📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Giàn Thiêu - Võ Thị Hảo

9 trả lời, 1.248 lượt xem — Trang 1 / 1
Chương 4

ĐẠI ĐĂNG KHOA

Không mưa. Không mây. Giao trì yến.
Từng cánh bích đào rụng lạng hoàng kim điện
Rèm châu nửa cuốn hương trời
 
 

Khúc nhạc nổi tiếng thường được tấu lên trong cung của Hoàng đế nhà Tống rộn ràng ngân trên những còn đường đất lỗ chỗ vết chân trâu bên bờ sông Nhuệ. Tiếng kèn, tiếng tỳ bà, tiếng ngũ huyền cầm, tiếng đàn tranh réo rắt pha lẫn tiếng sênh rộn ràng làm náo động cả một vùng. Trên con đường dẫn vào làng Nha Thượng bên bờ sống Nhuệ nước sông in bóng một đoàn người xiêm áo sặc sỡ rồng rắn kéo nhau đi làm đỏ cả một khúc sông. Dẫn đầu đoàn người là ông mai bà mối áo vóc hồng miệng bỏm bẻm nhai trầu mắt lúng liếng như người trong cơn say. Tay ông mai bà mối nâng một giải lụa hồng bay phất phơ trong gió xuân. Mười hai cô gái thanh tân môi hồng đào răng đen nhức áo tứ thân cổ viền trắng uyển chuyển đội trên đầu mười hai cỗ quả sơn son thiếp vàng. Những mái tóc buộc túm cao trên đỉnh đầu cài trâm sừng trạm bạc hình chim phượng khiến đuôi tóc xoè ra như những đuôi công. Họ bước đi như múa trong tiếng nhạc thảy ra từ ngón tay của mười hai nhạc công trong giáo phường đang mải miết búng trên đàn sáo. Gío rung rặng ổi ven sông Nhuệ rắc những cành hoa trắng muốt của mùa xuân trên vai trên tóc đoàn người.

Công tử Lý Câu xuống ngựa. Hai tiểu đồng để tóc trái đào cúi khom lưng nhấc vạt áo thụng xanh chùng quết đất để lộ dáng hài mũi cong có đính những hạt minh châu màu hồng. Một tiểu đồng áo đỏ đang đứng đằng sau vội bước lên phía trước, hấp tấp quỳ dâng trước mặt công tử một bộ điếu bát khảm vàng với chiếc điếu là đoạn trúc ngà cong vút. Một tay tựa vai tiểu đồng một tay Lý Câu xoè ra vít ống điếu. Tiểu đồng tra thuốc lào vào nõ điếu rồi quay mặt che người chắn gió thận trọng kéo bùi nhùi châm lửa. Lửa từ chiếc đóm vừa bén vào dúm thuốc lào vàng rộm, Lý Câu ghé miệng ngậm lấy ống điếu rồi chúm môi như trẻ con mút vú mẹ. Tiếng rít qua nõ điếu tanh tách vang giòn. Lý Câu khoan khoái vươn cổ ngửa mặt lên trời. Từng cụm khói màu trắng nối nhau phun ra khỏi miệng công tử. Một chén ngọc nước chè mạn đã được tiểu đồng rót sẵn trên tay tiểu đồng để công tử chiêu cho ngọt giọng.

Xong đâu đấy, công tử oai nghiêm phất tay áo rộng. Đàn sáo lại vang lừng. Đoàn người sặc sỡ nối nhau nhịp nhàng chuyển bước. Trao dây cương cho tên lính hộ vệ, Lý Câu xênh xang nhập vào đoàn người, đi cùng ông bà mai mối. Theo sau Lý Câu có bốn tiểu đồng khác lặc lè khiêng một thúng tiền đồng. Kèm bên thúng tiền là một bà già tóc bạc da hồng, mặt mũi phúc hậu, môi ăn trầu cắn chỉ, cứ hai mươi mốt bước lại sục tay vào vốc một nắm tiền tung hú hoạ lên đầu đám người hiếu kỳ kéo ra xem đông nghịt ven sông. Người lớn reo hò la hét tranh nhau nhặt tiền. Cứ mỗi lần như vậy, trên mặt Lý Câu lại giãn nở một nụ cười tự đắc.

… Mây xuân cùng trúc lẻ
Mềm mại hẹn cùng Tiêu Hán
Má hồng ngất ngây thanh thản…

Từ trong nhà, quan Ngũ phẩm Tôn Trinh đã vẳng nghe tiếng đàn sáo rộn ràng từ xa vọng tới. Ông chậm rãi leo lên lầu ngóng đợi đoàn người đang đến làm lễ Đại đăng khoa cho Lý Câu và Nhuệ Anh con gái yêu của ông.

Ký ức những ngày qua dồn đập đổ về khiến lòng ông chua xót.

*
**

Bạn đồng liêu là Tăng đô án Từ Vinh bị người hại chết trong đêm Nguyên tiêu. Tôn Trinh buồn đau, bối rối. Nỗi oan trái của nhà Tăng đô án giáng lên đầu mẹ con Từ Lộ khiến cho tương lai tưởng đã rạng ngời của Nhuệ Anh bỗng sập tối như bị một đám mây đen phũ phàng che kín. Gia thế họ Từ không hẳn vào hàng đại phú nhưng nề nếp gia thư danh giá nổi tiếng khắp đất kinh kỳ, mà chỉ trong chưa đầy một tuần trăng đã tan nát. Bao nhiêu tài sản quý giá từ thời ông cha để lại nay như có chân chạy về nhà Diên Thành hầu và lũ tay chân nha lại. Từ Vinh phu nhân lìa đời. Từ Lộ bị khép tội vu oan giá hoạ cho hoàng thân nhất đẳng công thần Diên Thành hầu. Tội đáng xử trảm. May được ân vua mở lòng khoan thứ nên mới thoát chết. Không biết Từ công tử phiêu bạt nơi đâu. Nghĩ đến tình bạn và lời hẹn ước cũ, Tôn Trinh đã cho người bí mật đi dò tìm tông tích mong có thể giúp đỡ được phần nào chàng trai lúc hoạn nạn. Những người biết Từ Lộ đều quả quyết là chàng không đi đâu ra khỏi kinh thành. Tai hoạ giáng xuống, lòng quá đau đớn phẫn uất nên Từ chủ tâm lánh mặt mọi người mà thôi. Nhuệ Anh, sau khi Từ Lộ bỏ đi không thiết ăn uống, suốt ngày than khóc, ban đêm giam mình trong thư phòng với những vần thơ sầu oán bạc mệnh… Giữa lúc đó Diên Thành hầu sai người đến đánh tiếng mai mối Nhuệ Anh cho công tử Lý Câu.

Tôn Trinh chẳng ưa gì Lý Câu. Diên Thành hầu là bậc quyền thế thiên hạ, lời sấm giọng sét chỉ sau đấng chí tôn nhưng người kinh thành ai chẳng có lần truyền tai nhau về những điều mờ ám mà cha con ông ta đã làm. Chuyện cái thây Từ Vinh bỗng dưng trôi ngược trên sông, dựng đứng ba ngày ba đêm, tay cứ chỉ thẳng vào nhà Diên Thành hầu đã ám ánh Tôn Trinh. Đêm ông không ngủ, tâm trí không thoát ra được câu chuyện oan khốc nhà Từ Vinh. Ông ngờ vực mối liên quan giữa Diên Thành hầu và cái chết tức tưởi của người bạn đồng liêu. Ông biết Từ Vinh từng dâng lên đấng cửu trùng những tờ tấu tố cáo tội lỗi của cha con Diên Thành hầu, vì được che chở nên nên cha con nhà này vẫn vô sự. Công tử Lý Câu cũng không thèm giấu giếm sự tức tối và nhiều lần cho người giở giọng doạ cha con ông sau khi Nhuệ Anh khước từ lời cầu hôn của hắn, chỉ một mực trao duyên gửi phận cho Từ Lộ. Tai tiếng của công tử Lý Câu đã danh khắp đất này. Chưa qua hai mươi tuổi mà trong nhà công tử Câu đã nuôi một lũ nàng hầu con hát lả lướt khêu gợi đủ vẻ. Ấy thế mà ra đường gặp con gái nhà lành mặt mũi tươi tắn là lập tức cho gia nhân túm tóc lôi tay đưa về dinh thự ép chuyện mây mưa rồi mới thả. Nếu không phải là quý tử của Diên Thành hầu, hẳn giờ này Lý Câu đã nằm rũ trong lao kinh nội.
Trước đây, khi mai mối đến ngỏ lời dạm hỏi, Tôn Trinh đã uốn lưỡi khéo chối. Nại cớ tuổi Nhuệ Anh còn ít, nhà lại chỉ có một gái, nên chưa muốn xa con. Những tưởng khi mai mối ra khỏi cửa là chuyện đã xong. Nhưng tới tuần trăng sau, vào dịp tết hoa nở ngày rằm tháng Hai, bỗng có người khiếng đến đặt trước sân nhà ông một chiếc quả lớn đựng đầy trầu cau bánh trái thượng hạng. Hỏi ra là gia nhân trong phủ Diên Thành hầu theo lệnh công tử Lý Câu mang quà Tết đến. Vợ chồng Tôn Trinh chưa kịp nói câu nào, lũ gia nhân nhà Diên Thành hầu đã lặng lẽ rút đòn khiêng, kéo nhau mất biến suo dậu tre ngà đầu ngõ. Thế là ván đã đóng thuyền, mặc dù Nhuệ Anh lăn lộn khóc lóc một mực xăm xăm đòi trả trầu cau. Nhuệ Anh và cô hầu gái xoã tóc, mặt mày không điểm trang, cố tình ăn mặc rách rưới lê lết khiêng chiếc quả ra đến đầu ngõ toan mang đi trả. Đón nàng đầu ngõ là ngũ phẩm phu nhân tay cầm con dao cau sắc như nước:
- Nhuệ Anh! Cứ mang mâm trầu đi. Nhưng hày dùng dao này đâm cổ mẹ trước đã.
Nhuệ Anh dừng sững lại. Mẹ nàng vật mình khóc:
- Dù con có hứa hôn với công tử Từ Lộ nhưng bỗng dưng nhà có trọng tội với triều đình. Nhà cửa tan nát. Vị hôn phu của con thì biệt tăm tích không lời nhắn gửi, không biết sống chết ra sao. Nếu nó có lòng với con, ít ra cũng phải có lời từ biệt… Nay công tử Lý Câu cũng là người khôi ngô, con nhà danh giá. Con gái có thì… Chuyện ăn chơi đối với đám công tử con nhà quyền thế như vậy âu cũng là lẽ thường tình. Đàn bà là phận tôi mọi, nếu để bụng chuyện ấy thì không sống nổi đâu con ạ. Con không thấy đó sao, ở kinh thành này đã bao nhà tan nát vì trái ý Diên Thành hầu… Cha mẹ sinh con ra chưa mong con báo đáp điều gì… Nay chỉ xin con… đừng đang tâm hãm hại cha con vào vòng lao khổ…
Dứt lời, bà mẹ lùi mấy bước, quì thụp xuống, hai tay chắp lại vái sống về phía con gái.
Nhuệ Anh rụng rời. Chân nàng dính chặt xuống mặt đất. Rồi không nói một lời, Nhuệ Anh buông mâm lễ vật. Chiếc mâm đồng rơi xoảng và những tấm bánh, buồng cau lăn lóc tung toé trước ngõ. Nhuệ Anh cắn vào môi bật máu. Từng bước câm lặng, nàng giẫm lên la liệt trầu cau, bánh trái, rồi như một cái xác không hồn lặng lẽ trở vào buồng.

Nửa đêm hôm đó, Nhuệ Anh mặc áo cánh ngắn, tóc vận gọn cài trâm gỗ, bó rơm vào đế giày để chân đi không phát ra tiếng động. Nàng rón rén bước qua mình cô hầu thân tín đang ngủ mê kêu ú ớ, nhẹ bước như một con mèo lẹ làng ra khỏi nhà. Băng mình qua đêm tối, quên cả sợ hãi, Nhuệ Anh đi tìm Từ Lộ. Nhiều người đồn rằng Từ đã bị pháp sư ĐẠI ĐIÊN dùng bùa phép giết chết. Riêng Nhuệ Anh biết chỗ chàng ẩn náu. Cái am nhỏ thờ thần đất ấy nằm bên cạnh bờ sông gần cầu Quyết nhưng đã nhiều năm không hương khói mà thành hoang phế, chung quanh là cánh rừng rậm rịt những tầng mây gai tối sẫm, lại thêm tiếng kẽo kẹt ghê người phát ra từ những thân tre khô xác cọ vào nhau mỗi khi gió thổi khiến người bạo gan cũng sởn gai ốc. Chốn ấy hầu như không có ai đặt chân tới. Tiết Thanh minh năm ngoái, nàng và Từ trốn cha mẹ, lựa lúc cô hầu gái và lão bộc đang mải xem thiên hạ lễ bái tảo mộ, mới rủ nhau lẻn đi chơi. Hai người mải mê trò chuyện, không nhận ra mình đã lạc bước tới tận cầu Quyết, lạc tới cửa miếu hoang. Nhuệ Anh nhìn bụi cây dày đặc, thấy trời sắp tối, lại lo về muộn, cha quở mắng, oà lên khóc. Nàng càng khóc, Từ Lộ càng hoảng hốt, vừa dỗ dành vừa loanh quanh mãi không tìm thấy đường về. Mãi sau, lão bộc sốt ruột chạy bổ đi tìm, may mới đón được họ.

Tai hoạ xẩy ra, Từ mất tích. Bằng linh cảm, nàng luôn cảm thấy chàng đang sống, đang ở đâu đây, rất gần. Sau nhiều lần cho gia nhân lùng sục dò tìm, nàng bí mật ăn mặc như một người hái củi tha thẩn khắp nới. Tay vờ nhặt củi khô mà mắt thì sục sạo dõi tìm. Cuối cùng Nhuệ Anh tới ngôi miếu thổ thần hoang phế bên sông.

Trong miếu, giữa tấm thân rỗng của bức tượng thổ thần mà mối đã ăn mất một bên chân, Từ đang ẩn náu, tím ruột bầm gan tìm kế trả thù. Chàng đã thành một người khác. Không còn dấu vết gì của chàng trai hào hoa phong nhã nồng nàn. Gương mặt tuấn tủ yêu dấu ngày nào nay xanh tái. Đôi mắt dịu dàng tình tứ trước đây nay như bốc lửa dưới đôi mày rậm. Nhiều lúc đang nói chuyện cùng nàng mà cái nhìn của Từ như đặt vào khoảng không. Trong con ngươi của đôi mắt rừng rực ấy loé lên một ngọn lửa man dại.

Nhuệ Anh biết, trong lòng chàng giờ đây chỉ có hận thù. Chàng nghĩ đến cái chết oan khiên của song thân. Nỗi đau của Từ như một thứ phong thấp nhập tâm phế. Nó khiến chàng câm lặng, ngày đêm nung nấu trong trí não một điều gì ghê gớm. Cháy ruột vì thương xót, Nhuệ Anh vẫn không khỏi chạnh lòng khi hiểu rằng với Từ, nàng không phải là tất cả của chàng, ngự trị trọn vẹn trái tim chàng như trước đây nàng đã lầm tưởng. Bây giờ nàng mới hiểu rằng trong con người Từ có một mảng tối mà nàng không hiểu và không thể với tới. Vẻ lặng lẽ u uẩn của Từ như muốn xua đuổi Nhuệ Anh. Nước mắt ròng ròng, tim đau như xé, chiều đã muộn, Từ vẫn ngồi cắn môi bật máu, cố không nhìn nàng. Nàng đành nín lặng ra về. Ngắm những vệt gai cào trên má in rõ mồn một trong tấm gương đồng treo đầu giường, Nhuệ Anh đổ vật xuống giường, ôm mặt khóc nức nở. Khi chiếc gối ướt đẫm nước mắt phả vào mặt nàng một mùi mặn lành lạnh, nàng như người sực tỉnh, đứng vụt dậy, giật đứt tấm lụa màu thiên thanh đang dệt dở trên khung cửi trùm kín chiếc gương đồng. Những vuông lụa dệt dở rủ xuống xơ xác như khăn tang,

Đêm rằm tháng Hai, Nhuệ Anh lần đến được ngôi miếu thì trống trên chòi điểm canh ba. Bụi cây đen ngòm quanh miếu khiến nàng chợn rợn như có bóng người rình rập. Trong bụi tre gai kẽo kẹt tiếng quỷ đưa võng. Giữa trời le lói vài ngôi sao nhợt nhạt. Tiếng chim lợn bay ngang qua đầu kêu "éc..éc..!" như đánh rơi những điềm gở. Vầng ngực của Nhuệ Anh thốt đau nhói vì sợ hãi. Nàng quay ngoắt ra phía sau. Không có gì đáng nghi ngại. Nhuệ Anhn vững dạ hơn chút ít. Nàng thận trọng gõ lên cánh cửa ọp ẹp của ngôi miếu ba tiếng khoan ba tiếng nhặt. Đó là ám hiệu mà nàng đã dặn Từ Lộ. Bên trong vẫn im ắng. Nhuệ Anh lặp lại ám hiệu thêm hai lần nữa, trong lòng rối bời. Chàng ốm… Chàng đã dại dột làm điều gì đó để bị bắt. Chân tay nàng bủn rủn.

Cố định thần nhìn kỹ cánh cửa, thấy hơi hé mở. Dường như có một làn hơi ấm mong manh phả ra Từ bên trong, lẫn giữa mùi lá mục và oai oai rêu phong. Làn hơi ấm đó chính là Từ. Cái mùi quen thuộc ấy không thể lẫn vào đâu được. Nàng dấn bước. Bóng tối trong căn miếu lập tức bưng chặt lấy mắt. Ánh đèn đom đóm soi rõ pho tượng thổ thần đắp bằng đất sét giờ đã bị mủn mất nửa đầu. Con mắt còn lại đang lừ lừ nhìn nàng Từ trên cao. Nhuệ Anh chột dạ cố trấn tĩnh để khỏi sợ hãi. "Lạy thổ thần phù hộ. Con đến đây không phải vì tà tâm…!". Nàng nín thở, cố nhướn mắt trông cho rõ người con trai đã khiến trái tim nàng ngày đêm bị bóp nghẹt.

- Nhuệ Anh. Xin nàng đừng tìm ta nữa.

Tiếng nói vang lên Từ phía sau khiến Nhuệ Anh giật bắn người.

Tựa lưng vào bức tượng, Từ Lộ ngồi xếp bằng trước một trang giấy đang viết dở. Những dòng chữ sẫm tối dường như hắt lên ánh đỏ. Nhuệ Anh nhìn kỹ. Trong cái bát sành trước mặt Từ không phải là thứ mực Tàu thông thường. Đây là một thứ nước sền sệt phả lên mùi mặn. Nàng nhìn đầu ngón tay trỏ của Từ Lộ. Đầu ngón tay đã bị cắn nát dù được dịt lại bằng mạng nhện nhưng vẫn đang rỉ máu. Nhuệ Anh hiểu rằng những dòng chữ đó được viết bằng máu của chàng.

- … Ta chỉ sống nốt kiếp này để báo thù!…

Nhuệ Anh lao tới ôm lấy bàn tay Từ Lộ, ấp lên ngực. Nàng khóc tức tưởi. Nước mắt của nàng làm ướt tay chàng. Hơi ấm của dòng nước mắt phút chốc làm tan băng giá giá trong lòng Từ Lộ. Từ khi song thân mất, Từ chỉ còn là một con thú bị săn đuổi. Ở đâu chàng cũng cảm thấy có hình bóng của bè lũ Diên Thành hầu và pháp sư Đại Điên truy tìm lùng sục. "Nhỏ cỏ phải nhổ cả rễ…". Chàng đã nghe người ta nói lại những lời đắc ý của Đại Điên khi hắn giết được cha chàng và thây cha chàng đứng sững trước cửa nhà Diên Thành hầu. Chàng đã chọn ngôi miếu hoang này làm nơi ẩn náu để tránh mọi điều bất trắc, nuôi chí, đợi cơ hội trả thù. Nhưng đêm nay dưới ánh mắt nồng nàn của người yêu, lòng Từ dịu lại, mềm ra thoáng chốc. Chàng đăm đắm ngắm gương mặt Nhuệ Anh. Chiếc cằm thanh tú hơi nặng ra vì khóc nhiều, những sợi tóc mai bơ phờ rối tung trước trán, rủ thành lọn bên thái dương, bết lại vì nước mắt mà trông càng quyến rũ. Từ Lộ xót xa bội phần ngắm vị hôn thê. Nếu cha chàng không chết vì tay Đại Điên và Diên Thành hầu thì gương mặt đẹp não lòng và thân hình trời cho này sẽ mãi mãi kề cận bên chàng, mãi mãi là của chàng. Đó là điều mà nhiều vương tôn công tử ở đất kinh thành này đều mơ ước. Nhưng giờ đây, mọi cánh cửa đều sập lại trước mặt chàng. Thù nhà khiến chàng không nghĩ được đến bất cứ một điều gì khác ngoài tiếng gọi báo oán. Trái tim Từ rắn trở lại. Tay chàng nắm chặt. Một dòng máu tươi rỉ xuống Từ đầu ngón tay trỏ mà chàng đã cắn nát để viết bức huyết thư trước mặt.

Nhuệ Anh rùng mình khi cảm thấy hơi lạnh Từ trong tim Từ chuyền qua những đầu ngón tay của bàn tay mà nàng đang ôm trước ngực. Bất giác Nhuệ Anh buông tay nhích về phía sau. Nhưng không thể kìm nén được, nàng lại nhòai thân đổ gục hai vai vào lòng Từ Lộ:

- Chàng ơi… Nguy rồi!… Sáng nay, Tết hoa nở, gia nhân của Lý Câu lại đội lễ vật tới…!

Vừa nghe thấy mấy tiếng "Lý Câu…" khắp người Từ Lộ rúng động. Chàng nắm hai vai Nhuệ Anh, đẩy nàng ra. Mấy ngón tay Từ bóp chặt đôi vai mảnh dẻ của Nhuệ Anh. Đôi mắt Từ như lồi ra, trừng trừng nhìn vào mắt nàng. Ánh mắt đó khiến đầu lưỡi Nhuệ Anh líu lại:

- …Từ Lộ! Hãy đưa em đi…! Hãy đưa em đi bất kỳ nơi nào. Đôi ta như cây liền cành…

Đôi mắt Từ vẫn mở trừng trừng trong bóng tối miếu hoang. Tưởng như chàng không còn nhìn thấy vị hôn thê phủ phục trước mặt, không nghe giọng nói van nài khẩn thiết của nàng. Một làn gió từ bên ngoài lọt vào cửa miếu, đốm đèn đom đóm trên bệ thờ thần vụt tắt. Im lặng. Mãi sau trong bóng tối âm u, tiếng của Từ mới lại vang lên rành rõ, ớn lạnh, vô cảm vô hồn:

- Nhuệ Anh… Xin nàng hãy quên ta đi. Xin nàng hãy coi như ta không còn trên cõi đời… Đời ta, dẫu sau này có thác xuống làm ma nơi âm phủ hay đầu thai vào kiếp khác… Ta vẫn vĩnh viễn mang ơn nàng…!

Nhuệ Anh còn chưa hết bàng hoàng vì những lời của Từ thì nàng đã thấy đôi bờ vai của mình trùng xuống chạm nền gạch lạnh toát của miếu hoang. Từ đã xoay người. Giờ đây chàng quay lưng lại phía nàng, úp mặt về phía tường rêu, hai con mắt vẫn mở trừng trừng lạnh lẽo…

Khi Nhuệ Anh tức tưởi chạy đến cổng nhà thì đã quá canh ba. Đôi bàn chân trần bé nhỏ tướp máu. Nỗi uất ức tuyệt vọng bóp nghẹt tim nàng. Nhuệ Anh lặng lẽ đẩy cánh cửa để vào nhà mà không nhận ra cha nàng đã bí mật theo sau nàng, đau đớn ngắm nhìn nỗi tuyệt vọng của con. Ông đã về trước, rút sẵn chốt cửa chờ con. Trong lòng quan Ngũ phẩm Tôn Trinh vừa đau xót lại vừa gần như nhẹ nhõm. Ông nghĩ, vậy là việc nhân duyên của con gái mình với Lý Câu đã là số mệnh, hoạ phúc thiên định. Cha con ông không phải là kẻ thất phu sai lời hẹn năm xưa với Tăng đô án Từ Vinh. Ông lại tự hứa với mình, dẫu buông xuôi cho con gái lấy Lý Câu nhưng ông sẽ ngầm lo liệu giúp Từ Lộ khi có dịp. Âu cũng là trả cái nghĩa với người bạn đồng liêu năm xưa.
… Xe vàng chuyển
Cờ nghê bóng quyện
Tiêu xa luyến…



Tiếng đàn sáo đã vang lừng trước cổng kéo Tôn Trinh trở lại thực tại. Tôn Trinh tái người khi nhận ra đây là nhã nhạc chỉ dành cho bệ rồng. Công tử Lý Câu lại ngông cuồng đến mức này ư? Ông nheo mắt che tay nhìn kỹ, cố tìm trong đám người theo sau ông mai mối xem có thấy gương mặt song thân chú rể. Theo phong tục cha ông để lại Từ bao đời nay, Đại đăng khoa bao giờ cũng là lễ trọng nhất và không thế vắng mặt song thân chú rể. Nhà Diên Thành hầu đã ngạo nghễ bỏ qua lễ vấn danh, lễ sơ vấn mà vào ngay lễ Đại đăng khoa này. Một sự ngạo ngược đã đành. Vậy mà nay trong dòng người đã đến trước cổng nhà ông kia vẫn không thấy mặt vợ chồng Diên Thành hầu. Họ cậy thế coi rẻ người quá lắm. Trong lòng Tôn Trinh trào lên niềm uất tủi. Nhưng nhìn lại, ông thấy bà vợ mình đã loe xoe xiêm áo bên cạnh… Không thể dừng lại được nữa rồi. Quan Ngũ phẩm đành sửa mũ xốc áo quát lũ gia nhân ra mở rộng hai cánh cổng.

Cổng vừa mở, Lý Câu đã hấp tấp gạt đám tiểu đồng vây quanh, vượt lên chen qua ông mai bà mối để vào sân trước. Trong thâm tâm, vị công tử ăn chơi này cũng ngạc nhiên vì những hành xử khác thường của chính mình. Từ lúc còn là một đứa trẻ mười ba tuổi, Lý Câu vỗ ngực không biết bao nhiêu gái đẹp đã qua tay mình. Từ các tố nữ yểu điệu trông chốn phòng khuê cho tới những bông tầm xuân hé nụ nơi thôn dã. Từ bọn ca kỹ nhẵn mặt khách làng chơi đến các tiểu thư con quan nhất nhị phẩm, mỗi khi Lý Câu muốn thì lập tức trong phủ đệ của hắn lại phấp phới những bóng hồng. Lý Câu như con ong hoang cả thèm chóng chán, không đậu cánh hoa nào được vài tuần trăng. Điều này không phải không gây cho Lý Câu và vợ chồng Diên Thành hầu nhiều tai tiếng phiền nhiễu. Nhưng công tử là con một. Theo phép vua ban, Lý Câu sắp đến tuổi tập ấm tước cha. Diên Thành hầu phu nhân đã có ý chấm nhiều đám môn đăng hộ đối. Nhưng cậu con trai ngỗ ngược không nghe.

Lý Câu nhìn thấy tiểu thư Nhuệ Anh trong lễ Vu Lan ở chùa Diên Khánh năm ngoái. Vẻ đẹp khác lạ của người con gái đứng mơ màng bên bụi hoa ngâu trước sân chùa khiến công tử họ Lý ngẩn người. Đến lúc người con gái quay mình toan dời bước vào lễ Phật thì công tử Câu vội len theo. Trên tay công tử là chùm hoa ngâu vừa hái mong tặng cho người đẹp. Nhưng cô tiểu thư dửng dưng. Nàng cúi chào sư trụ trì rồi cùng mấy cô bạn ríu rít soạn lễ. Công tử Câu vỗ tay gọi kẻ hầu. Nhưng vẻ xăng xái, nể trọng của mấy tăng ni nhận lễ và dáng vẻ đoan trang lạ thường của người con gái khiến công tử phải chùn tay. Lập tức cho người dò hỏi, biết nàng là tiểu thư con quan Ngũ phẩm Tôn Trinh, thì trong dạ mừng thầm, tưởng chừng như vưu vật đã nằm gọn trong tay rồi.

Nào ngờ Nhuệ Anh đã hứa hôn với Từ Lộ, con quan Tăng đô án Từ Vinh. Hoa đã có chủ. Nhưng với Lý Câu thì điều đó chẳng hề gì. Những cản ngại đối với gã bao giờ cũng làm tăng thêm sự hấp dẫn. Mỗi lần gặp, nhan sắc khác thường của Nhuệ Anh lại thêm một lần nữa làm Lý Câu bồn chồn nghiêng ngả.

Những đêm dài sau cuộc truy hoan, lần đầu tiên công tử Lý Câu thấy trong lòng trống trải. Và bóng dáng Nhuệ Anh với nét mày đa đoan nằm ngang trên đôi mắt long lanh, mới nhìn như vui, ngắm kỹ như u uẩn sầu đong đã ngày đêm ám ảnh. Lý Câu thấy mình đang nằm úp trên gương mặt quyến rũ kỳ lạ ấy, hai khuỷu tay ngập trong mớ tóc mây xoã tung của nàng và cuộc mây mưa đạt đến khoái lạc khôn tả trong tiếng gào thét của Nhuệ Anh. Tỉnh dậy, vạt đệm da cáo trắng ướt đầm dưới chỗ gã nằm.

Từ đó, những cuộc ân ái với mọi giai nhân khác đều trở nên nhạt như nước ốc. Cơn thèm khát càng dâng cao tột độ. Lý Câu hiểu rằng, hắn sẽ héo mòn tâm can nếu không độc chiếm vợ chưa cưới của Từ Lộ về làm của riêng. Nhưng dù đã hãm hại được gia đình Tăng đô án Từ Vinh, nhưng trong mắt Nhuệ Anh vẫn chỉ có hình bóng Từ Lộ độc chiếm. Nhuệ Anh càng xua đuổi, càng cao ngạo, ngọn lửa dàm mê càng rừng rực thiêu đốt Lý Câu.

Một buổi tối, khi song thân của Lý Câu vừa thưởng thức món hùng chưởng hầm sâm, đang ngồi xỉa răng bằng tăm ngà, thì giật nẩy mình khi cậu quý tử chạy vụt tới. Đồng thời, từ tay cậu, một lưỡi đao sáng loáng cắm phập xuống chiếc sàn gỗ lim, rung lên bần bật. Phu nhân lẩy bẩy. Diên Thành hầu vốn biết tính nết cậu quý tử, đứng vụt dậy nhìn con trừng trừng. Cậu quý tử một mực đòi cha mẹ phải đến hỏi Nhuệ Anh về làm vợ. Nếu cứ ngăn cản, cậu sẽ dùng lưỡi đao này đâm chết cha mẹ rồi tự đâm vào cổ mình. Việc Lý Câu bỗng dưng gắn bó với một người con gái, mà đó lại là vị hôn thê của con trai Tăng đô án Từ Vinh, khiến cả vợ chồng Diên Thành hầu vừa ngạc nhiên, vừa phẫn uất…

*
**

Ông bà mai mối nhả miếng trầu đang nhai dở, hai tay nâng cái dải lụa hồng, còn đang định lựa lời mở miệng thì Lý Câu phất tay sải ba bước tới mặt vợ chồng Tôn Trinh đang đứng trên thềm nhà. Cúi mặt vái hai vái mà mắt vẫn ngước lên dáo dác tìm kiếm:

- Hôm nay, nhân ngày lành tháng tốt, song thân tôi cho mang lễ vật tới làm lễ Đại đăng khoa. Hẹn sau mười ngày nữa, lễ Tiểu đăng khoa cử hành, đón Nhuệ Anh tiểu thư về cùng tôi gá nghĩa trăm năm.

Nghe câu nói sỗ sàng thất lễ, ông mai bà mối đưa mắt nhìn toan lên tiếng đỡ lời. Nhưng Lý Câu dã quay lại. Mười hai thanh nữ nhất loạt tiến lên, đồng loạt nhún chân hạ dẫy qủa sơn son. Các tiểu đồng răm rắp thành hàng ngang, lẹ tay mở những chiếc quả đựng lễ vật. Sáng loà giữa đám lễ vật là một buồng cau lớn, những quả cau bằng bạc khối mà chỉ khẽ đụng vào thì tiếng bạc cũng ngân rung. Một trăm cặp bánh phu thê làm bởi những tay thợ khéo nhất kinh thành được gói bằng lá dong xanh mướt cột lạt nhuộm đỏ tươi rói. Hai mâm xôi gấc hạt mọng thẫm, hai mâm xôi trắng ngật ngưỡng, trên đỉnh mỗi mâm là một thủ lợn kếch sù có gài bông hoa đỏ chói bằng lụa nơi mõm. Khi nhìn đến chiếc quả sơn son cuối cùng, mọi người đều ồ lên một tiếng kinh ngạc trước bộ nữ trang quý giá mà Diên Thành hầu tặng con dâu. Một đôi hoa tai xoè sáu cánh vàng uốn cong, nhuỵ hoa là một viên ngọc ánh hồng như hút lấy ánh sáng toả ra từ ngọn nến mà lũ tiểu đồng nhà Lý Câu vừa thắp lên. Trong chiếc hộp ngà trạm trổ tinh xảo là hai con rồng vàng chầu mặt nguyệt uốn cong thành một chiếc kiềng đỡ hai chữ "Phúc Lộc". Nằm sum vầy giữa hộp là đôi vòng cũng bằng một thứ ngọc nổi vân đen trên nền xanh biếc. Mộ chiếc trâm bằng đồi mồi có sáu dây tua mà lủng lẳng mỗi đầu dây là một viên trân châu.

Lý Câu nhìn khắp mọi người, vẻ tự mãn làm tròn đầy, nở nang khuôn mặt. Công tử quay sang nhìn vào mặt Tôn Trinh hỏi:

- Thưa nhạc phụ… sao không để Nhuệ Anh tiểu thư ra nghênh tiếp? Tôi muốn nhìn thấy bà mối đeo kiềng vàng cho tiểu thư!

Tôn Trinh nghiêm sắc mặt:

- Nhà công tử nhiều châu báu lắm, chúng tôi biết. Nhưng con gái nhà chúng tôi có đi lấy chồng đi chăng nữa cũng không phải vì chuộng kiềng vàng đâu. Song thân nhà công tử đâu, sao không diện kiến. Xưa nay con nhà nề nếp chưa từng có ai tự đi hỏi vợ bao giờ. Vả lại, công tử còn không biết phép nước, dám dùng nhã nhạc của cung đình đem rong ruổi trên đường như một bầy hát rong. Phiền công tử hãy mang lễ vật trở về nhà.

Đứng cạnh chồng, Tôn Trinh phu nhân nghe những lời của chồng thì rụng rời chân tay. Bà vội vàng đỡ lời, nói như người hụt hơi:

- Kìa phu quân, sao hôm nay ông quá lời làm vậy? Gia đình hoàng thân là chốn cao sang thì có bao giờ lại không biết phép tắc? Chẳng qua… có lẽ hôm nay ngài bận vào triều luận bàn quốc sự…

Tôn Trinh quắc mắt nhìn vợ:

- Bà chớ nguỵ ngôn với ta để bênh vực cho những điều trái nề nếp gia phong…

Thấy tình thế nguy ngập, bà mối vội bước lên, uốn lưỡi dẻo quẹo:

- Thôi mà. Trăm sự xin ông bà lượng thứ. Công tử chúng tôi tuy còn trẻ người non dạ nhưng một lòng yêu thương Nhuệ Anh tiểu thư. Ông bà ta xưa đã dạy: "Thật thà bằng ba khôn khéo". Sinh ra làm phận gái ai cũng phải lấy chồng. Nay ông bà được kết thân với nhà Hoàng thân quyền thế lệch thiên hạ, còn hưởng nhiều phúc lộc về sau. Tiểu thư được sánh đôi với Lý công tử, mỗi bước chân đi ngập trong châu báu, gấm vóc. Cái vinh hạnh chất ngất ấy thử hỏi trên đời ai là người không mơ ước? Xin nghĩ đến tương lai của tiểu thư mà cẩn trọng. Đừng làm cho Hoàng thân bất ý một lần nữa.

Tôn Trinh không nói thêm được lời nào. Ý muốn của công tử Lý Câu cứ như một dòng thác lũ bất cần lẽ phải. Đám lễ vật sáng loá trước mắt cũng xoa dịu sự bực bội của ông đôi phần. Ông tự an ủi rằng dẫu thế nào đi nữa, ái nữ của ông cũng được một chỗ ấm thân. Dẫu Lý Câu vốn là một kẻ ngông cuồng càn rỡ nhưng con gái ông vốn bướng bỉnh, biết đâu với sắc đẹp và tài trí của nó, nó sẽ thuần phục được con ngựa hoang toàng kia… Nghĩ đến đây, tâm trạng căng thẳng đối phó của quan Ngũ phẩm Tôn Trinh chùng xuống.

Ông sai gia nhân:

- Vào mời tiểu thư ra đây.

Chưa dứt lời đã thấy tiếng Nhuệ Anh vang lên ngay sau lưng ông:

- Thưa cha mẹ, xin cha mẹ thứ có con tội thất lễ. Con xin có mấy lời với công tử.
Tôn Trinh giật mình quay lại. Con gái ông xoã tung tóc, mắt ráo hoảnh, mặt không son phấn. Nàng nhợt nhạt nói với Lý Câu đang ngẩn người:

- Nhuệ Anh tôi xin cảm ơn sự chiếu cố của công tử. Tôi xét mình phận mỏng, kém quyền thế, không xứng kết đôi cùng công tử, công tử mang lễ vật về ngay cho.

Nói xong nang phăm phăm chạy đến bên mâm cau bạc, nhặt lấy chiếc hộp trang sức đang hắt ánh sáng chói lọi rồi đặt vào tay Lý Câu. Lý Câu đang ngơ ngác chưa kịp hiểu ra chuyện gì, bất giác hai tay đỡ lấy mâm đứng như trời trồng giữa sân. Cả đám đông lặng im, há miệng nhìn.

Tôn Trinh phu nhân tái mặt, lật đật chạy ra quát:

- Hỗn nào! Nhuệ Anh! Phận gái cha mẹ đặt đâu con ngồi đó. Phải biết giữ bổn phận.

Nhuệ Anh nhìn mẹ:

- Thưa mẹ, mẹ có chóng quên quá không? Cha mẹ đã sắp đặt cho con một lần và con đã nghe theo. Con quyết không lấy ai ngoài Từ công tử. Xin cha mẹ đừng ép duyên con.

Lý Câu cười nhạt:

- Từ công tử?… Lẽ nào nàng chẳng biết cái thằng dở điên dở khùng ấy đã mắc vào tội vu oán giá hoạ cho người khác, may nhờ hồng ân của cha ta nên mới khỏi bị xử trảm. Mà có khi hắn đã chết rũ xương nơi nào rồi…

Không biết được sự tình nỗi oan trái của Từ Lộ là do cha con Diên Thành hầu gây nên, nhưng Nhuệ Anh cảm thấy rất rõ giọng nói của gã công tử đang đứng trước mặt nàng một vẻ khoái trá dã thú khiến nàng ghê sợ. Nhuệ Anh khinh miệt nhìn gã, ngắt lời:

- Công tử chớ quá lời. Chớ khoái trá khi nói về nỗi bất hạnh của kẻ khác. Trời có mắt. Ta không bao giờ tin người trung nghĩa như cha con Từ công tử lại có thể làm điều gì không xứng đáng. Trong lòng ta chỉ có Từ Lộ mà thôi. Ta tin sẽ có ngày chàng giải được nỗi oan khuất này.

Lý Câu vằn mắt:

- Nàng chớ hão huyền. Muốn gì thì mươi ngày nữa nàng cũng đã nằm trên giường cưới của ta. Ta đã hẹn với nàng trên cầu, vào đêm Nguyên tiêu. Cho đến nay, lẽ nào nàng chưa hiểu tính ta. Ta đã nói, đã muốn cái gì thì dẫu sét đánh ngang tai cũng mặc. Hôm nay, vì sắc đẹp của nàng, ta bỏ qua cho nàng tội bất kính. Lúc này ta chỉ muốn chạy nhanh tới đêm tân hôn. Và hãy nhớ, cái gì công tử Lý Câu này đã muốn ắt phải được.

Rồi đĩnh đạc, khoan thai, Lý Câu mở một nụ cười với vợ chồng Tôn Trinh:

- Bây giờ ta phải về, Cha ta đang mở tiệc khoản đại bạn bè khách khứa. Chắc ông bà tuổi cao, từng trải cũng biết rõ lẽ thiệt hơn mà làm cho tiểu thơ bớt bướng bỉnh.

Gã quay sang cười với Nhuệ Anh đang đỏ bừng mặt vì tức giận:

- Khi tiểu thư tức giận trông càng bội phần xinh đẹp. Ta thích ngay cả sự bướng bỉnh của tiểu thư. Mười ngày nữa, nàng sẽ còn dịp mà phô vẻ tức giận trước mặt ta.
Giáo phường lại nổi nhạc. Mười hai cô gái đội lên đầu những chiếc quả rỗng không, cùng ông mối bà mai và lũ tiểu đồng nhún nhẩy trở về. Lý Câu đi sau cùng. Xe ngựa ghé sát thềm. Trước khi bước lên xe, còn quay lại ghé vào tai vợ chồng quan Ngũ phẩm Tôn Trinh:

- Ông bà hãy cấm cung tiểu thư Nhuệ Anh ngay từ bây giờ. Đừng để tai vạ đến cả dòng họ. Xin hãy bảo trọng.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 5

CỬU TRÙNG

Tháng ba.

Kinh thành đỏ rực hoa. Hàng cây gạo bên sông Cái, sông Nhuệ, sông Tô nghiêng những con rồng lửa quấn quýt nực nội xuống dòng sông. Những cánh hoa rơi lăn lóc trên mặt cỏ như bùi nhùi rơm nhỏ xíu lập loè cháy. Mênh mông mang đầy trời tiếng ong bay.

Vua Lý Nhân Tông ngự lãm điểm binh ở cánh đồng Gỉang Võ.

Bao quanh đài cao là đội Ngự lâm quân do quan Tả đô cấm vệ chỉ huy sứ chỉ huy. Vòng ngoài là mười vệ Điện tiền cấm quân gươm giáo sáng loà, trùng trùng lớp lớp trải rộng, cờ xí rợp trời, kéo dài tới tận sát nơi chuồng ngựa chuồng voi Kim Mã, Cống Vị. Các đạo Tả Quảng Thánh, Hữu Quảng Thánh, Tả Ngự Long, Hữu Ngự Long, Tả Bổng Nhật, Hữu Bổng Nhật, Tả Thần Điện, Hữu Thần Điện… Trên trán mỗi cấm quân đều thích ba chữ son đỏ: "Thiên tử quân". Khi triều đình truyển mộ trai tráng vào các đạo cấm vệ quân, Thái uý Lý Thường Kiệt đã tâu lên vua: "Bẩm bệ hạ. Ta nên chọn dân châu Hoan. Dân đó xưa nay dù mang tiếng gàn dở nhưng một dạ trung thành. Bệ hạ sai chúng gác cổng Cấm thành, chẳng phải chỉ kẻ lạ mặt mà dẫu cha chúng nó xin vào thành nhổ một ngọn cỏ rồi trở ra tức khắc, chúng cũng quyết không cho!…".

- Hoàng thượng giá lâm!

Tiếng hô của quan Tả đô cấm vệ chỉ huy sứ. Cả biển người chuyển động, hô theo như sấm rền:

- Thánh thượng vạn tuế! Thái hậu vạn tuế vạn vạn tuế!

