📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Hậu Liêu Trai Chí Dị - Vương Thao

19 trả lời, 3.057 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-31 23:10:15Ct.Ly>
Lời dẫn của người dịch
 
  Trước tiên xin nói về tác giả của Hậu Liêu Trai Chí Dị.
 
  Vương Thao sinh năm 1828, tức năm Quang Tự thứ 8 đời nhà Thanh, ở thôn Phủ Lí, ngoại thành Tô Châu. Lúc đầu có tên là Lợi Tân, tự là Lãn Kim. Sau này đến khi rời khỏi Hương Cảng mới lấy tên là Vương Thao, tự là Trọng Thao và Tử Chú, hiệu là Thiên Nam Độn Tẩu, Thao Viên Lão Dân (1).
 
  Năm mười tám tuổi, Vương Thao đi thi, theo kiểu thi khoa cử phong kiến của nhà Đại Thanh, và đậu tú tài thứ nhất. Sau đó có thi nữa nhưng không đậu cao hơn. Năm hai mươi hai tuổi, tới Thượng Hải, cộng tác với một tổ chức giáo hội nước Anh trong Mặc Hải thư quán, cả một thời gian dài, mười ba năm.
  Cuộc khởi nghĩa nông dân Thái Bình Thiên Quốc bùng nổ (2), Vương Thao quay về Tô Châu thăm mẹ bị bệnh nặng, lấy tên là Hoàng Uyển, Vương Thao gửi thư cho quân Thái Bình Thiên Quốc đóng ở Tô Châu, hiến kế sách, mượn quân đội nước ngoài để lấy Trung Nguyên từ tay triều đình nhà Thanh, và vạch cho Thái Bình Thiên Quốc kế hoạch đánh chiếm Thượng Hải.
 Sau khi triều đình nhà Thanh đánh bại Thái Bình Thiên Quốc ở Tô Châu, 1862 phát hiện ra lá thư này của Vương Thao, bèn ghép Vương Thao vào tội thông tặc. Và phát lệnh truy nã trong toàn Trung Hoa thuộc triều đình nhà Thanh. Vương Thao chỉ còn cách chạy trốn, vì với tội này, nếu bị bắt, án tử hình là chắc chắn cho Vương Thao. Tháng tám năm đó, được sự giúp đỡ của người Anh, Vương Thao trốn vào tô giới của người Anh, Hương Cảng tị nạn.
 
  Năm 1867, Vương Thao theo một người bạn Anh sang Châu Âu. Cùng một người Anh khác phiên dịch các sách kinh điển của Trung Quốc sang tiếng Anh, và dành thời gian du lịch khắp Anh, Pháp, Nga...Năm 1874, tức niên hiệu Đồng Trị thứ 13, Vương Thao trở về Hương Cảng, xuất bản Tuần hoàn nhật báo, với tư cách chủ nhiệm. Tôn chỉ của Tuần hoàn nhật báo là tuyên truyền cho tinh thần tự cường cùng đề ra những biện pháp để thực hiện có hiệu quả tinh thần đó. Chủ trương thay đổi thi cử, chuyển hướng giáo dục, cải cách quân đội, cách tân luật pháp, cụ thể là thành lập nghị viện, mở rộng buôn bán, khai thác khoáng sản, xây dựng hệ thống đường sắt, đóng tàu thuyền....Phương châm đúc kết ngắn gọn là : Thủ Tây phương chi cường, bổ ngã chi đoản. Lấy cái mạnh của phương Tây để bổ sung cho cái yếu của ta.
 
  Năm 1879,Vương Thao đi du lịch Nhật Bản. Năm 1884, Vương Thao trở về Thượng Hải, lúc này là niên hiệu Quang Tự năm thứ chín. Vương Thao mở Cách Trí thư viện, dựng Thao Viên ở phía tây Vu Thành, và viết sách, viết báo làm vui.
 
  Vương Thao qua đời năm 1896. Hai năm sau, 1898, thì xảy ra Mậu tuất chính biến (3). Kết quả này không nhiều thì ít có những đóng góp về tinh thần của Vương Thao.
 
  Vương Thao hiểu biết uyên bác, lịch duyệt ít người bằng. Khối lượng sáng tác rất lớn, và nhiều thể loại : chính luận, thơ từ, du kí, tiểu thuyết....Những năm ở Thao Viên, Vương Thao tự mình biên tập các trước tác của mình thành Thao Viên trước thuật tổng mục. Mười hai loại đã in rồi, và hai mươi tư loại chưa in. Phổ biến rộng và ảnh hưởng lớn hơn cả thì có : Thao Viên văn lục ngoai biên, Thao Viên xích độc, Hạnh Hoa quán thi lục, Tuần quật lan ngôn, và trên hết Hậu Liệu Trai chí dị.
  Hậu Liêu Trai chí dị vốn có tên là Tùng ẩn mạn lục (4), được viết trong những năm cuối dời ở Thượng Hải. Lúc đầu là từng truyện một, đăng trên Thân Báo. Mỗi kỳ một truyện với tranh minh hoạ, kéo dài trong thời gian từ nửa sau 1884, cho đến nửa đầu năm 1887. Sau đó tác giả tập hợp in thành sách, với tranh minh hoạ của các hoạ sĩ Ngô Hữu Như, Điền Anh. Vì vậy sách mới có tên đầy đủ là Hội đồ Hậu Liêu Trai chí dị.
  Trong lời tựa tự viết của Vương Thao cho Hậu Liêu Trai chí dị, tác giả cũng đã nói rõ : Nhớ lại những chuyện cách đây ba mươi năm trở lại, vừa ngạc nhiên, vừa hoảng hốt, nhặt tuỳ hứng mà ghi chép lấy một phần mười thôi. Như vung lên đống bụi cũ, dấy lại mối hận xưa, mực tuôn thống thiết, chẳng khác gì nước mắt chảy tràn..
  Sự giống nhau của Hậu Liêu Trai chí dị, với Liêu Trai chí dị là tất yếu, về nhiều phương diện : thái độ bất mãn, tính chất phê phán tố cáo xã hội...Nhưng ngay ở điểm cơ bản này, sự khác nhau khá lớn, lẽ chính là hai thời đại khác nhau quá nhiều, tuy nhìn ra thì chỉ đầu Đại Thanh và cuối Đại Thanh mà thôi. Nhưng một đầu là nhà Thanh khá vững vàng, chắc chắn của hoàng đế Khang Hỉ, Càn Long. Còn một bên là nhà Đại Thanh phản động, với những hoàng đế Đồng Trị, Quang Tự yếu hèn...không thể chống đỡ nổi những Thái Bình Thiên Quốc và liên quan tám nước phương Tây...
  Về đề tài thì sự khác nhau ở chỗ, phạm vi của Bồ Tùng Linh đa dạng hơn, còn Vương Thao chỉ tập trung trong phạm vi yên hoa phấn đai chi sự, trai tài gái sắc, trong một dung lượng mà chênh lệch mỗi truyện không lớn. Sự giống nhau về cốt truyện, chi tiết, cách diễn đạt, từ ngữ cũng là một điều dễ nhận. Nhưng nên nhìn nhận ở đây có hai mặt, mặt ảnh hưởng không thể tránh khỏi và mặt ảnh hưởng cố ý, để nhắc người đọc tác giả Hậu Liêu Trai chí dị này là truyền nhân ý bát của Bồ Tùng Linh. Tất nhiên, ảnh hưởng loại trên có tính chất quyết định. Người đọc có thể tìm ra những minh chứng này một cách dễ dàng...Trong một chừng mực nhất định, so với đội ngũ những tác phẩm được xếp vào loại hậu, tục, tái, trai...Liêu Trai chí dị, thì Vương Thao cũng là người thành công hơn cả chăng, xứng đáng là kế tục Bồ Tùng Linh chăng? Xin để người đọc tự đánh giá vậy!
 
  Cuối cùng, xin nói những nét cơ bản về bản dịch Hậu Liêu Trai chí dị này.
  Toàn bộ Hậu Liêu Trai chí dị có mười hai quyển, cộng tất cả là 121 truyện. Bản dịch này là bản dịch đầu tiên của Hậu Liêu Trai chí dị ở Việt Nam. Chúng tôi chọn dịch 41 truyện. Cố gắng được những truyện tiêu biểu. Trong tác phẩm của Vương Thao, có hai tác phẩm được viết theo thể văn ngôn, đấy là Tuần quật lan ngônHậu Liêu Trai chí dị. Bản chúng tôi dùng để dịch là một trong nhiều bản đã được dịch ra bạch thoại bởi Lí Hiểu Minh, Khang Tố Quyên, Khấu Quân Phong, của Nhà xuất bản Tam Tần xuất bản xã, ở thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây. Điều này rõ ràng là một thuận lợi với người dịch. Chúng tôi cố gắng dung hoà giữa hai cách diễn đạt, giữ được phong cách cổ kính của văn chương phong kiến Trung Hoa văn ngôn, nhưng cũng hiện đại hoá vừa phải để bạn đọc hiện nay của Việt Nam ta dễ chấp nhận. Mặc dù điều này đã được bản dịch bạch thoại làm một phần khá cơ bản.
  Bản chữ Hán không có chú thích, chúng tôi cố gắng thêm phần này, không chú thích những điểu thông thường, chỉ chú thích một lần. Cố ngắn gọn. Thứ tự các truyên, theo đúng nguyên tác. Thiếu sót là điều không thể tránh, mong được lượng thứ và chỉ giáo. Hy vọng gặp lại độc giả ở một Hậu Liêu Trai chí dị toàn tập (5)!
  Người dịch : Lê Văn Đình
 
 
-----------------------------
Chú thích :
1. Thiên Nam Độn Tẩu : Ông già chạy trốn về trời nam, chỉ việc Vương Thao phải lánh vào Hương Cảng để tránh truy nã của triều đình Đại Thanh.
  Thao Viên Lão Dân : Người dân già ở trong Vườn Thao. Chữ Thao, nguyên nghĩa chính là túi đựng gươm đựng cung, từ đó chỉ phép hoặc tài dùng binh, người có tài năng.
2. Thái Bình Thiên Quốc : Cuộc khởi nghĩa nông dân có quy mô toàn quốc của thời nhà Thanh, từ 1843 đến 1864, do Hồng Tú Toàn lãnh đạo, nhằm lật đổ nhà Thanh và đánh đuổi các nước phương Tây xâm lược.
3. Mậu tuất chính biến : Cuối thế kỉ XX, giai cấp tư sản tiến bộ vận động duy tân..Từ Hi thái hậu, phát động chính biến, 1898 mậu tuất, bắt giết Đàm Tự Đồng...truy nã Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu..Duy tân thất bại...
4. Tùng ẩn mạn lục : Những ghi chép lan man trong thời gian ẩn dật bên sông Tùng. Tùng là tên sông, bắt nguồn từ Thái Hồ tỉnh Giang Tô, chảy về Thượng Hải, hợp lưu với sông Hoàng Phố, ra biển ở cửa Ngô Tùng, nên cũng gọi là sông Ngô Tùng. Cũng dùng để chỉ thượng Hải.
5. Tài liệu chính dùng để viết Lời dẫn của người dịch :
- Tự ngôn, của Vương Chí Vũ.
- Từ hải, bản in năm 1996, của Thượng Hải từ thư.
- Từ nguyên, bản in 1997, của Thương vụ ấn thư quán, Bắc Kinh xuất bản. 
Beautiful things happen when you love someone.
Đăng nhập để trả lời
0
Lời tựa của tác giả
  Lẽ lớn của lục hợp (1) hiện hữu không cần luận bàn, ngoài cửu châu không có gì để kê cứu. Cái mắt nhìn thấy, tai nghe được, có hình có sắc nên có thể ghi chép. Vũ trụ thì vô cùng, mà hiểu biết của người ta thì hữu hạn.
  Nhớ xưa, vua Hạ Vũ đúc cửu đỉnh để làm tượng hình cho núi sông, chỉ tiếc những dấu vết đó không còn đến nay. Có người bảo có những văn từ về Hạ Vũ, Bá Ích, ghi chép trong Di Kiên Chí (2) đều từ chính sách Sơn hải kinh (3). Nhưng nay theo bước chân của người phương tây, đi khắp đầu sông, đỉnh núi, đội trời đạp đất viết lách vẽ vời, thì không có gì khác lạ cả. Nhưng kì hình, quái trạng đều không đáng tin.
  Hãy lấy tỷ dụ : Long li quy phượng. Trung Quốc gọi là tứ linh, nhưng theo người phương tây, trong các lòai có lông mao, thì không có con nào là con lân, trong các loài có lông vũ thì không có loài nào là con phượng, trong các loài có vảy, không có loài nào là con rồng. Điều này thể hiện rất rõ ở Trung Quốc, thời cận đại, những con vật này đâu thấy xuất hiện. Hay trước nữa thì có mà nay không chăng?
  Ngày xưa rùa thần là tượng trưng cho vũ khí quý báu bảo vệ đất nước, nay thì lại cho là con vật ngu ngốc, không linh thiêng gì. Thế thì có phải rùa xưa và rùa nay khác nhau chăng? Điều này thì câu trả lời rất rõ ràng. Nói chuyện thần tiên quỷ quái, thì ở phương nam có ngũ thông (4), phương bắc thì có hồ li tinh. Thiên hạ có thần tiên không, Hán Vũ Đế nói một lời, có thể phá tan. Thánh nhân đem thần đạo ra để thuyết giáo, chẳng qua là để dạy dỗ kẻ ngu si. Chỗ sáng thì có vương pháp, chỗ tối thì có quỷ thần, để rồi từ đó mà giữ cái quyền phán thiện ác, thưởng phạt, khuyên răn, khích lệ. Huống chi làm những chuyện xấu xa dâm dục như ngũ thông, nghe đã phẫn uất mà vẫn tồn tại giữa thanh thiên bạch nhật, thì thật chỉ khiến chỉ là chuyện lạ lùng trong tuần hoàn.
  Hồ li là một loại thú, sao lại có thể biến hóa thành người, có thể làm bao chuyện quái dị? Hồ li trong hang, có hẳn một thế giới riêng. Điều này thì người tây phương không tin. Lời nói suông sao có thể thắng thực tế? Hoặc phương tây không có, mà Trung Quốc thì có chăng? Nhân tâm phong tục thì còn có thể tin được. Đúng như Hàn Xương Lê (5) nói : "Người đời nay chỉ thích nghe chuyện quái." cũng có thể chấp nhận. Nhưng trong thực tế, người tây phương giỏi kĩ thuật, tạo ra các máy móc, đo trời cao, ước đất rộng, tính núi cao biển sâu, tạo ra thuyền tàu, xe cộ. Khống chế sấm sét, lợi dụng sức gió sức nước, sức lửa, khơi sông, bạt thác. Điện tín truyền đi, một khắc nghìn dặm. Cái tinh diệu của hóa lí, một khoảnh vạn biến, chẳng khác gì thần thánh ma quỷ biến hóa, không thể bàn cãi. Ngồi mà nói, dậy mà làm, lợi cho dân, ích cho nước, thật rõ ràng rực rỡ. Không làm những điều này, lại đi bàn những chuyện viễn vông, mịt mù không thể tra xét, liệu có phải là làm những việc phù phiếm, với một tinh thần hoang đường không đây!
  Ôm chí lớn kinh bang tế thế, không chịu hạ thân làm những việc bọt bèo, thực sự cầu thị, không muốn thành một người vô ích, ngay từ lúc thiếu thời. Nhà nho theo quan niệm xã hội, không hư ngụy, viển vông, cuồng phóng, thì xuất cũng chẳng có thể phù nguy, phó khốn. Tự huyễn hoặc mình, chẳng biết một việc cho nên hồn, mà tự nhiên nhi nhiên cho là đủ mọi hiểu biết rồi. Đến khi phải xuống nước, mới biết mình không bơi được. Giặc đến nhà, không một tấc sắt, giữa chốn bình địa mà như thành trì. Nghìn vạn không được một hai.
  Ô hô, cậy mình chí lớn, tài cao, nhưng khi gặp thời thế đảo điên, một sớm lâm trận, một lần gặp biến, mơ mơ màng màng, không biết tay chân đặt đâu, thậm chí thân bại danh liệt để cười cho hậu thế. Huống chi thời thế hiện tại ngày càng nhiễu nhương, cũng không phải mới ngày một ngày hai. Ngay thân tôi, lòng thì thẳng mà đường thì cong, thân thì ngay mà thế thì cùng, gan dạ thì có mà giao lưu bè bạn thì không, chí thì cao ngạo nhưng việc thì cùng. Nhưng rồi cùng khốn thì lòng thông suốt, rườm rà mà nghĩ ngợi rành rọt, thế mà cuối cùng vẫn chẳng đến được ước nguyện. Vào núi thì gặp hang sâu, vào rừng mờ mịt không lối ra. Đề rồi thân hình thì tiều tụy, tinh thần thì phẫn uất, oán hận. Chỉ còn cách gửi mọi sự vào chữ nghĩa. Cầu ở Trung Quốc không được thì tìm kiếm xa xôi hơn nữa, nơi dị vực hoang nguyên, cầu ở đương đại không được thì tìm ở quá khứ, tưởng ở vị lai, một trăm năm không được thì một nghìn năm. Cầu người đồng loại, đồng thể cũng không thể được, thôi thì phải cầu quỷ hồ tiên phật thảo mộc điểu thú. Chẳng khác gì xưa Khuất Nguyên gặp đường cùng phải gửi sầu thương vào người đẹp cỏ thơm. Trang Chu làm người trông vườn sơn, phải gửi chí vào những chuyện hoang đường. Đông Phương Mạn Thiến chí ngụ trong các truyện hoạt kê. Vì thế mà có Thập Châu, Động minh. Tôi trước đây cũng đã viết Độn quật lan ngôn. Là kết quả của những ngày trốn tránh cùng quẫn ở phương nam. Nay thì mệt mỏi quay về, trú trong một túp lều trên bến Xuân Thân. Ba gian nhỏ, vui với sách vở tranh chữ. Khác gì chim én trong cái tổ nhỏ, tránh nắng che mưa nhiều lúc tưởng không sống nổi. Còn đâu có được tâm trạng vui vẻ vô tư. Chủ nhân Tôn Văn Các nhiều lần yêu cầu viết một cái gì đó để có thể đưa in. Thôi cũng chiều lòng vậy!
  Cho nên khi rượu cặn, trà nhạt, lò hương thôi khói, đèn tàn trời rạng, vội lấy giấy bút, nhớ lại những chuyện cách đây ba mươi năm trở lại, vừa ngạc nhiên vừa hoảng hốt, nhặt tùy hứng mà ghi chép lấy một phần mười thôi. Như vung lên đống bụi cũ, dấy lại mối hận xưa, mực tuôn thống thiết, chẳng khác từng giòng nước mắt chảy tràn. Bản thảo vừa khô, gọi thư kí sao lại, nhờ các bật quảng bác duyệt qua, ai cũng đập bàn mà khen hay tuyệt! Lại mời họa sĩ giỏi, theo truyện mà vẽ thành tranh, đem trình chánh giữa làng văn. Trước sau nhiều thêm, cộng tất cả là mừơi hai quyển, lấy tên là Tùng ẩn mạn lục, cũng gọi là Hậu Liêu Trai chí dị.
  Ô hô! Tôi từ sau những trốn tránh ở phương nam, quay về sống trong một túp lều ở Tùng Bắc, lúc thì lang thang trong những vườn hoa bỏ hoang ở sườn tây, khi thì tìm đến những biệt thự đổ nát ngoại cửa đông, nhiều khi lạc không tìm thấy đường về. Cũng là để thỏa lòng vui với cảnh núi rừng tĩnh mịch, có thể hoàn thành những trang viết của mình coi như một loại đất tức nhương (6). Người đời đọc sách này của tôi, cũng giống như Tín Lăng quân được trong thấy rượu ngon cùng mĩ nhân vậy (7)!.
Quang Tự năm thứ 10, tuần thứ hai, tháng 5 giáp thân, ở Tùng Bắc Dật Dân Vương Thao tự đề tựa (8).
 
 
 
-----------------------------
Chú thích :
1. Lục hợp : Chỉ trời đất và tứ phương. Trang Tử, Tề vật luận : Lục hợp chi ngoại, thanh nhân tồn nhi bất luận. Ngoài lục hợp ra, thánh nhân cho rằng có tồn tại nhưng không bàn tới. Lí Bạch, Cổ phong viết : Tân Vương tảo lục hợp, Vua Tần quét lục hợp...
2. Di Kiên Chí : tên sách , do Hồng Mại, người đời Tống soạn, ghi chép thần thoại, chuyện thần thánh, ma quỷ, phong tục dân gian...tiểu thuyết chí quái Lục triều. Hiện còn 26 quyển, chỉ khoảng một nửa. Từ nguyên...
3. Sơn hải kinh, hiển còn 18 quyển, theo truyền thuyết nói vua Hạ Vũ, Bá Ích làm nhưng không đáng tin. Sách kể về sông núi, phong tục, tế tự, quái dị, thần thoại...
4. Ngũ thông : Thần, có năm vị, cũng gọi là Ngũ Thánh, Ngũ hiển linh công, Ngũ lang thần. Có từ Đường Tông, ở vùng phía nam. Sách Di Kiên Chí trên cũng đã chép..
5. Hàn Xương Lê : 768 - 824, người đất Nam Dương, đời Đường, đậu tiến sĩ. Can Đường Hiến Tôn đón xương Phật nên bị đầy đi Triều Châu. Một trong Đường Tôn bát đại gia.
6. Tức nhương : Theo truyền thuyết cổ đại tên một loại đất đẻ rất nhanh. Theo Sơn Hải kinh, Dao ăn cắp đất này của thượng đế để trị nạn hồng thủy.
7. Tín Lăng Quân : Tên Ngụy Vô Kị, em khác mẹ với vua Ngụy An Li Vương. Nhà chứa ba nghìn thực khách. Nhờ Như Cơ trộm binh phù, giết Tấn Bỉ cứu được Triệu. Vua Ngụy sợ, không dùng, chết trong tửu sắc.
8. Quang Tự thứ 10 : Niên hiệu của Thánh Đức Tông, ở ngôi từ 1875 đến 1909. Vậy năm thứ 10 là năm 1885.
Beautiful things happen when you love someone.
Đăng nhập để trả lời
0
Lưỡi chủy thủ của Hứa Ngọc Lâm
  Hứa Lâm, tự Ngọc Lâm, sinh ra trong một gia đình quan lại, quý tộc dòng dõi, đời này sang đời khác sinh sống ở thành Dương Châu. Mẹ là người Triết Giang. Trước khi sinh Ngọc Lâm, mộng thấy một con chim én có bộ lông màu trắng toát như bạc, bay vào lòng, nhưng bất ngờ gẫy cả đôi cánh. Trong nhà ai cũng cho rằng điềm không lành.
  Ngọc Lâm lớn lên, thân hình cân đối, khuôn mặt khôi ngô, tính tình hoạt bát, bao dung, học hành vô cùng thông minh, liếc mắt đọc xong mười hàng sách, làm thơ, điền từ (1) đều làu thông. Nhưng trong lòng lại không ham thích chuyện văn chương mà chỉ say mê múa kiếm, luyện võ. Ngọc Lâm có được một thanh chủy thủ, nguồn gốc Phù Tang (2), ánh thép sáng ngời, sắc như nước, chặt sắt như chặt bùn. Lúc nào cũng đeo kín trong người, không để cho người ngoài trông thấy bao giờ.
  Một buổi tối, Ngọc Lâm uống rượu ở nhà bạn trở về nhà, đêm đã khuya, trăng sắp lặn cuối chân trời, một vài vì sao le lói trong đêm, đường đi qua một cánh rừng hoang, nên không trông được những gì chung quanh, nhưng Ngọc Lâm không chút sợ hãi. Bỗng một luồng kiếm khí từ trên ngọn cây cao ven đường phóng xuống, không khác gì một vệt sao băng. Ngọc Lâm vội né tránh, rút chủy thủ phóng ra đối địch. Cả hai luồng kiếm khí tạo thành một vừng sáng rõ trong đêm. Một màu trắng của chủy thủ, một màu vàng của một trường kiếm thì phải. Nhưng màu vàng ở thế thượng phong, Ngọc Lâm biết không thể đối địch, vội thu kiếm quang, bỏ chạy. Nhưng luồn kiếm quang màu vàng vẫn không chịu bỏ cuộc, đuổi sát sau Ngọc Lâm. Nhưng hình như không còn ý định hạ thủ đối phương nữa!
  Chạy được một quãng đường trên một dặm, Ngọc Lâm thấy bên đường xuất hiện một dinh thự. Ngoài cổng lớn, hai bên mỗi bên một con sư tử bằng đá nằm oai vệ. Ngọc Lâm vội đập cổng, người gác xuất hiện, hỏi nguyên do. Ngọc Lâm nói rằng mình lạc đường trong cảnh đêm tối giữa rừng.
  Người gác dẫn Ngọc Lâm vào bên trong, rồi đưa vào nhà lớn. Một vị tướng mạo đườg đường, mặc sắc phục võ quan, râu tóc bạc trắng, đứng dậy đáp lễ. Chủ nhân tự xưng họ Tiêu, giữ chức tổng đốc.
  Ngoài hiên của sảnh lớn này có những giá treo cắm đầy các loại vũ khí. Ánh thép của chúng khiến lạnh người. Ngọc Lâm như bị hút vào trong những hào quang này, không rời mắt. Chủ nhận ra, cười hỏi :
- Khách cũng ham mê những thứ binh khí này sao?
Ngọc Lâm không chối :
- Tiểu sinh quả rất biết giá trị của những của quý này!
Nói rồi, Ngọc Lâm lấy trong người thanh chủy thủ của mình đưa cho chủ nhân họ Tiêu xem. Chủ nhân cười :
- Đây chỉ là thanh sắt rỉ, sao gọi là bảo kiếm được? Thời ta còn phục vụ trong quân ngũ, công phá thành Nam Kinh, nhảy lên một ụ súng trên mặt thành, pháo bắn, khiến ụ súng này đổ sụp, quân của Thái Bình tiến được vào vương phủ. Vườn sau có một cái giếng đã cạn, bên thành giếng là những cây cổ thụ chết khô. Chính mắt ta thấy những đạo hào quang khác thường từ dưới giếng phóng lên nền trời. Ta yên lặng, không nói với bất kì ai. Sáng ngày hôm sau, gọi mấy tên lính thân tín, khỏe mạnh, dòng dây cho từng tên lính xuống. Dưới đáy giếng đủ các vật quý hiếm khác thường. Cuối cùng là một cái hộp bằng đá, được hàn rất chắc chắn. Ta phải chỉ bảo bọn lính lấy búa, dùi cùng đủ các loại dụng cụ mới phá được cái hộp, thì thấy bên trong là một thanh bảo kiếm. Chính ánh hào quang màu xanh mà trên mặt đất trông thấy là do thanh kiếm này phát ra. Trên mặt kiếm có đúc hai con rồng, cùng những hàng chữ khoa đẩu, không ai đọc được. Có lẽ nói về chủ nhân cùng lai lịch thanh bảo kiếm chăng? Lúc này ta đang nhận quân vụ của triều đình, truy sát bọn bạo loạn. Mỗi lần gặp thế nguy, ta chỉ cần tung thanh bảo kiếm này lên, thì đầu giặc rơi hàng loạt, máu chảy thành vũng, khiến lũ giặc từ xa nhìn thấy chỉ còn khiếp hãi, không thể mở miệng, bỏ chạy hai chân ríu vào nhau, vừa thảm hại, vừa tức cười. Đại soái Tăng Quốc Phiên (3) biết chuyện, mới bắt ta đem thanh chủy thủ cho đái soái xem. Sau một hồi tra xét, cùng hỏi ý kiến bọn tay chân, đại soái bảo ta rằng : "Đây chính là bảo vật của thời Chu Tần." Những hàng chữ khoa đẩu, đơợc tiên sinh Trương Khiêm Sơn, tòng sự trong phủ đại soái đọc được. Tiên sinh viết lại cho ta một bản, nguyên văn thế này, ta còn nhớ thuộc lòng : "Chọn vàng luyện thành, vừa cương nghạnh vừa nhu nhuyễn. Đúc xong giấu trong hộp. Hấp được khí thu của đất trời. Dùng kiếm này trên chiến trường, có thể giúp chủ lập quân công, phong vạn hộ hầu. Dùng phòng thân thì chủy thủ này có thể trảm đứt bất kì cái đầu bất nghĩa nào!". Trong thời còn quân ngũ, và sau đó, ta không bao giờ rời thanh kiếm này. Nay ta già rồi, không thể còn nam chinh bắc chiến. Khách trông rõ là một thiếu niên hào mại. Ta cũng không tiếc được, xin tặng thanh kiếm thần thánh cho khách vậy!
  Nói xong, chủ nhân gọi gia đinh, đem hộp bảo kiếm ra, cùng Ngọc Lâm ra sân rộng trước dinh, mở hộp. Chủ nhân cầm chủy thủ, đi vài đường quyền vẫn còn dứt khoát lắm. Ánh kiếm chói ngời, hình người chỉ nửa có nửa không. Chủ nhân đột ngột dừng lại, thu kiếm đưa cho Ngọc Lâm, nói :
- Hãy đem thanh chủy thủ này mà hàng yêu sát ma, khu tà trừ ác. Một thước sắt cũng có thể chém đứt. Xin thiếu chủ hãy trân trọng, kiến công lập nghiệp!
  Ngọc Lâm đưa hai tay kính cẩn nhận kiếm, cao hứng quỳ xuống nâng thanh chủy thủ lên cao trước mặt, tạ ơn chủ nhân họ Tiêu.
  Đêm hôm ấy, chủ nhân giữ Ngọc Lâm lại, nghỉ ngơi ở phòng phía đông. Nhưng đến khi Ngọc Lâm thức giấc, thì thấy cả người thấm ướt lạnh vì sương đêm, áo quần như nhúng nước vậy. Gió lạnh buổi sáng thổi rít từng cơn. Nhìn chung quanh, một bãi tha ma rộng ngút tầm mắt, bởi những hàng cây, bởi chân những dãy núi. Nhưng lạ thay, trong tay Ngọc Lâm vẫn cầm lưỡi chủy thủ mới, không phải lưỡi chủy thủ cũ của mình vẫn dắt trong người. Ngọc Lâm vô cùng kinh sợ, cho rằng mình đã có một cuộc gặp gỡ khác thường. Trời càng sáng rõ, Ngọc Lâm thấy cạnh mình là cả một lăng mộ lớn. Trước lối vào cửa lăng có tấm bia đá, với hàng chữ : Tiêu Quân môn mộ đạo. Ngọc Lâm hiểu ra rằng, chủ nhân của ngôi mộ này, chính là người mà Ngọc Lâm đã gặp, đã cho lưỡi chủy thủ này. Ngọc Lâm xốc lại mũ áo, kính cản quỳ lạy trước mộ rồi tìm đường về.
  Ngọc Lâm có một người cậu, làm quan thái thú ở Tứ Xuyên, gửi thư về, nhắn Ngọc Lâm vào giúp cậu công việc trong dinh. Ngọc Lâm đem theo hành trang lên đường. Lúc đi qua vùng Sở Nam, chiều tối vào một quán trọ, chủ quán trả lời :
- Tất cả các phòng nghỉ đều đã chật khách, chỉ còn ba gian gác phía sau là chưa có người thuê thôi!
  Ngọc Lâm nói :
- Cũng được, không sao. Còn đi đâu vào lúc này ở vùng rừng núi như thế này?
  Chủ quán :
- Không dám dấu khách, mấy gian này lâu nay bị một bọn yêu quái chiếm giữ. Không ai dám vào, ngay cả ban ngày. Chỉ sợ bị yêu quái làm hại. Nên không dám không báo trước!
  Ngọc Lâm cười :
- Yêu quái là do người nghĩ ra thôi! Sao lại không thử ngủ một đêm xem sao?!
  Chủ quán bèn dẫn Ngọc Lâm ra ba gian gác phía sau cửa hàng. Nằm trên giường, Ngọc Lâm đốt đèn đọc sách, bốn bên yên tĩnh lạ lùng. Bỗng nghe có tiếng bước chân người trèo lên thang gác. Rồi tiếng một toán nhiều đàn bà con gái cười nói ngày càng rõ. Ngọc Lâm thoáng một chút rùng mình, nhưng rồi trấn tĩnh được. Trong lòng nghĩ : "Đây chính là thời cơ tốt nhất để ta thử thanh chủy thủ khác thường của họ Tiêu. Có việc gì phải sợ kia chứ?" Ngọc Lâm giả vờ ngủ xem sự thể ra sao. Một lát thôi, ba cô con gái xuất hiện, tiến vào gần giường Ngọc Lâm. Cả ba đều trẻ đẹp, nhưng cách ăn mặt cùng trang điểm đều thể hiện không phải là người đương thời. Một người trong bọn, trông thấy Ngọc Lâm, lớn tiếng nói với hai người kia :
- Thằng đàn ông nào cả gan, dám vào nằm trong phòng của chúng ta thế này? Gọi ngay Xích Tinh tới. Lôi ngay cổ nó đi chứ !
  Cả ba cô gái chúm môi niệm chú nho nhỏ. Ngọc Lâm không nghe ra. Cuồng phong nổi dữ, cửa sổ văng ra rất mạnh, một con rắn dài tới mấy trượng đỏ như lửa bay vào ngay đầu giường Ngọc Lâm. Đôi mắt sáng rực trong đêm, miệng rắn phun lửa dài đến ngay cạnh người Ngọc Lâm rồi. Trong lửa hiện rõ hàm răng xanh nhọn khủng khiếp cùng với cái lưỡi đen ngòm thò ra uốn éo. Cả người rắn giờ như đang phủ kín Ngọc Lâm. Nhưng Ngọc Lâm bình tĩnh rút chủy thủ, chờ sẵn một lợi thế thích hợp, vung kiếm lên. Rắn lập tức bị chém làm hai đoạn. Và ngay lập tức rắn biến mất. Hai tiếng rơi lanh lảnh liên tiếp. Ngọc Lâm nhìn theo, một đôi kiếm! Một đôi kiếm cổ kì quái. Cũng không phải của người đương thời hành hiệp. Ba cô gái không thấy tăm hơi. Ngọc Lâm nhặt kiếm, đặt lên đầu giường, và ngủ.
  Sáng mai ra, chủ quán thấy Ngọc Lâm từ gác trong ra cửa hàng, bái tạ mà rằng :
- Đã nhiều ngừơi mất mạng, bỏ cuộc. Đến giờ mới thấy một người như ngài!
  Ngọc Lâm  cũng không kể chuyện xảy ra đêm qua, đem theo hai thanh bảo kiếm trong túi, tiếp tục vào Thục. Đường đi qua chân núi Nga Mi, Ngọc Lâm ngồi trên mình ngựa, thẩn thơ ngắm phong cảnh núi non có một không hai của trung nguyên. Bỗng trong ánh chiều choạng vạng, vắng vẻ, một con vật đủ cả mũi, miệng, hai mắt sáng quắc khủng khiếp, lăn từ chân núi ra như một bánh xe, đến ngay trước ngựa, hí lên những tiếng rền rĩ như tiếng la rống. Ngọc Lâm không lưỡng lự, rút song kiếm thu được trong quán trọ vừa rồi tung lên. Không ngờ từ miệng yêu quái, một luồng kiếm khí phóng ra. Ngọc Lâm vội tung bảo kiếm lên đỡ, hai luồng kiếm khí giao đấu vài hiệp. Yêu quái yếu thế, bay vọt lên không định tẩu thoát. Quang kiếm vút theo, khối tròn lạ lùng bị bổ làm đôi, rơi xuống, khiến mặt đất dưới chân Ngọc Lâm cũng chấn động.
  Ngọc Lâm nhìn kĩ, thì ra sau cái mặt tròn là cái đuôi dài như rắn, toàn thân vẫy sáng lấp lánh ma quái, đầu chắp thêm một cái sừng dài kì dị. Nhưng đôi bảo kiếm của quái vật mà Ngọc Lâm thu được trong ba gian gác sau quán trọ, thì không thấy dấu vết. Có lẽ chủ nhân của bảo kiếm, đứng đâu đó, đã thu ngay lại vật vốn là sở hữu của mình rồi chăng?! Vật báu của trời đất, không phải thứ để nương náu lâu trong cõi người. Tiếc cũng không được!
  Ngọc Lâm ở một phòng riêng phía tây của dinh. Trong một lần uống mấy chén rượu, cao hứng, Ngọc Lâm kể lại cuộc tiêu diệt quái vật dọc đường. Mọi người xin với Ngọc Lâm được trông thấy thanh chủy thủ, chưa dùng đến của Ngọc Lâm mà đã giết được yêu quái. Ngọc Lâm đành lấy ra, trước tiên trình lên quan thái thú là ông cậu xem. Ngắm nghía một hồi, quan thái thú lên tiếng :
- Quái lạ ! Con gái ta cũng có một thanh chủy thủ giống hệt như thế này! Hình như chỉ khác, một thanh là hùng kiếm, thanh này. Còn một thanh là thư kiếm, thanh ở chỗ con gái ta! Ở núi Nga Mi có một đạo sĩ nổi tiếng về kiếm thuật, người đời truyền tụng rất nhiều điều kì dị về tài năng của đạo sĩ, cả về những bí thuật về bùa chú. Nhưng nhất định không chịu nhận đệ tử. Năm ngoái, con gái ta đi cùng mẫu thân dâng hương ở núi Ngai Mi, đạo sĩ trông thấy, ngạc nhiên thốt lên : "Đây chính là hiệp nữ cổ kiếm chủ nhân. Sao giáng trần từ bao giờ mà bần đạo không hay!" Ngày hôm sau, đạo sĩ tìm đến công đường xin gặp ta. Tình nguyện truyền thụ kiếm pháp cho con gái ta. Ta nói : "Việc này không phải là việc của đàn bà con gái." để từ chối. Đạo sĩ không van nài mà còn khách khí nói : "Số mệnh không thể trốn chạy được đâu!" Trước khi ra khỏi dinh, đạo sĩ gửi lại thanh bảo kiếm, tặng con gái ta. Dặn rằng : "Tiểu thư nên luôn luôn đeo bên mình, có thể tránh được mọi tai họa, bảo vệ được bản thân!" Ta từ chối không nhận, thì đạo sĩ đã ra khỏi dinh như bay từ lúc nào. Nhân một chút ta sơ ý không theo dõi. Hiện giờ, thanh kiếm vẫn để trong phòng con gái ta. Mấy hôm trước, nó phát ra hào quang lạ thường, nhất là về đêm, trông rất rõ. Ta mới bảo lấy gấm bọc kín, cũng không được, vẫn phát sáng như thường. Đấy có lẽ cũng là một nguyên do mà ta cho rằng hai thanh này một thư một hùng vậy!
  Ngọc Lâm nghe trong lòng vô cùng kinh ngạc, hỏi thái thú :
- Còn nguyên nhân nào khiến cậu nghĩ như vậy nữa?
  Thái thú đáp :
- Ta đã xem kĩ thanh chủy thủ của cháu. Những chỗ nào nét hoa văn trên thanh kiếm của cháu nổi lên, thì cũng nét hoa văn ấy ở thanh kiếm của con gái ta lại chìm xuống. Ngay cả những chữ khoa đẩu như cháu nói khắc ở cán cũng vậy. Chững ngày ở thanh thư kiếm của con gái ta khắc theo kiểu âm văn, còn thanh hùng này thì khắc theo kiểu dương văn.
  Nói xong, quan thái thú lệnh cho gia đinh thân tín đem thanh kiếm tới, cùng Ngọc Lâm xem xét. Quả nhiên hai thanh hoàn toàn giống nhau, chỉ có khác những điều đúng như thái thú đã nhận xét. Ngọc Lâm lại một phen sửng sốt.
  Con gái của thái thú, tự là Uyển Dung, tính tình nhu thuận, nhan sắc tự nhiên, nhưng vẫn là một kiều nữ hiếm có trên đời, chẳng thế mà đạo sĩ mới nhìn đã nhận ra chính là tiên nữ giáng trần, hiệp nữ kiếm khách hậu thân. Nhưng với tính tình như vậy, từ trước đến nay, Uyển Dung chỉ suốt ngày đêm trong phòng khuê, thuê thùa, cùng học chữ, làm thơ từ, luyện thư pháp mà thôi. Lại khó tính trong chuyện hôn nhân, nên đến nay vợ chồng quan thái thú vẫn chìu, chưa nhận lời gả cho ai cả, mặc dù cũng đã ở tuổi mười bảy rồi!
  Lúc này Ngọc Lâm cũng đã hơn hai mươi tuổi, nhưng chí còn gửi bốn phương, mong gây dựng được một sự nghiệp để đời, nhất là sau cuộc gặp gỡ lạ lùng với tướng quân họ Tiêu, nên cũng chưa chịu thành hôn. Nhưng quan thái thú, cậu của Ngọc Lâm, qua chuyện lạ lùng của hai thanh thư hùng kiếm, bèn trò chuyện với thân mẫu Ngọc Lâm, mà cũng là chị ruột của quan thái thú, về hôn nhân của Ngọc Lâm cùng Uyển Dung. Hai chị em cùng bằng lòng. Quan thái thú tìm một hạ quan trong dinh làm mối, đứng ra chủ trò mọi chuyện, làm lễ thành hôn rất long trọng cho Ngọc Lâm, Uyển Dung.
  Hai vợ chồng sống hạnh phúc. Đêm ngắm trăng đọc sách làm thơ viết chữ...Ngày du sơn du thủy thăm thú danh lam thắng cảnh vùng Tứ Xuyên vốn không thiếu.
  Một buổi sáng, mặt trời lên cao lắm rồi, mọi người trong tư dinh vẫn thấy phòng của vợ chồng Ngọc Lâm đóng chặt. Bọn người nhà hô hoán mà vẫn không động tĩnh gì cả. Báo cho vợ chồng thái thú, phá cửa vào, thì thấy cả hai khỏa thân nằm trên giường, nhưng chỉ có thân hình mà đều không có đầu. Tìm khắp nơi cũng không ra. Cả nội ngoại dinh thái thú như có hỏa hoạn. Ai nấy mặt mày xanh xám, hồn bay phách lạc, người sợ vì nguyên do này, kẻ lo vì nguyên cớ khác. Đồ đạc quý hiếm trong tư thất hoàn toàn không suy suyễn, nhưng hai thanh chủy thủ của họ cũng không thấy đâu!
  Quan thái thú nghĩ đến đạo sĩ dạo nọ trên núi Nga Mi, bèn sai người tìm xem sao. Vào trong đạo quán, thấy ngay hai thanh bao kiếm dựng trên điện thờ, máu đỏ vẫn còn dấu vết. Nhưng đạo sĩ thì không thấy đâu. Bọn gia đinh về trình lại. Thái thú đến tận đạo quán xem xét, truy tìm đạo sĩ, nhưng cũng không thấy tăm hơi. Nhưng đến khi vào trong hậu cung, đào nền lên, thì tìm được hai đầu của Ngọc Lâm cùng Uyển Dung. Thái thú để lại hẳn một đội người ngựa trong ba ngày, tiếp tục lùng sục khắp vùng, nhưng cũng chẳng ăn thua gì. Đành đưa hai đầu người về, lo liệu chuyện mai táng, trên một sườn núi mà theo các thầy phong thủy địa phương có thể yểm mọi họa nạn cho gia quyến quan thái thú. Đến khi khiêng quan tài ra huyệt mộ, thì người ta đều thấy khác thường, rất nhẹ, như không có gì bên trong. Hạ xuống mở ra, cả hai quan tài đều trống rỗng. Ai cũng cho rằng Ngọc Lâm cùng Uyển Dung đều đã thành tiên, hoặc vốn là người tiên, giáng trần một chuyến. Chuyện không ngã ngũ được!
Nguyên văn : Hứa Ngọc Lâm chủy thủ. Quyển 1.
 
 
-----------------------------
Chú thích :
1. Điền từ : gọi đầy đủ là từ khúc. Vốn có nguồn gốc từ thơ ca và âm nhạc dân gian. Sau đó là đóng góp rất lớn của cả các trí thức, cung đình. Phần nhạc điệu được cố định theo những điệu riêng. Có tới trên dưới một nghìn điệu như vậy. Còn lời thì có thể thay đổi. Nhưng muốn đặt những lời mới cần thông thạo âm nhạc và thơ ca. Như là điền lời cho một bản nhạc có sẵn, nên gọi là điều từ. Phát triển cực thịnh vào thời Triệu Tống, xếp ngang Thơ Đường.
2. Phù Tang : tên một nước cổ. Theo Lương thư Phù Tang quốc truyện : nước Phù Tang cách Đại Hán hơn hai vạn dặm về phía đông. Nước này trồng nhiều cây phù tang nên có tên này. Đối chiếu, thì ở vùng Nhật Bản, nên Nhật Bản còn gọi là Phù Tang.
3. Tăng Quốc Phiên : 1811- 1872, người đời Thanh, quê Hồ Nam, đậu tiến sĩ năm Đạo Quang. Có công lớn trong việc dẹp khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc.
Beautiful things happen when you love someone.
Đăng nhập để trả lời
0
Hậu duệ Hồ Li Tinh
  Lí Tinh Sử là danh sĩ có tiếng ở Dương Thành, tổ phụ tới thân phụ, đều làm quan ở kinh thành. Tinh Sử sinh ra trong ngõ Chợ Gạo, của thành đô. Tương truyền nhà họ Lí có nhiều yêu quái, ba gian lầu cao phía sau không ai dám ở. Mỗi năm đến tiết thanh minh, nhà họ Lí đều một lần tới nơi này cúng tế. Cũng có nhiều người nói, nơi này là chỗ đi về của hồ li tinh, vì sạnh sẽ nên hồ li tinh chọn làm nơi tu luyện cùng hành đạo.
  Mỗi đêm trăng trong, trời tạnh ráo, người ta vẫn thường trông thấy một ông già quắc thước, râu tóc bạc phơ, rất đẹp lão ngồi bên cửa sổ đọc sách. Thỉnh thoảng lại đặt sách xuống chiếu, ngước mắt nhìn bầu trời trong xanh, hình như có điều gì nghĩ ngợi. Gió nhẹ chòm râu dài bạc cũng khẽ rung theo chiều gió.
  Tinh Sử sắp sinh, mẫu thân bỗng thấy ông già nọ đột ngột vào phòng, nói chuyện thuê nhà. Mẫu thân Tinh Sử lớn tiếng đuổi ông già ra. Ông già biến mất không thấy đâu nữa. Ngay lúc ấy, mẫu thân sinh ra Tinh Sử. Mười ngày sau, tòa nhà gác ba gian phía sau bị cháy trụi. Vì thế nhiều người hoài nghi Tinh Sử là truyền thế của ông già hồ li tinh nọ.
  Tinh Sử càng lớn, người nhà càng thấy rõ những hoa văn trên tay, rất giống chữ tinh (1), viết theo kiểu chữ triện cổ. Cũng chính vì vậy mà phụ thân mới đặt cho họ Lí tên là Tinh Sử. Tinh Sử theo thầy học chữ, so với bạn bè cũng lứa thì giỏi giang hơn hẳn. Mười tuổi, tổ phụ rồi thân phụ nối tiếp qua đời. Tinh Sử phải theo hộ tống linh cửu về phương nam. Nói chuyện với họ hàng toàn bằng giọng phương bắc.
  Sánh Tinh Sử thích nhất là sách của Lão Tử, Trang Tử và các nhà trước thuật thời Bách gia chư tử khác. Bảo Tinh Sử đọc Kinh thi, Tinh Sử không hiểu. Nếu bắt buộc thì rồi lại quên ngay, nhớ vài câu lõm bõm. Trường của quan huấn đạo huyện nhà thi tuyển chư sinh (2), thơ phú của Tinh Sử được xếp hạng trên, nên được theo quan huấn học hành.
  Tháng tám mùa thu năm sau, Tinh Sử tham gia hương thí, quan giám khảo đều cho rằng văn chương của Tinh Sử đáng được xếp thứ nhất, nên cực lực đồng thanh xin chủ khảo cho Tinh Sử đậu. Năm ấy, Tinh Sử trúng cử nhân.
  Mùa xuan năm sau, Tinh Sử ngược bắc về kinh thành thi hội. Đến địa phận Tế Nam, trọ trong một lữ điếm, thì đột ngột bị bệnh nặng, suốt một ngày một đêm nửa mê nửa tỉnh trên giường quán trọ. Tâm thần bất định, thấy mình đi đến một nơi, cung điệnh nguy nga, thành quách trong nòoài hoành tráng, phảng phất như cung điện của một bậc đế vương nào đó. Dưới thềm dựng mười hai gian phòng nhỏ, bên trái sáu gian, bên phải sáu gian. Mõi phòng đều có một viên quan sai đứng gác oai nghiêm, dữ trợn. Tinh Sử theo một người lính dẫn vào một trong những phòng đó, thì thấy một người đang bò ngả trên bàn mà viết như điên. Ông già nhận ra sự có mặt của Tinh Sử, liền đặt bút xuống chào Tinh Sử. Hỏi Tinh Sử có việc gì mà vào phòng, Tinh Sử đáp :
- Tiểu sinh vào kinh dự hội thi, không hiểu thi có đậu hay không nữa!
  Ông già mở sổ xem xét một hồi, lên tiếng :
- Nhà ngươi lên kinh thành lần này, tìm được người đẹp, còn như công danh thì chẳng có hi vọng gì đâu!
  Lại nhìn kĩ Tinh Sử một hồi nữa, ông già nói :
- Xem ra trong nội quan của ngươi có bệnh! Hãy để ta chữa cho ngươi!
  Rồi ông già lấy một con dao nhọn, mổ bụng Tinh Sử, khiến Tinh Sử thấy một cảm giác buốt lạnh khi mũi dao rạch vào da thịt. Nhưng sau đó như không thấy đau đớn gì nữa. Tỉnh mộng, bệnh của Tinh Sử cũng khỏi.
  Tinh Sử đến kinh thành, tìm một nhà trọ thuận tiện nhưng không ra. Mọi chỗ tốt đều chật khách. Cuối cùng, họ Lí phải tìm tới một nàh quen, Hà Thủy Bộ. Thủy Bộ có một người con gái, tên gọi Uyển Thu, tự là Lan Tiên, dung mạo xinh xắn, tinh thông kinh sử, vẫn chưa hứa hôn. Trông thấy Uyển Thu, hồn phách Tinh Sử như bay biến, không lúc nào không nhớ. Bỗng nghe như có người đang gõ vào cửa sổ dán giấy, Tinh Sử nhổm dậy nhìn ra, thì thấy bên ngoài cửa sổ, có một cô gái rất đẹp, làn tóc như tỏa hương thơm dịu dàng. Cô gái khẽ bảo Tinh Sử mở cửa phòng. Khi nói, hình như trong hơi thở của cô gái cũng tỏa ra một hương thơm quyến rũ lạ lùng, khiến không một người nào có thể cưỡng lại yêu cầu bất kì nào của cô gái! Tinh Sử cũng không phải ngoại lệ, chàng vội nhảy khỏi giường, mở cửa phòng, cô gái đã đứng ngay dưới đèn rồi!
  Tinh Sử nhìn được cô gái rõ hơn, mặt hoa da phấn đẹp hơn Uyển Thu, con chủ nhà họ Hà nhiều. Tinh Sử tươi cười hỏi cô gái từ đâu lại. Cô gái cũng cười đáp :
- Nơi ấy nói xa thì cũng thật xa, nói gần thì cũng thật gần! Thiếp tới đây để giúp chàng vui vẻ thêm trong những ngày dằng dặc đất khách, để thử vận hội công danh, không dễ dàng gì này. Như thế không phải là tốt hay sao?
  Tinh Sử lại hỏi họ tên, cô gái đáp :
- Thiếp cũng họ Hà, tiểu tự Huệ Tiên. Cũng bởi là con thứ hai trong nhà nên còn có tên là Trọng Phương. Ban ngày trông thấy chàng mắt long lanh như nước hồ thu, nên biết rằng chàng đang có lòng với Hà tiểu thư. Chàng hãy xem thiếp so với Uyển Thu thì thế nào?
  Nói rồi, Trọng Phương ngồi xuống bên bàn, cầm những quyển sách của Tinh Sử lên xem. Tinh Sử hỏi :
- Nàng đọc được những sách này chăng?
  Trọng Phương mạnh dạn đáp :
- Nếu đem chuyện thơ từ ra bàn, chỉ sợ chàng phải tôn Trọng Phương này là nữ tiên sinh thôi!
  Tinh Sử nửa đùa nửa thật :
- Đêm nay, tiểu sinh xin được nàng nhận làm đồ đệ vậy! Chỉ mong được làm quen với nàng, thì thật hết lòng cảm tạ nữ tiên sinh rồi!
  Trọng Phương tỏ vẻ không bằng lòng :
- Những lời này không đơợc trang nhã lắm thì phải !
  Rồi lấy một tờ giấy bôi mực đen, định dán lên trán Tinh Sử như để cảnh cáo vậy, nhưng Tinh Sử cầm ngọn nến đỡ tránh, Trọng Phương không làm gì được. Cả hai cùng cười giảng hòa.
  Từ đó về sau, Trọng  Phương thường xuyên đến phòng của Tinh Sử vào chiều tối, và sáng mai thì lại ra đi, lấy đó làm thường.
  Tinh Sử thi cử, văn chương vô cùng đắc ý, đem việc này kể với Trọng Phương, Trọng Phương khuyên :
- Chàng thi lần này, không đậu được đâu! Trong lá số của chàng, không có danh vị tiến sĩ, thì hà tất phải cố công gắng sức làm gì?
  Bảng treo, quả tình Tinh Sử danh lạc Tôn Sơn (3). Lại gặp khi thư nhà nhiều lần giục giã chàng trở về, nên Tinh Sử thu thập hành lí, chuẩn bị hồi hương. Tinh Sử muốn đưa Trọng Phương cùng về nên bàn với Trọng Phương, thì nàng nói :
- Chúng ta duyên phận chưa đâu vào đâu. Thiếp cần phải vì chàng mà làm một mụ mối giỏi thôi. Như thế mới có thể chu toàn được!
  Tinh Sử ngạc nhiên, hỏi :
- Nàng định làm mối ta với ai?
  Trọng Phương đáp :
- Hà tiểu thư chính là người chàng cần. Ngoài chàng ra, liệu Hà tiểu thư còn chọn ai cho xứng đáng hơn? Thiếp nhất định sẽ vì chàng mà lo liệu xong chuyện này!
  Tinh Sử vẫn băn khoăn :
- Nếu như nàng lo liệu xong chuyện này đi nữa, thì danh phận nàng là thế nào?
  Trọng Phương đáp :
- Danh phận của thiếp sau này sẽ tính. Chuyện vẫn còn kịp mà!
  Tinh Sử vẫn do dự không quyết, thì Trọng Phương đã đi rồi!
  Tinh Sử có một người cậu đang làm quan ở kinh thành, giữ chức đài gián ở Đô sát viện. Bởi tính tình ngay thẳng nên rất có uy tín trong hàng ngũ quan lại triều đình. Trọng Phương giả mạo chữ viết của mẫu thân Tinh Sử, viết một lá thư, gửi cho người cậu này, nhờ ông ta tới nhà họ Hà cầu hôn Uyển Thu cho Tinh Sử. Ngừơi cậu nghe theo, đến nhà họ Hà thương lượng. Hà Thủy Bộ vốn đã biết tài danh Tinh Sử, lại có quan đài gián của Đô sát viện đứng ra, nên bằng lòng ngay. Mẫu thân Tinh Sử nhận được thư báo của quan đài gián, ngờ rằng Tinh Sử bày ra những chuyện này. Nhưng mọi chuyện đã xong xuôi cả nên cũng không thể tra hỏi làm gì nữa, nên cho phép Tinh Sử thuê nhà cửa ở kinh thành để lo liệu hôn nhân. Sau tháng trăng mật, vợ chồng đưa nhau về quê. Việc này cũng thích hợp vì khỏi phải đón dâu đường dài nhiều chuyện phiền nhiễu. Mọi thứ cưới xin ở kinh thành đã có Trọng Phương đứng ra tính toán chu đáo cả, nên hôn lễ vô cùng sang trọng, không ai có thể chê trách điều gì. Họ nhà gái, cô dâu chú rể đều bằng lòng, vui vẻ. Từ hôm Tinh Sử cưới Uyển Thu, Trọng Phương hoàn toàn không bao giờ đến với Tinh Sử nữa.
  Vợ chồng Tinh Sử trên đường về Quảng Châu với đủ thứ hành lý đồ đạc cồng kềnh, mới ra khỏi kinh thành được vài chục dặm, thì gặp một toán cướp từ trong rừng xông ra. Mọi người không thể nào chống cự, mạnh ai nấy chạy tứ tán. Lúc này bỗng có một cô gái trang phục gọn gàng, rất ưa nhìn, cưỡi ngựa như bay xuất hiện, ném liên tục ba thiết hoàn vào bọn cướp. Bọn này hoảng hồn không thể chống trả, đành bỏ chạy. Tinh Sử nhìn ra, chính là Trọng Phương. Đang định lại hỏi Trọng Phương lâu nay ở đâu, sao lại biết mà đến cứu, thì Trọng Phương đã lại trên mình ngựa bỏ đi như lúc xuất hiện. Tinh Sử nhìn lại người ngựa xe cộ, thì thấy Uyển Thu sợ hãi ngồi bệt ngay bên đường. Một hồi trấn tĩnh, mới hỏi Tinh Sử :
- Cô gái vừa rồi nhất định không phải là người bình thường. Có lẽ là tiên nữ trời phật sai xuống cứu chúng ta chăng?
  Tinh Sử đành làm như không biết gì cả. Vợ chồng cùng đốt hương tạ ơn trời đất và tiên nữ, mong được có ngày trông thấy lại dung nhan tiên nữ cứu mạng.
  Vợ chồng Tinh Sử về đến nhà, nghỉ ngơi cho lại sức lực cùng tinh thần sau một chuyến đi dài khó nhọc đầy biến cố, rồi làm lễ nhà thờ họ tộc, ra mắt họ hàng. Ai cũng khen cô dâu xinh đẹp, hiền lành. Nhưng Tinh Sử vẫn không quên được Trọng Phương. Tinh Sử nói thác với mẫu thân rằng, quan học sứ Sơn Đông gọi Tinh Sử đến để thụ giáo, chuẩn bị cho kì thi hội khoa sau, và tiếp :
- Con đã nhận lời, không đi không được!
  Tinh Sử ngồi thuyền từ Quảng Châu đi đến bến Triết Tân, thì lên bờ vào phố huyện tìm quán trọ. Tinh Sử mở giương, bày những thứ bình thường Trọng Phương vẫn chơi đùa ngày nào ra giường, cầm xem xét từng cái, lòng thương nhớ Trọng Phương càng tha thiết, suốt đêm không tài nào ngủ được. Sáng ngày hôm sau, Tinh Sử thuê một xe ngựa, lên đường về kinh thành. Dọc đường, một chiếc kiệu ngược chiều, đi sát xe ngựa, rèm kiệu vén lên, một cô gái thò đầu ra hỏi :
- Ngài có phải là người thân của Trọng Phương tiểu thư không? Tiểu thư hiện đã chuyển về nhà mới, đã sai người ra đón ngài ở Lư Cầu Kiều. Thiếp có một phong thư, phiền ngài chuyển cho tiểu thư! Xin ngài hãy bảo trọng, quãng đường còn lại còn dài!
  Nói xong, đưa thư rồi theo đường mà đi luôn. Tinh Sử đến Lư Cầu Kiều, quả nhiên thấy có ba người đầy tớ, đánh xe chờ sẵn. Tinh Sử hỏi :
- Trọng Phương tiểu thư hiện ở đâu?
  Một người trong bọn thưa :
- Xin ngài theo chúng tôi rồi sẽ biết!
  Xe đi về phía cửa Tuyên Vũ Môn. Người coi cửa thành không tra hỏi gì. Chạy thêm một quãng thì dừng lại trước một dinh thự hoành tráng. Bọn người nhà kính cẩn mời Tinh Sử đi theo. Tinh Sử vào cửa lớn, đầy tớ gác cổng lễ phép chào Tinh Sử như đã quen biết lâu nay. Tinh Sử đi theo những đường khúc khuỷu xinh xắn, thì tới một vườn hoa hồng nghìn tía với những đường đi có mái che, lầu các liên tiếp, cao thấp theo thứ tự. Rèm cao cuốn lên như có người chờ sẵn. Tinh Sử vào phòng lớn, hàng chục a hoàn trước sau đưa Trọng PHương ra trong trang phục vô cùng lộng lẫy khác thường. Tinh Sử bồi hồi khôn tả, cả hai ngồi nhìn nhau, Tinh Sử nghẹn ngào kể lể nỗi thương nhớ từ ngày xa nhau, được Trọng Phương cứu mạng. Trọng Phương cũng có vẻ ngậm ngùi :
- Đây là biệt thự của chàng. Thiếp đã thay mặt chàng lo liệu mọi thứ, kể cả việc chàng phải đi Sơn Đông nhận chức thái thú. Ngay ngày mai, mọi thủ tục chính quyền cùng giấy tờ sẽ xong xuôi. Cũng bởi ngày thường, thiếp vẫn cho treo chân dung của chàng, bọn gia nhân nam nữ trong ngoài đều nhận được chàng ngay, nên có những chuyện như chàng đã ở đây từ lâu vậy!
  Ngay ngày hôm sau, Tinh Sử đến bộ Lại nhận giấy tờ công văn, nhưng có thay đổi là chàng nhận chức tri phủ ở Tuyển Châu, thuộc Phúc Kiến. Tinh Sử rất mừng, vì Phúc Kiến thì cách quê nhà không xa. Nhân đấy về bàn với Trọng Phương, Trọng Phương cười đáp :
- Nhưng nếu như Uyển Thu cũng sẽ đến Phúc Kiến với chàng. Chàng đặt thiếp ở nơi nào bây giờ?
  Tinh Sử đáp :
- Thì cả hai bình đẳng cũng không được sao? Theo như ta biết, cả hai đều khiêm nhường, không ghen tuông, cùng sống với nhau càng vui vẻ chứ sao?!
  Tinh Sử cùng Trọng Phương bằng đường thủy về Tuyền Châu nhận chức. Mấy tháng sau, cho người về phương nam đón gia quyến. Mẫu thân cùng Uyển Thu đột ngột biết chuyện này, nên cả hai vô cùng vui mừng. Khi nghe chuyện, hiện ở Tuyền Châu, Tinh Sử đã có người nội tướng mới rất xinh đẹp, thì Uyển Thu lại không chịu đi Tuyền Châu nữa. Mẫu thân của Tinh Sử khuyên con dâu :
- Phải có cheo có cưới mới là vợ. Còn như theo không thì chỉ là tì thiếp. Con về nhà này, danh chính ngôn thuận, có cưới lễ đàng hoàng thì có điều gì phải ngại cho được!
  Vì vậy cả hai lại cùng lên đường đi Tuyền Châu. Trọng Phương ra tận thuyền đón hai người. Làm lễ rất kính cẩn ra mắt mẫu thân Tinh Sử, cùng Uyển Thu. Hỏi tới tuổi tác, Trọng Phương kém Uyển Thu hai tuổi, nên nhận Uyển Thu làm chị, còn mình nhận làm em. Uyển Thu trông thấy Trọng Phương, cũng nhận ra rằng mình không đẹp bằng Trọng Phương. Từ đó về sau, danh phận đều rõ ràng. Nhưng mọi chuyện trong nhà đều do Trọng Phương lo liệu. Ngay cả việc công, Tinh Sử cũng bàn bạc với Trọng Phương. Trọng Phương giúp Tinh Sử rất nhiều trong những vụ án, công việc quan trọng của phủ đường, việc gì cũng chu đáo, sáng suốt như thần. Khiến Tinh Sử vô cùng khâm phục, gọi Trọng Phương là thần toán diệu toán Hà Huệ Tiên quân sư!
  Lúc này có chuyện ở các tỉnh, lấy danh nghĩa giáo phái, nhiều nơi kích động dân chúng chống lại triều đình. Sơn Đông cũng có một giáo chủ cường đạo như vậy. Bị quân đội của tinh bộ đường Sơn Đông đánh cho tơi tả, giáo chủ chạy sang vùng Phúc Kiến, bị đội tuần sát Phúc Kiến bắt được ở địa phận Tuyền Châu, nên tạm giam giáo chủ trong khám đường của Tuyền Châu. Bọn tay chân giáo chủ dùng rất nhiều vàng ngọc hối lộ thượng ti, nên có lệnh phóng thích giáo chủ ban xuống cho tri phủ Tuyền Châu. Trọng Phương khuyên Tinh Sử không thi hành lệnh này. Mà khuyên Tinh Sử làm một cuộc ẩu đả giả hiệu, dùng côn đập chết giáo chủ. Mọi người đều rất khâm phục cơ mưu này của Trọng Phương. Nhưng bọn tay chân giáo chủ thì căm giận Trọng Phương tận xương tủy. Chúng tập hợp lực lượng trong một vùng bí mật ở rừng núi Tuyền Châu, định làm một cuộc tập kích, giết chết Tinh Sử trên đường công cán trong bản phủ. Nhưng Trọng Phương cũng biết âm mưu này, cảnh cáo Tinh Sử không được ra khỏi phủ đường. Nếu như có công việc cần kíp phải lên tỉnh đường trình baó, thì Trọng Phương sẽ dẫn Tinh Sử đi theo đường khác để tránh ổ phục kích của tay chân giáo chủ. Âm mưu của bọn này vì vậy không thành.
  Một buổi tối, bọn cường đạo đột ngột tiến vào tư dinh quan tri phủ, bọn tay chân đều hoảng sợ bỏ trốn. Lúc này Trọng Phương cũng đang ngủ say, đến khi tỉnh giấc, thì bọn cường đạo đã vây kín tư dinh. Trọng Phương vội vàng nai nịt, miệng lẩm bẩm niệm chú. Bỗng dưng tất cả bọn cường đạo đều như không còn cầm được vũ khí, tay chân như bất động, toàn bộ đều bị trói chặt, không thoát một tên. Từ đó, mọi người mới hiểu ra, Trọng Phương có phép thuật. Tinh Sử lại còn kể cho mọi người biết, trước đây, Trọng Phương đã một lần cử Tinh Sử cùng Uyển Thu ra sao. Cho nên chung quanh đều ngờ rằng Trọng Phương là tiên nhân giáng phàm. Trọng Phương nghe chuyện này rất bực bội, khuyên Tinh Sử nên từ quan về quê sống ẩn dật. Tinh Sử nghe theo.
  Cả gia quyến về sống ở Việt Đông bảy năm, Trọng Phương không sinh con cái gì, Uyển Thu thì sinh được ba con trai. Trọng Phương lấy cớ khí hậu phương nam ẩm thấp nóng nực, khuyên Tinh Sử về kinh thành lo liệu một chức quan. Tinh Sử cho người về kinh thành trước, lo liệu trước nhà cửa, rồi cả nhà về sống ở kinh thành. Đoàn người về đến cổng thành thì thấy có một người đứng chờ sẵn bên đường đón. Đó chính là cô gái trước đây cũng đã từng giữa đường báo tin cho Tinh Sử biết về chuyện Trọng Phương chờ ở Lư Cầu Kiều dạo nào. Cô gái cùng Trọng Phương trò chuyện, hỏi tại sao từ lâu đã nhắn tin cho Trọng Phương mà không thấy trả lời. Trọng Phương kinh ngạc vì không nhận được tin tức gì cả. Cô gái cười, chỉ Tinh Sử mà rằng :
- Ngày đây chính là người đưa tin. Sao lại trở thành Hồng Kiều giả như thế này? (4).
  Tinh Sử hoảng hốt nhớ lại chuyện xưa, tự mình nhận lỗi. Trọng Phương mời cô gái cùng đi. Cô gái lên xe. Thì ra, cô gái chính là em ruột Trọng Phương, tiểu tự là Cúc Tiên, hiệu là Tuệ Anh. Trước đây, khi cha mẹ đều qua đời, hai chị em lúc này còn nhỏ, nhưng đã đính ước với nhau rằng sẽ cùng lấy một chồng. Lần Tinh Sử bỏ nhà ra đi tìm Trọng Phương, nói thác với mậu thân là lên thụ giáo quan đề học Sơn Đông, chính Tuệ Anh đón đường báo tin Trọng Phương cho người đón ở Lư Cầu Kiều và nhờ chuyển thư cho Trọng Phương, nói rõ mọi chuyện từ ngày chị em xa nhau.
  Lúc này, cả hai chị em Trọng Phương tuổi đã nhiều, nhưng Tuệ Anh vẫn còn rất duyên dáng, không khác gì một cô gái tuổi mười bảy mười tám. Tuệ Anh rất giỏi vẽ và thơ từ, lại tinh thông cả việc quản lý công việc doanh thương, nên thường giúp Trọng Phương trong công việc quản lý tài sản, kinh tế của gia đình. Mẫu thân của Tinh Sử rất thích Tuệ Anh, cho rằng Tuệ Anh có tướng sinh con trai, nên bằng lòng để Tinh Sử lấy Tuệ Anh, như hai chị em Trọng Phương đã hứa với nhau trước đây!
  Lấy nhau được ba năm, Tuệ Anh hai lần đều sinh đôi, toàn con trai. Tinh Sử tính chuyện ở lại kinh thành lâu dài, bỏ tiền ra mua lại đất đai nhà cửa ngày xưa của tổ phụ cùng phụ thân rồi tu sửa thật lộng lẫy, đặt bài vị thờ tổ tiên, với một hoành phi lớn, viết bốn chữ triện : Mộng Tinh Lão nhân. Mỗi tháng, ngày sóc vọng hương khói cúng tế thường xuyên. Nhà họ Lí càng thịnh vượng!
Nguyên văn : Hà Huệ Tiên. Quyển 2.
 
