📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Tùy Bút - Tản Văn

Vài khái niệm bình dân ngày xưa

2 trả lời, 2.134 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc &lt; S&#7917;a &#273;&#7893;i b&#7903;i: <b>ct.ly</b> -- <b>11.9.2004 20:29:18 </b> &gt;>
Vài khái niệm bình dân ngày xưa

Mộng Nam Kha sưu tầm

(sưu tầm)

Cho đến thế kỷ XIX giáo dục chưa quảng bá sâu rộng trong nước ta. Số người có học rất ít. Họ chỉ biết chữ Hán, văn chương, thi phú, Nam sử, Bắc sử và điển tích của Trung Hoa mà thôi. Sự hiểu biết về khoa học kỹ thuật và nước ngoài rất hạn chế.
Tất cả những kinh nghiệm sống của dân tộc ta được gói ghém trong những câu ca dao, những vần thơ, khúc hát, những câu châm ngôn, tục ngữ hay những câu nói ngắn gọn và dễ nhớ. Trong khuôn khổ bài viết ngắn gọn nầy chúng tôi xin nói qua vài khái niệm bình dân của tiền nhân chúng ta trong quá khứ. Phần lớn những khái niệm ghi trong bài nầy được tìm thấy cả ở ba miền đất nước. Một vài khái niệm chỉ được tìm thấy ở miền Nam mà thôi.

Khái niệm văn hóa.

Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm của Trung Hoa sau gần 11 thế kỷ Bắc Thuộc. Người Việt Nam học phương pháp canh tác, phép cưới hỏi, văn hoá, tư tưởng và học thuật của người Trung Hoa.

Ba tôn giáo quan trọng và lâu đời nhất ở Việt nam là Khổng, Lão và Phật Giáo. Khổng và Lão giáo đều xuất phát từ Trung Hoa và do người Trung Hoa giảng dạy cho dân thuộc địa từ năm 111 trước Tây Lịch đến năm 938 sau Tây Lịch. Phật giáo tuy không xuất phát từ Trung Hoa nhưng do các sư tăng người Trung Hoa giảng dạy ở nước ta. Chùa chiền ở Việt Nam phỏng theo kiến trúc thảo mộc của chùa chiền ở Trung Hoa. Kiến trúc nầy hoàn toàn khác với kiến trúc bằng gạch hay đá của các chùa chiền tiểu thừa ở Lào, Cambodia. Thái Lan, Miến Điện, và Tích Lan (Sri Lanka). Kinh kệ đều viết bằng chữ Hán chớ không phải bằng chữ Phạn (Sinskrit) nên các tu sĩ Phật giáo Việt Nam đều phải học chữ Hán như các tu sĩ Thiên Chúa giáo học chữ La tinh vậy. Cho đến đầu thế kỷ XX không tu sĩ Phật giáo Việt Nam nào biết chữ Sanskrit cũng như không tu sĩ ThiênChúa giáo Việt Nam nào biết tiếng Hebrew (Do Thái). Đó là sự trùng hợp vô cùng ngộ nghĩnh vì Việt Nam không tiếp nhận Phật giáo và Thiên Chúa giáo trực tiếp qua trung gian giáo sĩ Nepal, Ấn Độ hay Do Thái.

Người Minh Hương có nhiều cống hiến trong công cuộc nam tiến của dân tộc Việt Nam. Trần thượng Xuyên có công khai phá đất Đông Phố (Biên Hoà, Sài Gòn), Dương ngạn Địch khai phá đất Mỹ Tho và Mạc Cưữ, Mạc thiên Tích mở rộng đất Hà Tiên. Võ trường Toản, Trịnh hoài Đức, Lê quang Định, Phan thanh Giản, Trần tiển Thành ... đều là những người Minh Hương nổi tiếng trong nước. Hầu hết các thành phố lớn ở miền Nam đều có người Hoa sinh sống. Chợ Lớn là thành phố có nhiều người Hoa nhất trong nước. Ở miền Bắc, Hải Phòng và các đảo đá vôi trong vịnh Hạ Long có nhiều thương gia, ngư phủ người Hoa cư trú. Người Hoa sống rải rác và thưa thớt ở các??nh miền duyên hải Trung Bộ.
Người Việt Nam có thức ăn riêng. Nhưng họ rất hưởng ứng thức ăn Trung Hoa và mơ ước như người Trung Hoa được:

Ăn cơm Quảng Châu
Cưới vợ Tô Châu
Về chết ở Hàng Châu


Họ cũng thích đọc những pho truyện Tàu dầy cộm như Tam Quốc Chí, Thuyết Đường, Thuỷ Hử, truyện Phong Thần, và trong thập niên 1960 và 1970 : Cô Gái Đồ Long, Thần Điêu Đại Hiệp, Lộc Đỉnh Ký ... của nhà văn tả phái tỵ nạn. Hồng Kông là Kim Dung (Kim Yung).