Xa giá tới.

Thớt voi trắng dẫn đầu cỗ xe THÁI BÌNH. Bành voi Bồng la nga cẩn vàng. Cổ voi đeo một chuỗi ba mươi sáu chiếc chuông bạc, mỗi bước đi, tiếng chuông ngân lên trong vắt. Hai quan Chánh phó Điện tiền chủ huy sứ cưỡi ngựa trắng hộ tống hai bên. Đức Nhân Tông ngồi trên bành voi, mặc áo bào tía, đầu đội mũ hành phục quan màu vàng có đính hạt châu. Ngài ngự đang ở tuổi hai mươi hai. Da đỏ hồng hào. Trán dô. Cái nhìn như đóng đinh người ta. Hàm vuông miệng rộng. Tay dài quá gối. Bên cạnh Ngài, Thái hậu Ỷ Lan mặt tròn như trăng rằm, mày tằm, mũi như trái mật treo, quyền cốt nổi rõ dù đám thị nữ đã khéo che phủ bằng một lớp phấn màu hoa đào. Thái hậu đội mũ thêu cửu long chầu nguyệt, tóc búi cài đôi trâm vàng có chữ thọ kết bằng ngọc quý. Mặc áo bào dệt bằng tơ đậu tám sợi thêu rồng. Xiêm cũng dệt bằng tơ đậu tám sợi màu trắng thêu chim phượng.

Đi sau Nhà vua và Thái hậu là Thái uý Lý Thường Kiệt và nhà sư Khô Đầu, vị quốc sư mới được nhà vua tấn phong hồi tháng Giêng, tay cầm tiết việt. Lý Thường Kiệt đã vào tuổi lục tuần nhưng tráng kiện trong bộ võ phục màu đen nẹp trắng, đai tơ sẫm màu, trước ngực thêu hình đầu hổ chỉ bạc. Dưới vành mũ Thái uý là gương mặt đẹp uy nghi. Dải mũ bản to quá khổ nhằm che khuất chiếc cằm trắng không râu. Đi sau nữa là các hoàng thân quốc thích, quan lại từ Tứ phẩm trở lên đội mũ phốc đầu, chân đi hia đế cao. Diên Thành hầu dẫn đầu. Áo bào đỏ viền đai cẩn ngọc quý, hầu là vị quan nhất phẩm được vua Nhân Tông nể vì. Là vị vua có hiếu với mẹ, Đức vua rất hài lòng khi thấy vợ chồng Diên Thành hầu thường xuyên đến thăm Thái hậu, dâng hương liệu lạ, châu ngọc quí và có những câu pha trò khiến Thái hậu vui.

Đến trước đài cao, theo hiệu lệnh của quản tượng, voi trắng rống lên một tiếng trầm đục rồi quì hai chân phủ phục. Thái giám, thị vệ, thị nữ xúm xít đỡ Vua và Thái hậu. Ba hồi chín tiếng trống dóng lên. Theo nhịp trống, Vua và Thái hậu dẫn đầu cùng các quan văn võ bước lên đài.

Đức Nhân Tông kiêu hãnh phóng tầm mắt.

Dưới chân đài, một rừng quân tướng hàng ngũ chỉnh tề, khí giới sắc quắc đứng nín thở chờ đến lúc Ngài phát lệnh điểm binh.

Xa hơn, đội kỵ binh và đội tượng binh uy nghi bên tả, bên hữu…

Và xa hơn nữa, đám dân chúng chen chúc nhau mong được trộm ngắm mặt rồng.

Đức Nhân Tông vui mừng trong dạ. Đất nước qua bao cơn bĩ cực đã tới tuần thái lai.

Mười sáu năm về trước, Nhâm Tý, Thái Ninh năm thứ nhất, mới mười bảy tuổi, Thái tử Càn Đức nối nghiệp cha lên ngôi hoàng đế. Mưa tầm tã hàng tháng trời. Vừa kịp rước Phật Pháp Vân về kinh để cầu tạnh thì xảy đến chuyện nhật thực u ám đất trời. Khắp kinh thành, trong các làng xóm thôn xã, người người chạy ra đường gào thất thanh: "Gấu ăn mặt trời! Gấu ăn mặt trời! Đuổi gấu! Đuổi gấu…". Nhà có mõ dùng mõ, nhà có thanh la dùng thanh la. Người đem nồi đồng mâm thau, liềm quốc ra sân, thất thần ngửa mặt lên trời gõ inh ỏi. Các bà mẹ lén lút dúi đầu con trẻ dưới vạt áo nâu, sợ gấu trông thấy sẽ thèm rỏ dãi, dãi rơi xuống nhân gian mà thành bệnh đậu mùa. Ông già bà cả dùng mỡ bò hoà với nhọ nồi, bắt cả làng bôi nhọ vào mặt trông cho dữ tợn, dùng đòn xóc hai đầu nhọn đẩy trai tráng nhẩy lên nóc nhà, leo lên ngọn cau hú đuổi gấu. Dân chúng hoang mang sợ hãi, nghĩ rằng con gấu đen đang ăn mặt trời trên kia trông thấy, sẽ sợ hãi nhả mặt trời ra mà bỏ đi.

Hết mưa dầm lại đến nắng hạn. Suốt bốn tháng hè không có một hạt mưa. Sông ngòi cạn kiệt. Đồng ruộng nứt nẻ khô rang. Trâu bò lăn ra chết từng đàn. Người người kéo cày thay trâu. Qua thu, cánh đồng lúa chín xơ xác, chó chạy hở đuôi lại bị chuột bọ sinh sôi cùng lũ châu chấu tràn về như những đám mây đen tàn phá. Đã lắm người chết đói. Sáng sáng, cứ mỗi làng bản lại có một đoàn bốn người chức việc mặc áo sô gai, mũ mấn trùm kín mặt, vác hai chiếc cáng tre đi khắp các nẻo phố, khắp hang cùng ngõ hẻm nhặt xác chết đem chôn. Nhiều nhất là xác trẻ con và người già. Không đủ áo tơi nón lá dể đắp xác người. Kín đầu thì hở cả đôi chân khô đét đen sạm. Kín chân thì để lộ cái đầu tái nhợt ghê rợn với đôi tròng mắt tụt như biến sâu vào trong hốc mắt. Thân nhân người chết cũng đói hõm bụng, vật vờ đi sau những chiếc cáng, không đủ sức há miệng cất lên tiếng khóc.

Khắp thiên hạ không thiếu lời xì xầm thị phi. Có kẻ bạo miệng dám nhắc lại chuyện trong cung Thượng Dương. Nói là đêm đêm Linh Nhân thái hậu không ngủ yên. Ruột gan như có ai bào. Canh ba là Thái hậu bật dậy, cuống cuồng đi lại, có lúc chạy điên loạn như bị người ta bắt, rồi quấn hàng chục lớp chăn gấm ôm chân ngồi co trên giường mà khóc kể, gào thét. Hàng trăm chùa chiền mà Thái hậu cho dựng lên khắp trong nước là để sám hối, rửa oan cho việc Thượng Dương thái hậu và bảy mươi sáu cung nữ vô tội bị sát hại năm nào…

Trong nước là vậy. Tình hình bên ngoài cũng đâu được yên ắng. Phía nam giặc Chân Lạp, Chiêm Thành quấy đảo bờ cõi. Bắt người, cướp thuyền bè, thóc lúa. Phía bắc nhà Tống tập trung binh hùng tướng mạnh diễu võ dương oai chỉ chờ dịp nuốt chửng vùng biên ải, dọn quang đường tiến thẳng xuống nội kinh.
Linh Nhân thái hậu che rèm cùng vua ngồi bàn chính sự. Thái sư Lý Đạo Thành và Thái uý Lý Thường Kiệt là quan văn, võ đầu triều được vời vào.

Thái sư Lý Đạo Thành nói:

- Bẩm tâu Thái hậu! Bẩm tâu Hoàng thượng! Ông trời ra hoạ, hết lũ lụt lại hạn hán. Nhưng đâu chỉ có vậy. Thiên hoạ không bằng nhân hoạ. Mấy năm nay nhân khi triều đình bận đối phó với giặc ngoài biên ải, lũ tham quan ô lại, bọn cường hào ác bá mọi nơi đua nhau lộng hành. Dân chúng đã khốn cùng lại càng khốn cùng hơn…

- Có vậy sao?

- Bẩm Thái hậu, kẻ hạ thần đâu dám ngoa ngôn, sàm tấu. Ngày đầu tháng vừa rồi, dân phủ Bình Giang kéo đến trước cửa Đô hộ phủ ngục tụng để kêu về việc tri phủ Lê Trường Tích hà lạm công quỹ, ức hiếp dân lành. Dân tình đói kém người chết đầy đường mà vụ mùa vừa rồi tri phủ tự ý nâng mức thuế vượt quá quy định của triều đình, rồi khai man để đổ thóc xuống thuyền bán cho con buôn với giá gấp năm gấp bảy.

- Sao chưa thấy Tam pháp ty tâu trình việc này?

- Dạ bẩm… Có lời nói Tri phủ Bình Giang dám làm việc sai trái đến vậy là do ỷ thế có chỗ dựa nơi quyền cao chức trọng trong triều đình… Do có…

"Chát!"… Thái sư Lý Đạo Thành giật nẩy người vì tiếng bàn tay Thái hậu đập mạnh lên mặt kỷ. Tiếng Thái hậu cất lên sang sảng sau rèm:

- Quân pháp bất vị thân… Ngay ngày mai ta sẽ đích thân xem xét việc này.

- Dạ… bẩm tâu Thái hậu. Thật phúc cho con dân! Thần trộm nghĩ… Bình Giang là một phủ chẳng xa kinh thành là mấy. Đất rộng, người đông. Không thiếu người hiển đạt, được hưởng tước vị bổng lộc của triều đình… mà còn vậy thì ở những nơi xa xôi hẻo lánh, dân tình ngu muội, triều đình xa quan nha gần thử hỏi thân phận đám dân đen sẽ còn ra sao…!

- Kế sách? - Tiếng Thái hậu với vẻ sốt ruột, nôn nóng.

- Dạ bẩm… Thần trộm nghĩ… Mọi kế sách lúc này của triều đình là sao cho no cái bụng của người dân. Dân có no thì nước mới mạnh. Triều đình cần ra chính sách khuyến nông khuyến điền. Xét giảm thuế má cho những nơi mất mùa dân tình thực sự đói kém. Khai thông mương máng dẫn thuỷ nhập điền, bồi đắp đê điều phòng khi lũ lụt. Khuyến cáo người khai phá đất hoang trồng ngô trồng lúa… Song hành cùng việc đó, triều đình cử quan khâm sai đi các châu phủ để xem xét dân tình, tra xét hành vi của bọn tham quan ô lại để giữ nghiêm phép nước, cất nhắc những người hiền lương có tài văn võ cho quản quân dân… Không lúc nào bằng lúc này triều đình cần lời nói thẳng.

- Những việc đó cần làm ngay!

- Dạ, bẩm Thái hậu. Thật là hồng phúc cho muôn dân!

Thấy Lý Đạo Thành đã dập đầu lạy, nhưng vẫn cứ quỳ nguyên trước rèm, Thái hậu lên tiếng hỏi:

- Quan Thái sư còn có điều gì nữa?

- Dạ bẩm Thái hậu. Bẩm Hoàng thượng…

- Quan Thái sư chẳng vừa nói, triều đình ta đang cần người nói thắng mà!

- Bẩm Thái hậu. Thần vốn nông nổi, chỉ e lời nói khó lọt tai, mà khéo người nói lại chuốc hoạ…!

Sau rèm, Thái hậu cả cười. Là người đàn bà tuệ mẫn sáng láng, lại quyền biến trong những những năm chấp trị đất nước thay đức Thánh Tông đi đánh giặc bình định đất phương nam, bà am hiểu tỏ tường, biết sở trường sở đoản của từng quần thần văn võ đang phủ phục trước mặt kia. Đôi môi Thái hậu đầy đặn đỏ thắm:

- Thái sư cả nghĩ! Ta dẫu phận đàn bà nhưng nhờ ơn tiên đế cũng phân biệt được trăng sao. Có điều gì quan Thái sư cứ nói!

Thái sư Lý Đạo Thành ngập ngừng giây lát rồi mới cất tiếng:

- Từ thời đức Thái Tổ dựng nước, triều đình ta đã lấy đạo Phật làm gốc. Nhờ Phật pháp giáo hoá chúng sinh mà dân an nước thịnh. Nhưng những năm gần đây, dân tình đói khổ mà ngược lại chùa chiền lại dựng lên quá nhiều. Bao nhiêu của cải, công sức đổ vào nơi cửa Phật. Qúa nửa dân trong nước đi làm sư sãi, mải cầu kinh mà trễ nải nông tang. Số ruộng đất lành để làm Qui điền cho các chùa chiền rất nhiều mà thường lại bỏ hoang hoá vì đa phần sư sãi không lo chuyện ấy mà chỉ trông vào của cúng lễ của chúng sinh… Thần xin liều chết mạnh dạn tâu trình lên Thái hậu cùng Hoàng thượng… Triều đình cần ra định mức quy điền cho mỗi chùa tuỳ theo quy mô và số sư sãi trụ trì nơi đó. Số ruộng dôi dư sẽ chia cho các nông phu chăm chỉ làm ăn mà hiện không một tấc đất trong tay. Đồng thời cho củ soát nghiêm ngặt các nơi tu hành để loại bớt những kẻ lười biếng, không thực bụng tu hành, chỉ muốn nằm lười làm ăn nhờ trong cửa Phật… Như thế, Thái hậu sẽ có đến quá nửa người nhà chùa nhập thế lo việc nông tang. Mặc khác Phật đạo cũng vì thé mà lại thịnh vượng hơn nhiều. Triều đình cũng tránh được tiếng thị phi…

Sau rèm lặng ắng hồi lâu.

Rồi tiếng Thái hậu lạnh lùng ban ra: "Bãi triều!".

Ba ngày sau hoả đầu được lệnh nấu những nồi cháo lớn đặt ở sân chùa, ngã ba ngã tư đường phát chẩn cho thiên hạ. Những bát cháo loãng còn rất ít ỏi, người chết đói vẫn đâỳ đường đầy chợ nhưng những nồi cháo thí cũng khiến cho dân chúng cảm động, từ chỗ oán thán chuyển sang ngợi ca công đức của Thái hậu và đấng minh quân. Thái hậu lại vời riêng một đám nho sĩ, ca công ra ân mưa móc cho được ân hưởng lộc điền trạch, ban phát lụa vàng. Đám nho sĩ, ca công được nuôi nấng chăm chút trong triều tưởng đời chẳng còn mong gì hơn, chỉ còn một việc ngaỳ đem uốn bút dẻo lưỡi bày đặt những diễm khúc tụng ca cuộc sống no ấm của chúng dân dưới công ơn mưa móc của Thái hậu và Hoàng thượng cùng những anh hùng dám lìa bỏ mẹ già vợ yếu con thơ đi chiến trận.

Nhưng cũng chẳng bao lâu sau buổi lên triều hiến dâng kế sách, Thái sư Lý Đạo Thành được gọi lên giao chức Tả Gián nghị đai phu vào trông coi châu Nghệ An xa xôi. Thái sư biết đây là hậu quả của việc mình quá lời tâu bày. Tới nơi trị nhậm mới, Đạo Thành lập Viện Địa Tạng trong miếu Vương Thánh. Uy nghi giữa điện đặt tượng Phật và vị hiệu của đức Thánh Tông, sớm hôm thờ phụng.
Năm Kỷ Mùi, Anh Chiêu Vũ Thắng thứ tư, châu Lạng dâng voi trắng. Có mưa đá. Nhưng cả nước lại được mùa to. Nhà nhà thóc chứa đầy cót, khoai củ chật gầm giường. Khắp nơi vang vang tiếng ca ngợi công đức của Linh Nhân Thái hậu và đức Nhân Tông trị nước.

Chúng dân lại nức lòng theo việc triều đình. Cả nước hăng hái dồ tận lực vào việc quân. Nhà nhà gươm giáo vũ khí sáng choang, cung nỏ dầy đặc trên vách. Trai định cuộn vế xoa tay mắm môi mắm lợi chỉ chờ lệnh trên gọi là lập tức đội nón vác đao đi làm việc quân. Việc đồng áng ruộng nương ở nhà tất thẩy đều do người già, đàn bà trẻ con gánh vác. Mỗi nhà đều giắt sẵn trên vách một tù và sừng trâu. Hễ có động là tiếng tù và rúc lên vang dội, gọi lũ lượt trẻ con, người già và đàn bà tay cung tay nỏ đổ túa ra đường… Không đủ vải trắng làm khăn tang cho người chết. Nhưng tất cả không ngăn được giòng thác người sẵn sàng chờ lệnh xung quân theo những tiếng tù và xông trận đầy ma lực.

Chẳng thế mà Vương An Thạch, tể tướng dạ dầy mưu lược của triều đình nhà Tống , ngoài từng đánh đông dẹp bắc, trong đã từng dâng nhiều kế sách trị quốc an dân, được hoàng đế Tống rất trọng nể, vẫn bị mắc lỡm khi phái thám quân sang dò la đất Giao Chỉ.

Quân về báo với ngài tể tướng rằng hiện vua Giao Chỉ còn trứng nước, mới chưa đầy mười tuổi, mới được Thiên tử triều Tống phong làm  Giao Chỉ quận vương để an ủi mà ngoan ngoãn giữ thuần phục, nhưng nay giao chỉ quá lao lực về việc binh. Dân gầy còm vì đói kém lâu ngày, lại phải gánh vác lao dịch xây nhiều chuà chiền, nay tuy tướng với quân đều còn hăng hái nhưng phía nam phải lo đối phó với quân Chiêm Thành sang đánh phá liên miên, vì thế phía bắc có thể lơi là việc trấn giữ biên ải. Trải qua nhiều cuộc đao binh quân số hao mòn tổn hại, cả nước có lẽ không còn đến vạn binh…!

Nhân tin đó, Vương An Thạch tính kế tâu với vua Tống:

- Thần trộm nghe, việc mở mang bờ cõi làm rạng danh tổ nghiệp vốn là việc trọng đai của bản triều ta… Nước Nam đang suy yếu, vua nhỏ tuổi, dân tình ly tán đói khổ. Ta nên nhân dịp này mà xua quân đánh chiếm lấy để chia thành quận huyện thuộc thiên triều. Như vạy cũng là nhổ bỏ cái gai trong đế giầy vương giả, tránh cái hoạ tiềm ẩn phương Nam nhiều đời tiên triều ta vẫn phải lao tâm định liệu…

Vua Tống nghe lời tâu, cả mừng, bèn sai hai tướng tài Thẩm Khởi và Lương Di làm tri Quế Châu, chuẩn bị binh mã, cấm các châu huyện không được giao du mua bán với dân Giao Chỉ. Trên bộ thì ngầm dấy binh người Man động quấy rối vùng biên giới, dưới nước đóng thuyền bè ra sức dàn quân thao luyện thủy chiến.

Đứng từ đỉnh núi bên này trông sang, Thái uý Lý Thường Kiệt nhìn thấy dọc vùng biên, quân Tống ngựa xe dàn binh đen kịt, cờ xí rợp trời. Các chiến thuyền với hàng tay chèo lực lưỡng đậu sẵn trên bến sẵn sàng xuất trận. Lý Thường Kiệt cười nhạt nói với các phó tướng đang đứng quanh: "Xưa nay ta vẫn nghe tài dụng bình của THẨM KHỞI và LƯƠNG DI, trong lòng cũng có phần nể trọng. Gìơ mới được tận mắt nhìn thấy… lẽ nào lời truyền trong thiên hạ lại là ngoa ngôn?".

Lý Thýờng Kiệt khẩn cấp về triều tâu lên vua kế sách chống giặc:

- Muôn tâu hoàng thượng! Thế giặc dẫu mạnh nhưng xin người đừng quá lo lắng làm hao tổn mặt rồng. Hạ thần đã có kế phá…

Đức vua khi dó mới mười tuổi, nghe thế giặc mạnh đã ngợp người kinh sợ, phán:

- Nay quân ta còn đang phải đối phó với rợ Chiêm Thành. Chiến trận liên miên thôn xóm nào cũng văng vẳng không dứt tiếng khóc người chết trận. Quân số còn lại ít ỏi sao có thể đối phó lại với giặc phương Bắc hung dữ như hùm như sói kia…

Thái hậu ngồi sau rèm toan cất lời thì Thái uý tâu tiếp:

- Hoàng thượng! Xin chớ nhọc lòng. Dân Đại Việt ta xưa nay nhiều chỗ kém người nhưng cũng có những điều mà thiên hạ không thể sánh kịp. Khắp thôn xóm bao đời nay chưa lúc nào nguôi tiếng khóc người chết trận…

Nhân Tông cau màu, vẻ bực bội hiện rõ trên mặt. Nhưng Thái uý đã tâu tiếp:

- Mà tiếng trống ra quân và tiếng tù và vào trận cũng chẳng khi nào ngập ngừng lưỡng lự. Mà mỗi dân đen là một tên lính dũng mãnh… Cái hơn của người Nam ta so với người thiên hạ là vậy. Mặt khác, dân chúng tuy lao dịch khổ ải nhưng Bệ hạ cũng biết rằng chính sự khổ ải trong cuộc sống trần thế này khiến cho con nhà nông phu nhẹ buông mạng sống hơn trong chiến trận. Trong thôn xóm vẫn có nhiều kẻ mong nhập quân để được bữa no cơm.

Thái uý rút từ trong tay áo ra một cuốn sách chữ viết bay bướm như hoa nở lá chào trên giấy hoa tiên màu vàng nhạt, nói tiếp:

- Và khắp trong dân gian, miệng lưỡi lũ ca nhi cùng ngòi bút lông cùn của kẻ sĩ xưa nay vẫn chẳng không ngừng đón ý Bệ hạ để làm bản ca ngợi cái chết nơi chiến trận, biến những chiến trận đẫm máu thành những lễ hội tưng bừng của kẻ thắng cuộc đó sao! Lẽ nào Bệ hạ không biết rằng dùng miệng lưỡi của bọn ca công và ngòi bút kẻ sĩ lùa người ra trận còn dễ còn nhẹ hơn nhiều lần lệnh chiêu binh mãi mã của triều đình?

Trong rèm chợt vang lên giọng cười sang sảng của Thái hậu:

- Ta không ngờ quan Thái uý lại tinh tường lòng người đến vậy. Thật cũng hả lòng với thiên hạ ngoa truyền rằng ta là phận nữ nhi mà cũng khéo biết dùng người. Vậy Thái uý hãy kíp đem binh đi lo liệu việc này.

Lý Thýờng Kiệt kính cẩn chắp hay tay trước ngực:

- Thần đội ơn Thái hậu đã có lời động viên kẻ ra trận. Nhưng thần cũng mạnh gan xin đề bạt lên Thái hậu và Hoàng đế bệ hạ xem xét…

- Quan Thái uý cứ nói…

- Triều đình nhà Tống lúc này tạm yên lòng với phương Bắc. Hiện muốn dồn sức thể thôn tính nước Nam ta. Thuỷ bộ hai mặt đều dùng tới. Lại thêm quân Man động là đân sơn cước hung hãn quen lối đánh hiểm thọc sâu… Kế sách dụng binh của ta xưa nay vẫn là lấy tinh thắng thô, lấy mưu trị lực. Nhưng cũng không thể dùng đê mỏng mà ngăn sóng dữ xô bờ…

Thái hậu xô rèm bước hẳn ra ngoài:

- Thái uý nói chí phải!

- Thần trộm nghĩ, mười vạn tinh binh là việc lúc này cần bằng mọi giá triệu tập…

Thái hậu thảng thốt, nhướng cao đôi mày ngài đen mượt:

- Sao? Lẽ nào Thái uý không biết rằng quân ta sau nhiều lần chinh chiến đã hao hụt tổn hại rất nhiều, nay có gắng gỏi vớt vét trong cả nước cũng chỉ được hơn mười vạn?

Lý Thường Kiệt thong thả chắp tay:

- Qủa có thế, tâu Thái hậu. Nhưng thần trộm nghĩ, xưa nay chiến trận giữa ta và phương Bắc có lúc thắng có lúc thua. Ngay lúc thắng thì đất nước dân tình cũng chỉ yên ổn được dăm năm. Còn mầm hoạ thì vẫn không loại được…

- Vậy quan Thái uý muốn gì?

- Dạ bẩm, xin Thái hậu và Hoàng thượng cho phép. Muốn dụng người phải dụng tận tâm. Muốn diệt hoạ phải diệt tận gốc. Lúc này dẫu binh sĩ ta không nhiều nhưng khí thế lại hăng say. Từ kinh thành đến nơi thôn dã nghe phong thanh quân Tống rập rình ngoài cõi, mọi người đã nhấp nhổm chờ lệnh trên truyền gọi:

Thái hậu cười, gương mặt đày đặn sáng ngời như khuôn trăng:

- Ta nghĩ, thứ dân trong thiên hạ, không đâu dễ sai bảo như thứ dân của nước Nam này.

Lý Thường Kiệt phác một cử chỉ không ra đồng tình, không ra phản đối, bàn tay rơi xuống lưng chừng:

- Vì thế, cứ theo ngu ý của thần, trận này không chỉ khoanh tay ngồi chờ giặc thù tràn vào bờ cõi mới đánh… mà phải ỷ vào sức quân lòng dân mà dấn trước… Ta phải tràn qua đất phương Bắc để đập tan mầm hoa, khiến lũ cầy cáo phương Bắc phải táng đởm kinh hồn, cha mẹ con cái truyền nhau đời đời không còn dám nhòm ngó đụng chạm đến nước Nam ta…

Ngai vàng lặng ắng. Thái uý thản nhiên chờ đợi.

Hồi lâu, tiếng Thái hậu vang lên sang sảng giữa triều đường:

- Bay đâu… Truyền lấy ấn tín. Giao toàn quyền cho Thái uý định liệu, thống lĩnh mười vạn tinh binh để trị tội lũ giặc phương Bắc…
Được ngự ấn, Lý Thường Kiệt chọn Tông Đản làm phó tướng, nhất nhất chỉnh đốn lại quân mã trong các châu huyện. Một mặt, cấp tốc luyện tập thuỷ bộ mười vạn tinh binh. Một mặt khẩn trương cho người đi khắp các thôn xóm động dân vi binh chuyển ngay về phía Nam phòng quân Chiêm Thành thừa lúc trong nước đang dồn quân lên phương Bắc mà tranh thủ sang quấy phá. Đàn ông trai tráng đã vét cạn kiệt. Trong đoàn dân binh chuyển về phía Nam đề phòng quân Chiêm Thành không thiếu những mái tóc đã bạc hay những chỏm tóc trái đào.

Đại binh thuỷ bộ rầm rập kéo lên phương Bắc. Mùa đông. Thái uý chỉ huy cánh quân vây hãm châu Khâm châu Liêm. Phó tướng Tông Đản vây đánh châu Ung trên đất nhà Tống. Vua Tống sai Đô Giám Quảng Tây là Trương Thủ Tiết mang quân đến cứu. Lý Thường Kiệt điều quân lên đón đánh ở cửa ái Côn Lôn, phá tan quân tiếp viện, chém Trương Thủ Tiết tại trận.

Thành Ung châu bị vi ròng rã bốn mươi ngày. Lương thảo cạn kiệt, quân Tống giết ngựa chiến để ăn thịt, vặt rơm cỏ cầm hơi, ngày đêm đỏ mắt trông đợi viện binh. Tri Ung châu là Tô Gíam là một kẻ trung thành, nghĩa khí, buộc mình và vợ con chịu đựng khổ sở cùng quân lính, bữa bữa cũng chỉ húp cháo thịt ngựa cầm hơi. Dân thành UNG châu thấy thế, không oán thán nữa, cắn răng cố thủ. Đến khi ngựa thị hết, quá nhiều người chết đói, quan lính bị dịch bệnh quá nửa, lại nghe tin cánh quân cứu viện của Trương Thủ Tiết dã bị tướng Giao Chỉ là Tông Đản đánh cho tan tác, quân dân trong thành kiệt hết nhuệ khí, không còn sức mà chống cự. Nghe tiếng loa mo cau của quân Giao Chỉ ngày đêm chõ vào thành gọi hàng, nhiều kẻ xáo động, bàn Tô Giám nên mở cổng thành để bảo toàn tính mạng.

Tô Giám ra đứng chắn trước cổng thành, cho người đi gọi vợ con quyến thuộc tất cả ba mươi sáu người đến. Lúc ấy quân Giao Chỉ đã cởi áo dồn đất buộc làm thành bao, chất lên cao ngất mà trèo vào mở cổng thành, tràn vào như nước vỡ bờ. Tô Giám biết thể đã cùng, quỳ xuống trước mặt vợ con xá ba xá:

- Xin nàng cùng các con tha tội. Thân nam nhi đứng trong trời đất, hưởng lộc vua ban mà lúc nguy nan không đền đáp được, chẳng còn mặt mũi nào nhìn thấy vầng ô kia nữa…!

Nói rồi, tự cầm kiếm bức gia thuộc ba mươi sáu người chết trước, chôn chung một hố rồi tự tay châm lưa đốt mình chết theo. Dân trong thành nhìn thấy cử chỉ ấy, hu hu khóc như khóc cha chết, liều mạng cố thủ. Cho đến lúc thành bị triệt hạ, quân và lính bị giết tới hơn năm vạn tám ngàn người. Cộng với số người nhà Tống bị giết ở cả ba châu đã tới hơn mười vạn người. Quân Giao Chỉ đã rút về nước rồi mà khắp mơi một giải đất giáp biên giới, dân Tống bỏ trắng đất đai nhà cửa mà tan tác chạy. Hàng chục dặm đường không nhìn thấy ánh lửa, không nghe thấy tiếng chó sủa mèo kêu.

Bị thua đau, Bính Thìn năm sau, vua Tống lại sai Tuyên phủ sứ Quảng Nam là Quách Qùi làm Chiêu thảo sứ, Triệu Tiết làm phó, đem quân chín tướng hợp với Chiêm Thành, Chân Lạp sang nước ta để trả thù. Vua sai Lý Thường Kiệt đem quân đón đánh, bên sông Như Nguyệt chém hơn một nghìn đầu giặc. Quách Qùi phải lui quân.

Tháng Ba, Đinh Tỵ, lại đem binh sang đánh châu Khâm và châu Liêm nước Tống. Rồi mùa đông, tháng Chạp, tướng Tống là Triệu Tiết đưa quân sang xâm chiếm bờ cõi nước ta. Đánh đi đánh lại giằng co, không khuất được thì tha làm phúc, năm Kỷ Mùi, nhà Tống đành đem trả cho ta châu Quảng Yên dẫu rằng trước đó họ đã đổi tên thành Thuận Châu nhằm vĩnh viễn nhập vào đất Bắc. Để đáp lại, vua ta cũng sai người mang voi trắng, ngựa trắng sang dâng vua Tống, trả lại cho nhà Tống dân, lính bị bắt ở ba châu Ung, Khâm, Liêm. Vua Tống hài lòng, tháng Ba năm ngoái, sắc phong vua ta làm Nam Bình Vương.
… Lớp lớp quân sĩ diễu hành qua trước chân đài cao. "Thái hậu vạn vạn tuế! Hoàng thượng vạn vạn tuế!". Đức Nhân Tông tươi cười, hả lòng đáp lại lời tung hô của các tướng sĩ. Ngài ngự nhìn sang bên, thấy Thái hậu cũng ngời ngợi niềm vui trên nét mặt.

Đoàn kỵ binh, tượng binh cuối cùng rầm rập diễu qua. Chiêng trống hoà trợ theo, tạo thêm cảnh tượng hùng tráng của buổi điểm quân.

Bỗng có tiếng ngựa hý, voi rống bất chợt vang lên phía cuối đoàn quân. Những con ngựa đang nhịp bước đều đặn đột ngột bị ghìm lại, tức tối tung hai vó lên trời, hí lên từng hồi.

Vua Nhân Tông cố nhướng mắt, vươn người để nhìn cho rõ.

Tả hữu văn võ đứng cả dậy, sửng sốt, giận dữ, cùng nhìn chằm chằm vào một hình thù trăng trắng đang cố sức vùng ra khỏi tay viên thống lĩnh ngự lâm lực lưỡng.

Con ngựa bị ghìm cương trước hai người càng lồng lên tức tối. Vó ngựa muốn giẫm nát kẻ trước mặt. Viên thống lĩnh sợ hãi buông lỏng tay, nhẩy dạt sang bên. Cái bóng trắng thừa cơ tháo thân, chạy vụt lên đài cao, đến trước mặt vua, quỳ mọp, hai tay giơ cao một mảnh lụa trắng thấm máu, rên xiết:

- Hoàng thượng! Oan ức quá!… Hoàng thượng!…

Bây giờ mới nhìn rõ, kẻ cả gan gây náo loạn đó là một thư sinh. Bộ áo sô gai không làm mờ được đôi mắt đang cháy rực trên gương mặt tuấn tú.

Cái thân hình nhàu nát đó là Từ Lộ.

Từ canh ba, Từ Lộ đã rời miếu cổ ven sông Tô, tay ấp chặt lá huyết thư vào ngực, lần đến cánh đồng Gỉang Võ nơi đức vua sẽ điểm binh. Chàng biết rằng việc mình định làm là vô cùng liều lĩnh, chiếu theo quân pháp có thể bị ghép vào tội chết tức thì. Nhưng nếu không nhân dịp này vượt qua mặt lũ tham quan ô lại được triều đình giao cho quyền cầm cân nẩy mực phán xử dân lành mà được tâu lên Thái hậu và Hoàng thượng nỗi oan khiên cùng cực của gia đình chàng, mong chờ lượng cửu trùng soi rõ cái chết oan ức của cha mẹ chàng thì dẫu có bị bêu đầu trên cọc nhọn, tứ mã phanh thây chàng cũng cam lòng.

Từ Lộ biết rằng từ thời Thái Tông hoàng đế anh minh, nhà vua đã xuống chiếu cho đúc một quả chuông tô treo ở sân Long Trì để thần dân thiên hạ ai có việc oan ức không bày tỏ được thì dến đánh chuông kêu oan. Có lần chính đức vua đã thân ngự ra xét xử. Nhờ thế, nhiều vụ oan khuất tày trời đã được minh định. Lũ tham quan ô lại bị trừng trị. Dân chúng phấn chấn, nức lòng ca ngợi ân đức cao xa, thương dân thương nước của Hoàng đế.

Nhưng đức vua thì có một mà nỗi oan khiên trong thiên hạ thì như rừng. Dần dần việc lớn việc nhỏ lại trở về Tam pháp ty và Đô hộ phủ ngục tụng tra xét, phán quyết. Quan Đô hộ phủ cho bốn tên lính cao to như bốn hộ pháp canh chùa đứng quanh quả chuông. Dùi chuông vẫn để đấy, chuông khiếu oan ngày đêm vẫn ngóng đợi tay người gõ nhưng đám dân đen oan khuất có bước được tới sân Long Trì thì vừa trông thấy lũ lính canh dữ dằn đã táng đởm kinh hồn, gan nào mà còn dám đụng đến dùi chuông. Qủa chuông kêu oan mưa nắng dãi dầu, dần dần hoen rỉ. Tiếng chuông thưa dần, ngài ngự trong cung thấy vắng tiếng chuông trong lòng lấy làm vui, nghĩ rằng phép công đã thấm đẫm xuống mọi dân đen con đỏ, thiên hạ yên bình, người người hoan lạc âu ca.

Từ ngày cha bị hại, mẹ chết oan ức khi có lệnh phán quyết của Đô hộ phủ ngục tụng Trần Dĩnh, Từ Lộ không còn tin gì vào phép nước dưới bàn tay của lũ tham quan ô lại. Cũng đã nhiều làn chàng tự hỏi tại sao trước kia mình không thấy điều đó, và hiểu ra rằng những ngày mình sung sướng trong chăn êm nệm ấm, bữa bữa ngập mâm sơn hào hải vị, khi vui chơi thì xách cây đèn lồng nâng cây sáo Tiêu tương… thì làm sao có thể hiểu được nỗi khốn cùng của bàn dân thiên hạ.

Chàng biết rằng chỉ còn một cách, đợi ngày Dần tháng Tư sắp tới, Thái hậu cùng đức vua theo lệ hàng năm điểm quân ở cánh đồng Gỉang Võ tây bắc kinh thành, chàng sẽ liều mạng tới đó mong được bày tỏ nỗi oan khiên thấu trời trước mặt Thái hậu và Hoàng thượng anh minh.

- Tâu Thái hậu! Oan ức quá! Tâu Hoàng thượng!
Từ Lộ cố vặn mình dẫy dụa mong ra khỏi những cánh tay cứng như thép của mấy tên Ngự lâm quân để ngoài về phía đài cao.

Đã tạm yên tâm về tên nghịch tặc bị kìm chặt trong tay mấy tên lính ngự lâm quân lực lưỡng, quan Tả đô cấm vệ chỉ huy sứ lật đật chạy tới trước đài, quỳ mọp dưới chân vua, lạy như tế sao:

- Kẻ bề tôi ngu muội này vì sơ suất mà đắc tội làm kinh động đến Thái hậu và Hoàng thượng. Thật đáng tội chết!

Thái uý Lý Thường Kiệt nắm đốc gươm đeo bên người, cau mặt quát:

- Ta đã giao lệnh cho nhà ngươi, chốn võ trường phải phòng vệ nghiêm cẩn. Sao kẻ nghịch kia lại có thể len vào tới tận đây để khuấy động trước bệ rồng?

Quan Tả đô cấm vệ khúm núm dập đầu xuống đất:

- Dạ bẩm… Tên nghịch tặc này trà trộn trong đám người xem đứng điểm binh… Thấy hắn mặc đồ tang ai cũng nhường nhịn… Không ngờ hắn lại dám bạo gan liều mình cản đường voi ngựa làm kinh động ba quân. Xin quan Thái uý hãy lệnh cho quân sỹ chém ngay đầu hắn để làm gương trước dân chúng!…

- Hãy khoan…!

Tiếng quát uy nghiêm của đức vua cắt ngang lời quan Tả đô cấm vệ. Chung quanh im phắc chờ đợi.

Đức Nhân Tông nhìn xuống Từ Lộ đang bị mấy tên Ngự lâm quân giữ chặt tay chân dưới đài:

- Tên ngỗ ngược kia! Sao nhà ngươi dám to gan lớn mật gây náo loạn trong buổi điểm quân. Ngươi có biết như vậy là tội chém ngang lưng?

Từ Lộ nhân lúc các tên lính lỏng tay đón nghe lệnh của Nhà vua, chàng quỳ thụp xuống, hai tay dâng lá đơn viết bằng máu hướng lên phía Hoàng thượng:

- Bẩm, muôn tâu! Hạ dân biết tội này đáng chém. Nhưng trước khi chém đầu, xin Hoàng thượng gia ân, cứu xét việc phụ thần hạ dân này vì lòng trung trực mà bị kẻ cậy quyền cậy thế ám hại. Thân mẫu hạ dân ngậm miếng thác oan. Hạ dân nghĩ đó cũng là ý nguyện muôn đời của đấng Cửu trùng để giữ nghiêm kỷ cương phép nước. Lúc đó, hạ dân có chết cũng cam lòng.

Thái hậu nãy giờ vẫn lẳng lặng nhìn con người khăn sô áo trắng quỳ mọp dưới chân đài, bây giờ mới oai nghiêm lên tiêng:

- Hỗn xược! Tên dân đen càn rỡ không hiểu gì phép nước. Việc cứu xét án trạng, minh tỏ mọi nỗi oan khuất trong thiên hạ… dưới đã có các phủ các châu. Nơi kinh đô có Độ hộ phủ ngục tụng. Cao hơn nữa còn có Tam pháp ty… Nếu có quả có điều oan khuất tại sao ngươi không đến những nơi đó kêu trình mà lại dám đến đây cản đường điểm binh của quân sỹ. Cha ngươi, mẹ ngươi là những kẻ nào?

- Muôn tâu Thái hậu anh minh. Cha của hạ dân là Tăng đô án Từ Vinh, bị kẻ ác sát hại đêm Nguyên tiêu cách đây tròn ba tháng. Mẹ con hạ dân đã Đến đô hộ phủ ngục tụng kêu oan. Nhưng phán xét nơi cửa quan không được minh tường. Mẹ hạ dân phải chết trong oan khốc…!

Từ Lộ chưa dứt lời thì phía sai Thái hậu một người đã bước ngang ra. Người đó cúi gập áo bào trước mặt Thái hậu và Đức vua, rồi quay xuống chỉ vào mặt Từ Lộ quì dưới chân đầi:

- Muôn tâu Thái hậu. Muôn tâu Hoàng thượng! Kẻ ngỗ ngược kia là Từ Lộ con trai quan Tăng đô án Từ Vinh. Ba tháng trước, đêm Nguyên tiêu, quan Tăng đô án Từ Vinh đã vui chơi rượu say quá chén, trên đường về nhà hụt chân ngã xuống sông Tô mà chết. Mẹ con Từ Lộ không tin điều thật mà lại cho rằng chồng, cha mình bị người khác thù hằn ám hại. Mẹ con họ đã kiện cáo khắp nơi. Nhưng trời đất rõ tỏ. Công lý sáng bầy. Quan Đô hộ phủ ngục tục Trần Dĩnh đã đích thân mất nhiều công sức tra xét án này. Kết luận đã rõ ràng, khắp kinh thành người người đều công nhận. Thế mà tên Từ Lộ trẻ người non dạ kia vẫn không lấy thế làm yên, hôm nay lại còn dám đến tận nơi điểm quân này cản đường tướng sĩ, làm kinh động đến đức Thái hậu và Thánh thượng!

Thái hậu cau mặt. Rồi bất ngờ, bà quay lại phía sau, cất tiếng:

- Đô hộ phủ ngục tụng Trần Dĩnh có đây? Truyền lệnh ta hỏi…

- Dạ bẩm… Có kẻ hạ thần!

Đô hộ phủ ngục tụng Trần Dĩnh từ phía sau lóp ngóp ngoi lên, quì mọp, vai so lại trước bệ rồng.

- Trần Dĩnh, có việc đó không?

Trần Dĩnh run rẩy:

- Muôn tâu Thái hậu. Muôn tâu Hoàng thượng. Dạ, có việc đó ạ!

- Đô hộ phủ, ngươi đã định việc thế nào?

Trần Dĩnh càng thất thần. Lưng gập lại mà vẫn cố lét nhìn lên nẹp áo bào đỏ của Diên Thành hầu. Bắt gặp nét mặt đe nẹt và cặp mắt lạnh lẽo của hầu, Trần Dĩnh thu mình, cố thu hết can đảm hồn vía trong người, lập cập tâu trình:

- Dạ, bẩm Thái hậu anh minh. Mẹ con nhà Tăng đô án bị khép tội vu cáo người ngay, làm náo động nhân tâm nơi kinh thành. Tội nặng đáng phải nghiêm trị. Nhưng xét công lao của Tăng đô án Từ Vinh trước đây, vả lại kẻ chết dẫu sao cũng đáng xót, nỗi đau của người sống dẫu sao cũng đáng thương nên chỉ cách xuống làm thứ dân, tịch biên toàn bộ gia sản.

Thái hậu gật đầu. Rồi bà quay trừng mắt quát Từ Lộ;

- Sự tra xét của quan Đô hộ phủ ngục tụng nghe vậy là có lý lại có tình. Kẻ học trò ngu muội kia! Ngươi còn gì để nói?