 
 
 
-----------------------------
Chú Thích :
1. Tinh : nghĩa là sao, nhưng cũng đồng am với tinh là tinh thần, tinh túy, yêu quái, trong hồ li tinh.
2. Chư sinh : thời Minh và Thanh, ở kinh đô và các cấp, khảo thí, để chọn học sinh vào học các trường của huyện, phủ, châu gọi chung là sinh viên. Nhưng có các loại : tăng sinh, phụ sinh, lẫm sinh, liệt sinh, thường được cấp học bổng, gọi chung là chư sinh.
3. Danh lạc Tôn Sơn : tương truyền, Tôn Sơn người đất Ngô, cùng bạn đồng hương dự thi. Tôn Sơn đậu cuối bảng. Về nhà, cha của bạn hỏi con mình có đậu không, Tôn Sơn trả lời :
Giải danh tận xứ thị Tôn Sơn,
Hiền lang cánh tại Tôn Sơn ngoại.
 
Bảng ra, cuối cùng là Tôn Sơn,
Con bác còn đứng sau cả Tôn Sơn!
Từ đó mà có thành ngữ trên, chỉ thi hỏng.
4. Hồng Kiều : người đời Tấn, làm thái thú Dự Chương. Về kinh người quen nhờ đưa thư về đến hàng trăm lá. Thuyền đến bến Thạch Đầu, Hồng Kiều đem tất cả thư vứt xuống sông, nói : Cái đáng chìm thì chìm, cái đáng nổi thì nổi. Ân Hồng Kiều này không phải là kể chuyển thư!
Sau chỉ việc chuyển nhờ thư, nhờ sai..
Beautiful things happen when you love someone.
Đăng nhập để trả lời
0
Hương Nghiên Thi Hương Thi Hội Thay Người Tình
  Phùng Hương Nghiên nhà ở Tô Châu, phụ thân là một nhà nho nghèo, đến tuổi trung niên, bỏ nghiệp nho sang đi buôn, kiếm được một ít tiền rồi xây nhà cửa cao ráo, mở lớp dạy học trò ngay trong nhà, không đi buôn nữa!
  Mẫu thân Hương Nghiên qua đời rất sớm, mọi việc sinh hoạt trong gia đình trông chờ vào một bà già quản gia. Hương Nghiên vừa xinh đẹp vừa thông minh. Nhờ phụ thân dạy bảo ngay từ nhỏ nên từ kinh sử, thi thư cho đến ca từ đều chỉ một lần nghe, một lần đọc là không quên. So với lũ học trò của cha thì chẳng ai hơn được. Vì vậy, Hương Nghiên được cha rất yêu quý. Trong thời cha Hương Nghiên buôn bán ở Hán Khẩu, từng mua được một người hầu gái đem về hầu hạ cũng là làm bạn với Hương Nghiên, tên gọi Nộn Hoa, tuổi khoảng mười bốn mười lăm, tính tình lanh lợi. Trong số học trò của cha có một thư sinh họ Dương, gia thế vốn thuộc dòng đại tộc danh giá, cũng khoảng suýt soát tuổi của Hương Nghiên, lại học hành giỏi giang, có thể sánh với Hương Nghiên, như một đôi trai tài gái sắc trời dành sẵn vậy.
  Có những lần, Hương Nghiên ra vườn trước nhà hái hoa, tình cờ gặp thư sinh họ Dương. Bốn mắt nhìn nhau, hai lòng dường như cùng thông cảm, có điều chưa nói được gì. Sáng hôm ấy, Hương Nghiên ra hái một cành hoa thu hải đường, sai Nộn Hoa đưa cho thư sinh họ Dương. Dặn qua Nột Hoa, Dương công tử hãy đem về cắm vào trong phòng riêng mà thưởng thức, cùng một tờ giấy nhỏ, đặt trên bàn học của họ Dương. Dương công tử mở ra xem, thì thấy hai bài thơ tứ tuyệt như sau :
          Kì nhất :
Tân nguyệt sinh lương dạ khí thanh,
La y bất nai tọa thâm canh.
Nhất câu vị liễu đoàn luyến ý,
Chiếu trước nùng lai phân ngoại minh.
          Bài một :
Trăng soi, trời lạnh đêm lặng thanh,
Áo lụa ngồi chờ canh nối canh.
Hò hẹn một lời, nào đã có,
Đợi chàng phân rõ mối riêng tình.
          Kì nhị :
Cô ảnh sơ đăng phạ thướng lâu,
Lệ châu thường hướng chẩm hàm lưu.
Thu lai tâm sự thùy năng hiểu,
Tố dữ Thiên Tôn bất giải sầu!
          Bài hai :
Đèn ngại khêu cao, sợ bước lầu,
Lòng riêng lệ nhỏ, những đêm sâu.
Thu về tâm sự, ai người hiểu,
Kể với Thiên Tôn, chẳng vợi sầu.
  Từng chữ trông thật duyên dáng đáng yêu, so với chữ của họ Dương có phần còn đẹp hơn. Sau hai bài thơ không thấy đề tên người làm, gửi cho ai, nhưng đọc xong, họ Dương cũng thấy ngay ai làm, ai nhận rồi. Họ Dương vội giấu kín, chờ đến lúc rỗi rãi, không người sẽ họa lại gửi trả lời Hương Nghiên. Nhưng sau đó thì họ Dương bận việc học hành, bài vở của thầy, không thể làm ngay. Nhiều lần định tìm gặp Hương Nghiên nói chuyện, nhưng chưa có cơ hội thích hợp.
  Thời gian sau, có người họ hàng họ Dương tới nhà bàn chuyện hôn nhân, họ Dương biết chuyện, không bằng lòng, nhưng cũng không dám lên tiếng phản đối. Sau đó thì hai bên cha mẹ đã chọn được cả ngày đính hôn, ngày cưới. Dương công tử vẫn không có cách nào thoái thác. Sáng hôm ấy, Dương công tử tìm cách đến trường rất sớm, thấy Hương Nghiên trong vườn hoa, đang đứng dưới cây mộc tê, trong tay cầm một cành hoa, nhìn hoa ra chiều nghĩ ngợi. Bất giác trông lên, thấy họ Dương đến trường vào giờ này, biết ngay có chuyện khác thường, bèn giơ tay vẫy. Dương công tử lại trước mặt, Hương Nghiêm cầm cành hoa đưa cho họ Dương, nói :
- Xin tặng công tử. Mai kia công tử nhất định bẻ được quế cung trăng, bảng vàng có tên. Đây xin coi như điềm lành báo trước vậy!
  Dương công tử cười :
- Hoa tuy đẹp, nhưng lòng tiểu sinh thật ngổn ngang. Tiểu sinh chỉ mong được cùng Thường Nga sống với nhau tới bạc đầu (1), nhưng không biết kiếm đâu được linh dược của Tây Vương Mẫu, lên được cung trăng cùng Thường Nga hội ngộ bây giờ!
  Hương Nghiên hai má ửng đỏ, đang định hỏi có chuyện gì mà họ Dương phải băn khoăn, thì họ Dương đã nói :
- Tiểu thư gửi tiểu sinh hai bài thơ, cũng đã rõ tâm tình sâu nặng của tiểu thư vậy. Từng câu từng chữ của hai bài thơ lúc nào cũng hiện rõ trong lòng tiểu sinh, không thể nào quên. Nhưng cơ hội không dành cho chúng ta, cha mẹ tiểu sinh đã toan tính mọi chuyện cho tiểu sinh. Tiểu sinh tuy không nguyện ý, nhưng không biết làm thế nào để nói chuyện này với cha mẹ được! Chỉ còn cách trốn đi đâu đó một thời gian. Trong lòng tiểu sinh chỉ có tiểu thư. Những mong muốn cùng tiểu thư :
Tại thiên nguyện tác tị dực điểu,
Tại địa nguyện vi liên lí chi.
 
Xin kết nguyện chim trời liền cánh,
Xin làm cây cành nhánh liền nhau (2).
thề rằng sinh sinh tử tử, không thay lòng đổi dạ.
  Nói xong Dương công tử lấy trong người ra một miếng ngọc bội, tự tay đeo vào cổ cho Hương Nghiên. Ngoài cổng xôn xao tiếng những học trò đầu tiên đến lớp. Hương Nghiên vội quay vào nhà trong. Còn Dương công tử thì quay ra ngoài bằng lối cửa góc vườn.
  Chiều tối, thấy người nhà họ Dương tới tìm Dương công tử. Nói rằng từ sáng sớm đã không thấy Dương công tử đâu cả. Họ Phùng nói :
- Hôm nay không thấy Dương công tử đến lớp học!
  Cả nhà họ Dương vô cùng hoảng hốt, sai người đi khắp nơi tìm, cũng không thấy tung tích Dương công tử đâu cả. Hương Nghiên thấy Dương công tử vì mình mà bỏ nhà trốn đi, trong lòng vô cùng cảm kích, một mình khóc thầm, suốt đêm không ngủ. Hương Nghiên cũng thề trước tượng Phật, thờ trong nhà mình rằng : "Đời này, kiếp này chỉ sánh đôi chồng vợ với Dương công tử thôi. Dẫu có chết cũng quyết không lấy ai khác! Ngày ngày nguyện thắp hương khấn vái đức Phật phù hộ độ trì cho Dương công tử bình an, sớm trở về!"
  Nộn Hoa rất thông minh, thấy ngay chuyện thắp hương khấn vái này của tiểu thư nhất định có quan hệ tới việc bỏ nhà đi của Dương công tử. Nên mới nhân lúc thích hợp, hỏi chuyện tiểu thư. Hương Nghiên cũng rất yêu thương, tin tưởng ở Nộn Hoa, bày tỏ cho Nộn Hoa biết mọi chuyện, hỏi Nộn Hoa nên làm thế nào bây giờ?!
  Nộn Hoa có một người anh họ, họ Phan, tên Nguyên Vĩ, khôi ngô tuấn tú, theo thầy đọc sách tận Kinh Giang, đến Tô Châu có việc. Trên đường tiện ghé thăm Nộn Hoa. Cha của Hương Nghiên giữ Nguyên Vĩ lại chơi trong nhà mấy ngày. Thấy Hương Nghiên xinh đẹp, trong lòng rất hâm mộ, cho nên mới về nói với cha mẹ cầu thân với nhà họ Phùng. Cha của Hương Nghiên thấy Nguyên Vĩ ra dáng con nhà, hai bên  cũng có vẻ môn đăng hộ đối, nhà họ Phan lại giàu có nên bằng lòng nhận lời gả Hương Nghiên cho Nguyên Vĩ, thu đồ sính lễ của họ Phan, định liệu xong xuôi ngày cưới.
  Hương Nghiên biết được chuyện này thì vô cùng hoảng hốt, cùng bàn luận với Nộn Hoa, nhưng rồi cả hai thầy tớ cũng không thể nghĩ ra được kế sách gì cho vẹn toàn mọi mặt cả. Cuối cùng chỉ còn cách viễn tẩu cao phi, chạy xa bay cao mà thôi.
  Hương Nghiên trước bàn thờ Phật, thắp hương xin quẻ, thì được một quẻ đại cát. Bèn giấu phụ thân, tìm sắp đồ đạc, quần áo, giả trang con trai, cùng với Nộn Hoa bỏ nhà trốn đi. Cả hai đi đến Hử Quan thì không biết đi đâu nữa, ngồi nghỉ bên bờ sông. Bỗng có một ông già chèo một con thuyền nhỏ qua gần bờ, mấy ngày không kiếm được con cá nào qua ngày, nên hỏi hai người có đi thuyền thì ông lão sẵn sàng chở kiếm ít tiền mua gạo, nên hỏi Hương Nghiên :
- Công tử có đi Nam Kinh. Lão xin chở thầy trò công tử đi ngay bây giờ!
  Hương Nghiên trong lúc chưa có chủ định gì cả, nghe ông già nói vậy, liền bằng lòng, thầy trò liền xách hành lí xuống thuyền.
  Đến Nam Kinh, Hương Nghiên vào quán trọ thuê phòng. Ngày đẹp trời, thường cùng Nộn Hoa tới một am gần đấy thắp hương cầu Phật, cũng là xem xét chung quanh ra sao, để thầy trò còn định liệu công việc sắp tới của bản thân.
  Trước đấy, Dương công tử bỏ nhà ra đi, cũng trong cảnh tương tự. Không hướng đi, không mục đích rõ ràng, trừ mục đích tránh một cuộc hôn nhân, tránh một cuộc đụng độ với gia đình nhất định sẽ xảy ra nếu không chấp nhận cuộc hôn nhân cha mẹ sắp đặt đó. Mãi đến khi giữa ngã ba đường thành chuyện hoàn toàn theo nghĩa đen, thì chuyện quyết định không thể không làm, mới nghĩ rằng nghe nói Dương Châu đệ nhất thiên hạ, phồn hoa đô hội, với muôn hồng nghìn tía đủ các kì hoa dị thảo, nên họ Dương thuê một chiếc thuyền nhỏ đi Dương Châu. Tìm đến vùng ngoại thành, thuê một phòng nhỏ trong một biệt thự đổ nát để ở. Có người thành thật khuyên Dương công tử, nơi ấy hoang dã, không người ở đã lâu, có tiếng là nhiều yêu quái hoành hành lâu nay, không nên ở. Nhưng họ Dương không tin, không nghe.
  Một hôm trời đã tối, Dương công tử thắp đèn, định đọc sách, nghe ngoài hiên có tiếng chân bước, tuy rất nhẹ nhàng, đến cửa phòng của họ Dương. Một tiếng động khẽ, cửa phòng họ Dương mở ra. Một cô gái duyên dáng bước nhẹ nhàng đến trước mặt. Dung nhan xinh đẹp, vô cùng hấp dẫn, khiến họ Dương kinh hoàng, không phải vì sợ hãi mà vì đột ngột, mặc dù cũng có nghĩ cô gái có khi không phải là người mà là yêu quái như những người chung quanh vẫn đồn đại chăng. Dẫu sao, Dương công tử cũng thấy nên gọi thu đồng. Cậu thư đồng này vẫn theo công tử từ lúc họ Dương trốn nhà ra đi,chẳng khác gì Nộn Hoa vậy. Nhưng thư đồng vẫn ngủ như chết. Cô gái thấy Dương công tử hoảng hốt như vậy thì cười nói :
- Công tử còn nhớ ý trung nhân của mình nữa không?
  Cô gái hình như cũng có thiện ý muốn trấn an Dương công tử ít nhiều, nhưng họ Dương không hiểu ý này của cô gái, nên hỏi lại :
- Tiểu thư là ai? Tiểu thư hỏi như vậy để làm gì bây giờ?
  Cô gái không trả lời, mà hỏi lại :
- Tiểu thư nhà họ Phùng, có phải là ý trung nhân của công tử không? Nếu như công tử muốn gặp Phùng tiểu thư thì xin hãy đi theo thiếp!
  Thế rồi, cô gái khoan thai, kéo Dương công tử ra khỏi phòng. Cả hai đạp trên những lá khô trong vườn, tiếng nghe xào xạc rất rõ trong đêm trăng đầu tháng mờ ảo của một vùng cây cối rậm rạp ngoại thành, đến trước một tòa nhá lớn, trồng rất nhiều dương liễu, cành lá la đà rủ xuống cả bậc thềm cao của cửa trước tòa nhà. Dưới ánh trăng trông thấy huyền ảo nhưng cũng thật khiến người ta sợ hãi. Bên tường là những cành tầm xuân tha hồ leo rậm rạp, những đóa hoa lung linh nhấp nhánh tỏa hương đầy thanh khiết, khiến Dương công tử tìm lại được ít nhiều sự bình yên, như thấy lại một sự quen thuộc nào đó mỗi khi ra vườn nhà họ Dương, hoặc mảnh vườn nhà họ Phùng mà hàng ngày chàng vẫn ngồi trong lớp học nhìn thấy hiện hữu bên ngoài cửa sổ.
  Cô gái nói với họ Dương :
- Nơi này là am Diệu Hương, một trong những am còn lại, tuy có hư hỏng một ít sau những cuộc tao loạn của mấy chục năm gần đây. Cảnh trí của am cũng đáng thưởng thức đấy. Công tử cứ yên tâm, không có chuyện gì xấu hơn đâu!
  Dương công tử lặng lẽ theo sau cô gái, đi men theo tòa nhà lớn, ra phía sau, thì thấy một ngôi nhà nghỉ nhỏ ở góc vườn. Ngoài thềm của nhà nghỉ, một chàng tuổi trẻ hình như đứng chờ hai người. Cô gái lại nói :
- Đây có phải là ý trung nhân của công tử không? Hi vọng rằng công tử chưa quên tiểu thư chứ? Mai kia còn có dịp gặp lại, lúc ấy xin công tử đừng quên công lao của người giúp đỡ cho công tử nhé!
  Dương công tử đang chú mục xem người thiếu niên kia là ai, thì từ phía sau, con hổ ngồi phủ bên cửa mà Dương công tử đã trông thấy, tưởng rằng chỉ là hổ tượng, bỗng nhảy chồm ra, vồ vào chân họ Dương, khiến họ Dương hoảng hốt thét lớn một tiếng, bàng hoàng tỉnh giấc. Thì ra chỉ là một giấc mơ! Trên bàn, ngọn đèn vẫn còn cháy sáng, bốn bề yên tĩnh. Cô gái không thấy tăm tích. Họ Dương cảm thấy chuyện như thật, mà cũng như mơ, không thể lí giải rõ ràng!
  Mấy ngày hôm sau, nhân ngồi nói chuyện với chủ biệt thự, họ Dương vẫn chưa hết băn khoăn về giấc mơ của mình, mới hỏi chủ nhà :
- Quanh vùng này, chủ nhân có biết có miếu thờ nào có tên là Diệu Hương am chăng?
  Chủ nhà đáp :
- Vùng này không có một miếu nào có tên như vậy cả. Nhưng ngoài thành NamKinh có một ngôi miếu cổ có tên như vậy. Trước đây, bản thân cũng nhiều lần đến dâng hương. Phong cảnh thật không thua gì Dương Châu này cả!
  Nhân đó, chủ nhà giới thiệu những cổ tích vùng ngoại thành Dương Châu này, nổi tiếng ngay từ thời Lục Triều (3). Nhưng cũng không bằng vùng Nam Kinh hiện nay. Hình như trước đây chủ nhà cũng đã ở Nam Kinh, nên sự hào hứng của chủ nhà về Nam Kinh khiến Dương công tử cũng muốn tới Nam Kinh một chuyến xem sao.
  Mấy tuần sau, nhân có việc đi Nam Kinh, chủ nhà rủ Dương công tử cùng đi. Họ Dương bằng lòng ngay. Ở Nam Kinh trong vòng một tháng, trong một nhà quen của chủ nhà, thầy trò họ Dương đi khắp nơi, tuyệt không trông thấy thiếu niên trong mộng đâu cả. Nhưng có điều, không ngày nào Dương công tử không đến Diệu Hương am thắp hương. Sau đó, hai thầy trò thuê ngay một gian nhỏ ngay cạnh Diệu Hương am để đọc sách luôn cho tiện. Lại được vị trụ trì của am rất có cảm tình với Dương công tử, mọi chuyện đều thuận tiện. Lúc rỗi, họ Dương vào am viết kinh cho am, cùng vị trụ trì trò chuyện. Tối đến chong đèn đọc sách đêm dài, cũng không lúc nào quên, ra ngoài thăm thú may ra có gặp được thiếu niên trong mộng chăng?
  Một hôm, họ Dương đứng ở sân trước của am, xem chọi gà. Người đi lại nhộn nhịp, thì thấy từ xa một thiếu niên phong thái rát khoan thai, rõ ràng đã gặp. Đế không thể nhầm, họ Dương lại gần hơn, thì đúng là thiếu niên trong mộng, đứng chờ ngoài thềm nhà nghỉ mát nhỏ góc vườn trước đây. Không thể sai được rồi. Hàng ngày, họ Dương vẫn không lúc nào quên dáng hình này mà! Họ Dương định lại hỏi chuyện, thì thấy một tiểu đồng đã bước nhanh lại hỏi chàng :
- Tìm Dương công tử khắp nơi. Thì ra công tử ở đây sao?
  Dương công tử hỏi tên họ, gã thư đồng nói :
- Nơi này không phải chỗ thầy trò trò chuyện. Công tử hiện đang ở chỗ nào?
  Dương công tử đáp :
- Ta ở cách đây không xa!
  Gã tiểu đồng hỏi tiếp :
- Phòng có người nào khác không?
  Dương công tử đáp :
- Ta vốn thích tĩnh mịch, không thích cùng ai ở chung cả. Chỗ ở của ta không có ai khác!
  Dương công tử nhìn kĩ tiểu đồng, thấy cũng có vẻ quen mặt, liền hỏi :
- Khách là tiểu đồng của công tử nào thế? Trông thật thông minh lanh lợi. Xin cho biết tên họ của chủ nhân, may ra ta cũng có biết chăng?
  Tiểu đồng không trả lời, thầy tớ cùng đi theo Dương công tử về phòng trọ của họ Dương. Một đường nhỏ khúc khuỷu, sạch sẽ, hai bên những mảnh vườn hoa vùng ngoại thành xinh xắn. Vào một ngôi nhà vườn đầy hoa, chỉ một thứ là mã anh hoa nhưng có hai màu đỏ và tím, nở rộ khắp vườn. Kề bên cửa sổ là một bụi chuối, lá che mát, có tàu còn nghiêng sát vào hàng lan can nhỏ sau nhà. Trước cửa nhà, một bức hoành phi cũng không lớn, nhưng vì thế rất hài hòa với ngôi nhà riêng này. Trên hoành phi đề bốn chữ thảo, nét bay bướm duyên dáng, thật gợi một không khí đầy tiêu sái. Cả bốn chữ cũng như để tả cảnh chứ không chỉ tả tình : Lục âm nhân tĩnh - Bóng xanh che, người yên tĩnh.
  Vào phòng, chỉ hai gian nhỏ, gian ngoài là nơi tiếp khách cùng đọc sách. Chủ khách cùng ngồi. Dương công tử từ tốn hỏi khách :
- Xin thật tạ lỗi. Nhưng hình như tiểu sinh đã gặp công tử ở đâu, rất quen, mà không thể nhớ ra được. Thật không phải lễ chút nào!
  Khách bỗng hai hàng nước mắt dàn dụa, nức nở không nói. Họ Dương hoảng hốt. Một lát trấn tĩnh, khách lên tiếng :
- Thiếp chính là Hương Nghiên, nhà họ Phùng. Công tử không nhận ra thiếp sao? Thiếp phải cải dạng nam trang thôi mà!
  Dương công tử vừa vui mừng vừa kinh ngạc :
- Dẫu không khi nào quên đi chăng nữa, thì trong trang phục như thế này, tiểu sinh thật không nhận ra ngay! Thư đồng vừa rồi, có phải là Nộn Hoa hay không? Có lẽ đúng rồi, trông còn có vẻ dễ nhận hơn tiểu thư nữa kia!
  Hương Nghiên bèn đem chuyện thầy tớ mình từ đầu kể cho Dương công tử nghe. Nghe chuyện Dương công tử vừa mừng vì tình sâu nghĩa nặng mà Hương Nghiên dành cho, vừa xót xa khi thấy thầy trò Hương Nghiên phải chịu bao nhiêu khổ sở lo sợ khi ra khỏi nhà. Hương Nghiên tiếp :
- Hiện nay thiếp đang mang tên họ công tử. Mấy hôm trước ngay ngoài cửa nhà trọ, có gặp một công tử cùng họ Phùng, con Phùng thị lang, đi nộp quyển dự thi. Phùng công tử có khuyên thiếp cũng nên nạp quyển dự thi hương lần này. Nên thiếp cũng đã nghe theo, nhờ Phùng công tử nạp tên chàng. Hiện giờ thời gian thi cũng đã gần rồi. Nếu may mà trúng cử nhân, thì sang năm dự thi hội. Mùa xuan, thiếp sẽ thay đổi trang phục lại thành tiểu thư họ Phùng như cũ vẫn chưa muộn mà!
  Hương Nghiên vì vậy đến phòng Dương công tử. Cả hai cùng đèn sách, cùng gắng sức chuẩn bị kỹ càng cho hai kì thi sắp tới, chí ít cũng một kì.
  Không bao lâu kì thi hương đã đến, Hương Nghiên như quyển đã nạp, đội tên Dương công tử đi thi. Bài làm vô cùng xuất sắc. Cả ba kì đều có tên. Đến khi ra bảng kì thứ ba cuối cùng, Hương Nghiên đậu cử nhân hạng cao.
  Hương Nghiên cáo bệnh, không tiếp khách khứa bạn bè gì cả. Mọi chuyện giao tiếp đều một mình Dương công tử làm, theo tên của chính họ Dương, nhưng cũng là danh nghĩa cử nhân tân khoa mà Hương Nghiên dành được.
  Vào hội thí, người đứng ra dự thi là Dương công tử. Mọi chuyện cũng may nhờ ơn trời phật không ai biết chuyện thay đổi này cả. Không bao lâu, hoàng thương có chỉ, cho Dương công tử hậu bổ tri huyện. Trước khi lên đường nhậm chức vẫn đủ thời gian trở về lo chuyện hôn nhân. Lúc này, Hương Nghiên mới trở lại trang phục tiểu thư cùng lên đường về quê với Dương công tử.
  Phan Nguyên Vĩ cũng đã thành hôn, không ai nhắc tới chuyện cũ nữa. Dương công tử cùng Hương Nghiên vui vẻ làm lễ thành thân. Cô dâu chú rể hạnh phúc, tiếng tăm đều toàn vẹn. Cả hai họ nội ngoại, sau những lo lắng lại thêm phần vui vẻ. Nộn Hoa cũng theo Hương Nghiên về nhà họ Dương, về sau trở thành thiếp của Dương công tử. Dương công tử cũng không quên công ơn sâu nặng của nữ lang trong mộng hồi đi Dương Châu, nhiều lần mong được gặp lại trong mộng, nhưng vẫn không thấy.
  Không lâu, Dương công tử có lệnh đi nhậm chức ở huyện Cố Thủy, thuộc Hà Nam. Việc công chăm chỉ, hưng lợi trừ tệ, án từ phân minh, rất được dân chúng trong huyện ngợi khen.
  Dương công tử nhiệm kì tri huyện sắp hết, gặp một vụ án mà bị cáo bị tố cáo đã giết chồng. Phạm nhân bị giải lên công đường, Dương công tử thân hành thẩm vấn, nhìn thật kĩ, Dương công tử thấy đây chính là người mình gặp trong mộng ở Dương Châu dạo nào. Hỏi vì sao có chuyện giết chồng này, góa phụ nói trong nức nở rằng bị oan. Dương công tử cho lệnh khám nghiệm tử thi, thì thấy thi thể gày gò chỉ da bọc xương, hoàn toàn không có vết thương ngoại khoa nào, cũng không có dấu hiệu bị đầu độc, mà chỉ như bị bệnh kinh niên, không chạy chữa được mà thôi! Người mẹ chồng cùng bố chồng đều trông dáng vẻ rất độc ác. Dương công tử thấy ngay trong chuyện này có sự khuất tất nào đó. Hai ba lần tra hỏi đi lại rất công phu, thì chuyện mới minh bạch. Nguyên do, người chồng bị bệnh lao lực đã lâu ngày, họ hàng người nhà, trong đó chủ chương chính là người mẹ chồng nọ, tính chuyện cưới cho con một người vợ, để làm phép xung hỉ, may ra người bệnh khỏi chăng. Nhưng chuyện không tốt hơn, mà thành xấu hơn. Chỉ hai ngày sau khi cưới, người bệnh qua đời. Cô dâu mới vẫn còn là xử nử, trông rất xinh xắn. Bố chồng cũng như mẹ chồng, một phường mèo mả gà đồng, tìm cách cưỡng gian, cô dâu góa quyết không chịu. Tìm muôn phương nghìn kế bức bách, nhưng vẫn không toại nguyện, trong lòng căm giận khôn cùng, muốn làm cho cô dâu không còn đường thoát. Hai vợ chồng bàn nhau, vu cho con dâu giết chồng. Mới đầu, cũng chỉ là định uy hiếp cô dâu, để bắt nghe thoe, thì mọi chuyện cũng sẽ không có gì phải căng thẳng. Nhưng người em trai cô dâu biết chuyện, không chịu, tức giận kéo thêm bạn bè đến tận nhà anh chồng chết làm to chuyện. Cha mẹ chồng tức quá, không nghĩ điều hơn lẽ thiệt, đem chuyện kiện tận huyện đường. Nếu không có sự sáng suốt chu đáo của Dương công tử, thì rất có thể cô dâu bị ghép vào tử tội.
  Nhưng khi án từ xong xuôi, Dương công tử hỏi chuyện trong mộng thì họ Dương đã được cô gái mách bảo tìm được Hương Nghiên, thăm dò xem sao, thì cô gái như không biết chút nào về chuyện nào cả!
Nguyên văn : Phùng Hương Nghiên. Quyển 2.
 
 
 
---------------------------------
Chú thích :
1. Thường Nga, cũng gọi là Hằng Nga, do đời Hán kiêng tên Lí Hằng, vua Hán Vũ Đế. Truyền thuyết nói, chồng của Thường Nga là Hậu Nghê, xin được thuốc trường sinh ở Tây Vương Mẫu. Thường Nga uống trộm, hóa thành tiên bay lên cung trăng...
2. Trích trong Trường hận ca, bài hành nổi tiếng của Bạch Cư Dị, nói về tình yêu lí tưởng của Đường Minh Hoàng và Dương Quý Phi. Tản Đà dịch thơ.
3. Lục triều : chỉ sáu triều đại ở phía nam của thời kì Nam Bắc triều, tồn tại khoảng 420 sau công nguyên cho tới 589. Lần lượt là : Tống, Tề, Lương, Hậu Lương và Trần. Đều đóng đô ở Kiến Khang, nay là Nam Kinh. Dương Châu, một trong chín châu cổ. Cũng là một trong mười ba châu nhà Hán. Đến Hán gọi là Quảng Lăng. Nay là thành phố Dương Châu thuộc Giang Tô. Nổi tiếng là đất phồn hoa đô hội từ thời cổ xưa.
 
Beautiful things happen when you love someone.
Đăng nhập để trả lời
0
Hồ Li Tinh Trịnh Chỉ Tiên
  Tôn Tôn, tự Bá Lam, tổ phụ là người Ngô Hưng, thuộc Triết Giang, tự hiệu là Đài Khê Túy Mặc Sinh. Từ nhỏ theo cha đến chỗ làm quan, nên cũng đi khắp nơi trong nước, nhất là vùng trung nguyên. Cuối cùng, do cha có chính tích tốt, nên được hoàng đế cất nhắc làm thái thú An Khánh thuộc tỉnh An Huy.
  Lúc này, An Khánh đang trong loạn lạc, khắp nơi hoang tàn đổ nát, các công thợ nhà nước lại càng hoang phế hơn qua các tranh giành cướp đoạt của phe phái đánh cướp, chưa một lần có thời gian nghĩ đến việc trùng tu. Cho nên, chính mắt chứng kiến, ở trong cảnh như vậy, Tôn Tôn càng thấy buồn thương hơn người nào khác. Một lần cùng cha đến nhiệm sở mới, dinh thự chính của quan thái thú không thể nào nương thân, không còn một gian nhà lành lặn, nên phải tìm đến ba gian nhỏ bên cạnh. Ba gian nhỏ này, không phải nhà công mà hình như của một người dân nào đó bỏ lại chạy loạn. Tất nhiên quan thái thú cũng phải cho sửa chữa ít nhiều, cha con mới có chỗ nương thân yên ổn một chút. Vì vậy cũng gọn gàng, sạch sẽ. Bên nhà, một dòng suối trong nhỏ chảy qua. Hai bên bờ, những hòn đá cuội chạy lan, và cây hoang, cỏ dại mọc đầy, trở thành một thế giới hoang dã không dấu chân người, càng trở nên tiêu biểu cho những năm khói bụi của vùng An Khánh. Chủ nhân của ba gian nhà nhỏ hình như cũng là chỗ quen biết của quan thái thú họ Tôn nữa kia. Riêng đối với Tôn Tôn, đem đến một cây đàn, một ít sách vở cũng đủ biến nơi này thành một chốn nương thân yên ổn thú vị. Cha thì ở trong chỗ công đường tạm thời của quan thái thú, ít khi tới được ba gian nhà cỏ của Tôn Tôn.
  Một hôm, vào khoảng hoàng hôn, Tấn Xương quan sát mở tiệc mời, trong tiệc cũng đủ các loại tửu lệnh, xạ phúc, hết trò này tới trò khác, thù ứng chủ khách đủ chuyện. Có một vị khách, tình cờ nói về hồ li tinh, nhân một chuyện gì đó, người cho là thật người cho là không. Người khen kẻ chê. Lúc này Tôn Tôn đã hơi say, nghe chuyện, đứng ngay về phía không tin có chuyện hồ li tinh thần thông biến hóa thành người đẹp. Bình sinh Tôn Tôn chưa từng thấy nên nhất định không tin.
  Lúc này, đang tiết trung thu, trăng soi sáng như ban ngày. Tiệc tan, Tôn Tôn đạp trăng trở về ba gian phòng vắng bên suối nước của mình, thì cũng đã nửa đêm rồi. Đang định đi ngủ, thì nghe bên ngoài có tiếng gõ cửa, thì vô cùng lạ lùng. Tôn Tôn khoác áo dậy, nhìn qua cửa sổ thì thấy một cô gái hình dung duyên dáng đang đứng ngay trước thềm. Mở cửa bước ra, quả đúng một tiểu thư khuê các, trang phục màu tím, quần màu  sẫm hơn một chút, dưới ánh trăng, trông càng huyền ảo muôn phần. Thật đủ tư cáchc của Hằng Nga giáng trần đêm trung thu vậy. Tôn Tôn nhìn, ước khoảng mười bảy mười tám tuổi không hơn được. Trong lòng thầm rạo rực vì đứng trước một tuyệt thế giai nhân một cách không ngờ, ngoài cả ao ước. Tôn Tôn vái chào cung kính :
- Tiểu thư từ đâu tới, tiểu thư có điều gì dạy bảo mà đến tệ xá? Có phải tiểu thư là Thường Nga, nhân trung thu xuống tìm người tình hạ giới chăng?
  Cô gái nghe xong mỉm cười, đáp :
- Em là con gái nhà họ Nguyễn, láng giềng phía đông nhà chàng, chỉ cách nhau có một bức rào thưa, mỗi đêm thanh vắng canh khuya đều được nghe tiếng chàng đọc sách, thì biết ngay chàng là một thư sinh thanh nhã. Đêm nay trăng sáng, chàng thì không phải là một anh ngốc sao không khỏi có cảm giác cô đơn, nên riêng đến bầu bạn với chàng cho cảnh trung thu thêm phần trong sáng, bới đi nỗi cầu Ô xa cách.
  Tôn Tôn nghe xong cười :
- Nàng giáng lâm nơi quán trọ nghèo của nho sinh, thì đúng là một niềm an ủi lớn cho kẻ học trò cô độc này. Chúng ta hãy ngồi cùng nhau trò chuyện cho tận hết đêm trung thu này!
  Cả hai dắt nhau vào phòng, đèn đốt lên, hàn huyên đủ chuyện. Hồi lâu, cô gái mỏi mệt, nửa thức nửa ngủ. Tôn Tôn liền giải giường chiếu, cả hai đầu gối má kề, cho tới tận sáng, cô gái trở dậy uống nước. Ngồi trước bàn sách của Tôn Tôn, nhìn thấy một quyển sách viết tay để mở, biết là chữ viết của chủ nhân, cô gái cầm đọc thơ của Tôn Tôn. Cô gái đòi Tôn Tôn làm cho mình một bài thơ, từ chối không được, Tôn Tôn cầm bút viết một bài tứ tuyệt thất ngôn sau đây :
Cách tường hoa ảnh tiểu bồi hồi,
Hốt kiến lăng ba nguyệt hạ lai.
Tịnh tọa sơn song vô cá sự,
Hỉ hồng nhất điểm hỗn hương tư.
 
Cách tường hoa chiếu, dạ bồi hồi,
Bỗng gót sen vàng lãng đãng trôi.
Ngồi nép bên song trông bóng núi,
Son hồng một điểm rạng bao đời.
  Cô gái cầm bài thơ, đọc xong cười rất đẹp, giấu ngay vào trong ống tay áo, nói :
- Chàng rất giỏi trêu đùa người khác. Thế nào rồi em cũng phải tìm cách trả thù bằng được mới xóng
  Nói xong lên tiếng chào Tôn Tôn :
- Trời sắp sáng rồi, chàng hãy cứ ngủ tiếp. Em phải đi rồi. Lúc nào rỗi, em lại sẽ tìm gặp chàng sau. Chỉ xin chàng nhớ cho đừng bao giờ kể lại cuộc gặp gỡ đêm nay của chúng ta cho bất kì ai cả!
  Nói rồi cô gái lẳng lặng ra khỏi cửa. Tôn Tôn vội vàng theo ra tiễn, bỗng ngã soài vì vấp bậu  cửa, bàng hoàng tỉnh giấc mơ, thấy mình vẫn nằm trên giường. Ngoài kia, tiếng gà lại rộn trong thôn. Tôn Tôn định ngủ thêm một giấc, nhưng rồi trằn trọc mãi, giấc ngủ vẫn không về, chỉ đành hồi cố hình ảnh người đẹp trong giấc mơ tình ái vừa rồi.
  Tôn Tôn thu dọn giường chiếu, thì thấy trên đầu giường một chiếc vòng ngọc, chạm trổ rất tinh xảo, trên mặt có những hàng chữ nhỏ li ti. Tôn Tôn ghé sát nhìn kĩ, thì ra một bài thơ tứ tuyệt thất ngôn như thế này :
 Hoa ảnh đương song nguyệt tại liêm,
Vãn trang lãn dữ đấu mi gian.
Tam canh mộng tỉnh vô nhân tại,
Tự khởi khiêu đăng tả ngọc kiềm.
 
Bóng hoa soi cửa, trăng trên mành,
Chiều muộn, lòng rầu, chim rộn thành.
Trống điểm, một mình soi bóng chiếc,
Đèn khêu cao ngọn, viết thâu canh.
  Dòng lạc khoản ghi : Ngọc Văn nữ sử thanh ngọa. Rất nhiều khả năng, Ngọc Văn chính là tên của cô gái. Tôn Tôn nâng niu chiếc vòng trong tay hồi lau, rồi giấu kín trong rương, mỗi khi vắng người mới dám lấy ra ngắm nghía không chán mắt. Chiều hôm ấy, Tôn Tôn mong Ngọc Văn trở lại nhưng không thấy. Tôn Tôn pha trà ngon, thắp hương khấn vái thành tâm, ngồi ngay cạnh bàn đọc sách chờ Ngọc Văn trở lại. Liên tiếp mấy chục ngày trong tâm trạng chờ đợi như vậy, nhưng vẫn không thấy bóng dáng. Tôn Tôn ngờ rằng chẳng qua một giấc mộng mà thôi. Lòng vì vậy cũng nguôi ngoai dần!
  Một hôm, Tôn Tôn lại đi uống rượu về. Từ xa nhìn vào phòng mình qua cửa sổ thấy có ánh đèn hắt ra. Lặng lẽ lại gần xem sao, thì nghe cả tiếng đọc thơ khe khẽ. Đẩy cửa bước vào, một cô gái đang ngồi trước bàn sách của Tôn Tôn, tay cầm bút như suy nghĩ gì đó trước khi hạ bút. Đột ngột Tôn Tôn xuất hiện, khiến cô gái sợ hãi, kinh hoàng kêu lên một tiếng, định chạy ra khỏi nhà. Tôn Tôn vội túm tay áo, nói :
- Mấy mươi ngày nay không trông thấy nàng. Đêm nay thật là may mắn, chúng ta lại được xum họp! Những ngày vừa qua không được trông thấy mặt nàng, tiểu sinh thực không sống nổi!
  Cô gái gỡ tay Tôn Tôn ra, cười nói đầy ngạc nhiên :
- Chúng ta từ trước đến nay chưa từng trông thấy mặt nhau, sao công tử lại nói những lời khó hiểu thế này?
  Tôn Tôn giờ mới nhìn kĩ lại cô gái, phát hiện ra cô gái này có khuôn mặt dài thon như một quả dưa, hai lông mày lá liễu thanh tú, da trắng như tuyết, trông vô cùng thanh lịch. Đẹp hơn Ngọc Văn ít nhiều. Tôn Tôn vội bỏ tay ra, cung kính tạ lỗi :
- Tuy chúng ta chưa gặp nhau lần nào, nhưng cũng xin tiểu thư ngồi cùng nhau nói chuyện làm quen. Huống chi, đang trong nhà rồi, sao tiểu thư không ngồi xuống ghế một chút, có sao đâu?!
  Cô gái ngồi xuống ghế, ngay bên song cửa, nét mặt thoáng vẻ thẹn thùng khi thấy Tôn Tôn đang nhìn những mảnh giấy trên bàn viết, và hỏi :
- Những câu thơ này có phải tiểu thư làm không? Tiểu sinh đọc qua cũng có thế thấy tiểu thư thật xứng đáng một nữ tài tử. Thật không sai chút nào đâu!
  Cô gái đáp :
- Những nét chữ tầm thường, không đáng phải bàn bạc nhiều. Xin chàng đừng quá khen, khiến người nghe thêm xấu hổ!
  Tôn Tôn thấy cô gái văn tài xuất chúng, nhan sắc hoa nhường nguyệt thẹn, từ tốn hỏi :
- Xin tiểu thư cho tiểu sinh biết quý tính được chăng?
  Cô gái đáp :
- Em họ Trịnh, tên Chỉ Tiên, hiện nay đang ở nhờ trong vùng này. Người cậu ruột là hàng xóm phía tây của chàng, cách không xa lắm. Hôm nay, sáng sớm em đến thăm cậu, nên đi qua cửa nhà chàng, nên mới có cuộc gặp gỡ này, âu cũng là duyên số kiếp trước chăng? Que nhà em vốn ở tận Tuy Lí, chân núi Độc Tú, cách đây hơn sáu mươi dặm. Nếu như chàng không chê, xin hôm nào ghé thăm, ta cùng nhau trò chuyện văn chương!
  Nói xong, Chỉ Tiên chào ra về. Tôn Tôn kéo Chỉ Tiên ngồi vào lòng mình, cười nói :
- Nàng đã nói, chúng ta có duyên phận với nhau từ kiếp trước kia mà!
  Chỉ Tiên hỏi :
- Chàng đã có vợ chưa?
  Tôn Tôn đáp :
- Suốt đời tiểu sinh chỉ mong tìm thấy một người như nàng để lấy làm vợ nhưng không tìm thấy!
  Chỉ Tiên hỏi tiếp :
- Đã từng gặp gỡ đi lại với một cô gái nào chưa?
  Tôn Tôn lưỡng lự không đáp được ngay. Cô gái chuồi ra khỏi lòng Tôn Tôn, phất tay áo định đi khỏi cửa. Tôn Tôn vội nói :
- Gặp gỡ trong mộng thì không thể tính là gặp gỡ được!
  Rồi kể lại cho Chỉ Tiên nghe tường tận giấc mộng gặp Ngọc Văn ra sao. Chỉ Tiên nghe xong, nói :
- Cũng chưa hẳn là mộng cả đâu. Cô gái Ngọc Văn nhà họ Nguyễn đó chính là em gái của Chỉ Tiên này. Chỉ vì sợ chàng quá lỗ mãng chăng nên phải thác vào mộng để gặp chàng, từ đó như làm mối cho chúng ta bây giờ thôi! Chiếc vòng ngọc hiện còn trong người chàng. Nay chàng hãy lấy ra, chàng cầm xoay nhiều vòng, liệu có thể Ngọc Văn từ trong mộng của chàng mà hiện ra chăng?
  Tôn Tôn nói :
- Nếu như nàng cùng Ngọc Văn là chị em gái với nhau, sao nàng không gọi Ngọc Văn tới đây, cùng nhau lấy một người, giống như Nga Hoàng, Nữ Anh trước đây cùng làm vợ của vua Thuấn, tốt đẹp biết bao nhiêu?
   Chỉ Tiên gật gật đầu, nói :
- Đến bây giờ em mới biết chàng không phải là người có mới nới cũ. Nhưng hôm nay, Ngọc Văn không có nhà, mà đi ngắm trăng cùng các bạn gái trong nhà một người quen rồi! Đêm nay không được, thì đêm mai em sẽ gọi Ngọc Văn đến cùng nhau xum họp một nhà vậy!
  Nói rồi cô gái ra dáng muốn đi, nhưng Tôn Tôn giữ tay không chịu. Đêm đó, Chỉ Tiên ngủ lại trong phòng Tôn Tôn. Sáng bạch, hai người tỉnh giấc. Tôn Tôn lên tiếng :
- Thật đúng như Hán Vũ Đế nói : "Nàng là ôn nhu hương(1) của ta vậy!"
  Chỉ Tiên thì vội vàng :
- Ham ngủ, không biết trời đã sáng bạch, ông cậu mà biết được thật cũng xấu hổ!
  Vội vàng sửa sang quần áo đầu tóc, rồi đưa cho Tôn Tôn một tấm khăn trắng có một chấm màu hồng rất rõ chính giữa, nói :
- Em thể chất yếu đuối, vì chàng mà bỏ đi đời con gái. Mong rằng mai kia chàng không bao giờ phụ thiếp.
  Chỉ Tiên ra khỏi cửa, từ ngay chiều hôm ấy, Tôn Tôn mong hai người trở lại, nhưng rồi vẫn chẳng thấy đâu!
  Không bao lâu, Tôn Tôn có việc ra ngòai thành, đường qua núi Độc Tú, Tôn Tôn nhớ lại, Chỉ Tiên nói quê dưới chân núi Độc Tú. Nhưng trong lúc vội vàng, không nhớ địa điểm cụ thể nữa, nên đành đi đi lại lại dọc theo sườn núi Độc Tú, nhìn những hẻm núi uốn lượn, nhưng không thấy nhà cửa gì cả. Xa thấy một cây cầu nhỏ bắc qua suối, phía cầu bên kia là một khu nhà lá với bốn năm nóc nhà. Rào vách toàn bằng tre nứa tuềnh toàng. Rất gợi không khí ẩn dật hoang nguyên. Sau nữa là bạt ngàn rừng tùng bách kéo đến ngút tầm mắt. Đi đến đầu ngõ ngôi nhà đầu tiên, hình như mới làm, thấy trước ngõ là một phiến đá sạch sẽ, Tôn Tôn ngồi xuống vừa nghỉ vừa nghe ngóng xem trong những nhà kia liệu có ai vào để hỏi thăm may ra có người biết nhà chị em Chỉ Tiên chăng.
  Ngồi một hồi lâu, bỗng hai cánh cổng nhà mở ra, một cô gái ăn mặc ra dáng a hoàn xuất hiện, lại trước mặt Tôn Tôn lên tiếng lễ phép :
- Công tử tìm ai mà ngồi chờ nơi này lâu vậy?
  Tôn Tôn hỏi lại :
- Đây có phải nhà họ Trịnh không?
  Cô gái đáp :
- Chủ nhân chúng tôi chính là họ Trính
  Tôn Tôn lại tiếp ngay :
- Có phải có một tiểu thư tên là Chỉ Tiên không?
  Cô gái kinh ngạc :
- Trịnh Chỉ Tiên tiểu thư chính là con gái thứ ba của chủ nhân chúng tôi! Khách ở xa đến sao lại biết?! Tiểu thư cính là con gái được chủ nhân quý chuộng nhất, vì xinh đẹp thông minh hơn cả! Nếu như không có lí do đàng hoàng, khuyên công tử hãy tránh xa, nếu không chủ nhân chúng tôi biết thì công tử chỉ tự chuốc họa vào thân mà thôi!
  Tôn Tôn cũng thấy bất an, nhưng cũng không thể đi ngay, vì rõ ràng cơ hội gặp lại chị em Chỉ Tiên trong tầm tay, nên Tôn Tôn lui ra phía ngoài cầu để chờ đợi xem sao. Nhưng rồi không còn cách nào khác, trời thì sắp về chiều. A hoàn không thấy ra nữa, Tôn Tôn lại mạnh dạn gõ cổng nhà. Một gia nhân xuất hiện, hỏi :
- Công tử có việc gì chăng?
  Tôn Tôn đáp :
- Ta là người Triết Giang, đồng hương với chủ nhân đây. Ngẫu nhiên có việc đi qua vùng này, có việc muốn gặp chủ nhân, kể chuyện quê nhà. Không có cớ gì khác!
  Gia đinh từ chối khéo :
- Chủ nhân chúng tôi vừa vào Nam Phong đạo viện, bàn thuật luyện đan với Sạn Hà đại sư, hàng nửa tháng trời có khi không về qua nhà.
  Tôn Tôn lại tìm cách khác :
- Phía tây phủ An Khánh có phải có người họ hàng với chủ nhân đây không? Hôm qua, chủ nhân nhà họ hàng này có nhờ ta gửi cho tiểu thư thứ ba đây một gói quà nhỏ.
  Nói rồi, Tôn Tôn lấy trong người ra một cái gói nhỏ, gói lại bằng giấy, tấm khăn trắng của Chỉ Tiên hôm trước. Tôn Tôn cũng đã kịp viết từ lúc nào mấy chữ bên ngoài : Chỉ Tiên cô nương ngọc khải. Gia đinh nhận đem vào. Không lâu, gia đinh này quay ra, mời Tôn Tôn đi theo một con đường nhỏ, qua một cổng nhỏ, đến một gác ở góc khu vườn rộng. Cửa ra vào chỉ mở một nửa. Vào bên trong, màn trướng dăng đầy, che kín rõ ràng là khuê phòng của tiểu thư danh gia vọng tộc. Chỉ Tiên đang ngồi trong phòng, nghiêng mình trước án thư xem sách như có ý đợi khách. Thấy Tôn Tôn, hai người cung kính làm lễ chào. Tôn Tôn nhận ra ngay bộ mặt buồn rầu của Chỉ Tiên, nghĩ rằng nhất định có chuyện không may lớn chăng, nên lên tiếng :
- Tiểu sinh từ xa tới đây tìm tiểu thư, cũng còn may được gặp nhau lần này. Lẽ nên vui mừng, nhưng hình như tiểu thư có chuyện không vui? Xin tiểu thư nói rõ để tiểu sinh khỏi phân vân!
  Chỉ Tiên lên tiếng :
- Việc này thì chàng cũng chẳng nên biết làm gì. Hôm nay chúng ta một lần gặp gỡ nữa cũng là lúc duyên phận không còn gì nữa rồi. Chính vì thế mà em không nén nỗi bi thương vậy!
  Nói rồi sai a hoàn, cùng một bà già bày một tiệc rượu tiễn hành, ngay hiên Quế Nguyệt Đình bên cạnh gác nhỏ. Chỉ Tiên rót một chén rượu, nói với Tôn Tôn :
- Bên ngoài Quế Nguyệt Đình này là đúng lúc mộc tê hoa thịnh khai, hương hoa phủ đầy đầu tóc quần áo, chúng ta hãy cùng nâng một chén rượu tiễn biệt vậy!
  Chỉ Tiên mấy lần rót rượu mời, Tôn Tôn không từ chối, uống sau không còn biết gì. Chỉ Tiên gõ nhẹ vào chiếc mâm đồng hát rằng :
Ngã a tùng tiểu,
Trường tại thâm khuê,
Chỉ tri đạo hoan tụ a.
Chẩm đổng đắc phân li?
Tưu tòng nhận thức quân lang a,
Trụy nhập ái hà,
Tòng thử phân li an,
Thiên các nhất phương,
Tưởng kiến lang quân a biện bất đáo.
Hĩ ha! Nhi nữ si tình hóa thành thạch,
Thạch a lạn tình bất khả khôi,
Thiên trường địa cưu vô chung kết.
 
