KÍ HIỆU HỌC SO SÁNH - Một Danna
.
1. Tuy quan điểm của Saussure cho rằng « cái biểu hiện và cái được biểu hiện của kí hiệu là không thể tách rời » là sai lầm nhưng chúng ta vẫn phải công nhận rằng « kí hiệu gồm hai mặt là biểu hiện và được biểu hiện », vì đó là định nghĩa cho từ « kí hiệu ». Ở đây chúng ta bàn về « kí hiệu học so sánh » chứ không phải « kí hiệu học Saussure ».
.
Bản chất so sánh của kí hiệu
2. Ngôn từ, văn bản, hình ảnh, màu sắc, mùi, vị, âm thanh... đều là các dạng kí hiệu. Con người cảm nhận được các kí hiệu là bởi so sánh phân biệt chúng với nhau, chứ bản thân chúng không hề có cái tính chất nội tại nào.
3. Ta thấy chiếc xe chuyển động hay đứng yên không phải vì bản thân nó chuyển động hay đứng yên mà bởi chính ta so sánh hai khái niệm « chuyển động » và « đứng yên ». Ta giả sử rằng chiếc xe đang chết máy đứng cạnh đường gọi là A còn chiếc đang chạy băng băng trên đường là B. Nếu ta chọn hệ quy chiếu vật lí gắn với chiếc xe A thì chiếc xe B đang chuyển động. Còn nếu ta chọn hệ quy chiếu gắn với chiếc xe đang chuyển động so với Trái Đất (chiếc B) thì chiếc đang chết máy đứng yên (chiếc A), cũng như Trái Đất đang chuyển động trong hệ quy chiếu này. Vậy thì không có « chuyển động » hay « đứng yêu » nào hết, không có kí hiệu học tuyệt đối nào hết, chỉ có kí hiệu học so sánh, chỉ có khái niệm tương đối mà thôi.
4. Biết được « ghét » là vì « yêu », và ngược lại, hiểu được « yêu » là vì « ghét ». Cũng như vậy đối với các cặp khái niệm sáng-tối, dương-âm, trước-sau, sống-chết... Bản thân các khái niệm riêng biệt « yêu », « ghét », « sáng », « tối », « sống », « chết »... không có ý nghĩa gì cả, đó chỉ là các kí hiệu vô nghĩa. Cũng như Lục Tổ Huệ Năng nói rằng : « Sáng là cái nhân, tối là cái duyên, sáng dứt thì tối. Lấy cái sáng mà chỉ rõ cái tối; Lấy cái tối mà chỉ rõ cái sáng, qua lại đối nhau thì thành cái nghĩa trung đạo ». Vì một khái niệm bất kì chỉ được xác định nhờ một khái niệm khác nên nó chỉ là một ảo tưởng, nó luôn biến đổi khi ta so sánh nó với các khái niệm khác nhau. Ví dụ như khái niệm « sáng » sẽ có ý nghĩa khác nhau khi ta so sánh với các khái niệm « tối », « đen », « chiều », « mờ », « ngu »...
Tôi gọi đây là so sánh được-biểu-hiện của kí hiệu.
5. Khi xét một khái niệm trong cấu trúc ngữ pháp ta cũng có kết quả tương tự, rằng một kí hiệu không thể tự xác định được. Khi nói « tôi yêu X » hoặc « tôi ghét Y » tức là đã gắn khái niệm « yêu » và « ghét » với chủ thể và đối tượng tiếp nhận, và chỉ khi đó động từ « yêu » hoặc « ghét » mới có ý nghĩa, còn để nguyên động từ « yêu » và « ghét » tách bạch ra thì nó chẳng có ý nghĩa gì hết. Từ « yêu » được xác định ý nghĩa là vì được so sánh với từ « Tôi » và « X » (so sánh về mặt từ loại và vị trí trong câu). Hai khái niệm bất kì sẽ tạo ý nghĩa cho nhau nhờ mối quan hệ so sánh theo trục ngữ đoạn (syntagmatic, trục phân bố vị trí các đơn vị) và trục ngữ hình (paradigmatic, trục chọn lựa giữa các đơn vị cùng tập hợp). Cũng như vậy, khái niệm « ghét » được xác định nhờ so sánh với từ « Tôi » và « Y ». Đây là sự so sánh của kí hiệu trong cấu trúc ngữ pháp. Như vậy bản thân khái niệm không tồn tại, chỉ khi xét trong mối tương quan so sánh với các khái niệm khác trong cấu trúc ngữ pháp mà nó mới có ý nghĩa. Và ý nghĩa đó chỉ là giả tạo, bởi nó phụ thuộc vào các thành phần khác, ví dụ ý nghĩa của khái niệm « yêu » trong các câu sau khác hẳn nhau : « tôi yêu mẹ », « tôi yêu ma tuý », « tôi yêu tổ quốc », « tôi yêu cô ấy ». Chính vì phát hiện ra sự đánh lừa này của ngôn ngữ mà Lục Tổ Huệ Năng được trao y bát. Đó là khi Thần Tú làm bài kệ :
« Thân như cây Bồ đề
Tâm như đài gương sáng
Thường thường siêng lau quét
Ðừng để dính bụi trần! »
thì Huệ Năng phản bác lại rằng :
« Bồ đề vốn không cây
Gương sáng chẳng phải đài
Xưa nay không một vật
Chỗ nào dính trần ai? »
« Bồ đề » và « cây » vốn là hai khái niệm tách rời và không có tự tính nào hết, chỉ khi so sánh chúng trong mối quan hệ của cấu trúc ngữ pháp thì mới có ý nghĩa, và ý nghĩa này là giả tạo. Ví dụ như ta viết : « thân như cành bồ đề », hoặc « thân như cây lúa non », hoặc « xương người chất đống cao như cây bồ đề », hoặc « mang cây thuyền trượng đến cửa bồ đề »... thì từ « bồ đề » và từ « cây » lại có ý nghĩa khác.
Tôi gọi đây là so sánh biểu-hiện của kí hiệu.
6. Như vậy, dù xét kí hiệu theo mặt biểu hiện hay mặt được biểu hiện thì ta đều thấy rằng kí hiệu chỉ được xác định thông qua sự so sánh, và vì vậy các khái niệm là vô thường, là vọng tưởng.
Sau đây tôi sẽ phân tích một số biểu hiện cụ thể của kí hiệu học so sánh qua những ví dụ thực tế xảy ra trong cuộc sống. Ở đây tôi phát hiện ra hai biểu hiện, tạm gọi là Đảo Nghĩa và Lệch Pha
.