Diên Thành hầu lại vội quỳ xuống, tâu xen vào:

- Bẩm Thái hậu! Án của Đô hộ phủ ngục tụng ban ra, mọi người trong kinh thành đều hả dạ. Đều thấy rõ dưới thần oai sáng suốt của Thái hậu và Hoàng thượng, phép nước công minh, có uy có nhân. Muôn họ đều hết lòng ngợi ca… Thế mà bây giờ có kẻ nghịch tử ngông cuồng kia lại vẫn còn bạo gan làm rối bước ba quân, kinh động trước bệ rồng… Tội đáng chém ngang lưng. Xin Thái hậu ban lệnh để giữ nghiêm phép nước.

Thái hậu gật đầu:

- Các ngươi cứ theo phép nước mà thi hành. Nặng nhẹ đừng quá. Hãy nhớ, từng việc một, có con dân ở dưới theo dõi. Thôi, dọn kẻ này đi!

Nghe lời Thái hậu phán truyền, mấy tên ngự lâm quân xốc Từ Lộ dậy lôi đi xềnh xệch. Từ Lộ ngẩng mặt lên trời, kêu thống thiết:

- Từ Vinh cha ơi! Oan hồn người ở trên trời hay nơi địa ngục? Ngươi có nhìn thấu nỗi oan này không? Mẹ ơi! Hồn mẹ có thiêng, xin về chứng giám!

Tiếng kêu than của Từ Lộ vang thấu cõi trời. Dường như trời đang quang đãng bỗng tối sầm. Từ đôi mắt của Từ Lộ, đôi dòng máu chảy ra nhuộm đỏ cả khuôn mặt.

Trần Dĩnh bỗng rùng mình, đổ vật ra đất.

Ngồi bên Thái hậu, đức Nhân Tông thấy cảnh tang khốc, lại vốn tin vào các điềm lành dữ, nỗi từ bi hỷ xả của nhà Phật, ngài ngự giơ bàn tay ra phía trước, chậm rãi lên tiếng:

- Hãy khoan… Ta hỏi?

Lính ngự lâm vội ghìm Từ Lộ.

Nhân Tông:

- Tên học trò kia. Ngươi nói là cha ngươi bị kẻ ác dụng tâm hãm hại. Vậy ngươi có tang chứng gì không? Sao không đưa trình trước Đô hộ phủ?

- Dạ, bẩm tâu Hoàng thượng…!

Nghe đức vua hỏi, Từ Lộ rùng mình, lại khóc rống lên. Cổ họng chàng nghẹn tắc, không sao thốt được lên lời. Tang chứng ư? Chẳng lẽ lại dẫn ra được cái thây cha chàng dựng đứng trên sông Tô, ngón tay chỉ thẳng vào cửa nhà Diên Thành hầu. Chẳng lẽ lại có thể tâu lên đức Hoàng thượng cái khuôn mặt bầm máu và đôi mắt mở trừng trừng oan ức của cha trong những đêm hiện về báo mộng, kêu gọi mẹ con chàng phải trả thù?

- Oan ức lắm… Hoàng thượng!

Cuối cùng Từ Lộ một lần nữa chỉ biết kêu lên trước đấng Cửu trùng.

Đức Nhân Tông cau mày. Một niềm thương cảm thoáng hiện lên trông ánh mắt, khuôn mặt đức chăn dân.

- Thôi, tha cho kẻ học trò hồ đồ này. Trẻ người non dạ. Vả lại, nhà Tăng đô án Từ Vinh tang khốc như vậy là quá lắm rồi. Hãy lấy điều nhân nghĩa làm trọng.

Diên Thành hầu bầm mặt.

Linh Nhân Thái hậu đã đang suy nghĩ sang việc khác. Miệng bà mím chặt.

Nhân Tông phán truyền:

- Tha cho hắn! Trong ngày điểm binh, tối kỵ sát nhân gây rủi ro, làm nhụt lòng quân sĩ!

Trống lại điểm. Thanh la não bạt lại rộn ràng.

"Thánh thượng hồi cung!" Tiếng hô của quan Tả đô cấm vệ hùng dũng cất lên.

Thớt voi trắng được quản tượng điều tới, phủ phục trước đài cao.

Mảnh lụa viết bằng máu của Từ Lộ lảo đảo rơi xuống từ chín bậc Cửu trùng.

Từ Lộ bị lôi xềnh xệch ra khỏi đài cao, đẩy đổ gục xuống chân đám người nhốn nháo chen lấn. Trước khi ngất, Từ còn kịp thấy lớp lớp chân voi ngựa giẫm nát lá huyết đơn.

 
Đăng nhập để trả lời
0

Chương 6

TIẾNG GỌI


… Ai cướp được con kén chày kình
Ấy thực nam sinh công hầu bá tước
Ai cướp được con kén mo dài
Ấy thực nữ tài cung phi hoàng hậu
Con con cháu cháu
Tử thịnh tôn đa…
 
Ngàn ngạt tiếng hát tiếng hú reo hò rộn rã khắp một vùng.

Dân Quí Vũ mở hội Chen và lễ Mở Cửa Rừng.

Tục truyền rằng thần núi Linh Sõn Đại Vương qua giấc ngủ dài mùa đông vươn vai thức dậy thì đã xuân. Đại Vương gạt tay mở cửa rừng chấm dứt cảnh xơ xác tiêu điều của hạ giới. Thế là mầm măng tua tủa mọc, chim chóc ra khỏi tổ, thú rời hang, dân làng nô nức vào rừng ngây ngất với sự hào phóng của thần núi.

Năm ngoái đói kém. Lúa nương nghẹn hạt. Người khắp nơi đổ về rừng bòn vét hết củ mài, đào cả củ nâu để sống cầm hơi. Có kẻ sa vực sâu, sập chân xuống hố đào đành nằm đó đợi làm mồi cho thú dữ, sâu bọ. Cuối thu vừa rồi dân làng còn nhặt được xác một ông già hai cánh tay khô đét ôm chặt nhánh rễ củ nâu, hàm răng vẫn cắn ngập qua lần vỏ củ. Mọi người kháo nhau là xác không tiêu được vì ông già ăn nhiều củ nâu quá, máu nghẽn lại trong người, thân hình dẹt đét như được bọc một lớp nhựa chát xít, khô cong.

Cũng từ hôm ông già chết, đêm đêm phía bìa rừng cứ văng vẳng tiếng đàn ông khóc gọi hồn. Tiếng khóc hú như gọi thêm người chết đói đổ xuống. Dân làng trách nhau rằng đầu năm đã mở lễ hội sơ sài, lễ dâng lên Linh Sơn Đại Vương quá mọn. Tổ tiên người Quí Vũ đã dặn lại con cháu, mức hào phóng của Linh Sơn Đại Vương tuỳ thuộc vào sự đông đúc của hội Chen trong những ngày mở cửa rừng. Năm nào già trẻ trai gái cật lực chen vai thích cánh thì cửa rừng sẽ mở rộng hơn. Mùa màng tươi tốt. Muông thú đầy rừng. Măng củ kín mặt đất. Đàn bà sinh con đẻ cái đầy nhà. Trận chiến liên miên nối nhau đời này qua đời khác cướp đi quá nửa trai tráng trong làng. Nhà nào đẻ lắm con trai thì triều đình sẽ ân thưởng. Hội Chen năm nay đông vui hơn mọi năm…

Gà gáy canh năm, già trẻ trai gái đã đến kéo kín bãi cỏ trước rừng. Những lá cờ đã được dựng lên từ lúc nào đang vẫy vùng trước gió. Vang tiếng rống nghẹn ngào ngào của lũ trâu rừng đang vồ đập trán dao chọc cổ. Mùi thịt thơm lừng trên đống lửa than đỏ rực. Những tảng thịt trâu nướng máu vẫn còn ứa huyết hồng đặt trên lá chuối rừng trước bệ thờ Linh Sơn Đại Vương. Lát nữa, Đại Vương thụ lễ, rồi thịt sẽ được xẻ thành tảng xâu dây mây phân phát đều cho bách tính dự hội. Từng cặp nam nữ cầm miếng làm phép. Đợi lúc trời sập tối, các đôi nam nữ dắt tay nhau tản vào rừng. Những đứa trẻ sinh ra từ những cuộc ân ái trong đêm Chen sẽ được dân làng tôn sùng, góp công nuôi nấng và gọi là con của Linh Sơn Đại Vương.

Điệu múa Gà Phủ mở đầu lễ hội. Một người đàn ông cởi trần đóng khố đầu gối bôi phẩm đỏ, cánh tay nổi cuộn giơ cao chiêng tấu lên âm thanh rộn ràng. Một người đàn bà tóc búi xoè ra như đuôi công ngực che miếng vải nâu nhỏ nửa thân dưới là chiếc váy kết bằng lông chim đủ màu sặc sỡ tay cầm mõ tre hoà cùng tiếng chiêng. Cùng nhảy múa với họ là cặp ông bà già được dân làng chọn trong đám những người già đông con nhiều cháu, con cháu khoẻ mạnh cường tráng nhất vùng. Ông già cũng đóng khố cởi trần. Bà già cũng mảnh vải cũn cỡn che ngực, váy lông chim. Chỉ có khác, mảnh vải che ngực của bà lão dệt bằng sợi gai nhuộm màu hường, phía dưới lủng lẳng những quả chuông đồng nhỏ. Ông già tay cầm một chiếc chày lớn đẽo bằng gỗ nghiến già chuốt màu nâu bóng tạc theo hình dương vật người nam. Bà già cầm một mo cau quét vôi trắng uốn công cong theo hình âm vật người nữ.

Chung quanh ông bà già và cặp người đánh chiêng gõ mõ là những vòng trai gái chen nhau. Trai khố vải ngực trần tay cầm gậy ngắn. Nữ yếm ngắn che ngực váy kết lá sồi. Tiếng chiêng rộn ràng. Tiếng mõ trầm ấm như lửa than. Trống cái thì thùng điểm nhịp. Hai người đàn ông đàn bà đánh chiêng gõ mõ vừa khom người vừa đi giật lùi, mỗi bước đi như mỗi lời mời mọc thúc gọi. Ông già bà già nhún nhẩy đuổi theo nhịp chiêng nhịp mõ. Mỗi khi tiếng trống "Tùng…!", ông già lại cất tiếng hú lên những tiếng hú dài. Theo với tiếng hú, ông già bà già tiến lại gần nhau. Bà già giơ mo cau dứ dứ. Ông già miệng hú mình gồng tay đưa chày gỗ day day vào giữa mo cau. Hai người già nhún nhẩy tiến lên lùi xuống nhịp nhàng trong tiếng hú mênh mang thăm thẳm như vọng từ rừng sâu và tiếng chiêng mõ rộn ràng mà chày, mo vẫn không dời nhau. Mỗi lần chày gỗ chạm mo cau, vòng người chung quanh lại chao đảo, vai nam hích vai nữ, ngực nữ chạm ngực nam, miệng cất thành tiếng "Vào nõ bạc. Ra nõ vàng… Hú hời… Hú hợ…!". Rồi từng đôi trai gái tách riêng, vẫn theo nhịp chiêng mõ trống điểm thì thùng mà múa như những cặp gà trống mái vờn nhau. Thỉnh thoảng bên nam lại nhẩy dựng lên miệng hú khẽ. Nữ khom mình chúm miệng hoà theo. Âm vang lách cách đầu gậy. Ràn rạt váy lá sồi… Quanh họ là lũ trẻ tóc trái đào chen lấn cùng các cô bé vừa làm lễ rửa ngực đeo yếm. Những chàng trai chưa vợ tìm cách len đến gần các cô gái thanh tân mà chàng ta để mắt từ lâu. Còn lớp người lớn tuổi thì vừa xem hội vừa mắt trước mắt sau đợi lúc vào tục Cướp Kén. Đó là là lúc tiếng chiêng tiếng mõ dứt và trống cái giật lên một hồi dài. Khắp bãi hội xô về phía ông già bà già. Người nào nhanh tay nhanh mắt cướp được chày gỗ nghiến, mo cau cong thì họ hàng làng xóm cũng được may lây suốt năm. Trâu bò lợn gà một sinh mười. Thóc gạo đầy nhà. Đàn bà tốt nái sinh nở bầy con Sơn Thần khoẻ mạnh. Cả họ giết trâu bò lợn gà mở tiệc ăn mừng.

Bãi rộng phía tây sát cửa rừng cũng một đám đông xúm đen xúm đỏ. Trò bắt chạch trong chum dành cho những đôi trai gái đã sẵn có tình ý. Những con chạch to tầy cổ tay được thả vào quẫy lộn trong chum đầy nước. Đôi trai gái đứng đối diện qua miệng chum, tay phải nắm chéo nhau giơ lên trời, thân khom, cùng thò tay trái vào chum quờ bắt lũ chạch trơn nhẫy. Phải hai tay hai người nắm vào một con chạch mới là thắng cuộc. Tiếng reo hò tán thưởng vang ầm. Đôi trai gái đó được quyền tay trong tay dắt nhau vào rừng hợp hoan thành vợ chồng ăn đời ở kiếp.

Tiếng người xôn xao trong đám bắt chạch chợt lắng. Xuất hiện trước mặt họ một đôi trai gái. Cô gái chừng đôi tám thân dong dỏng, cặp vai xuôi mượt, hai gò má cao ánh một lớp măng tơ như làn sương phủ. Môi trầu đỏ thắm. Hai mắt mở to trong veo như mắt bê con… Cô là con gái yêu của vị tộc trưởng danh giá nhất vùng mà người dân Quí Vũ ai cũng nể trọng. Chàng trai nắm tay cô gái có thân hình chắc như cây lim. Mày thô mắt sáng. Cái nhìn âu yếm. Mọi người nhận ra ngay chàng thợ săn tài ba dũng cảm nhất trong vùng. Tay trong tay đôi trai gái sóng bước tới bên chum chạch. Ánhs mắt nhìn nhau âu yếm rạng ngời. Tiếng mõ điểm đến nhịp năm, đôi cánh tay đã giơ lên cao. Một chú chạch lớn rối rít quẫy chiếc đuôi vàng khươm ròng ròng nước. Đám đông vây quanh reo hò ầm ĩ.

Chú chạch lại được thả xuống chum. Cô gái xoay thân kiễng chân xoè bàn tay ra trước mắt như để ngắm nghía những ngón tay thon thả lấp lánh nước mà những tia mặt trời cuối cùng trong ngày đang làm loé lên những vầng ngũ sắc trong giây lát rồi mới âu yếm nắm lấy bàn tay người yêu đang chìa trước mặt.
Nhưng cô gái giật bắn người. Thay cho bàn tay rắn chắc khoẻ mạnh quen thuộc của người yêu thì lại là một bàn tay thô rám, ngón tay sần sùi với những chiếc lông thô cứng như lông lợn lòi chợt nắm chặt tay cô. Cô gái ngước mắt nhìn lên. Kề sát mặt cô là một chiếc trán dô với đôi chùm lông mày bạc trắng rủ xuống phủ gần kín cặp mắt đỏ cười cợt. Một cái miệng với cặp môi dầy thưỡn ra trong một nụ cười đắc ý ướt đẫm nhục dục. Cô gái thét lên. Đó là gương mặt của pháp sư Đại Điên, người mà dân chúng khắp vùng Kinh Bắc này vưa vâng phục vừa kinh sợ. Dưới chân pháp sư, chàng thợ săn nằm bất tỉnh.

Đám đông há mồm kinh sợ. Tiếng kêu bị giam chặt trong những đôi hàm đã khoá cứng. Pháp sư Đại Điên ngửa mặt lên trời cười sằng sặc. Chiếc túi da vằn vện vẽ hình âm dương đeo trước ngực nẩy lên nẩy xuống theo nhịp rung của khuôn bụng béo mỡ. Chỉ một động tay, pháp sư nắm chặt ngang lưng cô gái. Cô vùng vẫy, nghiến răng cắn chặt vào bàn tay lông lá và rít lên những tiếng khiếp hãi của một con thú nhỏ. Pháp sư điềm tĩnh mở túi da thò hai ngón tay kẹp lấy một chiếc trâm bạc có gắn viên minh châu óng ánh to như hạt sen xanh. Vẫn cười nhếch miệng, pháp sư vuốt nhẹ gò má mịn màng của cô gái trẻ rồi thong thả gài trâm lên ngực yếm tơ hoa đào, nơi phập phồng đôi gò nhũ hoa như đôi chim kinh sợ đang vùng vẫy tìm cách thoát khỏi giam hãm.

Dưới chân pháp sư, chàng thợ săn hồi tỉnh. Chàng chống hai tay toan gắng gượng ngồi dậy. Khônng hề nhìn xuống, Đại Điên hướng lòng bàn tay xuống đất. Chàng trai lại gục xuống như chết.

Đại Điên lôi xềnh xệch con gái tù trưởng vọt qua đám người đang ngơ ngác. Một tay đỡ eo lưng cô, một tay thiền trượng, pháp sư hướng về phía cửa rừng đi như lướt.

Mặt trời dần chìm vế phía tây. Bóng âm u đổ xuống thảm cỏ mịn đang nhuộm màu sẫm tối. Tiếng xao xác cuả đàn chim rừng bay về tổ xáo động không trung. Xa hơn, thẳm sâu trong rừng, hồi gầm của những chúa sơn lâm tỉnh giấc ngày, bắt đầu vào cuộc kiếm mồi trong đêm tối.

Đại Điên đến sát cửa rừng. Cô gái như cái xác không hồn dựa oặt vào bên vai pháp sư. Còn vài bước, chừng như không thể kìm nén được nữa, Đại Điên rên khẽ một tiếng, bế xốc cô gái lên tay. Những dẻ lá gồi, lông chim từ tấm váy ngắn của cô gái lả tả rụng xuống theo đôi chân gấp gáp của pháp sư.

Chiều sẫm hẳn.

Đại Điên quay sang, cúi xuống nhìn vào khuôn mặt đờ đẫn như người trong cơn mê ngủ cuả cô gái, thẳng tay ném cây thiền trượng cắm ngập xuống thảm cỏ. Mấy ngón tay gấu lẩy bẩy cởi nút ngực áo…

Bỗng nhiên người cô gái khẽ giật lên. Rồi cái thân thể mềm mại đó chuồi khỏi cánh tay pháp sư, đổ xuống đám cỏ vừa bị xéo nát như đang rỉ nhựa. Đại Điên ngạc nhiên trừng mắt nhìn lại. Trên khoé miệng cô gái, một dòng máu đỏ ứa ra chảy dài xuống cổ. Cô gái đã cắn lưỡi tự vẫn…

- Hừ… Con ma ranh này!

Đại Điên chửi gằn. Một chân đạp lên bộ ngực trinh bạch của cô gái. Nhưng ngay lập tức pháp sư đứng thẳng dậy. Một điều gì đó ở phía trước khiến ông ta chợn rợn cau mày. Trong bóng đêm mịt mùng đang trùm lên cánh rừng, một ngọn đuốc nhựa trám vừa thắp lên soi quầng sáng quanh gốc đinh cổ thụ. Dưới quầng sáng, bên gốc cây, một bóng người đứng đó, cặp mắt trừng trừng nhìn thẳng về phía Đại Điên.

Đại Điên "hử" khẽ một tiếng trong miệng. Pháp sư đã nhận ra kẻ táo tợn. Đó là Từ Lộ, con trai của Tăng đô án Từ Vinhđã bị ông ta sát hại trong đêm Nguyên tiêu.

*
**

Cách đây hai tháng, trong miếu hoang thổ thần bên bờ sông Nhuệ, Từ Lộ ngồi lặng trước dải lụa rách nát vì bao vết chân voi chân ngựa chân người giẫm đạp. Những hàng chữ viết bằng máu đỏ trên dãi lụa chứa nỗi oan khuất ngút trời của gia đình chàng giờ đã khô đen bê bết bùn đất. Chàng nghe tiếng những bước chân của Nhuệ Anh mỗi lúc mỗi xa dần. Cả tiếng nức nở nghẹn uất của cô gái. Có bàn tay phũ phàng giật mạnh quả tim trong lồng ngực Từ Lộ. Cảm giác đau đớn nhục thê, trống rỗng xâm chiếm trong Từ. Sợi dây cuối cùng nối chàng với cõi đời đã đứt.

Chao ôi, trước đây chàng đã tin tưởng biết bao vào công lý, vào trật tự kỷ luật của triều đình, vào lẽ phải và từ tâm của con người. Tiếng tiêu của chàng đã bao lần hòa giọng ca tụng công đức của đấng minh quân vời vợi trời cao. Vậy mà giờ đây vẻ thờ ơ của Đức hoàng thượng và của Đức Ỷ Lan Thái hậu đã như nhát gươm xóc thẳng vào ngực chàng. Những bàn tay đang được thần dân ngưỡng vọng như thần thành nay đã phũ phàng ném mảnh lụa thấm đầy máu và nước mắt của mẹ con chàng xuống chân voi vó ngựa. Từ nhớ lại lúc thân mình bị kẹp chặt giữa những cánh tay sắt cuả bầy đao phủ, đao kề cổ, ngực chàng vẫn như vỡ ra mỗi khi bước chân của bầy ngựa voi giẫm lên ngực bức huyết đơn. Những vó sắt ngàn cân đó đang giẫm lên ngực Từ, vùi chôn mãi mãi những tiếng kêu oan khuất của mẹ con Từ cũng như những bàn dân thấp cổ bé họng bị dồn vào đường cùng như mẹ con chàng. Trong lòng Từ Lộ, trong chàng thư sinh hào hoa đang bơi lội trong hạnh phúc yêu đương và tiếng tiêu làm mê đắm cả kinh thành trước đây, giờ chỉ còn tiếng gào thét trả thù. Chàng đã tin vào lòng từ ái. Nhưng lòng từ ái đã bị cái ác giầy xéo. Chàng đã tin vào công lý. Nhưng công lý đã bị che khuất bởi manh tâm, bàn tay nhơ bẩn của Diên Thành hầu và biết bao tham quan ô lại…
Quanh miếu thổ thần, dật dờ những oan hồn. Từ trò chuyện với những hồn ma. Hồn mặc áo trắng và xoã tóc là hồn của những goá phụ bên nách cắp con. Những hài nhi chết yểu vì tên bay đạn lạc, thiếu sữa, đói khát. Những hồn áo nâu với hộp xương sọ phô màu xám xỉn là hồn của những chiến binh ra đi từ đồng ruộng, và nhanh chóng phơi thây nơi chiến địa.

Vô số là hồn không rõ hình hài, chỉ thấy mảnh lá chuối bó quanh che thân rít lên phần phật trong gió lạnh sởn xương sống… Trên mỗi đoạn xương cẳng tay gày guộc đội một tờ đơn. Những hồn oan khuất không chết vì tên bay đạn lạc và vì nghèo đói rách nát, không phơi thây nơi chiến địa, chỉ chết vì không chờ đợi nổi công lý. Từ như thấy thấp thoáng trong đám cô hồn đó có bộ xương trắng với những bước đi uyển chuyển của mẹ chàng. Bà đang đứng. Bà bước tới một dòng sông nước đầy ắp đỏ ngầu như máu đọng. Bà đưa tay ra. Có ai đó như Từ Vinh cha chàng đang đứng bên kia bờ sông máu. Tiếng khóc của cha, tiếng hờ oan của mẹ văng vẳng đâu đây quanh miếu thổ thần… Từ đứng dậy đẩy cửa miếu, lao vào bóng đêm bên ngoài.

Đó cũng là đêm kinh thành Thăng Long rực rỡ đèn hoa cờ xí. Ngày này cách đây vừa một giáp, trên sông Như Nguyệt, Thái uý Lý Thường Kiệt đánh tan đạo quân Tống do Chiêu thảo sứ Qúach Quì thống lĩnh, lấy lại được châu Quảng Yên. Mười hai năm đã qua, cùng với niềm mừng vui chiến thắng, nỗi đau đã dần khép miệng. Những người mẹ mất con, vợ mất chồng cũng khô nước mắt. Nước mắt lặn vào bên trong, chỉ đêm đêm thầm chắt rỉ ra trên giường chiếu lạnh, trong căn nhà trống vắng. Những đứa trẻ mồ côi đã có đủ thời giờ trở thành trai tráng. Và như những người bố bỏ mạng nơi trận địa, những đứa trẻ lại mong ước được đến ngày trở thành chiến binh…

Đèn lồng, đuốc sáng uốn lượn toả lập lờ dọc bờ sông Nhuệ, sông Tô. Người người lớp lớp trẩy đi. Tiếng cười nói râm ran. Thì thùng trống điểm đám thi vật, đám múa lân múa rồng. Trẻ nhỏ từng đàn hò reo chạy đuổi dọc bờ sông, chơi trò rồng rắn trước sân đình chùa, vỗ tay lanh lảnh cất tiếng hát lên khúc đồng dao mới:

"Nam quốc sơn hà…
Nam đế cư.
… định phận tại
thiên thư…"

Từ Lộ tránh vùng sáng, cứ nhằm nơi tối đen không có tiếng người mà bước tới.

Trang trại của quan Tăng đô án Từ Vinh cha chàng trước đây đã thuộc về tay Diên Thành hầu đang thiêm thiếp trong bóng đêm dày đặc, không biết gì đến nỗi bể dâu của mà chủ cũ của nó vừa trải qua. Chiếc đèn lồng tám mặt từ đời tổ tiên của chàng để lại cứ đến giờ dậu mỗi ngày được gia nhân đốt lên hắt ra tám hướng ánh sáng vàng sang cả thì nay vẫn được treo ở đó. Nhưng tám mặt đèn nay dường như chỉ để rọi sáng cho một tấm biển sơn son thiếp vàng rực rỡ với hai chữ "Hý viện" được viết bằng chữ thảo bay bướm.

Diên Thành hầu đã biến trang trại yên tĩnh nho nhã vào bậc nhất kinh thành này thành kỹ viện. Và kia, đôi đèn treo trên hai cột cổng hàng đêm đón khách đến mua vui lại chính là đôi đèn Mỹ nhân và Tiêu tương mà chàng và Nhuệ Anh đã tìm nhau theo anh sáng lung linh và say đắm bày tỏ tình yêu trong đêm Nguyên tiêu.

Đã qua giờ tý tám khắc. Đêm hội đã lắng dần trên kinh thành. Bên trong kỹ viện, đám kỹ nữ và khách làng chơi hẳn đã buông rèm ngủ yên. Từ Lộ nín thở rón rén bước lại gần hàng rào. Chàng chợt nghe tiếng ngựa hý ở dẫy nhà hướng nam trước đây cha mẹ chàng đã đặt bàn thờ tổ tiên. Chàng đã hiểu dã tâm của Diên Thành hầu. Kẻ thù đã y theo kế của pháp sư Đại Điên biến nơi thiêng liêng nhất trong khu dinh cơ này thành tầu ngựa để triệt mạch phúc của dòng họ Từ.

Từ Lộ chợt giật thót mình khi nhận ra một bóng người không hiểu đã lặng lẽ đến bên chàng từ lúc nào. Chàng chưa kịp phản ứng thì bóng người đã giơ bàn tay lên làm hiệu im lặng. "Tiểu công tử!". Chàng nghe tiếng thì thào và nhận ra ngay đó là lão Ngô, người lão bộc trung thành đã hầu hạ trong nhà từ khi chàng chưa ra đời. Từ chưa kịp nói gì thì lão Ngô đã nắm lấy hai bàn tay lạnh giá của chàng:

- Tiểu chủ… chớ đến đây! Nguy lắm… Diên Thành hầu vẫn cho người di rình tìm tiểu chủ khắp kinh thành…!

Từ Lộ nấc lên, vịn vào vai lão bộc:

- Nhà ta… lại thành nơi như thế này ư, lão Ngô…?

Người lão bộc nghẹn ngào nức nở, bật ra những tiếng kêu khẽ đứt quãng:

- Đau đớn… lắm… tiểu chủ ơi…!

- … Sao lại ở đây… lúc này…?

Từ Lộ nhẹ giọng cố làm cho lão bộc trấn tĩnh lại.

- Tiểu chủ… Từ ngày đó đến nay không đêm nào kẻ vô dụng này có thể đặt mình ngủ trọn. Đêm nào cũng ra đây… Mà phải chờ đến canh này… người trong nhà đã yên ngủ cả… Kẻ này biết thế nào cũng có lúc tiểu chủ tìm trở về.

Từ Lộ nghiến răng bóp chặt hai vai lão bộc:

- Thế còn… bọn chúng… Diên Thành hầu, Đại Điên ra sao?

- Diên Thanh hầu tháp tùng xa giá lên khao quân của Thái uý Lý Thường Kiệt mừng chiến thắng trên sông Như Nguyệt. Còn Đại Điên là kẻ giang hồ. Cữ này lão vác thiền trượng khoác áo cà sa đi rong chơi. Rượu ngon, gái đẹp, trống cờ mở hội đâu vui là có lão…

Lặng im. Đến mức nghe rõ cả tiếng gió chạy lạt sạt trên hai hàng cau trổ lá xum xuê bên đường trước cổng khu dinh thự. Từ Lộ hỏi như trong cơn mê:

- Thế còn…

- Dạ… Thưa tiểu chủ… Bài vị thờ quan ông quan bà kẻ này vẫn cất giấu vào nơi tin cẩn. Đầu kẻ nô bộc này dẫu có rơi, máu kẻ nô bộc này dẫu có chảy thì khí vật thiêng liêng đó cũng không thể mất vào tay kẻ ác…

- Ta ơn lão suốt đời. Nhưng này… Bây giờ lão hãy trao lại vật thiêng đó cho ta…

- Trời… Tiểu chủ giữ bài vị của quan ông quan bà làm gì trong lúc này… Tiểu chủ còn đang phải lẩn tránh

- Lão Ngô… hãy nghe lời ta… - Từ Lộ toan nói tiếp. Nhưng chàng chợt đưa tay ngăn lão bộc lại – Lão chờ ta một chút… Ta vào trong này…

- Ơ kìa… Tiểu chủ… - Lão bộc sợ hãi kêu lên – Coi chừng hại đến tính mạng.

Từ Lộ như không nghe thấy tiếng lão Ngô. Chàng nhẩy qua hàng rào vào vườn. Tránh chỗ có ánh đèn sáng, Từ bò về phía gian từ đường trước đây và bây giờ là tầu nhốt ngựa. Đầu hồi khóm hoàng trúc do chính tay Từ Vinh cha chàng xin được mầm non trổ vào mùa xuân từ vườn ngự uyển của đức vua mang về trồng vào đúng ngày mẹ trở dạ sinh ra chàng. Mười tám năm qua, mầm trúc mảnh mai giờ đã thành khóm trúc rậm rạp, thân vàng óng vươn cao. Từ bước nhẹ đến bên khóm trúc. Chàng cúi xuống, lần tìm một thân trúc vừa tầm khẩu tay. Thân trúc lung lay. Lá trúc rung chuyển sương đêm ào ạt trút xuống ướt đẫm hai vai áo. "Lạy cha… Lạy mẹ… Lạy vong linh tổ tiên họ Từ… xin cha xin mẹ hãy về phù hộ cho con trả mối thù này…!" Từ Lộ cúi xuống về phía từ đường dòng họ, miệng lẩm bẩm khấn. Kỳ lạ…! Cùng với lời khấn nguyện của Từ, một ngọn gió lạnh buốt dấy lên. Những vòm lá trúc trên đầu chàng lại im phắc. Và thân trúc trong tay chàng buột ra khỏi bộ rễ bền chặt nhằng nhịt dưới đất, như tự chuồi lên nằm gọn trong tay Từ.

Từ đã trở lại bên lão bộc:

- Lão cứ trao bài vị cho ta…

- Nhưng…

- Đừng nói gì nữa, lão Ngô…

Từ Lộ vội ngưng lời. Trước mặt chàng, những ngọn đuốc đỏ dọc vừa bất chợt đốt lên trong trang trại. Tiếng người huyên náo. Trên chòi gác, tù và gấp gáp rúc lên.

- Bọn chúng biết… Lộ rồi… Tiểu chủ chạy đi…!

Lão bộc hốt hoảng đẩy vai Từ Lộ.

- Lão mau đi cùng ta!

- Không được… Tiểu chủ trốn chạy đi… Hướng này…!

- Lão Ngô…!

Nhưng lão bộc đã dang tay đẩy mạnh chàng về phía bờ sông Tô. Còn lão lại vùng lên nhằm ngay hướng chuồng ngựa của hý viện và khuệch khoạng chạy.

"Bắt…! Có kẻ gian đột nhập trại…!". Tiếng người la hét. Thêm nhiều đuốc sáng. Chân người rinh rịch chạy. Gươm đao loảng xoảng. Hai cánh cổng trang trại rền rĩ mở ra.

Từ Lộ cứ nhằm bóng tối trước mặt mà chạy lao đi.

"… Có kẻ trộm ngựa…! Trộm ngựa!…". Phía sau Từ Lộ, nơi trang trại nhà chàng khi trước lại vang lên những tiếng thét hốt hoảng. Đột ngột, không gian lại như bị vỡ ra thành muôn mảnh bởi tiếng vó ngựa từng đàn hốt hoảng chạy lồng lên trong bóng đêm.

Từ Lộ thu mình đứng nép bên gốc duối bên đường. Những con ngựa cao lớn lực lưỡng cất tiếng hý vang nối nhau phóng rầm rập vụt qua trước mặt chàng. Tiếng đập trong lồng ngực Từ Lộ cũng chợt như dừng đứng lại. Chàng hiểu. Ngưòi lão bộc trung thành đã liều thân tháo then chuồng thả đàn ngựa ra để đánh lạc hướng lũ gia nhân nhà Diên Thành hầu cho chàng chạy thoát. Chờ cho tiếng vó ngựa lắng, ánh đuốc và tiếng người hò hét đuổi theo bầy ngựa xa dần, Từ Lộ ôm gốc cây ngồi thụp xuống giọng thầm thì nghẹn tắc trong cổ họng:

- Cha ơi… mẹ ơi…! Đêm này là đêm cuối cùng hèn nhát của đứa con đớn hèn mang tên Từ Lộ do cha mẹ sinh ra. Con xin tạ tội trước vong linh… Ta tạ lỗi với lão Ngô vì sự hèn yếu, mù quáng của ta trước đây.

Chàng đứng bật dậy, ngửa mặt lên trời, nghiến răng:

- Ta… ta sẽ trả thù…! Trả thù!

Qua bao ngày tìm kiếm, hôm nay Từ Lộ đến đất Quí Vũ. Trong tay chàng là cây gậy nhổ lên từ khóm trúc bên đầu hồi từ đường dòng họ. Cây gậy trúc mà giờ đây Từ Lộ mỗi lúc mỗi cảm thấy nặng chĩu anh linh, vong hồn của cha mẹ chàng. Lần tìm tung tích Đại Điên ở tất cả những nơi mà chàng nghe thấy đang mở hội. Và ở hội Chen này, chàng gặp pháp sư Đại Điên.

Đại Điên nhìn chàng trai trẻ. Nét mặt không hề thay đổi. Cái nhìn như ánh mắt một con mèo già uể oải thừa mứa vờn quanh một chú chuột nhỏ bé non nớt. Pháp sư cất cái giọng rè rề lười biếng giễu cợt:

- Chú mày cũng thích cái hội mở rừng với trò cướp kén bắt trạch này ư?

Từ Lộ hết nhìn Đại Điên đứng ngạo nghễ trước mặt chàng, lại nhìn xuống xác cô gái nằm dưới đất. Dòng máu vẫn rỉ chảy trên khoé mép. Chiếc yếm che ngực lúc nãy bị gió rừng thổi lật tung, cành trâm bạch cẩn minh châu ngời ánh ma trơi trên cỏ.

Không nói một lời, Từ sấn tới.

Đại Điên vẫn đứng nguyên chỗ cũ. Thậm chí lão pháp sư không thèm đụng đến cây thiền trượng đang run rẩy trên thảm cỏ ngay bên chân lão. Chỉ đến khi Từ Lộ còn cách lão chừng hai bước chân, Đại Điên làm bộ uể oải giơ một bàn tay lên, xoè ra trước mặt quát: "Dừng!"

Cùng với tiếng quát của pháp sư, như có một sợi dây thừng dằng Từ Lộ sững lại. Cẳng chân nặng như đeo chì. Từ nhoai người cố bứt ra khỏi các sức vô hình mà khủng khiếp như ngàn cân mỗi lúc một đè nặng lên hai vai. Nhưng người chàng cứ muốn rũ lả xuống. Đại Điên cười khà khà, đưa tay rút cây thiền trượng lên khỏi mặt đất. Thong thả buộc mấy cái nút áo vừa cởi, Đại Điên quay người đủng đỉnh bước đi như không hề để ý đến chàng thanh niên đang đứng sững bất lực mặt mày xám xanh vì uất ức.

Cùng với bước chân quay di của Đại Điên, cái sức nặng vô hình mà khủng khiếp cũng như đột ngột cất khỏi hai vai, khỏi thân thể Từ Lộ. Từ rùng mình. Chàng mím miệng hít một hơi dài, nắm chặt lại cây gây trúc. Tay vung gậy lên cao, nhẩy ba bước dài, Từ đến sát sau lưng Đại Điên. Gậy trúc nhằm thẳng đỉnh đầu bóng loáng của Đại Điên bổ xuống.

Đại Điên vẫn đủng đỉnh bước một đi về phía những tảng thịt trâu nướng thơm phức trong miếu Sơn thần.

Gậy trúc trong tay Từ Lộ sắp bổ xuống thóp đầu trọc của pháp sư thì bỗng như có bàn tay người từ trên cao thò xuống giữ đầu gậy lại. Cũng từ trên thinh không, một giọng nói như ghé sát vào tai Từ thầm thì mà chàng nhận ngay ra đó là giọng nói của cha chàng: "Chớ…! Chớ…! Giết hổ phải cần hùng. Đại Điên có phép lục thông. Con ta chưa đủ sức". Cây gậy trúc như tự quay đầu lại, và thoắt cái lại trở về nằm gọn trong tay Từ Lộ.

Khi đó Đại Điên mới đủng đỉnh quay nhìn lại. Đôi mắt của hắn rờn rờn ánh mắt thôi miên như mắt cọp trong đêm. Bắt gặp vẻ ngơ ngác thảng thốt của Từ Lộ, Đại Điên cười lớn:

- Ta có lời nguyền. Khi nào buộc phải giết người thì mỗi ngày chỉ giết một mạng. Ngày hôm nay đã đủ một đứa rồi - Pháp sư giơ đầu cây thiền trượng chỉ vào xác cô gái nằm trong vũng máu - Vậy ta tha cho mi… Con chách trấu bé nhỏ tội nghiệp!

Nói rồi, Đại Điên đặt thiền trượng lên vai, xốc lại áo chùng, ngửa cổ nhìn vọng lên trời đêm, cất một tràng cười buốt óc…

Trước cửa rừng Quí Vũ đêm hội Chen đến phần vui vẻ huyên náo nhất. Trò Cướp Kén. Trống vẫn thì thùng điểm nhịp. Chiêng vẫn dóng dả vang vang. Mõ vẫn trầm trầm chen tiếng. Những đôi trai gái đã ăn ý cùng nhau bây giờ tản ra, tay nắm tay tiến vào trong bóng tối âm u của rừng. Cánh rừng già thở hổn hển dưới trời sao và những dải sương trắng chăng ngang.

Năm ấy, nhiều đứa trẻ ra đời sau chín tháng mười ngày trên đất Quí Vũ sau đêm hội Chen không có vẻ gì là con cái của Sơn Thần. Những đứa trẻ từ lúc lọt lòng mẹ đã có vầng trán dô, đôi mày dài và cặp mắt đỏ nhìn lâu không chớp.
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-06 19:41:07huytran>
Chương 7

TIỂU ĐĂNG KHOA
 
 
Diên Thành hầu phu nhân bệ vệ trên sập gụ khảm ốc lóng lánh. Bộ xiêm áo bằng đại vóc màu hoàng thổ của bà ganh đua cùng vòng vàng xuyến ngọc nổi bật trên tấm gối dựa bọc da cáo đen. Từ người phu nhân toả ra mùi hương sực nức.

Mùi hương này được chưng cất bởi mồ hôi, có khi cả máu của những gia nhân xấu số chẳng may bỏ mạng trên con đường thiên lý đi tìm lọai trầm đắt giá nhất tại bắc phương để ủ cho nhà Diên Thành hầu.

Cứ mỗi năm một lần, những phó quan gia cha truyền con nối của nhà hầu lại phải dẫn một tốp mười ba gia nhân cưỡi ngựa mang bạc thoi vàng nén đi qua xứ Lạng, vượt đường dài sang nước Đại Tống, tới tận Tô Châu lùng mua các loại trầm quí nhất cho phu nhân. Những lò hương được đặt trong mấy gian phòng lớn treo đầy quần áo và cái mùi trầm sang trọng đó cứ toả quanh năm để ướp hương cho quần áo xiêm y của toàn gia Diên Thành hầu.

Cất giọng sang sảng quyền quí, phu nhân nói với viên thư lại đang ngồi trên chiếc đôn thấp với cuốn sổ và chiếc bút lông đẫm mực khư khư trên tay:

- Này Trần Mục… Nhà ngươi vừa nói đến bảng kê biên quà mừng cưới của tri châu Lạng Giang phải không?

Trần Mục khúm núm:

- Dạ bẩm phu nhân… Bảng của tri châu Lạng Giang con đã đọc xong. Hai đôi tay gấu này loại lớn nhất đấy ạ… Lại còn chiếc sừng tê cỡ đại… Con đồ rằng trong ngự y cũng chưa chắc có được…

Phu nhân mỉm cười mãn nguyện. Bà khẽ hất hàm. Trần Mục cúi đầu hắng giọng đọc tiếp:

- Hạ quan, tri phủ Bình Giang là Lê Trường Tích lòng thành cúi đầu dâng lời cầu chúc lễ Tiểu đăng khoa của đại công tử. Tài hèn sức mọn, hạ quan xin có chút lễ sơ sài dâng lên bề trên, những mong được ân trên lượng thứ. Gồm: Trâu năm xoáy. Lợn năm móng. Trầu vàng cau tía ba mâm. Ngự tửu hạ thổ…

Phu nhân thoáng cau mày:

- Chọn ngang lễ nạp thái của Hoàng tử! Tri phủ Bình Giang rõ khéo… Ta biết, từ đời cha hắn đã giỏi việc đoán ý chiều lòng bề trên. Nhưng năm nay phủ Bình Giang mất mùa đói kém lắm hay sao mà quan phụ mẫu chỉ soạn một lễ bạc thế này…?

Trần Mục lét mắt nhìn phu nhân, thưa:

- Dạ bẩm… bảng kê còn dài ạ… Dê béo hai mươi con. Cá chép hai trăm con. Tôm hùm hai trăm đôi. Gạo tám hương hai mươi gánh. Gạo cẩm hai mươi hộc. Gà cẩm kê sống hai đôi. Ngoài ra, bẩm phu nhân. Gấm tía mười hai cây. Lụa điều hai mươi tấm. Vàng thoi năm nén. Ngọc bích ba đôi…

Trên gương mặt của Diên Thành hầu phu nhân giãn nở một nụ cười. Phu nhân khẽ gật đầu. Biết ý, Trần Mục vội nhoai người khom lưng đặt cuốn sổ vào tay phu nhân. Phu nhân liếc vài dòng, rồi chợt cau mày:

- Ta chưa thấy danh tính của tri phủ châu Hoan, châu Ái… Lũ này chết cả rồi sao?

Trần Mục cúi đầu:

- Dạ bẩm… Châu Hoan, châu Ái đường về kinh xa xôi hiểm trở. Dân tình ngang ngạnh… Tri phủ hai châu cũng có lễ vật dâng về. Nhưng tin cấp báo ra chiều qua, nửa đường bị kẻ đói chặn cướp mất một xe vàng lụa, giết ba lính áp tải. Chắc lúc này lũ tri phủ hai châu đang thu thập thêm cho đủ lễ vật dâng về kinh…

Phu nhân thở dồn dập:

- Liệu có tin được lời lẽ của bọn quan bất trí dân bất nghĩa này chăng? Ta tưởng từ khi phu quân ta tâu lên Hoàng thượng cho biếm chức tri phủ của Đinh Xương, cất nhắc Bùi Vĩnh lên thay ở châu Hoan thì đám hào lại ở đây thấm lễ nghĩa hơn…

Bà trừng mắt nhìn Trần Mục:

- Chỉ tại ngươi chậm chạp như một con rùa già. Ta đã nhắc cách đây một tháng, rằng phải xuống trát đàn hặc lũ tri phủ tri châu về tội lười biếng, không để ý gì đến dân trong hạt. Nếu không mau sửa đổi, sẽ bị biếm chức. Lũ đó dù ngu muội, song ngầm ý của những cái trát đó thì mau hiểu lắm!