Thiếp hề từ bé,
Sống trong thâm khuê.
Chỉ biết xum họp hề, sướng vui.
Đâu hiểu được phân li,
Từ khi quen biết được chàng hề,
Rơi sông tình ái,
Một góc bên trời.
Mong gặp lại chàng hề mà không xong.
Than ôi! Phận gái si tình đành hóa đá.
Đá nát thành bụi không nên duyên.
Trời cao, đất rộng không kết cục!
  Hát xong, Chỉ Tiên không ngăn được thổn thức. Tôn Tôn cũng phải nén nức nở để an ủi Chỉ Tiên. Tối hôm ấy, Tôn Tôn đòi ngủ lại trong phòng Chỉ Tiên. Chỉ Tiên tuy không bằng lòng, nhưng cũng không thể chối từ. Cả hai cùng nhau ôn lại lần đầu gặp gỡ. Một hồi lâu, Chỉ Tiên lên tiếng :
- Em cùng chàng duyên phận đã hết. Lần trước là vợ chồng gặp gỡ để vui xum họp, gặp nhau lần này là để nâng chén chia li. Cũng toàn chuyện số mệnh bày sẵn cả, mong rằng chàng không quá bịn rịn vì em!
  Nói rồi, lấy ở cổ mình một giây ngọc bội, đeo vào cổ cho Tôn Tôn, nói tiếp :
- Đây là dây ngọc bội em đeo từ thưở còn ấu thơ, lúc nào cũng bên mình, ngày đêm không lúc nào rời. Chàng trông thấy nó cũng như trông thấy em vậy!
  Cả hai trong lúc đang chàng chàng thiếp thiếp lưu luyến không rời, thì bỗng nghe bên ngoài có tiếng ầm ầm như ngựa hí quân reo, rồi tiếng súng bắn, tiếng trống thúc vang dội. Một a hoàn chạy vào đóng ngay cửa gác, lớn tiếng :
- Đại họa giáng xuống đầu rồi! Xin chạy ngay cho, đừng ham chuyện thương nhớ nhớ thương mà không kịp nữa đấu
  Tôn Tôn cùng Chỉ Tiên vội hỏi chuyện gì, thì thấy khoảng mười tên cướp hùng hổ tiến vào, súng ống trên tay. Trông thấy Tôn Tôn, một người ngạc nhiên hỏi :
- Anh là người hay ma quỷ? Yêu quái biến hình phải không?
  Tôn Tôn quay đầu lại không thấy Chỉ Tiên đâu cả, phòng ốc trống không, còn cả bọn đều đang đứng trên một gò đồi rậm rạp, hoang vu dưới chân núi Độc Tú, thì không khỏi kinh hoàng, cố trấn tĩnh đáp :
- Ta là con trai thái thú An Khánh, vì lạc đường đành qua đêm ở đây. Các người từ đâu tới đây?
  Một người đáp :
- Chúng tôi là thợ săn, đuổi theo một bầy cáo. Công tử có trông thấy chúng chạy về hướng nào chăng? Nơi này là nơi thú dữ hoành hành, không thể ở lâu. Công tử lại là con quan thái thú, sao không biết những việc tự nhiên như vậy?
  Thế rồi cả bọn thợ săn cùng kéo Tôn Tôn ra khỏi vùng núi Độc Tú về thành.
Nguyên văn : Trịnh Chỉ Tiên. Quyển 2.
 
 
 
-----------------------------
Chú thích :
1. Ôn nhu hương : làng ôn hòa mềm mại. Sách Phi Yến ngọai truyện chép : Một hôm Hán Vũ Đế đến cung Triệu Phi Yến, chung quanh chỗ nào cũng ấm áp, êm ái. Vua hết sức vui thích, phán rằng : "Tuổi ta đã già, đây chính là ôn nhu hương của ta!"
 
 
 
Beautiful things happen when you love someone.
Đăng nhập để trả lời
0
Trạng nguyên Tất Chí Vân
  Tất Chí Vân xuất thân thế gia đại tộc. Từ nhỏ đã thích xem kì hết sách sử trong thiên hạ, nhưng không muốn làm một con mọt sách bình thường. Họ Tất đọc ba lần Hán thư, đến những chỗ còn nghi ngờ, đề xuất những kiến giải rất khác lạ.  Văn chương họ Tất truyền ra, người đời tranh nhau sao chép. Lần ấy, họ Tất tới Tô Châu, tham dự khảo thí, trọ trong ngõ Sư Tử Vàng. Những lúc nhàn rỗi thường lang thang xem phong cảnh.
  Một hôm, Chí Vân cùng một người bạn đi chơi, gặp một bạn đồng sogn là Chu Dung Phong. Họ Chu bảo Chí Vân :
- Tô Châu gần đây có một thuật sĩ xem tướng rất tài tình. Ông ta đoán hậu vận cho mọi người vô cùng chính xác. Sao anh không đến để ông ta đoán cho xem thế nào?
  Chí Vân nghe theo, hai người cùng đến tìm thuật sĩ. Cửa hàng nhộn nhịp người ra kẻ vào. Cửa chật như không thể chen nổi. Thuật sĩ ngồi bên trong, nhìn ra thấy Chí Vân, chủ động đứng dậy, đến trước mặt, nói với Chí Vân :
- Thì ra Văn Khúc Tinh (1) giáng lâm cửa hàng nghèo này rồi! Ngài có điều gì dạy bảo?
  Chí Vân đáp :
- Ta tìm thuật sĩ để hỏi về tiền trình của bản thân. Hi vọng có gì, thuật sĩ cứ nói thật. Không chỉ nghe cho lọt tai là xong!
  Thuật sĩ nhìn Chí Vân, nói :
- Ba năm nữa, ngài sẽ bảng vàng có tên. Mà là tên ứng trạng nguyên kia! Không lâu sau đó, ngài sẽ có được một người vợ khác thường. Người vợ này sẽ giúp ngài thành công trong mọi việc. Nếu như ngài không tin lời thầy, xin khi nào mọi chuyện thành sự thực rồi, ngài tìm đến thầy đây, trả cho một nghìn đồng tiền lưỡng thù cũng không muộn!
  Nói xong, thuật sĩ chuyển ngay sang xem cho người khác, như không có chuyện gì khác thường! Chí Vân lấy ra mười lạng bạc trắng trả cho thuật sĩ, nhưng ông ta không nhận, cười nói :
- Chúng ta có duyên với nhau mà! Sau này ngài cùng thầy này còn gặp nhau nữa. Ngày mai, thật sớm, ngài một mình tới đây, một lần nữa, thầy sẽ vì ngài mà vạch một kế sách, cam đoan với ngài là mọi chuyện đều sẽ tốt lành!
  Thuật sĩ nhìn sang Chu Dung Phong, nói một hồi về quá khứ của họ Chu, không sai mảy may. Rồi tiếp :
- Tiên sinh đừng cho những lời này của thầy đây là dọa nạt gì, chỉ muốn nói trước để tiên sinh định liệu mọi việc thôi. Trong vòng hai ba năm sắp tới đây, nhà họ Chu của tiên sinh phải chịu hai ba đạo hắc quang xâm nhập, tiên sinh bản thân cũng không thoát đâu. Đây là giáng tai của xà tinh. Mùa xuân năm nay, tiên sinh đánh chết một con rắn đen có hoa trắng, trông rất khác thường. Tiên sinh còn nhớ việc này không? Từ nay về sau họ Chu của tiên sinh thường xuyên gặp lại thành tinh này. Hậu duệ của chúng sẽ tìm tiên sinh để báo thù. Tiên sinh dẫu đã chôn tai họa ấy đi, thì cũng không thể tránh nổi hậu họa đâu!
  Chu Dung Phong thấy thuật sĩ nói lảm nhảm, đủ chuyện khó tin, định cho ông ta một cú đấm ra trò. Thuật sĩ thấy vậy vội vàng xin lỗi, rồi không nói gì nữa!
  Sáng tinh mơ ngày hôm sau, Chí Vân một mình tìm đến nhà thuật sĩ. Thuật sĩ vừa rời khỏi giường, đang sắp xếp đồ hành nghề. Thấy họ Tất theo lời dặn có mặt, thuật sĩ vui vẻ chào :
- Ngài là một người biết giữ chữ tín!
  Thuật sĩ lấy trong tráp ra ba quyển sách, đưa cho Chí Vân :
- Nếu không còn đường nào thoát được tình thế hiểm nghèo, ngài hãy giở sách này! Còn không thì đừng đụng đến nó!
  Chí Vân bái tạ thuật sĩ, nhận sách. Lúc chia tay, thuật sĩ còn dặn Chí Vân, thiên cơ không phải là thứ có thể thổ lộ cho người khác. Chí Vân vâng vâng dạ dạ xin nghe theo, nhưng trong lòng thì hình như không hoàn toàn tin như vậy.
  Chu Dung Phong từ trước đến nay là một người rất thực tế, khỏe mạnh, bỗng nhiên bị bệnh thổ huyết. Mỗi ngày một trầm trọng. Uống đủ các thứ thuốc, nào nhâm sâm, phục linh...cho đến các loại thuốc lá đều không hiệu nghiệm. Các thầy thuốc đều bó tay, không cách nào cứu chữa. Người mẹ mới nói thực với Dung Phong :
- Phương Bình nhà ta trước tới giờ dung mạo đẹp đẽ như thế, không hiểu lâu nay thường nằm mộng ăn nằm với một người đàn ông đẹp trai. Mỗi lần như vậy ăn nói thiên hô bát sát đủ chuyện, khiến phòng cách xa cũng nghe rõ. Người thì tiều tụy. Ta đã cho người mời đạo sĩ tới lập đàn tràng để đuổi yêu quái!
  Còn người em trai thì nói với Dung Phong :
- Em đột nhiên mắc bệnh kì lạ. Tay chân như co duỗi bất thường chẳng khác gì rắn bò.
  Chỉ trong vòng ba tháng sau, người em trai này qua đời. Qua mấy tháng nữa, người chị gái cũng chết. Một hôm, Dung Phong chính mắt mình trông thấy một con rắn lớn, từ dưới giường mình nằm, bò ra. Dung Phong vội gọi người nhà đánh rắn, nhưng đột nhiên rắn biến mất. Một hồi sau, rắn lại từ trong góc phòng bò ra, mọi người chạy theo đánh. Trong khi ấy, Dung Phong nằm trên giường kêu thất thanh. Mọi người xúm lại thì đã tắt thở. Người  nhà thay quần áo khâm liệm, thì thấy toàn thân người Dung Phong tưới đẫm cháo lá đa của phường ăn mày ngày rằm tháng bảy hàng năm. Khắp người vẩy mọc đầy như vẩy rắn. Không ai là không cho rằng chuyện thật lạ lùng đáng sợ.
  Chí Vân nghe tin về cái chết của Dung Phong, càng phục tài không thể có hai trên đời của thuật sĩ. Lúc này, người anh rể của Chí Vân, được ngự sử đại nhân tiến cử với triều đình đi làm tri phủ ở Bảo Định. Người chị ruột bảo Chí Vân cùng đi với vợ chồng anh rể đến Bảo Định, để rồi sang năm lên kinh dự kì thi đại khoa cho tiện. Chí Vân bằng lòng, thu thập hành trang lên đường. Gặp một công tử từ kinh thành trở về, trông rất khôi ngô tuấn tú,cùng với cả một đoàn đầy tớ, hành lí rất nhiều. Có lẽ con của một quan đại thần nào đó. Bọn họ, người đi trước, kẻ theo sau, cách nhau không xa. Nhiều lần cả hai còn cùng trọ trong một cửa hàng nữa. Khi cả hai đi vào địa phận Sơn Đông, thì trời đổ mưa lớn. Ba ngày ba đêm mà vẫn không tạnh. Khắp mặt đất, mênh mông những nước. Khách đi đường chỉ còn cách ngồi chờ trong quán trọ mà thôi. Chí Vân ngồi buồn một mình trong phòng trọ, không có cách nào cho khuây khỏa. Trời mới tối đã lên giường nằm, nhưng trằn trọc mãi mà giấc ngủ không đến. Bỗng nghe đâu đây tiếng hát cùng tiếng đàn, cùng với giọng cười đùa vui vẻ. Chí Vân trở dậy, tìm đến cuộc vui xem sao. Thì thấy trong phòng lớn của quán trọ, chàng công tử nọ ngồi chễm chệ trên giường lò sưởi ấm và cao (2), một bầy tì thiếp vây quanh. Công tử đang lớn tiếng nói với người tùy tùng ngồi bên trái :
- Lúc nào ngài họ Mạc giáng lâm, là lúc nên bày tiệc ngay. Đêm nay chúng ta phải say sưa suốt sáng mới được!
  Công tử ra lệnh cho viên tùy tùng lấy rượu tỉnh ngủ cho bọn tì thiếp cùng a hoàn uống. Tùy tùng mang rượu ra, công tử phán :
- Còn chờ ta bưng rượu đến mời nữa sao?
  Công tử đi ra cửa, trông thấy Chí Vân, vui mừng hét lớn :
- Hiền đệ còn chưa đi ngủ sao? Được gặp ngài ở đây, thật là may mắn!
  Công tử quát tùy tùng dẫn Chí Vân vào phòng, xếp ngồi ngay bên cạnh công tử, sai lấy một bình pha lê lớn, nhưng miệng lại rất bé, phải chứa được hai đấu rượu là ít, rồi rót cho bọn tì thiếp mỗi người một chén nhỏ. Chí Vân cũng được một chén như vậy. Loại tỉnh tửu thang này có màu xanh lục óng ánh. Vị ngọt mùi thơm không rượu nào sánh bằng. Công tử bỗng hỏi Chí Vân về thân thế. Chí Vân cứ thực tình kể. Công tử nghe xong, nói :
- Phụ thân của ta cùng phụ thân hiền đệ vốn là bạn đồng niên. Chúng ta gặp gỡ như thế này chính là bởi có nhân duyên cùng nhau. Ta trông hiền đệ đây, phong thái hơn người, khí chất không tục, tương lai không phải tầm thường. Ta có một cô em gái, tuổi cũng đã cập kê, tài hoa dung mạo thật lưỡng toàn. Đem cô em gái này mà gả cho hiền đệ, liệu hiền đệ có ưng không?
  Chí Vân khiêm nhường :
- Tiểu sinh không dám!
  Công tử thấy Chí Vân không phản đối, lấy từ trong thắt lưng ra một đôi ngọc bội, đưa cho Chí Vân :
- Hãy đeo ngọc bội này coi như vật làm tin của cuộc hôn nhân này! Chất của nó hòa nhuận tốt tươi, giống như phẩm đức của em gái ta. Muôn nghìn lần xin hiền đệ hãy bảo trọng, giữ gìn. Ngày sau gặp lại, lấy cái này làm tin vậy!
  Chí Vân lấy trong người ra hai phiến ngọc trắng, đưa cho công tử :
- Hai phiến cặp nhau như thế này, là nhắc ý phối ngẫu, duyên vợ chồng. Hi vọng sẽ đem lại những điều tốt lành!
  Từ ngày ấy, công tử cùng Chí Vân cùng đi với nhau về phía bắc. Cả hai không rời nhau một bước. Có lúc ngồi chung một xe tình cảm anh em rất thân mật. Công tử kể về thân thế của mình :
- Ta họ Nhiệm, tên Thụy Đồ. Nhà ở kinh thành đã ba đời nay. Thời thiếu niên cũng đã đọc rất nhiều sử sách các loại. Nhưng vì nhà ruộng vườn, sản nghiệp nhiều, có thể cung cấp đầy đủ cho mọi người trong gia tộc, nên cũng không có ham muốn tham gia giới quan trường làm gì! Không nghĩ tới quyền cao chức trọng. Bình thường chỉ thích sách sử, nhất là những sách về binh thư. Chuyện hứng thú hơn cả là cưỡi ngựa bắn cung, mùa đông vào núi đi săn, rong ruổi trên những cánh rừng bãi biển đầy tuyết trắng. Khát thì uống huyết thú rừng, đói thì ăn thịt thú. Hàng tháng liền không về nhà. Quên sạch những chuyện tốt lẫn chuyện xấu của kiếp người!
  Công tử họ Nhiệm cùng Chí Vân đến được Bảo Định thì chia tay, mỗi người mỗi ngả.
  Mùa thu năm ấy, Chí Vân dự kì thi hương. Bảng treo, chàng đậu cử nhân loại cao. Công việc thi cử, tiệc tùng đã vãn. Chí Vân tìm đường đến chỗ công tử họ Nhiệm, theo chỉ dẫn của chính công tử dạo nào. Không ngờ, tìm mãi không được, các nhà chung quanh đều nói với chàng rằng không có một họ tộc, một người như vậy ở vùng này. Bạn bè biết chuyện đều khuyên Chí Vân không nên tin những lời vu vơ như vậy. Có người nói với chàng rất chí lí :
- Làm sao có được một gia đình bề thế, giàu có như vậy, mà tính chuyện gả em gái mình giữa đường cho người gặp lần đầu, không biết gì về gia cảnh chú rể, lẫn bản thân chú rể. Anh ta chẳng qua chỉ là một tên lưu manh nào đó, thấy đại huynh hiền lành, nên giở trò đùa chơi vậy thôi!
  Nhưng Chí Vân không tin lời giảng giải của người bạn này!
  Mùa xuân năm tiếp theo, Chí Vân lại đậu tiến sĩ trong kì thi hội. Vào sân triều đình để dự kì thi cuối cùng, chàng giành ngôi đệ nhất giáp, đệ nhất danh, tức là trạng nguyên, được bổ vào làm ở Hàm lâm viện. Thân thích thấy chàng tiền đồ sáng láng, nên đều tính chuyện chọn làm khách đồng sàng, nhưng chàng đều khéo léo kiếm cớ từ chối. Trong lòng thầm nghĩ : "Lời đoán của thuật sĩ bắt đầu ứng nghiệm rõ ràng. Việc hôn nhân cũng không thể khác. Vả lại, mình đã như có đính ước với nhà họ Nhiệm. Nhất định dù thế nào cũng không thể phụ lời hôn ước này được!" Có một lần, Chí Vân hỏi người chủ trọ của mình về họ Nhiệm, nhưng cũng không biết gì hơn, và rồi như bẵng đi không một chút hi vọng.
  Chí Vân xin triều đình được nghỉ về thăm cha mẹ, họ hàng. Đến Lư Cầu Kiều thì thấy một đoàn người ngựa chừng chục người phía trước phóng lại, trong tay đều có vũ khí. Chí Vân cho rằng mình gặp cướp, nên vô cùng hoảng hốt. Toán người ngựa lại gần, một người tuổi trẻ từ trên mình ngựa nhảy xuống, bỏ mũ, thì Chí Vân nhận ra chính là công tử Nhiệm Thụy Đồ. Thụy Đồ nắm tay Chí Vân hỏi chuyện gầnxa, cùng kể chuyện về mình :
- Từ ngày cùng hiền đệ chia tay ở Bảo Định, trở về Bắc Kinh, phải cùng phụ thân đi Liêu Đông lo liệu việc nhà. Mùa hè đến thân thuộc họ hàng về biệt thự ở Tây Sơn tránh nắng. Nhà cửa ở Bắc Kinh giao lại cho chủ thuê. Cho nên làm hiền đệ khốn khổ vì tìm không ra.
  Chí Vân bèn cùng họ Nhiệm về Sơn Tây. Mấy ngày sau, đã đến trang viên nhà họ Nhiệm. Lầu các hết dãy này sang dãy khác, cao ngất từng mây. Thật đúng như lời Thụy Đồ, một đại tộc cự phú. Chí Vân ngồi ngoài phòng khách lớn, từ phòng trong, vị chủ nhân bước ra, tuổi cũng chừng trên dưới bảy mươi nhưng còn rất nhanh nhẹn minh mẫn. Thụy Đồ giới thiệu :
- Đây là thân phụ của tiểu sinh!
  Chí Vân cung kính làm lễ ra mắt theo phận con rể. Chủ nhân lệnh cho gia nhân đưa Chí Vân về phòng phía đông nghỉ ngơi. Phòng bài trí vô cùng sang trọng. Bọn a hoàn hầu hạ đều xinh đẹp, duyên dáng. Bữa ăn đều sang trọng, đầy đủ mọi thứ sơn hào hải vị mà nhiều thứ Chí Vân mới được thưởng thức lần đầu. Được một thời gian, Thụy Đồ đến bàn chuyện hôn lễ :
- Nhà của hiền huynh thì quá xa. Nếu đưa em gái tiểu sinh về tận quê nhà làm lễ thành thân thì thật diệu vợi. Chi bằng làm mọi thủ tục hôn lễ ngay tại nhà gái này. Hôm nay là ngày hoàng đạo rất tốt, nên mọi người đang sắp xếp mọi thứ để có thể tiến hành hôn lễ cho hiền huynh cùng em gái!
  Phòng cưới sẵn sàng, đèn hoa lụa là giăng khắp chốn. Nhạc trống nhịp nhàng, pháo nổ hết đợt này sang đợt khác cho mãi đến khi cô dâu chú rễ bái đường. Mọi thứ so với vùng quê của Chí Vân cũng có những chỗ khác biệt. Nhưng Chí Vân cũng không thấy có điều gì phải lo liệu. Mọi người bảo sao, chú rể cứ vậy mà theo.
  Phòng cưới không khác gì động tiên. Cô dâu bỏ khăn che đầu, hoa nhường nguyệt thẹn. Dẫu người anh trai Thụy Đồ có khen bao nhiêu cũng không thể bằng người đẹp hiện hữu trước mặt Chí Vân. Chí Vân như sống trong mộng. Vợ chồng hòa hợp như keo như sơn. Tháng trăng mật qua đi, Thụy Đồ tiễn vợ chồng em gái lên đường về phương nam ra mắt gia đình họ hàng bên nội. Trước khi xe ngựa chuyển bánh, Thụy Đồ mang ra một vạn lạng bạc, làm của hồi môn của em gái. Ngoài ra còn bao nhiêu đồ trang sức quý hiếm cùng vốn riêng của cô dâu. Xe ngựa hàng trăm, gấm vóc không đếm hết.
  Năm sau, Chí Vân về kinh thành, đường qua Sơn Tây chỉ thấy lâu đài xưa của họ Nhiệm đã biến thành một rừng tùng bách xanh ngút ngát tận chân núi. Chí Vân hỏi vợ, Nhiệm Thị xuống xe, tìm kiếm một hồi, cũng không thấy một chút dấu vết gì. Nhiệm thị hàng ngày không hề có một biểu hiện gì khác người, nhưng chỉ không thấy sinh đẻ gì. Vợ khuyên Chí Vân tìm thiếp, Chí Vân không chịu.
  Nhiệm Thị, một hôm lên chùa dâng hương, xuống xe đi vào cổng tam quan, thấy có một bà già, mặt mày dúm dó lưng còng đi bên đường. Nhìn thấy Nhiệm Thị, quỳ xuống lạy mà rằng :
- Quyên Nương không ở kinh thành nữa ư? Từ ngày tiểu thư về nam, già này đem con nhỏ về kinh thành, cơ khổ lênh đênh, không nơi nương tựa. Nay trời còn cho gặp tiểu thư ở đây, ngày mai thế nào già cũng ghé thăm tiểu thư!
  Nhiệm Thị mới hỏi cô hầu gái Mã Hòa sao dám nói cho bà già biết chuyện. Ngày hôm sau, bà già nọ quả nhiên đến, đem theo một đứa con gái, tuổi khoảng mười lăm mười sáu, mắt xanh răng trắng, xinh đẹp ít ai bằng. Nhiệm Thị hỏi cô gái có biết chữ không? Cô gái hồn nhiên đọc thuộc lòng mấy bài Đường Thi. Cô gái rất giỏi đón biết ý chủ nhân, chỉ cần nói một hai tiếng, là đã biết phải làm những gì. Thường thường theo cạnh đứng hầu bên Nhiệm Thị như một con chim nhỏ. Nhiệm Thị cũng quý cô gái, đưa đến hầu hạ trong phòng của Chí Vân như một người thiếp.
  Nhiệm Thị rất giỏi thêu thùa, hoa chim thêu trên vải lụa trông như thật. Mấy năm ròng, Nhiệm Thị thêu được một trăm bốn mưoi quyển kinh Phật, chữ nào chữ ấy rõ ràng. Thật đạt cả tài năng của hóa công. Gặp lễ mừng thọ của Thái hậu, Chí Vân cùng vợ đem số kinh thêu này dâng lên triều đình. Thái hậu vô cùng thích thú. Hoàng thượng vì vậy ban cho vợ chồng Chí Vân nhiều ân điển lớn, cất nhắc Chí Vân làm thị giảng, ban khen rất nhiều, chưa có người nào được như vậy!
  Thánh chỉ ban xuống, chính ngày người thiếp sinh con trai, song hỉ lâm môn. Chí Vân bày tiệc lớn trong dinh ăn mừng. Người đến mừng không còn lối vào. Thuật sĩ năm xưa cũng thấy có mặt. Chờ cơ hội thuận lợi, thuật sĩ nâng chén mừng Chí Vân. Chí Vân ngờ ngợ, thuật sĩ hỏi :
- Chia tay nhau đến nay, mọi việc với ngài đều tốt đẹp cả chứ?
  Chí Vân nghe vậy nhớ ra ngay, tưởng như mới chỉ hôm qua thôi, bèn lên tiếng :
- Quý khách đúng là thuật sĩ ở Tô Châu dạo nào. Con mắt nhìn hậu vận của tiên sinh thật như thần. Đáng tôn xưng là bậc Quỷ Cốc Tử, thần cơ diệu toán vậy!
  Chí Vân mời thuật sĩ đến một phòng vắng, chiêu đãi rất thịnh soạn. Chia tay, Chí Vân đưa ra một nghìn lạng bạc tặng thuật sĩ. Thuật sĩ không nhận, nghiêng đầu bỏ đi. Chí Vân đem số tiền này mua mấy trăm thạch lương thực, phát không cho người nghèo.
  Về sau, ốm một trận thập tử thất sinh. Thấy cái chết đã đến, Chí Vân liền bảo gia nhân đem sách mà thuật sĩ cho dạo nào thì thấy ở trang cuối cùng, quyển thứ ba, vẽ một bức tranh có một cây tùng và một cây du, giữa là một nấm mộ. Người nhà biết là bệnh tình không thể chạy chữa được nữa, bèn xúm vào lo liệu hậu sự.
  An táng Chí Vân xong, Nhiệm Thị cùng người thiếp cũng không thấy đâu nữa. Mọi người cuối cùng cũng không rõ những người họ Nhiệm này là ai!
Nguyên văn : Tất Chí Vân. Quyển 3.
 
 
 
---------------------------------
Chú thích :
1. Văn Khúc Tinh : cũng gọi Văn Xương Tinh, hoặt tắt là Văn Tinh. Theo truyền thuyết là sao chủ trì về văn vận, khoa danh.
2. Vùng phía bắc Trung Hoa, tuyết lạnh, những nhà thuộc hạng nghèo hoặc trung lưu trở xuống, thường có những giường kiểu lò sưởi, đốt lửa củi than phía dưới, nằm trên cho ấm.
Beautiful things happen when you love someone.
Đăng nhập để trả lời
0
Tinh Nữ Hoa Thược Dược Dược Nương
  Trịnh Tiêu Sử là người thành Biện Lương, nhưng đến ngụ cư vùng phụ cận Dương Châu, dưới chân núi Tiểu Kim. Sau đó Tiêu Sử mua được một dinh thự bỏ hoang, tự mình trông coi sửa sang lại. Lâu đài đình tạ..đều thay đổi theo ý riêng, khiến giá trị thẩm mĩ của cơ ngơi được nâng cao hơn hẳn.
  Trong vườn hoa, Tiêu Sử cho đắp những hòn núi lơn, dẫn nước suối từ chân núi về, đào một hồ nước rộng, uốn lượn rất kì thú. Lại cho bắc những cầu nhỏ duyên dáng vừa thuận tiện đi lại vừa tô điểm thêm cho cảnh quan. Bên bờ hồ còn có những hành lang có mái che xinh xắn dài tít tắp đầy chào mời. Hành lang bên trái có vẻ dài hơn, dẫn lên tận phía sườn núi, với những tòa nhà tháp nhấp nhô, đỏ vàng nổi bật trong nền xanh của sắc núi tùng bách, mà dưới gốc là thảm cỏ xanh mềm, bằng phẳng, sạch sẽ, lấm tấm những bông hoa đồng đủ sắc màu.
  Trong biệt thự, một đặc sắc nữa là hoa thược dược. Khu trồng loại hoa này được dành riêng, với một bảng đề mấy chữ : Trần phi bất đáo - Bụi không bay tới được - bằng nét chữ thảo bay bướm, dẫu Lã Đồng Tân, một trong bát tiên có giáng phàm thì cũng đến viết đẹp như vậy mà thôi!  Giữa khu vực dành riêng cho thược dược này là một tòa gác nhỏ, để chủ nhân có thể trèo lên, ngắm toàn cảnh. Từ đây, những con đường nhỏ tỏa ra khắp vườn. Bao quanh bằng những dãy tường hoa thấp công phu, mà chủ nhân dụng ý làm bình phong che cho thược dược khỏi những trận gió mưa bất kì.
  Ngoài vòng tường hoa này, mới là những thứ hoa khác, như mẫu đơn, hoa cúc, các loại lan...trong các chậu đủ kiểu. Loại hoa nào cũng có những nét riêng. Nhưng thưởng thức lại mang tâm tình, tính cách riêng, không thể dùng lí lẽ mà thanh minh gì được! Cũng như Tiêu Sử chủ nhân thích thược dược hơn vậy thôi!
  Nơi ở của chủ nhân là một dãy gác ngay sau khu vườn thược dược. Tầng dưới gồm những phòng dành cho sinh hoạt hàng ngày và giao tiếp. Tầng trên là hẳn năm phòng dành cho cuộc sống riêng của chủ nhân, mà không mấy khách được chứng kiến. Một thế giới riêng biệt, thường những thư sinh có ý tưởng theo đòi học vấn suốt đời thường mơ ước. Nhưng Tiêu Sử thì may mắn hơn, vì đã biến được mong ước đó thành hiện thực.
  Nhiều nhất ở đây là sách, tất cả các phòng đều chất đầy sách trong các giá cao rộng. Kể có hàng mấy vạn quyển, đủ các loại, từ cổ chí kim, từ sử kí đến văn chương...Thật hiếm có một người ở tuổi Tiêu Sử được là chủ nhân của một thư viện hiếm quý như vậy! Phía phải và trái của tòa nhà là những loại cây lưu niên, cổ thụ, hoặc loại có thân hình cao lớn như chôối, lệ chi, hòe, phù dung, thù du...Tuy nhiều, nhưng được sắp xếp rất dụng công, nên vẫn tạo một không gian thoáng đãng, tự nhiên. Và tất nhiên hướng chủ đạo của hai khu vực này là râm mát. Mỗi bên đều có những giang nhà cỏ, phong thái như nhà vùng sơn sước, để có thể thay đổi cảm xúc khi thích.
  Phía sau, là những gian ngăn nắp của nhà bếp, gia nhân. Tiêu Sử được thừa hưởng một gia tài khá giàu có của cha mẹ. Tuy nhiên, chàng không trực tiếp làm việc quản lí, mà giao cho một người quản gia già, làm việc trong nhà từ ngày chàng còn niên thiếu. Chàng chỉ có hai ham muốn : đọc sách và ngắm hoa. Chàng có hai hầu gái trông coi mọi thứ trong các phòng riêng. Một cô tên là Lục Mi, một cô tên là Tố Tu. Đều là những cô hầu gái lanh lợi như kiểu Hồng Nương, chữ nghĩa tinh thông, để có thể giúp chàng trong sách vở, chữ nghĩa, văn thơ...Hai người này cũng được chủ nhân dành hẳn cho một gác nhỏ ngay phía trái của đại đường, có hành lang nối hai nhà, nên đi lại nắng mưa rất thuận tiện.
  Thỉnh thoảng họ cũng ra đứng ngoài hiên gác ngắm nhìn vườn hoa. Một người mặc trang phục màu xanh, một người mặc trang phục màu trắng như tên của họ đã chỉ. Lúc rỗi rãi cao hứng, Tiêu Sử dạy cho hai cô hầu gái về thơ Đường và từ Tống. Hai cô tâm đầu ý hợp coi nhau như chị em. Một mười sáu, một mười bảy. Lục Mi vì vậy được coi là chị, còn Tố Tu thì nhận làm em.
  Một buổi chiều. Tố Tu đang ngồi trước bàn kê trước cửa sổ tập viết gì đấy, thì thấy hình như ngoài hiên có bóng người lướt qua. Nhưng cũng không để ý, vì cũng có thể là Lục Mi. Nhưng sau đó thì nghe tiếng người :
- Lục tiểu thư sao không mở cửa? Không có công tử nào trêu đùa đâu! Xin đừng ngại!
  Tố Tu vẫn không nghe ra. Tiếng gõ cửa mạnh hơn, và tiếng nói cũng rõ hơn :
- Xin tiểu thư cho khách vào với!
  Lúc này Tố Tu nghe ra, tiếng nói rất nhỏ, không phải tiếng Lục Mi. Tố Tu đứng dậy mở cửa. Một tiểu thư xinh đẹp xuất hiện. Thấy dung mạo, Tố Tu vô cùng kinh ngạc, đẹp quá chừng. Từ dáng người cho đến đường nét, cho đến sắc da, màu mắt, đôi môi, một sự hài hòa rất tự nhiên nhưng cũng rất con người, rất con gái. Và một làn hương cuốn theo, mỗi khi cô gái cử động dù rất lãng đãng thì hình như làn hương đó được khuấy lên một cách vô hình. Tất cả khiến Tố Tu ngỡ ngàng, nhưng không kinh sợ. Sự ngỡ ngàng trước cái đẹp ít gặp mà thôi. Cô gái cất tiếng nhỏ nhẹ :
- Tiểu thư đừng ngạc nhiên. Tiểu muội chỉ đến đây xin được làm bạn. Xin tiểu thư hãy so tiểu muội với Lục Mi tiểu thư thì ai trông có vẻ duyên dáng hơn. Tiểu muội chỉ đáng bậc đàn em của hai tiểu thư chủ nhân thôi!
  Tố Tu vẫn không tránh khỏi ngạc nhiên :
- Biệt thự cách biệt bên ngoài bởi những tường rào cao. Tiểu thư làm thế nào mà vào được?
  Cô gái đáp :
- Tiện thiếp vẫn thường xuyên ở trong vườn. Tiểu thư không nhận ra tiểu muội đâu. Tiểu muội đến đây vì muốn hỏi tiểu thư về mấy bài thư tiểu muội làm hay dở ra sao. Xin tiểu thư nhận xét cho một vài lời. Tiểu muội thật cảm tạ vô cùng!
  Nói xong, cô gái lấy trong ống tay áo ra một tập thơ, đặt trên bàn, trước mặt Tố Tu. Tố Tu cầm xem, thấy ngoài bìa đề : Tử Hà hiên ngâm thảo, và đề ngưới chấp bút thì được ghi là : Trúc Tây Tạ Xuân Phân Thược Nương trước - tác giả là Phân Dược Nương hiệu Tạ Xuân ở Trúc Tây - cho nên Tố Tu biết được tên cô gái là Dược Nương.
  Tố Tu giở qua một lượt rất trân trọng. Sau đó đọcbài thất ngôn tứ tuyệt mở đầu, thấy lời trau chuốt, ý tứ mới lạ, trong sáng vô cùng, chẳng khác gì của bậc thần tiên thoát tục, khiến Tố Tu cũng vô cùng ngưỡng mộ. Chị em trò chuyện, tâm đầu ý hợp, không nghĩ rằng đêm đã dần khuya.
  Tố Tu ngồi đọc kì hết tập thơ, lại đưa thơ mình cho Dược Nương xem. A hoàn nhiều lần lại thay nến, pha nước trà mời đãi khách. Tố Tu lên tiếng :
- Trong lúc bất chợt không ngờ tiểu thư giáng lâm. Tiếp khách quá đạm bạc. Xin khất tiểu thư dịp khác vậy!
  Tiếng gà nghe rộn trong thôn. Dược Nương đứng dậy cáo biệt. Tố Tu hẹn ngày mai lại tới, Dược Nương đáp :
- Ngày mai, buổi tối sợ tiểu thư có việc của biệt thự chủ nhân ,không thể tiếp tiểu muội được đâu!
  Tố Tu cầm nến, tiễn Dược Nương ra cửa, vô cùng trân trọng. Dược Nương rảo bước biến như trong giấc mộng.
  Sáng hôm sau, ánh nắng chiếu nửa rèm. Tố Tu trở dậy trang điểm, thì chủ nhân Tiêu Sử tới, nhận ra ngay tập thơ của Dược Nương trên bàn, bèn hỏi Tố Tu. Tố Tu thưa tập thơ của cô gái hàng xóm. Nhưng cũng trả lời mập mờ không rõ, phần thì đúng là bản thân Tố Thu không biết gì hơn, một phần cũng bởi thấy không nên kể cho chủ nhân nghe tất cả mọi chuyện xảy ra. Hãy cứ xem tình thế ra sao cũng không muộn. Tiêu Sử đọc qua mấy chữ duyên dáng, lời ý thanh tân, chỉ cần thay đổi một vài chữ cho thích hợp hơn. Tiêu Sử không ngần ngại, đưa bút chữa ngay bên lề, cùng một vài lời bình ngắn gọn thích đáng. Và cho mãi đến khuya hôm ấy, Tiêu Sử vẫn chưa rời khỏi phòng của Tố Tu. Sực nhớ lại lời của Dược Nương tối qua, về chuyện này, Tố Tu giật mình kinh ngạc.
  Đêm hôm sau, trời mưa lất phất. Tố Tu ngồi một mình trước nến, nghĩ sao Dược Nương không thấy tới, bỗng nghe ngoài hành lang có tiếng giày bước rất nhẹ nhàng, lại có cả một tràng cười vui nhè nhẹ. Tố Tu biết là Dược Nương tới, vội đứng dạy mở cửa đón, thì thấy Dược Nương đã đến bên cửa sổ rồi, theo bên còn một cô gái khác. Dược Nương vào nhà, hàn huyên dăm câu, cùng ngồi trước bàn nhỏ. Dược Nương cởi đôi giày rất nhỏ của mình, lên tiếng :
- Hôm nay phải một bữa tranh cãi với cô bạn này mệt quá!
  Tố Tu nhìn cô gái đi cùng Dược Nương, dáng người vừa phải, hơi gầy một chút, phong độ rất thanh cao, chẳng khác gì tiên nữ trên điện Thái Thượng Lão Quân, liền lên tiếng :
- Tiểu thư họ tên là gì? Xin cho biết để chị em dễ xưng hô!
  Cô gái đáp :
- Tiểu muội họ Từ tên Ngọc Nương. Trước kia tiểu muội ở Ba Sơn. Hiện nay cũng trú trong vườn nhà tiểu thư! Nhưng vì địa vị không giống nhau nên không dám đường đột.
  Tố Tu nói :
- Chúng ta đã là chỗ quen biết. Không cần phải nói những lời khiêm tốn quá đáng. Khiến quan hệ chị em trở nên xa cách!
  Rồi quay lại hỏi Dược Nương :
- Ngọc Nương cùng ở một nhà với tiểu thư, nhất định phải giỏi làm thơ rồi! Nếu có đem theo, xin cho được đọc một hai bài!
  Ngọc Nương lấy ra một tập thơ, tên đề ngoài bìa là Lan viên thừa cảo. Tố Tu đọc, thấy ý tứ phong phú, triền miên, hay hơn thơ của chính mình, nên trong lòng vô cùng bội phục Ngọc Nương.
  Từ đó Dược Nương, Ngọc Nương thường xuyên đến phòng Tố Tu trò chuyện, chị em ngày càng thân thiết. Có hôm cả hai còn sai a hoàn mang theo cả thức ăn tới cùng nhau uống một vài chén rượu ngọt. Thức ăn của họ có phong vị khác thường. Tố Tu ít được thấy, về mùi vị cho đến màu sắc đều vô cùng hấp dẫn, nhất là vẫn rất nóng sốt, như vừa được mang từ trong bếp nhà ra vậy thôi!
  Càng ngày Tố Tu càng nhận ra hai chị em Dược Nương không phải hạng người tầm thường. Tố Tu cũng định làm một tiệc nhỏ để đãi khách, liền bỏ tiền riêng nhờ nhà bếp trong biệt thự, làm thêm cho mấy món thức ăn đặc biệt, cùng thức rượu hợp với khách lẫn chủ, cũng giữ ý nói với những người này giữ kín mọi chuyện, lỡ có điều gì phiền phức.
  Nhưng a hoàn của Lục Mi là Sơ Hương cũng xuống nhà bếp có việc cơm nước gì đó, thấy trong nhà bếp thức ăn đồ uống bầy đầy, khác hẳn ngày thường, hỏi người nhà bếp trả lời rằng :
- Hôm nay cô Tố Tu có khách, nhờ chúng tôi làm những thứ này. Cô Lục Mi nhà chị không biết hay sao mà còn hỏi chúng tôi?
  Sơ Hương về nói chuyện lại với Lục Mi :
- Hôm nay nhất định tiểu thư có người mời dự tiệc rồi! Tối nay, cô Tố Tu mời khách, thế nào cũng sẽ mời tiểu thư chứ?
  Lục Mi ngạc nhiên :
- Trời cũng đã chiều rồi, mà đã thấy cô Tố Tu cho người sang nói gì đâu?! Dù thế nào chốc nữa ta cũng phải sang qua xem sao!
  Chiều tối, Lục Mi cầm đèn lồng, vòng xuống phòng Tố Tu, thì thấy bên trong người không nhiều, nhưng nói cười vui vẻ, tiếng bát đũa cốc chén, chen lẫn nghe rất vui tai. Lục Mi nhìn qua cửa sổ, dưới ánh nến rực rỡ, khách ngồi vây quanh bàn, nổi bật hơn cả là Ngọc Nương và Dược Nương. Thật có một vẻ đẹp như thực như hư. Lục Mi chưa được thấy bao giờ, nghĩ rằng có chuyện khác thường. Lục Mi càng tò mò, đưa tay gõ cửa, miệng cười lên tiếng :
- Có một vị khách không mời mà đến đây!
  Tố Tu vội vàng đứng dậy ra mở cửa :
- Nhất định là chị Lục Mi rồi!
  Dược Nương cùng Ngọc Nương cũng vội đứng dậy, lễ phép chào Lục Mi. Dược Nương lên tiếng :
- Thường ngày đã được nghe đồn tiểu thư Lục Mi rất diễm kiều. Hôm nay mới được trông rõ, quả thật danh bất hư truyền! Chúng tiểu muội vinh hạnh vô cùng!
  Tố Tu cũng thêm :
- Sắc đẹp của chị Lục Mi đây, thì Tố Tu cũng phải say mê, cứ gì phải các vị khách!
  Ngọc Nương cũng góp lời :
- Trông tiểu thư Tố Tu, tiểu muội cũng lấy làm hổ thẹn cho hình dáng của mình. Thấy mình thật không may vậy!
  Mọi người khiêm tốn một hồi, rồi cùng ngồi xuống. Bọn a hoàn rót rượu, rồi cùng bày tửu lệnh làm vui. Mãi tới quá canh ba tiệc rượu mới tan. Lục Mi hỏi Ngọc Nương cùng Dược Nương về đâu trong đêm như thế này. Ngọc Nương đáp :
- Cách đây không xa, sau núi là mấy gian nhà cỏ của chúng tiểu muội rồi!
  Dược Nương và Ngọc Nương đi rồi, Lục Mi hỏi cặn kẽ chuyện quen biết của Tố Tu với hai người ra sao. Nghe xong, Lục Mi lên tiếng nghi ngại :
- Hai người xuất hiện đã đột ngột, đi cũng không rõ đi phương hướng nào. Không thể tin được hoàn toàn những lời của những người này đâu! Sau núi là một vùng đất hoang bạt ngàn, toàn cây cỏ xác xơ cùng xỏi đá, lấy đâu ra nhà cửa bây giờ? Nếu có, chúng ta cũng phải thấy lâu nay chứ? Cứ như ta nghĩ, thì hai người này nếu không phải ma quỷ thì cũng là hồ li tinh, biến hình mà thôi!
  Tố Tu nghe vậy có vẻ không bằng lòng, nói :
- Hồ li tinh cùng ma quỷ biến thành người thì em cũng có nghe, nhưng hồ li tinh, ma quỷ cũng biết làm thơ thì chưa thấy bao giờ cả!
  Nói rồi, Tố Tu lấy hai tập thơ của Dược Nương cùng Ngọc Nương cho Lục Mi xem. Lục Mi xem tập thơ của Dược Nương, nhận ra chữ chữa, phê bình của Tiêu Sử, kinh ngạc hỏi :
- Thế công tử chúng ta cũng đã biết hai người này rồi sao?
  Tố Tu đáp :
- Công tử chỉ mới đọc thơ của họ thôi! Chưa gặp họ bao giờ! Em cũng chưa dám nói chuyện này với công tử đâu!
  Tối hôm đó, khi Lục Mi ở phòng Tố Tu, Tiêu Sử lại tìm Lục Mi không thấy. Sơ Hương nói rõ mọi chuyện, rằng Lục Mi sang dự tiệc bên phòng Tố Tu, vì Tố Tu có khách lạ. Tiêu Sử ngồi lại trong phòng Lục Mi đọc sách một hồi. Trên đường về, Tiêu Sử thoáng thấy từ xa bóng hai người con gái, một quần áo màu hồng, một quần áo màu trắng, đi về phía vườn hoa, rồi bỗng biến mất. Tiêu Sử lấy làm lạ lùng, nhớ rất kĩ chỗ hai người biến mất ấy.
  Mấy ngày sau, Lục Mi cùng Tố Tu gặp Tiêu Sử trong thư viện. Tiêu sử kể chuyện lạ lùng đêm hôm trước, rồi hỏi :
- Không biết hai người bạn mới của Tố Tu có phải hai người này không?
  Tố Tu thưa :
- Theo như chủ nhân kể thì rất giống!
  Lục Mi tiếp :
- Theo ý tiện thiếp thì hai người này không phải là người mà yêu ma, hoặc hồ li tinh gì đấy!
  Tiêu Sử cùng phụ họa :
- Ta cũng nghĩ như vậy!
  Tố Tu có vẻ không bằng lòng, hẹn rằng sẽ mời cả hai đến để Tiêu Sử cùng Lục Mi trò chuyện xem sao. Theo lời hẹn, Ngọc Nương cùng Dược Nương, một đêm đang trong phòng Tố Tu bàn luận về thơ từ thì Tiêu Sử bước vào. Dược Nương cùng Ngọc Nương đứng dậy định tránh, thì Tố Tu khẩn khoản :
- Việc gì cũng cần sáng tỏ. Chẳng nhẽ hai vị không học theo Tạ Đạo Uẩn trong phòng khuê mà cũng có thể làm sáng tỏ tâm trí người em chồng của mình sao?(1)
  Dược Nương cùng Ngọc Nương bèn làm lễ ra mắt cùng Tiêu Sử. Sau đó, mọi người cùng ngồi trò chuyện. Hai người biện luận cho đến tri thức đều rất uyên bác, thông minh, khiến Tiêu Sử không thể nào chống đỡ được, đành lên tiếng xin thua :
- Hai nữ quý khách thật xứng đáng là bậc Tư Mã Tương Như trong giới phụ nữ vậy. Tiểu chủ nhân xin bái phục!
  Dược Nương yêu sách :
- Nghe nói chủ nhân có một thư viện rất hiếm có trên đời này. Có thể cho chúng tiểu muội xem một lần được chăng? Cũng là để thêm phong phú đường kiến văn.
  Tiêu Sử bằng lòng, ngay ngày hôm sau, mời Dược Nương và Ngọc Nương lên thăm thư viện.
  Sáng hôm sau, hai cô gái tới, Tiêu Sử dẫn lên thư viện, chỉ dẫn, giới thiệu tận tình, từ con dấu bằng ngà voi, khắc chữ triện, đến con dấu bằng sừng trâu, khắc chữ thảo....đến các loại sách về hoa cỏ thảo mộc quý hiếm của mình.. Dược Nương ca ngợi :
- Lâu nay chỉ được nghe về những bản sách quý về thảo mộc đời Tống, giờ mới được thấy tận mắt, thật cảm tạ chủ nhân vô cùng. Cũng như một lần được nhìn lại cội nguồn của chính mình vậy!
  Từ đó cả hai thường tới thư viện cùng Tiêu Sử bàn luận văn chương sử sách. Có hôm cùng Tiêu Sử tiệc tùng với sự có mặt của Lục Mi và Tố Tu. Một mình Tiêu Sử giữa tứ đại mĩ nhân, nhưng không hề có một lời nói, một cử chỉ mà không có lễ có tiết ước thúc. Tiêu Sử ngày càng kính trọng :
- Giao thiệp với hai tiểu thư, thật giống như được đứng trước gió mát trăng trong, hoa thơm, cỏ lạ vậy! Khiến cho tâm hồn càng thêm cao thượng, trí óc càng thêm sáng suốt, hiểu biết!
  Một hôm, đang trong khi nói chuyện bình thường, cả hai Ngọc Nương cùng Dược Nương bỗng biến sắc mặt. Dược Nương nói riêng với Tố Tu :
- Duyên phận của Dược Nương này với tiểu thư cạn rồi! Mai này, tiểu thư nhớ đến Dược Nương này, thì hãy đào sâu ba thước chỗ Dược Nương này hóa kiếp, sẽ thấy một khối hổ phách. Đấy chính là linh hồn của Dược Nương này kết tinh vậy! Tiểu thư hãy đem đặt trước Phật đường, hàng ngày đem hoa tươi ngắt từng cành rắc lên, thì ba mươi năm sau, Dược Nương này lại có thể tái sinh. Xin tiểu thư đừng quên!
  Ngọc Nương ngồi bên cũng nghẹn ngào :
- Dược Nương đã ra đi, thì Ngọc Nương còn có thể sống trên đời một mình sao?
  Tố Tu định lên tiếng an ủi, thì bên ngoài mây đen gió lớn kéo đến. Trời đấy như trong độ chuyển thế. Mưa xuống như trút, không còn trông thấy gì nữa. Đèn nến đều tắt, mọi người hoảng loạn kêu gào. Đến lúc tạm yên, nhìn ra thì đã không thấy cả Dược Nương cùng Ngọc Nương đâu cả!
  Sáng ra, xuống vườn, một cảnh tàn phá như sau một trận địa chấn lớn. Cây cối trong biệt thự ngã đổ không sót một góc nhỏ. Riêng gốc thược dược tím giữa khu vườn riêng trồng thược dược, vốn xum xuê cành lá hoa bao giờ cũng nhiều cũng to đẹp nhất trong vườn, một tảng nước đá lớn rơi trúng. Đến tảng sáng, tảng nước đá vẫn chưa tan hết. Bên khu vườn phía tây của đại đường, một cây tử tiêu lâu nay xanh tốt, mỗi mùa mỗi hoa thơm ngát, một tháng sau trận mưa chuyển mùa, tự dưng héo khô mà chết!
Nguyên văn : Dược Nương. Quyển 3.
 
