📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Cành lá vô ưu

3 trả lời, 1.258 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-07 10:21:15Quãng Nhẫn>
                       CÀNH LÁ VÔ ƯU
 
                                                  Tác giả : THÍCH THANH TỪ
                                           
 
 
Nguồn  : Thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh
                Nhà Xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh
                Phật lịch 2539-1996
                Chịu trách nhiệm bản thảo : T.T THÍCH GIÁC TOÀN
                Biên tập nội dung :                  T.T THÍCH THIỆN MINH
                                                                    Đ.Đ THÍCH ĐỒNG BỔN
Đánh máy : Quãng Nhẫn ( Thanh Long Đệ Ngủ Lê Thị )
 
 
                                
 
 
                                          Lời đầu sách
 
Trong thời gian yên tu, những điều mắt thấy tai nghe có cảm hứng, chúng tôi viết lại thành tập sách nhỏ này , tựa đề là " CÀNH LÁ VÔ ƯU".
 
 Vì trong lúc yên tu, chúng tôi không muốn để mất thời gian tra khảo, nên những chứng liệu trong đây  nhớ đâu ghi đó chưa hẳn hoàn toàn chính xác.
 
 Chúng tôi viết những bài này với tư cách hành giả, chỉ muốn độc giả hiểu để ứng dụng tu, chứ không phải học gia dẫn chứng liệu cụ thể cho người đọc dễ bề nghiên cứu. Bệnh của chúng tôi là, cái gì thấy hay, không thể ôm ấp trong lòng, mà phải phô bày cho mọi người cùng biết, cái gì cảm thấy có lợi ích cuộc sống đều trình bày ra cho mọi người được lợi ích.
 
 Có thể đây là bệnh chủ quan của chúng tôi, song có trình bày ra dù người đọc có thực hành hay không, lòng mình cũng cảm thấy yên ổn.
 
 Mong các đọc giả cảm thông với lòng chân thành của chúng tôi    
 
 
 
                                                                           THIỀN VIỆN THƯỜNG CHIẾU
                                                                               Ngày đầu xuân 1994
                                                                                 THÍCH THANH TỪ
 
 
                                    
Dựng trai dàn hơ hóng mảnh Kinh đau
Tiếng mõ ưng ức dằn tâm vỗ dội
Nén...tuỳ duyên cháy bốn mùa sương khói
Gồng gánh bao giờ ..
Mà nằng nặc muốn buông trôi.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-07 10:24:42Quãng Nhẫn>
TU LÀ CẦU BÌNH AN HAY SỬA ĐỔI XẤU THÀNH TỐT
 
 Trong giới phật tử chúng ta ngày nay đa số không hiểu ý nghĩa chử TU , nên ứng dụng sai lầm một cách đáng thương.

 Khi đến chùa xin qui y, họ thường nghĩ từ đây về sau được Phật hộ độ cho mình khỏa mạnh, khi chết được Phật rước về cõi Phật...Chớ họ không hiểu rằng, kể từ ngày qui y Tam Bảo là tự mình quyết tâm chừa bỏ những thói hư tật xấu, mình quyết thắng ,ọi tâm niệm, hành động đê hèn ác độc của mình, và mình cố gắng tạo dựng đầy đủ phước lành để được sanh về cõi Phật. Họ đinh nhinh trong lòng TU là nương tựa Tam Bảo, là van xin với Phật, là thỏa mãn mọi yêu cầu, là an lành suốt cuộc đời...nên yếu hèn ỷ lại, mất hết ý nghĩa chữ TU.

 Bởi bản chất con người hầu hết là yếu hèn, sợ hải, tham lam , nên bước chân vào đường tu, họ ỳ lại, van xin và mong cầu. Do đó làm biến thái tinh thần tu hành của người Phật tử.

 YẾU HÈN. - Phát xuất từ tư tưỡng yếu hèn, nên khi qui y Tam Bảo, Phật tử này chỉ một bề trong cậygo3i gấm đời sống của mình và gia đình mình cho Phật, mọi việc đều nhờ Phật hộ độ cho , khi sống được bình an, chết được Phật rước về cõi Phật. Với tâm niệm này, Phật tử cứ tưỡng rằng tu là thường xuyên đi lể Phật, thường cúng dường, thường cầu nguyện, là tròn bổn phận người tu. Những người này kính Phật như một vị thần hộ mạng, tưỡng như Phật đủ quyền năng bảo hộ cho bản thân và gia đình họ suốt đời. Vì thế, khi khi bản thân hay gia đình xảy ra tai ách gì họ tha thiết chí thành cầu Phật gia hộ cho tai qua nạn khỏi. Nếu cầu nguyện Phật không đượpc kết quả, nghe ở đâu có cậu đồng hay bà bóng giỏi, hoặc ông thần nào linh thiêng cầu gì cũng được như nguyện , họ liền mang hương đèn đến đó cầu xin. Bởi đến với Phật bằng tâm ỳ lại, trong cậy, nên khi trong cậy không được tọai nguyện thì họ bước sang nơi khác một cách dễ dàng.