Trần Mục khúm núm:

- Dạ, bẩm, con đã gửi cách đây cỡ vài chục ngày. Nhưng xin phu nhân bớt giận, đường sá xa xôi, dân tình đói kém, không phải vị tri phủ tri châu nào cũng thu xếp ngay được…

Có tiếng cô hầu gái nhẹ nhàng bước vào:

- Dạ bẩm phu nhân… Có Thái sư phu nhân Lê Văn Thịnh cùng gia nhân đặt kiệu trước phủ để vào mừng lễ Tiểu đăng khoa của đại công tử ạ.
Diên thành hầu phu nhân đưa tay sửa lại món tóc đã điểm bạc rủ xuống trước trán. Phu nhân chưa cần truyền lệnh thì Trần Mục đã biết ý, vội ôm sổ nhanh nhẹn lui bước vào nhà trong.

Diên Thành hầu phu nhân vừa kịp vuốt lại nếp áo quần thì đã thấy một vị mệnh phụ vóc người cao lớn, bước đi nhanh nhẹn mà đài các đang tiến vào nhà. Theo sau là năm gia nô mặc đồng phục, lễ mễ tráp đỏ trên tay.

Gương mặt mệnh phụ tròn vạnh như trăng đêm rằm. Một đường ngôi thẳng tắp chia món tóc trước trán làm hai nửa vẫn giữ màu đen mướt khiến càng tăng vẻ đoan trang, nghiêm nghị. Là vợ một vị Thái sư nhất phẩm, quyền cao chức trọng, lại nhiều tham vọng mà Thái sư phu nhân trang phục thật giản dị. Bộ xiêm áo bằng lụa vân hoa màu xanh nhạt với đường cắt may tinh tế, phần trên ôm vừa khít đủ tôn chiếc cổ cao và bộ ngực thanh nhã, chảy xuôi như một dòng suối chưa tới eo lưng đã dừng lại toả rộng, tha thướt đủ cho thấy sự bộn bề hào hoa của chủ nhân. Tay không vòng xuyến. Đồ trang sức duy nhất trên người bà là một viên ngọc trai màu hồng to bằng quả trứng chim đung đưa trên giải dây lưng lụa bạch, dìu dịu toả sáng ngờm ngợp như có linh hồn. Nghe nói đó là viên ngọc trai quốc bảo của vua Chế Củ nước Chiêm Thành ven biển đông. Những đêm trăng sáng, vua Chế Củ thường mang viên ngọc trai này ra cho uống ánh trăng. Chừng một trống canh, khi trăng viên mãn, viên ngọc bỗng chói sáng, sắc cầu vồng lung linh rực rỡ. Áp viên ngọc trai đã uống ánh trăng đó lên tai thì nghe cả tiếng gió biển âm u, sóng biển rì rào, các thuỷ thần thì thầm trò chuyện với nhau từ đáy đại dương sâu thẳm vọng tới. Mùa xuân năm Kỷ Dậu (1069) Thánh Tông hoàng đế thân chinh đi đánh Chiêm Thành , có Lý Thường Kiệt làm tiên phong, bắt được Chế Củ giải về kinh, thu phục ba châu Đại Lý (Nay là đất Lệ Thủy, Quảng Bình), Ma Linh (Nay là đất huyện Bến Hải, Quảng Trị), Bố Chính (Nay là đất các huyện Bố Trạch, Quảng Trạch, Tuyên Hóa của Quảng Bình). Không hiểu sao viên ngọc trai truyền kỳ đó lại đong đưa bên giải dây lưng của phu nhân quan Thái sư Lê Văn Thịnh.

Thái sư phu nhân cúi đầu thi lễ:

- Khắp kinh thành đang dậy lời đồn đại, tán dương sự hào hoa của đại công tử con quan Diên Thành hầu. Kẻ nghèo hèn này hôm nay may mắn được đích mục sở thị, mới thấy rằng lời ấy chẳng phải ngoa truyền!

Diên Thành hầu phu nhân thoáng nhìn vẻ đoan trang của Thái sư phu nhân, liếc xuống bộ xiêm y rực rỡ mình đang mặc, trong lòng dấy lên chút ghen tị vì biết mình dù có phô ra muôn sự phú quý thì vẫn không địch nổi cái vẻ đĩnh đạc sang cả trong người đàn bà vợ vị trạng nguyên nhất bảng của khoa thi đầu tiên của triều đình mở năm Ất Mão. Nghe nói, Thái sư phu nhân thường dậy vào đầu giờ dần để giúp chồng xem xét, soạn thảo giấy tờ biểu tấu trước khi dâng lên vua.

- Không dám không dám… Thiên hạ quá lời…

Diên Thành hầu phu nhân đáp lại, không giấu nổi nét cười nhẹ mãn nguyện:

- Một người thông tuệ như phu nhân thì còn gì lạ lời đồn thổi từ nhà quyền quý đến đám tiện dân ở chốn kẻ chợ này…

- Có sao… Có sao… Đại công tử nhà ta nức tiếng là con người hào hoa. Tiểu thư nhà nào may mắn lọt vào mắt xanh của đại công tử, đặt chân trước từ đường nhà này thật là đại phúc…

Diên Thành hầu phu nhân miệng vẫn còn giữ nụ cười mà trong lòng xót như chà muối. Phu nhân đã mất biết bao nhiêu công sức để ngăn trở cái lễ Tiểu đăng khoa oan nghiệt này. Nhưng đứa con trai ngang ngược đã bất chấp tất cả. Giờ đây, chính tai phu nhân đang lại phải nghe những lời lẽ mà bên trong chiếc vỏ bọc ngọt ngào đó đang rình rập vô số mũi dao.

Chừng như thấy lời lẽ ý tứ của mình như vậy cũng đã đủ, với nụ cười nửa miệng cao ngạo, duyên dáng, Thái sư phu nhân khẽ đưa mắt sang bên phải, nơi đám gia nhân của bà, trái hẳn với phong cách ăn mặc trang nhã của chủ nhân, ăn mặc phục sức rực rỡ cầu kỳ, để chứng tỏ gia chủ là một người hào phóng. Đám này đang nhất loạt cúi đầu chờ lệnh. Sau cái đưa mắt của bà, ba gia nhân đỡ một chiếc tráp sơn son thiếp vàng phủ lụa điều răm rắp bước lên phía trước.

- Phu quân tôi có chút lễ mọn mừng ngày vui của đại công tử…

Thái sư phu nhân khẽ nghiêng người, tự tay nhấc vuông lụa điều.

- Xin mạo muội mừng lễ Tiểu đăng khoa của đại công tử. Những mong phù hợp với sở thích của phu nhân.

Vuông lụa rơi xuống nằm sõng sượt trên mặt đất, một ánh sáng chói loà đập vào mắt. Diên Thành hầu phu nhân không kìm được tiếng reo kinh ngạc. Một con trâu đúc bằng vàng khối hiện ra. Dáng đồ sộ của khối vàng và những nét chạm trỗ cực kỳ tinh xảo khiến người đã quen mắt với những kỳ trân dị bảo chốn cung đình như Diên Thành hầu phu nhân cũng phải loá mắt.

- Còn đây là quà mừng cô dâu. Mừng cô dâu bay bổng thanh cao…!

Lời nói chưa dứt, sau một tiếng "tách" nhỏ, đáy tráp bỗng bật mở, phô thêm một bảo vật nữa, những người chứng kiến càng kinh ngạc bội phần.

Trước mặt Diên Thành hầu phu nhân là một con rồng kết thành bởi những hạt ngọc màu hồ thuỷ hắt sáng. Viên hồng ngọc được gắn làm mắt rồng hơi lẹm ở phía dưới khiến trông như con rồng đang nhỏ lệ. Đôi lễ vật trâu vàng rồng ngọc đặt cạnh nhau, mới nhìn chỉ thấy thật cân xứng. Trông kỹ hơn một chút, mới nhận ra rằng rồng thì thanh cao uốn khúc hướng lên chín tầng trời, mà trâu thì chỉ vục mặt xuống đám cỏ ở dưới đất, người tinh ý sẽ cười thầm vì sự cọc cạch khôn tả. Diên Thành hầu phu nhân không biết được rành rẽ điều ấy, bà thầm nhầm tính giá trị trâu vàng rồng ngọc, nở từng khúc ruột, quên cả việc người ngồi trước mặt bà đây đã thóc mách đến tận ngọn nguồn về nội tình nhà mình.

Thái sư phu nhân dim mắt liếc nhìn khuôn mặt ửng đỏ của người ngồi trước mắt trước cặp lễ vật mình mang tới. Một sự thoả mãn dâng tràn trong bà. Vốn là con gái một ông đồ nho nổi tiếng vùng hiếu học đất Kinh Bắc, gá nghĩa với chàng học trò Lê Văn Thịnh từ thuở còn hàn vi đêm nấu cháo ngày đồ xôi để chồng dùi mài kinh sử, từ con đường khoa bảng mà làm nên công danh, Thái sư phu nhân vốn coi thường đám thê thiếp trong triều. Bọn họ chỉ biết ỷ vào thế của chồng hoặc ỷ vào dòng họ hoàng tộc mà lên mặt kênh kiệu hơn người, tham lam thu vén cho đầy đụn đầy kho. Cứ như nhà Diên Thành hầu đây vốn nức tiếng giàu sang phú quí, nhưng xem ra đầu óc hạn hẹp, tầm nhìn cũng không hơn là bao so với đám trọc phú chốn quê mùa. Chắc hẳn Hầu phu nhân lần này thừa dịp đám cưới cậu quý tử mà ra sức bóp nặn lũ quan nha dưới quyền.

May sao tiếng đàn sáo nhã nhạc từ bên ngoài vọng vào mỗi lúc một lớn, cắt đứt câu chuyện đã đến lúc khó nói của hai vị phu nhân vốn bằng mặt chẳng bằng lòng mà ở kinh thành này ai cũng biết. Diên Thành hầu phu nhân làm ra vẻ vội vã nhỏm dậy:

- Ấy chết… Đám rước dâu đã về nhà… Xem chừng sớm nửa khắc đấy… Mời Thái sư phu nhân tiện có mặt dự mừng, ban phúc cho đôi trẻ.

- Xin đa tạ… Phu nhân cho tôi được kiếu. Đến gặp được phu nhân như thế này là rạng mặt cho chúng tôi lắm rồi… Còn việc lễ trọng của đại công tử, chúng tôi đâu dám…

Đám gia nhân nhất loạt rạp mình chào Diên Thành hầu phu nhân rồi quì xuống, đỡ Thái sư phu nhân lên kiệu.

Dẫu vậy, trên quãng hoa viên mênh mông dẫn lối ra khỏi dinh thự nguy nga của Diên Thành hầu, Thái sư phu nhân cũng kịp liếc mắt điểm mặt đám kiệu rước dâu dài dằng dặc vừa về đến cổng đang dừng lại để bà già dẫn đường vung những nắm tiền đồng ban phát cho lũ người hiếu kỳ bạo dạn đang đứng chờ xem mặt cô dâu trước dinh thự.

Kiệu vừa dừng trước nghi môn, công tử Lý Câu hớn hở vén rèm. Những người đứng chung quanh sững sờ kinh ngạc vì vẻ đẹp thuần khiết của cô dâu. Gương mặt trắng xanh của Nhuệ Anh tiểu thư như một đoá hoa hàm tiếu dưới chiếc mũ phượng, vươn cao trên cổ áo bát ty màu đỏ thêu hình mặt trời và những con chim phượng đang nhẩy múa. Thân áo bát ty rủ dài êm ả xuống chiếc xiêm cũng bằng đoạn bát ty màu bạch tuyết, phía dưới gấu có đường viền xanh như cỏ chuốt. Dưới những lượn sóng rờn của lụa là gấm vóc, đầu mũi đôi hài nhỏ chập chờn hé lộ. Bên kiệu có sau thị nữ mặc áo mã tiên. Hai người cầm đèn lồng chạm rồng. Hai người cầm cành thiên tuế. Hai người bưng tráp trầu và hộp hương bằng ngọc…

Khoảng cách giữa kiệu của Thái sư phu nhân và kiệu hoa của cô dâu tuy không gần nhưng cũng đủ để cho đôi mắt tinh tường của phu nhân kịp nhận rõ vẻ nhìn xuống vẻ ngoan ngoãn và cam chịu của cô dâu. Vốn đã hỏi han rất kỹ về mối tình của Nhuệ Anh với Từ Lộ, con trai quan Tăng đô án vừa bị sát hại, vụ nghi án vẫn còn đang gây bao lời đồn đại khắp chốn kinh thành, trong lòng Thái sư phu nhân không khỏi chợt dấy lên một chút khinh bỉ về sự bạc bẽo của người con gái đang ngồi trên kiệu hoa kia. Và một người mới nhập cuộc nhưng đã rất thông thạo những nghi thức lễ nghĩa chốn cung đình, Thái sư phu nhân hiểu ngay rằng cậu quí tử nhà này đã ngông nghênh dám dùng y phục nghi trượng trong đám cưới công chúa để làm sang đám cưới y. Thái sư phu nhân nhếch nụ cười nửa miệng. Nhất định bà không bỏ qua sự ngạo mạn này. Phu nhân tự dặn mình rồi cho xe ngựa chạy thẳng về dinh ở hướng Nam kinh thành.
Lúc đó, dưới tấm nghi môn "Diên Thành hầu phủ", từ noãn các vào tới chính đường, các cánh cửa đều mở toang, phô ra những đôi câu đối sơn son thếp vàng chói lọi. Trước chính đường treo cao bức đại hoành phi bốn chữ khảm vàng: "Diên Thành hầu tôn từ". Dưới hoành phi là bài vị của Thái tổ hoàng đế. Hai bên tả hữu bàn thờ đặt hai chiếc đôn cẩm thạch, trên có trải nệm lông hắc thử dể hút hơi ấm xua tan cái rét tháng ba. Khoảng giữa hai đôn là một bồn lớn đựng những viên than cháy đỏ toả hơi ấm sực. Diên Thành hầu và phu nhân uy nghi trên đôn. Lại mười tám chiếc kỷ trạm rồng phượng đặt thành hai hàng đối diện nhau. Bên mỗi kỷ là một lò sưởi nhỏ bằng đồng. Ngồi chĩnh chiện trên mười tám kỷ là các bậc huynh trưởng trong hoàng tộc. Cảnh tượng uy nghi là vậy. Nhưng từ Diên Thành hầu đến các bậc huynh trưởng trong họ đều không giấu được cái vẻ gượng gạo trên mặt.

Hai thị nhữ nhẹ đỡ Nhuệ Anh tiểu thư xuống kiệu. Công tử Lý Câu sóng đôi cùng Nhuệ Anh bước đến vái chào song thân, hoàng tộc và bàn thờ gia tiên. Nhuệ Anh nhìn những gương mặt lạnh lùng dàn ra trước mặt nàng. Những ánh mắt như xuyên thấu người nàng, thầm định giá nàng như một đồ vật giữa những đồ tế tụng nghi trượng chói sáng. Nàng đã phải quỳ xuống vái lạy không kể xiết bao nhiêu lần. Thân thể mảnh mai của nàng mỗi lần cúi xuống lại lẩy bẩy muốn ngã nếu không có hai thị nữ luôn dìu dỡ hai bên.

Riêng Lý Câu thì chẳng còn bụng dạ nào để vào những thứ nghi lễ phiền toán và dai dẳng hành hạ hắn lúc này. Chú rể nhổm lên cúi xuống vái lạy như một cái máy. Và mỗi lần ngẩng lên cúi xuống, cặp mắt lại không thể rời được khoảng gáy trần của Nhuệ Anh kề ngay bên vai hắn. Trắng ngần và thon nhỏ như một đài hoa huệ và được khoá lại bởi chiếc kiềng vàng nặng chĩu do chính tay Lý Câu tròng vào, bấm khoá trong lễ tơ hồng ở sân nhà gái. Mỗi lần như thế trong lòng Lý Câu lại cháy rực một nỗi thèm khát điên cuồng được ôm vào trong vòng tay cái thân thể này, ngấu nghiến hôn lên cái gáy mảnh mai trắng ngần này… cho thoả tất cả những nỗi thèm khát nung nấu trong hắn, mỗi ngày mỗi thiêu đốt, ngay từ lần đầu tiên nhìn thấy Nhuệ Anh trong buổi dâng hương ở sân chùa Từ Đàm. Đôi lúc cái ý nghĩ tàn bạo điên cuồng được ghé miệng cắn nát cái gáy kiêu hãnh đó, vò nát giày xéo lên cái thân thể đồng trinh đó… để trả thù lại bao nỗi uất ức, tủi nhục mà sự cao ngạo của nàng đã gây ra cho một người như hắn, đường đường là một vị đại công tử, tập ấm chức hầu danh giá nhất triều đình.

Từ Lộ đã bỏ đi biệt tăm tích. Nhưng Lý Câu cảm thấy cái bóng của tình địch vẫn thấp thoáng đâu đây, lẩn khuất sau những gương mặt, những đèn nến nghi trượng, những mâm cao cỗ đầy trong tiệc cưới này. Và chỉ cần thoáng thấy bóng Từ Lộ, cái thân thể đồng trinh bên hắn đây, cái gáy trắng ngần thon thả như một đài huệ này sẽ tan nhoà, sẽ biến mất như một ảo ảnh… Ý nghĩ đó nhói lên làm Lý Câu như nghẹt thở. Lý Câu nghiến răng, cố nhìn kỹ mặt Nhuệ Anh. Nét mặt buồn, nhưng cam chịu, ngoan ngoãn thành kính vái lạy cha mẹ và các bậc huynh trưởng. Lý Câu thấy yên lòng. Nhưng đôi môi hắn mím chặt. Con chim nhỏ ngang ngạnh bướng bỉnh đã trở nên biết điều an phận trong lồng son rồi. Nhưng hãy chờ đấy, cái lồng son này cũng sẽ có lúc trở thành chốn địa ngục…
Cuối cùng thì những quy định phiền phức những lễ nghi dai dẳng trong đám cưới công tử của một đại gia đại phú cũng đã xong. Tiếng đàn sáo lại réo rắt vang lên. Từng dẫy đèn lồng thắp lên trong nhà, ngoài vườn. Cô dầu đã được dẫn vào phòng tân hôn chuẩn bị làm lễ hợp cẩn.
Nhưng công tử Lý Câu lúc này lại vẫn ra vẻ không hay biết. Công tử vẫn lượn lờ ngửa cổ nốc từng chung rượu lớn, cười đùa bỡn cợt với đám bằng hữu đang ngồi ngả nghiêng trên chiếu rượu đã gần tàn hoặc chen vai thích cánh trong những chiếu bạc vừa mới mở ra la liệt ngoài sảnh.

Ban sáng, lúc chuẩn bị rước dâu, bà mai đã dặn đi dặn lại Lý Câu về lễ hợp cẩn. Chú rể sẽ phải lấy miếng trầu trăm trong tế tơ hồng để dành trao cho cô dâu một nửa. Rồi rót một chén rượu, hai người cùng uống cạn. Rồi vợ trải chiếu lạy chồng hai lạy. Chồng đáp lại vợ một vái… Lý Câu nhăn mặt cố nhịn, nghe hết những lời ê a thốt ra từ cái miệng móm mém lúng búng đỏ nước cốt trầu của bà mai đã ngoài bảy mươi tuổi.

A ha! Lễ hợp cẩn… Có thế mới nên vợ nên chồng… Công tử Câu muốn phá lên cười. Bây giờ miếng trầu trăm vẫn nằm gọn trong túi áo gấm đây. Đáng lẽ miếng trầu này phải đặt lên chiếc đĩa có hình song phượng trên bàn trong phòng đôi tân hôn. Nhưng Lý Câu muốn làm ngược lại. Lúc lễ tơ hồng trên sân nhà gái, đáng lẽ miếng trầu trăm phải được nâng niu nhấc lên, khe khẽ bọc lại bằng một vuông lụa đào. Nhưng Lý Câu lại đưa tay nhón lấy bỏ vào túi, làm nát cả đôi cánh xanh xinh xinh của miếng trầu. Lý Câu muốn Nhuệ Anh và mọi người biết rằng, trên đời này đại công tử Lý Câu muốn làm gì thì làm, chẳng phải nghe ai, chẳng cần tuân theo luật lệ.

"Ta sẽ móc túi lấy miếng trầu trăm ra, và hỏi nàng có nhớ lễ Vu Lan ở Từ Đàm năm ngoái. Nàng đã từ chối mời ta một miếng trầu. Lại kiêu căng ra sao trước mặt Hầu công tử này. Bây giờ miếng trầu đó đây. Ta không mời ta mà ta cũng chẳng mời nàng. Miếng trầu này cũng như thân phận kiêu sa của nàng đó, từ nay sẽ thuộc về ta, hoàn toàn thuộc về ta. Miếng trầu trăm ta không ăn mà sẽ xéo nát dưới chân như nàng đã làm đối với ta trong lễ Vu Lan ngày đó…". Những ý nghĩ cứ loé lên, lúc nguội tắt trong đầu Lý Câu.

Chuếnh choáng hơi men, Lý Câu không còn nghĩ gì đến thể diện, sán đến phường con hát đàn địch mua vui cho đám quan lại quý tộc cự phú, lả lơi cười nói, bẹo má, bế cả lên đùi ngồi bỡn cợt. Đám con hát cười như nắc nẻ, rồi chợt bụm miệng sợ hãi vì sực nhớ đang ở giữa lễ Tiểu đăng khoa của công tử. Mãi đến lúc mấy tên gia nhân đầu chít khăn điều hớt hải tìm, nói phu nhân truyền cho đại công tử vào ngay để làm lễ hợp cẩn kẻo lỡ giờ tý tốt lành, Lý Câu mới làm vẻ như buộc phải tuân lời. Và lúc đó, dù chuếnh choáng hơi men, đại công tử họ Lý cũng chợt hiểu ra rằng, không phải Nhuệ Anh mà chính hắn, chính hắn, sau bao nhiêu công sức, cơ mưu để đi tới được ngày hôm nay, thì đến lúc này tất cả sự thèm khát cùng dục tình hàng ngày vẫn ngùn ngụt bốc lên hành hạ tâm can hắn giờ đây lại như cơn thuỷ triều vào độ trăng khuyết. Nước rút đi để lại bờ bãi hoang vắng xác xơ. Hắn chần chừ vì ngại ngùng, sợ hãi phải giáp mặt với nàng.

Lý Câu chệnh choạng theo hai thị nữ cầm đôi nến hồng dẫn đến trước cửa phòng tân hôn. Trong hơi rượu mù mờ đầu óc, hắn bậm môi đoán thầm xem lúc này Nhuệ Anh đang làm gì. Hoặc sẽ là một gương mặt, một cặp mắt phẫn uất căm thù. Hoặc sẽ là một thái độ lạnh lùng nhẫn nhục cam chịu. Cả hai hắn đều không muốn. Như mọi người đàn ông bình thường khác lúc này, cùng với những bước chân gần đến hai cánh cửa ngăn cách kia, trong ngực hắn bỗng nhói lên nỗi niềm khao khát mong đợi được mềm yếu được vuốt ve chiều chuộng yêu thương.

Hai thị nữ dừng lại trước cửa phòng. Cả hai ngước mắt nhìn lên đại công tử, và mỉm cười. Nụ cười cầu tài lấy lòng khiến Lý Câu như chợt tỉnh. Hắn móc túi lấy chút bạc vụn thưởng rồi giật phắt lấy cây nến, gạt hai đứa sang một bên, kiên quyết đẩy mạnh cánh cửa bước vào phòng tân hôn.

Căn phòng trống hoang, lặng ngắt như tờ.
Lý Câu giơ cao cây nến trong tay, đứng ngẩn, hơi men thoắt tan biến.

Mọi thứ vẫn còn nguyên đó. Chiếc giường cao chạm trổ cầu kỳ rèm che chăn rồng gối phượng. Chiếc kỷ nhỏ chân quỳ có đặt bình rượu cẩm và chiếc chén "quân độc ẩm" úp bên. Chiếc chiếu cạp điều cuộn tròn để đợi bàn tay cô dâu trải ra đón lễ hợp cẩn. Phía góc nhà, chân đèn dầu lạc bập bùng ngọn lửa. Lý Câu đã nhìn thấy trên tấm nệm hồng trải giường, chiếc áo lụa bát ty khoác ngoài thêu mặt trời và chim phượng mà Nhuệ Anh vừa mặc.

Những giọt nến hồng nhỏ xuống bàn tay rát bỏng. Nhưng Lý Câu không hay biết. Hắn cứ đứng thế trân trân. Rồi hắn cúi nhặt lên những ngọn trâm cài đầu, những chiếc vòng vàng nhẫn ngọc, đôi hoa tai… Tất cả đồ sính lễ mà hắn đã mang tới cho Nhuệ Anh. Tất cả đều được bỏ lại cùng chiếc kiềng vàng chạm hình rồng đeo cổ. Móc khoá của chiếc kiềng vàng đã bị bàn tay, không phải bàn tay, mà là những vết răng cắn còn vương máu, bẻ gẫy. Gió lạnh lùa vào tung phần phật đôi rèm cửa sổ lụa hồng khiến Lý Câu ngẩng nhìn, bước nhanh tới. Trước mặt hắn là khoảng tối đen của khuôn viên sau lầu cao. Xa hơn nữa là hàng rặng cây mai cây ổi đen sẫm dăng mành hai bên bờ sông Tô. Lý Câu đã nhìn thấy một dải lụa trắng xé từ những lá màn cửa, rèm giường nối nhau xoắn lại thành sợi dai chắc buộc vào song cửa sổ, dòng từ thành cửa gỗ xuống khoảng đen sâu thẳm khuôn viên.

… Nàng đi rồi…! Thế là xong… Thế là hết…! Hết tất cả…!

Những tiếng chói óc vang lên từ trong sâu thẳm tâm trí Lý Câu. Hắn thẫn thờ bước lại bên chiếc kỷ chân quì. Hắn run run đặt cây nến hồng lên mặt kỷ. Ngồi xuống. Bây giờ hắn mới nhận ra những giọt nến nóng chảy đọng lại còn đang bốc khói trên mu bàn tay. Hắn cứ để nguyên thế, gật gù ngắm những giọt nến bỏng như ngắm nghía thưởng thức một vật gì lạ lẫm, tình cờ có được, tình cờ sa vào mu bàn tay hắn.

Bên ngoài, một hồi trống thì thùng dội lên báo hiệu giờ tý đã điểm. Giờ khắc bắt đầu lễ hợp cẩn thiêng liêng của đôi vợ trồng trẻ. Đám con hát cũng tạm dừng để các đào kép, nhạc công cùng hợp sức tấu lên bài ca cầu phúc cho cặp tình nhân được bách niên giai lão, giàu sang phú quý, con cháu đầy đàn. Lại thêm những ngọn đèn lồng, những cây bạch lạp được nối nhau đốt lên khiến trong lầu, ngoài hoa viên càng thêm tưng bừng rực rỡ.

Trong phòng, Lý Câu vẫn lầm lì ngồi bên kỷ. Chiếc chiếu cạp điều đã được trải rộng ở bên. Chén rượu độc ẩm rót ra cạn lại đầy. Lý Câu ngửa cổ dốc vào miệng hết chén này đến chén khác. Thứ rượu cẩm ủ bằng hai mươi hai vị thuốc quý hạ thổ lâu năm thơm ngon có tiếng mới được kén dùng cho lễ hợp cẩn của con trai đệ nhất phẩm Diên Thành hầu mà sao lúc này mỗi chén đắng chát bóp chét lấy miệng, bóp chét lấy cổ họng.

Lý Câu cứ uống. Uống mãi. Tiếng trống điểm canh, tiếng đàn sáo chúc phúc từ ngoài kia vẳng vào mỗi lúc mỗi xa xôi mơ hồ như tiếng ma tiếng quỷ, như tiếng vang vọng vẳng lên từ một đời kiếp nào khác. Bình rượu hợp cẩn đã trắng đáy. Lý Câu nhấc bình lên giơ ra trước mặt hấp háy mắt.

Hết rồi… Thế là hết rồi…! Chó má cái lễ hợp cẩn…!

Một lần nữa những tiếng nói mơ hồ lại vẳng lên trong Lý Câu. Lý Câu gục gặc đầu, mắt rời bỏ bình rỗng, hướng lên và bỗng dừng lâu ở trên tường, nơi có treo kiếm báu gia truyền của hoàng cung. Thanh kiếm đã được chính tay Đức Thái Tổ hoàng đế trao cho cha Diên Thành hầu tức ông nội Lý Câu nhân ngày triều đình dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long để tưởng thưởng cho những quần thần đã có công lao trong việc dời đô, định đô. Dòng họ Lý kiêu hãnh với thanh kiếm báu. Hôm trần thiết phòng tân lang, Lý Câu nằng nặc xin cha cho treo thanh kiếm trong phòng. Mọi người gàn quải, như thế sợ làm điều bất kính. Lại nữa, đêm động phòng hoa chúc của vợ chồng trẻ chẳng nên có đao kiếm. Nhưng Lý Câu vốn dĩ ngang ngược, đã muốn là đòi bằng được. Diên Thành hầu buộc phải chiều lòng cậu con trai độc. Hầu tắc lưỡi nói với phu nhân: "Nhà mình, mình biết. Bà có nhớ năm Diên Vũ tròn tuổi tôi, làm lễ định trí, bao nhiêu vật dụng bầy quanh, thằng bé đâu có ngó ngàng tới. Nó đạp chân nhoai người, tay với lên. Một tay nhặt hộp son phấn. Một tay quờ cây kiếm báu…!".

Lý Câu xô đổ kỳ chân quì vùng đứng dậy. Lại như ngày tròn tuổi tôi năm xưa, giờ đây Lý Câu lại chồm tới thanh kiếm báu.
Roạt… Lưỡi kiếm rút khỏi vỏ, ánh lên thứ ánh sáng xanh rợn của loại thép quí trước ánh đèn và ngọn lửa nhảy nhót trên đỉnh nến hồng. Lý Câu nheo mắt, mím miệng đăm đăm nhìn lưỡi thép.

Lý Câu đang đăm chiêu ngắm lưỡi kiếm thì giật mình vì trống điểm sang canh vọng tới. Giờ sửu bắt đầu. Cái hình ảnh trâu vàng rồng ngọc kề bên nhau, quà mừng của quan Thái sư đầu triều mà Diên Thành hầu phu nhân đã nhanh tay sáng ý cho bầy lên trước bàn thờ gia tiên khi rước dâu vào dinh để khoe thanh thế giàu sang phú quí giờ đây lại ập tới trong đầu Lý Câu. Tay nắm chặt đốc kiếm, Lý Câu ngước đôi mắt vô hồn hướng ra ngoài cửa sổ. Vòm trời tháng ba xa rộng lấp lánh những vì sao chuyển mùa. Trong vùng sâu thẳm của trời đêm, Lý Câu nhắm mắt, lại thấy Nhuệ Anh. Gáy trắng như bông huệ. Xa vời. Kiêu hãnh trêu ngươi.

Lý Câu thẫn thờ đưa đầu mùi kiếm hất chiếc áo choàng lụa bát ty thêu chim phượng. Chiếc áo lụa trơn ngập ngừng trên đầu mũi kiếm một giây, rồi lại lặng lẽ xoãi ra rơi xuống chiếu.

Bất chợt cơn giận dữ ập đến. Một sức mạnh điên cuồng thoắt nhập vào khiến toàn thân Lý Câu tê cứng.

Hừ… mày… à…!

Lý Câu gầm trong họng. Lưỡi kiến dữ dội vung lên. Roạt…! Tấm áo choàng bát ty bị chém đứt phăng thành hai mảnh, một mảnh phật phờ rơi trở lại chiếu, một mảnh văng ra cuốn vào chân ngọn đèn dầu lạc ở góc phòng. Lý Câu rít lên vọt đuổi theo mảnh lụa. Xoảng… Cây đèn bị chém ngang thân, dầu văng tung toé. Những giọt dầu bắn ra loang dần, kéo theo những vệt lửa ngoằn ngoèo như những vệt lân tinh bò lan trên tường, trên nền thảm trải phòng, trên giường hoa nệm gấm cho dâu chú rể còn nguyên nếp và thơm quyện mùi trầm quý.

Lý Câu như người điên. Hắn chống kiếm nhẩy dựng lên, giẫm đạp lên những vòng vàng, xuyến bạc, hoa tai, kiềng, nhẫn. Roạt… roạt…! Lại tấm màn cửa lụa hồng bị chém đứt. Roạt…roạt…! Tấm khăn trải giường bị hất cao, tung lên những lưỡi lửa bay quẩn quanh khắp phòng theo những đường kiếm lượn. Đến lúc Lý Câu mệt nhoài vì chém giết, chống kiếm đứng thở hồng hộc như con thú dữ bị dồn đến cùng đường và những lưỡi lửa hung dữ ăn loang lem lém liếm rộng khắp căn phòng tân hôn ngổn ngang tàn phá thì bên ngoài vẫn không một ai hay biết. Hai thị nữ vẫn chồn chân mỏi gối ngoan ngoãn đứng hầu hai bên cửa phòng. Ngoài hoa viên Hầu gia, đám hát vừa giã. Phu kiệu í ới gọi nhau sắp đòn khiêng đưa những vị khách muộn mằn rời dinh.

Đám cháy dữ dội dã thiêu huỷ toàn bộ dinh cơ lầu gác bên bờ sông Tô Lịch và đám cưới không thành của đại công tử con quan Diên Thành hầu đêm đó đã là câu chuyện bàn tán cửa miệng của người kinh thành Thăng Long suốt bao năm sau.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 8

NGƯỢC THÁC OÁN
 
Gió bất chợt cuồng nộ trên sông Gâm. Vòm trời cao xanh thoắt tối sầm. Mưa quật xuống ràn rạt xé rách da người.

Cái bóng bé nhỏ vận đồ đen kín mít bỗng chạy vụt lên mấy bước rồi khựng lại. Và lồng lộn xõa xuống một mái tóc đen dài cũng đang giận dữ như cơn giông. Người đó đứng chôn chân. Nửa thân ngả đổ về phía trước ghìm trong gió vừa như lấy đà để bất chợt lao oà xuống dòng sông. Từ Lộ muốn dụi mắt mà tay cứng đờ. Chàng lẩy bẩy bíu vào cụm nứa định nhổm người lên những không được. "Trời… Nhuệ Anh…?". Từ vừa lắp bắp vừa thốt lên thì người trên lèn đá đã nhào xuống làm con bè giật mình chòng chành. Bóng áo đen dổ sập toàn thân ướt đẫm xuống chân Từ Lộ. Trong ánh chớp của cơn giông rừng vừa loé lên như một nhát chém sáng loà xẻ ngang vòm trời cùng với tiếng sét dữ dội nổ tung khiến người vật cỏ cây muôn loài chết lặng, bên tai Từ lại vẳng tiếng kêu nghẹn ngào, tiếng gọi tha thiết trỗi lên từ trong vùng ký ức sâu thẳm tưởng chừng đã muôn đời muôn kiếp lãng quên…

*
**
Từ Lộ gò lưng tì vai chống sào đẩy bè ngược sông Gâm.

Con sông về mùa cạn nước trong vắt có thể nhìn thấu đáy những viên đá cuội nhiều màu ẩn hiện và những đàn cá thân mỏng đuôi dài, hàng vẩy lưng óng ánh màu sắc lượn quanh đi lượn lại qua những cành nhánh rêu xanh đen dưới đáy sông. Nhưng bây giờ là mùa hè. Nước từ thợng lưu ào ạt đổ về các nhánh Nho Quế, Ma Nhi, Pác Nam… Sông quặn mình chảy xiết. Bọt nước sủi sùng sục táp vào hai bên thành bè, tung lên quật ràn rạt vào mái nứa của chiếc cum uốn cong, nơi Minh Không và Giác Hải, hai người bạn của chàng, mặc tiếng thác gầm nước réo vẫn ngủ mê mệt sau một đêm tiếp tay nhau chống bè vượt dòng sông dữ.

Những ngày đầu tì vai lên sào, khom ngực nín thở chân dận ngược đẩy bè vượt lên sóng nước, cái đau nhói chạy lên suốt vai xuyên sống lưng làm tê dại nửa thân Từ. Mảng mo cau già nhúng đẫm nước mà sáng sáng Giác Hải đưa cho chàng áp lên vai chỉ một buổi là bợt ra xơ xác. Máu tụ tím bầm thành những hình tròn như đáy bát ở vai, ở ngực, nơi cọ xát với đầu sào. Mỗi bước đi trên bè chệnh choạng, chênh vênh như bước trên giàn lửa. Từ vẫn nghiến chặt hai hàm răng tì ngực tì vào đẩy sào không một tiếng rên. Cái đau cơ thể lúc này dẫu có ghê gớm cũng không thể so sánh được dù chỉ là phần trăm nghìn so với nỗi đau quặn thắt trong ruột gan tâm trí chàng kể từ buổi hoàng hôn nơi cửa rừng Quí Vũ.

Từ Lộ nhớ lại con đường gian truân đã dẫn chàng tới chốn ma thiêng nước độc này để dấn thân trên nẻo thăm thẳm đầy bất trắc mà đích thì càng ngày càng như xa vời. Sau khi Đại Điên đủng đỉnh bỏ đi, suốt ba ngày ròng Từ đã như bất động trong một hang đá nhỏ giữa rừng cấm. Từ nằm ngửa, mắt nhắm, chỉ thỉnh thoảng há miệng đón những giọt sương lạnh buốt từ nhũ đá trên nóc hang rỏ xuống. Hình ảnh pháp sư Đại Điên, cây thiền trượng buông lỏng trên vai, đủng đỉnh bước một trở vào hội Chen cứ hiển hiện trước mắt. Tiếng cười ngạo nghễ đắc ý của Đại Điên cứ nhức nhối mãi bên tai. Kẻ giết thuê độc ác đó đã ngang nhiên giết cha mẹ chàng, những người xưa nay chỉ biết dùng đạo từ bi mà đối nhân xử thế. Kẻ đó phá nát gia đình chàng, giày xéo lên cuộc đời chàng. Và nỗi thất vọng, bất lực về mình khiến những giọt nước mắt của Từ Lộ lặng lẽ ứa ra, lặng lẽ chảy dài trong bóng tối.

Một ý nghĩ mới hình thành, bám chặt tâm trí của Từ sau ba ngày bất động trong hang nhỏ rừng Quí Vũ. Kẻ thù của chàng là pháp sư, đã từng sang tận ThiênTrúc tìm thầy học được huyền thuật hơn người. Trong cõi nước Nam này không kẻ nào địch lại được Đại Điên. Nếu chàng chỉ đem sức thư sinh mà đọ với hắn thì khác nào trứng chọi đá. Từ nhớ lại tiếng kêu thảng thốt của cha trên rừng Quí Vũ. Suốt ba đêm Từ mơ thấy ông, cái thây dựng đứng ướt đẫm rầu rĩ. Văng vẳng tiếng nghẹn ngào: "Từ Lộ con! Cha đã lầm. Ta chỉ tu thiện, không biết phòng ác mới ra nông nỗi này. Không những chết không nhắm mắt mà còn làm liên luỵ đến vợ con, đắc tội với tổ tiên. Muốn trả thù cho cha mẹ, con hãy kíp nén lòng. Bao giờ thông thạo Lục thông, huyền thuật vượt Đại Điên, khi đó hãy trở lại…". Nói rồi, cha chàng buông xuôi hai tay, tắt thở. Cái thây rầu rĩ đổ xuống sóng soài trên mặt nước trôi ngược sông Tô.

Sang ngày thứ tư, Từ lầm lũi trở dậy, hứng sương rửa sạch những vệt nước mắt đông cứng trên khuôn mặt hốc hác nhem nhuốc. Từ soi thấy mặt mình trong vũng nước mưa phẳng lặng bé bằng bàn tay. Từ bỗng thấy căm ghét những nét dịu dàng trên khuôn mặt thư sinh dưới đáy nước kia. Từ muốn mình rắn rỏi, sắt đá. Một trái tim quánh đặc máu đen chỉ dành cho việc trả thù.

Lại một gương mặt bất chợt hiện lên dưới đáy nước, sóng sánh bên Từ. Mày là làn khói vương ngang trên khoé thu ba không khóc mà long lanh như rớm lệ. Đôi mắt nhìn chàng chan chứa tình ái lẫn hờn trách và tiếc hận. Toàn thân Từ thốt nóng bỏng nhớ lại những ngón tay lụa là ve vuốt của Nhuệ Anh. Từ nhớ ngôi miếu hoang, nơi chàng cắn răng cố tàn nhẫn xua đuổi Nhuệ Anh, người con gái mà chàng sẵn lòng đổi cả tính mạng để giữ gìn nếu như không có cuộc ân oán này. Dội lên trong ngực một cơn khát. Chàng muốn lập tức chạy về kinh thành để biết được số phận của nàng, được nhìn thấy nàng một lần cuối…Từ vùng dậy vơ nắm cành khô hấp tấp nhóm một đống lửa. Chờ cho những viên than đỏ rực bắt đầu hiện ra, Từ nghiến răng dúi sâu ngón út của bàn tay trái vào giữa đống than. Cái ngón tay thổn thức nhất, cách đây chừng vài khắc vừa ấm lên, run rẩy tưởng chừng những ngón tay mềm mại của Nhuệ Anh vừa chạm vào. Những viên than hồng dính chặt vào da thịt. Cái đau xói lên óc. Từ cất một tiếng thét đau đớn trong họng, ghìm sâu tay trong đống than đỏ. Bốc lên khét lẹt mùi thịt cháy. Khi Từ rút tay ra, ngón tay đã cháy rã thịt, phần xương bên trong bầm dập như một nhánh cây bị tước hết vỏ. Nõi đau đớn do cuộc hành xác mang tới khiến chàng thấy cơn khát trong lòng dịu vơi, dường như trong tim đã chứa đầy máu đen.

Rồi Từ lấy nhựa cây bôi đen mặt mũi, rách rưới như một kẻ hành khất, tay nải lên vai, dò đường tìm đến Thiền viện của Thập Quang Đại sư. Thời cha còn sống, Từ vẫn nghe cha nhắc đến phép thuật cao cường và thiền viện bí ẩn của đại sư nằm cheo leo trong sương trên núi Yên Tử.

Đường lên đỉnh núi lởm chởm đá tai mèo. Hai bên đường là rừng rậm chốc lại rung chuyển bởi tiếng hùm beo gầm gào. Trăn đánh võng trên các cành cây. Rắn phun nọc phè phè lạnh gáy. Đường càng đi càng mất hút dấu chân người. Chỉ còn thấy những vách đá dựng ngược chắn ngang lối. Từ đu mình vào rễ cây mà leo lên. Nhiều lúc thân treo lơ lửng trên vách núi, mười con tay bấu chặt vào đá đến tróc móng, hai cùi tay cố hợp sức ghì chặt lấy một mỏm đá giữ thân mình khỏi rơi xuống vực sâu thẳm đang ngoác miệng chờ trong tiếng kêu hú rợn người của đàn vượn lúc xa lúc gần ma quái… Mây quẩn quanh chân khi mờ khi tỏ như đùa giỡn che khuất đường đi, chỉ lỡ nửa bước là tan xương dưới vực.

