📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Đỗ Thông Minh

3 trả lời, 1.089 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-28 07:17:37Ngọc Lý>



ĐỖ THÔNG MINH



Địa chỉ nhà: T140-0003 Tokyo-To, Shinagawa-Ku, Yashio 5-12-69-115  JAPAN
Văn phòng: T140-0004 Tokyo-To, Shinagawa-Ku, Minami Shinagawa 3-6-3-3F  JAPAN.
. Điện thoại: 81-3-3471-0162

Tiểu Sử:

1- LÝ LỊCH:
         - Họ và tên: Đỗ Thông Minh.
         - Ngày sinh: 17/12/1950, nơi sinh: Nam Định, Việt Nam.
         - Gia cảnh: có vợ và 3 con.

2- HỌC LỊCH:
         - Năm 1969, tốt nghiệp Trung Học Công Lập Chu Văn An.
         - Năm 1970, nghỉ học năm thứ 1 Đại Học Công Lập Nông Lâm Súc Sài Gòn đi du học Nhật Bản.
         - Năm 1970, học Nhật ngữ trường Quốc Tế Học Hữu Hội (Kokusai Gakuyu Kai), Tokyọ
         - Năm 1971-1975, nhập học và tốt nghiệp Đại Học Meisei ban Hóa Học Hữu Cơ .

3- HOẠT ĐỘNG:
         - Năm 1970- đến nay, tham gia nhiều hoạt động xã hội, thông dịch, cứu trợ, tổ chức văn nghê....
         - Năm 1975, sáng lập viên tổ chức Người Việt Tự Do, năm 1982 giải thể gia nhập MT QGTNGPVN.
         - Năm 1981, khởi xướng, và là 1 trong 3 sáng lập viên Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất GPVN, rút lui năm 1985 vì bất tín nhiệm những người lãnh đạo, quay về với các hoạt động văn hóa.
         - Năm 1983-1987, làm thông dịch viên Trung Tâm Quốc Tế Cứu Viện (Kokusai Kyuen Center).
         - Năm 1985, thành lập công ty Mekong Center, bán sách báo, băng nhạc, thực phẩm, dịch vu.... chủ nhiệm kiêm chủ bút nguyệt san Mekong.
         - Năm 1986, thành lập nhà xuất bản Tân Văn.
         - Năm 1994, khai trương cửa tiệm tổng hợp ở Oimachi, Tokyọ
         - Năm 1995-97, làm cố vấn Diễn Đàn Thảo Luận Thuật Ngữ VacetsĐict trên Liên Mạng (Internet).
         - Năm 1996, thiết lập Trang Nhà Mekong Center (Mekong Center Homepage) trên Liên Mạng (Internet).
         - Năm 1996, thành lập Câu Lạc Bộ Giao Lưu Văn Hóa Việt-Nhật.
         - Tác giả hàng trăm bài báo, biên khảo về ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử… gởi cho nhiều báo Việt Nam khác nhau khắp thế giới.
         - Viết Thư Đông Kinh cho báo Diễn Đàn Phụ Nữ, Mõ San Francisco, Việt Nam Nhật Báo, Ngày Nay (Hoa Kỳ), Phổ Thông (Úc)... và hãng thông tấn VAP.
         -  Thường xuyên cộng tác với các đài truyền thanh BBC, VOA, RFI (Pháp), RFA (Hoa Kỳ), SBS (Úc), Little Saigon Radio, Radio Bolsa & Radio San Jose, Đài Tiếng Nói Việt Nam Hải Ngoại (Hoa Kỳ)... đôi khi cộng tác với đài Văn Nghệ Truyền Thanh, VNCR,
         - Năm 1997-99, được Cục Văn Hóa Sinh Hoạt Đông Kinh chọn làm Ủy Viên Hội Nghị Người Ngoại Quốc Ở Đông Kinh (giữ vai trò cố vấn, trung gian giữa Tòa Đô Sảnh và 270.000 người ngoại quốc).
         - Tổ chức Đại Nhạc Hội, mời các nghệ sĩ từ Hoa Kỳ qua Nhật: 5 nghệ sĩ với 700 khán giả năm 1998, 11 nghệ sĩ với 1.200 khán giả năm 2000, 120 nghệ sĩ trung tâm Vân Sơn và Nhật Bản với 1.200 khán giả năm 2004.
         - Giám khảo thi Hoa Hậu Việt Nam Thế Giới ở Biloxi, Mississippi năm 2002 và ở Houston, Texas năm 2003.
         - Đóng phim "Pikanchi" (Tuổi Xuân Tuyệt Vời) với ngũ ca nam Arashi của Nhật năm 2002.
         - Đóng phim quảng cáo "Phở Việt Nam" cho Aji No Moto, năm 2002.
         - Cùng các thân hữu Việt, Nhật, cổ võ tổ chức khoảng 30 buổi hội thảo ở Hoa Kỳ, Nhật Bản... trên diễn đàn Paltlak và ra sách về đề tài "Kỷ Niệm 100 Năm Phong Trào Đông Du và Cụ Phan Bội Châu" vào năm 2005, nhân kỷ niệm 100 năm (1905-2005) cụ Phan Bội Châu tới Nhật. Khoảng 20 buổi hội thảo ở Hoa Kỳ… trên diễn đàn Paltlak ra sách về đề tài "Kỷ Niệm 100 Năm Phong Trào Duy Tân và Cụ Phan Châu Trinh" vào năm 2006, nhân kỷ niệm 80 năm (1926-2006) cụ Phan Châu Trinh mất. 
         - Từ năm 2005, tham dự các Diễn Đàn Paltalk, đặc biệt là Diễn Đàn Văn Hóa, Diển Đàn Thảo Luận Tình Hình Đất Nước...
         - Được chụp hình làm tài liệu trong phim "Kachan Ga Kita" (Mẹ Đã Đến) của đài NHK, Nhật năm 2005, chiếu năm 2006.
         Tới năm 2006, đã về Việt Nam 2 lần năm 1973 và đầu 75, đi Hoa Kỳ 28 lần, Gia Nã Đại 4 lần, Thái Lan 1 lần, Đài Loan 1 lần, Úc 1 lần, Pháp 1 lần, Anh 1 lần, Đức 1 lần, Thụy Sĩ 1 lần, Monaco 1 lần, Mễ Tây Cơ (Mexico) 1 lần... Chuyến đi Úc cuối năm 2002 đánh dấu cuộc vận động văn hóa bằng cách đi nói chuyện khắp nơi có đông người Việt, chương trình dự trù trong 10 năm, tuy nhiên cũng còn tùy thuộc vào tình hình sức khỏe và tài chính. Tới tháng 11/2006, đã đi nói chuyện tại 68 nơi.

4- VỀ BIÊN SOẠN & XUẤT BẢN:
         - Năm 1984, biên soạn Bảng Thường Dụng Hán Tự (2.500 chữ Hán-Nhật, ấn bản tiếng Việt, ấn bản 2 năm 1996 có bổ chính, ấn bản 3 năm 1998 có bổ chính).
         - Năm 1990, biên soạn Bảng Thường Dụng Hán Tự (1.945 chữ Hán-Nhật, ấn bản tiếng Anh).
         - Năm 1993, hợp biên Từ Điển Giải Nghĩa Điện Toán, 1.200 thuật ngữ, đối chiếu Anh-Pháp-Đức-Việt.
         - Năm 1994, biên soạn Từ Điển Tin Học Tổng Hợp, 30.000 thuật ngữ đối chiếu Anh-Việt & 6.000 thuật ngữ viết tắt.          
         - Năm 1994, hợp biên Super-Mini Dictionary, 1.006 chữ Hán, ấn bản tiếng Anh, đối chiếu Nhâ.t-Anh-Hoa-Viê.t-Hàn, khổ bỏ túi và khổ thường, đã được 20 cơ quan truyền thông giới thiệụ
         - Năm 1995, biên soạn Từ Điển Tin Học Tổng Hợp, 40.000 thuật ngữ đối chiếu Việt-Anh.
         - Năm 1998, hợp biên Siêu Vi Từ Điển, 1.006 chữ Hán, ấn bản tiếng Việt, đối chiếu Nhật-Anh-Hoa-Việt-Hàn, khổ thường, dành tặng những người học Nhật ngữ tại Việt Nam.
         - Năm 2000, ra bộ Nhật Bản Dưới Mắt Người Việt, 2 cuốn, 950 trang (ấn bản 2 trong máy điện toán nay khoảng 2.000 trang).
         - Năm 2000, ra Bảng Tra Con Người Và Chức Vụ, 6.000 thuật ngữ Nhật Việt và Việt-Nhật (năm 2003, tăng lên thành 10.000 thuật ngữ).
         - Năm 2001, công bố "Qui Tắc Phiên Âm Tiếng Việt Ra Katakana".
         - Năm 2003, "Vui Học: Việt-Hán-Nôm, Tương Quan Việt-Nhật-Trung và Tự Vấn", đã ra ấn bản 3.
         - Năm 2005, "Kỷ Niệm100 Năm (1905-2005): Phong Trào Đông Du - Phan Bội Châu và Kỳ Ngoại Hầu Cường Để".
         - Năm 2005, hợp tác thực hiện CD "Kỷ Niệm100 Năm (1905-2005): Phong Trào Đông Du
         - Năm 2006, "Kỷ Niệm100 Năm (1904-2004): Phong Trào Duy Tân - Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp".
- Năm 2007, sẽ thực hiện bộ DVD 4 đĩa, nói chuyện "Vấn Đề Văn Hóa", dài khoảng 10 giờ đồng hồ.
         - Góp phần phục hồi chữ Hán và Nôm trong văn hóa Việt.
         Sẽ xuất bản:
         - Năm 2003, "Các Từ Việt Thông Dụng" (12.000 từ áp dụng "Qui Tắc Phiên Âm Tiếng Việt Ra Katakana”).
         - Đại Tự Điển Nhật-Việt
         - Đại Tự Điển Việt-Nhật

5- DƯ LUẬN:
         - Được giới thiệu bởi trên 200 cơ quan truyền thông Việt Nam và quốc tế như NHK TV (1), Asahi TV (10), Fuji TV (8), Nihon TV (4), Nagoya TV, BBC, VOA, SBS, NHK Radio , Little Saigon Radio & TV, Radio Bolsa, Yomiuri, Asahi, Mainichi, Sankei, Tokyo, Japan Times, Fuji TV, Người Việt, Việt Nam Nhật Báo, Việt Báo Kinh Tế, Viễn Đông Kinh Tế, Thế Kỷ 21...
         - Được giới thiệu trong Vẻ Vang Dân Việt, tập 2, năm 1993/96.
         - Được giới thiệu là người ngoại quốc thành công ở Nhật bởi nguyệt san Hiragana Times, 1993.
         - Được giới thiệu trong cuộc triển lãm Hội Xuân Ất Hợi tại Houston, Texas năm 1995.
         - Được giới thiệu trong cuốn Việt Nam Huyết Lệ Sử năm 1996.

CÁC CƠ QUAN TRUYỀN THÔNG VIỆT NAM & QUỐC TẾ:
          Bản Tin Thân Hữu, BBC, Cali Today, Diễn Đàn Phụ Nữ, Đài Chân Trời Mới, Đài Quê Hương, Đài Truyền Hình Việt Nam Hải Ngoại, Đài Truyền Thanh Việt Nam Hải Ngoại, Đài Tiếng Nói Thương Nghiệp (Úc), Đài Việt Nam Dallas (TX), Đại Chúng, Đặc San Liên Hoa, Đuốc Từ Bi, Sen Trắng, Hồn Việt, Kicon, Hướng Đi, International TV (18), Khoa Học Kỹ Thuật (đài), Kicon (Liên Ma.ng/Internet), Kiến Thức Phổ Thông (Úc), Kỷ Yếu Hội Nghị Quốc Tế Về Chữ Nôm 2004, Làng Văn, Little Saigon Net, Little Saigon Radio, Little Saigon TV, Mẹ Việt Nam, Mẹ Việt Nam Radio, Mõ San Trancisco, Nguyễn Khoa Nam, Nhân Quyền, Nhật Báo Người Việt (Hoa Kỳ), Nhật Báo Người Việt (Úc), Nhịp Sống, NHK, Phố Nhỏ, Phổ Thông, Phụng Vụ Lời Chúa, Quê Mẹ, Quốc Dân, Radio Bolsa, Radio San Jose, Rạng Đông, RFA, Sài Gòn Radio (Hệ Thống Viên Thao), Sài Gòn Radio (Viên Thao), Sài Gòn Radio Hải Ngoại, Saigon Times (Úc), Saigon Today, SBS, SCV, Sóng, Sóng Thần, Sống, Tân Thế Giới, Thằng Mõ San Jose, Thằng Mõ Sacramento, Thế Giới Mới, Thế Giới Nghệ Thuật, Thế Kỷ 21, Thời Báo, Thời Luận, Tin Tức (CSVVNTNB), Tin Việt, Tình Thương, Tò Mò, Trang Nhà Phật Tử Việt Nam, Trang Nhà Cưu Du Học Sin VN Du Học Nhật Bản, Trẻ Magazine, Tuyển Tập nghệ Sĩ 5, Từ Nguồn Radio, Tự Do, TV Tuần San, VAP, VATV, Văn Hóa, Văn Nghệ Magazine, Văn Nghệ Tiền Phong, Văn Nghệ Truyền Thanh, Viên Thông, Viễn Đông Kinh Tế, Việt Báo Kinh Tế, Việt Luận, Viet Mercury, Việt Nam Nhật Báo, Việt Nam Tự Do, Việt Tide, Viet Weekly, VNCR, VNTV (Úc), VOA...

CÁC CƠ QUAN TRUYỀN THÔNG NHẬT BẢN:
         Ami, Amuse (Mainichi), An An, Asahi Evening News, Asahi Shinbun, Asayan, Asia Event/Asia Wave, Banana Dori No Nagame, BA-SA-RA, Betonam Cha Drink Shu, Betonam Kyokai, Big Tomorrow, Book TV, Bungei Shunshu, Communication Art, CRC Communication, Crossroad, Data Jam'98, DIME, Elle à table, EATS 93 Tokyo, English Zone, FM Cocolo, FM Waiwai, Forum, Fuji TV (8), Genkina Shokutei, Ginza, Global Age, Gurume Journal, Hanako, Hiragana Time,  Hello Friends, Hon To Computer, Honyaku Sekai, Inter FM (76.1 mHz), Japan Pictorial, Kana Shinbun, Kanagawa Shinbun, Kansai Isshukan, Keiko Manabu, Koeru Bunka Kosakusuru Kyokai, Kokugo Kokuji, Kokusai Kenshu Kyoryoku (JITCO), Kyodo, Latina, Mainichi Shinbun, MGS Megumi Shinbun, MANBOW, Mr. Partner, Music Magazine, MX TV (Tokyo), Nagoya TV, NHK Radio, NHK TV (1), NHK No ERIO, Nihon No Gaikokujin, Nihon TV (4), Nihongo Journal, Nihongo Kyozai List (Bomjinsha), Nihon Shokuzai Jiten, Nihon Toshokan Kyokai, Nikkei Ryutsu Shinbun, Nikkin, Ninki No Kankoku & Asia Gohan, Olta, Pacific Friend, People and Face, Pikanchi, Plaza2, Pota, Réplique, Rurubu, Ryugakusei Times, Sankei Shinbun, Seikatsu Benri Catalogue, Sekai Nippo, Shindai Shinbunsha, Shukan Asahi Hakka, Shukan Student Time, Shukan Hoseki, Shukan Yomiuri, Sogakusha Tsushin, SOLA, S.O.S., Spa! Shukan, Takarajima Shukan, Tanabota, TBS TV (6), The Japan Times, The Nihon Keizai Shinbun, The Nihon Keizai Shinbun, The Nikkei Weekly, The Yomiuri Shinbun, Tittle, Tokyo Book Map 97-98, Tokyo Chunitsu Sport, Tokyo Classified, Tokyo International Book Fair 1997, Tokyo Jin, Tokyo Omoshiro Asobiba Guide 97-98, Tokyo Otaspo, Tokyo Shinbun, Tokyo TV (12),  Tokyo-To Eiga Kyokai, Tokyo Walker, Tonan Asia Tabi To Kotoba Katarogu, Toshi Shuppan, TV Asahi (10), Việt Nam Review, Vietnam Sentimental, Vietnam Sketch, Volunteer News, Wacatta, Weekly Playboy, Wére, World Plaza, Yashio Da, Yomiuri Shinbun (chokan), Yomiuri Shinbun (yukan)...
         Tới nay, đã có hơn 200 cơ quan truyền thông giới thiệu về hoạt động của Đỗ Thông Minh và Mekong Center.

Tác Phẩm:

[/align]
-2- DTM - Nguoi Tim Duong
-Tet o Nhat
-Thu DK 1-07
-Tieng Viet Men Yeu 1
-VUI HOC TIENG VIET
-22 DIEM TUONG DONG
-Anh Dao - Mai
-Leo NUI PHU SI
-Nghe Chuyen Xua
-NHAT BAN.doc
-Phong Trao Dong Du
-The Chien Thu 2 - Bom Nguyen Tu
-Tuong Quan Van Hoa Viet-Nhat
-Cach Vat Tri Tri
-Con Duong Dan Chu (1/3)
-Con Duong Dan Chu (2/3)
-Con Duong Dan Chu (3/3)
-Thuan Ben Nao
-Tu Van 1
-Tu Van 2-Tu Van 3
-Tu Van 4 KD-DK
-Tu Van 5 TC-KC
-Tu THU ÐÔNG KINH - Tháng 5/2007
-Tu THU ÐÔNG KINH - Tháng 6/2007


http://danviet.se/document/DTM/dtm.htm
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-01 07:10:44Ngọc Lý>
Tự Vấn 2:
 
 
VAI TRÒ VĂN HÓA TRONG PHÁT TRIỂN QUỐC GIA

 
                                                                                  Đỗ Thông Minh
                                                                           Đông Kinh, Nhật Bản
 

           Bài nói chuyện của tác giả, với tư cách là một diễn giả được mời phát biểu tại cuộc hội thảo quy tụ khoảng 30 các chuyên gia Việt Nam, Hoa Kỳ và thế giới, do Hội Chuyên Viên Việt Nam Ở Hoa Kỳ (VPA = Vietnamese Professionals of America) tổ chức tại đại học Maryland, thủ đô Washington D.C, Hoa Kỳ, ngày 13/11/2003. Bài này được Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích giúp dịch tóm lược ra tiếng Anh.
 
