📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Những điều căn bản người dân nên biết

8 trả lời, 2.029 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-22 03:34:36Ngọc Lý>
xin Chị Ly cho em thread này để
đăng loạt bài căn bản về Luật Pháp
 
 
 
MINH ĐỊNH VỚI ÔNG NGUYỄN MINH TRIẾT
 VỀ ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP
LS. NGUYỄN HỮU THỐNG




                                 

Tháng 8 vừa qua, ông Nguyễn Minh Triết, Chủ Tịch Nước, đã nói chuyện về Điều 4 Hiến Pháp với các cán bộ lãnh đạo và công nhân viên chức Tổng Cục Chính Trị Bộ Quốc Phòng.

Trong dịp này ông nhấn mạnh đến nhiệm vụ của Quân Đội Nhân Dân là xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa. Mà muốn tiến lên Chủ Nghĩa Xã Hội phải xây dựng và bảo vệ Đảng Cộng Sản. Đó là lập trường bất di bất dịch: “Dù ai nói ngả nói nghiêng, dù ai có muốn bỏ Điều 4 Hiến Pháp gì đó thì không có chuyện đó. Bỏ cái đó đồng nghĩa với chúng ta tuyên bố chúng ta tự sát”.

Như vậy, đối với các cán bộ đảng viên, khẩu hiệu tuyên truyền chiến lược của Đảng Cộng Sản là: “Bỏ Điều 4 Hiến Pháp là bỏ Đảng, là tự sát”.

Trên quan điểm pháp lý và chính trị, văn hóa và đạo lý, chúng ta minh định với ông Nguyễn Minh Triết về Điều 4 Hiến Pháp.

Điều 4 viết: “Đảng Cộng Sản Việt Nam, đội tiền phong của giai cấp công nhân ... đại biểu trung thành của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà Nước và xã hội”. Điều này chép lại Điều 6 Hiến Pháp Liên Bang Sô Viết dành độc quyền lãnh đạo cho Đảng Cộng Sản Liên Xô.

Sau cuộc Cách Mạng Dân Chủ tại Đông Âu năm 1989 và tại Liên Xô năm 1991, tất cả các nước cộng sản cũ tại miền thế giới này đã đồng loạt xóa bỏ 3 điều trong Hiến Pháp:

1)     Chủ Nghĩa  Xã Hội Mác-Lênin và chế độ  Chuyên Chính Vô Sản

2)     Sự Độc Quyền Tư Tưởng và Độc Quyền Ý Thức Hệ

3)     Chính sách Độc Đảng và Độc Quyền Lãnh Đạo của đảng cầm quyền.

Ngày nay, mặc dầu không còn “Điều 6 Hiến Pháp” tại Cộng Hòa Nga cũng như tại các quốc gia đã giã từ chế độ cộng sản,  những thành phần giác ngộ và tiến bộ trong các đảng cộng sản cũ đã thay đổi chủ trương và tư duy để kết tập trong các tổ chức chính trị theo Chủ Nghĩa Dân Chủ Tự Do hay Dân Chủ Xã Hội (Democratic Socialism). Và thay vì “tự sát”, họ vẫn có vai trò và chỗ đứng trong cuộc đấu tranh đại nghị đòi thực thi tự do nhân quyền cho người dân và phát triển kinh tế cho đất nước. Mấy năm trước đây, một vị lãnh đạo Đảng Cộng Sản Ba Lan cũ đã được quốc dân bầu vào chức vụ thủ tướng. Và đương kim Thủ Tướng Cộng Hòa Liên Bang Đức cũng là một nữ chính khách đã từng sinh hoạt trong chế độ Cộng Hòa Dân Chủ Đức (Đông Đức).

Đó là những dẫn chứng điển hình để phản bác lời tiên đoán có tính hù dọa của ông Nguyễn Minh Triết trước tập thể Quân Đội Nhân Dân bằng khẩu hiệu “Độc Đảng hay là Chết!”

Cũng như tại các quốc gia văn minh trên thế giới, hai mục tiêu chiến lược của Việt Nam ngày nay là xây dựng dân chủ và phát triển kinh tế xã hội. Công cuộc này đòi hỏi phải có tự do nhân quyền trong một nhà nước Dân  Chủ Pháp Trị.

Điều nghịch lý là hiện nay hệ thống luật pháp thực dụng để phục vụ quyền lợi của Đảng CS không có tính Chính Thống Pháp Lý. Vì nó đi trái Luật Quốc Tế Nhân Quyền do Liên Hiệp Quốc ban hành để áp dụng cho tất cả mọi người. 

Vì nhu cầu tuyên truyền đối ngoại, Hiến Pháp 1992 hiện hành đã ghi chép hầu hết những nhân quyền và những quyền tự do cơ bản của người dân, từ tự do dân sự, tự do tinh thần, tự do chính trị đến những quyền kinh tế xã hội và văn hóa giáo dục. (Còn sự tước đoạt nhân quyền bẳng các đạo luật áp dụng vi hiến do quốc hội ban hành, cũng như bằng sụ giải thích luật pháp xuyên tạc của tòa án, lại là vấn đề khác).

Tuy nhiên, có hai ngoại lệ phát sinh từ thuyết Chuyên Chính Vô Sản là các hệ thống độc quyền tư tưởng và độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng Sản. Hai độc quyền này được định chế hóa bởi Điều 4 Hiến Pháp. Hậu quả là Điều 4 có tác dụng phủ nhận toàn diện và phá vỡ tất cả những định chế hiến pháp dân chủ liên quan đến 26 nhân quyền và những quyền tự do cơ bản của người dân mà nhân loại văn minh  đã khổ công xây dựng từ hàng trăm năm nay.

Trên bình diện chính trị và văn hóa đó là quyền dân tộc tự quyết, quyền tự do tư tưởng, tự do văn hóa, tự do phát biểu, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do xuất bản, quyền thông tin, quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền bình đẳng cơ hội tham gia chính quyền, quyền tự do tuyển cử, quyền tự do lập đảng, quyền mít-tinh biểu tình, quyền khiếu nại khiếu tố, và đặc biệt là quyền đối kháng là một quyền liên lập và liên quan với quyền tự do phát biểu, tự do hội họp, tự do lập đảng, tự do tuyển cử và quyền tham gia chính quyền. Những quyền này được quy định trong Luật Quốc Tế Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc mà các quốc gia hội viên kết ước đã minh thị cam kết sẽ tôn trọng và thực thi.

Về mặt pháp lý và chính trị, văn hóa và đạo lý, Điều 4 Hiến Pháp đi trái Luật Quốc Tế Nhân Quyền, phản lại Hiến Pháp và đi trái Lòng Dân.

ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP ĐI TRÁI LUẬT QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN.       

Năm 1977, Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc và có nghĩa vụ pháp lý phải tôn trọng, bảo vệ và thực thi  những điều khoản nhân quyền trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc (1945), Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1948) và Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1998).

Năm 1982 Việt Nam tham gia Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị (Công Ước Dân Sự Chính Trị). Về mặt quốc tế công pháp, Công Ước này đã được chính phủ ký kết và quốc hội phê chuẩn, nên có giá trị là một hiệp ước quốc tế, và có hiệu lực pháp lý cao hơn luật pháp và hiến pháp quốc gia.  

Trên bình diện pháp lý và đạo lý, muốn có chính thống phải đặt vấn đề Chính Danh. Người xưa nói: “Danh có chính thì ngôn mới thuận, ngôn có thuận thì việc mới thành”. Quan niệm Chính Danh do các nhà hiền triết Đông Phương đề xướng từ 2500 năm để phân biệt trắng đen, phải trái, chính tà, thiện ác. Ngày nay, hơn bao giờ hết, nó có tính thời sự. Do chính sách thông tin một chiều, với tuyên truyền dối trá, che dấu sự thật, không trọng lẽ phải, văn hóa và đạo lý.

Về mặt chính trị xã hội, với quan niệm Chính Danh, chúng ta phân biệt Dân Chủ và Chuyên Chế, Dân Chủ Pháp Trị và Độc Tài Đảng Trị, Công Lý và Bất Công, Nhân Quyền và Bạo Quyền. Mà muốn có dân chủ pháp trị phải có xã hội đa nguyên và chính trị đa đảng. Trong chế độ độc tài đảng trị chúng ta gặp trở ngại do cái gọi là chuyên chính vô sản, chuyên chính tư tưởng, pháp quyền XHCN và dân chủ tập trung.

Dân chủ tập trung là gì?  Theo Hồ Chí Minh “dân có quyền có tài sản: đó là dân chủ. Nhưng vì dân không biết giữ nên phải giao cho Chủ Tịch Đảng giữ dùm. Chủ Tịch bỏ vào rương, khóa lại và cất chìa khóa vào túi: đó là tập trung”. Tài sản ở đây có thể là ruộng đất mà Đảng CS đã công hữu hóa, mà cũng là quyền lợi  của công dân, như những quyền dân sự chính trị, kinh tế xã hội và văn hóa giáo dục. Những quyền này được Luật Quốc Tế Nhân Quyền đề xướng và bảo vệ, nhưng đã bị Đảng cất giữ và khóa kín không cho Dân sử dụng.

Từ thập niên 1910 Nguyễn Tất Thành có chấp phụ là Phan Chu Trinh, sư phụ là Phan Văn Trường, có các chiến hữu như Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh và các đồng chí như Leon Blum, Maurice Moutet trong Đảng Xã Hội Pháp. Nguyễn Ái Quốc không phải là tên riêng của ông, mà là bút hiệu chung của “Ngũ Long” Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh và Nguyễn Tất Thành. Dưới bút hiệu này, họ đã viết những bài đòi quyền Dân Tộc Tự Quyết trên các báo Xã Hội như Humanité (Nhân Loại) hay Le Populaire (Dân Chúng). Nhưng từ các thập niên 1920 và 1930, khi quy phục Stalin và Mao Trạch Đông trong các Đảng Cộng Sản, gần mực thì đen, Hồ Chí Minh đã trở thành vô minh quên hết tình tự dân tộc chỉ nghĩ đến việc thiết lập dân chủ tập trung và chuyên chính vô sản.

Nhân quyền và những quyền tự do cơ bản được đề xướng và khai triển trong Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền do Liên Hiệp Quốc ban hành năm 1998 nhân dịp kỷ niệm 50 năm Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1948).

Phần Mở Đầu Tuyên Ngôn Phụ Đính viết:

“Cần nhắc lại rằng nhân quyền và những quyền tự do cơ bản có tính toàn cầu, bất khả phân, liên lập và liên quan với nhau, nên phải được đề xướng và thực thi công bằng và đồng đều, sự thực thi quyền này không gây trở ngại cho sự thực hiện quyền kia.

“Nhấn mạnh rằng Quốc Gia có trách nhiệm tiên khởi và có nghĩa vụ phải đề xướng và bảo vệ nhân quyền và những quyền tự do cơ bản”.

Những quyền này được ghi trong Luật Quốc Tế Nhân Quyền như Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Tuyên Ngôn Phụ Đính,  cũng như trong Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị, và Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Kinh Tế Xã Hội và Văn Hóa. Căn cứ vào Luật Quốc Tế Nhân Quyền, các quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc, đặc biệt là các quốc gia đã ký kết tham gia Công Ước Dân Sự Chính Trị, chỉ có thể chấp nhận một loại nhân quyền duy nhất áp dụng trên toàn cầu cho tất cả mọi người.

Chiếu Điều 2 Công Ước Dân Sự Chính Trị, các quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc tham gia Công Ước đã cam kết tôn trọng và bảo đảm thực thi những quyền tự do cơ bản được thừa nhận cho tất cả mọi người sống trong lãnh thổ quốc gia. Trong trường hợp những quyền tự do cơ bản ghi trong Công Ước chưa được quy định thành văn trong hiến pháp và luật pháp quốc gia (như quyền tự do tư tưởng), thì các quốc gia kết ước (như Việt Nam) có nghĩa vụ phải ban hành các đạo luật bổ túc hay tu chính hiến pháp cho phù hợp với tinh thần và bản văn các điều khoản nhân quyền của Công Ước để các quyền này được thực sự thi hành. Trong trường hợp quốc gia kết ước không quy định những quyền này trong hiến pháp hay luật pháp quốc gia, thì những điều khoản về nhân quyền và về những quyền tự do cơ bản của người dân ghi trong Công Ước Dân Sự Chính Trị (như quyền tự do tư tưởng) vẫn có hiệu lực chấp hành và phải được áp dụng trước các tòa án quốc gia và quốc tế.

Quyền tự do tư tưởng được thừa nhận trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (Điều 18) và trong Công Ước Dân Sự Chính Trị (Điều 18). Mặc dầu vậy, Điều 4 Hiến Pháp đã dành cho Đảng CS độc quyền tư tưởng buộc toàn dân phải theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh (nếu quả thật có loại tư tưởng này). Như vậy Điều 4 Hiến Pháp đi trái với Luật Quốc Tế Nhân Quyền, đặc biệt là Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Công Ước Dân Sự Chính Trị.

Về mặt quốc tế công pháp, các Công Ước Quốc Tế như Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và Công Ước Dân Sự Chính Trị là những hiệp ước quốc tế đã được chính phủ ký kết và quốc hội phê chuẩn, nên có hiệu lực pháp lý cao hơn luật pháp và hiến pháp quốc gia.

Năm 1945, 50 Quốc Gia Đồng Minh họp Hội Nghị San Francisco để thành lập Liên Hiệp Quốc và công bố  Hiến Chương Liên Hiệp Quốc nhằm bảo vệ hòa bình cho các quốc gia và đề xướng nhân quyền cho tất cả mọi người.
Chiếu Điều 56 Hiến Chương, các quốc gia hội viên cam kết cộng tác với Liên Hiệp Quốc để thực hiện mục tiêu bảo vệ nhân quyền trên toàn cầu. Qua Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, nhân quyền không còn là một vấn đề quốc nội mà đã được quốc tế hóa. Do đó các quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc không thể chủ trương rằng việc họ thủ tiêu hay đàn áp các công dân của họ chỉ là vấn đề nội bộ.

Chiếu nguyên tắc Dân Tộc Tự Quyết, chủ quyền quốc gia thuộc về toàn dân. Do đó nhân quyền không phải là quyền của nhà nước, mà là quyền của người dân mà nhà nước có nghĩa vụ phải tôn trọng. Vi phạm nhân quyền và những quyền tự do cơ bản của người dân, nhà nước có thể bị khiếu nại và phải trả lời trước Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc.

Năm 1993, Đại Hội Nhân Quyền Vienna ra Tuyên Cáo nhắc nhở các quốc gia đã ký kết tham gia các Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền, như Công Ước Dân Sự Chính Trị, phải tôn trọng chữ ký, lời cam kết và danh dự của mình: “Các quốc gia vi phạm Luật Quốc Tế Nhân Quyền phải chịu trách nhiệm quốc tế về những hành động vi phạm của họ”.

Do đó trên bậc thang giá trị, Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và Công Ước Dân Sự Chính Trị đứng trên và đứng trước luật pháp và hiến pháp quốc gia.  Trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa luật pháp quốc gia và Công Ước Quốc Tế thì tòa án phải tham chiếu và áp dụng những điều khoản nhân quyền của Công Ước Quốc Tế.

Tại Việt Nam ngày nay, mâu thuẫn lớn nhất giữa luật pháp quốc gia và Công Ước Quốc Tế phát sinh từ Điều 4 Hiến Pháp.

Khi quy định sự độc quyền tư tưởng và độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, Điều 4 Hiến Pháp đi trái với quyền Dân Tộc Tự Quyết là quyền được ghi trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc (các Điều 1 và 55), Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (Phần Mở Đầu), Công Ước Dân Sự Chính Trị và Công Ước Kinh Tế Xã Hội Văn Hóa (các Điều1).

Về mặt quốc nội, Dân Tộc Tự Quyết là quyền của người dân được tự do lựa chọn chế độ hay chính thể của Quốc Gia (như quân chủ lập hiến, cộng hòa dân chủ, dân chủ xã hội hay xã hội chủ nghĩa), và được quyền tự do tuyển cử để trực tiếp tham gia chính quyền, hay bầu lên các đại biểu của mình trong chính quyền để thực thi chế độ đó.

Ngoài quyền Dân Tộc Tự Quyết, Điều 4 Hiến Pháp còn đi trái Công Ước Dân Sự Chính Trị nơi Điều 18 (quyền tự do tư tưởng), Điều 19 (tự do phát biểu), các Điều 21, 22 (tự do hội họp, lập hội và lập đảng), Điều 25 (quyền bình đẳng cơ hội tham gia chính quyền) v...v...

Cũng như Điều 2 Hiến Pháp 1992 hiện hành, Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền khẳng định rằng chủ quyền quốc gia thuộc về Nhân Dân chứ không thuộc về Nhà Nước: “Ý nguyện của người dân là căn bản của quyền lực nhà nước” (Điều 21). 


Hơn nữa, chiếu Điều 5 Công Ước Dân Sự Chính Trị, Tòa Án (Tối Cao Pháp Viện) không được giải thích xuyên tạc luật pháp quốc gia hay công ước quốc tế để cho phép chính phủ hay tòa án làm những hành vi, hay tuyên những bản án, nhằm phủ nhận hay tước đoạt của người dân những quyền tự do cơ bản đã được luật pháp quốc gia và công ước quốc tế thừa nhận. Đặc biệt là quyền đối kháng bạo quyền.


Phần Mở Đầu Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền mặc nhiên thừa nhận quyền đối kháng bạo quyền: “Điều cốt yếu là nhân quyền phải được một chế độ dân chủ pháp trị bảo vệ để con người khỏi bị dồn vào thế cùng phải đứng lên đối kháng chống áp bức và bạo quyền”.

Theo Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền Pháp (1789): “sự phủ nhận, khinh miệt hay lãng quên nhân quyền là nguyên nhân duy nhất đem lại đại bất hạnh cho người dân và sa đọa cho chính quyền. Mục đích của mọi tập hợp chính trị trong xã hội là để bảo vệ những quyền tự nhiên và bất khả chuyển nhượng của con người, như quyền tự do, quyền tư hữu, quyền an ninh và quyền đối kháng bạo quyền.”

Theo Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ (1776): “mọi người sinh ra bình đẳng, đó là một chân lý hiển nhiên. Nhân quyền là những quyền bẩm sinh bất khả chuyển nhượng do Tạo Hóa ban cho con người, như quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Nếu chính quyền ngoan cố tước đoạt tự do nhân quyền để siết chặt guồng máy thống trị bạo tàn bằng chế độ chuyên chính tuyệt đối, người dân có quyền và có nghĩa vụ đứng lên đối kháng lật đổ chính quyền để giành lại những bảo đảm cho cuộc sống tương lai. Khi chính quyền biểu lộ tính chuyên chế của một bạo quyền, nó không còn xứng đáng lãnh đạo một dân tộc tự do.”

Vì con người không phải là á thánh nên xã hội cần phải có chính quyền. Và vì nhà cầm quyền cũng không phải là á thánh nên luật pháp phải dành cho người dân quyền kiểm soát, đối kháng, chế tài và thay thế chính quyền. Nếu không có tự do tư tưởng, tự do thông tin, tự do phát biểu, phê bình và chỉ trích thì không thể có dân chủ. Nếu người dân không được tự do lập đảng, tự do bầu cử và ứng cử để tham gia chính quyền và thay thế chính quyền, thì đảng cầm quyền sẽ hủ hóa thành độc tài, tham nhũng, bất công và bất lực. Đó là một quy luật về Chính Thống Dân Chủ.

Vì đi trái Luật Quốc Tế Nhân Quyền, Điều 4 Hiến Pháp phải bị hủy bỏ.

ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP PHẢN LẠI HIẾN PHÁP.

Theo chính sách dân chủ hình thức, Nhà Nước CHXHCNVN đã ghi trong Hiến Pháp hầu hết các nhân quyền và các quyền tự do cơ bản của người dân, như quyền tự do tôn giáo (Điều 70), quyền bình đẳng trước pháp luật (Điều 52), quyền tham gia chính quyền (Điều 53), quyền tự do bầu cử và ứng cử (Điều 54), quyền tự do đi lại và cư trú (Điều 68), quyền tự do phát biểu, tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền thông tin, quyền tự do hội họp, tự do lập hội, quyền biểu tình (Điều 69), quyền được suy đoán là vô  tội (Điều 72), quyền khiếu nại, khiếu kiện các cơ quan chính phủ khi có sự lạm quyền phi pháp (Điều 74) v...v...

Khi quy định sự độc quyền tư tưởng và độc quyền lãnh đạo của Đảng CS, Điều 4 Hiến Pháp đã phản lại Hiến Pháp vì đi trái với các điều khoản hiến pháp cơ bản như các Điều 2, 3, 6, 8, 11, 50, 52, 53, 54, 68, 69.

Thật vậy:

Theo Điều 2 Hiến Pháp “Nhà Nước thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”, chứ không thuộc về Đảng CS. Điều 21 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền cũng quy định như vậy: “Ý nguyện của người dân là căn bản của quyền lực nhà nước”.(The will of the people shall be the basis of the authority of government)

Hiện nay số đảng viên CS chỉ được từ 2% đến 3%  dân số Việt Nam. Và khối đông đảo trên 97% nhân dân không được quyền tham gia vào guồng máy lãnh đạo quốc gia. Đó là một điều bất công, phi lý và phi  pháp. 

Theo Điều 3 Hiến Pháp “Nhà Nước bảo đảm quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, và nghiêm trị mọi hành động xâm phạm những quyền và lợi ích của nhân dân”, (dầu rằng kẻ xâm phạm chính lại là Đảng CS).

Theo Điều 6 Hiến Pháp “nhân dân sử dụng quyền lực Nhà Nước thông qua Quốc Hội là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”. Do đó Quốc Hội không thể là sản phẩm và công cụ của Đảng CS. Trên thực tế, Đảng CS đã dựng lên các quốc hội tiền chế trong chính sách “Đảng cử dân bầu”. Quốc Hội đã chép Điều 4 Hiến Pháp nguyên văn từ Điều 6 Hiến Pháp Liên Xô để dành độc quyền lãnh đạo cho Đảng CS. Đó không phải là ý chí và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam.

Hơn nữa quốc hội của nhân dân phải sinh hoạt theo nguyên tắc dân chủ pháp trị, chứ không theo nguyên tắc “dân chủ tập trung” phản dân chủ.

Theo Điều 8 Hiến Pháp “các cơ quan nhà nước, cán bộ viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân... [không được] quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng”. Đây chỉ là những mỹ từ để du mị nhân dân,  nói vậy mà không phải vậy.

Theo Điều 11 Hiến Pháp “công dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng cách tham gia công việc của Nhà Nước”. Muốn thế phải thiết lập chế độ dân chủ pháp trị để Dân được quyền làm chủ Nhà Nước, và bãi bỏ chế độ độc tài đảng trị, bãi bỏ Điều 4 Hiến Pháp theo đó Đảng độc quyền lãnh đạo Nhà Nước và xã hội.

Theo Điều 50 Hiến Pháp “ở nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân đã được quy định trong Hiến Pháp và luật”. Vậy mà trên thực tế tất cả 26 nhân quyền và những quyền tự do cơ bản của người dân đã bị Đảng CS tước đoạt bằng Điều 4 Hiến Pháp, cũng như bằng các đạo luật áp dụng vi hiến của quốc hội và sự giải thích luật pháp xuyên tạc của tòa án.

Theo Điều 52 Hiến Pháp “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.” Do đó Nhà Nước không được phân biệt kỳ thị về lập trường và chính kiến giữa các đảng đối lập và đảng cầm quyền, cũng như không được coi những người ngoài Đảng là công dân hạng nhì, không có quyền tự do lập đảng, tự do tuyển cử và quyền tham gia chính quyền.

Theo Điều 53 Hiến Pháp “công dân có quyền tham gia quản lý Nhà Nước” bằng cách hành sử quyền tự do lập đảng, tự do tuyển cử, quyền bình đẳng cơ hội tham gia chính quyền và quyền kiến nghị khiếu nại và khiếu kiện là những hình thức của quyền Dân Tộc Tự Quyết. Trong khi đó Điều 4 dành cho Đảng CS quyền độc chiếm bộ máy Nhà Nước.

Theo Điều 54 Hiến Pháp “công dân được quyền bầu cử và ứng cử vào Quốc Hội”. Do đó Đảng CS không được tước đoạt quyền tự do tuyển cử của công dân do chính sách “Đảng cử dân bầu”.

Theo Điều 68 Hiến Pháp “công dân có quyền tự do đi lại và tự do cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước”. Quyền này được mệnh danh là Quyền An Cư dự liệu nơi Điều 12 Công Ước Dân Sự Chính Trị. Tháng 8-1997, Ủy ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc công bố Nghị Quyết tố cáo Bắc Triều Tiên vi phạm quyền tự do cư trú và đi lại, quyền tự do xuất ngoại và hồi hương của người dân. Phẫn chí, Bình Nhưỡng rút ra khỏi Công Ước Dân Sự Chính Trị, đồng thời rút ra khỏi cộng đồng nhân loại văn minh. Tại Việt Nam, chính sách quản thúc tại gia đã vi phạm thô bạo Quyền An Cư của người dân.

Theo Điều 69 Hiến Pháp, “công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền thông tin, quyền biểu tình, tự do hội họp và lập hội”, lập hội dân sự như công đoàn độc lập và hội chính trị như các chính đảng đối lập.

Vì Nhà Nước thuộc về nhân dân, nên chỉ nhân dân mới có tư cách và thẩm quyền lãnh đạo và quản lý Nhà Nước, Đảng CS không thể tự ban cho mình quyền này bằng cách vận dụng các thủ thuật trí trá để bầu lên một quốc hội tiền chế, rồi ra chỉ thị cho cơ quan này ghi Điều 4 vào Hiến Pháp.

Tựu chung, khi dành độc quyền lãnh đạo Nhà Nước cho Đảng CS, Điều 4 đã tước đoạt của nhân dân tất cả 26 Nhân Quyền và những quyền tự do cơ bản, như tự do thân thể, tự do tinh thần, tự do chính trị kể cả những quyền  dân sự, kinh tế xã hội và văn hóa giáo dục.

Vì những lý do nêu trên, Điều 4 phải bị hủy bỏ. Nó vi phạm thô bạo Luật Quốc Tế Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, đồng thời vi phạm thô bạo Hiến Pháp nơi các Điều 2, 3, 6, 8, 11, 50, 52, 53, 54, 68 và 69.

Chiếu nguyên tắc Chính Thống Pháp Lý áp dụng trong công tác thảo hiến, các nhà lập hiến thường quy định trong Chương I những cương lĩnh hiến pháp cơ bản được coi là chủ yếu và có tầm quan trọng theo thứ tự ưu tiên.

Điều 1 Hiến Pháp

Quan trọng nhất là Điều 1 Hiến Pháp nói về Nước.