Từ không nhớ rõ là đã đi bao ngày, rách nát bao nhiêu đôi giày cỏ. Bàn chân mịn hồng mới đây được ấp ủ trong giày gấm, nay hết tứa máu lại sưng phồng và chằng chịt sẹo. Vậy mà thiền viện của Thập Quang đại sư cứ lúv ẩn lúc hiẹn, có khi tưởng đã trước mặt, hớn hở chạy đến lại chỉ thấy một khóm cây. Có lúc hoàn toàn biến khỏi tầm mắt. Từ càng đi càng hoang mang, luôn thảng thốt rằng mình đã nhầm đường. Mỗi lúc chàng tuyệt vọng, nước mắt lã chã rỏ xuống đôi bàn chân rách nát, những muốn chết đi cho nhẹ nợ, thì thiền viện lại hiện ra như vẫy gọi. Mãi đến khi chàng lần đến được dưới một vách đá chót vót chọc trời, mười ngón chân sưng phồng như quả mận chín, đầu gối trái bị trẹo vì bám hụt vào mớ rễ cây bị đứt, vừa hồi tỉnh sau cơn choáng ngất, ngửa mặt lên thì thấy một ngôi nhà cỏ cheo leo trên vách núi.

Mặt trời đã ngang tầm. Vách đá trước mặt còn cao vời vợi. Từ Lộ neo được một khuỷu rễ thông già dừng lại để thở. Chợt nhìn xuống phía sau thấy một chú đạo sinh trạc mười một mười hai tuổi, áo nâu xốc xếch, tóc trái đào đang gò lưng gùi hai ống bương dài hơn người. Ống bương nước có vẻ rất nặng mà tiểu đạo sinh cứ thế thoăn thoắt nhảy nhót qua tai mỏm đá dựng ngược mà lên, trông như một chú sơn dương đương tung tẩy trên mặt đường bằng phẳng. Nước đầy sóng sánh trên miệng ống mà không một giọt tràn. Đạo sinh líu lô như chim hót:

Tỳ kheo tỳ kheo - nón đeo
Hành cước, hành cước - vượt đèo
Nghiệp từ kiếp trước - thương khéo
Trả lại kiếp này - bóng theo…
Qua mặt Từ Lộ, tiểu đạo sinh không nhìn lại không hỏi han. Đôi chân trần bé nhỏ vẫn thoăn thoắt thoăn thoắt. Chẳng mấy chốc lưng áo nâu với hai ống nước dài đã khuất sau những mỏm đá cao.

Từ Lộ cứ theo hướng tiểu đạo sinh mà leo, bỗng thấy chân mình lẹ làng nhẹ nhõm. Lối đi như rộng ra. Mặt trời quá đỉnh đầu. Càng lên cao sương núi càng âm u khí núi càng lạnh buốt. Leo mãi. Vượt qua một dốc đá trơn chuội có hàng thông trăm tuổi đứng như hàng lính canh đến một bãi đá xanh vân trắng trải dài… Thập Quang thiền viện là đây. Dẫy lều lợp cỏ lau nối nhau phơ phất như tóc bạc. Khoảng hơn hai chục đạo sinh ngồi kiết già hai tay chắp ngực mặt hướng về phía một gốc thông thân trăn mốc thếch, ngọn vươn cao như trọc tới trời xanh. Không biết các đạo sinh này ngồi bất động đã bao lâu. Trên những mái đầu cắt trọc tóc mọc lởm chởm, trên những tấm vai trần bợt bạt vì sương gió bủa vào người bê bết lông chim, phân chim rừng.

Từ Lộ lúng túng chưa biết tính sao thì chú đạọ sinh gùi nước đã quay trở ra bãi đá. Lần này tiểu đạo sinh đến trước mặt, nhìn thẳng vào mắt Từ Lộ, rồi vẫn không nói một lời lại quày quả bước đi. Từ như người chợt tỉnh, vội bước theo tiểu đạo sinh.

Thập Quang đại sư ngồi thiền trên một tảng đá lớn sau gốc thông già. Dái tai rủ chấm vai, mắt lộ môi dầy, cằm vuông trán đứng… Vóc người cao lớn. Thần thái uy nghi… khiến Từ Lộ vừa nhìn thấy đã bủn rủn chân tay, thân thể như không còn xương cốt, quì sụp xuống.

Từ Lộ quì không biết bao lâu. Chàng cố hết sức để không gục xuống. Chân tay tê dại và cái đói khiến cho chàng như mê sảng. Khi chàng ngẩng đầu lên thì trăng đã đứng ngang trời. Khắp bãi đá và cả một vùng rừng núi trời đất mênh mông ngập tràn ánh vàng ngời ngợi trong vắt. Đại sư vẫn ngồi đó. Đôi mắt to tròn xoe như mắt cú rọi thẳng về phía chàng. Cái nhìn như xuyên qua tim.

Từ Lộ lắp bắp. Đại sư đưa năm ngón tay ra hiệu. Giọng Đại sư sang sảng thấu tận vào óc:

- Từ Lộ… Ngươi đã nhọc công đến dây tìm ta. Nhưng thiền viện của ta lập ra không phải để dung dưỡng niềm hận thù Huyền thuật của ta rèn luyện không phải để lấy máu hại người. Vả lại, phép thuật của ta không bằng Đại Điên…

- Thưa đại sư… Con…

- Ta biết nỗi đau đớn oan khiên khôn cùng mà ngươi đã phải gánh chịu. Âu cũng là nghiệp chướng buộc chân con người nơi trần thế. Thế gian này đâu cũng ngun ngún những đống lửa hận thù, hể có gió lẻ là bốc thành núi lửa. Ta cũng nhìn thấy ngùn ngụt lửa hận thù cháy trong mắt ngươi. Mà con đường đến với đức Phật ngắn nhất không phải đi trên những đống xương thù hận.

- Thưa đại sư. Con từng nghe. Nhưng con đã thề trước vong linh cha mẹ và tổ tiên. Thân xác Từ Lộ này kể từ đêm Nguyên tiêu năm nay không còn thuộc về Từ Lộ nữa… Cả đời, song thân con chưa từng làm một điều ác. Tại sao gia đình con lại phải gánh chịu oan nhiệt đến như vậy? Từ Lộ này chỉ sống để rửa hận mà thôi!

- Còn trẻ người non dạ, ngươi chưa hiểu. Có quả ắt có nhân. Âu cũng là nhân quả từ kiếp trước…

- Xin Đại sư xác tội. Vậy nếu con tìm đến đại sư, một mực xin học đạo pháp cao cường để báo oán, ắt cũng không phải do con muốn, mà phải có duyên nghiệp từ kiếp trước. Có bao nhiêu con đường đến với Phật tổ, con chưa có duyên thấu hiểu. Nhưng con thiển nghĩ, nếu khoanh tay trước kẻ ác thì tất vô tình hại người thiện…

Thập Quang đại sư im lặng hồi lâu, rồi buột thở dài:

- … Trong lý lẽ ngông cuồng của kẻ trẻ dại này cũng có đôi chút ánh sáng. Ta không thể dạy huyền thuật cho con. Đại Điên khi xưa đã không quản gian nan cực nhọc sang tìm thầy học đạo tận bên đất Thiên Trúc. Hắn có tài và bền chí. Chỉ tiếc rằng hắn lại dùng tài đó để thoã mãn tham, sân, si… Nay ta chỉ đường cho con sang ThiênTrúc. Con phải bền gan hơn Đại Điên. Nhưng nhập đạo, luyện trí, rèn thân… biết đâu trên con đường hành cước, trong thân phận của một tỳ kheo, con cũng lại ngộ được đôi điều, ngõ hầu làm vơi gánh nghiệp chướng… Trí Thành đâu?

- Dạ!

Chú tiểu đạo sinh vẫn đứng chắp tay hầu bên đài sư nghe gọi tên vội lên tiếng.

- Nhà ngươi đã gặp Từ Lộ, dẫn hắn đến đây. Âu cũng là nợ trần ai. Mà các ngươi cũng còn duyên sau này nữa. Ta cho con xuống núi cùng Từ Lộ đi Thiên Trúc…

- Thưa sư phụ…

- Mọi điều cho chuyến đi, thường nhật ta đã nói. Tuy tuổi con còn nhỏ nhưng bấy lâu luyện rèn cũng đánh được chân hành giả. Từ nay ta dặt pháp hiệu cho con là Minh Không. Ngay sáng mai hãy cùng Từ Lộ xuống núi.

Nói rồi đại sư chắp hai tay trước ngực nhắm mắt. Thân còn tĩnh tại đó nhưng hồn như đã phiêu diêu bồng bềnh tít chốn cao hoang.

Đêm ấy Từ Lộ không ngủ. Chàng cùng Minh Không lo liệu cho chuyến đi. Tại thiền viện đã có sẵn những chiếc bát gỗ cũ kỹ có dây đeo dành cho các tỳ kheo đi khất thực và những cây tích trượng bằng thiếc. Từ Lộ nhạc nhiên thấy Minh Không đem thêm một bộ bát và tích trượng, ngoài bộ đã dành cho hai người. Minh Không đáp lại cái nhìn dò hỏi của Từ Lộ: Dưới chân núi kia, có một kẻ đợi chúng ta vào lúc mặt trời mọc.

Gà gáy canh tư, Minh Không đã hối thúc Từ Lộ. Cái cậu bé để tóc trái đào, trò yêu của Đại sư, nhờ ngót chục năm rèn luyện tại thiền viện, đã thành thạo mọi công việc của một tỳ kheo trên đường hành cước. Cậu bé giục Từ Lộ khoác tay nải lên vai, rồi đi trước dẫn đường, cứ bám rễ cây mà đu, đến khi mặt trời mọc đã thấy một con sông nước đỏ ngầu. Một người trẻ tuổi, vóc dáng tầm thước vạm vỡ, da ngăm đen mắt lòi, đang bồn chồn chờ họ. Đó là Giác Hải, một tay chài lưới trên sông Lô mà Minh Không vẫn thường cùng trò chuyện mỗi khi xuống lấy nước. Giác Hải đã có ba năm lên núi theo học tại thiền viện…

*
**
… Từ Lộ nghiến răng chống sào đẩy bè ngược dòng. Càng lên thượng nguồn nước sông càng chảy xiết. Những mỏm đá ngầm ẩn hiện khắp dòng sông như vô số hàm răng nhọn của lũ thuỷ quái đang rình rập chờ xé tan chiếc bè ra trăm nghìn mảnh. Những thân cây cành cây đổ từ thượng nguồn trôi về lập lờ trên mặt nước như những thây người chết đuối vừa bị hồn quỷ nhập chỉ phăm phăm nhằm thẳng vào bè của chàng mà sầm sập lao tới. Dưới chiếc nón là gồi rộng vành che khuất đôi mắt sáng như đang trong cơn sốt, những giọt mồ hôi đuổi nhau nhảy hối hả chạy vòng qua đuôi mày rậm khiến mắt Từ Lộ cay xè như đang khóc. Những chiếc nón rộng vành đội đầu là đặc điểm để nhận ra các tỳ kheo đang thực hiện các cuộc hành cước trên con đường xa thẳm của họ. Để tìm đường sang ThiênTrúc, Đại sư đã tặng cho mỗi người một cây tích trượng bằng thiếc, có gắn những vòng đồng mà mỗi bước đi lại cất tiếng rung xủng xoảng. Tiếng rung đặc biệt này là để xua đuổi côn trùng biết trước mà tránh xa, không để các tỳ kheo chẳng may giẫm chết thì lại phạm vào sát giới. Tiếng tích trượng cũng còn là để xua đuổi ma quỷ, tà khí dọc đường đi và kêu gọi các thí chủ rộng lòng giúp rập. Theo giới luật Thiền tông, Từ Lộ, Giác Hải, Minh Không đã phải tìm lá gồi kết những chiếc nón dành riêng cho các hành giả. Minh Không nói rằng các hành giả nhất thiết phải đội nón rộng vành. Vành nón rộng không cho người ta phóng mắt lên trời hoặc hoang đãng nhìn ngắm sang hai bên, mắt không tán theo cảnh sắc ben ngoài mà chỉ nhìn sâu vào đáy lòng mình.

Trên sông Gâm, chiếc bè dưới tay sào của Từ Lộ vẫn luồn lách qua những mỏm đá ngầm cây đổ sóng dữ. Từ đã thấm mệt. Mỗi khi rút sào chạy lên đầu bè, chàng phải rướn người tì cả nửa thân lên trên đầu sào để lấy thêm sức đẩy bè đi. Đang đưa ống tay áo lên gạt mồ hôi thì chợt nghe phía sau có tiếng người rổn rảng:

- Bữa nay đường sào của huynh đã thuần nhiều rồi…!

Từ Lộ ngoái nhìn. Giác Hải đã qua giấc lồm cồm chui ra khỏi cum nứa. Mưa nắng như chỉ quét thêm một lớp dầu bóng lên nước da nâu sậm của Giác Hải. Từ thèm thuồng nhìn mỗi bước chân của Giác Hải đặt chắc chắn như đóng cọc xuống mặt bè chòng chành.

Giác Hải vươn vai chui vào còng dây buộc chiếc áo tơi lá, bước đến đỡ con sào trong tay Từ Lộ:

- Thôi, để tôi. Sắp qua thác Cả… Đoạn này dữ lắm. Huynh cứ nhìn những miếu bên bờ sông kia. Mỗi miếu thờ là có mươi mạng người đổ xuống nạp cho thuỷ thần đó..!
Từ chuyển sào cho Giác Hải. Chàng quỳ xuống cởi nón lá hai tay vỗ nước lên mặt. Nước sông ngàu đục nhưng mát rượi nồng vị phù sa và mùi oai oải hăng hắc của thân cây trôi từ thượng nguồn. Đường ngược phương bắc đến ThiênTrúc sơn lam chướng khí vạn dặm hiểm nguy, rắn rết hùm beo, yêu ma quỷ quái. Mới qua ít ngày đường, Từ Lộ đã hiểu ý đại sư ghép ba người cùng vào chuyến đi thật thâm hậu. Minh Không tuổi ít nhưng theo học sư phụ lâu năm, trí khai minh, cân bằng thuận nghịch. Giác Hải đôn hậu tháo vát, sức lực đầy tràn. Hai người đó cộng với chàng, bộ ba mạnh yếu hoà đồng, san sẻ cho nhau mới mong đến được đất ThiênTrúc xa xôi học phép lục thông huyền bí.

Giác Hải thoăn thoắt bước nhanh, nhịp nhàng chống sào đẩy bè băng băng vượt đoạn sông dữ. Dưới tay sào của Giác Hải, chiếc bè như có thêm tai thêm mắt, luồn lách qua những vùng đá đầu sư nhấp nhô, những quầng nước xoáy chóng mặt. Cái dáng lực lưỡng của Giác Hải mỗi nhịp vươn lên, cúi xuống chống sào đẩy thật đẹp. Nắng rực rỡ trên tấm lưng trần như cánh phản in nhẫy bóng mồ hôi. Giác Hải quay nhìn Từ Lộ:

- Gọi Minh Không dậy thôi! Sắp đến bến Đá rồi. Ta ghé vào bờ kiếm thêm chút khoai sắn dự trữ cho đường trường sông nước!

Nhưng không cần gọi, cái bóng bé nhỏ gọn gàng với gương mặt tươi tắn sáng láng của Minh Không đã chui ra khỏi cum nứa. Minh Không đâu có ngủ. Mười hai tuổi, lần đầu tiên được xuống núi đi xa, cái gì đối với chú tiểu đạo sinh cũng lạ. Chú nằm lắng nghe tiếng nước ào ạt vỗ dưới thành bè, nhìn ngắm không chán những bờ đất, cành cây vun vút qua khe nứa bên ngoài. Thỉnh thoảng Minh Không phải nhỏm người vểnh tai dụi mắt. Đó là lúc giữa màu xanh ngút ngàn của núi rừng cây cỏ, chú thoáng nghe có tiếng gà gáy, chó sủa hay nhìn thấy một mái lều lá, một bóng người mờ ảo, lunh linh trên vạt nương sắn nương ngô đất phơi đỏ au bên bờ sông… Minh Không xỏ chân vào đôi giầy cỏ vừa bện chiều hôm trước, nhanh nhảu với lấy cây tích trượng và chiếc nón, bước ra đến đầu bè:

- Bẩy năm trên núi được nghe sư phụ giảng giải mọi nhẽ. Gìơ đi theo nhị huynh mới chỉ quẩn quanh trên mảnh bè này đã thấy thông tai tinh mắt thêm nhiều, nhiều lắm!

Nói rồi cất tiếng cười khanh khách.

Vượt lên khỏi ghềnh đá, dòng sông Gâm trước mặt đột ngột mở ra một vùng bát ngát. Trời cao xanh trong. Những dẫy nương ngô nương sắn mướt xanh rờn rờn sóng nối nhau chạy dọc đôi bờ.

- Huầy à… Huầy!

Giác Hải miệng la to, tay chống sào đảy bè lệch mũi. Con bè như một cánh chim chựng lại rồi từ từ ghếch mũi vào dọc một bên lèn đá trắng ăn lan từ trong nương sắn xanh rờn xuống tận mép nước.

- Bến Đá rồi!

Không đợi Từ Lộ và Minh Không tán đồng, Giác Hải nhảy xuống lội nước oàm oạp cắm sào neo bè.

Minh Không cũng nghếch đầu nghển cổ. Chú tiểu đạo sinh tròn xoe mắt nhìn lên bờ, nơi vừa thấp thoáng bóng người từ những mái nhà lợp cỏ tranh lá gồi, từ các nương rẫy chạy ra hướng về nơi tấm bè vừa neo lại.

Từ ngồi lại trên bè nứa, dửng dưng với cảnh vật trên bờ trước mặt. Chàng chỉ mong cho Giác Hải và Minh Không nhanh chóng đổi được vài thứ cần thiết cho ba anh em rồi bè lại tách bến ngược dòng. Ruột gan Từ cồn cào từng khắc. Ngoài Giác Hải và Minh Không, chàng không muốn nhìn thấy bất kỳ ai. Từ phải sống lẩn lút trên đất kinh thành, nhất là từ ngày rời hội Chen ở Quí Vũ, trong lòng Từ luôn thấp thỏm. Nỗi kinh sợ mỗi ngày một lớn. Chàng kinh sợ con người.

Trên bến Đá dăm bẩy người đang vây quanh Giác Hải, Minh Không. Mùa sóng nước thuyền bè qua lại ít. Nhất là lại có một con bè ngược dòng. Từ Lộ nhìn thấy Giác Hải đang khoát tay chỉ về phía hạ lưu, dáng chừng anh chàng đang kể một câu chuyện gì đó đáp lại những câu hỏi và sự tò mò của mấy người dân sơn dã sống trên đất này, suốt đời ít có ai bước chân ra khỏi mấy mảnh nương rẫy nhỏ hẹp. Từ ngửa mặt lên trời. Tiếng sấm dồn ầm ù trên cao khiến chàng chột dạ. Trận giông rừng có thể kéo đến bất chợt lúc nào cản đường chàng. Từ đứng dậy, đưa cả hai tay lên miệng làm loa thúc gọi giục Giác Hải, Minh Không.

Nhưng một bóng người vừa hối hả tách khỏi đám đông trên bến khiến chàng chú mục, tiếng gọi ngưng giữa chừng. Bóng người nhỏ bé mặc đồ đen, cả chiếc khăn vải trùm đầu cũng màu đen. Bóng người liêu xiêu đi xuống lèn đá trắng hướng thẳng về phía bè nứa của chàng.

*
**
Tiểu thư Nhuệ Anh cũng không còn biết đã bao nhiêu ngày bao nhiêu tháng trôi qua. Bám vào sợi dây lụa xé ra từ áo cưới, nàng thả mình từ khung cửa lầu cao xuống hoa viên nhà Diên Thành hầu mà tưởng chừng buông tay gieo mình xuống vực sâu thăm thẳm. Chỉ đến khi hai bàn chân trần chạm đất lạnh, Nhuệ Anh mới như chợt tỉnh. Nàng khẽ rên lên một tiếng vì sợ hãi và mừng rỡ. Nhuệ Anh cúi xuống nghiến răng giật đứt vto áo lụa hồng vướng vào cành trúc sau vườn. Bốn phía chói loà chỗ tối chỗ sáng. Nhuệ Anh không biết đường nào mà chạy, cứ nhằm phía bóng tối không có ánh sáng đèn mà lao tới. Càng xa ánh đèn càng thấy nhẹ nhõm như con chim sổ lồng. Đến khi biến hẳn vào vùng đêm, bên tai không còn nghe tiếng người, tiếng đàn sáo huyên náo thì Nhuệ Anh mới chậm bước. Hơi thở cuộn thắt ngang ngực. Nàng định thần, nhận ra mình đã chạy ra xa bờ sông Tô. "Cha ơi… mẹ ơi…" Nhuệ Anh ngồi thụp xuống bưng mặt khóc nức nở.

Nhuệ Anh thiếp đi không biết bao lâu cho đến khi ánh nắng ban trưa lốm đốm lọt qua mái lá thủng của gian miếu thổ thần đánh thức nàng dậy. "Sao ta lại ở đây? Sao lại thế này…?". Ý nghĩ đó vừa thoáng lên trong đầu Nhuệ Anh thì một giọng nói nhỏ nhẹ cất lên ngay gần kề khiến nàng giật bắn người: "Tiểu thư cứ nằm nghỉ… Đây là chốn kín đáo có thể yên tâm được". Nhuệ Anh chống tay ngồi nhích vai lui lại sát tường miếu rêu ẩm mục há miệng định kêu, thì vẫn giọng nói đó: "Tiểu thư đừng sợ… Lão đây!". "Trời…!" Nhuệ Anh đưa bàn tay lên bịt miệng mình. Nàng đã nhận ra trước mặt nàng là người lão bộc trung thành của nhà Từ Lộ mà nàng đã ít nhiều quen biết. Ngay tức thì, nỗi uất ức tủi thân lại ập đến. Nhuệ Anh cứ vậy úp mặt vào hai bàn tay sần sùi chai sạn của lão bộc mà khóc.

Đêm qua từ bờ sông Tô, Nhuệ Anh đã như một người mộng du quen chân quen bước đến miếu thổ thần. Nàng gục xuống sau cửa miếu vì quá mệt nhọc. Tảng sáng, lão bộc tìm tới. Đêm qua lão đã nhìn thấy dinh cơ của nhà Diên Thành hầu bốc cháy. Lại nghe tin tiểu thư Nhuệ Anh bỏ đi đâu trước lễ hợp cẩn. Tiểu thư có thể đi đâu được trong chốn kinh thành nhan nhản gia nhân, đầy tớ, tai mắt của nhà Diên Thành hầu quyền thế? Hẳn là tiểu thư không thể về nhà cha mẹ đẻ. Lão bộc nghĩ ngay đến gian miếu hoang nơi mà mấy tuần trăng trước đây Từ Lộ vẫn ẩn náu.

Lão bộc hạ giọng thì thào lo sợ:

- Suốt cả buổi nay người nhà Diên Thành hầu lùng sục khắp nơi để tìm tiểu thư. Chúng lần tìm đến tận nhà tiểu thư. Nhưng thân mẫu của tiểu thư thét mắng. Nghe nói phu nhân kiện nhà Diên Thành hầu đã dựng ra đám cháy để ám hại tiểu thư…

Nghe lão bộc nói, Nhuệ Anh thở nhẹ. Mẹ nàng nước sau vẫn là người đàn bà quyền biến, biết thoát ra khỏi ngõ cụt bằng những lối đi bất ngờ. Nỗi lo cho song thân đã vợi. Điều nang sợ nhất khi trốn khỏi nhà Lý Câu là cha mẹ nàng bị liên luỵ. Nhưng sự việc đã đúng như nàng thầm định.

Tiếng thì thào lo lắng của lão bộc vẫn vẳng vào tai Nhuệ Anh:

- Tiểu thư cũng không thể ở nơi này lâu. Trước sau thì lũ cầy cáo nhà Diên Thành hầu cũng tìm tới…

- Thế còn Từ công tử… chàng ở đâu?

Lão bộc nén nỗi cảm phục. Hoạn nạn là thế mà câu hỏi đầu tiên của tiểu thư vẫn là về tiểu chủ của lão… Điều đó khiến lão càng thêm quý trọng.

- Thưa… Lần cuối cùng lão được gặp tiểu công tử cách đây hai tuần trăng…

Rồi lão bộc kể cho Nhuệ Anh nghe về buổi tối đến trước dinh cơ Tăng đô án nay đã thành kỹ viện của tay chân nhà Diên Thành hầu. Từ Lộ đã buộc lão phải đưa bài vị của song thân đến để chàng mang theo trên đường đi tìm Đại Điên. Lão bộc cũng kể rằng lão đã may mắn thoát chết nhờ đàn ngựa sổng chuồng…

Nhuệ Anh cắn môi suy nghĩ hồi lâu, rồi lê tiếng:

- Lão bộc… Ta và Từ công tử may phúc mới có được người tâm phúc như lão. Gìơ ta có một việc phải cậy nhờ. Đêm nay lão mang đến đây cho ta một bộ quần áo của người nam, sao cho ta vận vừa…

- Thưa… tiểu thư định làm gì với thứ đó?

- Ta đi tìm Từ công tử!

Lão bộc kêu lên:

- Dám thưa tiểu thư… nguy hiểm lắm. Từ công tử không còn ở kinh thành. Bây giờ tiểu thư biết công tử phiêu dạt nơi nào mà tìm. Thân gái dặm trường… Xin tiểu thư suy xét lại…

- Lão nghe đây. Ta đã gắn kết với Từ công tử thì ta nguyện sống là vợ chàng, mà nếu chẳng may chết xuống âm phủ thì ta vẫn là vợ chàng.

Im lặng hồi lâu. Rồi lão bộc chắp tay cúi đầu trước tiểu thư Nhuệ Anh:

- Lão xin làm theo lời tiểu thư. Xin nhận một vái này của kẻ tôi tớ trung thành trước bậc tiết phụ của Từ công tử!

Ngay đêm hôm đó lão bộc mang tới miếu thổ thần hai bộ quần áo con trai, một nâu một đen. Một khăn đầu rìu. Đôi quang thùng và chiếc gáo dừa của người bán dầu. Ngườ lão bộc trung thành còn mang tới một thứ mà một tiểu thư nhà quan như Nhuệ Anh không hề nghĩ đến trước khi dấn thân khuê các vào chốn phàm trần. Lão đặt vào tay Nhuệ Anh chiếc túi nhỏ vải nâu đựng hai nén bạc nguyên và ít bạc vụn.

Với quần áo và đồ nghề của lão bộc mang cho, Nhuệ Anh trở thành anh chàng bán dầu dễ dàng ra khỏi kinh thành. Suốt mấy thàng nàng rong ruổi, cứ nghe nơi nào có hội là đến. Nhuệ Anh đã tới hội Chen ở Quí Vũ vào đúng ngày rã hội. Dân làng đã làm lễ an táng cô con gái tộc trưởng. Cả đám hội náo nức giờ bạt ngàn khăn tang như một rừng lau trắng run rẩy trong gió. Giữa bãi cỏ, dấu vết cây thiền trượng của pháp sư Đại Điên cắm xuống vẫn hoăm hoẳm một lỗ sâu hút như xuống tận âm ti. Dân nàng chuyền tay nâng xác cô gái lên cao nối nhau đi một vòng quanh lỗ gậy. Không một tiếng khóc. Không một lời nguyền rủa kẻ gây ác. Im lặng sởn người. Khi đặt cô gái xuống huyệt mới đào, dân làng đồng thời ném xuống lỗ gậy pháp sư xác một con dơi mặt quỉ. Con dơi mà người yêu cô gái hạ bằng một mũi tên căm hờn. Rồi cụ tộc trưởng cha cô gái cắn răng cắm lên dấu vết oan cừu đó một cành phan. Dấu hiệu báo việc ngày hội mở rừng sang năm của đất Quí Vũ sẽ chuyển đi nơi khác.

Nhuệ Anh biết đến đây là mất dấu vết của Từ Lộ. Nhưng nàng vẫn không nản. Vẫn gánh dầu bán rong, nàng ngược lên miền thượng. Một linh cảm mơ hồ khiến nàng hiểu rằng Từ Lộ sẽ đi qua những con đường này. Và mỗi bước, nàng như đang cảm thấy như mình đang đặt chân lên dấu chân của chàng vừa đi qua. Khi đến bến Đá sông Gâm, cảm giác đó càng cồn cào. Nhuệ Anh rửa gáo úp hai thùng gỗ đựng dầu lên cọc rào. Nàng neo lại, chờ một điều gì đó còn đang mơ hồ nhưng bằng vào trái tim tội nghiệp đang thổn thức trong ngực, nàng biết chắc rằng nó đang tới…

*
**
Con bè tuột dây neo từ từ tách bến Đá trôi xuôi. Chỉ còn lại Từ Lộ, Nhuệ Anh. Đứng trên lèn đá nhìn thấy bè rời bến, Minh Không thốt lên một tiếng "ơ" rồi te tái chạy xuống nhẩy theo bè. Nhưng Giác Hải đã nắm áo giữ lại. Giác Hải đưa bàn tay thô nhám xoa xoa cái đầu trọc của mình rồi lại xoa xoa đầu trọc của Minh Không: "Đệ hãy nhìn xem. Trong ba ta chỉ có Từ Lộ tóc hãy còn xanh nguyên. Từ ca nào đã thế phát. Cứ để Từ ca trang trải nợ trần gian. Biết đâu chẳng vì vậy mà Từ ca lại chóng ngộ đạo thoát tục hơn hai ta đó!".

Nhuệ Anh như một con gà ướt nhẹp nằm gọn trong tay Từ Lộ. Cơn giông núi đã dịu. Nhưng mưa vẫn đổ. Nhuệ Anh không hề thấy cái rét buốt của những giọt mưa đã làm da thịt nàng tê cóng thâm tái khi đứng đợi trên bến ban nãy. Mà ngược lại, những giọt mưa dội xuống thân thể nàng lúc này lại dịu dàng êm ái, mỗi giọt mưa chạm xuống như mang theo một hơi thở nồng nàn sưởi ấm cơ thể nàng. Những ngón tay Nhuệ Anh níu chặt bên vai Từ. Nàng run rẩy áp cặp môi trinh nữ lên vùng ngực trần nóng hổi trong mưa của chàng. Cái mùi đàn ông lạ lẫm, đắng ngắt, ngầy ngậy, bạo liệt như đá rừng toá hơi nóng dưới ánh mặt trời pha lẫn hơi mưa tươi tắn và tinh khiết khiến nàng ngây ngất chợt như lả đi chợt lại như lạc vào cõi phiêu bồng. "Từ Lộ…Em là vợ chàng…!". Thân thể của Nhuệ Anh quằn quại trong những tiếng lắp bắp đứt đoạn tắc nghẹn, theo những giọt máu ứa ra từ trong tim. Những ngón tay tiểu thư thuôn dài mỗi lúc càng như những mũi kìm thép nhọn bấm sâu vào da thịt người nàng yêu. Cùng với tiếng sấm cuối cùng của cơn giông núi vỡ ra trên vòm trời, nỗi đau da thịt thẳm sâu cũng xé lên trong Nhuệ Anh khiến nàng phải bật ra một tiếng thét. Thân thể nàng lỏng ra. Một cảm giác nghẹn ngào lan toả cùng với nỗi lòng chan chứa biết ơn người mang lại cho nàng niềm khoái lạc miên man và nỗi đớn đau trần thế kỳ diệu.

Chiếc bè dào dạt trôi xuôi. Vòm trời đã trở lại trong xanh cao vút. Sông nước mơn man hai bên thành bè làm bắn lên những bụi mưa li ti mát rượi phủ lên đôi thân thể một màng tơ trong suốt. Gặp quãng bờ bãi phù sa màu mỡ, những hàng cây dâu da, cây vả lúc lỉu quả chín đỏ la đà sát mặt sông rụng xuống lưng Từ Lộ và ngực Nhuệ Anh những chùm quả đỏ ứa mật. Bầy khỉ tíu tít đuổi nhau trên cành. Hươu nai tác tộ gọi đàn. Những chú chim rừng mải mê ríu rít với chùm quả chín rỉa ra những hạt mẩy thơm tho rơi xuống đầu tóc da thịt hai người…

Tới một khúc sông đột ngột rộng ra, chiếc bè dừng lại, đu đưa như ru trong một vũng nước nặng. Từ Lộ xoay mình nằm ngửa mặt nhìn trời. Nhuệ Anh ngủ mê mệt, gối đầu trĩu nặng một bên vai chàng. Miền da thịt mềm mại của nàng gắn vào da thịt chàng. Hơi thở dịu dàng man mác hương hoa của nàng phả nhẹ từng đợt ngọt ngào đằm thắm bên cổ luồn sâu bên gáy chàng. Nắng gió dã làm khô mái tóc dài. Những sợi tóc rợn sóng hứng lấy dòng ánh sáng thả xuống từ trời như sương núi, như tơ trời vuốt ve buồn buồn trên cổ trên vai và vồng ngực chàng. Từ Lộ thấy trong người thênh thang nhẹ nhõm lạ thường. Hình như cùng với niềm sướng vui thuỷ triều dồn dập trút vào thân thể hoà vào da thịt nàng, bao nhiêu căm uất hận thù chứa chất trong lồng ngực, bóp nghẹt trái tim chàng từng ấy ngày đêm cũng theo đó mà tan ra mà mất dạng. Giờ đây nằm sát bên nàng Từ Lộ thấy đất trời vừa như nhỏ lại, vừa như rộng thêm ra. Cái vũ trụ đen đặc căm uất hận thù vẫn ngày đem vò xé trong tim chàng đó bỗng trở nên xa xôi mờ ảo, tưởng chừng như chỉ là chuyện trong một giấc mơ kinh hoàng của cuộc đời bể dâu nào khác.

Một bông hoa gạo đỏ bầm từ trên cao rơi bịch xuống sát bên vai trần khiến Từ Lộ giật mình. Chàng mở mắt nhìn lên. Chàng nhận ra trên đầu mình là rặng cây gạo lực lưỡng nối dài những bông hoa đỏ bầm như những bụm máu. Quãng sông hoa gạo mà chàng và Giác Hải, Minh Không đã vất vả trần lưng oằn vai thay nhau chống sào đẩy bè ngược dòng qua vào buổi chiều hôm trước. Từ Lộ vùng dậy nhìn quanh. Cánh tay trần của Nhuệ Anh vẫn quàng qua ngực chàng. Từ Lộ lay lay.

Nàng chỉ u ơ khẽ trong miệng rồi lại xoay nghiêng người nhắm mắt, miệng hé một nụ cười thơ dại. Nhưng trong lòng Từ Lộ đã cháy rần rật một ngọn lửa khác. Cái ngọn lửa đã giằng chàng khỏi kinh thành và hun đốt chàng chạy tới sông Gâm. Từ cuống lên, chồm hẳn dậy, bế bổng Nhuệ Anh, nhẩy khỏi bè. Từ đặt nàng trên bờ, đắp lên người nàng mớ quần áo còn ướt sũng rồi quay lưng, vồ lấy cây sào vẫn gài bên thành bè nứa gần suốt ngày qua. Và bầm máu đen tưởng đã mất dạng lại tràn về đầy nghẹt lồng ngực, đầy nghẹt trái tim Từ Lộ.

Nhuệ Anh chống tay ngồi dậy. Nàng chớp mắt, ngơ ngác không hiểu chuyện gì xảy ra. Chợt nhìn lại thân mình, nàng hốt hoảng với lấy mớ quần áo choàng lên người. Thấy Từ Lộ đang cuống cuồng lao sào đẩy bè quay ngược dòng. Nhuệ Anh vội chạy tới:

- Từ Lộ… Chàng… đi đâu?

- Ta phải trở lại… Phải ngược dòng thôi. Nhuệ Anh…!

- Chàng đưa em đi cùng…!

- Không được!

- Em xin chàng…

- Không!

Nhuệ Anh giữ chặt lấy con sào trên tay Từ Lộ:

- … Bao nhiêu ngày em đi tìm chàng…

- Ta hiểu…Ta hiểu… Nhuệ Anh… Nhưng ta phải đi. Ta không thể mang nàng đi cùng… Xin đắc tội với nàng.

- Không. Không… Em phải đi cùng chàng. Em phải đi…!

Nhuệ Anh quì sụp xuống ôm chặt hai chân Từ Lộ.

Con bè không tay chống bập bềnh quay ngang trên dòng sông.

Từ Lộ nghiến răng gỡ tay Nhuệ Anh. Chàng đạp mạnh chân, lùi người để rộng tay sào.

- Em van chàng… Hãy để em đi cùng… Chàng định bỏ mặc em mà đi ư?

- Đường của một tỳ kheo không có mặt nữ nhi. Con đường báo thù của ta không thể vướng nàng.

Từ Lộ thô bạo giằng mạnh sào.

Nhuệ Anh níu chân Từ Lộ. Tóc xoã tung. Gương mặt ngước lên đầm đìa nước mắt.

Con bè chùng chằng giữa những làn đá chen nhau dăng dăng ngang mặt sông. Từ Lộ bậm môi. Dưới kia là thác Mơ hiểm ác. Con thác đã khiến ngày qua chàng và hai bạn đã phải tháo bè nối nhau khiêng từng bó nứa sũng nước lên đoạn sông phía trên này để ghép thành con bè mới.

- Nhuệ Anh… Ta đã nói cùng nàng… Xin coi không còn ta ở trên đời này. Nàng hãy trở về!

Giọng nói cứng đanh của Từ Lộ, và nhất là mấy tiếng "nàng hãy trở về…" khiến Nhuệ Anh sững người, tay buông rời khỏi Từ Lộ. Đôi mày nàng dựng lên:

- Chàng nói sao? Chàng nói em hãy trở về?

- Ta đã nói. Không còn Từ Lộ trên đời này nữa…!

- Trời!…

Tiếng rền rĩ của Nhuệ Anh tắt lịm. Đột nhiên đôi mắt mềm yếu dịu dàng như mắt nai của người con gái vụt sáng rực. Nhuệ Anh vươn cao người. Chiếc áo vải đen nàng vừa kịp khoác lên đã rơi ruột ra để lộ đôi vai trắng ngần và đôi vú ngời ngợi như hai vầng trăng.

- Từ Lộ… vĩnh… biệt…!

Chưa dứt lời, Nhuệ Anh đạp chân nhoài người lao ra phía dòng sông chảy xiết.

- Nhuệ Anh…!

Từ Lộ buông rơi sào. Chàng vừa kịp kêu lên thế thì mắt mũi tối sầm. Con bè không người chèo chống đã xô vào vách đá ngầm của thác Mơ tan thành từng mảnh, quăng Từ Lộ lên một gờ đá nổi, rồi nước lại ào lên cuốn dìm chàng xuống tận đáy sông.

Khắc sau, trên bờ sông Gâm cạnh thác Mơ hung dữ chỉ còn Từ Lộ. Mảnh vải nâu ướt sũng đóng làm khố che thân, Từ quì rạp người vái theo dòng sông:

- Nhuệ Anh ơi… Ta có tội với nàng. Nhưng nợ báo oán đè nặng hai vai này. Ngày nào trả nợ xong, thề với nàng, ta sẽ quay lại nơi đây theo nàng. Xin hãy đợi ta… Nhuệ Anh…!

Từ Lộ rạp mình vái ba vái nữa rồi mình trần khố vải vác sào dài chạy ngược dòng sông Gâm lên bến Đá phía thượng nguồn. Nơi đó Giác Hải, Minh Không đang nóng lòng sốt ruột chờ đợi chàng.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-06 19:37:51huytran>
RU CÁ BƠN

Trơn
Lạnh
Những chiếc vẩy biết khóc

À ơi…
Lời ru cá bơn
mồ côi
Lời ru cá bơn

À ơi…
Ai chôn chữ trinh ba vạn
À ơi…
Ai chém chữ trinh chín ngàn

Ru nào
Mỹ nhân đoạ xoáy nước
Ngơ ngẩn đường tu

Ru nào
Cá bơn
Phơi thân rạp cỏ

[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 9

LÃNH CUNG
 
Ngạn La nằm co ro trên nền đá lạnh. Ngón út của bàn chân phải đang rỉ máu nham nhở vết chuột cắn.

Thoát khỏi biển lửa thiêu cung nữ cháy rần rật trên đảo Âm Hồn. Thoát khỏi lưỡi búa của đao phủ nhờ ân sủng bất ngờ của đức vua, nàng lập tức bị tống giam vào lãnh cung. Một dãy hun hút những biệt phòng xây bằng đá nền đen gân trắng, cửa ra vào bằng lim khối, ngay giữa mùa hè cũng phả ra hơi ẩm ướt lạnh lẽo rợn người. Cái âm u lạnh ngắt nơi giam cầm những cung nữ chẳng may xấu số làm phật ý vua và hoàng hậu này khiến những kẻ xấu số tuyệt vọng ngay từ lúc mới đặt chân vào. Cửu trùng ngay gần đó mà thăm thẳm xa. Đêm qua đang ân ái nồng thắm bên đức kim thượng, sáng mai, vì bất cứ điều gì khiến ngài phật ý, cũng có thể bị nhốt vào lãnh cung. Chưa kể bao nhiêu mưu mô, cạm bẫy rình sẵn. Những kẻ ngây thơ đang được bao bọc trong gấm lụa hôm nay mà trong lòng không khỏi nơm nớp lo một ngày nào đó sẽ bị tống vào một trong những biệt phòng. Những biệt phòng xây bằng đá cao tám thước dày hai thước, chỉ có một cửa sổ duy nhất nhỏ bằng bàn tay để mỗi khi đêm hết mặt trời lên thì ánh bình minh lại lạnh lùng chui vào trong vài khắc đủ để người xấu số bên trong thêm một lần bị nỗi đau cào xé. Rồi cái ánh mặt trời đó vội vã ra đi biền biệt cho đến tận sáng ngày hôm sau. Và trong những ngày u ám không ánh mặt trời, kẻ bị giam cầm trong lãnh cung thấy mình bị chôn sống vĩnh viễn trong bóng tối đen đặc.

Ngạn La tưởng đã nằm dưới mộ. Và từ dưới nấm mồ này, hồn phách nàng nhớ lại cái ngày định mệnh, khi tiên hoàng Nhân Tông bắt gặp nàng trên đường.

*
**
Đang là một con mèo nhỏ uyển chuyển thả sức nhẩy nhót thăm thú những hoa cỏ ngọt ngào nở dưới ánh mặt trời hào phóng rọi chiếu trên đồng nội, cái ngày định mệnh oan nghiệt của nàng ập đến khi tiên hoàng bất chợt tuần du ngang qua. Đang là một cô bé suốt ngày đeo chiếc giỏ cua bên hông, bỗng người ta nhấc bổng nàng lên kiệu vào đưa thẳng về cung.

Kiệu vừa đặt xuống, mặc nàng khóc giẫy, cào cấu đòi về với mẹ, bốn thị nữ đã xúm lại lột hết bộ đồ nâu còn vương mùi bùn đất, dìm nàng trong một bồn nước thơm, kỳ cọ khắp thân thể đến mức da thịt nàng đỏ ửng. Sau đó, họ đưa nàng sang bồn tắm đẹp hơn, sóng sánh thứ nước ấm ấm này, da thịt Ngạn La dịu lại. Những vết đỏ ửng do kỳ cọ dần biến mất. Khi các thị nữ đặt Ngạn La lên chiếc giường trải vải gai trắng, Ngạn La đã lim dim ngủ. Một thị nữ đem ra ba chiếc bình lớn, trong mỗi mình đựng một thứ cao đặc sánh, toả mùi thơm hắc. Thị nữ lấy một chiếc chổi nhỏ làm bằng lông mịn nhúng lần lượt vào các bình. Thứ cao màu hồng phủ lên mặt nàng. Thứ cao màu vàng đựng trong cái bình lớn nhất, thị nữ phủ một lớp thật đều lên toàn thân nàng. Đến khi chấm thứ cao màu đỏ lên đầu vú Ngạn La, thị nữ dừng tay. Trên bầu vú nhỏ nhô cao, rắn chắc như ngà voi của Ngạn La, phía vú bên trái mờ mờ một chiếc bớt trông như một con thạch sùngn nhỏ xíu màu tím bốn chân như đặt hờ lấy bầu vú mịn màng, riêng cái đầu hơi chìm xuống, hướng về phía chiếc nốt ruồi đỏ ở giữa ngực cô gái… Ngập ngừng một giây, thị nữ định lướt đầu chổi để phủ cao lên hình bớt. Nhưng Ngạn La hét lên một tiếng thật dữ tợn. Cô bé đưa tay lên giữ chặt hình cái bớt trên đầu vú. Đôi mắt như chợt bạc đi vì tức giận, vì sợ hãi. Thị nữ ngạc nhiên, nhưng không dám hỏi.