Đảo nghĩa
7. Trong thời gian đầu ở nước Nga tôi luôn bị nhầm lẫn giữa hai khái niệm « có » và « không » trong giao tiếp tiếng Nga. Có lần tôi không hiểu từ « медовуха» (một loại đồ uống gây men của Nga, nhẹ như rượu sake nhưng ngọt) là gì, tôi hỏi một người Nga, anh ta ngạc nhiên nói : « Вы не знаете что такое медовуха!? » (Anh không biết medovukha là gì sao !?). Tôi trả lời : « Да » (Đúng vậy). Anh ta lại càng ngạc nhiên hơn bởi đáng lẽ tôi phải trả lời rằng : « Нет, Я не знаю. » (Không, tôi không biết). Tôi trả lời « Đúng vậy » với ý nghĩa là không biết, trong khi đó người Nga hiểu rằng là tôi đã biết. Trường hợp tương tự xảy ra ở Hoa Kì với một người Nhật Bản trả lời câu hỏi : « Ông không đi chứ » (Didn’t you go) với tiếng « vâng » (yes) mà lại có nghĩa là « không » (no). Hoặc khi người Việt khi hỏi đường sẽ nói : « Chị có biết thư viện quốc gia nằm ở đâu không ? », trong khi đó người Nga sẽ hỏi rằng : « Вы не знаете где находится национальная библиотека? » (Chị không biết thư viện quốc gia nằm ở đâu không ?).
Ở trong các trường hợp trên, mặt được biểu hiện của ngôn từ bị đảo ngược khi ta xét trong một hệ quy chiếu của một ngôn ngữ. Người Nga nghĩ rằng người Việt nói sai, người Việt nghĩ rằng người Nga hiểu như vậy là không đúng. Người Việt sẽ không hiểu khi có người nói rằng : « Chị không biết thư viện quốc gia nằm ở đâu không ? », cũng như người Nga sẽ ngơ ngác trước câu hỏi : « Вы знаете где находится национальная библиотека? » Có thể bạn nghĩ rằng đó là do thói quen nói mỗi nơi một khác hoặc do cấu trúc ngữ pháp của các ngôn ngữ là khác nhau. Nhưng tôi thì cho rằng nguyên nhân của hiện tượng này không hề đơn giản như vậy.
Khái niệm « có » hay « không » không thể tự xác định, chúng chỉ được xác định khi có sự so sánh với nhau, chúng có vai trò tương đương nhau trong câu trả lời trước mọi loại câu hỏi. Kết quả chỉ một khái niệm sẽ được ta tiếp nhận và biểu hiện ra thành ngôn từ trong quá trình hành ngôn, còn cái kia chỉ là một bóng mờ, nó chỉ đóng vai trò so sánh cho cái được trực tiếp biểu hiện. Sở dĩ một cái được tiếp nhận và cái còn lại chỉ là một « cái bóng » là bởi con người đang tập trung vào một cái mà bỏ quên cái còn lại. Sự quên lãng một khái niệm là điều không thể tránh khỏi bởi ta không thể nào trả lời rằng « có không » hoặc « không có ». Vậy, chỉ có một khái niệm được chuyển thành biểu hiện, và ngôn ngữ bị thiếu sót và bất toàn một cách không thể tránh khỏi.
8. Dân gian ta có câu: « Ghét của nào trời trao của ấy » để muốn nói rằng rất khó xác định cái người ta ghét và cái người ta yêu, thậm chí không thể nào xác định được. Anh nói rằng anh ghét nhưng có thể đó chính là cái anh yêu. « Trời trao » ở đây không phải là cái mà anh phải nhận mà là cái anh tự quyết định nhận nhưng anh không hiểu tại sao anh lại quyết định như vậy, nên cho rằng đó là « trời định ». « Yêu » hay « ghét » không thể tự tồn tại, nó phải đi cặp với nhau, và chỉ có cách đó nó mới tồn tại. Khi con người có cảm giác « ghét » thì cảm giác « yêu » cũng xuất hiện luôn, nhưng tạm thời trong lúc đó, con người chỉ nghĩ đến « ghét » nên tưởng mình « ghét » cái đó. Đến một khoảnh khắc nào đó, vì một tác động nào đó, cái « yêu » được phát hiện và tiếp nhận. Vì vậy mà đối với cùng một đối tượng ta có hai cảm giác trái ngược nhau. Đó không phải lá sự mâu thuẫn mà bởi vì lòng phân biệt trong con người quá mạnh, nên tạm thời chỉ cảm nhận thấy một tính chất của đối tượng.
9. Vở kịch « Romeo và Juliette » là một minh chứng cho câu nói trên. Hai gia tộc Capulet và Montaigu tuy hận thù nhau, nhưng ngầm trong đó là tình yêu. Khi Romeo và Juliette chết cũng là lúc tình yêu giữa hai gia tộc được tiếp nhận, mặc dù truớc đó nó đã xuất hiện rồi nhưng chưa được nhận ra. Cái chết của đôi tình nhân là mắt xích quan trọng, giúp mọi người nhận ra lòng phân biệt mù quáng giữa tình yêu và hận thù, để từ đó đảo ngược mối quan hệ giữa hai gia tộc.
10. Trong cuộc đời mỗi người thể nào cũng có chuyện : ta nghĩ một đằng nhưng khi quyết định thì lại làm ngược lại. Bởi vậy mới có câu « nói một đằng, làm chằng một nẻo ». Nhiều người cho rằng đó là tính cách không kiên định hoặc khoác lác nhưng thực ra đó là chỉ là một biểu hiện bình thường của kí hiệu học so sánh.
11. Sau khi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua đời, một nhạc sĩ nào đó đã phát biểu với báo chí như sau : « Anh Sơn đã ra đi và tôi sẽ tiếp tục con đường của mình ». Câu nói xem ra chẳng có logic gì cả, « anh Sơn đã ra đi » thì có liên quan gì với « con đường của mình » cơ chứ ? Thực ra, nhạc sĩ này ít nhiều chịu ảnh hưởng phong cách nhạc Trịnh nên ý của anh ta là muốn tiếp tục con đường của Trịnh Công Sơn. Nhưng anh ta không muốn nói như vậy vì một phần sợ « phạm thượng », dám so sánh bản thân với Trịnh Công Sơn, phần khác lại muốn khẳng định giá trị riêng của mình nên rốt cục lại nói ngược lại với cái ý ban đầu của mình là : « Anh Sơn đã ra đi và tôi sẽ tiếp tục con đường của anh ». Ngữ đoạn «Con đường của mình » chỉ là một biểu hiện tức thời của cặp khái niệm « con đường của mình » và « con đường của anh », vốn luôn xuất hiện cùng nhau trong cuộc phỏng vấn này của nhạc sĩ đó.
