Lẩn trốn/những làn sóng cách mạng mới
Hồ đi Sán Đầu cùng với viên thư ký của Loseby dưới vỏ bọc là một người Trung Quốc giàu có tên là Lung.[23] Vào thời điểm này của năm 1933 những người cộng sản Việt Nam vẫn chưa tái lập liên lạc chính thức với ĐCS Trung Quốc và, theo điều lệ của nguyên tắc cách mạng, một đảng viên vừa ra khỏi tù thì bị nghiêm cấm không được quay về những địa điểm mà người ấy thường lui tới trước khi bị bắt. Vì vậy có lẽ Hồ vẫn phải tiếp tục giả dạng là một thương gia giàu có và ẩn dật tại Sán Đầu cho đến tháng sau. Những người Việt vẫn còn lẩn trốn hoặc như Nguyễn Thị Minh Khai, vừa được phóng thích, đã phải trải qua khoảng cuối năm 1932 và gần trọn năm 1933 tìm cách phục hồi mạng lưới liên lạc của họ. Điều cay đắng là những thành viên tín cẩn của Hồ tại Hồng Kông như Lê Hồng Sơn và Minh Khai cũng như những người từ Moscow về như Trần Ngọc Danh, em của Trần Phú, đã bị nghi ngờ khi tìm cách liên lạc với ĐCS Trung Quốc trong năm 1932.
Một đảng viên người Việt vẫn còn giữ liên lạc với ĐCS Trung Quốc tại Thượng Hải là Trương Phước Đạt, một thợ máy tàu gốc Phan Rang đã sớm gia nhập thành phần ĐDCSĐ tại Sài Gòn vào năm 1929. Sau khi vượt ngục tại Sài Gòn và đến Hồng Kông vào năm 1931, ông được đảng đề cử đi Nga để học tập. Nhưng ông và hai bạn đồng hành đã bị chặn lại tại biên giới Mãn Châu, vì vậy ông đã phải quay về Thượng Hải. Tại đây uỷ ban quân sự tỉnh Giang Tô (Jiang Su - ND) thuộc ĐCS Trung Quốc đã giao cho ông nhiệm vụ tái lập liên lạc với những quân nhân người Pháp và Việt Nam; những đầu mối này đã bị cắt đứt khi những tuyên truyền viên người Việt bị bắt vào mùa hè 1931. Vì thế đến giữa năm 1932 Trương Phước Đạt được yêu cầu bảo đảm cho những Việt đã đến Thượng Hải để xin ĐCS Trung Quốc giúp đỡ và trợ giúp tiền bạc. Trần Ngọc Danh yêu cầu ngân sách hỗ trợ cho công đoàn của những đầy tớ người Việt mà ông đã tổ chức với những thành phần cũ của Thanh Niên tại Hồng Kông. Ông và Minh Khai tìm cách tái thiết hệ thống liên lạc của ĐCS Đông Dương tại đây với sự giúp đỡ của một số thuỷ thủ. Một số báo cáo của Pháp cho rằng lúc ấy bà đang là vợ lẽ của ông. Lê Hồng Sơn đang dự định quay về Xiêm, nơi mà ông hy vọng sẽ tái tổ chức Uỷ Ban Trung Ương ĐCS Đông Dương. Những người Việt qui tập về Thượng Hải quyết định gửi Đạt đi Xiêm để hoạt động cùng với Lê Hồng Sơn. Vì không hài lòng với quyết định này, Trương Phước Đạt đã phá hoại những dự án của họ bằng cách cáo buộc họ đã có những hành vi "tiểu tư sản" (ví dụ như thuê khách sạn hiện đại có thang máy) trong báo cáo của ông gửi cho Uỷ Ban Trung Ương ĐCS Trung Quốc. Hơn thế nữa, ông đã không nhìn nhận là có quen biết bất cứ ai trong họ trước khi họ đến Thượng Hải. Cuối cùng toán người Việt với 5 thành viên đã phải cầm cố quần áo của mình để trả tiền khách sạn và chi phí đến Nam Kinh (Nan Jing - ND), nơi họ có thể dựa dẫm vào lòng hiếu khách của Hồ Học Lãm.[24] Chúng ta không biết được rằng sự kiện này đã phản ánh mối căng thẳng liên tục giữa những thành phần ĐDCSĐ và ANCSĐ cũ trong ĐCS hay đơn giản chỉ là một trường hợp hai mang. Trần Ngọc Danh và Lê Hồng Sơn rốt cuộc bị bắt vào ngày 25 tháng 9 1932. Trương Phước Đạt bị bắt vào tháng 4 1933.[25] Đến tháng 3 Minh Khai quay về Hồng Kông để liên lạc với những người Việt tại Nam Kinh.[26]