 
 
--------------------------
Chú Thích :
1. Tạ Đạo Uẩn : cháu Tạ Ạn, vợ của Vương Ngưng Chi đời Tấn. Thông minh, tài hoa, có tài biện thuyết. Trời xuống tuyết lớn, Tạ An hỏi :
- Tuyết xuống sánh với gì thì đẹp nhất?
Tạ Lang, con trai anh Tạ An nói :
- Giống như muối trắng vãi khắp trời!
Đạo Uẩn nói :
- Không bằng ví với những bông liễu bị gió cuốn!
Tạ An khen Đạo Uẩn là tài tử trong đời. Em trai của Ngưng Chi là Hiến Chi, trang cãi với bạn bè thường thua. Thị tì của Hiến Chi đến thưa với Đạo Uẩn :
- Xin phu nhân đến giai vây cho công tử nhà ta!
Đạo Uẩn quầy màn xanh, ngồi bên trong, chỉ huy cho Hiến Chi tranh cãi, khách đành thua. Ngưng Chi bị giết, Đạo Uẩn về sống góa ở Cối Kê. Có chuyện chép ở Liệt nữ truyện.
Beautiful things happen when you love someone.
Đăng nhập để trả lời
0
Hiệp Nữ
  Phan Thúc Minh, người Thường Nhiệt, vốn dòng dõi thế gia vọng tộc, ông nội họ Phan, khởi nghiệp nơi quân đội. Họ Phan từ nhỏ đã được luyện cưỡi ngựa, bắn cung thường xuyên, rất thích một mình một cây cung rong ruổi trên mình ngựa, oai phong lẫm liệt, trong vai một viên phó tướng chẳng hạn.
  Tính tình họ Phan hào phóng, không muốn bị câu thúc trong những chuyện thói tục tầm thường. Rất thích kết giao với hào kiệt để gánh vác những việc nghĩa hiệp. Bọn môn hạ trong nhà họ Phan kể cũng có tới mấy chục người.
  Có một nhà sư từ Ngũ Đài Sơn xuất hiện ở Thường Nhiệt, tay cầm một cái bát, thường xuất hiện trước cổng nhà họ Phan để chờ cúng đường. Thúc Minh một lần giáp mặt nhà sư, thấy dánh vẻ cũng không phải tầm thường, nên giữ nhà sư lại. Nửa năm trôi qua, cũng không có chuyện gì khác thường. Ngày ba bữa, rượu thịt đầy đủ. Nhà sư thấy Thúc Minh cùng bạn bè tập luyện võ nghệ trên một mảnh đất trống, liền lớn tiếng cười, nói :
- Các ngài một trăm cây trượng trong tay, cũng không đủ địch nổi một tấc sắt trong tay ta!
  Mọi người nghe vậy, dừng lại. Một người lên tiếng :
- Võ công của đại sư cao cường như vậy, sao không thử tỉ thí một phen xem tài cao thấp?
  Nhà sư đáp :
- Nếu muốn ta tiếp vài chiêu số, thì trước tiên, phải ngồi trên bồ đoàn thể hiện công phu của mình đã. Chỉ cần người nào có thể ngồi một ngày một đêm, ta sẽ xin được hướng dẫn vài đường vậy!
  Mọi người đều ngại ngùng không dám nhận, nhưng Thúc Minh thì vô cùng quyết chí ngồi trong phòng riêng, tự mình luyện trong vòng mười ngày, rồi một mình đến phòng nhà sư, xin được làm đồ đệ. Nhà sư lên tiếng cảnh cáo :
- Học võ công, hai điều quan trọng nhất không thể thiếu là chí khí cùng sửc khỏe. Cứ thế ngày này qua ngày khác thì sẽ có được kĩ thuật.
  Nói rồi nhà sư mở hòm riêng của mình, lấy ra một quyển Dịch cân kinh (1), đưa cho Thúc Minh:
- Quyển Dịch cân kinh này, so với những quyển Dịch cân kinh đang đầy ngoài đời không giống nhau đâu! Công tử hãy xem đến tận thuộc lòng. Rồi tự mình tập luyện trong vòng một tháng, thì sẽ thấy võ công của mình đạt đến mức độ thượng thừa như thế nào!
  Lại lấy trong hồ lô, đếm đủ ba mươi viên cao đơn hoàn tán, đưa tiếp cho Thúc Minh :
- Mỗi ngày uống một viên, sẽ thấy công hiệu. Uống hết lại tới gặp bần tăng!
  Thúc Minh từ đó tạ tuyệt mọi chuyện giao tiếp, chăm chú tập luyện, không dám lơ là. Một thời gian dài, thấy võ công của bản thân tấn tới rất nhiều. Ra ngoài thi đấu với bạn bè xem sao thì đúng như vậy, đến nỗi mọi người đều không dám cùng Thúc Minh đọ tài cao thấp như trước. Nhưng bản thân Thúc Minh cũng tự biết rằng, sự tiến bộ của bản thân chưa đáng kể là bao, nên tìm gặp nhà sư, xin được chỉ giáo. Nhà sư thấy Thúc Minh đến thì vui vẻ nói :
- Đồ đệ cũng đã hơn được trước ít nhiều đấy!
  Rồi hỏi tiếp :
- Đồ đệ ngoài việc học võ thuật, có định học bắn cung cưỡi ngựa không?
  Thúc Minh rất háo hức, xin được truyền thụ. Nhà sư nói :
- Hai thứ này, nếu không tinh thông, thì khi lâm trận sẽ rất dễ bị đối phương tấn công vào điểm khiếm khuyết này của mình để thủ thắng.
  Thúc Minh thưa :
- Nhưng còn kiếm thuật cũng rất cần thiết.
  Nhà sư rút trong hồ lô một thanh bảo kiếm, ánh kiến sáng loáng như tuyết, khiến người yếu bóng vía trông thấy cũng lạnh gáy. Thật không có thanh kiếm nào như vậy trên đời. Nhà sư tiếp :
- Thanh kiếm này, hai nghìn năm trước đây, do Âu Dã Tử luyện thành. Không phải thứ của cõi người đâu! Nếu như kiếm thuật của đệ tử tới mức xuất thuần nhập hóa, thì kiếm với người hợp nhất làm một!
  Thế rồi nhà sư hướng dẫn Thúc Minh những bí thuật của kiếm pháp. Mỗi lần tập luyện, Thúc Minh quỳ xuống nghe sư phụ truyền thụ, từng câu từng chữ đều được hướng dẫn bằng những động tác cụ thể. Một thời gian dài, từ sáng đến tối, Thúc Minh không làm bất cứ việc gì khác, luôn ở bên sư phụ để được chỉ giáo.
  Một năm trôi qua, nhà sư nói :
- Kiếm thuật của đồ đệ đã đến mức thượng thừa rồi đấy!
  Nói xong, nhà sư ra khỏi nhà Thúc Minh!
  Thúc Minh định lên đường chu du một chuyến ra sao. Một người một ngựa cùng một ít lương thực, Thúc Minh ra đi. Đến Sơn Đông, một phần thì màu núi đầy xinh đẹp quyến rũ, một phần bởi cái tráng khí bốn phương buổi đầu, Thúc Minh cứ một mình trên lưng ngựa, men theo chân núi mà đi. Mắt nhìn thỏa chí núi sao, suối sâu, đến nỗi trời tối cũng không hay. Bỗng nghe có tiếng mũi tên bay lại phía mình. Ngoảnh lại thì tên đã đến trước mặt, cũng may, Thúc Minh đưa tay bắt gọn mũi tên. Lại mũi tên thứ hai bắn tới. Lần này, như đã có tính toán, Thúc Minh giơ cung bắn tên, cùng rơi xuống phía trước, tiếng nghe rất rõ khi hai mũi tên chạm nhau!
  Người bắn hai mũi tên liên tiếp mới từ trong rừng phóng ngựa ra. Trông cao lớn, râu dài, dáng vẻ khôi ngô. Thúc Minh giơ kiếm, lưỡi kiếm như biến thành một đạo hào quang của cầu vồng, phát đủ ánh của bảy màu trong cảnh hoàng hôn, càng hiện rõ. Khoảnh khắc, những cái đầu rơi xuống. Tên thủ lãnh tránh được, nhưng thấy ngay rằng không phải đối thủ của Thúc Minh, lớn tiếng lện cho lũ còn sống sót bỏ chạy.
  Trời tối hẳn, Thúc Minh tìm một quán trọ qua đêm. Ngồi trước bàn ăn, thấy một lão tiêu đầu, nói giọng phương bắc, chừng đi áp tải hàng cho khách, lần đầu tiên về vùng xa lạ này bước vào quán, ngồi chưa yên chỗ, lão tiêu đầu kể vừa gặp một bọn cướp ngoài núi. Thúc Minh nghe, biết ngay bọn này cùng với bọn gặp Thúc Minh chỉ là một, nên lên tiếng hỏi :
- Tiền bối bị chúng cướp những gì?
  Lão tiêu đầu đáp :
- Ta áp tải cho một hội buôn ba nghìn lạng bạc, bị chúng cướp toàn bộ.
  Thúc Minh hỏi tiếp :
- Cứ xem hành động của bọn chúng, thì sào huyệt cáhc đây không xa. Sao tiền bối không tìm đến xem sao? Nếu tiền bối bằng lòng, vãn bối này xin giúp một tay!
  Nghe nói thế, người chung quanh đều yên lặng khó hiểu. Chỉ có hai đồ đệ của lão tiêu đầu đứng dậy, tình nguyện đi cùng Thúc Minh. Cả ba kéo đến nơi vừa xảy ra vụ cướp. Theo hướng bọn chúng bỏ chạy, người ngựa vượt mười dặm đường đầy gai góc, vách núi chắn, suối sâu nước cuốn. Nhiều chỗ phải xuống dắt ngựa lần từng bước. Nhìn phía xa, ánh đèn lấp loáng khi tỏ khi mờ trong rừng tối đen, cả bọn hăm hở nhưng cũng thận trọng tiếp cận, thì thấy rõ một sào huyệt lớn của bọn cướp. Không có đường vào. Hình như cầu đã được kéo lên, bốn phía hào sâu, lũy cao, không khác gì một tòa thành nhỏ. Lại thêm cây rừng bóng đêm làm tăng thêm vẻ bí hiểm rừng rợn đầy ma quái chết chóc. Thúc Minh dễ dàng nhảy qua hào chắn, quay nhìn lại, hai đồ đệ của lão tiêu đầu không dám nhảy, cũng là tự lượng sức mình không thể vượt được một khoảng cách như vậy.
  Bên trong, đã có dấu hiệu nhận ra sự xâm nhập của bọn Thúc Minh. Trước tiên là xuất hiện một đàn chó mấy chục con, con nào cũng to lớn như những con bê, tiếng chúng gầm rít, chạy tìm kẻ địch, không khác gì một bầy báo của rừng xanh. Hai con đầu đàn xông lại trước Thúc Minh, định nhảy vào người chàng. Không cầm kiếm cung gì, Thúc Minh hai lần vung quyền, hai con mãnh hổ ngã lăn không thấy đứng dậy. Cả đàn chó thấy vậy, không dám xông lên nữa, đứng thành vòng, nhìn Thúc Minh, không con nào dám nghĩ đến chuyện xông lên, nhưng cũng chưa tính chuyện quay đuôi bỏ chạy.
  Thúc Minh lặng lẽ tiến sâu vào bên trong, không thèm ngó ngàng gì lũ chó nữa. Trước mắt chàng, lại một hàng rào kiên cố, chàng lưỡng lự, thì cửa mở. Một bóng người xuất hiện, trông trang phục cùng dáng điệu, Thúc Minh nhận ra một cô gái. Một nữ võ tướng lục lâm, tay trái cầm đuốc, tay phải có trường kiếm, tiếng nghe dõng dạc, trong trẻo :
- Hảo hán nào to gan nửa đêm canh ba, dám tới nơi này quấy phá, không muốn sống thì thiếu gì chốn?
  Thúc Minh chỉ về bên kia hào, đáp lời :
- Sư phó của hai người này có ba nghìn lạng đang để chổ ngươi, sai ta đến lấy lại. Ngươi hãy giao lại ngay cho họ. Nếu không nghe theo, đừng trách lưỡi kiếm của Thúc Minh này vô tình!
  Cô gái cười, một tiếng cười ròn rã trẻ trung, vứt ngay ngọn đuốc cho một thủ hạ sau lưng bắt lấy, giơ cao, còn bản thân cô gái thì rút kiếm ngang nhiên bước lên. Thúc Minh cũng bước lên, phóng kiếm, hai mũi kiếm vùng vẫy trên không, tạo thành hai luồng kiếm quang sáng loáng, nhưng cũng có thể phân biệt bởi màu sắc mỗi thanh có khác nhau ít nhiều. Một đường xanh trong suốt lạnh giá bởi tính chủ đạo của màu  xanh. Một đường đỏ hồng như hoa đào có vẻ đầm ấm hơn của màu lửa bếp nhưng cũng khiến người ta lạnh gáy vì trong suốt như một tấm kính nước lọc qua ánh hồng sáng sớm. Thúc Minh giở hết những tuyệt chiêu được sư phụ chỉ giáo, tả xung hữu đột, nhưng vẫn chưa chế ngự được cô gái với màu kiếm hồng ấm áp, hoặc chí ít cũng là cảm giác ban đầu như vậy! Đang lúc bất phân thắng bại, thì cô gái thu kiếm, nhảy khỏi vòng chiến, hét lớn :
- Dừng tay!
  Thúc Minh cũng thu kiếm quang về, nhảy sang phía đối diện. Cô gái lên tiếng tiếp :
- Ngươi có phải là đồ đệ của Thiết Bối thiền sư ở Ngũ Đài Sơn không?
  Thúc Minh đáp ngay :
- Chính thế!
  Cô gái dịu giọng hơn :
- Thế thì ta với ngươi là đồ đệ đồng môn rồi! Ba nghìn lạng bạc ấy của ngươi sao? Thế thì cứ vào mà nhận lại thôi!
  Cô gái huýt một hồi như tiếng sáo trong trẻo, từ phía au, mấy chục hảo hán dũng mãnh tiến ra. Cô gái lên tiếng bảo bọn này đem số bạc ra nhà khách, dẫn Thúc Minh đi vào. Nhưng Thúc Minh không khỏi lưỡng lự, khi cũng chưa thể biết rõ cô gái là ai, chính hay tà, có thật cũng là đồ đệ của Thiết Bối thiền sư hay chỉ là một sự tính toán có hiểu biết? Hai đồ đệ của lão tiêu đầu cũng đến bên Thúc Minh. Cả ba chậm rãi thăm dò, đi theo sau cô gái. Vào trong nhà khách, mọi người ngồi xuống, đèn nến được thắp sáng thêm. Cô gái tay chỉ một người đàn ông oai phong, tuổi cũng chỉ khoảng trung niên, nói :
- Đây chính là anh ta! Người vừa rồi đã mạo phạm các ngươi. Xin đừng để bụng. Chẳng qua là chưa biết mặt nhau thôi mà!
  Bọn tay chân khiêng ra một chiếc bàn, trên đã bày sẵn mọi thứ : nước trà, rượu, cùng đủ loại hoa quả. Cô gái nói :
- Không kịp chuẩn bị đãi khách bất ngờ, để biểu đạt tình huynh muội đồng môn. Quý khách hãy tự nhiên cho!
  Thúc Minh cũng khiêm nhường, đáp lời kính lễ, rồi ngồi xuống. Hai anh em cô gái ngồi hai bên, rót rượu. Mỗi người cầm một chén ân cần mời Thúc Minh. Cô gái lên tiếng :
- Hiện sư phụ đang có mặt ở chùa Tướng Quốc thuộc Mạt Lăng. Sư phụ đã từng truyền thụ pháp thuật cho người anh cả của ta là Pháp Hiển! Pháp Hiển đại huynh thường xử một cây bảo kiếm cùng một đôi thiết hoàn. Thật anh hùng cái thế, thiên hạ vô song, khó mà tìm được đối thủ với đại huynh trong cõi giang hồ hiện nay!
  Ngừng một lát, cô gái tiếp :
- Ta cũng nhiều lần muốn giao đấu với Pháp Hiển đại huynh xem sao, liệu ai hơn ai, nhưng tự xét kiếm thuật của ta chưa phải là đệ nhất cao thủ trong số học trò của sư phụ nên lại không dám tỉ thí vậy! Nếu như huynh đây muốn thử sức thì ta cũng có thể giới thiệu, để biết tài năng bản thân ra sao trong giới võ hiệp hiện nay chăng!
  Thúc Minh đáp :
- Xin vâng lời nữ chủ nhân!
  Cả bọn ước hẹn, Thúc Minh lên kinh thành, quay trở lại sẽ kéo nhau đi tìm Pháp Hiển. Trời sáng rõ, Thúc Minh cáo biệt nữ chủ nhân ra về. Trở lại quán trọ, Thúc Minh mới biết, ba nghìn lạng bạc đã như ngọc quý trở về với nước Triệu rồi! Lão tiêu đầu đứng lên cung kính cảm tạ Thúc Minh. Thúc Minh đáp lời :
- Vãn bối chỉ gặp may, không đến nỗi nhục mệnh mà thôi! Xin đừng nói lời to tát đến vậy!
  Đến khi đi nằm, Thúc Minh cởi mũ trên đầu ra, thì mới nhận ra đỉnh mũ bị cắt gọn một đoạn, cởi áo ngoài, lại càng kinh hoàng hơn, một vạt áo trước cũng bị cắt một nửa từ lúc nào không rõ. Mọi chuyện chỉ có thể xảy ra khi hai bên giao kiếm mà thôi! Thúc Minh ngồi ngây người một hồi, không thể trấn tĩnh.
  Sáng ra, bên gối không biết người nào và lúc nào để sẵn một lưỡi chủy thủ, một cái túi, bên trong có năm mươi lạng bạc. Ngoài túi đề hai chữ ngay ngắn : Tặng nghĩa! Cạnh hai chữ này còn một dòng chữ nhỏ hơn : Số tiền này để nghĩa huynh dùng mua rượu uống. Sang năm khi nghĩa huynh quay lại, muội sẽ tiếp đón nghĩa huynh chu đáo hơn. Rồi cùng đi chùa Tương Quốc bái kiến sư phụ! Đến lúc này, thì Thúc Minh không thể nghi ngờ gì về mặt kiếm thuật, người con gái này hơn hẳn mình một bậc. Cũng bởi sớm nhận ra cùng một sư phụ nên cô gái nể tình mà thôi!
  Thúc Minh đến kinh thành, dạo khắp mọi chỗ. Đi Mật Vân, Hoài Nhu, Bình Cốc, Diên Khánh. Chỗ nào cũng tới, cuối cùng quay về Sơn Đông. Nhớ lời hẹn với cô gái, chàng lại lên đường tìm đến chốn cũ. Cô gái vẫn nhớ, và không giấu nổi vui mừng khi gặp lại :
- Hiền huynh thật là một người tín nghĩa!
  Thúc Minh lấy ra một gói sâm Cát Lâm, đưa cho cô gái :
- Có một ít sâm, tiểu sinh mua khi đến vùng Cát Lâm, gửi nữ trại chủ về kính lên phụ mẫu cho!
  Cô gái có vẻ cảm động, Thúc Minh tiếp :
- Ngay cả tính mạng của tiểu sinh đây còn có ngày nay, cũng là vì nữ trại chủ nể tình. Từ nay về sau quả không dám khoe khoang tài nghệ trước một ai nữa!
  Cô gái cười, cúi đầu không nói gì. Hai người cùng sánh vai về trại. Người anh ra tận cầu đón. Nhà khách đèn nến thắp lên như có hội vui. Lụa là, đèn lồng treo mọi chỗ. Một quả cầu lớn đỏ rực đặt chính giữa. Bọn tay chân chạy đi chạy lại nhộn nhịp bày tiệc, trong trang phục mới. Thấy Thúc Minh cùng anh em cô gái bước vào, cả bọn cung kính chào. Thúc Minh không yên tâm, vì quang cảnh có vẻ khác thường.
  Một bàn tiệc riêng được dọn bên phòng phía tây, chỉ có riêng người anh trai của cô gái ngồi tiếp Thúc Minh. Rót chén rượu đầu, chủ nhà đứng lên trịnh trọng :
- Cũng theo lệ thường ,đây là bữa tiệc tẩy trần sau những ngày rong ruổi trên đường của quý công tử. Xin cùng công tử cạn chén!
  Hai người trò chuyện vui vẻ về đủ việc xảy ra từ lần gặp gỡ trước. Tiệc tàn, bọn đầy tớ dọn dẹp xong, mời Thúc Minh thay trang phục. Thúc Minh ngạc nhiên, vì trước tiệc cũng đã thay. Nhìn trang phục có vẻ dành cho ngày lễ, Thúc Minh càng phân vân hơn :
- Nhưng trang phục cũ của ta đâu?
  Một người hầu gái đáp :
- Xin quý công tử cứ yên tâm. Những thứ đó, người nhà giặt vẫn chưa khô. Chủ nhân mời quý công tử dùng những thứ này có việc!
  Càng ngạc nhiên hơn, từ lúc vào trại đến giờ, không thấy nữ chủ nhân đâu nữa. Còn bọn đầy tớ gái thì nhìn Thúc Minh không giấu nổi nụ cười khi thấy Thúc Minh trong lễ phục. Bỗng chiêng trống, tiếng pháo nổi lên hòa cùng tiếng reo của mọi người. Người anh trai của nữ chủ nhân tiến vào, cũng trong trang phục mới, trịng trọng nói với Thúc Minh :
- Em gái ta đã cảm phục phong thái cùng tài đức của quý công tử ngay buổi đầu gặp gỡ, nên muốn cùng quý công tử nên vợ nên chồng. Hôm nay chính ngày lành. Mong rằng quý công tử cũng thấy đây là một lương duyên!
  Thúc Minh ngỡ ngàng, không còn gì mừng hơn, không biết nói năng ra sao, chỉ yên lặng nghe theo mọi người chỉ dẫn. Tiếng nhạc rộn ràng, trống nổi pháo ran lần thứ hai. Ngoài sảnh lớn, từ hai cửa phía trái, hai đoàn người cùng tiến vào. Một phía nhà gái với cô dâu bên phải, nhà trai cùng chú rể bên trái. Người anh trai làm chủ hôn, đứng chờ chính giữa sảnh lớn. Chú rể hướng phía bắc, cô dâu quay mặt hướng nam, cùng nhau giao bái, sau khi đã cùng bái bàn thờ trời đất, tổ tiên.
  Đêm động phòng, cô dâu nghi dung diễm lệ, chú rể phong lưu tuấn tú. Loan phượng vui vầy. Chuyện không nói nữa!
  Sau lễ cưới, vợ chồng nhất mực hòa thuận. Thúc Minh coi vợ như hạt châu quý trên tay. Hai người cùng sống những ngày ngọt ngào. Lúc rỗi cùng bàn luận võ nghệ, kiếm pháp. Hỏi về gia thế, Thúc Minh mới biết, vợ họ Trình, một thế gia vọng tộc lâu đời. Cô vợ tên Lăng Tiên, người anh ruột tên Trình Nam. Từng đậu võ tiến sĩ, làm quan ở kinh thành, thích giao kết. Bạn bè trong giang hồ cần gì, Trình Nam sẵn sàng đáp ứng bằng được, cho nên được giới giang hồ gọi là Tiểu Mạnh Thường Quân. Cũng có lễ bởi thế, tiền của trong nhà càng ngày càng tiêu hao dần. Còn Lăng Tiên ngay từ lúc bốn năm tuổi đã thích múa kiếm cưỡi ngựa, nên ở tuổi suýt soát như vậy, trong vòng một trăm bộ, Lăng Tiên đã có thể bắn trúng hồng tâm, trăm pháp trăm trúng. Một lần cùng bạn bè đua ngựa, Thiết Bối thiều sư trông thấy, kinh ngạc nói :
- Cô nương này thật là kì nữ vậy!
  Thiết Bối thiền sư liền tìm tới thân phụ Lăng Tiên, với ý nguyện sẵn sàng nhận Lăng Tiên làm đồ đệ, truyền thụ bản lĩnh của mình hết lòng. Thân phụ Lăng Tiên liền mời Thiết Bối thiền sư tới nhà làm lễ nhận đệ tử, cung kính khác thường để dạy Lăng Tiên. Cho nên Trình Nam cũng có được học thêm ít nhiều Thiết Bối thiền sư. Khi Lăng Tiên làm đồ đệ Thiết Bối thiền sư, tuổi còn rất ít, nhưng được Thiết Bối thiền sư rất yêu thương, hết lòng truyền thụ những bí thuật trong đời hành hiệp của mình. Ba năm sau, Thiết Bối nói :
- Bao nhiêu công phu thượng thừa của ta, đã thực lòng truyền cho con. Với tài nghệ như vậy, con khó mà gặp được địch thủ ngang tài trên giang hồ hiện nay!
  Lăng Tiên từ đấy tự mình luyện rèn, võ thuật ngày càng cao cường. Từ kiếm thuật cho tới kĩ năng thiết hoàn đều tới mức tuyệt đỉnh trong võ lâm đương đại. Đến mức ngay giữa đêm tối, một mình tung thiết hoàn, có thể nát đầu kẻ địch ngoài mười dặm. Kiếm thuật cũng không kém phần ảo diệu, đến mức đấu với Thúc Minh, Lăng Tiên cũng không cần trổ hết tài nghệ mà đã khiến Thúc Minh táng đởm kinh hồn!
  Sau khi nhận Thúc Minh làm đệ tử, ra đi khỏi nhà họ Phan, Thiết Bối thiền sư có ghé qua trại của Lăng Tiên và Trình Nam, nói với họ về tài năng cùng diện mạo của đệ tử mới Phan Thúc Minh của mình, đồng thời cũng gợi ý cho Lăng Tiên về nhân duyên như trời định giữa Lăng Tiên cùng Thúc Minh, khuyên Lăng Tiên không nên bỏ qua cơ hội tốt lành như trời dành sẵn này. Chính vì vậy mà Lăng Tiên trong cư xử với Thúc Minh đều có tính toán một cách đầy thiện ý.
  Pháp Hiển, theo như Lăng Tiên đã nói, cũng là một cao đệ của Thiết Bối thiền sư, từ lâu đã rất yêu quý Lăng Tiên, những tưởng mọi chuyện cũng không khó khăn gì, vì trong môn đệ của Thiết Bối thiền sư không còn ai hơn hai người. Về việc này, Lăng Tiên vô cùng tỉnh táo, thấy rõ thái độ của Pháp Hiển trước cùng sau khi Lăng Tiên lấy Thúc Minh, cho nên hàng ngày, Lăng Tiên cùng chồng luyện tập kiếm thuật không lúc nào dám lơ là. Điều này bản thân nó đã có lợi, mà chủ yếu, nàng chuẩn bị cho mình, cho Thúc Minh một cuộc gặp gỡ, may thì là thi tài cao thấp, không may có thể là một cuộc đọ sức đối kháng một mất một còn. Dù thế nào cũng đều cần thiết! Một năm sau,xem Thúc Minh biểu diễn, Lăng Tiên lo ngại :
- Công phu của chàng sợ vẫn chưa đủ!
  Về phía Pháp Hiển, nghe tin Lăng Tiên thành hôn với Thúc Minh thì vô cùng tức tối, lòng vẫn chờ dịp so tài cao thấp, một mất một còn với Thúc Minh để dành lại Lăng Tiên, nhưng còn sợ sư phụ Thiết Bối thiền sư, nên chưa dám động thủ. Chuyện như sắp sẵn, ở Ngũ Đài Sơn, mỗi đêm vào chính giờ tí, có quái vật vào chùa, mê hoặc chúng tăng, rồi nuốt trọn, trước sau tính ra có đến một trăm nhà sư bị hại như vậy! Sư trụ trì là Giác Quả Phương trượng, viết thư mời Thiết Bối thiền sư về chùa bàn chuyện chống lại yêu quái. Thiết Bối thiền sư lập tức lên đường về Ngũ Đài Sơn. Chùa Tướng Quốc một mình Pháp Hiển hòa thượng chủ trì. Pháp Hiển liền viết cho Lăng Tiên một lá thư như thế này :
  "Nữ Bồ tát xư nay trong lòng chỉ có Pháp Hiển, ngược lại trong tâm khảm Pháp Hiển hòa thượng cũng chỉ có hình bóng nữ Bồ tát, chuyện từ xưa đã vậy! Nếu như chúng ta cùng nhau bí mật kết thành một cuộc hôn nhân đầy hoan lạc thì Pháp Hiển này xin hóa thành hàng vạn chiếc chuông nhỏ, luôn luôn bên cạnh nữ Bồ tát, không để bất kì một ai xâm phạm đến nàng. Còn nếu nữ Bồ tát vẫn quyến luyến tình cảm cùng kẻ khác, thì Pháp Hiển này sẵn sàng lấy đầu kẻ đó. Đến lúc ấy thì xin đừng trách ba thước kiếm của Pháp Hiển này không lưu tình vậy!"
  Nhận được thư, Lăng Tiên giận dữ như điên, nói với Thúc Minh :
- Từ mai, thiếp sẽ ẩn hình dưới bóng chàng, tùy theo chàng thi triển  võ công, cho đến lúc cùng Pháp Hiển tỉ thí võ nghệ. Nhân khi hắn tập trung toàn bộ tinh lực đối phó với chàng, thiếp sẽ xuất kì bất ý để kết thúc tính mạng hắn, rửa nhục của cái thư này!
  Thúc Minh hỏi :
- Biện pháp có thể không sai, chỉ để giết người đền mạng. Nhưng trong việc này thì tính toán ra sao?
  Lăng Tiên nói :
- Nếu như vậy chỉ đành chờ cho hắn ốm chết vì bệnh nữa mà thôi!
  Cả hai cùng luyện tập thành thục, và bàn định viết thư trả lời Pháp Hiển, hẹn ngày về chùa Tướng Quốc phân tài cao thấp.
  Thúc Minh theo đúng ngày giờ đã hẹn đến chùa Tướng Quốc, Mạt Lăng. Pháp Hiển hỏi :
- Lăng Tiên sao không đến?
  Thúc Minh đáp :
- Đàn bà trong khuê phòng, cũng không thể lấy việc ra mắt người đời mà không thận trọng thôi!
  Chưa dứt lời, kiếm của Pháp Hiển đã tuốt ngay khỏi vỏ. Thúc Minh cũng kịp giơ kiếm đối địch. Hai đạo hào quang vùng vẫy không rời nhau, ánh chớp lóe sáng đầy chết chóc, thù hận. Được vài hiệp, từ miệng Pháp Hiển, một thiết hoàn vút ra như tên bắn, hướng thẳng mệnh môn (2) của Thúc Minh. Thật mười phần nguy cấp, tài nghệ của Thúc Minh không thể phân thành hai hướng đối phó với Pháp Hiển như vậy được. Nhưng từ trong mũi của Thúc Minh, một đạo hào quang kịp thời phóng ra, theo hướng miệng Pháp Hiển bay tới. Pháp Hiển ngã lăn, kêu một tiếng lớn. Trận đấu kết thúc. Mũi kiếm đâm trúng miệng Pháp Hiển, chính là biến hóa thần xuất quỷ của Lăng Tiên. Pháp Hiển cũng biết ngay là Lăng Tiên ám toán, lấy hết sức tàn chạy về Ngũ Đài Sơn gặp sư phụ Thiết Bối thiền sư sám hối, nhưng mới chỉ đi được nửa đường thì không sống được nữa.
  Lăng Tiên lúc này hiện nguyên hình, trở về. Sau sáu mươi ngày trong bụng Pháp Hiển, khiến pháp công của Lăng Tiên càng trở nên ảo diệu. Không biết đến bây giờ người đời có ai còn biết, ai nói đến phép ẩn hình ám toán, luyện công vô cùng khác thường như vậy không?
Nguyên văn : Hiệp Nữ. Quyển 4.
 
 
 
---------------------------
Chú Thích :
1. Dịch cân kinh : chữ đề cũ thì ngượi soạn kinh này là Đạt Ma, và người chú thích là Bàn thích mật đề. Gồm hai quyển, nội dung nói về rèn luyện thân thể. Chia làm nội ngoại công. Nội công chủ tĩnh, ngoại công chủ động. Có loại gồm cả tranh vẽ, gọi là Nội ngoại đồ thuyết.
2. Mệnh môn : thuật ngữ của đông y, chỉ thận phải. Nhưng cũng có tài liệu dùng chỉ mắt.
Beautiful things happen when you love someone.
Đăng nhập để trả lời
0
Lí Tứ Nương
  Lí Tứ Nương là người Tứ Xuyên, từ nhỏ đã được theo cao nhân học kiếm thuật nhảy nóc nhà, vượt tường cao, ẩn hình hiện hình. Lại cả kiếm thuật vô cùng kì diệu, chỉ với một cây kiếm khoảng một thốn (1), có thể lấy đầu kẻ thù cách trên dưới một trăm bộ (2).
  Tứ Nương tuy làm thân kĩ nữ trong kĩ viện, mỗi ngày cùng công tử con nhà thương nhân giàu có vui chơi, rượu chè ca hát thâu đêm suốt sáng, nhưng phong độ rất tiêu sái thoát tục, phẩm cách rất trong sáng. Điều này tưởng như không thể dung hòa, nhưng nếu vậy thì Tứ Nương chính là một ngoại lệ hiện hữu. Lệ ngoại như vậy, nên đem lại một sự hâm mộ khác thường cho những kẻ biết đến Tứ Nương.
  Gần kĩ viện có nhà họ Phó, con trai họ Phó là Phó công tử rất khôi ngô. Từ các nhà danh gia vọng tộc, đến các nhà buôn giàu có trong vùng đều muốn con gái mình được một tấm chồng như công tử Phó. Nhưng lạ thay, Phó công tử chỉ ngưỡng mộ mỗi một mình Tứ Nương. Sẵn sàng đem xe tứ mã đón Tứ Nương về làm vợ. Ngược lai, Tứ Nương cũng rất để ý đến Phó công tử. Tứ Nương có lệ khác thường, chỉ bằng lòng tiếp khách vào ban ngày, buổi đêm không bao giờ tiếp bất kì ai, lại càng không bao giờ có chuyện lưu khách ngủ lại. Phó công tử cũng thường dự những buổi tiệc rượu chỗ Tứ Nương, nhiều lần cũng muốn được Tứ Nương coi mình như một ngoại lệ, nghĩa là giữ lại qua đêm, Tứ Nương cũng không lệ ngoại cho chính công tử họ Phó, một mực mời công tử ra về cho. Chưa một lần lay chuyển được Tứ Nương, điều này khiến Phó công tử không khỏi băn khoăn. Nhưng cũng không có cách nào khác, chủ động và lý lẽ, cho tới giờ vẫn thuộc về Tứ Nương, và Tứ Nương không vội để mất cơ hội này của mình.
  Một hôm, trời đã tối, Tứ Nương muốn nghỉ ngơi sớm. Tứ Nương xoay lưng lại phía những ngọn nến, khoác chiếc áo mầu hồng bằng gấm lên người, mắt nhắm lại như kiểu thư giãn. Chính lúc ấy, Phó công tử đi qua kĩ viện, thấy phòng Tứ Nương vẫn còn sáng, vội vào viện lên phòng Tứ Nương đẩy cửa. Tứ Nương kinh ngạc quay ra, hỏi :
- Khách là ai?
  Phó công tử đáp :
- Ta đây mà! Đến để cùng này xây mộng đẹp đêm nay!
  Tứ Nương lên tiếng :
- Thiếp bình sinh không làm chuyện này. Nếu như công tử thích có mộng đẹp trong phòng thiếp, thì xin công tử cứ nằm bên phải giường, thiếp nằm bên trái. Chúng ta cùng ngủ, để công tử có được mộng đẹp. Công tử có bằng lòng không?
  Phó công tử không ngờ chuyện lại cung cách tuyệt diệu thế này, nên vui mừng nhận lời. Nhưng đến khi cởi quần áo ngoài lên giường, thì công tử trằn trọc mãi không sao ngủ được. Còn Tứ Nương thì nhắm mắt, thở đều đặn theo phép dưỡng sinh, và từ lâu hình như đã vào mộng cảnh, tuy vẫn nghe Tứ Nương thở rất khẽ khàng. Không thể nào kiềm chế được, Phó công tử nhỏm dậy, ghé sát mặt Tứ Nương, thấy hơi thở của Tứ Nương hương thơm phả vào mặt, càng khiến công tử như phát cuồng, sờ soạng khắp người Tứ Nương....Bỗng công tử họ Phó thấy ngoài màn lửa cháy đùng đùng, rồi cháy lan đến tận giường hai người nằm. Họ Phó lay Tứ Nương, nhưng Tứ Nương vẫn ngủ như say, không nhúc nhích, nên không đánh thức nữa, công tử đành lo cho chính mình, vội mặc quần áo ngoài, mở cửa chạy ra.
  Không đợi kêu cứu, mọi người cũng đã thấy phòng Tứ Nương phát hỏa, đổ xô lại. Phó công tử trong phòng chạy ra, họ không nhận được mặt, mà lại cho là một tên trộm, lẻn vào trộm cắp thừa cơ phòng đang cháy, nên đuổi bắt. Cũng may, công tử cũng có chút ít võ nghệ, thoát được bọn người này, không dám xuống bằng đường cầu thang khi dòng người đang vẫn kéo lên, mà chạy ra phía cầu thang lên gác xếp, bò sang nhà bên cạnh.
  Trời vẫn chưa thật khuya, sáng trăng suông, trong nhà bên này, mọi người vẫn còn chưa ngủ, nghe ầm ĩ chữa cháy phía kĩ viện, người nhà đều ra cửa nghe ngóng. Có người thấy họ Phó đang bò, liền lên tiếng hô hoán, công tử càng hoảng hồn, nhảy liều xuống đất để định thoát thân. Nhưng gác cao, một chân Phó công tử bị trẹo hẳn, không thể đi được.
  Chủ nhân của ngôi nhà này là Diệu Chiêu họ Mã, học vấn uyên bác, phẩm hạnh trong sạch, mọi người đều tôn trọng gọi là Mã Nhị tiên sinh. Mã Nhị tiên sinh có hai người con trai, đều đậu vào lớp tú tài của huyện đường. Người anh tên là Bá Tiên, người em là Trọng Đạm, học vấn lầu thông, thơ từ rất trôi chảy.
  Một người em họ của Phó công tử lâu nay theo học với Mã Nhị tiên sinh, nhận ra người ngã trẹo chân không đi được là công tử họ Phó thường tới nhà họ Mã buổi tối cùng với hai người con trai họ Mã, nên thưa chuyện với Mã Nhị tiên sinh. Mã Nhị tiên sinh tức giận, bắt anh học trò này dìu công tử họ Phó về nhà.
  Ngày hôm sau, chữa chạy ít nhiều, chân Phó công tử trở lại bình thường, tìm đến kĩ viện xem quang cảnh ra sao, thấy kĩ viện không có gì thay đổi, sau những chuyện tối qua. Hoàn toàn như không có việc phát hỏa trong phòng của Tứ Nương vậy. Vì thế, họ Phó càng thấy rằng Tứ Nương là một người khác thường. Cũng từ đó, danh tiếng Tứ Nương nổi lên như cồn, xa gần đều kính phục.
  Trong kĩ viện có một kĩ nữ khác, tên là Lan Tiên họ Hà, người cao ráo, xinh xắn, duyên dáng vô cùng. Lúc nào cũng mặt hoa da phấn, thường hay đi một đôi hài màu lục, và mặc những bộ quần áo màu lục, nên mọi người gọi là Lục Hà Hoa cô nương. Lại thêm khéo ăn nói, miệng lưỡi dẻo kẹo, Lục Hà Hoa vì vậy cũng thường được khách của kĩ viện gọi là Lục Anh Ca - con khướu màu xanh. Tất nhiên, Lục Anh Ca không biết gì về võ nghệ, nhưng trong đôi mắt của Lục Anh Ca, hình như Tứ Nương nhận ra họ Hà cũng có chút ít dũng khí hiệp sĩ, nên hai người rất thân mật. Không những thế, chính Tứ Nương dạy cho Lục Anh Ca những bí thuật ăn chơi, khiến Lục Anh Ca cũng nổi tiếng không kém gì Tứ Nương, tất nhiên về phương diện khá.
  Lại có một vị kiếm khách ở đất Vân Nam, họ Nghê, tên Liên Vu, đệ tử của họ Nghê là Vân Bá, thường đi lại với Lan Tiên. Trong một lần ngủ lại phòng Lan Tiên, Vân Bá qua đời. Liên Vu thề rằng :
- Nhất định sẽ báo thù cho Vân Bá đệ tử! Phải lấy được đầu của Lan Tiên tế vong linh của Vân Bá!
  Lan Tiên nghe tin này vô cùng hoảng sợ, thường hay trốn trong phòng của Tứ Nương qua đêm. Một buổi khuya, có một luồng kiếm khí từ ngoài vút qua song cửa sổ, như một giải lụa trắng, tiếng nghe chẳng khác gì tiếng gươm khua. Thanh kiếm của Tứ Nương giấu kín trong hộp cũng vụt ra thành một đạo hào quang màu vàng. Hai đạo kiếm khí quấn quýt không rời, như muốn chặt đứt nhau, buộc chặt nhau, thoắt lại thấy vùng vẫy, mỗi bên một phía gầm ghè. Rồi từ bên trong phòng, hai luồng kiếm quang đuổi nhau ra khỏi phòng, vút lên vút xuống trong trời đêm.
  Một hồi lâu, vẫn không đạo kiếm quang nào trấn áp được đạo kiếm quang nào. Liên Vu cũng nhận rằng tài nghệ của mình không thể thủ thắng, đành thu hồi kiếm quang bỏ chạy.
  Sư phụ của Liên Vu là Hứa Ngọc Lâm đã lên Côn Luân Sơn tu hành từ lâu. Sau khi chú giải xong sách Chân Linh vị nghiệp đồ, thề không xuống trần hành đạo nữa mà chỉ lo nhiếp khi luyện đạo. Liên Vu cũng biết điều này, nhưng không còn cách nào khác, vẫn cố gắng lên tận Côn Luân Sơn, xin sư phụ xuống núi báo cừu hận cho đệ tử, cả hai đường. Ngọc Lâm nói :
- Tứ Nương vốn có nhân duyên với con, ta sẽ có cách nói rõ điều này cho Tứ Nương, để Tứ Nương tự nhận tội của mình!
  Nói rồi, Ngọc Lâm viết một lá thư đưa cho Liên Vu để chuyển cho Tứ Nương. Trước đó, Tứ Nương đã biết chuyện này, đã nghĩ cách đối phó ra sao. Đọc thư, Tứ Nương nói với Lan Tiên :
- Mỗi người một lần chết. Có người coi cái chết nặng như núi Thái, nhưng có kẻ coi cái chết nhẹ như lông chim hồng thôi! Hãy xem rồi sẽ biết ta xử sự việc này ra sao. Nếu có thể xả thân mình, trừ khử yêu nghiệt, bang trợ bách tính, để tiếng thơm cho muôn thưở, không phải là chuyện tốt hay sao?
  Lan Tiên nghe Tứ Nương nói như vậy, cũng chưa hiểu đầu đuôi ra sao, chỉ cảm thấy có một việc khác thường sẽ tới, nên rất kinh hoàng. Tứ Nương liền đưa cho Lan Tiên xem thư của Hứa Ngọc Lâm viết cho mình, thư viết :
  "Hành hiệp trên giang hồ, là chuyện tốt đẹp về đạo đức. Nhưng là kĩ nữ lại là một hành vi thật đen tối. Đem bỏ mất cái đạo đức cao thượng để chạy theo chuyện gió trăng nhơ nhớp, người quân tử chân chính không bao giờ làm như vậy cả, mà chỉ một lòng tu luyện công đức đủ ba nghìn năm để mong được tham dự vào thế giới thánh thần tiên phật cao sang, tùy theo mỗi lí tưởng tôn giáo của mỗi cá nhân. Nếu như nhà ngươi quyết bỏ ác theo thiện, bỏ tà theo chính, thì việc trước tiên là thành thật sám hối những việc làm tà đạo của mình. Hiện trong hồ Phiên Dương có một con ngao quái cùng một con quy quái hung ác. Thường cùng đi với nhau, một trước một sau, gây họa cho nhân quần. Làm thành mưa lớn gió dữ, sóng cao nước dâng, lật úp thuyền bè qua lại, trở thành một tai họa lớn cho trăm họ làm ăn trên hồ vậy. Nếu như nhà ngươi có thể trừ được hai yêu quái này, cho bách ítnh, để họ an cư lạc nghiệp, thì công lao của nhà ngươi coi là vô lượng đến nỗi không ai sánh kịp.
  Nếu như nhà ngươi thấy rằng công lực của mình chưa đủ chế áp lũ yêu quái, thì hãy viết thư cho ta, ta sẽ có cách giúp ngươi một tay!"
  Tứ Nương nói với Lan Tiên :
- Tứ Nương nghe nói, hai con yêu quái này ở hồ Phiên Dương, con ngao quái còn lớn hơn cả một quả bầu nặng bảy thạch (3). Con quy quái thì mình rộng hơn một trượng (4). Hoành hành rất ác liệt trong hồ đã lâu. Chỉ cần bọn này rẽ nước lao lên phía trước thì sóng hồ dâng lên, cao như một quả núi. Thuyền lớn không may mà gặp sóng này chỉ có mà như chiếc lá nhỏ trong dòng lũ cuộn mà thôi! Ngay cả thủy thần trên hồ Phiên Dương cũng không có cách nào trị được bọn chúng, nên cuối cùng phải kết bạn làm ăn với lũ này. Nhận ngao quái là anh, nhận quy quái là em. Tứ Nương này cũng muốn xách bảo kiếm tiêu diệt lũ này, Lan Tiên có chịu đi theo Tứ Nương này không? Cả hai con yêu này vô cùng hiếu sắc. Chỉ bởi cho đến bây giờ chúng vẫn chưa kiếm được một con cái cùng loài để sánh đôi, nên chúng vẫn bảo toàn được chân khí tu luyện hàng nghìn năm. Phép thuật càng ngày càng quái ác muôn phần. Nghe nói quy quái còn luyện được một viên ngọc quý màu hồng, khi mà nó phun viên hồng ngọc này từ trong miệng ra thì trong vòng một trăm dặm của hồ sáng như bao ngày, cho nên đao thương nào cũng bị chúng phát hiện, không thể nào tiếp cận. Nếu muốn chinh phục bọn này, phải khỏa thân xuống nước vờ thân thiết với bọn chúng, thi hành một vài bí thuật, khiến yêu thuật của chúng không còn thi triển được nữa. Đợi đến khi chúng đã không còn cảnh giác nữa vì si mê, chúng sẽ thổ hồng ngọc từ trong miệng ra để hoàn chỉnh cuộc chơi, lúc bấy giờ nhanh chóng cướp lấy hồng ngọc nuốt ngay. Đến khi chúng tỉnh rồi, quay lại đuổi theo, thì Tứ Nương sẽ có thể góp sức cứu người. Xả thân vì đồng loại, tu thành vô lượng công đức. Đấy cũng là một điều vô cùng cao thượng của việc hành hiệp giang hồ!
  Lan Tiên nghe Tứ Nương nói một hồi dài mà mồ hôi đổ ướt đẫm cả áo ngoài, đứng ngồi không yên. Một hồi lâu sau mới đáp :
- Lan Tiên này dẫu có chết cũng không việc gì phải tiếc thân này, loài thủy quái chưa một lần trông thấy, lại không biết bơi lội, thì liệu chưa làm được gì đã bị sóng cuốn chìm nghỉm rồi còn đâu!
  Tứ Nương đáp :
- Nếu như Lan Tiên dám đi Phiên Dương làm việc này, thì Tứ Nương ta cũng có cách thực hiện phần  hành của mình. Yêu quái thần thông quảng đại, trong những trường hợp bị người làm cho hiện chân thân, thì chúng cũng như một luật tự nhiên không cưỡng được là sẽ biến thành người, khi chân thân đã xuất hiện. Phong độ của Lan Tiên như vậy, lũ yêu quái không thể nào đang tâm hạ độc thủ được! Mà chính chúng sẽ khiến Lan Tiên vùng vẫy trong nước một cách thoải mái như được chúng truyền cho phép thuật sống ở dưới nước vậy. Sau đó thì mọi việc sẽ thuộc phần hành của Tứ Nương này!
  Lan Tiên nói :
- Lan Tiên này tuy không theo đạo thần tiên gì cả, nhưng khi hành sự cũng có thể có gan, có cơ mưu như ai. Giết được lũ yêu quái, trừ tệ cho muôn dân cũng là một cách tu luyện của đạo giáo vậy thôi!
  Thế rồi hai người sắp xếp mọi chuyện riêng, lên đường đi Phiên Dương. Vài người thân thiết biết được nguyên cớ, mặc áo trắng, bày tiệc nhỏ tiễn hành trong yên lặng.
  Hai người đi đến bến Tầm Dương, Lan Tiên mua một chiếc thuyền thật lớn, màu sắc sặc sỡ, bày tiệc rượu thịnh soạn trên thuyền, đèn nến thắp sáng xa hàng mấy dặm cũng trông rõ. Thuê thêm một vài thiếu niên làm nghề sông nước, lên thuyền ăn mặc đủ màu sắc, cùng ngồi quanh bàn, huyên thuyên múa võ, uống rượu như thật, trống phách rộn ràng, ca hát như phát cuồng. Lan Tiên đứng dậy, hết chén này chén khách bọn thiếu niên chuốc liên tiếp, và trong tiếng nhạc rộn ràng, Lan Tiên cất tiếng hát, theo một điệu từ bi thương. Âm điệu thật bi tráng, khiến người ta muốn vung gươm, muốn nhỏ lệ. Bài ca dứt, xung quanh sắc trời hình như đổi khác, mọi người trên thuyền như phấp phỏng không yên, có một cái gì đó dữ dội sắp xảy ra. Lan Tiên hồn phách như bay bổng. Tứ Nương ngồi trong góc nghe tiếng ca, hai hàng nước mắt yên lặng chảy, nghẹn ngào được nén lại, tiếng nức nở không dám tỏ.
  Thuyền tới hồ Phiên Dương trời đã tối. Mặt hồ nổi gió lớn, bờ hồ nhiều thuyền ghé neo qua đêm, Tứ Nương lấy hai mảnh thư phù màu vàng, trên hiện rõ hình vẽ bí hiểm cùng những hàng chữ triện cổ, dán lên phía trước và sau lưng Lan Tiên, và lật búi tóc của Lan Tiên, giấu xuống bên dưới một đạo thư phù khác, dặn Lan Tiên :
- Đạo thư phù trên đầu này, khi nào thấy không thể còn đường thoát, thì hãy lấy ra, tung lên không, thì Lan Tiên có thể đằng không theo thư phù, mà thoát khỏi phạm vi khống chế từ mặt nước của thủy quái!
  Lan Tiên khỏa thân, đứng trên thuyền nhảy xuống mặt hồ đang như sắp có sóng dữ. Lát sau, gió cũng bắt đầu dữ hơn, sóng lớn hơn. Cuối cùng cả mặt hồ như sôi sục, tối tăm. Đèn đuốc trên thuyền tắt, mặt hồ tối đen, trong cuồng điên của thủy quái. Bọn thiếu niên, nép trong những chỗ sâu nhất của con thuyền chao đảo. Riêng Tứ Nương vẫn đứng uy nghiêm phía mũi thuyền theo dõi mọi sự với đôi mắt như nhìn thấu cả trời đêm, tay phải giơ cao bảo kiếm khống chế sức mạnh vô hình của yêu quái.
  Trời bỗng sáng hơn, Lan Tiên nhô đầu từ dưới mặt nước, Tứ Nương giơ tay kéo cô gái lên thuyền. Từ miệng Lan Tiên viên hồng ngọc được chuyển sang tay Tứ Nương. Lan Tiên nói trong trạng thái căng thẳng, cũng không còn sức, tiếng đứt quãng :
- Lan Tiên này...đã hoàn thành sứ mạng...mà Tứ Nương giao rồi! Nhưng chỉ sợ...không sống được nữa đâu! Lan Tiên này...nếu qua đời..Tứ Nương hãy chôn cạnh... Hoãn Hoa thảo đường...trên mộ khắc mấy chữ...Kì nữ tử Hà Lan Tiên chi mộ...
  Nói xong, Lan Tiên ngừng thở. Tứ Nương trong lòng vô cùng đau đớn, nhưng không phải lúc. Ngao quái cùng quy quái vây hai bên thuyền, vùng vẫy gây sóng dữ hòng lật thuyền. Tứ Nương giơ bảo kiếm chỉ mũi thẳng vào mặt hồ phía phải, rồi phía trái, nhanh như chớp. Nhưng cả hai thủy quái cũng phóng hai luồng kiếm quang, một đen một trắng, quấn chặt luồng kiếm quang màu vàng của Tứ Nương. Một hồi lâu, bất phân thắng phụ.
  Quy quái coi thường Tứ Nương là con gái, nâng thuyền phía mũi, nơi Tứ Nương đứng. Bất ngờ khiến Tứ Nương lộn xuống mặt hồ. Ngao quái nhanh chóng lao tới, há miệng giơ hai hàm răng nhọn, cắn vào chân Tứ Nương. Tứ Nương quẫy mạnh chân, tránh được, quay ngược lại giơ những viên thiết hoàn liên tiếp quăng mạnh vào miệng ngao quái. Ngao quái há rộng miệng nuốt trọn những viên thiết hoàn vào bụng. Trong khi đó thì từ phía sau, quy quái bơi tới ngoặm tiếp chân Tứ Nương. May mà Tứ Nương nhận ra kịp, lại ném tiếp những viên thiết hoàn vào quy quái, một viên thiết hoàn trúng ngay mắt của quy quái. Rồi một đường kiếm quang từ không trung phóng xuống, mạnh dị thường, không khí cùng mặt nước rung chuyển dữ dội, trúng vào miệng ngao quái, xuyên  vào tận bụng, một vùng nước hồ nhuộm đỏ. Quy quái thấy thế nguy, vội vàng định lủi thật sâu xuống đáy hồ, ngay lập tức, một luồng kiếm quang nữa từ trên không vụt như chớp xuống. Đấy là ánh của một thanh đoản kiếm chỉ dài bảy thốn, chủy thủ lạnh như băng, vẹt ngang cắt cổ quy quái văng ra xa hàng mấy trượng.
  Tứ Nương đưa mắt nhìn lên, trên không một vị đạo sĩ mặc áo lông chim đội vân quan. Tứ Nương biết ngay đấy chính là Hứa Ngọc Lâm, liền quỳ tạ ơn chân nhân, cũng là hi vọng được chân nhân thu nhận làm đồ đệ. Chân nhân lên tiếng :
- Ngươi hãy còn ba mươi năm trần duyên chưa xong được! Không thể nào theo ta bây giờ! Kiếm khách Nghê Liên Vu chính là nhân duyên truyền kiếp của ngươi. Hãy hoàn thành cuộc hôn nhân tiền định này. Chuyên tâm tu luyện, đừng để cõi trần lung lạc!
  Nói xong, Hứa Ngọc Lâm theo mây ngũ sắc biến mất vào thinh không.
  Tứ Nương quỳ lạy nhận giáo chỉ. Mọi chuyện thu xếp xong xuôi, Tứ Nương lên đường vào Tứ Xuyên, Liên Vu đã đợi ở Thành Đô. Gặp nhau, Liên Vu đưa cho Tứ Nương thanh bảo kiếm Thanh mâu cổ kiếm làm đồ sính lễ. Tứ Nương cũng tặng lại Liên Vu một cây qua : Chu Tần bảo qua. CẢ hai cùng một chí hướng, vợ chồng vô cùng hòa hợp.
  Năm ấy, vùng biên cương có giặc phản loạn, trưởng quan mời Liên Vu tham gia đội quân tiễu phỉ của triều đình. Tứ Nương xin đi theo. Bọn họ cùng kéo đến căn cứ của phản quân tập kích bất ngờ. Giết được tên thủ lĩnh, phó thủ lĩnh chạy được. Nhưng khi sắp vào được một hang núi đã được chọn trước, thì tự nhiên một luồng hoàng quang vụt tới, đầu viên phó tướng rơi xuống chân ngựa, trong khi sau trước đều không bóng một tướng sĩ triều đình. Bọn còn lại mỗi đứa lủi mỗi đường.
  Liên Vu cùng Tứ Nương chiến thắng trở về. Trên đường, họ dừng lại thành Trùng Khánh. Tứ Nương trong phòng một mình, nửa mơ nửa tỉnh như quá khứ hiện về, Phó công tử đến tìm. Trông công tử vẫn như xưa, hai người ngồi trước bàn, đèn nến sáng trưng cùng nhau uống kì say. Ngoài trời mưa như trút, khiến Phó công tử không thể về, cả hai đành cùng nằm ngủ trên giường Tú Nương. Phó công tử đột nhiên hỏi :
- Lần trước kia, tiểu thư như băng giá, mà bây giờ lại thân mật đến như vậy? Mọi chuyện đều đã an bài từ cả kiếp nào. Dù có vùng vẫy đến thế nào cũng không thể thoát khỏi tiền định!
  Tứ Nương nghe xong, như tỉnh ngộ. Cũng như trong một giấc mộng dài, người ta đột nhiên sực tỉnh về hiện tại. Lí Tứ Nương bèn cùng Nghê Liên Vu vào núi tu luyện. Không biết giờ đây họ đang ở nơi nào!
Nguyên văn : Lí Tứ Nương. Quyển 4.
 
 
 
----------------------------
Chú Thích :
1. 2. 3. 4 : đây đều là đơn vị đo chiều dài xưa của Trung Hoa. Mỗi thời mỗi khác. Nhưng đại để thì có thể có những nét chung của các thời phong kiến sau :
Bộ, có thể là một bước, không chính xác là bao nhiêu. Có lẽ khoảng nửa mét tây hiện nay. Nhưng cũng có khi hiểu bộ là năm thước.
Một thước bằng 33 cm.
Một thước bằng mười thốn.
Một trương bằng 10 thước.
Riêng thạch là đơn vị đo khối lượng, 1 thạch bằng 10 đấu. 1 đấu bằng 10 thăng. 1 ga lông của Anh bằng 4,546 thăng.
Beautiful things happen when you love someone.
Đăng nhập để trả lời
0
Nữ Tướng Cướp Gia Cát Thiến Châu
  Lã Mục người huyện Giang Đô tỉnh Giang Tô, xuất thân trong một gia tộc võ tướng nhiều ơời. Sắp sinh Lã Mục, bà mẹ nằm mộng, thấy có người mặc giáp phục, đội mũ khôi sắt, oai phong lẫm liệt, nhưng vẫn còn tuổi trẻ khí phách đầy mình. Hai tay cầm hai ngọn kích, giơ ra trước mặt bà mẹ hành lễ, rồi nói :
- Ta là Lã Bố đời nhà Hán (1), kiếp này ta đến phiên giáng sinh vào nhà này. Hãy lo mọi chuyện sinh đẻ nuôi nấng cho chu đáo!
  Nói xong, cầm kích nhứ vào bụng, khiến bà mẹ giật mình tỉnh mộng. Cơn đau đẻ đến ngay, và Lã Mục ra đời.
  Lã Mục mặt mày đầy đặn, đầu to, trán rộng, lúc nào cũng hừng hực khí thế nam nhi. Mẹ Lã Mục thường kể khoe với mọi người giấc mơ của mình. Nhưng người cha nghe chuyện thì lại không vui, phàn nàn :
- Thằng bé này không phải là đứa con có thể giữ được nghiệp nhà đâu!
  Lã Mục trưởng thành, cao lớn hơn hẳn bọn bạn bè cùng lứa tuổi, chỉ thích cưỡi ngựa, bắn cung, múa kiếm. Lại giỏi phóng phi đao, ngoài một trăm bộ, vẫn phóng đao ra là trúng đích. Bách phát bách trúng. Thêm vào đó, tính tình Lã Mục nóng như lửa, sẵn sàng nổi giận. Vì vậy, không ai dám đụng đến Lã Mục. Còn kẻ nào mà làm Lã Mục phật ý, thì Lã Mục sẵn sàng mổ bụng người ta ngay.
  Lã Mục một lần dự thi võ khoa tại Nam Kinh, hội tụ những anh hào cả hai vùng nam bắc sông Trường Giang. Võ hội nguyên Lục Mai Phương đảm nhiệm chủ khảo tổng kiểm quan, cùng các cuộc biểu diễn võ thuật trên võ trường, trước và sau cuộc thi. Cũng là người đứng ra thách thức các võ sĩ thi đấu, để từ đó đánh giá thấp cao. Mai Phương kiêu ngạo cho rằng trong thiên hạ hiện nay, không ai có thể địch được mình. Mai Phương lên võ đài múa kiếm, ánh kiếm loang loáng chói mắt, không còn thấy hình người múa đâu nữa. Một hồi sau, thu kiếm lại mới thấy hình Mai Phương oai vệ trên võ đài, lớn tiếng khắp võ trường đều nghe :
- Những ai dám cùng ta so tài cao thấp, xin hãy lên võ đài! Nếu như đánh bại được ta, phần thưởng sẽ là một trăm lạng vàng chúc mừng!
  Lập tức hai đỉnh vàng óng ánh được mang ra, đặt ngay trên bàn trước võ đài. Nhưng vẫn không thấy một võ sĩ nào xuất hiện. Lã Mục nhảy lên, nói dõng dạc :
- Ta tuy võ nghệ tầm thường, xin được cùng võ hội nguyên thi đấu một phen. Liệu có được chăng?
  Mai Phương thấy Lã Mục đường đường phong độ, biết ngay không phải tầm thường, lên tiếng hỏi :
- Tất cả đều có thể thử sức cùng võ hội nguyên, chỉ cần một trong các môn đao kiếm quyền thuật mà có một môn không thắng, xin cịu tiếng thua võ hội nguyên!
  Trước tiên là quyền thuật, hai bên chỉ tương đương. Đến lượt Lã Mục chọn :
- Xin được cùng võ hội nguyên thi sức khỏe!
  Lã Mục dẫn Mai Phương ra cửa võ miếu, chỉ ngay con sư tử đá canh cổng, nói :
- Võ hội nguyên có thể nâng nổi chăng?
  Mai Phương khẳng khái :
- Ta nâng thừa sức!
  Nói rồi nâng con sư tử đá xách một vòng trước võ đài. Mọi người hoan hô, hò hét vang trời, ca ngợi thần lực của Mai Phương. Lã Mục nói :
- Việc này thì có gì mà ca ngợi quá đáng như vậy!
  Lã Mục đưa hai tay, nâng con sư tử đá lên, chạy nhanh ra giữa quảng trường, chuyển từ tay nọ sang tay kia, ném con sư tử đá từ phía này sang phía khác, như một trò chơi của trẻ con. Mọi người trong võ trường chỉ còn trố mắt, há rộng miệng mà nhìn đầy thán phục, một hồi lâu không nghĩ tới chuyện vỗ tay. Cho đến khi có một người nhắc, mọi người mới sực nhớ vỗ tay gào thét như điên. Mai Phương lại trước Lã Mục, vái lạy mà rằng :
- Công tử thật là người trời! Ta xin chịu xếp sau công tử một bậc dài! Xin thay lời xưng hô hunh trưởng cho hai tiếng công tử vậy!
  Nói rồi, Mai Phương đưa hai đỉnh vàng cho Lã Mục một cách trịnh trọng. Lã Mụck hẽ mỉm cười, bái từ không nhận. Sau đó lập tức ra khỏi võ trường.
  Lúc này, có một ông già người gầy gò, râu dài phất phơ, đuổi theo Lã Mục, hỏi rõ tên tuổi. Ông già mời Lã Mục vào lầu cao uống rượu. Sau một hồi chuyện trò ăn uống vui vẻ, trước khi chia tay, ông già nói với Lã Mục :
- Công tử sau này nhất định sẽ có dịp tới Sơn Đông. Vạn nhất có người nào trong giới võ hiệp giang hồ vô lễ với công tử, thì chỉ cần công tử nói rằng chúng ta là bạn của nhau, thì nhất định người ta sẽ đưa công tử tới gặp ta ngay thôi!
  Nói rồi ông già rút trong người ra một tấm thẻ hình tam giác bằng ngà, đưa cho Lã Mục, nói rằng :
- Công tử hãy đưa tấm thẻ ngà này cho kẻ gây sự xem. Ta họ kép là Gia Cát, tên gọi Trọng Nhân. Vốn người phiá Bắc vùng Tề Lỗ. Công tử cứ xưng tên họ này ra, không ai trong bọn giang hồ hảo hán lại không biết đến ta đâu!
  Trọng Nhân cùng Lã Mục ra khỏi nhà hàng. Người đầy tớ của ông già đã dắt ngựa đứng chờ bên ngoài, ông già lên ngựa đi mất. Lã Mục trở về nhà trọ, bỏ tấm thẻ ngà vào trong giương, rồi quên luôn chuyện đó.
  Trong lần thi võ đấy, Lã Mục trúng võ giải nguyên. Mua xuân năm sau, Lã Mục vào kinh đô thi võ hội thí, lại trúng khôi nguyên. Cả kinh thành đều biết tên tuổi tài năng tân khôi nguyên võ khoa. Nhiều người gặp làm quen, tặng quà...khách khứa đầy nhà vô cùng náo nhiệt. Lã Mục chuẩn bị rời kinh thành, về Tế Nam phương nam (2).
  Trên đường đi, đến một khu rừng rậm, hai bên là vách núi cao, cây cối chen dày, một đường độc đạo nguy hiểm. Bọn tay chân đều sợ có giặc cướp mai phục. Nhưng Lã Mục vẫn chuyện trò vui vẻ, không thèm để ý, không những thế còn cao giọng như thách thức bọn cướp mai phục đâu đó.
- Nếu có bọn nào rình nấp cắn trộm nữa, thì cũng là mấy tay lâu la quèn, sao lại phải sợ bọn chúng!
  Nói xong, Lã Mục giục xe ngựa lên hàng đầu, vô cùng đắc ý. Một tiếng xoẹt rất nhanh. Quay lại, Lã Mục thấy một mũi tên, cắm ngay gói hành lí nhỏ của mình đặt sau lưng. Phu ngựa hoảng hồn, mặt mũi tái xanh. Lã Mục nhảy lên lưng ngựa, rảo lên trước, thì thấy ngay một toán người ngựa từ chân núi xông ra, vũ khí lăm lăm trong tay. Lã Mục cũng tiến về phía bọn này. Hai bên giao chiến một hồi, vẫn chưa phân thắng bại, kiếm của cả bọn vây lấy Lã Mục, khiến Lã Mục không thể áp đảo. Lại thêm một toán người ngựa từ trong chân núi kéo ra, có tới hàng mấy chục người, vây kính cả bọn Lã Mục lại. Riêng Lã Mục vẫn kiên cường chống trả, khiến đối thủ cũng có kẻ phải cất tiếng khen :
- Giỏi lắm ! Giỏi lắm!
  Nhưng Lã Mục liếc vội xem bọn tay chân ra sao, thì đã thấy tất cả thúc thủ, không còn dám chống đỡ, lặng lẽ đi theo bọn cướp sau xe của mình, bị chúng dẫn vào lối rẽ, khi chúng xuất hiện. Lã Mục vẫn không chịu buông tha bọn người đang đối địch với mình, trong khi bọn này chỉ muốn bỏ mặc Lã Mục để cùng về theo đồng bọn. Một giọng cất lên :
- Lão nương này đã ba mươi tuổi trên đầu mà hôm nay bị một thằng bé miệng còn hôi sữa cầm chân thế này sao?!
  Lã Mục thì thầm nghĩ : "Nhất định phải theo lấy lại bằng được hành lí xe ngựa!" Nên khi bọn cướp thu kiếm bỏ đi, thì Lã Mục vẫn kiên trì bám theo. Đường càng đi càng khó. Xe ngựa chúng cũng vứt lại bên đường. Lã Mục cũng đến lúc không thể theo được nữa, do dự, tiến thoái lưỡng nan. Thì thấy một toán cướp quay lại, tên đi đầu lên tiếng hỏi Lã Mục :
- Công tử có phải Lã Mục không? Chúng tôi không biết đã làm lỡ việc của công tử. Người bạn quen của công tử lệnh chúng tôi quay lại đón công tử!
  Nói rồi người này nhảy xuống, lại dắt ngựa cho Lã Mục. Cả bọn cùng đi. Một hồi sau đến một khu nhà khá rộng. Sau khi người gác cổng vào báo, thì cùng chủ nhân ra tận cổng đón khách. Lã Mục nhìn kĩ, thì chính là ông già họ Gia Cát đã mời Lã Mục uống rượu trên lần dạo nào. Lão Gia Cát ân cần cầm tay Lã Mục vào bàn tiệc đã dọn sẵn, hỏi chuyện từ ngày xa nhau đến nay :
- Công tử quên những lời lão dặn rồi sao? Nếu ngay từ đầu công tử cho mọi người xem tấm thẻ của lão đưa ngày trước thì làm gì có chuyện lôi thôi vừa xảy ra.
  Thế rồi tự tay lão Gia Cát rót rượu mời Lã Mục, mọi người trong trại cũng đến chào. Lã Mục ở trong trại được ít lâu, định xin phép lão Gia Cát về Tế Nam, lão Gia Cát :
- Lão biết công tử vẫn chưa thành thân. Ta có một đứa con gái. Muốn gả cho công tử, không biết ý công tử ra sao? Mai kia trên chiến trường lập nghiệp, nó sẽ có thể giúp công tử một tay.
  Lã Mục không biết trả lời ra sao, lão Gia Cát tiếp :
- Nếu luân cả về tài về sắc, con gái lão không thua kém ai đâu!
  Nói rồi lão ra hiệu cho đầy tớ, mời tiểu thư ra chào khách. Một hồi sau, gót sen nhẹ nhàng, một mùi hương lan thoảng bay, một cô gái duyên dáng xuất hiện. Lã Mục đưa mắt nhìn, chỉ thấy một khuôn mặt đẹp đẽ, trắng trẻo, mi thanh mắt sáng, chẳng khác tiên nữ nơi Bồng Lai, nên ra vẻ bằng lòng.
  Mọi chuyện được chuẩn bị nhanh chóng...Đêm động phòng, vợ chồng hòa hợp, thật như duyện trời sắp sẵn...
  Trong trại nhiều ngày, cũng không có gì tiêu khiển, ở phía sau phòng hai vợ chồng trẻ, có một mảnh vườn hoa nhỏ, có hồ nước dẫn từ suối vào, ngày ngày Lã Mục ra nơi này tản bộ. Phần lớn là có cả vợ mới cưới đi theo. Họ cùng nhau đánh cờ, làm thơ, điền từ.
  Một lần, chỉ một mình Lã Mục ra vườn, mới theo lối mòn đi sâu vào sau vườn, thấy một hang núi, luốn qua hang núi này, thì phía sau lại là một khoảng đất bằng phẳng, có suối chảy chắn ngang, nhưng bên trên đã có một cây cầu xinh xắn. Lã Mục đi qua cầu, một căn nhà nhỏ hiện ra. Đó là một thư phòng, với đầy đủ các văn phòng tứ bảo trên bàn. Và tranh vẽ, và các bức thư pháp treo đầy bốn vách chung quanh. Lã Mục lại bên bàn viết, thấy một tập sách, bên ngoài đề mấy chữ : Thiến Châu nữ sử thanh ngoạn. Lã Mục biết đây là thư phòng của vợ. Thiến Châu chính là tự của vợ mình. Bên ngoài cửa sổ phía sau là hàng dãy hoa lê, hương thơm man mác đưa tận thư phòng. Một đôi câu đối treo ngay cạnh bàn viết :
Bảo kiếm hữu thời tư xuất hạp,
Ngọc nhân hà xứ giáo suy tiêu.
 
