<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-26 21:22:45nguyễn văn dân>
.
Đấu Tranh Bất Bạo Động
nguồn: Đảng Vì Dân
http://www.dvdvn.org
Thử Đề Nghị
Một Giải Pháp Tranh Đấu Bất Bạo Động Cho Việt Nam
(Kính tặng những người đang tìm một giải pháp cứu nước)
I. Kinh nghiệm Nga sô
II. Kinh nghiệm Ba lan
III. Kinh nghiệm Phi luật Tân
IV. Kinh nghiệm tranh đấu giải phóng Ấn độ
V. Giáo dục và chuẩn bị tại Phi luật tân
VI. Giáo dục và chuẩn bị tại Ấn độ
VII. Những phương pháp và nguyên tắc chiến lược tranh đấu bất bạo động
Kết luận
Đấu Tranh Bất Bạo Động
nguồn: Đảng Vì Dân
http://www.dvdvn.org
Thử Đề Nghị
Một Giải Pháp Tranh Đấu Bất Bạo Động Cho Việt Nam
(Kính tặng những người đang tìm một giải pháp cứu nước)
I. Kinh nghiệm Nga sô
II. Kinh nghiệm Ba lan
III. Kinh nghiệm Phi luật Tân
IV. Kinh nghiệm tranh đấu giải phóng Ấn độ
V. Giáo dục và chuẩn bị tại Phi luật tân
VI. Giáo dục và chuẩn bị tại Ấn độ
VII. Những phương pháp và nguyên tắc chiến lược tranh đấu bất bạo động
Kết luậnCuộc đảo chánh hụt của cộng sản đã biến thành cuộc cách mạng tự do dân chủ. Đó là điều chúng ta chứng kiến vừa qua ở Nga sô. Nhưng có lẽ điều đáng nói hơn hết, vì có ý nghĩa đậm đà cho những người Việt Nam quốc gia yêu nước là cuộc cách mạng ấy đã diễn ra thế nào, từ đó có thể rút ra bài học bổ ích nào hay không cho những người đang tranh đấu cho một Việt Nam tự do?
Được gợi ý từ cuộc cách mạng tháng tám tại Nga, chúng ta hãy phóng nhìn về những gương và mô thức tranh đấu cho nhân quyền khác trước đây để đi lần đến một công thức khá khoa học về một sách lược đấu tranh cho Việt Nam.
I. Kinh nghiệm Nga sôCuộc âm mưu đảo chánh của nhóm cộng sản quá khích ở Nga sô đã có quá đủ điều kiện kỹ thuật để thành công, nhưng họ đã thất bại, chỉ vì nhân dân chống lại họ. Mà nhân dân đó là ai? Họ là những người không có tất sắt trong tay, họ chỉ đem tâm huyết, nói đúng hơn là đem chính thân xác và tinh thần của mình ra để cản đường quân đội và xe tăng cộng sản. Quyền lực của họ, sức mạnh của họ, là "sức mạnh của nhân dân".
Bảo rằng đám người đảo chánh có nhiều điều kiện để thành công vì bọn chủ trương gồm tất cả những người cầm quyền trong tay của chế độ, từ Phó Tổng thống đến Thủ tướng, tổng trưởng quốc phòng, tổng trưởng nội vụ, trùm mật vụ, chủ tịch uỷ ban xí nghiệp và cơ sở quân đội, họ có lực lượng của 2 triệu quân đội, 1 triệu nhân viên mật vụ KGB, và 15 triệu đảng viên còn lại sau khi 4 triệu đã xé thẻ đảng viên từ mấy năm nay.
Nhưng bọn họ đã phải đầu hàng trước lực lượng nhân dân mà Yeltsin đã kêu gọi xuống đường. Lúc đầu dân chúng còn chần chờ dò xem, nhưng dần dần đôi ba trăm người, rồi đôi ba ngàn người, rồi hàng chục ngàn, và hàng trăm ngàn người. Lúc đầu họ không được tổ chức, song kế đến họ tự tổ chức thành lực lượng canh phòng và kiểm soát, thành đoàn quân tiếp liệu và thông tin liên lạc, thành đoàn cán bộ dân vận và nhứt là binh vận. Họ tự đặt dưới quyền sử dụng của phe chống đảo chánh, nhứt là đem chính thân xác họ làm khiên làm mộc che chở lực lượng chống đảo chánh, làm rào cản xe tăng của bọn cộng sản quân phiệt.
Họ là những thanh niên nam nữ, là những người đứng tuổi, dĩ nhiên. Song họ cũng còn là những bà mẹ già không biết làm gì hơn là ôm chầm những người lính trẻ kêu gọi họ đừng nhẫn tâm bắn vào những anh em, con cái, ông bà, cha mẹ và nhân dân.
Trước "sức mạnh nhân dân" ấy, trước chính nghĩa của lực lượng tự do dân chủ ấy, các người lính xử dụng chiến xa đã bị cảm hoá, bọn độc tài quân phiệt cộng sản phải chùn chân, lùi bước, và sau hết phải đầu hàng.
Và như cùng khắp Đông Âu trước đây, bây giờ lịch sử cũng lập lại. Đâu đâu nhân dân cũng đã đứng lên, theo tiếng gọi của Lech Walesa để lật đổ cộng sản Balan, theo tiếng gọi thợ thuyền ở Dresde và Leipzig để xô nhào bức tường Bá linh, theo tiếng gọi của thanh niên sinh viên ở Prague, Budapest và Sofia. Bất cứ ở đâu, chính nhân dân, chỉ có nhân dân, với tay không, hay chỉ có liềm chớ không có búa. . . đã giựt sập các chế độ và bạo quyền cộng sản.
Ở đây cũng vậy, cũng dựa vào sức mạnh thác lũ của nhân dân, trước Quốc Hội nước Nga, Yeltsin đã công bố giật sập tan tành thành trì cộng sản cuối cùng: giải tán đảng cộng sản nga, niêm phong trụ sở Trung Ương đảng, tịch thâu tài sản của đảng, bắt giữ cùng điều tra những người đã chống lại chánh quyền dân cử, đóng cửa những tờ báo của đảng cộng sản.
Đặc biệt hơn hết, cuộc cách mạng dựa trên sức mạnh thật sự của nhân dân ấy còn mang một đặc tính nhân bản cao quý đáng phục là hoàn toàn bất bạo động.
Không đổ máu. Không trả thù. Chỉ có ba người chết do bàn tay của cộng sản, và hai người của bọn họ đã tự tử. Tuyệt đối không có trả thù. Trả lời báo chí, một bà mẹ đã nói: "Dân Nga không bao giờ có tánh hận thù. Dân Nga rất tốt. Không bao giờ chúng tôi hành động như bọn cộng sản, là những người đầy hận thù và tàn độc. Họ đã giết linh mục Alexander Men của chúng tôi (trước đây 3 tháng). Song chúng tôi không trả thù. Bây giờ chúng tôi chỉ muốn được sống trong an bình, trong một quốc gia đại diện cho chúng tôi chớ không đàn áp chúng tôi. Chúng tôi chỉ muốn những người cộng sản rời khỏi chánh quyền, chỉ có thế thôi" (báo Le Figaro ngày 26-8-91).
II. Kinh nghiệm BalanCuộc cách mạng bất bạo động Mùa Hè 1991 tại Nga, cũng như những cuộc cách mạng ở Đông Âu năm 1989, 1990 đều đã bắt nguồn từ biến cố lịch sử vĩ đại gọi là "Mùa Hè Balan", cuộc cách mạng bất bạo động thành công đầu tiên trong Khối cộng sản.
Lập quốc và thống nhứt vào khoảng năm 960, quốc gia Balan đã nhiều lần bị xâm chiếm và chia cắt bởi các nước lân cận như Phổ, Nga, và Áo quốc. Năm 1939 bị Nga sô và Đức Quốc Xã xâm chiếm. Sau Đệ II thế chiến, Balan mới thu hồi độc lập khỏi sự áp chế của Đức quốc xã thì liền khi bị chuyền tay nằm gọn trong vòng kềm toả của Nga sô từ 1947.