Một chỉ điểm cho Pháp tại Thái Lan nói rằng Hồ Chí Minh đã lẩn trốn tại khu vực Nakhon Phanom từ đầu tháng 1 1933, nhưng sau này được tiết lộ là nhầm người.[27] Vào tháng 9 1933 một chỉ điểm cho Pháp khác nói rằng đã phát hiện Hồ đang sống tại Nam Ninh (Nan Ning - ND) cùng với một nhóm nhỏ người Việt. Mật vụ "Maria" nói rằng trong số 4 người Việt Nam đang sống tại số 78 đường Cau Song Kai có một người giống với ảnh chụp Hồ Chí Minh. Người chỉ điểm này cũng nhắc đến 3 phụ nữ cùng với hai bé gái và một bé trai cũng đang sống chung trong ngôi nhà này. Hồ được cho là đang dùng tên Lý Sính Sáng (ngài Lý).[28]
Nhưng Lê Hồng Phong, trong gần trọn năm 1933 đang sống tại Nam Ninh và Long Châu, đã không hề nhắc đến việc liên lạc với Hồ khi ông báo cáo cho QTCS vào tháng 1 1935. Phong đã dự định lên mạn ngược dể gặp những cơ sở người Việt tại Xiêm khi ông đến Bangkok vào tháng 2 1932 trên đường về từ Moscow và Paris. Nhưng nhận thấy mình đang bị cảnh sát theo dõi chặt chẽ, ông đã từ bỏ dự định này 10 ngày sau và đến tháng 4 ông đã đi đến Quảng Châu và Nam Ninh. Nơi đây ông bắt đầu tái thiết chi uỷ đảng tại tỉnh biên giới Cao Bằng cũng như thành lập những tổ đảng tại Lạng Sơn. Ông đã tuyên truyền những học viên tại học viên quân sự Nam Ninh, nơi mà từ 1925 đã trở thành nguồn cung cấp thành viên cộng sản mới. Vào tháng 8 1933 ông đã gặp những người bạn học cũ là Hà Huy Tập và Nguyễn Văn Dựt tại Quảng Châu, và đến tháng 6 1934 họ đã thành lập một Phân Bộ Hải Ngoại để quản lý những công việc của đảng cho đến khi một Uỷ Ban Trung Ương quốc nội được thành lập.[29]
Nếu Hồ Chí Minh đã lẩn trốn tại Nam Ninh, ta có thể chắc chắn rằng ông đã rời đi từ tháng 9. Vì vào cuối tháng 9 1933 một người quen cũ của ông từ ĐCS Pháp là Paul Vaillant-Couturier có mặt tại Thượng Hải để tham gia Hội Nghị Phản Chiến Á Châu. Sau này Hồ đã nói rằng chính Vaillant-Couturier đã giúp ông quay về lại Moscow bằng cách cho ông gặp những đại diện Xô Viết ở Thượng Hải.[30] (Liên Bang Xô Viết đã tái lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc vào cuối năm 1932; vị tân đại sứ đã đệ trình uỷ nhiệm thư tại Thượng Hải vào ngày 2 tháng 5 1933.) Hội nghị trên đã được tổ chức bí mật tại một căn nhà riêng vào ngày 30 tháng 9. Đại diện người Pháp này đã báo cáo rằng những người tham dự bao gồm Lord Marley, Vaillant-Couturier, một bác sĩ tên Marteaux, nhà báo người Mỹ Harold Isaacs, một đại diện Xô Viết và 50 người Trung Quốc trong đó có bà Tôn Dật Tiên.[31] Một số nhân vật trên là thành viên cao cấp của Liên Đoàn Phản Đế tại Berlin. Hồ Chí Minh có thể đã tránh xa cuộc họp này, nhưng dường như Harold Isaacs đã nhớ đến Hồ trong giai đoạn này là "người bạn rất cũ của tôi ở Thượng Hải ".[32] Ta chỉ có thể phỏng đoán việc Hồ đã có quan hệ mật thiết như thế nào với Tống Khánh Linh (Song Jing Ling - ND), goá phụ của Tôn Dật Tiên. Nhưng không có lý do gì để phản bác lại chuyện ông kể rằng ông đã liên lạc với Vaillant-Couturier bằng cách đến nhà của bà dưới vỏ bọc của một người Trung Quốc giàu có để đưa cho bà một bức thư.