Nhẹ nhàng xoa vuốt lên người nàng một lượt rồi thị nữ để cho Ngạn La nằm ngủ trên giường độ một canh giờ, trong khi đặt lên đôi mi khép chặt của nàng hai chiếc khăn lụa nhỏ gập làm tám, giữa một lớp khăn lại có một lớp cao mát lạnh. Ngạn La tỉnh dậy, đôi mắt sưng đỏ vì khóc của nàng đã trở thành trong veo. Thị nữ lại dìu nàng xuống chiếc bồn tắm nhỏ màu ngọc đỏ đang bốc hơi nghi ngút từ một thứ nước tắm sánh như dầu. Vừa ngâm mình vào nước tắm, lớp cao trên thân thể nàng tan ra, để lộ làn da mượt óng. Đến đây, hai thị nữ đưa tay cho nàng vịn để bước sang chiếc hồ tắm cuối cùng được làm bằng đá xanh gợn vân huyền.

Tắm cho Ngạn La, các thị nữa đưa mắt nhìn nhau vừa tò mò vừa ái ngại. Ngạn La dần nín khóc. Những đồ đạc lộng lẫy được trần thiết trong phòng tắm rộng lớn dành cho các phi tần khiến nàng thấy hết sức lạ lẫm. Chúng hút chặt mắt nàng. Rồi nàng đặt tay lên bờ chiếc hồ tắm bằng đá xanh gợn vân huyền, bước theo những bậc đá thoai thoải từ đáy hồ dẫn lên bờ. Hơi nước nóng phả ra từ mặt hồ khiến cho gian phòng mờ ảo như trong sương.

Hai thị nữ dắt tay Ngạn La tới trước gương tròn lớn bằng đồng sáng choang đặt ở cuối gian phòng. Nàng sững sờ nhìn thấy toàn thân mình trần truồng trong gương. Đôi mắt mèo màu xám nâu mở to ra hoảng hốt dưới đôi mày mềm mại lượn cong vút lên như hai cánh én. Đôi môi mọng màu hoàng thổ sẫm kinh ngạc mở rộng hé lộ hàm răng đen láy. Mớ tóc dài nuôi nấng qua mười hai năm tràn xuống nửa lưng ôm lấy bờ vai mảnh mai chảy xuôi màu nâu mịn như lụa. Đôi vú mới nhú như nửa vầng trăng với hai đầu vú nhỏ ương ngạnh và kiêu hãnh. Xa xôi dưới kia cũng mượt mà và chảy tràn như lụa là cặp đùi và đôi chân thon dài với năm ngón chân nhỏ như xoè ra, móng chân màu vàng vì những ngày bám đất trơn trên những con đường lầy lội quanh nhà.

Nhìn thấy những ngón chân của mình, Ngạn La bỗng xót thương cho chúng và oà khóc vì nhớ mẹ. Người mẹ nghèo vẫn dùng cây chổi để đuổi vụt vào lưng nàng mỗi khi nàng bầy trò nghịch ngợm và biếng nhác. Vậy mà bà vẫn thưỡng bấm bụng nhịn ăn để mỗi bữa Ngạn La có được một bát cơm đầy, còn bà thì lặng lẽ vét ít cơm cháy ở đáy niêu ăn với cà muối và những củ khoai luộc. Để giữ đẹp cho làn da của con, mỗi ngày bà tha thẩn khắp các bờ ruộng nhặt rau má về giã trong cối đá, hoà chút mật mía cho con uống. Những đêm nàng bị cảm sốt, bà thức chong chong đầu chõng, không dám ngủ, đốt đèn đi tìm lá nhọ nồi về vắt cho con uống, nước mắt giàn giụa làm mờ đôi mắt mê hoặc mà sự khổ cực đã làm phai nhoà… Vậy mà giờ đây, nàng đã phải bỏ lại người mẹ già đơn độc trong cái xóm hiu hắt, ngỡ ngàng trước gương trong chốn lầu vàng điện ngọc, vừa thích thú ngắm nghía những đồ vật choàng lộn, vừa sợ hãi không biết rồi mình sẽ ra sao.

Bốn thị nữ quấn một chiếc khăn lụa xốp màu đỏ quanh người để thấm khô những hạt nước li ti đang chảy dài trên thân thể Ngạn La. Rồi họ xức khắp người nàng một thứ dầu thơm mùi hoàng lan, chuốt thêm một lần nữa cái làn da vốn đã óng mượt. Rồi kẻ thì mặc cho nàng một chiếc áo màu hoàng yến, kẻ đeo cho nàng một chuỗi hạt châu quí giá, một đôi xuyến và ba cặp nhẫn vàng cũng đều cẩn hạt châu. Một thị nữ lớn tuổi bê vào một tráp chạm rồng, trong đựng phấn son và tóc giả. Bà xuýt xoa quấn cao mớ tóc của nàng lên đỉnh đầu và giữ chặt chúng bằng một chiếc trâm vàng rồi cài thêm những lọn tóc giả.

Nhìn trong gương, Ngạn La mỗi lúc càng không nhận ra mình. Nàng nghĩ trước mặt mình là một con tò he hình công chúa bằng bột nặn, mà thỉnh thoảng nàng vẫn nhìn thấy trong những dịp làng mở hội, có những cụ già khéo tay ngồi sau một mẹt phấn xanh đỏ làm mê mệt lũ trẻ con như nàng.

Thị nữ dùng thứ vải gai mịn thấm phấn màu hồng đào trong chiếc hộp ngọc thoa nhẹ lên má Ngạn La. Dùng thỏi son thơm như kẹo miết lên đôi môi vùng vằng của nàng. Xong đâu đấy, bà dùng chì than tô lông mày và viền mắt. Đứng lùi ra năm bước, thị nữ lặng ngắm, không kìm được lời thốt ra từ đôi môi đã bắt đầu khô héo: "Tuyệt thế!".

Thị nữ ngắm mãi, lưu luyến không nỡ rời.
Rồi một chiếc võng lụa bốn người khiêng ghé tới. Dẫn đường là một người đàn ông mặc áo thụng chàm, mặt tái, tay trái cầm đèn lồng đỏ, tay phải cầm dùi gõ vào một chiếc trống nhỏ đeo lủng lẳng bên hông. Hai thị nữ đỡ nàng lên võng, buông bức rèm che xuống trước khi phu võng cất bước.

Tum… Tum… Tu… um…! Người dẫn kiệu giơ cao đèn lồng, cứ mươi bước lại gõ lên ba tiếng trống dạo.

Ghé mắt qua rèm võng, Ngạn La nhìn thấy san sát những dinh thự lầu son gác tía, những căn phòng có cửa sơn đỏ toả ra những làn hương ngào ngạt xa hoa. Những người qua lại đều ăn mặc đẹp đẽ, khi nghe tiếng trống đều vội vã nhường đường, cúi mặt vái lạy. Ngạn La ngạc nhiên và thích thú. Nàng quên cả sợ, reo lên như trẻ con. "… Tân cung nhân này trông thật khác thường. Như phù thuỷ… Đưa mắt nhìn ai thì lấy hết hồn vía của người ta. Chẳng trách được hoàng thượng phải nhặt cô ta giữa đám bùn đất…". Ngạn La lại sực nhớ, cau mày thắc mắc cố hiểu những điều mà mấy thị nữ nói nhỏ với nhau về nàng trong lúc trang điểm.

Võng đi được vài trăm bước, bỗng có một vị mặt trắng áo thụng xanh lướt thướt chạy tới ghé vào tai người dẫn võng thì thầm điều gì đó có vẻ rất nghiêm trọng. Võng quay phắt lại.

Đèn lồng tắt. Tiếng trống cũng lặng ngắt. Ngạn La được đưa về một trong những căn phòng có cửa sơn son.

Không biết đã bao lần, Ngạn La thầm ước gái như mình chết ngay lúc mẹ mới sinh ra. Như thế, không phải trải qua cảm giác đau đớn, kinh hoàng nơi giàn thiêu cung nữ và khi lưỡi gươm đao phủ kề cổ. Nàng tự hỏi, trong đám hàng ngàn người dân lam lũ đứng dưới kia chứng kiến giàn thiêu cung nữ liệu có người mẹ tội nghiệp của nàng không? Nếu có, mẹ nàng có sống nổi? Núm ruột của bà đang bị kẻ khác đưa lưỡi dao cứa nát.

Từ bé, Ngạn La không biết mặt cha. Người ta đồn rằng một hôm trời giông bão, dân làng thấy một người đàn bà đẹp trạc mười tám tuổi mặt tái mét, váy áo lụa, bế một đứa bé gái mới hai tháng tuổi quấn trong tã gấm, lưu lạc đến đầu làng ngồi lả đi dưới mái đình. Đứa trẻ khóc không dứt mà người mẹ vẫn bất tỉnh. Dân làng thương tình, đem về cứu chữa. Bé gái được mang đi bú chực khắp làng. Cảm cái ơn của người làng, hai mẹ con ở lại. Người mẹ cắn răng tập đi nhổ mạ thuê, tập cầm cuốc cầm cào, tập mò cua bắt ốc sống qua ngày. Đôi bàn tay thon mềm của bà ban đầu tứa máu, sau cùng đóng thành chai nứt nẻ. Bà không bao giờ kêu ca, không khi nào nói nửa lời về hoàn cảnh của mình. Đôi mắt lúc nào cũng nhìn xuống, buồn thăm thẳm. Chỉ nghe người ta đồn rằng bà vốn con nhà quyền quý, hoặc do sa cơ hoặc trót dại lỡ lầm mà phải lưu lạc đến nơi này. Trong vòng tay bà, cô bé Ngạn La cứ thế lớn lên, như cây cỏ uống đủ ánh trời. Đẹp hoang dại, lạ lẫm như không có thật. Không bao giờ tủi thân khi nghe lời đồn đại về gốc gác của mình.

Đêm ấy, Thái giám đang dẫn võng trên đường đưa nàng đến hầu hạ hoàng đế Nhân Tông. Vị hoàng đế sáu mươi ba tuổi đang nóng lòng chờ đến phút giây tận hưởng phong vị lạ của viên ngọc ông vừa nhặt được trong đám bùn đất dọc đường thì bỗng lâm trọng bệnh. Cuộc hoan lạc được chuẩn bị kỹ càng vậy là tiêu tan. Võng lại đưa nàng về căn phòng nhỏ trong một dãy không biết bao nhiêu phòng như thế được làm sẵn từ đời tiên vương. Đó là chỗ cư ngụ của các cung nhân…

Từ đó đến nay, Ngạn La chỉ được nhìn hoàng đế một lần, khi ngài sắp băng hà. Nàng hoảng sợ thét lên: "Ma!". Cũng may nhờ lúc đó triều nội bận với trăm công việc nghìn mưu toan mà nàng tránh khỏi bị xử trảm vì tội bất kính. Nhưng tiếp sau đó là con đường dẫn đến giàn thiêu. Và bây giờ là lãnh cung.
Trí óc non nớt của Ngạn La vẫn không thể hiểu là mình đã làm gì nên tội mà bị trừng phạt như vậy. Nàng khóc lóc vật vã kêu cứu. Nhưng bốn bức tường lãnh cung đã hoàn toàn tách biệt nàng với thế giới bên ngoài. Ngày một lần, có một nữ cai ngục mặt lầm lì như một cánh cửa đá lẳng lặng mang đồ ăn đến đặt vào ô cửa bằng hai bàn tay. Còn lại một mình nàng suốt ngày đêm phải chống chọi với bóng tối và lũ chuột. Từ thuở nhỏ Ngạn La đã yêu thích và thường đùa nghịch với chuột. Nàng thường phá lên cười khi những con vật bé nhỏ xinh xắn có bộ lông màu tro bếp âm ấm chui rúc vào nhau như tìm một chỗ trú ấn trên bàn tay nàng… Nhưng đó là những chú chuột đồng mới sinh trong mỗi mùa lúa chín. Còn chuột lãnh cung con nào con nấy béo nẫn, to bằng bắp chân, bằng cột nhà. Những con chuột đen trũi, lông gáy dựng lên như bờm và dài cứng như lông lợn đực. Những con chuột ngày đêm vây quanh nàng với những cặp mắt tròn xoe thô lố, rực như than. Những cái mõm há hoắc để lộ mẩu lưỡi đỏ lòm ngo ngoe giữa những chiếc răng thưa trắng nhởn nhọn hoắt. Những tiếng rít dai dẳng kéo dài xiết vào óc nàng…

Ngày đầu tiên nhìn thấy lũ chuột, Ngạn La kinh hoàng hét lên, tay nắm chặt viên đá vừa nhặt được. Lăm lăm viên đá, Ngạn La cố trấn tĩnh, tiến về phía trước, nhìn trừng trừng vào mắt chúng. Nàng tiến một bước thì lũ chuột lùi một bước, móng chân khua ràn rạt trên đá. Nàng lùi một bước thì lũ chuột ràn rạt tiến lên một bước. Cuối cùng, Ngạn La bất lực, thở hổn hển lùi tựa sát vào tường đá, không dám rời mắt khỏi lũ chuột. Chúng dừng lại, trừng trừng những cục than đỏ hướng về phía nàng rình rập. Mệt mỏi, căng thẳng, sợ hãi, Ngạn La hầu như không dám chợp mắt. Nghe nói lũ chuột khủng khiếp này đã nhiều lần cắn cụt tai cụt mũi các cung nữ bị giam trong lãnh cung. Năm thứ mười ba đời tiên hoàng, có một thứ phi phạm tội làm rớt nước yến vào vạt áo của tiên hoàng trong khi hầu ngài dùng bữa phụ vào giờ thân, Hoàng hậu nổi giận, lập tức tống giam ở lãnh cung này. Thứ phi đau đớn khóc đến chảy cả máu mắt mà không mảy may động lòng một ai trong hoàng cung. Sau ba ngày, quản giám bẩm rằng cơm nước đưa tới ô cửa mà không ai đụng tới. Việc được báo lên Tổng quản thái giám, trình lên Hoàng hậu. Hoàng hậu cho lệnh mở lãnh cung. Chỉ thấy chiếc sọ của thứ phi trợt trạt những vết răng chuột cùng những lóng xương bị gặm hết thịt da vương vãi trên sàn đá lạnh. Một đàn chuột đói đang dụi mõm chùn chụt những vết máu trên mặt đá…

Lúc này không rõ ngày hay đêm. Những con chuột khổng lồ dường như buồn ngủ nên đã trở về hang hốc bí mật của chúng ở khắp đâu đó trong lành cung. Ngạn La buông lỏng tay, lả đầu, thiu thiu nhắm mắt.

Chợt nàng thấy toàn thân tràn ngập một cảm giác khoan khoái. Chung quanh bỗng sánh loà. Ánh đèn hay mặt trời? Nàng không phân biệt nổi. Cái ánh sáng lành lạnh này khiến cho nàng như bừng tỉnh, vươn rộng hai cánh tay, mở mắt. Nghe tiếng thì thào đâu đó. Cái tiếng thì thào như một mạch ngầm, như một con rắn trơn chuội run rẩy trườn dưới mạch đá ngay dưới chân, mỗi lúc một rõ dần.

Rồi nền nhà bỗng toác ra thành miệng một hầm mộ.

Ở dưới đáy hầm mộ là đàn chuột đã hăm he cắn nát tay mặt mũi nàng vừa nãy. Những con chuột giờ đây đang nằm ngủ im thít cạnh ngỗn ngang những bộ xương vừa bị gặm hết thịt da. Khi những tiếng thì thào vừa dứt, những bộ xương cẳng tay cẳng chân, đầu lâu từ từ dựng dậy nối nhau chuyển động xếp lại theo trật tự răm rắp, thành hình người. Từ miệng của những con chuột đang ngủ, một dòng da thịt chảy ra, đắp vào những bộ xương đó. Có bẩy mươi bẩy bộ xương.

Và những bộ xương khô vừa được đắp da thịt đã trở thành những người đàn bà con gái đẹp lộng lẫy. Họ ríu rít kéo nhau lướt tới mớ quần áo xếp thành đống ở góc hầm mộ, đang sực lên mùi ẩm mốc. Họ trao đổi, giành giật từng thứ rồi nhanh chóng bận xiêm y và cũng trâm cài ngọc giắt, lần bước ra khỏi hầm mộ đi về phía Ngạn La. Cửa hầm mộ khép lại.

Ngạn La cứng đờ người. Nàng rú lên muốn bỏ chạy mà không sao nhấc nổi đôi chân như hoá đá dính chặt với sàn lãnh cung. Ngạn La tuyệt vọng, bấm chặt tay vào thành tường đá. Máu chảy ròng ròng trên những đầu ngón tay nàng trầy xước. Đang sắp ngất đi vì sợ hãi, một giọng nói dịu dàng bỗng cất lên ngay bên tai nàng:

- Đừng sợ…! Tân cung nữ… Đừng sợ. Ta là Hoàng thái hậu họ Dương. Ta đâu muốn hại nàng…

Ngạn La ngước lên.
Rất gần, một gương mặt trắng bệch chỉ có đôi môi đỏ chót và một sợi dây lụa trắng vấy máu lòng thòng từ cổ xuống trước ngực. Nhưng gương mặt đó xiết bao phúc hậu qua đôi mắt nhân từ ai oán từ bên trên đang rọi xuống mặt nàng.

Ngạn La nhìn sang bên. Bẩy mươi sáu thị nữ kia đã đứng xếp thành hai hàng từ lúc nào, mặt cũng đều trắng bệch như sáp. Cũng vẫn cái nhìn ai oán hướng về phía nàng. Không có vẻ gì là dữ dằn, đe doạ.

Bóng ma tự xưng là Hoàng thái hậu họ Dương cất giọng trầm trầm:

- Cô bé tội nghiệp, con có biết đây là đâu không?

Ngạn La nhìn sững, ngơ ngác lắc đầu.

- Đây là cung Thượng Dương ngày trước. Con đang ở cái nơi mà cách đây năm mươi tư năm, ta và bảy mươi sáu thị nữ tội nghiệp này bị Nguyên phi Ỷ Lan và đức hoàng đế Nhân Tông lúc ấy vừa lên ngôi bức tử, buộc phải làm mồi cho đàn chuột đói.

Ngạn La rùng mình. Những con mắt đỏ như than của lũ chuột hiện ra trước mắt nàng. Những móng chân khua ràn rạt trên sàn đá lại xiết óc…

- Ta đã coi Càn Đức như con đẻ. Ta cũng nhận ra cái tài quán xuyến thiên hạ của Ỷ Lan - đứa bần nữ hái dâu. Vậy mà…

- …!

- Năm mươ tư năm rồi ta không thể nằm yên dưới mộ. Đêm nào ta cũng trở dậy. Nhiều chuột quá. Thâm cung thăm thẳm. Nỗi oan khuất của ta và bẩy mươi sáu thị nữ vô tội kia chẳng lọt được ra ngoài…

Từ dưới sàn lại rền rĩ tiếng chuyển động như sấm. Cửa hầm mộ đen ngòm lúc nãy đã khép lại mở ra cách chân Ngạn La chưa đầy một bước khiến nàng tưởng như đứng trên vực thẳm. Cái đàn chuột lúc nãy ngủ say giờ đã thức giấc, lấp lánh những con mắt hau háu và những bờm lông dựng ngược cứng như lông lợn rừng.

Rồi vọng lên tiếng rên xiết. Một người đàn bà mặc áo bào tía được chế theo y phục của Hoàng thái hậu, gương mặt đầy đặn như trăng rằm, lưỡng quyền nở rộng, đôi mắt sáng với cái nhìn kiêu hãnh, khuôn miệng cong cong mím chặt, hai góc mép hằn lên những vạch quyền uy.

Ngạn La thét lên một tiếng. Nàng nhận ra người đàn bà này. Hoàng thái hậu Ỷ Lan - người đã có công hạ sinh đức hoàng đế Nhân Tông và được triều đình cũng như khắp bàn dân thiên hạ ca tụng là có đại công đại đức. Từ một cô gái hái dâu xinh đẹp, bà được đưa về cung, được vua Thánh Tông yêu vì. Bà đã một tay rèn dạy đức hoàng đế lúc ngài mới lên ngôi khi vừa tám tuổi, một tay chấp chính cùng các đại thần như Lý Đạo Thành, Lý Thường Kiệt… dựng len một sự nghiệp rạng rỡ hiển hách chưa từng có kể từ khi Đức Thái Tổ lập nghiệp khai sinh ra triều LÝ. Ngạn La thích thú vì được gặp bà. Nàng thấy có cái gì gần gũi với người đàn bà này. Phải chăng vì Ỷ Lan vốn xuất thân là một cô gái hái dâu còn nàng là một cô bé bắt cua chăng?

Nhưng trước mắt Ngạn La, gương mặt Thái hậu Ỷ Lan thoắt già nua, đầy nếp nhăn, co rúm lại vì đau đớn. Những tiếng rên xiết bật ra từ đôi môi quyền uy của Thái hậu. Bà cúi xuống, cố sức rứt ra một vật gì đó đang đeo bám dưới chân bà. Ngạn La nhìn theo thì thấy ba con chuột to bằng thân cây chuối đang ngoạm những chiếc mõm nhọn hoắt vào bắp chân Thái hậu. Máu tuôn đỏ lòm thành vũng dưới chân bà. Nhưng người đàn bà đó chỉ rên xiết chứ không hề kêu cứu van xin. Ngạn La chạy băng băng xuống những bậc thang ẩm nhớp nháp của hầm mộ, chìa tay ra định kéo Thái hậu. Nhưng khi tay nàng vừa đụng đến người Thái hậu thì Thái hậu và đàn chuột đang cắn xé bà bỗng cùng tan biến. Tay nàng bị hẫng, rơi tõm xuống khoảng không. Mấy đầu ngón tay nàng lạnh toát. Ngạn La rùng mình. Nàng chợt ngẩng đầu lên vì nghe vọng những tiếng âm âm từ trên cao:

- Cô bé… Chớ đụng vào âm hồn. Bà ta phải đến đây để trả nợ cũ. Chẳng ai cứu được bà ta đâu…

Ở trên cao kia Hoàng thái hậu họ Dương cùng bẩy mươi sáu thị nữ sừng sững vươn mình lơ lửng trên nền tường lãnh cung. Những đôi mắt đau đớn và lạnh lẽo của họ rọi thẳng xuống Thái hậu lúc này đã hiện hình trở lại và tiếp tục bị những con chuột chụm đầu cắn xé.

 Lại cái giọng nói dường như ngọt ngào của Dương Thái hậu:

- Ỷ Lan… Ngươi có biết đau không?

Linh Nhân Ỷ Lan cắn môi bật máu. Bà hất đầu kiêu hãnh làm cho chiếc mũ miện long lanh trong ánh sáng lạnh của hầm mộ:

- Tất nhiên là ta biết đau… Hoàng hậu họ Dương…!

Dương Thái hậu không đổi giọng:

- Da thịt con người mà… Ỷ Lan. Nhưng ngươi chỉ mới bị chuột cắn mười năm nay. Còn ta với bảy mươi sáu thị nữ thì đã trải qua năm mươi tư năm dưới hầm mộ. Năm mươi tư năm bị chuột cắn là bao nhiêu đời người… hả Ỷ Lan?

Linh Nhân cúi đầu im lặng. Những tia sáng rực rỡ của những viên ngọc dạ quang trên mũ miện cũng thoắt mờ đi. Dương Thái hậu cười nhạt:

- Ta đã làm nên tội gì hả cô gái hái dâu đất Kinh Bắc kia? Phải chăng tội của ta chỉ là đã tin ngươi và yêu thương Càn Đức con trai ngươi như con đẻ của ta? Ngươi đã nói những gì và làm những gì trong cái ngày đẫm máu đó? Nghiệt phụ!

Giọng Linh Nhân run rẩy, như chìm dưới nước:

- … Phải… Ngày ấy… ta đã nói cùng Càn Đức khi ta nhìn tháy cái mũ miện Thái hậu lấp lánh trên đầu ngươi… Con trai ơi, mẹ già khó nhọc mới có ngày nay mà bây giờ phú quí người khác được hưởng thế thì con để mẹ già vào đâu!

Dương Thái hậu ngắt lời:

- Từ một con bé hái dâu, ngươi đã một bước lên ngôi Nguyên phi cận kề bên đức Thánh tông. Rồi khi Hoàng đế băng thì ngươi đã được tôn lên làm Hoàng Thái phi. Phú quí của ngươi cao chót vót, ân sủng của vua đã từ ngươi mà tưới đẫm cả dòng họ xứ quê mùa… Vậy mà lòng khao khát phú quí của ngươi còn chưa thoả ư…?

- Không. Với ta như thế chưa đủ. Ta muốn duy ngã độc tôn trong thiên hạ. Ta đã khiến đức Thánh Tông phải mê đắm nể trọng, nhất nhất theo lời. Ta muốn sai khiến được người duy nhất nắm giữ thiên hạ trong tay. Ta phải sai khiến được con trai ta. Không gì thích thú bằng khi thấy chỉ với một ngón tay út của bàn tay ta, cả giang san rùng rùng chuyển động. Ta phải buông rèm để nghe chính sự. Ta đã làm được rất nhiều cho đất nước này. Ta là người đàn bà duy nhất mà sử sách phải mãi mãi lưu truyền…

Dương Thái hậu thét lớn:

- Câm ngay! Nghiệt phụ! Ta biết tham vọng khôn cùng của ngươi. Ngươi quả là người đàn bà có trí tuệ và quyền biến có một không hai. Ta chưa bao giờ ngăn trở ngươi. Khi biết tính mệnh của mình bị lâm nguy, ta đã hạ mình van xin ngươi rằng ta xin khước từ ngôi Hoàng Thái hậu. Để mẹ con ngươi được an hưởng ngôi báu, ta xin vào chùa đi tu ăn chay niệm Phật, không bao giờ tưởng đến triều chính vàng lụa. Vậy mà ngươi vẫn không buông tha…

- Phải… Đức Thánh Tông hoàng đế băng ở điện Hội Tiên ngày Canh Dần tháng Giêng năm Thần Vũ thứ 4… Hoàng Thái tử Càn Đức con ta lên ngôi trước linh cữu khi mới bẩy tuổi. Bà không có công sinh ra hoàng đế mà được tôn là Hoàng Thái hậu, lại còn được buông rèm nghe chính sự. Còn ta, chín tháng mười ngày mang nặng đẻ đau lại chỉ chịu phận Hoàng Thái phi thôi sao? Không. Ta muốn ta phải là ngôi thứ nhất! Vả lại, nếu không phải ta mà là bà buông rèm nghe chính sự, sự thịnh vượng của quốc gia này có được như ngày nay chăng? Kẻ ngáng đường ta, dù chỉ là vô tình, kẻ đó phải chết!

Hoàng Thái hậu họ Dương cất lên một hồi cười khanh khách lạnh người:
- Chao ôi! Trời đất quỷ thần hãy nghe! Chỉ để cho một người đàn bà máu mê quyền lực, bước lên ngôi Hoàng Thái hậu mà đến nỗi phải nhúng ngập tay vào máu đến vậy ư?

Nét mặt của Ỷ Lan Thái hậu co rúm một lần nữa. Và lần này trong giọng bà có thoáng chút ăn năn, như thì thầm với chính mình:

- Phải… Năm Thái Ninh thứ hai, trời mưa dầm dề không dứt. Cả tháng trời mưa… Ta đã sai rước Phật Pháp Vân về Kinh để cầu tạnh. Ta đã làm đại lễ cầu Thần núi Tản Viên mong cứu nhân gian khỏi một trận hồng thuỷ… Và ta cũng sai người giam đương kim Hoàng Thái hậu cùng bẩy mươi sáu thị nữ vào Thượng Dương cung này rồi bức cho tất cả phải chết… Ta đã làm Hoàng Thái hậu sau cái chết của bẩy mươi bẩy người…!

Bây giờ đàn chuột đã sấn vào, leo cả lên lồng ngực và cánh tay của Ỷ Lan mà gặm thịt da bà. Ỷ Lan quằn quại. Đôi mắt can đảm vẫn nhìn không chớp vào Dương Thái hậu. Dương Thái hậu nghiến răng:

- Ngươi rước tượng Phật về thờ phụng. Ngươi lập đại lễ cầu đảo Thần núi Tản Viên… Một tay ngươi gõ mõ tụng kinh, một tay ngươi thọc sâu vào bầu máu trong gan ruột của những người vô tội!

- Đừng quá lời, Dương Thái hậu!

- Một người như Thái sư Lý Đạo Thành lừng lẫy công trạng, tận tuỵ phò vua giúp nước. Vậy mà ngươi, khiến cho ông ta buồn rầu đến mức phải lập Viện Địa Tạng trong miếu Vương Thánh… Ngươi còn giả nhân giả nghĩa phao lên rằng ta và bẩy mươi sáu thị nữ vì quá thương tiếc Đức Hoàng đế mà tự vẫn chết theo hầu hạ người dưới suối vàng!…

- Ta làm sao có thể làm khác được. Thời nào cũng vậy thôi, mạng người quá rẻ trong tay các bậc đế vương, nhưng vẫn phải phủ lên những cái chết đó hoặc là một sự đê nhục, hoặc là phản trắc hoặc là một nghĩa cử huy hoàng. Điều này các bậc đế vương thường xuyên làm mà, hoàng hậu họ Dương!

- Ngay cả việc giết người ngươi cũng là một kẻ siêu quần. Nhưng sao ngươi nỡ vu cho ta cái điều mà chính bản thân ngươi cũng không thể làm được… Để lấp liếm việc bức hại chúng ta, ngươi còn noi theo tiền lệ cực kỳ hung ác của tên hung bạo Tần Thủy Hoàng buộc cung nữ phải chết theo vua. Sao ngươi không tự thiêu mà chết theo Đức Thánh Tông để làm gương cho thiên hạ?

- Phải. Ta đã dùng nhiều thủ đoạn, Dương Thái hậu. Ngươi chết oan là phải. Ở trong cung từng ấy năm mà ngươi vẫn không biết rằng cái bức đại vóc đẹp đẽ của triều đình bao giờ cũng dệt nên bởi những mưu mô và thủ đoạn được kéo ra từ những con kén ngậm máu và nước mắt sao…? Dù ta ám hại ngươi và bẩy mươi sáu thị nữ kia, ngươi cũng nên công bằng một chút. Sau đó ta đã dốc lòng niệm Phật, tu tạo nên hơn một trăm ngôi chùa, quảng bá Phật dạo cho thiên hạ thấm nhuần lẽ từ bi… Ngươi không thấy dưới triều con ta, nước Nam này đã lập nên những chiến công hiển hách chưa từng có, đã tôn tạo Quốc tử giám, noi gương Đức Thái Tổ mở những khoa thi để thoát khỏi mọi sự mọi rợ hay sao? Dương Thái hậu, sao ngươi không quên thù oán riêng cho đất nước này? Ngươi chẳng qua cũng chỉ là một con mụ đàn bà đầu óc nhỏ hẹp, chỉ dựa vào sắc đẹp và phong thư yểu điệu làm tài sản ở chốn thâm cung để suốt đời núp bóng các đế vương mà thôi…!

Dương Thái hậu lại cười nhạt:

- Hãy nhìn ta và bẩy mươi sáu oan hồn này, Ỷ Lan! Những kẻ đầy tham vọng như các ngươi vẫn quen coi mạng sống và niềm yên vui của kẻ khác là những thứ mà bất cứ lúc nào các ngươi cũng có thể tuỳ tiện dí nát dưới gót hài trên đường đeo đuổi mộng đế vương. Tai các ngươi đã điếc trước tiếng khóc than rên xiết của những người yếu ớt đã bị giẫm đạp dưới bước chân voi ngựa…
Mặt cắt không còn hạt máu, Linh Nhân cố rứt một con chuột đói đang lăm le ngoạm những chiếc răng nhọn hoắt vào mồm bà:

- Không… Ta không điếc… Nhưng ngươi cần phải biết, cái người điều binh khiển tướng khi mở đường máu cho một đại quân thì không được quá quan tâm đến tiếng kêu của kiến và cỏ…

Dương Thái hậu tiếp tục, căm hờn:

- Sau mỗi lần nhúng tay vào tội ác thì các ngươi giỏi giang lắm trong cách tìm ra những thủ đoạn để lấp liếm, phủ lên tội ác một bức màn trướng đẹp đẽ hòng che mắt thiên hạ. Ỷ Lan, ngươi che mắt được thiên hạ nhưng có che được con mắt của lương tâm ngươi không?

Bẩy mươi sáu oan hồn thị nữ rầm rì tiến lại với những bước chân đe doạ. Một trăm năm mươi bàn tay trong suốt đưa ra túm lấy áo Ỷ Lan. Ỷ Lan trợn tròn đôi mắt đã mất sinh khí. Bà lùi dần, sát vào chân tường:

- Không! Tiếc thay suốt đời ta đã không đánh lừa được lương tâm mình. Nhưng sau đó ta đã cố công khuyến nghiệp từ bi…

Khắp hầm mộ rộn rực tiếng các oan hồn không rõ hình hài. Bẩy mươi sáu thị nữ đã túm được áo Ỷ Lan Thái hậu. Dương Thái hậu căm phẫn:

- Ta biết, sau khi bức hại ta, ngươi đã hối hả tô tượng xây chuà ăn chay niệm phật. Há ngươi không biết rằng một dúm dân đen còm cõi của nước Nam, một mặt thì phải đưa ngực ra chống đỡ mũi tên hòn đạn của ngoại xâm, một tay thì phải dồn công góp của, thắt ruột phu phen tạp dịch… Còn đó những oan hồn dưới bức tường đá nặng trịch của những ngôi chùa. Ngươi làm cho dân hay chỉ để an ủi cái lương tâm ngươi, để ngươi được trọn vẹn hưởng lạc, Ỷ Lan? Tại sao khi có một vị gián quan can ngăn việc xây quá nhiều chùa tháp làm dân lao lực thì ngươi lại nổi giận và đày ông ta lên chốn rừng thiêng nước độc? Đó chẳng phải là vét máu mỡ của dân ư? Phật dạy lời từ bi, dạy "Phật tại tâm…". Ngươi có thật sự tin rằng Phật đang ngự tại những ngôi chuà lộng lẫy mà ngươi đã xây nên không? Ta tin rằng đức Phật không ngự ở những nơi mà Phật có đốt đuốc đi tìm cũng chẳng thấy hai chữ từ bi…!

Những mảnh đại vóc của Ỷ Lan bắt đầu nục ra dưới bàn tay của các thị nữ. Thái hậu kinh hoàng chạy trốn. Nhưng từ bốn phía của hầm mộ cũng chìa ra tua tủa những bàn tay trong veo. Và đàn chuột đói hầm hè trở nên đông đúc vô kể. Ngạn La thấy thương xót trước vẻ tuyệt vọng của Ỷ Lan. Nàng xót xa quỳ xuống trước mặt Dương Thái hậu:

- Xin bà tha cho cái bà bị chuột cắn kia. Đau lắm! Bà ấy không chịu nổi đâu…

Lúc đó Dương Thái hậu mới nhớ đến Ngạn La. Bà đỡ nàng dậy, ánh mắt dịu đi:

- Không. Đây không phải là ta, cô bé ạ. Đây là âm phủ. Con là người có duyên có kiếp nên mới được tiết lộ về những câu chuyện cõi âm. Con còn bé quá, chưa biết rằng ở trên trần thế, người ta có thể chạy trốn nhiều thứ. Nhưng khi chết xuống âm phủ thì người người đều phải đối diện với chính mình trước mặt Diêm Vương.

Ỷ Lan Thái hậu oằn mình vì đau, hỏi Ngạn La:

- Ngươi là ai? Sao dám nghe những chuyện chết người này? Ta cấm chỉ ngươi không được tiết lộ với bất kỳ ai. Dù ta chết đã lâu nhưng trong dân gian đâu đâu cũng đang tôn thờ ca tụng công đức của ta và con trai ta. Ngươi muốn giữ mạng thì hãy liệu giữ mồm.

Dương Thái hậu phá lên cười:

- Ôi, Ỷ Lan. Âm phủ đã mười năm mà sao ngươi vẫn còn chưa từ bỏ những tham vọng hão huyền! Một người đàn bà sắc sảo như ngươi mà lại không biết rằng thiên hạ thờ người chết, thật ra chẳng qua thiên hạ mượn thây chết mà dùng cho những mục đích của họ đấy thôi. Hãy trông đây Ỷ Lan… Vưu vật tuyệt thế này đã bị cái lệ độc ác mà ngươi đặt ra đưa lên giàn thiêu. Ngươi và cả ta nữa, cũng chưa biết được nỗi sợ hãi khi kề cận cái giàn thiêu mà cô bé con vô tội này phải trải qua. May mắn thoát khỏi ngọn lửa thiêu, cô bé lập tức bị tống vào lãnh cung. Con chim nhỏ này đã làm nên tội tình gì?

Ngạn La quay sang nhìn Ỷ Lan với đôi mắt căm hờn. Nhưng khi trông thấy máu rỉ ra từ những vết thương bị chuột cắn của bà, nàng lại động lòng thương xót.

Bỗng nghe có tiếng ồn ào và tiếng khoá sắt ngoài cửa lim khua loảng xoảng. Lắng nghe kỹ nữa, dường như có tiếng trống "tum…tum…". Trong nháy mắt, Dương Thái hậu, bẩy mươi sáu thị nữ, Ỷ Lan Thái hậu và lũ chuột biến vào cái miệng mở toang của hầm mộ. Hầm mộ khép lại không còn dấu vết.

Cánh cửa lãnh cung đột ngột mở toang. Luồng ánh sáng chói gắt oà vào xô ngã Ngạn La. Nàng lẩy bẩy che mắt nhìn, thấy bốn người khiêng chiếc võng điều. Kèm bên là bốn thị nữ đã đưa nàng vào buồng tắm của tiên hoàng lúc mới vào cung. Những người khiêng võng nhanh nhẹn đặt Ngạn La hầu như bất tỉnh vào trong võng rồi khiêng đi.

Khi nàng tỉnh lại trong hồ nước tắm thơm, lại thấy bốn thị nữ đang lặp lại những cử chỉ săn sóc thân thể nàng như lúc mới vào cung. Một lần nữa tấm thân mảnh mai mượt như lụa của Ngạn La lại được tẩm hương. Ngạn La tỉnh hẳn dưới sự vuốt ve của làn nước nóng trong hồ tắm ngọc. Nàng lờ mờ hiểu rằng mình đang được chuẩn bị cho một lễ dâng hiến.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-13 20:30:44huytran>
 
Chương 10

LONG SÀNG
 

Mậu Thân, Tháng Ba. Thiên Thuận năm thứ nhất (1128).

Thần Tông vật vã trên nệm gấm

Lên ngôi mới được ba tháng, ngài vẫn còn là một con rối mặc hoàng bào, được nhào nặn từ khí chất của một vị hoàng đế quyền uy với một đứa trẻ mười ba tuổi tính nết thất thường được chiều chuộng tột đỉnh và hay hờn dỗi.

Thấy vua còn là trẻ con, các phe phái trong triều không bỏ lỡ, chen vai thích cánh tranh thủ tâu bày việc nọ việc kia khiến vua liên tục xuống chiếu, ban ra những ngự lệnh có khi đối chọi nhau như nước với lửa.

Ngày Tân Mão, tháng Giêng, để tỏ lòng tiếc nhớ Tiên hoàng Nhân Tông vừa băng, vua ban chiếu cấm dân chúng không được cưỡi ngựa, đi võng màu lam, xe che màn. Thế nhưng chưa được một tháng sau, chưa đến lễ tốt khốc, đã truyền cho các quan cởi bỏ áo trở. Lại sai Viên ngoại lang Lý Khánh Thần và vợ đi đón con gái của Điện tiền chỉ huy sứ Lý Sơn để lập làm Lệ Thiên Hoàng hậu, sai Viên ngoại lang Trần Ngọc Độ và vợ đi đón con gái của Lê Xương là cháu chú bác của Thái uý Lê Bá Ngọc vào cung lập làm Minh Bảo phu nhân… Khiến thiên hạ có lời đàm tiếu về chữ hiếu của đấng tân vương. Một loạt các chức vụ, quan lại trong triều được định đoạt chỉ dựa vào ý thích của vị tân vương non trẻ và những lời tâu trình nhỏ to của lũ cận thần, nội thị hầu hạ trong cung. Ngày Kỷ Sửu tháng Giêng, biếm Đại liêu bang Lý Sùng Phúc vì đi qua cửa thành Tây Dương, người tuần tra hỏi mà không trả lời. Ngày Tân Sửu cùng tháng, lấy Lê Bá Ngọc làm Thái uý, thăng tước Hầu. Nội nhân hoả đầu Lưu Ba, Dương Anh Nhĩ làm Thái phó, tước Đại liêu bang. Nội nhân hoả đầu Lý Khánh, Nguyễn Phúc, Cao Y làm Thái Bảo, tước Nội thương chế. Nội chi hậu quản gáip Lý Sơn làm Điện tiền chỉ huy sứ. Trung thừa Mâu Du Đô làm Gián Nghị đại phu. Rồi Lý Tử Khắc chỉ có công dâng tấu ở rừng Giang Đế có hươu trắng, vua sai người đi bắt được, liền sắc phong ngay Khắc làm Khu mật sứ, xếp vào hàng Minh Tụ, được đội mũ bẩy cầu…

Biết Thần Tông vốn là một đứa trẻ yếu đuối, hay mềm lòng, mỗi khi thấy những kẻ tội nhân đói khát, rách rưới, bị lao dịch, đánh đập trong nhà ngục của Đô hộ phủ thì không sao chịu nổi, thường ôm mặt khóc nức nở, quan hầu cận lập tức đưa xa giá đi nơi khác, bắt hý phường hay con hát làm cho vua nguôi ngoai, người nhà của phường kẻ cướp đại gian đại ác đang bị nhốt trong Đô hộ phủ hợp nhau lại, bàn kế đem vàng lụa đút lót cho lũ thái giám, cận thần hầu hạ vua. Bọn này tìm cách mượn lời lẽ ngọt nhạt thương cảm nói về nhân nghĩa khiến vua đọc lời tấu lại ôm mặt khóc lần nữa. Tháng Hai Thiên Thuận năm thứ nhất, tháng Hai Thiên Thuận năm thứ hai, vua xuống chiếu nhất loạt tha tội cho các tội nhân và những kẻ bị biếm truất trong nước…
Cũng như các đấng tiên đế, Thần Tông một long sùng kính Phật. Mọi hưng vong, thành bại của việc, của người vua và các cận thần đều qui công cho Phật, Đạo. Tháng Giêng Mậu Thân, Nhập nội Thái phó Lý Công Bình phụng chỉ đem quân đi đánh Chân Lạp vào cướp bóc ở bến Ba Đầu, châu Nghệ An. Ngày Đinh Mão, tháng Hai, tin báo thắng trận về kinh. Hôm sau, ngày Mậu Thìn, vua ngự đến hai cung Thái Thanh, Cảnh Linh cùng nhiều chùa quán trong kinh thành để làm lễ tạ ơn Phật, Đạo… mà quên những việc tưởng thưởng, uý lạo tướng sĩ đã có công phá giặc…

Thần Tông vật vã trên nệm gấm.