 SỢ HÃI. - Khi gặp tai nạn, người ta biết tìm nơi nào ẩn náu  cho được an ổn.
Nghe ai ai giới thiệu qui y với Phật sẽ được bình an, họ liền đến xin qui y Tam Bảo. Họ cứ nghĩ qui y với Phật sẽ được Phật che chở, cứu độ cho qua hết tai nạn. Vì thế, họ chỉ biết tu là van xin, cầu khẩn; chí thành khán vái là tu. Mỗi đêm họ thắp hương lể Phật, cầu nguyện Phật gia hộ cho họ mọi thứ được an bình. Trong gia đình khi có người bệnh , hoa65c xảy ra tai nạn, họ thắp hương quì dưới bàn Phật tha thiết van xin Phật cứu bện giải ách. Nếu van xin được kết quả tốt, họ tăng trưởng lòng tin Tam Bảo. Bằng trái lại họ mất lòng tin Phật, vì Phật không linh ứng như sở cầu,. Đượpc nghe nơi nào linh thiêng xin gì được nấy , họ liền từ giã đạo Phật để sang nơi ấy cầu xin. Do họ đến với Phật bằng tâm niệm sợ hãi, nên đời tu của họ chỉ cầu được bình an. Nếu không được bình an , họ sẽ chạy tìm nơi khác để ẩn nấp.

 THAM LAM.- Do lòng tham sâu đậm, nên khi qui y Phật họ vẫn một bề mong cầu cho thỏa mãn lòng tham. Đến chùa không phải học đạo tu hành, mà để cầu xin. Chỉ cần cúng Phật một bó nhang, một đĩa quả, họ lại xin Phật đến trăm ngàn thứ. Nào là xin Phật cho gia đình bình an, xin cho con cái thi đậu, xin cho làm ăn phát tài, xin cho tai qua nạn khỏi , xin cho thân nhân quá cố được siêu sinh Tịnh độ v.v... và v.v....Họ chi ra cúng Phật quá ít, mà họ xin lại quá nhiều. Nếu xin được như ý thì họ tinh tấn đi chùa, còn không được thì họ tìm chổ nào linh thiêng hơn để đến cầu xin cho thỏa mãn.

 Bởi những người Phật tử như thế đến với chùa, nên trong chùa mới có xin xăm bói quẻ, cúng sao cúng hạn, coi ngày lành ngày dữ...để thỏa mãn đòi hỏi của họ. Mặc dù gần đây Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam kêu gọi dẹp bỏ mê tín dị đoan, song thói quen của những Phật tử này vẫn chưa bỏ được. Nguyen nhân Phật giáo suy đồi phần lớn do những vị này mà ra. Là Phật tử mà họ không tin nhân quả, không hiểu Phật là gì , không biết tu như thế nào làm sao không tạo thành những điều kiện u tối cho Phật giáo? đây là những tệ nạn do các Phật tử quan niệm tu Phật để " cầu được bình an " !