Đến thời gian này của năm 1933, khi Hồ Chí Minh bắt đầu thảo kế hoạch để quay lại Moscow, những người cánh tả Việt Nam lại một lần nữa khuấy động phong trào. Những sinh viên cấp tiến quay về từ Pháp đã biểu lộ tinh thần chống đối quyền lực liên tục của dân chúng Sài Gòn bằng việc thắng hai ghế hội đồng thành phố trong cuộc bầu cử vào cuối tháng 4 đầu tháng 5. Mặc dù việc đắc cử của Nguyễn Văn Tạo, một thành viên của ĐCS Đông Dương và Trần Văn Thạch, một người Trotskyist, đã bị huỷ bỏ vào tháng 8, thắng lợi ban đầu của họ đã giúp hướng tới việc thành lập mặt trận La Lutte giữa những người Trotskyist và ĐCS Đông Dương trong tương lai (trong giữa năm 1934).[33] Trần Văn Giàu, học viên từ Đại Học Stalin đã quay về lại Nam Việt Nam vào đầu năm 1933 để thành lập lại ĐCS Đông Dương theo đường lối vạch ra bởi Cương Lĩnh Hành Động 1932 cấp tiến mà ông đã giúp soạn thảo tại Moscow.[34] Những thành viên ĐCS Đông Dương tại Xiêm cũng như những người Việt là đảng viên ĐCS Xiêm cũng đã tích cực ủng hộ việc hồi sinh ĐCS Đông Dương qua Uỷ Ban Cứu Trợ Đông Dương.[35] Chủ nghĩa chống đế quốc, theo định nghĩa của "Giai Đoạn Thứ Ba" đã trở thành một biểu tượng của tinh thần đoàn kết vô sản trên toàn thế giới, trong khi chủ nghĩa quốc gia được cho là một khái niệm lỗi thời. Daniel Héremy (nhà sử học Pháp - ND) nhận định rằng trong suốt 21 tháng xuất bản, đến tháng 6 1936, tờ báo La Lutte (Đấu Tranh - ND) chỉ đã nhắc đến chủ trương quốc gia của Việt Nam trong vỏn vẹn 20 bài viết, và thường với nội dung chỉ trích chủ nghĩa yêu nước tư sản.[36] Nhưng trong hội nghị "Chống Phát Xít và Chiến Tranh" được tổ chức tại rạp hát Khánh Hội, Sài Gòn vào ngày 11 tháng 8 1933 đã có trên 600 người tham dự, theo một báo cáo của Pháp, và đã thu hút nhiều tầng lớp các nhà cách mạng khác nhau từ Dương Văn Giáo và Trịnh Hưng Ngẫu có liên hệ với đảng Lập Hiến, đến Nguyễn Văn Tạo và Trần Văn Thạch. Vaillant-Couturier đã tham dự hội nghị trên trước khi đi đến Thượng Hải, và đã được nồng nhiệt hoan nghênh khi ông tường thuật lại những hoạt động tại Paris nhằm ủng hộ những tù nhân chính trị Việt Nam đang bị án tử hình.[37] Tạ Thu Thâu, đang là một thành viên tích cực của Liên Đoàn Phản Đế tại châu Âu, có thể đã đóng vai trò tổ chức hội nghị này. Nhưng người Pháp lại cho rằng những hoạt động chính trị hợp pháp của Nguyễn Văn Tạo và Trần Văn Thạch đã có liên hệ đến việc Trần Văn Giàu quay trở lại Việt Nam.[38]
Mặc dù sự phối hợp toàn bộ của QTCS cho chính sách được tu chỉnh về mặt trận thống nhất đã không ra đời cho đến Đại Hội Lần 7 vào năm 1935, nhưng vào năm 1933 ta có thể nhận thấy một bước lùi trong chủ thuyết cực đoan về giai cấp chống lại giai cấp đã được đưa ra vào năm 1929. Quyền lực của Đảng Quốc Xã tại Đức đã trở thành một nhân tố quan trọng cần phải quan tâm, trong khi những hình thái của chủ nghĩa đế quốc tại châu Á đã trở thành một mối đe doạ ngày càng lớn đối với Liên Bang Xô Viết và những người cộng sản Trung Quốc. Otto Braun (Cố vấn của ĐCS Trung Quốc - ND) nói rằng vào tháng 1 1933 Ban Chấp Hành Quốc Tế Cộng Sản đã đưa ra một nghị quyết thừa nhận việc cần thiết phải "đoàn kết đấu tranh chống Nhật" cùng với bất cứ tổ chức hoặc quân đội Trung Quốc nào có thể chấm dứt những tấn công vào những khu vực của Liên Bang Xô Viết.[39] Một văn bản của QTCS xuất hiện vào tháng 7 1933 kêu gọi cộng sản Ấn Độ và Đông Dương nên quay lại với chiến lược Leninist trong đó nhấn mạnh việc đấu tranh giành độc lập dân tộc lên trên những mục tiêu cách mạng xã hội chủ nghĩa. Văn bản này trước đây đã được đăng bằng tiếng Anh trên tờ báo Pan Pacific Worker, nằm dưới dạng một loạt câu hỏi và trả lời của "Orgwald", được nhận diện trong tài liệu của QTCS là nhân vật Bolshevik kỳ cựu Osip Piatnitsky, người đã từng đứng đầu Văn Phòng Tổ Chức đầy quan trọng trong QTCS từ giữa Đại Hội Lần 5 và Lần 7 (1924-35). Không có gì ngạc nhiên khi vào giữa năm 1933, sự thăng tiến của Hitler đã khiến một số người Bolshevik phải tái thẩm định quan điểm của họ về chủ nghĩa dân tộc và mặt trận thống nhất."Orgwald" đã cố vấn trong văn bản trên rằng trong thời điểm hiện tại, sẽ không khôn ngoan lắm nếu đưa ra lời kêu gọi lật đổ giai cấp tư sản, vì nó sẽ tạo nên sự xa cách giữa tầng lớp nông dân và giới tiểu tư sản thành thị. Một mặt trận thống nhất với những đảng phái quốc gia có thể chấp nhận được nếu nó đi theo nguyên tắc "cùng nhau chiến đấu nhưng hành quân riêng rẽ".[40] Tài liệu này đã không được xuất bản bằng tiếng Pháp cho đến năm 1934 và ta không có bằng chứng gì về việc nó được xuất bản bằng tiếng Việt cả. Điều này mâu thuẫn với đường lối chính sách được những người chủ chốt của ĐCS Đông Dương như Trần Văn Giàu và Hà Huy Tập đem về từ Moscow. Sự chia rẽ giữa đường lối đấu tranh giai cấp của "Thời Kỳ Thứ Ba" và chiến lược mới đang được thảo luận vào năm 1933 sẽ trở thành chướng ngại vật cho việc hợp nhất ĐCS Đông Dương.