VĂN HÓA GIỮ VAI TRÒ THEN CHỐT

 
           Việc phát triển một quốc gia tùy thuộc rất nhiều yếu tố cơ bản như tri thức (hiểu biết), trí thức (nhận thức đúng từ sự hiểu biết), nhân lực (lao động), tài nguyên, môi trường, hoàn cảnh... Nhưng khi con người phần nào làm chủ được mình và thiên nhiên từ khoảng thế kỷ thứ 10 hay 15 trở đi, thì rõ ràng yếu tố quyết định có thể nói là chính con người. Con người ở đây không phải là con người thuần cơ bắp của thời săn bắn, nông nghiệp mà là con người tri thức vượt tới trí thức tức tư duy. Rõ ràng các phát minh khoa học hay học thuyết kinh tế đã làm thay đổi bộ mặt thế giới chứ không phải các lực sĩ như thời xưa. Nên nói rộng ra là con người sống với một nhân sinh quan, xã hội quan, thế giới quan… nào đó, là những yếu tố bao trùm lên tất cả, đó chính là văn hóa. Văn hóa ở đây thì giống như cái “gien” chi phối mọi sinh hoạt của con người vậy.
           Con người ta được sinh ra vốn gồm hai phần là tinh thần và thể xác, hai yếu tố đó cũng vốn có tác động hỗ tương với nhau, nhưng ngày nay, hầu như tinh thần tức tri thức hay đúng ra phải nói là trí thức, là yếu tố chi phối chính, quyết định hướng đi của một người. Nói khác đi, tinh thần là yếu tố quyết định chính phần hiện thực văn minh và văn hóa trên quy mô cơ bản là con người, cho tới rộng lớn hơn là một quốc gia hay toàn thế giới. Tuy nhiên, khi nói về văn hóa và văn minh, về phát triển quốc gia thì vấn đề sẽ bao la và đôi khi trừu tượng, nên để tránh rơi vào những phạm trù triết học và để có những biểu hiện cụ thể như là những con số hay dữ kiện cho dễ nhận định hơn, chúng tôi sẽ đề cập nhiều đến phát triển kinh tế, đặc biệt là các nước Đông Á khá gần gũi với Việt Nam. Và vì là người Việt Nam, chúng tôi sẽ đặc biệt nhấn mạnh đến đất nước mình.
           Cũng xin nói ngay là tuy con người có bản năng hướng thượng, luôn dồn nỗ lực chính cho việc tiến thân, cải thiện môi trường sống, nhưng con người cũng là một sinh vật bất toàn với nhiều dục vọng, dễ đi đến sai lầm, nên mọi nền văn hòa và văn minh như lịch sử nhân loại đã chứng minh, đã có những thời kỳ thăng trầm theo quy luật bất di bất dịch là “cùng tắc biến, cực tắc phản” như biến thiên của hình “sin”. Nói như thế không có nghĩa là bi quan, yếm thế, mà là để luôn cảnh giác và hiểu rõ hơn về biện chứng lịch sử. Sự thăng trầm coi vậy mà rất khác nhau, điều đó cho thấy là con người nếu biết tận dụïng đúng trí thức của mình thì có khả năng kéo dài thời kỳ thăng tiến và rút ngắn thời kỳ suy thoái. Thêm nữa, con người được sinh ra không ai giống ai, nên những điều được đề cập ở đây không đi vào từng trường hợp cá biệt mà chỉ có tính cách tổng quát như một mẫu số chung mà thôi.
 
ĐẶC TÍNH VĂN HÓA ĐÔNG-TÂY
 
           Tất nhiên là có ranh giới giữa kinh tế và văn hóa hay giữa cụ thể và trừu tượng, nhưng  đôi khi ranh giới ấy không rõ ràng, nên xin tạm chia như sau:
           Kinh tế bao gồm các yếu tố cụ thể thuộc khoa học tự nhiên, được coi như phần cương kiện (hard ware): nhân lực, tri thức, kỹ thuật, tài nguyên và nhất là vốn tức tư bản. Người ta vẫn hay nói “đồng tiền vạn năng” hay “có tiền mua tiên cũng được”. Đúng vậy, đồng tiền là yếu tố chính chi phối mọi nền kinh tế, có thể dùng nó để bù đắp yếu kém của hầu hết các mặt khác, nên từ đó hình thành cả một chủ nghĩa Tư Bản và coi như “song sinh đối lập” của nó là chủ nghĩa Cộng Sản. Đồng tiền tất nhiên cũng có khi chi phối quyết định của con người, nhưng cơ bản thì con người vẫn là yếu tố quyết định sử dụng đồng tiền như thế nào.
           Văn hóa bao gồm các yếu tố trừu tượng và phức tạp hơn nhiều, thuộc khoa học nhân văn, được coi như phần nhu kiện (soft ware): tinh thần học hỏi, tinh thần khoa hoc, tinh thần kỷ luật, tinh thần mạo hiểm, tinh thần tích cực, trí thức cho đến quản trị, tiếp thị… và những yếu tố này đôi khi bị chi phối bởi những yếu tố thoạt nhìn có vẻ không liên hệ như phong tục, tập quán...
           Kinh tế bao gồm các yếu tố được coi như “tĩnh”, rất dễ chuyển giao và tiếp thu còn văn hóa bao gồm các yếu tố được coi như “động”, thuộc bản chất con người, có tính cách riêng tư không dễ chuyển giao và tiếp thu. “Động-tĩnh” như cặp lưỡng nhất thể “âm-dương”, tương khắc mà tương sinh. Do đó, điểm đáng nói trong tương quan văn hóa và kinh tế là ở chỗ dù có cùng một số vốn, cùng một kỹ thuật, cùng một tài nguyên… nhưng mỗi người hay mỗi quốc gia có cách vận dụng riêng. Do đó mới có khác biệt tư tưởng “đông-tây. “Đông” như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Việt Nam… phần lớn chú trọng vào khoa học nhân văn, với sở trường nhẫn nại, cũng như phát huy sức mạnh tập thể trong điều hòa và tiến tới thăng bằng... “Tây” như Hoa Kỳ, Đức, Anh, Pháp… giỏi về khoa học tự nhiên, đề cao tính tự lập và tài năng cá nhân, có tinh thần khai phá, mạnh về sản xuất và quản lý, có tầm nhìn xa và quốc tế… Do đó mới có nước nghèo, nước giàu được gọi là “nam-bắc”. Thí dụ một cách đơn giản cho dễ nhận biết, như cùng ở đất nước Hoa Kỳ, nếu có được 20.000 đô la thì có thể người Việt sẽ nghĩ đến việc đi học, người Hoa dùng làm vốn buôn bán, còn người Mỹ trắng mua xe hơi… Quyết định khác nhau đó sẽ cho ra kết quả khác nhau, tức dẫn mỗi người theo một con đường khác nhau.  
           Vậy thì sự khác nhau do đâu, sự khác nhau chính là do văn hóa, và nói cách khác thì văn hóa đãõ quyết định. Nhưng tất nhiên đã có sự hỗ tương là văn hóa dựa vào thực tế cụ thể để phán đoán và chịu ảnh hưởng ít nhiều của thực tế cụ thể này, nếu không quyết định sẽ thành không tưởng, khi đó văn hóa tự nó cũng không còn chỗ đứng.
           Thập niên 80 và đầu 90, sự vươn mạnh của một số quốc gia ở châu Á làm kinh ngạc thế giới và người ta thắc mắc yếu tố nào đã làm nên kỳ tích này. Người ta đã nói nhiều đến yếu tố đặc thù của nó là “giá trị châu Á” mà Thủ Tướng Lý Quang Diệu (cố vấn của nhà nước Việt Nam) của Tân Gia Ba thường tự hào. Ông cho giá trị đó là: “Đặt xã hội lên trên cá nhân, gìn giữ gia đình như nền tảng của xã hội, giải quyết những vấn đề lớn thông qua sự đồng thuận thay vì tranh chấp…”. Về đại cương có thể là như thế, giá trị ở đây là giá trị tinh thần, đạo đức, xã hội… kết tinh thành nhân sinh quan hay xã hội quan, thành động cơ thúc đẩy giúp cho châu Á phát triển. Yếu tố ấy là văn hóa, tuy bàng bạc trong quần chúng nhưng có thể coi như kéât tinh qua sự tư duy và hành xuå của giới lãnh đạo (như phải chăng sự chia rẽ thường xuyên của ngướøi Việt cũng thấy thể hiện nơi giới trí thức thưọng tầng). Yếu tố ấy vốn hiện hữu và có tác động rất mạnh mẽ, nhưng cũng vốn trừu tượng nên đôi khi được suy diễn rộng rãi hay lợi dụng cho mục tiêu chính trị nên ít nhiều bị suy diễn sai lạc đi. Do đó, dù ngày nay người ta ít nói về yếu tố này thì sự chi phối của nó vẫn là một thực tế khá khách quan không thay đổi.
           Trong bối cảnh, kinh tế toàn cầu suy thoái tự thân mà vào cuối năm 2003, người ta luôn hy vọng là đã xuống tới đáy và đang có triển vọng đi lên, nếu không kể những yếu tố bất ngờ như chiến tranh, khủng bố, bệnh dịch... Ẩn số phát triển hay kinh tế của nhiều quốc gia vẫn là một điều bất xác thực, vẫn ám ảnh các nhà lập chính sách, không ai dám quả quyết chắc chắn sự phát triển kinh tế đi về đâu. Nên dù là các nước tiên tiến hay kém phát triển, tất cả đều có những ưu tư lớn riêng. Kinh tế bọt qua sự cấu kết giữa ngân hàng và địa ốc hay sự tăng trưởng công ty giả tạo để thao tác thị trưởng chứng khoán, hối đoái… là những căn bệnh trầm kha hiện đại của các nước tiên tiến. Đăc biệt là Hoa Kỳ với cán cân ngoại thương thường xuyên thâm thủng và mang nợ quốc trái khoảng 7.800 tỷ đô la, trong khi Nhật Bản thì tuy cán cân ngoại thương thường xuyên thặng dư nhưng cũng mang nợ quốc trái khoảng 6.000 tỷ đô la. Còn các nước chậm tiến thì rất sợ bị các nước tiên tiến chi phối, nhưng vẫn một mặt lo đi vay càng nhiều càng tốt, một mặt lo nợ nần chồng chất.
           Khi nói đến kinh tế là nói đến thị trường, là nói đến cung-cầu. Nhưng căn bệnh kinh tế hôm nay không phải vì guồng máy sản xuất không hữu hiệu, mà ngược lại, hiệu năng đang rất cao, sinh ra giảm phát, nghĩa là làm ra nhiều mà bán được ít. Các nhà sản xuất không lo thiếu nguyên liệu, nhiên liệu, không lo thiếu kỹ thuật hay tiếp thị kém mà lo là mãi lực không cao. Nói chung thì kinh tế đồng bộ thoái, song song với không đồng bộ phát triển. Như các ngành kỹ nghệ điện tư kỹ thuật cao khi thì tăng vọt nhưng đôi khi cũng lao đao kéo theo nhiều ngành khác đi xuống, nhưng các ngành nông, ngư nghiệp cơ bản hay các ngành sản xuất đồ điện vẫn tăng trưởng đều.
           Và như mọi người đều biết, có suy thoái mạnh tại các quốc gia tiên tiến khiến các nhà lập chính sách kinh tế chỉ dám mong tăng trưởng Tổng Sản Lượng Quốc Dân (GDP) 1-2%, trong khi đó có mức phát triển khả quan từ 7-10% tại các quốc gia đang phát triển như Trung Quốc và ngay cả Việt Nam. Sự khác biệt trong trường hợp này, đặc biệt yếu tố chính không phải do chính sách đúng hay sai, mà là do môi trường, nơi chưa hay đang phát triển thì lại dễ phát triển hơn là đã phát triển cao độ, khi đó sở phí quản lý và sản xuất thành cao. Hiện tượng này đã xuất hiện rõ rệt sau Thế Chiến Thứ 2, khi Hoa Kỳ viện trợ cho Nhật Bản (hay châu Âu), rồi sau đó Nhật bản khi phát triển, Nhật Bản viện trợ cho một số quốc gia Đông Á, giúp các quốc gia này hóa thành 5 con rồng, 5 con rồng lại viện trợ cho một số quốc gia thuộc khối ASEAN… như Việt Nam và Trung Quốc.
           Sự nhận trợ giúp và để phát triển tất nhiên cần những điều kiện cơ bản tối thiểu, và chính sách tiếp nhận thích hợp, nếu thiếu thì như Việt Nam, Bắc Triều Tiên và một số quốc gia ở Nam Mỹ, châu Phi thập niên 70 đến 80, 90 đã từng có kinh nghiệm nhận viện trợ tức vay với lợi tức ưu đãi mà vẫn vỡ nợ. Tại sao lại có sự viện trợ như vậy? Tự bản vốn là trục lợi, không có chuyện cho không. Thực ra, các quốc gia phát triển cần tìm địa bàn sản xuất rẻ và tiêu thụ hàng hóa mới đi viện trợ cho các quốc gia kém mở mang hơn để đặt đầu cầu sản xuất lẫn tiêu thụ.
           Các nước kém mở mang tiếp nhận viện trợ và việc đặt đầu cầu của các nước tiên tiến như cứu cánh duy nhất để đi đường tắt, đuổi theo các nước tiên tiến về mặt phát triển kinh tế. Điều này đúng về cơ bản, đã có nhiều nước nhờ vậy mà phát triển, nhưng cũng có mặt trái của nó là nếu không khéo thì tiền viện trợ bằng nhiều cách sẽ lọt vào tay những kẻ cầm quyền, làm giàu cho một thiểu số, đại đa số dân vẫn nghèo, hoặc khoảng cách giàu nghèo trong nước gia tăng, xã hội dễ bị chao đảo và có khi quốc gia sẽ mang nợ đến như phá sản.
           Sự vay nợ thiếu kế hoạch thích hợp đi kèm với tham nhũng… đã dẫn đến khủng hoảng tài chính tại châu Á năm 1997 và vẫn còn ảnh hưởng tới nay là một bài học quan trọng vẫn còn rất mới. Sự khác biệt hay không đồng bộ ở đây càng cho thấy vai trò của văn hóa, biểu hiện bằng kết tinh nơi tư duy của giới cầm quyền, dẫn đến những quyết định chính sách kinh tế đúng hay sai.
           Cho dù có giới cầm quyền là những người có lý tưởng và hoàn toàn trong sạch, mà thực tế khó kỳ vọng như vậy, thì sai lầm lớn vẫn có thể xảy ra là vì đôi khi các nước kém mở mang, phần lớn ở Đông Phương đã áp dụng một cách máy móc cách thức phát triển của Tây Phương và kỹ nghệ đang có chỉ là kỹ nghệ vay mượn, có người gọi là thuộc loại “ngoài da”. Các nước kém mở mang trong lúc chạy theo gia công tại các nhà máy tối tân do ngoại quốc đem tới, cần khai triển sở trường vốn có để giảm bớt ma sát giữa các tầng lớp, khu vực và cố gắng nâng cao mức sống xã hội một cách đồng bộ. Không thể chưa làm được cái đinh cho ra hồn đã tính dồn tất cả nhân lực và tài nguyên quốc gia đầu tư ưu tiên vào “kỹ nghệ nặng”!!! Lối suy nghĩ quá ấu trĩ ấy đã qua, nhưng đã một thời cản bước tiến của Việt Nam, hy sinh nhân vật lực và thời gian một cách vô ích.
            Ngay từ trong giai đoạn gia công cho nước ngoài, cần sớm biết chiết khấu lợi nhuận đầu tư vào giáo dục và kỹ nghệ cơ bản, cần chuẩn bị nền tảng lâu dài cho việc tự túc, tự cường (chứ không tự cô lập) như Hàn Quốc, Thái Lan... thay vì chỉ biết chạy theo cơ sở vật chất hào nhoáng. Dùng lợi nhuận cất nhiều khách sạn phục vụ cho du khách hay nhu cầu vui chơi là đánh mất cơ hội phát triển lớn đã từng phải trả bằng giá khá đắt mới có.
 
VAI TRÒ CỦA CHÍNH TRỊ

               Nói tới văn hóa và kinh tế mà không nói tới chính trị chắc là vẫn còn thiếu sót lớn. Thời hiện đại, chúng ta may mắn thấy được những mô thức khá điển hình cho vấn đề này khi nhìn vào các quốc gia vốn cùng văn hóa nhưng khác nhau về chính trị, dẫn đến hai kết quả xã hội hưng vong rất khác nhau. Đó là trường hợp Nam-Bắc Việt Nam, Nam-Bắc Hàn, Đông-Tây Đức.
               Trong các nước vừa kể, tuy chính trị cũng là biểu hiện của văn hóa, nhưng một phần là việc du nhập luồng tư tưởng khác nhau đã dẫn đến những chế độ chính trí khác nhau, đặc biệt là đối lập kịch liệt. Những chế độ này, đặc biệt là chế độ độc tài, chú trọng vào quân sự hơn kinh tế, chi phối mọi cuộc sống của xã hội, có thể làm thay đổi nền rất mạnh mẽ cả một văn hóa. Do đó, ở đây chúng ta có thể thấy rõ sự hỗ tương giữa văn hóa và chính trị, nói cách khác đó là sự tác động lẫn nhau để cùng đi lên hoặc đi xuống. Chính trị được coi là yếu tố động nhất trong tính động cố hữu của văn hóa, nên một thể chế chính trị đi đôi với những đảng phái hay lãnh tụ tốt sẽ đưa xa hội đi lên hoặc ngược lại.
                 Trong khi văn hóa bàng bạc, có có ảnh hưởng gián tiếp thì chính trị có thể đưa ra những quyết định ảnh hưởng trực tiếp đến mọi người, vì vậy cần thật thận trọng, cân nhắc kỹ lưỡng. Ai cũng biết rằng, năng lực của một con người không thấm gì đối với nhân loại và năng lực của loài người càng không thấm gì với thiên nhiên. Do đó, ần thận trọng trong những quyết định chính trị, tránh cực đoan, vung tay quá trán, có khi để lại di hại cho cả xã hội và nhân loại. Không ai có quyền đem con người ra làm thí nghiệm cho những ảo vọng mơ hồ của cá nhân hay đảng phái...
                   Một thể chế được coi là thành công khi được người dân tin tưởng và hợp tác, cùng xây dựng và nâng cao mức sống tức đem lại phúc lợi chung. Trong một thể chế dân chủ, dù cho nhà cầm quyền nhất thời có sai lầm, thất bại cũng dễ cải cách và người dân không bị ảnh hưởng nặng, so với trường hợp xẩy ra trong thể chế độc tài, thì dù ai cũng biết thất bại nhưng vẫn phải hoan hô và mỏi mòn mong đợi sự thay đổi như một phép lạ từ đời này sang đời khác.
 