12. Một chính trị gia nào đó đã phát biểu trên truyền hình trước khi một cơn bão lớn từ biển sắp đổ vào lãnh thổ của đất nước rằng : « Ngư dân phải vào bờ tránh bão, vào rồi không được ra, ra rồi phải vào ». Nhiều người sẽ cười mà nói rằng : đã « phải vào bờ tránh bão », thì sao cần phải « vào rồi không được ra », mà đã « không đuợc ra » rồi thì cần gì phải nói « ra rồi phải vào ». Tôi sẽ dùng kí hiệu hoc so sanh để giải thích vì sao chính trị gia đó lại rơi vào tình trạng đảo ý như vậy. Trong ý nghĩa của câu nói trên, hai khái niệm « vào » và « ra » luôn đi kèm với nhau, văn tự chỉ biểu hiện ra một khái niệm, cái còn lại tạm thời chưa được xem xét. Đoạn một tuy nói « phải vào bờ » nhưng thực ra nó cũng ẩn chứa « phải ra khơi ». Chính trị gia này là một người nhạy cảm, ông ta gần như xác định được ý nghĩa ẩn còn lại của ngữ đoạn này nên ông ta vội phản lại cái khái niệm « phải ra khơi » bằng ngữ đoạn thứ hai là « vào rồi không đuợc ra ». Trong đoạn thứ hai có từ « ra » ở cuối và vì thế ông ta cảm nhận khái niệm « ra » mạnh hơn khái niệm « vào ». Rốt cục phải nói đoạn thứ ba để xóa đi cái khái niệm « ra » đang xuất hiện trong đầu.
.
Lệch pha
13. Theo vật lí học, sở dĩ ta thấy màu sắc của vật chất là vì khi ánh sáng mặt trời chiếu vào vật chất, nó sẽ hấp thụ một phần năng lượng của ánh sáng, và phản xạ lại một phần năng lượng (hay một sóng) khác tới mắt ta. Tùy vào bước sóng của sóng phản xạ mà ta thấy được màu sắc của vật. Ánh sáng mặt trời (ánh sáng trắng) gồm bảy sóng (bảy màu) là : red, orange, yelow, green, blue, indigo, violet. Trong sách giáo khoa vật lí Việt Nam dịch bảy màu cơ bản đó là : đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím.
Trong mĩ thuật, ba màu đỏ, vàng, lam được coi là cơ bản. Ba màu cam (đỏ+vàng), lục (vàng+lam), tím (đỏ+lam) gọi là ba màu cơ bản bậc hai. Các màu sắc khác cũng từ ba màu cơ bản đỏ, vàng, lam mà ra.
Theo ngũ hành, năm màu cơ bản (ngũ sắc) là : xanh (thuộc mộc), đỏ (thuộc hỏa), vàng (thuộc thổ), trắng (thuộc kim), đen (thuộc thủy).
Số lượng bảy màu, ba màu, năm màu cơ bản chỉ là cách chia của mỗi giới một khác. Thực ra, tất cả các tia màu sắc mà một người bình thường nhìn thấy được đều ở trong một khoảng sóng (có bước sóng nhỏ hơn sóng hồng ngoại, lớn hơn sóng cực tím). Trong khoảng sóng đó, nếu ta chia thành bảy phần thì sẽ có bảy màu cơ bản, nếu chia thành ba phần thì sẽ có ba màu cơ bản, nếu chia thành một trăm phần thì sẽ có một trăm màu cơ bản, tuỳ vào khả năng phân biệt màu sắc của mỗi người. Bởi vì mắt người chỉ phân biệt rõ ràng đuợc một số nhóm màu sắc nên mới đặt ra khái niệm màu cơ bản để dễ phân chia, chứ thực ra không có màu nào là cơ bản cả. Ví dụ màu xanh là một màu cơ bản của ngũ hành, nhưng nó có thể chia ra thành nhiều sắc độ khác nhau như xanh nhạt, xanh nõn chuối, xanh đậm, xanh ngọc, xanh da trời... thậm chí màu lam cũng nằm trong nhóm màu xanh. Vậy trong từng ấy màu xanh, màu nào là cơ bản, màu nào là thứ cấp ?
Để định danh cho một dạng màu sắc giống với màu của biển lặng tiếng Việt gọi là « lam ». Khi một người Việt Nam sang Anh nghiên cứu tiếng Anh, anh ta thấy cái màu « lam » trong tiếng Việt giống cái màu mà người Anh gọi là « deep blue », và anh ta ghi vào trong từ điển rằng : « lam : deep blue ». Anh ta cũng nhận thấy rằng màu « blue » trong tiếng Anh chính là màu mà người Việt gọi là « xanh da trời », anh ta ghi vào trong từ điển là : « xanh da trời : blue ». Mặt khác, trong tiếng Việt, « lam » là một trong bảy màu vật lí cơ bản nhưng trong tiếng Anh thì vị trí đó thuộc về « blue ». Vậy thì trong hai màu : « lam » (deep blue) và « xanh da trời » (blue), màu nào là màu cơ bản ? Ta nhận thấy rằng, cái được biểu hiện trong các từ chỉ màu sắc của người Việt và người Anh không giống nhau.
Trong tiếng Nga có hai màu khác nhau là « голубой» (gần giống với màu xanh da trời) và « синий» (gần giống với màu xanh nước biển), nhưng bước sóng ánh sáng của hai màu này đều nằm trong vùng bước sóng ánh sáng màu « blue ». Khi nhìn lên bầu trời, người Anh nói là « blue sky », người Nga nói là « голубое небо ». Khi nhìn ra đại dương mênh mông người Anh nói là « blue ocean », nhưng người Nga nói « синий океан ». Còn người Việt Nam, sẽ nói là « bầu trời xanh » và « đại dương xanh » như người Anh, nhưng lại ngầm ý phân biệt như người Nga bởi trong tiếng Việt « xanh da trời » và « xanh nước biển » là hai màu khác nhau nhưng lại cùng là nhóm màu xanh.
Sự khác biệt về cách định danh màu sắc giữa các ngôn ngữ như các ví dụ trên tôi gọi là hiện tượng lệch pha.
14. Hiện tượng lệch pha là hiện tượng không đồng nhất giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện của kí hiệu học.