 Nếu người hiểu rỏ tu là sửa đp63i xấu xa thành hay tốt thì không có quan niệm như trên. Mục đích họ đến qui y Tam Bảo cốt nương chánh pháp để tu hành trừ sạch bệnh tham, sân, si , phiền não của mình. Phật thường dạy, Ngài " theo bệnh cho thuốc để trừ bệnh khổ cho chúng sinh". Nơi nội tâm chúng ta có bệnh gì thì Phật có thứ thuốc ấy để trị lành bệnh. Cho nên nói : " Chúng sanh có vô lượng phiền não, Phật có vô lượng pháp môn ". Vì thế, tu là dùng Phật pháp chuyển hóa tâm niệm sai lầm, xấz xa, tội ác của chúng ta. Biết vậy thì tu phải học hỏi giáo pháp và ứng dụng giáo pháp để trị lành những căn bệnh của mình. học hỏi giáo pháp là mở sáng con mắt trí tuệ, là đi lần trên con đường giác ngộ, đạo Phật là con đường tiến đến giác ngộ. Mọi khổ đau của chúng sinh do si mê tạo nên, muốn giải thóat khổ đau là phải giác ngộ. Tuy nhiên giác ngộ có mức độ cao thấp khác nhau, tùa đó mà con người bớt khổ hay hết khổ. Học hỏi giáo pháp là học Phật, ứng dụng giáo pháp để tu hành là tu Phật. Với tinh thần thần tu học này chúng ta không tìm đâu thấy có ỷ lại, van xin, cầu cúng. Mà thấy mỗi người trang bị sẵn ngọn đuốc trí tuệ´của mình để mồi với ngọn đuốc chánh pháp của Phật. Những người này không có yếu hèn, sợ hãi, tham lam, mà lòng cương quyết, can đảm, kiên trì tự nổ lực tu hành cho đến ngày giải thóat. Tham, sân , si là mục tiêu họ phải chiến đấu đến bao giò tiêu diệt hết mới thôi. Bởi vậy một bước tiến tu , là một niềm an lạc, càng tu khổ đau càng tan rã, như tuyết giá tan rã khi mặt trời lên. Tiến tu như thế, có lý do gì thối tâm bỏ đạo, có duyên cớ nào phải lùi bước đi theo đường tà ?

 Được nhiều người tin Phật , chưa hẳn Phật giáo thịnh đã thịnh. Nếu tin theo lối ỷ lại, van xin, cầu cúng , dù co bao nhiêu ức triệu người, Phật giáo vẫn bị chìm trong u tối. Vì mê tín thì không giác,  không giác thì có dính dáng gì đến đạo Phật ? Chúng ta thực tâm tu theo đạo Phật thì cố mở sáng con mắt trí tuệ, nhận chân những sự thật qua lời dạy của đức Phật. Như Phật dạy " Các pháp là vô thường ", chúng ta phải chiêm nghiệm lý này cho tường tận, chúng ta mới nếm được pháp vị " Vô Thường "  của Phật ban cho. Đạo lý " Nhân Quả 2 là nền tảng của Phật giáo , nếu chúng ta không suy tư cho thấu đáo thì lòng chánh tín khó phát sanh. Phật dạy " tin nhân quả là chánh tín" , nếu chúng ta không chịu khó rà đi sóat lại kỹ càng thì làm sao đủ lòng tin nhân quả, chúng ta dễ sinh yếu hèn , sợ hãi, van xin, rơi vào đường mê tín. Lý  " Nhân Duyên " là chân lý của muôn pháp , nếu không nghiền ngẩm thật chín chắn, thật nhuần nhuyễn , chúng ta không thể hiểu nổi chổ thâm ảo củ nó. Đã không hiểu lý " Nhân Duyên " chúng ta làm sao thấy được chỗ cao siêu của Phật giáo mà sanh lòng tin kính ?.

 Muốn hưởng được pháp vị một cách thấm thía nồng nàn, người Phật tử phải tận lực suy tư nghiền ngẫm chánh pháp thật tường tận tinh vi. Như muốn thưởng thứic hương vị của thức ăn thật đầy đủ người ta phải nhai thật nhuễn những thức ăn ấy. Đồng thời Phật tử phải ứng dụng triệt để chánh pháp trong cuộc sống hàng ngày. Mọi người  ai cũng thừa nhận  nơi nội tâm của mình đã sẵn có tính lương thiện và tính tội ác. Tội ác là nhân khổ đau cho mình va cho người, đời này và đời sau, nó làm cho con người trở thành hèn hạ xấu xa. Lương thiện là nhân an vui cho mình và cho người , đời này và nhiều đời khác , nó gầy cho con người trở thành bậc Hiền, Thánh. Nếu muốn hết khổ , được vui, chúng ta phải dẹp bỏ tính tội ác, nuôi dưỡng tính lương thiện , chính đây là TU. Tu là đều kiện tất yếu của mọi người, không riêng ai và giới nào, nếu là người muốn hết khổ được vui và cố vươn lên bậc Hiền, Thánh.

 Ước mong các Phật tử tự kiểm điểm lại xem, mình thuộc hạng nào trong hai hạng trên. Nếu là hạng đến với Phật để " cầu bình an "  thì nên chuyển hướng can đảm vươn lên để thành Phật tử chân chánh, không thối chuyển trên đường đạo. Nếu là hạng đến với Phật để   " sửa đổi xấu thành tốt " thì cố gắng hơn nữa để mọi xấu xa đều dứt sạch, mọi khổ đau đều tan biến, tự tại tiến thẳng trên đường giác ngộ. Tòan thể Phật tử đều là người chánh tín, biết ứng dụng chánh pháp chuyển hóa ba nghiệp của mình trở thành con người thuần thiện, thì Phật giáo mới thực sự là ngọn đuốc sáng soi đường cho chúng sinh ra khỏi đêm tồi vô minh.