Kiếm báu có thời vung khỏi vỏ,
Người đẹp nơi đâu thổi tiêu ngà.
  Câu đối chính tay Thiến Châu viết, thể hiện ở dòng lạc khoản. Chữ duyên dáng, rõ ràng là đã được học hành những điều căn bản của nghệ thuật thư pháp với những bậc thầy tài nghệ.
  Lã Mục đang định giở tập sách ra xem, thì Thiến Châu từ bên ngoài bước vào, lên tiếng :
- Chàng biết cả nơi này từ bao giờ thế?
  Lã Mục ca ngợi văn tài của Thiến Châu. Thiến Châu cười hỏi :
- Chàng có thích âm nhạc không?
  Nói rồi Thiến Châu lấy từ trên tường xuống một cây cổ cầm, dạo một vài khúc. Âm điệu nghe du dương, lưu loát, rất phù hợp với  cảnh thiên nhiên thanh tĩnh xung quanh. Treo đàn vào chỗ cũ, Thiến Châu lên tiếng :
- Chàng chỉ mới biết đến thơ từ của thiếp. Hôm nay, thiếp sẽ cho chàng hay về mặt kiếm thuật, thiếp cũng có thể đỡ đần chàng ít nhiều khi xông pha mũi tên hòn đạn.
  Nói rồi, Thiến Châu lấy từ trong hộp gấm một thanh kiếm. Ngay khi mở hộp, một luồng kiếm khí phát ra lạnh người. Nàng kể lai lịch thanh bảo kiếm :
- Thanh kiếm này do chính Âu Dã Tử (3) đúc nên, cán kiếm khắc nổi thình thất tinh, chàng xem chính đây! Bảy ngôi sao còn rõ, riêng ngôi thứ hai hơi mờ!
  Thiến Châu lặng lẽ cầm ra sân trước, đi vài đường, ánh kiếm loang loáng, che kín toàn thân. Lã Mục tán thưởng :
- Võ nghệ, kiếm pháp như thế này thì có còn đối thủ nào đáng sợ nữa không?
  Tối hôm ấy, trong phòng riêng, Thiến Châu ngồi lặng một mình, các hầu gái đã được cho nghỉ cả, trong dạng bộ không vui. Lã Mục thấy có vẻ khác thường, lên tiếng hỏi :
- Nàng có chuyện gì buồn hay sao, mà ngồi ủ rũ một mình thế này?
  Thiến Châu đáp :
- Chàng đường đường là một võ khoa tiến sĩ, dẫu muốn làm tổng quản ngự lâm quân của hoàng đế cũng không khó khăn gì. Vinh quang, phú quý tột đỉnh. Nơi này chẳng qua chỉ là sào huyệt của một toán giặc cỏ, thế nào rồi chàng cũng bỏ mà đi thôi. Nhưng em xin sẵn sàng bỏ tất cả nơi này để suốt đời theo chàng. Xin chàng cứ tự liệu định cho sự nghiệp của chàng sau này!
  Lã Mục không khỏi ngờ vực có phải Thiến Châu nói những lời này theo chỉ bảo của ông già Gia Cát, để thăm dò chàng chăng, nên Lã Mục cũng lựa lời mà rằng :
- Nàng nói cũng đúng. Nhưng đại trượng phu, dù trong hoàn cảnh nào cũng nói năng, đi đứng đàng hoàng như nhất. Vả lại, nhạc phụ đối với ta rất tốt, ta nỡ lòng nào đi mà không bàn bạc trước. Hãy đợi báo đáp được ơn lớn của nhạc phụ rồi chúng ta cùng đi vẫn chưa muộn mà!
  Thiến Châu nghe Lã Mục nói thế, mặt hiện rõ nét vui mừng, không nói thêm gì nữa. 
  Lã Mục lại ở trong sơn trại được vài tháng nữa. Một hôm, bọn thám mã về báo, có một viên đại thần hiển hách của triều đình về hưu. Trên đường từ triều đình về quê nhà ở phương nam, hành trình sẽ phải qua đường gần trại, vàng bạc châu báu vơ vét cả đời đem về quê hàng trăm giương hòm, xe ngựa. Bọn đi theo hộ tống là hai viên võ tướng của triều đình, võ nghệ bình thường, lính tráng cùng phu dịch tuyển lựa chu đáo hàng bốn năm chục tên nữa. Lại thuê thêm một nữ tiêu đầu đi theo bảo vệ hành trình. Muốn hành động chắc thắng thì không thể không có sự ra tay của nữ tiểu thư trại chủ được.
  Lão Gia Cát bèn phái Thiến Châu cùng một số đầu lĩnh lâu la đảm đương và bằng lòng để Lã Mục đi theo hộ vệ Thiến Châu. Bọn người kéo đến đoạn đường rừng núi tiếp giáp giữa hai tỉnh Hà Bắc và Sơn Đông, thì đuổi kịp ngựa xe của quan đại thần. Bọn người này cho rằng vùng này cách kinh thành không xa, chắc sẽ không dám ra tay. Nhưng không ngờ toán lâu la của lão Gia Cát, nắm rất rõ địa bàn, nên cả toán bám theo, chờ đến vùng rừng thích hợp, mới bất ngờ xông ra khiến bọn quan quân trở tay không kịp. Nữ tiêu đầu, giơ kiếm đâm ngay Lã Mục. Mũi kiếm cách miệng Lã Mục trong gang tấc. Lã Mục cúi xuống. Một tiếng choang sắc lạnh rợn người. THanh kiếm phóng tới đứt đôi rơi xuống. Cán rơi ngay cạnh chân Lã Mục, nhưng phần mũi thì văng mạnh vào một thân cây, cắm sâu đến gần một gang tay! Lưỡi kiếm phóng ra, chém đứt kiếm của nữ tiêu đầu, chính là bởi thanh bảo kiếm của Thiến Châu.
  Nhanh như chớp, trong khi nữ tiêu đầu không vũ khí, Thiến Châu vung ra chín quả thiết châu liên tiếp. Các quả đầu, nữ tiêu đầu dùng tay đỡ được, nhưng tay bại hẳn, nên đến những quả sau thì giơ trán chịu trận. Nữ tiêu đầu ngã nhào.
  Lã Mục nhảy ngay lên mình ngựa của nữ tiêu đầu, hai tay hai thanh kiếm ngắn, xông thẳng vào đám tay chân đội tiêu đầu đã mất chủ. Trong khi đó, bọn đầu lĩnh chỉ huy lâu la thu dọn mọi thứ quý giá về sơn trại.
  Lão Gia Cát cho mở tiệc lớn, rót luôn ba chén rượu, lại lần lượt từng chén chúc mừng Lã Mục :
- Chén thứ nhất chúc sự thành công của hiền tế. Chén thứ hai là chén tiễn hành hiền tế lên đường. Chén thứ ba mong hiền tế thành một viên quan thanh liêm.
  Lã Mục uống cạn cả ba chén. Mọi người nghe ra đều đến tận nơi chúc mừng Lã Mục. Lã Mục đứng lên nói lời cảm tạ, từ nhạc gia đến mọi người, từ thủ lĩnh đến lâu la...
  Hai ngày sau, vợ chồng Lã Mục rời sơn trại, về đến nhà, thân quyến họ hàng đều đến chúc mừng. Họ vô cùng kinh ngạc, bởi trước đây đã có tin Lã Mục bị cướp bắt giết chết. Nay trở về bình an, lại thêm vợ đẹp xinh giỏi giang. Vợ chồng Thiến Châu đã tính chuyện ứng đối ra sao, nên rồi cũng không có chuyện gì khác. Vợ chồng bỏ tiền mua nhà dựng cơ ngơi riêng.
  Lã Mục sau này làm Giang Nam đề đốc. Nhân một lần tham gia kiểm duyệt thủy quân nên đến vùng hồ Phiên Dương. Một lần ngồi thuyền trên hồ, bỗng thấy trước mặt, một đội thuyền chiêng trống inh ỏi kéo đến, vô cùng hùng dũng, Lã Mục kinh ngạc, ngờ là một toán thủy tặc nào chăng. Đang loay hoay tính cách đối phó, thì đội thuyền kia tiến lại gần rất nhanh, nhận ra người ngồi ngay mũi thuyền chính là nhạc phụ Gia Cát. Cả hai thành thật vui mừng tình cờ gặp lại nhau. Lão Gia Cát nhảy sang thuyền con rể, vui vẻ :
- Nay hiền tế đã là đại thần triều đình, còn nhớ ngày đầu ngồi trên lầu uống rượu chăng?
  Lã Mục cung kính làm lễ, nói :
- Thiến Châu ngày đêm mong được gặp nhạc phụ. Mười năm như bóng câu qua khe cửa, không nhận được tin tức gì của nhạc phụ, lòng càng thương nhớ, lo lắng!
  Lão Gia Cát kể :
- Chia tay, ta còn được một thời gian dài khá yên ổn trong sơn trại. Chỉ mới năm ngoái đây thôi, vào dịp tết trung thu, mọi người cùng tụ tập trong sơn trại say không còn biết trời đất. Bỗng nghe bên ngoài tiếng nưựa hí quân reo. Quan binh bất ngờ kéo đến, thêu trụi toàn sơn trại. Nguyên là một nữ ma đầu, cầm đầu một bang hội, chuyên nghề bảo kê hàng hóa đường dài, là chị ruột của nữ tiêu đầu mà vợ chồng hiền tế giết dạo nào, lâu nay tìm cách báo thù cho em gái, theo dõi thường xuyên phối hợp quân triều đình, tập kích bất ngờ, không kịp chống trả, lại say như bùn một lũ, nên cơ sự không thể tránh khỏi thảm bại. Ta cũng suýt chết. Một đường kiếm của nữ ma đầu giáng xuống như chớp. May mà ngày xưa tổ phụ truyền cho đường kiếm bí truyền, Đại mông tuyệt chiêu, nên mới thoát chết. Sau vụ này, mỗi người một nẻo, ta lưu lạc đến vùng này. Âu cũng bởi có duyên được gặp hiền tế.
  Lã Mục nghe ra, vừa kinh ngạc, vừa thương cảm, hỏi nữ ma đầu cướp sơn trai tinh danh tên tuổi. Lão Gia Cát đáp :
- Người cao ráo, trắng trẻo, có thể coi là quốc sắc thiên hương cũng không ngoa. Chính là miệng nữ ma đầu nói ra, đến để báo thù cái chết của cửa hoàn thiết châu dạo trước.
  Lã Mục hỏi :
- Hiện nay nhạc gia nương náu nơi nào?
  Lão Gia Cát đáp :
- Ta định ra hải ngoại, tìm một hòn đảo không người, lập một vương quốc riêng, tự do tự tại!
  Lão Gia Cát quát gọi bọn người đi theo, về thuyền lấy rượu ngon cùng uống với con rể. Rồi lấy từ trong người năm vòng bảo ngọc sáng ngời, nói :
- Hãy cầm đem về cho Thiến Châu làm kỉ niệm vậy!
  Nói rồi trở về thuyền mình, giương buồm chạy thẳng, phút chốc đã mất hút trong sương chiều ngày càng nặng trên hồ Phiên Dương.
Nguyên văn : Đạo Nữ. Quyển 4.
 
 
 
------------------------
Chú Thích :
1. Lã Bố : ? 198 sau công nguyên, người đời Đông Hán. Có sức khỏe, giỏi bắn cung, dũng mãnh. Thời Đình Nguyên, giết Đình Nguyên, thời Đổng Trác, giết Đổng Trác....Sau bị Tào Tháo giết ở Hạ Bì.
2. Các khoa thi võ, trung ương cũng như địa phương các đời, không thống nhất về cách thức tên gọi. Tác giả cũng không có ý miêu tả toàn bộ, cụ thể một khoa thi võ nào.
3. Âu Dã Tử : người nước Việt thời Xuân Thu, giỏi đúc kiếm. Sách Hàn Phi Tử cùng Hoài Nam Tử đều có nhắc tới người này.
Beautiful things happen when you love someone.
Đăng nhập để trả lời
0
Hoa Sĩ Lí San Thần
  Lí Đỉnh, tự San Thần, tự hiệu San Hô ngư phủ, người Ngô Giang, mười sáu tuổi vào trường huyện, văn chương nổi tiếng một thời. Tính tình hào phóng không thích bị câu thúc bởi những yêu cầu khe khắt của văn chương bát cổ khoa cử. Nên bỏ tất cả để theo đuổi hội họa cùng thi từ.
  Rất giỏi trong vẽ nhân vật, Lí mượn được Cừu Thập Châu đồ trật, theo đó mà mô phỏng như thật mười phần, không thể phân biệt thật giả. Cũng bởi thế tiếng tăm vang khắp xa gần. Đâu đâu cũng có người đến, ngày ngày xin được họ Lí vẽ cho, cửa nhà không lúc nào yên. San Thần buồn bực vì bị phiền nhiễu, tìm đi sống ở Hán Khẩu. Làm năm gian nhà cỏ bên bờ sông vắng, trông ra dòng sông cuồn cuộn trước mặt. Hiên nhà nhô cao, nhìn xa bốn phía, thuyền khách thuyền buôn dương buồm đủ màu, tấp nập ngược xuôi trên mặt sông. Có khi San Thần ngồi ngay bên hiên câu cá, đêm trăng một mình nhìn ánh vàng dãi trắng mặt nước long lanh như bạc. Lấy thế làm vui, tiêu dao ngay tại nhà mình!
  Một chiều hoàng hôn đang xuống, Lí đang trong tâm trạng buồn nản nhất của ngày đêm, bỗng thấy một ông già trên con thuyền nhỏ, lặng lẽ theo dòng ngay bên bờ sông, trước hiên nhà. Trên thuyền còn có một người đàn bà cùng hai thiếu nữ. Người đàn bà cũng mới chỉ khoảng ba mươi đến bốn mươi tuổi, chưa thể gọi là già, vẫn chưa mất những nét phong vận, cử chỉ vẫn nhẹ nhàng thanh thoát, dáng nét của giòng dõi đại gia. Hai thiếu nữ, tuổi khoảng mười bốn mười lăm. Hàm răng trắng trong, mắt sáng, mày dài, thanh thoát lạ thường. Thần tiên nữ trong con mắt người đời có lẽ cũng đến thế là cùng.
  Phía trái gần năm gian nhà tranh của họ Lí có cung Thiên Hậu, là nơi của các hòa thượng hành giả thường nghỉ lại. Người đàn bà nói với ông lái thuyền :
- Trời sắp tối rồi, đường thì còn xa, không có nơi nào nghỉ lại tạm đêm nay. Không hiểu chùa phía dưới có thể nhờ qua đêm không?
  Lão lái đò đáp :
- Đều là các nhà sư trong bang hội, sợ không tiện.
  San Thần nghe họ đối đáp, lại thấy người phụ nữ có vẻ trong tình trạng tiến thoái lưỡng nan, liền nói xuống :
- Nếu như quý khách không chê, nơi này có thể để quý khách nghỉ tạm đêm nay chăng?
  Lão lái đò đỡ lời :
- Nếu được công tử thiện tâm như vậy, thì còn gì tốt hơn!
  Lão lái đò quay ra trao đổi nhỏ với người đàn bà. Nhìn thái độ, người đàn bà bằng lòng. San Thần mời mọi người lên nhà, và đi trước dẫn đường. Khắp năm gian nhà, trên lầu, dưới sàn, hoàn toàn không có người naò khác. Chỉ thấy sách và tranh, trong tất cả các phòng. Cửa sổ sáng thoáng gió bốn phương. Giường tủ, bàn ghế không một chút bụi trần. Người đàn bà nhìn mọi thứ, không dấu nổi vẻ ngạc nhiên thích thú, nói với hai thiếu nữ :
- Thật không thể hình dung có một nơi cao nhã như thế này!
  Người đàn bà hỏi họ tên San Thần, biết chủ nhà là họa sĩ, người đàn bà giở mấy vựng tập theo đề tài, không muốn rời tay, hỏi San Thần :
- Đây là nét bút công tử sao?
  San Thần đáp :
- Ngẫu nhiên dùng vài đường bút mực vẽ vội, cũng là một cách tiêu khiển lúc nhàn rỗi! Còn như nói đến những chuyện chuyên môn trong nghề như sáu cách vẽ (1) thường bàn thôi thì tiểu sinh vẫn chỉ là một kẻ còn non nớt đáng xấu hổ, về những nét vẽ màu sắc của mình!
  Người phụ nữ tiếp lời :
- Trông những tranh nhân vật của công tử cũng không thua kém gì tranh của Cừu Thực Phủ (2), không cần công tử phải khiêm tốn quá. Hiện nay, những họa sĩ nổi tiếng cũng khó theo kịp công tử. Như ba người chúng tôi đây, liệu có đáng vào đứng trong một bức tranh của công tử chăng?
  San Thần đáp :
- Chỉ sợ nét vẽ thô lậu, mạo phạm đến dung nhan của những ba vị Tây Thi một lúc thế này. Nếu quý phu nhân không chê, tiểu sinh xin mang tài hèn để vẽ ngay dáng hình các tiên nữ giáng trần vậy!
  San Thần tập trung nhãn lực, quan sát tinh tế một hồi, cầm bút đưa những đường mạnh bạo trên giấy, không cần nghĩ ngợi đắn đo gì. Như có thần trợ giúp, chẳng mấy chốc đã xong. Phong thái yêu kiều của các vị khách như bày ra trên giấy, không thể trốn chạy. Không khác gì Cố Khải Chi (3) vẽ hình cho Bùi Khải vậy. Trên khuôn mặt còn điểm thêm ba đồng tiền duyên dáng như sống thật. Người đàn bà và hai cô gái vô cùng thích thú ca ngợi tài hoa của San Thần không ngớt. Người đàn bà kết luận :
- Thật công tử có bàn tay của tạo hóa truyền thần với con mắt thần vậy!
  San Thần ngủ ở gian dưới sàn, nhường ba người khách toàn bộ những gian trên gác, cùng với chăn gối sạch sẽ. Bảo người lão đầy tớ bày tiệc rượu. Ngồi chuyện trò thêm một hồi, tiệc rượu cũng đã dọn ra. Người đàn bà uống mấy chén rượu. Hai cô gái chỉ đụng đũa qua mọi thứ rồi ăn hoa quả.
  Sáng sớm hôm sau, mặt trời mọc bằng ba cây sào, trên lần vẫn không chút động tĩnh. San Thần nghi hoặc, mở cửa lên xem sao, thì không thấy cả ba người khách đâu nữa. Bên gối thấy để lại bảy hạt minh châu, hai vòng vàng. Những hạt minh châu rất lớn, như mắt rồng, mỗi viên giá hàng nghìn vàng. San Thần đem những thứ này dấu kín trong hòm, không bao giờ giở ra cho người khác xem cả. Bức tranh vẫn lưu lại trên bàn, mở ra xem, thấy có được đề thêm tên : Hán Khẩu thu phiếm đồ, cùng hai bài thơ thất ngôn tuyệt cú :
Kì nhất :
Nhất khả yên ba phiếm thủy hương,
Lâm lưu lầu các cận tà dương.
Kinh hồng cố ảnh hà nhân kiến,
Ngũ bách niên tiền tự chủ trương.
Bài một :
Thuyền nhỏ đêm sương dạo dọc sông,
Tà dương chợt xuống ghé lầu hồng.
Chim bay thẳng cánh nào ai biết,
Chuyện cũ trăm năm đã chủ trương.
Kì nhị :
Phong hoàn vụ mấn thủy vân trường,
Tả nhập đồ trung diếc  diểu mang.
Nghi thị Trương Khiên đa tạc khống,
Thiên hà phi hạ Đỗ Lan Hương.
Bài hai :
Mái tóc dâng hương chốn gió mây,
Bỗng về khoa sắc tỏa hương ngây.
Trương Khiên lạc lái, bè không bến (4).
Chảy ngược giòng Ngân, họ Đỗ say.
  San Thần thấy nét chữ thanh tú, đẹp đẽ, chẳng khác gì từ tay bậc nữ tài hoa, có lẽ đúng là nét chữ của tiên nhân, không phải người thường, nên giữ gìn như một vật quý vô giá. Dùng gấm quý cổ làm nên, tìm các danh gia đề vịnh.
  Năm San Thần hai mưoi tuổi, nhiều gia đình quyền quý, sang trọng muốn gả con gái cho, nhưng San Thần đều không ưng một đám nào. Cha mẹ đều nóng lòng, nhiều lần hỏi ý San Thần định liệu thế nào trong chuyện này. San Thần đêm bức tranh vẽ ba người khách quý này cho cha mẹ xem, rồi nói :
- Nếu không được như những người trong tranh này, con sẽ không lấy làm vợ đâu!
  Cha mẹ San Thần xem tranh, cười, cùng nói :
- Trên đời không thể kiếm đâu ra người đẹp như vậy! Có trên trời thì may ra!
  Rồi bàn định cùng nhau làm thế nào để San Thần phải bằng lòng chọn một người trần gian làm vợ.
  San Thần từ chối hôn nhân bằng cách, lần thì bỏ đi du lịch, lúc thì tầm sư học đạo, khi thì nói đi thi. Và từ nơi xa xôi, viết về vài hàng, đại loại : "Đến kinh thành thử sức, đọc sách. Bao giờ nổi danh trên đời, mới trở về tính chuyện thành hôn, chưa phải là muộn." San Thần lên đường đi Sơn Đông, vào nghỉ trong quán trọ, rồi ra ngoài lang thang. Bỗng thấy một xe ngựa sang trọng, chạy như bay đến bên, trên xe hai thiếu nữ đẹp như tiên, khiến San Thần nhớ ngay lại hình dáng hai thiếu nữ San Thần từng một lần làm chủ nhà bên sông Hán Khẩu dạo nào. San Thần đứng bên đường kính cẩn thi lễ. Một trong hai cô gái vén rèm xe nói với San Thần :
- Công tử có phải là họa sĩ Lí San Thần không? Hiện giờ đang ở nơi nào? Xin cho ngựa xe đến mời công tử, mong báo đáp một phần lòng hiếu khách của công tử dạo nào!
  San Thần đáp :
- Tiểu sinh hiện ở Bồng Lai quán, cách đây không xa!
  Cô gái cười rất tươi, buông rèm, xe lăn bánh trước. Nháy mắt không thấy bóng dáng đâu nữa. San Thần vội vàng trở về quán trọ.
  Chiều đến, một người đầy tớ già, râu dài, đánh xe ngựa đậu trước quán, với những con ngựa to đẹp khác thường. San tThần thay trang phục, lên xe. Lập tức người đầy tớ già cho xe chạy như bay. Hai hàng cây bên đường thấp thoáng ngoài xe như ánh nắng chiều ruổi nhau. Một hồi sau, xe dừng lại, người đầy tớ lên tiếng :
- Đến rồi!
 San Thần nhìn ra, một thung lũng xanh tươi, bốn phía cũng là trập trùng núi biếc bởi bùng bách xanh tốt, thác nước từ trên cao đổ xuống, chảy thành dòng róc rách trong như màu xnh bầu trời in suốt đáy. Đến nơi này, không cần làm gì khác cũng khiến tâm hồn người ta sảng khoái. Sườn núi hiện rõ lâu đài cao thấp nhấp nhô lẫn trong mây ngũ sắc. Một nhóm người lễ phép đưa San Thần vào trong điện, dẫn lại ngồi bên bàn. A hoàn cùng một vài bà già vào nhà trong báo tin cho chủ nhân. Một hồi sau, bọn a hoàn quay ra, mời San Thần vào điện bên trong gặp chủ nhân.
  Qua mấy tầng cửa, cùng những dãy hành lang xinh xắn, vào đến nội đường. Phải trái nội đường đều có cửa lẫn hành lang dẫn sang những khu biệt thự riêng nữa. Chỗ nào cũng gấm ngũ sắc, lẫn trong mây như kiểu ta thấy trong giấc mơ về tiên cảnh của tuổi trẻ. Ngoài điện đài, đường đi bằng những hành lang, đâu đâu cũng là những luống hoa đủ màu sắc tỏa hương êm dịu, khiến như sống trong một không khí chỉ trong cảnh phi phàm mới có thể có được. 
  Một lát thôi, người đàn bà dạo nào, không lúc nào quên trong tâm khảm San Thần, cùng hai cô gái xuất hiện, ngước chào họ Lí. Người đàn bà cất lời :
- Trước đây đã được công tử chiêu đãi, chúng tôi vẫn không quên. Duyên phận chưa hết, nên vừa rồi có cuộc gặp gỡ bất ngờ. Khảo kì con xa, công tử hãy để chúng tôi được tiếp đón công tử tại nơi này! Trong vòng năm sáu tháng ở đây, chờ đến ngày tiến kinh, xin để hai tiểu nữ được nhận công tử làm sư phụ, học hội họa, thư pháp cùng thi ca với công tử. Hi vọng công tử không từ chối!
  San Thần cảm tạ :
- Gọi là chỉ vẽ ít nhiều cũng không dám chối từ, còn như phải mang danh sư phụ thì quả tiểu sinh không dám!
  Nữ chủ nhân cười :
- Chỉ mong sao cả hai tiểu nữ học được thi thư cùng họa, trở thành một học trò tiếp thu được ít nhiều tài tam tuyệt của công tử là mãn nguyện chúng tôi rồi! Công tử chưa ăn cơm đến đây, giờ cũng là lúc nên làm tròn bổn phận của chủ nhà rồi!
  Nữ chủ nhân lệnh hầu gái bày tiệc, sơn hào hải vị, bày một bàn lớn. San Thần cùng nữ chủ nhân ngồi đối diện, hai cô gái ngồi hai bên. Rượu thay nhau rót mời, không còn nhớ là mỗi người đã uống bao nhiêu. Mãi đến khi San Thần thấy đã ngà say, thì tiệc cũng dừng. Chàng vào phòng riêng, chìm vào giấc ngủ lúc nào, như thế nào cũng không biết nữa!
  Sáng hôm sau, hai cô gái bắt đầu học những bài học đầu tiên. San Thần từ từ hỏi rõ gia thế hai học trò, thì biết họ của đệ tử là Sơn, một đại gia thế tộc thời cuối Minh. Vì tránh loạn lạc trên mới bỏ phương bắc thiên cư về vùng này. Cô lớn tên Đại, tiểu tự là Mi Tiên, cô em tên Thúy, tiểu tự là Bích Tiên. Tuổi là mười lăm. Họ như hai chị em sinh đôi. Cả hai đều thông minh khác thường. Chỉ cần nói một lần, thì họ có thể lĩnh hội chỗ vi diệu, sâu kín nhất của vấn đề. Trong dinh có rất nhiều tranh và chữ viết của các danh gia các đời. Mi Tiên nói :
- Gần đây thư họa của Huy Nam Điền, được coi là báu vật của thủy cung. Người đời đi trên sông biển mà mang theo, tất thế nào cung bị các lòai giao long tìm cách cướp bằng được. Không thể không biết chuyện này!
  San Thần ở được mười ngày, những người săn sóc đều thấy chỉ có phụ nữ, ngoài ra không có một người nào khác. San Thần cũng hiểu ra rằng cả hai cô gái đều chưa có chuyện đính hôn gia đình gì cả. Cho nên, nhiều lần trước mặt nữ chủ nhân, San Thần cũng đã làm chuyện Mao Toại tự tiến. Và hình như ý của nữ chủ nhân cũng có vẻ bằng lòng, nên cuối cùng cũng đã nói :
- Cả hai tiểu nữ đều chưa tính chuyện hôn nhân. Được người như công tử đây làm rể, thì cũng đã mãn nguyện. Nhưng cần phải có một quý nhân đến để làm chủ hôn. Xin đợi ít luâ, sẽ mời chú của chúng tiểu nữ tới, thì chuyện có thể thu xếp được!
  Ba ngày sau, có một người khách xa tới, ăn mặc theo lối binh sĩ, đeo kiếm nạm ngọc, đội mũ trụ, trông oai nghiêm vô cùng, nói với San Thần :
- Đấy chính là chú của Mi Tiên này!
  San Thần lấy lễ con cháu ra chào, rất cung kính. Vô tình nói tới chuyện các họ lớn trong quan trường, cũng biết được người chú của hai cô gái cũng họ Sơn, tên Tuyên, tự là Hằng Trọng, từng giữ chức tổng binh, còn hiện tại thì làm đề đốc ở Kiềm Trung, nhiều lần lập công nơi biên thùy nên rất có uy tín trong quân đội. Nữ chủ nhân cùng Sơn Tuyên gặp mặt San Thần, cả hai đều rất là bằng lòng. Sơn Tuyên khen :
- Văn nhã, ôn hòa, thật là một kẻ sĩ có tên tuổi trong thiên hạ vậy!
  Như vậy là hôn ước đã định, chọn ngày làm lễ thành hôn cũng đã xong. Lễ động phòng cũng sẽ được tiến hành ngay ở nhà gái. Bắt chước theo kiểu Nga Hoàng, Nữ Anh ngày trước, cùng thờ một chồng là vua Thuấn vậy! Chuyện cũng như đã được tiên liệu. Cả ba sống rất hòa thuận, thân ái vô cùng.
  Nửa năm sau, tính đốt ngón tay, khảo thí mùa xuân cũng đã đến. San Thần tính cũng nên từ biệt, về kinh thành ứng thí, nên bàn với Mi Tiên và Bích Tiên. Bích Tiên nói :
- Chàng đúng là thói tục tận trong xương, thật khó chữa khỏi. Xem những sách không có ở cõi trần, thưởng thức những loài hoa không thể thấy ở hạ giới. Lạc thú như vậy có phải là so với người ngồi quay mặt hướng nam xưng vương xưng đế cũng không thể hơn sao?
  San Thần nghĩ ngợi một hồi, không nói tới chuyện công danh nữa.
  Ngay trước lầu của Mi Tiên và Bích Tiên là một vườn hoa rộng khoảng mấy chục mẫu, cùng với hồ nước, cũng đủ cả lâu đài, đình tạ, như bên khu dinh thự lớn, dẫu có lang thang trong vườn mười ngày trời cũng không đi hết. Trong vườn có các lọai chim thú đẹp lạ lùng, cùng các kì hoa dị thảo, mà tên gọi cũng không biết được hết. San Thần mỗi lần cùng đi dạo với Mi Tiên và Bích Tiên, đến mỏi không chán. Có hôm nghỉ lại ngay trong vườn, không về phòng nữa.
  Bốn bên dinh thư, phong cảnh thiên nhiên cũng đều đẹp như tranh, nhưng thác nước cao, trắng xóa ngày đêm như từ trời cao rớt xuống, núi bốn phía, lúc nào cũng đầy mây ngũ sắc huyền ảo, khiến cây cỏ khi tỏ khi mờ, khi thực khi hư. San Thần đến đâu cũng làm thơ, vẽ tranh vịnh cảnh. Lại có khi hứng chí, gọi thợ đục thơ vào vách đá. Mi Tiên cười nói với Bích Tiên :
- Khắc vào đá thế kia, nhất định thần núi không bằng lòng đâu!
 San Thần đáp :
- Để lần sau đến dễ nhận ra chốn cũ!
  Bính Tiên lên tiếng :
- Phàm những nơi đến được, không cần tìm cũng vẫn đến được. Còn như nơi đã bỏ đi, thì dẫu có tìm cũng chẳng thấy. Chàng nhớ kĩ những lời này, mai này xem có đúng không?
  San Thần ở nơi này tính ra đã được mười năm. Nhiều lúc nhớ nhà, buồn nản không vui, khóc mà nói với cả Mi Tiên và Bích Tiên :
- Cha mẹ tính đến giờ tuổi cũng đã già. Ta thì tuổi cũng đã cao, mà không được một ngày phụng dưỡng. Huống chi chỉ có một mình ta là con, không người dưới gối. Một mình hưởng phúc nghĩ cũng thật không yên lòng!
  Mi Tiên nói :
- Đấy chính là lòng của người con hiếu thảo. Cũng không nên giữ chàng thêm nơi này mới phải!
  Rồi lệnh cho nhà bếp bày tiệc tiễn hành. Nữ chủ nhân biết chuyện cũng đến uống rượu tiễn San Thần. Mi Tiên cùng Bích Tiên rót rượu mời San Thần, cùng nói :
- Chàng Lí, chàng Lí, lần này xa nhau, biết bao giờ gặp lại!
  San Thần đáp :
- Tạm thời chia tay, ngày đoàn tụ không lâu, hà tất phải bi thương đến thế!
  Hai người đưa tiễn San Thần đến đầu núi. San Thần lên xe. Chia tay, xe vụt như bay, bên tai chỉ nghe tiếng gió, nhìn chung quanh mây che không thấy gì cả. Đến khi xe dừng, San Thần nhìn quanh, nhận ra mình đang đứng ngoài thành Ngô Giang rồi. Quay lại, thì xe ngựa cũng đã không thấy nữa.
  Về đến nhà, cha ẹm vẫn còn khỏe mạnh. Mấy tháng sau, San Thần lại lên đường tìm về Đăng Châu, lần đến chốn xưa, chỉ thấy núi non trùng điệp, vết xưa một chút cũng không nhận ra. Lí San Thần, nước mắt ngắn dài, quay về quê cũ!
Nguyên văn : Lí San Thần. Quyển 5.
 
 
 
-------------------------
Chú Thích :
1. Sách cách vẽ : Theo Tạ Hách, người Nam Tề, trong nghệ thuật vẽ có sáu cách : khí vận sinh động, dùng bút linh hoạt, theo vật tạo hình, tùy loại chọn màu, vị trí sinh động, thay đổi cách miêu tả. Cổ họa phẩm lục.
2. Cừu Thực Phủ : Tức Cừu Anh, họa sĩ đời Minh. Hiệu Thập Châu, xuất thân từ một thợ vẽ. Rất giỏi vẽ nhân vật và sơn thủy, một trong Ngô Môn tớ gia đời Minh, mà ba người nữa là Thẩm Chiu, Văn Huy Minh và Đường Dần.
3. Cố Khải : 346- 407, người đời Tấn, quê Vô Tích, giỏi vẽ, bác học, đa tài. Người đời thường nói, Cố đủ tam tuyệt : tài tuyệt họa tuyệt, si tuyệt.
4. Trương Khiên : người đời Tây Hán, khoảng thế kỉ I và II sau công nguyên, quê Thành Cố, Hán Trung.
Beautiful things happen when you love someone.
Đăng nhập để trả lời
0
Trich Tiên Tưởng Lệ Quyên
  Tưởng Bảo Ôn là danh sĩ vùng Kinh Giang, bình thường vẫn là thượng khách của giới quan trường. Tuổi già đến, họ Tưởng không còn được sự hăm hở giao lưu với giới quan trường, quay về quê cũ, làm ba gian nhà nhỏ, đóng cửa viết sách, không đi lại gì với xã hội nhốn nháo nữa.
  Người trong làng đều coi họ Tưởng như một người hiểu biết nên rất kính trọng. Họ Tưởng có một người con gái, tên gọi Thục Trinh, tự là Lệ Quyên, thông minh lanh lợi ngay từ thưở ấu thơ. Trưởng thành lại càng thêm xinh đẹp, thông thạo văn từ, làm thơ, điền từ đều rất tài hoa. Ngay bọn học trò trường quan huấn đạo cũng nhiều khi thấy xấu hổ so sánh với Lệ Quyên. Gần đây, nhiều đám cũng muốn cầu hôn Lệ Quyên, nhưng cha con họ Tưởng đều chưa ưng một đám nào.
  Một năm nữa qua đi, họ Tưởng qua đời, mẹ con đàn bà góa, càng dấu mình trong khuê phòng, không còn có dịp đi lại với bên ngoài. Mãi đến tiết thanh minh, mẹ con mới cùng nhau đi tảo mộ họ Tưởng cùng tổ tiên.
  Mẹ con lên được mặt đường đê lớn, thấy một công tử đang đứng bên một con thuyền đậu ngay bờ sông, hình như đang chờ ai đó. Công tử dáng điệu phong lưu, xuất chúng. Nhưng Lệ Quyên cũng không kém gì, trong trang phục màu trắng, chẳng khác gì tiên nữ dáng phàm. Công tử nọ, nhận ra Lệ Quyên thì vô cùng kinh ngạc, bốn mắt nhìn nhau, tình như đã hẹn. Lệ Quyên cúi mặt, lặng lẽ theo sau mẫu thân, với hai má hồng hơn một chút trong ánh nắng hồng buổi sớm, càng tăng thêm vẻ yêu kiều. Khu mộ của nhà công tử nọ cách mộ của cha Lệ Quyên không xa. Lễ tế được làm như cùng một lúc. Lệ Quyên cùng mẹ trở về. Công tử nọ cũng lên thuyền. Hai người còn có thể thoáng nhìn nhau qua cửa nhỏ của thuyền. Nhưng rồi mỗi thuyền mỗi ngã.
  Công tử nọ vốn quê ở Tì Lăng, chuyển đến Kinh Giang chưa lâu. Công tử họ Lã, tự Bá Huy, chữ nghĩa giỏi giang, xuất thân thế gia vọng tộc. Từ ngày trông thấy Lệ Quyên, hồn phách như bay đâu mất. Sau khi sai một người đầy tớ xuống thuyền dò hỏi, Bá Huy cũng đã biết ít nhiều về Lệ Quyên.
  Trở về nhà, Bá Huy ngồi một mình trong thư phòng, lòng như ngây ngất không yên, nhưng vẫn như mọi ngày khêu cao đèn đọc sách. Canh ba đã điểm, Bá Huy mệt mỏi, phục xuống bàn, ngủ lúc nào không biết. Nghe như trong mơ tiếng mưa ngoài thềm từng giọt đều đều thánh thót. Một hồi lâu, tiếng mưa bên ngoài ngày càng nặng. Trong giấc mơ, Bá Huy vẫn thấy lòng khắc khoải không yên. Hình như tiếng mưa chuyển thành tiếng đàn êm ấm hơn. Bá Huy nghe tiếng thiếu nữ nhỏ nhẹ :
- Thiếp là người chàng gặp buổi ngày đây!
  Bá Huy vô cùng kinh ngạc, nhưng kịp trấn tĩnh, cửa cũng chưa hề mở mà đã thấy người đứng ngay bên mình, vẫn trang phục màu trắng ảo huyền như buổi sáng hôm qua, nhưng đến khi nhìn mặt thì Bá Huy nhận ra ngay rằng không phải người hôm qua rồi. Và lấy hết can đảm, Bá Huy lên tiếng :
- Nàng cuối cùng là ai vậy? Xin hãy nói cho minh bạch!
  Cô gái đáp :
- Thiếp là Tuyệt Ao tiên tử. Tưởng gia cô nương và thiếp trước đây đều là tiên nữ hầu hạ Tây Vương Mẫu trong việc đèn hương. Trong một lần Vương Mẫu mở yến bàn đào, chàng cùng với Đổng Song Thành rót rượu bồ đào tiếp khách là Nam Cực Lão Nhân, chàng uống những giọt rượu còn lại trong chén ngọc. Tưởng Lệ Quyên không nhịn được cười. Chính vì thế nên bị đuổi khỏi Dao Trì. Chàng cũng bị đày xuống trần gian. Chuyện chỉ mới cách đây hai mươi năm, chàng đã quên rồi sao? Tưởng Lệ Quyên cùng chàng có tiền duyên, thiếp tới đây chính là muốn làm mối cho hai người gặp gỡ. Lệ Quyên từ lúc gặp chàng tới giờ, nghĩ lại chuyện xưa, trong lòng vô cùng u uất, có gửi cho chàng một lá thư, nói rõ cùng chàng về nhân duyên tiền kiếp!
  Cô gái rút từ trong ống tay áo ra một lá thư, đưa cho Bá Huy, nói tiếp :
- Chàng xem có phải thủ bút của Lệ Quyên không?
  Bá Huy cầm thư. Lá thư được viết trên một mảnh lá ba tiêu bằng phấn màu, đọc đến đâu thiêu cháy ngay đến đấy. Thư viết :
  "Từ ngày bị giáng xuống cõi người, đến nay cũng đã mười lăm năm rồi, nhưng vẫn không quên được nhân duyên kiếp trước. Ước nguyện không bao giờ thành. Đi đâu cũng cố tìm tung tích của chàng. Không ngờ lại được gặp nhau vào lúc không ngờ nhất. Thiếp xin nhẫn nại chờ tin chàng. Nếu như chàng không đến, thì thật phụ lòng mong mỏi hai kiếp của thiếp vậy!
  Xin chàng tìm người môi giới ngay cho. Nếu mùa xuân sang năm, mọi chuyện không xong, hoa đào hoa mai cuối cùng rụng xuống, cũng là lúc thân thiếp không còn trên trần thế để đợi chàng được nữa.
  Sống làm tình nhân, chết làm tình quỷ. Dẫu có đến cùng trời góc bể, lòng này vẫn không đổi thay. Cõi u minh xa mời, đường trần diệu vợi.
  Từ nay xin từ biệt. Vĩnh viễn không còn trông lại được bóng chàng. Hận này dằng dặc muôn đời! Muôn vàn xin chàng lưu ý!"
  Bá Huy đọc xong thư, không ngăn nổi nước mắt, bỗng nhiên tỉnh giấc, nhìn góc quyển sách, nước mắt của mình vẫn còn đó. Bóng người trong mộng như còn đang đi ngoài cửa sổ thấp thoáng. Nhưng trong lòng Bá Huy vẫn mơ mơ màng màng, không rõ đâu mộng đâu thực nữa! Hay Tưởng cô nương đã có chuyện gì rồi nên mới có việc hồn lia khỏi xác chăng?
  Sáng ngày hôm sau, Bá Huy tìm đến một mụ mối vốn giỏi giang nổi tiếng lanh lợi trong vòng, nhờ sang nhà họ Tưởng thăm dò tình trạng hiện nay của Tưởng Lệ Quyên ra sao.
  Thực tình, Lệ Quyên không hề ốm đau gì cả, sau khi chào hỏi hai mẹ con chủ nhà, mụ mối hỏi Lệ Quyên :
- Hôm qua cháu đi tảo mộ có mệt lắm không?
  Lệ Quyên trả lời xong, mụ mối nói tiếp :
- Gần mộ thân phụ là khu mộ nhà họ Lã sao. Họ Lã đến ở vùng này đã hai đời rồi, giàu có đến hàng vạn lạng trong nhà. Công tử họ Lã là một thiếu niên anh tuấn, đi thi thế nào cũng đậu cao. Công tử họ Lã phải cái kén chọn quá khắt khe nên đến giờ vẫn chưa thành gia thất đấy!
  Mẫu thân của Lệ Quyên nghe nói như vậy, có phần nghĩ ngợi :
- Hôm qua trông phong thái của công tử họ Lã vô cùng khả ái, thật ra đáng con nhà, chỉ có điều không hiểu tài năng ra sao mà thôi! Nay nghe bà nói thì tài năng cũng khác thường, thật cũng xứng với Lệ Quyên cả tài cả sắc, chỉ ngại không biết họ nghĩ thế nào. Nhờ bà xem xét hộ cho. Nếu thấy mọi việc có thể trôi chảy, thì xin bà làm mối cho hai cháu thì tốt quá!
  Mụ mối tất nhiên bằng lòng, hứa sẽ lo liệu mọi chuyện tốt đẹp, rồi đứng dậy ra về, nói rõ đầu đuôi với Bá Huy. Bá Huy vui mừng vô cùng, lập tức cùng gia đình lo liệu mọi chuyện, từ lễ ăn hỏi đính hôn, rước dâu đều thuận lợi. Đêm tân hôn trai tài gái sắc mọi chuyện tốt lành ngoài cả ước muốn của hai bên nội ngoại cùng cô dâu chú rể.
  Thủ thỉ bên gối, Bá Huy kể cho Lệ Quyên nghe giấc mộng lạ lùng của mình. Lệ Quyên cũng không biết nói sao :
- Nhất thiết những chuyện trong mộng là đều từ lòng người mà ra cả. Nhưng người trong mộng này đã đem đến cuộc hôn nhân hạnh phúc cho chúng ta. Lẽ cũng không nên quên công đức ấy!
 Vợ chồng liền cho lập bài vị của Tuyệt Ao tiên tử để thờ phụng, thường thường tế lễ rất chu đáo.  
  Bá Huy dự kì thi hương năm ấy, muốn Lệ Quyên cùng đi Kim Lăng, thăm các di tích nổi tiếng. Vợ chồng cùng đến thăm hồ Mạc Sầu, thuê phòng trọ, nghỉ lại ngay bên bờ hồ. Khu nhà nghỉ mọi thứ đều thanh lịch, hoa lá muôn màu, có suối chảy róc rách, có chim hót líu lo. Bá Huy cùng Lệ Quyên thơ thẩn trong vườn, ngồi bên cầu nhìn dòng suối cuốn cánh hoa rơi. Lúc thì leo lên mấy bực thành cửa thấp cao, nhìn khắp chung quanh. Thật đúng là những ngày tươi đẹp của vợ chồng mới cưới.
  Một hôm, hai vợ chồng ngồi uống trà trong am Diệu Tướng. Nhìn chung quanh, người nhộn nhịp, nhưng số người đẹp hình như không nhiều. Cho nên khi trông thấy một cô gái, trong tay cầm một cái quạt lông chim màu trắng nhỏ, men theo lan can của hồ nước, nét mặt thật thần tiên, bước đi thật tự nhiên, duyên dáng, và cũng như đã được trông thấy một lần nào đó trong đời. Trí nhớ chợt hiện về, đúng rồi, Tuyệt Ao tiên tử trong giấc mộng lạ lùng. Trong khi cúi đầu lấy bức thư ở ống tay áo, Bá Huy còn nhớ rõ trong vòng tay trắng ngần của tiên tử có đeo một vòng ngọc màu hồng, mà Bá Huy chưa được thấy bao giờ cả về màu sắc lẫn đường nét, thì bây giờ vòng ngọc đó đang hiện hữu ngay trên cổ tay của cô gái này. Bá Huy ghé tai Lệ Quyên nói nhỏ :
- Cô gái này chính là người mà anh đã gặp trong mộng dạo trước! Em hãy lại làm quen, chuyện trò với cô ta xem sao?
  Cô gái lại càng gần hai người, rồi rảo bước hẳn vào trong am. Lệ Quyên đứng dậy, bước ra trước mặt cô gái chào làm quen, mời cô ta ngồi, đưa đĩa dưa lại, nói :
- Trời nóng nực, ăn món này thích hợp hơn cả!
  Hỏi họ tên, cô gái nói là con gái một nhà khá tên tuổi ngay Kim Lăng, họ Phương, tự Huệ Tiên, vẫn chưa xuất giá, rất thích văn chương, cũng thỉnh thoảng làm thơ điền từ. Cả hai đều rất vui mừng trong việc làm quen bước đầu. Huệ Tiên còn mời Lệ Quyên ngay sáng mai đến nhà chơi. Lệ Quyên cũng muốn đi nhưng còn ngại quá đường đột chăng nên kiếm cớ chối từ. Cả hai còn ngồi nói đủ mọi chuyện, Lệ Quyên kể cho Huệ Tiên nghe chuyện mộng mị của mình để dò xem thái độ của Huệ Tiên ra sao. Nhưng cô gái họ Phương lại òoàn toàn dửng dưng với những chuyện mộng mị này. Lệ Quyên cho rằng dung mạo tình cờ hai người một tiên một trần giống nhau thôi. Chưa có gì chắc chắn hai người là một cả. Huệ Tiên nói, trước khi hai người từ biệt :
- Chị thích bàn về nhân quả luân hồi, và những chuyện thần tiên lắm sao? Chị có hay ngồi cầu cơ hoặc lên đồng không? Em tuy không biết gì nhiều, nhưng cũng có được những bí thuật. Ví như chị muốn xem anh chồng mình thi lần này có tên trên bảng không chẳng hạn, thì có thể làm được thôi. Nhưng cần phải có một căn phòng yên tĩnh. Ngày mai, em sẽ đến phòng trọ để thăm chị nhé!
  Đúng như đã hẹn, cô gái họ Phương tìm đến nhà trọ. Thấy bên phía đông có một gian phòng nhỏ yên tĩnh, sạch sẽ, họ bèn cho khiêng vào một bàn cầu cơ. Rồi sau người đi mua đàn hương, cùng bát cắm hương về. Huệ Tiên đốt một đoạn lụa trắng làm bùa với một chữ lục (1). Hồi sau, bàn cơ bỗng chuyển động, viết thành một bài thơ tứ tuyệt như thế này :
Kí phủ u song nhập mộng thời,
Tiêu Tiêu dạ vũ khổ tầm tư.
Nhất phong thư tự Dao Đài chí,
Lãnh thấu chu y quân vị tri.
 
Có nhơ bên song nhập mộng hồn,
Mưa rơi thánh thót khắp càn khôn.
Lá thư ở tận Dao Đài gửi,
Ao đỏ lạnh lùng cảnh hoàng hôn.
  Và sau đó viết thành một đoạn văn :
  "Ta là Tuyệt Ao tiên tử, ngày trước nhân nói ra những lời oán vọng, nên tuy thành lương duyên, vẫn chưa hề tiếp xúc với lưới tình của thế gian, cũng biết sợi tình cuối cùng cũng là quan hệ không thể tránh. Nhưng còn em gái ta cũng còn đang bị giam hãm trong chốn nhân gian, nó chính là Phương Huệ Tiên ngay trước mặt thôi. Nó đã nhìn thấy khắp cảnh thế giới, không thể kiếm đâu được một tình yêu xác thực, nên tuổi đã thành niên mà vẫn không có được một người tình tương thích.
  Ngọc Chân tiên tử đã ra lệnh, đem nó về với lang quân. Ngày sau ngôi linh thiêng vẫn có thể quay về, không đến nỗi cuối cùng vẫn phải lưu lạc nơi cõi trần nhơ bẩn một màu. Lang quân năm nay tất nhiên trên bảng có tên, sang năm, cửa Nan Cung đối sách mùa xuân cũng một lần có tên trên bảng vàng. Bao giờ đến họ Phương cầu hôn, mọi chuyện sẽ vô cùng thuận lợi cả thôi (2)".
  Bá Huy cũng ngồi bên, xem những dòng này, vô cùng hoan hỉ, mắt nhìn họ Phương, khiến họ Phương đỏ hồng hai má. Lúc nãy Lệ Quyên cùng Huệ Tiên ngồi cơ, bút chạy như bay, không do con người điều khiển, trông những hàng chữ hiện lên, khẽ cười mà rằng :
- Từ nay trở đi em cùng chị trở thành người một nhà rồi!
  Huệ Tiên trầm ngâm không đáp, đem miếng lụa làm bùa đốt giở gói lại, thu dọn hương đèn. Vội vàng lên kiệu cáo biệt. Bá Huy nói với Lệ Quyên :
- Sao lại thế? Ta lúc đầu hoài nghi cô ta chính là Tuyệt Ao tiên tử, không ngờ cũng là đồng mệnh ở Dao Đài sao?!
  Năm ấy, thu bảng treo, Bá Huy chiếm ngôi giải nguyên, đem đến tạ ơn họ Phương rất nhiều lễ vật. Nhưng Huệ Tiên nhất định không chịu nhận. Cha của Huệ Tiên đậu cử nhân, được bổ chân tri huyện. Bọn giặc cỏ nổi lên trong huyện, giết cha họ Phương. Mẹ vẫn tại đường. Một người cậu làm ngự sử tại kinh đô. Bá Huy đã có vợ, Huệ Tiên đương nhiên không thể làm tì thiếp, vì vậy không thể tin được lời cơ phán.
  Vợ chồng Bá Huy ngồi thuyền từ Kim Lăng trở về, gặp gió lớn, thuyền lật nhào, cả hai vợ chồng đều không biết bơi lội gì. Bá Huy may được cứu vớt. Còn thi thể Lệ Quyên tìm mãi không thấy. Chẳng khác gì hoa đào trôi theo dòng lũ lớn. Bá Huy vô cùng đau đớn, lập đàn chiêu hồn bên sông, thưởng lớn cho ai vớt được thi thể Lệ Quyên, nhưng vẫn không có tin tức gì. Trở về quê, báo tin dữ cho mọi người, lòng vẫn đau xót, định thế phát vào núi đi tu. Họ hàng đều ngăn, nhưng Bá Huy không chịu.
  Một đêm nọ, trong cảnh mông lung trời đất, Bá Huy lại thấy Tuyệt Ao tiên tử ngay trong phòng mình, phong thái vẫn như xưa, nhưng có thêm một chiếc khăn che, nói với Bá Huy :
- Lệ Quyên không chết đâu! Ngươi nếu không chịu vào kinh thành dự kì thi hội, thì sẽ không thể có cơ hội gặp gỡ được đâu!
  Bá Huy đang định hỏi thêm cho rõ, thì gió thiêng thổi, Bá Huy tỉnh mộng.
  Tin vào sự linh nghiệm của giấc mộng, Bá Huy hành trang vào kinh thành dự thi. Hội thí chiếm ngôi cao, sau đó điện thí đậu tiến sĩ đệ nhị giáp đệ nhất danh (3), được chọn vào Hàm Lâm viện. Quan trông coi hội thí chính là người cậu ruột của Phương Huệ Tiên, rất thích văn chương của Bá Huy, biết cả chuyện Bá Huy vừa có vợ qua đời, mới tìm cách làm mối cho Phương Huệ Tiên. Quan nói với Bá Huy :
- Cháu gái của hạ quan, tài mạo song toàn, tứ đức gồm đủ. Riêng luận về dung mạo thì có thể đứng đầu trong đám quần thoa hiện nay vậy!
  Quan không hay rằng Bá Huy cũng đã biết Huệ Tiên. Bá Huy tuy không nghĩ rằng sẽ bằng lòng, nhưng lại thấy mọi chuyện phù hợp với lời phán của cơ, nên cũng không từ chối. Nguyên do, Huệ Tiên ở Kinh Giang, nghĩ chuyện trở về phương nam, cho nên, ngay mùa đông năm vừa rồi, Huệ Tiên cùng mẫu thân đến thăm cậu, lưu lại kinh đô. Cũng vì vậy, hôn lễ được cử hành ngay trong dinh của cậu Huệ Tiên. Trước kia là quen biết gặp gỡ, nay là hôn nhân gặp lại, thật là duyên phận thần tiên. Vợ chồng tình cảm càng khăng khít.
  Một hôm, Bá Huy tới cửa Tuyên Vũ thăm người quen, trên đường đi qua dinh của một viên đại thần, thấy có một cái kiệu phi như bay lại, hình như từ xa mới tới kinh thành. Nhìn người trong kiệu, thì không ai xa lạ, chính là Lệ Quyên. Bá Huy vội đến bên kiệu hỏi han. Cả hai cầm tay nhau mà khóc. Vị quan lớn trong dinh nọ xuất hiện, râu dài tóc bạc, tướng mạo đường đường, hướng Bá Huy vái chào, hỏi :
- Ngài có phải vừa được bổ nhiệm vào Hàn Lâm viện không? Phu nhân của ngài tìm ngài đã lâu!
  Vị quan già mời Bá Huy vào dinh, sau khi trò chuyện một hồi, thì ra Lệ Quyên cũng được một thuyền đánh cá cứu thoát. Nhân thấy Lệ Quyên đẹp như tiên giáng, nên tìm cách biến Lệ Quyên thành một món hàng kiếm lời mà không chịu cho về nhà, lừa nàng tới thành Dương Châu, bán cho một thương gia giàu có, đưa nàng lên thuyền đi Dương Châu giao cho khách mua sau khi đã thỏa thuận mọi điều. Biết chuyện này, Lệ Quyên không chịu, nhảy xuống sông tự tử. Nửa đêm, thuyền của quan nha vớt được. Đấy chính là thuyền của vị chủ nhân này trên đường về kinh thành, trăng sáng, phu thuyền thấy vật lạ trôi gần, vớt lên, thì ra một người đàn bà chết trôi. Chạy chữa một hồi, tỉnh lại. Vị đại quan này đem theo Lệ Quyên về kinh thành. Nhưng Lệ Quyên còn quá yếu nên phải lưu lại trong dinh của đại quan tĩnh dưỡng.
 Nhân kì thi hội đến, biết thến ào Bá Huy cũng sẽ lên kinh thành dự thi, cũng có tên trên bảng vàng, nên chuyện trùng phùng không có gì khó khăn, mà Lệ Quyên cũng không cần phải một thân một mình tìm về quê Kinh Giang. Thế là, Lã Bá Huy không vất vả gì mà có được hai người đẹp!
Nguyên văn : Tưởng Lệ Quyên. Quyển 5.
 