Từ đó nhân dân Balan đã nhiều lần nổi dậy chống chế độ và đế quốc cộng sản những năm 1956, 1970, 1976, những lần nổi dậy rất đẫm máu song đều thất bại.
Nhưng lần này, kể từ tháng 7 năm 1980, đã bắt đầu biến cố gọi là Mùa Hè Balan, khởi đầu cho một cuộc cách mạng nhân bản bất bạo động được kết thúc tốt đẹp thành công vào năm 1989.
Ngày 1-7-80, báo chí Balan đăng tải tin chánh phủ quyết định lại việc phân phối thịt mà kết quả là làm cho thịt tăng giá khủng khiếp. Các bà nội trợ, các nữ công nhân không còn kiên nhẫn nữa: đã sẵn uất ức vì bị xếp hàng cả ngày, vì phải mua chợ đen, bây giờ còn phải mua đắt hơn trước, trong khi mức lương thì đứng yên một chỗ. Thế công tại Ursus, kế đó đình công ở những nơi khác như Lublin, Wroclaw, Poznam và Lodz. Đến đây, sự nổi giận và nổi dậy của nhân dân còn nặng nguyên do thúc đẩy cơm áo và vật chất. Song kế đó " Uỷ Ban Bảo Vệ Quyền Lợi Thợ Thuyền" (KOR) phổ biến tin đầy đủ về những vụ đàn áp công nhân của nhà nước và chủ nhân cộng sản, như vụ công an bắt anh lãnh đạo nghiệp đoàn Lech Walesa, vụ xí nghiệp nhà nước sa thải không duyên cớ chị chiến sĩ nghiệp đoàn Anna Valentinowick. Lúc đó, bên cạnh nhu cầu cơm áo, giới lao động Balan còn nhìn thấy rõ ràng hơn tính cách quan trọng khẩn thiết của một nhu cầu khác, đó là nhu cầu tự do và nhân phẩm.
Chính ý thức tranh đấu cho toàn vẹn cuộc sống con người, và chẳng những cho lao động thợ thuyền mà còn cho toàn dân đã thúc đẩy công nhân đình công toàn khắp các xí nghiệp. Và lần này ít ra một số lớn những người lãnh đạo nhận định rằng không thể tranh đấu bạo động đẫm máu để rồi thất bại như những lần trước. Ngày 16-8-80, đại biểu tất cả các xí nghiệp tại vùng Gdanjk hợp dưới quyền chủ toạ của Lech Walesa thành lập "Uỷ Ban đình công liên xí nghiệp". Họ soạn thảo một bản yêu sách 21 điểm đưa ra yêu cầu nhà nước cộng sản phải ngồi lại với họ để thương thảo và giải quyết.
Ngày 31-8-80, một ngày lịch sử của lao động Balan, thoả ước 21 điểm đã được ký kết, mà điểm then chốt và chủ lược là "thành lập một hệ thống nghiệp đoàn tự do và tự quản". Ngày 10-11-80, Tổng Liên Đoàn Lên Đới Solidarnosc được chánh thức thành lập và cấp phái lai. Chỉ trong vòng mấy tuần lễ Solidarnosc đã thu nhận trên 10 triệu đoàn viên trong số 12 triệu rưởi công nhân và trong số 17 triệu người trong tuổi làm việc.
Phía Nghiệp đoàn và nhân dân đã cố tránh những hành động thách thức hay gây hấn bạo động làm cớ cho chánh quyền cộng sản đàn áp. Nhưng cũng không khỏi. Đêm 12 rạng 13/12/1981, Cộng sản Balan đem toàn lực công an, cảnh sát, quân đội ra đàn áp, bao vây cơ sở, bắt cầm tù tất cả cán bộ của nghiệp đoàn Solidarnosc, trong số có Lech Walesa, cơ sở nghiệp đoàn bị chiếm và tổ chức bị giải tán. Chính Walesa và những cán bộ cao cấp khác bị bắt rồi thả ra và mỗi lần Cộng sản thấy nguy hiểm hay không bắt ép được họ chịu điều kiện của Cộng sản thì cũng đều bắt họ cầm tù trở lại.
Trong suốt cuộc tranh đấu kéo dài từ Mùa Hè 80 đến giữa năm 89, dưới sự lãnh đạo của Lech Walesa và có thể nói được một phần nào với sự góp sức của hàng giáo phẩm. Vì 93% dân chúng Balan là công giáo, nhân dân và thợ thuyền Balan đã thành công nhờ dùng phương thức bất bạo động.
Trước thái độ khiêu khích và hành động đàn áp từ đánh đập đến bắt bớ, tra tấn, cầm tù, thủ tiêu như giết rồi thả trôi sông linh mục Popieluszko, Lech Walesa vẫn giữ cho phong trào tranh đấu tính cách "bất bạo động và còn là một cuộc cách mạng đạo đức" như Lech Walesa luôn luôn nhắc nhở đoàn viên và quần chúng.
Cuộc cách mạng bất bạo động và đạo đức vì họ đặt lên hàng đầu những nhu cầu tinh thần như tự do, độc lập, chủ quyền quốc gia, nhân quyền và nhân phẩm. Cũng như những cuộc cách mạng khác nhứt là cuộc cách mạng bất bạo động ở Philuậttân và ơn độ, họ chủ trương tha thứ, "lấy tình thương xoá bỏ hận thù", họ chủ trương muốn thanh tẩy xứ sở khỏi tội ác và gian dối thì trước tiên phải thanh tẩy chính bản thân họ.
Những công nhân đình công thường không xuống đường để tránh những thách đố của Cộng sản, họ không bạo động gây hấn với cảnh sát, thường khi họ đóng cửa và ngồi trong vòng rào xí nghiệp. Họ quỳ cầu nguyện trước ảnh Đức Mẹ Czestochowa, biểu hiệu của Nữ vương xứ Balan, và bên ảnh Đức Gioan Phaolô II. Các linh mục đến xí nghiệp nơi công nhân đình công để cử hành thánh lễ, ngồi toà giải tội và cầu nguyện với họ.
Họ tự đặt ra những quy luật chặt chẽ như không chửi thề nói tục, không mang rượu vào xưởng cũng không uống rượu trong lúc đình công, mặc dù trước đây nhiều công nhân nghiện rượu, vì đã lấy rượu giải sầu cho cuộc sống không có ngày mai (Chúng ta biết nghiện rượu là một chứng bệnh một tật xấu lan tràn trong những xứ Cộng sản). Họ không cãi lộn với nhau, trái lại thường nói đến những chữ, những tư tưởng, những danh từ mà trước đây họ ít nói hoặc ít nghe nói đến như: phẩm giá con người, danh dự, chân thành, tôn trong sự thật, tha thứ, canh tân, cải thiện, bình đẳng, nhân phẩm. . . Họ chia sẻ với nhau những thức ăn mà các bà vợ mang đến. Một số xí nghiệp đã đình công không phải để đòi tăng lương mà chỉ để đòi các tên thủ trưởng, các cán bộ nhà nước phải tôn trọng nhân phẩm của công nhân.
Dưới đây là bài tường thuật của ký giả Ryszard Kapuscinski đăng trên một tờ báo nhà nước: "Tôi đã sống 12 ngày vùng duyên hải ở Szczecin rồi Gdansk và Elblag. Ngoài đường bầu không khí yên lặng song không căng thẳng nặng nề, nhưng có vẻ người ta tin tưởng và nghĩ rằng mình có lý. Một tinh thần mới bao trùm thành phố. Người ta không còn uống rượu, không lớn tiếng. Tình trạng phạm pháp tuột xuống zero. Không còn ai có vẻ hận thù hiếu chiến. Mọi người trở thành nhân hậu, tử tế, cởi mở. những người trước đây không liên hệ gì với nhau bây giờ bỗng chốc khám phá ra rằng họ đang cần nhau. Chính những người thợ đình công đã tạo ra kiểu mẫu liên hệ xã hội mới này mà tất cả mọi người dân đều chấp nhận".
