Tàu, vùng nầy bị tàn-phá ghê-gớm vào năm 1887 bởi đường-lối chính-trị “tiêu-thổ” của Tôn Thất Thuyết. Ông nầy sau khi rời vua Hàm-Nghi trong vùng núi non Quảng-Bình thì sang Tàu. Trước khi vào đất nầy ông ngừng ở Lai-Châu, tại đây ông được Ðèo Văn Trị, một đầu-lĩnh quan-trọng cai-trị vùng nầy, tiếp-đón. Ðể ngăn-chận một sự theo-đuổi có thể của quân Pháp - mà trên thực-tế thì quân nầy không thể tiến vào những vùng rừng núi - ông Tôn Thất Thuyết thuyết-phục Ðèo Văn Trị áp-dụng việc “tiêu-thổ” vùng đất của mình rồi theo ông sang Tàu. Ðèo Văn Trị đã nghe theo. Ông Pavie (Auguste) đi ngang vùng nầy năm sau diễn-tả cho chúng ta những thung-lũng bỏ hoang, làng-mạc nhà cửa phá bỏ do những người dân ở đây mà một số theo thủ-lĩnh của họ sang Tàu.
Quyết-định tại Bắc-Kinh cắt làm hai vùng Phong-Thổ trên bản-đồ, hay là lời tuyên-bố của tổng-đốc Vân-Nam chính-thức sát-nhập vùng nầy vào lãnh-thổ của mình thì rất thiếu thực-tế đối với với tình-trạng cụ-thể của vùng đất hẻo-lánh nầy, nó hoàn-toàn tự-trị dưới một chế-độ phong-kiến, và phần lớn rất nghèo-khổ. Nhưng bắt đầu từ năm 1888 tình-trạng nầy thay-đổi tận gốc rễ.
Người Pháp bắt đầu đi vào vùng thượng-lưu sông Ðà vào năm 1888 qua hai hình-thức. Một bằng quân-sự (đoàn quân Pernot) và hai là việc thám-hiểm. Công-trình thám-hiểm của ông Pavie được thực hiện hai lần, lần đầu từ Thái-Lan đi lên Hà-Nội và lần thứ hai từ Hà-Nội đi ngược trở lại để đến Bangkok. Cuộc hành-quân Pernot thì để lại Lai-Châu một đồn-binh; ông Pavie lúc trở về thì đi với ông Pennequin và không hề nổ súng, những người nầy đã thành-công trong việc thâu-phục được một số băng đảng ở vùng nầy.
Hoạt-động nầy của người Pháp ở đây thực sự không nhắm vào Trung-Hoa hay những vấn-đề liên-quan đến biên-giới với họ, mà là do việc Thái-Lan đã có những hoạt-động trên toàn vùng đất Lào và có khuynh-hướng bành-trướng về những địa-phương nguyên-thủy thuộc ảnh-hưởng An-Nam, từ đèo Ai-Lao (thuộc vùng Bình-Ðịnh) cho đến vùng thượng-lưu sông Ðà. Năm 1888, một đạo-quân nhỏ của Thái-Lan đã chiếm vùng nầy và bắt đi nhiều cháu, con thuộc dòng-họ Ðèo Văn Trị. Sau đó những tù-nhân nầy được thả nhờ  trung-gian của ông Pavie. Nhờ vậy mà tình-hình xã-hội ở đây thay-đổi. Cho đến lúc nầy thì Ðèo Văn Trị vẫn còn ở Trung-Hoa với Tôn Thất Thuyết, dòng-họ ông cai-trị vùng nầy  thù-nghịch với Pháp trong lúc người Pháp thì dựa lên kẻ thù không đội trời chung của Ðèo Văn Trị là viên Quan-Châu ở “Chien-Tao”, một người không có nhiều thế-lực. Năm 1888, gia-đình Ðèo Văn Trị (ông nầy đang ở bên Tàu, quyền-hạn trong tay người em là Kam Heun), để có thể bảo-vệ chống lại uy-quyền của Thái, họ phải nghiêng về phía Pháp. Người Pháp vì vậy mới bỏ viên Quan-Châu ở Chiên-Tau để lập quan-hệ với dòng-họ thống-trị vùng nầy. Ðèo Văn Trị từ Tàu trở về và ở lại đây, trở thành người cộng-tác mật-thiết dưới quyền bảo-hộ của Pháp cho đến khi ông này chết. Nhờ vào việc nầy mà toàn vùng Phong-Thổ mới chịu sự lãnh-đạo của Pháp, dòng-họ Ðèo Văn Trị lãnh-đạo vùng nầy không hề công-nhận công-ước 1887.