Điều 1 Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa 1967 viết: “Việt Nam là một Nước Cộng Hòa, độc lập, thống nhất, lãnh thổ bất khả phân. Chủ quyền quốc gia thuộc về toàn dân”.

Điều 1 Hiến Pháp Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa 1946 viết: “Nước Việt Nam là một nước Dân Chủ Cộng Hòa, tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam”.

Điều 1 Hiến Pháp Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam 1992 xác nhận: “Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ ”

Như vậy đối tượng của Điều 1 Hiến Pháp là xác định chính thể hay chế độ chính trị của Nước, và quyền của Dân được làm chủ quốc gia, làm chủ nhà nước chiếu Nguyên Tắc Dân Tộc Tự Quyết.

Sửa Đổi Điều I Hiến Pháp

Chiếu Điều 107 Hiến Pháp VNCH 1967: “không thể hủy bỏ hoặc tu chính Điều 1 và điều này của Hiến Pháp”.

Chiếu Điều 70 Hiến Pháp VNDCCH 1946: “sự sửa đổi Hiến Pháp phải theo cách thức sau đây:

a)     Do 2/3 tổng số nghị viên (đại biểu) yêu cầu.

b)     Nghị Viện (Quốc Hội) bầu ra một ban dự thảo những điều thay đổi

c)     Những điều thay đổi đã được Nghị Viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết” [trong một cuộc Trưng Cầu Dân Ý].

Điều đáng lưu ý là, với Điều 1 Hiến Pháp CHXHCNVN 1992 hiện hành, Quốc Hội đã sửa đổi chính thể hay chế độ của Nước Việt Nam, từ Dân Chủ Cộng Hòa (theo Hiến Pháp 1946) thành Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa. Sự thay đổi này không được quốc dân phê chuẩn bằng một phúc quyết trong một cuộc Trưng Cầu Dân Ý.

Chiếu Điều 70 Hiến Pháp VNDCCH 1946, sự sửa đổi Điều 1 Hiến Pháp 1946 hiển nhiên vi hiến. Vì nó vi phạm hình thức hay thủ tục sửa đổi  Hiến Pháp. Theo một nguyên tắc về Chính Thống Pháp Lý “Hình Thức hay Thủ Tục là chị em song sinh của Tự Do” (The Form or Procedure is a twin-sister  of the Liberty) Do đó nó không có giá trị và hiệu lực pháp lý.   

Cũng nên nhắc lại rằng Hiến Pháp VNCH 1967 không cho phép sửa đổi Điều 1 Hiến Pháp nói về chính thể hay chế độ Cộng Hòa của Việt Nam.

Nếu Điều 1 Hiến Pháp 1992 hiện hành đã vi phạm Điều 70 Hiến Pháp 1946 nguyên thủy, thì cái đuôi của nó là Điều 4 cũng vô giá trị và vô hiệu lực.

Sửa Đổi Toàn Bộ hay Hủy Bỏ Hiến Pháp 1946

Ngoài ra, Điều 70 Hiến Pháp VNDCCH 1946 chỉ cho phép các Quốc Hội Lập Pháp kế tiếp tu chính từng điều khoản hiến pháp mà không được sửa đổi toàn bộ hay hủy bỏ Hiến Pháp. Các nhà lập hiến quan niệm rằng chế độ Cộng Hòa Dân Chủ phù hợp với nguyện vọng và quyền lợi của Nhân Dân. Do đó các Quốc Hội kế tiếp không được quyền sửa đổi toàn thể 70 Điều trong Hiến Pháp, nghĩa là không được hủy bỏ toàn bộ Hiến Pháp 1946 nếu không có sự phê chuẩn hay phúc quyết của Nhân Dân.

Trên thực tế, từ nửa thế kỷ nay, thủ tục sửa đổi hiến pháp quy định bởi Quốc Hội Lập Hiến 1946 đã không được các quốc hội lập pháp kế tiếp tuân hành. Do đó muốn “sống theo pháp luật”, quốc dân có quyền khẳng định rằng, những Hiến Pháp kế tiếp, từ Hiến Pháp 1959 đến Hiến Pháp 1980 và Hiến Pháp 1992 hiện hành, tất cả đều vô giá trị và vô hiệu lực. Vì Hiến Pháp 1946 không dự liệu sự hủy bỏ hay sửa đổi toàn bộ Hiến Pháp, và đặc biệt là không có sự duyệt y hay phúc quyết của Quốc Dân truyền hủy bỏ Hiến Pháp 1946 trong một cuộc Trưng Cầu Dân Ý.

Muốn thượng tôn luật pháp, Nhà Nước đương quyền phải tổ chức cuộc Trưng Cầu Dân Ý dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc để xem quốc dân có phúc quyết phê chuẩn việc hủy bỏ toàn bộ Hiến Pháp 1946 hay không? Nếu Quốc Dân nói “không” thì Hiến Pháp 1946 phải được phục sinh. Từ 220 năm nay, Hiến Pháp Hoa Kỳ 1787 chỉ được tu chính, chứ không bị hủy bỏ.

Đó là nói về tầm quan trọng của Điều 1 Hiến Pháp.

Điều 2 Hiến Pháp


Điều 2 Hiến Pháp VNCH 1967 công nhận và bảo đảm những quyền tự do căn bản của người dân trong tinh thần bình đẳng và tương trợ, đồng thời nêu ra những nghĩa vụ của người dân trong việc phục vụ quốc gia. Những quyền lợi và nghĩa vụ của công dân được khai triển trong Chương II  gồm 24 điều (từ Điều 6 đến Điều 29).

Điều 2 Hiến Pháp CHXHCNVN 1992 cũng công nhận dân là chủ nhà nước, được nắm giữ mọi quyền lực nhà nước. Và  nhà nước là “của nhân dân,  do nhân dân và vì nhân dân” (ngôn từ của Tổng Thống Hoa Kỳ Abraham Lincoln là người đã thực thi chính sách giải phóng nô lệ hồi giữa Thế Kỷ 19).

Như vậy đối tượng của Điều 2 Hiến Pháp là đề xướng một quy luật về Chính Thống Dân Chủ theo đó Chủ Quyền Quốc Gia hay quyền lực Nhà Nước thuộc về Nhân Dân. Quy luật này được xác nhận trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc: “Ý nguyện của nhân dân phải được coi là căn bản của quyền lực nhà nước” (Điều 21).


Điều 3 Hiến Pháp


Điều 3 Hiến Pháp VNCH 1967 quy định chế độ Tam Quyền Phân Lập giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp, để phân công phân quyền, hợp tác đồng thời giám sát lẫn nhau. Sự phân quyền hiến chế nhằm điều hòa phối hợp để thực thi chính sách quốc gia chống độc tài, tham nhũng, bất công, phạm pháp và lạm quyền, đem lại thịnh vượng chung, xây dựng Tự Do Dân Chủ và Công Bằng Xã Hội. Ba quyền hiến chế nói trên tạo nên thế quân bình chân vạc của Nhà Nước Dân Chủ Pháp Trị.

Điều 3 Hiến Pháp CHXHCNVN 1992 cũng quy định nghĩa vụ của Nhà Nước trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ lợi ích của nhân dân nhằm xây dựng một nước giàu mạnh ấm no, tự do hạnh phúc, với kinh tế phát triển và công bằng xã hội.

Như vậy, khi nói về nhiệm vụ của Nhà Nước, các Điều 2 và 3 của các Hiến Pháp nói trên xác nhận quyền làm chủ nhà nước của Nhân Dân.    
 
        Tổng kết lại, 3 điều đầu tiên của Hiến Pháp VNCH 1967 và Hiến Pháp CHXHCNVN 1992 là 3 điều khoản hiến chế cơ bản hay 3 Cương Lĩnh Hiến Pháp để nói về:

1). Nước hay Quốc Gia. (State) 

2). Dân hay Nhân Dân (People)

3). Nhà Nước hay Chính Quyền (Government)

theo tầm quan trọng và thứ tự ưu tiên.

        - Điều 1 nói về Nước hay Quốc Gia là cương lĩnh hiến pháp quan trọng số 1 quy định chính thể hay chế độ. Hiến Pháp VNCH 1967 không cho phép sửa đổi hay hủy bỏ Điều 1.

        - Điều 1 Khoản 2 Hiến Pháp VNCH 1967 xác nhận “Chủ quyền Quốc Gia thuộc về toàn dân”.

           Bổ túc vào đó là Điều 2 và Điều 3 xác nhận Dân có những quyền tự do cơ bản được Quốc Gia công nhận. Và Quốc Gia được tổ chức theo chế độ Dân Chủ Pháp Trị để bảo đảm Tự Do Dân Chủ và Công Bằng Xã Hội cho người dân.

- Các Điều 2 và 3 Hiến Pháp CHXHCNVN 1992 hiện hành cũng xác định “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân Dân”, và “nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của Nhân Dân”.

Như vậy, sau Nước hay Quốc Gia (Điều 1), Dân hay Nhân Dân (các Điều 2 và 3) giữ vai trò trọng yếu thứ 2, đứng trên Nhà Nước hay Chính Quyền.

Đó cũng là Học Thuyết Dân Quyền của Mạnh Tử : “Lấy Dân làm trọng, Nhà Nước là thứ yếu và coi nhẹ Chính Quyền” : Dân Vi Quý, Xã Tắc Thứ Chi, Quân Vi Khinh. Vì có Dân mới có Nước, có Nước mới có Vua (quân quyền hay chính quyền). Do đó Dân quý nhất đứng trên cả Nhà Nước hay Chính Quyền và các Chính Đảng.

Điều 4 Hiến Pháp


Điều 4 Hiến Pháp 1992 hiện hành nói về Đảng là một tổ chức quần chúng sinh hoạt trong xã hội xuất phát từ Nhân Dân, nên không thể xếp hạng cao hơn Dân.

Tựu chung, trong Hiến Pháp 1992, các Điều 2 và 3 nói về Dân có tầm quan trọng hơn Điều 4 nói về Đảng. Vậy mà Điều 4 đã vượt quyền, mâu thuẫn và đi trái với các Điều 2 và 3 khi dành cho Đảng CS độc quyền tư tưởng và độc quyền lãnh đạo Nhà Nước và xã hội.

Như đã trình bày, hiện nay số đảng viên CS chỉ được từ 2% đến 3%  dân số Việt Nam. Và khối đông đảo trên 97% nhân dân không được quyền tham gia vào guồng máy lãnh đạo quốc gia. Đó là một điều bất công, phi lý và phi  pháp. 

Như vậy về pháp lý, chính trị và xã hội, Dân phải được xếp hạng ưu tiên cao hơn Đảng. Và quyền lực Nhà Nước phải thuộc về Dân chứ không thể thuộc về Đảng. Điều 4 Hiến Pháp phải bị hủy bỏ vì đi trái Chính Thống Pháp Lý về hệ thống quyền lực quốc gia, cũng như đi trái Chính Thống Dân Chủ lấy Dân làm trọng, Nhà Nước, Chính Quyền và Chính Đảng là thứ yếu.

Ngoài việc vi phạm các Điều 2 và 3 Hiến Pháp, Điều 4 còn đi trái với tinh thần và bản văn của Điều 6, Điều 8, và Điều 11 Hiến Pháp. Những điều này được soạn thảo để khai triển quyền của Nhân Dân được làm chủ Nhà Nước, làm chủ xã hội trong đó có các hội đoàn dân sự như công đoàn và các hội đoàn chính trị như chính đảng. Nếu Dân đã làm chủ Nhà Nước và xã hội thì Đảng không thể độc đoán tước đoạt quyền làm chủ nhà nước vốn thuộc về quyền lực của Dân. Tước đoạt quyền này là phản Dân. Mà phản Dân là hại Nước.

Điều 4 Hiến Pháp phải bị hủy bỏ vì những lý do pháp lý và chính trị nêu trên. Ngoài ra nó còn đi trái Nhân Tâm, Văn Hóa và Đạo Lý.

        ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP CÒN ĐI TRÁI LÒNG DÂN

Điều 4 đã đem đến cho quốc dân những chế độ phản dân tộc, phản nhân loại theo Chủ Nghĩa Xã Hội Mác-Lênin, như chuyên chính vô sản, chuyên chính tư tưởng, độc quyền ý thức hệ và độc quyền lãnh đạo nhà nước của một chính đảng một mình một chợ là Đảng CS.

        Đó là nhận định chung của đồng bào các giới trong và ngoài nước. Trong cuốn Nhật Ký Rồng Rắn, Tướng Trần Độ đã trình bày những nhận xét và suy tư của một người sốùng trong lòng chế độ, có lòng với đất nước, đã từng gia nhập Quân Đội Nhân Dân từ thời niên thiếu, và đã giữ những chức vụ quan trọng trong Đảng Cộng Sản như Phó Chính Ủy Quân Giải Phóng Miền Nam, Phó Chủ Tịch Quốc Hội, Trưởng Ban Văn Hóa Văn Nghệ Trung Ương. Cuốn sách này được coi là một tập di chúc chính trị để nhận định tình hình suy thoái hiện nay, đồng thời đưa ra những chủ trương dân chủ hóa đất nước và phát triển kinh tế xã hội.

        Về mặt chính trị và luật pháp, Tướng Trần Độ có những nhận xét như sau:

        Trong thế giới hiện nay có hơn 100 nước đã phát triển và đạt tới trình độ văn minh cao. Vậy mà họ không cần đến chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội với vô sản chuyên chính, độc quyền tư tưởng và độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng Sản.

        Bây giờ chỉ còn lại 4 nước nói là theo Xã Hội Chủ Nghĩa. Tuy nhiên Trung Quốc đã mặc nhiên giã từ chủ nghĩa Mác-Lênin và theo chủ nghĩa thực dụng “có màu sắc Trung Quốc” [được chứng nghiệm từ thời Đặng Tiểu Bình: “Mèo đen, mèo trắng, mèo nào cũng tốt, miễn là bắt được chuột”].

Bắc Triều Tiên cũng buộc phải mở cửa và hòa hợp với Nam Triều Tiên để thoát khỏi cảnh nghèo đói, lạc hậu.

        Có người nói Cách Mạng XHCN ở Nga thành công năm  1917 là sự kiện quan trọng nhất của thế kỷ 20. Vậy thì sự sụp đổ của cái quan trọng ấy lại là “siêu quan trọng”.

Ba mục tiêu chiến lược rút ra từ Chủ Nghĩa Tam Dân của Tôn Dật Tiên là dân tộc độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc. Từ Cách Mạng Tháng 8 đến nay đã hơn 60 năm mà các mục tiêu Tự Do Hạnh Phúc vẫn chưa đạt được. Trong khi đó, tại một số quốc gia Đông Nam Á như Đài Loan, Đại Hàn, Thái Lan, Mã Lai hay Tân Gia Ba, mặc dầu không theo xã hội chủ nghĩa và cũng không có đảng cộng sản lãnh đạo, các nước này trước kia cũng nghèo khổ, vậy mà chỉ khoảng 20, 30 năm, họ đã trở thành những nước phát triển về kinh tế.

Trong khi đó, tại Việt Nam, hàng chục ngàn gia đình dân oan tại nông thôn đã vùng lên đòi Quyền Sống, vì bị Đảng CS tước đoạt ruộng đất nói là để phát triển công kỹ nghệ. Ngoài ra còn có hàng trăm ngàn gia đình của các chiến binh trong Quân Đội Nhân Dân cũng như các cựu chiến binh sinh sống về ngư  nghiệp tại miền duyên hải cách mạng Thanh Nghệ Tĩnh Bình đã bị Đảng CS phản bội bằng cách bán nước Biển Đông cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc nhằm duy trì cái ghế chính quyền lung lay của họ.
       
ĐỘC LẬP THỐNG NHẤT

Về mục tiêu giải phóng dân tộc để giành lại độc lập và thống nhất cho quốc gia, tác giả cuốn Nhật Ký Rồng Rắn nhận định rằng nhiều quốc gia đã giành được chủ quyền độc lập mà không cần đến chiến tranh bạo động võ trang.

[Về điểm này chúng ta cần Phục Hồi Sự Thật Lịch Sử  để minh chứng rằng, cũng như tại 13 nước Á Châu khác, các nhà Cách Mạng Quốc Gia Việt Nam theo Chủ Nghĩa Dân Tộc, bằng đường lối đấu tranh bất bạo động với hợp tác và thương nghị, đã thành công trong việc thu hồi chủ quyền độc lập và thống nhất quốc gia 4 năm sau Thế Chiến II.

Sau Thế Chiến I, năm 1919, Tổng Thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson đề xướng quyền Dân Tộc Tự Quyết tại Hội Quốc Liên - tổ chức tiền thân của Liên Hiệp Quốc - để khuyến cáo các Đế Quốc Tây Phương từng bước trả tự trị và độc lập cho các thuộc địa Á Phi. Thuận theo khuyến cáo này, năm 1919 Anh Quốc trả độc lập cho Canada tại Bắc Mỹ và A Phú Hãn tại Nam Á.

Năm 1941, khi Thế Chiến II còn đang tiếp diễn, các Quốc Gia Đồng Minh Mỹ, Anh, Pháp họp Hội Nghị New Foundland (Canada) để ký Hiến Chương Đại Tây Dương và cam kết sẽ trả độc lập cho các thuộc địa khi chiến tranh kết thúc.

Qua năm sau, tại Hoa Kỳ, các Đồng Minh Tây Phương công bố Tuyên Ngôn Liên Hiệp Quốc để xác nhận lại lời cam kết sẽ thực thi  quyền Dân Tộc Tự Quyết của các nước bảo hộ, giám hộ và thuộc địa tại Á Phi.

Mùa Xuân 1945, khi Chiến Tranh Thái Bình Dương đến hồi kết cuộc, 50 Quốc Gia Đồng Minh họp Hội Nghị San Francisco để thành lập Liên Hiệp Quốc và ban hành Hiến Chương Liên Hiệp Quốc nhằm bảo vệ hòa bình cho các quốc gia, đồng thời đề xướng tự do nhân quyền cho tất cả mọi người, đặc biệt là Quyền Dân Tộc Tự Quyết.

Trung thành với những điều cam kết minh thị và trang trọng trong Hiến Chương Đại Tây Dương (1941), Tuyên Ngôn Liên Hiệp Quốc (1942) và Hiến Chương Liên Hiệp Quốc (1945), qua năm sau, và chỉ trong vòng 3 năm, từ 1946 đến 1949, tất cả các Đế Quốc Tây Phương như Mỹ, Anh, Pháp, Hà Lan đã lần lượt tự giải thể để trả độc lập cho 12 nước thuộc địa, bảo hộ và giám hộ tại Á Châu:

1.     Độc lập năm 1946: Syria và Lebanon (thuộc Pháp); và Phi Luật Tân (thuộc Hoa Kỳ).

2.     Độc lập năm 1947: Ấn Độ và Đại Hồi  (thuộc Anh).

3.     Độc lập năm 1948: Miến Điện, Tích Lan và Palestine (thuộc Anh).

4.     Độc lập năm 1949: Việt Nam, Cao Miên và Ai Lao (thuộc Pháp); và Nam Dương (thuộc Hà Lan).

(Hai nước trong Liên Bang Mã Lai Á là Mã Lai và Tân Gia Ba chỉ được trao trả tự trị năm 1952 và độc lập năm 1957, sau khi Quân Đội Hoàng Gia Anh dẹp tan phe phiến loạn Cộng Sản theo Mao Trạch Đông đã lập chiến khu và chiến đấu võ trang từ 1948).

      Bằng đường lối đấu tranh công khai, ôn hòa, hợp pháp, không bạo động và không vọng ngoại (nhất là không liên kết với Quốc Tế Cộng Sản), các nhà Cách Mạng Quốc Gia theo Chủ Nghĩa Dân Tộc tại Á Châu đã giành được chủ quyền độc lập cho quốc gia từ 1 đến 4 năm sau Thế Chiến II. Với chính sách hợp tác và thương nghị, các chính đảng quốc gia tại 14 nước Á Châu đã hoàn thành Cách Mạng Giải Phóng Dân Tộc mà không hao tổn máu xương. Đó là sách lược vận dụng thời cơ theo trào lưu tiến hóa của lịch sử. Điển hình là cuộc Giải Phóng Ấn Độ.

Tháng 5-1945, Đức Quốc Xã đầu hàng Đồng Minh. Tháng 7-1945, Anh Quốc tổ chức tổng tuyển cử. Thủ Tướng Winston Churchill, người anh hùng dân tộc, chủ trương duy trì thuộc địa để lấy lại vinh quang cho đất nước.

Tới Thế Chiến II, Anh Quốc đã thiết lập một đế quốc lớn nhất từ cổ chí kim, với lãnh thổ chạy dài khắp năm châu, và người dân Anh thường tự hào nói: “mặt trời không bao giờ lặn trên Đế Quốc Anh”. Vậy mà chỉ hai tháng sau khi chiến thắng Hitler, người anh hùng dân tộc Winston Churchill đã thất cử. Sau chiến tranh, kinh tế nước Anh kiệt quệ, dân chúng đói khổ, và hàng triệu cựu chiến binh không có công ăn việc làm. Trong điều kiện kinh tế xã hội suy sụp đó, Đảng Lao Động Anh đưa ra chương trình tuyển cử nhằm phát triển kinh tế, cải tiến dân sinh, giải phóng lao động và giải phóng thuộc địa. Từ đầu Thế Kỷ 20, Đảng Xã Hội Pháp và Đảng Lao Động Anh trong Tổ Chức Quốc Tế Xã Hội (Socialist International) đã đề xướng chính sách giải phóng lao động và giải phóng thuộc địa.

Trong cuộc Tổng Tuyển Cử  tháng 7-1945, 2/3 cử tri Anh chấp thuận chương trình của Đảng Lao Động. Ngoài ra, để tôn trọng lời cam kết của Anh Quốc trong Hiến Chương Đại Tây Dương, Tuyên Ngôn Liên Hiệp Quốc và Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, hai năm sau khi đắc cử, tân thủ Tướng Lao Động Clement Attlee đã trả độc lập cho Ấn Độ và Đại Hồi năm 1947, và cho Miến Điện, Tích Lan và Palestine năm 1948.

Tại Pháp cũng vậy. Sau Thế Chiến II, Tướng De Gaulle, người anh hùng giải phóng dân tộc, cũng chủ trương duy trì thuộc địa để đem lại vinh quang cho đất nước. Vậy mà chương trình phục quốc của ông đã bị 2/3 cử tri Pháp bác bỏ trong cuộc Trưng Cầu Dân Ý vào cuối năm 1945. Và từ đầu năm 1946, sau khi Thủ Tướng De Gaulle từ chức, Đảng Xã Hội Pháp với Leon Blum, Marius Moutet và Vincent Auriol đã đi tiền phong trong kế hoạch giải phóng thuộc địa để trao trả độc lập cho Syria và Lebanon từ 1946.

Cũng trong năm này, Lãnh Tụ Xã Hội Marius Moutet, Bộ Trưởng Pháp Quốc Hải Ngoại đã ký với Hồ Chí Minh Thỏa Ước Tạm Thời ngày 4-9-1946 để xúc tiến chương trình giải thể đế quốc bằng đường lối thương nghị ngoại giao. Trước đó, ngày 6-3-1946, Hồ Chí Minh đã ký Hiệp Ước Sơ Bộ Sainteny theo đó Pháp nhìn nhận Việt Nam là một quốc gia tự trị trong Liên Bang Đông Dương và trong Liên Hiệp Pháp.

Tuy nhiên, để trung thành với đường lối của Quốc Tế Cộng Sản, Hồ Chí Minh đơn phương hủy bãi 2 Hiệp Ước Việt-Pháp để theo giải pháp chiến tranh. Đối với người cộng sản, ký hiệp ước hòa bình không phải để thi hành hiệp ước, mà chỉ nhằm đạt được những mục tiêu chính trị giai đoạn. Ở đây mục tiêu chính trị là sự thừa nhận trên thực tế Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do 2 Hiệp Ước Việt Pháp nói trên. Cũng vì vậy, 3 tháng sau, ngày 19-12-1946, với sự yểm trợ của Quốc Tế Cộng Sản, Hồ Chí Minh phát động chiến tranh võ trang trong suốt 8 năm (từ 1946 đến 1954).  

Trong thời gian này tại Âu Châu, sau khi thôn tính và sát nhập 3 nước Baltic là Lithuania, Estonia và Latvia vào Liên Bang Sô Viết, Stalin thiết lập Bức Màn Sắt gồm 7 nước Đông Âu là Ba Lan, Hung Gia Lợi, Bảo Gia Lợi, Tiệp Khắc, Đông Đức, An Ba Ni và Ru Ma Ni. Từ đó Chiến Tranh Lạnh hay Chiến tranh Ý Thức Hệ bộc phát giữa Quốc Tế Cộng Sản và Thế Giới Dân Chủ.

Các nhà lãnh đạo phe Thế Giới Dân Chủ tại Mỹ, Anh, Pháp, nhất quyết không trao Đông Dương cho Đảng Cộng Sản Đông Dương, vì họ không muốn Stalin mở rộng Bức Màn Sắt từ Đông Âu qua Đông Á. Tại Việt Nam, Pháp cũng không chịu trả Nam Kỳ cho Hồ Chí Minh vì ông này là cán bộ Quốc Tế Cộng Sản phụ trách miền Đông Nam Á.
Và kể từ 1947, sau khi Hồ Chí Minh phát động chiến tranh võ trang vi phạm các Hiệp Ước Việt Pháp, các Chính Phủ Pháp do Tổng Thống Xã Hội Vincent Auriol lãnh đạo quyết định sẽ không thương nghị với Hồ Chí Minh nữa. Theo lời Bộ Trưởng Pháp Quốc Hải Ngoại Marius Moutet “từ nay Pháp sẽ không thương nghị với những chính phủ đã ký hiệp ước mà không thi hành hiệp ước”.

Và trong vòng hai năm, từ 1947 đến 1949, để giải quyết vấn đề Việt Nam, Pháp đã ký với Quốc Trưởng Bảo Đại 3 Hiệp Ước để trả lại chủ quyền độc lập cho Quốc Gia Việt Nam: Hiệp Ước Sơ Bộ Vịnh Hạ Long ngày 7-12-1947, Tuyên Cáo Chung Vịnh Hạ Long ngày 5-6-1948 và Hiệp Định Elysee ngày 8-3-1949 ký kết tại Paris giữa Tổng Thống Vincent Auriol và Quốc Trưởng Bảo Đại. Đây là một hiệp ước quốc tế đặc biệt có một không hai trong lịch sử ngoại giao. Vì Hiệp Định Elysée được chính Tổng Thống Pháp ký, với sự chứng kiến và tham dự của Thủ Tướng, Bộ Trưởng Ngoại Giao, Bộ Trưởng Quốc Phòng và Bộ Trưởng Pháp Quốc Hải Ngoại. Nhân danh Cộng Hòa Pháp, Tổng Thống Vincent Auriol long trọng trao trả chủ quyền độc lập cho Quốc Gia Việt Nam trước quốc dân Việt Nam, trước quốc dân Pháp và trước cộng đồng thế giới.