Cũng như ta sẽ thấy sau đây rằng thuyết tranh đấu bất bạo động của thánh Gandhi cũng dựa trên tình thần tôn trọng sự thật, thì cuộc tranh đấu của nhân dân Balan cũng đã dựa trên tinh thần tôn trọng sự thật và vì sự thật. Trong những năm 1989 và 1990, trước những cuộc cách mạng thành công của các quốc gia Đông Âu và Trung Âu, Đức Gioan Phaolô II đã không nói: tự do đã thắng hay dân chủ đã thắng! Trái lại Ngài hay nói: sự thật đã thắng!
Hãy nghe Lech Walesa trả lời phỏng vấn của báo L'Express ngày 13-12-80: "Tại sao tôi thành công? Chỉ vì tôi đã nói sự thật. Tôi không tính toán. Dù hệ thống xã hội nào đi nữa, nếu nó không dựa trên sự thật, dựa trên tiếng nói của lương tâm, dựa trên sự lương thiện, thì nó không có cơ thành công. Người ta không thể hoạt động chống lại con người. Nếu quý vị có một guồng máy không còn chạy được thì hãy sửa chữa nó. Guồng máy của chúng ta đã hỏng từ những năm !956, 1970, 1976. Nếu không thể sửa chữa thì hãy đổi máy khác; không cần nói đến những khía cạnh chánh trị mà chỉ cần nhìn xem khuynh hướng của 35 năm qua đã dẫn dắt chúng ta đi đến đâu: người ta đã tạo ra những thằng láo cá vặt, những đứa gian lận và những đứa mưu mô. Còn những anh trưởng toán kia, nếu anh ấy sống lương thiện thì anh ấy sẽ nghèo đói. Chính tình trạng xáo trộn ấy phải bị thanh toán. Phải khôi phục lại tinh thần đạo đức".
Cuộc cách mạng của chúng tôi là một cuộc cách mạng luân lý đạo đức! Lech Walesa thường nói. Nó dựa trên sự thật, tình thương, tinh thần đối thoại, sự tha thứ và hoà giải, những giá trị mà các vị chủ trương bất bạo động đều đề cao, từ Đức Phật, đến Chúa Giêsu, Thoreau, Tolstoi, thánh Gandhi. . .
Trong quyển “Lech Walesa and his Poland”, Mary Craig đã trích dẫn những tuyên bố sau đây của Walesa:
"Chúng ta hãy tha thứ cho nhau. Ai cũng có thể lầm lỗi ở một mức độ nào đó. . . Chúng ta không thể bỏ tù tất cả những viên chức chánh quyền thối nát. Rồi ai sẽ trả tiền nuôi họ đây?
"Chúng ta hãy là những con người sống tình người với nhau rồi mọi chuyện sẽ trôi chảy tốt đẹp. Tôi là một người có tín ngưỡng nên tôi có thể tha thứ dễ dàng".
Có những cán bộ nghiệp đoàn quá khích đã chống lại ông, và vì ông không chấp nhận bạo động nên luôn luôn có những tranh chấp trong nội bộ nghiệp đoàn về phương pháp đấu tranh; có những lúc ông bị tố cáo là hèn nhát, hoặc đã bán lao động cho chánh quyền Cộng sản. Trong quyển tự truyện, ông đã kể lại có người nói thẳng vào mặt ông: "Thưa ông Walesa, ông sẽ không bao giờ là một chánh trị gia giỏi. Ông biết tại sao không? Vì ông sợ không dám đổ máu. " Rồi ông nói tiếp: "thật tôi không chối cãi điều đó".
Sau khi nhận Giải thưởng Hoà bình hồi năm 1983, tức vào lúc Cộng sản thắng thế ông cũng vẫn tin tưởng vào sự thắng thế cuối cùng của lý tưởng bất bạo động.
Ông nói:"Tôi vẫn tin tưởng một ngày nào đó (ngày đó đã đến hồi tháng 4 năm 1989) chúng tôi sẽ ngồi lại với nhau quanh một chiếc bàn, và cùng nhau hiểu được điều gì là tốt nhứt cho Balan; vì muốn hay không muốn, thích hay không thích, chúng ta không còn một lựa chọn nào khác ngoài ra phải đi đến thông cảm với nhau; thật tình không còn một giải pháp nào khác".
Một nhà báo đã hỏi ông: "Ông đã chọn con đường bất bạo động; như thế có phải vì ông yếu đuối, hoặc vì ông không có khả năng để tranh đấu dành tự do độc lập bằng phương tiện nào khác hay không? Và ông trả lời: "Đó là con đường mà đa số dân Balan và đa số dân chúng trên toàn thế giới đang lựa chọn. Chính nhờ tranh đấu bất bạo động mà tôi đã đạt được ngày nay. Tôi là một con người tin tưởng vào đối thoại và thoả hiệp. Tôi tin tưởng mãnh liệt thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của bất bạo động. Chúng ta đã áp dụng và thí nghiệm mọi hình thức bạo động, nhưng trong suốt dòng lịch sử nhân loại không có hình thức nào mang lại điều gì tốt hoặc tồn tại lâu dài".
Người ta thường nói đến Walesa như một nhà lãnh đạo, một chiến lược gia, một chánh trị gia tài ba. Song ít khi nhớ rằng trước tiên ông là một nhà cách mạng đạo đức và nhìn xa.
Cuộc tranh đấu tại Balan đã hoàn toàn thành công, cuộc chuyển tiếp thật êm đẹp từ Cộng sản sang tự do dân chủ, từ kinh tế xếp hàng cả ngày đến kinh tế thị trường và cất cánh phát triển. Một phần lớn chính nhờ phương thức bất bạo động.
III. Kinh nghiệm Phi luật tânCuộc cách mạng chống bạo quyền Marcos tại Phi luật tân đã xảy ra hồi năm 1986.
Phi luật tân là một quốc gia lúc đó có 54 triệu dân, mà 85% là công giáo. Cựu TT Marcos lúc đó đã 68 tuổi, đã cầm quyền 20 năm từ năm 1966 đến cuối tháng 2 năm 1986, khi ông bị lật đổ và cùng gia đình và tuỳ tùng rời Phi sang Hoa Kỳ tỵ nạn.
Sáu năm đầu là thời gian xây dựng dân chủ. Nhưng từ năm 1972 Marcos dần dần đi sâu vào con đường độc tài tham nhũng, thối nát, và bạo động, dựa trên một số người trong gia đình và quân phiệt. Chỉ nhìn vào số tiền mà ông và gia đình có, dựa vào những con số chánh thức của những cơ quan điều tra Hoa Kỳ, như trị giá các địa ốc tại thành phố Nữu ước và Texas, tiền tại ngân hàng Thuỵ sĩ, người ta ước lượng tài sản của ông và thân tín đã lên đến nhiều tỷ đôla.
Chỉ nhìn vào những con số thấy được và chắc chắn, cũng phải nhận rằng chế độ tham nhũng thối nát đó thật là vô tiền khoáng hậu, và cũng đoán được tình trạng dân chúng Phi bị bóc lột đau khổ tới mức nào.
Trong suốt thời gian ấy, thái độ của hàng giáo phẩm chống lại chế độ thối nát của Marcos khi thì ôn hoà khi thì khá căng thẳng. Cho đến ngày 21-8-83, khi Ông Benigno Aquino, người lãnh tụ đối lập của TT Marcos từ Hoa Kỳ về xứ đã bị ám sát khi vừa ra khỏi máy bay. Vụ ám sát ấy mà người ta nghi là do Marcos và tướng Ver, người số 2 sau Marcos đã chủ mưu, cùng với những hành động tàn sát đối lập khác, đã làm cho đa số quần chúng không còn có thể chấp nhận chế độ Marcos được nữa.