Việt Nam là quốc gia ít chịu ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ nhất trên bán đảo Ấn Trung (Indochina) mặc dù đa số dân trong nước tin theo triết lý Phật giáo.
Đạo Phật xuất phát từ Kapilavastu gần xứ?al bây giờ. Vào thế kỷ III các nhà sư Ấn Độ như Chi Cường Lương (Kalyanruci) và Ma La Kỳ Vự (Majaivaka) đến Phù Nam (Funan; Cambodia) và Giao Chỉ rồi sang giảng đạo Phật ở Quảng Đông. Người Việt Nam không tiếp nhận triết lý Phật giáo trực tiếp qua các sư tăng Ấn Độ mà qua các sư tăng Trung Hoa. Sri Lanca, Miến Điện, Thái Lan, Cambodia và Lào theo Phật giáo nguyên thuỷ hay Tiểu Thừa (Theravada; Hinayana). Phật giáo ở Việt Nam là Phật giáo Đại Thừa (Mahayana) giống như Phật giáo ở Trung Hoa. Trong chùa có nhiều Phật, Bồ Tát (Boddhisattvass) và La Hán. ngoài ra còn có cả những danh nhân Trung Hoa như Quan Công, Tần thúc Bảo, Trần huyền Trang ...

Người Việt Nam không ăn bốc, không mặc xà rông và không theo tục hoả thiêu như người Ấn Độ. Họ thích ăn thịt bò trong khi người Ấn Độ xem bò là vật thiêng. Người Ấn ăn thịt dê, một thứ thịt tương đối hiếm ngoài chợ thịt Việt Nam. Trong quá trình Nam tiến, người miền Nam thích ăn cà ri Ấn Độ và cà ri Bà Lai (Mã Lai), một món ăn đặc thù của người Ấn Độ và các dân tộc da sậm ở Nam Á. Thức ăn béo, cay và dồi dào hương vị nầy được nấu bằng sửa hay nước cốt dừa với bột nghệ, ớt khô lẫn tươi, thảo mộc và thịt gà hay dê. Cà ri Bà Lai được nấu bằng cá thái từng miếng nhỏ nấu với bột nghệ, thảo mộc, ớt khô nghiền nhuyễn ăn với cà tím thấu chua và muối ớt.
Người miền nam rất sợ nợ Chà hay nợ xã tri . Xã tri do chữ chetty mà ra. Nó ám chỉ những người Ấn Độ chuyên sống bằng nghề cho vay nặng lời ở miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Đó là nợ xanh, xít, đít, đuôi (cinq , six, dix, douze) tức là 5, 6, 10 và 12 phân lời. Người mắc nợ Chà không bao giờ trả nổi nên phải bán vợ, đợ con để phục dịch cho chủ nợ hay cầm cố đất đai để trừ nợ . Ở ấp Đông Ba xã Tân Thới, quận Lái Thiêu có một vùng đất do một xã tri Ấn Độ làm chủ. Ông ta xây hai cái mạch để tắm. Mạch đó được dân địa phương gọi là mạch Chà. Vào cuối thập niên 1950, một bộ trưởng nội vụ trong chánh phủ Ngô Đình Diệm mua mạch nầy và một miếng vườn ở Bình Nhâm để làm nơi nghỉ mát.

Ở Sài Gòn và Chợ Lơn có chùa Ấn giáo (Bà La Môn) và chùa Hồi giáo (Islam). Người Ấn theo đạo Bà La Môn giàu có hơn người Ấn theo đạo Hồi. Họ có nhiều phố xá ở Chợ Cũ Sài Gòn. Họ làm giàu bằng nghề bán vải, cho vay và đổi tiền. Người Ấn theo đạo Hồi thường làm gát dan cho các xí nghiệp trong thành phố.

Việt Nam chịu ảnh hưởng của hai nền văn hoá cổ xưa nhất trên thế giới: văn hoá Trung Hoa và Ấn Độ. Tuy thế, người Việt nam không xem Trung Hoa hay Ấn Độ là sư phụ của mình mà chỉ xem họ là anh mà thôi.
Tiền nhân của chúng ta gọi người Trung Hoa là anh Ba và người Ấn Độ là anh Bảy. Theo người miền Nam, anh Ba là người anh thứ nhì trong nhà nghĩa là thứ bậc trong gia đình còn thấp hơn anh Hai tức anh Cả ở miền Bắc hay miền Trung. Nhưng chữ anh Ba và anh Bảy nói lên liên hệ văn hoá, chủng tộc và địa lý gần xa giữa Việt Nam, Trung Hoa và Ấn Độ. Anh Ba có vẻ gần gũi hơn anh Bảy về mọi mặt. Anh Ba sống đều khắp ba miền đất nước. Anh Bảy chỉ tập trung ở miền Nam mà thôi. Khi gần chết, anh Bảy bỏ vợ con Việt Nam ở lại để về miền dưới chết và hoả táng.