Các ví dụ về sự lệch pha ngôn ngữ khi so sánh hai ngôn ngữ khác nhau thì có nhiều, ví dụ như giá trị của từ « sheep » (cừu) trong tiếng Anh chẳng hạn hẹp hơn của từ « mouton » (cừu, thịt cừu) trong tiếng Pháp, bởi lẽ trong Anh ngữ còn có « mutton » để chỉ thịt con mouton trên bàn ăn. Bởi vì từ điển ghi rằng « голубой : blue », « sheep : mouton » trong khi đó cái được biểu hiện của chúng lại không giống nhau cho nên khi trao đổi với người nước ngoài sẽ dẫn tới sự sai khác về khái niệm. Từ điển không sai, nếu không có từ điển thì kết cục vẫn vậy thôi, bởi nguyên nhân của nó là bản chất tương đối của kí hiệu học, là do sự xác định khái niệm một cách chủ quan. Việc cảm nhận màu sắc vốn là tương đối thông qua so sánh giữa các màu cho nên xuất hiện sai lệch giữa các ngôn ngữ, dẫn đến hiện tượng lệch pha.
15. Các hiện tượng xã hội khi được định danh bằng ngôn ngữ thì cũng là những kí hiệu. Bởi vậy theo triết gia hậu cấu trúc luận M.Foucault, tình dục là một sản phẩm của diễn ngôn hơn là một điều kiện tự nhiên, và cũng giống như mọi hình thức diễn ngôn khác, tình dục chịu ảnh hưởng nặng nề của các quan hệ quyền lực trong xã hội; những ảnh hưởng ấy không phải chỉ ở những sự cấm đoán hay ức chế mà còn ở những sự cho phép và tạo nên những ý nghĩa mới cho hoạt động tình dục.
Những người quan hệ tình dục khác giới thì cho rằng cái được biểu hiện của « quan hệ tình dục » là sự va chạm giữa dương vật và âm hộ, nhưng những người đồng tính luyến ái thì cho rằng cái được biểu hiện của « quan hệ tình dục » là dương vật - dương vật hay âm hộ - âm hộ. Rõ ràng ở đây cùng một cái biểu hiện mà có hai cái được biểu hiện khác nhau. Đây không phải là đồng âm khác nghĩa mà là cái khái niệm và cái biểu hiện của từ không thống nhất với nhau trong quá trình hành ngôn. Vì không thống nhất như vậy nên không thể nói cái được biểu hiện (khái niệm) nào đúng với cái biểu hiện cả, không thể nói đồng tính luyến ái là một hiện tượng sai lạc, cũng như không thể nói « nước biển có màu xanh da trời » là sai.
16. Người ta lên án Hitler, Milosevic, Polpot là những tên diệt chủng dã man. Nếu xét theo kí hiệu học thì hiện tượng « giết hàng loạt một tộc người » được kí hiệu hóa vào từ « diệt chủng », tức là cái được biểu hiện của từ « diệt chủng » là giết hàng loạt một tộc người nào đó. Khi Truman ra lệnh thả bom nguyên tử xuống Hirosima và Nagasaki, giết chết hàng triệu dân thường trong khi quân đội Nhật sắp đầu hàng thì lại không coi đó là « diệt chủng », mà chỉ coi là một hành động chiến tranh thông thường. Trường hợp cũng tương tự khi Kissinger ra lệnh tàn sát nông dân làng Mĩ Lai ở Việt Nam. Cùng là khái niệm « giết hàng loạt một tộc người » nhưng lại có hai cách biểu hiện thành ngôn từ khác nhau : « diệt chủng » và « chiến tranh » (trong khi đó khái niệm của từ « chiến tranh » là « đối chọi quân sự hay quyền lực giữa hai bên »). Rõ ràng đây cũng là một trường hợp lệch pha. Và sự lệch pha tồn tại đầy rẫy xung quanh chúng ta.
.
Về nỗi khổ
17. Nếu coi toàn bộ thế giới này đều là sản phẩm của ngôn ngữ như các nhà hậu cấu trúc luận chứng minh thì trạng thái « khổ », điều mà các tôn giáo luôn tìm cách lí giải và xoá sổ, cũng không nằm ngoài tầm ảnh hưởng của kí hiệu học so sánh. Con người ta khổ là vì sân si, dục vọng, mê muội ? Là vì hậu quả do chính mình gây nên lúc trước ? Là vì có lỗi với Chúa nên bị trừng phạt ? Những quan điểm này đúng hay sai thì tôi không đủ khả năng và thẩm quyền để phán xét, ở đây tôi chỉ đưa ra cách lí giải của mình bằng kí hiệu học so sánh.
18. Theo kí hiệu học so sánh thì không có khái niệm « khổ », nó chỉ được xác định một cách tương đối khi ta so sánh nó với « sướng ». Một người sinh ra trong một gia đình nô lệ nhiều thế hệ, chỉ làm việc trong hầm mỏ mà không biết cuộc sống của những nhóm người khác thì anh ta cũng không biết rằng cuộc sống của anh ta là khổ sở theo như những người ngoài nhận xét. Một người sống trong tù từ nhỏ sẽ không biết thế nào là nỗi khổ của ngục tù như những người đến tuổi trưởng thành mới phạm tội rồi bị bỏ tù. Một người sống trong nhung lụa từ nhỏ, không bao giờ phải lao động thì sẽ không cảm thấy niềm sung sướng của người nông dân khi có tiền mua sắm trong kì nghỉ sau vụ mùa...
Một người sống trong căn nhà tồi tàn, vợ suốt ngày làu bàu chửi rủa, con nghiện hút, khi nhìn thấy người hàng xóm có nhà cao, vợ hiền đẹp, con cái thông minh thì anh ta sẽ so sánh và thấy mình khổ, người hàng xóm sướng. Một người trước đây sống trong gấm vóc, sau khi thời thế thay đổi, anh ta phải sống bằng cách lao động cực nhọc, tháng nhận mấy đồng lương cò con, thì sẽ thấy rằng trước đây mình sống sướng, bây giờ sống khổ. Nhưng một người trước đây không có nghề nghiệp, phải đi ăn xin, bây giờ lại có việc làm ổn định, mặc dù hàng tháng chỉ nhận mọt ít tiền lương nhưng anh ta vẫn thấy sướng hơn ngày trước...
19. Vậy làm gì có nỗi khổ nào đâu ? Nó chỉ là một vọng tưởng của kí hiệu học so sánh mà thôi !
.
Saint Petersburg 2007
Một Danna
.
Nguồn
http://blog.360.yahoo.com/blog-hjT7racnbq4Je9xTkSI8IslW?tag=suy-ng%E1%BA%ABm-tri%E1%BA%BFt-h%E1%BB%8Dc
.