 
Dựng trai dàn hơ hóng mảnh Kinh đau
Tiếng mõ ưng ức dằn tâm vỗ dội
Nén...tuỳ duyên cháy bốn mùa sương khói
Gồng gánh bao giờ ..
Mà nằng nặc muốn buông trôi.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-14 09:36:20Quãng Nhẫn>
NGUỒN GỐC MÊ TÍN
 

Mê tín là cái bệnh những nhà tri thức đều chê trách, chánh quyền cũng chủ trương dẹp trừ mê tín. Thế mà bệnh mê tín một ngày một tăng, càng lúc càng lan rộng. Thậm chí có những nước tự cho mình là văn mnh nhất thế giới, mà dân chúng của nước ấy vẫn còn mê tín. Đó là tại sao ?
 
 Trước tiên chúng ta phải biết mê tín là thế nào ? Mê tín là lòng tin mù quáng không thấy lẽ thật , không dùng chân lý. Đơn cử một số thí dụ để chúng ta biết rỏ. Như tin ông đồng bà cốt, tin xin xăm bói quẻ , tin ngày lành , ngày dữ, tin mạng sang hèn, tin coi tay xem tướng, tin cúng sao cúng hạn, tin thầy bùa thầy chú, tin cầu cúng tai qua nạn khỏi v.v... Những lối tin này không có lý luận, không đủ bằng chứng, không có lợi ích , nên gọi là mê tín.
 
  NGUỒN GỐC MÊ TÍN. - Mê  tín không phải là sự ngẫu nhiên phát sinh, mà có nguồn gốc phát xuất cụ thể. có hai thứ nguồn gốc mê tín :
 
 1. Mê tín do mong cầu. - con người khi mong cầu một điều gì mà quá khả năng của mình thì dể sinh mê tín. Ví như có người muốn vay một số vốn làm ăn, không biết việc làm ăn này tốt hay xấu. Tự nhiên họ thấy lòng băn khoăn lo lắng không biết hỏi ai, tìm ai. Nghe nói ông dồng bà cốt nào đó linh ứng nói quá khứ vị lai rất trúng , họ bèn tìm đến hỏi han. Chỉ tốn tiền quẻ có năm bảy trăm , mà biết được việc làm ăn của mìnhtha2nh công hay thất bai thì an ổn biết mấy. Hoặc trên dường công danh, có những học sinh , sinh  viên sắp đến kỳ thi cử, lo âu thân phận của mình không biết thi đậu hay rớt. nghe đồn Làng này , Miếu kia linh hiển xin xăm bói quẻ sẽ báo đúng những điều sắp đến, các cô các cậu không đủ lòng tin vào khả năng học hành của mình, nhất định đi đến lễ bái xin xăm để hỏi thăm thần thánh xem thế nào. Hoặc có những người muốn ra ứng cử chức này ghế nọ, mà không biết số phận mình đỏ hay đen, lòng họ bồn chồn bất an. Có người giới thiệu ông A đổ số tử vi rất hay , xem số biết vận mạng nguời đúng một trăm phần trăm ( 100 %) ông ta ngại gì không đến đó để xem thử mình có số công danh hay không ? Còn lắm trường hợp như thế không thể kể hết , đại để chì vì mong cầu mà không tin sức mình nên sinh ra mê tín.
 