Số người chống chế độ Marcos càng nhiều thì hàng ngũ đảng và quân đội cộng sản nổi loạn Phi ngày càng đông, từ lúc đầu thành lập hồi năm 1979 là 500 người đến đầu năm 1986 là trên 16 ngàn. Một số giáo dân và cả trăm linh mục và nam nữ tu sĩ cũng theo về phía cộng sản hoặc có cảm tình với chúng, bởi họ không thể chấp nhận chế độ Marcos mà cũng không còn con đường nào khác để lựa chọn.
Thiên thời để làm cuộc cách mạng đã đến khi TT Marcos tuyên bố sẽ tổ chức tổng tuyển cử vào ngày 7-2-86. Cộng sản và phe đối lập tả khuynh liền phản ứng quyết liệt bằng cách tuyên truyền tẩy chay cuộc tuyển cử. Trong khi đó Bà Aquino ra tranh cử. Và Hội Đồng giám mục Phi gồm 104 vị, mà Đức Hồng Y Vidal là Chủ tịch, đã hợp và ra thông cáo kêu gọi mọi công dân hãy tham gia cuộc tuyển cử thật đông đủ và chọn người xứng đáng theo tiếng gọi lương tâm của mình. Hội đồng giám mục Phi còn ấn định sẽ hợp trở lại sau ngày bầu cử để theo dõi và đối phó với tình thế. Bọn cộng sản và tả khuynh lúc đó lồng lộn chửi bới và chế nhạo hành động tham gia bầu cử và tranh đấu bất bạo động. Bọn chúng cho rằng đó chỉ là những thái độ ngây ngô khờ dại, chỉ làm lợi cho Marcos, phản lại quyền lợi của nhân dân, là hợp tác với đối phương.
Tuyên truyền cộng sản và tả khuynh đã thất bại, quần chúng Phi đi bầu thật đông đảo. Thương gia, cán bộ nghiệp đoàn, cùng sinh viên đã được khuyến khích thành lập một Ủy Ban độc lập tự do kiểm soát bầu cử (gọi là NAMFREL) để thúc đẩy và giữ cho cuộc bầu cử được trong sạch.
Trong khi đó, TT Marcos đã tổ chức một cuộc bầu cử thật gian lận và bạo động, những cán bộ của Bà Aquino bị ám sát tàn nhẫn; trong vòng 2 tháng từ 6-12-85 đến 6-2-86, tức một ngày trước bầu cử, đã có 51 người bị giết, riêng trong ngày bầu cử 7-2-86 đã có 36 người bị giết. Những gian lần về tổ chức bầu cử thì đa dạng và quá lộ liễu: đổi thùng phiếu, cướp thùng phiếu, đếm phiếu và ghi chép gian lận, cạo sửa những con số, ký tên giả mạo, và nơi nào chưa sửa đổi được con số cho có lợi thì không chịu công bố kết quả. . .
Ngày 13, 14 tháng 2, Hội Đồng giám mục Phi hợp trở lại. Toà thánh La mã qua thư của Đức Hồng Y Cassaroli khuyến cáo Hội đồng đừng nên phổ biến một lời tuyên bố nào trước khi có tuyên bố kết quả chánh thức của cuộc bầu cử, nhưng Hội Đồng giám mục thấy cần thiết và đã phổ biến lời công bố như sau:
"Theo nhận định của chúng tôi thì cuộc bầu cử đã tỏ ra gian lận như chưa từng thấy, nói được là đã tước quyền bầu cử của người dân qua những thủ đoạn mua phiếu và đếm phiếu gian lận, sửa đổi kết quả đầu phiếu, đe doạ, bức hiếp, bạo động và ám sát. . .
"Chiếu theo những nguyên tắc luân lý, một chánh quyền tiếp nhận hoặc giữ quyền bính bằng phương tiện gian lận không thể có căn bản luân lý. Vì đạt được chánh quyền như vậy không khác nào sự cưỡng chiếm quyền hành và không thể đòi hỏi người công dân phải tuân phục. . .
"Nếu chánh quyền ấy không tự sửa sai những điều sai ác đã làm cho người dân, thì chúng ta có phận sự luân lý nghiêm trọng bắt buộc họ phải sửa sai.
"Chúng ta sẽ không thể có những thay đổi mong muốn nếu chúng ta bất động. Nếu chúng ta không làm gì hết thì dân tộc ta sẽ đi đến diệt vong. Và chúng ta sẽ là tòng phạm của những người làm điều xấu. . .
"Con đường vạch ra cho chúng ta là con đường tranh đấu bất bạo động cho công lý. Có nghĩa là một chống đối tích cực chống lại sự dữ bằng những phương tiện hoà bình, theo cung cách của Chúa Kitô. . .
"Theo một đường hướng đầy sáng kiến và sáng tạo, dưới sự hướng dẫn của tinh thần Chúa Kitô, chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện, cùng nhau suy nghĩ, cùng nhau quyết định, cùng nhau hành động, để cho sự thật được đắc thắng, và cho ý nguyện của nhân dân được hoàn toàn tôn trọng. . . "
Ngày chúa nhựt 16-2-86, liên danh đối lập Aquino-Laurel kêu gọi một cuộc biểu tình chống lại cuộc bầu cử gian lận và chánh quyền Marcos, gần 1 triệu rưởi người tham dự.
Ngày 23-2, Tổng trưởng quốc phòng Ponce Enrile và tướng Tổng tham mưu phó Fidel Ramos, cùng với 300 quân sĩ chiếm trại Aguinaldo và trại Crane, nơi đặt văn phòng làm việc, lấy làm trụ sở chống lại TT Marcos và kế đó ủng hộ Bà Aquino. Họ xin Đức Hồng Y Sin ủng hộ. Ngài lên đài phát thanh công giáo Veritas kêu gọi quần chúng xuống đường. Dân chúng xuống đường đông đảo, đứng giữa xe tăng của quân Marcos và quân cách mạng. Họ là gia đình, bạn bè, tu sĩ nam nữ, họ là những thương gia, những bà nội trợ, những công nhân và nông dân từ các vùng lân cận, họ là những người buôn gánh bán bưng, là thanh niên sinh viên học sinh. Họ kêu gọi những lính trên xe tăng đừng bắn vào quần chúng, quân sĩ đôi bên đều được họ tiếp tế, họ chuyện trò vui vẻ, cùng nhau ca hát và cầu nguyện. Không có một vụ bạo động và bắn giết, mặc dù đám đông đã lên đến nửa triệu người.
Sau những nỗ lực tấn công quân sự bất thành, vì quân sĩ không chịu bắn vào nhau theo lệnh của một chánh quyền không còn chánh nghĩa, TT Marcos và tuỳ tùng đã phải thương thuyết để được rời khỏi Phi luật tân.
IV. Kinh nghiệm tranh đấu giải phóng Ấn độCuộc tranh đấu bất bạo động nổi tiếng nhứt đến nay vẫn là cuộc tranh đấu cho nhân quyền, tự do, và độc lập tại ơn độ dưới sự lãnh đạo của Thánh Gandhi.
Năm 1893 với tư cách là một luật sư, Gandhi đã đến Nam Phi để cải cho một người Ấn độ. ~ đó ông đã phải chứng kiến cảnh những đồng bào Ấn độ của ông bị kỳ thị đàn áp bởi chánh quyền da trắng Anh quốc. Ông đau khổ vì nỗi khổ của đồng bào ông và nghĩ đến sáng tạo một tư tưởng đồng thời cũng là một kế hoạch ranh đấu cho nhân quyền của đồng bào mình.
Ông sáng tạo và đặt tên cho chủ thuyết của ông mà ông gọi là SATYAGRAHA, chúng ta tạm dịch là "phong trào tranh đấu bất bạo động". Thật ra, như chính Gandhi đã giải thích trong quyển tự truyện của ông, chữ Saty có nghĩa là sự thật, chân lý; chữ Agraha có nghĩa là bám vào, bám chặt, theo đuổi. Chúng ta sẽ thấy tất cả trọng tâm cũng như chủ lực của phương thức tranh đấu bất bạo động là dựa trên sự thật và trong cùng đích tìm đạt được sự thật.