1. Tuy quan điểm của Saussure cho rằng « cái biểu hiện và cái được biểu hiện của kí hiệu là không thể tách rời » là sai lầm nhưng chúng ta vẫn phải công nhận rằng « kí hiệu gồm hai mặt là biểu hiện và được biểu hiện », vì đó là định nghĩa cho từ « kí hiệu ». Ở đây chúng ta bàn về « kí hiệu học so sánh » chứ không phải « kí hiệu học Saussure ».
.
Bản chất so sánh của kí hiệu
2. Ngôn từ, văn bản, hình ảnh, màu sắc, mùi, vị, âm thanh... đều là các dạng kí hiệu. Con người cảm nhận được các kí hiệu là bởi so sánh phân biệt chúng với nhau, chứ bản thân chúng không hề có cái tính chất nội tại nào.
3. Ta thấy chiếc xe chuyển động hay đứng yên không phải vì bản thân nó chuyển động hay đứng yên mà bởi chính ta so sánh hai khái niệm « chuyển động » và « đứng yên ». Ta giả sử rằng chiếc xe đang chết máy đứng cạnh đường gọi là A còn chiếc đang chạy băng băng trên đường là B. Nếu ta chọn hệ quy chiếu vật lí gắn với chiếc xe A thì chiếc xe B đang chuyển động. Còn nếu ta chọn hệ quy chiếu gắn với chiếc xe đang chuyển động so với Trái Đất (chiếc B) thì chiếc đang chết máy đứng yên (chiếc A), cũng như Trái Đất đang chuyển động trong hệ quy chiếu này. Vậy thì không có « chuyển động » hay « đứng yêu » nào hết, không có kí hiệu học tuyệt đối nào hết, chỉ có kí hiệu học so sánh, chỉ có khái niệm tương đối mà thôi.
4. Biết được « ghét » là vì « yêu », và ngược lại, hiểu được « yêu » là vì « ghét ». Cũng như vậy đối với các cặp khái niệm sáng-tối, dương-âm, trước-sau, sống-chết... Bản thân các khái niệm riêng biệt « yêu », « ghét », « sáng », « tối », « sống », « chết »... không có ý nghĩa gì cả, đó chỉ là các kí hiệu vô nghĩa. Cũng như Lục Tổ Huệ Năng nói rằng : « Sáng là cái nhân, tối là cái duyên, sáng dứt thì tối. Lấy cái sáng mà chỉ rõ cái tối; Lấy cái tối mà chỉ rõ cái sáng, qua lại đối nhau thì thành cái nghĩa trung đạo ». Vì một khái niệm bất kì chỉ được xác định nhờ một khái niệm khác nên nó chỉ là một ảo tưởng, nó luôn biến đổi khi ta so sánh nó với các khái niệm khác nhau. Ví dụ như khái niệm « sáng » sẽ có ý nghĩa khác nhau khi ta so sánh với các khái niệm « tối », « đen », « chiều », « mờ », « ngu »...
Tôi gọi đây là so sánh được-biểu-hiện của kí hiệu.
5. Khi xét một khái niệm trong cấu trúc ngữ pháp ta cũng có kết quả tương tự, rằng một kí hiệu không thể tự xác định được. Khi nói « tôi yêu X » hoặc « tôi ghét Y » tức là đã gắn khái niệm « yêu » và « ghét » với chủ thể và đối tượng tiếp nhận, và chỉ khi đó động từ « yêu » hoặc « ghét » mới có ý nghĩa, còn để nguyên động từ « yêu » và « ghét » tách bạch ra thì nó chẳng có ý nghĩa gì hết. Từ « yêu » được xác định ý nghĩa là vì được so sánh với từ « Tôi » và « X » (so sánh về mặt từ loại và vị trí trong câu). Hai khái niệm bất kì sẽ tạo ý nghĩa cho nhau nhờ mối quan hệ so sánh theo trục ngữ đoạn (syntagmatic, trục phân bố vị trí các đơn vị) và trục ngữ hình (paradigmatic, trục chọn lựa giữa các đơn vị cùng tập hợp). Cũng như vậy, khái niệm « ghét » được xác định nhờ so sánh với từ « Tôi » và « Y ». Đây là sự so sánh của kí hiệu trong cấu trúc ngữ pháp. Như vậy bản thân khái niệm không tồn tại, chỉ khi xét trong mối tương quan so sánh với các khái niệm khác trong cấu trúc ngữ pháp mà nó mới có ý nghĩa. Và ý nghĩa đó chỉ là giả tạo, bởi nó phụ thuộc vào các thành phần khác, ví dụ ý nghĩa của khái niệm « yêu » trong các câu sau khác hẳn nhau : « tôi yêu mẹ », « tôi yêu ma tuý », « tôi yêu tổ quốc », « tôi yêu cô ấy ». Chính vì phát hiện ra sự đánh lừa này của ngôn ngữ mà Lục Tổ Huệ Năng được trao y bát. Đó là khi Thần Tú làm bài kệ :
« Thân như cây Bồ đề
Tâm như đài gương sáng
Thường thường siêng lau quét
Ðừng để dính bụi trần! »
thì Huệ Năng phản bác lại rằng :
« Bồ đề vốn không cây
Gương sáng chẳng phải đài
Xưa nay không một vật
Chỗ nào dính trần ai? »
« Bồ đề » và « cây » vốn là hai khái niệm tách rời và không có tự tính nào hết, chỉ khi so sánh chúng trong mối quan hệ của cấu trúc ngữ pháp thì mới có ý nghĩa, và ý nghĩa này là giả tạo. Ví dụ như ta viết : « thân như cành bồ đề », hoặc « thân như cây lúa non », hoặc « xương người chất đống cao như cây bồ đề », hoặc « mang cây thuyền trượng đến cửa bồ đề »... thì từ « bồ đề » và từ « cây » lại có ý nghĩa khác.
Tôi gọi đây là so sánh biểu-hiện của kí hiệu.
6. Như vậy, dù xét kí hiệu theo mặt biểu hiện hay mặt được biểu hiện thì ta đều thấy rằng kí hiệu chỉ được xác định thông qua sự so sánh, và vì vậy các khái niệm là vô thường, là vọng tưởng.
Sau đây tôi sẽ phân tích một số biểu hiện cụ thể của kí hiệu học so sánh qua những ví dụ thực tế xảy ra trong cuộc sống. Ở đây tôi phát hiện ra hai biểu hiện, tạm gọi là Đảo Nghĩa và Lệch Pha
.