Cũng nên ghi nhận rằng, trong năm 1947, sau khi ký Hiệp Ước Sơ Bộ Vịnh Hạ Long, Chính Phủ Pháp đã đăng ký Việt Nam là một quốc gia độc lập tại Liên Hiệp Quốc. (Xin coi Everyone’s United Nations, ấn bản năm 1986, trang 332). Tưy nhiên Liên Xô đã dùng quyền phủ quyết để bãi bỏ sự đăng ký này.

Về vấn đề thống nhất đất nước, chiếu  Nguyên Tắc Dân Tộc Tự Quyết, ngày 23-4-1949, Quốc Hội Nam Kỳ biểu quyết giải tán chế độ Nam Kỳ Tự Trị để sát nhập Nam Phần vào lãnh thổ Quốc Gia Việt Nam độc lập và thống nhất. Ngày 3-6-1949, Quốc Hội Pháp phê chuẩn Hiệp Định Elysee về khoản trao trả Nam Kỳ cho Quốc Gia Việt Nam. Và ngày 2-2-1950, Quốc Hội Pháp phê chuẩn toàn bộ Hiệp Định Élysée, chấm dứt chế độ thuộc địa và bảo hộ tại Việt Nam.

Mặc dầu vậy Đảng Cộng Sản đã phủ nhận nền độc lập này và phá hoại nền thống nhất này. Họ tiếp tục chiến đấu võ trang trong suốt 20 năm, để cướp chính quyền tại Miền Bắc năm 1954 và cướp chính quyền tại Miền Nam năm 1975. Đây không phải là chiến tranh giải phóng dân tộc mà là chiến tranh ý thức hệ giữa Quốc Tế Cộng Sản và Thế Giới Dân Chủ. Kinh nghiệm dân gian cho biết nơi nào trâu bò húc nhau thì ruồi muỗi chết. Hơn 3 triệu thanh niên nam nữ Việt Nam đã hy sinh thân sống, không phải để giành độc lập cho quốc gia, mà để cho Đảng Cộng Sản có cơ hội cướp chính quyền.

Căn cứ vào những tài liệu lịch sử khách quan và vô tư, trên bình diện luật học và chính trị học, chúng ta phải kết luận rằng Đảng Cộng Sản không có công giành độc lập và không có công thống nhất đất nước. (Xin coi cuốn Restoring The Historic Truth của người viết)

Vả lại, lịch sử còn cho biết, ngay cả những nhà lãnh đạo có công với đất nước như Winston Churchill và De Gaulle cũng đã rút khỏi chính quyền mấy tháng sau khi hoàn thành nhiệm vụ lịch sử. Những người lãnh đạo Đảng Cộng Sản hãy đọc lại Lịch Sử để noi gương hai vị anh hùng dân tộc Anh và Pháp. Điều đáng lưu ý là, sau một thời gian hưu dưỡng, Tướng De Gaulle lại được quốc dân Pháp tín nhiệm trong chức vụ Tổng Thống. Và Đảng Bảo Thủ của Winston Churchill đã nhiều cơ hội trở lại chấp chính với các nhà lãnh đạo tài cao đức trọng như nữ Thủ Tướng Margaret Thatcher].

TỰ DO DÂN CHỦ

Theo Tướng Trần Độ, trong chiến tranh và cách mạng, muốn phối hợp đấu tranh phải tập trung quyền lực, chịu đựng gian khổ và đặt mình dưới sự lãnh đạo của đảng cầm quyền, chấp nhận mọi hy sinh để chiến thắng. Nhưng khi hòa bình vãn hồi, mục tiêu ưu tiên là xây dựng đất nước, phát triển kinh tế, thực thi tự do nhân quyền và mưu cầu hạnh phúc cho người dân. Do đó không thể quản lý xã hội như một trại lính. Trong thời bình nếu cứ tiếp tục theo lề lối cũ, thì đó là phản tiến bộ, phản động, phản dân chủ và phản nhân dân.

[Về việc thực thi nhân quyền, năm 1942, trước diễn đàn Quốc Hội Hoa Kỳ, Tổng Thống Franklin Roosevelt đề ra 4 quyền tự do cơ bản là:

1)     Tự do ngôn luận;

2)     Tự do tín ngưỡng;

3)     Quyền được giải thoát khỏi sự túng thiếu; và

4)     Quyền được giải thoát khỏi sự sợ hãi, sợ hãi do xâm lược bên ngoài (ngoại xâm) và chuyên chế bên trong (nội xâm).

Dưới chế độ độc tài toàn trị, không có tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, người dân nông thôn và duyên hải chưa được giải thoát khỏi sự nghèo túng, và toàn dân vẫn chưa được giải thoát khỏi sự sợ hãi].

Ngày nay, toàn dân đều sợ công an, sợ cán bộ Đảng, vì cán bộ Đảng cũng như công an, hay dò la, xem xét và dọa nạt dân chúng. Công an ngày càng nhiều và ngày càng có nhiều nét của một hình ảnh khủng bố.

Bộ máy quản lý xã hội thực hiện nguyên tắc chuyên chính tàn bạo hơn tất cả các thứ chuyên chính. Đó là sự chuyên chính tư tưởng được thực hiện bởi một đội ngũ nòng cốt là những “lưu manh tư tưởng”. Chuyên chính tư tưởng ban hành những đạo luật tàn khốc để bóp nghẹt mọi suy nghĩ, mọi tiếng nói [và bắt giam độc đoán những chiến sĩ dân chủ bằng cách bịa đặt những tội trạng giả tạo như tuyên truyền chống chế độ, tuyên truyền chống nhà nước, lợi dụng quyền tự do dân chủ, phá hoại chính sách đoàn kết v...v...]

Nền chuyên chính vô sản này làm tê liệt toàn bộ đời sống tinh thần của một dân tộc, làm tê liệt sự hoạt động tinh thần của nhiều thế hệ, ra sức nô dịch toàn bộ tinh thần của nhiều thế hệ, khiến con người trở thành những con vẹt chỉ biết nhai lại các nguyên lý lỗi thời, bảo thủ, giáo điều. Về mặt văn hóa, nó làm cho giáo dục khô cứng, các hoạt động văn học nghệ thuật nghèo nàn, mất hết cơ hội sáng tạo và mất hết hào hứng. Các hoạt động khoa học cũng bị khô cứng và nô dịch. Nó tạo ra và buộc nhân dân phải có một tâm lý lệ thuộc vào nhà nước, lệ thuộc vào Đảng, lệ thuộc vào cán bộ. Và nền chuyên chính tư tưởng hiện nay ở Việt Nam là tổng hợp các tội ác ghê gớm của Tần Thủy Hoàng và các vua quan tàn bạo của Trung Quốc, cộng với những tội ác của các chế độ phát-xít và độc tài. Nó tàn phá cả một dân tộc và làm hại cả một nòi giống. Tội nặng nhất là vi phạm nhân quyền.

Theo  các khẩu hiệu tuyên truyền, các cán bộ cộng sản thường nói họ có một chế độ XHCN và một xã hội XHCN rất tốt đẹp cho một nhà nước có tên là CHXHCNVN do Đảng CS lãnh đạo. Bản chất của chế độ XHCN là đem lại tự do dân chủ và công bằng hạnh phúc cho nhân dân. Vậy mà ngày nay, từ bậc cách mạng lão thành đến các nhà trí thức và các thanh niên, ai cũng thấy là không phải thế. Đối chiếu với sự thật thường ngày họ thấy chữ XHCN thật vô duyên và vô nghĩa. Vì vậy có rất nhiều ý kiến muốn lấy lại tên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Trong chế độ độc tài độc đảng, Đảng CS công khai tuyên bố là Đảng lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối. Họ đã quét sạch tất cả các đảng phái  quốc gia khác như Quốc Dân Đảng, Đồng Minh Hội [cũng như Đại Việt, Duy Dân, Lập Hiến, Tân Tả Phái v...v...]. Hai Đảng Dân Chủ và Đảng Xã Hội trong Mặt Trận Tổ Quốc đã phải tự giải thể sau khi hoàn thành sứ mạng trong cuộc Giải Phóng Miền Nam. Trong chế độ độc tài độc đảng này không thể có dân chủ. Nó có tính phản dân chủ và có liên hệ xa gần với chế độ phát-xít. Vì vậy khẩu hiệu tuyên truyền chiến lược từ thời Tổng Khởi Nghĩa 1945 là xây dựng một chế độ chính trị tốt đẹp, “dân chủ gấp triệu lần dân chủ tư sản tây phương” chỉ là những lời nói láo và đã bị thực tế chửi lại.

Loại tuyên truyền dối trá, giả nhân giả nghĩa này đã ảnh hưởng tai hại đến đời sống tinh thần, văn hóa và đạo lý của dân tộc.

Ngày nay ai cũng biết Đảng CS nói một đàng, làm một nẻo.

Nói thì dân chủ vì dân, mà làm thì chuyên chính phát-xít, nghĩa là nói dối, nói láo, lừa bịp, trò hề, “nói vậy mà không phải vậy”.

Chế độ này bắt mọi người phải đóng trò từ trẻ con đến người già. Nó tạo nên một xã hội dối lừa, lãnh đạo dối lừa, Đảng dối lừa, cán bộ dối lừa, làm ăn giả dối, giáo dục dối lừa, bằng cấp giả dối, đến gia đình cũng lừa dối, hứa hẹn lừa dối, tung hô lừa dối và lễ hội cũng dối lừa.

Cũng vì sự chuyên chế và tuyên truyền xảo trá, Đảng CS ngày nay là một tầng lớp thống trị, một tập đoàn chuyên nghề bóc lột, hành hạ, sai khiến nhân dân và lừa bịp nhân dân trong khi vẫn nhân danh là đầy tớ của nhân dân.

Bên cạnh đó phát sinh một hệ thống an ninh với Bộ Công An đầy quyền lực và thủ đoạn học được từ các chế độ phong kiến, phát xít và độc tài cộng sản. Tất cả nhằm bảo vệ quyền lực của Đảng CS. Chế độ này đang lung lay, nhưng cố che lấp sự kém cỏi bất lực của mình để ngày càng chuyên chế một cách quyết liệt nhằm bảo vệ quyền và lợi trong sự độc tài toàn trị, và đã thoát ra khỏi lòng tin của nhân dân. Nếu Đảng vẫn cứ ngoan cố duy trì chế độ này thì sớm muộn nhân dân sẽ chán ghét và từ đó dẫn đến đổ vỡ với những tai họa khôn lường cho đất nước và dân tộc, tai họa ấy còn nặng nề gấp nhiều lần tai hại của Cải Cách Ruộng Đất và tai họa bắt cả nước xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa.

Tai họa này sẽ xóa sạch vai trò lịch sử của Đảng và Đảng sẽ phải chịu tội trước lịch sử.  Ôi, cay đắng thay!

Cái guồng máy nhục mạ con người
Mang bộ mặt hiền lành của người cuốc đất
.............
Cay đắng thay
Mỉa mai thay
Trọn tuổi xuân ta hiến dâng cuồng nhiệt
Lại đúc lên chính bộ máy này
(Bùi Minh Quốc)


Trong các mục tiêu của người dân thì lý tưởng cao cả nhất, tha thiết nhất và bao trùm nhất là Tự Do Dân Chủ. Vậy mà hiện nay, hiện tượng nổi bật nhất là bộ máy độc đoán và độc tài toàn trị của Đảng CS để đàn áp thẳng tay các ý kiến khác. Có một đội ngũ “lưỡi gỗ“ rất đông đảo, chuyên ngụy biện, nói lấy được, nói bừa bãi, trắng trợn, bất chấp lẽ phải, đạo lý, hiến pháp và luật pháp, nhiều khi bằng những thủ đoạn lưu manh. Đảng này xa rời nhân dân, thống trị nhân dân, bắt nhân dân phải sống, nói và làm theo ý Đảng, nghĩa là nhân dân đã bị Đảng tước hết mọi quyền tự do dân chủ. Như vậy, trên thực tế, sự độc quyền lãnh đạo của Đảng đã tạo nên một bộ máy phá dân chủ một cách trắng trợn, tinh vi và tàn bạo.

Bộ máy cai trị này đã tạo nên một xã hội không có tự do dân chủ, đầy tệ nạn tham nhũng, đầy tệ nạn xã hội, làm tất cả mọi người trong xã hội không lúc nào được yên tâm và thường xuyên lo lắng, sợ hãi.

        Về mặt chủ thuyết, chủ nghĩa xã hội bị méo mó ngày càng lớn, càng cực đoan. Nó có thể trở thành chế độ cộng sản kiểu Mao-ít, cao hơn nữa là kiểu Pôn-Pốt đã gây nên những tội phạm ghê gớm của loài người.

        Sự độc tài ý thức hệ và độc tài toàn trị cùng với dối trá, lừa bịp đã gây nên sự sợ hãi bao trùm làm tê liệt mọi tư duy và tình cảm.

Nói tóm lại đó là một chế độ lưu manh hóa xã hội, bần cùng hóa nhân dân, nô lệ hóa con người và [phủ nhận hay] bình quân hóa mọi ý nghĩ, cá tính, tình cảm và tư duy. Đảng CS phải ý thức nguy cơ này. Nếu không tôn trọng chế độ dân chủ và sinh hoạt dân chủ thì chẳng chóng thì chầy Đảng sẽ bị giống nòi và dân tộc loại trừ. Vậy mà ngày nay Đảng vẫn cho sinh mệnh và vai trò của mình là quan trọng hơn cả sự phát triển của đất nước, hơn cả cuộc sống của nhân dân, hơn cả sự nghèo khổ và tụt hậu của đất nước, thì chắc chắn Đảng sẽ đi vào ngõ cụt của sự tàn lụi.

Trong khi đó tại các quốc gia văn minh, các Đảng CS đã thay đổi chủ thuyết, đường lối chính sách cũng như quan niệm tổ chức và sinh hoạt để theo kịp trào lưu dân chủ hóa và hiện đại hóa trên toàn cầu. Chính Đảng Cộng Sản Pháp cũng đã công khai tuyên bố phủ nhận Chủ Nghĩa Xã Hội Mác-Lênin, từ bỏ thuyết Chuyên Chính Vô Sản và chính sách Tập Trung Dân Chủ. Vì đó là những học thuyết lỗi thời phản dân tộc và phản nhân loại. Nó còn đi trái với văn hóa, đạo lý [và những lý tưởng truyền thống của dân tộc như tinh thần đại đồng, tinh thần nhân bản, tinh thần dân chủ, tinh thần hiếu hòa và tinh thần bao dung].

Hiện nay những người lãnh đạo Đảng CS vẫn kiên định lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng.  Mà tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là sự vận dụng chủ nghĩa Mác-Lê.  Theo chủ nghĩa này toàn dân toàn quân cũng như các cơ quan nhà nước phải tuân phục Đảng CS bằng sự lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện. Toàn thể nhân dân phải học tập và tuân hành nghị quyết của Đảng. Nhiều khi những nghị quyết này đi ngược lại những quy định về hiến pháp và luật pháp do quốc hội thông qua. Mà quốc hội muốn thông qua cái gì cũng phải được Đảng phê duyệt.

Đảng kiên trì chế độ tập trung quyền lực, tập trung tư tưởng, tập trung dân chủ trong chế độ vô sản chuyên chính.  Như vậy thực chất chế độ không phải là có dân chủ xã hội chủ nghĩa mà là chế độ xã hội phản dân chủ.
[Ngày nay tổ chức Quốc Tế Xã Hội (Socialist International) quy tụ trên 60 Đảng Xã Hội, Dân Chủ Xã Hội, và Lao Động trên thế giới. Tổ chức Liên Minh Xã Hội Á Châu (Asian Socialist Conference) cũng kết hợp môt số Đảng Xã Hội và Lao Động tại miền thế giới này. Cả hai tổ chức Quốc Tế Xã Hội nói trên đều theo Chủ Nghĩa Dân Chủ Xã Hội (Democratic Socialism), tôn trọng những quyền tự do chính trị như tự do phát biểu, tự do lập đảng, tự do tuyển cử và bác bỏ chế độ mệnh danh là vô sản chuyên chính hay độc tài đảng trị. Bản Tuyên Ngôn Liên Minh Xã Hội Á Châu năm 1953 viết:  “Chúng tôi, các Đảng Xã Hội, Dân Chủ Xã Hội và Lao Động tại Á Châu, tuyên bố phủ nhận chủ nghĩa CS, và tuyên bố sẽ tiếp tục cuộc chiến đấu của chúng tôi để thay thế các chế độ phong kiến lạc hậu bằng chế độ Dân Chủ Xã Hội.”

Các Đảng Xã Hội và Lao Động tại Âu Châu chủ trương giải phóng lao động bằng đấu tranh đại nghị và nghiệp đoàn. Họ đã góp phần xây dựng hòa bình thế giới, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất của các tầng lớp lao động và tiểu tư sản. Họ có những thành tích đấu tranh bảo vệ tự do dân chủ và giải phóng lao động từ cuối Thế Kỷ 19, đầu Thế Kỷ 20. Những Đảng tiền phong là các Đảng Lao Động tại Anh, Hà Lan, Úc, Canada, các Đảng Xã Hội và Dân Chủ Xã Hội tại Pháp, Đức, Áo, Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch, Phần Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha v...v... Mới đây sau cuộc Cách Mạng Dân Chủ 1989, các Đảng Xã Hội và Dân Chủ Xã Hội tại Đông Âu đã phục hoạt trở lại như tại Đức, Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi, Bảo Gia Lợi, An Ba Ni, Lỗ Ma Ni  v...v...

        Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng lao động, các Đảng Lao Động, Xã Hội và Dân Chủ Xã Hội Âu Châu là những đối thủ nguy hiểm nhất của Đảng CS. Tháng 2-1917 Đảng Dân Chủ Xã Hội của Kerensky được nhân dân Nga tín nhiệm trong cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc Hội Lập Hiến. Tuy nhiên, 8 tháng sau, Lênin đảo chính võ trang lật đổ chế độ Kerensky để thành lập Liên Bang Sô Viết theo chế độ CS, với vô sản chuyên chính, độc tài đảng trị và độc quyền tư tưởng. Sau 70 năm nắm chính quyền, Đảng CS Liên Xô đã không xây dựng được chủ nghĩa xã hội chân chính theo đường lối của Quốc Tế Xã Hội. Kết quả là nhân dân vừa mất tự do, vừa lâm vào cảnh nghèo khổ túng thiếu.]

Ở Việt Nam cũng vậy, tới đầu thập niên 1980, xã hội chủ nghĩa là “xếp hàng cả ngày”, xã hội bất công, nhà nước độc tài với những tệ nạn ngày càng trầm trọng, đặc biệt là tệ nạn tham nhũng. Do đó muốn xây dựng một chế độ dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, Việt Nam phải xóa bỏ thứ (ngụy) chủ nghĩa xã hội với độc tài toàn trị và độc quyền lãnh đạo của Đảng CS. Mà muốn đả phá chuyên chính, đả phá toàn trị, đả phá độc quyền thì phải xóa bỏ Điều 4 Hiến Pháp [để thiết lập chế độ Dân Chủ Pháp Trị theo Chủ Nghĩa Dân Chủ Tự Do hay Dân Chủ Xã Hội chính thống của nhân loại văn minh].

        Nhận định sau cùng là muốn hội nhập vào cộng đồng các quốc gia văn minh trên thế giới, các chính phủ, nhất là ở Việt Nam, phải biết tự trọng và trọng danh dự quốc gia bằng cách tôn trọng chữ ký và cam kết của mình trong các Hiệp Ước và Công Ước Quốc Tế, đặc biệt là Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị và Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Kinh Tế Xã Hội và Văn Hóa mà Chính Phủ đã ký kết và Quốc Hội đã phê chuẩn. Có như vậy Việt Nam mới có cơ hội tiến lên sánh vai với các nước dân chủ tiến bộ trên thế giới để, bằng hợp tác và hữu nghị, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ, phát triển, văn minh và tiến bộ, đem lại tự do, hạnh phúc và công bằng xã hội cho người dân.

Hải Ngoại ngày 15- 9-2007
                                                           LS. NGUYỄN HỮU THỐNG

LUẬT SƯ NGUYỄN HỮU THỐNG tự NHUỆ HỒNG

-  Tốt nghiệp Đại Học Luật Khoa Hà Nội và Saigon (1954)
-  Hành nghề Luật Sư tại Việt Nam, Pháp và Hoa Kỳ (từ 1954)
-  Chủ Bút nhật báo Tiếng Miền Nam (1955)
-  Trưởng Phái Đoàn Việt Nam Cộng Hòa tại Hội Nghị Các Nhà Văn Á  Châu (1956)
-  Đệ Nhất Phó Chủ Tịch Quốc Hội Lập Hiến Việt Nam Cộng Hòa      (1966-1967)
-  Giáo Sư Chính Trị Học Đại Học Đà Lạt (1973-1974)
-  Chủ Tịch Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền (từ 1990)
-  Sáng Lập và Cố Vấn Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam (từ 1997)

CÁC TÁC PHẨM VỀ DÂN CHỦ VÀ NHÂN QUYỀN:

  Chủ Nghĩa Dân Chủ Xã Hội (1957)
  Nền Dân Chủ Trong Các Tân Quốc Gia (1960)
  Cẩm Nang Nhân Quyền (1998)
  Luật Quốc Tế Nhân Quyền (1998-1999)
  Giải Thể Chế Độ Cộng Sản (2002)
  Restoring The Historic Truth (2003)
  Hiến Chương Nhân Quyền Cho Việt Nam (2005) (song ngữ)









http://www.canh-en.de/index.php?id=123&tx_mininews_pi1
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-25 23:28:49Ngọc Lý>
 
Bài được dời đi theo yêu cầu của Chị Ct. Ly.
Xin các bạn đọc bài này tại đây:
 
Kinh Nghiệm Sống: Vì Dân Giúp Dân không phải là Tội
 
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=299469&mpage=1&key=&#299469
 
 
Ngọc Lý
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-25 23:33:50Ngọc Lý>
 
Hội luận trong-ngoài về tuyên bố ‘bỏ điều 4 là tự sát’ của ông Nguyễn Minh Triết (phần 1)
2007.09.21
Việt Hùng, phóng viên đài RFA
 
Bài được dời đi theo yêu cầu của Chị Ly .
Xin các bạn xem bài này tại đây:
 
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=299470&mpage=1&key=&#299470



Ngọc Lý[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-09-28 06:04:10Ngọc Lý>
Tinh Thần Hiến Pháp

Phần I: Hiến Pháp Cũng Đổi Thay Theo Thời Cuộc

Hiến pháp 1946 ban hành, những “thần dân” Việt Nam, lần đầu tiên, có cơ hội để trở thành “công dân” của một quốc gia độc lập. Tuy nhiên, không phải cứ có Hiến pháp là có “pháp quyền”, nếu như những nguyên tắc định ra trong đó không được tôn trọng. Tiến sỹ Nguyễn Đình Lộc, Nguyên Bộ trưởng Tư Pháp, Nguyên Trưởng Tiểu Ban Biên tập Hiến pháp 1992, Nguyên thành viên của Ban Thư ký soạn thảo Hiến pháp 1980, đã chia sẻ với Sài Gòn Tiếp Thị những trăn trở về một truyền thống Hiến pháp chưa được kiến tạo ở Việt Nam.

Thưa ông, là người trực tiếp tham gia soạn thảo nhiều bản Hiến pháp, ông có nhận xét gì về những lần sửa đổi đó?

Việt Nam không có truyền thống hiến pháp, và có thể đó là lý do khiến cho, Hiến pháp của ta rất hay thay đổi theo hoàn cảnh lịch sử. Mỗi lần thay đổi, “lịch sử” để lại rất nhiều dấu ấn trong Hiến pháp.

Xin được bắt đầu với “hoàn cảnh lịch sử” khi Hiến pháp 46 ra đời. Thưa ông, vì sao mô hình nhà nước Xô viết đã không được chọn trong bản Hiến pháp đầu tiên này của nước ta?

Mô hình nhà nước Xô Viết theo Hiến pháp 1936 của Liên Xô là nhà nước dựa trên nền tảng (đấu tranh) giai cấp. Trong khi, yêu cầu của cách mạng Việt Nam ở thời điểm năm 1946 là phải đoàn kết dân tộc thật sự. Nhưng, có thể đây cũng là một lý do, những người tham gia soạn thảo Hiến pháp 46 không có ai từng nghiên cứu Hiến pháp Liên Xô. Những người trực tiếp chấp bút đều là trí thức được đào tạo trong các nhà trường của Pháp, nơi tư tưởng dân chủ, dân quyền có một sức ảnh hưởng to lớn.

Thưa ông, Hiến pháp 46 vẫn thường được gọi là Hiến pháp Hồ Chí Minh và Hồ Chí Minh thì đã ở Nga từ năm 1924?

Không chỉ trong Hiến pháp, đã có người đặt câu hỏi, vì sao trong Tuyên Ngôn Độc Lập, Hồ Chủ Tịch cũng không trích dẫn bản “Tuyên Ngôn” Lenin đọc sau Cách Mạng tháng 10 mà chỉ trích dẫn Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ. Tôi nghĩ, “Tuyên ngôn” của Lenin là một tuyên ngôn về giai cấp. Trong khi, mối quan tâm xuyên suốt của Hồ Chí Minh là dân tộc. Năm 1927 khi viết “Đường Cách Mệnh”, Hồ Chí Minh đã không giấu diếm điều này. Nhiều người chỉ thấy Hồ Chủ Tịch trích dẫn câu “mọi người sinh ra đều bình đẳng” trong Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ, ít ai chú ý, ông trích câu đó để nhấn mạnh: “Suy rộng ra, các dân tộc đều có quyền bình đẳng”.

Nhưng thưa ông, như vậy, yếu tố “thời điểm lịch sử” đã đóng một vai trò thế nào trong bản Hiến pháp này?

Cũng cần nhắc lại, những năm tháng hoạt động của Hồ Chí Minh tại Liên Xô là không hề suôn sẻ. Tuy nhiên, ở thời điểm đó, không có nhiều mô hình kiểu Xô Viết để các tác giả của bản Hiến pháp 46 tham khảo. Sau Thế Chiến thứ II, ở Pháp, Đảng Cánh Tả, khi nắm quyền, cũng đã thử đưa vào dự thảo hiến pháp mô hình nhà nước cộng sản, nhưng nó đã không được nhân dân Pháp ủng hộ.

Thưa ông, “dân tộc” được coi là mối quan tâm lớn nhất của Hồ Chí Minh, nhưng tại sao ngay trong thời đại Hồ Chí Minh, bản Hiến pháp thể hiện đường lối dân tộc 1946 đã được thay bằng bản Hiến pháp 1959, mang tính giai cấp?