Năm 1915, thánh Gandhi trở về Ấn độ, mục tiêu của ông lúc đó không những là tranh đấu cho nhân quyền từng vụ, mà trước tiên phải là giải phóng Ấn (ơn) độ khỏi bàn tay đô hộ Anh, và kế đến là làm cho cả nhân loại được hạnh phúc hơn.
Một tổ chức tranh đấu bất bạo động đã được thành hình tại Bombay Ấn độ năm 1922, đó là Đoàn quân thiện nguyện hoà bình. Hàng ngũ của họ trở thành đông đảo khi những người Hồi giáo Panthan gia nhập.
Năm 1930, khi Quốc Hội Ấn độ với thánh Gandhi là một lãnh tụ ảnh hưởng trong đó, tuyên bố khởi sự cuộc tranh đấu bất bạo động chống Anh quốc đòi độc lập cho Ấn độ, thì Đoàn quân thiện nguyện hoà bình của Badshah Khan gồm 80 ngàn người gốc Hồi đã trở thành lực lượng thiện nghệ và kỷ luật sẵn sàng lâm chiến.
Một trang sử vẻ vang độc đáo về tranh đấu bất bạo động ở Ấn độ lúc đó là cuộc tranh đấu "Chống độc quyền ruộng muối" của chánh phủ đô hộ. Chánh phủ Anh, độc quyền ruộng muối, làm muối, đánh thuế muối thật cao, bán muối thật đắt và không cho dân chúng khai thác muối. Gandhi phát động cuộc tranh đấu, hướng dẫn dân chúng về vùng biển chỉ cho họ cách làm muối, lấy muối đó ăn và bán lại cho nhau dùng. Chánh quyền đô hộ đàn áp thật tàn nhẫn: cho quân đội và cảnh sát đánh đập dân đến chết đi sống lại, lắm khi làm nhục họ bằng cách cổi trần truồng rồi đánh đòn, có khi quăng họ vào thùng phân, và bắt cả trăm ngàn người bỏ tù.
Đối lại thái độ tàn nhẫn của chánh quyền, những cán bộ của Đoàn quân thiện nguyện hoà bình hướng dẫn dân chúng chống lại bằng một thái độ bất bạo động. Bị cảm hoá bởi Đoàn thiện nguyện hoà bình của Badshah Khan nên gần như là tất cả mọi người Hồi giáo đều tham gia tranh đấu bất bạo động; một số lớn người ơn độ cũng tham gia. Chánh quyền đô hộ không thể đàn áp mãi, đã phải thương thuyết với Quốc Hội ơn, và cuối cùng, năm 1947, trả độc lập cho Ấn độ.
Phần Gandhi thì bị bỏ tù nhiều lần, sau hết đã bi ám sát do bàn tay của một người ơn độ quá khích không chấp nhận chính sách bất bạo động và hoà giải giữa người Ấn và người Hồi của ông.
V. Giáo dục và chuẩn bị tại Phi luật tânNếu cuộc cách mạng tháng tám vừa qua tại Nga đã thành công nhờ yếu tố thời cơ nhiều hơn, cuộc cách mạng tại Balan được chuẩn bị khá lâu dài hơn, thì cuộc cách mạng lật đổ bạo quyền Marcos cũng như cuộc tranh đấu bất bạo động tại ơn độ chẳng những đã được chuẩn bị lâu dài mà cán bộ còn được huấn luyện kỹ càng với những phương pháp khoa học hiện đại.
Theo Peggy Rosenthal, một chuyên viên nghiên cứu về bất bạo động trên thế giới, thì ý thức tranh đấu bất bạo động (tranh đấu bất bạo động) của quần chúng Phi đã bắtđầu từ thập niên 70, với sự khơi động và thúc đẩy của Đức Giám mục Francisco Claver, Dòng Tên, nguyên giám mục giáo phận Malaybalay, đến năm 1982 thì ngài không cai quản giáo phận nữa, mà làm giám đốc một Trung tâm nghiên cứu cho giáo quyền Phi. Trong suốt thời gian từ 1970 đến 1986 cũng như mãi đến bây giờ, Đức Cha Claver đã cố gắng nghiên cứu làm sao tìm ra những phương thế tranh đấu bất bạo động chống lại các chánh quyền độc tài như ở Phi và ở các quốc gia khác.
Theo Ronald J. Sider trong quyển Non Violence the Invincible Veapon? thì đến tháng 2 năm 1984 Jean và Hildegard Goss-Mayr là đôi vợ chồng công giáo chuyên nghiên cứu và huấn luyện về chiến lược tranh đấu bất bạo động, đã đến Phi do lời mời của một số các cộng đồng tu sĩ công giáo Phi, để nghiên cứu một chiến dịch tranh đấu cho nhân quyền trên toàn lãnh thổ Phi.
Họ tổ chức những khoá huấn luyện, hội thảo và tĩnh tâm, trong đó các linh mục Dòng Tên góp phần khá quan trọng. Người tham dự gồm đủ thành phần: nông dân, lãnh tụ nghiệp đoàn, chánh trị gia đối lập, các giám mục, linh mục và giáo dân. Chương trình huấn luyện và tĩnh tâm nhằm hai mục tiêu chánh yếu là: một mặt phân tách cơ cấu bất công đàn áp của xã hội bao quanh hiện hữu, mặt khác sửa cải tâm hồn cho chính bản thân người tham dự. Họ nhấn mạnh rằng tình trạng bạo động của xã hội không thể tách rời khỏi tình trạng bạo động của tâm hồn mọi người chúng ta. Chính trong những giờ phụng thờ và lãnh nhận bí tích Thánh Thể, các nhóm tuy đều đối lập với Marcos nhưng cũng đều đối lập với nhau (!) đã trở thành thông cảm và đoàn kết để cùng nhau bắt tay làm việc. Một trong những bài huấn luyện của cặp vợ chồng Goss-Mayr có viết:
"Mầm móng bạo động ở trong cơ cấu xã hội dĩ nhiên, song cũng ở nơi nhà độc tài nữa. Nhưng nó không ở trong chính bản thân chúng ta sao? Bảo rằng Marcos là xấu thì dễ dàng lắm. Song nếu mỗi người chúng ta không tiêu diệt dứt bỏ nhà độc tài trong lòng chúng ta thì sẽ không có gì thay đổi. Rồi một nhóm người mới sẽ lên nắm quyền, rồi cũng sẽ hành động giống hệt những người mà họ đã thay thế. Do đó chúng ta phải tìm cho ra những Marcos trong chính chúng ta. "
Sau những khoá hội thảo và huấn luyện ấy, những người tham dự đã đi đến quyết định thành lập một tổ chức bất bạo động lấy tên là AKKAPKA, những chữ tắt có nghĩa là Phong trào Hoà bình và Công lý. Liền khi đó Phong trào này tổ chức 40 khoá hội thảo trong 30 tỉnh cùng khắp nước Phi.
Trong lúc công cuộc huấn luyện được chuẩn bị như vậy cho cán bộ, thì chính người lãnh đạo đối lập chánh yếu là Benigno Aquino, chồng Bà Cory Aquino cũng đã tự rèn luyện nghiên cứu. Ông cho biết lúc bị Marcos cầm tù từ năm 1972 đến năm 1980, ông đã dùng thời giờ trong tù để suy tư, nghiền ngẫm, cầu nguyện, hầu tìm ra một con đường tranh đấu cho đất nước. Ông đọc Thánh Kinh và sách của thánh Gandhi, sau cùng ông được "biến đổi, hoán cải, tin tưởng, nhận chân rằng chỉ có con đường dấn thân tranh đấu bất bạo động và phục vụ người nghèo". Sự chuẩn bị công phu chi tiết và biến đổi tinh thần cần thiết cho một cuộc cách mạng nhân bản thật sự ấy, ông đã trình bày trước Tiểu Ban Á châu và Thái bình dương Sự vụ Quốc Hội Hoa Kỳ hồi tháng 6 năm 1983 như sau:
"Để thu thập những dữ kiện cụ thể và những tin tức đầu tay, tôi đã đi cùng khắp Trung Đông, Đông Nam Á châu, và Trung Mỹ. Tôi đã phỏng vấn các nhà lãnh đạo của những cuộc cách mạng thành công nhứt, tôi đã nói chuyện với những người thắng cũng như người bại, với những bà con thân nhân của những nạn nhân và những người còn sống sót. Tôi đã đi đến kết luận rằng cách mạng và bạo động trong cuộc tranh đấu cho tự do đã đòi hỏi một giá đắt nhứt về giá trị nhân bản và sinh mạng con người. Cuối cùng rồi không còn ai là chiến thắng, mà chỉ có toàn là nạn nhân. . .