  2. Mê tín do tâm sợ hãi.- Sợ hãi là góc sinh ra mọi mê tín. Một gia đình nọ tiếp tục xảy ra đôi ba người chết  "Bất đắc kỳ tử ". Những người còn lại đâm ra hỏang hốt, nghe đâu có thầy bùa hay thầy chú giỏi liền đi rước về ếm đối để mình khỏi chết trùng. Chính vì sợ hãi mà những người này sanh ra mê tín. Có những người bị tai nạn dồn dập, vừ té xe bị thương  lại bị người giật nợ, con trai thi rớt, con gái bị bệnh... mất bình tĩnh. Nghe ông đồng hay bà cốt kia giỏi, họ liền tìm đến cầu cứu hộ, xin phép lạ về trừ tai ách. Lại có người sắp làm điều mạo hiểm, lo sợ không biết có vượt qua mọi nguy hiểm được chăng, họ vào am miếu để thưa hỏi thần linh bằng cách rút xăm, bói quẻ. Nếu rút dược xăm tốt quẻ lành thì họ mới mạnh dạn xông pha. Có những người mắc phải bệnh nan y, họ buồn khổ sợ chết. Nghe bất cứ nơi đâu có sự linh thiêng mầu nhiệm, họ đều đi đến để xin thuốc cầu bùa. Dù phải làm những điều quái dị, họ thảy đều chấp nhận, miễn so lành bệnh là vui. Hoặc có người sợ vận xui hạn xấu, nên đầu năm đến chùa cúng sao cúng hạn, cầu cho trọn năm cuộc sống được hanh thông, gia đình được an vui may mắn. Hoặc có những người vì thương cha mẹ đã quá cố, sợ cha mẹ chết rơi vào địa ngục chịu đói chịu khổ nhọc nhằn, họ bèn nhờ thầy cúng dán lầu kho, xe cộ, giấy tiền vàng bạc, lễ cúng đốt xuống cho cha mẹ được an hưởng nơi âm ty...Mọi sự sợ hãi đều là cội nguồn của mê tín.
 
 Là con người có ai không mong cầu, không sợ hãi, đã có hai thứ này thì nhất định sẽ rơi vào mê tín dị đoan. Khi chưa gặp việc , chúng ta chống đối mê tín, nhưng gặp lúc có việc thì lại khắc khỏai mong cầu, kinh hòang sợ hãi, chúng ta cũng trở thành mê tín như ai. Dù là người có cấp bằng cao, có kiến thức rộng, nếu trong tâm có mong cầu, sợ hãi, họ cũng sẽ rơi vào hố thẳm me tín. Có những người đứng trước công chúng thì miệt thị chê bai kẻ mê tín, song khi về nhà gặp gia cảnh rối nùi, bà xã vẫn đi bói quẽ xin xăm, hỏi quá khứ vị lai nơi ông đồng bà cốt. Bởi con người mang sẵn tính tham lam, thói hèn nhát, nên khi muốn thỏa mãn sự mong cầu, muốn được bình an khi nguy hiểm, đều nảy sinh mê tín dị đoan. Thế nên mê tính dị đoan là bệnh bẩm sinh có sẵn nơi mọi con người. Muốn chữa lành bện này phải là bậc Thánh y và thần dược mới mong điều trị được.
 
 3. Pháp Phật dạy trị mê tín. - Phật là bậc Thánh y, pháp của Phật dạy là thần dược, nếu ai tin nơi Phật , dùng thuốc Phật dạy trị bệnh mê tín chắc chắn sẽ được lành. Pháp Phật trị bệnh có hai thứ :
 
 1/ Nhân quả : - Nhân quả là sự thật, là lý đương nhiên mà người đời ít ai nghỉ đế. Bởi con người cố mong cầu cái quả mà không cân xứng với cái nhân. Hoặc họ ước mơ nhặt được những cái quả ngòai tầm tay của họ. Hoặc họ không có tâm tự tin nên làm việc gì cũng ngờ vực lo âu. Đó là những ly do khiến họ đâm ra mê tín. Nếu con người tự biết rõ rằng mọi hậu quả nên hư, tốt xấu thành công, thất bại đều do nguyên nhân hay dở đủ thiếu của con người tạo ra. Không có cái quả nào từ trên trời rơi xuống, hoặc dưới đất bỗng dưng hiện lên, mà đều do trí sáng suốt và sức lao động cần cù của con người tạo nên. Chúng ta cứ tạo nhân tốt thật đầy đủ thì quả tốt nhất định đến. Ví như chúng ta muốn có quả một cây cam mật, trước chúng ta phải chọn giống từ quả cam mật, hoặc chiết cành từ cây cam mật. Kế đó, chúng ta phải chọn chổ đất màu mỡ ương giống xuống, rồi tưới nước bón phân đúng thời , đúng lúc, chăm sóc sâu bọ đừng cho phá hại. Sau này chúng ta sẽ thu họach quả cam mật không sai. Chúng ta khỏi mong cầu, khỏi mong đợi mà quả sẽ thành tựu viên mãn theo sở nguyện của mình. Cũng thế, mọi sự nên hư thành bại trong đời mình không phải ngẫu nhiên mà đến, không phải từ ai ban cho, mà do những cái nhân chúng ta tạo ra từ trước, khi nhân duyên đầy đủ thì quả thành. Không phải chúng ta cầu xin mà nó đến, không phải chúng ta xua đuổi mà nó đi, một khi nhân đã thành thì quả phải chịu. Chúng ta cứ sợ tai ương đổ lên đầu chúng ta, mà lại không sợ những nhân xấu mình đã gieo từ trước. Chúng ta cầu thần khấn Phật ban bố phúc lành cho chúng ta, mà chúng ta không chịu ban ơn bố đức cho những người xung quanh mình. Những nhân xấu kết hợp zha2nh quả xấu, những nhân tốt tụ hội thành quả tốt. Cầu mong quả tốt mà không chịu gieo nhân tốt, sợ hãi quả xấu mà không ngừng tay tạo nhân xấu; sự cầu mong, sợ hãi ấy chỉ là việc không đâu. Chi bằng chúng ta hằng ngày cứ tạo nhân lành, tránh nhân dữ, chả cần cầu mong, sợ hãi gì vô ích.
 