 
 
----------------------------------
Chú Thích :
1. Lục : chỉ sổ sách, sách mệnh của vua của thần. Đạo giáo và thầy phù thủy chỉ lá bùa vẽ hình viết chữ, có thể sai phái quỷ thần. Một hình thức mê tín, không có cơ sở khoa học.
2. Cầu cơ này cũng thấy xuất hiện ở miền trung và nam Việt Nam ta. Hình thức cũng tương tự như miêu tả trên đây. Tuy có khác nhau một chút. Mấy năm gần đây, nhiều người bàn về hiện tượng này, nhiều người tin. Nhưng chưa một ai có được một chứng minh khoa học về hiện tượng này.
3. Quy chế về thi cử thời nhà Thanh và Nguyễn Gia Long gần giống nhau. Trong thi hội và thi đình, ở đây gọi là điện thí. Tất cả người đậu đều có học vị tiến sĩ. Được chia hai bảng giáp và ất, hay đệ nhất giáp, đệ nhị giáp. Giáp chỉ gồm nhiều là ba : trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa. Ất bảng gồm số tiến sĩ còn lại. Người đứng số một bảng ất này gọi là đệ nhị giáp đệ nhất danh, và còn gọi là hoàng giáp. Họ Lã đậu hoàng giáp vậy!
 
Beautiful things happen when you love someone.
Đăng nhập để trả lời
0
Từ Trọng Anh
  Từ Trọng Anh người Hà Bắc, từ thưở niên thiếu đã theo cha vào Tứ Xuyên buôn bán, nên núi non quanh thành Thành Đô đều rất quen thuộc. Sau khi cha qua đời, chàng không một lần quay lại Thành Đô, mà mở một cửa hàng kiếm kế sinh nahi ở Hán Khẩu.
  Trọng Anh tuy là nhà buôn, nhưng rất mực tài hoa, biết làm thơ, viết văn, giao du thân thiết với các văn nhân, nghệ sĩ. Tuổi hai mươi nhưng vẫn chưa yên bề gia thất, có người nhắc tới chuyện này, thì Trọng Anh cười đáp :
- Thế gian này nếu có được cô gái nào, mà tài cùng sắc sánh được với hồ li tinh, thu hút người ta như một nữ ma đầu, phong lưu cốt cách, thì việc vợ chồng mới khiến ta ham muốn mà thôi!
  Người nghe đều cho rằng Trọng Anh nói chuyện ảo tưởng, có người ngạc nhiên :
- Cách chọn người tình của Trọng Anh quả là khác thường. Không phải là người thật mà là hồ, là ma! Thật không có ai như vậy!
  Trọng Anh cười, không cãi.
  Trọng Anh từ nhỏ thông minh lanh lợi, thấy bạn bè theo học văn chương cử tử cốt để dự thi, chàng cũng học theo. Nhưng vì có đầu óc nên chàng hơn hẳn bạn bè. Mọi người vì vậy khuyên chàng dự thi khảo khóa. Lần đầu chàng đã khiến mọi người ngạc nhiên. Chàng được chọn vào hàng bác sĩ đệ tử viên (1).
  Năm sau, chàng cùng bạn bè lên kinh thành dự thi đại khoa. Bạn bè chúc mừng :
- Đại huynh văn chương hơn người, lên kinh thành thi kì này nhất định thành công.
  Trọng Anh vui vẻ, dẫu sau cũng là một cơ hội đến nơi phồn hoa của cả nước. Nhưng mới tới Tế Nam thì Trọng Anh ngã bệnh phải nằm lại. Chàng bảo bạn bè :
- Chư hiền đệ cứ đi trước. Tiểu đệ khỏe sẽ đuổi theo sau. Thế nào cũng còn kịp mà!
  Bạn bè đi rồi, bệnh tình Trọng Anh càng ngày càng nặng. Rên rỉ trên giường, chăm sóc chỉ mỗi người đầy tớ. Hôm ấy trời đã về chiều, chàng mê mang không biết gì, bỗng thấy như có một người con gái đến trước mặt, vén màn bưng thuốc cho chàng uống. Chàng thì như trong cơn mê, mãi đến khi uống xong thuốc, vị thơm dễ chịu vô cùng, mới thấy vùng đan điền (2) như có sinh khí thổi vào, tinh thần trở nên tỉnh táo. Quay người nhìn chung quanh thì không thấy một ai.
  Trọng Anh nghĩ ngợi, có lẽ một thần nữ tới giúp mình chăng? Bệnh tình khỏi hẳn, phải lập thần vị, hương hoa cúng lễ tạ ơn. Chí công danh của chàng vì trận ốm khiến nguội lạnh, lại thấy cảnh quán trọ huyên náo thật không hợp với người bệnh như mình, gặp lúc một người quen có biệt thự phía nam thành, mấy phòng sạch sẽ yên tĩnh, chung quanh hoa lá, cây cỏ suối khe đều đủ, chàng bằng lòng đến dưỡng bệnh, khi người quen này ngỏ ý mời.
  Một hôm, cơm chiều xong xuôi, Trọng Anh cho đốt đèn. Nghe ngoài cửa mưa rơi nhẹ, tưởng tới cảnh ngộ trớ trêu, thành một người bệnh cô độc chốn lữ thứ. Trong cảnh hòang hôn vừa tắt với những giọt mưa thư cuối mùa, chàng khẽ ngâm hai câu thơ chợt đến trong đầu :
Cô đăng đối ảnh bất thành song,
Lãnh vũ thê nhiên nhập tiểu song (3).
 
Đèn tàn một ngọn, bóng không đôi,
Mưa lạnh buồn tênh, tạt cửa ngồi.
  Đèn tàn trước gió, nhưng rồi nghĩ mãi vẫn không thành bài, trăn trở không yên. Bỗng nghe ngoài cửa có tiếng cười nói :
- Xưa nay, nhà thơ ở một mình, thì sao có chuyện hồn thơ lại khó khăn đến thế?!
  Trọng Anh ngờ có người bạn nào đến thăm chăng. Mở cửa mời vào, không ngờ là một cô gái, tuổi khoảng mười bảy mười tám, hàm răng trắng đều đặn, hai mắt long lanh. Trang điểm nhẹ nhàng, mái tóc uốn cao, dáng vẻ không khác gì tiên nữ giáng trần. Trọng Anh cúi chào, cung kính mời ngồi, hỏi họ tên. Nàng cười nhẹ nhàng :
- Vừa khỏi bệnh, đã quên công của nữ Hoa Đà rồi!
  Trọng Anh không ngờ, đúng là đã gặp đâu đây, vội làm lễ tạ ơn cứu mạng :
- Thần nữ cho thánh dược. Thật như được tái sinh. Biết lấy gì đền ơn tái tạo?!
  Cô gái đáp :
- Thiếp biết chàng là người văn nhã, cho nên có ý làm quen, không mong chàng báo đáp gì cả. Không những thế, giờ chàng còn được lợi nữa kia đấy!
  Nói rồi cô gái lấy giọng ngâm tiếp hai câu sau của bài thất ngôn tứ tuyệt mà Trọng Anh chưa nghĩ ra :
Chỉ vị khuy quân thiềm bạn lập,
Dạ lương la mạt đạp thu giang.
 
Chỉ bởi e chàng đêm vắng đợi,
Đêm khuya áo mỏng vượt sông thu.
  Trọng Anh nức nở khen, cô gái lại bên bàn, dở xem thi cảo của Trọng Anh, ngâm thành tiếng thích thú tán thưởng, khiến cả hai tinh thần đều vô cùng tiêu sái. Trọng Anh cười :
- Nàng có định làm nữ đệ tử của tiểu sinh, thì xin sẵn sàng nhận!
  Cô gái cười :
- Chàng nhận vậy có hơi sớm chăng? Ngay vừa đây, bài thơ mãi không xong. Cần phải có một cuộc thi xem sao đã!
  Đêm đã khuya, cô gái đánh tiếng ra về. Trọng Anh khẩn thiết giữ lại. Cả hai gối đầu song sogn trò chuyện. Cô gái kể :
- Thiếp họ Hà, tự Lạc Tiên. Quê ở Sơn Đông này. Chị em có bốn người. Thiếp là chị cả, ba em gái đều lấy chồng xa. Riêng mình thiếp lấy chồng quê nhà. Gần đây chồng thiếp qua đời. Vì vậy thiếp như Trác Văn Quân tìm đến Tư Mã Tương Như (4). Xin chàng đừng vì thế mà xem thiếp như một cô gái buông tuồng để rồi hắt hủi, thì thiếp đội ơn nhiều!
  Trọng Anh đáp :
- Tiểu sinh có nàng mới được từ cõi chết trở về, thật là công tái tạo. Thật là hai điều tốt đẹp nàng mang đến cho tiểu sinh. Xin nàng đừng áy náy!
  Từ đêm đó, Lạc Tiên không ngày nào không tới. Chiều tối ở lại, chưa sáng đã ra đi. Coi đó là chuyện thường.
  Cuối tháng chín, các bạn xem bảng xong đều lần lượt rời khỏi kinh thành, ghé qua thăm Trọng Anh. Hỏi sao chàng vẫn ở đây. Chàng giảng giải :
- Nơi này sơn thủy hữu tình, lấy việc bạn bè qua lại làm vui. Ngồi trong phòng một mình làm thơ, xa lánh mọi phiền hà thế tục. Được như thế cũng có thể thỏa mãn rồi!
  Một người bạn nghi ngờ :
- Chỉ sợ bên ngoài thấy phong thái đại huynh như thế này, mà đến tìm hoa hỏi liễu thì sao?
  Nghe bạn nói bóng gió, Trọng Anh đỏ mặt, không trả lời. Có người rủ vùng về, Trọng Anh từ chối. Lưu lại Sơn Đông được hai năm, Trọng Anh bàn với Lạc Tiên lên kinh thành dự hội thí một lần xem sao, rủ Lạc Tiên cùng đi. Lạc Tiên đáp :
- Vừa rồi thiếp có bói một quẻ Chu Dịch, chỉ sợ không tốt lắm. Quái từ của quẻ nói : Thiên biên phượng chiết, chẩm bạn loan phân. Danh kí bất thành, lợi vô sở toại. Yêu thuật tự họa, tú ngôn đương chu. Viễn cứ cao phi, biết hữu thiên địa - Bên trời, chim phượng gẫy cánh. Bên gối, vợ chồng chia lìa. Danh không thành mà lợi cũng chẳng vừa ý. Yêu thuật tự chuốc họa. Lời ác đáng chu di. Chạy xa bay cao, còn trời đất khác (5).
  Trọng Anh không tin, nhất định đòi đi. Lạc Tiên phàn nàn :
- Đúng là mệnh đã định. Tránh cũng không được!
  Hai người lên đường đi kinh thành, tìm trọ trong ngõ Bảo Châu, cách những đường đông đúc không xa. Gần ngõ có Lại Ninh hội quán, một đạo sĩ trọ nhừ trong hội quán có đạo hiệu Khâu Chân Nhân. Đạo sĩ tự xưng là từ trên núi Long Hổ Sơn xuống, vốn là đồ đệ của Trương Thiên Sư, cầm danh thiếp xin gặp Trọng Anh. Trọng Anh đón lạnh nhạt. Khâu đạo sĩ lên tiếng :
- Xem thần sắc chủ nhân cùng phong khí nơi này, hình như có yêu quái đang lẩn quất đâu đây. Chỉ sợ không lợi cho chủ nhân. Xin cho bần đạo nhìn qua người trong nhà, sẽ nhận ra ngay!
  Trọng Anh từ chối :
- Tiểu sinh từ Tế Nam đem theo gia quyến đến đây, trừ tiểu sinh, người trong nhà đều là nữ nhân!
  Khâu đạo sĩ khẳng định :
- Rõ ràng là có yêu khí !
  Rồi lấy từ trong ống tay áo ra ba đạo bùa, đưa cho Trọng Anh :
- Đem những đạo bùa này dán cửa phòng, rèm cửa buồng ngủ, đặt dưới gối. Nhất định yêu quái phải hiện nguyên hình!
  Trọng Anh cầm kẹp trong một quyển sách. Tối đến, Lạc Tiên giở chính quyển sách ấy trông thấy. Ngạc nhiên :
- Những cái này ở đâu ra?
  Trọng Anh cứ tình thực kể lại. Lạc Tiên buồn rầu :
- Quẻ bói trước đây bắt đầu ứng nghiệm. Chàng dẫu không tin nhưng sao vẫn nhận. Ngẫm ra, duyên hai ta cũng đã đến lúc không còn gì nữa rồi!
  Trọng Anh tìm mọi cách khuyên giải. Lạc Tiên không nói gì nữa. Đem đốt ba lá bùa, quay mình biến mất. Trọng Anh ngỡ ngàng không thể nào ngăn nổi.
  Sáng hôm sau, bên ngoài đường phố huyên náo. Nghe ra, Lại Ninh hội quán cửa ngoài vẫn đóng kín, nhưng bên trong, Khâu đạo sĩ đầu một nơi, thân một nơi. Trên tường ghi những dòng chữ bằng máu : Sát nhân giả, Từ Trọng Anh thê, Hà Lạc Tiên dã - Kẻ giết người, vợ Từ Trọng Anh là Hà Lạc Tiên. Bên gối của đạo sĩ còn rớt lại một con dao ngắn, khắc rõ hai chữ Tinh lưu. Cạnh hai chữ này, một giọng khác, chữ nhỏ hơn : Lỗ quốc kì nữ Lạc Tiên trân bảo - Của quý của cô gái kì lạ nước Lỗ là Lạc Tiên. Mặt bên kia của dao, còn khắc rõ một bài từ, ghi tên Trọng Anh như sau :
Xuất nhập hạp,
Trung phi hành thiên ngoại.
Tị chi giả sinh,
Phạm chi giả tử.
 
Trong ngoài hộp,
Bay bỗng giữa trời xanh.
Tránh kiếm thì sống,
Phạm kiếm thì chết (6).
  Nha lại lập tức đến bắt Trọng Anh theo lệnh quan. Trọng Anh đem nhiều vàng bạc hối lộ bọn này, đêm mang theo hành trang bỏ trốn.
  Trọng Anh thầm nghĩ, không gì bằng đi Tứ Xuyên, nơi mà mình rất quen thuộc cả người lẫn đường đi lối lại từ thời niên thiếu. Lên thuyền ở bến Chi Phù, cửa sông Sóc Giang, chàng đến Nghi Xương, hết gần hai mươi ngày ngồi thuyền, tới được Thành Đô. Tìm vào nhà một người thân trước đây họ Tạ nghỉ tạm.
  Họ Tạ vốn quê Kiềm Dương, chỉ là dân ngụ cư của thành Đô thôi, làm chân tay cho quan chủ. Cảnh nhà cũng bần hàn. Một vài năm sau, nhờ Trọng Anh giúp đỡ nên  có khấm khá hơn. Họ Tạ vốn thông thạo nghề vẽ tranh sơn thủy, hoa lá chim muông, vẽ như sống thật. Trọng Anh đứng ra giới thiệu, nên cũng bán được nhiều tiền. Vì vậy coi Trọng Anh như ân nhân.
  Thấy Trọng Anh vẫn chưa vợ con gì, họ Tạ định đem người con gái thứ hai gả cho Trọng Anh, nhưng chưa biết nói năng với Trọng Anh thế nào. Họ Tạ có hai con gái, con đầu dung nhan xinh đẹp khác thường, bất hạnh qua đời năm mới mười sáu tuổi. Cô thứ hai, năm nay mới mười lăm, giỏi thơ văn, chữ nghĩa. Thư họa đều hơn người. Nếu không kể cô chị, thì cô em đúng là bậc tài tử của thành Thành Đô. Trọng Anh sau này, không ở nhà họ Tạ nữa,vẫn thường xuyên lui tới, rất thích đàm đạo văn chương, nghệ thuật với  cô gái này.
  Một hôm, trời đã chạng vạng tối, Trọng Anh ngồi một mình trước đèn, nghĩ ngợi mông lung mãi tới khuya, thấy có người gõ cửa. Trọng Anh ra xem ai. Một thiếu nữ khoảng mười lăm mười sáu. Trọng Anh hỏi nguyên do, cô gái ngượng ngùng không nói, nhưng cũng không đi. Căn vặn mãi, cô gái mới nhỏ nhẹ :
- Thiếp là Âu Uyển, con gái nhà họ Trần ở phía đông, là bạn thân của A Tinh nhà họ Tạ. Phụ thân thiếp người Sở Bắc, làm thừa úy ở Thành Đô này. Nhân là đồng hương với chàng, nên mạnh dạn tới đây. May được cùng chàng về quê nhà.
  Trọng Anh thấy Âu Uyển mắt sáng như sao, phong thái đài các khác thường như bị hút hồn, Trọng Anh đưa cô gái vào nhà, thân mật như quen nhau từ trước, ngày ngày không rời. Trọng Anh hỏi nhà còn những ai, Âu Uyển rơi nước mắt nói :
- Cha mẹ đều đã qua đời. Nương nhờ một người cậu. Nhưng cậu mợ đối xử không tốt, cho nên thiếp ngày ngày mong được trở về quê nhà. Chàng ở đây sung sướng, nhưng sao bằng trở về quê cũ. Chàng nếu có ý trở về cố hương, xin cho thiếp đi cùng. Đường dài có thiếp cũng bớt cô độc. Xin nguyện theo chàng!
  Trọng Anh đem chuyện Lạc Tiên kể thật tình, cho rằng thế nào cũng bị liên lụy, về quê chưa chắc đã yên ổn. Âu Uyển nói :
- Lạc Tiên không phải họ Hà đâu! Thật đúng là một con người trong làng phong lưu, phong tư tài mạo đều đủ. Cõi người không ai bằng. Vai trái có một nốt ruồi đỏ. Buổi ngày hiện, đêm thì mất. Có tài chiêm bốc, thật là một kì nhân. Giờ nghe nói đang tu hành trên núi Nga Mi. Sao chàng không tới đó tìm. Cùng Lạc Tiên trở về, tất không xảy ra chuyện gì đâu!
  Trọng Anh hỏi :
- Nếu Lạc Tiên không chịu thì làm thế nào?
  Âu Uyển đáp :
- Duyên phận tới, đẩy không đi, duyên phận hết, kéo không lại. Chàng cùng Lạc Tiên có với nhau ba mươi năm duyên phận.
  Trọng Anh bằng lòng, hẹn nhau dưới gốc một cây tùng già phía tay Thành Đô. Trọng Anh tới, đã thấy Âu Uyển ngồi chờ, ăn vận theo lối người đi đường, bộ dạng càng gọn gàng xinh đẹp.
  Đến chân núi Nga Mi, Âu Uyển nói :
- Thiếp có một người cô, làm nữ đạo sĩ dưới chân Bạch Vân phong, chúng ta tới đó kiếm chỗ ở lại có thể hỏi ra tung tích của Lạc Tiên không chừng!
  Người cô của Âu Uyển, phong thái rõ là tiên phong đạo cốt, hỏi chuyện Lạc Tiên, người cô đáp :
- Vừa mới tới đây trò chuyện xong. Có lẽ đi chưa xa.
  Rồi sai một đạo đồng gái tìm mời Lạc Tiên về.
  Lạc Tiên xuất hiện, dung mạo không khác xưa. Chỉ khác là ăn mặc theo trang phục nữ đạo sĩ. Trông thấy Trọng Anh, nước mắt chảy tràn, không nói một lời. Trọng Anh rầu rĩ nhận lỗi. Lạc Tiên đáp :
- Không nói cho chàng rõ mọi chuyện từ đầu cũng là mệnh số vậy. Thiếp đi rồi, sợ chàng liên lụy, mới dùng gậy trúc, hóa thành hình chàng, đến tận phủ đường nhận tội. Mọi chuyện đều yên ổn cả rồi!
  Lạc Tiên trông thấy Âu Uyển, nhìn Trọng Anh :
- Đây là người bây giờ của chàng sao? Người mới xuất hiện, người cũ bị bỏ rơi rồi!
  Trọng Anh ân cần :
- Nếu thật lòng quên, thì đã không đến đây từ nghìn dặm xa xôi. Đây cũng là vì thiện ý của chính Âu Uyển.
  Lạc Tiên đáp :
- Thiếp cũng đã biết hết mọi chuyện. Chẳng qua là thử lòng chàng cho vui vẻ trong ngày gặp lại thôi!
  Tối hôm ấy cả hai kể lể nỗi niềm xa xưa, suốt sáng không ngủ. Lạc Tiên lên tiếng vào chuyện trước :
- Gặp lại chàng, thêm một lần nghiệp chướng. Nhưng cả thiếp cùng Âu Uyển đều không thể vì chàng mà sinh trai nuôi gái, nối dõi dòng tộc. Nhà họ Tạ có A Tinh, thật hợp với chàng. Thiếp sẽ cùng Âu Uyển trờ về Hán Khẩu, sắp sẵn mọi thứ đón chàng. Còn chàng hãy quay về Thành Đô, cử hành hôn lễ. Tính ra mọi chuyện cũng mất hàng tháng trời. Thế là cùng một lúc chàng có ba người đẹp. Không biết chàng tu luyện từ kiếp nào mà  có được diễm phúc lớn đến vậy!
  Trọng Anh nghe theo mọi điều Lạc Tiên xếp đặt. Đêm động phòng hoa chúc, Trọng Anh mới nhận ra A Tinh cùng Âu Uyển giống nhau đến lạ lùng. Từ hình dáng cho đến giọng nói. Hỏi cặn kẽ, thì ra Âu Uyển chính là chị gái của A Tinh, qua đời lúc còn trẻ. A Tinh lấy Trọng Anh, thấy Âu Uyển, ôm lấy chị gái mà khóc dòng. Âu Uyển nói :
- Thiếp học được cách luyện hình, có thể sống giữa người trần. Xin chàng đừng tiết lộ, sợ mọi người kinh hãi.
  Về sau, Trọng Anh hiển đạt, làm tới đại tư khấu (7). Lạc Tiên ở trong nhà đúng ba mươi năm, không xảy ra chuyện gì khác. Một hôm cho bày tiệc lớn, mời đầy đủ đồng liêu của Trọng Anh, ngồi đầy một nhà. Ăn uống suốt sáng. Đến quá trưa, trời nổi mưa gió dữ, sấm chớp kinh hồn, như chuẩn bị cho một cuộc chuyển kiếp. Nhưng rồi không tai họa gì, trời lại quang, mây lại tạnh, dưới chân Trọng Anh, một con hồ li lông trắng toát, vụt chạy ra ngoài như một mũi tên, rồi mất hút.
  Vào phòng trong, tìm phu nhân, không biết đã đi từ khi nào. Mới biết, Lạc Tiên đến ở với Từ Trọng Anh là để tránh cái họa sét đánh này.
Nguyên văn : Từ Trọng Anh. Quyển 6. 
 
 
 
----------------------------
Chú Thích :
1. Bác sĩ đệ tử viên : bác sĩ, từ chỉ các quan có học thuật cao thời Hán. Học trò của họ được dự các kì thi tuyển ở trung ương và địa phương, được gọi bằng tên này. Học giỏi được bổ quan. Các triều có thi cử sau này thì bỏ. Thời Minh Thanh chỉ học sinh, giám sinh trường công ở địa phương lẫn trung ương. Bồ Tùng Linh, tác giả Liêu Trai chí dị cũng có địa vị này rất sớm.
2. Đan điền : tên huyệt vị theo phương pháp châm cứu của đông y. Nằm dưới rốn, cũng gọi là khí hải, âm giao, quan nguyên.
3. Hai câu này kết thúc đều bằng từ song nhưng không phạm luật thơ, vì đồng âm nhưng khác nghĩa.
4. Chuyện xảy ra ở Thành Đô, thuộc thời Hán, Trán Văn Quân mới góa chồng, nghe trộm tiếng đàn của Tư Mã Tương Như, đang đêm trốn theo Tương Như.
5. Cách bói toán dựa theo Kinh Dịch, một trong ngũ kinh của Trung Hoa.
6. Tinh lưu : lưu là vàng tốt. Cây kiếm ngắn, được đúc bằng tinh chất của vàng tốt.
7. Đại tư khấu : chỉ hình bộ thượng thư.
Beautiful things happen when you love someone.
Đăng nhập để trả lời
0
Kiếm Tiên Nhiếp Bích Vân
  Nhiếp Bích Vân là một kì nữ ở Đoài Châu. Thưở nhỏ, từng may gặp một dị nhân, truyền thụ cho kiếm thuật, có thể dùng phi kiếm mà lấy đầu kẻ thù cách mười dặm.
  Bích Vân lấy một chàng họ Sĩ tên Nghệ, tài thổi ống tiêu bằng sắt. Một lần uống rượu say, ngồi dưới gốc liễu, lấy tiêu ra thổi. Gốc liễu là chỗ buộc thuyền của một ông già thuyền chài nghèo, có một đứa con trai bất hiếu. Đúng lúc ấy đang chửi mắng gì đấy người cha già. Họ Sĩ nổi cơn nghĩa khí, dùng ngay ống tiêu giết chết đứa con ông lão thuyền chài, nên đành bỏ trốn khỏi quê nhà gia nhập giang hồ.
  Lần ấy, anh ta tìm đến Lao Sơn học đạo. Đang từ trên đỉnh núi Ngũ Phong đi xuống thì gặp Bích Vân, hai mắt trừng trừng nhìn cô gái. Bích Vân cũng nhìn lại, ngang nhiên không nao núng, nói :
- Cứ nhìn anh, cũng biết là một tay giang hồ không nhà không cửa. Em chưa hề một lần ràng buộc hôn nhân, nguyện nhận anh làm chồng!
  Thế là thành chồng thành vợ. Anh chàng họ Sĩ kiếm khoảnh đất tây nam núi Sơn Lộc dựng một nếp nhà. Bích Vân bảo :
- Em còn có đại cừu chưa báo được, nên hiện nay còn phải ẩn cư một thời gian. Sở dĩ lấy anh, để cùng bạt núi lội nước, cùng xây cơ nghiệp. Chưa thể nói tới một cuộc sống lứa đôi hạnh phúc. Nhờ anh giúp một tay, việc lớn xong xuôi, thì em không đến nỗi khiến anh uổng công khó nhọc đâu!
  Bích Vân từ Đoài Châu, Dự Châu đi qua các vùng Tề, Yên, vượt sông Biện Thủy, Lạc Thủy, đến những nơi như vậy, thường ở lại trên dưới mười ngày. Lại cũng có nhiều lần, đêm dạy nhìn trời sao, Bốc từ nói : Dương ứng tại hồng trạch cự hồ (1), nên ngờ rằng vùng hồ Phiên Dương có vật linh thiêng xuất thế, vội đi về hướng Dự Chương, thuê một ngôi nhà bên bờ hồ. Đêm đến, lấy ra một tấm giương thần, đặt trong một cái chậu chứa đầy nước, đo đạc, tính toán một hồi rồi nói :
- Hào quang vẫn còn xa lắm!
  Tiếp đó lại đi xem xét vùng Thái Hồ, cưỡi thuyền qua vùng Cửu Giang, cho mãi tới Tam Ngô, ở ngay trên vùng núi phía tây của Động Đình hồ. Chàng họ Sĩ thì thu nhận học trò để kiếm kế sinh sống, có ý nghỉ lại lâu dài vùng này. Trong lúc nhàn rỗi, mới hỏi Bích Vân những bí thuật đã được thấy, chỉ cho biết, không hề có ý xem xét mục đích công việc. Bích Vân trả lời :
- Cha em là một đạo sĩ, vốn là học trò của Hứa Chân Quân, chuyên tìm tòi về thuật luyện đơn. Lò đơn lần ấy sắp hoàn thành, chỉ khỏang mấy ngày nữa là có thể phục đơn thành tiên bay lên thượng giới. Không ngờ một con Độc long trong sơn trạch biết được việc này, dùng phép thuật biến thành Hứa Chân Quân sư phụ, tìm đến bên lò luyện đơn, lệnh cho cha em mở lò, tự thân lấy đơn trong lò, chia thành hai nửa. Một nửa thì chính nó uống ngay, còn một nửa thì đưa cho cha em, trong nghi lễ thành kính như đang truyền thụ bí pháp đắc đạo thành tiên cuối cùng. Cha em không cảnh giác, thành kính hành lễ. Độc long thừa lúc cha em không để ý như vậy, rút ngay thiết trùy trong ống tay áo, dáng mạnh xuống đầu cha em. Cha em chết ngay. Phần đơn còn lại, cha em tất nhiên chưa kịp uống cũng bị độc long cướp mất. Từ đó Độc long biến ảo khôn lường, vì được uống thêm hoàn toàn chỗ đơn đã luyện của cha em. Thù này, em thề là phải báo thù bằng được, nhưng Độc long thần thông quảng đại, không thể riêng bằng kiếm thuật có thể thu phục. Phải được đủ ba vật khác nữa, thì mới có thể chế ngự được Độc long!
  Sĩ Nghệ hỏi ngay :
- Ba vậy gì? Nhất định là rất khó có được phải không?
  Bích Vân trả lời :
- Cái thứ nhất là hải châm, của vua đời Đại Ngu lưu lại. Cắm cái kim biển này xuống, thì mặt biển không thể nổi sóng nữa. Cái thứ hai là hàng ma chân chử. Cái thứ ba là luyện ảnh thần kinh. Hiện nay, em chỉ mới có được cái thứ ba mà thôi. Cái khó nữa là cho đến nay, em vẫn chưa biết tìm hai bảo bối chưa có được ở chỗ nào. Ngày đêm đi như thế này, nhưng vẫn chưa có một chút hi vọng. Mãi gần đây, mới hiểu ra rằng hải châm nằm ở Thái Hồ thôi, nhưng cũng chưa có cách nào để có được hải châm cả!
  Từ đó trở đi, Bích Vân ngày đêm mưu tính để có được hải châm. Lênh đênh trên một con thuyền nhỏ, mọi chuyện phương hướng, chèo lái thế nào đều một mình Bích Vân đảm trách. Một buổi tối, hoàng hôn vừa tắt, trăng bắt đầu tỏa sáng trong trẻo nhưng yếu ớt. Sĩ Nghệ đóng cửa đốt đèn đọc sách, chung quanh không một tiếng động nhỏ. Bích Vân bỗng đẩy cửa bước vào, quần áo cho đến giầy mũ đều ướt đẫm, từng hàng nước vẫn chòn chảy xuống nền nhà từ người Bích Vân, nói :
- Anh có thể chúc mừng em rồi! Em đã có được hải châm trong tay!
  Nói xong, từ trong ống tay áo, Bích Vân lấy ra một cái kim vừa nhọn vừa dài. Nhìn thật kĩ trên thân kim khắc rất mờ hàng chữ khoa đẩu (2), không thể nào đọc được.
  Ngày hôm sau, Bích Vân lập tức cùng chồng rời chỗ ở, đi về vùng Triết Giang, tìm nhà trọ ở. Gặp một đạo sĩ mặc trang phục màu vàng, cúi chào Bích Vân rất cung kính, nói :
- Ba bảo vật đã có được hai trong tay rồi, ngày báo được thù sâu không còn xa. Sư phụ của ta, có một lá thư gửi cho muội muội đây!
  Tức thì lấy thư giao lại Bích Vân, rồi biến đi như một ảo ảnh, khiến Bích Vân không khỏi kinh hoàng, vội xé thư ra xem. Thư viết :
  "Hàng ma chân chử, hiện đang trong tay nhà sư Vi Đàn trụ trì chùa Gia Hưng. Nhưng tiếc rằng chày hang ma thiêng liêng đã bị những nhơ bẩn của khói hương người đời làm cho mất linh thiêng. Muốn cho chày trở lại được chân bản thể, phải tụng đủ mười vạn lần kinh Tịch uế Kim cương chú. Đến lúc ấy, ta có cách giúp con thực hiện được việc trả đại cừu."
  Bích Vân tìm ngay đến một hàng thợ tiện, tiện một chày hàng ma giả, đem đến chùa Gia Hưng đánh tráo lấy hàng ma chân chử thật. Đem về dùng nước thơm đặc biệt rửa sạch sẽ, để lên bàn thờ rất cung kính. Việc đọc đủ mười vạn lần kinh Tịch uế Kim cương chú thì là phận sự của Sĩ Nghệ.
  Một năm sau, số kinh đọc đã đủ, và trong mười năm qua, Bích Vân cũng đã luyện thành công một trăm thế chủy thủ kiếm pháp. Mũi kim phóng ra, đủ mạnh để có thể xuyên thủng đá cứng, khoan thành lỗ sắt nguội. Mỗi lần tung mũi kiếm lên không, chẳng khác gì ánh chớp trong bão giông, mũi kiếm lao xuống địch thủ, dù là loại vật thể gì cũng không thể nguyên lành. Ngược lại bản thân chủy thủ thì không một biến dạng nhỏ. Bích Vân thấy mọi thứ đều đã hoàn tất, vui mừng nói với chồng :
- Thời cơ báo thù đã đến rồi! Độc long trước đây tu luyện trong Lãi Hồ, nay thì lại đã tìm đến một hồ tiên, trên tận đỉnh núi Linh Sơn. Anh cùng em, chúng ta lên đường vào ngay vùng Tứ Xuyên, tìm bằng được kẻ thù!
  Hai vợ chồng, vượt qua eo Cù Đường, rồi ghềnh Diễm Dự muôn ngàn nguy hiểm của hàng nghìn năm, trèo từng bước qua Di Môn, Kiếm Các, những cửa quan cheo leo cao vút, rồi cũng đến được Thành Đô. Họ ở lại nơi này một tháng rồi đi Mân Trung, treo lên núi Bàn Long, nhìn ra bốn phía, chăm chú tìm bằng được đỉnh Linh Sơn. Đỉnh núi cao nhất, phong cảnh xanh tươi vì cây cối bốn mùa không rụng lá. Chính nơi này là chốn trụ trì hiện nay của Độc long. Bích Vân lòng đầy háo hức, chỉ tay về Linh Sơn, nói với Sĩ Nghệ :
- Độc long ở nơi ấy!
  Rồi hỏi Sĩ Nghệ :
- Anh có cùng tới đó không?
  Sĩ Nghệ đáp :
- Sao lại không nghe theo em?!
  Bích Vân đưa cho Sĩ Nghệ một cái túi da lớn, một trong hai lưỡi chủy thủ, dặn kĩ :
- Chờ lúc nào mây mưa thật dữ dội, chớp dăng sấm vang khắp trời, thì anh hãy quăng ngay thanh kiếm ngắn này lên bầu trời. Phải nhớ tung đúng lúc. Tình thế rất nguy hiểm, thì hãy lấy hàng ma chân chử để trong túi da, cầm trong tay, chỉa thẳng lên cao, thì không có gì phải lo sợ. Mặc kệ gió mưa sấm chớp vẫn chưa dứt ngay! Tốt hơn nữa, thì cao giọng đọc Kim cương chú kinh, tự nhiên mọi chuyện sẽ kết thúc tốt đẹp thôi!
  Bích Vân nai nịt gọn gàng, trèo một mạch lên tận đỉnh núi. Sĩ Nghệ theo sau, không dám rời một bước. Một hồ rộng hiện ra, khoảng vài trăm mẫu, nước trong thấy đáy, nhìn rõ từng đàn cá đử màu sắc bơi lội. Gió nhẹ nhàng thổi nhẹ trên mặt hồ, khiến sóng cũng rất bình yên. Phong cảnh thật đẹp, thật trong sạch, thật thanh bình!
  Bích Vân khẽ nói :
- Độc long rất thích nghe âm nhạc, anh hãy thổi một khúc tiêu để dẫn dụ!
  Sĩ Nghệ nghe theo, tiếng tiêu xuất quỷ nhập thần cất lên, trên độ cao như Linh Sơn Phong này, tiếng càng trong trẻo, như hòa cùng bầu trời ngay trên đầu. Điệu cao của nó tưởng như có thể tiêu tan vàng đá, vỡ tung không gian, lúc nhanh lúc chậm, khi cao khi thấp. Sĩ Nghệ thổi xong ba khúc, Bích Vân nhìn đám cá đang tung tăng trên mặt hồ, như đang chờ tiếng tiêu lại cất lên, tìm xem có bóng dáng Độc long chăng. Một con có dáng của thằn lằn, nhưng lớn gấp hàng nghìn lần, lắc cái đầu, quãy cái đuôi đầy vẻ ngạo nghễ của kẻ nắm chắc vận mệnh của mình lẫn đồng loại. Bích Vân chắc chắn đấy là Độc long, không thể sai. Bích Vân phóng ngay hải châm xuống mặt hồ. Lập tức nước trong hồ như có một vòi rồng hút cạn hẳn hơn một trượng. Thấy chuyện không có gì tốt lành, con thằn lằn to lớn bỗng biến thành một con rắn với những cái vẩy của loài rồng giương lên đầy nguy hiểm. Sóng rồi gió, rồi mưa càng lúc càng mạnh. Các loài ác trùng trong hồ nhảy nhót trợ lực cho Độc long, nhất tề hướng về phía Bích Vân. Bích Vân tung chủy thủ lên không, lưỡi kiếm vạch một đường như ánh chớp sáng xanh ma quái, rồi cứ thế bổ xuống. Đến đâu, máu của thủy quái cứ thế chảy tràn.
  Sĩ Nghệ đứng trên bờ hồ, chọn một hòn đá lớn, như một pho tượng trên đài cao theo dõi trần thế, miệng không ngừng niệm Kim cương chú kinh, tay trái cầm hàng ma chân chử, tay phải nắm chắc chủy thủ, chờ cơ hội tung lên trời. Bích Vân trước ngực đeo thần kính, không thể yêu quái nào dám đương diện để hình soi vào giương thần này. Độc long cũng biết điều ấy. Không những thế, Độc long còn biết kẻ gây sự là ai. Một trận thế một mất một còn! Độc long rời khỏi mặt hồ, nước hồ càng ngày càng cạn, ưu thế về hoàn cảnh không còn, đành cùng Bích Vân chiến trên không. Nanh vuốt giơ ra, thủy quái không thể đem hết trợ lực, Bích Vân điều khiển chủy thủy lượn khi cao khi thấp. Nhưng quả bất địch chúng. Sĩ Nghệ nhận ra tình thế nguy cấp, tung liên tiếp chủy thủ rồi chày hàng ma lên không. Chày hàng ma tìm Độc long lao đến như cả một quả núi giáng sau lưng Độc long. Không thấy đâu nữa. Trong khi đó thì hai lưỡi chủy thủ vẫn bay lượn, một luồng xanh một luồng đỏ tiếp tục làm nhiệm vụ sát thủ kinh người của thần kiếm.
  Bích Vân giơ giương thần soi khắp bốn phía tìm Độc long đã biến hóa nơi nào. Thì ra, Độc long đang nấp sau bàn thạch. Bích Vân ra hiệu cho Sĩ Nghệ, cả hai cùng một lúc chỉ huy chủy thủ, từ hai phía bật tung bàn thạch. Độc long biến thành một con ễnh ương to lớn, nhảy chồm về phía Bích Vân, tưởng như có ý quyết một đòn cuối cùng. Bích Vân thu hải châm lao vào Độc long, máu tuôn xối xả. Trong khi hồ nước dâng đầy như cũ. Độc long tưởng như đã chết. Bích Vân nói trong một hơi thở dài :
- Thù lớn hai mươi năm qua giờ đã trả!
  Bỗng trên không có tiếng nói như sấm rền :
- Nữ hiệp thần đáng khen! Nữ hiệp thần đáng khen!
  Vợ chồng đưa mắt nhìn lên, thấy một đạo sĩ mặc áo lông chim, đội mũ vàng, nghiêm chỉnh ngồi giữa từng mây, thì ra là Hứa Chân Quân. Chân Quân cúi xuống, nói với Bích Vân :
- Nhưng chân của Độc long vẫn vươn dài thế kia, chưa chết hẳn đâu. Năm trăm năm nữa, Độc long lại sẽ xuất thế, gây tai họa khôn lường cho nhân gian. Nhưng đó cũng là định số. Con hãy để ta kiềm chế!
  Chân Quân lấy trong ống tay áo một cái bát vàng, vứt xuống mặt hồ. Độc long lập tức nhảy vào bát. Chân Quân thu bát. Và không thấy gì trên bầu trời nữa!
  Vợ chồng Bích Vân hoan hỉ cùng nhau lang thang ngắm cảnh đẹp vùng Mạc Li Sơn trong một thời gian dài. Kiếm một khoảnh đất dựng lều cỏ, tính chuyện cùng nhau ẩn cư trên núi. Chẳng lo gì chuyện cơm áo trần tục. Khoảnh đất nhỏ, núi rừng xinh đẹp dễ dàng nuôi hai vợ chồng.
  Mùa xuân đến, những cơn mưa liên tiếp khiến sông suối thung lũng, ruộng nương vùng Tứ Xuyên như chìm trong biển nước. Đâu đâu cũng giao long thủy quái hoành hành. Đêm đêm tiếng gào thét kinh hoàng của đao phủ lẫn tội nhân, trời đất như chìm về thưở hồng hoang. Bích Vân thấy cảnh như vậy, không thể ngồi yên. Ngày thứ nhất, vợ chồng lên đường, tìm đến nơi thảm cảnh hồng thủy dữ dội nhất. Ngày thứ hai, Bích Vân đứng trơớc biển nước như chảo vạc dầu đang xôi, tung chủy thủ, giao long bị chém làm đôi. Mặt đất dần trở về yên lặng.
  Lại một năm, gặp đại hạn, hoa màu khô héo. Dân chúng nhiều lần làm lễ cầu mưa vẫn không hiệu nghiệm. Trời mây đen kéo đầy, sấm chớp nhì nhằng, nhưng vẫn không một giọt mưa. Bích Vân nói với Sĩ Nghệ :
- Lại Độc long chứ không ai khác!
  Vợ chồng về vùng đồng bằng xem xét dân tình, giữa đồng hoang, một quan tài lộ thiên, mục nát. Bên trong nhìn vào tối đen như một huyệt động của ma quái. Bích Vân hỏi dân chúng quanh vùng, không ai nhận, không ai biết. Vợ chồng lại gần, một quái vật bên trong, mình đầy lông lá màu xanh. Bích Vân dùng chày hàng ma dạo nào đập vào quan tài, quái vật đứng dậy. Mọi người sợ hãi bỏ chạy. Bích Vân thản nhiên, lên tiếng trấn an :
- Đấy chính là thần nắng. Hạn Bạt ngủ quên đây thôi! Mưa sẽ đến ngay bây giờ!
  Đúng như lời Bích Vân, mưa như trút nước. Đồng ruộng lại vui người cày cấy. Mặt đất trở lại xanh tươi. Dân trong vùng, đem củi lửa đến nơi chiếc hòm, mà thần Hạn Bạt chọn làm nơi ngủ, chất củi đốt trụi. Họ sợ, thần Hạn Bạt lại về đây ngủ chăng?
  Một con hồ li tinh tác oai tác quái, không một thầy phù thủy nào trong vùng giở được phép thuật với nó. Giương hòm kín mít, để trong buồng khóa hai ba lần, bỗng nhiên bốc cháy. Thức ăn bị giở vứt vung vãi, không thể nào ăn được nữa. Đêm, người nhà ngủ chỗ này, sáng mai thấy mình nằm chỗ khác rất lạ lùng. Lúc thì nằm trên bàn thờ, lúc thì trên xà nhà, trên cành cây, trong chuồng gia súc....Cuộc sống không lúc nào yên. Họ tính chuyện đi Long Hổ Sơn xin bùa chú của Thiên sư. Bùa dán rồi, nhưng cũng chẳng hiệu nghiệm. Họ đến xin với Bích Vân giúp đỡ. Bích Vân cười :
- Việc này thì không đúng sở trường của ta rồi. Nhưng ta cũng xin thử giúp các người một phen xem sao. Thành bại không dám hứa trước!
  Bích Vân không hiểu gì về yêu thuật của bọn yêu quái giòng giống của Đồ Sơn Thị (3) này. Đến nơi hồ li tinh tác quái thì không biết từ đâu, đất đá bắn vào người tới tấp. Có hòn trúng ngay vào vai của Bích Vân, khiến Bích Vân nổi giận, tung chủy thủ lên không. Hang của hồ li tinh tung lên không như trong một trận phun lửa của hỏa diệm sơn. Đầu một con hồ li trắng già tung bân phải, thân văng bên trái. Bích Vân thu lưỡi chủy thủ, lên tiếng :
- Tai họa không còn, có thể gối cao ngủ kĩ rồi đấy!
  Bích Vân quay lại lều cỏ, thì thấy có một ông già râu tóc bạc phơ ngồi chờ. Nhìn kĩ, Bích Tiên vẫn không nhận ra là người nào. Chào lễ, phân ngôi chủ khách, ông già lên tiếng :
- Cùng một đạo môn, sao chủ nhân tàn hại đồng đạo đến thế? Con cháu có điều gì không thể chấp nhận cũng xin được chủ nhân mách cho một lời. Như sư phụ của chủ nhân Hứa Chân Quân, còn thuộc hàng hậu bối của lão phu. Lão phu sẽ không dung lũ chúng ngang ngược. Chủ nhân vì thù cha mà báo, điều ấy thật đáng khen. Chưa gì đã hạ độc thủ. Mà thực ra tội lỗi của chúng cũng đã có gì đáng trách như Độc long, như thủy quái đâu? Nay lão phu vì thù giết con cháu mà đến đây, chủ nhân trả lời ra sao đây?
  Lúc này Bích Vân mới biết ông già này là thủy tổ của lũ hồ li tinh, bèn đáp :
- Ngài là hậu duệ của Đồ Sơn Thị, viện nên làm là cùng con cháu tu luyện trong huyệt động. Đừng tham gia vào đời sống nhân gian, cùng con người không tranh được thua, thì đâu đến nỗi xảy ra những chuyện đáng tiếc như vừa rồi! Đường này ngài để cho con cháu hoành hành chốn nhân gian, khiến người đời ăn không ngon, ngủ không yên, đem những yêu thuật ra để quấy quả đầu độc đời sống dân lành. Khiến họ kêu khắp nơi không thấu, mà ngài còn giả điếc rằng không nghe. Chính sự dung túng của ngài gây nên tai họa cho con cháu vậy!
  Lão già không còn biết trả lời ra sao, thần thái táng thất, hoảng hốt xuống núi. Được vài bậc, ngã lăn quay, biến thành một con hồ li già lông trắng một màu, biến mất hút!
  Bích Vân nói với Sĩ Nghệ :
- Bọn hồ li này, cũng như chúng ta, ứng lẽ tự nhiên mà sinh mà diệt. Tội quả không đáng chết! Em đã làm những việc quá phận của mình. Anh hãy vì em mà tụng một vạn lần kinh Tâm Kinh cùng Vãng sinh chú để siêu độ cho chúng cũng là để sám hối việc lỡ lầm của em vậy!
  Nhiếp Bích Vân nhìn hai phía đông tay của hồ Động Đình. Núi non chồng chất, là chốn xinh đẹp địa linh vùng đất Ngô. Quay sang nói với Sĩ Nghệ :
- Vùng Động Đình nay là nơi thiên phúc, địa phúc. Nơi cư trú của tiên nhân. Khác hẳn nơi hôi hám trần tục ngoài kia. Chính con người đã biến những cảnh thiên nhiên thành nơi ngự trị của sự thù hằn ác độc. Em muốn có một con đê ngăn giữa hồ như ở Tây Hồ Hàng Châu, mà Bách Cư Dị cùng Tô Đông Pha đã làm được thời Đường thời Tống. Nối hai dãy núi đông tay, giữa xây một cầu lớn làm chỗ thông thương cho thuyền bè. Trong hồ trồng toàn sen súng. Mùa sen nở ngát hương khắp phương nam. Trăng sáng cùng nhau dạo trên đê, có phải là một khoái sự của đời người không? Hai bên bờ đê trồng toàn dương liễu, tùng bách có thể tránh nắng, lại thêm màu sắc sinh động. Dựng vài chục gian tịnh xá làm nơi xuất gia tu tâm dưỡng tính.
  Bích Vân tuy nói vậy, nhưng sau đó thì hai vợ chồng lại tìm về Nga Mi học đạo, không quay lại nữa. Giấc mộng đẹp đã vẽ không thành.
Nguyên văn : Nhiếp Bích Vân. Quyển 6.
 
 
 