"Do đó tôi đã chọn theo đuổi cuộc tranh đấu cho tự do theo con đường bất bạo động, biết rõ ràng rằng con đường ấy có thể lâu dài và chông gai hơn. . .
"Tôi chọn trở về xứ trong im lặng và trong thanh vắng để từ đó hoạt động cho một giải pháp hoà bình cho các vấn đề của chúng tôi, hơn là trở về trong chiến thắng giữa tiếng chiên trống để át đi những tiếng rên rỉ khóc than của những người mẹ khóc những đứa con trai hay con gái của mình đã phải hy sinh cho thần cách mạng bạo động. Có thể nào những kẻ giết người hôm nay trở thành những nhà lãnh đạo của ngày mai hay không? Chúng ta có bị bắt buộc phải phá hoại để xây dựng hay không? Tôi từ chối không tin tưởng rằng một quốc gia cần thiết phải xây dựng nền tảng trên những đống xương của những thanh niên thiếu nữ của mình".
Những người kế tục ông Aquino đã hoàn thành cuộc cách mạng bất bạo động lý tưởng của đời ông, mặc dù ông đã không được trở về xứ và vào tù để nghiền ngẫm về những giải pháp cho đất nước, mà bị những bạo chúa bắn ông chết ngay khi bước xuống sân bay.
VI. Giáo dục và chuẩn bị tại Ấn độNhư trên đã nói đến việc Gandhi huấn luyện và thành lập Đoàn quân thiện nguyện hoà bình. Đoàn quân đó đã lớn mạnh đông đảo và nổi tiếng nhờ sự gia nhập của nhóm người hồi giáo Panthan của Badshah Khan. Họ đi vào làm công tác phát triển cộng đồng trong làng, mở trường học, giữ trật tự công cộng khi có tập hợp.
Điều đặc biệt hy hữu cần biết là làm sao Gandhi đã giáo dục và thuyết phục biến cãi được những người hồi giáo Panthan để họ yêu chuộng hoà bình và chấp nhận tranh đấu bất bạo động. Bởi họ là những người rất khát máu và hiếu chiến. Theo Sider, Nehru bảo rằng người Panthan "yêu cây súng còn hơn con hay anh của mình"; đối với họ con đường đi về cõi phúc chắc chắn nhứt là "chết trong khi họng súng còn bốc khói". Chính Gandhi cũng đã thích thú ngạc nhiên khi thuyết phục được những người Panthan chấp nhận tranh đấu bất bạo động, ông nói:
"Những người ấy, những người sẵn sàng giết một mạng người mà không cần phải suy nghĩ đắn đo hơn là cắt cổ con gà hay làm thịt con trừu, bão rằng họ đã nghe lời một người để rồi buông súng, chấp nhận bất bạo động như là vũ khí tối thượng, thì nghe không khác nào chuyện thần thoại".
Để làm công việc chuẩn bị, chính thánh Gandhi đã suy tư, học hỏi, nghiên cứu, đích thân hướng dẫn tranh đấu, viết tự truyện, viết thư, giáo huấn, thiết lập hai tờ tuần báo, tờ Young India và tờ Harijan viết bằng 3 thứ tiếng, tiếng Anh, tiếng Gujarati, và tiếng ơn. Ông thành lập làng cộng đồng kiểu mẫu Ashram trong các vùng nghèo khổ; ở đó cũng như những nơi khác công tác giáo dục quần chúng về mọi phương diện kinh tế, xã hội, chánh tri, y tế, văn hoá được thực hiện.
Tại sao công tác giáo dục phải được đặt hàng đầu? Vì như lời của nhà xuất bản Navajivan trong quyển Non Violent Resistance:
"Tranh đấu bất bạo động để thắng điều dữ không phải là thứ phản kháng thụ động của kẻ yếu. . . Nó là lối tranh đấu của kẻ can trường, đưa người tranh đấu bất bạo động dám chết với nụ cười nỡ trên môi, và không chút thù hận trong tim. Nó hàm chứa một tư cách đã đựợc rèn luyện trong kỷ luật, vị tha, và hiến thân trọn vẹn cho phận sự. . .
"Tranh đấu bất bạo động có thể mang hình thức bất hợp tác. Lúc đó không phải là họ không hợp tác với người làm điều xấu, song là không hợp tác với hành động xấu. ~ đây cần biết phân biệt. Người tranh đấu bất bạo động hợp tác với người xấu trong khi làm việc tốt, vì họ không có hận thù đối với người xấu, trái lại còn dành cho người ấy một tình bạn. Qua sự hợp tác ấy trong những việc không phải là xấu, người tranh đấu bất bạo động có thể khắc phục điều xấu. . .
"Tranh đấu bất bạo động có thể mang hình thức bất phục tùng dân sự . Và bất phục tùng dân sự đòi quần chúng phải phải tôn trọng kỷ luật chung, phải có khả năng chịu đựng đau khổ vô hạn mà không đòi trả thù, đồng thời nghiêm mật tuân lịnh người lãnh đạo. Vì kỷ luật và sự tùng phục ấy không phải do vũ lực như trong trường hợp chỉ huy quân sự nên những người lãnh đạo phải là những con người tư cách, có tinh thần phục vụ mà mọi người biết, để người khác kính trọng và sẵn sàng tuân phục. . . Những người lãnh đạo ấy phải được huấn luyện để biết hợp tác hoạt động, biết đoàn kết, không sợ sệt, tôn trọng công ích, biết tự xoay trở khi gặp khó khăn, biết nhiều nguồn tài nguyên, có sức mạnh thể xác tinh thần và luân lý. . . "
Gandhi có tài giáo dục và trình bày cách đơn sơ dễ hiểu để mọi người có thể học được. Ngài nói rằng những bài ngài viết ngài trình bày nó rất đơn sơ để bất cứ ai kể cả trẻ con cũng hiểu được.
VII. Những phương pháp và nguyên tắc chíến lượcTheo dõi, quan sát, nghiên cứu, tìm hiểu về những cuộc cách mạng bất bạo động đã qua, nhứt là trong thập niên chót này đã cho chúng ta thấy: -những phương pháp kiến hiệu đã được sử dụng; -nó thiên hình vạn trạng; -nó là những phương pháp hợp với và dựa trên đạo đức và tôn giáo; -nó đang được sử dụng nhiều trong thập niên này và rất có thể trong một giai đoạn lịch sử sắp đến; -có thể thế giới chỉ còn chấp nhận những phương pháp bất bạo động mà thôi.
Điều đáng mừng là đã có những thử nghiệm, những chuyên viên, những viện nghiên cứu về tranh đấu bất bạo động, để cho chúng ta những hiểu biết và khám phá khoa học đầu đủ sâu rộng thật bổ ích cho những áp dụng trong tương lai.
Giáo sư Gene Sharp, người sáng lập Chương Trình Nghiên Cứu tranh đấu bất bạo động tại Đại Học Harvard, đã nhiều công nghiên cứu về lịch sử và phương pháp tranh đấu của hàng trăm vụ tranh đấu bất bạo động trên thế giới từ trước đến nay, đã tóm lược như sau trong một tác phẩm mà người "phàm tục" đối với vấn đề cũng có thể hiểu được.