Đảo nghĩa
7. Trong thời gian đầu ở nước Nga tôi luôn bị nhầm lẫn giữa hai khái niệm « có » và « không » trong giao tiếp tiếng Nga. Có lần tôi không hiểu từ « медовуха» (một loại đồ uống gây men của Nga, nhẹ như rượu sake nhưng ngọt) là gì, tôi hỏi một người Nga, anh ta ngạc nhiên nói : « Вы не знаете что такое медовуха!? » (Anh không biết medovukha là gì sao !?). Tôi trả lời : « Да » (Đúng vậy). Anh ta lại càng ngạc nhiên hơn bởi đáng lẽ tôi phải trả lời rằng : « Нет, Я не знаю. » (Không, tôi không biết). Tôi trả lời « Đúng vậy » với ý nghĩa là không biết, trong khi đó người Nga hiểu rằng là tôi đã biết. Trường hợp tương tự xảy ra ở Hoa Kì với một người Nhật Bản trả lời câu hỏi : « Ông không đi chứ » (Didn’t you go) với tiếng « vâng » (yes) mà lại có nghĩa là « không » (no). Hoặc khi người Việt khi hỏi đường sẽ nói : « Chị có biết thư viện quốc gia nằm ở đâu không ? », trong khi đó người Nga sẽ hỏi rằng : « Вы не знаете где находится национальная библиотека? » (Chị không biết thư viện quốc gia nằm ở đâu không ?).
Ở trong các trường hợp trên, mặt được biểu hiện của ngôn từ bị đảo ngược khi ta xét trong một hệ quy chiếu của một ngôn ngữ. Người Nga nghĩ rằng người Việt nói sai, người Việt nghĩ rằng người Nga hiểu như vậy là không đúng. Người Việt sẽ không hiểu khi có người nói rằng : « Chị không biết thư viện quốc gia nằm ở đâu không ? », cũng như người Nga sẽ ngơ ngác trước câu hỏi : « Вы знаете где находится национальная библиотека? » Có thể bạn nghĩ rằng đó là do thói quen nói mỗi nơi một khác hoặc do cấu trúc ngữ pháp của các ngôn ngữ là khác nhau. Nhưng tôi thì cho rằng nguyên nhân của hiện tượng này không hề đơn giản như vậy.
Khái niệm « có » hay « không » không thể tự xác định, chúng chỉ được xác định khi có sự so sánh với nhau, chúng có vai trò tương đương nhau trong câu trả lời trước mọi loại câu hỏi. Kết quả chỉ một khái niệm sẽ được ta tiếp nhận và biểu hiện ra thành ngôn từ trong quá trình hành ngôn, còn cái kia chỉ là một bóng mờ, nó chỉ đóng vai trò so sánh cho cái được trực tiếp biểu hiện. Sở dĩ một cái được tiếp nhận và cái còn lại chỉ là một « cái bóng » là bởi con người đang tập trung vào một cái mà bỏ quên cái còn lại. Sự quên lãng một khái niệm là điều không thể tránh khỏi bởi ta không thể nào trả lời rằng « có không » hoặc « không có ». Vậy, chỉ có một khái niệm được chuyển thành biểu hiện, và ngôn ngữ bị thiếu sót và bất toàn một cách không thể tránh khỏi.
8. Dân gian ta có câu: « Ghét của nào trời trao của ấy » để muốn nói rằng rất khó xác định cái người ta ghét và cái người ta yêu, thậm chí không thể nào xác định được. Anh nói rằng anh ghét nhưng có thể đó chính là cái anh yêu. « Trời trao » ở đây không phải là cái mà anh phải nhận mà là cái anh tự quyết định nhận nhưng anh không hiểu tại sao anh lại quyết định như vậy, nên cho rằng đó là « trời định ». « Yêu » hay « ghét » không thể tự tồn tại, nó phải đi cặp với nhau, và chỉ có cách đó nó mới tồn tại. Khi con người có cảm giác « ghét » thì cảm giác « yêu » cũng xuất hiện luôn, nhưng tạm thời trong lúc đó, con người chỉ nghĩ đến « ghét » nên tưởng mình « ghét » cái đó. Đến một khoảnh khắc nào đó, vì một tác động nào đó, cái « yêu » được phát hiện và tiếp nhận. Vì vậy mà đối với cùng một đối tượng ta có hai cảm giác trái ngược nhau. Đó không phải lá sự mâu thuẫn mà bởi vì lòng phân biệt trong con người quá mạnh, nên tạm thời chỉ cảm nhận thấy một tính chất của đối tượng.
9. Vở kịch « Romeo và Juliette » là một minh chứng cho câu nói trên. Hai gia tộc Capulet và Montaigu tuy hận thù nhau, nhưng ngầm trong đó là tình yêu. Khi Romeo và Juliette chết cũng là lúc tình yêu giữa hai gia tộc được tiếp nhận, mặc dù truớc đó nó đã xuất hiện rồi nhưng chưa được nhận ra. Cái chết của đôi tình nhân là mắt xích quan trọng, giúp mọi người nhận ra lòng phân biệt mù quáng giữa tình yêu và hận thù, để từ đó đảo ngược mối quan hệ giữa hai gia tộc.
10. Trong cuộc đời mỗi người thể nào cũng có chuyện : ta nghĩ một đằng nhưng khi quyết định thì lại làm ngược lại. Bởi vậy mới có câu « nói một đằng, làm chằng một nẻo ». Nhiều người cho rằng đó là tính cách không kiên định hoặc khoác lác nhưng thực ra đó là chỉ là một biểu hiện bình thường của kí hiệu học so sánh.
11. Sau khi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua đời, một nhạc sĩ nào đó đã phát biểu với báo chí như sau : « Anh Sơn đã ra đi và tôi sẽ tiếp tục con đường của mình ». Câu nói xem ra chẳng có logic gì cả, « anh Sơn đã ra đi » thì có liên quan gì với « con đường của mình » cơ chứ ? Thực ra, nhạc sĩ này ít nhiều chịu ảnh hưởng phong cách nhạc Trịnh nên ý của anh ta là muốn tiếp tục con đường của Trịnh Công Sơn. Nhưng anh ta không muốn nói như vậy vì một phần sợ « phạm thượng », dám so sánh bản thân với Trịnh Công Sơn, phần khác lại muốn khẳng định giá trị riêng của mình nên rốt cục lại nói ngược lại với cái ý ban đầu của mình là : « Anh Sơn đã ra đi và tôi sẽ tiếp tục con đường của anh ». Ngữ đoạn «Con đường của mình » chỉ là một biểu hiện tức thời của cặp khái niệm « con đường của mình » và « con đường của anh », vốn luôn xuất hiện cùng nhau trong cuộc phỏng vấn này của nhạc sĩ đó.
