📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Cổ Nhạc

Dạ cổ hoài lang

1 trả lời, 1.276 lượt xem — Trang 1 / 1
Dạ cổ hoài lang - một xuất xứ buồn
Vào đầu thế kỷ thứ 20, âm nhạc Tài tử miền Nam đã thành hình, nhờ các nhạc sĩ, nhạc quan của triều Nguyễn, theo phong trào Cần Vương vào Nam, đem theo truyền thống âm nhạc đất thần kinh, chuyển thành hơi miền Nam, có khi đi ngang qua các tỉnh miền Quảng Nam, Quảng Ngãi trước khi vào Nam, nên các bực thầy trong nghề thường nói gốc đờn tài tử là từ đờn Huế hay đờn Quảng.

Chữ "tài tử" có nghĩa là "người có tài", mà cũng có nghĩa là "không chuyên nghiệp". Mà không chuyên nghiệp không phải là tài nghệ không cao, không cần luyện tập. Những người nổi tiếng trong giới Tài tử là những bực thầy, bài bản đầy đủ, lại có những ngón đờn, những chữ độc đáo, tuyệt diệu. Nhưng muốn nghe tiếng đờn kỳ diệu đó, không phải có tiền mà được. Người đờn "tài tử" chỉ gặp nhau trong những buổi hòa nhạc để thưởng thức tài nghệ chớ không phải đờn để kiếm tiền mưu sống.

Tác giả bài Dạ cổ hoài lang


Ông Sáu Lầu, tên là Cao Văn Lầu sanh ra vào lối năm 1890 tại xã Thuận Lễ, tỉnh Tân An. Năm lên 6 tuổi, theo cha về Bạc Liêu (theo ông Trần Văn Khải, Nghệ thuật sân khấu Việt Nam, Sài Gòn, Khai Trí, xuất bản năm 1970) hay là năm 1892 theo lời ông Bùi Trung Tín (Bản vọng cổ trên từng chặng đường phát triển, tạp chí Văn Hóa tháng 5.1994).

Trong bài báo Một cuộc phỏng vấn bất ngờ của Thanh Cao đăng trong báo Dân Mới ngày chủ nhật 20-12-53, khi Thanh Cao hỏi ông Sáu Lầu: "Chẳng hay từ ngày bác cho ra đời bản Vọng cổ, đến nay đã được bao nhiêu năm rồi. Và bác còn nhớ năm nào chăng?". Ông Sáu Lầu đã trả lời:"Tôi không nhớ rõ đã được bao nhiêu lâu, nhưng chỉ nhớ năm ấy tôi được 29 tuổi và bây giờ tôi đã lên 63". Báo đăng bài phỏng vấn năm 1953, ông 63 tuổi năm ấy, tức là ông chào đời năm 1890. Và năm ông sáng tác bài Dạ cổ hoài lang là năm 1919, lúc "khủng hoảng tinh thần", trong "hoàn cảnh đau thương", bị mẹ bắt buộc phải ly dị với vợ ông sau 8 năm chung sống, vì lý do bà vợ không sanh con nối dòng. Ông buồn nhớ bạn lang nên đặt ra bài ca tên Hoài lang.

Ông Bùi Trung Tín cũng nói lý lẽ như trên và thêm chi tiết là ông Bảy Kiên đề nghị thêm vô hai chữ Dạ cổ là tiếng trống ban đêm... Năm sáng tác là 1920, và nơi sáng tác là nhà đèn Bạc Liêu.

GS Thuyết Phong thì ghi rằng: ông Sáu Lầu sáng tác bài Dạ cổ hoài lang vào khoảng 1919-1920, không phải vì thương nhớ bạn lang, nhớ vợ bị bắt buộc ly dị, mà nhân dịp có một nhóm nghệ sĩ từ Huế vào trình diễn trong Nam, ông Sáu Lầu sáng tác bài Dạ cổ hoài lang để đáp lễ nhóm nghệ sĩ Huế (Thế giới âm thanh Việt Nam - Hoa Cau xb, California, tr.72).

Tuy những việc ấy không quan trọng lắm nhưng tôi ghi lại để các bạn thấy rằng chỉ có mấy điểm: năm sanh ông Sáu Lầu, năm sáng tác bài Dạ cổ hoài lang và trường hợp sáng tác, mà các nhà báo, nghiên cứu âm nhạc chưa nhất trí. Ông Sáu Lầu là học trò ông Nhạc Khi, thường gọi là ông Hai Khi thầy đờn tại Bạc Liêu. Ngoài bài Dạ cổ hoài lang, ông Sáu Lầu còn sáng tác bài Minh Hoàng thưởng nguyệt, Giọt mưa đêm nhưng không ai biết mấy bài ấy. (Thanh Cao, Báo Dân Mới 20-12-53, trang 3).

Lời bài Dạ cổ hoài lang

Từ là từ phu tướng
Báu kiếm sắc phán lên đường
Vào ra luống trông tin nhạn
Năm canh mơ màng
Em luống trông tin chàng
Ôi gan vàng thêm đau
Đường dù xa ong bướm
Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang
Còn đêm luống trông tin bạn
Ngày mỏi mòn như đá vọng phu
Vọng phu luống trông tin chàng
Lòng xin chớ phụ phàng
Chàng là chàng có hay
Đêm thiếp nằm luống những sầu tây
Biết bao thuở đó đây sum vầy ?
Duyên sắc cầm đừng lợt phai
Là nguyện cho chàng
Hai chữ bình an
Trở lại gia đàng
Cho én nhạn hiệp đôi
(Trích trong bài của Bùi Trung Tín đã dẫn phía trên).

Nhớ người ra đi, nhắc người đừng phụ tình bạc nghĩa. Người ở nhà mòn mỏi trông tin nhạn, luôn luôn mong mỏi từng giây phút trùng phùng. Tâm trạng đó là tâm trạng chung của nhiều thiếu phụ Việt Nam thời bấy giờ. Vì bổn phận, vì nhiệm vụ chồng phải "chấp kiếm lên đường", đi ra biên ải. Biên ải thật sự hay biên ải của một cuộc đấu tranh giành độc lập cho xứ sở. Hay biên ải xa vời của những người lính Việt bị mộ sang Pháp trong thế chiến thứ nhất (1914-1918). Trong các trường hợp ấy, người thiếu phụ trông chồng phải vì nghĩa chung mà gác niềm tây. Cái buồn của người Việt Nam thường ém vào trong, muốn nói, lắm khi nghẹn ngào chẳng thốt nên lời, nhưng nó đã có từ khi lập quốc, vì phải chống thiên tai, chống ngoại xâm, cái buồn khó tả khôn nguôi trong thời bị trị. Cái buồn dính liền với bản chất người Việt Nam đa tình, đa cảm, hay quyến luyến, hay bịn rịn, dầu sanh ly hay tử biệt, khó cắt đứt sợi dây vô hình cột chặt người ở lại với người ra đi.

Bài Dạ cổ hoài lang gợi lên được cái buồn bí ẩn trong thâm tâm của con người Việt Nam.

Trong cổ nhạc Việt Nam chưa có bài nào, bản nhạc nào được như bài Dạ cổ hoài lang, biến thành "Vọng cổ", từ một sáng tác tập thể, sanh ra từ thế kỷ, lớn lên, sống mạnh, phát triển không ngừng, biến hóa thiên hình vạn trạng, mà sẽ còn sống mãi trong lòng người Việt trong nước và rải rác khắp năm châu.

GS. Trần Văn Khê

Paris - 1998

--------------------------------------------------------------------------------




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-03-26 01:24:32viviy2k>
Đăng nhập để trả lời
0