Bằng chứng của việc chia rẽ này có thể thấy được trong một bức thư dài của Uỷ Ban Trung Ương ĐCS Trung Quốc gửi đến những người cộng sản Đông Dương vào tháng 8 1934. Nó được QTCS phê chuẩn như là một chỉ thị chính trị. (Cho đến tháng 3 1935, Vera Vasilieva, người đang điều hành bộ phận Đông Dương của QTCS, đã nhắc đến nó trong những thư từ với Văn Phòng Hải Ngoại ĐCS Đông Dương như là một tài liệu chỉ ra "những công tác cơ bản mà các đồng chí phải hoàn toàn chú ý trong thời điểm hiện tại".[41]) Rất có thể bức thư này đã được soạn thảo từ Moscow với sự hậu thuẩn của những thành viên người Trung Quốc trong Uỷ Ban Trung Ương QTCS, dẫn đầu bởi Vương Minh (Wang Ming - ND). Trong khi nó kêu gọi việc thành lập một tờ báo hợp pháp và việc tận dụng những biện pháp tổ chức hợp pháp có thể được, nó cũng đã đưa ra một tín hiệu cảnh báo mạnh mẽ chống lại việc hợp tác với những người dân chủ xã hội và tư sản dân tộc. Nó đã nhắc đến thất bại của cuộc khởi nghĩa tại Áo trong năm 1934 như là một ví dụ của những "ảnh hưởng phản bội" của thành phần dân chủ xã hội. Mặc dù bức thư đã thừa nhận rằng có nhiều thành viên của giai cấp tư sản Đông Dương đang sẵn sàng đấu tranh chống lại đế quốc Pháp, gia cấp công nhân và nông dân không được quên rằng "thành phần tư sản dân tộc ích kỷ và hèn hạ đã phản bội phong trào 1930-31". "Trong tình trạng bất mãn chung đang dâng cao trong nước, thành phần dân tộc cách tân sẽ luôn tìm cách chiếm lấy quyền lãnh đạo của phong trào quần chúng để rồi sẽ chặt đầu nó," bức thư viết. "Đây chính là vì sao chúng ta phải liên tục vạch mặt tất cả những tổ chức và đảng phái dân tộc cách tân, cho dù chúng nấp sau bất kỳ những khẩu hiệu "thiên tả" nào..."[42]
Lá thư từ Trung Quốc này có thể được hiểu như một nỗ lực từ một số nhân vật lãnh đạo tại QTCS để đối đầu với việc ĐCS Pháp quyết định hợp tác với Đảng Xã Hội Pháp, quyết định này đã được đưa ra tại một cuộc họp của Uỷ Ban Trung Ương ĐCS Pháp vào ngày 14 và 15 tháng 3 1934.[43] Liên lạc cũ của Hồ Chí Minh là Jacques Doriot là một trong những người ủng hộ mạnh mẽ nhất cho mối giao hảo với những người xã hội Pháp. Nhưng tại Sài Gòn, nơi không có đảng xã hội, mặt trận thống nhất của những người cánh tả cũng chỉ là một nỗ lực hợp tác giữa những người theo khuynh hướng của Moscow và thành phần cộng sản Trotskyist. Tờ báo của mặt trận La Lutte đã được chính thức ra đời sau cuộc họp vào tháng 9 1934 do Nguyễn An Ninh tổ chức. Đây là một liên hiệp nhằm chống lại chính quyền thuộc địa và Đảng Lập Hiến, với khuynh hướng vô sản mạnh mẽ.[44]
Hồ đi Sán Đầu cùng với viên thư ký của Loseby dưới vỏ bọc là một người Trung Quốc giàu có tên là Lung.[23] Vào thời điểm này của năm 1933 những người cộng sản Việt Nam vẫn chưa tái lập liên lạc chính thức với ĐCS Trung Quốc và, theo điều lệ của nguyên tắc cách mạng, một đảng viên vừa ra khỏi tù thì bị nghiêm cấm không được quay về những địa điểm mà người ấy thường lui tới trước khi bị bắt. Vì vậy có lẽ Hồ vẫn phải tiếp tục giả dạng là một thương gia giàu có và ẩn dật tại Sán Đầu cho đến tháng sau. Những người Việt vẫn còn lẩn trốn hoặc như Nguyễn Thị Minh Khai, vừa được phóng thích, đã phải trải qua khoảng cuối năm 1932 và gần trọn năm 1933 tìm cách phục hồi mạng lưới liên lạc của họ. Điều cay đắng là những thành viên tín cẩn của Hồ tại Hồng Kông như Lê Hồng Sơn và Minh Khai cũng như những người từ Moscow về như Trần Ngọc Danh, em của Trần Phú, đã bị nghi ngờ khi tìm cách liên lạc với ĐCS Trung Quốc trong năm 1932.