Khái niệm Địa Lý

Tuy sống quanh quẩn bên luỹ tre làng, tiền nhân của chúng ta cũng có khái niệm địa lý đúng với thực tế. Các bậc tiền bối của chúng ta gọi các dân tộc ở Nam Á như Ấn Độ, Mã Lai, Indonesia là người miền dưới tức là những người xuất phát từ phía nam nước ta.
Người Việt Nam gọi người Trung Hoa là Bắc quốc vì nước nầy ở phía bắc. người Pháp được gọi là Tây vì họ ở phương Tây. Năm 1905 nhà cách mạng Phan Bội Châu phát động Phong Trào Đông Du nhằm khuyến khích học sinh sang Nhật du học. Gọi là Đông Du vì Nhật, quần đảo phù tang, nằm ở phía đông của nước ta.
Trong các vườn cây ăn trái ở Bình Nhâm, Hưng Định, An Sơn trong tỉnh Bình Dương có một loại dâu trái tròn, vỏ ngoài mịn như nhung. Trước khi ăn phải vò cho trai dâu mềm và tươm chất ngọt trong múi dâu. Có người gọi đó là trái bòn bon vì nó tròn như viên kẹo (bonbon: kẹo). Có người gọi đó là dâu miền dưới để phân biệt với dâu ta vì nó xuất phát từ Nam Á.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc &lt; S&#7917;a &#273;&#7893;i b&#7903;i: <b>ct.ly</b> -- <b>11.9.2004 20:39:10 </b> &gt;>
Khái niệm nhân chủng


Mộng Nam Kha sưu tầm


Người Việt Nam ngày xưa không phân biệt người Ấn Độ (Hindu) với người Mã Lai và người Indonesia. Họ gọi chung là những người miền dưới nầy là Chà Và. Từ thời Hậu Lê (1428-1527) thương nhân từ các đảo ở Nam Á đến buôn bán ở Đại Việt. Người Việt Nam biết ít nhiều về người Chà Và. Thực tế, Chà Và hay Chà Bà là chữ phiêm âm của chữ Java, một đảo quan trọng về kinh tế lẫn nhân văn ở Indonesia.
Đến giữa thế kỷ XIX liên quân Pháp và Tây Ban Nha tấn công Sài Gòn. Trong hàng ngũ quân Tây Ban Nha có nhiều người Phi luật Tân (lính Tagals) vì lúc bấy giờ quần đảo Phi Luật Tân (1) đặt dưới sự cai trị của người Tây Ban Nha hay Y Pha Nho. Người miền Nam có dịp thấy một giống người da nâu, tóc xoắn và mắt to. Họ vội vã đưa ra một nhận xét về nhân chủng học qua câu:

Chà Và, Ma Ní tí te,
Cái bụng thè lè, con mắt ốc bươu.


Người Phi Luật Tân được gọi là người Ma Ní vì thủ đô của xứ họ là Manila. Trong mọi tình huống tốt hay xấu, người Việt Nam lúc nào cúng có óc khôi hài và tinh thần bất phục. Họ tỏ ra không ngán người Ma Ní trong hàng ngũ phe thắng trận ở Sài Gòn mà còn có những câu hát chế diễu và chê bai.
Năm 1945, tướng Gracey chỉ huy một toán lính Anh và lính Gurkhas (Nepal) đến Sài Gòn giải giới quân đội Nhật ở phía nam vĩ tuyến 16. Người miền Nam gọi lính Gurkhas là lính Chà Chóp vì họ đội mũ có cái chóp trên đầu.

Khái niệm thời gian


Ngày xưa, khi chưa có đồng hồ, người ta biết giờ giấc qua tiếng gà gáy, vị trí của mặt trời (mặt trời mọc, mặt trời lặn, mặt trời trên thiên đỉnh), mặt trăng, tiếng chuông nhà thờ, tiếng chuông công phu ngày hai buổi từ các chùa chiền. Đôi khi người ta đốt một cây nhang và dùng đó làm đơn vị thời gian và khoảng cách. Thí dụ đi bộ từ chợ Thủ đến chùa Cô Hồn chưa tàn một cây nhang thì tới.

Chúa Trịnh Tráng (1623-1657) là người Việt Nam đầu tiên được giáo sĩ Alexandre de Rhodes tặng cho một cái đồng hồ. Đến khi người Pháp xâm chiếm Việt Nam, đồng hồ và dương lịch được dùng ở Việt nam. Nhưng số người có đồng hồ và biết chữ để xem đồng hồ rất ít. Khoảng 30% học sinh lớp ba ngày xưa (cours élémentaire) biết xem đồng hồ. Ở vào trình độ nầy chỉ có học sinh giỏi toán mới biết xem đồng hồ. Vì các số trên đồng hồ đều là số La Mã. học sinh phải biết cửu chương mới biết tính phút. Ở nông thôn mặt trời, mặt trăng , tiếng chuông chùa, chuông nhà thờ, tiếng gáy vẫn còn dùng để định giờ giấc. Sinh hoạt hàng ngày của nông dân kéo dài từ khi mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn.