Hiến pháp 1959 ra đời là một ví dụ về điều tôi đã nói, chúng ta không có truyền thống Hiến pháp, nên “hoàn cảnh lịch sử” đóng một vai trò hết sức to lớn trong việc thay đổi nó. Tác động của “hoàn cảnh lịch sử” lên Hiến pháp không phải từ năm 1959, nó bắt đầu xuất hiện từ năm 1953.

Năm Quốc hội thông qua Luật Cải cách Ruộng đất?

Vâng. Hiến pháp 1946 được Quốc hội thông qua, chưa kịp công bố, thì đất nước rơi vào tình trạng chiến tranh. Nếu Hiến pháp 1946 đi vào cuộc sống, Quốc hội lập hiến sẽ phải thay thế bằng Nghị viện Nhân dân. Tuy nhiên, một cuộc tổng tuyển cử sau Hiến pháp đã không thể thực hiện và năm 1953, khi các đại biểu được triệu tập ra Việt Bắc để thông qua Luật Cải cách Ruộng đất, Quốc hội lập hiến, tự nó trở thành Quốc hội lập pháp.

Như vậy là truyền thống tuân thủ Hiến pháp đã có một “tiền lệ” khi Quốc hội lập hiến thông qua đạo luật này?

Sau này, khi nhìn lại Luật Cải cách Ruộng đất, có hai ý kiến khác nhau: Một số người nói, nó trái với điều 12 của Hiến pháp; Một số ý kiến cho rằng không thể gọi là “trái”, vì trên thực tế, Hiến pháp 1946 chưa đựơc thi hành. Điều 12, Hiến pháp 1946 nói rằng: “Quyền tư hữu tài sản của công dân được bảo đảm”. Trong bản Dự thảo Hiến pháp đưa ra lấy ý kiến nhân dân, không có điều khoản ấy. Có lẽ, về phương diện sở hữu, Hồ Chủ Tịch có phần nào chịu ảnh hưởng của Hiến pháp Xô Viết. “Quyền tư hữu” được bổ sung sau khi lấy ý kiến nhân dân. Nhưng, hoàn cảnh lịch sử mới là yếu tố chính, ảnh hưởng tới việc ra đời của Luật Cải cách Ruộng đất.

Ông muốn nói về cuộc kháng chiến chống Pháp?

Như chúng ta biết, Chiến dịch Biên giới đã đưa Cuộc Kháng chiến chống Pháp chuyển sang một giai đoạn mới. Trung Quốc và Liên Xô bắt đầu có những giúp đỡ thiết thực hơn, đồng thời, “bạn” thúc giục chúng ta làm cải cách ruộng đất. Ở bên trong, việc tước đoạt đất đai của địa chủ chia cho dân nghèo cũng có một ý nghĩa nhất định đối với cuộc Kháng chiến. Tuy nhiên, trên thực tế, thời gian mà “người cày” thực sự “có ruộng” là không dài.

Vì sau đó, Hiến pháp 1980 xác định “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”?

Ruộng đất bắt đầu được đưa vào các hợp tác xã ở Miền Bắc kể từ khi Hiến pháp 1959 xác định tiến trình “cải tạo xã hội chủ nghĩa” và tới Hiến pháp 1980 thì chính thức thuộc về “sở hữu toàn dân”. Theo Bản Dự thảo mà Chủ tịch Uỷ ban Soạn thảo Hiến pháp Trường Chinh chuẩn bị, đất đai, dự định, vẫn thuộc sở hữu của 5 thành phần kinh tế. Uỷ Ban Nông Nghiệp Trung ương Đảng cũng đồng ý với đề nghị này. Tuy nhiên, phát biểu trước Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Lê Duẩn cho rằng “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” là một vấn đề “mang tính đạo lý”. Bài phát biểu của đồng chí Lê Duẩn rất ấn tượng. Ở thời điểm ấy, có thể nói, uy tín của đồng chí Lê Duẩn là bao trùm nên ý kiến của ông rất dễ được Trung ương tán thành. Khi Uỷ Ban Soạn Thảo Hiến pháp trình bày ý kiến của đồng chí Lê Duẩn trước Quốc hội, các đại biểu cũng chưa ý thức được bản chất của tiến trình này là quốc hữu hóa. Bản thân bà luật gia Ngô Bá Thành cũng nghĩ rằng, “đất đai sở hữu toàn dân” tức là “mỗi người dân có một mảnh đất”.

Thưa ông, ở thời điểm ấy, chúng ta chưa hiểu hết nội hàm của khái niệm đất đai thuộc sở hữu toàn dân hay vì chúng ta chưa nhận thấy những giá trị lâu dài mà một bản Hiến pháp cần phải nhắm tới?

“Đất đai thuộc sở hữu toàn dân” là một khái niệm tiếp thu từ Hiến pháp Liên Xô. Nhưng nếu như sau Cách mạng Tháng 10, việc quốc hữu hoá đất đai của Liên Xô là để nhắm vào giai cấp quý tộc vì khi đó ruộng đất đang ở trong tay giai cấp này. Thì, ở thời điểm 1980, đất đai của ta chủ yếu đã về tay nông dân. Không phải quý tộc hay địa chủ, chính nông dân nhận lãnh hậu quả của các chính sách đó. Tôi sẽ nói kỹ hơn ở phần sau về bài học cân nhắc hoàn cảnh của nước ta khi tiếp thu Hiến pháp Liên xô. Phải thừa nhận, những khủng hoảng xuất hiện sau Hiến pháp 80 là rất to lớn và cho đến nay vẫn chưa thể nào khắc phục hết được.


Phần II: Vì Sao Chưa Có Toà Án Hiến Pháp

Thưa ông, Hiến pháp năm 1959 rõ ràng đã đưa nước ta đi theo một hướng mới so với Hiến pháp 1946, như ông nói, đây chính là thời kỳ mà tinh thần của các bản Hiến pháp Xô viết bắt đầu được tiếp thu?

Tiếp thu kinh nghiệm xây dựng Nhà nước của nước khác là điều bình thường. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói là việc tiếp thu của chúng ta cũng có phần vội vã. Tôi ví dụ: Từ năm 1960, ta giải thể Bộ Tư pháp, trước đó Liên Xô cũng giải thể Bộ Tư pháp. Nhưng ta đã không nghiên cứu kỹ vì sao Liên xô giải thể. Nhà nước Liên Xô là Liên Bang, ở cấp Liên Bang, họ không có Bộ Tư pháp, nhưng các nước cộng hòa lại có. Hoàn cảnh ra đời của Hiến pháp 1936 của Liên Xô cũng khác. Năm 1936, Chủ tịch Uỷ ban Soạn thảo Hiến pháp Liên xô, Stalin, tuyên bố: “Liên xô đã hoàn thành xây dựng Chủ nghĩa Xã hội”, trong khi hoàn cảnh nước ta…

Thưa ông, mấu chốt của vấn đề có lẽ nằm ở thái độ đối với Hiến pháp. Hiến pháp 1946 nói rằng, việc “sửa đổi Hiến pháp phải do 2/3 tổng số nghị viên yêu cầu; những điều thay đổi khi đã được nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết”. Thế nhưng, khi thay thế Hiến pháp 46 bằng Hiến pháp 1959, quy trình sửa đổi đã không diễn ra như vậy, về sau, việc sửa đổi Hiến pháp còn dễ dàng hơn?

Hiến pháp 1946, như tôi nói, trên thực tế đã chưa được công bố. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận là chúng ta chưa có truyền thống coi Hiến pháp là thiêng liêng, là bất khả xâm phạm. Trong lịch sử ngắn ngủi của Hiến pháp Việt Nam, khi cần thiết, nó vẫn thường được đặt sang một bên để bước tới. Tôi ví dụ như sau đổi mới, ta mở cửa cho tư bản nước ngoài đầu tư, trong khi Hiến pháp 80 quy định “Nhà nước độc quyền về ngoại thương”. Mở cửa cho đầu tư Nước ngoài là một chính sách đúng, nhưng đúng ra là phải sửa Hiến pháp trước.

Nhưng không phải lúc nào “đặt Hiến pháp qua một bên” cũng đều vì một chính sách đúng như ông vừa ví dụ?

Đúng, Luật Cải cách ruộng đất là một trừơng hợp. Thường thì lợi ích dân tộc vẫn được ưu tiên. Tuy nhiên, không chỉ là quyền lợi dân tộc mà còn là một thói quen chọn cái dễ hơn. Đặt Hiến pháp sang một bên dễ hơn nhiều so với việc tuân thủ nó.

Thưa ông, Hiến pháp không chỉ bị vi phạm như vậy, đã từng có nhiều luật, nhiều quy định “dưới luật” trái hoặc triệt tiêu những quyền mà Hiến pháp đã trao cho người dân; các quy định về hộ khẩu là một ví dụ. Ông đã từng nói khi còn là một đại biểu Quốc hội, những quy định về hộ khẩu trước đây trái với quyền tự do cư trú được quy định trong Hiến pháp?

Trong một thời gian dài có thể nói “chuyên chính vô sản” đã chi phối mọi hoạt động của xã hội. Khuynh hướng người cầm quyền, lạm dụng quyền trở nên phổ biến. “An ninh Quốc gia” thường được sử dụng để biện minh cho sự lạm quyền và xã hội lại dường như có khuynh hướng chấp nhận nó. Luật Cư trú đúng là một ví dụ. Khi trình ra Quốc hội, dự luật này vẫn được gọi là Luật quản lý cư trú. Một dự luật, khi đưa tới Quốc hội, phải trải qua sự xem xét của rất nhiều cơ quan. Và “Lợi ích dân tộc” đã được nhân danh để lấn lướt. Tôi nghĩ là chúng ta vẫn rất cần phải nhận thức lại về các quyền tự do mà Hiến pháp đã trao cho người dân.

Có lẽ không phải dân chúng có khuynh hương chấp nhận nó mà dân chúng không thể làm gì với thực tế đó. Thưa ông, Hiến pháp khó có thể được tôn trọng, nếu không có một cơ quan độc lập, một toà án đưa ra những phán quyết khi Hiến pháp bị vi phạm?

Tôi nhớ là Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An cũng đã rất tha thiết với việc hình thành toà án Hiến pháp. Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội cũng đã từng đề cập tới điều này. Như vậy, đưa vấn đề toà án hiến pháp ra bàn giờ đây là không có gì đột ngột nữa. Nhưng, tôi vẫn cho là chưa chín muồi. Muốn có tòa án hiến pháp, phải sửa Hiến pháp.

Thưa ông, sửa Hiến pháp đâu phải là một việc khó, Quốc hội ta vẫn thường sửa Hiến pháp mà?

Đúng là không khó, nhưng cũng không đơn giản. Không phải là vấn đề tòa án hiến pháp chưa được bàn ở các cấp lãnh đạo cao nhất. Tuy nhiên, tôi nói không đơn giản là bởi để có toà án hiến pháp, chúng ta không chỉ sửa Hiến pháp mà trước hết, phải sửa phương thức lãnh đạo của Đảng. Nói thì nghe to tát, nhưng chỉ đơn giản là Đảng phải tuyệt đối tuân thủ điều 4 Hiến pháp, tức là, không để tổ chức nào đứng trên Hiến pháp và pháp luật. Muốn như vậy, phải nhận thức lại từ đầu.

Từ đâu, thưa ông?

Chúng ta nói xây dựng nhà nước pháp quyền, nhưng một nhà nước pháp quyền Việt Nam như thế nào thì chưa rõ. Năm 1992, để đưa được khái niệm “nhà nước pháp quyền” vào Hiến pháp, chúng ta đã phải tranh luận rất gay gắt.

Thưa ông nhiều người cho rằng, “pháp quyền”, nếu làm thật sẽ không khó, làm nửa vời mới khó, điều cần “nhận thức lại” mà ông đề cập là gì?

Pháp quyền chưa trở thành một nguyên tắc điều chỉnh mỗi hành vi, mỗi ngày. Chúng ta đã trải qua một thời kỳ dài bao cấp, không chỉ bao cấp kinh tế mà cả chính trị. Người lãnh đạo, người thủ trưởng, vẫn thường muốn cái gì cũng phải đến tay mình, cái gì cũng do mình quyết định thay vì phải để từng cơ quan hoạt động theo đúng chức năng Hiến định của nó. Ví dụ, về nguyên lý, sự lãnh đạo của Đảng là một mối quan hệ bên trong giữa Đảng và Nhà nước. Nhà nước mới là đại diện chính thức, là chủ quyền của nhân dân. Đảng lãnh đạo nhưng khi luật ban hành bởi nhà nước rồi thì Đảng cũng phải tuân thủ.

Thưa ông, chính vì thế mới đòi hỏi phải có toà án hiến pháp để đảm bảo ai, điều gì đứng trên Hiến pháp và pháp luật đều bị vô hiệu?

Không đơn giản như vậy. Lập ra một thiết chế không khó, cái khó là tạo uy tín cho nó vận hành. Tạo uy tín cũng không khó nếu để cho tòa án hiến pháp cứ phép nước thi hành. Nhưng, như tôi đã nói, chúng ta chưa có thói quen ấy. Sẽ có những nhân vật quan trọng chưa quen với việc có những việc quan trọng được quyết định mà… không hỏi ý mình. Nếu tòa án hiến pháp mà cũng phải xin ý kiến thì sẽ trở thành một thiết chế tồn tại lơ lửng, không đủ uy tín cho nó họat động.

Nói đến uy tín, thưa ông, về nguyên lý, hệ thống tòa án là nơi duy trì công lý vì vậy nó phải vận hành trên cơ sở lòng tin. Tư pháp có những thiết chế giám sát riêng, chứ không nhất thiết phải giám sát bởi lập pháp. Không ở đâu, Tư pháp lại dễ bị “mất mặt” như ở ta. Theo ông, việc Quốc hội chất vấn Chánh án Tòa án NDTC như ở Việt Nam có phải là hợp lý?

Đó là một bi kịch nhưng lại liên quan đến một vấn đề khác. Trước hết phải xác định vai trò Quốc hội trong bộ máy nhà nước như thế nào. Có những điều, tôi nhắc lại là chúng ta sao chép Liên xô nhưng lại không hiểu họ. Ở Liên xô trước đây, Quốc hội cũng không bao giờ chất vấn tòa án. Khi soạn thảo Hiến pháp 92, tôi đã nhiều lần nói lại cho rõ. Ở thời điểm mà chúng ta tiếp thu Hiến pháp Liên xô (1959), Việt Nam chưa có nhiều người giỏi tiếng Nga. Chúng ta dịch Hiến pháp Liên xô chủ yếu qua tiếng Pháp và Trung Quốc. Mà tiếng Trung quốc thì khác Việt Nam ở chỗ, tính từ đứng trước danh từ. Phần về Quốc hội, nguyên văn tiếng Nga là: “Quốc hội là cơ quan cao nhất của quyền lực Nhà nước”. Ta dịch theo bản tiếng Trung thành: “Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất”. Mọi bí ẩn, tiếc thay, lại chỉ nằm ở một chỗ hết sức đơn giản như vậy. Thế nhưng đã thành nếp rồi, chúng tôi không thuyết phục được nữa.

Và hệ luỵ?

Đó là lý do, Quốc hội muốn chất vấn ai thì chất vấn. Cũng phải nói rằng ngay cả ở những nước “tam quyền phân lập”, hành pháp vẫn bổ nhiệm các thẩm phán; lập pháp vẫn phê chuẩn họ, nhưng điều đó không có nghĩa là hành pháp, lập pháp có thể can thiệp vào họat động của tư pháp.

Thưa ông, cho dù “nhà nước pháp quyền” được ghi trong Hiến pháp, cho dù Hiến pháp nói tư pháp hoạt động “độc lập, chỉ tuân theo pháp luật”, nhưng nó vẫn không “chỉ tuân theo pháp luật” vì nó không đựơc nhận thức như là một nguyên lý của nhà nước?

Việc hoạt động của hệ thống tòa án chưa thực sự độc lập còn liên quan đến nhiều yếu tố khác. Trong phạm vi cuộc trao đổi này, tôi muốn trở lại vấn đề quốc hội lập hiến. Tại sao quốc hội lập hiến không nên tiếp tục là quốc hội lập pháp? Bởi, lập hiến là tiến trình xác định giới hạn quyền lực của các cơ quan nhà nước. Cho nên, nếu để quốc hội lập hiến tiếp tục tồn tại, nó nghiễm nhiên trở thành một cơ quan tự xác lập quyền lực cho mình, dẫn đến giành hết quyền lực cho mình. Chúng ta không có truyền thống hiến pháp, chúng ta cũng không bắt đầu hiến pháp bằng một chủ thuyết. Chúng ta lại không tiếp thu kinh nghiệm dựa trên một sự nghiên cứu đầy đủ. Đó là lý do, tiến trình đi đến một nhà nước pháp quyền vẫn còn không đơn giản.

Huy Đức thực hiện




[/align]Friday September 21, 2007 - 06:27pm (ICT)

[/align]
http://blog.360.yahoo.com/blog-_Q78P6g5br89WVUa77qC3PG4?p=419
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-01 07:41:04Ngọc Lý>
.
"Cơ quan công quyền cũng vi phạm luật pháp rất nhiều"
Luật sư Trần Lâm, nguyên Thẩm phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao trả lời các thắc mắc Pháp Luật:




1. Nghị định 31/CP đã bãi bỏ hay vẫn còn hiệu lực? Tại sao nhiều người bị bắt không chứng cớ và không được xử mà không được thả?
2. Điều 88 Bộ Luật Hình Sự đi ngược với Hiến Pháp, đúng ra phải xóa đi, tại sao vẫn còn tồn tại?
3. Tại sao Hành Pháp lại có quyền can thiệp vào Tư Pháp?

Nhiều nhà bất đồng chính kiến bị bắt giam không được xét xử
2007.09.29 Trà Mi, phóng viên đài RFA

Nghị định 31/CP cho phép cơ quan điều tra được giam ngừơi tới 2 năm mà không cần đưa ra toà xét xử đã chính thức được bãi bỏ từ tháng 3 năm nay.

Bấm vào đây để nghe cuộc phỏng vấn này
Tải xuống để nghe


Thế nhưng, dư luận trong và ngoài nước hiện rất bức xúc về các trường hợp bị tạm giam vô thời hạn của các nhà bất đồng chính kíên, điển hình như trường hợp của Trương Quốc Huy, Phạm Bá Hải, hay Nguyễn Ngọc Quang...

Tính tới nay, những ngừơi này đã bị bắt giữ hơn 1 năm và nhận lệnh gia hạn tạm giam nhiều lần, dù không có một án lệnh chính thức nào.

Vậy chúng ta nên hiểu thế nào về việc bãi bỏ nghị định 31 và những gì đang diễn ra trong thực tế tại Việt Nam?

Pháp luật Việt Nam quy định thời hạn tạm giam để điều tra tối đa là bao lâu?

Trà Mi liên lạc với luật sư Trần Lâm, ngừơi nhiều năm công tác trong ngành pháp lý tại Việt Nam. Ông từng là Thẩm phán Tòa Án Nhân dân Tối cao và cũng là người tham gia bào chữa nhiều vụ án chính trị trong nước.

Nghị định 31/CP vẫn còn hiệu lực?
 
Về quy định đối với thời gian tạm giam, luật sư Lâm cho biết:

LS Trần Lâm: Về vấn đề tạm giam, có thí dụ như thế này. Thí dụ bây giờ quy định là 4 tháng, nhưng nếu 4 tháng mà chưa làm xong thì anh công an điều tra lại đề nghị Viện Kiểm Sát cho phép tạm giam thêm 4 tháng nữa, tuỳ theo tội nặng hay nhẹ.

Trà Mi: Trong quá trình điều tra thôi thì làm sao biết tội nặng hay nhẹ, thưa luật sư ?

LS Trần Lâm: Có biết chứ. Với dữ liệu người ta có thì người ta nắm được, người tá ước lượng có những vụ đúng là có tội đấy, bắt như thế là đúng đấy, nhưng điều tra ra thì lâu lắm. Ở đây có mấy mức cơ.

Trà Mi: Luật sư nói là có thể kéo dài để phục vụ quá trình điều tra, nhưng thời hạn kéo dài cũng phải có mức độ tối đa là bao nhiêu chứ, không lẽ không có đầy đủ luận cứ để ghép tội người ta mà cứ giam hoài từ năm này sang năm khác?
 
LS Trần Lâm: Vâng, cô hỏi như thế là rất đúng đấy. Vì tư pháp phải theo luật chứ không phải thích làm như thế nào thì làm đâu.

Đúng như cô nói, việc đó là vi phạm pháp luật thật. Ở các nước phải nhận như thế này là trình độ họ cao, phương tiện của họ nhiều hơn, trách nhiệm của họ, nghiệp vụ của họ, kỹ năng của họ, kỹ thuật của họ, nghề nghiệp của họ thì thành thạo hơn. Chứ còn ở mình thì phải nhìn nhận rằng trình độ cơ quan điều tra của mình thấp hơn cho nên có kéo dài.

Bắt tạm giam vô thời hạn?

Trà Mi: Ý luật sư muốn nói là pháp luật Việt Nam không có quy định rõ ràng về mức thời hạn tối đa đựơc phép áp dụng để tạm giam phục vụ quá trình điều tra hay sao?
 
LS Trần Lâm: Cô hỏi như thế nghe thì nó đúng luật đấy, không thể kéo dài vô hạn được. Một mặt là cơ quan tố tụng không trong sáng, nó không công bằng, nó không liêm khiết, cho nên nó kéo dài ra. Đấy là tình hình có thật.
Tình hình thứ hai nữa là có lắm người can thiệp vào vụ án làm cho nó nhão nhoét ra, rất là mất thì giờ. Cái đó có. Tôi thấy mặt trái là có cô ạ. Anh nào làm điều tra nếu mà cái việc đó giản đơn mà anh ta kéo dài là anh có khuyết điểm đấy.

Trà Mi: Thế những khuyết điểm đó có biện pháp xử lý nào để tránh trường hợp gây oan sai cho nạn nhân không ạ?
 
LS Trần Lâm: Cái đó có chứ, nhưng mà bây giờ tôi cũng thừa nhận với cô là mình thi hành không chặt chẽ lắm. Nhưng mà nguyên tắc là có cô ạ. Có vụ án rất giản dị mà rồi không làm nổi bởi vì thiếu chứng cứ.

Trà Mi: Nếu như không tìm ra chứng cứ trong quá trình điều tra thì phải trả tự do cho người ta chứ?
 
LS Trần Lâm: Vâng, phải trả tự do. Bình thường việc đó kéo dài 3 kỳ thôi chứ không thể kéo dài vô hạn. Bây giờ có nhiều cái bí lắm, không làm nổi, nhưng mà thấy rằng có dấu hiệu phạm tội cho nên không thể bỏ được, cái đó là có.

Pháp luật có được tôn trọng?

Trà Mi:
Nhưng mà pháp luật Việt Nam phải có cái gì để bảo vệ quyền lợi của người mà nếu như không phạm tội thì người ta cũng không bị sự oan ức quá đáng.
 
LS Trần Lâm: Nếu bây giờ họ cho rằng từ nay trong điều tra, người luật sư được tham gia, thì việc này sẽ được ngăn chận ngay. Theo luật của các nước thì sau khi bị bắt bao nhiêu tiếng đồng hồ thì luật sư có thể gặp người bị cáo và ông công an làm việc gì với người bị bắt thì luật sư cũng được ngồi đấy, nghĩa là làm cái gì cũng có luật sư, thì cái việc đó được ngăn cô ạ. Không thể kéo dài, bởi kéo dài thì luật sư can thiệp thì anh điều tra phải thôi.
Tôi đồng ý với cô là ta vẫn còn kém chỗ đó. Vì thế cho nên người lười biếng có thể kéo dài; người tiêu cực -tức là muốn tiền nong đó- thì kéo dài, hoặc người quá kém cỏi thì nó cũng kéo dài. Vừa rồi ông thượng tướng công an bảo rằng cứ đi điều tra chỗ nào thì cái ông to ở đấy lại ngăn lại. Tôi đồng ý là các tiêu cực ấy là có.

Trà Mi: Xin được hỏi thăm ý kiến của ông -là một người chuyên môn đã hành nghề lâu năm- theo ông thì vì sao Việt Nam lại có một sự khác biệt với quốc tế như vậy? Vì sao ở Việt Nam lại không cho phép luật sư tham gia trong quá trình điều tra?
 
LS Trần Lâm: Nói thật là chúng ta lạc hậu hơn cũng có. Cơ quan công quyền vi phạm pháp luật, tức là thi hành pháp luật không đầy đủ.

Trà Mi: Như ông nói ngay chính cơ quan công quyền cũng vi phạm pháp luật.
 
LS Trần Lâm: Cái đó là vi phạm nhiều chứ. Mình không dám nói ra đó thôi chứ vi phạm nhiều lắm, như đánh người ta, ép người ta phải nói theo ý mình.

Nhốt người chỉ vì yếu kém của cơ quan điều tra?

Trà Mi: Thưa ông, trước thực tế pháp luật Việt Nam chưa mấy bảo vệ quyền lợi của công dân mà chỉ có vẻ bảo vệ cơ quan hành pháp, thì những nạn nhân đang bị tạm giam đó hoàn toàn vô tội vậy họ làm sao để tự bảo vệ mình, tránh tình trạng bị tạm giam oan ức một cách quá lâu như vậy?
 
LS Trần Lâm: Ta có câu "con khóc mẹ mới cho bú", thế thì người dân nếu dân trí cao trong một xã hội văn minh hơn thì tự nhiên là nó tốt đẹp. Chứ bây giờ anh bị tội cũng dân trí thấp, anh cầm quyền cũng dân trí thấp, trình độ thấp, thế thì làm sao tìm ra chân lý được.

Chúng tôi cũng đã xử nhiều rồi, nhiều khi khổ vô cùng. Cô thông cảm cho mặt bằng dân trí của xã hội mà đã thấp thì có nhiều cái phiền hà lắm, giới cầm quyền dễ vi phạm cô ạ.

Trà Mi: Điều đó có thể thông cảm được, nhưng các nạn nhân bị oan sai thì không biết ai thông cảm cho những nỗi thống khổ của họ, phải không thưa ông?
 
LS Trần Lâm: Cái oan của xã hội thì nó vẫn có, phải thông cảm. Theo ý tôi, bây giờ ngưòi ta đang cố gắng thay đổi đấy. Thí dụ như Chủ Tịch Nước hôm kia họp với Toà Án Tối Cao thì ông đã nói rằng từ nay không ai được can thiệp vào toà án cơ mà. Như thế tức là từ trước người ta can thiệp vào toà án ghê lắm.