TRƯỜNG HỢP CÁC QUỐC GIA ĐÔNG Á
 
           Thử nhìn trường hợp một số quốc gia vốn cùng chịu ảnh hưởng nặng nề văn hoá Á Đông, có nhiều điểm cơ bản tương đồng, nhưng cũng đã có sự phát triển ở nhiều mức độ khác nhau do văn hóa, chính trị (một thể hiện tích cực của văn hóa), hoàn cảnh…
 
           1- Nhật Bản, vượt trội hơn cả, do tính cần cù và cẩn thận, tinh thần đoàn kết và cố gắng phi thường khi nhìn ra sự chậm tiến của mình và nhu cầu phát triển cấp tốc để cạnh tranh với cả thế giới. Người Nhật làm được như vậy vì thể chế thời Minh Trị sớm cải cách và cởi mở. Người Nhật tự vượt qua được giới hạn tình cảm Á Đông, quyết học hỏi, nên hấp thu cùng lúc cả tinh thần duy lý và tự do, bình đẳng của Tây Phương tương đối dễ dàng. Nhưng nếu Hoa Kỳ chú trọng cá nhân, tài năng trẻ thì Nhật Bản dựa vào tinh thần tập thể và lão làng hay quan hệ hàng dọc giữa đàn anh và đàn em. Thiết lập thể chế tự do, dân chủ cao hơn tất cả các nước trong vùng, đây cũng chính là yếu tố quyết định nền tảng phát triển mà hầu như không phải đổ máu. Nhật Bản được coi là tượng trưng cho sự vươn lên của châu Á hay người da vàng trước Âu-Mỹ. Nhưng rồi Nhật Bản cũng mắc bệnh ngủ quên trên chiến thắng đã dẫn đến sự suy thoái ngày nay. Sự xuống dốc sau thập niên 90 do đổ vỡ kinh tế bọt là kết quả tất nhiên của một cơ chế cũ không thích hợp, tính tập trung và quá thiên trọng lão làng khiến không kịp thời đối phó với sự tiến bộ, thay đổi nhanh chóng của thế giới. Nhật Bản đang cần sự thay đổi tận gốc rễ.
           2- Trung Quốc, từ trước Công nguyên đã một thời có nền văn hóa và văn minh rực rỡ làm đầu tàu. Nhưng rồi ngủ quên trong lâu đài văn hóa từ chương không thực tiễn, ôm cứng lấy đạo Nho và nhất là một thời Tống Nho. Bị ngũ cường chi phối, không tập trung được ý chí toàn dân, nên phải trả cái giá u mê là cuộc chiến tranh tương tàn, là giành độc lập và nội chiến. Khi giành được độc lập thì nhiều nhà lãnh đạo lại mắc bệnh độc tài và quá tả, coi “hồng hơn chuyên”, nên chỉ tiến mạnh được từ khi quan niệm thực tiễn của Đặng Tiểu Bình là “Mèo trắng hay mèo đen, con nào bắt được chuột cũng tốt” được áp dụng. Tại sao trong 10 triệu đảng viên Cộng Sản Trung Quốc chỉ có một Đặng Tiểu Bình can đảm đưa ra một quan niệm thực tiễn bình thường như vậy mà phải chịu tới 3 lần thất bại. Nếu không có ông thì nước Trung Quốc còn chậm tiến bao lâu nữa. Nếu có chính sách cởi mở từ đầu, thì đã có hàng triệu Đặng Tiểu Bình lên tiếng mà không phải đổ máu và người dân Trung Quốc có lẽ đã được hưởng hạnh phúc sớm hơn mấy chục năm mà không phải hy sinh, mất mát quá nhiều.
           3- Đài Loan, tuy bị chi phối bởi thế lực từ lục địa đã thua trong cuộc nội chiến, nhưng sớm thức tỉnh. Tuy giai đoạn đầu thể chế không hoàn toàn tự do nhưng cũng khá cởi mở và thực tiễn nên tiến bộ khá nhanh chóng và tương đối đều đặn nhất mà không mất mát gì đáng kể. Tuy nhiên, Đài Loan có vẻ chưa được thăng bằng, quá thiên trọng về kinh tế, còn các mặt khác không nổi bật lắm, chưa có bước đột phá mạnh.
           4- Hàn Quốc (Nam Triều Tiên), cũng xẩy ra chiến tranh (nội chiến) điêu tàn như hầu hết các nước khác trong vùng. Nói chung người Triều Tiên có ý chí vươn lên mạnh mẽ, đôi khi đi đến chỗ cực đoan nữa. Họ cũng sớm thức tỉnh, tuy giai đoạn đầu thể chế không hoàn toàn tự do nhưng cũng khá cởi mở. Trả giá cho điều này là đôi khi có chút hỗn loạn, nhưng nhìn chung không có gì quá đáng, xã hội vẫn trật tự và nhờ tinh thần thực tiễn nên tiến bộ khá nhanh chóng. Đó là một mô hình xã hội sinh động, xã hội linh hoạt, đáng sống. Hàn Quốc cũng được kể là đạt những bước tiến khá thần kỳ. Họ mạnh về kinh tế mà gốc là giáo dục và kỹ thuật, thể thao (từ gần 20 năm qua, có số huy chương Thế Vận Hội gấp 2 Nhật Bản, trong khi dân số có 40 triệu bằng 1/3)…
           5- Bắc Triều Tiên, một phản diện đáng buồn của Hàn Quốc, cùng một dân tộc mà tạo ra hai hình ảnh khác biệt rõ rệt giữa hai miền nam-bắc là một chứng cớ rõ rệt nhất cho thấy tính quyết định của vai trò lãnh đạo. Nhà cầm quyền độc tài, hiếu chiến, một trong những thể chế kềm kẹp khắc nghiệt nhất trên thế giới, chú trọng tẩy não nhồi nhét chính trị mà xa rời thực tế, bắt nhân dân hy sinh qua nhiều mà không được hưởng bao nhiêu. Người dân không có tiếng nói riêng, chỉ được nói những gì nhà cầm quyền muốn. Dân chúng hành động như những bộ máy. Có thể nói hầu như không có hỗn loạn, nhưng cũng chẳng tiến bộ. Đó là một mô hình xã hội tĩnh, xã hội chết. Để rồi kết qủa sau 50 năm thi đua, dân số bằng 1/2 Hàn Quốc mà tổng sản lượng quốc dân chỉ bằng 1/20. Thế mà nhà cầm quyền lúc nào cũng lo tuyên truyền, phô trương, và tưởng có thể lừa được mọi người. Điều trớ trêu là tạo dựng một xã hội như vậy mà các nhà cầm quyền luôn bắt dân ca ngợi mình! Kềm kẹp, bỏ đói xong rồi khi phát cho một miếng ăn mà đã kể là ban ơn rồi. Phải chăng đây là một quốc gia chuyên chế tàn bạo cao độ nhất và lạc hậu nhất của thời trung cổ còn xót lại chăng!?
           6- Hồng Kông, một mô hình đặc biệt. Tuy là đất thuộc địa, nhỏ hẹp, nhân mãn rất cao mà không có tài nguyên, nhưng lại hưởng tự do nhiều nhất trong số các nước châu Á. Rõ ràng động lực phát triển ở đây là tự do, là dân chủ kiểu Tây Phương. Một khu phát triển hầu như thuần kinh tế. Do đó, một quốc gia thực sự không thể hoàn toàn đi theo mô hình này, nhưng có thể ứng dụng những bài học tốt vào lãnh vực kinh tế. Đó là khu vực pháp trị công minh, ai cũng có cơ hội vươn lên, các công ty ngoại quốc yên tâm đầu tư.
           7- Tân Gia Ba, cũng là một mô hình đặc biệt. Cũng là đất thuộc địa cũ, nhỏ hẹp, nhân mãn cao mà không có tài nguyên, Tuy không được hưởng tự do nhiều, nhưng kỹ luật nghiêm minh ở đây đã tạo thành một khu vực đáng tin cậy nhất. Kỷ luật, trật tự, sạch sẽ, ngăn nắp... đuợc ca ngợi khắp nơi. Sự miễn thuế nhiều lãnh vực càng thu hút đầu tư của các công ty ngoại quốc. Một khu phát triển hầu như thuần kinh tế, những cũng là nơi được coi như tiêu biểu mà nhiểu quốc gia muốn đạt đến.
           8- Việt Nam, chìm đắm vào một trong những cuộc chiến được coi là lâu dài và thảm khốc nhất. Sự chi phối của các đế quốc và tiếp tay của các thế lực trong nước đã đào sâu thêm hố chia rẽ trong lòng dân tộc. Ngay cả sau chiến tranh tương tàn gần 30 năm mà hố ngăn cách vẫn còn lớn. Nhà cầm quyền độc đoán, vọng ngoại, tham nhũng lan tràn như một quốc nạn, không thực sự tin dân, không tạo ra được đường hướng phát triển thích hợp và không huy động được sức mạnh toàn dân trong việc phát triển. Cuối cùng nhà nước lại chủ trương chạy theo cơ chế thị trường từng triệt để đấu tranh đả phá hàng 50 năm! Bao năm phá và bao năm xây lại cái cũ, “đổi mới” hay “đổi cũ”, không chỉ phí công sức mà còn làm tan nát lòng người, xã hội băng hoại, điều đó tại hại không gì đo lường nổi và không dễ gì sau này khắc phục nổi. Chủ trương dùng khu vực quốc doanh khống chế tư doanh, dù khu vực này không hữu hiệu và đã làm hao tổn công qũy trầm trọng, chỉ vì nhằm củng cố chế độ. Khuyết điểm trầm trọng của xã hội Việt Nam hiện nay rất nhiều chưa kể những khuyết điểm tồn đọng trong văn hóa Việt từ xưa, nhưng vì khuôn khổ bài viết có hạn nên chúng tôi không liệt kê ở đây. Nhà nước đã bỏ lỡ nhiều cơ hội phát triển, ngay nhiều công ty đã vào đầu tư cũng phải rút lui cuối thập niên 90. Điều cần nhất ở nhà cầm quyền bây giờ là tự đầu tư sự tín nhiệm. Nếu có đựợc sự tín nhiệm thì không cần kêu gọi ngoại quốc đầu tư mà đầu tư ngoại quốc tự động đến. Ở đâu cũng vậy, “đất lành chim đậu” mà. Nay là lúc xây dựng tín nhiệm, quý trọng sinh mạng trong hoà bình chứ không phải mưu mô, cuồng tín trong chiến tranh.
           Sau gần 30 năm chấm dứt chiến tranh, đã có những tiến bộ đáng kể về mặt kiến thiết cơ sở vật chất nhưng về mặt tinh thần có mòi xa đoạ hơn, vì đó là sự phát triển thiếu nền tảng, nói chung là còn quá chậm và phải trả giá quá đắt. Thế nên khoảng cách so với các nước chung quanh càng lúc càng xa. Đừng nghĩ rằng các nước tiên tiến dùng điện thoại cầm tay, điện thoại qua máy điện toán (IP = Internet Phone), máy hình dạng số (digital camera), máy giặt mơ hồ (fuzzi), pin năng lượng mặt trời gắn trên mái nhà, tua-bin gió, đóng tàu 10.000 tấn, đóng toa tàu hỏa, chế cần trục 120 tấn… ở Việt Nam nay cũng có là đã tiến bằng các nước đó. Việt Nam chỉ mới mua về dùng hay ráp những tiện nghi thời đại thôi. Phải đổi bao nhiêu gạo, cà phê, hải sản, dầu hỏa cho nhưng tiện nghi đó, và còn bị lệ thuộc dài dài như vậy bao nhiêu chục năm hay trăm năm nữa!?
           Xin lưu ý rằng, 82 triệu người Việt trong nước có tổng sản lượng khoảng hơn 40 tỷ đô la, tương đương với lợi tức của 3 triệu người Việt ở hải ngoại, và cũng chỉ tương đương với năng lực của non 1/2 công ty Honda với 126.900 nhân công (doanh thu 1 năm 74 tỷ đô la, lời 5 tỷ đô la) hay 1/4 năng lực của 70.000 nhân công của hãng xe hơi Toyota (sản xuất 9,2 triệu chiếc xe hơi năm 2005, doanh thu năm 2004 là 177 tỷ đô la, nếu nhìn giàn người máy làm việc thì chúng ta sẽ biết tại sao năng suất lại cao như vậy, như vậy năng suất 1 người Nhật bằng 4.700 người Việt!?). Chưa kể Việt Nam còn phải dựa trên công trái phiếu, còn Toyota thì lời khoảng 6% (hơn 10 tỷ đô la). So sánh về tổng sản lượng quốc dân (GDP), Nhật Bản (4.500 tỷ MK) gấp khoảng 150 lần Việt Nam (25-30 tỷ MK), nếu so về lợi tức 1 đầu người thì gấp khoảng 100 lần. Để hiểu rõ hơn về việc tại sao người Nhật có năng suất gấp khoảng 100 lần người Việt, xin thêm một ví dụ mà chúng tôi đã đượïc xem trên TV Nhật năm 2002 - Trong một khâu công ty bánh kẹo Vinabico của Việt Nam dùng 200 nhân công, khi công ty Kotobuki của Nhật hợp tác, họ đã đem máy móc vào, và máy làm bánh kẹo tự động chỉ dùng có 2 nhân công. Như vậy, rõ ràng không phải là người Nhật giỏi gấp 100 lần người Việt, mà chính là nhờ máy móc. Máy móc có được là do họ có vốn và kỹõ thuật, là những sản phẩm của sự tích tụ và hợp quần của trí tuệ.
           Sau chiến tranh, đa số các quốc gia ở cả đông-tây đều phục hưng trong khoảng 20-30 năm, mà nay Việt Nam vẫn chưa ra khỏi vòng chậm tiến, bao năm vẫn chỉ dựa trên nông sản, ngư sản hay tài nguyên, không tạo được một nền tảng kỹ nghệ đáng kể nào, vì thế khi nhìn lại vấn đề Việt Nam, là người Việt thì chắc đó luôn là điều đáng ưu tư nhất.
            Sự phục hồi nhanh chóng của hai nước bại trậän Thế Chiến Thuá 2 là Nhật Bản và Đức Quốc đã chứng minh rõ ràng cho thấy nước nào có văn hóa mạnh là có tiềm năng mạnh. Dù cơ sở vật chất đổ vỡ hoàn toàn do một số sai lầm chính trị vẫn có thể vực dậy dễ dàng vượt qua cả nhiều nước từng chiến thắng họ, cho dù nhất thời bị mất chủ quyền, đất nước không có tài nguyên dồi dào.
           Sự phục hồi và tài bồi tâm thức Việt theo hướng tiến chung của thời đại qua các kinh nghiệm học hỏi của thế giới hay phát huy các ưu điểm của Việt tính, Việt hồn phải chăng chính là chìa khóa giải quyết các bế tắc hiện nay.
 
NHỮNG YẾU TỐ VĂN HÓA VIỆT
 
           Vậy Việt tính, Việt hồn… là gì? Người ta thường đương nhiên coi là toàn những điều tốt. Cũng như từ nhân bản, thực ra là cả tốt và xấu, nếu không tính xấu từ đâu mà ra? Nên nếu nói một cách khách quan và trung thực thì là tất cả những gì coi như thuộc bản chất Việt, do đó, phải kể cả tốt và xấu. Nhưng khi nói đến bảo tồn và phát huy thì đã có ý nói đến cái tốt rồi. Tuy rằng đôi khi phân chia tốt xấu không phải dễ vì còn tùy theo quan niệm triết lý, chính trị khác nhau hoặc tùy thời có thể đang là tốt mà thành xấu hay ngược lại. Do đó ở đây xin chỉ nói những nét chung và cơ bản mà thôi.
           1- Tinh thần yêu nước nồng nàn, tinh thần bất khuất cao độ, khi thật cần thì nhiều người  sẽ sẵn sàng hy sinh vì nước, tuy vậy, như một thân hữu đã nói, vẫn còn rất nhiều người “quá tận tụy với gia đình mà quá thờ ơ với đất nước”. Những người đó sống chỉ biết mình ta, hay gia đình ta, hầu như không bao giờ nhúng tay vào việc chung nào!
           2- Tinh thần yêu thương, đùm bọc trong gia đình đáng được đề cao, đây là nền tảng của xã hội Việt Nam, tuy nhiên, cần có tầm nhìn rộng ra xã hội và tình cảm cần thăng bằng với lý trí.
           3- Tình tương lân, tương trợ bạn bè khá chí tình, nhưng cũng dễ đi đến thiên trọng không khách quan, không công bằng. Dễ đi tới đần óc bè phái, địa phương, tôn giáo. Cần nghĩ đến cái lợi lớn chung hơn là cái lợi nhỏ cục bộ.
           4. Tình đồng bào rất thắm thiết, nhưng cũng cần mở rộng ra thành tình nhân loại, giúp đỡ các dân tộc kém may mắn hơn khi cần.
           5- Tinh thần đoàn kết cùng lo việc lớn còn kém, nếu chỉ “đoàn kết khi thật cần đến nhau” như trong truyện Lạc Long Quân và bà Âu Cơ thì vẫn còn lỏng lẻo, vì nguyên chuyện khi nào được coi là cần cũng có thể có nhiều ý kiến khác nhau, thành chia rẽ. Nếu luôn luôn tôn trọng, gìn giữ tinh thần đoàn kết thì tốt hơn. Phải cố gắng loại trừ tinh thần hẹp hòi của phe phái, tôn giáo, chủng tộc, địa phương… Nên tranh đua với người ngoài hơn là tranh giành nhau.
           6- Do bản năng sinh tồn trong môi trường bất ổn, có tinh thần tự lập và thích ứng cao, nhưng ngắn hạn. Về chính trị, thường có óc lãnh tụ, hẹp hòi, thiếu tinh thần sinh hoạt dân chủ, công bằng và tôn trọng luật pháp...
           7- Tinh thần học hỏi khá cao, nhưng còn nặng thói từ chương, khoa bảng, bàn xuông, do đó, cần đi sâu vào thực dụng, cần tri-hành hợp nhất. Cần thay tinh thần chăm học để thi lấy bằng cấp hầu được yên thân bằng tinh thần dấn thân giúp đời. Cần đẩy mạnh óc nghiên cứu, tập tính ghi chép (thay vì chỉ dùng trí nhớ sẽ dễ quên và dễ nhầm lẫn), biên soạn, biên khảo, viết và đọc nhiều sách hơn. Cần mở rộng kiến thức tổng quát, thay vì chỉ học có sách vở trường sở. Người Việt khéo bắt chước, nhưng thường chỉ dừng lại ở mức 60-70%, không lên 80-90% như người Hoa hay vượt hơn như người Nhật.
           8- Tinh thần dấn thân, mạo hiểm, khai phá, sáng tạo vẫn còn rất giới hạn, cần dồn nỗ lực đẩy mạnh thêm lên. Những người tiên phong tốt có thể kéo cả quần chúng hay dân tộc đi theo. Có như thế quốc gia mới tiến nhanh được.
           9- Người Việt lạc quan, vui tính, hay cười đùa, hòa nhã hay “chín bỏ làm mười”… nhưng cũng đôi khi vì vậy mà làm việc thiếu nghiêm chỉnh. Theo ghi nhận của chúng tôi, trong tiếng Việt có đến khoảng 500 từ ngữ về cười (có lẽ nhiều nhất thế giới), trong khi chỉ có khoảng 30 từ ngữ về khóc.
           10- Cần sớm loại bỏ tinh thần làm việc đại khái, tùy tiện, thiếu trách nhiệm, thiếu kế hoạch hay kiểu đầu voi đuôi chuột, chiếu lệ, không chính xác, không đúng giờ, không nghiêm chỉnh giữ lời hứa hay cam kết. Cần đề cao tinh thần thượng tôn luật pháp dân chủ, coi đó là riềng mối duy trì trật tự xã hội. Càng yếu kém về kỹ thuật, càng thiếu tài chính, càng phải bù lại bằng cách lấy chữ tín làm đầu.
           11- Cần thoát ra khỏi cung cách làm ăn theo quy mô cò con, cá nhân hay gia đình, dấu nghề... mà sớm tiến tới tập đoàn nhỏ, rồi tập đoàn lớn, từ đó mới tăng nhanh năng suất được. Phải đẩy mạnh óc thương mại, quản lý khoa học… có tầm nhìn thị trường rộng lớn, từ gia đình ra xã hội, từ địa phương ra toàn quốc, từ toàn quốc tới toàn thế giới.
           12- Tiến lên tinh thần hoạt động xí nghiệp, làm chủ cả dây chuyền từ vật liệu đến sản xuất, đến tiếp thị, đến tái biến chế để bảo vệ môi sinh…
           13- Tính mê tín dị đoan như lên đồng, đốt hàng mã, một thời bị nhà cầm quyền ngăn cấm, nay lại có khuynh hướng phát triển mạnh. Làng Đông Hồ nổi tiếng với tranh mộc bản, nhưng chỉ thực sự phát lên nhờ làm hàng mãõ.
           14- Tính đổ thừa, không nhận trách nhiệm, từ chuyện nhỏ tới chuyện lớn. Đa số người Việt cho rằng sở dĩ ngày nay Việt Nam yếu kém là vì chiến tranh, vì Cộng Sản, vì Trung Hoa, Pháp Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Nga Xô... vì lãnh đạo, mà ít khi nào nói vì mình. Sinh hoạt của người Việt ở các nước Âu-Mỹ ngày nay chưa dân chủ, chưa nghiêm chỉnh, chưa đúng giờ... thì không thể đổ thừa tại ai khác.
           15- Cần lưu ý là người việt thân hình nhỏ và tuổi thọ chỉ trung bình (nam 63 và nữ 67, trong khi Nhật Bản với nam 78,4 và nữ 85,3), việc thể xác cao lớn hơn và tuổi thọ kéo dài hơn tỷ lệ thuận với sự lưu ý hơn về vệ sinh và dinh dưỡng. Sức khỏe và tuồi thọ đương nhiên là yếu tố quan trọng trong việc tạo dựng hạnh phúc cá nhân và phát triển quốc gia. Không có gì là phi lý cảœ khi người ta vẫn ví “sức khỏe là vàng”.
           Còn nhiều, nhiều nữa, như hay dối quanh, ăn cắp vặt, thích ngồi nói hơn là làm, hay cãi nhau, đánh nhau (nhất là nam thanh niên học thức kém)...
 