 Song nhân quả không phải đơn thuần mà đa dạng, chẳng phải do trực tiếp ở hiện tại mà lại gián tiếp ở nhiều đời. Biết rõ nhân quả tự mình gây tạo, chúng ta can đảm nhận những quả khổ mà không chút sợ hãi buồn phiền. Mình làm chủ tạo nhân, chính mình làm chủ tạo quả, còn cầu xin cái gì, cần hỏi han ai nữa. Chỉ mình sáng suốt khi tạo nhân, cần cù nuôi dưỡng bảo vệ cho nhân tăng trưởng, thì quả chín mọng sẽ đến tay mình một cách dễ dàng. Chúng ta tin chắc ly nhân quả như thế, mọi mê tín sẽ tan theo mây khói. Đấy là quyền con người sẽ nằm gọn trong bàn tay của chúng ta.

 2/ - Ba cửa giải thóat ( tam giải thóat môn ) : Ba cửa này là :Không, Vô tướng, Vô nguyện (vô tác ). Đây là người tu Phật được trí tuệ thâm hậu thấy thấu suốt con người và ngọai cảnh đúng như thật " Không " là từ con người cho đến muôn vật đều do nhân duyên kết thành, không có chủ thể nhất định. Bởi căn cứ trên lý nhân duyên, thấy vạn vật không có chủ thể nên nói là " Không ". Từ một cái nhà cho đến cái bàn, cây ghế, cây bút chì...tìm thử cái gì là chủ thể của nó. Nếu có chủ thể thì không đợi duyên hợp, đợi duyên hợp mới có thì nhấn định không có chủ thể. Đến con người của chúng ta thử tìm xem cái gì là chủ thể của thân này ?  Như Phật dây thân này do tứ đại ( đất, nước, gió lửa ) hợp thành, thiếu một trong bốn thứ thì thân phải họai. Đã là bốn thứ  thì thứ nào là chủ ? Có một thứ làm chủ thì thiếu một thứ khác tại sao nó không còn ?  Bốn thứ này lại thù địch chống đối nhau, đem bốn đứa thù nhốt chung một chổ thì có an ổn không ?  Chúng ta có bổn phận phải nuôi dưỡng điều hòa bốn kẻ thù này, bằng cách chọn những thức ăn uống nào để quân bằng chúng. Về tinh thần cũng thế,, nội tâm chúng ta có mặt tốt xấu, thiện ác đủ thứ, thử hỏi cái nào là chủ ?  Cho nên nói là đời sống của ta, mà thực sự cái gì là ta ?  Cái ta chỉ là tưởng tượng chứ không có thực thể.  Từ lãnh vực không có thực thể nhìn sang lãnh vực  " vô tướng " thực hợp lý vô cùng. Bởi vì vạn vật không có thực thể  nên không có tướng thật (vô tướng) của nó. Cái mà chúng ta trong thấy, sờ mó được chỉ là giả tướng của duyên hợp mà thôi. Người vật chỉ là tướng hư giả.  Đã là hư giả chúng ta co mong cầu để được , sợ hãi khi mất hay không ?  thế là tiến đến "Vô nguyện". Bởi thấy thân hư dối, mọi vật hư dối, chúng ta không còn ham sống sợ chết, không còn đam mê vàng ngọc. Đã thấy trên thế gian này không có cái gì đáng mong cầu, đáng sợ hãi, thì còn gì để khấn nguyện, phải van xin, phải thưa hỏi các vị Thánh thần ? Dùng trí tuệ này dẹp tan mê tín, như chế nước sôi trên băng. Ba cửa giải thóat này là đỉnh cao của trí tuệ, thấy tận cùng bản chất con người ( ngã )  và vạn vật ( pháp ). Chính do thấy rõ bản chất hư dối của chúng, nên gỡ bỏ mọi mê lầm cố chấp, mọi tham lam trói buộc, được tự tại an vui, gọi là giải thóat.
 