Thực chất của việc hủy bỏ Nghị định 31/CP

Trà Mi: Xin được hỏi thăm ông là Nghị Định 31/CP về vấn đề cho phép giam giữ trong quá trình điều tra lên tới 2 năm thì Việt Nam đã bỏ nghị định này rồi, nhưng mà thực tế cho thấy là những nhà bất đồng chính kiến họ đã bị tạm giam để điều tra tới lui đã hơn một năm, thế thì việc bỏ Nghị Định 31/CP với thực tế đang diễn ra như vậy có gì gọi là thay dổi không, thưa ông?
 
LS Trần Lâm: Bây giờ người ta cũng đang tranh luận cái điểm đó. Chúng tôi cho rằng có tiến bộ nhưng chưa triệt để, tức là bỏ Nghị Định 31/CP nhưng mà vấn đề này lại được đưa vào một luật khác, tức là cũng tương tự như thế thôi. Xin cô thông cảm cho chuyện ấy. Chuyện ấy mình phải chấp nhận thôi.

Trà Mi: Với những trường hợp như vậy, ông có ý kiến gì hay lời khuyên gì đối với các nạn nhân không, thưa ông?
 
LS Trần Lâm: Trong tình hình hiện nay ở Việt Nam thì bây giờ có thể làm việc này. Bây giờ phải đi mời luật sư can thiệp. Nếu người luật sư thấy cơ quan điều tra kéo dài một cách vô lý thì người ta phải kêu ầm ỉ lên để cơ quan điều tra phải tiến hành. Nhưng mà khổ lắm cô ơi, ở Việt Nam thì cô phải thông cảm cho.

Nhiều khi người ta cũng cản trở cả luật sư cơ. Tôi phải thừa nhận với cô là nhiều người bây giờ khổ như thê này là họ mời luật sư rồi đó, rồi họ bỏ tiền ra đưa vấn đề ra cho báo chí để tờ báo lên tiếng, rồi nhờ hiệp hội can thiệp.

Trà Mi: Nhưng đối với những trường hợp người bị bắt là các tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị, những người bất đồng chính kiến đó thưa ông thì không biết họ đưa ra những hiệp hội như thế nào? Chính các luật sư là những người am hiểu luật pháp khi được mời can thiệp những vụ việc như vậy thì họ cũng còn ngần ngại huống chi các hiệp hội hay nguồn ủng hộ động viên bên ngoài, thưa ông?
 
LS Trần Lâm: Khi kéo dài như thế họ phải dùng đủ thứ áp lực để làm cho việc ấy phải rõ ràng. Các vụ chính trị không phải phức tạp về chứng cứ, nhưng các vụ chính trị lại đặt ra tình huống chính trị của đất nước.

Thí dụ như thế này nhé. Ông Dũng đi sang bên Mỹ, bây giờ có vụ án này thì người ta ngồi lại nguời ta bàn là xử trước hay xử sau, xử bây giờ có đúng với thời điểm chính trị không.

Nếu cô hỏi về các vụ chính trị thì vụ chính trị đó lại đẻ ra cái việc lòng vòng nhất là vào thời điểm ấy đưa cái việc ấy ra thì có lợi hay không có lợi, rất là lôi thôi cô ạ. Tôi là người cũng đã làm khá nhiều vụ chính trị, tôi thấy nó bị ràng buộc bởỉ thời điểm.

Trà Mi: Nếu như ông nói bị ràng buộc về thời điểm thì những người đang bị tạm giam hơn một năm rồi không lẽ bị ràng buộc từ năm này sang năm khác, như vậy chẳng khác nào một bản án vô thời hạn đối với họ, thưa ông?
 
LS Trần Lâm: Họ còn giam giữ như thế thì họ cũng phải ước lượng, chẳng hạn có bắt mà đã 2 năm thì người ta cũng ước lượng cái tội mà người ta sẽ xử phải đến 4 năm.

Trà Mi: Trong thực tế cũng có nhiều trường hợp mà qua trình bị tạm giam dài hơn bản án cuối cùng, theo kinh nghiệm làm việc của ông thì những người đó phải được đền bù như thế nào?
 
LS Trần Lâm: Chuyện đền bù thì bây giờ tôi lại không có luật đầy đủ lắm, cãi nhau lôi thôi lắm cô ạ.

Điều 88 Bộ Luật Hình Sự

Trà Mi: Những người đang bị tạm giam - tức là những người bất đồng chính kiến mà tôi đang dề cập ở đây - phần lớn họ bị cáo buộc vào tội vi phạm điều 88 Bộ Luật Hình Sự mà chính Đại Sứ Mỹ ở Việt Nam hiện nay cũng vừa lên tiếng là sẽ vận động nhà cầm quyền Việt Nam bỏ điều 88 đó. Là một người trong nghề luật pháp lâu năm thì ý kiến của ông, quan điểm của ông ra sao?


LS Trần Lâm: Trước kia tôi cũng có làm nhiều vụ đó và hiện nay tôi có hai vụ về cái vụ 88 đó cô. Bây giờ người ta đang đòi bỏ điều 88 ấy đi. Quốc tế nói như thế nhưng tôi tin là trong nước khó có thể bỏ được. Nhưng sự can thiệp đó cũng làm cho những người xử cảm thấy phải gượng nhẹ với cái tội này. Chứ cái tội này mà làm mạnh quá thì không được, bởi trên thế giới nguời ta nói rằng cái đó là chính kiến của người ta, người ta chỉ trình bày mà thôi, người ta có thể ủng hộ cái này, ủng hộ cái kia.

Ở các nước không có chuyện đó mà chỉ ở mình có cái tội đó. Đúng là người ta cũng đang bàn cái chuyện đấy đấy. Nhưng mà tôi thấy ở Việt Nam họ chưa bỏ đâu, và cũng không hy vọng gì họ bỏ cả đâu. Nhưng một hai điểm có thể bỏ được, tức là trong một tội có 4-5 điểm cấu thành cái tội đó thì có thể bỏ được. Chẳng hạn trong tội 88 ấy có cái tội tàng trữ. Bây giờ trên computer của mình lưu trữ tài liệu mà bảo cái đó là tội thì không được đâu.

Trà Mi: Thưa ông, Việt Nam đang muốn thu hẹp khoảng cách với thế giới về nhiều mặt nhưng về mặt luật pháp thì...


LS Trần Lâm: Về kinh tế, bây giờ Việt Nam mở rộng theo thế giới. Nhưng về chính trị, về pháp lý là chưa mở rộng. Cô nói câu dấy là rất đúng. Bây giờ người ta không dám công khai nói rằng chúng ta cương quyết thực hiện tam quyền phân lập, người ta còn lập lờ cái chỗ đó.

Ở các nước, các đảng phái không có quyền can thiệp vào các vụ án, nhưng ở Việt Nam nguời ta nói chỉ có một đảng lãnh đạo thôi nên cái gì đảng cũng can thiệp vào. Cái chỗ đó Việt Nam hiện nay đang tranh cãi đấy cô ạ. Như thế kinh tế của anh hoà nhập, nhưng chính trị và đặc biệt là pháp lý thì anh chưa hoà nhập.

Cô nói như thế thì ai cũng phải chịu cô chứ không thể cãi được. Trình độ dân trí, trình độ pháp lý của mình, trình độ dân chủ của mình đã là như thế thì cũng đành như thế thôi chứ không thể nào khác được. Nhà nước mình nó như thế thì mình phải chịu như thế thôi. Nếu bây giờ mình đòi cũng giống như các nước, cũng bằng như các nước thì mình đòi hơi quá. Đứng về thực tiễn, đứng về cuộc sống mình cũng phải hiểu, tức là Việt Nam và thế giới không như là nguyên tắc trên giấy tờ đâu.


Phải sống chung với những nghịch lý

Trà Mi: Ý ông có nghĩa là phải chấp nhận, phải sống chung với những điều bất cập, với những cái tiêu cực, không có cách nào thay đổi?

LS Trần Lâm: Ối giời ơi! Người ta đang đòi thay đổi đấy chứ. Thế giới người ta cũng đang ép Việt Nam mình phải thay đổi về chính trị, phải thay đổi về pháp lý, thế rồi trong nước cũng có người đòi thay đổi. Chính những người trong ngành pháp lý người ta cũng đòi thay đổi.

Trà Mi: Thưa ông, ông nói là rất nhiều yếu tố, nhiều áp lực trong sự đòi hỏi phải thay đổi mà cho tới nay vẫn đâu lại hoàn đó, vậy nguyên nhân vì sao?

LS Trần Lâm: Nếu mà nói một cách rõ ràng thì nguyên nhân là tình trạng đảng lãnh đạo. Trên thế giới người ta nói đấy là chế độ toàn trị. Toàn trị thì nó là như vậy. Tức là dân chủ bị hạn chế. Phải nói thẳng như thế thì đúng.

Trà Mi: Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Luật Sư Trần Lâm đã dành thời gian cho cuộc trao đổi này.

© 2007 Radio Free Asia

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/09/29/Vietnam_has_no_time_limits_for_detaining_someone_in_custody_TMi/
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-11 07:05:17Ngọc Lý>
Bỏ Điều 04 Hiến Pháp:
“Cởi Trói” Mọi Tiềm Năng Cho Dân Tộc Việt Nam
http://ykien.net/blog/?p=2779

Phạm Hồng Sơn.
Thịnh vượng và Dân chủ


Khẩu hiệu xây dựng một nước Việt nam: “Dân giàu, Nước mạnh, Xã hội Công bằng, Dân chủ, Văn minh” ( được ghi trong điều 03 của Hiến pháp hiện hành) đã toát lên mục tiêu cho một Việt nam Thịnh vượng bằng con đường Dân chủ. Cho dù có thể còn phải xem xét lại sự xúc tích hoặc tầm quan trọng của từng con chữ, khẩu hiệu đó, nói chung, có thể được chấp nhận từ mọi giới, mọi thành phần con dân Việt nam ( trong, ngoài nước, cộng sản, không cộng sản). Tuy nhiên, xác định được cách thức đúng để đạt được mục tiêu đó mới là vấn đề cốt yếu, nếu không Việt nam sẽ dễ dàng lặp lại những sai lầm thảm họa như đã từng gặp, cách đây chưa xa ( ngăn sông, cấm chợ, tiêu diệt sản xuất tư nhân, kinh doanh tư nhân,…).

Cho tới nay, thế giới đều thấy rõ nền tảng cho sự thịnh vượng bền vững của một quốc gia là một xã hội tạo điều kiện cho trí tuệ cá nhân được phát triển một cách tối đa. Trở lại khẩu hiệu trên đây, Việt nam có thể thịnh vượng bền vững hay có đạt được mục tiêu “ Dân giàu”, “ Nước mạnh”, “ Xã hội Công bằng, Văn minh” hay không là tùy thuộc ở việc có xây dựng được chính thể “Dân chủ”- tạo môi trường cho trí tuệ cá nhân được phát triển hay không. Chữ “ Dân chủ” cũng được đảng cộng sản Việt nam đề cập trong điều lệ đảng: “ Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt nam độc lập, dân chủ…” ( người viết nhấn mạnh).

Cho dù có nhiều góc độ và cách nhìn khác nhau về chính thể dân chủ, nhưng giới khoa học chính trị thế giới và Việt nam đều có sự thống nhất rằng một chính thể dân chủ phải có những thiết chế cơ bản: 1.Hệ thống quyền lực Nhà nước phải tôn trọng nguyên tắc Pháp luật là tối thượng ( Rule of Law), trong đó những người nắm quyền lực phải là kết quả của sự Cạnh tranh Ôn hòa giữa các đảng phái chính trị thông qua cuộc Bầu cử tự do trong một thời gian ( nhiệm kỳ) xác định.2. Xã hội dân sự ( Civil Society) được thiết lập để đảm bảo các quyền tự do cơ bản cho người dân được thừa nhận và thực thi đầy đủ ( quyền tự do ngôn luận ( báo chí tư nhân,..); quyền tự do hội họp, quyền tự do lập hội; quyền tự do tín ngưỡng;…) (1).

Có 03 triết lý cơ bản có thể rút ra từ quan niệm về chính thể Dân chủ ở trên:
  • Những kẻ nắm quyền luôn có xu hướng lạm dụng quyền lực ( bất kể đức độ), do đó cần phải chế tài quyền lực của những kẻ nắm quyền ( chỉ được làm những gì luật pháp cho phép).
  • Trí tuệ của con người (một thực thể tự nhiên) có những tiềm năng không giới hạn, do đó phải tạo môi trường tự do tối đa cho hoạt động của người dân (được làm mọi việc mà pháp luật không cấm ).
  • Đa nguyên và cạnh tranh là hai đặc tính cơ bản giúp cho thế giới tự nhiên tồn tại, tự điều chỉnh và phát triển bền vững.


Vì vậy, nếu đảng cộng sản Việt nam thực sự muốn cho đất nước “ Dân giàu, Nước mạnh, Xã hội Công bằng, Văn minh”, đảng cộng sản Việt nam không thể không xem xét (để chấp nhận) quan niệm về chính thể Dân chủ vừa nêu.

Chính thể Dân chủ và điều 04 Hiến pháp


Quan sát sự phát triển của các quốc gia và Việt nam cho thấy, trong sự tương tác qua lại giữa hai thiết chế dân chủ kể trên, thiết chế 1 có khả năng chi phối lớn hơn thiết chế 2 ( sự gia tăng các rào cản đối với báo chí gần đây và việc trì hoãn không áp dụng những góp ý khoa học, tiến bộ cho dự thảo Luật về Hội hiện nay là những ví dụ điển hình). Do đó, nếu không thúc đẩy để xây dựng thiết chế 1 thì nền dân chủ sẽ không thể hình thành (hoặc bị trì hoãn) cho dù có cải cách gì đối với thiết chế 2. Như thế, dù muốn hay không, để tiến tới chính thể Dân chủ, xã hội phải thừa nhận và tạo điều kiện cho đa nguyên về chính trị ( các đảng phái khác nhau) phát triển (như một điều kiện cần). Lịch sử cho thấy một thể chế chính trị không đáp ứng được các đòi hỏi, nhu cầu phát triển của dân chúng sẽ phải bị thay thế hoặc bằng đấu tranh bạo lực ( phổ biến trước những năm 1980) hoặc bằng đấu tranh ôn hòa ( xu thế của thế giới từ những năm 1990 trở lại đây). Và dù bằng cách nào, các cuộc thay đổi chính thể tốt đẹp đều dẫn đến sự thay đổi hoặc xây dựng mới Hiến pháp trên cơ sở đồng thuận của mọi nhóm lợi ích. Các lực lượng tiến bộ của Việt nam chắc đều đồng thuận xây dựng chính thể dân chủ thông qua con đường Hòa bình. Đó chính là con đường thông qua tu chính Hiến pháp cho phù hợp hoặc dần mở đường cho chính thể Dân chủ được tạo lập. Xét trong bản Hiến pháp hiện nay tại Việt nam, điều 4 Hiến pháp (2) chính là cản trở cơ bản để thiết chế 1 của chính thể dân chủ có thể được tạo lập.

Đề nghị ( đòi hỏi) bỏ điều 04 Hiến pháp hoặc luật hóa ( một bước tiến tới bỏ) điều 04 Hiến pháp đã được nhiều người đề cập từ nhiều năm qua, trong đó có nhiều đảng viên cộng sản cao cấp. Gần đây nhất, ngày 27/08/2007 ông Nguyễn Minh Triết, ủy viên Bộ chính trị đảng cộng sản Việt nam đã công khai nói đến điều 04 Hiến pháp(3), tuy rằng ngôn từ tiêu cực, nhưng điều đó là gợi ý rõ trong hệ thống cầm quyền đang có thúc đẩy về việc bỏ điều 04 Hiến pháp. Đã có nhiều phân tích về lợi ích khi bỏ điều 04 Hiến pháp (4), ở đây tôi xin khẳng định thêm việc bỏ điều 04 (hoặc luật hóa tiến tới bỏ) sẽ mang lại đầy đủ cơ hội và tiềm năng cho đất nước, sẽ là nền tảng gốc cho sự “cởi trói” hoàn toàn mọi tiềm năng của dân tộc Việt nam, sau khi đã “cởi trói” quyền làm giàu của người dân ( bằng Luật Doanh nghiệp đầu tiên có hiệu lực vào 01/01/2000). Chỉ khi đó Đảng cộng sản Việt nam mới có động lực thực sự để “ chỉnh đốn đảng”. Chỉ khi đó đất nước mới có khả năng tối đa để chọn được người có tài và buộc họ phải có trách nhiệm trong lãnh đạo đất nước. Chỉ khi đó mới có thể có các giải pháp hữu hiệu cho những vấn nạn quốc gia ( bỏ phí chất xám (5); tham nhũng; quan liêu hành chính, pháp luật chồng chéo; bế tắc trong giáo dục; suy thoái môi trường; tai nạn giao thông..).

Những cản trở và gợi ý


Việc “ cởi trói” quyền làm giàu của người dân ( mặc dù vẫn còn nhiều cản trở) đã mang lại hiệu quả to lớn cho đất nước và người dân nói chung mà bất kỳ ai cũng có thể cảm nhận được. Tuy nhiên để có được sự “ cởi trói” quyền làm giàu, Việt nam đã phải mất 32 năm ( nếu tính từ 1954 – 1986) hoặc mất 46 năm ( nếu tính từ 1954 -2000, năm ra đời của Luật Doanh nghiệp ). Như vậy chỉ một quyền được kiếm tiền, được làm giàu, mà ngày hôm nay kể các các đảng viên cộng sản cũng phải thừa nhận là một quyền đương nhiên, đã phải đi qua một quãng thời gian gần nửa thế kỷ với biết bao gian nan và sự hy sinh ( của cải, tính mạng,…) của nhiều người ( những người đã dám đề xuất và thực hiện quyền làm giàu), nhiều thế hệ. Do đó việc bỏ điều 04 Hiến pháp– tức thừa nhận quyền làm chính trị, quyền tự do tư tưởng của mọi người dân, bãi bỏ sự độc quyền về quyền lực của một số người (đụng chạm trực tiếp đến cơ cấu quyền lực hiện nay ) có thể sẽ gặp những trở ngại lớn hơn là điều dễ hiểu. Song, thời gian cần để tiến tới “ cởi trói” quyền làm chính trị của dân (bỏ điều 04) không hẳn sẽ phải mất thời gian và hy sinh nhiều như việc đã “cởi trói” quyền làm giàu, nếu như các lực lượng ủng hộ dân chủ (trong và ngoài đảng cộng sản) biết phối hợp để có được sự thúc đẩy hiệu quả nhất.

Bất kỳ một cuộc vận động thay đổi chính trị nào cũng đều gây lo lắng ( ở các mức độ khác nhau) đối với các nhóm lợi ích khác nhau trong dân chúng. Để giải tỏa được các lo lắng đó cũng chính là góp phần làm cho tiến trình dân chủ hóa diễn ra nhanh hơn, xuông sẻ hơn.

Sau đây, tôi xin tạm đưa ra 05 nhóm lợi ích với những lo lắng khác nhau:

1. Những đảng viên cộng sản hiện đang hưởng những đặc quyền, đặc lợi do cơ chế độc đảng hiện nay mang lại ( thường là những đảng viên cao cấp đương nhiệm hoặc đã nghỉ hưu).
- Lý do chính muốn giữ điều 04: không muốn mất các đặc quyền đặc lợi đang có và/hoặc lo ngại sinh mạng chính trị hoặc sinh mạng sinh học bị đe dọa khi bỏ điều 04 ( vì sợ bị trả thù, sợ bị truy tố ).

2. Những đảng viên cộng sản yêu nước, vẫn giữ lý tưởng cộng sản (do nhận thức hoặc thiếu thông tin).
- Lý do chính muốn giữ điều 04: Do tâm lý bảo vệ tổ chức của bản thân ( sự sở hữu về uy tín, danh dự trong một tổ chức) và/hoặc e ngại những bất ổn về kinh tế, xã hội sẽ xảy ra đối với đất nước.

3. Nhóm người đang có lợi trong các công việc làm ăn từ quan hệ chặt chẽ với hệ thống quyền lực hiện tại.
- Lý do chính muốn giữ điều 04: Không muốn mất các quan hệ sinh lời.

4. Một số trong giới công chức, doanh nhân và những người về hưu.
- Lý do chính muốn giữ điều 04: e ngại sự thay đổi chính trị sẽ dẫn đến những thay đổi bất lợi về công việc, lương, phụ cấp.

5. Các lực lượng nước ngoài ( 5.1.Những quốc gia có mối quan hệ gần gũi và có hệ thống chính trị độc đảng, độc tài; 5.2. Một số những tập đoàn kinh doanh nước ngoài đang có những dự án, đầu tư lớn ở Việt nam)
- Lý do chính muốn giữ điều 04:
5.1. Các quốc gia gần gũi và có hệ thống chính trị độc đảng, độc tài luôn muốn có các đồng minh tương đồng về chính trị ( không kể những ý đồ sâu xa không có lợi cho dân tộc Việt);
5.2. Một số tập đoàn kinh doanh nước ngoài đã xây dựng kế hoạch kinh doanh lâu dài trên những giả định về chính trị, xã hội, kinh tế đang phát triển như hiện nay, do đó họ sẽ e ngại nhưng rủi ro khó lường khi hệ thống chính trị có sự thay đổi.

Xét về góc độ lợi ích, sự lo lắng của 05 nhóm lợi ích trên đều có lý. Nhưng các lo lắng xuất phát từ động cơ khác nhau. Nhóm 1, 3 và 5.1 xuất phát từ động cơ duy trì một hệ thống độc đoán (phi dân chủ) để trục lợi hoặc tránh bị trừng phạt. Nhóm 2, 4 và 5.2 xuất phát từ động cơ thận trọng, từ lợi ích chính đáng của bản thân.

Từ động cơ đó ta thấy việc hóa giải những lo lắng của nhóm 2, 4 và 5.2 là việc làm không quá khó khăn vì những cá nhân trong nhóm này đều có sự chân thành và thiện ý. Bằng cách trao đổi, thuyết phục một cách trân trọng, đưa ra những luận cứ khoa học, những kế hoạch khả thi bảo vệ lợi ích chính đáng của cá nhân, tổ chức trong xã hội, những nhóm lợi ích này sẽ sớm ủng hộ bỏ điều 04 Hiến pháp (để mở đường cho chính thể dân chủ).

Đối với nhóm 1, 3 và 5.1: đây là những nhóm lợi ích hiện đang giữ quyền kiểm soát xã hội, kiểm soát các nguồn lực quốc gia. Việc hóa giải những khó khăn từ nhóm này sẽ là vấn đề phức tạp và quan trọng cho tiến trình Dân chủ hóa. Ở đây tôi xin nêu ra một số điểm sau cần lưu ý:

Nhóm 1:
  • Nhóm này hiện đang cố tạo ra các dư luận xã hội không thuận lợi cho tiến trình dân chủ hóa ( dân trí thấp, bất ổn xã hội,…).
  • Cần phải khẳng định việc bỏ điều 04 ( tiến trình dân chủ hóa) không có nghĩa lật đổ hay trả thù, mà cùng nhau xây dựng một chính thể mới mang lại lợi ích cho toàn xã hội.(6)
  • Cần phải suy tính đặt thành vấn đề công khai đối với việc xử lý các hành vi phạm luật ( tội ác) của những cá nhân trên cơ sở pháp luật và sự hòa giải, ổn định đất nước ( tham khảo kinh nghiệm của Nam Phi khi đảng ANC lên nắm quyền thay thế chính thể độc tài Apartheid).
  • Suy tính, ủng hộ các giải pháp rút khỏi chính trường trong danh dự cho các nhân vật không thuận lợi cho tiến trình dân chủ.
  • Mối quan hệ, tác động của các nhân tố quốc tế dân chủ đôi khi có vai trò quan trọng để thúc đẩy nhóm lợi ích này sao cho có lợi cho tiến trình dân chủ.

Nhóm 3:
Nhóm này phụ thuộc hoàn toàn vào nhóm 1.
Nhóm 5.1:
  • Để thoát khỏi hoặc giảm thiểu sự tác động của nhóm lợi ích độc tài ( ngoại bang) này cần phải thúc đẩy tiến trình hội nhập Việt nam với thế giới dân chủ về các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa. Tuy nhiên vẫn phải cảnh báo, ngăn chặn sự lợi dụng các lợi thế hội nhập để đàn áp phong trào dân chủ.
  • Tăng cường thông tin cho dân chúng thấy rõ những bất lợi, nguy cơ từ những chính thể độc tài, độc đảng ngoại bang.