Một đảng viên người Việt vẫn còn giữ liên lạc với ĐCS Trung Quốc tại Thượng Hải là Trương Phước Đạt, một thợ máy tàu gốc Phan Rang đã sớm gia nhập thành phần ĐDCSĐ tại Sài Gòn vào năm 1929. Sau khi vượt ngục tại Sài Gòn và đến Hồng Kông vào năm 1931, ông được đảng đề cử đi Nga để học tập. Nhưng ông và hai bạn đồng hành đã bị chặn lại tại biên giới Mãn Châu, vì vậy ông đã phải quay về Thượng Hải. Tại đây uỷ ban quân sự tỉnh Giang Tô (Jiang Su - ND) thuộc ĐCS Trung Quốc đã giao cho ông nhiệm vụ tái lập liên lạc với những quân nhân người Pháp và Việt Nam; những đầu mối này đã bị cắt đứt khi những tuyên truyền viên người Việt bị bắt vào mùa hè 1931. Vì thế đến giữa năm 1932 Trương Phước Đạt được yêu cầu bảo đảm cho những Việt đã đến Thượng Hải để xin ĐCS Trung Quốc giúp đỡ và trợ giúp tiền bạc. Trần Ngọc Danh yêu cầu ngân sách hỗ trợ cho công đoàn của những đầy tớ người Việt mà ông đã tổ chức với những thành phần cũ của Thanh Niên tại Hồng Kông. Ông và Minh Khai tìm cách tái thiết hệ thống liên lạc của ĐCS Đông Dương tại đây với sự giúp đỡ của một số thuỷ thủ. Một số báo cáo của Pháp cho rằng lúc ấy bà đang là vợ lẽ của ông. Lê Hồng Sơn đang dự định quay về Xiêm, nơi mà ông hy vọng sẽ tái tổ chức Uỷ Ban Trung Ương ĐCS Đông Dương. Những người Việt qui tập về Thượng Hải quyết định gửi Đạt đi Xiêm để hoạt động cùng với Lê Hồng Sơn. Vì không hài lòng với quyết định này, Trương Phước Đạt đã phá hoại những dự án của họ bằng cách cáo buộc họ đã có những hành vi "tiểu tư sản" (ví dụ như thuê khách sạn hiện đại có thang máy) trong báo cáo của ông gửi cho Uỷ Ban Trung Ương ĐCS Trung Quốc. Hơn thế nữa, ông đã không nhìn nhận là có quen biết bất cứ ai trong họ trước khi họ đến Thượng Hải. Cuối cùng toán người Việt với 5 thành viên đã phải cầm cố quần áo của mình để trả tiền khách sạn và chi phí đến Nam Kinh (Nan Jing - ND), nơi họ có thể dựa dẫm vào lòng hiếu khách của Hồ Học Lãm.[24] Chúng ta không biết được rằng sự kiện này đã phản ánh mối căng thẳng liên tục giữa những thành phần ĐDCSĐ và ANCSĐ cũ trong ĐCS hay đơn giản chỉ là một trường hợp hai mang. Trần Ngọc Danh và Lê Hồng Sơn rốt cuộc bị bắt vào ngày 25 tháng 9 1932. Trương Phước Đạt bị bắt vào tháng 4 1933.[25] Đến tháng 3 Minh Khai quay về Hồng Kông để liên lạc với những người Việt tại Nam Kinh.[26]
Một chỉ điểm cho Pháp tại Thái Lan nói rằng Hồ Chí Minh đã lẩn trốn tại khu vực Nakhon Phanom từ đầu tháng 1 1933, nhưng sau này được tiết lộ là nhầm người.[27] Vào tháng 9 1933 một chỉ điểm cho Pháp khác nói rằng đã phát hiện Hồ đang sống tại Nam Ninh (Nan Ning - ND) cùng với một nhóm nhỏ người Việt. Mật vụ "Maria" nói rằng trong số 4 người Việt Nam đang sống tại số 78 đường Cau Song Kai có một người giống với ảnh chụp Hồ Chí Minh. Người chỉ điểm này cũng nhắc đến 3 phụ nữ cùng với hai bé gái và một bé trai cũng đang sống chung trong ngôi nhà này. Hồ được cho là đang dùng tên Lý Sính Sáng (ngài Lý).[28]
