<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc < Sửa đổi bởi: <b>ct.ly</b> -- <b>11.9.2004 20:29:18 </b> >>
Vài khái niệm bình dân ngày xưa
Mộng Nam Kha sưu tầm
(sưu tầm)
Cho đến thế kỷ XIX giáo dục chưa quảng bá sâu rộng trong nước ta. Số người có học rất ít. Họ chỉ biết chữ Hán, văn chương, thi phú, Nam sử, Bắc sử và điển tích của Trung Hoa mà thôi. Sự hiểu biết về khoa học kỹ thuật và nước ngoài rất hạn chế.
Tất cả những kinh nghiệm sống của dân tộc ta được gói ghém trong những câu ca dao, những vần thơ, khúc hát, những câu châm ngôn, tục ngữ hay những câu nói ngắn gọn và dễ nhớ. Trong khuôn khổ bài viết ngắn gọn nầy chúng tôi xin nói qua vài khái niệm bình dân của tiền nhân chúng ta trong quá khứ. Phần lớn những khái niệm ghi trong bài nầy được tìm thấy cả ở ba miền đất nước. Một vài khái niệm chỉ được tìm thấy ở miền Nam mà thôi.
Khái niệm văn hóa.
Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm của Trung Hoa sau gần 11 thế kỷ Bắc Thuộc. Người Việt Nam học phương pháp canh tác, phép cưới hỏi, văn hoá, tư tưởng và học thuật của người Trung Hoa.
Ba tôn giáo quan trọng và lâu đời nhất ở Việt nam là Khổng, Lão và Phật Giáo. Khổng và Lão giáo đều xuất phát từ Trung Hoa và do người Trung Hoa giảng dạy cho dân thuộc địa từ năm 111 trước Tây Lịch đến năm 938 sau Tây Lịch. Phật giáo tuy không xuất phát từ Trung Hoa nhưng do các sư tăng người Trung Hoa giảng dạy ở nước ta. Chùa chiền ở Việt Nam phỏng theo kiến trúc thảo mộc của chùa chiền ở Trung Hoa. Kiến trúc nầy hoàn toàn khác với kiến trúc bằng gạch hay đá của các chùa chiền tiểu thừa ở Lào, Cambodia. Thái Lan, Miến Điện, và Tích Lan (Sri Lanka). Kinh kệ đều viết bằng chữ Hán chớ không phải bằng chữ Phạn (Sinskrit) nên các tu sĩ Phật giáo Việt Nam đều phải học chữ Hán như các tu sĩ Thiên Chúa giáo học chữ La tinh vậy. Cho đến đầu thế kỷ XX không tu sĩ Phật giáo Việt Nam nào biết chữ Sanskrit cũng như không tu sĩ ThiênChúa giáo Việt Nam nào biết tiếng Hebrew (Do Thái). Đó là sự trùng hợp vô cùng ngộ nghĩnh vì Việt Nam không tiếp nhận Phật giáo và Thiên Chúa giáo trực tiếp qua trung gian giáo sĩ Nepal, Ấn Độ hay Do Thái.
Người Minh Hương có nhiều cống hiến trong công cuộc nam tiến của dân tộc Việt Nam. Trần thượng Xuyên có công khai phá đất Đông Phố (Biên Hoà, Sài Gòn), Dương ngạn Địch khai phá đất Mỹ Tho và Mạc Cưữ, Mạc thiên Tích mở rộng đất Hà Tiên. Võ trường Toản, Trịnh hoài Đức, Lê quang Định, Phan thanh Giản, Trần tiển Thành ... đều là những người Minh Hương nổi tiếng trong nước. Hầu hết các thành phố lớn ở miền Nam đều có người Hoa sinh sống. Chợ Lớn là thành phố có nhiều người Hoa nhất trong nước. Ở miền Bắc, Hải Phòng và các đảo đá vôi trong vịnh Hạ Long có nhiều thương gia, ngư phủ người Hoa cư trú. Người Hoa sống rải rác và thưa thớt ở các??nh miền duyên hải Trung Bộ.
Người Việt Nam có thức ăn riêng. Nhưng họ rất hưởng ứng thức ăn Trung Hoa và mơ ước như người Trung Hoa được:
Ăn cơm Quảng Châu
Cưới vợ Tô Châu
Về chết ở Hàng Châu
Cưới vợ Tô Châu
Về chết ở Hàng Châu
Họ cũng thích đọc những pho truyện Tàu dầy cộm như Tam Quốc Chí, Thuyết Đường, Thuỷ Hử, truyện Phong Thần, và trong thập niên 1960 và 1970 : Cô Gái Đồ Long, Thần Điêu Đại Hiệp, Lộc Đỉnh Ký ... của nhà văn tả phái tỵ nạn. Hồng Kông là Kim Dung (Kim Yung).
Việt Nam là quốc gia ít chịu ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ nhất trên bán đảo Ấn Trung (Indochina) mặc dù đa số dân trong nước tin theo triết lý Phật giáo.
Đạo Phật xuất phát từ Kapilavastu gần xứ?al bây giờ. Vào thế kỷ III các nhà sư Ấn Độ như Chi Cường Lương (Kalyanruci) và Ma La Kỳ Vự (Majaivaka) đến Phù Nam (Funan; Cambodia) và Giao Chỉ rồi sang giảng đạo Phật ở Quảng Đông. Người Việt Nam không tiếp nhận triết lý Phật giáo trực tiếp qua các sư tăng Ấn Độ mà qua các sư tăng Trung Hoa. Sri Lanca, Miến Điện, Thái Lan, Cambodia và Lào theo Phật giáo nguyên thuỷ hay Tiểu Thừa (Theravada; Hinayana). Phật giáo ở Việt Nam là Phật giáo Đại Thừa (Mahayana) giống như Phật giáo ở Trung Hoa. Trong chùa có nhiều Phật, Bồ Tát (Boddhisattvass) và La Hán. ngoài ra còn có cả những danh nhân Trung Hoa như Quan Công, Tần thúc Bảo, Trần huyền Trang ...