Nhưng vào cuối năm 1891, để chấm-dứt việc phân-giới vùng biên-giới Vân-Nam, ủy-ban do ông Servière làm chủ-tịch đến Phong-Thổ để làm công-việc trắc-địa lấy đồ-hinh vùng nầy chiếu theo đồ-tuyến 1887. Những sĩ-quan phụ-trách vùng biên-giới nầy phản-đối kịch-liệt.
Nhất là viên chỉ-huy trưởng đạo (cercle) Van-Bu (phía hữu-ngạn sông Ðà, và vùng thượng lưu sông Mã), là vùng trực-tiếp liên-hệ, phải-đối việc trắc-địa tại đây và giải-thích như sau:
“Công-Ước Constans đã nhượng cho Trung-Hoa toàn vùng hữu-ngạn sông Mã và trọn vùng tả-ngạn sông Ðà, phía trên Lai-Châu mà đây là cái nôi của dòng-họ Ðèo Văn Trị và dường như họ không biết đến nội-dung công-ước nầy. Nhưng trên thực-tế, bỏ qua nội-dung công-ước, thì chúng ta kiểm-soát vùng nầy và thái-độ của chính-quyền Trung-Hoa  không hề phản-đối. Nhưng nếu chúng ta phân-định thì chúng ta phải áp-dụng công-ước vì vậy phải cắt vùng nầy ra làm hai. Nếu chúng ta nhượng vùng nầy thì chúng ta không những xúc-phạm Ðèo Văn Trị về quyền-lợi mà còn đến danh-dự của ông ta. Chúng ta làm việc với ông nầy từ một năm nay và xem như là người bảo-vệ biên-giới; khi phong ông ta làm Quan-Ðạo vùng nầy, chúng ta đã có quan-hệ vĩnh-viễn với ông. Nếu chúng ta cắt vùng nầy ra làm hai, chúng ta tự xóa bỏ uy-danh của mình mà ở xứ rộng-lớn và khó-khăn nầy, chúng ta chỉ giữ được là nhờ ở cái uy-danh nầy và sự gan-dạ của mình.” (CAOM, tiểu-đoàn trưởng Thirion gởi chỉ-huy trưởng vùng 4 quân-sự).
Bị thuyết-phục bởi những lý-lẻ nầy, vị chỉ-huy trưởng vùng 4, lúc đó còn là Trung-tá, ông Pennequin, sau đó là tướng Duchemin là chỉ-huy trưởng quân-đội, cùng đòi hỏi đình-chỉ việc phân-giới. Tháng 3 năm 1894, ông Toàn-Quyền Lanessan ra lệnh cho Servière ngưng mọi công-việc trong đoạn biên-giới giữa sông Hồng và sông Ðà.
Hơn nữa, bắt đầu từ năm 1893, vấn-đề không còn tương-tự như năm 1887 vì hai lý-do: Pháp chiếm được Lào và sự yếu-kém của Tàu.
Từ năm 1893, Pháp đặt được quyền bảo-hộ tại Lào; lực-lượng của Thái-Lan bị đuổi về phía bên kia sông Cửu-Long, không còn là một nguy-hiểm nữa. Tuy-nhiên, xứ bảo-hộ thuộc Pháp kéo dài thêm nhiều trăm cây-số đường biên-giới với Tàu về phía Tây. Sự phân-định biên-giới phía Bắc Lào gây thêm nhiều việc phiền-phức trong một vùng núi cao khó-khăn cho việc đi lại, tại đây là vùng tam biên Miến-Ðiện (thuộc Anh) Lào (thuộc Pháp) và Trung-Hoa. Những sự nhượng-bộ trong lúc phân-giới giữa Pháp với Trung-Hoa tại Bắc-Kỳ có thể sẽ có ảnh-hưởng rất lớn trên vùng biên-giới có tranh-chấp ở Lào. Quan-trọng là đối-tượng không còn là Trung-Hoa mà là nước Anh.
Trung-Hoa bắt đầu từ những năm 1893-1894 cho thấy những dấu-hiệu sút-kém, mở ra cho Pháp những đường-hướng chính-trị mới.