VẤN ĐỀ NÂNG CAO DÂN TRÍ
 
           Như trên vừa trình bày, hơn ai hết, người Việt có quá nhiều thứ cần làm càng sớm càng tốt nếu muốn đất nước phát triển và theo kịp đà tiến của nhân loại. Chúng ta đang phải cạnh tranh gắt gao với các nước trong khối AESAN, với Trung Quốc đang vươn dậy mạnh mẽ, chúng ta muốn đủ tiêu chuẩn gia nhập các định chế kinh tế thế giới như AFTA (Khu Mậu Dịch Tự Do ASEAN), WTO… mà vẫn bảo vệ được nền kinh tế yếu kém của mình thì tự mình trước hết phải làm cuộc cách mạng tư duy. Tựu chung thì cuộc cách mạng tư duy ấy là việc nâng cao dân trí, mà muốn nâng cao dân trí phải chú trọng vào giáo dục, tiếc thay đây lại là một trong những lãnh vực đang bị bỏ rơi nhất ở trong nước. Do đó, cần gia tăng giáo dục về mặt đạo đức, thể dục và khoa học…
           Năm 1905, cụ Phan Bội Châu qua Nhật và năm 1906, cụ Phan Châu Trinh (Tây Hồ) cũng qua Nhật. Cụ Phan Bội Châu đã viết là: “Hồi tôi lên Đông Kinh, cụ Tây Hồ cùng đi với tôi, thăm qua khắp các học đường, và khảo sát khắp những công việc chính trị, giáo dục của Nhật Bản. Cụ bảo tôi rằng: “Trình độ dân Nhật Bản như thế, mà trình độ dân ta như thế, không nô lệ sao được! Được bấy nhiêu học sinh vào nhà học Nhật bản là sự nghiệp rất lớn của ông. Từ nay nên lưu Đông yên nghỉ, chăm chỉ việc làm sách, bất tất nói bài Pháp làm gì. Chỉ nên đề xướng Dân quyền, dân đã biết có quyền thì việc khác có thể tính lần được.”…” (Trích cuốn Phong Trào Duy Tân của Nguyễn Văn Xuân, do Lá Bối xuất bản). Hai cụ đã bàn bạc luôn cả hơn 10 ngày, ý kiến rất khác nhau, vì cụ Phan Bội Châu chủ trương dùng vũ lực còn cụ Phan Châu Trinh chủ trương dùng giáo dục nâng cao dân trí. Nhưng việc cụ Phan Châu Trinh khuyên viết sách và các ý kiến của nhiều nhiều nhà cách mạng, chính trị Hoa và Nhật là nên đặt nặng giáo dục, mở mang dân trí có lẽ đã được cụ Phan Bội Châu ghi nhận, nên xem trong cuộc suốt cuộc đời hoạt động, bôn ba của cụ, thời gian ở Nhật, ngoài việc viết cho báo Tàu, nhìn sự tiến bộ của Nhật Bản, cụ đã bị thôi thúc mãnh liệt nên viết sách gởi về trong nước nhiều nhất.
           Một loạt sách và tài liệu như Việt Nam Vong Quốc Sưœ (越南亡国史), Khuyến Quốc Dân Du Học Văn (勧国民遊学文), Kính Cáo Tuyền Quốc Phụ Lão Văn (敬告泉国父老文), Hải Ngoại Huyết Thư (海外血書)... Riêng Lưu Cầu Huyết Lệ Thư (琉球血涙書, nói về sự mất nước của xứ Lưu Cầu tức quần đảo Okinawa vào tay Nhật) viết trước khi cụ qua Nhật và Tự Phán (自判, viết sau khi bi an trí ở Huế năm 1925)… tất cả bằng chữ Hán (lúc giao thời chữ Quốc Ngữ nên cụ chưa rành lắm) rồi sau này mới được chính cụ và một số người dịch ra chữ Quốc Ngữ hoặc một số bằng chữ Nôm và tổ chức Phong Trào Đông Du (風潮東遊), trước đó có Đông Kinh Nghiõa Thục (東京義塾)… nằm trong Phong Trào Duy Tân (風潮維新) rộng lớn được khơi dậy bởi các ông Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch...
           Đặc biệt đối với người Việt ở hải ngoại, nếu mai này muốn đóng góp hữu hiệu cho đất nước, không thể cứ đem nguyên vẹn cách suy nghĩ hay những gì học hỏi được ở ngoại quốc về áp dụng. Nếu đã xa rời Việt Nam quá lâu hay sinh ra ở hải ngoại thì nên bỏ thì giờ tìm hiểu văn hóa dân tộc, cá tính người Việt, hoàn cảnh đất nước… Trước khi muốn phát huy văn hóa dân tộc thì cần biết đâu là bản sắc tốt để bảo tồn, như vậy mới không bị đoạn lìa với quá khứ, sẽ dễ hội nhập và làm việc hơn và mau chóng làm thăng hoa Việt tính, Việt hồn hơn.
           Xin xem thêm bảng Đối Chiếu Việt – Nhật - Trung. Và nếu ai đã từng đọc bài “Tự Vấn: Người Việt Mạnh Yếu Chỗ Nào?” của chúng tôi viết năm 2002, 2003 thì có thể coi đây là “Tự Vấn 2”.
 
- - - - -
 
           Chúng tôi xin chân thành cám ơn Hội Chuyên Viên Việt Nam Ở Hoa Kỳ và Ban Tổ Chức đã tạo điều kiện cho chúng tôi hiện diện nơi đây và dành cho chúng tôi buổi nói chuyện quý báu này. Xin thành thật cám ơn tất cả quý vị thính giả đã để tâm theo dõi bài nói chuyện này và xin được đi vào phần thảo luận và trả lời các câu hỏi.
 
- - - - -
 

Ghi chú thêm
 

VẤN ĐỀ TƯƠNG LAI GẦN của VIỆT NAM
LM. Tađêô Nguyễn Văn Lý
(Tóm lược)
 

I. Hầu như mọi người Dân VN trong và ngoài Nước hiện nay đều mong đợi các thay đổi cần thiết, kể cả các nhân viên nhà nước, bộ đội và công an, đảng viên, đoàn viên...

II. Nhà nước VN (NNVN) đang chịu nhiều áp lực.

Áp lực thứ nhất: Chính Nhà Nước thấy cần phải cải cách nhiều để khỏi bị Dân tẩy chay vì NNVN không thể an Dân được nữa.

Áp lực thứ 2: Chính nội bộ đảng CSVN chia rẽ khá trầm trọng, đã có nhóm muốn tách riêng thành đảng đối lập nào đó, một số đảng viên rút lui vì áp lực của lương tâm hoặc sợ lịch sử phê phán, hay bị rút lui vì áp lực của phe khác ngay trong đảng.

Áp lực thứ 3: Dân chúng, dù phần đông thụ động, sợ hãi và muốn an toàn bám giữ những gì mình đang có, vẫn càng ngày càng chán chê coi khinh đảng, ngày càng quay lưng lại với đảng và đang trăn trở ngóng đợi tìm một chỗ dựa khác đạo đức, công bằng hơn.

Áp lực thứ 4: Các nhà đấu tranh cho Tự do Dân chủ ngày càng đông, ngày càng công khai, ngày càng tác động mạnh trên Dân và Dân vui thích thấy NN ngày càng lúng túng không biết đối phó thế nào cho phù hợp với cao trào nầỵ

Áp lực thứ 5: Cao trào đấu tranh của Việt kiều hải ngoại ngày càng biết đoàn kết, biết tận dụng các phương tiện hiện đại nên hiệu quả hơn trước nhiều .

Áp lực thứ 6: Quốc tế nhìn vào VN, vừa gia tăng các áp lực cần thiết, vừa dùng kinh tế để chen chân vào các sinh hoạt từ hạ tầng đến thượng tầng của VN cố ý giúp VN chuyển đổi, vừa hả hê vui thích theo dõi sự lúng túng và suy yếu dần của NNVN, vừa mong đợi đảng CSVN sớm chấp nhận đa nguyên đa đảng.

III. Dù NNVN đang chịu cùng lúc 6 loại áp lực đồng loạt rất mạnh như thế, dù các nhà đấu tranh đang hô hào, phê phán mạnh mẽ đến đâu, muốn thành công, các nhà đấu tranh phải tập trung nỗ lực giúp Dân vượt qua 3 thực trạng thật đáng buồn rất căn cội sau đây:



III.1. Sự sợ hãi, lãnh đạm và thụ động của đa số dân sợ hãi).

III.2. Sự mù mờ trong nhận thức của đa số dân.

III. 3. Toàn Dân VN sống chung với dối trá đã thành nếp, thành mãn tính. Vì vậy việc đoàn kết các Việt kiều hải ngoại và gây ý thức cho đồng bào quốc nội về 3 thực trạng rất đáng buồn hiện nay vừa nêu là điều rất bức thiết cho tương lai gần của VN.

IV. Từ các thực tế nêu trên, tương lai gần của VN có lẽ nên hình dung như sau:

IV.1. Đảng CSVN không nên cố tình làm ngơ trước 6 áp lực đồng loạt nêu trên.



IV. 2. Đảng CSVN không nên tiếp tục vừa gượng ép, vừa lừa gạt quốc tế để chỉ cải cách vài thể chế (Institutions) cho có như "một cửa, môt dấu," "dân chủ từ cơ sở."..v.v...

IV. 3. 6 áp lực nêu trên phải gia tăng cường độ hơn nữa để sớm có một cuộc bầu cử Quốc hội dân chủ, công bằng, văn minh đúng nghĩa.

IV. 4. Dù các phân tích rõ ràng trên đây, thì có lẽ đảng CSVN vẫn cứ thích cố tình bưng tai bịt mắt để làm một đảng lê lết bảo thủ thêm 1, 2 Đại hội nữa.

IV. 5. Còn các nhà đấu tranh Dân chủ Tự do cho VN tại hải ngoại cũng như quốc nội không nên ảo tưởng về một giải pháp quá mau chóng dễ dàng, mà trước tiên cần tập trung nỗ lực giúp toàn Dân vượt thắng 3 thực trạng rất đáng buồn nói trên đã và đang đeo bám toàn Dân như một căn bệnh quá nan y, cả nơi một bộ phận được coi là trí thức và ngay cả nơi các Chức sắc cao cấp của các Tôn giáo nữạ Không giải quyết được vấn đề cốt lõi sinh tử nầy thật là một đại nhục cho toàn thể Sĩ phu VN hôm nay. Nếu không vượt thắng được 3 điều nầy thì chưa thể nói đến một tương lai tươi sáng gần cho VN được.

Do đó, vấn đề tương lai VN trước hết là vấn đề văn hóa, bản lãnh làm người, triết lý ứng xử nhân văn. Đây mới chính là vấn đề nền tảng cơ bản của Dân tộc VN. Có văn hóa quân tử, trượng phu, cương trực, trung thực là sẽ có tất cả. Để có điều then chốt cơ bản nầy, điều đầu tiên phải có là Tự do Ngôn luận, phải có báo chí độc lập để hướng dẫn quần chúng. Cùng lúc hoặc sau đó mới có thể nói đến vấn đề tổ chức.

LM. Tađêô Nguyễn Văn Lý - Huế, 08.8.2005
 
 
http://www.danviet.se/document/DTM/1/Tu%20Van%202.htm
[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-02 08:23:05Ngọc Lý>
.
 
TỰ VẤN 4:

"Kết Đoàn"
Mà Không
"Đoàn Kết"!?

Đỗ Thông Minh

 
 


        Đây là điều có vẻ nghịch lý chăng? Tuy có vẻ nghịch lý nhưng là sự thật! "Kết đoàn mà không đoàn kết!?", nói khác đi là "gắn mà không chặt". Ai cũng biết câu chuyện "Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi caọ" hay "Chuyện bó đũa" (Người cha trước khi mất đã đem chuyện bó đũa ra kể để khuyên các con phải biết đoàn kết). Nhiều người trăn trở mãi về chuyện kết đoàn và đoàn kết của người Việt, chợt nhớ tới chuyện Lạc Long Quân và Âu Cơ, đại ý là:_Lạc Long Quân gốc rồng lấy bà Âu Cơ gốc tiên, đẻ ra 100 trứng, nở ra 100 con nên gọi nhau là “đồng bào”, rồi khi đó Lạc Long Quân lại bảo là hai ta khác giống không hợp nên chia tay nhau, nhưng khi nào cần giúp đỡ thì hãy gọi nhaụ Sau đó, Lạc Long Quân dắt 50 con xuống biển và Âu Cơ dắt 50 con lên núi... Chẳng lẽ chúng ta đành chấp nhận để câu truyện truyền thuyết mơ hồ này của Ngô Sĩ Liêm viết vào khoảng thế kỷ 15 trong Lĩnh Nam Trích Quái vận mãi vào số mạng của dân tộc Việt chăng!? 

        Rất nhiều sự kết hợp hay tổ chức ra đời để rồi sau đó chia rẽ: Những người của một trong những tờ báo đầu tiên của người Việt ở hải ngoại sau 1975 nay tách ra làm 4, 5 tờ báo hay nhóm khác nhau. Những người của cùng một tổ chức đảng phái đấu tranh khá nổi tiếng tại Việt Nam từ thập niên 30, 40, đã thấm thía bài học 30/4/1975, mà hơn 30 năm qua ở hải ngoại vẫn loay hoay mãi chưa ngồi lại được với nhau . 


        Kết quả là rất nhiều người hoạt động hay làm ăn một cách đơn thương độc mã, hầu như không có người cộng tác, cùng lắm chỉ có một vài người phụ giúp chút ít, lại dễ thành công hơn những tập hợp lớn, vì vậy sự thành công chỉ ở mức giới hạn chứ chưa to lớn. Tại sao người Việt từng có một lịch sử đoàn kết đấu tranh chống ngoại xâm oai hùng mà vẫn có nội chiến, nay lại biến thành những "ốc đảo" rời rạc như vậy!? Phải chăng tìm sự đồng cảm là nhu cầu tinh thần lớn nhất của con người, nhưng tại sao chúng ta cứ lao đầu vào đấu tranh nội bộ, phân hóa!?

        Trước một đề tài tế nhị và không kém phần phức tạp như vậy, bài này chỉ có mục đích gợi ý, nhằm phân tích sự kiện hơn là phê phán, bởi mỗi chúng ta đều là một phần tử của dân tộc, ai ai cũng có trách nhiệm về sự kiện này.

Bản năng sinh tồn và tính kết đoàn

        Do bản năng sinh tồn phải chống chọi với thiên nhiên và tranh giành với nhau nên con người đặc biệt có nhu cầu kết đoàn, rồi tiến tới kết xã. Kết đoàn là tập hợp các cá nhân có chung một thuộc tính, mục đích, theo một quy định nào đó để củng cố sức mạnh, nhằm đạt đến mục đích. Kết đoàn trên quy mô nhỏ là tổ chức, quy mô lớn là xã hội.

       Từ thuở khai thiên lập địa, con người đã sống thành tập đoàn, từ đó hình thành nên xã hội ngày naỵ Không ai có thể sống riêng rẽ một mình, thế nên việc đến với nhau là điều tự nhiên, dân tộc nào cũng vậy, ở đâu cũng vậy.

        Hơn thế nữa, con người còn có nhu cầu hỗ tương để cùng thăng tiến, đặc biệt là chia sẻ tình cảm trong lúc vui cũng như buồn... nên việc đến và hỗ trợ cho nhau là điều không thể thiếu.

        Trong cuộc sống tập thể phức tạp ấy, tất nhiên không thể ai cũng tự tung tự tác, mà cần phải có luật lệ. Luật lệ cần phải tôn trọng tự do cá nhân để tránh độc tài, nhưng mặt khác phải quy định rõ nghĩa vụ và trách nhiệm để hóa giải sự mâu thuẫn, tranh chấp và tạo sự công bẳng và thăng tiến chung. Hai điều ấy cỏ vẻ tương khắc, nhưng cũng là tương sinh. Đoàn kết chỉ có thể được thực hiện khi mọi người ý thức và tôn trọng luật lệ và mục đích chung.