  Tóm lại , mê tín là một tệ nạn của xã hội, nó tạo dựng những con người yếu hèn, mất tự tin không sáng suốt. Muốn có một xã hội văn minh lành mạnh chúng ta có thể nào chấp nhận nạn mê tín hòanh hành. Huống nữa, trong giới Phật giáo chúng ta đang kế thừa chánh pháp giác ngộ giải thóat của đức Thế tôn mà nuôi dưỡng chấp nhận mê tín được sao ?  Thế mà có nhiều Tăng sĩ trụ trì, khi nghe phật tử than làm ăn sa sút, liền bảo đến chùa thầy cầu nguyện cho. Nghe con cháu Phật tử sắp thi cữ, bảo ghi tên để thầy cầu nguyện cho; Nghe Phật tử than gia đình xảy ra tai nạn bảo đến chùa thầy cúng sao cúng hạn cho...Ôi thôi vô số chuyện , cái gì thầy cũng lãnh hết, lo hết, và bao thầu hết. Đó là chúng ta đang truyền đăng tục diệm, hay là chúng ta đang dụi tắt ngọn đuốc ch1nh pháp của đức Như Lai ?.
 
Dựng trai dàn hơ hóng mảnh Kinh đau
Tiếng mõ ưng ức dằn tâm vỗ dội
Nén...tuỳ duyên cháy bốn mùa sương khói
Gồng gánh bao giờ ..
Mà nằng nặc muốn buông trôi.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-19 18:01:13Quãng Nhẫn>
             TÌNH THƯƠNG SẼ KHÔNG CÒN
           KHI NGƯỜI TA CẦN NGON MIỆNG


Tình thương là cây linh dược trị lành mọi bệnh khổ của chúng sanh. Vậy mà, con người nỡ dang tay bẻ cành chặt nhánh khiến nó lụi tàn. Cũng may  ! Nó còn sót lại vài cành già và đang nảy ít chồi non. Mong rằng nhân lọai nhận thức được gia trị tuyệt vời của nó, ra công bảo vệ, vun tưới cho nó phát triển sum suê, thật là hạnh phúc vô vàn của nhân lọai. Vô tình hay cố ý, chúng ta phá họai cho cây linh dược tàn lụi đi , đây là một mất mát lớn lao của nhân lọai, không có gì bù đắp được.
 
  Chú Ba nhà ở gần chùa, chú nuôi một con gà mái, đẻ dược một đàn gà con. Đàn gà con mỗi con đều tròn trịa dễ thương. Sáng nào chú cũng hốt mõt nắm gạo ra đứng trước sân kêu " túc túc 2 . Gà mẹ dẫn đàn gà con chạy ùa ra vây quanh chú, mổ những hạt gạo do chú rải, chúng nuốt ngon lành. Chú nhìn đàn gà con có vẻ trìu mến. Có lẽ đàn gà con cũng nhìn chú là ông chủ quí kính đang yêu thương nuôi dưỡng chúng. tình của chú Ba và đàn gà ngày càng sâu đậm hơn. Trải mấy tháng sau, đàn gà con đã lớn thành gà giò ( gà vừa ăn thịt ). Hôm nay nhà chú Ba có khách, cũng như mọi hôm , sáng chú nắm gạo ra giữa sân đứng kêu " túc túc " , đàn gà chạy lại bu quanh chú, vừa bỏ gạo cho chúng ăn, chú vừa chụp lấy một con. Con gà vừa bị chụp la hỏang lên, đàn gà còn lại chạy tứ tán. Tiếng la thất thanh của con gà không làm chú động tâm ty nào. sau đó, nó còn bị cột chân và cuối cùng lôi ra cắt cổ. Tiếng la cứu mạng và gắng sức vùng vẫy đàng dạch để thóat chết của con gà, không làm lay chuyển được ý định của chú. Thế là xong đời một con gà để làm mội ngon cho người chủ mến thương trước kia. Tình thương của chú Ba đối với đàn gà con, chỉ có khi chưa cần làm thức ăn ngon miệng, đến khi thịt gà làm thức ăn thì tình thương ấy biến đi như mây khói  !
 