Một điều cần phải được khẳng định nhất quán là việc bỏ điều 04 chỉ là một bước trong tiến trình dân chủ, nhằm tạo môi trường cho các tổ chức chính trị khác đảng cộng sản có cơ hội thành lập, phát triển dần dần để tạo thành những tổ chức đủ khả năng phản biện, đối trọng hiệu quả đối với các chính sách lãnh đạo của đảng cộng sản. Bỏ điều 04 Hiến pháp không có nghĩa mọi cái sẽ thay đổi ngay tức khắc. Trong giai đoạn đầu, mọi hoạt động của xã hội vẫn có thể được duy trì theo nhịp độ hiện hành vì hệ thống quản lý xã hội ( chính phủ, ủy ban,…) vẫn nằm dưới sự kiểm soát của đảng cộng sản, xã hội chỉ có thêm động lực từ việc mọi công dân được thừa nhận có quyền bàn luận, phản biện công khai, thẳng thắn các chính sách lãnh đạo của chính phủ, của đảng cộng sản và tham gia vào việc hoạch định các ý tưởng, chương trình phát triển, lãnh đạo đất nước trong các tổ chức khác đảng cộng sản. Tiến trình sau khi bỏ điều 04 sẽ được thực hiện như thế nào để tạo ra sự cạnh tranh chính trị ôn hòa giữa các đảng phái khác nhau trong việc lãnh đạo đất nước sẽ là một vấn đề cần được bàn thảo kỹ lưỡng, để tránh và giải quyết những khó khăn nảy sinh có thể. Tuy nhiên, với những kinh nghiệm của các quốc gia đã chuyển đổi trước, cùng với tri thức của Việt nam ( trong và ngoài nước) đã được khẳng định trên nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa,…ở tầm quốc tế, chúng ta có thể tin tưởng sẽ tìm ra giải pháp hiệu quả, nếu qui tụ được sự tham gia của trí tuệ quảng đại quần chúng - trong đó tầng lớp trí thức tinh hoa đóng một vai trò quan trọng.(7)

Để kết thúc bài viết, tôi xin ghi lại một nhận định của Bác sĩ, Nhà nghiên cứu xã hội Nguyễn Khắc Viện: “ Dù rằng dân chủ không phải là “ phương thuốc vạn năng” để chữa chạy tất cả các căn bệnh xã hội, nhưng không có nó thì không một “phương thuốc” nào có hiệu lực.” (8)

Phạm Hồng Sơn
10/10/2007
—————–
(1): Điều chắc chắn quan niệm ngắn gọn này về chính thể Dân chủ sẽ được quảng đại người dân Việt nam đồng ý nếu các tranh luận, phản biện được đưa ra công khai ( đăng tải trên các báo, đài, TV của hệ thống truyền thông nhà nước hiện nay). Xin tham khảo: “ Một lộ trình cho dân chủ hóa-yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay” ( Phan Đình Diệu, “Tranh luận để đồng thuận” Nhà xuất bản Trí thức 2006); “ Đôi lời cùng Giáo sư Nguyễn Đức Bình và góp ý với Đảng cộng sản Việt nam”, “ Dân chủ chứ đâu chỉ là đa nguyên” ( Nguyễn Quang A - “Tranh luận để đồng thuận” Nhà xuất bản Trí thức 2006); Nền Dân trị Mỹ (De la Démocratie Amerique của Alxis de Tocqueville, bản dịch tiếng Việt của Phạm Toàn, nhà xuất bản Tri thức 2007); Thế nào là Dân chủ? ( What’s Democracy ? Bản dịch tiếng Việt của Phạm Hồng Sơn và Thư Lê http://www.ykien.net/bnphsthenaodc.html )
(2) Điều 04 HP hiện nay qui định “ Đảng cộng sản Việt nam, đội tiên phong của gia cấp công nhân Việt nam, đại biểu trung thàh quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao đọng và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.”
(3) Ngày 27/08/2007 ông Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết phát biểu trước Tổng cục chính trị quân đội nhân dân Việt nam: “[Tôi] Khẳng định trước sau như một là chúng ta tiến lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải xây dựng đảng của chúng ta. Dù ai nói ngả nói nghiêng, dù ai có muốn bỏ Điều 4 hiến pháp gì đó thì không có chuyện đó. Bỏ cái đó đồng nghĩa với chúng ta tuyên bố chúng ta tự sát, cho nên phải củng cố công tác chính trị tư tưởng, củng cố vai trò của đảng…”
(4) Xin tham khảo thêm các phân tích, luận cứ cho việc cần thiết bãi bỏ (hoặc luật hóa) điều 04 Hiến pháp của một số tác giả sau:
Lê Quang Đạo
http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=Content&pa=showpage&pid=794
Trần Độ http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=2017
Lê Hồng Hà
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/01/04/LeHongHaOpinionsInsideVCPP1_VHung/
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/01/05/LeHongHaOpinionsInsideVCPP2_VHung/
Nguyễn Thanh Giang-Lê Minh Nguyên
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/09/21/Debate_about_the_speech_of_VN_President_NguyenMinhTriet_P1_VHung/
Trần Bình Nam
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/09/20/On_the_speech_of_Vietnamese_President_VHung/
http://www.tranbinhnam.com/binhluan/Neu_Toi_La_Nguoi_CongSan.html
http://www.tranbinhnam.com/binhluan/Bo_Dieu4_La_TaiSinh.html
Bùi Minh Quốc
http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=3973
(5) Ví dụ: Những cảnh báo, kiến nghị xác đáng của các nhà khoa học với lãnh đạo đất nước bị bỏ mặc. Xin tham khảo: Kiến nghị của Luật sư Nguyễn Mạnh Tường với Hồ Chủ Tịch (Tạp chí Xưa và Nay số 286 tháng 06/2007); Cảnh báo của Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện với lãnh đạo cao cấp về qui hoạch nông thôn ( Báo Thể thao&Văn hóa ngày 07/10/2007 trang 16); Cảnh báo của Giáo sư Phan Đình Diệu về đề án 112 gửi cựu Thủ tướng Phan Văn Khải ( Báo Thanh niên ngày 17/09/2007).
(6) Xin tham khảo: ‘ Hòa giải có phải một nghịch lý chính trị?” của Nguyễn Gia Thưởng. http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=2104; “Tóm lược Thành công thế kỷ 21” của Tập hợp Dân chủ Đa nguyên http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=Content&pa=showpage&pid=11
(7) Xin tham khảo “ Hiến pháp Mỹ được làm như thế nào?” bản dịch của Nguyễn Cảnh Bình ( Nhà xuất bản Tri thức 2006).
(8) Trích trong mục “Dân chủ” của từ điển Xã hội học ( Nguyễn Khắc Viện chủ biên, nhà xuất bản Thế giới 1994)


[/align]Đọc tiếp theo ngày:
« Ba chị em cô Lư Thị Thu Duyên bị công an chỉ đạo xã hội đen đánh trọng thương
Đa đảng là Ấm no, Hạnh Phúc »

Đọc tiếp theo cùng đề mục:
« Phạm Hồng Sơn: Myanmar: bạn và tôi

[/align] 

[/align]http://ykien.net/blog/?p=2779

 [/align]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-18 05:14:27Ngọc Lý>
Tạ Văn Tài
[/align]Hai mươi năm cải tổ kinh tế và luật pháp ở Việt Nam
[/align] 
[/align](Bài tham luận bằng tiếng Anh của luật sư Tạ Văn Tài trình bày trước Hội đồng Quan hệ Ngoại giao - Council on Foreign Relations - tại New York City ngày 21 tháng 3 năm 2006. Bản tiếng Việt do ông Ngô Văn Ban sơ thảo và luật sư Tài hiệu đính.)
 
[/align][/align][/align]Lời dẫn

Ngày 21 tháng 3 năm 2006, ở New York, tại Council on Foreign Relations, một diễn đàn hàng đầu về các vấn đề ngoại giao của Mỹ, luật sư Tạ Văn Tài, nguyên giáo sư các Đại học Luật và Trường Quốc gia Hành chánh Việt Nam trước 1975 và nguyên giảng sư/nhân viên nghiên cứu trường Đại học Luật Harvard, đã trình bày một cái nhìn tổng quan về các cải tổ kinh tế và luật pháp tại Việt Nam trong 20 năm qua, trong một ban hội thảo gồm có Giáo sư Jerome Cohen của Đại học Luật New York là chủ toạ, với hai thuyết trình viên khác là Giáo sư Brian Quinn, Đại học Luật Stanford, và Giáo sư Mark Sidel, Đại học Luật Iowa.

Sau buổi thảo luận này tại New York vào tháng 3. 2006, các thay đổi trong tháng 4 năm 2006 của Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam chứng tỏ Đảng chưa chấp nhận một tiến trình dân chủ ngay trong hàng ngũ đảng viên, dù nhiều người Việt Nam thuộc nhiều giai tầng xã hội khác nhau, đặc biệt nhiều viên chức cao cấp đã về hưu (trong đó có cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt) đã kêu gọi dân chủ hoá trên báo chí: con số ứng cử viên vào Ban Chấp hành Trung ương được đề cử và giới thiệu cho Đại hội chấp thuận bầu vào ngày 24 tháng 4. 2006 chỉ hơn nhân số cần được bầu chừng 10%. Điều đó cho thấy ngay trong Đảng chưa có cạnh tranh thực sự trong một cuộc bầu cử đích thực; những người sẽ làm Tổng Bí thư, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội đã được Bộ Chính trị hay Ban Tổ chức Trung ương quyết định trước và được tiết lộ cho báo giới, rõ ràng Đảng không quan tâm đến tiến trình hiến định là những chức vụ này phải được bầu lên trong một phiên họp Quốc hội, cuộc bầu đó chưa xảy ra mà kết quả đã định sẵn. Nhưng trào lưu dân chủ trong lòng dân tộc Việt Nam tại quốc nội cũng như hải ngoại không ai ngăn cản nổi, như đã thấy rõ qua sự xuất hiện gần đây của những nhóm người can đảm trong nước, nhất là trong giới trẻ, đứng lên đưa ra những tuyên ngôn và tập hợp lại để đòi tự do ngôn luận, nhân quyền nói chung, và dân chủ cho cả dân tộc - mà người Việt hải ngoại cũng đã biểu dương sự ủng hộ.

Riêng về caỉ tổ luật pháp để thoả mãn các đòi hỏi về pháp trị (theo đúng các tiêu chuẩn luật thương mại quốc tế) của Hoa Kỳ trong diễn tiến thi hành Thoả ước Thương mại Mỹ-Việt, và của các hội viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong diễn trình đàm phán đa phương, thì Việt Nam đã cố gắng tối đa -như liệt kê trong bài thuyết trình này - để vượt nhiều khó khăn, và có lẽ Việt Nam sẽ sớm có được quy chế thương mại bình thường (normal trade relations) với Hoa Kỳ, và sẽ được Đại hội Đồng WTO chấp nhận cho gia nhập vào đầu tháng 11.2006.

Bài tham luận dưới đây tóm lược nhiều cải cách khác nhau cùng với bối cảnh ở Việt Nam cũng như những nhận xét phê bình để cống hiến cho độc giả, trong nước cũng như hải ngoại, hay quốc tế.

Báo Pháp luật và Đời sống (Houston) là tờ báo đầu tiên đã giới thiệu bài của Giáo sư Tạ Văn Tài đến độc giả và Hội Ái hữu Luật khoa Sài Gòn và tất cả các cựu sinh viên Luật khoa Việt Nam.

Chúng tôi đăng tải bài thuyết trình này để rộng đường dư luận.



*

Hôm nay, hiện diện trước quý vị là một đội ngũ những vị chuyên gia giỏi mà tôi đã may mắn được gặp trong sinh hoạt nghề nghiệp kể từ khi tôi đến Mỹ như một người tị nạn sau biến cố 1975.

Thứ nhất, tôi được gặp Giáo sư Brian Quinn nhiều năm trước đây, khi ông đang theo học tại Đại học Harvard trong nhóm các sinh viên hậu đại học từ Việt Nam sang, sau khi chính phủ Mỹ bỏ cấm vận năm 1994. GS Brian cùng với nhóm này đã trở lại Việt Nam để làm việc trong một tập thể, mà lúc đó chúng tôi gọi đùa là nhóm Harvard mafia, tựa như nhóm Berkeley mafia ở Indonesia gồm các sinh viên từ Đại học Berkeley, California. Tôi được nghe nhiều về các công việc ông làm tại Việt Nam và coi ông là một nhân chứng đáng tin cậy về các cải cách kinh tế và luật pháp ở Việt Nam.

Tiếp theo là Giáo sư Mark Sidel, nguời mà tôi đã có dịp cùng tham gia trong Hội nghị Việt Mỹ Thường niên của Viện Aspen Institute, năm 1993 họp tại Hawaii, để bàn luận tìm cách tháo bỏ cấm vận và bình thường hoá quan hệ Việt Mỹ, mà một biện pháp là gửi một điện văn cho Tổng thống Clinton. Tôi ở trong phái đoàn Mỹ, và tôi biện luận rằng trong diễn tiến thực hiện các cuộc cải cách kinh tế và luật pháp trong thời kỳ Đổi mới tại Việt Nam, nếu người Mỹ bỏ cấm vận và trở lại Việt Nam như những người hỗ trợ cho những biện pháp cải tổ, xây dựng trường học, bệnh viện, nâng cao mức sống người dân v.v... thì họ sẽ có thể chiến thắng trong hoà bình và có thể quên đi chiến tranh Việt Nam và các hội chứng đi kèm vì họ đã góp phần để người Việt Nam thực hiện được những lý tưởng được Hồ Chí Minh long trọng phát biểu trong “Tuyên ngôn Độc lập” năm 1945, mà nhiều đoạn đã trích từ “Tuyên ngôn Độc lập” của Hoa Kỳ, như: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng. Tạo hoá đã ban cho họ những quyền không thể bị tước bỏ, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Sau đó, Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Lê Mai đã lên phát biểu, nói rằng ông cảm kích vì vừa rồi có người đã đặt đúng trọng tâm vấn đề. Mark Sidel và tôi đã chứng kiến những cố gắng chung này để bỏ cấm vận (Tổng thống Clinton đã tuyên bố biện pháp này vài tháng sau đó trong năm 1994) và tiến tới bình thường hoá bang giao Việt Mỹ vào năm sau, 1995, những điều đó đã giúp rất nhiều cho việc cải tổ kinh tế và luật pháp tại Việt Nam.

Người thứ ba là Giáo sư Jerome Cohen, người đã giúp tôi, một trí thức di cư lỡ vận, thăng tiến nghề nghiệp kể từ khi chân ướt chân ráo đến Mỹ năm 1975. Ông đã phát khởi hai dự án nghiên cứu lớn của tôi về luật pháp Việt Nam tại Trung tâm Nghiên cứu Luật pháp Đông Á của Đai học Luật Harvard mà ông sáng lập từ đầu thập niên 1960 và đã phát triển tốt đẹp. Năm 1990, ông mời tôi cùng ông viết quyển sách đầu tiên về Luật đầu tư ở Việt Nam, tập sách mỏng nhưng là quyển đầu tiên tại thế giới Tây phương về khởi đầu cải tổ luật pháp ở Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới bắt đầu từ 1986. Tập sách đã bị vượt qua bởi sự phát triển luật pháp nhanh đến chóng mặt ở Việt Nam, nhưng tôi thiết nghĩ GS Cohen, chuyên viên lỗi lạc về luật pháp Trung Quốc, có thể đóng một vai trò quan trọng trong công cuộc liên tục cải tổ luật pháp ở Việt Nam, bởi vì nếu ông đến Việt Nam và tuyên bố: “Đây là cách người Trung Quốc đang làm trong lãnh vực luật pháp”, tôi tin chắc nhiều viên chức có thẩm quyền của Việt Nam sẽ rất chú tâm nghe, vì Việt Nam vẫn thường bắt chước đàn anh lớn cộng sản Trung Quốc. Thí dụ, Trung Quốc bắt đầu chính sách Mở cửa (Open Door) thì Việt Nam theo sau với Đổi mới (Renovation), Trung Quốc cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân thì liền sau đó Việt Nam cũng làm như vậỵ. Tôi có đùa với GS Cohen là nếu ông đến Việt Nam để thuyết trình về những cải tổ kinh tế và luật pháp ở Trung Quốc, thì cũng giống như ông mang theo một cái gậy lớn ở sau lưng, như Tổng thống Theodore Roosevelt vậy, vì mỗi lời ông nói rất có trọng lượng, dù ông có nói rất nhỏ nhẹ đi chăng nữa để thôi thúc cải tổ.

Để bổ túc vào phần trình bày của GS Quinn và Sidel, và trong khi chờ đợi sự thảo luận cuả Giáo sư chủ toạ Jerome Cohen, tôi muốn thêm những nhận xét trong 4 phần sau về những cải tổ kinh tế và luật pháp ở Việt Nam sau Đổi mới từ 1986:


1. Những cải tổ ở Việt Nam diễn ra chậm chạp vì thiếu “một Đặng Tiểu Bình Việt Nam” trong đám lãnh tụ già cả lớp cũ, họ chỉ miễn cưỡng cải cách khi kinh tế Việt Nam gần như phá sản vào đầu thập niên 1980.

Trong 10 năm hối hả tiến lên chủ nghĩa xã hội từ 1975 đến 1985, tất cả các nhà lãnh đạo của Việt Nam lúc đó, những người cả đời đã đấu tranh cho chủ nghĩa Mác-Lê, luôn trừng phạt nặng nề những đối thủ của họ và luôn theo tập thể lãnh đạo, đều chậm chạp trong các quyết định theo phương thức đồng thuận hoặc thoả hiệp, và vì thế, như Quinn nói, họ rút cục theo đuôi sáng kiến đổi mới của dân chúng trong các thí nghiệm “xé rào” của dân. Việt Nam không có một Đặng Tiểu Bình, một nguời lãnh đạo vượt trội, để dứt khoát quyết định thay đổi chính sách và tuyên bố: “Mèo trắng hay mèo đen đều tốt, miễn bắt được chuột” hoặc “Làm giầu là vinh quang”. Mãi đến khi các lãnh đạo nhận thức được mối hiểm nguy, như một trong số họ là Trường Chinh nói: “Đổi mới hay là chết”, thì Đại hội Đảng năm 1986 mới thừa nhận các sai lầm và quyết định Đổi mới. Vào lúc đó, tình trạng bị quốc tế cô lập và khó khăn kinh tế như nạn lạm phát đến 700% và ngân quỹ bị thâm thủng nặng nề, đã được coi là nghiêm trọng, theo sự đánh giá của người cực kỳ bảo thủ là Lê Đức Thọ (người đối tác với Kissinger trong Hội nghị Paris 1973), trong tạp chí Cộng sản. Năm 1987, tờ nhật báo Nhân dân đã quy trách cho lãnh đạo về sự tập quyền hành chánh thiếu khả năng.

Một khi các cải tổ kinh tế được chấp nhận, các lãnh đạo đã nhận thức đươc phải cải tổ luật pháp song hành với cải tổ kinh tế, để ngăn chặn các đảng viên cấp dưới làm trì trệ tiến trình cải tổ.

Tuy vậy, vì lãnh đạo miễn cưỡng cải tổ, nên cũng có nhiều chao đảo. Năm 1989, sau khi hệ thống cộng sản ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ cùng với cuộc khủng hoảng ở Thiên An Môn bên Trung Quốc, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã cảnh cáo báo chí đừng viết các bài xã luận làm mất niềm tin vào Đảng và Chính phủ hoặc đề cập đến dân chủ đa nguyên. Trong khi một số lãnh đạo như Ủy viên Bộ Chính trị Trần Xuân Bách cổ võ cho việc cởi trói song hành cả chính trị lẫn kinh tế, thì những người bảo thủ trong Đảng đã lo lắng là cải tổ kinh tế có thể làm xói mòn uy tín độc quyền lãnh đạo của Đảng, nên họ đã cấm Câu lạc bộ Kháng chiến hoạt động. Nhưng rồi năm 1991, khi Đại hội Đảng lần thứ 7 diễn ra, thì Lê Đức Thọ mất. Sau chuyến thăm Liên Xô, Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười nhận thức được là sẽ không thể nhận được sự giúp đỡ nào từ phía Đảng Cộng sản Liên Xô vì chính bản thân Liên Xô cũng đang gặp nhiều khó khăn. Bộ Chính trị tái phối trí (6 thành viên già nua về hưu) theo chiều hướng thuận lợi cho những người có đầu óc cải tổ (Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải, Võ Trần Chí), tuy rằng vẫn chỉ là cải tổ kinh tế mà không có đa nguyên chính trị.

Nhưng có nhiều lợi ích kinh tế do chính sách Đổi mới từ 1986 đến nay, như số thu do xuất cảng đã gia tăng từ việc xuất khẩu dầu thô, nông sản và sau này, cả các sản phẩm kỹ nghệ ra thế giới bên ngoài; đặc biệt là thị trường Mỹ sau khi Thoả ước Thương mại song phương Mỹ-Việt được ký kết. Không còn có thể đi ngược lại chính sách cải tổ kinh tế theo định hướng thị trường nữa. Một phụ tá của ông Võ Trần Chí, Uỷ viên Bộ Chính trị, đã nói với tôi khi tâm sự trong một bữa ăn: “Ông Tài này, Việt Nam không còn cộng sản nữa đâu”. Khi đảng viên cộng sản ở Việt Nam được phép kinh doanh tư nhân như bên Trung Quốc và trở thành chủ sở hữu của các công cụ sản xuất lớn, thì chủ thuyết Mác-Lê đã hay sẽ mệnh một ở Việt Nam. Ngay cả thái độ của nhà cầm quyền Việt Nam đối với kiều bào hải ngoại, trước kia vốn bị coi như đội quân bại trận hoặc thành phần đĩ điếm, ma cô, thì nay càng ngày càng hoà hoãn hơn: chế độ gọi người Việt hải ngoại là “Khúc ruột ngoài ngàn dặm”, bởi vì họ đóng góp hàng năm từ 3 đến 4 tỷ Mỹ kim qua đầu tư hoặc gửi về cho thân nhân, trong khi tổng sản lượng quốc gia của Việt Nam chỉ khoảng 12 tỷ Mỹ kim.


2. Khởi đầu, mục đích chủ yếu của cải cách kinh tế là nhằm đáp ứng đòi hỏi của những đối tác quốc tế hầu gia tăng viện trợ phát triển của các chính phủ, đầu tư trực tiếp từ nước ngoài và giao dịch ngoại thương. Do đó Việt Nam sẵn sàng chấp nhận các trợ giúp quốc tế về luật pháp từ mọi phía, để từ đó xây dựng một nền pháp trị cần cho phát triển kinh tế và giao dịch thương mại quốc tế trong thời đại toàn cầu hoá.

Nếu các mục đích vừa nói trong tiểu đề trên là các mục đích chính của cải cách kinh tế thì Việt Nam phải tỏ cho thế giới bên ngoài rằng đây là đất nước có pháp trị - Rule of Law (hay ít ra là cai trị bằng luật pháp - Rule by Law) chứ không phải là được cai trị độc đoán.

Hiến pháp 1992 ghi rõ: Đảng hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và là một lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội (không còn là “lực lượng duy nhất lãnh đạo xã hội” như trước đây). Hiến pháp bảo đảm các đầu tư ngoại quốc không bị quốc hữu hóa.

Đạo luật đầu tiên khích lệ đầu tư ngoại quốc được ban hành năm 1987.

Sau đó, nói rộng ra, về phương diện luật quốc tế lẫn luật quốc nội, chế độ muốn chứng tỏ là có một nền pháp trị: mặc dù nghị quyết của Đảng vẫn là nguồn gốc của chính sách và luật lệ (nghị quyết dẫn tới luật lệ), tôn chỉ mới của giai đoạn này là văn bản lập pháp của Quốc hội (luật) hay của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (pháp lệnh) và những văn bản thi hành của hành pháp (nghị định của Thủ tướng hay các Bộ truởng, hay thông tư của chính quyền trung ương hay các tỉnh) là các nhân tố căn bản của các đổi mới kinh tế.

Các trường luật mới được xây dựng thêm với số sinh viên ghi danh đông gấp mười lần và vai trò của luật sư có nhiều ý nghĩa hơn, đồng thời các thẩm phán và nhân viên công tố được đào tạo chuyên nghiệp hơn.

Đã có tiến triển phần nào trong việc đi từ quan niệm coi luật là phương tiện, tức là “cai trị bằng luật”, tới quan niệm pháp trị, tức pháp luật ngự trị trên mọi người. Luật lệ được soạn đầy đủ hơn trong nhiều lãnh vực: luật hiến pháp, luật hành chánh (thí dụ: luật báo chí, luật về nghề luật sư), luật dân sự (bộ luật 1995) và luật gia đình (1986), bộ luật tố tụng dân sự (1989, tu chính gần đây), bộ luật hình sự (1985), bộ luật tố tụng hình sự (1988, tu chính 2004), bộ luật thương mại, các luật kinh tế và tài chánh (luật công ty, thuế khoá, ngân hàng, bảo hiểm, phá sản), luật đất đai (1987, tu chính 1993), bộ luật lao động (1994), luật ngoại thưong (xuất nhập khẩu, luật hàng hải, hối đoái), luật đầu tư (tổng quát về đầu tư, luật dầu hoả và khí đốt, khoáng sản, đánh cá, lâm sản, hàng không). Lãnh vực kinh tế đối ngoại là phần quan trọng đặc biệt trong chương trình cải tổ luật pháp. Cũng vì những cải tổ này, Ngân hàng Thế giới đã khen ngợi Việt Nam làm mau hơn Trung Quốc. Bản dịch của hầu hết luật lệ về đầu tư và ngoại thương được một công ty luật của Úc thực hiện gồm 7 bộ sách đồ sộ, đủ làm cho một người nhìn thấy chóng mặt, chưa nói chi đến đọc chúng.

Việc cải tổ luật pháp này đươc sự trợ giúp của nhiều cơ quan đa quốc gia chuyên về trợ giúp pháp luật, hoặc các chính phủ ngoại quốc hay các tổ chức đa phương. Mục đích chung của các nước song phương tài trợ, như Thụy Điển, Đan Mạch, Canada, Pháp (một hoạt động là lập “Ngôi nhà Luật /Maison de Droit” tại Trường Luật Hà Nội, hy vọng Việt Nam trở lại với hệ thống luật của Pháp), Úc, Nhật (ít hơn nước khác), Mỹ (bắt đầu ít, nhưng nay là quốc gia tài trợ nhiều sau Thoả ước Thương mại Mỹ-Việt - xem dưới đây) là : cổ võ quan hệ ngoại thương và đầu tư vào nền kinh tế thị trường mới mẻ tại Việt Nam, và tăng cường tính chuyên nghiệp của các luật sư Việt Nam qua việc huấn luyện kỹ năng nghề luật, đồng thời tránh các đề tài chính trị nhạy cảm như nhân quyền, dân chủ - với hy vọng là chính phủ nước mình sẽ có nhiều ảnh hưởng hơn ở Việt Nam. Bên cạnh đó còn nhiều chương trình của các quỹ tặng lập (foundations) của tư nhân từ Mỹ (Asia, Ford), các đại học (Harvard với Chương trình Việt Nam về kinh tế, British Columbia, State University of New York/Buffalo), và các tổ chức phi chính phủ (như US-Vietnam Trade Council). Tuy nhiên chính phủ Việt Nam thích các chương trình đa quốc gia như Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UN Development Program - UNDP) (có chương trình “Củng cố khả năng luật pháp của Việt Nam” - hoạch định một khung cảnh pháp luật cho phát triển, huấn luyện luật sư và các viên chức lo về luật, họ cố vấn cho chính quyền về soạn thảo văn bản luật và lập hệ thống thông tin và huấn luyện cả sinh viên), Ngân hàng Thế giới (cải cách luật sở hữu tài sản, luật thương mại, luật tài chánh, đầu tư ngoại quốc và giải quyết tranh chấp) và Ngân hàng Phát triển Á châu (cổ phần hoá xí nghiệp quốc doanh, tu nghiệp về luật cho các luật sư), vì mang tính trung lập về chính trị hơn. Một viên chức của UNDP cho biết: “Việt Nam không tiếp nhận những quan niệm áp đặt từ bên ngoài. Vấn đề sẽ hoàn toàn bế tắc nếu Đảng Cộng sản bị chỉ trích về nhân quyền”. Tất cả các học gỉả, luật sư, viên chức của Việt Nam đều phản kháng lại ảnh hưởng quá mạnh của bất luận hệ thống luật pháp nào. Họ theo chủ trương tổng hợp, học hỏi từ mọi phía.