-------------------------------
Chú Thích :
1. Bốc từ : cũng chính là giáp cốt văn. Vua chúa nhà Thương rất mê tín, bất kì làm việc gì lớn nhỏ : đánh nhau, săn bắn, cày ruộng...đều bói trước khi làm. Sau đó khắc những lời đoán này vào mai rùa xương thú. Vì vậy những lời đoán khắc này cũng được gọi là bốc từ.
2. Đồ Sơn Thị : theo truyền thuyết, vua Vũ trị thủy, được một người con gái họ Đồ Sơn, vốn là một con cáo chín đuôi thành tinh giúp đỡ. Sau Vũ lấy làm vợ. Cho nên về sau, khi nói đến bọn hồ li tinh, người ta thường chỉ là hậu duệ của Đồ Sơn Thị. Chú theo bản dịch Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh.
3. Khoa đẩu : chữ viết của thời cổ đại Trung Hoa. Lấy dao khắc trên thẻ tre, có nhúng mực trước hoặc bôi mực sau khi khắc. Thường lúc đầu nhiều mựa, cuối nét mực hết, hình giống con nòng nọc. Nên gọi loại chữ này là khoa đẩu thư hoặc khoa đẩu văn.
Beautiful things happen when you love someone.
Đăng nhập để trả lời
0
Nữ Hoa Đà Bảo Lâm Nương
  Bảo Lâm Nương người Dương Châu, cha là Bảo Giáp, một thầy thuốc chuyên trị bệnh cứu người. Hành nghề trong thành Dương Châu, khách hàng không bao giờ vắng. Ngoài tay nghề rất kinh nghiệm, họ Bảo còn có một tấm lòng rất đáng quý. Gặp những bệnh nhân nghèo, thì họ Bảo cắt thuốc cho mà không lấy tiền. Vợ họ Bảo mất sớm, mọi việc nội trợ giao cho một bà quản gia, còn cô con gái thì bao giờ cũng ngay cạnh để giúp cha trong công việc. Chính vì vậy mà ngày càng hiểu biết về nghề nghiệp hơn. Và đến khi cha đi vắng, có người bệnh đến nhà, Lâm Nương có thể thay cha thăm bệnh cho thuốc được, cũng rất có hiệu quả, không kém gì cha. Vì vậy dân trong vùng thường gọi Lâm Nương là Nữ Hoa Đà. Nhưng Lâm Nương thì nói rằng nghề thầy thuốc khó nhọc, không muốn nối nghiệp Bảo Giáp. Chẳng qua Lâm Nương chỉ giúp cha ít nhiều, cũng chỉ biết những kiến thức thông thường mà thôi.
  Một hôm, có một người chân lở loét, gánh một gánh hàng đi ngang cổng nhà Lâm Nương. Vết thương ngay ở bàn chân trái, khiến người này đi đứng rất khó khăn. Trông thấy Lâm Nương, người này đặt gánh ngồi xuống bên thềm cổng, lên tiếng xin Lâm Nương thuốc chữa chân. Lâm Nương cúi nhìn kĩ vết thương, thì thấy gần ngón chân cái của bàn chân trái mọc một cái nhọt lớn, miệng nhọt đã lở loét. Lâm Nương bèn lấy nước thuốc rửa, đắp thuốc cẩn thận. Người này cảm ơn chân thành, rồi lấy trong tay nải của mình ra một quyển sách thuốc, trông bên ngoài đã rách sờn, đưa cho Lâm Nương, nói :
- Đây là để trả ơn cô nương!
  Lâm Nương giở một vài trang đầu của quyển sách, thì thấy toàn bùa chú cùng những lời phù phép cả, nhưng lại viết bằng văn tự khoa đẩu. Lâm Nương thầm nghĩ, đây có lẽ là những cách trị bệnh bí tryền, nên cất kĩ, coi như báu vậy, ngày đêm tìm hiểu. Tuy vậy, không khỏi khó khăn vì hình vẽ thì có nhưng những chữ khoa đẩu không dễ dàng đọc được.
  Trong vùng, có một vị tiên sinh thông hiểu đông y, Lâm Nương bèn tới tận nhà xin được thỉnh giáo :
- Trên đời làm y thuật, có thể có cả cách dùng bùa chú, phù phép hay không?
  Vị tiên sinh trả lời :
- Có chứ sao không. Đấy chính là cách thức của Chúc Do thuộc Thần Châu (1). Chỉ có điều gần đây, số thầy thuốc tinh thông thuật này càng ngày càng ít.
  Lâm Nương xin được chỉ cho những điểm cơ bản của thuật này, nên từ đó ít nhiều cũng đọc được những hướng dẫn của sách mà người bệnh kì lạ nọ cho.
  Một hôm, Lâm Nương lên viếng chùa Thiên Ninh. Đường đi khá dài, chân mỏi nhừ, nên khi lên đến chùa, phải ngồi dựa vào lan can bằng đá phía trái chùa nghỉ một hồi. Thấy có một người hình dung cổ quái đi trước mặt, tay cầm lắc những chiếc chuông nhỏ, miệng lẩm nhẩm những lời hình như thuộc một ngôn ngữ xa lạ nào đó. Sau lưng cắm một lá cờ nhỏ, trên viết mấy chữ : Chúc Do khoa, chữa đủ các bệnh nan y. Lâm Nương chợt giật mình, nhìn kĩ người này, râu tóc rất tốt, dáng điệu cho đến hình dung đều khác thường. Lâm Nương chợt nghĩ ra cách giả vờ đau bụng để xin thuốc ông thầy lạ lùng này. Thầy thuốc nói ngay :
- Phải xem cát hung ra sao, sau đó mới biết đường mà trị bệnh! Ta xem tiểu thư có được khí sắc của một vị Bồ tát. Còn như bệnh tật thì không có một chút nào cả đâu!
  Lâm Nương bèn lấy quyển sách ghi y thuật bằng thứ chữ khoa đẩu nọ, xin được thỉnh giáo. Ông thầy lạ nói :
- Đây chính là bản văn chân truyền của Chúc Do khoa. Không hiểu nữ Bồ tát từ đâu mà có được? Có phải có người nào truyền thụ cho không?
  Lâm Nương thưa :
- Con rất muốn học những điều trong sách này. Nhưng từ lâu không tìm được thầy. Nên không hiểu phải bắt đầu từ đâu?!
  Ông thầy lạ đáp :
- Cái này thì không có gì khó. Nhà của nữ Bồ tát cách đây không xa. Hãy quay về thưa với phụ mẫu, rồi tới am Chuẩn Đề, thuộc Thành Tây tìm bần đạo. Bần đạo xin đợi nữ Bồ tát!
  Nói xong, lắc chuông một hồi dài rồi thất thểu đi tiếp.
  Lâm Nương trở về, đem chuyện gặp gỡ lạ kì vừa rồi kể lại cho Bảo Giáp nghe. Và xin cha tự thân đi mời vị thầy thuốc này về để dạy nghề cho mình. Bảo Giáp không tin mà nói :
- Đấy chẳng qua là lũ giang hồ mại võ, chuyên lừa dối người, bán thuốc kiếm tiền, không có bản lĩnh gì cả. Hoặc nếu thật có một bí phương nào đó thì cũng đòi rất nhiều tiền, làm sao mà đáp ứng cho được?
  Lâm Nương nói :
- Con cũng có biết ít nhiều về thuật xem tướng người. Hôm qua quan sát dáng mạo cử chỉ của người này, nhất định không thể là lũ người  giang hồ mãi võ lừa người được!
  Bảo Giáp thấy con vẫn sắt đá tin tưởng nên cũng thử đi xem xét một lần sự thể ra sao. Quả nhiên có gặp vị thầy thuốc giang hồ nọ, và khi nói tới lời thỉnh cầu của Lâm Nương, vị thầy thuốc giang hồ vui vẻ nhận lời.
  Đến ở trong nhà họ Bảo, thầy thuốc ngày ngày sang ngày khác hết lòng truyền thụ kiến thức y thuật bí truyền cho Lâm Nương, theo những điều chỉ vẽ trong sách của người bệnh kì lạ trước kia. Nguyên đều là những phương thuốc ngoại khoa của Chúc Do, ngoài ra còn cả những bí pháp về các mặt khác như : cách châm cứu theo đúng phương sách cổ điển, thuật trị yêu ma, hồ li tinh....Tất cả đều được thầy thuốc giang hồ giảng giải chu đáo, cặn kẽ. Trong vòng ba tháng trời, thầy tận tình, trò sáng tâm quyết chí, nên mọi bí truyền trong nghề, Lâm Nương đều tiếp thu một cách đầy đủ nhanh chóng. Thầy thuốc giang hồ nói với nữ đệ tử :
- Nắm được những bí phương này, đệ tử có thể đi khắp thiên hạ hành nghề mà không thể ai hơn được bản lĩnh. Nhưng đệ tử nên nhớ một điều, ghi xương khắc cốt là không được cẩu thả với những điều mà trời đất đã riêng ban cho đệ tử!
  Lâm Nương băn khoăn, không biết lấy gì để tạ ơn thầy cho xứng đáng, thì thầy thuốc giang hồ như đã biết trước, giảng giải :
- Thưở trước khi ta được học những bí phương này, từng trước các vị tiền bối phải thề rằng, trừ việc ăn uống, không bao giờ dám nhận một đồng tiền của con bệnh cho đến đệ tử. Nay ta gặp được được đệ tử, có người truyền được những sở đắc của ta một cách tin cậy, như vậy cũng là đã may mắn lắm rồi!
  Nói xong, bái biệt cha con Lâm Nương, khoác tay nải, tay cầm chùm chuông lên đường. Lâm Nương từ ấy dùng những bí phương học được, trị bệnh cứu người xa gần, tiếng đồn như cồn. Dòng người tìm đến chữa bệnh, xin thuốc ngày đêm không ngớt. Cảnh nhà cũng ngày một đỡ túng bấn hơn. Nhưng cả hai cha con đều hình như không say mê gì lắm với việc làm giàu, mà chỉ lo tròn chức nghiệp lương tâm của một thầy thuốc mà thôi!
  Lúc này, vùng Tứ Xuyên có công tử họ Quý. Nghe đồn là từ kinh đô tới, vì nghe đồn vùng Càn Giang phong cảnh non xanh nước biếc, con gái đẹp như mây ngũ sắc nên Quý công tử đem theo hàng chục vạn lạng bạc đến Càn Giang vui chơi. Suốt ngày đêm vật vờ chốn ngõ liễu lầu hoa, nhưng rồi vẫn chưa tìm thấy một người đẹp để có thể gắn bó suốt đời.
  Trong ngõ Lục Gia, đám kĩ nữ có một cô gái họ Cố, tên là Lân Anh, tài sắc đều vào loại nhất đẳng, sinh trưởng trong một gia đình bần hàn, vào làng ca kĩ từ sớm. Cha của Lân Anh làm tiểu lại trong huyện đường, gia đạo trong sạch, cũng không muốn con gái theo nghề ca xướng, làm tì thiếp cho người, vì vậy vẫn cố dạy con gái giữ phẩm cách của mình.
  Một lần công tử họ Quý tới dự tiệc rượu ở nhà một thương gia buôn muối giàu có. Ngồi xe ngựa, tình cờ đi qua ngõ Lục Gia, gặp được Lân Anh ngoài cổng viện. Quý công tử vô cùng kinh ngạc trước sắc đẹp Lân Anh. Không thể ngờ mòn gót sắt tìm kiếm không ra, tình cờ lại thấy ngay trước mắt như người xưa vẫn nói. Mới sai người dò hỏi, biết rõ Lân Anh con nhà lương thiện, Quý công tử chưa nghĩ ra cách gì để có được Lân Anh, nên mới đem chuyện bàn với một người bạn là Mã Dược Hiên.
  Dược Hiên vốn là hàng thân sĩ ở Dương Châu, nghe xong cười nói :
- Cha của Lân Anh thì đệ đây có biết. Con người này tính tình trong sạch, khó có thể dùng tiền để mua chuộc được trong chuyện này. Chỉ có thể dùng thế lực để uy hiếp ông ta mà thôi. Xin huynh chờ cho khoảng một tháng, thì viên ngọc minh châu cũng sẽ trong tay chúng ta thôi.
  Nói xong liền sai một mụ mối họ Dương tìm đến nhà họ Cố đánh tiếng. Họ Cố nghe xong, tức giận, lên tiếng trách cứ Dương bà. Dương bà cậy thế họ Mã, họ Quý, lớn tiếng cảnh cáo họ Cố :
- Việc này mà thành, thì ông anh sẽ là thượng khách trong nhà công tử họ Quý sang trọng giàu có. Việc không thành, ông anh sẽ là người tù trong nhà ngục của chính huyện đường!
  Họ Cố tức giận, tát cho Dương bà một cái đau điếng. Dương bà khóc lóc ôm mặt chạy về kêu khổ với công tử họ Quý. Họ Quý liền chạy đến bàn bạc với Dược Hiên. Dược Hiên nghe xong, ra chiều nghĩ ngợi rồi nói với công tử họ Quý :
- Hiện nay trong nhà giam của huyện đường có hai tên trọng phạm. Sắp tới nhất định sẽ bị định án rất nặng. Phải lập tức hối lộ bọn ngục tốt, khiến chúng để hai tên tội phạm này khai là có đi lại với tiểu lại huyện đường họ Cố. Họ Cố cũng trở thành tội phạm rồi, ta cho người thương lượng. Nếu nạp Lân Anh thì sẽ thoát chết. Nếu không thì sẽ rũ xác trong nhà ngục.
  Quý công tử hoa chân múa tay :
- Thật là diệu pháp!
  Lân Anh mồ côi mẹ từ nhỏ, vì vậy rất kính hiếu với cha. Đến tuổi đi lấy chồng, người đến cầu hôn không ít, nhưng họ Cố kén rể khắt khe, nên đến nay chuyện hôn nhân vẫn chưa xong. Khi Dương bà đến nói chuyện của công tử họ Quý, thì Lân Anh ngồi trong phòng trong, nghe rõ mọi chuyện. Đến khi Dương bà về rồi, nuốt nước mắt khuyên cha :
- Người ta vừa có tiền vừa có thế, thôi thì nghe theo người ta cho yên ổn mọi bề. Cha đừng nên cố chấp, rồi tai họa ập đến bất ngờ không thể nào tránh được đâu!
  Những lời này dẫu họ Cố có nghe hay không thì cũng không kịp nữa rồi. Bọn này câu kết nhau, đến bắt họ Cố tống vào nhà ngục, tra tấn thừa sống thiếu chết. Lân Anh biết chuyện, gào khóc như điên, nghĩ rằng mọi chuyện sinh ra thế này cũng bởi chính mình mà ra, giờ chỉ có cách đến tận nhà công tử họ Quý đầu hàng, thì có thể cứu được cha ra khỏi nhà ngục. Cho nên, Lân Anh mới dò hỏi nơi ở của công tử họ Quý, viết một tờ giấy tình nguyện nghe theo mọi yêu cầu của họ Quý, rồi ăn mặc bình thường tìm đến gặp họ Quý.
  Lúc này, Quý công tử đang vui đùa cùng một cô kĩ nữ, tên gọi Vân Tiên. Vân Tiên là kĩ nữ nổi tiếng hiện nay trong số các kĩ nữ của thành Dương Châu. Công tử họ Quý thuê hẳn một chiếc thuyền lớn, theo dọc sông Trường Giang cùng Vân Tiên, uống rượu ca hát không còn biết sớm tối. Nhân khi thuyền vừa neo lại, Lân Anh chạy đến, trèo lên thuyền. Sóng to gió cả, cầu thuyền chao đảo hất Lân Anh xuống, người va vào nạm thuyền, máu chảy như xối. Đầu và mắt đều bị thương nặng, ngất đi. Quý công tử chưa biết đầu đuôi ra sao, vội lệnh cho phu thuyền vớt lên. Công tử họ Quý hỏi nguồn cơn, có người biết thưa :
- Đây chính là Lân Anh, con gái họ Cố!
  Lại thấy Lân Anh tay vẫn cầm một cuộn giấy không chịu bỏ, công tử họ Quý liền gỡ ra xem sao, thì ra là thư mà Lân Anh đã viết trước khi đi tìm gặp họ Quý.
  Gọi thầy thuốc đến, xem xét một hồi, thầy nói không cứu được nữa. Công tử họ Quý mặt mày xám như đất, không còn biết xoay sở ra sao. Luôn miệng gào như điên :
- Thật đáng xấu hổ! Thật đáng xấu hổ!
  Rồi quay ra nói với mọi người đang xúm lại xem sự tình rất đông :
- Ai có thể cứu sống được Lân Anh, xin biếu hai nghìn lạng bạc tạ ơn!
  Một phu thuyền tên Lí Thất Tẩu thưa với họ Quý :
- Vùng này có một người tên là Bảo Lâm Nương. Một bậc thần y, trong túi thuốc của vị thần y này bao giờ cũng có một vài viên phản sinh hương, hoặc hoàn hồn đan, khiến người chết có thể sống lại. Xương trắng, thịt nát còn làm được, thì chỉ cần Lâm Nương đến cho, lo gì Lân Anh không sống lại !
  Công tử họ Quý hỏi :
- Nếu đúng Lâm Nương có tài cải tử hoàn sinh như vậy, sao không nói sớm?
  Liền sai ngay một bọn đi mời Lâm Nương. Không bao lâu, Lâm Nương xuất hiện, nhìn kĩ thi thể Lân Anh, nói :
- Cô gái này hồn lìa khỏi xác, xuống huyệt mộ rồi, chỉ trừ Diêm Vương xuất hiện, may ra cứu được mà thôi!
  Công tử họ Quý khổ sở lạy lục xin cứu mạng, nguyện đền công tái tạo của nữ Hoa Đà ngay một nghìn lạng vàng. Sau đó xin đem tận nhà thầy ba trăm lạng thạch lương thực. Lúc bấy giờ, vùng Sơn Đông của sông Hoàng Hà vỡ đê, có tới hơn mười huyện dân chúng đói kém, chết hàng mấy trăm người. Dẫu có nhiều người muốn cứu giúp, nhưng phần lớn lực bất tòng tâm. Lâm Nương nghe Quý công tử nói như vậy, bèn lên tiếng cho mọi người cùng nghe :
- Ta chữa bệnh không bao giờ cầm tiền của người bệnh. Hiện giờ công tử cũng đang hối hận thực lòng vì những tội lỗi gây ra, nếu công tử bằng lòng bỏ ra một vạn lạng giúp dân chúng Sơn Đông trong cơn tai họa lớn, thì ta cũng nguyện giúp công tử một tay, trổ hết nghề mọn của mình. Nhưng nếu công tử không chịu thực thi lời hứa, thì ta không có cách gì cứu cô gái này đâu!
  Công tử họ Quý vội đáp :
- Chỉ cần thầy làm cho Lân Anh sống lại được, thì một vạn lạng, họ Quý này thật không dám tiếc!
  Lập tức, Lâm Nương khiến cho một con mắt của Lân Anh bị lòi ra ngoài trở về vị trí cũ. Mở túi của mình, lấy ra một viên thuốc trắng như sáp, nhét vào miệng cũng đang bị rách nham nhở, sai lấy một bát nước dùng tay thư lên trên mặt (2), rút một trâm ngọc cài trên đầu, tiếp tục một lần nữa cạy miệng Lân Anh đổ nước vào cho viên thuốc trôi xuống. Sai lấy khăn bông êm, lau sạch các vết máu, phủ chăn ấm lên người Lân Anh, nói :
- Không được động vào người bệnh!
  Nửa canh giờ sau, chính tay Lâm Nương mở chăn ra cho Lân Anh, nói :
- Sống rồi!
  Công tử họ Quý lại gần, thấy rõ ràng môi hồng như hoa đào của Lân Anh đã lại linh động mười phần, hai mắt nhấp nháy trong suốt như vẫn còn chói bởi ánh sáng đột ngột. Vừng trán trắng trẻo mịn màng, rồi từng giọt nước mắt chảy tràn xuống hai má. Lâm Nương lên tiếng :
- Ta chỉ có thể làm sống lại vết thương thể xác cho Lân Anh. Còn vết thương tinh thần thì ta không làm được! Chỉ cần cho cha con họ gặp nhau nữa, thì Lân Anh có thể nói được bình thường hoàn toàn!
  Công tử họ Quý đáp :
- Việc này không khó!
  Liền sai người tìm ngay Dược Hiên, để Dược Hiên thương lượng với huyện đường cùng bọn ngục tốt, thả ngay họ Cố ra. Cha con gặp nhau, mừng mừng tủi tủi. Lân Anh nức nở không thành lời :
- Cha con được gặp nhau thế này cũng bởi con có trời xanh....
  Mọi người đều không ngớt lời bàn tán tránh cãi những chuyện lạ lùng này, nhưng tất cả đều đồng tình ở một điểm, sự hiếu thuận của Lân Anh.
  Công tử họ Quý để cho họ Cố mang con gái về, sau đó nhờ mối lái đến tận nhà bày hương án xin lỗi chuyện xưa cho công tử họ Quý. Nhân đấy, chính thức xin được làm con rể. Họ Cố bằng lòng, nhưng đến khi thương lượng cùng con gái, thì Lân Anh nhất định không chịu, nói :
- Cha cùng công tử họ Quý, không thể làm chuyện này được. Mở đầu không trong sáng, mà dẫn tới hôn nhân, chuyện không trôi chảy chút nào. Đại họa giáng xuống, ai cũng biết do chính công tử tạo thành. Hôn nhân đâu thể xây trên cừu hận như vậy cho được? Chẳng qua bây giờ thấy nhan sắc con như vậy, công tử xứng ý, điều gì cũng có thể làm. Mai kia thấy chỗ xinh đẹp hơn, thì lại theo thói quen có mới phụ cũ. Phận con sẽ ra sao? Chi bằng quyết từ chối, cắt ngay mọi quan hệ với họ Quý là hơn!
  Họ Cố nghe theo ý con, nói với công tử họ Quý :
- Con gái chúng tôi sinh ra trong cảnh nghèo hèn, chịu khổ đã quen, thật không thể học thói giàu sang được. Nếu công tử quyết cưỡng cầu, chỉ sợ lại dẫn đến chuyện không tốt đẹp gì cho cả hai bên, thêm mất cả cái lòng hướng thiện thật to lớn của công tử!
  Quý công tử nghe ra, sợ xảy chuyện lôi thôi đáng tiếc, nên cũng không dám ép hai cha con họ Cố.
  Lân Anh cũng biết, mình sống được là do công ơn lớn của Lâm Nương, nên ngồi kiệu đến tận nhà Lâm Nương tạ ơn. Hai người gặp nhau lần đầu mà như đã quen thân từ lâu. Lân Anh nói :
- Chị dùng phương thuốc kì diệu nào mà khiến em có thể cải tử hoàn sinh? Thật là không phải sức người có thể làm những chuyện như vậy đâu!
  Lâm Nương nói :
- Đấy chính bởi em có phúc phận lớn, chứ còn ta thì có công lao, tài năng gì đâu!
  Lân Anh hỏi tiếp :
- Thuật làm thuốc của chị có thể truyền cho người khác không?
  Lâm Nương trả lời :
- Sao lại không? Nhưng em thì không có duyên phận học được y thuật của ta đâu!
  Lân Anh nói rõ tình nguyện làm đồ đệ của Lâm Nương suốt đời. Lâm Nương giảng giải :
- Hiện giờ em đang gặp những chuyện lôi thôi, nhưng chẳng bao lâu em sẽ là người của cảnh phú quý giàu sang, chứ không phải là em không học được y thuật. Ta có một lá bùa cùng một viên thuốc. Mai này chồng của em sẽ gặp nạn lớn. Em dùng lá bùa dán, còn thuốc thì cho uống, tai nạn sẽ qua khỏi. Hai thứ này, em nhớ phải luôn đem bên mình!
  Lân Anh bái tạ ra về, cầm theo lá bùa và viên thuốc cất kĩ.
  Từ ngày Lân Anh vì muốn cứu cha mà gặp nạn lớn, gương hiếu hạnh của Lân Anh vang dội khắp xa gần. Một học trò trong huyện tên là Chu Âu Liên, nghe nói Lân Anh xin đẹp hiền thục, liền bỏ một lễ thật lớn đến hỏi Lân Anh làm kế thất. Vợ chồng xum họp vô cùng hòa thuận, chẳng khác gì như cá gặp nước. Âu Liên năm ấy thi đậu cử nhân. Mùa xuân năm sau, thi đậu tiến sĩ. Được bổ làm huyện lệnh, việc quan rất trong sạch, công bằng, sáng suốt nhất là trong các việc án từ, nên được dân trong hạt tôn xưng là thần minh.
  Không lâu, Lâm Huyện có giặc nổi, cướp đoạt công khố, giết hai quan lại, thế rất xương cuồng, trăm họ vô cùng hoảng sợ, phong thanh hạc lê, thảo mộc giai binh (3). Lũ giặc đánh vào huyện thành, quan tri huyện dẫn tráng đinh ra khỏi thành chống cự rất gan dạ. Bọn cướp chống không nổi, đành bỏ chạy. Âu Liên dẫn tránh đinh đuổi theo. Một người một ngựa, vượt lên hàng đầu, qua một chiếc cầu nhỏ, không trông thấy gì phía trước nữa. Quay ngựa trở lại, không may bị một tên cướp trốn dưới cầu trông thấy, chạy lên, chém ngay một nhát vào cổ Âu Liên. Quan tri huyện còn kịp chém trả một nhát kiếm xả vai tên giặc, khiến y ngã nhoài không thể đứng dậy được nữa. Nhưng quan huyện cũng không hơn gì, nằm sóng soài trên mình ngựa, không thể gượng dậy, mặc cho ngựa phi về. Đến cổng thành, mọi người xúm lại, đỡ quan huyện xuống. Lân Anh nghe tin, vội chạy ra, gào lớn :
- Sao đến nỗi thế này !
  Sực nhớ ngay những lời dặn của Lâm Nương, lấy ngay bùa cùng thuốc vẫn thường xuyên đeo trong mình, bùa dán lên vết thương sâu ngay cổ Âu Liên, cạy miệng cho viên thuốc vào, đổ nước trôi xuống. Lấy chăn đắp kín, chẳng khác gì cách mà Lâm Nương dùng để cứu Lân Anh dạo trước. Nửa đêm nghe tiếng quan tri huyện rên khẽ, Lân Anh nhẹ nhàng mở chăn, thấy Âu Liên như đang định nhỏm dậy, miệng nói vẫn còn ngượng nhưng nghe vẫn rõ :
- Ta mệt quá !
  Nhìn vào vết thương ở cổ thì đã không còn, chỉ thấy mờ mờ một vết tròn như đường chỉ đỏ mà thôi!
  Về sau, Chu Âu Liên vì có chính tích tốt, nên được thăm làm giám ti. Còn Bảo Lâm Nương thì không biết đi đâu!
Nguyên văn : Bảo Lâm Nương. Quyển 7.
 
 
 
---------------------------
Chú thích :
1. Chúc Do : một cách chữa bệnh mê tín của người cổ đại, bằng bùa và niệm chú. Đời Nguyên và Minh, Thái y viện chia các môn loại đông y ra làm mười ba khoa, trong đó có chúc do khoa.
2. Thư : dùng tay vẽ viết lên trên không để làm phép cho một vật nào đó, mà không chạm tới vậy đó. Thường là để làm phép cho thuốc, chữa bệnh...
3. Phong thanh hạc lê, thảo mộc giai binh : thành ngữ. Bồ Kiên bị quân Tấn đánh bại, chạy suốt đêm, khiếp sợ đến nỗi trông cây cỏ, nghe tiếng hạc, tiếng gió thổi đều nghĩ là giặc đuổi đến nơi.
Beautiful things happen when you love someone.
Đăng nhập để trả lời
0
Tiên Ông Đảo Bồng Lai Lạc Dung Sơ
  Cừu Trọng Lang là danh sĩ Giang Tây, gia tư giàu có, vợ Trọng Lang là con gái của một hào phú. Vợ chồng hòa mục, phu xướng phụ tùy, gia đình rất êm ấm. Người anh ruột của Trọng Lang tên gọi Bá Niên. Cả ba khoa đều đậu đầu, mang danh thám hoa, ra làm thứ sử Hán Dương. Đã lâu anh em không gặp nhau, Trọng Lang định đi Hán Dương thăm anh, đúng lúc có thư của Bá Niên, bảo Trọng Lang tới, cho nên Trọng Lang lên đường đi Hán Dương ngay.
  Tới Hán Dương, Trọng Lang ở trong ba gian nhà sạch sẽ của lầu phía tây trong dinh quan thứ sử Hán Dương, bài trí thanh nhã khiến Trọng Lang thấy dễ chịu vô cùng. Tính tình Trọng Lang vốn ngại giao tiếp với mọi người, chỉ ham tìm thăm các thắng cảnh thiên nhiên, trèo non lội suối. Trong nha môn, ai có phận sự ấy, nên chuyện phiền nhiễu cũng không khiến Trọng Lang phải ứng phó gì cả!
  Một hôm, có một người trong nha phủ dẫn tới giới thiệu với Trọng Lang một vị khách. Trông dáng ít tuổi, lại khôi ngô, tài bộ. Hai người trò chuyện, có vẻ hoà hợp. Khách tự kể về mình, là người ở đất Yên, họ Lạc, tên Dung Sơ. Nhiều năm theo đòi nghiên bút nhưng vẫn chưa đỗ đạt gì, nên bỏ văn theo võ, may gặp được sư phụ chân truyền, nên rất tinh thông kiếm thuật.
  Trọng Lang cũng thường tới phòng trọ của Dung Sơ đáp lễ. Thấy trong phòng trọ không có gì, trừ một hộp đựng đàn, một vài thứ hành lý bình thường, Trọng Lang nói :
- Anh nói học được kiếm thuật chân truyền, nhất định phải có một cây kiếm quý như Can Tương Mạc Gia (1) chứ?
  Dung Sơ đáp :
- Thanh kiếm của tôi, không một thanh nào trong cõi người này có thể sánh được.
  Nói xong, Dung Sơ ngửa cổ, đưa tay vỗ nhẹ vào yết hầu :
- Chủy thủ của tôi chỉ hơn một thốn, giấu ngay trong này. Nhưng xin anh hãy giữ kín điều này hộ cho! Đừng để bất kì một người nào ngoài hai chúng ta biết!
  Trọng Lang cười, nhưng trong lòng không tin Dung Sơ!
  Bỗng nhiên, Trọng Lang bị ốm, trong lúc đang nhớ về quê hương gia đình thì Dung Sơ tới chơi. Trọng Lang hỏi Dung Sơ :
- Thời xưa có chuyện Liệt Tử bay được, Dương Quyền có thuật rút đất, trong một khắc có thể đi được hàng nghìn dặm, không chút khó nhọc gì. Như thế mới gọi là chân tiên vậy!
  Dung Sơ cười đáp :
- Chuyện ấy chẳng qua chỉ là phép thuật nhỏ của các vị kiếm tiên tầm thường. Không có gì làm lạ. Bây giờ anh muốn đi đâu? Tôi sẽ làm anh thỏa nguyện ngay, mà cả tôi cùng anh đều không khó nhọc gì cả!
  Nói rồi, Dung Sơ lấy trong ống tay áo của mình ra một cái khăn nhỏ, đưa cho Trọng Lang, nói :
- Hãy trải cái khăn này ra, rồi anh đứng vào thì sã được bay lên. Anh định đi đâu thì nó sẽ đưa anh tới đó!
  Trọng Lang theo lời, thấy mình cùng khăn từ từ bay lên thinh không, nhẹ nhàng lướt giữa những đám mây, chỉ nghe bên tai tiếng gió thổi khá mạnh, nhưng không làm chao đảo được người cùng khăn. Nhìn xuống dưới mặt đất, thấy rõ nhà cửa ruộng vườn núi sông đường xá bày ra dưới mắt, trông chẳng khác gì tranh vẽ. Khăn dừng lại, Trọng Lang thấy mình đã đứng ngay trên mặt đất, yên lành không chút mệt mỏi. Nhìn mọi vật chung quanh kĩ hơn, Trọng Lang nhận ra nơi này chính là ngay phía tây thôn nhà, cách cơ ngơi gia đình Trọng Lang chỉ vài chục bước chân mà thôi! Trọng Lang từ từ ngắm mọi vật như muốn xác định là chúng có thật, trong khi từng bước chậm rãi đi về nhà mình.
  Vào nhà, vợ Trọng Lang còn chưa đi ngủ. Thấy chồng, ngạc nhiên :
- Sao lại thế này? Ngày hôm qua nhà còn nhận được thư nhờ họ La cầm  về, anh nói ba bốn năm nữa mới về kia mà! Sao cách một ngày đã lại thấy ở nhà thế này? Em thật không ngờ có chuyện đáng mừng như thế này. Từ ngày anh đi, đến giờ cũng đã gần ngày em sinh. Nếu anh không về được thì cũng thật tủi phận. Giờ thì an tâm rồi!
  Trọng Lang hỏi :
- Sao chuyện mừng này em không nói sớm?
  Người vợ đáp :
- Chuyện này đối với phụ nữ chúng em, dù là viết thư, dù là nói bằng lời đều rất khó khăn. Nên thường thỉ để cho người đàn ông tự nhận ra thôi !
  Vợ chồng Trọng Lang cửu biệt tương phùng, muôn phần đầm ấm. Chuyện chẳng cần phân giải dài dòng.
  Sáng ngày hôm sau, Trọng Lang dạy sớm, ra vườn sau. Một con hạc trắng, ngậm một lá thư, trên chỉ có mấy chữ : Trong vệ môn của quan thái thú có chuyện, xin đến ngay cho!
  Trọng Lang đang ngấm nghía lá thư thì con hạc, nãy giờ đậu ngay cạnh, ngậm ngay tờ thư bay vụt lên trời cao, trở về đơờng Hán Dương mất hút. Trọng Lang vô cùng lo lắng, lớn tiếng gọi chim hạc, thì bỗng ngay Trọng Lang cũng vụt bay theo hướng chim hạc, lẫn giữa những mảng mây ngũ sắc. Người vợ Trọng Lang đang chải đầu trước gương bên cửa sổ, biết có chuyện, vội chạy ra, còn nghe được tiếng Trọng Lang từ trên cao vọng xuống :
- Ta đi đây!
  Thế rồi Trọng Lang cũng mất hút sau những đám mây phiá chân trời. Người vợ Trọng Lang vô cùng hoảng hốt, không biết những chuyện từ hôm qua đến giờ là thực hay là mơ nữa? Khóc khóc mếu mếu, chạy vào nhà, thì áo quần mặc ngoài tối qua của chồng vẫn còn mắc trên tường. Đồ đạc lặt vặt vẫn còn trên bàn. Nửa tháng sau, nhận được tin của Trọng Lang, mới biết chồng vẫn yên ổn ở Hán Dương, những chuyện vừa rồi là phép thuật của Dung Sơ, một người bạn mới quen mà thôi. Lúc này ngừơi vợ mới yên lòng.
  Trọng Lang quay về Hán Dương, hỏi chuyện Dung Sơ. Dung Sơ cười nói :
- Vì thấy anh nhớ nhà, nên muốn anh khỏi bệnh vui vẻ. Nay khăn nhỏ còn đây, xin tặng anh. Khi nào cần đi đâu khỏi khó nhọc!
  Từ đó hai người thân thiết hơn nhiều. Trọng Lang có chuyện gì nghi hoặc đều được Dung Sơ chỉ dẫn tận tình, hợp lý hợp tình, nên đều thành công trọn vẹn.
  Một hôm, viên lại giữ ấn tín trong dinh thứ sử lấy ấn, có giấy tờ cần đóng thì không thấy ấn đâu nữa. Cả dinh thứ sử như có hỏa hoạn, ầm ĩ suốt ngày đêm, tất cả mọi chỗ bị xáo tung, như sau một trận địa chấn nhỏ vậy. Vẫn không tìm thấy. Nhân lúc ấy, Dung Sơ vào chơi với Trọng Lang. Biết chuyện, Dung Sơ thản nhiên :
- Sao không múc cạn giếng nước trước sân phủ đường mà tìm?
  Mọi người đành nghe theo, quả nhiên thấy ấn. Mọi người đều cho Dung Sơ là thần toán tử, đối với họ Lạc càng thêm kính trọng.
  Người anh Trọng Lang, quan thứ sử Bá Niên vì việc án từ phải lên tỉnh đường giải quyết. Mọi việc ở phủ đường đều giao cho một thuộc lại tin cậy trông coi. Trọng Lang nhàn rỗi, thường cùng Dung Sơ ra bên ngoài thăm thú phong cảnh núi sông. Buổi trưa hôm ấy, cả hai ghé vào một ngôi chùa cổ nghỉ. Ngôi chùa vốn là nơi thắng cảnh của vùng Hán Khẩu. Ngày hai người ghé vào lại gặp đúng khi hội hàng năm của chùa. Hòa thượng trụ trì cùng các nhà sư cho đến các chú tiểu trong chùa vô cùng bận rộn, nhưng khi biết Trọng Lang là em ruột của quan thứ sử bản hạt thì tiếp đón rất niềm nở. Bên cạnh lầu chuông, nhà chùa dành hẳn một nhà lầu nhỏ để tiếp khách quý, chung quanh là hoa viên đủ màu xinh đẹp theo kiểu một nhà chùa. Hòn giả sơn tinh tế soi bóng xuống mặt hồ ngay trước gác nhỏ trôn ra. Phong cảnh vô cùng yên tĩnh trong lành, khác hẳn cảnh nhốn nháo trong dinh thứ sử, khiến Trọng Lang vô cùng thích thú, đi đi lại lại ngắm không chán.
  Không lâu, bỗng thấy hai ba thiếu nữ xuất hiện, tóc vấn cao, ăn mặc trang nhã, Trọng Lang cho rằng có lẽ đây là những thiếu nữ đến giúp nhà chùa trong ngày trọng lễ chăng? Tất cả đều có nhan sắc lẫn dáng điệu nhan sa cá lặn. Họ đi qua sát bên Trọng Lang rồi nhẹ nhàng leo lên từng bậc của gác chuông. Lên đến từng thứ bảy, từng cuối cùng, cả bọn đứng ngoài lan can nhìn xuống. Gió nhẹ thổi tà áo bay phất phơ, không khác gì tiên nữ giáng trần, khiến Trọng Lang ngây ngất, hồn phách bay bổng, vô cùng ái mộ, hỏi Dung Sơ :
- Thật là khuynh quốc khuynh thành! Ta từ trước đến giờ chưa trông thấy những thiếu nữ phong vận như vậy! Không biết họ có phải là những thần nữ của sông Hán Thủy giáng trần để xem lễ hội của chùa này chăng?
  Dung Sơ cười mà trả lời có phần trào phúng :
- Anh sao mà nhãn quan hẹp hòi đến vậy? Hôm nay, trên đảo Bồng Lai, tiên Vân Lan mở hội Băng Đào, mời chúng tiên tới vui trò đầu hồ (2) cùng thi cờ. Nếu anh muốn trông thấy những mĩ nhân thực sự, sao không theo tôi tới đó chiêm ngưỡng một phen! Nhưng có ước pháp tam chương (3) như thế này : Một là chỉ nhìn bằng mắt thôi, hai là không được quay đầu nhìn lại, ba là không được tỏ tình!
  Trọng Lang bằng lòng :
- Xin vâng theo anh!
  Dung Sơ hỏi :
- Anh có giữ cái khăn hôm trước trong người không? Hãy dùng cái khăn đó mà bay lên cõi tiên!
  Nói rồi, Dung Sơ giơ chổi phất mạnh, hóa thành một con rồng. Dung Sơ cưỡi rồng bay trước dẫn đường. Trọng Lang ngồi trên khăn theo sau. Càng cao, mây mù che khuất, không còn nhìn thấy gì bên dưới nữa!
  Khoảng độ một khắc giờ, một con anh vũ màu hồng từ phương đông bay lại, xà vào lòng Dung Sơ. Dung Sơ quay lại nói với Trọng Lang :
- Con anh vũ này tôi nuôi trong nhà. Hôm nay không hiểu sao ra được khỏi lồng bay đến tìm chủ thế này?
  Chuyện chưa nói xong, đã thấy một a hoàn, đem theo một lồng chim, đuổi theo. Trông thấy Dung Sơ, thi lễ rồi thưa :
- Dao Hoa nương tử bảo thiếp đem con anh vũ này tặng cho Đổng Song Thành. Đi qua Ngọc Trì, nó xin tắm, mới mở lồng cho ra. Nó bay vụt không bắt kịp. Không hiểu sao biết mà bay đến đây với chủ nhân?
  Anh vũ ra vẻ biết lỗi, lắc đầu nói với a hoàn :
- Anh vũ không muốn đến ở nhà tiểu thư Đổng Song Thành đâu! Nên nghĩ ra tiểu kế xin tắm để ra khỏi lồng thôi! Nay xin được chủ nhân trở về!
  Dung Sơ nghe xong đối đáp này, nói với a  hoàn :
- Nói với nương tử, anh vũ này rất thông minh, chúng ta sẽ vẫn nuôi nó, không cho ai cả!
  Sau đó Dung Sơ bảo anh vũ chui vào lồng, để a hoàn về nhà. Anh vũ nhìn thấy Trọng Lang, bèn nói :
- Thư sinh này còn mang cốt cách phàm trần. Chủ nhân sao không dùng Thanh ngọc chân cao hợp để tẩy trần tục trong người thư sinh đi!
  Dung Sơ mắng :
- Mau tơở về! Đừng nhiều lời !
  Bọn họ bay trong khoảng vài chục dặm nữa, thì trông thấy bên dưới là biển nước mênh mông. Thuyền bè đi lại nhỏ li ti như những đồ chơi trẻ nhỏ. Trọng Lang theo Dung Sơ hạ dần độ cao, xuống sát mặt biển, thì một hòn đảo nhỏ hiện ra, cờ quạt lớn nhỏ đủ màu bay trong gió. Dung Sơ giơ tay chỉ một tòa núi ở một hòn đảo phía đông, nói :
- Đấy chính là Bồng Lai tiên đảo!
  Càng đến gần, càng thấy đảo xanh một màu cây xanh mượt mà. Thấp thoáng những lâu đài cao vút, những kiến trúc đền tháp chọc trời. Dung Sơ cùng Trọng Lang hạ xuống mặt đất. Trọng Lang cười, nói :
- Giờ mới đúng như thành ngữ vẫn nói : Cước đạp thực địa (4)!
  Họ đi vào một vườn hoa rộng. Trọng Lang chưa bao giờ trông thấy một vườn hoa tương tự như vậy dưới phàm trần, ca ngợi không ngớt :
- Thật đúng là cảnh thiên đường có khác!
  Theo con đường giữa muôn hoa, rẽ lắt léo phải trái một hồi, thì đến một chân núi, suối chảy từ bên trên sườn thoải xuống trắng bạc, hiền hòa, như một giải lục mềm phơi trong nắng xuân sớm. Hai bên bờ suối thoai thoải cát vàng cùng những bãi sỏi cuội tinh khiết là những biệt thự tranh cao với những hàng tùng bách, pơ mu hàng nghìn năm tuổi, vừa cùng với các loài cây lá cành xum xuê tươi tốt. Hương thơm của muôn hoa của hổ phách nghìn năm tuổi chan hòa trong không khí trong suốt thanh sạch. Đến cuối dãy núi, có biển đề bằng chữ thảo duyên dáng ngay bên đường : Diên Thanh Các. Nhìn vào, trong các hình như không có người. Cả hai đường hoàng bước vào sảnh lớn : bày đủ các loại văn phòng tứ bảo. Dung Sơ giảng giải :
- Đây là nơi Vân Hòa phu nhân luyện tập thư pháp. Hãy đi tìm đến chỗ Vân Lan tiên tử, nhưng có lẽ còn sớm. Ta đi dạo một vòng cũng thêm được ít nhiều kiến văn cho anh!
  Ra khỏi Diên Thanh Các, cả hai quay về hướng nam, thấy phía trước năm ngọn núi nhọn chĩa thẳng lên trời xanh, trông rất giống Ngũ Đài Sơn nơi trần thế, nhưng đẹp hơn nhiều. Ngay ở chân ngọn núi đầu tiên, những chữ triện tô vàng, khắc thật lớn trên vách đá : Ngũ Trương Nhân phong. Mỗi một ngọn có một tên riêng. Qua khỏi những ngọn núi này, một con đường mở ra, thì đến Phù Mi lâu. Bốn chung quanh Phù Mi lâu cũng là những ngọn núi nhấp nhô ẩn hiện trong mây ngũ sắc ngay bên đường đi, như giơ tay là có thể bắt được, nhưng bắt rồi mới thấy chỉ là như khí sương dưới trần, thật đấy mà lại không thể nào cảm nhận bằng trực giác được. Lầu gác của Phù Mi lâu mang một màu xanh nhạt phù hợp với cảnh trí xanh đậm của rừng tùng bách chung quanh chân núi. Hai người bước vào, trên dưới sáu phong lớn, cửa trông ra cả hai ba phía. Đây là khu vực tàng thư của đảo. Trên tường treo toàn những thư pháp nổi tiếng của các thư pháp gia. Mười người có chữ treo ở đây, thì đến chín người Trọng Lang chưa một lần nghe. Trên bàn, trên giá là đủ các ấn chương, thật không thể nào đếm hết. Những phòng sách, có lẽ ở tầng trên.
  Trọng Lang xin với Dung Sơ dẫn mình lên tầng trên, xem phòng sách. Những giá sách cao ngất, chen nhau hết cái này đến cái khác, kín cả ba gian rộng. Trọng Lang không thể nào tưởng tượng một khối lượng sách lớn như vậy là có thực, nếu không được đến đây. Trọng Lang rút tình cờ một quyển xem, sách của Đạo giáo, giảng về thuyết trường sinh bất lão. Giữa một phòng, hình như phòng giữa, có một bàn lớn, trên đặt một chiếc đàn không hiểu loại gì. Dung Sơ nâng lên, nhẹ nhàng gẩy một khúc gọi là Mai hoa tam lộng.
  Nhạc khúc chưa xong, bên ngoài nghe có tiếng xôn xao. Dung Sơ cùng Trọng Lang ra ngoài vườn hoa lớn trước Phù Mi lâu, thì thấy các tiên nữ đã bắt đầu đến. Kẻ trước kẻ sau, có tiên nữ tới bằng cưỡi gió cưỡi may, có tiên nữ thì ngồi trên hạc trắng, hạc xanh phớt, có tiên nữ cưỡi rồng xanh. Tất cả chi trên dưới mười sáu mười bảy, đều rực rỡ như hoa xuân, như trăng rằm. Họ ngồi thành hai dãy, mỗi dãy hai mươi tiên nữ, chỉ riêng Dung Sơ và Trọng Lang là đàn ông. Nhạc nhẹ nổi lên, tiếng nghe gần mà xa. Họ đều như nhận ra sự xuất hiện khác thường của Trọng Lang, nhưng không nói gì, không chào hỏi, một khoảng cách lịch sự không dễ vượt qua. Một tiên nữ lại gần Dung Sơ, hỏi han gì đấy. Trọng Lang nghe không rõ, Dung Sơ dẫn tiên nữ này lại chỗ ngồi của Trọng Lang, giới thiệu :
- Đây là Vân Lan tiên tử!
  Cả ba trò chuyện hàn huyên từ ngày xa nhau, bước đầu biết nhau. Một bên tiên, một bên tục. Băng đào hội bắt đầu, những quả đào được đem ra, màu sắc hài hòa trên những đĩa san hô. Mỗi người một quả. Chưa ăn, nhưng hương thơm dịu mát đã lan tỏa đâu đây. Tiên nữ ngồi cạnh Trọng Lang nói :
- Loại đào này, ba nghìn năm kết quả một lần. Những quả này đã có tuổi ba nghìn hai trăm năm, nên hương vị có tốt hơn.
  Rồi không cần người giới thiệu, tiên nữ quay sang Trọng Lang :
- Cừu Trọng Lang công tử, may mắn được dự Băng đào hội lần này thật là có duyên lắm! Phúc thật không nhỏ đâu!
  Trọng Lang lên tiếng :
- Thật cảm tạ những lời thiện ý của tiên tử!
  Dung Sơ lúc này cũng từ chỗ của Vân Lan tiên tử trở về, ngồi bên Trọng Lang cũng lên tiếng góp chuyện :
- Lần hội bàn đào trước đây, đều nặng nề vì lễ tiết, khiến mất cả phong vị. Lần này Vân Lan tiên tử bày biện giữa đất trời như thế này, không một nghi lễ phiền phức, thật khiến ai cũng thoải mái vậy!
  Một vị tiên tử khác hỏi Dung Sơ :
- Sao không thấy Dao Hoa tiên tử giáng lâm?
  Dung Sơ nói :
- Nghe nói hôm qua có hai vị tiên bên Phương Trượng đảo, mời Dao Hoa tiên tử sang Thiên Sấu các để bàn về việc hoàn thành sách Hoa phả. Không lâu trước đây có Thân Giang nhịn thập hoa thần, có lời ghi nhận rằng đã ở thanh lâu, nên tên cũng đán được đưa vào Hoa phả như các vị thần hoa khác.
  Đỗ Lan Hương tiên nữ lên tiếng :
- Các vị này tuy là danh hoa vùng Thân Giang, nhưng giáng thích nơi trần thế không thật trong sạch, tứ xứ phiêu bạt giang hồ, thật đáng thương. Nhưng mùi trần đã nhiễm, tiên cốt không còn. Để trở về được tiên giới liệu có được mấy vị?
  Bọn thị tì ca múa đã xong. Rượu được bày ra, sau khi đã ăn đào. Mỗi người uống ba chén mĩ tửu. Trọng Lang uống đến đâu, thấy trong người êm dịu đến đó. Hơi rượu khiến Trọng Lang càng thấy các tiên nữ hấp dẫn hơn nhiều. Lòng như xốn xang. Dung Sơ cười nói :
- Hình như anh cũng đã say rồi thì phải? Rượu này không thể so với thứ hàng ngày anh uống dưới trần được!
  Cuộc vui bắt đầu, khi đêm xuống, mặt trăng nhô cao, đèn nến thắp sáng. Các tiên nữ tự động kết thành từng bàn, chơi cờ vây, và đầu hồ. Trọng Lang theo Dung Sơ, dẫn vào trúc hiên đi nằm sớm. Một thi nữ vào phòng Trọng Lang, tên gọi Bảo Nhi, rất giỏi đàn tì bà. Gảy cho Trọng Lang nghe khúc Tương Giang yên vũ khúc. Nghe xong, Trọng Lang lên tiếng hỏi Bảo Nhi :
- Nàng là tiên nữ, ta người trần. Mai kia nhớ nhau, làm sao gặp lại?
  Bảo Nhi đáp :
- Nếu như chàng nói, thì Bảo Nhi này cũng nên xuống trần theo chàng sao?
  Trọng Lagn cũng không biết nói sao :
- Mai ngày gặp lại, có vật làm tin. Xin nàng cho ta cái vòng san hô trên tay. Còn ta, cái khánh ngọc này, người trần không có, xin nàng giữ cho. Mong ngày gặp lại!
  Trời sáng, Dung Sơ xuất hiện nói với Trọng Lang :
- Nơi này không thể ở lâu, anh cùng tôi, chúng ta phải quay về rồi!
  Một năm sau, người anh của Trọng Lang mất chức thứ sử. Dung Sơ cũng bỏ đi. Trọng Lang tính chuyện về quê. Đường đi lại qua bến Tầm Dương. Thuyền đậu lại trong đêm. Trọng Lang nghe đâu đây vẳng tiếng đàn tì bà, cung điệu thật não nùng. Trọng Lang giật mình, như nghe khúc Tương Giang yên vũ trên tiên giới dạo nào. Chàng thốt lên : "Thật không khác gì tiếng đàn của Bảo Nhi!" Tìm đến một chiếc thuyền nhỏ nép bên bờ lau phía cuối bến sông, dưới bóng những cây phong, thì ra người đánh đàn là một cô gái. Trọng Lang mời cô gái lên thuyền, nến thắp thêm sáng, soi mặt cô gái, rõ ràng là Bảo Nhi dạo trước! Trọng Lang vén tay áo, lộ rõ chiếc vòng san hô. Cô gái trông thấy, kinh hoàng cất tiếng khóc nức nở. Cuối thuyền, một bà già tiến lại cất lời :
- Cô gái này là Dung Sơ gửi già. Giờ đây hai người gặp gỡ nhau rồi. Việc của già cũng đã xong!
  Bà già bơi thuyền vào giữa sông nước mịt mùng sương khói trong đêm của bến Tầm Dương rồi mất dạng. Trọng Lang đưa cô gái về nhà, cùng vợ Trọng Lang sống rất hòa thuận.
  Người vợ Trọng Lang sinh con trai, rất giống Dung Sơ. Trọng Lang cảm tình sâu nặng với Dung Sơ, nên đặt tên con là Hoài Dung, tự là Niệm Dung, để tỏ rằng không bao giờ quên Lạc Dung Sơ.
Nguyên văn : Lạc Dung Sơ. Quyển 9.
 
 
 
----------------------------------
Chú Thích :
1. Can Tương Mạc Gia : chỉ kiếm quý. Theo Sưu thần kí, hai vợ chồng người nước Sở rèn kiếm cho vua Sở. Được hai thanh, thư là Mạc Gia, hùng là Can Tương. Đem thanh thư nạp. Vua Sở thấy chỉ một nên giết Can Tương. Con Can Tương là Xích Tỉ, tìm cách báo thù... 
2. Đầu hồ : một trò chơi trong yến tiệc thời cổ. Đặt một cái bình ở giữa, mọi người đứng chung quanh, dùng tên ném vào miệng bình. Ai ném trúng nhiều thì thắng.
3. Ước pháp tam chương : thành ngữ chỉ điều ước quan trọng, đơn giản. Theo Thương hạ ngũ thiên niên, thì Lưu Bang vào được Hàm Dương kinh đô nhà Tân, triệu tập phụ lão trong vùng tuyên cáo : "Hôm nay, ta cùng các phụ lão ở đây, xin đính ước ba điều : một là ai giết người thì phải đền mạng. Hai là ăn trộm thì phải chịu tội. Ba là đánh người thì phải xử phạt. Trừ ba điều này, còn tất cả luật pháp nhà Tần đều bãi bỏ cả."
4. Cước đạp thực địa : thành ngữ chỉ làm việc gì cũng phải thiết thực, như đi vững vàng bằng hai chân trên mặt đất vậy.
Beautiful things happen when you love someone.
Đăng nhập để trả lời
0
Hạc Trắng Làm Mối
  Tào Chức Vân, tên Cẩm, tiểu tự Thiên Tôn, nguyên là người Thành Đô, Tứ Xuyên. Cha làm quan đất Ngô nên gia đình chuyển về sông ở vùng Ngô. Cha vốn là một nhà nho hay chữ, nhân loạn lạc khắp nơi nên vứt bút đầu quân, lập được nhiều quân công, nên được nhận chức huyện thừa. Trong thời gian nhận chức ở Đặng Úy, có chính tích tốt, những đơn từ khiến kiện của dân chúng cho đến các nhà giàu có, quan lại trong vùng đều được họ Tào xử lý rất công bằng, xác đáng. Việc trị an trong huyện vì vậy rất yên ổn. Đêm ngủ không bao giờ phải đóng cửa, ngoài đường không người nhặt của rơi. Tính cách chủ yếu của họ Tào là chỗ chính trực, công bằng, không bao giờ dung túng cho việc tham ô, hối lộ trong quyền hạn của bản thân. Vì vậy giới quan trường vùng Giang Nam cũng rất coi trọng họ Tào. Sắp được đề cử lên làm huyện lệnh, thì không may qua đời ngay tại nhiệm sở. Họ Tào qua đời, vợ con tìm một miếng đất táng mà cũng không xong. Việc sinh hoạt hàng ngày của vợ con, may nhờ có bạn đồng liêu chu cấp mới đủ sống qua ngày.
  Tào Cẩm thông minh từ nhỏ, đưa mắt một lần, đọc ngay chục hàng sách. Mới chín tuổi đã đọc hết Thập tam kinh, người chung quanh đều phải tôn xưng là thần đồng. Nhưng vì nhà nghèo, không lo nổi tiền học trả thầy, nên đành ở nhà, đóng cửa tự đọc sách, không mấy khi ra ngoài.
  Một hôm, Tào Cẩm đang ngồi trong nhà đọc sách, bỗng thấy một con hạc trắng từ những đám mây rực rỡ trên lưng chừng trời liệng xuống, rồi đậu trước hiên nhà. Một con hạc hơi khác thường, bộ lông toàn một màu trắng như tuyết, thái độ rất ung dung, tự tin, khiến Tào Cẩm cũng lấy làm lạ lùng vô cùng, nên bỏ sách ra sát hiên ngồi xem sao. Hạc trắng tự nhiên thoải mái, bước những bước đĩnh đạc. Tào Cẩm nhổm dậy định đưa tay vuốt ve làm quen, thì hạc bỗng chui đầu qua hai chân của Tào Cẩm, nâng Tào Cẩm lên lưng mình, vỗ mạnh hai cánh, rồi đưa cả Tào Cẩm lên không. Phút chốc, Tào Cẩm đã cách mặt đất hàng mấy trượng. Và càng ngày càng cao. Lúc đầu Tào Cẩm định gào lên kêu cứu, nhưng hiểu ngay không có sự gì nguy hiểm, mà trái lại một dịp may chưa biết chừng. Tào Cẩm cùng hạc trắng đã lẫn trong đám mây. Nhìn xuống dưới, rừng núi nhà cửa lúc ẩn lúc hiện không rõ ràng, nhưng vì vậy rất lạ, rất đẹp. Hạc trắng bay càng cao hơn. Mây như nâng phía thân dưới của hạc, bồng bềnh nhưng dịu êm, không khác gì lắm cảm giác ngồi một con thuyền nhỏ lướt trên mặt biển, nhờ sức gió vô hình đưa đẩy. Cảm giác thấy mây quẩn dưới chân mình, thật là thú vị không thể tưởng tượng. Nhưng đến khi không còn nhìn thấy gì dưới mặt đất thì Tào Cẩm cũng có hoảng hốt ít nhiều. Nhưng rõ ràng có kêu la cũng vô ích. Hạc trắng đậu xuống một ngọn núi, xung quanh nhìn cũng hết lớp núi này đến lớp núi khác. Nhưng cảm giác về mặt đất yên tĩnh trở lại, tiếng suối chảy róc rách đâu đây. Rừng rậm một màu xanh biếc với tùng với bách với thông reo hiền hòa. Tào Cẩm như lạc vào một thế giới thần tiên khác hẳn, nhưng vẫn thấp thoáng gợi nhớ một thiên đường trên mặt đất, với hương hoa và tiếng chim ngân nga. Tào Cẩm vừa tụt xuống khỏi lưng, chim đã vụt bay mất.
  Tào Cẩm nhìn theo cho đến khi cánh chim mất hút bên trời, mới quay sang nhìn môi trường mới của mình, với một tâm trạng đã trấn tĩnh, nhìn xuống chân núi, nhà cửa nhấp nhô, khoảng vài trăm nóc của một làng sơn cước trù phú, nhưng không quá chen chúc của thành thị, mà hoàn toàn thoáng đãng, rộng rãi. Tào Cẩm tìm được ngay một lối đi nhỏ, lần xuống làng. Vừa đi vừa nhìn phong cảnh không chán mắt. Và cũng không cần chọn đường chọn lối gì, bởi có biết điều gì về những cái mà các lối rẽ dẫn mình đến đâu! Phía trước hiện lên những dãy tường hoa thấp xinh xắn, lãng đãng mây phủ. Ngoài tường là những hàng cây thẳng điểm hoa vàng rực, tỏa bóng mát khoe sắc màu cùng hương thơm. Giữa đoạn tường là một cổng rộng, thấp, hai cánh cổng mở rộng từ bao giờ.
  Tào Cẩm nghĩ rằng bên trong là một biệt thự của một nhà vương công quý tộc giàu có nào đó, nhưng thấy hai cánh cổng rộng mở, nên Tào Cẩm tự nhiên đi vào không e ngại gì cả. Qua một lần tường hoa trang trí, vào gian nhà thứ hai, thì là một sân hoa nhỏ với những hòn giả sơn như làm bằng mây ngũ sắc, với các loại hoa mà Tào Cẩm chưa từng thấy bao giờ. Hình dáng, hương thơm, màu sắc đều khác với những thứ mà Tào Cẩm trông thấy dưới trần thế, gần với tự nhiên hơn....Tiến sâu vào bên trong, thảm cỏ xanh ngút tận cuối cơ ngơi, hai bên hai lối rẽ, một lối đề : Vân Oa - Ô Mây. Một lối đề : Nguyệt Quật - Hang Trăng. Trên vòm cổng bằng đá màu xanh nhạt nguyên khối. Tào Cẩm gõ nhẹ vào cánh cổng, cửa như tự động mở ra. Đi sâu vào bên trong nhà lớn, bài trí thoáng đãng, nhưng vẫn khiến người sống trong nhà có cảm giác ấm cúng, với những màn trướng thanh thoát, tiện nghi đầy đủ. Nhưng lạ thay, không một bóng người, đàn ông, đàn bà, chủ tớ đều không ai cả. Trên một bàn bên cửa sổ hướng nam, đặt nhiều loại đàn khác nhau, tất cả như được thường xuyên sử dụng, trên tường một vài bức thư và họa đường nét màu sắc đều như của tạo hóa vốn đã vậy.
  Ở một bàn khác, trà như đang tỏa hương khói. Tào Cẩm lại gần, thì quả đúng như thế, khói trầm thoảng đưa, ấm trà vẫn như vừa pha xong, chủ nhân vội đi đâu đó, sẽ quay lại ngay bây giờ thôi. Nhìn những loại đàn trên bàn, Tào Cẩm không cưỡng lại lòng ham thích, sửa lại y phục, ngồi xuống ghế, so dây rồi một khúc điệu quen thuộc cất lên.
  Nghe như có tiếng gót sen bước nhẹ phía sau, khiến những trang sức bằng ngọc khẽ rung quyến rũ, một quyến rũ thanh khiết, và cả tiếng bước chân nhẹ bởi đôi hài như làm bằng mây bông, thêm nữa, một làn hương của sự trinh trắng, của tuổi trẻ...khiến Tào Cẩm không thể không quay lại. Và một giọng thiếu nữ nghe rõ ràng thánh thót :
- Điệp khúc này nghe hay lắm! Có phải là Tiêu Tương tam lộng không?
  Tào Cẩm đứng dậy quay người thi lễ. Một cô gái dáng điệu uyển chuyển, tóc vấn cao, hai hàng lông mày cùng lông mi vừa dài vừa đen nhánh, khiến bất kì người đàn bà nào cũng ao ước. Cô gái dịu dàng đáp lễ, không ngạc nhiên, cũng không vồn vã quá đáng, nhưng vẫn đọc được một chút ngỡ ngàng, vui vẻ. Cô gái hỏi :
- Quý công tử từ nơi nào lại?
  Có lẽ vì phép lịch sự nhiều hơn, sau khi nghe Tào Cẩm kể, cô gái nói tiếp :
- Nơi này không phải chỗ của người trần thế. Công tử có mặt ở đây rõ ràng phúc phận không nhỏ đâu!
  Ngừng một lát, cô gái giải thích :
- Con hạc trắng mà công tử cưỡi, là của tiên cô Tương Li nuôi dưỡng. Chính tiên cô sai đi đón công tử, nhất định là Tương Li tiên nữ có ý định gì đó chăng?
  Tào Cẩm mạnh dạn hỏi :
- Tương Li hiện ở nơi nào?
  Cô gái đáp :
- Tương Li ở bên Nguyệt Quật, đối diện với Vân Oa này. Cách đây không xa. Xin đợi một chút, chúng ta sẽ cùng nhau đi thăm Tương Li. Giờ thì quý khách hãy ngồi nghỉ ngơi một chút đã. Và kể cho nghe chuyện về cõi trần hoàn của quý khách!
  Nói xong, tiên nữ Vân Oa gõ nhẹ vào một cái khánh ngọc, tiếng nghe như một khúc ngắn của Nghê Thường vũ y khúc. Hai cô hầu gái xuất hiện, tiên nữ Vân Oa lên tiếng :
- Chẳng mấy khi khách lạ giáng lâm, nhất định phải có thứ gì thanh tịnh đãi khách, hãy bày một tiệc hoa quả nhỏ để chủ khách cùng trò chuyện một chút!
  Cô hầu gái trở vào, một hồi sau, cả bọn quay ra với đủ thứ hoa quả trên tay. Tào Cẩm ngồi vào, tiên nữ ngồi bên, các cô khác ngồi chung quanh bàn tròn. Chuyện trò ríu rít. Nhiều chuyện Tào Cẩm không hiểu. Tiên nữ phải lần lượt giảng giải. Nhiều câu hỏi của Tào Cẩm khiến các cô gái cười vui vẻ vô cùng. Tào Cẩm thên đỏ mặt. Sau đó tiên nữ hỏi những điều thắc mắc về kinh sử của người đời, nhiều câu cũng khiến Tào Cẩm không biết cách trả lời như thế nào cho thỏa đáng. Một cô gái nói :
- Bao giờ thì có thể trông thấy một vị tú tài chính đáng. Lâu ngay, nghe những bậc ẩn sĩ, tu tiên luyện đan, toàn là một phường giả dối, khiến hổ danh cả các bậc tiền bối của chính người đời vậy!
  Tào Cẩm gnhe những lời này cũng thấy trong lòng bức bối không yên, nên định đứng dậy cáo từ. Tiên nữ cũng lên tiếng :
- Có lẽ Tương Li chờ chúng ta lâu rồi!
  Nói rồi cùng Tào Cẩm và hai cô gái theo hầu đến Nguyệt Quật.
  Hai người vào một ngôi nhà có hình tròn, mọi trần thiết bên trong cũng không khác gì nhiều với phòng của tiên nữ bên Vân Oa. Chính giữa phòng là một bức hoành phi nhã nhặn, với mấy chữ : Tiểu Quảng Hàn cung. Tương Li ngồi bên trong, nghe báo có Tào Cẩm tới, vội ra đón khách, hình dung với tiên nữ bên Vân Oan, cũng không khác gì xuân lan thu cúc, một chín một mười, nhưng trong cách cư xử thì có vẻ thân mật hơn nhiều. Một phần lớn là bởi ngay từ đầu đã nhận ra vị trí của hai bên một cách rõ ràng, như chỗ quen biết từ lâu, Tương Li nói :
- Công tử lên đây đã lâu, sao giờ mới tới thăm Nguyệt Quật này. Có phải vì bị Vân Trung tiên nữ giữ lại quá lâu chăng? Công tử xem cảnh sắc của Vân Oa và Nguyệt Quật nơi nào đẹp hơn. Hoa Tiên chưởng quản ba mươi sáu cung tiên nữ đã từng nói rằng : "Vân Oa an ổn vui vẻ, không bằng Nguyệt Quật nhàn rỗi, yên tĩnh." Giờ thi ta sẽ dẫn công tử dạo một vòng Nguyệt Quật xem sao.
  Thế rồi Tương Li cùng Tào Cẩm cùng đi, chân đặt trên một thảm cỏ mênh mông, êm dịu như bước trên một nệm gấm màu xanh, ngút tận chân trời. Phía bên phải một hồ rộng mà bờ cỏ liền mặt nước. Khắp hồ sen trắng, sen hồng nở rộ như không hề biết rằng ở hạ giới chúng chỉ nở vào mùa hè thôi. Một chiếc cầu duyên dáng bắc trên hồ để du khách có thể ra tận thủy đình giữa hồ. Cả hai lững thững bước trên cầu, từng đàn thủy cầm vô tư bơi lội bên dưới cất tiếng hót chào. Một con thuyền nhỏ, buộc hững hờ dưới chân cầu. Cả hai xuống thuyền dạo một vòng ngắn, lên bờ một bầy tiên nữ ùa ra đón. Cả bọn gõ vào mạn thuyền cùng hát.
  Tiếng ca véo von, êm tai vô cùng. Cả bọn vừa hát vừa tiến lại trước mặt làm lễ chào Tào Cẩm cùng Tương Li. Tào Cẩm đưa mắt hỏi ý kiến Tương Li. Tương Li nói :
- Công tử đã bắt đầu thì công tử cũng phải kết thúc thôi!
  Cả bọn lên một chiếc xe ngựa hình cá, riêng Tào Cẩm cưỡi ngựa theo bên, đi được khoảng mười dặm đường non xanh nước biếc, một bên núi cỏ xanh, một bên hồ nước biếc, thì đến một con sông rộng, không trông thấy bờ bên kia đâu cả, chỉ một con thuyền đậu dưới bến, cả bọn lên thuyền, không thấy người chống chèo gì cả mà thuyền vẫn chạy. Tương Li giảng giải :
- Đây chính là Thiên lý thuyền của Tổ Xung Chi (1) không cần gió cũng không cần nước mà vận hành theo nguyên tắc vật lý tự nhiên.
  Tương Li văn cần điều khiển, hai bánh tròn của con thuyền xoay tít, đẩy con thuyền lên phía trước, nhanh như mũi tên. Một hồi sau, gió thuận, con thuyền kéo thêm mười hai lá buồm được kéo lên hoàn toàn tự động, đưa mọi người tới một vùng khác. Nhìn trên bờ, chung quanh đường viền băng những hàng tường hoa thấp, chỉ có dụng ý trang trí không có tác dụng bảo vệ, Tương Li đưa tay chỉ, nói với Tào Cẩm :
- Đây là thanh Hàn Bích, nơi ở của Lục Ngạc Hoa. Nhưng hôm nay, Lục Ngạc Hoa xuống trần gian có việc, cho nên Tương Li này phải tới để thanh Lục Ngạc Hoa trông coi công việc trong thành. Công tử hãy dạo qua một vòng, rồi trở về nhân gian ngay, đừng để lỡ lương duyên của mình.
  Vào trong thành, phố xá sạch sẽ yên tĩnh, trước cửa các nhà đều treo đèn cắm cờ ngũ sắc sặc sỡ như ngày hội. Tương Li lại giảng giải :
- Nhưng cảnh vui vẻ này chính là để chúc mừng ngày vui của công tử đấy!
  Cửa đông nam ,lâu đài cao vút, điện các huy hoàng, không khác gì cung điện hoàng đế, biển đề trước cổng lớn ghi : Nhị Châu cung. Tương Li cùng Tào Cẩm cùng bước vào cổng cung điện. Cung nga đứng dọc hai bên đường, đưa tay vẫy chào hai người. Trên tường lớn của cung điện treo một bức tranh vẽ một tiên nữ, mà nhìn lên, Tào Cẩm như đã gặp ở đâu. Tương Li chỉ tay :
- Đây chính là phu nhân của công tử. Hãy nhìn cho kĩ. Mai này phải nhận ra được phu nhân của mình trong đám đông.
  Tào Cẩm ở lại thành Hàn Bích suốt trong ba tháng, ngày đêm không rời Tương Li. Họ sống với nhau như một đôi bạn tri kỉ khác giới, nhưng cũng không hẳn là vợ chồng.
  Một hôm, Tào Cẩm đang đi lang thang trong thành, thì con hạc trắng dạo nào hạ cánh ngay trước măt, vỗ đôi cánh trắng muốt soi trước gương đá. Tào Cẩm vui vẻ :
- Đây chính là người làm mối. Phải tới để cảm tạ một lời chứ!
  Nghe nói thế, hạc trắng liền quay lại ra hiệu. Tào Cẩm trèo lên lưng, hạc vỗ cánh bay thăng lên nền trời đầy mây ngũ sắc. Lộ trình hoàn toàn giống như lần trước, theo chiều ngược lại. Chẳng bao lâu, hạc trắng đã đậu xuống đất trần gian. Nhìn bốn phía, thì đúng là ngay cơ ngơi nhà họ Tào. Hặc trắng bay về thinh không. Tào Cẩm nhìn theo, trong lòng thầm cảm tạ. Người nhà thấy Tào Cẩm vô cùng ngạc nhiên, mừng rỡ nói ngay. Tào Cẩm mất tích hơn ba năm nay, người nhà tìm khắp nơi, không một dấu vết. Tào Cẩm kể lại chuyện mình, người nghe bán tín bán nghi. Lại nữa, Tào Cẩm chỉ có lời nói suông, phép tiên không có, vật tiên cũng không, ngay đến trang phục cũng đều chỉ là những thứ mang cách đây ba năm cả, mà người nhà văn còn chưa quên.
  Tào Cẩm cũng không có ý minh chứng, mà ngược lại chăm chỉ sách đèn, văn tài ngày càng tiến bộ, hạ bút như có thần giúp, sách đọc không quên. Mùa xuân năm sau, trúng vào trường huyện. Hai năm sau thi đỗ cử nhân hạng cao. Các nhà giàu trong vùng đánh tiếng gả con gái, nhưng Tào không ưng một đám nào. Ai hỏi nguyên cớ, Tào Cẩm đáp :
- Ta đã có vợ, tên là Lục Ngạc Hoa. Ta cùng nàng làm lễ cưới ở Ngọc Kinh Đài. Duyên phận đã định. Người cõi tiên không lừa dối bao giờ!
  Mùa xuân năm sau, Tào Cẩm vào kinh đô thi hội, đường đi qua vùng Tề Lỗ, không may xe đỗ, gãy chân, phải vào nhà trọ dưỡng thương. Suốt ngày đóng cửa phòng không ra ngoài. Một buổi tối, nghe có tiếng gõ cửa, thì ra là gia đình của một vị quan trên đường đi, cả đoàn không tìm được phòng trọ, gian trọ của Tào Cẩm thì rộng thênh thang, nên chủ quán xin Tào Cẩm chuyển sang phòng nhỏ hơn, nhường phòng cho bầu đoàn thê tử vị quan này. Nhưng chính bản thân chủ quán lại không dám nói, mà để mặc cho gia đinh của vị quan này thương lượng. Tào Cẩm nghe xong, gọi chủ quán đến, nói :
- Chuyện nhỏ, sao không nói thẳng với ta!
  Rồi gọi người nhà, đem hành lí, thầy tớ cùng sang phòng khác. Phòng này thuộc một nhà khác, cách nhà cũ không xa. Sáng ngày hôm sau, a hoàn của vị quan nọ ra khỏi phòng, ngẫu nhiên trông thấy Tào Cẩm, cả hai nhìn nhau kinh ngạc. Tào Cẩm nhận ra, a hoàn chính là cô gái trên thuyền trong Nguyệt Quật dạo nào.
  Trưa hôm ấy, cả nhà viên quan rời khỏi quán trọ, ba bốn a hoàn trước sau đưa tiểu thư lên kiệu. Tào Cẩm đang đứng trước cửa phòng mình trông ra, thì chính là Lục Ngạc Hoa, không thể nhầm được! Trong khi người chung quanh, trông thấy dung nhan tiểu thư tấm tắc thành lời :
- Sao nhân gian lại có người đẹp như thế?
  Tào Cẩm vẫn chưa hết bàng hoàng. Hỏi vội người nhà viên quan nọ, thì biết được rằng, phụ thân tiểu thư họ Tôn, hiện giữ chức ngự sử. Một danh gia vọng tộc của Lộc Thành.
  Chân của Tào Cẩm cũng đã lành, nên vội thu xếp hành trang, theo sau đoàn người Tôn ngự sử.
  Sau khi tham gia hội thí và đình thí, có tên trên bảng tiến sĩ, tìm được dinh ngự họ Tôn, Tào chọn người làm mối. Nhưng Tào Cẩm hoàn tòan thất vọng, người mối quay về, nói rõ họ Tôn không bằng lòng. Mặc dầu không còn thiết tha bất kì chuyện gì trên đời. Tào Cảm vẫn phải tham dự các cuộc thăm hoa thượng uyển, cùng dự yến của vua ban cho các tân tiến sĩ.
  Một người bạn cùng khoa tiến sĩ, mời Tào Cẩm dự tiệc mừng của mình, Tào Cẩm từ chối. Một bạn đồng khoa khác, biết rõ tâm trạng Tào Cẩm, rủ viếng cảnh một ngôi miếu nổi tiếng gần nơi trọ, mong có thể Tào Cẩm khuây khỏa ít nhiều. Vào miếu, họ gặp đạo sĩ trụ trì, khăn vàng áo trắng, thật có dáng tiên phong đạo cốt, trông thấy Tào Cẩm, lại trước mặt, chắp tay :
- Quan thái thú sắp nhận chức có điều gì không vui chăng? Nếu chỉ vì chuyện hôn nhân, thì bần đạo xin giúp một tay!
  Đạo sĩ giơ tay chỉ con hạc trắng đậu trước sân miếu :
- Sai hạc trắng làm mối, nhất định sẽ xong xuôi!
  Trong lòng Tào Cẩm như có linh tính, biết đạo sĩ không phải người phàm, cung kính chắp hai tay thưa :
- Tiên sư đã biết mọi chuyện của tiểu sinh. Việc thành, xin ghi ơn tái tạo của tiên sư !
  Đạo sĩ đáp :
- Xin quan thái thú cởi ngọc bội, làm một bài thơ thất ngôn tuyệt cú. Tất có hồi âm ngay thôi!
  Tào Cẩm cầm bút, viết ngay bài thơ. Viết xong, đặt bút lấy ngọc bội khỏi cổ trao cùng mảnh giấy viết thơ cho đạo sĩ. Đạo sĩ gói cả hai thứ rồi đeo vào cổ hạc trắng, nói với hạc :
- Làm cho tốt, không được hỏng việc ta giao!
  Hạc trắng kêu một tiếng như hiểu, bay lên bầu trời, cả bọn ngửa cổ nhìn theo. Không lâu, hạc trắng đã quay lại, gói nhỏ treo trước cổ không còn. Nhưng mỏ lại ngậm một gói nhỏ khác. Giở ra, thì một cái trâm cài tóc bằng vàng, đựng trong một cái hộp, có một giải gấm đỏ là giải đồng tâm (3). Trên giải đồng tâm, có viết rõ bốn câu thơ mười sáu chữ :
Tái di nguyệt lão,
Định ủy vân tình.
Nguyệt Quật trường viên,
Vân Oa bất lão.
 