Khái niệm về xuất xứ của sự vay mượn và học hỏi nơi các nước


Từ khi lập quốc đến hậu bán thế kỷ XIX nước ta chỉ có liên hệ với Trung Hoa, Chiêm Thành, Chân Lạp, Xiêm La, Ai Lao và Pháp mà thôi. Những khái niệm về sự thiết lập sứ quán như ngày nay hoàn toàn vắng bóng.
Quan hệ giữa nước ta và Trung Hoa là quan hệ của nước nhỏ đối với nước lớn. Sứ bộ nước ta được phái đến Trung Hoa để mang cống phẩm cho Bắc Quốc, để cầu viện hay để điều đình một vấn đề gì đó giữa hai quốc gia. Những người được cử đi sứ thường mang về những vật lạ và quý giá. Nhiều sứ giả còn học nghề ở Trung Hoa đem về truyền bá trong nước. Phùng khắc Khoan (1528-1613) học nghề dệt khi đi sứ sang Trung Hoa. Ông được xem là tổ nghề dệt ở nước ta.

Trên bước đường nam tiến, dân tộc Việt Nam thường xuyên đụng độ với người Chiêm Thành và người Chân Lạp (Khmers). Người Việt Nam học cách trồng lúa của người Chiêm (Chàm) . Do đó, có lúa Chiêm, vụ Chiêm, cánh đồng Chiêm ... Các vua nhà Trần thích nhạc và vũ điệu Chiêm Thành.
Những địa danh như Mỹ Tho (Ma Sa: Bà Trắng), Trà Vinh (Preratapeang: Hồ Thánh), Sài Mạt tức Hà Tiên (Bantay-Meas: Thành bằng vàng), Cà Mau (Tuk Khmau: nước đen) ... Ở Nam Kỳ dưới thời Pháp thuộc đều là những chữ phiên âm từ tiếng Khmer.

Liên hệ giữa Việt Nam và Xiêm La không mấy tốt đẹp vào thế kỷ thứ XVII và XIX. Trong cuộc nội chiến giữa họ Nguyễn và TâySơn, người Xiêm La đưa quân giúp chúa Nguyễn Phúc Ánh. quân Xiêm bị Nguyễn Huệ đánh bại ở Rạch Gầm. Vấn đề Cambodia và Lào khiến cho Việt Nam và Xiêm La không có mẫu số chung chánh trị. Về phương diện quân sự thường Việt Nam có ưu thế hơn Xiêm La. Nhưng , nhờ sự lãnh đạo khéo léo và sáng suốt của vua Rama V tức Chulalongkorn trong (phim The King and I), Xiêm La là một trong ba quốc gia Á Châu thoát khỏi hoạ xâm lăng của người Bạch chủng vào thế kỷ thứ XIX trong khi Việt Nam bị người Pháp đô hộ. Vua Tự Đức cử phái đoàn sang Xiêm La quan sát để học hỏi kinh nghiệm của nước nầy dù rằng mọi việc đã muộn màng.

Những người đi sứ thường mang về nước một số vật quý giá kể cả các giống thú hay hột giống. Những vật đó gọi là đồ sứ. Nhưng khi nói đến đồ sứ, người ta chỉ nghỉ đến chén dĩa quý giá (china) mà thôi.
Chuối sứ là chuối được mang về nước sau khi đi sứ. Người ta còn gọi nó là chuối Xiêm, để nói rõ hơn về xuất xứ của nó từ Xiêm La (Siam) tức Thái Lan bây giờ. Ở nước ta, nhất là miền Nam có nhiều vật mang từ Xiêm La vè như mãng cầu Xiêm (Annona Muricata), vịt Xiêm, cá Xiêm ... Người miền Nam chịu ảnh hưởng ít nhiều của Xiêm La khi nấu canh Xiêm Lo vì Nguyễn phúc Ánh và đoàn tuỳ tùng từng lánh nạn và sống ở Xiêm La từ năm 1784 đến 1787.

Chuối Xiêm là một trong hai loại chuối có nhiều công dụng ở miền Nam. Cây chuối con và bắp chuối dùng để làm rau ghém hay làm gỏi gà. Thân chuối bầm nhuyễn trộn với cám cho heo ăn độn. Củ chuối dùng để hầm với xương. Lá chuối dùng để gói cơm, xôi, thịt, cá, mắm ...Trái chuối Xiêm chín ăn rất ngon. Mỹ tho nổi tiếng về việc sản xuất chuối , kẹo chuối và chuối xấy. Trước kia khúc quanh của quốc lộ 13 gần Trung Tâm Bác Ái được gọi là truông Mứ?uối vì gần đó có lò sản xuất mứt chuối. Người ta còn dùng trái chuối Xiêm chín ép mỏng để nuôi con giấm. Cây chuối hột khi còn non (chuối chát) chớ không ăn chuối hột chín. Theo y học cổ truyền, người ta dùng nước trong thân cây chuối hột để trị bịnh tiểu đường.