Gần đây, với việc ký kết Thoả ước Thương mại song phương Mỹ-Việt (TUTM) và những chuẩn bị của Việt Nam để gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization / WTO), đã có nhiều nỗ lực - qua chương trình STARR (Support for Trade Acceleration Project) với sự trợ giúp tài chính mạnh mẽ từ năm 2001 của cơ quan viện trợ Mỹ USAID - để giúp chương trình cải tổ luật pháp của Việt Nam được cập nhật theo kịp đòi hỏi của Thoả ước Thương mại song phương và việc gia nhập WTO. Chương trình STARR đã hoạt động và sẽ tiếp tục trong 4 lĩnh vực sau:

1. Yểm trợ để phát triển các quy phạm luật pháp (45 luật và nghị định) nhắm tới pháp trị và cải tổ kinh tế (qua các lời bình chi tiết và các hội nghị và buổi tập huấn). Gồm các việc như: huấn luyện các viên chức chính quyền và các doanh gia để hiểu rõ các chuẩn mực và đòi hỏi của TUTM và WTO, tập huấn các thẩm phán và viên chức toà án để họ hiểu các đòi hỏi của TUTM về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và giải quyết các tranh tụng; tăng cường tính minh bạch bằng việc công bố luật lệ đúng thời điểm và thường xuyên hơn trên Công báo, kể cả Công báo điện tử; bổ túc cho tố tụng dân sự để ngăn chặn kịp thời các vi phạm quyền sở hữu trí tuệ; tạo sự bình đẳng trong hệ thống tài chính cho những ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài 100%; cởi mở hơn và thi hành án của hệ thống trọng tài thương mại; kích thích cạnh tranh qua luật cạnh tranh mới; hình thành luật chống bán phá giá theo tiêu chuẩn của WTO; cải tổ luật về khế ước, tài sản, và các giao dịch có bảo đảm cầm thế trong các bộ luật dân sự và luật thương mại; tăng cường luật về quyền sở hữu trí tuệ trong bộ luật dân sự bằng một đạo luật mới cho phù hợp với các hiệp định quốc tế, và một điều hướng dẫn mới trong bộ luật tố tụng dân sự; duyệt xét lại luật thuế quan.

Kế hoạch cho năm 2006: duyệt xét lại toàn bộ các luật về đầu tư và về xí nghiệp (công ty) bằng việc triển khai luật đầu tư chung và luật doanh nghiệp thống nhất, để cho các xí nghiệp tư nhân, quốc doanh và ngoại quốc có cơ hội đồng đều, theo như đòi hỏi của TUTM, cũng như thay thế chế độ chuyên quyền cấp giấy phép kinh doanh bằng chế độ đăng ký dễ dàng; phát triển một bộ luật mới về thi hành án văn; một sự sửa đổi lớn lao về luật khiếu nại và tố cáo (kháng cáo các quyết định hành chánh lên các toà án độc lập, rồi các toà án tư pháp) trù liệu hoàn tất vào giữa năm 2007, như là sự cải tiến quan trọng theo tôn chỉ pháp trị, đáp ứng đòi hỏi về “quyền kháng cáo” theo đòi hỏi của TUTM và WTO; ngoài ra làm một luật mới về chứng khoán và chuyển nhượng kỹ thuật.

2. Hỗ trợ cho 123 buổi hội thảo và tập huấn cho 9800 viên chức chính quyền, chánh án, các lãnh đạo doanh nghiệp, để đẩy mạnh một cải cách luật pháp nào đó, hay xây dựng khả năng thi hành một cải cách, hay giúp dân chúng hiểu biết các vấn đề đặt ra bởi TUTM và WTO.

3. Giúp xuất bản và phân phối trên toàn lãnh thổ Việt Nam hơn 43.500 bản tài liệu tham khảo khác nhau.

4. Giúp 77 viên chức cao cấp tham dự 19 khoá du hành nghiên cứu.

Tuy với các cố gắng nêu trên, cũng như với số thu ngoại thương gia tăng và số cổ phần của các xí nghiệp quốc doanh lớn bán được trên thị trường thế giới cũng tăng, và sau hết Việt Nam được sự ủng hộ rộng rãi của các nước Tây phương, nhưng Việt Nam vẫn bị trì hoãn việc gia nhập WTO có thể đến cuối 2006, vì thương thuyết với Mỹ có tính quyết định và sau khi đại diện thương mại Mỹ thăm Việt Nam vào trung tuần tháng 6 năm 2006, Việt Nam còn phải trải qua các cuộc biểu quyết tại Quốc hội Mỹ để được hưởng qui chế thương mại bình thường vĩnh viễn, và nhất là phải kết thúc các đàm phán đa phương với các hội viên khác trong WTO. Vụ kiện bán phá giá cá ba sa và tôm cho ta thấy Mỹ có thói chơi bài poker với Việt Nam: Việt Nam càng thặng dư ngoại thương với Mỹ, thì thành phần bảo vệ mậu dịch Mỹ càng tìm cách chống lại Việt Nam, do đó giải pháp duy nhất cho Việt Nam là cố gắng gia nhập WTO. Cần lưu ý là việc gia nhập WTO không tuỳ thuộc vào quy chế thương mại bình thường với Mỹ.

Nếu dùng cách nhìn tổng quan xét toàn thể công cuộc cải tổ luật pháp, cả luật trong tương quan đối ngoại lẫn luật về các vấn đề nội bộ, chúng ta thấy luôn luôn có cách biệt giữa luật lệ trên giấy tờ và luật trong đời sống thực tế. Bà Ngô Bá Thành, một dân biểuQuốc hội, có một thời gian bị thất sủng, đã nói một cách mỉa mai: “Đó là rừng luật hay luật rừng?”

Tình trạng luật rừng có phải vì tham nhũng và sự không muốn thi hành luật pháp hay không?

Đôi khi, vài người yếm thế qui trách sự không thi hành luật lệ cho những nhà soạn luật cố ý viết chúng một cách mơ hồ và thiếu chính xác để họ có thể luồn lách, thoát ra khỏi các cam kết khi muốn. Ví dụ như giả vờ vi phạm các qui định của thành phố để bãi bỏ việc đặc nhượng cho Singapore một khu đất tốt và thay vào đó một lô đất ở xa hơn.

Nhưng có lẽ nguyên nhân quan trọng hơn về vị thế mong manh của nền pháp trị là sự tham nhũng lan tràn, như Giáo sư Quinn đã đề cập, điều đó làm người ta bi quan về triển vọng đựơc đối xử vô tư và công bằng tại Việt Nam, khi phải tiếp xúc với các giới chức hành chánh và đặc biệt khi phải đối đầu với toà án và viện kiểm sát. Viện kiểm sát là cơ quan bị người dân ghét và cô lập nhất và được coi là thành phần tham nhũng. Hiện tại, toà án có tính tự trị và được tổ chức thành ba cấp thẩm quyền để bảo đảm việc xử án công minh và kỹ lưỡng (xử sơ thẩm, rồi toà kháng cáo sẽ xử lại cả về sự kiện và luật áp dụng và sau hết, Toà án Tối cao sẽ tái thẩm chung quyết); dù vậy, toà án vẫn bị coi là chưa đủ công bằng và còn thiếu vô tư, vì thiếu sự độc lập, lý do là vì các quan toà chỉ được bổ nhiệm cho nhiệm kỳ 5 năm (thay vì suốt đời), vì vậy họ dễ bị lung lạc do sợ mất chức và sợ bể nồi cơm, và vẫn giữ thói quen “thỉnh thị án”, xin ý kiến của tổ Đảng mỗi khi xử án, mà ông Quinn cũng đã nhận xét. Nhưng nguyên nhân đáng sợ nhất gây ra thiếu vô tư khi xử án là tham nhũng và hối lộ. Ngay cả một luật sư xuất sắc, người lãnh đạo trong số 400 luật sư tham dự lớp tập huấn tại Hà Nội năm 2004, người đã thay mặt 400 người tóm lược các đòi hỏi của các luật sư để chính quyền nhận cải tổ, và khiến tôi phục vì lý do đó, nhưng nghe tin tức người ta nói thì sau này ông cũng nhận hối lộ. Một ví dụ khác về tham nhũng là vụ của một Tổng thanh tra Nhà nước (tháng 2/2006), ông đã nhận hối lộ để giảm hay xoá án cho các viên chức thuộc kỹ nghệ dầu hoả, họ đã làm giấy tờ giả mạo để ăn cắp vật liệu xây dựng và tiền bạc trong một công trình tại Cảng Thị Vải.

Có lẽ lo âu nhiều về tham nhũng/hối lộ nên Bộ Chính trị đã ra hai nghị quyết để cải tổ luật pháp. Nghị quyết 48-NG/TU ngày 18 tháng 10 năm 2005 về Chiến lược Cải tổ Tư pháp từ nay đến 2020, nhằm cải tiến công tác, khắc phục những thiếu sót về phẩm chất, đạo đức cũng như tính chuyên nghiệp. Nghị quyết 49-NG/TU về Chiến lược Xây dựng và Hoàn chỉnh Hệ thống Luật pháp Việt Nam đến năm 2010 là phát triển hệ thống tư pháp trong sạch, vững chắc, dân chủ, nghiêm ngặt và phục vụ nhân dân - thông qua những chính sách phù hợp với kinh tế thị trường, bảo đảm tính dân chủ, trong sáng, tôn trọng nhân quyền, cũng như qua sự huấn luyện một lớp cán bộ ngành tư pháp hội đủ các tiêu chuẩn cao về chính trị, phẩm chất, đạo đức, chuyên nghiệp, và kinh nghiệm, đồng thời khuyến khích nhân dân tố cáo tham nhũng.


3. Pháp trị là một nền tảng căn bản cho một xã hội văn minh và công bằng mà Việt Nam muốn đạt đến qua phương châm của mình. Mục đích cao hơn tiếp theo là tôn trọng nhân quyền trong hệ thống luật pháp.

Trong Bạch thư ngày 19 tháng 8 năm 2005 về “Thành tích Bảo vệ và Phát huy Nhân quyền ở Việt Nam” của Bộ Ngoại giao Việt Nam - phát hành nhân dịp 60 năm kỷ niệm Cách mạng tháng Tám - chính quyền đã lặp lại bản “Tuyên ngôn Độc lập” được Hồ Chí Minh đọc năm 1945 trong đó ông đã viện dẫn và long trọng tuyên bố một câu nổi tiếng trong bản “Tuyên ngôn Độc lập” của Hoa Kỳ: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng. Tạo hoá đã ban cho họ quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Bạch thư đề cập đến những văn bản quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, như “Hiến chương Liên Hiệp Quốc”, bản “Tuyên ngôn Nhân quyền” (1976) và hai hiệp định quốc tế về các quyền chính trị, dân sự, và các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá (1982), rồi tái khẳng định sự tôn trọng nhân quyền và tôn trọng mỗi con người vốn là tâm điểm của mọi chính sách và những cố gắng tối đa của chính quyền Việt Nam, trong việc cổ võ nhân quyền thông qua: (a) cải thiện không ngừng hệ thống luật pháp, và (b) nâng cao điều kiện kinh tế và xã hội.

Những tiêu chuẩn nhân quyền mà Việt Nam chấp nhận trong hệ thống pháp lý gồm có các quyền trong các văn kiện sau đây:
  • Các văn bản quốc tế đề cập ở trên và các văn bản quốc tế về tội diệt chủng (1981), loại bỏ kỳ thị chủng tộc (1981), không áp dụng thời tiêu cho các tội ác chiến tranh chống nhân loại (1981), loại bỏ và trừng phạt sự phân biệt chủng tộc (1981), kỳ thị nữ giới (1982), quyền của trẻ em (1990).
  • Điều 50 và chương V (các điều 49-82) của Hiến pháp Việt Nam năm 1992
  • Bộ luật hình sự, bộ luật tố tụng hình sự, các luật lệ về trại cải tạo (1961) và về chỉ định cư trú (1997)
  • Các luật về tôn giáo (Pháp lệnh 2005), xuất bản, báo chí, công đoàn lao động, bầu cử quốc hội, hội đồng tỉnh và xã.
Trong Bạch thư có nói rằng Việt Nam “đã và đang tiếp tục xây dựng” một hệ thống luật pháp bảo đảm đầy đủ nhân quyền, trong đó có Hiến pháp gồm cả một chương nói về nhân quyền và những luật lệ khác (có đến 13.000 văn bản luật pháp các loại từ 1986 đến nay, gồm cỏ 40 bộ luật và luật, hơn 120 pháp lệnh, gần 850 nghị định của chính phủ, và 3000 văn bản lập qui của các bộ; riêng năm 2004 đã có 13 đạo luật và 8 pháp lệnh).

Bạch thư duyệt xét lại các thành tích Việt Nam thực hiện nhân quyền trong nhiều lãnh vực khác nhau, tương tự như báo cáo hàng năm của Bộ Ngoại giao Mỹ về tình trạng nhân quyền trong các quốc gia trên thế giới.

Sau đây là các loại nhân quyền mà Bạch thư khẳng định về các thành tích tốt đẹp Việt Nam đạt được, trong số đó chúng ta có thể bác bỏ một số với các sự kiện trái với sự tuyên bố của chính quyền:

1. Bảo đảm quyền chính trị và dân sự: bầu cử và tranh cử, tham gia điều hành đất nước và xã hội, tự do ngôn luận, báo chí và thông tin, tự do hội họp và lập hội, bình đẳng giữa các sắc tộc, quyền sống, có nhân phẩm, quyền toàn vẹn thân thể, quyền tự do đi lại và cư trú.

2. Bảo đảm thi hành các quyền kinh tế, văn hoá, xã hội: quyền được phát triển kinh tế và cải thiện mức sống, quyền y tế và xã hội.

3. Bảo đảm quyền cho phụ nữ, trẻ em; bảo vệ gia đình, người già và người tàn tật (gồm cả những nạn nhân chất độc màu da cam trong chiến tranh Việt Nam).

Việt Nam cũng đồng ý hợp tác với các tổ chức quốc tế về nhân quyền dựa trên căn bản bình đẳng, không can thiệp nội bộ của nhau và tôn trọng lẫn nhau. Tưởng cũng nên đề cập đến Thoả ước với Mỹ về vấn đề tự do tôn giáo, trong đó Việt Nam hứa sẽ đẩy mạnh tự do cho mọi tôn giáo, kể cả các giáo hội Tin lành.

Trong khi thừa nhận tính toàn cầu (phổ quát) của nhân quyền, thì Bạch thư vẫn nói tới sự hạn chế là tính phổ quát phải dung hoà với các đặc thù chính trị, kinh tế, văn hoá của Việt Nam và không quốc gia nào có quyền áp đặt một mẫu mực chính trị, kinh tế và xã hội đối với nước khác, hoặc dùng nhân quyền như công cụ để can thiệp vào việc nội bộ nước khác, hay dùng áp lực chính trị hoặc quân đội để áp đặt lên người khác.

Trong lý luận này và trong sự lo âu về can thiệp của ngoại bang, ta thấy tư tưởng của nhiều chính trị gia Á châu như Lý Quang Diệu, cựu Thủ tướng Singapore, và Mahatir, cựu Thủ tướng Mã Lai; họ đã bóp méo lịch sử và coi thường chính dân tộc họ khi khước từ cho chính dân tộc của họ sự hưởng thụ đầy đủ nhân quyền. Đối với Việt Nam, trong quyển sách của chúng tôi: The Vietnamese Tradition of Human Rights (Truyền thống nhân quyền Việt Nam), Univ. of California/Berkeley, 1988, đã minh chứng rõ rệt là tại Việt Nam, ngay trong chế độ quân chủ, dù không có dân chủ nhưng nhân quyền được tôn trọng ở mức độ khá cao. Năm 1993 tại Hội nghị của Học viện Aspen giữa hai phái đoàn Mỹ và Việt Nam thảo luận về việc bỏ cấm vận, cô Sidney Jones của Human Right Watch đã cho ông Lê Mai, Thứ trưởng ngoại giao Việt Nam, xem quyển sách đó và hỏi “Liệu chính quyền Việt Nam vẫn còn tôn trọng những truyền thống tốt đẹp đó không?”, thì ông Lê Mai đã mời ngay cô Jones đến thăm Việt Nam để du hành điều tra sự kiện và thời gian sau đó, khi đi dự Hội nghị Quốc tế về Nhân quyền, ông Lê Mai tuyên bố: “Việt Nam đến Vienna [nơi Hội nghị họp] với quyết tâm của nhân dân và chính quyền Việt Nam đề cao chính nghĩa nhân quyền”.

Bản Bạch thư 2005 hình như biểu lộ nhiều lo âu về sự can thiệp của ngoại quốc vào Việt Nam bằng chiêu bài nhân quyền. Nhưng Đại sứ Mỹ tại Việt Nam đã cảnh cáo những người Việt Nam tại Mỹ là không ai được làm bất cứ hành động bất hợp pháp nào ở Việt Nam vì chính phủ Mỹ không có chìa khoá để mở cửa nhà tù tại Việt Nam.


4. Có cải tổ luật pháp cho có dân chủ không?

Chúng ta có thể định nghĩa một nền dân chủ đích thực là một chế độ trong đó: (1) Chủ quyền tối thượng trong tay nhân dân, họ có thể thay đổi cấp lãnh đạo cao nhất của đất nước thông qua những cuộc bầu cử đích thực định kỳ, trong đó có sự cạnh tranh thực sự bằng tự do ngôn luận và báo chí, giữa các ứng viên và các nhóm xã hội, và giữa những ý tưởng khác nhau về việc điều hành đất nước; (2) Chính quyền phải có giới hạn, chứ không phải là một chế độ cai trị độc đoán hay toàn trị, giới hạn trong ý nghĩa thứ nhất là phải có pháp trị và sự tôn trọng các quyền căn bản của con nguời, các quyền đó được bảo vệ bởi một nền tư pháp độc lập; chính quyền giới hạn trong nghĩa thứ hai, là phải có sự phân lập giữa các ngành của chính quyền để phòng ngừa tình trạng một ngành chính quyền trở thành vừa là cầu thủ đá bóng vừa là trọng tài thổi còi trên vũ đài chính trị.

Đánh giá chế độ hiện hữu của Việt Nam, ta phải nói là chưa có một nền dân chủ: Người dân chưa có thể thay đổi cấp lãnh đạo cao nhất qua bầu cử trung thực, vì các ứng viên được Đảng Cộng sản chọn lựa trước, hoặc trực tiếp hoặc thông qua Mặt trận Tổ quốc; ngoài ra sự cạnh tranh rất giới hạn hoặc không có, dù dưới hình thức tự do ngôn luận hoặc báo chí hay các vận động bầu cử. Tại Việt Nam chưa có nhật báo hoặc báo định kỳ của tư nhân, tất cả đều được điều hành bởi các cơ quan của Đảng và nhà nước. Đối với việc bầu cử vào các chức vụ chính quyền, liệu có thể tin vào lập luận mà chế độ có thể đưa ra là Việt nam có một chế độ dân chủ, bởi vì Quốc hội chỉ đơn thuần chọn ứng viên cho các chức vụ chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng, Chủ tịch Toà án Tối cao v.v., thủ tục này tương tự và bình thường như sự chọn lựa các ứng viên Tổng thống hoặc Phó Tổng thống trong các đại hội Đảng Cộng hoà hoặc Đảng Dân chủ tại Mỹ để ra tranh cử, và các ứng viên này vẫn phải được bầu bởi các đại biểu nhân dân trong Quốc hội Việt Nam. Nhưng để trả lời lập luận ấy, có thể nói là phân tích cho kỹ, ta thấy là vì không có các ứng viên ngoài Đảng Cộng sản vào các chức vụ cao cấp ấy, và quan trọng hơn nữa, không cho phép sự cạnh tranh thực sự cho một vài ứng cử viên độc lập tranh cử vào Quốc hội (phần lớn họ bị Mặt trận Tổ quốc loại bỏ trong các giai đoạn tiền bầu cử - ngay trong cấp địa phương hay đơn vị), cho nên các cuộc bầu cử vẫn là do độc đảng kiểm soát, như hàm nghĩa trong câu “Đảng cử dân bầu”, và chưa có dân chủ thực sự.

Tuy nhiên chúng ta phải nhận thức là dân chủ đòi hỏi các điều kiện tiên quyết về các lãnh vực kinh tế và xã hội: mức sống tối thiểu để dân có được phương tiện sinh sống phải chăng và một trình độ học vấn đủ để biết suy nghĩ các vấn đề chung, thì mới tham gia có ý nghĩa vào các cuộc bầu cử; ngoài ra người dân phải có một đồng thuận tối thiểu về các vấn đề cơ bản của đất nước (nếu không, sẽ xảy ra nội chiến và không có dân chủ). Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã xây đắp các điều kiện tiên quyết của dân chủ nàỵ. Cũng có cởi trói phần nào, và chấp nhận cho các nhóm xã hội độc lập hoạt động, như các tổ chức kinh tế hoặc xã hội phi chính phủ. Những nhóm này đã bổ túc cho các thiếu hụt công tác của nhà nước. Thoạt đầu chính phủ muốn kiểm soát họ, nhưng sau đó, luật năm 1992 khuyến khích họ, đặc biệt đối với các tổ chức khoa học và kỹ thuật.

Trong bộ luật dân sự năm 1995, các tổ chức xã hội này được thừa nhận như những cá thể hoặc chủ thể pháp luật, do đó làm dễ dàng hơn việc các tổ chức vay tiền ngân hàng và việc bảo vệ tài sản cá nhân của hội viên, tài sản ấy được luật pháp tách biệt khỏi tài sản của tổ chức. Hàng trăm tổ chức như vậy được thành lập, đó là nền móng cho dân chủ, tương tự như vai trò của các tổ chức thiện nguyện ở Mỹ, như Alexis de Tocqueville trong quyển sách nổi danh Democracy in America (Dân chủ tại Mỹ) đã nhận xét. Hiện có một dự thảo luật về các tổ chức thiện nguyện, chi tiết hoá các điều của bộ luật dân sự, để đăng ký và hợp pháp hoá các tổ chức thiện nguyện, dù rằng chính phủ vẫn muốn hạn chế sự thành lập các tổ chức mới, và đòi hỏi các tổ chức phải báo cáo các hoạt động của họ cho nhà nước.

Nhưng gần đây, có lẽ một luồng gió mới dân chủ đang thổi vào Việt Nam: những đòi hỏi dân chủ của những người tranh đấu đòi nhân quyền và dân chủ trong quần chúng và những lời kêu gọi của một số đảng viên hay nhân viên chính quyền cao cấp đã về hưu. Thí dụ như ông Võ Văn Kiệt đã viết một số bài báo kêu gọi bầu cử dân chủ trong Đảng và ca tụng một số thành viên của cấp lãnh đạo miền Nam trước đây là ái quốc. Có nhiều tập hợp tranh đấu cho dân chủ đã xuất hiện công khai tại Việt Nam. Người anh lớn của Việt Nam là Trung Quốc, có Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã tuyên bố tại Đại học Harvard tháng 12 năm 2003 là mục đích tối hậu của Trung Quốc cần nhắm tới là dân chủ, vì sự tôn trọng quyền tự do của nhân dân để theo đuổi hạnh phúc đã đưa đến kết qủa là kinh tế phồn vinh của Trung Quốc và ông ta cam kết là dần dần cho nhân dân Trung Quốc có đầy đủ dân chủ - điều đó cần nhiều năm để trình độ giáo dục được nâng cao hơn. Việt Nam có lẽ sẽ quan tâm đến bài học này tại Trung Quốc.


[/align]Nguồn: Pháp luật và Đời sống (Houston), 2006
[/align] 
[/align]http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=8450&rb=0505
[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-11-05 05:38:32Ngọc Lý>


Nội dung điều trần của đại diện Khối 8406 trước Quốc Hội Canada
Nguyễn Chính Kết
(Trích bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận)


Lời giới thiệu: Hôm Thứ Tư, ngày 24 Tháng Mười 2007, Giáo Sư Nguyễn Chính Kết đại diện cho Khối 8406 cùng nhà văn Mặc Giao Phạm Hữu Giáo, đại diện cho ủy ban Canada tranh đấu cho tự do tôn giáo ở Việt Nam, đã ra điều trần trước Quốc Hội và Bộ Ngoại Giao Canada về hoạt động của Khối 8406 và về cuộc đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam. Dưới đây là bài trình bày của G.S. Kết.

Kính thưa quý vị thành viên Quốc Hội Canada,

Tôi là một thành viên của Khối 8406 và cũng là thành viên ban điều hành Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam. Tôi bắt đầu tranh đấu ôn hòa cho nhân quyền và dân chủ đa nguyên cho Việt Nam từ năm 2001, và đã bị nhà cầm quyền Việt Nam sách nhiễu, thẩm vấn nhiều lần, cho công an theo dõi thường xuyên mấy năm nay. Ðược mời sang Mỹ lãnh giải thưởng nhân quyền của Human Rights Watch, vừa đặt chân đến Bắc Mỹ, tôi liền bị Cộng Sản Việt Nam ra lệnh truy nã như một tội phạm, và họ tuyên bố sẽ bắt tôi khi trở về Việt Nam. Tôi sẵn sàng trở về để tiếp tục tranh đấu bất bạo động với các chiến hữu của tôi sau khi tôi hoàn thành công tác vận động dân chủ của tôi tại hải ngoại. Ngoài Hoa Kỳ, tôi còn đi đến một số nước để trình bày về tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam với tư cách nhân chứng từ trong nước, và cuộc đấu tranh của người dân, đặc biệt của Khối 8406, chống lại những vi phạm ấy. Hôm nay, tôi rất hân hạnh đến Canada để trình bày với quý vị chủ đề ấy.

Hai sự kiện lịch sử Việt Nam ở thế kỷ 20

Sau thế chiến II, các quốc gia bị chia cắt đều tìm đường thống nhất. Ðức Quốc đã hoàn thành công cuộc này không tốn một giọt máu. Hàn Quốc từ nhiều năm nay đang nỗ lực một cách hòa bình. Chỉ ở VN, đảng cầm quyền khát máu đã sẵn sàng hy sinh 4 triệu mạng dân hai miền cho một thứ thống nhất không độc lập, không tự do, không hạnh phúc.

Sau thảm cảnh 1975, hai triệu người Việt Nam đã liều mình chọn lựa “nhân quyền hay là chết”. Ðại đa số đã dùng đường biển để tìm tự do, họ được gọi là “boat people”. Hàng chục ngàn người đã bỏ mình trên biển cả. Số còn lại, nay thành 3 triệu người đã hội nhập vào rất nhiều nước trên thế giới. Trong đó, 200,000 người đã được Canada mở vòng tay đón nhận từ thập niên 1980, họ đã đóng góp tích cực vào sự phát triển đất nước Canada tươi đẹp như một lời cám ơn của dân tộc chúng tôi đối với dân chúng Canada, đồng thời 200,000 người Canada gốc Việt này cũng là một bằng chứng sống của câu nói: “Nhân quyền hay là chết”.