Nghiên cứu về 197 vụ tranh đấu bất bạo động, đến năm 1970, là lúc xuất bản quyển sách ấy, quyển Exploring Nonviolent Alternatives, Porter Sargent Publisher, Sharp cho rằng có thể nói các phương pháp sử dụng đều thuộc 3 loại: -chống đối hay thuyết phục bất bạo động, -bất hợp tác, -và can thiệp bất bạo động:
Chống đối hay thuyết phục bất bạo động. Đó là những phương pháp có tác dụng khá biểu tượng, làm cho quần chúng và dư luận ý thức về tình trạng chống đối của quần chúng đối với nhà cầm quyền độc tài, và hậu quả có thể trở thành to lớn. Những phương pháp đó gồm những vụ xuống đường, diễn hành, đi hành hương, canh thức, đứng trước các trụ sở hay cơ quan, "hỏi thăm" các viên chức của chánh quyền độc tài, mít-tinh, phát triển đơn và sách báo chống đối, không nhận chức tước họ ban cho. . .
Bất hợp tác. Đến một mức độ quan trọng nào đó thì việc bất hợp tác làm cho hệ thống và bộ máy cai trị của nhà cầm quyền độc tài bị cản trở, khó khăn, không còn hoạt động được hữu hiệu nữa. Nó gồm những hình thức tẩy chay xã hội, tẩy chay kinh tế, đình công, tổng đình công, lãng công, bất hợp tác chánh trị, như không đến công sở, chống đối bầu cử, bất tuân lệnh dân sự. . .
Can thiệp bất bạo động. Những phương pháp này ngoài những yếu tố giống các phương pháp trước còn có tính cách trực tiếp hơn; với một số người ít hơn mà cũng có thể có kết quả nhiều hơn, như tuyệt thực, đình công chiếm xưởng nhưng bất bạo động, ngồi cản lối đi, lập chánh phủ hay cơ quan lãnh đạo song hành. . .
Dĩ nhiên phải lựa chọn phương pháp tuỳ số người mình có, tuỳ loại vấn đề chống đối, tuỳ bản tính, sức mạnh, và mục tiêu của đối phương, tuỳ tinh thần và tình cảm sôi động của người tham dự, tuỳ mức độ đàn áp của đối phương, và tuỳ tình trạng huấn luyện của quần chúng đến mức độ nào; tỷ như các phương pháp bất hợp tác thì cần nhiều người tham dự, trái lại phương pháp can thiệp bất bạo động thì người tham dự không cần nhiều song phải được huấn luận kỷ hơn, kế hoạch thực hiện phải được tiến hành với nhiều sáng suốt và kỷ luật hơn. . .
Cuộc tranh đấu bất bạo động nhằm đưa đến biến đổi hoàn cảnh và chính đối phương. Song những biến đổi mà chúng ta mong ước ấy sẽ diễn ra như thế nào? Cũng theo Sharp thì nó diễn ra dưới 3 hình thức, hoặc dưới một hình thức phối hợp hết cả 3 hình thức ấy. Những hình thức biến đổi ấy là: hoán cải, thích ứng, và cưỡng bách bất bạo động.
"Hoán cải là khi do sự tranh đấu bất bạo động của chúng ta, đối phương thay đổi thái độ, đường lối, hay quan niệm theo mục tiêu mà chúng ta theo đuổi. Sự biến cải ấy do tình, hay do lý, hay do sự thuyết phục vì đạo đức mà người tranh đấu bất bạo động đã tạo nơi đối phương; sự hoán cải ấy xảy ra được là vì người tranh đấu bất bạo động đã chấp nhận sự đau khổ nơi chính mình hơn là làm cho đối phương phải đau khổ". Chúng ta sẽ nói nhiều hơn về chấp nhận đau khổ của người tranh đấu bất bạo động khi bàn về căn bản đạo đức và tôn giáo của tranh đấu bất bạo động.
Thích ứng. "Thích ứng là trạng thái ở giữa hoán cải và cưỡng bách bất bạo động. Nó cũng chứa đựng nhiều chất tố của hoán cải và cưỡng bách bất bạo động. Thích ứng là khi đối phương chưa sẵn sàng để hoán cải, song thấy có lợi và còn cơ hội để đáp lại yêu cầu của người tranh đấu bất bạo động. Cuộc tranh đấu bất bạo động đã làm thay đổi tình hình khá nhiều khiến đối phương phải thay đổi, có thể vì họ không còn tin tưởng mãnh liệt vào lý lẽ của họ như trước nữa, hoặc vì họ thấy không đáng giữ vững lập trường hay thái độ để rồi phải gánh chịu nhiều phiền toái khó khăn nguy hiểm do cuộc tranh đấu gây nên; hoặc cũng có thể vì đối phương dự phóng trước nếu kéo dài thì sẽ thất bại và muốn rút lui "trong danh dự" hay bị tổn thất nhẹ hơn".
Cưỡng bách bất bạo động. "Tình trạng bị cưỡng bách bất bạo động phải thay đổi này có thể xảy ra trong 3 trường hợp sau đây: - khi sự thách đố và bất phục tùng của quần chúng đã quá lan rộng đến nỗi người cai trị độc tài không thể chế ngự bằng đàn áp; - khi hệ thống chánh trị hay xã hội có thể bị tê liệt; - hoặc khi sự thách đố hay bất phục tùng trong chính hàng ngủ quân sĩ và nhân viên của bạo quyền đã huỷ hại khả năng đàn áp của bạo quyền". Đây là điều đã xảy ra cách rõ ràng trong cuộc cách mạng do "sức mạnh nhân dân" tại Phi luật tân và Nga vừa rồi.
"Tình trạng bị cưỡng bách bất bạo động xảy ra khi mà những người tranh đấu bất bạo động cách gián tiếp hay trực tiếp làm cho đối phương không thể sử dụng những khả năng hay tài nguyên quyền lực chánh trị của họ nữa"
TRỞ VỀ ĐẦU TRANG
Kế Hoạch tranh đấu bất bạo động của Bà Aquino năm 1986 tại Phi luật tân.
Như đã nói trước đây, ông Benigno Aquino đã thấm nhuần học thuyết bất bạo động của thánh Gandhi và ông chủ trương giải phóng Phi khỏi ách độc tài Marcos bằng hình thức tranh đấu bất bạo động ấy. Chắc hẳn ông và những người bạn của ông còn bổ túc học thuyết ấy bàng những nghiên cứu và học tập khoa học từ cặp vợ chồng Goss-Mayr và từ công trình nghiên cứu của Gene Sharp. Chúng ta hãy xem Kế Hoạch tranh đấu bất bạo động của Bà Aquino năm 1986 như thế nào.
Như đã nói trên, TT Marcos đã không chấp nhận sự thất bại, mà còn cố gian lận trong việc kiểm phiếu. Bà Aquino lúc đó kêu gọi một cuộc mít-tinh vĩ đại tại giữa thành phố Manila, cho biết trước trong cuộc mít-tinh đó Bà sẽ công bố Kế Hoạch tranh đấu bất bạo động của Bà. Theo tác giả Isabelo T. Crisotomo trong quyển Cory, Profile of a President, trích lại báo Malaya và Daily Express thì bà Aquino đã tuyên bố:
"Tôi không đòi hỏi một cuộc cách mạng bạo động. Đây không phải là lúc làm việc đó. Tôi luôn luôn xác định rằng đây là lúc phải tranh đấu bất bạo động cho công lý. Nói như vậy có nghĩa là phản kháng tích cực chống lại điều dữ bởi những phương tiện hoà bình". Và Bà đã đưa ra Kế Hoạch sau đây:
Tẩy chay những tờ báo tay chân của chánh quyền như tờ Manila Daily Bulletin, Daily Express, Times Journal, People's Journal and Tempo.
Không buôn bán và giao dịch với những công ty và xí nghiệp của Marcos hay tay chân Marcos như hãng Lave San Miguel Co, Rustan's, Union Bank, Traders Royal Bank, United Coconut Planters Bank, Philippine National Bank,. . .
Không trả các hoá đơn điện nước tới khi các hoá đơn ấy đến hạn nếu không trả thì bị cúp điện nước.
Lực lượng quân đội và cảnh sát hãy nghe theo tiếng lương tâm của mình và không trung thành với một "tổng thống không được sự uỷ nhiệm của nhân dân".