12. Một chính trị gia nào đó đã phát biểu trên truyền hình trước khi một cơn bão lớn từ biển sắp đổ vào lãnh thổ của đất nước rằng : « Ngư dân phải vào bờ tránh bão, vào rồi không được ra, ra rồi phải vào ». Nhiều người sẽ cười mà nói rằng : đã « phải vào bờ tránh bão », thì sao cần phải « vào rồi không được ra », mà đã « không đuợc ra » rồi thì cần gì phải nói « ra rồi phải vào ». Tôi sẽ dùng kí hiệu hoc so sanh để giải thích vì sao chính trị gia đó lại rơi vào tình trạng đảo ý như vậy. Trong ý nghĩa của câu nói trên, hai khái niệm « vào » và « ra » luôn đi kèm với nhau, văn tự chỉ biểu hiện ra một khái niệm, cái còn lại tạm thời chưa được xem xét. Đoạn một tuy nói « phải vào bờ » nhưng thực ra nó cũng ẩn chứa « phải ra khơi ». Chính trị gia này là một người nhạy cảm, ông ta gần như xác định được ý nghĩa ẩn còn lại của ngữ đoạn này nên ông ta vội phản lại cái khái niệm « phải ra khơi » bằng ngữ đoạn thứ hai là « vào rồi không đuợc ra ». Trong đoạn thứ hai có từ « ra » ở cuối và vì thế ông ta cảm nhận khái niệm « ra » mạnh hơn khái niệm « vào ». Rốt cục phải nói đoạn thứ ba để xóa đi cái khái niệm « ra » đang xuất hiện trong đầu.
.
Lệch pha
13. Theo vật lí học, sở dĩ ta thấy màu sắc của vật chất là vì khi ánh sáng mặt trời chiếu vào vật chất, nó sẽ hấp thụ một phần năng lượng của ánh sáng, và phản xạ lại một phần năng lượng (hay một sóng) khác tới mắt ta. Tùy vào bước sóng của sóng phản xạ mà ta thấy được màu sắc của vật. Ánh sáng mặt trời (ánh sáng trắng) gồm bảy sóng (bảy màu) là : red, orange, yelow, green, blue, indigo, violet. Trong sách giáo khoa vật lí Việt Nam dịch bảy màu cơ bản đó là : đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím.
Trong mĩ thuật, ba màu đỏ, vàng, lam được coi là cơ bản. Ba màu cam (đỏ+vàng), lục (vàng+lam), tím (đỏ+lam) gọi là ba màu cơ bản bậc hai. Các màu sắc khác cũng từ ba màu cơ bản đỏ, vàng, lam mà ra.
Theo ngũ hành, năm màu cơ bản (ngũ sắc) là : xanh (thuộc mộc), đỏ (thuộc hỏa), vàng (thuộc thổ), trắng (thuộc kim), đen (thuộc thủy).
Số lượng bảy màu, ba màu, năm màu cơ bản chỉ là cách chia của mỗi giới một khác. Thực ra, tất cả các tia màu sắc mà một người bình thường nhìn thấy được đều ở trong một khoảng sóng (có bước sóng nhỏ hơn sóng hồng ngoại, lớn hơn sóng cực tím). Trong khoảng sóng đó, nếu ta chia thành bảy phần thì sẽ có bảy màu cơ bản, nếu chia thành ba phần thì sẽ có ba màu cơ bản, nếu chia thành một trăm phần thì sẽ có một trăm màu cơ bản, tuỳ vào khả năng phân biệt màu sắc của mỗi người. Bởi vì mắt người chỉ phân biệt rõ ràng đuợc một số nhóm màu sắc nên mới đặt ra khái niệm màu cơ bản để dễ phân chia, chứ thực ra không có màu nào là cơ bản cả. Ví dụ màu xanh là một màu cơ bản của ngũ hành, nhưng nó có thể chia ra thành nhiều sắc độ khác nhau như xanh nhạt, xanh nõn chuối, xanh đậm, xanh ngọc, xanh da trời... thậm chí màu lam cũng nằm trong nhóm màu xanh. Vậy trong từng ấy màu xanh, màu nào là cơ bản, màu nào là thứ cấp ?
Để định danh cho một dạng màu sắc giống với màu của biển lặng tiếng Việt gọi là « lam ». Khi một người Việt Nam sang Anh nghiên cứu tiếng Anh, anh ta thấy cái màu « lam » trong tiếng Việt giống cái màu mà người Anh gọi là « deep blue », và anh ta ghi vào trong từ điển rằng : « lam : deep blue ». Anh ta cũng nhận thấy rằng màu « blue » trong tiếng Anh chính là màu mà người Việt gọi là « xanh da trời », anh ta ghi vào trong từ điển là : « xanh da trời : blue ». Mặt khác, trong tiếng Việt, « lam » là một trong bảy màu vật lí cơ bản nhưng trong tiếng Anh thì vị trí đó thuộc về « blue ». Vậy thì trong hai màu : « lam » (deep blue) và « xanh da trời » (blue), màu nào là màu cơ bản ? Ta nhận thấy rằng, cái được biểu hiện trong các từ chỉ màu sắc của người Việt và người Anh không giống nhau.
Trong tiếng Nga có hai màu khác nhau là « голубой» (gần giống với màu xanh da trời) và « синий» (gần giống với màu xanh nước biển), nhưng bước sóng ánh sáng của hai màu này đều nằm trong vùng bước sóng ánh sáng màu « blue ». Khi nhìn lên bầu trời, người Anh nói là « blue sky », người Nga nói là « голубое небо ». Khi nhìn ra đại dương mênh mông người Anh nói là « blue ocean », nhưng người Nga nói « синий океан ». Còn người Việt Nam, sẽ nói là « bầu trời xanh » và « đại dương xanh » như người Anh, nhưng lại ngầm ý phân biệt như người Nga bởi trong tiếng Việt « xanh da trời » và « xanh nước biển » là hai màu khác nhau nhưng lại cùng là nhóm màu xanh.
Sự khác biệt về cách định danh màu sắc giữa các ngôn ngữ như các ví dụ trên tôi gọi là hiện tượng lệch pha.
14. Hiện tượng lệch pha là hiện tượng không đồng nhất giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện của kí hiệu học.