Việc vi phạm nhân quyền tại Việt Nam

Về những vi phạm nhân quyền của Việt Nam, tôi biết chắc chắn quý vị đã biết rất rõ. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh điểm quan trọng này: Việt Nam đang theo chính sách hai mặt mâu thuẫn: mâu thuẫn giữa hiện tượng và bản chất, đối nội và đối ngoại, lời nói và việc làm... và luôn luôn tìm cách lường gạt không chỉ người dân trong nước mà cả thế giới nữa. Do đó, không thể tin tưởng bất cứ điều gì chế độ độc tài Việt Nam hứa hẹn hay cam kết trước thế giới cũng như trước người dân trong nước. Họ đã lường gạt thế giới biết bao lần, chẳng hạn qua Hiệp Ðịnh Geneva (1954) hay Hiệp Ðịnh Paris (1972), v.v... Luật Quốc Tế Nhân Quyền mà họ cam kết khi gia nhập Liên Hiệp Quốc (20 Tháng Chín 1977) cũng như chính hiến pháp và luật pháp do họ lập ra đều bị họ chà đạp khi họ cần hay khi có lợi cho họ. Tất cả đều vì lý do căn bản này là họ quyết tâm nắm giữ độc quyền cai trị đất nước một cách vô thời hạn. Bao lâu chế độ độc tài Việt Nam chưa từ bỏ quyết tâm ấy thì tất cả những gì có vẻ tốt đẹp mà họ thực hiện hay biểu lộ ra trước thế giới đều cần phải nghi ngờ.

Bao lâu mà họ vẫn giữ chính sách ấy thì nước Canada và thế giới không nên tin rằng họ có thể tự nguyện thực hiện một tiến triển gì về mặt nhân quyền. Tất cả những cải thiện gì về nhân quyền đều chỉ là hình thức và do áp lực ngoại giao, chính trị hay kinh tế mà thôi. Vì thế, muốn họ thực hiện một cải thiện nhân quyền nào đối với người dân, chỉ có dùng áp lực trên họ mới có thể buộc họ cải thiện mà thôi.

Cuộc đấu tranh của Khối 8406


Kể từ khi đảng Cộng Sản VN cướp được chính quyền vào năm 1975 đến nay, người dân trong nước - với tư cách cá nhân hay tập thể - luôn luôn đấu tranh để phản đối chính sách hà khắc, cướp bóc và đàn áp của đảng cộng sản cầm quyền. Nhưng tất cả những cuộc lên tiếng đấu tranh ấy đã bị nhà cầm quyền VN dập tắt bằng sự đàn áp dã man. Mãi đến năm 2006, khi muốn hòa nhập vào cộng đồng quốc tế để tồn tại và phát triển, cụ thể là vào WTO, VN phải tạm thời chấp nhận những điều kiện về nhân quyền là phải dè dặt hơn trong việc đàn áp những người đấu tranh, thì các nhà đấu tranh trong nước đã tận dụng thời cơ này để thành lập Khối 8406.

Từ 1975 đến nay, thành quả của đảng là:

- Ðể tạo điều kiện cho cuộc chiếm đoạt tài sản của toàn dân, đảng tiến hành cuộc cải cách ruộng đất lần thứ hai: hàng triệu nông dân bị mất trắng.

- Ðể bảo vệ độc quyền thụ hưởng trên, đảng đưa điều 4 vào hiến pháp 1992 để hợp hiến hóa sự độc quyền cai trị vô thời hạn của mình trên đất nước Việt Nam.

- Ðể mọi việc yên ổn, phải kiểm soát tâm linh qua việc biến các tôn giáo - vốn có bản chất là giải phóng con người và chống đối sự ác - thành loại tôn giáo bị tê liệt khả năng đối kháng trước sự ác, trước các bất công xã hội rõ ràng trước mắt do chế độ gây nên, và thành một công cụ hữu hiệu phục vụ chế độ. Ðây sẽ là một thảm họa lâu dài cho Quốc Hồn, Việt Tính.

Khối 8406 đã quy tụ được khởi đầu 118 người trong nước cùng ký tên trong một bản lên tiếng ra ngày 8 Tháng Tư 2006, gọi là “Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ Cho Việt Nam năm 2006”, gọi tắt là “Tuyên Ngôn 8406”. 118 người tiên khởi này tiêu biểu cho đầy đủ các thành phần xã hội, các tôn giáo từ Nam chí Bắc. Sau mấy tháng, số người trong nước tham gia vào Khối 8406 lên đến gần 2,000 người, và số người Việt hải ngoại ghi danh ủng hộ được khoảng 20,000 người. Ngoài ra, Khối 8406 còn được nhiều chính phủ, tổ chức, tập thể, chính khách quốc tế viết thư tán thành và ủng hộ.

Mục tiêu và phương pháp đấu tranh của Khối 8406 là:

- Thay thế triệt để chế độ độc tài, độc đảng và chà đạp nhân quyền hiện nay bằng thể chế dân chủ, đa nguyên đa đảng, tôn trọng nhân quyền...

- Tạo môi trường chính trị lành mạnh: có cạnh tranh chính trị, tam quyền phân lập, các quyền tự do căn bản được tôn trọng (dân tộc tự quyết, tự do ngôn luận, lập hội lập đảng, bầu cử ứng cử, biểu tình đình công, và tự do tôn giáo).

Giải tán khi hoàn thành mục tiêu

Sau khi hoàn thành mục tiêu – i.e. đặt nền móng dân chủ và tạo môi trường dân chủ đa nguyên có cạnh tranh chính trị lành mạnh để các chính đảng và đoàn thể phi cộng sản hoạt động và phát triển hầu thực hiện thể chế dân chủ - Khối 8406 sẽ tự giải tán để nhường bước cho các chính đảng hoạt động.

Một số hoạt động của Khối 8406:

Khối 8406 chủ trương tranh đấu một cách ôn hòa, bất bạo động nhưng công khai đối lập, và dựa trên căn bản pháp lý (tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, luật quốc tế, và cả những điều hợp lý trong hiến pháp Việt Nam).
 
Những việc khối đã làm được như:

- Thành lập các tập hợp, tổ chức, đảng phái đấu tranh: Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam, đảng Thăng Tiến Việt Nam, Hiệp Hội Ðoàn kết Công Nông, Ủy Ban Nhân Quyền Việt Nam, Công Ðoàn Ðộc Lập...

- Ra các báo giấy phát hành trong nước và hải ngoại như: bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận (trên 10,000 bản mỗi số), bán nguyệt san Tự Do Dân Chủ, bán nguyệt san Tổ Quốc, các website...

- Qua Internet và qua báo chí, lên tiếng phản đối nhà cầm quyền Việt Nam khi có ai hay tập thể nào bị đàn áp; kêu gọi các tổ chức quốc tế hay người Việt hải ngoại lên tiếng/ủng hộ/giúp đỡ; minh định lập trường trước những vấn đề quan trọng của đất nước v.v...

- Giúp người dân - nhất là giới công nhân và những người dân bị cướp đất đai nhà cửa - ý thức được các quyền được luật pháp quốc tế và hiến pháp Việt Nam công nhận, cách riêng những quyền mà họ đang bị nhà cầm quyền Việt Nam tước đoạt hay chà đạp. Ủng hộ và tìm cách giúp đỡ họ khi họ đấu tranh...

Sự đàn áp của Cộng Sản VN

Cộng Sản Việt Nam chủ trương mọi cách tiêu diệt mọi cuộc đấu tranh trong nước, dù là đấu tranh ôn hòa bất bạo động, hay theo phương cách chính đáng và hợp pháp nhất. Không tiêu diệt được thì họ tìm cách hạn chế, vô hiệu hóa mọi hoạt động của Khối 8406 hoặc các nhà đấu tranh. Vì thế, ngay khi vào được WTO, Cộng Sản Việt Nam đã ra tay tiêu diệt Khối 8406 bằng cách bắt bỏ tù những nhân vật chủ chốt của Khối 8406 như: Lm Nguyễn Văn Lý, Ls Nguyễn Văn Ðài, Ls Lê Thị Công Nhân, anh Nguyễn Phong (Ðảng trưởng đảng Thăng Tiến), anh Nguyễn Bình Thành, cô Hoàng Thị Anh Ðào, cô Lê Thị Lệ Hằng, các thành viên sáng lập Hiệp hội Ðoàn kết Công Nông (Nguyễn Tấn Hoành, Nguyễn Thị Lệ Hồng, Ðoàn Hữu Chương, Nguyễn Thị Tuyết, Trần Quốc Hiền), theo dõi ngày đêm và thường xuyên sách nhiễu Ðỗ Nam Hải, đồng thời ra lệnh truy nã tôi, Nguyễn Chính Kết...

Hiện nay, CSVN bị thế giới lên tiếng kết án về việc đàn áp các nhà đấu tranh dân chủ, thì họ dùng phương pháp chỉ đàn áp ở mức độ đủ để không bị quốc tế kết án, còn thì tìm đủ mọi cách hạn chế hoặc vô hiệu hóa các hoạt động của các nhà tranh đấu: cắt điện thoại bàn, cúp đường cung cấp Internet, kiểm soát các liên lạc qua điện thoại, email... cho mật vụ theo dõi ngày đêm, đưa về đồn công an khi dự đoán các nhà đấu tranh sẽ đi gặp nhau, gặp những nhân vật lợi hại như phóng viên ngoại quốc, đến chỗ dân oan đang biểu tình, chỗ công nhân đang đình công, theo dõi và thẩm vấn những ai liên lạc với các nhà dân chủ; quản chế tại gia, khủng bố tinh thần bằng cách cho đấu tố ở phường/xã, mời hay buộc đến đồn công an để “làm việc” [=thẩm vấn].

Vì thế, để đấu tranh chúng tôi phải vượt qua tất cả những cản trở gây khó khăn của họ, nên hoạt động của chúng tôi bị hạn chế rất nhiều, rất nhiều việc chúng tôi muốn làm nhưng không làm được. Tuy nhiên, dù khó khăn trăm bề, chúng tôi vẫn tìm cách khắc phục mọi cản trở để tiếp tục tranh đấu đến khi thành công. Một trong những khắc phục là việc tôi tìm cách ra hải ngoại, qua đường Cam-Bốt, để vận động dân chủ, bất chấp nhà cầm quyền Cộng Sản VN cản trở việc xuất ngoại của các nhà tranh đấu dân chủ.

Cuộc vận động của tôi tại hải ngoại

Ðể kêu gọi sự ủng hộ và giúp đỡ của chính giới các nước tự do và của người Việt hải ngoại đối với cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ trong nước, tôi đã được các vị lãnh đạo Khối 8406 và Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam cử ra hải ngoại. Tôi đã đến các Quốc Hội Mỹ, Liên Âu, và một vài nước Âu Châu với mục đích ấy.

Nay tôi rất vui mừng được đến gặp Quốc Hội và Bộ Ngoại Giao Canada để nói lên nguyện vọng của tôi và của các nhà đấu tranh trong nước. Tôi rất cảm phục trước lập trường của chính phủ Canada về tự do dân chủ rất rõ rệt: Thủ Tướng Harper đã từng gặp Nguyễn Tấn Dũng để đặt thẳng với ông này việc đòi hỏi tôn trọng tự do dân chủ đối với nhân dân Việt Nam; và ông nói ông không chấp nhận hy sinh giá trị của Canada trên bàn thờ của dollar. Chính vì thế, tôi không hề ngại ngùng trong việc gõ cửa chính phủ Canada để nhờ sự giúp đỡ.

Ðề nghị

Ðể giúp chúng tôi thực hiện tự do dân chủ tại Việt Nam, để nhà cầm quyền Việt Nam phải tôn trọng nhân quyền của người dân cũng như những điều họ đã ký kết với quốc tế, không thể trông vào thiện chí hay sự tự nguyện của nhà cầm quyền Việt Nam, mà chỉ có thể dùng áp lực buộc họ phải tôn trọng mà thôi. Nghĩa là áp lực Việt Nam bằng những biện pháp thương mại và ngoại giao.

Ðể cụ thể hơn, chúng tôi xin đề nghị một số việc cụ thể:

Với Bộ Ngoại Giao

“Can thiệp cho Khối 8406 được tự do in ấn, phát hành và bán công khai tờ bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận như một tờ báo hợp pháp (hiện nay đang phải thực hiện trong tình trạng không được coi là hợp pháp: người dân mà đọc hay phổ biến có thể bị trừng phạt...)”

Ðòi hỏi CSVN thả hết những người đang bị tù vì lý do tranh đấu cho tự do dân chủ như: 1) Ðoàn Huy Chương, 2) Nguyễn Văn Ðài, 3) Huỳnh Nguyên Ðạo, 4) Ðoàn Văn Diên, 5) Phạm Bá Hải, 6) Vũ Hoàng Hải, 7) Trần Thị Lệ Hằng, 8) Trần Quốc Hiền, 9) Nguyễn Tấn Hoành, 10) Trương Quốc Huy, 11) Nguyễn Văn Lý, 12) Lê Thị Công Nhân, 13) Nguyễn Phong, 14) Nguyễn Ngọc Quang, 15) Lê Nguyên Sang, 16) Nguyễn Bình Thành, 17) Trần Khải Thanh Thủy, 18) Nguyễn Bắc Truyễn.

Ðòi hỏi CSVN bỏ lệnh quản chế tại gia đối với: 1) Nguyễn Vũ Bình, 2) Thích Quảng Ðộ, 3) Nguyễn Ðình Huy, 4) Phan Văn Lợi, 5) Thích Thiện Minh, 6) Lê Quốc Quân, 7) Thích Huyền Quang, 8) Nguyễn Ðan Quế, 9) Phạm Hồng Sơn, 10) Nguyễn Khắc Toàn.

Ðòi hỏi CSVN chấm dứt tình trạng theo dõi thường xuyên đối với: 1) Nguyễn Phương Anh, 2) Nguyễn Công Chính, 3) Ðỗ Nam Hải, 4) Trần Khuê, 5) Lê Quang Liêm, 6) Du Lam Tân Vĩnh Phát, 7) Nguyễn Hồng Quang, 8) Hoàng Tiến, 9) Phạm Văn Trội, 10) Nguyễn Tiến Trung.

“Không viện trợ phi nhân đạo cho Việt Nam khi Việt Nam tiếp tục vi phạm nhân quyền, dành một ngân khoản ủng hộ các phong trào dân chủ nhân quyền, và không ủng hộ cho Việt Nam vào hội đồng bảo an với tư cách hội viên không thường trực cho đến khi dân chủ và nhân quyền được tôn trọng.”

Với Quốc Hội

- Ra một nghị quyết ủng hộ dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam.

- Can thiệp để tôi có thể an toàn trở về Việt Nam và được tự do tiếp tục cuộc vận động bất bạo động cho dân chủ và nhân quyền tại quê hương của tôi.

Kết luận

Kính thưa quý vị,

Vùng Á Châu chỉ còn ba nước độc tài khắc nghiệt là: Miến Ðiện, Bắc Hàn và Việt Nam, sự bùng nổ của nhân quyền và dân chủ của nước này sẽ tác động hữu ích lên tình trạng nước kia. Dân chúng khi bị dồn đến chân tường sẽ phải đồng loại xuống đường như ở Miến Ðiện Tháng Chín 2007. Ðiều này gây nên những cái chết không cần thiết.

Kính thưa quý vị thành viên Quốc Hội Canada,

Sự ủng hộ tích cực của quý vị cho Khối 8406 Việt Nam sẽ cứu sống hàng triệu người đang đứng trước một lựa chọn: “nhân quyền hay là chết”.

Xin chân thành cám ơn quý vị.

Nguyễn Chính Kết
 
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=68644&z=3
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-12-02 18:32:38Ngọc Lý>
TUYÊN BỐ CỦA ĐẢNG DÂN CHỦ VIỆT NAM
 
BẢN HIẾN PHÁP HIỆN HÀNH
CỦA NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM
 KHÔNG CÓ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ




TẦM QUAN TRỌNG CỦA HIẾN PHÁP TRONG THỂ CHẾ CỘNG HÒA

Hiến pháp là luật cơ bản của Nhà nước, là luật pháp tối cao của quốc gia, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Hiến pháp đề ra chính thể của quốc gia. Hiến pháp chính là bản định hướng cho công việc lập pháp và cho việc diễn giải pháp luật. Hiến pháp chỉ định mục đích của Nhà nước, bảo đảm các quyền của công dân và những giới hạn của Nhà nước, đồng thời bảo đảm tính chất ổn định và hợp pháp của Nhà nước.

Do đó, hiến pháp phải được thượng tôn và không thể bị thay đổi thường xuyên hay dễ dàng.

Hiến pháp chỉ có giá trị pháp lý khi được quốc dân chấp thuận và được thông qua theo một thủ tục pháp lý nhất định. Thủ tục này tùy theo qui định ở mỗi quốc gia. Tại Việt Nam, thủ tục thông qua trong việc sửa đổi hiến pháp, cơ bản là: phải đưa ra toàn dân phúc quyết khi đã được Nghị viện ưng chuẩn. Thủ tục này được qui định tại Điều 70 của bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946. Quyền phúc quyết hiến pháp là nguyên tắc thiết yếu của hiến pháp trong thể chế cộng hòa, là quyền tối thượng của nhân dân.

HIẾN PHÁP NĂM 1946 LÀ HIẾN PHÁP NGUYÊN THỦY, CHÍNH DANH

Năm 1945, với công lao của toàn dân, chủ quyền quốc gia đã thuộc về nhân dân. Do vậy mới có cuộc tổng tuyển cử vào đầu năm 1946 bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước ta (Quốc hội khóa I). Đến gần cuối năm 1946, Quốc hội đại diện cho toàn quốc, toàn dân, thông qua bản Hiến pháp đầu tiên. Hiến pháp năm 1946 là bản Hiến pháp nguyên thủy, chính danh, hợp lòng dân và văn minh thế giới.

Sự chính danh của Hiến pháp năm 1946 cũng được xác nhận bởi các Hiến pháp kế sau. Lời nói đầu của Hiến Pháp 1959 có ghi: “Trong giai đoạn mới của cách mạng, Quốc hội ta cần sửa đổi bản Hiến pháp năm 1946 cho thích hợp với tình hình và nhiệm vụ mới.” Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1980 có nhắc lại: “Kế thừa và phát triển Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959.” Và lời nói đầu của Hiến pháp năm 1992 ghi: “Qua các thời kỳ kháng chiến kiến quốc, nước ta đã có Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980.” Các trích dẫn đó chứng tỏ các Hiến pháp năm 1959, 1980 và 1992 đều chính thức thừa nhận Hiến pháp năm 1946 là Hiến pháp nguyên thủy và chính danh của nước ta kể từ đó.

NHỮNG THAY ĐỔI HIẾN PHÁP HỆ TRỌNG MÀ NHÂN DÂN KHÔNG ĐƯỢC PHÚC QUYẾT

Từ năm 1946 đến nay, Việt Nam đã có bốn Hiến pháp. Đó là vào các năm 1946, 1959, 1980 và 1992. Rõ ràng, Hiến pháp Việt Nam là Hiến pháp bất thường vì liên tục bị thay đổi và dễ dàng bị thay đổi.

Hiến pháp năm 1959 thay đổi chính thể từ ‘dân chủ cộng hòa’ sang ‘dân chủ nhân dân’. Hiến pháp năm 1980 thay đổi tên Nước thành Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tu chính Hiến pháp năm 1992 thay đổi ý nghĩa của Nhà nước từ Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân thành Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân…  

Các thay đổi trên là những việc liên quan đến vận mệnh quốc gia, nhân dân phải được quyền phúc quyết. Và quyền này cũng đã được qui định tại Điều 21 và Điều 70 Hiến pháp năm 1946. Thế nhưng không một cuộc trưng cầu dân ý nào được tổ chức trong các lần sửa đổi Hiến pháp. Như vậy, Nhà nước không tôn trọng nhân dân và xem thường các quy tắc Hiến định cơ bản.

HIẾN PHÁP NĂM 1992 KHÔNG CÓ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ

Bản Hiến pháp hiện hành công bố năm 1992, dù đã tu chỉnh năm 2001, nhưng vẫn chưa phải là bản hiến pháp hợp lệ vì những lý do sau :

1. Nhiều điều luật mâu thuẫn, không chuẩn mực trong bản Hiến pháp 1992 đã gây bất ổn định chính trị kéo dài, gây bất công xã hội ngày một gia tăng, khiến chính quyền đã phải lo sợ cho sự sụp đổ của chế độ. Sau đây là vài điều tiêu biểu gây bất bình nghiêm trọng trong xã hội: 
                                                                          
- Điều 4 Hiến pháp quy định : “Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội…” . Không một hiến pháp chuẩn mực nào lại khẳng định quyền lãnh đạo tuyệt đối và vĩnh viễn cho một đảng!  Khẳng định quyền lãnh đạo của đảng CSVN trong Hiến pháp là tước đoạt quyền làm chủ của nhân dân quy định tại điều 2 Hiến pháp. Quyền lực Nhà nước phải được nhân dân thỏa thuận trao cho thông qua bầu cử tự do và công bằng. Việc khẳng định quyền lãnh đạo đương nhiên của một đảng đồng nghĩa với việc phủ nhận quyền làm chủ của nhân dân. Chủ nghĩa Mác Lênin chỉ là một luồng tư tưởng trong xã hội, quy định quyền lãnh đạo cho đảng CSVN cùng ý thức hệ Mác Lênin trong Điều 4 là chống lại việc thực hiện mục tiêu xã hội công bằng, dân chủ qui định tại Điều 3 Hiến pháp. Vấn đề này gây chia rẽ trong xã hội, vi phạm chính sách bình đẳng, chống lại nguyên tắc đoàn kết dân tộc. Chưa kể chủ nghĩa Mác-Lênin đã bị thực tế bác bỏ ngay tại Đức, nguồn gốc của chủ nghĩa Mác, và tại Nga, một thời là thành trì của chủ nghĩa xã hội.

- Điều 4 Hiến Pháp vi phạm Luật Quốc Tế Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc, đặc biệt quyền dân tộc tự quyết quy định trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (Điều 21) và Công Ước Dân Sự Chính Trị (Điều 1).

- Điều 83 quy định “Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước CHXHCNVN. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp…” Tuyệt đại đa số đại biểu Quốc hội lại là đảng viên đảng CSVN. Như vậy, cùng với Điều 4, Điều 83 tạo cơ sở pháp lý cho chế độ độc đảng toàn trị. Dựa trên hai điều khoản đó, đảng CSVN sử dụng Quốc hội như một công cụ để tự cho mình quyền lực Nhà nước.

- Điều 147 Hiến pháp qui định chỉ Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp, với hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Với Quốc hội độc đảng và thủ tục thông qua Hiến pháp đơn giản và dễ dàng như vậy, việc sửa đổi Hiến pháp không khác gì việc thông qua hoặc sửa đổi điều lệ của một đảng phái.

2. Hiến pháp năm 1992 đã không đề cập đến quyền phúc quyết hiến pháp của nhân dân, một quyền cơ bản thiết yếu quy định tại Điều 70 Hiến pháp đầu tiên năm 1946, một thủ tục pháp lý không thể bỏ qua mỗi khi Quốc hội thông qua việc sửa đổi hiến pháp. Thủ tục phúc quyết cần được hiểu là sự phê chuẩn của nhân dân bằng lá phiếu qua cuộc trưng cầu ý dân. Rõ ràng, thủ tục sửa đổi hiến pháp quy định bởi Quốc hội đầu tiên đã không được các Quốc hội kế tiếp tuân hành khi sửa đổi và thông qua hiến pháp.

Tất cả các vi phạm nêu trên là nghiêm trọng, nhưng vi phạm nghiêm trọng hơn cả là Hiến pháp năm 1992 đã loại bỏ hẳn quyền phúc quyết hiến pháp của nhân dân. Hiến pháp năm 1992 không hề được nhân dân phúc quyết. Đó là cơ sở pháp lý chứng minh bản Hiến pháp 1992 không có giá trị pháp lý.

Tương tự, Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980, với sự thiếu sót nghiêm trọng này, cũng không thể được coi là hợp lệ.

Bản tuyên bố này nhằm mục đích nêu lên sự cấp thiết của một bản Hiến pháp mới cho đất nước. Bản công bố được để ngỏ cho sự đóng góp ý kiến của các chuyên gia, các trí thức và toàn thể đồng bào.
Hà Nội, ngày 20  tháng 11 năm 2007

TM. Ban Soạn Thảo Trung Ương Đảng Dân Chủ Việt Nam 
                Giáo sư Hoàng Minh Chính,

Tổng Thư Ký Đảng Dân Chủ Việt Nam
Nguyên Viện trưởng Viện Triết học Mác-Lênin, Hà Nội

Nơi gửi:

·        Chủ tịch QH và các Đại biểu Quốc hội, Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao thuộc Nhà nước CHXHCN Việt Nam.
·        Toàn thể nhân dân Việt Nam.
·        Quốc hội Hoa Kỳ và Quốc hội Âu Châu.
·        Các cơ quan truyền thông, báo chí trong và ngoài nước.    

# # #

Tham Khảo:
Hiến pháp 1992
Ðiều 2
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa VN là Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp tri thức. 

Ðiều 3 
Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân

Điều 4 
Ðảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. 
Mọi tồ chức của Ðảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. 

Ðiều 83 
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. 
Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. 
Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân.  Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.

Ðiều 147 
Chỉ Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp. Việc sửa đổi Hiến pháp phải được ít nhất là hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành.

# # #

Hiếp pháp 1946
Ðiều thứ 21
Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, theo điều thứ 32 và 70. 
Ðiều thứ 70
Sửa đổi Hiến pháp phải theo cách thức sau đây:
a) Do hai phần ba tổng số nghị viên yêu cầu.
b) Nghị viện bầu ra một ban dự thảo những điều thay đổi.
c) Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết.
Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (Việt Nam là thành viên của LHQ từ năm 1977)

Ðiều 21:
(1) Mọi người đều có quyền tham gia vào việc điều hành xứ sở của mình, một cách trực tiếp hay qua các đại biểu được tuyển chọn một cách hoàn toàn tự do.

(2) Mọi người đều có ngang nhau quyền nhận lãnh những trách nhiệm chung của quốc gia của họ.

(3) Ý muốn của nhân dân phải là nền tảng của quyền lực chính quyền. Ý muốn này phải được thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và nghiêm chỉnh, bằng phiếu kín, qua phương thức phổ thông và bình đẳng đầu phiếu, hay các phương thức tương đương bảo đảm tự do bầu cử.

Công Ước Quốc Tế Về Những Quyền Dân Sự Và Chính Trị (Việt Nam ký kết tham gia từ năm 1982)

Ðiều 1:
1) Các dân tộc điều có quyền tự quyết. Chiếu theo quyền này, họ được tự do quyết định về chế độ chính trị và tự do theo đuổi đường hướng phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa.

2) Ðể đạt được mục tiêu này, các dân tộc có quyền tự do sử dụng các nguồn lợi thiên nhiên của mình, miễn là không vi phạm những nghĩa vụ phát sinh từ sự hợp tác quốc tế về kinh tế, đặt căn bản trên quyền lợi hỗ tương và luật pháp quốc tế. Trong mọi trường hợp các phương tiện sinh sống của người dân không thể bị tước đoạt.


http://www.canh-en.de/index.php?id=123&tx_mininews_pi1
Đăng nhập để trả lời
0