        Thế thì tại sao lại chia rẽ, xâu xé nhau!?

        Đoàn kết và chia rẽ thực ra là hai mặt của cùng một vấn đề, hai mặt của một tờ giấy, một "lưỡng nhất thể". Chúng có một biên giới rất mong manh và mơ hồ và tồn tại nơi mọi con người . Kêu gọi kết đoàn để đoàn kết hầu tiến tới củng cố sức mạnh, nhưng nếu độc đoán hay không khéo léo thì lại biến thành chia rẽ.

        Nhìn lại các tư tưởng, chủ thuyết, tôn giáo từ xưa tới nay chưa hề có sự kết hợp, mà chỉ là phân hóa theo thời gian, như cây non thì những cành lá ban đầu còn gần nhau và như cùng hướng, nhưng càng ngày chúng càng xa nhau và có khi trở thành nghịch hướng với nhaụ Còn mặt tổ chức, đặc biệt là các công ty thương mại, thường cạnh tranh gắt gao với nhau, nhưng cũng không thiếu trường hợp kết hợp làm một cho mạnh hơn.

        Bằng chứng lịch sử của nhân loại chủ yếu là song song với hợp tác xây dựng thì là đấu tranh và chém giết. Sự khác nhau nếu có là ở mức độ kết hợp chặt chẽ tới đâu mà thôị Vậy thì sự phân hóa nếu có cũng là lẽ tự nhiên, nhưng là con người, ý thức được sức mạnh của sự kết đoàn và đoàn kết thì phải cố gắng tạo điều kiện thuận lợi để vượt qua yếu tố tiêu cực ấy.

Bài học lịch sử

        Trước sự sống còn, người Việt đã nhiều phen đoàn kết chặt chẽ để chiến đấu như Hội Nghị Diên Hồng chống quân Nguyên, kết đoàn vượt khó khăn như khi làm ăn bước đầu hay vượt biên, vượt biển... nhưng khi đạt mục tiêu rồi thì buông lơi đoàn kết, thậm chí có khi đi đến chia rẽ rồi xâu xé nhau.

        Đoàn kết trong một tổ chức có được là sự đồng thuận của các thành viên, cùng nhau nỗ lực để tiến tới mục đích chung được đề rạ Khi tổ chức thành công sẽ đem lại quyền lợi cho các thành viên. Nhưng khi đạt được mục đích rồi thì sự đoàn kết có thể trở thành lỏng lẻo, hay khi người điều hành đi ngược lại mục địch chung thì tổ chức bắt đầu có mâu thuẫn, tranh cãi, chia phe nhóm, và ở một mức độ nào đó có thể dẫn đến thanh trừng hay chiến tranh.

         Người Việt đã trải qua một chuỗi dài lịch sử đầy khó khăn, nên những người thức giả thường dẫn chứng nhu cầu cấp thiết phải đoàn kết cũng như những thành đạt đã có nhờ sự đoàn kết trong lịch sử để kêu gọi đoàn kết.

        Qua sự kêu gọi này và qua thực tế ít nhất là 300 năm trở lại đây cho thấy, trong nhiều trường hợp, khi gặp khó khăn lớn, người Việt đã thực sự đoàn kết. Nhưng ai cũng đã thấy và thấy rất nhiều những sự kết đoàn khác của người Việt chỉ được giai đoạn đầu, để rồi hầu hết cuối cùng không đoàn kết bao nhiêu.
        Thành công trong đoàn kết chống ngoại xâm vẫn ăn sâu trong lòng người, nhưng đồng thời những cuộc nội chiến khiến nhiều người không biết phải theo hay chống bên nào... cũng đã làm cho dân tộc phân hóa trầm trọng.

        Người Việt khi kết đoàn thường nhắm mục tiêu gần, ít nhìn xa, nhìn vấn đề lạc quan mà ít dự phòng những yếu tố tiêu cực. Khi bước vào cuộc hay có biến cố gì lớn xảy ra thì mới bàn luận loanh quanh, và vì thiếu chuẩn bị nên e dè, không dám đứng ra nắm thời cơ, nhìn qua lịch sự Việt Nam hiện đại, ai cũng biết chúng ta dã bao lần để lỡ thời cơ chiến thắng cũng như canh tân...

Các yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến sự đoàn kết

        Sự hòa hợp già-trẻ, đây là vấn đề tự nhiên của kiếp người và được đặt ra với mọi dân tộc. Không ai sinh ra đã già, cũng như không ai trẻ mãi, già trẻ chỉ là sự nối tiếp tự nhiên, không hề có biên giới rõ rệt, hai thế hệ này cần bổ túc cho nhau chứ không phải đối lập nhau, tuy hơi tương khắc mà lại rất tương sinh. Người già thì nhiều kinh nghiệm nhưng thiếu nhiệt tình, người trẻ thì rất nhiệt tình nhưng thiếu kinh nghiệm. Do đó phải biết dung hợp đặc tính của cả hai, sự phân biệt và tách rời nhau chỉ gây thêm chia rẽ.

        Cũng do tính cách trên, thường thì giới già có tư tưởng bảo thủ, muốn bảo tồn gía trị truyền thống, gìn giữ những gì mình hay thế hệ đi trước đã làm ra và giới trẻ có tư tưởng cấp tiến muốn đột phá, rời bỏ những cái cũ để mạnh tiến vào phương trời mới. Tất nhiên cũng có nhiều ngoại lệ, như trong suốt lịch sử chính đảng Hoa Kỳ thì đảng Công Hòa chủ trương bảo thù còn đảng Dân Chủ chủ trưong cấp tiến. Vấn đề là làm sao để lý giải và dung hòa hai tư tưởng cũng hơi tương khắc mà lại rất tương sinh này trong tinh thần ôn cố tri tân.

        Trong văn hóa của người Việt còn nhiều yếu tố tiêu cực khác nữa, ít nhiều có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiến đến việc gây chia rẽ.

- Do tự ái, tự cao và đôi khi quá khích cộng thêm tính hay chỉ trích nhau mà ít tự vấn, tự tỉnh. Thường thấy cái xấu của người rồi đem ra nói mà không thấy cái xấu của mình càng làm cho người Việt càng dễ xa cách nhau. Nhiều người Việt khẳng định nếu ai nói đúng cái sai của tôi thì tôi sẽ cám ơn và sửa chữa, nhưng thực tế thường coi người đã vạch ra lỗi lầm của mình là kẻ thù.

        Một người Việt, anh Trọng Tín là du học sinh ở Nhật cho rằng: "Tự ái nghĩa là yêu bản thân, chính vì tính cách này mà tạo nên sự ích kỷ, vô tâm. Tự ái hoàn toàn khác với tự trọng. Một con người biết tôn trọng bản thân mình thì sẽ làm hết mình cho mọi người, cho cộng đồng để tư cách đạo đức cũng như việc làm của mình không bị người khác lên án... Phân tích kỹ tính tự ái của người Việt sẽ thấy có sự nhầm lẫn giữa 2 khái niệm này, vì vậy sự đoàn kết là không thể có được ở một tập hợp những người có tính tự ái.".

        Người Việt có tự ái cao, nếu không muốn nói là rất cao. Điều ấy tốt, nhưng nếu lúc nào cũng đặt tự ái của mình lên trên hết thì lắm khi có phản ứng bộp chộp, thiếu bình tĩnh, chỉ lo cái tên của mình, cái ghế của mình... mà làm hỏng việc. Bị chỉ trích hay có khi do hiểu lầm mà đôi khi để bụng giận mãi. Người Nhật có tính người trên la mắng người dưới rất nặng, ngay cả trước mặt người khác, bất chấp thể diện người bị la mắng, nhưng lại ít để bụng, không giận lâu.

        Do tự ái, nhiều người không can đảm tự vấn nên không bao giờ tự tỉnh được, và như thế thì lam sao tự lập được. Họ nghe nói về thói hư tật xấu của người mình thì nổi giận, la làng lên là bôi nhọ, nhục mạ dân tộc. Phải chăng họ bằng lòng với hiện tại, cho là người Việt khá rồi, không có vấn đề gì phải đặt ra nữa cả.

        - Tiếng Việt thuộc loại có khá nhiều "từ chửi", nhưng thực ra người Việt lại thường cả nể, ít la mắng, nếu có thì đặc biệt khéo léo la mắng nặng nhẹ tùy theo lỗị Tiếng Nhật tuy rất ít từ chửi, cũng ít chửi nhau, nhưng khi chửi lại thường bất kể, có nghĩa là tùy theo hứng của người có uy quyền.

        - Người Việt thường xuyên bị áp chế nên bản năng sinh tồn và thích ứng caọ Đó là lợi điểm giúp cho người Việt dễ dàng tồn tại trong nhiều hoàn cảnh khắc nghiệt. Nhưng cũng vì vậy mà người Việt vừa đa nghi vừa dễ tin. Đa nghi vì bị lừa gạt nhiều nên chỉ tin mình. Nhưng rồi lại dễ nghe những lời ngọt ngào, khi có kẻ rỉ tai úp mở là cho rằng đó là tin mật, ít ai biết, thế là tin ngay, đem đi khoe với người khác mà không kiểm chứng gì cả.

        - Người Việt ít mưu mô thủ đoạn, nhưng cũng ít giữ lời hứạ Người Việt thường ở thế yếu nên dễ chấp nhận, quyết định liềụ Thêm nữa, khi xa mặt cách lòng, khi suy nghĩ lại hay khi hoàn cảnh thay đổi thì sẽ cũng dễ quên hay nuốt lời hứa.

        - Phải chăng người Việt có tính hiếu học và chăm chỉ nhất định, nhưng ít chịu suy xét kỹ càng, không nhìn xa, chỉ thụ động và lanh lợi ứng biến đối phó nhất thời?   

        Người Nhật ví đất nước của họ như những con thuyền, và quan niệm trên mỗi con thuyền ấy chỉ nên có một "thuyền trưởng". Ai cũng biết nếu nhiều "thuyền trưởng" thì con thuyền sẽ quay mòng mòng. Người Nhật vì vậy chịu khó khép mình nghe lời người chỉ huỵ Thực ra họ cũng đầy tham vọng, cũng tranh giành, trước và ngay sau Thế Chiến Thứ 2 cũng có đảo chánh, ám sát, nhưng thường trong giới hạn không làm hại tới quyền lợi chung. Tháng 7/2006, khi thông qua luật Dân Doanh Hóa Bưu Điện do Thủ Tướng Junichiro Koizumi chủ xướng, có 11 Nghị Viên quốc hội bỏ phiếu chống nên bị đảng khai trừ. Nhưng qua tháng 12/2006, tân Thủ Tướng Shinzo Abe đã cho phép 10 trên 11 người trở lại đảng chỉ với điều kiện chấp nhận luật đó.

        Nếu như người Nhật hay viết và treo chữ "nhẫn" (忍) ở trong nhà, thì người Việt chúng ta có câu "Một điều nhịn, chín điều lành". Nhẫn là tiếng Hán-Việt, nhịn là tiếng Nôm. Chữ Nhẫn là loại chữ hội ý kiêm hài thanh, vẽ hình chữ "nhận" (刃) là lưỡi dao để trên tâm (心) tức tim, ý nói lưỡi dao kề ngay tim vẫn bền gan chịu đư.ng. Cái khó là nhận thức sẽ chịu đựng đến đâu là vừa, nếu không, có những kẻ tham lam, lộng quyền... cho đó là biểu hiện của sự nhu nhược, cứ thế mà lấn lướt, làm càn.

        Chúng ta còn thường nghe nói: "Mỗi người Việt là một hạt kim cương, mỗi người Nhật là một hạt cát.". Cũng khó mà suy xét xem có thật như vậy không? Nhưng câu nói này muốn chỉ ra rằng, người Việt khá khôn lanh nhưng không kết hợp với nhau được, hay kết hợp cũng không làm được việc gì hữu ích. Còn người Nhật tuy chậm chạm nhưng dễ kết hợp với nhau thành đất đá hữu dụng. 

       Người Nhật sống trên một quần đảo cô lập, đất nước chật hẹp mà gần 70% là núi, tài nguyên rất ít mà thiên tai thường xuyên. Do hoàn cảnh đặc biệt khắc nghiệt đó, bắt buộc họ phải phấn đấu và nhất là gắn bó với nhau hơn. Họ đã cố gắng học hỏi để thu thập tri thức từ bên ngoài, mua nguyên liệu và nhiên liệu từ bên ngoài, gia sức chế tạo sản phẩm sao cho tốt hơn và rẻ hơn (nay có khi đắt hơn) tầm mức đang có, rồi đen bán khắp thế giới... nhờ vậy mà đất nước họ hùng cường.

        Có hai yếu tố chính thường xuyên tác động mạnh mẽ đến việc đoàn kết và chia rẽ.
       
1- Yếu Tố Nội Tại

        Những người xuất thân cùng thuộc tính, như ở cùng địa phương, cùng tôn giáo, cùng sắc tộc, cùng tầng lớp, cùng trình độ, cùng ngành nghề... tất nhiên thường dễ thông cảm và chia sẻ với nhau, từ đó gắn bó hơn và tạo ra sức mạnh cho nhóm hay tổ chức. Nhưng nếu chỉ nhìn sự gắn bó đem lại lợi ích gần mà không thấy lợi ích xa, lớn lao hơn của chung cả dân tộc, đất nước thì sẽ dễ phát sinh tinh thần phe nhóm, kỳ thị, cục bộ (có lẽ quen khép kín trong lũy tre làng)... Mỗi người, mỗi nhóm chỉ như một chiếc đũa, sẽ dễ dàng bị bẻ gẫy khi phải tranh đua với người khác hay người nước ngoài.

        Ai cũng biết, nói chung người Bắc khôn lanh, người Trung mưu lược, người Nam chân thật, người mỗi miền đều có ưu điểm đáng quý riêng, nếu kết hợp được thì thật tuyệt vời, nhưng tranh hơn thua thì sẽ tan nát. Các tôn giáo lớn đã có lịch sử hàng ngàn năm thử nghiệm và được đánh giá cao nhất định, ai tin theo tôn giáo nào là tuỳ, đừng cho duy nhất tôn giáo của mình là đúng mà bài bác các tôn giáo khác.

        Tính ích kỷ là chỉ biết mình, là tự tạo vỏ bọc cho mình, chỉ lo tìm kiếm và bảo vệ quyền lợi của mình, bất chấp quyền lợi của người khác hay của tập thể. Những người có tính ích kỷ thường tránh né mọi đóng góp, nhưng nếu có quyền lợi về vật chất hay tinh thần thì chắc là không thiếu mặt họ. Họ tránh né chuyện đấu tranh, chính trị đã đành, mà ngay cả việc xã hội hay nhân đạo cũng không bao giờ thấy họ tham gia. Cùng lắm, khi phải chường mặt ra trước đám đông thì họ sẽ làm chiếu lệ rồi thôi, như câu: “Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau.”.

        Chúng ta có thể tạm chia làm ba lãnh vực lớn là chính trị và văn hóa tập quán.

        a- Lãnh vực chính trị: Nổi bật và gay gắt nhất, dẫn đến tranh luận bất tận, có thể dẫn đến thanh toán nhau hay chiến tranh... Điều này đã khiến nhiều người chán ngán và nhiều tổ chức chủ trương thuần ái hữu, tương trợ, tức phi chính trị, phi tôn giáo, mặc dầu không dễ gì tránh khỏi bị ảnh hưởng bởi các thế lực ấỵ Thực tế đã bao lần cho thấy, tránh né kiểu đà điểu rúc đầu vào cát liệu có mấy khi thực sự được an toàn!

        Có một số người tự cho là mình giỏi trội, muốn tranh hơn người khác về danh, quyền và lợi, có đầu óc "ông quan", có khi là "Ông Trời". Cách hành xử của họ vô hình trung tạo ra những áp lực chồng chéo lên nhau, rồi sinh ra các lực chống lại... kết quả là thường xuyên tranh chấp nội bô.. Hầu hết các tổ chức của người Việt đều lẩn quẩn và mất nhiều thì giờ trong việc giải quyết tranh chấp nội bộ.

        Cuộc chiến bằng quân sự giữa Quốc-Cộng chấm dứt từ năm 1975, nhưng hận thù giữa hai bên, hay giữa Nam-Bắc vẫn chưa nguôi bao nhiêu . Từ hơn 30 năm qua, dù nhiều yếu tố chung quanh đã thay đổi, hai phía vẫn tiếp tục nói bằng giọng nói lạc điệu nhau! 

        Đầu năm 2005, cựu Thủ Tướng Cộng Sản Việt Nam Võ Văn Kiệt đã nói với ý rằng: "Sau cuộc chiến, có triệu người vui, nhưng cũng có triệu người buồn...". Những người chiến thắng đã đưa ra nhận thức hòa giải quá muộn màng sau 30 năm, miệng nói hòa bình, nhân đạo, khoan hồng... nhưng thực tế đã thẳng tay trấn áp, bóc lột không khoan nhượng. Và dù sao đây cũng mới chỉ là một lời kêu gọi của người đã rời chức vụ trong khi vẫn có tiếng nói bảo thủ, cực đoan chống lại ý kiến này. Cuối năm 2006, khi trả lời tạp chí Viet Weekly hải ngoại, ông Võ Văn KLiệt đã nói tới hòa hợp “Cho dù chính kiến, tôn giáo, quan điểm có khác nhau.”, tương tự như lời Chủ Tịch Trần Đức Lương Cộng Sản Việt Nam đã nói lúc đang tại chức nhân dịp xuân năm 2004.

         Nhưng rồi từ lời kêu gọi đến thực thi sẽ còn là cả một con đường dài, không có gì hứa hẹn chắc chắn cả, nếu không muốn nói là nhà nước vẫn nghi kỵ, đối xữ phân biệt. Nếu họ có nhận thức này sớm và biết hòa giải thực sự từ đầu, đưa đất nước đi lên từ cái nền tảng đơn sơ có được của miền Nam năm 1975 thì đã tránh được cho dân tộc biết bao chuyện điêu linh, những chuyện đổi đời long trời lở đất còn hơn bất cứ thời thực dân nào, khiến 1 triệu rồi 3 triệu người bỏ nước ra đi!

        b- Lãnh vực làm việc: Bên cạnh sự quyết định thường vội vàng, nếu không muốn nói là liều, người Việt thường quyết định dựa trên tình cảm hơn là lý trí... cộng thêm với những tính hiêu/háo thắng, tranh hơn, ích kỷ, ganh tỵ, đố kỵ (không muốn ai hơn mình) là những yếu tố chính đưa đến chia rẽ sau khi kết đoàn. 

         Tính ganh tỵ là luôn luôn so đo hơn thiệt, khi làm việc chung thì những người có tính này hay dò hỏi người khác để so đo, họ quan niệm thù lao giống nhau mà làm nhiều hơn người khác là ngu, giỏi trốn việc mới là khôn!