Người Việt Nam không ăn bốc, không mặc xà rông và không theo tục hoả thiêu như người Ấn Độ. Họ thích ăn thịt bò trong khi người Ấn Độ xem bò là vật thiêng. Người Ấn ăn thịt dê, một thứ thịt tương đối hiếm ngoài chợ thịt Việt Nam. Trong quá trình Nam tiến, người miền Nam thích ăn cà ri Ấn Độ và cà ri Bà Lai (Mã Lai), một món ăn đặc thù của người Ấn Độ và các dân tộc da sậm ở Nam Á. Thức ăn béo, cay và dồi dào hương vị nầy được nấu bằng sửa hay nước cốt dừa với bột nghệ, ớt khô lẫn tươi, thảo mộc và thịt gà hay dê. Cà ri Bà Lai được nấu bằng cá thái từng miếng nhỏ nấu với bột nghệ, thảo mộc, ớt khô nghiền nhuyễn ăn với cà tím thấu chua và muối ớt.
Người miền nam rất sợ nợ Chà hay nợ xã tri . Xã tri do chữ chetty mà ra. Nó ám chỉ những người Ấn Độ chuyên sống bằng nghề cho vay nặng lời ở miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Đó là nợ xanh, xít, đít, đuôi (cinq , six, dix, douze) tức là 5, 6, 10 và 12 phân lời. Người mắc nợ Chà không bao giờ trả nổi nên phải bán vợ, đợ con để phục dịch cho chủ nợ hay cầm cố đất đai để trừ nợ . Ở ấp Đông Ba xã Tân Thới, quận Lái Thiêu có một vùng đất do một xã tri Ấn Độ làm chủ. Ông ta xây hai cái mạch để tắm. Mạch đó được dân địa phương gọi là mạch Chà. Vào cuối thập niên 1950, một bộ trưởng nội vụ trong chánh phủ Ngô Đình Diệm mua mạch nầy và một miếng vườn ở Bình Nhâm để làm nơi nghỉ mát.
Ở Sài Gòn và Chợ Lơn có chùa Ấn giáo (Bà La Môn) và chùa Hồi giáo (Islam). Người Ấn theo đạo Bà La Môn giàu có hơn người Ấn theo đạo Hồi. Họ có nhiều phố xá ở Chợ Cũ Sài Gòn. Họ làm giàu bằng nghề bán vải, cho vay và đổi tiền. Người Ấn theo đạo Hồi thường làm gát dan cho các xí nghiệp trong thành phố.
Việt Nam chịu ảnh hưởng của hai nền văn hoá cổ xưa nhất trên thế giới: văn hoá Trung Hoa và Ấn Độ. Tuy thế, người Việt nam không xem Trung Hoa hay Ấn Độ là sư phụ của mình mà chỉ xem họ là anh mà thôi.
Tiền nhân của chúng ta gọi người Trung Hoa là anh Ba và người Ấn Độ là anh Bảy. Theo người miền Nam, anh Ba là người anh thứ nhì trong nhà nghĩa là thứ bậc trong gia đình còn thấp hơn anh Hai tức anh Cả ở miền Bắc hay miền Trung. Nhưng chữ anh Ba và anh Bảy nói lên liên hệ văn hoá, chủng tộc và địa lý gần xa giữa Việt Nam, Trung Hoa và Ấn Độ. Anh Ba có vẻ gần gũi hơn anh Bảy về mọi mặt. Anh Ba sống đều khắp ba miền đất nước. Anh Bảy chỉ tập trung ở miền Nam mà thôi. Khi gần chết, anh Bảy bỏ vợ con Việt Nam ở lại để về miền dưới chết và hoả táng.
Khái niệm Địa Lý
Tuy sống quanh quẩn bên luỹ tre làng, tiền nhân của chúng ta cũng có khái niệm địa lý đúng với thực tế. Các bậc tiền bối của chúng ta gọi các dân tộc ở Nam Á như Ấn Độ, Mã Lai, Indonesia là người miền dưới tức là những người xuất phát từ phía nam nước ta.
Người Việt Nam gọi người Trung Hoa là Bắc quốc vì nước nầy ở phía bắc. người Pháp được gọi là Tây vì họ ở phương Tây. Năm 1905 nhà cách mạng Phan Bội Châu phát động Phong Trào Đông Du nhằm khuyến khích học sinh sang Nhật du học. Gọi là Đông Du vì Nhật, quần đảo phù tang, nằm ở phía đông của nước ta.
Trong các vườn cây ăn trái ở Bình Nhâm, Hưng Định, An Sơn trong tỉnh Bình Dương có một loại dâu trái tròn, vỏ ngoài mịn như nhung. Trước khi ăn phải vò cho trai dâu mềm và tươm chất ngọt trong múi dâu. Có người gọi đó là trái bòn bon vì nó tròn như viên kẹo (bonbon: kẹo). Có người gọi đó là dâu miền dưới để phân biệt với dâu ta vì nó xuất phát từ Nam Á.