Nhưng Lê Hồng Phong, trong gần trọn năm 1933 đang sống tại Nam Ninh và Long Châu, đã không hề nhắc đến việc liên lạc với Hồ khi ông báo cáo cho QTCS vào tháng 1 1935. Phong đã dự định lên mạn ngược dể gặp những cơ sở người Việt tại Xiêm khi ông đến Bangkok vào tháng 2 1932 trên đường về từ Moscow và Paris. Nhưng nhận thấy mình đang bị cảnh sát theo dõi chặt chẽ, ông đã từ bỏ dự định này 10 ngày sau và đến tháng 4 ông đã đi đến Quảng Châu và Nam Ninh. Nơi đây ông bắt đầu tái thiết chi uỷ đảng tại tỉnh biên giới Cao Bằng cũng như thành lập những tổ đảng tại Lạng Sơn. Ông đã tuyên truyền những học viên tại học viên quân sự Nam Ninh, nơi mà từ 1925 đã trở thành nguồn cung cấp thành viên cộng sản mới. Vào tháng 8 1933 ông đã gặp những người bạn học cũ là Hà Huy Tập và Nguyễn Văn Dựt tại Quảng Châu, và đến tháng 6 1934 họ đã thành lập một Phân Bộ Hải Ngoại để quản lý những công việc của đảng cho đến khi một Uỷ Ban Trung Ương quốc nội được thành lập.[29]
Nếu Hồ Chí Minh đã lẩn trốn tại Nam Ninh, ta có thể chắc chắn rằng ông đã rời đi từ tháng 9. Vì vào cuối tháng 9 1933 một người quen cũ của ông từ ĐCS Pháp là Paul Vaillant-Couturier có mặt tại Thượng Hải để tham gia Hội Nghị Phản Chiến Á Châu. Sau này Hồ đã nói rằng chính Vaillant-Couturier đã giúp ông quay về lại Moscow bằng cách cho ông gặp những đại diện Xô Viết ở Thượng Hải.[30] (Liên Bang Xô Viết đã tái lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc vào cuối năm 1932; vị tân đại sứ đã đệ trình uỷ nhiệm thư tại Thượng Hải vào ngày 2 tháng 5 1933.) Hội nghị trên đã được tổ chức bí mật tại một căn nhà riêng vào ngày 30 tháng 9. Đại diện người Pháp này đã báo cáo rằng những người tham dự bao gồm Lord Marley, Vaillant-Couturier, một bác sĩ tên Marteaux, nhà báo người Mỹ Harold Isaacs, một đại diện Xô Viết và 50 người Trung Quốc trong đó có bà Tôn Dật Tiên.[31] Một số nhân vật trên là thành viên cao cấp của Liên Đoàn Phản Đế tại Berlin. Hồ Chí Minh có thể đã tránh xa cuộc họp này, nhưng dường như Harold Isaacs đã nhớ đến Hồ trong giai đoạn này là "người bạn rất cũ của tôi ở Thượng Hải ".[32] Ta chỉ có thể phỏng đoán việc Hồ đã có quan hệ mật thiết như thế nào với Tống Khánh Linh (Song Jing Ling - ND), goá phụ của Tôn Dật Tiên. Nhưng không có lý do gì để phản bác lại chuyện ông kể rằng ông đã liên lạc với Vaillant-Couturier bằng cách đến nhà của bà dưới vỏ bọc của một người Trung Quốc giàu có để đưa cho bà một bức thư.