Một giải áo kết bằng chỉ kim tuyến màu cẩm đào dưới nách vạt áo gấm của đức vua vị tuột, tà áo cẩu thả trễ xuống. Cung nữ quạt kề bên muốn quì xuống để nâng buộc lại mà không dám. Thấy hơi thở của ngài ngự gấp gáp, tưởng ngài khát, một cung nữ khác vội dâng lên chén sâm thang. Nhưng bất chợt ngài vung tay hất đổ bát thang, tung chân đạp vào mặt cung nữ, miệng la hét ầm ĩ "Cút đi! Các ngươi cút hết đi cho khuất mắt ta… ta không muốn nhìn thấy mặt các người…!"

Đám cung nữ sợ mất vía, chạy dạt sang bên, không dám bỏ đi.

Bàn ngự thiện đặt trước long sàng. Sáng nay, giữa bàn đặt món trân vị dưới hình hài một con ngỗng vàng còn nguyên mỏ và đôi cánh vươn cao như sắp bay lên. Để làm món trân vị, Ngự trù thuộc Lục thượng cục trong cung đã phải mời các hoả đầu đã từng nấu ăn trong cung nhà Tống. Phải nhốt ngỗng trong lồng kín ba tháng không để ánh mặt trời lọt vào, nuôi ngỗng bằng những hạt kê vàng trộn sữa dê cùng với một thứ bột màu nâu bí truyền của đầu bếp phương bắc. Khi mở lồng, ngỗng gần như mù kín mắt, không nhích nổi một bước nhưng cái mỏ thì đỏ chót, đôi chân mập bụ sữa, thịt mềm da vàng óng. Làm lông, mổ bụng, nhồi bát vị vào bụng ngỗng. Thêm một con sơn dương mổ sẵn. Ướp trân vị vào bụng sơn dương. Đặt ngỗng vào trong bụng sơn dương, khâu kín bằng chỉ ruột mèo. Quay sơn dương trên lò than hoa. Cứ đúng thời khắc lại gia giảm thêm những gia vị bí ẩn thỏang mùi thơm hắc. Sơn dương chín vàng ươm, mở bụng, khéo tay lấy ngỗng ra, lại tẩm thêm gia vị chiết từ nhựa loại cây rừng mà tù trưởng các vùng phiên trấn thường mang theo mình để hít thở mùi thơm. Cái mùi thơm đặc biệt ấy khiến các tù trưởng trèo đèo lội suối hay dâm lạc với đàn bà không khi nào thấy mệt! Món trân vị đã hoàn tất. Ngỗng vàng được đặt trên bàn ngự thiện, còn thịt sơn dương trong lúc cao hứng vua thường sai lũ nội thị xé từng miếng nhỏ ban thưởng cho các cận thần, quí phi…
Sau lưng vị vua trẻ, chỉ vén tấm rèm đại vóc màu phỉ thuý kia, sẽ hiện ra dục thất của ngài ngự. Một bể tắm lớn bằng đá hoa cương cũng màu phỉ thuý, bốn phía đặt những tấm gương đồng sáng choang. Mỗi ngày, sau buổi thiết triều, vị vua nhỏ tuổi được dìu vào chốn này, trút bỏ ngự bào trong tiếng đàn sáo từ trên cao toả xuống. Rồi trong làn hơi nước thơm ngào ngạt, mờ ảo sương giăng. Ngài ngự sẽ ngã vào tay bầy cung nữ tuổi chưa quá mười ba mà thân hình đã nở nang, da trắng như mỡ đông, tóc xoã ướt tựa rong rêu, choàng ngang thân một mảnh vải cũng màu phỉ thuý mờ đục khiến cho những đường cong càng thêm khêu gợi nõn nường. Những đôi tay dệt thành một tấm lưới dịu ngọt, đỡ lấy vị hoàng đế gầy mảnh. Bằng những kinh nghiệm thâu nhận kỹ lưỡng từ những cung nữ luống tuổi dày dạn trong hậu cung, các cung nữ trẻ dìu vị chúa tể của họ vào cõi cực lạc, dưới sự trông coi không rời mắt của lũ giám quan đứng nửa kín nửa hở sau những tấm rèm buông chùng xung quanh. Khi Tiên hoàng băng chưa đầy một tháng, sau khi ban chiếu cho triều đình bỏ áo trở, Thần Tông được dìu vào chốn này. Dù được sinh ra trong nhà Sùng Hiền hầu hoàng thân sang cả bậc nhất kinh thành, lên hai tuổi được vua bác là Nhân Tông vì không có con nối dõi, đem vào cung nuôi, lập làm Hoàng Thái tử, hưởng đủ mọi xa hoa, lại đã tập hành lạc với thị nữ từ năm lên tám, không lạ gì hơi hướng sắc đẹp, nhưng lên ngôi vua, vào đến chốn long sàng, vào đến bồn tắm phỉ thuý, vẫn cảm thấy cực khoái đến ngạt thở, tưởng chừng đang chơi vơi ở cõi Bồng lai. Sau này mới hiểu, tại sao trong các triều đình thường lâm vào cảnh nồi da nấu thịt, thuốc độc hoặc bùa chú ám hại lẫn nhau trong anh em ruột thịt để đoạt ngôi báu. Mê man trong lạc thú bởi những tay thâm hậu chuyên bày đặt kỳ công đưa ra cho các vị chúa tể, Thần Tông trễ nải việc triều chính, chẳng nghĩ đến thiết triều, suốt ngày uể oải đê mê hưởng ái ân trong tay cung nữ.

Nhưng lúc này, sau một tháng mê man cùng những lạc thú nơi cung cấm, vị vua trẻ bắt đầu lờ mờ cảm thấy một điều gì đó. Tận đáy lòng, ngài thấy như thiếu một điều gì. Một cơn khát không bao giờ thoả. Trong làn sương ngào ngạt phả ra từ bồn tắm, trong văng vẳng tiếng nhạc thăng giáng từ nóc cung điện, manh nha một nỗi trống trải. Ngài cố tìm trong ký ức. Một hình bóng nào đó ẩn hiện từ kiếp trước. Bóng ma nào lẩn khuất và vẫy gọi? Ngài chịu không hiểu nổi, không thể gọi tên. Đã ba ngày nay, đức vua bé nhỏ vật vã trên long sàng.

Những lúc ngài ngự tính khí thất thường, các cung nữ hay lũ nội giám thường ngầm bảo nhau chạy sang báo với Lệ Thiên hoàng hậu. Hoàng hậu cốt cách đoan chính, lại lớn hơn bốn tuổi, luôn biết cách làm đức vua dịu tính lại. Nhiều lúc nhìn Lệ Thiên hoàng hậu vỗ về, dỗ dành Thần Tông như một người chị cả vỗ về an ủi đứa em nhỏ, lũ cung nữ và nội giám đứng hầu xung quanh không khỏi bấm bụng bưng miệng nhịn cười. Rồi lại còn Minh Bảo phu nhân, một kiều nữ thướt tha yểu điệu mà thường ngày ngài ngự rất gần gụi yêu quí. Đã có những lúc ngài ngự khi ăn khi ngủ đều phải có phu nhân kề bên, tay trong tay má kề má. Nhiều khi ngài chỉ mong cho chóng kết thúc việc thiết triều tẻ nhạt kéo dài lê thê để nhanh chóng lên kiệu truyền cho lũ nội giám, cung nữ theo hầu đi nhanh về nội cung để được nhìn mặt cầm tay Minh Bảo phu nhân… Nhưng đã năm ngày nay ngài ngự chẳng vời đến Lệ Thiên hoàng hậu mà cũng chẳng nhắc đến Minh Bảo phu nhân.
Lòng cồn cào như lửa đốt. Thần Tông rời long sàng, truyền thị nữ đưa vào hồ tắm.

Những tưởng nước tắm và các cung nữ sẽ khiến cho ngài đỡ cồn cào, trống vắng. Ai ngờ, càng tắm, càng nhìn các cung nữ lả lướt trước mắt, nõi buồn trong lòng Thần Tông càng tê tái. Càng thấy thiếu một điều gì đó, thiếu một ai đó đến rưng rưng. Nước mắt tự nhiên ứa ra, rơi xuống hồ phỉ thuý. Chợt Đức vua đứng vùng dậy, khiến cho các cung nữ hốt hoảng ngã dạt ra tứ phía. Gọi giật giọng:

- Thái giám?

Viên Tổng Thái giám đang đứng kính cẩn khoanh tay sau bức màn, lòng lạnh tanh trước những cảnh trong cung cấm, chỉ chăm chăm lo lắng đến việc bảo toàn sự an nguy của ngài ngự, không bỏ sót bất kỳ cử chỉ nào của các giám quan chầu hầu và cung nữ. Dù Đức vua gọi giật giọng, không hề hoảng hốt, Thái giám khoan thai bước đến bên cạnh hồ tắm, cúi đầu thi lễ:

- Muôn tâu! Hạ thần xin chờ lệnh…

Thần Tông hơi cau có nhìn cái vẻ khúm núm của Thái giám. Bụng dạ người ta thật khó lường. Ngài nhớ, cha ngài là đức Sùng Hiền hầu đã có lần nói rằng, chính viên Tổng Thái giám này trước đây đã cố sức ngăn cản việc lập ngài lên làm Hoàng Thái tử. May nhờ đức Nhân Tông và Ỷ Lan Thái hậu một dạ quyết đoán nên ngài, lúc đó mang tên Dương Hoán, mới được lên ngôi vua ngày hôm nay.

Thần Tông sẵng giọng:

- Nghe đây. Ngươi có nhớ… - giọng nói của đức vua bất chợt bật ra, gấp gáp… Giàn thiêu cung nữ ở Na Ngạn…

- Dạ bẩm Hoàng thượng…

- Có đứa con gái mà ta tha tội chết trên giàn thiêu…

- Dạ bẩm Hoàng thượng…

-Nhà ngươi không phải thưa bẩm gì cả… Hãy mang con bé đó lại đây cho ta… Mang ngay…!

- Dạ bẩm hoàng thượng…

Tổng Thái giám dập đầu quỳ lạy trước hồ tắm, hai đầu gối xiêu vẹo vì sợ hãi.

Tổng Thái giám không được tháp tùng đức hoàng thượng trong chuyến đi Na Ngạn làm lễ thiêu các cung nữ gửi xuống suối vàng để hầu hạ tiên đế, nhưng chuyện về cung nữ Ngạn La thì ai trong chốn hậu cung này chẳng rõ. Không phải vì cô bị giam trong lãnh cung. Những kẻ xấu số dẫu có nối nhau bỏ mạng nơi thâm cung u tối đó cũng chẳng ai để ý đến. Nhưng việc tân cung nữ mười ba tuổi Ngạn La dám chống lệnh triều đình, không bước lên giàn thiêu theo hầu đức tiên đế nơi chín suối là một tội tày đình mà chỉ có nhờ lượng cả bao dung của đức vua Thần Tông mới thoát khỏi cái tội chém ngang lưng. Giam cô ta vào lãnh cung để nhận cái chết dần mòn là phúc cho cô lắm. Thế mà giờ đây Hoàng thượng lại truyền vời Ngạn La đến hầu…!

- Dạ bẩm Hoàng thượng…

- Sao nữa… Ngươi còn đứng trơ ra đó à?

Đức vua thét.

Thái giám nín hơi lấy hết can đảm:

- Dạ… Bẩm tâu… Ngạn La hiện bị giam… trong lãnh cung… Xin bệ hạ tha tội chết cho thần… Thần e rằng…

Vừa nghe xong, Thần Tông xé toạc luôn cái khăn đang quấn ngang người:

- Bị giam vào lãnh cung? Ai giam… Ta hỏi ngươi… kẻ nào cả gan giam nàng…?

Một lần nữa lồng ngực viên Thái giám thót lại. Làm sao dám tâu bày đó chính là truyền chỉ của Hoàng thượng! Ai có thể nghĩ rằng đến một nào đó như lúc này Hoàng thượng lại chợt nhớ, lại truyền chỉ đưa cung nữ tội nhân đó vào hầu hạ bên long sàng…

Nhưng thật may cho viên thái giám. Thần Tông đã bất chợt lăn mình trên đệm gấm, hai tay đập thình thình miệng la hét liên hồi:

- Mặc… Mặc các người…! Mang nàng đến cho ta…! Rồi các ngươi cút ngay đi cho khuất mắt ta…!

Tổng Thái giám lại dập đầu cúi lạy rồi lập cập lui ra.

Thần Tông chong chong nhìn ra ngoài, vật vã nóng lòng từng giờ từng khắc ngóng đợi tiếng trống bạc báo hiệu võng đưa Ngạn La tới…

Tổng Thái giám đã trở lại sau khi cắt đặt người đến lãnh cung đón cung nữ Ngạn La. Ngắm Đức vua nôn nóng như đứa trẻ nằng nặc đòi một thứ đồ, Viên Tổng Thái giám chợt nhớ đến cậu bé Dương Hoán cách đây mười hai năm.

*
**
Mùa thu, tháng Bẩy, ngày hai mươi nhăm. Hội Tường Đại Khánh năm thứ tám (1117). Vua Nhân Tông thẫn thờ ngấn lệ, quanh quẩn không rời bên gối Ỷ Lan Hoàng Thái hậu.

Thái hậu vừa băng.

Khi Thái hậu lâm trọng bệnh, gương mặt đẹp đẽ thường ngày của bà đã bắt đầu biết dạng. Bà nằm trên giường, thỉnh thoảng lại đứng phắt dậy, kêu rú, luôn miệng thét đuổi chuột, chân giẫy đành đạch, tay hoảng loạn đưa qua đưa lại quanh mình như cố sức vứt một vật gì ra khỏi da thịt. Những lúc như vậy, mặc các thị nữ lay gọi, Ỷ Lan Thái hậu không nhận ra bất kỳ ai, chỉ thỉnh thoảng khóc gọi tên Dương Thái hậu rồi nghiến răng kèn kẹt. Ba ngày nay, những cơn mê sảng mỗi lúc càng bấn loạn. Ngự y vào xem mạch, khoát tay lắc đầu thất vọng, nói vào tai Thái bảo Lý Trác: "Trong nội nhật thôi!". Vua Nhân Tông khóc nức, cùng tất cả các hoàng thân Sùng Hiền hầu, Thành Khánh hầu, Thành Quảng hầu, Thành Chiêu hầu, Thành Hưng hầu và các hoàng hậu, phu nhân, các trọng thần chầu chực bên giường. Khi đến, Thái hậu đã bằn bặt thiếp đi, hơi thở chỉ còn thoi thóp. Vua và các hầu cùng thị nữ cất tiếng khóc vang trời. Ở bên ngoài, hữu ty và các lễ quan bắt đầu tấp nập lo hậu sự.

Bỗng nhiên mi mắt Thái hậu giật nhẹ. Rồi bà chống tay ngồi dậy, vẻ khoẻ mạnh tỉnh táo hoàn toàn, như không có chuyện gì xảy ra. Nhân Tông và những người ngồi quanh reo lên mừng rỡ. Hoàng hậu và các thị nữ vội đỡ lưng. Thái hậu đưa đôi mắt thoắt trở lại tinh tường nhìn lướt khắp các khuôn mặt. Giọng nói của Thái hậu chợt lại vẫn uy nghi:

- Ta dặn các ngươi rồi… Thằng bé con đó đâu?

- Muôn tâu…!

- Mang nó lại đây cho ta…

- Muôn tâu…!

Nhân Tông ra hiệu. Thái bảo Lý Trác lật đật đến bên Sùng Hiền hầu phu nhân. Hai vợ chồng Sùng Hiền hầu vội vàng trở ra. Thị nữ chực sẵn lúc nào từ ngoài cửa, tay bế Dương Hoán mới chừng hai tuổi. Sùng Hiền hầu phu nhân hối hả như giằng lấy con, cùng chồng và Lý Trác bế đến bên giường Thái hậu. Khi vợ chồng Sùng Hiền hầu tới nơi, đã thấy bốn cậu con trai đẹp đẽ, khoẻ mạnh là con của các hầu, lớn hơn Dương Hoán. Nét mặt của tất cả mọi người đều căng thẳng, quyết liệt. Đức vua Nhân Tông thở dài buồn nản. Riêng hoàng hậu thì cứ nhìn những đứa bé trai mà tủi phận khóc rũ rượi sau lưng Thái hậu.

Vừa thấy Dương Hoán trong tay Sùng Hiền hầu phu nhân, mặt Thái hậu tươi lên. Bà đưa bàn tay khô khỏng chạm nhẹ lên vầng trán rộng, sáng ngời của đứa bé:

- Cái trán này, có thể giữ vững cơ nghiệp cho nhà Lý ta đây.

Tổng Thái giám nhớ, lúc trong rõ mặt đứa bé hai tuổi Dương Hoán, ông đã giật mình. Rất quen. Một gương mặt mà ông đã gặp. Dung mạo ấy khác thường, hơi ma quái, có sức sai khiến người. Gặp một lần không thể quên. Nhưng không thể gọi tên.

Thái hậu đột ngột ngẩng lên. Người nhìn như điểm mặt Nhân Tông, Hoàng hậu, vợ chồng Sùng Hiền hầu và tất cả mọi người đang đứng im phắc như nín thở quanh giường. Thái hậu im lặng hít một hơi dài rồi lại thong thả lên tiếng:

- Các ngươi hãy nghe ta… Thằng bé này mới hơn hai tuổi đã thông minh đĩnh ngộ, dung mạo chẳng phải thường… Cả đời ta không tiếc công sức để gìn giữ ngôi báu. Xã tắc luôn cần có người tài để cai trị. Đức vua hiện nay bạc phận không con nối dõi. Trước đây ta đã truyền đem con trai của các hầu vào nuôi dưỡng trong cung, chọn lấy đứa tài nhất. Xem ra Dương Hoán dù mới hai tuổi nhưng là đứa nổi trội hơn cả. Khác hẳn người thường. Sau khi ta chết, hãy lập thằng bé này làm Thái tử, sau này lên nối ngôi trị vì thiên hạ, duy trì ngàn đời triều đại nhà Lý ta…!

Chung quanh lặng ắng đi sau lời phán truyền của Thái hậu. Vẻ thất vọng thoáng chút căm tức hiện lên trên khuôn mặt của các hoàng thân và phu nhân.

Chờ đợi giây lát, Thái hậu cố ngẩng đầu lên nhìn lại chung quanh, gằn giọng hỏi lại:

- Các người… có nghe rõ lời ta… truyền… không?

Chỉ có đức vua và vợ chồng Sùng Hiền hầu cùng Thái bảo Lý Trác vội vã đáp:

- Dạ bẩm Thái hậu… Hoàng nhi và các triều thần đều nghe rõ rồi ạ…!

- Được…!

Thái hậu buông tay. Những lời nói vừa rồi đã làm Thái hậu kiệt sức, bà nhắm mắt ngả lưng tựa vào tay hai cung nữ đỡ phía sau để thở. Nhưng đôi mắt của Thái hậu vẫn hé mở. Bà ưỡn người nhìn quanh như để đắn đo. Ánh mắt dừng lại trên mặt quan Nội chi hậu quản giáp Lý Sơn. Thái hậu đưa ngón tay làm hiệu vẫy tiểu thư con Lý Sơn lại gần. Cô bé sáu tuổi từ nãy đến giờ nép bên tay mẹ nhìn Thái hậu, giờ sợ hãi chồn chân trụ lại. Nhưng người mẹ đã ý tứ nhẹ nhàng đẩy con lên với nỗi hồi hộp cuồn cuộn như sóng trong lòng. Cô bé đến bên giường. Thái hậu lặng lẽ nhìn cô bé giây lát rồi run rẩy chạm vào bàn tay bụ bẫm của cô bé. Cố sức lắm Thái hậu mới đưa được bàn tay đó đặt vào bàn tay Dương Hoán:

- Các ngươi hãy nghe… Một mai đứa nhỏ lên ngôi báu thì cử hành ngay lễ nạp hậu đón con bé này vào cai quản nội cung… Phải làm tức thì việc này… Cái hoạ trống ngôi thái tử, trống ngôi hoàng hậu, gây cảnh nồi da nấu thịt, hẳn các ngươi chẳng lạ gì…!

Tiếng dạ ran lên xung quanh. Không ai có gan nói thêm được lời nào về những định liệu của Thái hậu. Sùng Hiền hầu là huynh đệ với Đức đương kim hoàng thượng. Nội chi hậu quản giáp Lý Sơn là người hoàng tộc trong tay nắm giữ hầu hết binh mã của triều đình. Nhưng điều quan trọng hơn nữa là phu nhân Đỗ Thị vợ Sùng Hiền hầu và phu nhân Nguyễn Thị vợ Lý Sơn đều thuộc dòng họ nội, ngoại của Thái hậu và được Thái hậu đưa vào cung gây dựng cho từ khi người được đức Thánh Tông ban ân sủng…

Nói rồi, Thái hậu bỗng đổ sập xuống gối. Bà thở hắt, đầu ngật ra sau, mắt trợn ngược. Thái hậu băng.
Nhân Tông đặt bàn tay vuốt mắt mẹ. Vuốt ba lần, mắt vẫn mở trừng trừng. Đến khi ngài ra lệnh cho Thái bảo Lý Trác đuổi hết mọi người ra ngoài. Chỉ còn một mình với thi hài Thái hậu, ngài khóc rưng rức, khấn tên Dương Thái hậu. Khấn lần thứ nhất, mắt vẫn không khép. Nhân Tông quì xuống khấn lần thứ hai, thi hài Ỷ Lan Thái hậu giật mạnh, gần như chồm dậy. Khấn lần thứ ba, thi hài từ từ nằm xuống, không vuốt mà mắt tự khép lại. Nhân Tông ngửa đầu khóc ba lần: "Chẳng lẽ có đức Phật thật sao?", và bước ra ngoài. Hữu ty và lễ quan đã răm rắp sắp đặt hậu sự. Thái hậu được dâng tên thuỵ là Phù Thánh Linh Nhân Hoàng Thái Hậu.

Vua Nhân Tông buồn đau khôn xiết, nhất nhất làm theo lời mẹ, ngay cả việc hoả táng thi hài và đem chôn sống ba người thị nữ đã tận tuỵ hầu hạ Thái hậu hết sức chu toàn. Một của Linh Nhân táng ở Thọ Lăng phủ Thiêm Đức. Xung quanh ngôi mộ lộng lẫy đào ba chiếc huyệt. Ba thị nữ được xốc nách dìu tới, đẩy xuống huyệt. Trong tiếng khóc nghẹn xé ruột của những người bị cưỡng phải lìa bỏ xuộc sống, mộ đoàn tăng ni tay lần tràng hạt, tay cầm phướn đi rắc nước thiêng xuống mộ và rưới lên đầu những người bị chôn sống. Trong lúc đó, những tảng đất được lấp dần đến bàn chân, đầu gối, bụng và cổ kẻ xấu số. Khi đất lấp đến cằm, những người xấu số không thể chửi rủa được nữa, miệng chỉ còn ngớp ngớp như cá mắc cạn và đôi mắt muốn nứt tròng để lộ vẻ căm hờn. Để hoàn tất công việc, người ta bỏ vào miệng mỗi người một đồng tiền rồi lấp kín đầu. Lúc đó, những người đứng gần đấy vẫn thấy ngôi mộ sống giẫy lên rùng rùng và tiếng ằng ặc vọng lên một cách yếu ớt từ dưới đất.

Thái giám vẫn nhớ, sau khi Thái hậu mất, giông bão trong triều nội khởi phát. Các hoàng thân đều hậm hực ngăn cản việc lập Dương Hoán làm Thái tử, lấy cớ rằng cậu bé ốm yêu, trông không giống người thường, lại còn quá trứng nước. Đức hoàng thượng đã cao tuổi, chẳng may có mệnh hệ nào thì vua còn nhỏ như vậy làm sao có thể cai trị thiên hạ, giữ bền xã tắc? Các quan trong triều người phò Dương Hoán, kẻ kết bè với các hoàng thân.

Cậu bé hai tuổi Dương Hoán đã được đưa vào cung nuôi dạy cùng con trai các vương hầu khác. Có lần cung nữ chuyên hầu hạ nâng giấc cho Dương Hoán đang lúc nửa đêm bỗng hét ầm lên khiếp sợ. Thái giám, thị vệ hốt hoảng chạy tới. Cảnh tượng kinh hoàng trước mắt: Một con rắn lục màu xanh lẹt đang quấn quanh cổ Dương Hoán, vươn cổ định mỏ vào thái dương. Dương Hoán vẫn ngủ say. Cung nữ thì đang run lẩy bẩy trong góc phòng, khiếp đảm muốn ngất. Thái giám thị vệ cuống cuồng không biết bằng cách nào bảo toàn tính mạng cho cậu bé.

Cái lưỡi nhọn ghê tởm của con rắn độc hạ thấp sát thái dương cậu bé. Vòng cuốn quanh cổ cậu bé lỏng dần, để chỗ cho cái cổ lấy đà vươn cao chực mổ xuống. Đám thị vệ đứng lặng vì bất lực. Thị nữ ngất xỉu đi.

Bỗng Dương Hoán mở mắt. Bàn tay cậu bé đưa lên, đặt vào đúng mõm con rắn xanh. Đám thị vệ thét lên một tiếng kinh hoàng, nhắm mắt lại.

Đến khi mọi người chung quanh mở mắt, thì thấy Dương Hoán đang chơi đùa với rắn. Con rắn lục với nọc độc khủng khiếp giờ đây đã nằm ngoan ngoãn trong lòng bàn tay hồng hồng nhỏ xíu!

Tổng Thái giám nhớ, lúc ấy mắt Dương Hoán ánh lên vẻ gì đó rất khác lạ. Lần thứ hai, ông lại tự vỗ đầu mình, cố nhớ lại xem cái diện mạo này đã gặp ở chốn nào.

Đức Nhân Tông giao cho Tam pháp ty điều tra vụ con rắn lục nhưng không sao ra manh mối. Dẫu vậy, nhiều kẻ tâm phúc trong gia đình hoàng thân quyền cao chức trọng ở triều đình đã biến mất khỏi kinh thành.

Ba tháng sau khi Thái hậu mất, mùa đông, tháng Mười, vua Nhân Tông lệnh cho quần thần văn võ ngự đến hành cung Khải Thụy xem gặt và cày ruộng tịch điền. Hữu ty lập trước ở đây một đàn tế Thần nông. Lễ dâng lên Thần nông một mâm xôi trắng, một thủ lợn to, bốn chân giò… Đám thợ gặt chờ sẵn trên ruộng tung hô vạn tuế. Những lượm lúa nặng trĩu hạt đầu tiên được dâng lên ngài ngự. Vua nâng cao lượm lúa trĩu hạt vàng, khấn lạy bốn phương tám hướng tạ ơn trời phật. Lượm lúa truyền qua tay các hoàng thân quốc thích, bá quan văn võ đại thần. Cuối cùng, lượm lúa đến tay quan Trung thư thị lang để chuyển cho đám nông phu chờ sẵn bên cối giã. Đám nông phu kính cẩn tuốt từng hạt lúa, giã kỹ thành gạo trắng bong để nấu nồi cơm cúng đặt lên bàn thờ Thần Nông. Lát nữa, tàn một tuần hương, các quan Thái bốc, chiêm tinh sẽ hạ mâm cơm gạo mới xuống để nhìn móng chân giò lợn mà đoán trước vụ mùa sắp tới được, mất…

Dùng xong bữa cơm đạm bạc dọn ngay trên bờ ruộng với các lão nông, vua Nhân Tông cởi áo bào, khoác lên người bộ áo tơi nón lá. Giữa khoảnh ruộng phẳng, một chiếc lưỡi cày sáng choang, tay cày buộc khăn lụa đỏ và con trâu cộ đôi sừng cong vút đang chờ Hoàng thượng. Theo lệ đặt ra từ đời tiên hoàng Thái Tông, đức vua đi cày cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt, và nêu gương cho nông phu trăm họ.

Năm nay, khác với mọi năm, Đức vua mở đường cày cắt ngang ruộng rộng rồi bất chợt họ trâu, cắm cày dừng lại giữa luống, phất tay lệnh cho Thái bảo Lý Trác. Lý Trác bước lên bậc cao của hành cung, cung kính nâng tờ chiếu viết trên vuông lụa màu vàng, cao giọng đọc:

- "… Trẫm nay cai trị muôn dân mà lâu không có con nối, ngôi báu của thiên hạ biết truyền cho ai? Vậy nên trẫm nuôi các con trai của Sùng Hiện, Thành Khánh, Thành Quảng, Thành Chiêu, Thành Hưng để chọn người nào giỏi thì lập làm Thái tử. Khi Thái hậu băng, người đã có di chiếu, Dương Hoán được lập làm Thái tử. Nhưng do trong triều còn có nhiều kẻ không phục, nói Dương Hoán còn trứng nước. Trẫm thật đau lòng khi vì một ngôi Thái tử mà có thể dẫn tới chuyện không hay trong cốt nhục. Vậy nay, thể lòng các hầu, nay nhân lễ tịch điền, ta trao việc chọn lựa Hoàng Thái tử vào tay Trời, Phật…!".

Đám nội giám lễ mễ bê ra năm chiếc tráp lớn đặt trước mặt năm cậu con trai của các chức hầu. Mở tráp, bầy ra la liệt trước mặt các cậu bé: cung kiếm đao thương, lụa là gấm vóc, nghiên bút kinh sách… cho chí đến những vật dụng thường ngày như son phấn gương lược, rượu chè, kẹo bánh, hoa quả…

Các hoàng thân quốc thích văn võ đại thần đều hồi hộp. Mọi người hiểu rằng Hoàng thượng đang dùng thuật "sở nguyện" (để con trẻ tự lựa chọn đồ chơi theo ý thích mà đoán được ý nguyện, tương lai của đứa trẻ sau này) để xét nết, chọn người trao ngôi báu.

Mấy cậu quý tử chẳng đợi lời cha mẹ, lập tức sà vào đống đồ vật rực rỡ trước mặt. Đứa nhặt bạc vàng. Đứa cầm cung kiếm. Đứa bới hoa quả vải vóc… trong sự hồi họp lo lắng đến nghẹn thở của các bậc cha mẹ đứng vây quanh.

Riêng chú bé Dương Hoán cứ dửng dưng trước đống phẩm vật ngổn ngang trước mặt. Mặc vợ chồng Sùng Hiền hầu vỗ tay dậm chân thúc giục. Chú bé cứ ngồi nguyên vậy một lát, như tâm trí non nớt còn để mãi tận đâu đâu. Đến lúc chiếc trống nhỏ trong tay quan Thái bảo sắp dóng lên một hồi chín tiếng báo thời gian đã hết, đức Hoàng thượng cùng các quan đại thần xem xét sở nguyện của mỗi đứa trẻ mà quyết định ngôi vị Thái tử về ai… thì cậu bé Dương Hoán bỗng chống tay đứng dậy. Cậu chẳng nhìn ai, chẳng nói chẳng cười, cứ thế lẫm chẫm lần tường bước đi theo đường cày của đức Nhân Tông vừa mở. Loạng choạng vấp ngã. Lại chống tay đứng dậy. Mãi đến khi đến được gần đức vua, cậu bé mới một lần nữa cúi xuống, bàn tay nhỏ bé nhặt lên một hòn đất, toét miệng cười, và giơ tay cầm hòn đất về phía Hoàng thượng như để khoe, rồi đưa lên miệng.

Mọi người ngơ ngác. Còn vợ chồng Sùng Hiền hầu thì mặt xanh mày xám chỉ chực chạy tới bế xốc con lên để tránh được cơn thịnh nộ của đức Hoàng thượng về tội bất kính của thằng bé.

Nhưng nhìn kìa, từ phía đàn tế Trời, Phật, các quan Thái bốc đã lật đật bước tới quỳ thụp xuống trước mặt Hoàng thượng:

- Bẩm tâu Bệ hạ… Được vàng bạc châu báu, cung kiếm gươm đao… thì dễ… Được đất mới là triệu được nước… Nhờ phúc ấm của các đấng Tiên hòang, phúc ấm của Thái hậu, giang sơn nhà Lý ta có ngôi vị Thái tử rồi…!

Nhân Tông buông cày, đứng giữa luống đất vỡ dở cất tiếng cười ha hả.

Chạy theo hầu bên Hoàng đế, lúc đó viên Tổng Thái giám chợt nhìn vào mắt Dương Hoán. Một niềm thoả mãn tột cùng, của một người có quãng đời từng trải, bỗng hiện lên ràng rõ trong mắt cậu bé. Khiến cậu bé hai tuổi bất chợt già hẳn đi như một người dàn dạn sương gió, thấm đẫm tham vọng trong cõi đời. Thái giám giật thót người. Nhưng tĩnh khi trí nhìn lại, thấy Dương Hoán chỉ là cậu bé hai tuổi với cái miệng bê bết đất.

Đêm đó, từ khu ruộng tịch điền Khải Thụy nhìn lên, vòm trời xanh đen sâu thẳm. Mặt trăng có hai quầng.
*
**


Được nuôi dưỡng từ nhỏ trong cung cấm, hơn mười năm trời sống trong cái không khí âm âm tranh tối tranh sáng và những tiếng thì thầm to nhỏ nếu không là chuyện dâm bôn khơi gợi thì cũng là sự mỉa mai dèm pha lẫn nhau của đám cung nữ nịnh hót ăn không ngồi rồi và lũ nội giám mặt trắng béo phị, Thái tử Dương Hoán không lạ lẫm gì với những chuyện mây mưa chăn gối. Đám nội giám bất lương còn thay nhau bày vẽ ra những việc nam nữ gợi sự tò mò ham thích để lấy lòng Thái tử hòng mưu sự ân sủng sau này. Chưa kể, trước mặt Thái tử là đấng Phụ hoàng tuổi đã cập kề sáu mươi mà chung quanh vẫn nào hậu, nào phi với hàng chục hàng trăm cung tần mỹ nữ ngày đêm khêu gợi.

"Tum… tum…" tiếng trống bạc theo võng từ xa vẳng tới.

Trước viên Tổng Thái giám, cặp mắt lộ quang sáng chói của Thần Tông luôn bút rứt. Từ khi là Thái tử Dương Hoán đến lúc trở thành đức vua Thần Tông, cậu bé mười ba tuổi có thể thoả thích ngụp lặn trong dòng hoan lạc mà không bị ai ngăn cấm. Và ngoài hậu, phi và các phu nhân có biết bao nhiêu vưu vật ngoan ngoãn khác được kiệu được võng nối nhau dẫn đến trước long sàng này dâng hiến thoả mãn cơn khát của vị vua niên thiếu. Nhưng kỳ lạ, càng uống lại càng thấy khát. Và giữa những cơn khát bỏng rẫy nối nhau hành hạ trong tâm thần và thể xác của Thần Tông, có lúc ngài lờ mờ, nôn nao nhớ lại một điều gì không rõ…

Thần Tông hoàng đế nhỏm người dậy. Trái với lệ thường vẫn chờ cho tiếng trống nối tiếp dồn dập báo võng đến gần, võng qua cửa, võng đến dâng hiến trước long sàng, lần này Thần Tông hấp tấp xỏ chân vào đôi hài thêu chim phượng mà cung nữ vừa vội quì xuống đặt vào đôi chân bé nhỏ trắng lạnh của đức vua. Chợt ngài như trông thấy ngọn lửa đỏ rừng rực toả khói đen lên vòm trời Na Ngạn hơn hai tháng trước cùng lẫn với tiếng sóng nước, tiếng giông bão gầm gào suốt trên dải sống Gâm dài dặc trong một ngày đầu hè hơn bốn mươi năm trước.

Võng đã tới trước long sàng. Tiếng trống ngừng bặt.

Ngạn La được dìu ra khỏi võng.

Thần Tông kêu thảng thốt. Mắt dán chặt vào Ngạn La.

Tổng Thái giám cũng không thể ghìm nỗi tiếng kêu thán phục. Đang đứng trước long sàng kia, không rõ là người hay nữ thần Lạc Thuỷ? Phảng phất vẻ mèo hoang.

Da dẻ thơm tho. Vẻ mặt luôn biến ảo. Lúc sầu dung mãn diện. Lúc mãn diện quang thái. Lạ lùng ma quái. Trán có nốt ruồi. Dung nhan đầy vẻ cô tịch. Người mảnh khảnh như gió thổi bay. Nàng đến, mà có cảm giác đã đem tất cả cái ánh sáng vàng cháy rực của chiều tà rắc vào hoàng cung. Vậy mà cử chỉ thì quê kệch vụng về. Bàn tay và đôi chân hơi thô nhưng đối cánh tay và đôi chân thon đến nuột nà không giấu được xiêm áo lụa…

Tổng Thái giám hồi lâu mới trấn tĩnh được, khẽ nhắc:

- Tân cung nhân! Mau quì xuống cảm tạ ân sủng của Hoàng thượng.

Ngạn La không quì. Nhìn thấy Thần Tông bé nhỏ trong chiếc áo gấm giản dị, xung quanh không có lính tiền hô hậu ủng, gươm giáo sáng loà, phút chốc Ngạn La thấy thích thú, như tìm thấy một cậu bé cùng trang lứa để đùa nghịch. Quên hết giàn thiêu, quên hết lãnh cung. Đôi mắt mèo hoang của nàng nhìn xoáy vào đức vua, rồi nhoẻn cười:

- Lần này, tôi mới nhìn rõ Vua…

Tổng Thái giám tái mặt thét:

- Hỗn. Khi quân! Bay đâu, mau tống giam vào ngục.

Vua cau mày. Ngạn La không để ý, cái nhìn mà mị khiến Thần Tông bị thôi miên. Thần Tông thốt nhiên phì cười. Dường như một ngọn gió mát lành vừa thổi qua bầu không khí đặc sệt tình dục của cung điện và của long sàng.

- Nàng thật kỳ lạ. Đừng sợ lão già kia. Lão phải nghe lệnh ta…!

Tổng thái giám hậm hực quay đi nơi khác để tránh mặt.

Lát sau, thấy trong nội tẩm vẻ im ắng, cực chẳng đã, Tổng Thái giám phải rón rén bước chân, nghiêng đầu ghé vào. Tổng Thái giám trợn mắt há miệng.

… Thả đỉa va va
Chớ bắt đàn bà
Làm tội đàn ông…


Tiếng cung nhân Ngạn La lanh lảnh cất lên, như tiếng ngọc rơi. Còn Thần Tông thì vừa chạy đuổi vừa hát theo từng lời của Ngạn La, thích chí cười khanh khách. Ngài nhẩy cả lên long sàng, làm chăn gối lộn tùng phèo. Vui quá! Khác hẳn cung cách khép nép, lúc nào cũng làm ra vẻ thướt tha yểu điệu của tất cả các hậu, phi, cung nữ và tiểu thư ngài từng biết. Thần Tông lớn tiếng, vừa chạy vừa cười, hát theo Ngạn La:

… Cơm trắng như bông
Gạo tiền như nước
Đổ mắm đổ muối…


Viên Tổng Thái giám không còn tin ở mắt mình nữa. Trong kia, sau một hồi chạy đuổi, đức Thần Tông thua cuộc bị bắt, đang phải khom lưng làm ngựa cõng cung nhân Ngạn La. Cô bé hai chân quặp ngang bụng, hai tay bíu lấy chỏm tóc của Thần Tông, miệng đếm; "một… hai…!" theo từng bước đi của Hoàng thượng. Được mấy bước, Thần Tông không chịu nổi sức nặng trên lưng, ngã ngồi xuống. Ngạn La mất đà ngã lăn kềnh ra tấm thảm mầu huyết dụ.

Tổng Thái giám hoảng hốt chạy vào nâng Ngài ngự dậy. Còn cung nhân Ngạn La thì cứ nằm đó, mặt xịu ra dằn dỗi. "Chao ơi… Không còn phép tắc gì nữa… không còn phép tắc…!". Viên Tổng Thái giám kêu lên. Rồi Thái giám chỉ tay vào mặt Ngạn La:

- Nhà ngươi đáng tội chết chém… Đáng tội chết thiêu…!

"Chết thiêu!" Ngạn La nhỏm dậy, bất giác nhắc lại lời viên Thái giám. Nỗi sợ cùng cực khiến cô bé rúm người lại, hai tay chống trên thảm, lùi xa. Lùi xa Thần Tông:

- Chao ơi…! Chết thiêu…! Giàn thiêu…!

Nhìn vẻ hốt hoảng của cô, Thần Tông mỉm cười. Bây giờ ngài không còn là một cậu bé nữa, mà là một người đàn ông từng trải. Thần Tông xua viên Tổng Thái giám lui ra, rồi cúi xuống, thì thầm vào tai nàng:

- Hãy xưng là "thiếp" cho phải phép, Ngạn La.

Một cơn sóng thèm khát dữ dội đang dâng lên khiến toàn thân đức vua run rẩy. Ngài cúi xuống, bắt đầu mở những dải buộc trên xiêm y của nàng. Một làn da nâu óng mượt bất chợt hiện ra. Điều làm Thần Tông nhìn thấy dưới mấy ngón tay mình khiến Thần Tông nghẹn thở.

Tươ tắn như một đoá hoa nhỏ xíu. Ngọt ngào như mật, chiếc rốn nhỏ màu chu sa của nàng duyên dáng lũm xuống trên chiếc bụng thon nhỏ.

"Chu sa đỗ tế". Một người đàn bà có chiếc rốn màu chu sa là ước mơ muôn đời của các bậc đế vương. Hàng trăm năm mới có một người đàn bà như thế. Người đó sẽ là niềm khoái lạc vô tận và đem lại may mắn cho ngôi báu. Đã nhiều lần khi còn là Thái tử Dương Hoán, lũ Thái giám và bọn thị vệ đã thì thầm bên tai Ngài như thế.

Thần Tông không tin ở mắt mình.

Rồi, say đắm, Thần Tông cúi xuống, định ghé môi lên đoá hoa ma mị đó.

Gần nữa, và gần nữa. Một làn hương mang vị đắng của cỏ non, của mật ong, của hoa sen cuối thì, phả lên từ da thịt nàng. Một nỗi hoan lạc đê mê đang dìu dặt tới…

Nhưng vua bỗng giật bắn người, chồm dậy, mặt tái đi vì sợ hãi.

Ngài nhìn thấy trên chiếc rốn đó gương mặt của Tiên hoàng Nhân Tông.

Cái gương mặt ngài nhìn trước khi hấp hối, đã bị biến dạng vì bệnh tật. Cái nhìn ảm đạm và đe doạ chiếu thẳng vào mắt Thần Tông.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 11

NIỆM XỨ


Thuận Thiên năm thứ hai (1129). Mùa Xuân. Tháng Giêng. Ngày Thìn.

Vua cho mở hội khánh thành tám vạn bốn nghìn bảo tháp ở gác Thiên Phù.

Cách đây ba tháng, ngựa trạm đã phi suốt ngày đêm mang lệnh vua cấp báo các ngôi chùa trong nước truyền cho tất cả các sư sãi phải về kinh dự đại lễ. Chuẩn bị hàng trang, dặn dò chú tiểu đóng cửa cho chặt, tay nải khóac chéo vai, một tay cầm gậy trúc, các sư sãi lên đường về kinh. Các nẻo đường trong nước nhan nhản những vị sư khất thực gầy guộc trong chiếc áo vàng lấm bụi qua vai đi miên man. Đôi khi, người ta bắt gặp xác của một vị sư vô danh khô quắt dưới bóng cây, trên gương mặt vẫn ngưng đọng nụ cười mãn nguyện của người tin rằng mình đang lên đường tới cõi Phật.