Trăng già duyên tiên,
Tình trong mây hẹn.
Nguyệt Quật đoàn viên,
Vân Oa không thẹn!
  Mọi người trông thấy, tròn mắt kinh ngạc. Tào Cẩm lại nhờ người mối khác, đến nhà Tôn ngự sử. Hôn nhân mọi chuyện đều thuận lợi nhanh chóng. Mọi người nghe chuyện, đều cho rằng cuộc hôn nhân của Tào Cẩm là do hạc trắng làm mối. Con gái của Tôn ngự sử tên Tương Nguyệt, tự là Phương Tiên.
Nguyên văn : Hạc môi. Quyển 10.
 
 
 
---------------------------------
Chú Thích :
1. Tổ Xung Chi : người Phạm Dương, đời Lưu Tông, thời Nam Triều, 429 - 500, sau công nguyên. Tinh thông lịch pháp, toán số. Sáng chế ra xe chỉ nam, trâu gỗ, tính số pi còn nhiều số lẻ hơn cả phương tây cùng thời.
2. Lăng nghiêm kinh : một kinh quan trọng của đạo Phật, trong kinh Đại thừa. Tiếng Việt đã có bản dịch của cư sĩ Tam Minh Lê Đình Thám.
3. Giải đồng tâm : nguyên văn đồng tâm kết. Dùng giải gấm mà thắt thành những vòng kết với nhau. Thơ Lương Vũ Đế, Hữu sở tư : Yêu trung song ỷ đái, Mộng vi đồng tâm kết...
 
Beautiful things happen when you love someone.
Đăng nhập để trả lời
0
Rắn Báo Oán
  Chử Dung Dư người Cầm Xuyên, thuộc Tô Châu, nhà ngay dưới chân núi Ngu Sơn. Xuất than thế gia giầu có, nhưng đến đời Dung Dư thì đã lụn bại. Phụ thân Dung Dư vì thế cũng có chữ nghĩa, tự phụ một thời vì tài văn chương, thông hiểu sử sách. Lại giỏi biện bác nên khuynh lóat dân chúng trong vùng, hoành hành bá đạo, khiến người người nhà nhà sợ họ Chử như cọp dữ, không bao giờ dám mạo phạm.
  Đến khi Phong Thuận Công về trị nhậm với chức tuần phủ Tô Châu, tính tình trung thực, nghiêm khắc, quyết vì trăm họ trừ bạo an dân. Nghe chuyện cha con Dung Dư lâu nay ngang ngược ra sao, Thuận Công liền ra công văn bắt họ Chử về tinh đường, tra tấn một hồi, đánh đập mấy trận, rồi cho trói vào chân cầu, ban bố tội trạng rộng rãi trong trăm họ Tô Châu.
  Chỉ trong vòng một tháng, bọn tay chân bè cánh làm thế nào đã đánh tháo được cho họ Chử. Vào đúng lúc mẫu thân của Thuận Công qua đời, phải rời bỏ nhiệm sở tạm thời về quê chịu tang. Thế là mọi chuyện xấu xa lại có dịp phục phát, còn tai ngược hơn cả trước đó, với bộ mặt nham hiểm ác độc hơn nhiều. Được bài học của Thuận Công dạy cho sáng mắt, bọn chúng che giấu giỏi hơn giả nhân giả nghĩa, ra vẻ nhân từ của loài thú dữ để ăn thịt con mồi kín đáo, khiến con mồi không thể há miệng. Họ Chử có tới ba người con trai đều được học hành để rồi thi cử cho thêm oai danh họ Chử. Người con thứ hai, chính là Dung Dư, người con cả là Lam Đình, vào học trong nhà học của Tô Châu, tài đức khá tốt. Cha con họ Chử vì vậy cũng được coi như hàng văn thân của địa phương, nên càng không coi mọi người ra gì!
  Ngôi mộ của ông nội Dung Dư hiện đặt ở thôn Ngoại Hà, phía ngoài cửa tây Côn Thành. Mỗi năm theo lễ tiết cha con Dung Dư đều đến tế tự rất chu đáo. Mọi chuyện đều do cha Dung Dư trông coi. Cùng giòng này có một chi thì nghèo đói lưu lạc tha phương, mọi người trong họ ít khi nhắc tới. Một chi khác, sau cha Dung Dư là Chử Thế Tuấn, một người có tài hơn người, vứt bút nghiên theo nghiệp đao cung. Trong quân ngũ có tài thao lược lập được nhiều quân công, nên thăng tiến rất nhanh. Trở về thăm quê, tìm gặp cha Dung Dư, giở gia phả, nhận họ Chử là hàng chú. Nhưng vì mồ mả của thân phụ Thế Tuấn lâu ngày không ai dòm ngó, bị san thành đất bằng, không tìm được dấu vết, mọi chuyện tế tự giờ trông cậy luôn vào giòng cha con Dung Dư mà thôi, vì vậy quan hệ chú cháu, anh em càng thêm khăng khít.
  Lúc này, Thế Tuấn giữ chức quan sát sứ Triết Giang, một lần đưa ông chú họ Chử của mình tới tận quan phủ Tô Châu, mong quan phủ chiếu cố trong mọi chuyện. Vì vậy, cha con họ Chử ỷ thế Thế Tuấn, gần như còn thế lực hơn cả trước đây nhiều. Mọi chuyện không còn sợ ai, công khai đánh người cướp của, giành ruộng đất...không chuyện gì không làm, trở thành một thế lực mà chính bản thân phủ quan cũng phải kiêng dè. Cũng vì chuyện này, mà Thế Tuấn cũng bị liên lụy, nhưng may có một thượng quan, vốn là quan thầy trực tiếp của Thế Tuấn nâng đỡ nên không bị tội tình gì. Chỉ có điều viên thượng quan này cũng lệnh cho Thế Tuấn không được dung túng họ Chử tác oai tác quái quá đáng, và không cho họ Chử đi lại chốn công đường của Tô Châu, để tránh dị nghị trong trăm họ.
  Cha con Dung Dư quay về quê nhà, mua hẳn ba trăm mẫu ruộng chung quanh mộ của tổ phụ, làm thành một khu lăng mộ lớn, với những đường đi lối lại, cây cối hồ thành, cha con huênh hoang :
- Chỉ dùng số ruộng này để cứu tế cho người trong họ nghèo đói!
  Nhưng thực ra cha con họ Chử không cho ai một đấu thóc trong số ruộng này. Lại thêm vì danh nghĩa như vậy, nên thực tế việc mua bán xây dựng khu lăng mộ này đều là tiền của Thế Tuấn bỏ ra cả mà thôi, vì lấy tiếng là của chung họ Chử mà! Thế Tuấn là một quân nhân hào phóng lại giàu có nên cũng không tính toán gì với chú và các em.
  Một năm, vào tiết thanh minh, họ Chử kéo nhau đi tảo mộ rất là khoa trương, thấy có một con rắn lớn chui từ trong khu mộ ra, người em trai của Dung Dư trông thấy, lập tức hò trai tráng giết chết ngay con rắn lớn. Một hồi sau, người ta thấy có ba bốn con rắn nhỏ, cũng từ trong khu mộ bò ra, vòng vèo đến bên con rắn lớn đã chết, bò xung quanh xác con rắn lớn này nhiều lần, không chịu đi. Nhìn kĩ lại thì những con rắn nhỏ này cũng đã chết cả.
  Người họ Chử chất củi thiêu cả đống xác rắn. Từ trong đống lửa cháy đỏ rực trong chiều chạng vạng, người ta thấy một con rắn toàn thân đỏ như lửa, chui ra. Người nhà họ Chử đuổi đánh, nhưng phút chốc con rắn lửa biến mất, như có phép thần. Mọi người đều cho là yêu rắn mà nên thế. Đấy cũng chính là điềm báo họ Chử bắt đầu con đường lụn bại chăng?
  Trước đây, trong thôn có nhà họ Giáp, đứng ra trông coi khu phần mộ cho họ Chử. Nhà họ Giáp nghèo, mỗi năm hai lần giáp hạt là hai lần cả nhà nhịn đói. Trong thành có nhà phú hộ họ Ma, thường tích trữ nhiều thóc lúa, đợi đến khi giá cao thì thuê người xay giã bán lấy lời nhiều vô kể. Họ Giáp để vợ và hai con đến làm thuê cho nhà họ Ma, còn một mình mình trông coi khu lăng mộ ngày đêm. Nhưng trong nhà gạo không còn một hạt, họ Giáp ba ngày trong bụng không một hạt cơm, bếp không một lần đỏ lửa. Không còn cách nào khác, họ Giáp lấy cái áo còn lành nhất, cố lê ra khu chợ gần đó, bán cái áo được hơn một trăm đồng tiền kẽm, tìm tới nhà họ Chử, xin một thăng rưỡi gạo tiền công, và mua một ít dầu muối thì có thể qua được vài ngày chăng.
  Lúc này họ Chử không có nhà, đứa con trai út lớn tiếng chửi rủa, mắng họ Giáp lười nhác không chịu làm lụng kiếm ăn, có chết đói cũng đáng, không chịu cấp thóc cho. Không những thế còn đạp cho họ Giáp ngã lăn ra sân. Họ Giáp vốn yếu, không dám nói năng gì, chạy khỏi cổng nhà họ Chử. Nhưng trong lúc hoảng hốt, bỏ quên cả cái tay nải rách. Thằng con út họ Chử cầm rũ ra, thấy số tiền kẽm, thích chí lấy sạch.
  Đến khi họ Giáp nhớ ra, quay lại để lấy, thì chỉ còn tay nải không, tiền không cánh mà bay. Họ Giáp hỏi thằng con họ Chử, thì thằng này chối không biết. Họ Giáp đành cầm tay nải không về. Oan ức không biết kêu ai!
  Lần được về đến khu lăng mộ, mệt quá, họ Giáp nằm dài trên giường, lại thêm mưa gió lạnh liên tiếp ngày đêm, không thể dậy nổi. Xung quanh vùng lăng mộ không có nhà láng giềng nào, cho nên, họ Giáp chết cứng trên giường từ lúc nào cũng chẳng ai biết, không ai đến nhà họ Giáp làm gì cả!
  Mười ngày sau, vợ con mới về nhà, gọi cứ không thấy ai thưa, mở cửa vào thì họ Giáp đã lạnh ngắt trên giường, không những thế đã bắt đầu không còn nguyên trạng nữa. Người vợ khốn nạn quẫn trí thắt cổ chết. Hai đứa con gái, một đứa đang còn phải bế, một đứa mới chỉ hai tuổi, hai ngày sau cũng qua đời!
  Mùa xuân năm sau, họ Chử kéo nhau ra tế tự khu lăng mộ, gọi họ Giáp, không thấy tăm hơi một ai, đẩy cửa vào, vẫn không một người, trên giường dưới đất xương thịt nham nhở. Sợi dây còn lủng lẳng trên nóc nhà. Chính họ Chử sai gia đinh đem tất cả vứt xuống sông gần đó.
  Họ Chử sau những chuyện này cũng không lo lắng gì hơn. Nhưng một thời gian sau, thì những việc xảy ra trong nhà, khiến họ chử không thể có những nghĩ ngợi bình thường được nữa.
  Con gái lớn của họ Chử tên gọi Huệ Tiên, con gái thứ tên là Nhụy Tiên, đều có nhan sắc. Cô chị mười bảy, cô em mười sáu. Cả hai đều mơn mởn đào tơ. Cả hai đều thông hiểu văn chương kinh sử, thêu thùa kim chỉ cũng thành thạo hơn người. Vì vậy, các nhà giàu có trong vùng đều muốn hỏi cho con trai nhà mình. Trong chuyện này, họ Chử lại nhờ Thế Tuấn đứng ra, chọn thông gia cho. Chủ yếu là nhà giàu có thế lực để có thể thêm vây thêm cánh, và đúng là không phải kén chồng cho con. Việc này quả không phải dễ, vì vậy cả hai chị em đều còn chưa thành thân.
  Một buổi tối, Huệ Tiên đi thăm nhà họ hàng trở về, bước vào cổng, thấy như dẫm phải một vật gì mềm trơn dưới chân. Vật này cứ thế cuốn vòng lên tận lưng Huệ Tiên, vừa dài vừa trơn nhẫy. Huệ Tiên kêu la thất thanh. Mọi người đèn đuốc chạy ra, thì ra một con rắn lớn. Ai nấy hoảng hốt chạy tán loạn. Đến khi định thần được, đã không thấy con rắn đâu nữa!
  Huệ Tiên vào phòng riêng, tâm hồn hoảng loạn, người mệt mỏi vô cùng, đắp kín chăn nằm dài như chết. Bỗng nghe trên mái nhà có tiếng gì đó khác thường, rồi có một vật gì đó từ trên mái nhà rớt xuống, hồi lâu nghe có tiếng gõ cửa phòng. Huệ Tiên sợ hãi, không dám dậy, không dám ló đầu ra khỏi chăn. Nhưng rồi tiếng gõ cửa vẫn tiếp, Huệ Tiên hé chăn nhìn ra, thì cửa bỗng tự mở, một chàng tuổi trẻ, đầu đội khăn vuông, trang phục một màu trắng, không ai bây giờ ăn mặc theo kiểu như vậy cả. Trông thật thanh tú, lanh lợi. Đến trước giường Huệ Tiên chào, Huệ Tiên lên tiếng trong hoảng sợ :
- Đây là phòng đàn bà con gái, không hiểu khách có việc gì mà xuất hiện? Huống chi trong lúc đêm hôm thế này, nam nữ cần cách biệt, tránh hiềm nghi. Ta cùng khách không quen biết. Xin khách đi ngay cho, trong khi còn chưa ai biết!
  Khách nói :
- Đêm khuya thanh vắng, không ai biết chuyện. Hôm nay là ngày tốt, ta tìm đến để được gặp mĩ nhân! Ta cùng nàng tiền sinh có duyên phận với nhau. Theo mệnh của Nguyệt Hạ lão nhân (1), ta đến đây vì tình riêng của mình. Nàng hãy xem trăng sáng đầy trời, chín tầng lồng lộng. Thật là một đêm tình ái, dành riêng cho chúng ta mà!
  Huệ Tiên thấy mình như nửa tình nửa mê vì uống phải thần dược. Trong lòng xao xuyến, bất giác nghe theo tất cả đòi hỏi của khách...
  Đến khi Huệ Tiên tỉnh lại, đèn trong phòng vẫn le lói, mà khách thiếu niên thì không thấy đâu nữa. Như mộng mà lại không phải mộng. Từ đó đêm nào khách cũng tới. Huệ Tiên từ cử chỉ đến tinh thần đều khác thường. Ăn uống đều giảm hẳn. Cha mẹ thấy con gái ngày một gầy yếu xanh xao, như một con bệnh, mới hỏi cặn kẽ, nhưng Huệ Tiên không nói. Đêm đến cho em gái hoặc hầu gái vào phòng làm bạn ngủ chung, thì Huệ Tiên nhất định cự tuyệt, không chịu.
  Mời thầy xem mạch, không tìm ra căn bệnh gì cả. Một thời gian sau, thấy bụng Huệ Tiên lớn dần, người thì cho rằng bị bệnh báng, người ngờ có thai. Lại tìm đến thầy thuốc, thầy hỏi mọi triệu chứng, mẹ Huệ Tiên thưa sáu tháng nay rồi, không có kinh nguyệt gì cả. Thì chuyện có thai có thể tin được. Nhưng mẹ Huệ Tiên lại cho rằng không thể có việc này. Mẹ Huệ Tiên lặng lẽ theo dõi con gái ngày đêm. Một lần nghe trong phòng về khuya mà vẫn  có tiếng người trò chuyện, lặng lẽ nhìn qua khe cửa sổ thì thấy một người đang bưng lại giường cho Huệ Tiên một chén nước, miệng nói :
- Nàng hãy uống chén thần dược này đi! Chỉ ngày mai là sinh thôi! Từ ngày ta tu luyện đến nay, kể đã hơn năm trăm năm, chưa bao giờ có dịp lưu lại một hậu duệ ở cõi trần. Nàng giờ đây giúp ta làm được điều này. Ta nhất định sẽ đền ơn nàng!
  Nói rồi lấy trong người ra một viên thuốc tròn nhỏ, không trông rõ màu, nhưng hình như có phát sáng, nói tiếp :
- Còn viên thuốc này, nàng hãy uống sau khi sinh, thì sẽ không mắc một bệnh gì cả. Ta đi lần này sẽ vào trong núi sâu tu luyện, mong rằng sẽ đạt được cõi thượng thừa. Mê đắm trong trường tình bể ái của chốn nhân gian, không phải là điều tốt!
  Mẹ Huệ Tiên biết là yêu quái, gọi người nhà kéo tới rất đông, mở cửa phòng xông vào, thì không trông thấy ai khác ngoài Huệ Tiên. Viên thuốc vẫn còn trong tay. Mẹ Huệ Tiên vội giằng lấy, vứt ngay ra ngoài cửa sổ, nói :
- Đây chính là thuốc độc, không thể uống được đâu!
  Một ngày sau, Huệ Tiên quả nhiên đau bụng, sinh ra một đứa trẻ mặt người nhưng thân rắn, vô cùng quái dị. Hầu gái vội thưa với cha mẹ Huệ Tiên. Mọi người chạy tới phòng Huệ Tiên, đạp chết ngay quái vật. Mọi người vô cùng sợ hãi cho rằng vận xấu bắt đầu. Riêng Huệ Tiên như ngây, miệng lảm nhảm :
- Thật đáng tiếc ! Thật đáng tiếc !
  Bỗng nghe một tiếng như sét đánh lớn, một hòn đá từ trên không rơi xuống mái nhà thủ như sập đến nơi, trúng ngay bàn trong phòng Huệ Tiên, nát vụn. Trên không có tiếng người khác lạ :
- Các người giết con ta ! Ta tất giết con các người để báo thù. Sau này đừng hối hận! Sau này đừng hối hận!
  Đêm hôm ấy, Huệ Tiên băng huyết qua đời.
  Con trai út của họ Chử tên gọi Bồ Am, đang theo thầy học đòi chữ nghĩa. Từ thơ từ cho đến văn chương đều sắc sảo hơn người. Ai cũng cho rằng là một tú tài thông minh, có nhiều triển vọng đỗ đạt đem vinh hạnh cho nhà họ Chử. Huệ Tiên qua đời được mấy ngày, thì Bồ Am đau đầu dữ dội, cứ nhắm mắt lại thấy một thiếu niên cầm vồ tật lê bằng sắt lớn đánh vào đầu mình, đau đớn kêu khóc rất thảm thương, người ngoài nghe không thể cầm lòng. Không đầy một tháng sau cũng qua đời! Đến lúc sắp chết, người quằn quại như rắn uốn lượn, khắp da thịt nổi vẩy như vẩy rắn, trông rất khác thường!
  Đến lúc này thì mọi người trong cũng như ngoài họ Chử đều cho rằng lũ rắn báo oán nhà họ Chử! Chuyện có thể đã xong chăng? Không ngờ cũng vẫn chưa hết kinh hoàng, cái chết của Dung Dư còn kì lạ hơn nữa. Cũng như Bồ Am, Dung Dư học hành giỏi giang, bạn đồng học đều khâm phục vô cùng, mắt liếc mười hàng sách một lần. Các kì khảo khóa đều chiếm ngôi cao, mang danh tú tài đệ nhất. Văn bài của Dung Dư, thiên hạ đua nhau sao chép. Năm nay sẽ tham gia khoa thi hương của vùng Nam Kinh. Đến ngày dự thi, Dung Dư nghe nói Nam Kinh là đất xưa của Lục triều nổi tiếng ăn chơi, gái đẹp như mây, các kĩ viện như rừng, rượu ngon như suối Cam Tuyền lai láng...Vì vậy trước khi đi, Dung Dư đánh cắp của họ Chử một số tiền lớn, định bụng sẽ tìm nếm cho đủ các khoái lạc thanh sắc của Nam Kinh.
  Đến Nam Kinh, Dung Dư tìm đến Bạch Môn, trọ ngay trong một gác sang trọng bên sông Tần Hoài, rất gần với mấy kĩ viện nổi tiếng trong ngõ Điếu Ngư. Suốt ngày suốt đêm lang thang trong các quán Sở lầu Tần tìm hoa hỏi liễu, không một chút rảnh rỗi.
  Trong Trà Mi hoa quán của Cung Thị nghe nói có một kĩ nữ mới, tên gọi Tùy Châu, nhan sắc không hai. Vì vậy phẩm giá rất cao. Ngay cả bọn giàu có thương nhân, cho đến các công tử khô lụa, mà không có danh phận, Tùy Châu cũng không thèm tiếp. Hoặc có thì cũng với thái độ khinh khi, với đôi mắt trắng của Nguyễn Tịch thưở nào mà thôi (2), khiến khách đã mất nhiều tiền, nhưng rồi cũng phát sầu mà đi ra, tủi cho thân phận, danh giá của mình mà làng son phấn cũng vẫn chưa một lần biết đến!
  Nhưng đến khi thiếp đề tên Dung Dư đưa vào, thì được tiếp ngay. Tiệc rượu được bày dưới những tán cây râm mát như trong một biệt thự quyền quý. Chung quanh là những hàng ngô đồng, ba tiêu, hàng hàng lối lối thật công phu. Hương hoa của muôn loài ngát hương, thật là hiếm có và không hổ danh Dạ bạc Tân Hoài cân tửu gia (3). Hoặc những lúc bên ngoài không thích hợp vì thời tiết, thì lại cùng nhau ngồi trong phòng riêng của Tùy Châu, hoàn toàn không mang dáng dấp của một phòng kĩ viện mà là phòng của một tiểu thư đài các. Bốn chung quanh tường là tranh vẽ, chữ viết của các bậc đại gia, trên án là sách vở, nghiên bút, như của một nữ học sĩ cung đình.
  Tiệc rượu thì không thiếu gì sơn hào hải vị. Đêm càng về khuya, tình càng nồng đượm. Dung Dư vì vậy biến kĩ viện thành nhà trọ của một thí sinh từ khi nào không rõ, có lẽ từ hôm mà Dung Dư trong cơn say tình say rượu, viết trong tay một chữ Túc (4), giơ ra cho Tùy Châu xem, Tùy Châu gật đầu bằng lòng chăng? Tiếp theo đó là những ngày đêm thệ hải minh sơn, thề non hẹn biển, tình càng ngày càng khăng khít.
  Nhưng rồi trời chẳng chìu người. Kì thi đã xong, bảng hương khoa cũng đã treo. Tất nhiên Dung Dư không có tên. Dung Dư trở về, sau hết cuộc rượu tiễn này đến cuộc đàn ca khác để chia biệt mà vẫn không khỏi nghẹn ngào. Tùy Châu cắt mái tóc mây, tự tay gói cẩn thận trân trọng để vào hành lí khách lên đường. Lại còn ra tận bến thuyền tiễn Dung Dư.
  Ngồi cùng thuyền với Dung Dư đều là bạn đồng học, cùng đi thi, và cũng không có tên trên bảng trở về quê nhà với nỗi chán chường thất vọng, hoặc bất cần bề ngoài, ngạc nhiên vì không thấy mặt Dung Dư chưa lâu, mà thấy dáng vẻ Dung Dư khác trước nhiều, gầy ốm xanh xao như có bệnh, tinh thần bạc nhược, và hình như có cả mùi tanh hôi của một ung nhọt trong người đã bắt đầu phát. Nhưng cả bọn đều nghĩ rằng đấy chẳng qua vì những ngày qua Dung Dư mê đắm trong ca lâu tửu quán, nên nói thế mà thôi. Có người tò mò hỏi :
- Nghe nói anh kết giao rất khăng khít với một cô gái rất nổi tiếng trong kĩ viện. Nhất định lúc chia tay phải có quà kỉ niệm khác thường. Cho chúng tôi xem với !
  Dung Dư đáp :
- Cũng không có gì lạ, chỉ là một mái tóc mây thề nguyền thôi!
  Nói rồi, trước tiên Dung Dư lấy bức họa Tùy Châu tặng cho mọi người xem. Thật đúng là hoa khôi kĩ viện, không khác gì một tiểu thư khuê các, một Hứa Phi Quỳnh chốn Bồng Lai. Mọi người tấm tắc :
- Như thế này, thì làm gì không khiến Dung Dư điên đảo!
  Lại xin Dung Dư cho xem mái tóc mây :
- Hãy cho chúng tôi cùng ngắm một chút hơi hương của nàng. Cho chúng tôi được sờ vào một lần tóc của tiên nữ thượng giới!
  Dung Dư lấy ra một túi lụa đỏ nhỏ, trân trọng kéo vật bên trong ra. Thì lại là mấy con rắn nhỏ đã nát thối từ bao giờ, khiến mọi người không khỏi nôn ọe, dù đã cố nhịn. Chung quanh kinh hoàng, Dung Dư biến hẳn sắc mặt...
  Trở về nhà, Dung Dư lập tức bệnh nặng, không thể dậy khỏi giường. Trước khi qua đời, thấy Tùy Châu từ ngoài cửa vào trước giường, nói dõng dạc :
- Cả nhà ta oan phẫn, đến nay mới báo được !
  Mấy năm sau, cha Dung Dư cũng chết trong nghèo đói. Sự báo ứng của trời thật đáng sợ thay!
Nguyên văn : Xà yêu. Quyển 10.
 
 
 
----------------------------------
Chú Thích :
1. Gọi tắt là Nguyệt lão. Theo tục U quái lục, Vi Cố, người đời Đường, qua Tống Thành, gặp một ông lão ngồi dưới trăng xem sổ và có những sợi chỉ đỏ dưới chân. Vi Cố hỏi, ông già nói sổ hôn nhân và dây tơ hồng để buộc trai gái thành vợ chồng...
2. Nguyễn Tịch, người đời Tấn, tiếp khách vừa ý thì mắt có màu xanh, không vừa ý thì nhìn với mắt màu trắng. Cũng như người cho rằng, vui nhìn thẳng, mắt màu xanh. Giận dữ nhìn nghiêng, mắt trắng thôi.
3. Tần Hoài, tên bến sông thành Nam Kinh, rất nổi tiếng từ thời Lục triều.
4. Túc : có nghĩa là ngủ lại.
Beautiful things happen when you love someone.
Đăng nhập để trả lời
0
Vương Liên Phương
  Khương Lệ Thường tự là Tinh Nga, con gái một gia đình lương thiện, thời thơ ấu sống ở thôn Phủ Lí ngoài cửa Phong Môn của thành Tô Châu. Cha là một nhà nho nghèo. Từ nhỏ Tinh Nga đã có nét duyên dáng ưa nhìn, da trắng trẻo cùng hàm răng sáng bóng, đôi mắt thông minh trong vắt một màu nước hồ thu, thật phong lưu từ trong khí chất vậy!
  Tinh Nga có người cậu, tên Minh Cẩu, họ Đường, tinh thông học thuyết của Thân Bất Hại và Hàn Phi Tử (1), giữ một trọng trách trong mạc phủ của một viên đại thần. Thấy Tinh Nga mười phần đáng yêu, mới nói với cha mẹ cô cháu rằng :
- Để cháu ở nơi hẻo lánh như thế này, chẳng khác gì để móng ngựa trong nước. Không biết bao giờ mới mọc mũi sủi tăm lên được? Chi bằng nghĩ đến chuyện kiếm một chàng rể giỏi giang một chút. Cũng không khó gì. Hãy cứ để Tinh Nga theo em đi Vũ Xương, em sẽ thay anh chị, tìm cho nó một tấm chồng xứng đáng.
  Cha mẹ Tinh Nga bằng lòng. Tinh Nga vì vậy đến ở với cậu họ Đường. Vợ chồng họ Đường không có con, nên coi Tinh Nga như con đẻ của mình vậy, cẩn thận dạy dỗ cô cháu từ đường kim mũi chỉ cho đến thi thư sử tử...Vì vậy chỉ riêng mặt nữ công thôi, Tinh Nga được người chung quanh tôn xưng là Thần châm. Đều coi Tinh Nga là Tiết Dạ Lai tái thế (2)!
  Họ Đường là quan chủ quản của dinh chế đài, kiêm sọan thảo các công văn giấy tờ, cả nhà vì vậy cùng ở khu vực dinh chế đài rộng lớn. Trong dinh phía đông có một ngôi nhà lầu cao rộng, năm lớp. Bốn chung quanh là vườn hoa, với đủ sơn thủy hữu tình. Quanh lầu là những hàng cây trồng theo dọc các hàng lang mái che, với những lọai cây hoa thân mộc nhưng nhỏ như đào, hạnh, lý, mai...nhưng đều đã được giữ gìn hàng mấy trăm năm nay cả. Mùa nào giống ấy trăm hoa đua hương trăm cây tỏa bóng.
  Vào trong nhà lớn, bốn phía cửa mở thóang đãng sáng sủa vô cùng, khiến ta có được sự gần gũi với thiên nhiên, cây cỏ bên ngoài, không hề có một gián cách nào cả. Có người nói, biệt thự từng bị hồ li tinh hòanh hành, người ta vẫn thường trông thấy những hiện tượng quái dị diễn ra trong khu vực cách biệt này của dinh chế đài. Nhưng tính tình họ Đường trung thực, không tin, không sợ những chuyện đại lọai này, nên cũng không để ý nhiều. Riêng Tinh Nga từ ngày đến ở đây cũng không thấy chuyện gì khác thường.
  Phu nhân quan chế đài vốn là người rất mộ đạo Phật, thấy Tinh Nga giỏi thêu thùa, mới khuyến khích Tinh Nga trong lúc rỗi rãi, đến chỗ phu nhân trò chuyện. Cũng bởi một lần phu nhân chế đài tới thăm vợ họ Đường, thấy Tinh Nga rất thích, nên nhiều lần trước mặt vợ chồng họ Đường muốn nhận Tinh Nga làm con nuôi. Nhưng họ Đường không thích có quan hệ không bình thường, nên tìm cách chối từ. Nhưng rồi vẫn không được, ênn đành nhận lời. Tuy vậy, Tinh Nga vẫn ở với họ Đường như cũ. Những lúc rỗi rãi, Tinh Nga cũng thêu được tới ba mươi sáu lá cờ Phật, tòan bằng những vải lụa quý giá cùng với chỉ bằng vàng bằng bạc, lại thêm cả những vật trang điểm đắt tiền đính lên cờ. Theo những cờ này là những bản kinh Phật, viết bằng chữ Hán thể chân, được Tinh Nga bỏ công sức trong vòng mười bốn tháng ròng rã! Lại còn thêu những bức vẽ kèm theo đủ sắc màu ngũ sắc. Người xem không thể cho rằng đó lại là sản phẩm của người đời được. Thật là vượt cả hóa công vậy!
  Ngày hòan thành, đem dâng lên Phật Tổ. Gần xa đều kéo đến xem. Nam thanh nữ tú, các nhà quyền quý cho đến các thương gia đều tấm tắc khen ngợi tài năng khác thường của con gái quan chế đài. Và cũng vì thế mà hết đám này đến đám khác ngấp nghế đánh tiếng có được Tinh Nga làm con dâu.
  Có một công tử, tên gọi Lê Phật Mi, con trai quan đại tư khấu, chỉ chuyên ăn chơi lêu lổng, dựa vào quyền lực lớn của cha, tha hồ tác oai tác quái từ phố phường đông đúc đến tận xóm vắng xa xôi, cho nên dân chúng trong vùng vô cùng căm ghét công tử Phật Mi này. Nghe nói về tài sắc của Tinh Nga, Phật Mi liền cho ngay mối lái tới, yêu cầu được thành thân với Tinh Nga. Quan chế đài đành bàn luận với Minh Cầu. Họ Đường thấy không thể chấp nhận một cuộc hôn nhân như vậy cho Tinh Nga, nên một mực không bằng lòng. Quan chế đài nói :
- Tinh Nga bây giờ đã là con gái của bản quan rồi. Việc gả hay không là thuộc quyền của bản quan mà thôi!
  Nên không chịu bàn luận gì với Minh Cầu nữa mà tự mình đứng ra nhận sính lễ của họ Lê. Tinh Nga mãi sau này mới rõ chuyện. Tuy không bằng lòng, nhưng cũng không thể thay đổi được gì nữa rồi, nên Tinh Nga cũng đủ khôn khéo không nói năng gì nữa.
  Một hôm, Tinh Nga lên chùa dâng hương. Người chen nhau như mây, Tinh Nga cố tìm một nơi vắng vẻ hơn một chút cho thư thái, thì thấy từ xa một chiếc kiệu tiến lại, đi ngang ngay cạnh Tinh Nga, không thể không nhìn thấy trong kiệu sau cửa rèm đã được vén cao là một cô gái ăn mặc trang nhã, tuy không thấy dấu vết son phấn nhưng không khác gì hoa đào trước gió xuân mơn mởn. Nhưng trông dáng mọi thứ thì hình như không phải người vùng này. Cô gái thông thả xuống kiệu, liếc nhìn Tinh Nga, như muốn nói điều gì, rồi cả hai lặng lẽ bước về trai phòng phía trước. Nhà chùa mời khách thập phương dùng cơm chay buổi trưa. Ni cô trụ trì là Diệu Liên ra mời Tinh Nga vào phòng riêng của mình nghỉ ngơi. Thì cũng đã thấy cô gái trên kiệu vừa rồi ngồi sẵn một bên, lên tiếng hỏi danh tính Tinh Nga. Tinh Nga trả lời xong, hỏi lại :
- Tiểu thư tôn tính quý danh ra sao, cũng xin cho biết!
  Cô gái đáp :
- Tiểu muội họ Vương, tên Liên Phương, thường gọi bằng tên lúc nhỏ là Hà Kiều, người vùng Ngô, mồ côi cha mẹ ngay từ nhỏ.
  Tinh Nga thấy Hà Kiều nói năng gọn gàng, nhỏ nhẹ, càng hỏi càng mến, biết ngay là giọng gia giáo, thông hiểu chữ nghĩa, nên tiếp ngay :
- Mời tiểu thư về dinh chế đài để chúng ta có dịp làm quen với nhau!
  Hà Kiều hai ba lần từ chối, nhưng thấy Tinh Nga thật lòng, nên nhận lời...Chỉ một tháng sau, đã coi nhau thân thiết hơn chị em ruột, cùng đọc sách ngâm thơ, khi xướng họa, khi liên cú...Chán thì thêu thùa kim chỉ, chia sẻ nhau đủ chuyện trong khuê phòng.
  Một hôm, Tinh Nga làm được bốn bài thơ thất ngôn tứ tuyệt để trên bàn. Hà Kiều đọc được, liền hỏi Tinh Nga :
- Xem những bài thơ này, thì hình như gần đây tình cảm của chị có chỗ không thư thái. Chẳng nhẽ cửa quyền quý không bằng nhà cỏ lều tranh hay sao? Nhưng trời cao đất rộng sao ngăn nổi chim phượng chim hòang tung cánh!
  Tinh Nga đáp :
- Không phải như vậy! Bản tính Tinh Nga vốn ưa tĩnh, không ưa động. Cho nên dẫu ở trong chốn quyền quý cao sang, nhưng bị trói buộc bởi những lễ tiết, nên không lúc nào được thư thái, vì thấy không được tự do, như con chim nhốt trong lồng son vậy!
  Hà Kiều nói :
- Em cũng nghĩ như vậy thôi. Nhưng ngoài nguyên cớ này, liệu còn nguyên cớ nào khác nữa không?
  Tinh Nga chưa kịp trả lời thì Hà Kiều ghé tận tai Tinh Nga nói nhỏ :
- Không phải là do chuyện hôn nhân sao?
  Tinh Nga không trả lời, lặng lẽ giọt ngắn giọt dài. Hà Kiều lại tiếp :
- Nếu đúng vì chuyện này, xin chị đừng lo nghĩ nhiều. Em sẽ vì chị mà đề ra cách giải quyết hợp lí mọi chuyện. Xin hãy nghe theo cách chỉ vẽ của em. Mượn lí thay đào, kim thiền thóat xác (3), thì sẽ có đường giải thóat thôi!
   Tinh Nga hỏi :
- Thế thì phải làm sao?
  Hà Kiều nói :
- Chỉ cần trong số những hầu gái theo chị về nhà chồng, chị hãy lấy tăng thêm cho em một người, em sẽ có cách rất diệu!
  Thế rồi trong số những a hòan này, Hà Kiều chọn ra một cô, trông dáng ngoài giống Tinh nga nhất. Hàng ngày trang điểm, dạy cho đi đứng giống hệt Tinh Nga. Lại chú ý cả việc bó chân (4) khiến chân của a hòan cũng trở thành chân nhỏ tiểu thư. Chỉ trong vòng một tháng, thì đã giống không thể phân biệt. Hà Kiều còn dạy Tinh Nga một câu niệm chú để khi bắt đầu cuộc đánh tráo càng kết quả như việc thực hiện một bí truyền vậy! Phép thuật thành công đến nỗi, Hà Kiều cùng a hoàn này sánh vai đi thăm họ hàng nhà quan chế đài, không ai nhận ra sự thay đổi nào cả. Hà Kiều vui vẻ bảo Tinh Nga :
- Thế là thành công rồi đó!
  Ngày thành thân cũng đến. Hà Kiều đem tất cả mọi thứ của cô dâu khóac lên người a hòan nọ. Thật là một Tinh Nga thứ hai. Và đinh ninh dặn đi dặn lại với a hòan này rằng :
- Nay mày được thay cô chủ lấy chồng quyền quý, nhất thiết phải làm thật giống tiểu thư. Không được hở chuyện. Người nhà trai biết, thì mày phải chịu tội trước tiên!
  Cô dâu lên kiệu, Hà Kiều nói với Tinh Nga trong phòng riêng :
- Sao không nhân dịp này chị đến nhà em chơi một vài hôm. Mai này về quê nhà cũng chưa muộn!
  Tinh Nga bằng lòng, cả hai thu xếp ra cổng dinh chế đài mà không bắt gặp một ai, thì đã thấy một người dắt hai con lừa chờ sẵn. Nhưng Tinh Nga từ nhỏ không cưỡi lừa bao giờ. Trời lại tối, không thể đi được. Hà Kiều liền lệnh cho người dắt lừa biến thành một chiếc xe do la kéo. Đi chưa bao lâu thì đã thấy dừng trước cổng nhà họ Vương. Rõ ràng thế gia vọng tộc, lầu son gác tía hết lớp này đến lớp khác, nguy nga tráng lệ. Hà Kiều dẫn vào nội thất, màn che trướng rủ hết cửa này sang cửa khác, xa hoa rực rỡ, như cung điện của bậc vương giả. Tinh Nga ở riêng một phòng góc tây dinh thự. Có hai hầu gái theo hầu, một tên Lộ Hương, một tên Vũ Hương.
  Sau nhà gác nhỏ là một vườn hoa, với hồ nước, núi non, suối tuôn róc rách, chẳng khác gì trong tranh vẽ cảnh thiên tiên nơi Bồng Lai, Phương Trượng vậy! Ngày nào Hà Kiều cũng đến phòng, ngồi làm thơ, thêu thùa chán thì lại cùng Tinh Nga ra dạo cảnh vườn, câu cá, đánh cờ! Đấy chính là quãng đời hạnh phúc nhất của cả hai người.
  Tinh Nga ở nhà của Hà Kiều cũng đã được mấy tháng. Thăm dò tin trong thành Vũ Xương, thì mới biết từ ngày lấy vợ, Phật Mi công tử sống khá hòa thuận với cô vợ mới, điều chủ yếu là bởi trong thâm tâm, Phật Mi vẫn nghĩ vợ mình là Tinh Nga nổi danh tài sắc trong vùng. Vì vậy Tinh Nga vô cùng khâm phục tài nghệ Hà Kiều, xin với Hà Kiều truyền thụ cho mình bí quyết thay đổi dáng mặt kì diệu này. Hà Kiều nói :
- Thuật này không thể truyền thụ một cách bình thường được. Vả lại chị là người của xã hội quyền quý sang giàu, còn được hưởng thụ cuộc sống trần tục đầy cám dỗ. Em chỉ xin truyền thụ cho chị phép xem tướng người, để mai này, chị vì nó mà có thể kiếm được một tấm chồng danh giá thôi!
  Nói rồi Hà Kiều mở giương có khóa riêng của mình, lấy ra cho Tinh Nga một quyển sách, chỉ khỏang vài chục trang, có tên Liễu Trang tướng kinh. Ngày đêm hướng dẫn cho Tinh Nga, nhưng cũng phải mất năm mươi ngày sau, nghệ thuật xem tướng người của Tinh Nga mới thành thạo.
  Tinh Nga xa cha mẹ đẻ cũng đã lâu nên muốn về quê nhà, bèn nói với Hà Kiều :
- Từ ngày xa cha mẹ, đến nay cũng đã hơn ba năm. Nhưng vì nhiều chuyện khác thường, nếu có chuyện xấu xảy ra, không biết trốn tránh ở đâu. Xin em hãy cho chị một lời khuyên!
  Hà Kiều đáp :
- Cứ như quẻ bói của em, thì muốn cầu hôn nhân tốt thì nên đi về hướng bắc. Nhất là vùng Sơn Đông, cư trú một thời gian thì tốt hơn cả!
  Nói rồi lấy trong người ra một tấm gương, trong suốt, soi vào trông thấy cả chiếc lông nhỏ, những nếp nhăn nhỏ trên mặt, rồi đưa cho Tinh Nga, nói :
- Dùng gương này mà soi người thiên hạ, không ai là không rõ ràng. Xin chị hãy bảo trọng!
  Tinh Nga về quê nhà, nói rõ đầu đuôi mọi chuyện cùng cha mẹ. Cả hai không khỏi bàng hoàng, kinh sợ. Bởi vì trước đó, cậu họ Đường đã có thư về, nói rõ Tinh Nga lấy chồng danh giá ra sao. Cho nên họ hàng đều biết rõ Tinh Nga đã lấy chồng, nên khi thấy Tinh Nga về, đều đến chúc mừng. Cho nên cả nhà đều không dám thổ lộ cho ai biết những chuyện mà Tinh Nga kể.
  Tinh Nga có một người dì, lấy về một gia tộc nho học thi thư vùng Tế Nam, gia đình lại giàu có, nên Tinh Nga lên đường sang nhà dì ở ít lâu, để tránh điều tiếng dị nghị. Không bao lâu, nghe tin một toán giặc lớn sắp kéo về Tế Nam. Và quả tình, chuyện thành sự thật. Bọn này tấn công chiếm Trấn Thành, rất gần Tế Nam. Thành Tế Nam vì vậy có lệnh giới nghiêm, thành lập các đội dân vệ, tòan lực cho phòng thủ thành trì. Dân chúng vì vậy mạnh ai nấy lo, bỏ thành tìm nơi nương náu. Tinh Nga cùng dì cũng trong số người chạy lọan này. Giữa đường gặp một toán cướp nhỏ. Mọi người trong gia quyến lại mỗi nơi, theo dân trốn vào núi sâu.
  Tinh Nga một thân một mình, chân nhỏ yếu, đường sườn núi là đường hoang, hoặc không có, phải vạch lá vạch cây mà đi theo mọi người. Tinh Nga trượt chân, tay văn không bám được vào cây, ngã lăn xuống vực sâu, phen này thì chết mười mươi. Nhưng còn may, những dây rừng đỡ bên dưới. Đến khi lăn được xuống đất thì lại là chỗ đất mềm, bởi lá cây rụng dày hàng thước. Tinh Nga nhìn trước sau, giờ không một bóng người, không ngăn nổi tiếng nức nở. Bỗng nghe tiếng người sau lưng :
- Làm gì mà khóc nghe thương tâm đến vậy?
  Tinh Nga nghe tiếng con gái rất quen, vội quay lại, thì ra là Hà Kiều. Cả hai ôm lấy nhau vô cùng mừng rỡ, nước mắt bốn hàng cùng chảy. Tinh Nga định thần, bảo :
- Đây là mộng hay là thực vậy?
  Hà Kiều nói :
- Em đã tiên liệu trước nhất định chị sẽ mắc nạn như thế này, nên chờ đây cứu chị. Giặc cướp rồi sẽ tan, thanh bình trở lại, chị không lo lắng làm gì. Đây không phải là chỗ ở lâu được. Chúng ta hãy cùng nhau về biệt thự của em cũng gần đây thôi!
  Nói rồi Hà Kiều dìu Tinh Nga đi, vòng vèo một hồi thì khỏang bốn năm gian nhà cỏ xuất hiện. Phía trước là suối nước trong có cầu bắc qua, nước réo êm ả thanh bình. Vượt qua cầu, rẽ vào lối nhỏ vào nhà, có biển đề hai chữ : Kì Viên. Hà Kiều chỉ mấy gian nhà cỏ :
- Đây chính là nơi ở của em hiện nay!
  Vào bên trong, gian khách, bàn ghế đều bằng đá, đây đó những khóm lan rừng tỏa hương thơm ngát. Xung quanh nhà rợp bóng tùng xanh bách biếc. Cảnh trí thật vô cùng trong sạch yên tĩnh. Đây đó góc vườn, những hàng trúc khẽ động lá hòa cùng tiếng nước suối ngoài xa. Nhìn kĩ phòng ở, thì lại toàn bằng đồ tre trúc nhưng rất tinh tế. Rèm trúc, giường tre kiểu cách, mang một dáng vẻ thôn dã thi vị khác thường của một người ẩn dật, một đạo sĩ luyện đan, ngồi thiền. Tinh Nga lên tiếng :
- Vào nơi đây tinh thần thư thái, khiến người ta quên cả trần thế ô trọc ngoài kia. Tinh Nga chỉ muốn ở lại đây, không muốn về nữa đâu!
  Hà Kiều cười :
- Chỉ sợ chị lòng trần còn nặng, không thể ở đây lâu thôi!
  Tối hôm ấy, hai chị em kể chuyện từ ngày xa nhau, suốt đêm không ngủ. Đến gần hết canh năm, bỗng nghe chung quanh huyên náo, khiến Tinh Nga trong khi vừa thiếp đi chòang dậy, nhìn ra bốn phía trống không. Lại chỉ toàn cảnh rừng núi chạy lọan khi chưa gặp Hà Kiều, cũng chưa rơi xuống vực sâu. Tinh Nga nhác trông phía trước có một ngôi đình nhỏ, gắng sức lê lại gần. Trong đình có một vài ghế đá. Tinh Nga vào ngồi nghỉ, chờ xem quang cảnh bên ngoài ra sao. Nhưng không ngờ đã có một người ngồi. Nhìn kĩ, một công tử ra dáng con nhà, áo mũ thư sinh, thần thái phong lưu. Nhất là hai mắt đầy vẻ thông minh. Tinh Nga cũng băn khoăn hư thực, không biết có nên tin vào con mắt mình không, bèn lấy tấm gương mà Hà Kiều cho dạo nào, kín đáo nhìn chàng công tử nọ qua gương, thì thấy cũng đúng như nhận xét ban đầu của mình.
  Công tử quay lại, nhận ra sự có mặt của Tinh Nga thì vô cùng kinh ngạc trước sắc vẻ duyên dáng, đẹp đẽ của Tinh Nga, lại mang nét đoan chính trang trọng, khiến người mới nhìn lần đầu đã tin tưởng. Thấy công tử đứng dậy chào mình, Tinh Nga vội vàng đáp lễ. Bốn mắt nhìn nhau, một thóang tình cảm vụt qua giữa hai tâm hồn đôi trai gái. Nhưng họ chưa kịp nói với nhau một lời thì bên ngoài lại có tiếng ngựa hí, tiếng người truyền nhau :
- Lũ cướp đã tới..chạy cho mau...
  Tinh Nga cuống cuồng, không biết làm gì nữa, nói trong nức nở :
- Thiếp nguyện chết nơi này thôi, không thể nào chạy được nữa!
  Công tử nhẹ nhàng nói :
- Người nhà nàng đâu? Lạc nhau cả rồi sao?
  Tinh Nga đáp :
- Đúng vậy!
  Công tử tiếp :
- Cướp đã tới, không thể đứng đây. Tiểu sinh có một con la, đang buộc bên ngoài, xin dành tiểu thư cưỡi, chúng ta đi ngay mới kịp.
  Tinh Nga nói :
- Thiếp không thể nghe lời công tử. Thiếp cưỡi la, để công tử đi bộ coi sao được? Dẫu thiếp có vì vậy mà chịu họa ở đây, thiếp cũng không thể vâng theo được!
  Công tử nói :
- Con la rất khoẻ, có thể cõng cả hai chúng ta. Hơn nữa tiểu thư lại gầy yếu thế này, thì không nặng thêm bao nhiêu. Hiềm nỗi nam nữ thụ thụ bất thân, dù trong họan nạn cũng không thể cẩu thả được!
  Tinh Nga đỏ hồng hai má, hỏi họ tên công tử. Công tử bèn nói ngay rằng, mình con nhà quan lại mấy đời ở Tế Nam, họ Lư, tên Vũ Nhân, có chân cống sinh. Tinh Nga cố giấu vẻ thẹn thùng, hỏi :
- Đã lấy vợ chưa?
- Chưa có vợ bao giờ cả!
  Tinh Nga liền gượng nói :
- Thiếp cũng chưa một lần hôn phối. Nếu như chúng ta đồng lòng bắt chước Chung Kiến ngày xưa (5), thì thiếp xin nghe theo cùng ngồi lưng lừa với công tử. Còn nếu không, thì thiếp quyết tuyệt mệnh ở ngôi đình này thôi, nhất định không đi đâu cả!
  Vũ Nhân nói ngay :
- Tiểu sinh xin vâng mệnh!
  Thế rồi Tinh Nga cùng Vũ Nhân đứng giữa đình vái lễ lẫn nhaua làm lễ thành thân. Vũ Nhân tháo trên cổ mình chiếc dây đeo vòng uyên ương, đưa cho Tinh Nga, nói :
- Xin dùng cái này để ghi tạc chuyện trăm năm giữa chúng ta!
  Vũ Nhân đỡ Tinh Nga lên lưng lừa, rồi cùng nhảy lên, ra roi. Vừa kịp thóat được chỗ nguy hiểm.
  Không lâu sau, thế giặc tan nát, thành Tế Nam được giải phọng Vũ Nhân cùng Tinh Nga trở về. Tạm thời trú ở nhà thân thích trong thành, nghe tin gia quyến Tinh Nga đều bình an, cho người báo tin, Tinh Nga về nhà. Nhờ người mối, chọn ngày lành làm lễ thành thân.
  Năm sau, Vũ Nhân thi đậu hương khoa, năm thứ hai đậu tiến sĩ, vào Viện hàn lâm. Không đầy mười năm, đã là đại quan một phương lớn. Trong khi đó, công tử nhà họ Lê, từ sau khi cha qua đời, cờ bạc bán sạch cơ nghiệp, đến nỗi không còn một tấc đất cắm dùi. Cô hầu gái giả dạng Tinh Nga qua đời.
  Chỉ riêng Vương Liên Phương, không biết vận mệnh ra sao. Là thánh chăng? Là tiên chăng? Cuối cùng chẳng ai biết ! Có người cả quyết, Vương Liên Phương chính là con hồ li tinh, cư trú trong biệt thự phía đông dinh thự chế đài Vũ Xương!
 
Nguyên văn : Vương Liên Phương. Quyển 10.
 
 
 
---------------------------------
Chú Thích :
1. Thân Bất Hại :? - 337 trước công nguyên, người nước Trịnh thời Chiến quốc. Theo chủ trương bình dân của Hòang Lão. Mười lăm năm là tương khiến nước Hàn cường thịnh. Có sách Thân tử, 6 quyển.
   Hàn Phi tử : tên sách, tương truyền người sau sưu tầm các bài của Hàn Phi, 280 - 233 trước công nguyên. Công tử nước Hàn thời chiến quốc.
2. Tiết Dạ Lai : chưa tra được.
3. Kim thiền thóat xác : con vè bằng vàng cởi vỏ bên ngoài để thóat thân. Thành ngữ.
4. Tục bó chân : đàn bà con gái quý tộc cổ đại Trung quốc bó chân cho đẹp vì nhỏ nên khó và có khi không tự đi lại được. Mãi đến cuối thế kỉ XX mới bỏ hẳn.
5. Theo Đông Chu liệt quốc, em gái vua Sở chạy lọan theo anh, trong lúc vội vàng từ thuyền lên, không ai đỡ, giặc kéo đến. Quan tùy tòng Chung Kiến ghé vai cõng. Về kinh, tính chuyện gả chồng cho em. Công chúa nói : Chung Kiến chính là chồng công chú, vì đã chung đụng thân thể, quyết không lấy ai khác.
Beautiful things happen when you love someone.
Đăng nhập để trả lời
0