Từ 31 tháng 7 năm 1894, Trung-Hoa khai-chiến với Nhật, nhưng bị thua liên-tục một cách nhục-nhã và ngày 17 tháng 4 năm 1895 phải ký hiệp-ước Simonoseki, đánh-dấu một giai-đoạn mới trong lịch-sử kháng-chiến của Trung-Hoa chống lại áp-lực của các đế-quốc. Kể từ lúc nầy ‘Trung-Hoa mất đi nhanh-chóng sự tự-chủ về kinh-tế, độc-lập về lãnh-thổ, chính-trị cũng như về quân-sự. Trung-Hoa đi vào một giai-đoạn đau-thương nhất trong lịch-sử của họ, trong lúc mà những nước giàu đang tiến bước mạnh trong lãnh-vực kỷ-nghệ”.
Giai-đoạn lịch-sử bắt đầu với những năm dài trong vấn-đề phân-định đường biên-giới Việt-Trung, chấm dứt trong một hoàn-cảnh khác hẵn với lúc ban đầu.
Trong khoảng thời-gian 20 năm, sau khi chế-ngự được các cuộc nổi dậy to lớn trong những thập-niên 50 và 60, đã có một sự thay-đổi chính-trị dưới ảnh-hưởng của Lý Hồng Chương, Trương Chi Ðộng v.v.. việc nầy cho phép Trung-Hoa, mặc dầu có những nhượng-bộ ở những xứ mà họ cho là của mình, nhưng Trung-Hoa vẫn đương-đầu được với những gây-hấn của các cường-quốc để thương-lượng với họ và đôi khi dành được một vài ưu-điểm.
 Nhưng từ 1894-1895 thì mọi việc đều thay đổi. Trung-Hoa không thể đối đầu ở mọi mặt-trận, trong lúc mà sự bành-trướng của các đế-quốc, đặc-biệt là nước Pháp, có được kinh-nghiệm đụng-độ với Tàu ở các năm 1883-1885 cũng như việc chống-cự của các lực-lượng ái-quốc Việt-Nam; nước Pháp đã có một tư-thế khác: chiếm-giữ được Lào và chuẫn-bị những dự-án ở Vân-Nam.
Vì thế những vấn-đề liên-quan đến biên-giới còn tồn-đọng chưa giải-quyết được đặt ra trong một hoàn-cảnh hoàn-toàn khác: Trong vùng thượng-du Tây-Bắc, thẩm-quyền của triều-đình An-Nam thì chưa bao giờ được xác-định thực sự, đường biên-giới lịch-sử không rõ-ràng, những vùng đất tại đây thực-tế thuộc thẩm-quyền của các dòng-họ phong-kiến thuộc các dân-tộc thiểu-số hơn là những vùng đất thuộc quốc-gia cần được phân-định. Vì thế những vùng đất nầy đường biên-giới không được xác-định bằng thực-tế lịch-sử mà do tương-quan lực-lượng trong mỗi lúc. Do đó mà quan-niệm của Lyautey, phù-hợp với quan-niệm của nhiều viên sĩ-quan thời đó, nhất là ông Pennequin. Lyautey giải-thích rằng sẽ có lợi nếu để nguyên tình-trạng (statu quo) vùng biên-giới chưa được phân-định. “Sẽ rất có thể một ngày nào đó chúng ta sẽ mở lớn ra ở vùng Vân-Nam... Vì thế sẽ có lợi nếu để vấn-đề nguyên-trạng... Việc phân-giới, luật-lệ về cảnh-sát biên-phòng... thì trấn-an được những nhà ngoại-giao, nhưng nó đi ngược lại đường-hướng chính-trị của chủ-nghĩa thuộc-địa, chủ-nghĩa nầy thì làm mọi việc để chiếm đất và tương-lai sẽ quyết-định sau... Những người theo chủ-nghĩa thuộc-địa thì không bao giời phân-định biên-giới” (theo P. Lyautey, Lettres de Tonkin et de Madagascar).
Nhưng dầu vậy cũng phải thiết-lập một đường biên-giới, bởi vì từ nay hầu như toàn vùng đã ở dưới sự kiểm-soát của Pháp. Nhưng không thể là đường biên-giới do công-ước 1887 chỉ-định. Vì thế Pháp đã ép Trung-Hoa một đồ-tuyến khác.