Công chức và công nhân viên các xí nghiệp tư hãy đến xin vay tiền tràn ngập sở các Sở An sinh xã hội và các Hãng bảo hiểm.
Tổng đình và không đến trường học vào ngày Marcos định làm lễ tấn phong nhậm chức.
Tổ chức trong các khu xóm và cộng đồng mọi cấp những cuộc chống đối có phối hợp và bất bạo động.
Đã có từ 1 triệu đến 1 triệu rưởi người tham dự cuộc biểu tình hôm đó.
Hồi thượng tuần tháng 9 năm đó, một Hội Nghị quốc tế về Phòng vệ dân sự, tức tranh đấu bất bạo động, đã diễn ra tại Ontario, Canada. Mấy trăm tham dự viên gồm những nhà nghiên cứu chiến lược quân sự và tranh đấu bất bạo động đã có mặt. Họ ca ngợi những người lính Nga đã "đình công", ngồi yên tại chỗ, tham dự tranh đấu bất bạo động, khiến cho cuộc cách mạng của "sức mạnh nhân dân" đã thắng thế; và họ cũng ca ngợi những cuộc tranh đấu bất bạo động tại Đông Âu từ 2 năm qua.
Tất cả đã đồng ý cho rằng tranh đấu bất bạo động là phương pháp tân tiến và hợp thời nhứt, thay thế cho chiến đấu võ trang, để tranh đấu chống độc tài, chống đảo chánh và xâm lược.
Giáo sư Gene Sharp cho rằng những cuộc cách mạng nhân dân vừa qua đều có tính cách tự phát và không được sửa soạn trước, trong khi đó có thể chuẩn bị và học hỏi trước để kết quả được bảo đảm. Người ta cũng được biết là giáo sư Sharp và hai vị khác đã được chánh phủ Lithuania mời đến viếng xứ này hồi tháng 4 năm 1991 để nghiên cứu về phòng vệ dân sự, tức tranh đấu bất bạo động chống lại quân Sô viết. Những kết luận mới nhứt mà Gene Sharp đã nêu lên tại hội nghị gồm một sách lược như sau:
Bất tuân lệnh những người đảo chánh, hay những người chiếm quyền, nghĩa là hoàn toàn bất hợp tác của nhân dân;
Kết thân, binh vận, với những quân sĩ của chánh quyền độc tài hay của lực lượng chiếm đóng, và thúc giục họ triển hoãn thi hành quân lệnh, hoặc từ chối thi hành lệnh, hoặc đào ngũ;
Xuống đường đông đảo, kể cả cản trở xe tăng và các phương tiện quân vận khác;
Đình công và kể cả tổng đình công;
Dùng các phương tiện truyền thông khác như máy in Xerox, hay bản tin để thay thế khi chánh quyền độc tài đóng cửa báo hay đài phát thanh của lực lượng tự do;
Nhờ đến những lực lượng bạn ở các quốc gia khác để tuyên truyền cho phong trào tranh đấu trong nước, hoặc để vận động các biện pháp trừng phạt bọn lãnh đạo bạo quyền.
TRỞ VỀ ĐẦU TRANG
Kết luận
Lịch sử là gì? Lịch sử có phải là một sự tái diễn, là một lập lại dĩ vãng như khuôn đúc? Hay lịch sử sẽ không bao giờ tái diễn cũng như người ta sẽ không bao giờ tắm trên một dòng sông như Héraclite đã nói?
Chúng ta không thể nghĩ rằng lịch sử sẽ tiến qua như mũi tên phóng theo một đường thẳng để rồi không bao giờ trở lại, nghĩ như vậy thì không cần học lịch sử làm gì. Chúng ta cũng không thể chấp nhận rằng lịch sử sẽ quay theo một vòng tròn, tái diễn trọn vẹn, chuyện gì đã xảy ra trong dĩ vãng rồi cũng xảy ra như vậy trong tương lai, nghĩ như vậy thì chỉ học lịch sử chớ không cần học gì khác, nhứt là cũng không còn chỗ cho nghiên cứu tìm tòi và sáng tạo, mà bản chất con người là tự do, sáng tạo, và nỗ lực thăng tiến.
Dựa trên căn bản suy luận đó chúng ta xác tín rằng lịch sử giải phóng Đông Âu và Nga sô, hay cuộc bạo hành bế tắc tại Thiên An môn sẽ không thể tái diễn trăm phần trăm tại Việt Nam. Cái gì làm cho biến đổi? Đó chính là phần đóng góp và sáng tạo của con người để biến đổi hoàn cảnh thuận lợi theo ý mình. Và nói biến đổi là biển đổi cái gì có thể biến đổi, chấp nhận cái gì không thể biến đổi, và thức thời sáng suốt để thấy cái gì có thể biến đổi và cái gì còn phải tạm dung trong một thời gian.
Bảo rằng Cộng sảnViệt Nam không giống ai, nó tàn nhẫn hơn bất cứ cộng sản nào khác, rằng chúng ta chỉ có chờ cho nó tự huỷ hay tự biến đổi. Suy nghĩ như vậy là tư tưởng chủ bại. Làm như vậy là phó mặc cho định mệnh.
Mới hồi nào đây, chúng ta còn nghĩ rằng một quốc gia đã bị cộng sản chiếm rồi thì đừng mong giải phóng, ba tháng trước đây có ai nghĩ rằng đế quốc cộng sản Liên sô, chiếc nôi và thành trì của nền độc tài kiên cố và khát máu nhứt lịch sử loài người từ 3 phần 4 thế kỷ nay bây giờ chỉ trong vòng 30 tiếng đồng hồ đã sụp đổ tan tànhh.
"Non cao đã có đường trèo,
Con bệnh hiểm nghèo đã có thuốc tiên. "
Lịch sử sẽ tái diễn, nhưng không tái diễn như một lập lại rập khuôn. Đã một thời bạo động thắng thế. Bây giờ là lúc thắng thế của tự do, dân chủ, và bất bạo động.
Đã một thời 2 chủ nghĩa độc tài Quốc xã và cộng sản thắng thế, dìm nhân loại trong đau khổ, cùng cực, hận thù và bạo động. Bây giờ là lúc nhân loại đi lên, xây dựng hạnh phúc phú cường và hưởng tự do hoà bình nhờ tranh đấu bất bạo động.
Một phong trào tranh đấu bất bạo động sẽ là giải pháp cho Việt Nam. Tranh đấu bất bạo động là một cuộc tranh đấu tích cực, chớ không phải là "phản kháng thụ động", cũng không phải ngồi chờ cộng sản biến đổi hay tự huỷ, cũng không phải chờ cường quốc xếp đặt, cũng không phải phú mình cho định mệnh run rủi.
Một cuộc tranh đấu bất bạo động đòi hỏi hy sinh, can trường, nhẫn nại, dựa trên tôn trọng sự thật và tôn trọng con người, bằng mọi phương tiện nhân bản, đối thoại và hoà bình.
Trong một bài tới chúng ta sẽ bàn về sự gặp gỡ giữa Đông và Tây Phương trong quan niệm tranh đấu bất bạo động và đó cũng là tính cách khả thi của nó. Chúng ta cũng sẽ đề cập đến nền tảng tôn giáo và đạo đức của phong trào tranh đấu bất bạo động, một điều kiện thiết yếu cho Việt Nam, vì sự thật hiển nhiên là cuộc khủng hoảng của Việt Nam hiện nay không chỉ có tính cách kỹ thuật, không chỉ có tính cách chánh tri hay kinh tế, mà trước tiên là một cuộc khủng hoảng, một thất bại của luân lý đạo đức.
Thử Đề Nghị Một Giải Pháp Tranh Đấu Bất Bạo Động Cho Việt Nam
Sự Kiến Hiệu của Tranh đấu Bất Bạo Động
Thư gửi các anh chị anh hùng lao động Việt Nam
Phác thảo chân dung Chiến sĩ Hoà bình Việt Nam hôm nay

http://www.dvdvn.org/Media/tailieu/DT_BBD_01.htm