Để có tám vạn bốn nghìn bảo tháp, triều đình đã huy động vô kể thợ gốm, thợ ngoã ròng rã cả năm trời trước đó để nặn ra những ngôi tháp cao chừng năm tấc, đem nung bằng lửa rơm và than củi trong những chiếc vò khum khum mà mọi kích thước đều do nhóm thợ cả đo đạc, tính toán cẩn thận… Khi ánh lửa tàn, các ngôi tháp xuất lò có màu đỏ như son. Những ngôi bảo tháp được đặt trên gác Thiên Phù khiến cả ngôi gác lộng lẫy, hắt bóng duyên dáng xuống dòng sông uốn lượn. Những nhà sư đến từ khắp mọi miền ngồi la liệt tụng kinh gõ mõ cầu cho sự thịnh vượng của nhà Phật, mừng thiên hạ thái bình, quân của triều đình bách chiến bách thắng, cầu chúc cho đức hoàng đế Thần Tông sống lâu muôn tuổi.

Kiệu vàng của Thần Tông đã đến gần chân gác Thiên Phù. Trong tiếng tiền hô hậu ủng của hàng ngàn quân hộ tống và đoàn tuỳ tùng, nhất loạt sư sãi cùng háo hức ngẩng đầu nhìn về phía đức vua. Thần Tông đã sang tuổi mười bốn. Gương mặt xanh xao với đường sống mũi thẳng như một lưỡi dao. Một vành ria mờ mờ hiện bao quanh môi mỏng luôn mím chặt. Đôi mắt ngài ngự nay hiền như mắt đàn bà. Và thỉnh thoảng đôi mắt đó lại thoắt rờn rờn lên như sóng nước.

Kiệu dừng. hai thị vệ đỡ hai tay ngài ngự xuống kiệu. Quan quân, dân chúng và tăng ni cúi rạp mình trong tiếng hô vang dội: "Đức hoàng đế vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế…!". Tim Thần Tông đập rộn. Tột đỉnh vinh hoa quyền lực là đây.

Cố nén niềm kiêu hãnh trong lòng, Thần Tông giơ tay, khẽ nói:

- Bình thân! Tại cuộc đại lễ này, ta ở dưới chân đức Phật và chỉ ngang hàng với chú tiểu nhỏ kia!

Nói rồi đức vua thong thả dạo bước giữa những hàng dài như vô tận các tăng ni phật tử đang ngồi xếp vòng tròn tay lần tràng hạt, tay gõ mõ, miệng tụng kinh. Chưa bao giờ lòng thành kính với đức Phật lại được bầy ra rờ rỡ như trong đại lễ này.

Thần Tông bước đi giữa miên man những màu áo cà sa. Miên mang tiếng gõ mõ đọc kinh rầm rì như biển sóng lúc nửa đêm khiến những trái tim cứng rắn nhất cũng trở nên mềm dịu. Thần Tông như được ai đó bỏ vào trong nôi và đu đưa vào giấc miên viễn.

Con đường nào tít tắp xa trước mặt chợt hiện? Mọc đầy đá tai mèo màu tím. Cái ánh sáng nhàn nhạt này không rõ của ngày hay của đêm. Mà văng vẳng tiếng lục lạc rung từ đầu tích trượng của tỳ kheo. Người đàn ông gầy guộc vai đeo tay nải, tay cầm bát gỗ khất thực trên đường thiên lý. Con đường không soi tỏ đi đâu về đâu. Thần Tông không thể cắt nghĩa nổi, tại sao con đường đó cứ bám chặt lấy tâm trí ngài.

Trong giấc mơ, bất kể ngày hay đêm, Thần Tông đều thấy hiện lên gương mặt của một thiếu nữ. Gương mặt nhạt nhoà. Chỉ thấy một đôi mày dài và có đuôi như lá. Không khóc mà dường như ấn nấp đâu đó trong khoé mắt là những giọt nước nặng trĩu. Đẹp và buồn miên man khiến trái tim yếu ớt của ngài thổn thức. Mỗi lần mơ thấy gương mặt ấy, Thần Tông đuổi theo. Gương mặt cứ chập chờn xa dần. Nếu có thi thoảng ngài đuổi kịp, thì gương mặt thiếu nữ ấy biến mất, lồng vào đó là một gương mặt có cái mõm nhọn, phủ một lớp lông tơ mượt mà.

Thần Tông thức dậy, thấy tràn ngập xung mình mùi ngọt nhàn nhạt, man mát như hương hoa lúa. Ngài chép miệng, cố nhớ lại xem đó là mùi gì. Không rõ. Chỉ biết đó là mùi khiến ngài khát. Khát lắm. Thái y đến để phân định xem mùi gì khiến đức vua đang nhớ, đang khát đến hành hạ thể xác. Tất cả các thứ mang mùi ngọt nhàn nhạt được mang đến. Không phải. Mãi về sau, khi nhũ mẫu mang đến một ít sữa đàn bà mới vắt, đựng trong bình ngọc, Đức vua nhìn thấy mới tỏ vẻ háo hức, nói: "Hình như ta nhớ thứ này". Rồi vồ lấy bình ngọc uống cạn. Sau đó đẩy bình ra: "Được. Nhưng chưa hẳn là thứ ta tìm kiếm. Nhưng từ nay, cứ đúng ngọ, hãy đem cho ta!".

Từ đó, cứ đúng ngọ, một bình sữa đàn bà mới vắt được đặt lên mâm ngự thiện. Bình sữa này được Thái y tuyển từ mười hai bình sữa của mười hai người đàn bà sinh con so khoẻ mạnh, mới được bứt ra khỏi trẻ sơ sinh, mang thẳng vào cung, ngày ngày được tẩm bổ sâm nhung quế phụ, chỉ để bữa vắt sữa vào bình ngọc đem dâng Vua.

Một lần, Đức vua đòi xem mặt những nô tỳ đã vắt sữa cho vua uống. Nhìn khắp lượt mười hai gương mặt, rồi Vua dừng lại ở một người đàn bà có đôi bầu vú nhỏ, nhọn hoắt, ở giữa hai bầu vú có ba sợi lông dài vàng óng, mắt tròn, mặt nhọn có nhiều lông tơ như mặt dã nhân. Vua đặt tay vào đôi vú, ve vuốt ba sợi lông vàng, nhìn lâu cái gương mặt đó, như nhìn ra cố nhân: "Từ nay, ta chỉ uống sữa của người này". Mười một người đàn bà khác được trả về nhà.

Mỗi ngày, người đàn bà mặt nhọn được chăm bẵm, tẩm bổ những món lợn sữa, trước giờ ngọ chừng ba khắc bắt đầu vén áo, ghé đầu vú vào miệng bình ngọc. Một dòng sữa trắng đục, hăng hơn sữa người thường phun thành từng tia xuống đáy bình. Vua uống sữa, đã cơn khát, khỏi ốm. Mỗi lần Thần Tông uống cái thứ sữa đựng trong bình ngọc, thì đỡ nôn nao. Nhưng vẫn mường tượng thiếu một cái gì đó. Mỗi lần ghé môi vào mình sữa, ngài dường như thấy những giọt sữa rỏ xuống từ một bầu vú ấm và lông lá.

Giấc mơ viên của Thần Tông tiếp nối, trong khi chân vẫn đưa ngài qua những dòng sư sãi đang cúi đầu tụng kinh gõ mõ.

Chợt một tiếng mõ lạc lõng, rơi ra ngoài giàn đại hợp của muôn ngàn tiếng mõ đnag râm ran trong buổi lễ, rót thẳng vào tai Thần Tông. Tiếng mõ đó đứng riêng một sắc, lúc trầm đục như thúc tức vỡ ngực, lúc trong trẻo như tiếng hạc bay, lúc như khóc như than, lúc rủ rỉ như ru êm. Có một sức trì níu ma quái nào đó kéo đôi chân ngài vô tình lựa giữa ngàn ngạt những tăng ni để hướng về phía tiếng mõ.

Thần Tông đưa mắt tìm kiếm.

Ngài chạy giữa hàng hàng lớp lớp những bóng áo cà sa để nửa vai trần, đầu trọc, đang ngồi xếp bằng theo thế liên hoa, đang nao nức tụng kinh. Ngài cuống quýt tìm nơi phát ra tiếng mõ.

Thần Tông chạy ra xa tít. Đám cận thần và lũ thị vệ áo bào vướng víu, võ phục nặng nề khó khăn lắm mới kịp theo bước chân ngài ngự. Khi họ dừng lại, thấy đức vua đứng sững trước một người bé nhỏ.
Đó là một sư bà ngồi ở cuối dẫy cuối cùng. Cái đầu trọc cúi xuống. Những sợi tóc mọc thóang điểm lấp lánh như bạc hắt ánh sáng lên gương mặt chăm chú đang hết sức căng thẳng của Thần Tông. Dáng cúi đầu thật yêu kiều. Cái bàn tay lần tràng hạt thon mềm. Chỉ nhìn cũng biết chúng mát như lụa. Bàn tay phải quấn quýt lấy chiếc dùi mõ và bàn tay đó như run rẩy gõ lên từng chuỗi âm thanh như hờn khóc. Đôi hàng mi nặng trĩu rủ xuống trông như ngủ. Dường như người gõ mõ đang cử động chiếc dùi trong một cơn mê, với trái tim đang run lên nối nhịp với chiếc mõ vô tri.

Thần Tông không bước nổi. Nặng như ngàn cân đeo đầu mũi chân. Ngài dính chặt xuống mảnh đất trước sư bà.

Thần Tông đứng rất lâu, mồ hôi nhỏ giọt ướt cả mặt đất mặc dù có hai tiểu thái giám cầm quạt phe phẩy hai bên.

Tiếng mõ khiến tim ngài đau nhói. Cơn đau tim này không bao giờ có trong lồng ngực của một đứa trẻ mười bốn. Thần Tông cảm thấy như mình đã sống qua nhiều kiếp, oải mình vì bể dâu.

Một người đàn ông từng trải đang hiện diện trong ngài, ngắm nhìn người đàn bà đầu trọc lạ lẫm lạc lõng với khung cảnh đô hội và trước tám vạn bốn nghìn bảo tháp đang đỏ rực toả sáng.

Dường như không Phật, không trời, không vua, không trần gian trong cái hàng mi nặng trĩu sập xuống như then khoá kia.

Và ngài háo hức muốn được nhìn tận mặt. Được nhìn vào đôi mắt ẩn sau hàng mi khép như ngủ kia. Nhưng những tiếng rộn rịch của đám tiền hô hậu ủng nãy giờ đã kịp đến tề tựu xung quanh vua trước mặt, sư bà vẫn không ngẩng đầu, vẫn như chìm vào một giấc ngủ say đắm từ thuở hồng hoang.

Hàng trăm đôi mắt đổ dồn vào chỗ đức vua và sư bà. Mọi người chưa bao giờ thấy sự lạ như vậy. Bởi dẫu là sư bà hay ai đi nữa thì khi đức vua có biệt nhãn, người đó buộc phải giữ lễ, phải ngưng tụng kinh, phải quì mọp xuống, chắp hai tay xưng tụng đức vua. Khi đức vua cho phép bình thân thì mới được quay lại việc tụng kinh gõ mõ.

Viên thị vệ theo hầu vua nổi giận thét:

- Sư bà chùa Trầm… Ngài ngự giáng lâm… sao sư bà không mau mau quì lạy?

Sư bà vẫn không ngẩng mặt.

Viên thị vệ rút soạt kiếm ra khỏi vỏ. Mũi kiếm lách dưới cằm sư bà:

- Mụ này hỗn xược! Thất lễ! Muốn ta đưa mụ đi đường tắt lên Niết bàn phải không?

Viên thị vệ tay giữ kiếm không rời khỏi cổ sư bà, mắt nhìn Thần Tông chờ đợi. Nếu nhà vua gật đầu, hoặc chỉ cần nhìn lảng sang chỗ khác, lưỡi kiếm sắc như nước lập tức sẽ đưa ngang, cái cổ mảnh mai sẽ đứt lìa và máu của sư bà sẽ phun lên làm đỏ thêm những ngọn tháp.

Nhưng Thần Tông lại không hề tức giận. Ngài hạ giọng như thì thầm:

- Sư bà! Người hãy cho ta nhìn mặt.

Lúc đó sư bà chùa Trầm mới như sực tỉnh khỏi giấc ngủ, vụt ngẩng đầu lên.

Đôi mắt lập tức chiếu rực vào mắt Thần Tông.

Đôi mắt dài như lá, không khóc mà sũng lệ khiến cho đôi hàng mi không phải là bờ bến mà chỉ như những cánh cửa khép mở đưa người ta đến một cõi phiêu bồng xa thẳm.

Đôi màu khói lam ủ dột như chau. Đôi mắt ấy hắt cái ánh sáng kỳ lạ khiến ngài ngự rùng mình và trái tim như tuột rơi đâu mất. Mùi da thịt thơm ngát như mùi sen chớm nở thoảng lên khiến Thần Tông sững sờ. Vẻ quyến rũ vô tình của sư bà khiến cho người ta quên mất hai nếp nhăn khắc khổ đã hằn vết bên khoé miệng tuyệt đẹp. Thần Tông bất giác tự hỏi: "Sư bà bao nhiêu tuổi nhỉ? Hai mươi. Năm mươi… Hay đã thiên thu…?".

Tên thị vệ cũng ngẩn người nhìn, thẫn thờ buông kiếm.

Lưỡi kiếm tuột từ cổ xuống, đậu hững hờ trên vai sư bà.

- Đức hoàng đế vạn tuế…!

Sư bà khẽ nói trong miệng, giọng buông thõng và đôi hàng mi lại đổ sóng soài như cố che giấu điều gì. Đôi bàn tay như lụa lần tràng hạt. Tiếng mõ lại đều đều vang lên. Nhưng không giấu được sự run rẩy.

Thần Tông bỗng cảm thấy như say sóng.

Dáng vẻ lạ lẫm và mùi hương thoảng lên từ da thịt của người đàn bà luống tuổi đã tự giam mình trong cửa Phật lâu ngày khiến ngài cứ thấy da diết nhớ. Đang đứng trước mặt bà mà lại nhớ. Dường như cái giấc mơ cố hữu đang trở lại.

Có phải các gương mặt thiếu nữ mà ngài rượt đuổi mỗi đêm? Nhưng đây lại là một sư bà luống tuổi! Không rõ nhớ gì. Nhưng thổn thức và trống vắng mà cồn cào lo sợ. Sợ giây phút cái hình ảnh đang hiển hiện trước mặt kia bỗng chốc sẽ tan biến vào thinh không như một ảo giác.

Thần Tông bỗng hạ giọng, như nài nỉ:

- Sư bà động Trầm, người có thể về trông nom việc tụng kinh niệm Phật trong nội cung ta được chăng?

Sư bà vẫn không ngẩng đầu.

Thần Tông lại khẩn khoản:

- Nội cung của ta đang cần một người như sư bà để giáo hoá Phật đạo cho các cung nữ.

Lời từ chối bật ra từ lồng ngực rung động:
- Kẻ tu hành xin cảm tạ đặc ân của Đức hoàng đế. Kẻ tu hành này đã quen uống nước suối ăn mầm cây trong động Trầm. Không quen với các nghi lễ quí phái chốn kinh thành…

Thần Tông ngạc nhiên, thoáng sợ:

- Ngươi từ chối ư? Đó là niềm mong ước của cả ngàn tăng ni…

Sư bà vụt nhìn lên, chói chang mắt Thần Tông:

- Đức hoàng đế bỏ qua cho kẻ tu hành này… Lễ sắp tàn. Xin hoàng đế gia ân cho kẻ tu hành này được trở về động Trầm.

Thần Tông lại thêm một lần nài nỉ khiến mọi người chung quanh lại thêm sửng sốt:

- Thôi được… sư bà sẽ về chùa Trầm. Nhưng trước khi sư bà trở về, ta muốn lưu sư bà lại một tuần trăng để cùng đàm đạo đôi điều về Phật pháp…

Thần Tông hấp tấp phất tay áo trở gót không kịp để sư bà từ chối. Khi vua vừa quay mình, từ đôi mắt sóng sánh của sư bà hai dòng lệ trào ra, nối nhau chảy xuống theo những nếp nhăn khắc khổ trên miệng và chảy vào đầu lưỡi, đầy vị mặn.

"Nghiệp chướng!"

Hai tiếng nấc khẽ trong khoé miệng của sư bà.

 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-14 04:02:33huytran>
Chương 12

ĐOẠ XỨ

Má đỏ thầm phai…

Sư bà chùa Trầm quì trước bệ rồng.

Vua Thần Tông nhấp môi vào chén nước sâm từ tay viên Thái giám đứng hầu bên ngài dâng lên mà mắt vẫn đăm đăm vào sư bà. Người đàn bà lạ lẫm vừa rơi xuống từ một đỉnh núi phủ đầy tuyết sương, trên mắt, trên môi, trên đôi vai mỏng còn nồng mặn mùi rễ cây oải hương và gió thổi quấn quyện từ địa ngục.

Ngập ngừng, những lời nói của Thần Tông buông, treo lơ lửng đầu lưỡi:

- Sư bà hãy đem Phật đạo giáo hoá các cung nhân của trẫm!

Những ngón tay dài và mảnh, trong suốt, chắp lại trước ngực. Có thể thấy rõ những mạch máu màu tím đang nhẩn nha chảy, lan toả chút hơi ấm trên mu bàn tay. Mười búp tay tiểu thư hao gầy dưới những móng tay cũng màu tím. Đôi hàng mi sững lặng in bóng lên màu da bạc. Đôi môi đầy đặn như môi Phật, màu trắng. Một bóng tối mờ ảo phủ trên gương mặt. Mong manh. Xa xôi. Không thời gian. Chung quanh ngừng lặng. Vẻ xa hoa của hoàng cung trở nên trơ trẽn trước gương mặt này.

Một nỗi buồn vô cớ thấu vào tận đáy tim Thần Tông.

Sư bà chợt ngẩng đầu, đưa mắt nhìn qua vai Thần Tông. Vẻ hư vô trong mắt bà lóe lên đỉnh điểm một vẻ đẹp không tả xiết. Vẻ đẹp của người đã từng sống và từng chết đi, rồi tái sinh ở thế giới bên kia.

Xa xa, cửa Càn Nguyên điện nhuộm vàng. Hoàng hôn rớt lại trong một vệt ráng chiều thấm máu trên đường chân trời. Thần Tông giật mình nhận ra trong mắt sư bà một ánh lạnh lẽo. Một con thuyền quen lênh đênh trên đại dương trong đêm tối. Với những gỗ những ván ngâm mặn mòi trong nước biển. Không tay chèo không bánh lái, lấy lênh đênh làm bến đỗ. Không ao ước bình yên. Biển cũng trở thành nhạt nhẽo. Giông tố cũng trở thành cợt đùa. Mà những con sóng xô nhanh chỉ là tiếng ru đều đặn giục lênh đênh.

Khẽ nói:

- Kẻ bần ni sợ mình bất túc, tâu bệ hạ. Nơi này không phải là xứ của bần ni. Xứ của bần ni là động Trầm…

Từ trên ngai vàng, Thần Tông cúi nhìn xuống mái đầu cạo trọc mà những gốc tóc nhô lên sớm đã thưa thớt chớm bạc:

- Sư bà bình thân. Ta đã hỏi quan Tây thượng cáp môn sứ về bà. Tiếng tăm về năng lực giáo hoá của sư bà đã được đồn thổi khắp xứ Đoài, về đến tận kinh kỳ. Trẫm vốn sùng đạo, những mong dùng Phật đạo để lấy lẽ từ bi làm phép trị nước.

Sư bà nói mơ màng:

- Các tiên đế vốn là người sùng đạo…

- Phải, trẫm noi gương các tiên đế, lại thêm mong cho khắp thiên hạ không còn kiện tụng tù ngục, nhà nhà cất tiếng âu ca… Muốn vậy, màu cà sa của Phật phải bao trùm khắp cõi phàm. Các tiên đế đã giành lại giang sơn, mở mang bờ cõi. Công lao ấy núi Thái Hằng cũng không thể so bì. Nhưng để được như vậy, máu cũng chảy thành sông… Từng đi kinh lý vùng biên ải, trẫm đã nhìn thấy xương người phơi trắng trên bờ cõi. Trẫm đau lòng khi nhìn thấy cảnh đó. Với Phật pháp, non sông của trẫm sẽ không lặp lại cảnh núi xương sông máu…

Sư bà nhìn vào đôi mắt rực ánh hào quang của Thần Tông:

- Thưa, có phải vì vậy mà vừa mới lên ngôi, tháng Hai năm Mậu Thân ngày Ất Mão, Bệ hạ xuống chiếu tha cho các tù nhân ở phủ Đô hộ. Ngày Nhâm Tuất, người lại xuống chiếu tha cho một trăm ba mươi kẻ bị biếm truất?

Mắt Thần Tông sáng rỡ:

- Sư bà ở chốn hang động, xa lánh phàm trần mà cũng rành việc nước?

Sư bà tiếp giọng đều đều:

- Người còn đi khắp các chùa quán để cảm tạ đức Phật dã giúp cho người chiến thắng quân Chân Lạp ở bến Ba Đầu? Rồi hôm này người lại mở đại lễ khánh thành tám vạn bốn nghìn bảo tháp?

Thần Tông ngạc nhiên lẩm bẩm:

- Kỳ lạ! Bà này sao quá rành rẽ nhất cử nhất động của ta…!

Câu nói đó không qua tai sư bà.

- Tâu Bệ hạ, chẳng có gì lạ… Đầu ngón tay út của Bệ hạ nhấc lên cũng đủ gây mưa móc hay sóng gió trong thiên hạ. Bần ni tuy ngụ nơi thâm sơn cùng cốc nhưng không phải những âm ba chốn kinh thành quyền quí không dội tới. Kẻ xuất gia muốn hành đạo tất phải hiểu việc đời!

"Khẩu khí chẳng phải tầm thường. Mà sao người tu hành này lại cứ toát ra một sự huyền bí khiến ta không thể dằn lòng để rời xa bà ta vậy? Mà bà ta ở độ tuổi có thể sinh ra ta. Cái thân hình có lẽ ngày xưa rất quyến rũ kia đã bị cuộc đời tu hành khắc khổ mài mòn trở nên vóc hạc xương mai. Có một sức hút kỳ lạ ở người đàn bà này. Cái mũi côi cút trên gương mặt. Đôi môi ấy hẳn xưa đã từng sống động và khao khát. Lông mày màu khói nhạt mượt như lụa. Cái cổ cao không thể nào thanh mảnh hơn thế, khi chắp tay cúi xuống hiện rõ vẻ kiêu hãnh của một con ngựa yêu kiều. Trên đầu, làn da trắng xanh chỉ có những chân tóc bị cạo che phủ hắt sáng như toả hào quang…".

Một giấc mơ xa xôi, dịu dàng và cam chịu, khác với sự nôn nóng thường nhật của một ông vua muốn gì được nấy đang manh nha trong lòng Thần Tông. "Không thể hiểu nổi… tại sao giữa muôn nghìn tăng ni Phật tử, ta lại chỉ nhìn thấy bà và lập tức cưỡng bà về cung… Tại sao khi bà ta xuất hiện, mọi thứ xung quanh đều nhạt nhoà, không hiện hữu…". Thần Tông không ngớt ngẫm nghĩ và càng lúc càng thấy lạ trước mình. Ngài chằm chằm nhìn tận mặt của sư bà, dò hỏi, cố đuổi theo một ý nghĩ vô hình vừa loé lên rồi chập chờn trêu cợt bay xa để ngài phải miệt mài theo dõi. Thần Tông quên cả việc đáp lại câu nói của sư bà.

Giai âm trong giọng nói của sư bà vẫn cất lên như tiếng của một ngọn suối đang chảy âm u dưới vòm đá:

- Nhưng tâu Bệ hạ… Xin người thứ lỗi… Lòng nhân đức như trời biển của người thật là đáng trân trọng, làm cảm động đến cả thánh thần. Vậy nên năm rồi nhiều nơi hạn hán ruộng đồng nứt nẻ không có nước cấy cày, người đã trai giới cầu đảo, an chay niệm Phật cầu mưa. Lòng thành của đấng cửu trùng đã cảm động tới Trời Phật. Bệ hạ lại muốn dùng Phật đạo từ bi để giáo hoá chúng sinh khỏi cảnh đầu rơi máu chảy. Điều đó tốt vậy thay!

- Đa tạ sư bà…

- Trước khi Đức Thái Tổ mang cơ nghiệp nhà Lý thì nước Nam ta vẫn là xứ man rợ, Phật đạo có nhen nhóm nhưng chưa phổ độ đến chúng sinh. Cùng với Đức Thánh Tông cho tạo tác văn miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Thất thập nhị hiền, thì Linh Nhân Thái hậu và Đức Tiên đế Nhân Tông đã lập hơn một trăm chùa nguy nga lộng lẫy, Phật đạo ngày càng rạng rỡ…

- Đúng vậy. Nhờ ơn các bậc Tiện hoàng, chưa bao giờ Phật đạo lại được phổ độ rộng khắp như ngày nay!

Sư bà làm cử chỉ gần như phản đối:

- Phải, bây giờ khắp nơi đua nhau xây chùa tạo quán, lũ lượt người người nhập chùa làm tăng ni Phật tử. Đi đâu cũng bắt gặp bóng áo cà sa cầm bát đợi bố thí vàng rực khắp góc chợ sân đình.

- Càng nhiều bóng áo cà sa, vương quốc của ta càng bớt những kẻ ác phạm. Ta đang mong bóng áo cà sa của nhà Phật nhuộm mọi hang cùng ngõ hẻm. Khi mới lên kế nghiệp đế vương ta đã thề cùng trời đất quỷ thần…

- Nhưng chẳng lẽ Bệ hạ không thấy rằng trong vương quốc của Bệ hạ đâu phải đã hết những kẻ ác phạm? Năm ngoái Bệ hạ xuống chiếu tha cho bao kẻ gian ác đáng ra phải trừng phạt tại Đô hộ phủ thì năm nay những kẻ đó lại đang hoành hành làm khốn khổ chúng dân. Năm ngoái Bệ hạ rộng lượng xuống chiếu phục chức cho những kẻ bị biếm truất thì năm nay bọn thamm ô quan lại đó lại đang ngất ngưởng trên chức trọng quyền cao để bòn rút xương tuỷ của dân đen…

Nét mặt Thần Tông cau lại. Mắt ngài đã bắt đầu phóng ra những luồng giận dữ. Sư bà nhận thấy nhưng không nao núng. Đôi mắt vẫn chiếu rọi vào mắt Thần Tông khiến đức vua thấy chói chang. Tổng quản Thái giám đứng hầu bên cạnh đức vua lên tiếng quát khẽ:

- Sư bà… Không được lộng ngôn mạn thượng!

Ánh mắt nộ khí của Thần Tông bắt gặp phải cái nhìn chứa chất nỗi đau đớn mênh mang của sư bà. Trong thoáng chốc, Thần Tông buốt lạnh nhận ra trong đó một nỗi buồn hoài huỷ xót thương cho kiếp người. Và rực lên như ánh hoàng hôn loé rạng bên cơn giông ẩn hiện thăm thẳm ở cuối trời.

Ngài muốn biểu hiện một cử chỉ nào đó của quyền lực tối thượng với người đàn bà đang quì trước mặt. Nhưng rút cuộc ngài chỉ im lặng. Năm ngón tay choãi ra trên đầu rồng tay vịn ngai vàng. Ngài trở lại là một đứa trẻ đang bị lạc cả phần hồn lẫn phần xác, chơi vơi trên đồng cỏ mênh mang.

Ngài bỗng muốn được người đàn bà kỳ lạ đang quỳ trước mặt ấy choàng tay ôm vào lòng. Bà ta có biết ru không nhi? Sư bà có thể ru ta với lời ru của một người mẹ hay với sự nóng ấm của lồng ngực người đàn bà? Tại sao ở bà ta lại toát ra nỗi quyến rũ huyền hoặc. Yêu tinh hay thần nữ? Một kẻ tu hành hay là một kẻ bị giáng xuống nơi trần thế này để chịu kiếp nạn?

Thần Tông chú mục vào khoé miệng khoé mắt đã hằn nhiều nếp nhăn khắc khổ của sư bà để kìm giữ ngọn lửa cứ chợt muốn cháy bùng lên ở trong lòng.

Sư bà vẫn không rời mắt khỏi gương mặt Thần Tông. Cái gương mặt vừa quen vừa lạ như thấp thoáng vẳng lên từ một cõi xa xôi huyền bí nào đó trong cuộc đời oái oăm này. Nỗi đau cô quạnh nhói lên trong vùng ngực mảnh mai của sư bà.

*
**

Đoạ xứ!

Bến Đá sông Gâm. Bè nứa với chiếc nón lá của người tỳ kheo. Cơn giông sầm đổ. Rồi trời quang mây tạnh và hoa gạo như những bụm máu qua vai một người con trai. Thác Oán. Túp lều lau sậy le lói bếp lửa. Người đàn ông cá bơn… Ta tưởng dứt bỏ lòng trần, đường tu trọn kiếp. Nào ngờ…

*
**
Đoạ xứ!

Sư bà cố tìm lại nét thư sinh ngời ngợi mà ngang tàng thân thiết xưa kia. Đâu đây dường như vãn phảng phất gương mặt tưởng chừng xa xôi quên lãng mà thật ra vẫn ám ảnh lẩn khuất sâu thẳm trong đáy cùng tâm trí sư bà. Dường như chúng đang được cầm tù trong vài đường nét còn lộ chút thân thuộc. Cái thân hình nhỏ nhắn xanh xao của một đứa trẻ mà dục vọng đã rừng rực ám ảnh như định mệnh. Ngai vàng tôn nghiêm quá lạc lõng trước vị đế vương nhỏ bé này. Không rõ đức vua mong muốn điều gì? Một lần nữa sư bà lại rúng vai rùng mình sợ hãi nghĩ đến nỗi cám dỗ tục luỵ cõi trần!

- Tâu Bệ hạ… Người đã nhận ra người còn thiếu điều gì trong khi dùng phép từ bi vô tận của Phật đạo chăng?

Viên Tổng quản Thái giám đứng hầu bên cạnh ngai vàng lại một lần nữa giật mình cố trừng mắt về phía sư bà.

Thần Tông giơ mấy ngón tay:

- Sư bà là kẻ tu hành lẽ nào chẳng hiểu đạo từ bi có thể cải hoá khắp lượt chúng sinh. Tôn vinh Phật đạo và cai trị bằng cách giáo hoá Phật đạo khắp thiên hạ, phép trị quốc của ta vậy là đã đầy đủ.

- Vậy Bệ hạ nghĩ sao về những kẻ đã được ân sủng của ngài mà trở lại làm điều thất đức? Bởi vì hạt thiện mà gieo không đúng chỗ ắt sẽ mọc lên mầm ác. Cũng vậy, lời giáo hoá của chốn thanh bần sao có thể len lỏi vào nơi cung cấm ngào ngạt son phấn. Bần ni xin tạ ơn lòng đoái thương của Bệ hạ mà không dám nhận trọng trách Bệ hạ vừa giao phó. Xin Bệ hạ rộng lượng gia ân cho bần ni được trở về ngay động Trầm.

- Không được!… Sư bà đừng trái lời trẫm… Bay đâu!

Thần Tông giật giọng, mấy ngón tay trắng mảnh co lại, đấm mạnh lên ngai vàng.

- Xin tuận lệnh! Tâu bệ hạ!

Viên Tổng Thái giám đứng hầu vội rạp mình rồi lui bước, khuất vào phía sau bóng tối nội điện.

Hai tấm rèm nặng trĩu sau lưng Ngài ngự được từ từ kéo ra. Luồng ánh sáng chói loà từ đằng sau tấm rèm đập vào mắt. Hàng trăm cung nữ nối nhau quì mọp. Dào dạt mùi phấn sáp chế từ bột nếp, chu sa và hoa hồng. Mùi xạ hương, mùi trầm xông ướp trong xiêm áo của các cung nữ cùng ganh đua ngào ngạt. Xiêm áo ba bảy lớp trăm hồng ngàn tía.

Sư bà cúi mặt, khó thở với vị phàm trần nồng nặc, nhưng vẫn phải sững sờ vì vẻ đẹp rực rỡ của các cô gái hầu hết đang tuổi trăng tròn…

Sư bà biết rằng tất cả những cô gái đẹp của trăm miền được Thần Tông tuyển nạp về đây mới chỉ trong vòng hai năm trời từ khi người lên nối đức tiên đế lên ngôi hoàng đế trị vì thiên hạ. Sư bà chợt hiểu đâu là cái căn nguyên của ngọn lửa rừng rừng lúc như thiêu đốt lúc như lặn tắt trên gương mặt, trong đôi mắt của con người ngồi trên ngai vàng kia. Bất giác sư bà cúi xuống khẽ thở dài:

Thần Tông nhìn sư bà, dịu giọng:

- Hãy xem… các cung nhân của ta đã sẵn sàng. Sư bà hãy theo ta!

- Tâu bệ hạ… Bần ni không thể…

Nhưng Thần Tông đã đứng dậy. Viên Tổng quản Thái giám lén nhẹ trở lại chỗ cũ bên ngai vàng từ lúc cánh rèm kéo lên vội đưa tay đỡ ngài ngự. Sư bà định nói nữa nhưng nhìn Thần Tông đã đứng dậy quay gót, bất đắc dĩ, sư bà đành bước theo Thần Tông.

Hai hàng cung nữ quì bất động trên điện ngọc. Chỉ thấy những tấm lưng thon, những bờ vai mỏng, những mái tóc dày rung rung. Và phảng phất đâu đó những hơi thở rộn ràng cố ghìm nén lại trong lồng ngực. Vốn quen với khoảng không gian trong trẻo và lạnh lẽo của hang động Trầm, mỗi bước đi sư bà mỗi thấy bức bối ngột ngạt.

Tay đỡ đức vua, Tổng quản Thái giám không ngăn được gườm mắt khi đi qua sư bà. Từ hôm sư bà vào cấm cung đến nay, mâm Lục đầu bài bỏ ngỏ. Sự bất thường chưa từng có ở Tử Cấm Thành, từ ngày Hoàng đế lên ngôi.

Theo lệ của triều đình, ngoại trừ Hoàng hậu là người làm chủ trong cung cấm, còn thì mọi phi tần cung nữ đều được ghi trên mỗi tấm thẻ bài màu xanh. Thần Tông lên ngôi hai năm, số thẻ bài nằm chất đầy mấy chiếc tráp lớn để chật trên giá. Đã vậy, mùa thu năm ngoái, Hoàng thượng còn xuống chiếu cho con gái các quan và các nhà hào phú trong thiên hạ đến tuổi cũng chưa được lấy chồng, phải chờ đợt tuyển chọn người vào hậu cung, ai bị loại mới được tính tới chuyện hôn thú… Buổi tối, sau khi Hoàng thượng dùng ngự thiện, viên Tổng quản Thái giám quì xuống, hai tay dâng chiếc mâm bày các Lục đầu bài để ngửa. Vua liếc nhìn qua, trong đám phi hậu cung tần, vua thích ai thì cầm tấm thẻ có tên người đó lật úp xuống. Được lệnh truyền, các Thái giám nội thị cứ theo thẻ được chọn mà sửa sang, chuẩn bị đưa người vào nội thất hầu hạ đức vua.

Trừ ngày đầu tháng, Đức vua thường ngự ở cung Nghênh Xuân của Hoàng hậu, còn các ngày trong tháng, viên Tổng quản Thái giám thường là người biết tường tận mọi ham muốn sở thích của vua mà chọn lựa phi tần mỹ nữ cho vừa lòng ngài ngự.

Những ngày xuân, tiết trời ẩm ướt, cây hăng hăng lộc, cái rét vẫn ngấm ngầm làm tê tái thịt da, Tổng quản thận trọng đặt lên mâm lục đầu bài những chiếc thẻ mang tên các cung tần đến từ phương Nam với nước da nâu hồng ấm áp, mắt to mi rợp, môi mọng hơi trề như nũng nịu. Tổng quản biết, các cung tần này đầu gối tay ấp bên vua sẽ như mang ánh nắng phương nam chói gắt đến sưởi ấm cho ngài, làm tan hơi lạnh của tiết đông xuân. Mùa hạ, trên mâm Lục đầu bài chen chúc tên của các mỹ nữ tuyển từ Bắc phương. Mí mắt dài hẹp tản khoé thu ba trên làn da trắng muốt như bạch hoa trà. Tóc đen dài vấn vít quấn cao trên đầu, cài chặt bằng trâm vàng, trâm bạc hoặc cành thoa có gắn hoa sen còn hàm tiếu thơm ngào ngạt. Cẩn trọng hơn, tổng quản còn xem ai có làn da mát lạnh giữa mùa hè thì mới chọn khi lâm hạnh, vua hài lòng như được đắm trong dòng suối mát.

Bây giờ, Đức vua đã cho vời sư bà đã ngoài sáu chục tuổi này vào giữ trong cung làm gì đây? Viên Tổng quản Thái giám không dám nghĩ tiếp. Ông ta băn khoăn nhìn sư bà bước đi, mong manh lạc lõng giữa hậu cung muôn hồng nghìn tía.

- Sư bà! Các cung nhân của trẫm thành thạo về đường son phấn mà vụng dại về đường phụng thờ Phật. Ta lưu sư bà trong cung để sư bà uốn nắn điều này…

Mắt không rời sư bà, Vua nhắc lại:

- Hậu cung của Bệ hạ đã quá đủ đầy. Mà Phật đạo thì quá xa lạ với những chỗ huyên náo. Xin Bệ hạ đừng buộc kẻ kém cỏi này phải nói ra những lời lạc lõng.

Môi sư bà run rẩy như cố ghìm tiếng nấc:

- Xin Bệ hạ cứ trọn hưởng lạc thú, cho sớm trọn kiếp này…

Nhìn những giọt nước mắt long lanh bên khoé mắt sư bà, Thần Tông ngạc nhiên, gần như mừng rỡ:

- Sư bà sao lại khóc? Trẫm đã làm sư bà đau lòng ư?

Sư bà cố kìm những giọt nước mắt:

- Tâu Bệ hạ! Bần ni chỉ là phận con sâu cái kiến, có đáng kể gì đối với Đấng cửu trùng. Xin người đừng để tâm. Chỉ có điều, xin Bệ hạ hiểu cho rằng, với một kẻ đã rắp tâm xa lánh cõi phàm, chỉ quen ăn rau rừng, uống nước suối, nhìn ngắm đất nâu và cỏ xanh, thì việc bắt buộc phải ở lại nơi này, cũng không khác gì bị hãm vào đoạ xứ… Xin hãy cho bần ni được về chốn cũ.

Đức vua nổi giận:

- Sư bà! Nên nhớ rằng, bà dầu đã dâng mình cho Phật đạo, nhưng bà sống ngày nào thì vẫn ăn ở đi lại trên đất của Thiên tử. Nếu bà quá ngang ngược, ta sẽ không dung tha.

Sư bà ai oán ngẩng nhìn. Đôi mắt chỉ biểu lộ sự tuyệt vọng, ngao ngán, mà không oán giận:

- Vậy thì, Bệ hạ cứ một mực như thế, xin hãy nghe. Bần ni chỉ xin nói lại lời di chúc của đức Phật mà thôi. Quyển bốn, Phá tăng sự, đã nói: lúc Bồ Tát còn là hoàng tử ở trong cung, khi vui vẻ chơi đùa, hay nói lảm nhảm. Một mình của ngài có ba bà phu nhân và sáu vạn mỹ nữ. Ngài nói, nếu ta không làm chuyện tục lậu với họ, e rằng người ngoài nói ta không phải là kẻ trượng phu…

Mắt Thần Tông sáng rỡ:

- Sư bà thật hiểu rộng biết nhiều. Ta này đường đường là vua một nước, mấy trăm mỹ nữ cung tần, chưa có chi là nhiều…

- Nếu Bệ hạ quả thực sùng đạo Phật, vậy có thể làm theo đức Phật dạy được chăng? Phật dạy: "Tỳ kheo các người, nên tự cạo đầu, bỏ hết đồ trang sức, mác áo nâu màu xấu, cầm bát xin ăn cho sống qua ngày. Phải tự biết như thế mới là phải phép, hễ hơi có lòng kiêu ngạo là phải dẹp đi ngay!".

- Khổ ải như thế phỏng có ích gì đối với một bậc đế vương?

- Theo chỗ bần ni biết, Bệ hạ và những người trong cung cấm, dù vui chơi, tận hưởng xa hoa thỏa chí mà tâm vẫn phiền não. Đó là vì chưa xem phép "biết đủ" của đức Phật. Cái phép "biết đủ" tức là chỗ vui vẻ yên ổn. Con người biết đủ, dẫu nằm trên đất lạnh vẫn yên vui. Kẻ không biết đủ dẫu ở lầu cao cửa rộng giữa son phấn ngọc ngà cũng không xứng ý. Không biết là đủ, dù giàu cũng là nghèo, Biết đủ, dù nghèo cũng như giầu. Kẻ không biết đủ thường bị ngũ dục lôi đi. Người biết đủ lấy thế mà thương xót…!

Thần Tông cả cười:

- Dương như ta đã nghe những lời này nhiều lắm rồi. Từ kiếp trước! Nhưng ta thấy, thiên hạ chỉ có những kẻ không có thì mới tự an ủi rằng mình đang "tri túc". Còn những bậc đế vương xưa nay, dẫu có cả thiên hạ trong tay cũng không bao giờ tự cho là đủ. Nếu không, việc ra sức động binh mở mang bờ cõi, sơn hào hải vị đầy bàn, son phấn mỹ nhân bao bọc quanh mình… chẳng là hão huyền sao…!

Sư bà rạp đầu, chắp hai tay vái dài Thần Tông:

- Muôn tâu! Xin Bệ hạ gia ân, cho phép bần ni ra khỏi đoạ xứ này!

- Không được. Sư bà phải ở lại!

Thần Tông ghé vào tai sư bà, khẽ nói:

- Sư bà nên biết, hình như những năm qua, đêm đêm ta mơ thấy gương mặt của sư bà…

Câu nói thầm đó tựa như tiếng sét bên tai sư bà. Lồng ngực mảnh mai run rẩy của sư bà không ghìm nổi tiếng nấc. Sư bà buột miệng:

- Quá lắm! Từ Lộ! Hai kiếp của người rốt cục cũng chỉ đầy đoạ thân ta mà thôi!

Thần Tông giật nẩy mình khi nghe hai tiếng "Từ Lộ". Đứng sững. Cau mày như nhớ lại một điều gì. Giây lâu. Có một cái gì như bóng mây thoáng qua. Cố nhớ lại một hình bóng nào đó. Nhưng rốt cục, chỉ thấy gương mặt thiếu nữ nhạt nhoà. Đôi mắt sũng nước như lá. Và trong không gian ngòn ngọt nhàn nhạt mùi sữa dã nhân.

Thần Tông bất chợt đưa hai tay về phiá sư bà đang khóc nức nở. Như một đứa trẻ đòi mẹ che chở. Lại như một người tình khao khát được ôm ấp. Mắt vua cũng giàn giụa nước.

Nhưng sư bà động Trầm bỗng sững lại.

Từ phiá sau Thần Tông, một cung nhân tha thướt trong bộ xiêm áo màu hồng. Đôi mắt xám mênh mang với con ngươi ánh nâu như mắt mèo hoang. Môi mọng màu hoang thổ. Tóc mượt như lụa không thèm búi chảy tràn xuống bờ vai thon mảnh. Thấp thoáng sau tấm sa mỏng, chiếc rốn màu chu sa ẩn hiện theo bước đi kiêu hãnh của loài ngựa hoang.

Duờng như không gian tràn ngập nàng. Cung nhân hồ ly.

Dù không quay lại, Thần Tông vẫn biết dó là Ngạn La. Ngài ngự rụt đôi tay đang đưa về phía sư bà, cất tiếng vọng lại:

- Ngạn La! Sao bây giờ nàng mới đến?
Đăng nhập để trả lời
0