Vào đầu năm 1894, ông Pavie gặp Toàn-Quyền De Lanessan và ông Gérard đang chuẫn-bị đi Bắc-Kinh để lãnh nhiệm-vụ Ðặc-Sứ Pháp (Ministre de France). Những người nầy sắp đặt một đồ-tuyến mới để yêu-cầu triều-đình Trung-Hoa chấp-thuận, trong đó liên-quan đến biên-giới Việt-Trung (vùng Phong-Thổ) và biên-giới Lào-Trung (vùng Phong Saly, Mường Hou và Mường Sing). Ðồ-tuyến mới này đem lại cho Việt-Nam – là vùng duy nhất mà chúng tôi nhận thấy – toàn-bộ lãnh-thổ của Ðèo Văn Trị, giao lại cho Việt-Nam  vùng phía Bắc đã bị đồ-tuyến của công-ước 1887 chia hai.
Toàn-bộ vấn-đề biên-giới (Việt và Lào), từ sông Hồng đến sông Cửu-Long, đã được thương-lượng tại Bắc-Kinh vào năm 1894 do ông Gérard, trong một khung-cảnh tai-biến của cuộc-chiến Trung-Nhật.
Về vấn-đề biên-giới Việt-Nam, có hai điểm không tương-xứng được giải-quyết: vùng đất nhỏ ở Muong Thong và Man-Mei để hoàn-tất vĩnh-viễn biên-giới vùng Tụ-Long và sự phân-định vùng Phong-Thổ.
Ngày 10 tháng 10 năm 1894, ông Gérard điện-tín cho hay rằng Tổng-Lý Nha-Môn đã chấp-nhận đồ-tuyến đề-nghị. Vì thế công-việc trên thực-địa có thể được tiếp-tục. Ông Pavie được chỉ-định làm chủ-tịch ủy-ban. Ông nầy chia vùng biên-giới làm hai phần, ranh-giới là sông Ðà, dành cho vùng thuộc Lào từ sông Ðà đến sông Cữu-Long, giao công-việc phân-định từ sông Ðà đến sông Hồng cho Commandant Tournier, các vị phụ-tá là Lugan, Sandré và Sainson. Ngày 26 tháng 11 năm 1894 Cdt Tournier lên lãnh nhiệm-sở. Hai ủy-ban Pháp-Trung họp tại Long-Pô ngày 3 tháng 1 năm 1895. Ngày 29 tháng 3 việc trắc-địa theo đồ-tuyến xác-định ở Bắc-Kinh hoàn-tất. Công-việc được thực-hiện cùng lúc với phần biên-giới kia, việc thương-thuyết bắt đầu lại tại Bắc-Kinh đưa đến kết-quả ngày 20 tháng 6 năm 1895 ký công-ước giữa ông Gérard và hoàng-thân King, chủ-tịch Tổng-Lý Nha-Môn, xác-định biên-giới giữa sông Hồng và sông Cữu-Long. Cùng lúc trong khoản cuối cùng, công-ước nầy giải-quyết dứt-khoát luôn những tranh-chấp ở Tụ-Long (Muong-Thong và Man-Mei).
Công-Ước Gérard vì vậy là văn-bản duy-nhất bổ-túc thêm cho công-ước 1887. Văn-bản nầy sửa-chữa đoạn thứ năm của vùng biên-giới Vân-Nam, có nghĩa là vùng phía bên kia của sông Hồng. Những sử-đổi chi-tiết khác cũng được chấp-nhận trong những lúc cắm mốc.
Công-ước Gérard vì thế mở qua giai-đoạn cuối của việc phân-giới giữa Trung-Hoa và những vùng đất dưới sự kiểm-soát của Pháp. Việc cắm mốc còn trễ nãi ở vùng phía bên kia sông Ðà. Ngược lại, nó được giải-quyết nhanh-chóng từ sông Ðà đến sông Hồng. Ðoạn biên-giới nầy được chia làm hai tiểu-đoạn: sông Hồng tới sông Nậm-Nam, tức vùng Phong-Thổ; và từ sông Nậm-Na đến sông Ðà, tức vùng Lai-Châu.
Ngày 1 tháng 4 năm 1896 trung-tá Vimard, chỉ-huy trưởng vùng 4 quân-sự điện-tín cho tổng tư-lệnh; “việc phân-giới giữa hai nước Việt-Trung thì hoàn-toàn kết-thúc”.
(Hết)
 
Đã mang vào thư viện
Cảm ơn hector nhiều
Chúc vui
0