        Nông dân Việt cũng như nhiều dân tộc khác có lối làm việc "luân canh" tức luân chuyển giúp nhau canh tác. Như khi gặp công việc cầy nặng nhọc hay xây nhà..., một gia đình làm không xuể thì nhờ các gia đình lân cận đến phụ giúp, khi gia đình khác cần thì nhờ lạị Việc hỗ tương này lợi ích cả đôi bên, tất nhiên rất cần, đồng thời cũng nhờ đó mà tạo thêm tính tương lân, tình tương thân, tương áị Nhưng đôi khi do tính ích kỷ, ganh tỵ, xét nét, tính toán lợi hại, lười lĩnh, cẩu thả... làm cho tính tương lân bị phai nhạt đi và có khi biến thành kẻ thù của nhaụ Như trong khi làm và sau khi làm xong thì hay cằn nhằn rằng: Tôi làm nhiều mà anh làm ít, tôi tới sớm mà anh tới trễ, ruộng tôi mềm mà ruộng anh cứng, tôi làm lúc trời mưa nắng mà anh làm lúc trời êm ả, tôi cất nhà nhỏ mà anh cất nhà lớn nên làm mệt chết luôn...

        c- Lãnh vực làm ăn: Người mình ít thực dụng hóa khoa học kỹ thuật, cũng ít tính mạo hiểm nên thường chỉ bàn chuyện hùn hạp làm ăn dịch vụ, mua đi bán lạị Như trong bước đầu còn thiếu kinh nghiệm, còn thiếu tài chính, người Việt hay rủ nhau hợp tác kinh doanh. Sự hợp tác thường dựa trên sự thân tình hay tin tưởng chứ không trên khế ước, luật lê.. Công việc làm ăn nếu trôi chảy thì tương đối ít xích mích, nhưng khi gặp khó khăn thường không có nền tảng luật lệ để giải quyết, vì người mình vốn tính giản dị, xuề xòa, không muốn rắc rối và không câu nệ chi tiết. Người Việt thường cho rằng phải viết khế ước chi li là không tin nhau, mà nếu có viết cũng chỉ có tính cách hình thức, ít khi chịu đọc kỹ, mà có đọc kỹ thì cũng thường không tôn trọng những điều đã được viết rạ Do đó, những bất đồng nhỏ cứ tồn đọng và lớn dần, sự tin tưởng giữa nhau mau chóng bị lung lay và dễ đi đến đổ vỡ.

        Cũng không thiếu những trường hợp hùn hạp làm ăn khá thành công trong bước đầu, nhưng sau đó, do ganh tỵ và tranh giành mà đổ vỡ. Đa số trường hợp cho thấy khi nhiều người hùn hạp thì khó hay không thành công, nhưng khi còn lại một người gánh vác thì lại thành công hơn, thành công vượt bực vì người đó làm việc tận lực, bất kể giờ giấc. Người đó có thể thành công, nhưng tất nhiên chỉ thành công trong quy mô cá nhân.
           
        Chỉ có quy mô gia đình là tương đối bền vững, khoảng 60-70% có thể làm ăn chung lâu dài.

        Thật đau lòng, rất nhiều trường hợp thất bại thì đổ thừa, thành đạt thì kể công, nên sự kết đoàn thường không bền! 

        Tóm lại, kết đoàn mà chỉ đến với nhau bằng tình thân hữu, tương trợ, ít để ý đến yếu tố nguyên tắc, pháp lý, thường nhìn vấn đề lạc quan không dự đoán các bất trắc, nên khi có biến cố gì xẩy đến thường mỗi người mỗi ý, tùy tiện giải thích và giải quyết, từ bàn luận hay đi đến tranh chấp, hoặc thiếu chuẩn bị, thiếu ý chí sinh ra thụ động, e dè, để thời cơ qua đi.

        Điều này cho thấy sinh hoạt của người Việt thiếu một hệ thống giám sát chặt chẽ, hữu hiệụ Nhiều tổ chức cũng có đặt ra cơ chế này, nhưng thường có tính hình thức, chỉ ra tay một cách yếu ớt khi sự việc đã quá trễ.

        Cái đáng sợ nhất là con người sống mà không có niềm tin. Thế mà phải chăng người Việt chúng ta đang phải sống trong xã hội băng hoại như thế, đúng ra là hầu hết đã mất niềm tin vào đại đa số những người chung quanh. Hàng ngáy mọi người phải bước ra ngoài xã hội để tranh sống giữa các thủ đoạn vá áp chế của kẻ cầm quyền, để rồi sau đó rút về nơi trú ngụ, thu mình sống torng cô đơn?

        Nhìn ra thế giới ngày nay, ở các nước thực sự dân chủ, ai cũng có quyền lên tiếng nói, nhà cầm quyền đâu cần đàn áp, và các đảng phái đâu cần triệt tiêu nhau, thậm chí có người đổi đảng tịch, chạy qua đảng đối lập cũng là chuyện thường.

        Đặc biệt trong làm ăn, tư nhân mà dám đứng ra lập hệ thống tín dụng, chỉ xét đơn gia nhập chiếu theo một số điều kiện đơn giản trên giấy tờ chứ không cần biết mặt, biết gia thế. Tư nhân mà dám mở hệ thống hàng trăm, hàng ngàn tiệm, để nhiều người có thể tham gia, không cần giữ bí quyết. Họ làm ăn bạc tỷ Mỹ Kim, không lẽ mình chỉ tính cò con vài trăm ngàn Mỹ Kim. Tất cả chỉ dựa theo một số quy luật được nghiên cứu kỹ lưỡng mà làm, chứ không còn trong phạm vi gia đình, như có mấy con thì mở đúng bằng ấy tiệm cho chúng trông coi như xưa nữa .

        Tư nhân ở đây không phải là một ông chủ thật giầu có tung tiền ra làm ăn, mà là tập thể nhiều người góp cổ phần, và vay tiền ngân hàng, bởi vốn tức tư bản là động cơ đầu tiên thúc đẩy mọi công việc, mọi giao dịch, mọi đầu tư sản xuất... Người Việt có cố gắng làm như thế thì mới thoát ra khỏi "ngục tù tư duy" của chính mình, mới có hy vọng theo kịp thế giới, mới làm ăn lớn và đem lại lợi ích lớn cho mình và đất nước được.

        Tóm lại, vấn đề nằm ở đâu? Phải chăng là ở sự thay đổi tư duy của người Việt, ở cung cách làm việc tận tụy vì mình và vì mọi người, trong tinh thần dân chủ và minh bạch. Đi từ cấp tổ chức nhỏ đến tầm vóc quốc gia, đều phải có nội quy, luật lệ, hiến pháp rõ ràng, và nhất là phải được thực thi một cách nghiêm chỉnh... 

        Dân chủ theo nghĩa rộng là người dân làm chủ vận mạng đất nước. Theo nghĩa hẹp và cụ thể thì sinh hoạt dân chủ là lấy quyết định theo đa số nhưng vẫn tôn trọng và bảo lưu ý kiến của thiểu số. Không ai đúng mãi, nên hôm nay ta có thể ở phía đa số, mai mốt ta có thể ở phía thiểu số. Đó là lẽ thường, nên "Thắng không kiêu, bại không nản.", phải được coi là phương châm hành đô.ng. Còn minh bạch là để tránh chuyện mua chuộc, kết bè phái nhằm lũng đoạn để chiếm đa số một cách bất chính.

        Dân chủ nói dễ, làm khó. Thực vậy, ở hải ngoại, người Việt không bị độc tài áp chế hay chi phối, nhưng nhiều sinh hoạt vẫn chưa dân chủ. Như Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại..., một tổ chức quy tụ những nhà văn, được coi là trí thức mà vẫn xẩy ra những việc tranh giành phi dân chủ kéo dài cả chục năm trờị Xem thế thì các tổ chức khác có gặp tranh chấp nội bộ và yếu cũng là điều dễ hiểu .

        Trên quy mô nhỏ, việc tổ chức đã khó và còn rời rạc, trong khi đó có một số người lại muốn lập tổ chức lớn trên quy mô một quốc gia, một châu lục thậm chí cả thế giới . Hầu như ai cũng làm thiện nguyện, dù có tài trí, nhưng thời giờ giới hạn, tài chính không nhiều... nên khi cơ cấu thành hình được thì lại phải cô đơn "bơi lội" trong chính cơ cấu cồng kềnh do mình đặt ra. Chưa kể khi tổ chức thành hình thì dễ xảy ra việc tranh giành hư danh.

        Vấn đề chính vẫn là người mình không biết bảo nhau, không biết nhường nhịn.  Ở dưới thì muốn lên cao, mà lên cao rồi thì không muốn xuống nữạ Có nhiều người ban đầu thật nhiệt tâm, nhưng sau một thời gian hoạt động thì đuối sức đành bỏ cuộc. Đôi khi có trường hợp đáng thương là có các ông hoạt động hăng quá, không lo việc nhà, bị vợ đòi ly dị!

        Trong hơn 30 năm qua, ở hải ngoại đã có hàng vài chục nỗ lực lớn để kết đoàn rộng rãi của biết bao người tâm huyết, nhưng nói chung không thành công. Một phần vì thiếu bản lãnh, thiếu phương pháp, thiếu cơ sở, một phần vì bị những thành phần thiếu ý thức hay kẻ thù phá hoạị Chỉ có một số nhỏ được hình thành nhưng nặng về hình thức hơn thực chất.

2- Yếu Tố Ngoại Lai

        Bao gìờ thì cũng nên tự trách "Lỗi tại tôi thôị" như người xưa đã nói: "Tiên trách kỷ, hậu trách tha.". Bởi chúng ta yếu nội tại nên ngoại bang mới uy hiếp. Cụ Phan Bội Châu đã nói: "Mất nước là tại chúng ta.".

        Yếu tố ngoại lai vốn thường là phụ thuộc, nhưng do việc giao lưu quốc tế ngày càng thuận tiện, nhất là do hoàn cảnh đất nước ta nhỏ bé lại nằm ở vị trí địa lý chính trí quan trọng, dân tộc ta chậm tiến..., nên dễ dàng bị các đế quốc, thực dân chi phối bằng quân sự, chính trị và nay thì thường bằng kinh tế.

        Từ thời lập quốc, từ huyền sử Hùng Vương, đất nước ta đã bị chi phối bởi ngoại bang. Người Việt đã kiên cường chống đỡ, nhiều phen đánh bại quân xâm lăng mạnh gấp bộị Nhưng rồi khi bị thua, chúng ta lại chỉ tôn thờ một "ông thầy", một phương Bắc, đóng cửa, ngủ quên cho tới khi làn sóng văn minh, văn hóa Âu-Mỹ tràn tới biến đất nước chúng ta thành thuộc địa, gây chiến tranh ủy nhiệm... gieo không biết bao nhiêu tang tóc, khiến cả 4-5 triệu người phải bỏ mạng trong khoảng 150 năm qua và trên hết gieo hận thù, chia rẽ cực kỳ trầm trọng ngay trong hàng ngũ dân tộc.

        Quốc gia nào cũng chỉ lo cho quyền lợi của dân họ thôi, không nên có tinh thần ỷ lại, trông đợi quốc gia nào sẽ tận tình giúp mình. Bang giao quốc tế luôn ở trong tình trạng phân chia và tranh giành về quyền lợi, đồng thuận thì hợp tác, bất đồng thì đối nghi.ch. Không có đồng minh vĩnh viễn, cũng không có kẻ thù muôn đời .

        Trước những áp lực và mua chuộc của ngoại bang, người thiếu ý thức dân tộc sẽ dễ dàng chạy theo chỉ vì quyền lợi cá nhân. Họ sẵn sàng đứng ra tiếp tay cho ngoại bang chi phối đất nước bằng cách này hay cách khác. Việc làm đó vô hình trung trở thành đối đầu với các thế lực yêu nước..., cũng tạo thêm ra những mâu thuẫn trong lòng dân tộc.

        Cố Tổng Thống Sukarno của Nam Dương (Indonesia) đã từng nói đại ý là sau thời thực dân thô bạo bằng quân sự trước Thế Chiến Thứ 2, sẽ đổi qua hình thức thực dân nhẹ nhàng hơn bằng kinh tế nhưng không kém hiểm độc. Tức bản chất của vấn đề vẫn là cá lớn hiếp cá bé, cạnh tranh sinh tồn trong tình thế sinh tồn và đào thải tự nhiên của "Darwin xã hội", vốn không biết khoan nhượng

        Do đó, không khéo đa số người Việt chúng ta sẽ trở thành những kẻ:

         - Nô lệ tư bản (vay nợ thật nhiều mà không tính kỹ đường trả để các thế hệ sau phải gánh chịu).

        - Nô lệ sản xuất (làm việc gia công đơn giản với đồng lương rẻ mạt). 

        - Nô lệ hàng hóa (chỉ bán nguyên liệu, nhiên liệu, nông phẩm, ngư sản... mà mua dùng hàng kỹ thuật cao, không thực sự sản xuất). 

Muốn thoát khỏi nguy cơ nói trên đang lù lù hiện đến đó, người Việt chúng ta phải:  

- Đổi mới tư duy để thực hiện đúng đắn tinh thần đoàn kết.

- Biết hy sinh lợi ích nhỏ để đạt lợi ích lớn, lợi ích riêng cho lợi ích chung.

- Có tinh thần tự chủ.    
     
- Muốn tự chủ thì phải biết dựa trên tiềm năng dân tộc và tiến những bước gấp rút để đuổi kịp thế giới .

- Muốn theo kịp thế giới thì phải chọn con đường duy tân, dân chủ, cải cách giáo dục nhằm nâng cao trình độ khoa học, kỹ thuật ứng dụng trong sản xuất...

        Kết hợp khoa học kỹ thuật với sự khéo léo và cần cù vốn có của người Việt là chuyện phải làm và làm ngaỵ Ai cũng biết vậy mà tại sao quá ít người làm!? Dân số Việt Nam nay khoảng 85 triệu, trong số ấy chúng ta có hàng chục triệu người học toán, lý, hóa, cơ, điện, quang... mà toàn lý thuyết, hầu như chẳng thấy ứng dụng được gì!? Nền tảng khoa học kỹ thuật của quốc gia nói chung vẫn còn rất thấp, lại thiếu sáng kiến, thiếu mạo hiểm, thiếu dấn thân... thì còn nói gì nữa!

         Chuyện nước lớn hiếp đáp nước bé là chuyện tự nhiên như cá lớn nuốt cá bé vậy. Tuy nhiên, đây không phải là quy luật tất yếu bất di bất dịch, ngay loài cá không phải lúc nào cá lớn cũng nuốt được cá bé huống chi con người còn có lý trí, ý chí được coi là siêu việt hơn mọi loài và nhất là lòng yếu nước, yêu dân tộc. Lịch sử loài người đã và vẫn chứng minh rằng, nếu người trong một nước nhỏ mà biết tự cường bằng một chủ đạo dân tộc hay chính đạo thay vì chạy theo ngoại bang, biết xây dựng đất nước hùng mạnh hay khéo léo về ngoại giao như Thụy Sĩ, Thái Lan, Nhật Bản... thì vẫn có thể giữ thế độc lập.

*
 

        Kết đoàn và đoàn kết là vấn đề lớn của mọi dân tộc, nhưng riêng với người Việt, trong tình trạng chia rẽ và tụt hậu đáng buồn chung, dường như càng ray rứt và cần giải quyết gấp rút hơn bao giờ hết.

        Ai cũng biết: "Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết!", nhưng cũng có người mỉa mai cho rằng: "Đoàn kết thì chết chùm, chia rẽ thì chết lẻ tẻ!". Và có người thích sống độc lập, thực ra là cô lập, để may ra trong số chết lẻ tẻ ấy không có mình! Hay "Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi caọ" biến thành "Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại vẫn là ba cây!"?

        Có một ngàn lý do để đoàn kết, nhưng cũng có một vạn lý do để chia rẽ như một vạn lý do để đến trễ. Sự đoàn kết mong manh như vậy vì ai cũng biết nhưng có quá nhiều người coi thường, thế nên trách sao tập thể người Việt thường yếu!

        Như hình ảnh "cái nĩa", đoàn kết là cán, chỉ có một, mà chia rẽ là đầu ghim có tới bốn. Chia rẽ bao giờ cũng có nhiều lý cớ hơn, mà thực ra chỉ vì ích kỷ. Nhưng cán thì cứng cáp, còn đầu ghim thì yếu đuối.
        Lạc Long Quân chia tay với Âu Cơ có một lần, như kiểu "ly thân" thôi đã làm khốn khổ con cháu biết bao nhiêu rồi, thế mà có cả vạn lý do để chia rẽ thì nguy cơ tất là rất lớn. Đừng để tư duy bị lởn vởn vì chuyện truyền thuyết xa xưa nữa, hãy can đảm phá tan sự ám ảnh đó đi.

        Nếu chúng ta không nghiêm chỉnh suy nghiệm, can đảm làm bước đột phá thì chẳng lẽ bằng lòng với một đất nước mãi mãi tụt hậu như vậy sao!?

        Không thể than thở rằng đó là số phận của mình hay dân tộc mình mà quên rằng người xưa vẫn nói: "Hành sự tại nhân, thành sự tại thiên.", "Tận nhân lực, tri thiên mệnh", vậy đã làm hết sức của mình chưa mà cho là biết số mệnh? Và "Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiềụ", con người không thể nghịch thiên, nhưng thực tế cho thấy với đầu óc của con người, có thể vượt thắng nhiều trở ngại thiên nhiên. Mỗi người Việt hãy mạnh dạn đem tài năng ra làm chủ vận mệnh mình và đất nước mình, đừng than thân trách phận, đừng trách trời oán đất, có ích gì đâu!?

        Dường như đâu đâu cũng thấy người Việt tụ họp, uống trà hay cà phê và bàn chuyện đại sự quốc gia, dân tộc. Ai cũng tỏ ra hiểu biết, nắm vững tình hình, nhưng bàn thì nhiều mà làm thì vẫn quá ít? Vẫn là lý thuyết hơn thực nghiệm? Người Việt gặp nhau thường thăm hỏi mạnh không, bây giờ đang làm gì... nhưng kết luận thường vẫn là rủ nhau đi ăn cho vui hơn là làm một cái gì đó cụ thể. Ký giả Trọng Minh đã nói: "Ở Việt Nam bây giờ trên là trời, dưới là tiệm ăn.".

        Cuộc đời vốn "Cùng tắc biến, cực tắc phản.", "Sau thời bĩ cực, tới thời thái laị". Như đá phải được xay thật nhuyễn rồi chộn với hóa chất mà thành xi-măng để kết nối những viên đá khác. Sự chia rẽ khi đi đến cùng cực sẽ thúc đẩy, giúp lòng người hướng đến gần nhau. Vì vậy phân tích và nhìn vào sự thật không phải là để bi quan mà để tìm phương hướng giải quyết.