Các ví dụ về sự lệch pha ngôn ngữ khi so sánh hai ngôn ngữ khác nhau thì có nhiều, ví dụ như giá trị của từ « sheep » (cừu) trong tiếng Anh chẳng hạn hẹp hơn của từ « mouton » (cừu, thịt cừu) trong tiếng Pháp, bởi lẽ trong Anh ngữ còn có « mutton » để chỉ thịt con mouton trên bàn ăn. Bởi vì từ điển ghi rằng « голубой : blue », « sheep : mouton » trong khi đó cái được biểu hiện của chúng lại không giống nhau cho nên khi trao đổi với người nước ngoài sẽ dẫn tới sự sai khác về khái niệm. Từ điển không sai, nếu không có từ điển thì kết cục vẫn vậy thôi, bởi nguyên nhân của nó là bản chất tương đối của kí hiệu học, là do sự xác định khái niệm một cách chủ quan. Việc cảm nhận màu sắc vốn là tương đối thông qua so sánh giữa các màu cho nên xuất hiện sai lệch giữa các ngôn ngữ, dẫn đến hiện tượng lệch pha.
15. Các hiện tượng xã hội khi được định danh bằng ngôn ngữ thì cũng là những kí hiệu. Bởi vậy theo triết gia hậu cấu trúc luận M.Foucault, tình dục là một sản phẩm của diễn ngôn hơn là một điều kiện tự nhiên, và cũng giống như mọi hình thức diễn ngôn khác, tình dục chịu ảnh hưởng nặng nề của các quan hệ quyền lực trong xã hội; những ảnh hưởng ấy không phải chỉ ở những sự cấm đoán hay ức chế mà còn ở những sự cho phép và tạo nên những ý nghĩa mới cho hoạt động tình dục.
Những người quan hệ tình dục khác giới thì cho rằng cái được biểu hiện của « quan hệ tình dục » là sự va chạm giữa dương vật và âm hộ, nhưng những người đồng tính luyến ái thì cho rằng cái được biểu hiện của « quan hệ tình dục » là dương vật - dương vật hay âm hộ - âm hộ. Rõ ràng ở đây cùng một cái biểu hiện mà có hai cái được biểu hiện khác nhau. Đây không phải là đồng âm khác nghĩa mà là cái khái niệm và cái biểu hiện của từ không thống nhất với nhau trong quá trình hành ngôn. Vì không thống nhất như vậy nên không thể nói cái được biểu hiện (khái niệm) nào đúng với cái biểu hiện cả, không thể nói đồng tính luyến ái là một hiện tượng sai lạc, cũng như không thể nói « nước biển có màu xanh da trời » là sai.
16. Người ta lên án Hitler, Milosevic, Polpot là những tên diệt chủng dã man. Nếu xét theo kí hiệu học thì hiện tượng « giết hàng loạt một tộc người » được kí hiệu hóa vào từ « diệt chủng », tức là cái được biểu hiện của từ « diệt chủng » là giết hàng loạt một tộc người nào đó. Khi Truman ra lệnh thả bom nguyên tử xuống Hirosima và Nagasaki, giết chết hàng triệu dân thường trong khi quân đội Nhật sắp đầu hàng thì lại không coi đó là « diệt chủng », mà chỉ coi là một hành động chiến tranh thông thường. Trường hợp cũng tương tự khi Kissinger ra lệnh tàn sát nông dân làng Mĩ Lai ở Việt Nam. Cùng là khái niệm « giết hàng loạt một tộc người » nhưng lại có hai cách biểu hiện thành ngôn từ khác nhau : « diệt chủng » và « chiến tranh » (trong khi đó khái niệm của từ « chiến tranh » là « đối chọi quân sự hay quyền lực giữa hai bên »). Rõ ràng đây cũng là một trường hợp lệch pha. Và sự lệch pha tồn tại đầy rẫy xung quanh chúng ta.
.
Về nỗi khổ
17. Nếu coi toàn bộ thế giới này đều là sản phẩm của ngôn ngữ như các nhà hậu cấu trúc luận chứng minh thì trạng thái « khổ », điều mà các tôn giáo luôn tìm cách lí giải và xoá sổ, cũng không nằm ngoài tầm ảnh hưởng của kí hiệu học so sánh. Con người ta khổ là vì sân si, dục vọng, mê muội ? Là vì hậu quả do chính mình gây nên lúc trước ? Là vì có lỗi với Chúa nên bị trừng phạt ? Những quan điểm này đúng hay sai thì tôi không đủ khả năng và thẩm quyền để phán xét, ở đây tôi chỉ đưa ra cách lí giải của mình bằng kí hiệu học so sánh.
18. Theo kí hiệu học so sánh thì không có khái niệm « khổ », nó chỉ được xác định một cách tương đối khi ta so sánh nó với « sướng ». Một người sinh ra trong một gia đình nô lệ nhiều thế hệ, chỉ làm việc trong hầm mỏ mà không biết cuộc sống của những nhóm người khác thì anh ta cũng không biết rằng cuộc sống của anh ta là khổ sở theo như những người ngoài nhận xét. Một người sống trong tù từ nhỏ sẽ không biết thế nào là nỗi khổ của ngục tù như những người đến tuổi trưởng thành mới phạm tội rồi bị bỏ tù. Một người sống trong nhung lụa từ nhỏ, không bao giờ phải lao động thì sẽ không cảm thấy niềm sung sướng của người nông dân khi có tiền mua sắm trong kì nghỉ sau vụ mùa...
Một người sống trong căn nhà tồi tàn, vợ suốt ngày làu bàu chửi rủa, con nghiện hút, khi nhìn thấy người hàng xóm có nhà cao, vợ hiền đẹp, con cái thông minh thì anh ta sẽ so sánh và thấy mình khổ, người hàng xóm sướng. Một người trước đây sống trong gấm vóc, sau khi thời thế thay đổi, anh ta phải sống bằng cách lao động cực nhọc, tháng nhận mấy đồng lương cò con, thì sẽ thấy rằng trước đây mình sống sướng, bây giờ sống khổ. Nhưng một người trước đây không có nghề nghiệp, phải đi ăn xin, bây giờ lại có việc làm ổn định, mặc dù hàng tháng chỉ nhận mọt ít tiền lương nhưng anh ta vẫn thấy sướng hơn ngày trước...
19. Vậy làm gì có nỗi khổ nào đâu ? Nó chỉ là một vọng tưởng của kí hiệu học so sánh mà thôi !
.
Saint Petersburg 2007
Một Danna
.
Nguồn
http://blog.360.yahoo.com/blog-hjT7racnbq4Je9xTkSI8IslW?tag=suy-ng%E1%BA%ABm-tri%E1%BA%BFt-h%E1%BB%8Dc