Mảng cầu Xiêm giống như trái bình bát nhưng không cùng màu với bình bát. Khác với mãng cầu ta, cây mãng cầu Xiêm (Annona Muricata) thích hợp với vùng đất bưng có nhiều nước. Mãng cầu Xiêm có vị chua và ngọt rất ngon. Lá mãng cầu Xiêm có nhiều tinh dầu. Trong thập niên 1960 và 1970 nhiều nhà trồng tỉa ở Nhị Bình và Bình Nhâm ghép mãng cầu Xiêm với cây bình bát để có trái mãng cầu Xiêm to rất đẹp nhưng ăn không ngon.

Vịt Xiêm là một giống vịt to lớn có thể nặng ttrên 10 ký lô. Lông vịt Xiêm màu xanh đậm hay trắng toát, mướt và long lanh. Người ta tin rằng huyết vịt Xiêm trống, già và đen tuyền có khả năng trị bịnh lao. Ngược lại vịt Xiêm lai rất độc. Nuôi vịt Xiêm có lợi về thịt và trứng. Vịt Xiêm mái đẻ rất sai và khéo ấp trứng. Một con vịt Xiêm mái có thể đẻ từ 20 đến 30 trứng. Sau một tháng ấp trứng ta có thể có đến 20, 30 vịt con. Nhưng vịt Xiêm ăn mạnh như heo và thường bị chết toi nên người ta không dám nuôi nhiều giống vịt nầy. Điều đáng lưu ý là, ngày nay người ta không thấy vịt Xiêm ngay tại Thái Lan tức nước Xiêm La ngày xưa.

Những nhà nuôi cá lia thia rất thích cá Xiêm. Đó là một giống cá đá màu xanh sậm với kỳ vi màu đỏ. Cá Xiêm rất gan dạ và hiếu chiến. Người đá độ cá lia thia ăn tiền không dùng cá Xiêm để đá độ vì mất nhiều thì giờ chờ đợi kết quả. Có khi cả hai con cá đều bị đui cả mắt, kỳ vi rách nát nhưng không con nào chịu bỏ chạy cả.
Canh Xiêm Lo là một loại canh thịt hay nấu với nhiều loại lá cây ăn ngon và mát. Chữ Xiêm Lo là do sự phát âm của chữ Xiêm La (2) mà ra.
Người Việt Nam mơ ước được hưởng tiện nghi của giường Tây hay giường chạm trổ rất đẹp như giường Lèo (Lào). Sự mơ ước ấy gói ghém trong câu:


Ăn cơm Tàu,
Ngủ giường Tây

hay

Một vợ: ngủ giường Lèo
Hai vợ : nằm chèo queo
Ba vợ: nằm chuồng heo


Người Việt Nam cũng khen ngợi lụa Lèo, một loại lụa mát, mịn, óng ánh, trang nhã và sang trọng.
Từ khi tiếp xúc với người Pháp, một số thú vật, thảo mộc hay sản phẩm được du nhập từ Pháp vào được kèm theo tỉnh từ Tây như gà Tây,khoai Tây, dưa Tây, bánh Tây, đồ Tây, nhạc Tây, kèn Tây, thuốc Tây, giường Tây ...tỉnh từ Tây được trân quý như một cái gì quý giá, khan hiếm và vĩ đại. Nó gợi lên sự tinh vi và nét ưu việt của kỹ thuật Tây. Từ đó mỗi khi mua một món hàng người ta thường hỏi người bán: "Đồ nầy là đồ ngoại hay đồ lô ?". Chữ lô ở đây do chữ local (địa phương) mà ra. Nó ám chỉ hàng nội hoá, phần lớn mang nhãn hiệu "Made in Cholon" để phân biệt với hàng nhập cảng từ Pháp vào tức là hàng "ngoại hoá".




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc &lt; S&#7917;a &#273;&#7893;i b&#7903;i: <b>ct.ly</b> -- <b>11.9.2004 20:39:37 </b> &gt;>

Khái niệm về ăn uống và bảo vệ sức khoẻ.


Mộng Nam Kha sưu tầm



Người Việt Nam rất tôn trọng định luật tự nhiên như "đói ăn rau, đau uống thuốc". Người nghèo, muốn được dinh dương đầy đủ thì "bắt ốc hái rau". Thảo mộc quanh nhà, dọc theo bờ suối hay luỹ tre làng đều ăn được và có ít nhiều dược tính.

Nước mắm là thức ăn phổ biến khắp cả nước. Mắm tôm cũng quan trọng không kém gì nước mắm. Mắm ở miền Nam không giống mắm tôm ở miền Bắc và Trung về màu sắc và hương vị. Người miền Bắc ăn cà pháo với mắm tôm hay rau muống luộc chấm với nước mắm hay mắm tôm hoà với chút chanh và ớt. Mắm tôm dùng để nêm bún riêu, bún bò Huế. Loại mắm nầy làm bằng con ruốt màu đỏ bầm. Ở miền Nam người ta ăn thịt ba rọi , bún, rau sống, ớt tươi và tỏi sống với mắm Gò Công. Loại mắm tôm nầy màu vàng sậm, làm bằng tôm chà nhuyễn như mù tạt (mustard). Khi ăn phải hoà với dấm, đường, tỏi ớt dầm nhuyễn để chế ngự bớt vị mặn và mùi vị khá nồng của mắm. Mắm tôm Gò Công dần dần trở nên khan hiếm trên thị trường. Điều nầy chứng minh rằng số người nghèo trong xã hội tăng vọt. Nhiều thành phần trung lưu trở nên nghèo khó.