        Tóm lại, kết đoàn là bản năng, nhưng đoàn kết thuộc lý trí, cần bình tâm nhận định, khéo léo xử lý . Điều này phải được coi là vấn đề sinh tử, phải biết dẹp bỏ tỵ hiềm, khác biệt tiểu tiết để lo cho dân, cho nước được hùng cường.

        Lịch sử Việt Nam là lịch sử triền miên chiến tranh, hết ngoại xâm rồi nội chiến khiến bao phen đất nước tan hoang, lòng người ly tán, khoảng thời gian hòa bình, ổn định để phát triển thường không dài!

        Thế nên, hơn ai hết, người Việt rất thấm thía ý nghĩa của hòa bình. Hòa bình không phải chỉ đến từ bên ngoài, mà hoà bình chính yếu đến từ trong lòng mỗi chúng ta . Không thể có hòa bình khi trong lòng mọi người còn rực lửa chiến tranh. Những sự kiện ấy phải được coi là những bài học xương máu của mọi con dân Việt.

        Trước xu hướng toàn cầu hóa, một nước nhỏ và yếu như Việt Nam thì đoàn kết là một nhu cầu cực kỳ thiết yếu, một gia sản tinh thần quý giá nhất mà mọi người Việt có trách nhiệm gìn giữ.

        Bản chất là đồng bào, tức chung dòng máu Việt, chung nhau quyền lợi, chung nhau bổn phận, chung nhau buồn vui... chia rẽ có là do ích kỷ mà phát sinh mẫu thuẫn quyền lợi và tranh chấp, nói chung là mắt tiêu cực của tư duy.

        Mà vấn nạn chia rẽ đã kéo dài quá lâu, thế nên chúng ta không thể chần chờ hơn nữa, mà cần phải có những cuộc các mạng tư duy thực sự từ từng cá nhân, nhất là những người có ý thức và trách nhiệm cao, để sớm tạo thành một phong trào rộng lớn làm cuộc chuyển đổi đoàn kết, đưa vận nước đi lên.

        Hãy thử tượng tượng dân tộc Việt đoàn kết ở mực độ khá cao nào đó, thì lo gì đất nước sẽ không hùng cường, và lo gì ngoại bang còn có thể chi phối. Đó mới là ngày thực sự vinh quang của cả dân tộc Việt.

- - - - -

Xin trích dẫn một số tài liệu để tham khảo.

        - Trong văn tế 13 Liệt Sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng gồm Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí bị lên đoạn đầu đài ngày 17/6/1930 ở Yên Bái, cụ Phan Bội Châu đã nói: "Đồng bào ta há có cái tội gì, câu vô đạo phải vạch trời gạn hỏi . Vì vậy vỗ cả muôn tay, đúc thành một khối, kẻ mạnh mạnh hung, người khôn khôn giỏi ".

        - Ai cũng biết câu: "Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết." (của Motto of Kentucky). Vậy ta chọn bên nào?

        - Nhờ đoàn kết, một quốc gia bé nhỏ trở nên thịnh vượng; vì chia rẽ, một quốc gia lớn nhất cũng bị tiêu diệt. (của Sallust).

        - Quốc Sách của Trung Quốc viết: "Bởi núi Thái Sơn không từ một cục đất nên mới được cao; sông bể không bỏ một dòng nước nhỏ nên mới được sâu.".

        - Vì đồng lòng mà việc nhỏ thành lớn; vì bất hòa mà việc lớn thành tan vỡ. (của Sallust).

        - Ta mà không hợp quần nhau, cứ mỗi người chỉ nghĩ đến riêng mình thì ngoài sự đau đớn, sự khổ ải, sự áp chế, chúng ta không hy vọng được gì hơn. (Lamennais).

        - Hai khối óc tốt hơn là một. (của Homer).

Đặc Điểm Của Người Việt

        Năm 2006, Viện Nghiên Cứu Xã Hội Hoa Kỳ đã đưa ra 9 đặc điểm của người Việt nhằm giúp các doanh nhân Hoa Kỳ sang Việt Nam làm ăn. Con người vốn đa dạng và thay đổi, vốn nhất quán và mâu thuẫn, không nhất thiết ai cũng như ai và lúc nào cũng vậỵ Kết quả nghiên cứu có thể đúng với người này mà không đúng với người khác. Tuy nhiên các điểm được nêu ra có thể coi là những nét chính.

        Nội dung 9 điểm như sau:

        1- Cần cù lao động, song dễ thỏa mãn nên thường xuất hiện tâm lý hưởng thụ và đòi hỏi, dẫn đến không chịu làm việc.

        2- Thông minh sáng tạo song chỉ có tính chất đối phó, nên thiếu tầm tư duy dài hạn và chủ động trong công việc.

        3- Khéo léo nhưng không chịu tư duy đến cùng.

        4- Suy nghĩ vừa thực tế vừa mơ mộng, song lại không có ý thức nâng suy nghĩ đó lên thành lý luận để áp dụng.

        5- Ham học hỏi, có khả năng tiếp thu kiến thức mới nhanh, nhưng động cơ học tập không phải vì mục đích tự thân phát triển nên ít khi chịu học từ đầu đến đuôi, dẫn đến kiến thức có được không có hệ thống, không cơ bản.

        6- Có tính hiếu khách nhưng không lâu bền.

        7- Có tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, song hầu như chỉ trong hoàn cảnh khó khăn, bần hàn. Trong điều kiện sống tốt hơn, tinh thần này ít khi xuất hiện.

        8- Yêu hòa bình khi suy nghĩ cho đại cục, song lại có tính hiếu thắng khi giải quyết mang tính chất giữa hai cá nhân với nhau.

        9- Thích tự lập nhưng thiếu tinh thần liên kết để tạo ra sức mạnh tập thể (cùng một việc mà nếu một người làm thì tốt, ba người làm thì kém, và nhiều người cùng làm thì hỏng).                                                                              
                                                                                                                                                                                                        ĐTM - 2006
 
http://www.danviet.se/document/DTM/1/Tu%20Van%204%20KD-DK.htm
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-03 22:18:10Ngọc Lý>
TỰ VẤN 5:
Trọng Từ Chương, Bằng Cấp!?
Trọng Hình Thức?
                     
Đỗ Thông Minh


       Cụ Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) là một người theo Nho học, nhưng cực lực bài bác lối học từ chương, khoa cử, thiếu hẳn nhiệt tình dấn thân đối với đất nước. Trong lời tựa cuốn Phan Tây Hồ Tiên Sinh Lịch Sử, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã viết:

       "... Cái học khoa cử ở nước ta đã thành ra không khí, cha dạy con, thầy bảo trò, anh em bạn bè khuyên nhau, gần như trong đời không có việc thứ hai nữa; cho đến đất nước suy mòn, giống nòi tan tác mà sĩ phu vẫn cứ say mê trong vực ấy mà không tỉnh dậy...". 

       Người Việt hầu như ai cũng biết câu: "Đại đăng khoa rồi tiểu đăng khoa" , là thi đậu rồi lấy vợ và bức tranh "Vinh Quy Bái Tổ", cảnh ngựa chàng đi trước, võng nàng đi saụ Ngày nay ,nhiều người Việt có nhà cao cửa rộng cũng hay treo bức tranh "Vinh Quy Bái Tổ", có thể chủ nhân thích vì lý do nghệ thuật, nhưng có thể cũng là để thỏa mãn ước mơ trong tiềm thức. Chúng tôi muốn nói đến tinh thần trọng từ chương từ thời Tứ Thư Ngữ Kinh, tinh thần trọng bằng cấp từ thời Thi Hương, Thi Hội, Thi Đình, dù nay biết rằng lối học và hành đó thiếu hẳn tinh thần khoa học, thực nghiệm, thực dụng và thực nghiệp (áp dụng vào công nghiệp).

       Tinh thần từ chương, khoa cử đã ăn sâu trong tim óc người Việt, tạo ra một nhân sinh quan vừa làm vừa hưởng nhàn kiểu Nguyễn Công Trứ. Như cố gắng học để thi lấy cái bằng, rồi tìm một công việc nhàn hạ mà lương cao... không cần biết là cơ quan hay công ty nơi mình làm việc sẽ đi về đâu.

       Hình thức - nội dung hay vật chất - tinh thần là những cặp lưỡng nhất thể, luôn luôn đi đôi với nhaụ Ai cũng biết nội dung và tinh thần giá trị lâu dài hơn hình thức và vật chất, nhưng hầu hết người ta vẫn bị cái bề ngoài và cụ thể cuốn hút. Giữ được thăng bằng hai mặt ấy không phải là dễ, vì thường mặt này mạnh, mặt kia sẽ yếu .

       Thêm nữa, "Tốt khoe, xấu che", đó là lẽ thường, một thứ bản năng văn hóa chung của cả loài người, người nào cũng vậy, dân tộc nào cũng vậy, nhưng nếu "Chưa đậu ông Nghè đã đe hàng tổng." thì vấn đề lại khác, vì đó là tính khoe khoang, hách dịch, muốn đem uy quyền cuả mình ra đè đầu người khác.

- - - - -

Từ Chương:

       Năm 2007, tính theo truyền thuyết Việt Lịch là năm 4886. Sau thời lập quốc, vào năm 111 trước Công Nguyên, nước Việt đã bị nhà Hán chi phối cho tới năm 939, là khi Ngô Quyền nổi lên giành độc lập.

       Dưới thời Bắc Thuộc, người Việt dù muốn dù không, bên cạnh văn minh văn hóa bản địa, cũng đã du nhập văn hóa Trung Quốc, do Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp là những người đầu tiên đem vào, một nền văn hóa phong phú và rực rỡ, nhưng thiếu tính thực dụng.

       Giới trí thức Việt thời bấy giờ đã học chữ Hán và tiếng Hoa phát âm theo lối đời Đường để giao thiệp với quan lại phương Bắc. Họ học chữ rồi học Tứ Thư, Ngũ Kinh, và nhiều kinh sách khác, nói chung là của Nho Giáo và Khổng Tử, người được coi là "vạn thế sư biểu" (Thầy của vạn đời).

       Tứ Thư là 4 bộ truyện, gồm: Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ và Mạnh Tử. Ngũ Kinh là 5 bộ kinh, gồm: Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ và Kinh Xuân Thu.

       Đây là những pho sách quý, tinh hoa, không những của Trung Quốc mà của cả nhân loại . Tuy nhiên có khiếm khuyết lớn ở chỗ quá chú trọng về đạo đức trong việc đối nhân xử thế về nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, về công, dung, ngôn, hạnh... và văn chương thi phú là khoa học nhân văn mà quên đi khoa học tự nhiên thực dụng.

       Theo Thầy Triệt Học Trần Đức Giang, Trung Quốc đã có những phát kiến rực rỡ về văn minh và văn hóa như:
                  - Về tư tưởng: Nho Giáo, Lão Giáọ
                  - Về binh pháp: Tôn Tử Binh Pháp
                  - Về phát minh: 4 phát minh lớn là làm ra giấy, nghề in sách, kim chỉ nam, thuốc súng.
                  - Về thiên văn học: Trương Nghi phát minh ra máy đo sự chuyển vận của quả đất (Địa động nghi) lâu nhất trên thế giới, trước máy của Âu Châu 1.700 năm, y sĩ Hoa Đà phát minh ra thuốc mê sớm nhất thế giới, phép kế toán của Tổ Xung Chi đã tìm ra số Pi đầu tiên trên thế giới, lịch Thọ Thời đã có trước lịch Thái Dương hơn 300 năm, sách Bản Thảo Cương Mục là sách nói về dược thảo lâu đời và công phu nhất thế giới v.v...

       Trung Quốc đã là cái nôi văn hóa và văn minh của nhân loại một thời, thế mà do mải mê từ chương và khoa cử, nhất là vào đời nhà Tống... mà lụn bại dần. Trong khi các nước Âu-Mỹ và Nhật Bản vươn lên, tìm đến xâu xé đất nước Trung Quốc.

       Nói chung, trong suốt một thời gian dài, các dân tộc chịu ảnh hưởng Nho Giáo đã bị tụt hậu so với Âu-Mỹ. Chưa kể là ngày nay, con người bình đẳng hơn, tinh thần tam tòng (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử), trung quân (trung với vua)... không còn cần thiết nữa.

       Trong khi người Đông Phương nặng về tình cảm, duy tâm, thì người Tây Phương thiên về duy lý và duy vật. Tây Phương suy nghĩ có luận cứ và làm việc có phương pháp, đã đưa những đất nước của họ nhanh chóng vươn lên. Họ cũng say đắm trong thế giới văn chương, nghệ thuật, nhưng không quên dấn thân trong việc khám phá thiên nhiên, ứng dụng khoa học vào đời sống.

       Cũng là một quốc gia ở Đông Phương, nhưng nước Nhật nhờ đâu mà nhanh chóng thoát khỏi lạc hậu, vươn lên ngang hàng với hoặc hơn các nước Âu-Mỹ? Bác Sĩ kiêm Học Giả Nhật là Fukuzawa Yukichi (Phúc Trạch Dụ Cát, 1835-1901), nhà tư tưởng canh tân lừng danh, được coi là Voltaire (nhà cách mạng tư tưởng Pháp) của Nhật, người đã mở đại học tư Keio Gijuku đầu tiên ở Nhật cho rằng: "Nền giáo dục Nho Giáo ở Đông Phương, về hữu hình không để ý tới việc bồi dưỡng lối suy nghĩ khoa học và về vô hình không chú trọng đến tinh thần độc lập của mỗi cá nhân.".

       Biết rõ được sự yếu kếm của mình trước Âu-Mỹ, ông đã cố gắng tìm con đường đi lên, trong sách Văn Minh Luận Khái Lược, ông đã viết:

       "Để bảo vệ độc lập (Nhật Bản), không còn cách nào ngoài con đường tiến đến văn minh. Lý do duy nhất để người dân nước ta tiến đến văn minh là để bảo vệ độc lập quốc gia.".

       Ông định nghĩa tinh thần độc lập ấy như sau:

       - Biết tự mình lo toan cho chính mình mà không nhờ người khác.
       - Biết phân biệt sự vật phải trái một cách đứng đắn mà không ỷ lại vào trí khôn của người khác.
       - Biết tự mình dùng tâm lực lao động để nuôi lấy chính mình mà không cậy vào sức người khác.

       Theo ông, cách giữ nước hay nhất là:

       "Làm cho đất nước tràn đầy không khí tự do độc lập, không phân biệt sang hèn, trên dưới, mỗi người gánh vác trách nhiệm quốc gia, người tài kẻ ngu, người sáng kẻ mù, nhất nhất phải ráng sức gánh vác bổn phận của người dân nước đó.".

       Những vị trí thức Việt từng đi Pháp, Âu Chảu về, có tư tưởng canh tân như Nguyễn Trường Tộ (1828-1871), Phạm Phú Thứ (1820-1883), Nguyễn Lộ Trạch (1852-1895)... cũng đã từng trình biết bao bản điều trần lên triều đình nhà Nguyễn kêu gọi cải cách nhưng bị khước từ, trù dập. Vậy thì không phải không có người Việt nhìn ra vấn đề và lên tiếng, nhưng quán tính văn hóa, đã làm cho những người trí thức khác và quần chúng thường ngại cái gì mới lạ, đâm ra lưỡng lự không dám mạnh dạn làm theo.

       Cho đến thập niên 40, 50 của thế kỷ 20, khi vừa thoát khỏi phong kiến lạc hậu thì Trung Quốc từ năm 1949 đến cuối thập niên 70 và Việt Nam từ năm 1954 đến năm 85 lại rơi vào vòng quá khích, phi hiện thực của chủ nghĩa Cộng Sản. Trường hợp Việt Nam, các người lãnh đạo còn máy móc và độc đoán áp dụng mô hình Liên Xô, rồi Trung Quốc như cơ chế nhà nước, đấu tranh giai cấp... khiến người dân không còn đường sống. Tới khi hoàn toàn bế tắc rồi họ mới thức tỉnh giấc mê sảng và bắt đầu dò dẫm đưa đất nước đi lên theo con đường Dân Chủ - Tư Bản mà họ đã từng sống chết đả phá kịch liệt. Do đó, tại Trung Quốc và Việt Nam... chủ nghĩa Cộng Sản nay chỉ còn cái vỏ, đảng viên và cán bộ nhà nước lo làm giàu bằng mọi giá, còn nhanh hơn cả Tư Bản.

       Việt Nam sống bên cạnh nước Trung Quốc khổng lồ vượt trội về nhiều mặt, để tồn tại và thăng tiến, suốt chiều dài lịch sử, người Việt có hai thái độ trái nghịch, tiếp thu hầu như trọn vẹn về văn hóa, nhưng kháng chiến đến cùng để bảo toàn lãnh thổ. Cho đến tận hôm nay, hầu hết người Việt, giới trí thức thì thường viện dẫn sách Tàu, giới bình dân thì vẫn mê truyện Tàu, phim Tàu...

       Sự lệ thuộc quá sâu đậm của Việt Nam với Trung Quốc về văn hóa đã giúp bồi đắp văn hóa Việt, nhưng đồng thời cũng kéo theo những hệ lụy về cách học hỏi, cách suy nghĩ. Tinh thần của người Việt nói chung là sùng bái anh hùng, nhân sĩ, rồi khiêm tốn đến độ tự ty và thiếu tự tin, không dám vượt ra ngoài những gì được coi là khuôn vàng thước ngọc. Vẫn biết "Không thầy đố mầy làm nên.", nhưng nếu lúc nào cũng "Nhất tự vi sự, bán tự vi sư", không dám suy nghĩ độc lập, không dám mạo hiểm, khám phá thì sẽ không thể nào tiến bộ được.

       Thêm một điều tốt, nhưng cũng có cái tệ hại riêng của nó, đó là người Việt vốn tính dễ dãi, suy nghĩ đơn giản, nên lỏng lẻo trong làm việc và dễ dàng bằng lòng với những thành quả khiêm nhường, những sản phẩm kém cỏi, kiểu "Có là vui rồi.". Ông Minagawa, một chuyên gia của Bộ Ngoại Giao Nhật với khoảng 40 năm kinh nghiệm về Việt Nam cho rằng người Nhật theo chủ nghĩa toàn bích nên làm được những sản phẩm tốt, nhưng đôi khi dẫn đến bế tắc và tự tử, còn người Việt theo chủ nghĩa 60%, có nghĩa là thỏa mãn với những gì đạt được trên trung bình và thường dừng lại ở đó, không tiến thêm nữa.

       Tóm lại, con đường đi lên của dân tộc Việt là chúng ta không bỏ, cũng như không thể bỏ văn hóa Đông Phương, nhưng không nên tự khép kín mãi trong đó, mà phải biết hấp thu cái tinh túy của văn hóa Tây Phương và sáng tạo thêm để làm giàu cho văn hóa Việt.