   Ở chùa có nuôi hai con chó , một con tên là Tiểu Hỷ, một con tên là Tu Tu. Sáng nào hai con cũng vật lộn nhau ành ạch ở trước sân, hai đứa săn đuổi nhau, đè cắn cạp nhau một cách thân tình. Mỗi khi trông thấy hai đứ đùa giỡn nhau, tôi cũng thấy vui lây. Dù là súc sinh, chúng cũng biết vui đùa, cũng biết thân yêu nhau như con người nào khác. Song khi thằng Tiểu Hỷ được quí cô cho một tô cơm đang ăn ngon lành, thằng Tu Tu chạy đến gần, thằng Tiểu Hỷ liền nhe răng hầm hừ, thằng Tu Tu đành lấm lét tránh xa. Ngược lại cũng thế , khi thằng Tu Tu đang ăn, thằng Tiểu Hỷ lại gần cũng bị thằng Tu Tu nhe răng hầm hừ. Sau bửa ăn chúng cũng lại vui vẻ chơi lại với nhau. Qua hình ảnh con hai con chó, chúng ta  thấy khi có món ngon, khi cần no bụng mình , thì tình đồng lọai không còn có mặt. Chúng có thương nhau không ?  Nếu không thương thì tại sao lại liếm nhau một cách trìu mến, vật lộn nhau một cách chân tình ?  thế mà chỉ có một miềng ngon, một tô cơm , chúng liền đổi tình bạn thành địch thù. Tình người có thế không ?
 
   Có một gia đình ở xa đến quy y với chúng tôi. Thời gian sau những đứa con khôn lớn, cha mẹ già yếu. Cha mẹ tương đối khá giả, nên làm di chúc chia của cho con. Trong di chúc không biết phân chia thế nào, vài đứa con chạy lên tìm tôi nhờ khuyên giải hộ cho cha mẹ chúng phân chia công bằng, đừng cho đứa nhiều đứa ít , khiến cho con cái thấy cha mẹ bất công không tốt. Tôi liền khuyên chúng : " Cha mẹ sinh ra con, nuôi dưỡng cho học hàng đến lớn khôn, lập gia đình có đôi có bạn rồi, công ơn cha mẹ không thể nào kể hết. Giả sử cha mẹ nghèo không có tiền của thì con cái cũng phải làm ra tiền để nuôi dưỡng cha mẹ, mới tròn bổn phận làm con, Huống hồ là cha mẹ khá , con đã khỏi nuôi, lại được chia của cho, dù được bao nhiêu cũng tốt, đòi hỏi thêm làm gì cho phiền lòng cha mẹ. Tụi con thấy, có gia lắm gia đình cha mẹ chết sớm, nhà nghèo , con cái cũng phải bươn chải để để sống, vậy mà cũng có nhiều người lập nên sự nghiệp. Sánh với tụi con hiện nay quá tốt, cha mẹ còn sống lại được chia của, dù ít cũng hơn người ta quá nhiều rồi. Thôi là con hiếu phải nghe lời mẹ cha, đừng phiền trách tổn phước". Chúng không bằng lòng , thưa với tôi thế này. "Thà là không có gì hết, còn có mà chia đứa nhiều đứa ít là bất công, không chấp nhận được". Tôi đành im lặng, Chúng chào tôi ra về với vẻ còn bực tức. Không bao lâu, cha mẹ chúng đến thăm tôi. Nhơn khi thăm hỏi, tôi đem việ chia của cho con ra khuyên : " Làm cha mẹ, hai đạo hữu phải xử sự với con cái cho công bằng, Nếu có của nhiều chia cho chúng nhiều, có ít chia cho chúng ít, đừng để đứa nhiều đứa ít nó phân bì không tồt. Hai vợ chồng thưa với tôi : " Bọn con của chúng con, đứa nào phá của thì chia cho chúng ít, đứa nào biết giữ của thì chia nhiều, như vậy mới công bằng". Đến đây tôi hết ý kiến. Thời gain sau, tôi nghe những đứa con được chia của ít, đã kiện cha mẹ nó ra tòa. Tôi đành thở dài , cảm thấy mình bất lực, không đủ biện tài để giáo hóa đệ tử, thật đáng buồn.

 
Dựng trai dàn hơ hóng mảnh Kinh đau
Tiếng mõ ưng ức dằn tâm vỗ dội
Nén...tuỳ duyên cháy bốn mùa sương khói
Gồng gánh bao giờ ..
Mà nằng nặc muốn buông trôi.
Đăng nhập để trả lời
0