Dân nông thôn trong tỉnh nhà dùng rau càng cua làm gỏi, luộc rau sam hay hái rau chạy, rau đắng, lá bồ ngót nấu canh để dùng trong các bữa ăn hàng ngày. Người ta cũng dùng lá vang để nấu canh chua thay cho me hay cà to mát. Mắm nêm, dưa mắm là món ăn thường thấy trong các bữa ăn của nông dân Bình Chuẩn. Tân Khánh, Thuận Giao, Phú Hữu, An Mỹ, Phú Chánh. Phần lớn các thôn nữ trong tỉnh rất khéo trong việc tráng bánh tráng, gói bánh cấp, bánh cúng, bánh chưng, bánh ú, bánh tet??nh ếch, và làm bánh bò, bánh tổ.

Bánh tổ hay bánh ổ là một loại bánh mật dẻo và ngọt như bánh ếch, to bằng cái tràng và dày từ 3 đến 5 phân. Nó được phơi khô để có thể giữ lâu ngày và dùng làm lương khô. Khi ăn người ta cắt một phần bánh đem chiên với mở ăn thay cơm trong thế chiến thứ hai. Đó là thời kỳ mà thức ăn và các loại hàng tiêu dùng đều khan hiếm. Trong thời kỳ nầy, củ nầng (Dioscorea Hispida) rất đắc dụng mặc dù sự biến chế củ nầng đòi hỏi rất nhiều thời gian ủ và vắt sạch nhựa độc. Nếu không, người ăn có thể bị say hay trúng độc.

Nấu nướng là một nghệ thuật. Nó cũng có những nguyên tắc hoá học hoà nhịp với luật âm dương ngũ hành. Người ta dùng tiêu, ớt, hành tỏi, riềng, gừng để chế ngự các mùi vị quá nồng của thức ăn và để đem lại thăng bằng giữa hàn và nhiệt. Người ta ăn thịt vịt với nước mắm gừng và rau ngò om vì thịt vịt hàn. Ăn thịt gà hay thịt bò phải có rau quế rau răm. Ăn cẩu nhục thì phải có riềng và lá mơ. Ăn gỏi cuốn thì phải có hẹ, tỏi sống và?ơng hột bầm nhuyễn. Ăn thịt bò nướng thì phải có lá lốp, mắm nêm, khế, chuối chát, rau thơm. Ăn gỏi rùa, rắn thì phải có nước mắm me. Ăn chả cá thì phải có rau thì là. Ăn gỏi cá sống phải có đọt sung. Cháo lươn phải nấu với ngó môn và củ khoai môn (Taroroot) và nêm với mắm ruốc. Ở miền Nam có nhiều dừa nên trong các thức ăn mặn ngọt đều có nước cốt dừa hay nấu với nước dừa. Thịt heo kho với nước dưa thì ngon tuyệt. Thức ăn ngon của giới thượng lưu và trung lưu ở miền Nam được tóm lược trong những câu hát ngắn sau đây:

Cua biển xào,
Lòng nấu hẹ
Thịt kho hầm nấu với nước dừa ngon lắm ai ơi !


Gói bánh ú, bánh tét, bánh chưng thì phải dùng lá tre, lá chuối hột hay lá dong (Phynium Parviflorium). Gói nem thì phải dùng lá vong tức ngô đồng (Ery thrrina Ovalifolia hay Erythrina Variegata). Lá vong nem ăn được và có tác dụng làm người ăn dễ ngủ.
Phở và chả lụa là món ăn rất phổ biến ở miền Bắc. Nó được dân miền Nam hương ứng sau năm 1954. Phở chủ yếu dựa vào thịt bò. Rau ăn phở gồm có giá, rau quế, và ngò gai. Tiệm phở Nam Việt trên đường Guillemet (Phát Diệm) là tiệm phở đầu tiên ở Sài Gòn trước khi có cuộc di cư. Đây cũng là hội quán bóng bàn, nơi đào tạo vô địch bóng bàn Trần Hữu Đức và nữ vô địch bóng bàn Trần thị Kim Ngôn.

Hủ tiếu Mỹ Tho tổng hợp thịt heo và vài loại hải sản như mực, tôm, cua. ăn hủ tiếu Mỹ Tho và hủ tiếu Nam Vang (Phnom Penh) phải có giá, tần ô, ớt hiểm và tỏi ngâm dấm. Tiệm hủ tiếu Thanh Xuân ở chợ Cũ Sài Gòn nổi tiếng về loại hủ tiếu nầy. Sau năm 1975, ông chủ tiệm hủ tiếu nầy sang Pháp trước khi định cư ở San Diego, California.