Đến thời gian này của năm 1933, khi Hồ Chí Minh bắt đầu thảo kế hoạch để quay lại Moscow, những người cánh tả Việt Nam lại một lần nữa khuấy động phong trào. Những sinh viên cấp tiến quay về từ Pháp đã biểu lộ tinh thần chống đối quyền lực liên tục của dân chúng Sài Gòn bằng việc thắng hai ghế hội đồng thành phố trong cuộc bầu cử vào cuối tháng 4 đầu tháng 5. Mặc dù việc đắc cử của Nguyễn Văn Tạo, một thành viên của ĐCS Đông Dương và Trần Văn Thạch, một người Trotskyist, đã bị huỷ bỏ vào tháng 8, thắng lợi ban đầu của họ đã giúp hướng tới việc thành lập mặt trận La Lutte giữa những người Trotskyist và ĐCS Đông Dương trong tương lai (trong giữa năm 1934).[33] Trần Văn Giàu, học viên từ Đại Học Stalin đã quay về lại Nam Việt Nam vào đầu năm 1933 để thành lập lại ĐCS Đông Dương theo đường lối vạch ra bởi Cương Lĩnh Hành Động 1932 cấp tiến mà ông đã giúp soạn thảo tại Moscow.[34] Những thành viên ĐCS Đông Dương tại Xiêm cũng như những người Việt là đảng viên ĐCS Xiêm cũng đã tích cực ủng hộ việc hồi sinh ĐCS Đông Dương qua Uỷ Ban Cứu Trợ Đông Dương.[35] Chủ nghĩa chống đế quốc, theo định nghĩa của "Giai Đoạn Thứ Ba" đã trở thành một biểu tượng của tinh thần đoàn kết vô sản trên toàn thế giới, trong khi chủ nghĩa quốc gia được cho là một khái niệm lỗi thời. Daniel Héremy (nhà sử học Pháp - ND) nhận định rằng trong suốt 21 tháng xuất bản, đến tháng 6 1936, tờ báo La Lutte (Đấu Tranh - ND) chỉ đã nhắc đến chủ trương quốc gia của Việt Nam trong vỏn vẹn 20 bài viết, và thường với nội dung chỉ trích chủ nghĩa yêu nước tư sản.[36] Nhưng trong hội nghị "Chống Phát Xít và Chiến Tranh" được tổ chức tại rạp hát Khánh Hội, Sài Gòn vào ngày 11 tháng 8 1933 đã có trên 600 người tham dự, theo một báo cáo của Pháp, và đã thu hút nhiều tầng lớp các nhà cách mạng khác nhau từ Dương Văn Giáo và Trịnh Hưng Ngẫu có liên hệ với đảng Lập Hiến, đến Nguyễn Văn Tạo và Trần Văn Thạch. Vaillant-Couturier đã tham dự hội nghị trên trước khi đi đến Thượng Hải, và đã được nồng nhiệt hoan nghênh khi ông tường thuật lại những hoạt động tại Paris nhằm ủng hộ những tù nhân chính trị Việt Nam đang bị án tử hình.[37] Tạ Thu Thâu, đang là một thành viên tích cực của Liên Đoàn Phản Đế tại châu Âu, có thể đã đóng vai trò tổ chức hội nghị này. Nhưng người Pháp lại cho rằng những hoạt động chính trị hợp pháp của Nguyễn Văn Tạo và Trần Văn Thạch đã có liên hệ đến việc Trần Văn Giàu quay trở lại Việt Nam.[38]
Mặc dù sự phối hợp toàn bộ của QTCS cho chính sách được tu chỉnh về mặt trận thống nhất đã không ra đời cho đến Đại Hội Lần 7 vào năm 1935, nhưng vào năm 1933 ta có thể nhận thấy một bước lùi trong chủ thuyết cực đoan về giai cấp chống lại giai cấp đã được đưa ra vào năm 1929. Quyền lực của Đảng Quốc Xã tại Đức đã trở thành một nhân tố quan trọng cần phải quan tâm, trong khi những hình thái của chủ nghĩa đế quốc tại châu Á đã trở thành một mối đe doạ ngày càng lớn đối với Liên Bang Xô Viết và những người cộng sản Trung Quốc. Otto Braun (Cố vấn của ĐCS Trung Quốc - ND) nói rằng vào tháng 1 1933 Ban Chấp Hành Quốc Tế Cộng Sản đã đưa ra một nghị quyết thừa nhận việc cần thiết phải "đoàn kết đấu tranh chống Nhật" cùng với bất cứ tổ chức hoặc quân đội Trung Quốc nào có thể chấm dứt những tấn công vào những khu vực của Liên Bang Xô Viết.[39] Một văn bản của QTCS xuất hiện vào tháng 7 1933 kêu gọi cộng sản Ấn Độ và Đông Dương nên quay lại với chiến lược Leninist trong đó nhấn mạnh việc đấu tranh giành độc lập dân tộc lên trên những mục tiêu cách mạng xã hội chủ nghĩa. Văn bản này trước đây đã được đăng bằng tiếng Anh trên tờ báo Pan Pacific Worker, nằm dưới dạng một loạt câu hỏi và trả lời của "Orgwald", được nhận diện trong tài liệu của QTCS là nhân vật Bolshevik kỳ cựu Osip Piatnitsky, người đã từng đứng đầu Văn Phòng Tổ Chức đầy quan trọng trong QTCS từ giữa Đại Hội Lần 5 và Lần 7 (1924-35). Không có gì ngạc nhiên khi vào giữa năm 1933, sự thăng tiến của Hitler đã khiến một số người Bolshevik phải tái thẩm định quan điểm của họ về chủ nghĩa dân tộc và mặt trận thống nhất."Orgwald" đã cố vấn trong văn bản trên rằng trong thời điểm hiện tại, sẽ không khôn ngoan lắm nếu đưa ra lời kêu gọi lật đổ giai cấp tư sản, vì nó sẽ tạo nên sự xa cách giữa tầng lớp nông dân và giới tiểu tư sản thành thị. Một mặt trận thống nhất với những đảng phái quốc gia có thể chấp nhận được nếu nó đi theo nguyên tắc "cùng nhau chiến đấu nhưng hành quân riêng rẽ".[40] Tài liệu này đã không được xuất bản bằng tiếng Pháp cho đến năm 1934 và ta không có bằng chứng gì về việc nó được xuất bản bằng tiếng Việt cả. Điều này mâu thuẫn với đường lối chính sách được những người chủ chốt của ĐCS Đông Dương như Trần Văn Giàu và Hà Huy Tập đem về từ Moscow. Sự chia rẽ giữa đường lối đấu tranh giai cấp của "Thời Kỳ Thứ Ba" và chiến lược mới đang được thảo luận vào năm 1933 sẽ trở thành chướng ngại vật cho việc hợp nhất ĐCS Đông Dương.