Khoa Cử:

       Sau đó Việt Nam còn du nhập cả lối khoa cử, học cho thuộc lầu kinh sách, học mà không vấn, không suy, chỉ biết lý lẽ mà không áp dụng thực tế. Học để khi làm bài thi đối ứng cho trôi chảy và minh họa cho hay, làm thơ phú cho hay, đi thi cầu cho đậu để được bổ làm quan. Như vậy kể như một đời vinh hưởng bổng lộc, danh vọng, không những cho cá nhân mà còn cho cả gia đình. Nhưng Nhật Bản dù đã du nhập chữ Hán qua ngả Triều Tiên vào thế kỷ thứ 5, sau đó khoảng thế kỷ thứ 7 mới trực tiếp giao dịch với Trung Quốc, họ cũng đã tiếp thu rất nhiều tinh hoa trong văn hóa Trung Quốc như Nho Giáo, Thiền, tranh thủ ấn họa, trà đạo, thư đào, cây kiểngtrong chậu (bonsai), võ thuật..., nhưng hầu như không du nhập chế độ khoa cử, mà chọn theo khả năng ứng xử, điều hành việc nước.

       Dùng khoa cử để chọn nhân tài thì xưa nay đều như vậy, nhưng tính phiến diện của từ chương xưa vốn coi trong trật tự xã hội, quan hệ quân-thần... nên khó chọn được người có tài kinh bang tế thế hay người có khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật để có thể nhanh chóng nâng cao mức sống của người dân.

       Nếu thời xưa thi đậu thì ra làm quan, càng đậu cao càng làm quan to, vinh hiển, phú quý biết bao.  Còn thời nay, hình thức thi cử và việc tiến thân tuy có khác, nhưng học cao, đậu cao cũng vẫn là có một bảo đảm vững chắc cho cuộc sống ở một nấc thang cao trong xã hội. Nên học kiểu máy móc, học tủ, nhồi nhét để rồi quên...

       Tinh thần quá chuộng khoa cử ấy lâu dần thành nếp. Thường cứ 3 năm triều đình lại mở khoa thi, có người đậu ngay, có người lận đận thi cả chục khoa không đậu, vẫn chi miệt mài kinh sách không lo làm gì khác, đến lúc già rồi mà vẫn còn lều chõng đi thi để mong làm quan, không chức lớn thì cũng chức nhỏ.

       Tinh thần khoa cử ấy kéo dài cả 2.000 năm. Chỉ cho tới đầu thế kỷ thứ 20 thời nhà Nguyễn, khi Pháp đô hộ Việt Nam thì mới có dấu hiệu thay đổị Nhiều Nho sĩ Việt bắt đầu ý thức về vận mệnh đất nước nên đi thi để có vị thế, có cơ hội tiếp sức với các Nho sĩ khác, và nhất là có tiếng nói mạnh với quần chúng... nhưng họ chỉ làm quan một thời gian rất ngắn như các cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh..., hay hoàn toàn không ra làm quan như cụ Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Ngô Đức Kế, Võ Bá Hạp... Các Nho sĩ ấy bắt đầu mạnh dạn từ bỏ danh vọng, bổng lộc riêng tư, chọn con đường dấn thân gian khổ, đứng về phía người dân để cùng tranh đấu giành độc lập và phát triển đất nước.

       Các cụ là những nhà trí thức, đồng thời là những nhà cách mạng rất đáng kính của dân tộc. Nhưng thời của các cụ, nhất là giai đoạn đầu, hầu hết vẫn còn lặn ngụp trong thế giới từ chương, thuộc làu kinh sách. Cụ Phan Bội Châu đã nhìều lần bầy tỏ nỗi đau buồn về vấn nạn dân trí thấp kém, nhưng chính cụ cũng phải tự phán đại ý rằng "Năm tôi 38 tuổi mà không biết 9x9 = 81 là gì." (cụ không biết phép nhân cửu chương), nói chi tới những môn khoa học khác.

       Người Việt nổi tiếng chăm học và tỷ lệ thành đạt về học vấn khá caọ Ngày nay có gia đình tới 3, 4, thậm chí 5, 6 người làm Tiến Sĩ, Bác Sĩ, Cao Học (Thạc Sĩ) hay Kỹ Sư... Phải công nhận đó là những gia đình có cha mẹ tốt, biết hy sinh và giáo dục con cáị Các con cũng thông minh hơn người mới học thành tài ở những ngành khó khăn và tốn kém như vậy. Nhưng mặt khác, nhìn từ khía cạnh xã hội, dường như một số trong đó thiếu lý tưởng phục vụ, với họ thì công phu học hành cần phải được đền bù bằng việc kiếm tiền, không còn biết gì khác. Hầu như số người đó chỉ tìm một công việc tương đối nhàn hạ không phải lao động chân tay và nhất là lương caọ Một việc có tính cách dịch vụ hơn là nghiên cứu, khám phá, thiếu hẳn sáng kiến, mạo hiểm, dấn thân... Vì vậy, ngay cả bắt việc chước cũng không mấy khi bằng người chứ đừng nói tới hơn người.

       Chúng tôi có dịp gặp và trao đổi với một vị Bác Sĩ ở Úc, vị ấy công nhận là từ khi ra trường tới giờ khoảng 40 năm trời, chỉ chăm đi làm kiếm tiền mà không chú tâm nghiên cứu, học hỏi thêm. Có lẽ rất nhiều trí thức Việt cũng ở trong tình trạng đó.

       Bên cạnh việc thờ phượng các anh hùng dân tộc qua công lao giữ nước hay các thần linh, người Việt thường lấy từ chương làm nền tảng đo lường sự hiểu biết, rất trân trọng với những người khoa bảng nên đã lập bia tưởng niệm các Tiến Sĩ... nhưng không chú trọng đề cao các nhà khoa học, thực nghiệp, thương mại.

       Ông Akio Morita (Thịnh Điền Chiêu Phu, 1921-1999), Tổng Giám Đốc công ty đồ điện tử lừng danh Sony, từng viết chung với Dân Biểu, sau là Đô Trưởng 3 nhiệm kỳ, Shintaro Ishihara (Thạch Nguyên Thận Thái Lang, 1932-) cuốn sách gây chấn động thế giới "The Japan That Can Say No" (với Hoa Kỳ) vào năm 1989. Ông Akio Morita là một số trong số những người mạnh mẽ chủ trương đả phá quan niệm coi trọng bằng cấp, ông đã viết nguyên một cuốn sách mang tên "Học Lịch Vô Luận Dụng" vào năm 1987 để nói rõ về vấn đề nàỵ Ông là người sáng lập công ty Sony, người đã khởi nghiệp bằng học vấn căn bản ở nhà trường, nhưng quan trọng là lăn lộn ngoài đời và nhất là sự kiên trì và óc sáng tạo.

       Ngày nay, vấn nạn này ở Việt Nam rất trầm trọng và thường được gọi là bệnh thành tích, vì có nhiều người không quen nhìn thẳng vào thực tế yếu kém, chỉ thích đọc những thống kê tốt đẹp mà quên đi sự giả dối bên trong. Rất rất nhiều học lịch của học sinh Việt đã được nâng điểm, tô hồng không đúng với thực tế, chưa kể là dù có đúng thì lối học ly thuyết cũng không giúp ích gì cho thực dụng.

Ái quốc:

         Ngày nay cái học đã thay đổi rất nhiều, mở rộng ra khoa học tự nhiên thì lại rất ít người chú trọng đến khoa học nhân văn, giềng mối đạo đức bị coi nhẹ, mọi thứ như được đánh giá qua sự thành công về tài chính. Như vậy, dường như lúc nào chúng ta cũng chạy theo một hướng, thiên lệch, thiếu sự trung dung, quân bình? Nhưng nói chung, tinh thần học để có mảnh bằng như cần câu cơm, cầu an, hưởng thụ chắc là không khác xưa mấy.

       Có người thắc mắc không biết tinh thần du học sinh ngày nay so với những người đi theo Phong Trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu năm 1905... thì thế nào?

       Nay chúng ta không chỉ Đông Du, Tây Du mà còn "tứ phương du", có đến 3 triệu người, tuy rằng nhiều người trong số đó đã phải trả giá rất đắt nhưng đã có cơ hội ra nước ngoàị Trong khoảng 15 năm qua, chính thức cũng có thêm khoảng 35.000 du học sinh từ Việt Nam đi du học khắp nơi trên thế giới.

       Thời Phong Trào Đông Du, du học sinh hầu hết là con em những người tuy rằng nghèo nhưng có lòng với đất nước. Tuổi tác thì từ 9 đến trên 20, học lực thì không rõ ràng, không đồng đều, họ được gửi đi bằng cách trốn lánh, sống cực kỳ thiếu thốn, vất vả trên đất Nhật, thậm chí có người phải đi ăn xin... với mục đích rõ ràng là cố gắng học để về giúp nước.

       Ngày nay việc du học tương đối dễ dàng, hầu hết sinh viên đều nhắm tới các môn học thực dụng, nhưng không coi chuyện về giúp nước là quan tro.ng. Đa số sẽ ở lại nước ngoài vì hoàn cảnh đất nước chưa thuận tiện cho công việc cũng như vì thể chế độc tài, để rồi dần dần nhiều người lãng quên chuyện nước non, đi tìm sự sung sướng, hạnh phúc cho riêng bản thân!?

       Nói như thế hoàn toàn không có nghĩa là tác giả bài bác việc học, mà ngược lại luôn luôn đề cao việc học, vì có học mới biết làm. Về việc học, không những học ở trường mà còn học trong sách, qua truyền thông và nhất là ở ngoài đời. Tác giả chỉ muốn nói nội dung học thiếu quân bình và thiếu mục đích vì mình song song với vì người.

       Bàn về tính trọng hình thức thiếu thực dụng, giả thử nếu có vốn trong tay, người Việt làm gì?

1- Vốn tài chính.

       Người Việt đã học và sao chép gần như nguyên văn lối từ chương khoa cử của Trung Quốc, nhưng không học lối kinh doanh cần cù, chịu khó và rất tính toán của ho.. Vì vậy, vốn tài chính của người Việt xưa nay yếu kém vì đất nước chậm tiến, làm ăn cá thể, ít nghĩ tới chuyện làm sao để "tiền đẻ ra thật nhiều tiền". Phong Trào Duy Tân năm 1904 đã mạnh mẽ cổ động việc làm ăn chung bằng cách thành lập nông hội, thương hội nhưng xem ra mãi cho đến nay vẫn chưa được thực thi mấy.

       Nói chung, rất nhiều bậc cha mẹ sẵn sàng hy sinh, tiếp kiệm để dành tiền lo cho con ăn học. Nhưng cũng không ít người thích bề ngoài, có đồng nào là ăn chơi đồng đó cho chắc, đối với họ, dường như con đường đầu tư học hành quá gian nan mà lại xa vời, mơ hồ.

       Tài chính mà người Việt ở hải ngoại và người đi lao động gởi về cho thân nhân trong 30 năm qua là khoảng 50-60 tỷ Mỹ Kim tiền mặt. Số tiền ấy thường không đầu tư vào kỹ nghệ, mà lo xây nhà ở, lo mua sắm nên tư bản không tăng trưởng. Còn đầu tư nếu có thì thường là lo xây khu giải trí, mua máy móc về mở các dịch vu.... Nhà hàng xóm tân trang, lên cao tầng thì mình cũng ráng lo tiền để cất cao hơn, rộng hơn, tranh nhau "tiếng gáy" mà không tính tới nhu cầu, có thực sự cần dùng không, hay rồi để trống!? Một số người trong nước đang tay trắng, được thân nhân ở hải ngoại giúp tiền thì đâm ra ăn chơi, không biết vận dụng đồng tiền đó cho việc làm ăn lâu dài...

       Ngay người Việt sống ở hải ngoại, trong những xã hội thực dụng, nhưng vẫn còn nhiều người ôm nặng tinh thần ganh đua, hơn nhau cái nhà đẹp, cái xe mới...

2- Vốn kiến thức.

       Kiến thức khoa học của người Việt thường là thuần lý, cũng có khi được kể là rộng nhưng không sâu, nhất là không đem áp dụng. Ngay cả trong khoa học nhân văn cũng vậy, như khi người Việt học chữ Hán, dù là lên tới trình độ cao, thường đa số vẫn ở không học nói được tiếng Hoa, vẫn dừng ở trong phạm vi văn chương, thi phú không tiến sang văn xuôi (bạch thoại), không đưa vào thực dụng.

       Biết rành chữ Hán mà chỉ quanh quẩn với chữ nghĩa, câu đối... Có vốn chữ Hán quý giá mà không biết khai triển thành 3 chìa khóa quan trong:

                  a- Hiện tại: Giúp mở rộng giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia thuộc hệ chữ Hán như Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản và cả Hàn Quốc. (70% vốn đầu tư vào Việt Nam bây giờ là từ các quốc gia thuộc hệ chữ Hán)

                  b- Quá khứ: Giúp khai quật di sản Hán, Nôm bị bỏ quên, vẫn nằm ngủ trong các kho sách hay rải rác trong dân gian.

                  c- Tương lai: Giúp phiên dịch các thuật ngữ, mở đường thăng tiến và phổ cập các thuật ngữ khoa học tự nhiên cũng như khoa học nhân văn...

       Người Hoa đi đến đâu, họ học tiếng nơi đó, tuy phần đọc viết họ thường kém, nhưng nói được đủ để làm ăn buôn bán. Tới hầu hết các nhà hàng ăn cỡ trung nào của người Hoa trên thế giới cũng thấy có người nói được tiếng Việt nên người Việt vào gọi thức ăn dễ dàng, còn tiệm ăn Việt Nam thì không quan tâm chuyện nói tiếng Hoa. 

Trọng nội dung hay hình thức?

       Về vấn đề này, có thể tạm chia ra hai giới:

       - Một số người trong giới trí thức Việt thường có quan niệm trọng tinh thần hơn vật chất, trọng nội dung hơn hình thức, cho cuộc sống đạm bạc là đủ, bàn cãi nhiều hơn là bắt tay vào việc, xa rời thực tế nên không cố công làm việc để cải thiện cuộc sống.

       - Đa số người trong giới bình dân Việt thì không tìm hiểu sâu xa, dễ bị thu hút, lôi cuốn bởi những hình thức bề ngoàị Họ chậm chạp đi theo giới trí thức, nhưng nếu giới này không đưa ra điều gì mới lạ có lợi ích thực tiễn và trước mắt, thì họ lại càng cứ thế yên tâm mà đi theo lối mòn có sẵn.

       Nên nói chung cả hai giới không có những bước đột phá ngoạn mục. Cùng lắm là bắt chước nửa vời, một cách hình thức những điều học được từ bên ngoài... điều đó đã ảnh hưởng lớn, làm cản trở tiến độ phát triển của quốc giạ Các trào lưu văn hóa thời thượng về ăn mặc, âm nhạc... của Âu-Mỹ dễ dàng ảnh hưởng người Việt, nhưng về lối suy nghĩ, làm việc của họ đối với người Việt thì sự ảnh hưởng vẫn còn ở mức độ rất thấp.

       Người trọng hình thức thường ăn mặc mầu mè để khoe khoang, miệng lanh lợi nhưng thiếu thực chất. Thực ra ở mực độ nào đó, hình thức là cách che mắt và che dấu sự yếu kém bên trong.


- - - - -

       Để kết luận, chúng tôi xin mượn lời của anh Trọng Tín, một sinh viên du học Nhật Bản, luôn luôn trăn trở về tình hình đất nước, dân tộc như sau:

       "... Mặc dù đã độc lập về mặt chủ quyền song họ vẫn không hề nhận thấy rằng họ vẫn là một trong những dân tộc bị nô lệ bởi tư tưởng. Cuộc xâm lăng nô dịch của người Pháp tưởng rằng đã báo hiệu cho dân tộc những tư tưởng mới, tuy nhiên cho đến nay người Việt vẫn vùng vẫy, luẩn quẩn trong cái mớ tâm lý nô lệ hàng ngàn năm ấỵ Những nét thể hiện tiêu biểu nhất là:

          -  Tôn sùng và chạy theo "bằng cấp", "khoa bảng", hình thức chủ nghĩa.
          -  Sùng bái cá nhân và tâm lý ỷ lại trông chờ phép mầu nhiệm từ "các anh hùng cái thế" dẫn đến tâm lý nô lệ, không tự lực, tự cường, không tự phấn đấu vươn lên.

          -  Lười biếng trong việc suy nghĩ cải tiến phương pháp và đường lối lạc hậu dẫn đến bảo thủ trong tư duy và tự đào thải các cơ hội giao tiếp để học hỏị Từ đó tính thần vấn và tự vấn yếu, vì vậy tinh thần cách mạng không được phát triển.

          -  Cục bộ địa phương, tinh thần đoàn kết, tinh thần cộng đồng kém do xuất phát từ hình thức làm ăn đơn giản, nhỏ, lẻ.

          -  Tính sáng tạo yếu do tự hài lòng với cuộc sống vật chất tầm thường

          -  Dân tộc Việt Nam đang đứng trước những nguy cơ tụt hậu do hai điều:
                        + Những người đang lãnh đạo đất nước, phần lớn là những kẻ thiếu trình độ nên thường giáo điều, gian trá và mang tư tưởng nô lệ ngoại bang.

                        + Những người dân thì chưa tự vấn bản thân, vì chưa thoát khỏi tâm lý bảo thủ, cầu an, lười biếng, ỷ lại, cục bộ..."



                                                                                      DTM – 2006

     - - - - -

    
Chúng tôi dự trù viết loạt bài Tự Vấn gồm 10 đề tài, nay đã được 5 đề tài, sẽ tiếp tục viết và kính mong sự góp ý của tất cả quý độc giả.

TỰ VẤN   1: Người Việt Mạnh Yếu Chỗ Nào?                                               
TỰ VẤN   2: Vai Trò Văn Hóa Trong Phát Triển Quốc Gia                          
TỰ VẤN   3: Tại Sao Người Việt Hay Đi Trễ? Phải Giải Quyết Ra Saỏ                                  
TỰ VẤN   4: "Kết Đoàn" Mà Không "Đoàn Kết"!?                                        
TỰ VẤN   5: Trọng Từ Chương, Khoa Cử? Trọng Hình Thức?
TỰ VẤN   6: Tinh Thần Vị Kỷ!? Ganh Đua, Ganh Tỵ!?
TỰ VẤN   7: Tính Nói Dối, Quyết Định Liều, Giữ Lời!?
TỰ VẤN   8: Tính Cẩu Tha?? Nhìn Xa, Nghĩ Sâu?
TỰ VẤN   9: Tinh Thần Tự Tôn - Tự Ty, Vọng Ngoại!?
TỰ VẤN  10: Tìm Về Dân Tộc... Con Đường Canh Tân Đất Nước.

http://www.danviet.se/document/DTM/1/Tu%20Van%205%20TC-KC.htm
Đăng nhập để trả lời
0