Bún bò Huế rất dồi dào hương vị và được nấu với thịt bò lẫn thịt heo ăn với bắp chuối thái nhuyễn trọn với giá và các loại rau thơm. Sau năm 1975, một tiệm bún bò Huế rất nổi tiếng xuất hiện trên đường Cao Thắng thu hút nhiều thực khách cố tìm lại dư âm của quá khứ cơ hồ như mãi mãi không trở về trong thời kỳ khan hiếm thực phẩm trong nước.
Kinh nghiệm nấu nướng đưa các bà nội trợ Việt Nam đến kết luận : bò teo, heo nở, trong quá trình kho hay nấu hai loại thịt nầy. Đó là một nhận xét gợi hình, vui vui, lý thú và đầy tính khoa học đáng cho chúng ta phải lưu ý.

Chén nước mắm ăn bì cuốn, bánh bèo bì, bún thịt nứớng là tổng hợp của nước mắm, đường , dấm, tỏi, tương ớt và đồ chua tức là tổng hợp các vị mặn, ngọt, chua, cay và nồng. Nước mắm dùng ăn canh chua chỉ có vị mặn và vị cay mà thôi. Vị mặn của nước mắm chế ngự vị chua của canh. Vị cay của ớt thái mỏng chế ngự mùi tanh của cá. Chén mắm nêm ngon dùng để ăn lòng bò hay thịt bò nhũng dấm phải có tỏi, tương ớt, đường, dấm và thơm bầm nhuyễn. Tương ăn nem nướng hay gỏi cuốn phải được bầm nhuyễn, trộn với đường và xào với mở hành xong bỏ tỏi, tương ớt và đậu phọng vào. các chất liệu trong chén nước mắm, nước tương bổ túc cho nhau, chế ngự nhau và làm tăng màu sắc, hương vị và giá trị cho nhau. Chúng gợi lên sự hoà hợp, hợp tác, hợp quần và cộng đồng sinh tồn trong tinh thần thân hữu và huynh đệ của những người dùng chúng trên bàn ăn.

Những người sành ăn thường là những người sành rượu hay những nghệ sĩ. Người ta đề cao: nhất bì (da); nhì cốt (xương). Khi ăn thịt gà, món ngon là: nhất phao câu; nhì đầu chéo cánh. Những ý niệm trên không hoàn toàn đúng theo quan niệm của người Hoa Kỳ. Họ được dinh dưỡng đầy đủ nên không cần chất béo của phao câu gà. Họ không thích ăn xương và da vì sợ hư răng và thặng dư chất cholesterol.

Người Việt Nam chê phổi bò khi nói: "Dở như phổi bò". Điều nhận xét nầy rất đúng. Ăn phổi bò chẳng những không ngon mà còn có thể bịnh nhiễm trùng. Họ cũng sợ ăn thịt bò vá, heo vá, vịt Xiêm lai, ba ba, cua đinh ... Vì lý do mê tín, người ta không ăn thịt con heo 5 móng mà người ta cho rằng tiền thân của nó là người. Người ta không thích ăn thịt ngựa vì có nhiều phong. Người theo đạo Phật không ăn gừng, riềng, hành , tỏi , hẹ , cẩu nhục, ngưu nhục. Người ăn cẩu nhục không ăn óc và bộ đồ lòng của con vật nầy vì sợ bị bịnh chó dại và sinh "lòng trâu dạ chó".

Người ta không ăn thịt mèo và thịt con trút tức con tê tê hay xuyên sơn giáp vì sợ xui xẻo. Nhiều người không ăn ngỗng vì cho rằng ngỗng là con vật có căn tu. Chúng sống chung thuỷ với nhau và không ăn tôm, tép như vịt. Nhưng đàn bà sinh con khó nuôi lại ăn trứng ngỗng luộc cho dễ nuôi con. Những người học gồng hay bùa không ăn lươn, ếch, thịt trâu, thịt chó, thịt mèo và các loại rau vắp cá, khế, chuối chát,,, ngò om vì sợ bùa hết linh. Gia đình thi hào Nguyễn Du không ăn cá chép vì một giấc chiêm bao kỳ lạ. Nhiều người không ăn con vật trùng tuổi với mình. Thí dụ người tuổi Mùi không ăn thịt dê hay người tuổi Dậu không ăn thịt gà vậy. Nhưng số người kiêng cữ nầy rất ít trong một quốc gia nơi dân chúng thiếu thịt trầm trọng đến nỗi mối, rươi, nhộng, nhái, chuột, bù tọt, cào cào, cắc ké, kỳ nhông, dế cơm, ốc sên, còng gió, ba khía, cá bóng kèo, đều được dùng để dinh dưỡng.