Bằng chứng của việc chia rẽ này có thể thấy được trong một bức thư dài của Uỷ Ban Trung Ương ĐCS Trung Quốc gửi đến những người cộng sản Đông Dương vào tháng 8 1934. Nó được QTCS phê chuẩn như là một chỉ thị chính trị. (Cho đến tháng 3 1935, Vera Vasilieva, người đang điều hành bộ phận Đông Dương của QTCS, đã nhắc đến nó trong những thư từ với Văn Phòng Hải Ngoại ĐCS Đông Dương như là một tài liệu chỉ ra "những công tác cơ bản mà các đồng chí phải hoàn toàn chú ý trong thời điểm hiện tại".[41]) Rất có thể bức thư này đã được soạn thảo từ Moscow với sự hậu thuẩn của những thành viên người Trung Quốc trong Uỷ Ban Trung Ương QTCS, dẫn đầu bởi Vương Minh (Wang Ming - ND). Trong khi nó kêu gọi việc thành lập một tờ báo hợp pháp và việc tận dụng những biện pháp tổ chức hợp pháp có thể được, nó cũng đã đưa ra một tín hiệu cảnh báo mạnh mẽ chống lại việc hợp tác với những người dân chủ xã hội và tư sản dân tộc. Nó đã nhắc đến thất bại của cuộc khởi nghĩa tại Áo trong năm 1934 như là một ví dụ của những "ảnh hưởng phản bội" của thành phần dân chủ xã hội. Mặc dù bức thư đã thừa nhận rằng có nhiều thành viên của giai cấp tư sản Đông Dương đang sẵn sàng đấu tranh chống lại đế quốc Pháp, gia cấp công nhân và nông dân không được quên rằng "thành phần tư sản dân tộc ích kỷ và hèn hạ đã phản bội phong trào 1930-31". "Trong tình trạng bất mãn chung đang dâng cao trong nước, thành phần dân tộc cách tân sẽ luôn tìm cách chiếm lấy quyền lãnh đạo của phong trào quần chúng để rồi sẽ chặt đầu nó," bức thư viết. "Đây chính là vì sao chúng ta phải liên tục vạch mặt tất cả những tổ chức và đảng phái dân tộc cách tân, cho dù chúng nấp sau bất kỳ những khẩu hiệu "thiên tả" nào..."[42]
Lá thư từ Trung Quốc này có thể được hiểu như một nỗ lực từ một số nhân vật lãnh đạo tại QTCS để đối đầu với việc ĐCS Pháp quyết định hợp tác với Đảng Xã Hội Pháp, quyết định này đã được đưa ra tại một cuộc họp của Uỷ Ban Trung Ương ĐCS Pháp vào ngày 14 và 15 tháng 3 1934.[43] Liên lạc cũ của Hồ Chí Minh là Jacques Doriot là một trong những người ủng hộ mạnh mẽ nhất cho mối giao hảo với những người xã hội Pháp. Nhưng tại Sài Gòn, nơi không có đảng xã hội, mặt trận thống nhất của những người cánh tả cũng chỉ là một nỗ lực hợp tác giữa những người theo khuynh hướng của Moscow và thành phần cộng sản Trotskyist. Tờ báo của mặt trận La Lutte đã được chính thức ra đời sau cuộc họp vào tháng 9 1934 do Nguyễn An Ninh tổ chức. Đây là một liên hiệp nhằm chống lại chính quyền thuộc địa và Đảng Lập Hiến, với khuynh hướng vô sản mạnh mẽ.[44]





![[:D]](/images/smiley/s2.gif)