Ở nông thôn, mỗi người Việt Nam là một ông thầy thuốc của chính mình khi bị bịnh. Khi ho thì có gừng, rau tần, chanh non, đường phèn. Khi đầy bụng thì uống nước gừng. Khi đi chảy thì lấy muối rang chùm lên rún, uống rượu ngâm với tiêu lốp hay đâm đọt ổi hoà với muối mà uống. Người ta dùng cùi chỏ xoáy mạnh trên đốt xương sống của người bịnh ngang với rún thì cơn bịnh bị chặn đứng ngay. Bị thủng thì ăn bánh bẻn, một loại bánh làm bằng cám gạo. Bị té tức, máu bầm thì uống đồng tiện hay vắt nước cua đồng giả nhuyễn mà uống. Khi bị ghẻ thì đi hái các loại lá cây có vị chua và chát nấu nước tắm. Bị gãy xương thì băng một con gà xay nhuyễn vì tin rằng chó liền da, gà liền xương. Khi bị cảm thì đánh gió bằng đồng xu. Khi bị xỉu thì giật tóc mai và hú hồn ba lần. Khi bị chảy máu thì có lá thuốc hàn (sống đời hay trường sinh), lá bò xích, lọ nồi hay lọ chảo. Khi bí tiểu tiện thì đấp con dế mèn hay con gián giả nát trên rún. Bị mục lẹo thì lễ ở sau lưng và nặn máu. Bị bịnh thương hàn (ban cua) thì rước thầy đến nhà dùng đèn dầu tìm kiếm nơi ẩn trú của vi trùng trên lưng người bịnh mà cắt và nặn máu cho vi trùng bị trục ra khỏi cơ thể người bịnh. Dĩ nhiên cách chửa trị nầy không cứu được nhiều bịnh nhân. Nhưng điều làm cho chúng ta ngạc nhiên là, ngay từ xưa, trước khi Pasteur khám phá ra vi trùng, các thầy lang Việt Nam không có kiếng hiển vi nhưng với cặp mắt kiếng , gọng kẽm và cây đèn dầu, cũng thấy được vi trùng thương hàn có ngoe, có càng như con cua nên đặt tên cho bịnh nầy là ban cua. Khi bị suyển thì nuốt thằn lằn bạch (bích hổ). Khi mất ngủ thì ăn canh lá vong, lá dâu tằm hay ngó sen. Khi đau lưng, yếu sinh lý thì mua đuôi heo nấu với đậu đen mà ăn, ăn canh hẹ, uống rượu cắc kè, huyết chim sẻ hay rượu ngâm với con mối chúa !

Thương chồng nấu cháo cao lương
Nấu canh hoa bí, nấu chè hột sen.


Sự chửa trị tương đối đơn giản. Nó dựa trên nguyên lý tự nhiên ăn gì bổ nấy. Trẻ em bị bịnh cam tích, bụng ỏng và ố?ng teo thì cho ăn cháo cóc. Người suy dinh dưỡng da bọc xương ăn hột vịt lộn để bồi bổ sức khoẻ. hột vịt lộn là thuốc bổ rẻ tiền và kiến hiệu vô cùng. Trên đồng bằng sông Cửu Long người ta nuôi rất nhiều vịt thả ngoài đồng để ăn lúa sót sau mùa gặt. Khi mắt mờ thì ăn gan heo, gan gà. Khi đau bao tử thì mua bao tử heo hầm với tiêu sọ mà ăn. Khi thiếu máu thì ăn tiết canh vịt, tiết canh heo. Khi mất trí nhớ thì ăn óc heo. Khi bịnh lao thì ăn phổi heo nấu với hẹ hay uống huyết dơi quạ hay huyết vịt xiêm trống màu đen. Sản phụ muốn có nhiều sửa cho con bú thường ăn súp đậu xanh hầm với dựng bò. Bị táo bón thì ăn me chua hay hái lá muồng trâu tức nam đại hoàng (Cassia Alata) nấu nước mà uống... Với sự tin tưởng vô biên vào trời sanh trời nuôi, dân tộc ta sinh tồn vững mạnh để viết lên những trang sử hào hùng và dựng nên một giang sơn cẩm tú bên bờ Thái Bình Dương sau nhiều thế kỷ đấu tranh đẫm máu và đẫm lệ chống xâm lăng, phá rừng, xẻ núi lấp đồng sâu và thường xuyên đương đầu với lụt lội , bão tố, hạn hán và hoàng trùng.

****
(1) Khi đô hộ quần đảo Phi Luật Tân, người Tây Ban Nha lấy tên hoàng đế Philip II (1527-1598) đặt tên cho thuộc địa. Đó là nguồn gốc của tên nước Philippiné.
(2) Nước Xiêm La còn gọi là Tiêm La vì được hình thành bởi nước Tiêm và La Học. Năm 1938 Xiêm La được đổi thành Thái Lan (Thailand) có nghĩa là đất của người Thái. Phan Bội Châu là người mở đầu cho những hoạt động cách mạng ở Trung Hoa và Xiêm La vào đầu thế kỷ XX
(3) Pháp




Đăng nhập để trả lời
0