📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

KHÓC LÊN ĐI, ÔI QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU. 🔒

36 trả lời, 7.251 lượt xem — Trang 2 / 2
6.
 
 
 
Ở Ndotsheni và tất cả các trại chung quanh, mọi nhà đều bắt đầu cầy ruộng. Nhưng công việc tiến hành rất chậm, vì thầy cán sự trẻ tuổi có viên Tù trưởng theo sau, đi chỉ cho mọi người không được cầy dọc theo sườn đồi nữa. Nông dân lấy đất đắp thành những tường nhỏ và cầy vòng vòng như trôn ốc ở chung quanh sườn đồi, thành thửa ruộng coi lạ hẳn đi, không giống trước chút nào cả. Đàn bà và trẻ em đi hốt phân bò, khi trải lên ruộng thấy chẳng được bao nhiêu, nên viên Tù trưởng ra lệnh rào một khoảng đất, gom bò vào trong đó để dễ hốt phân, nhưng việc đó bất tiện lắm vì bò không có gì ăn trong khu rào đó. Thầy cán sự trẻ tuổi lắc đầu nhưng bảo sang năm sẽ khá hơn. Người ta nấu những hột miên liễu, trong thung lũng này chưa ai thấy làm như vậy, nhưng các người làm công trong các trại ruộng của người da trắng bảo là phải đấy, thế là họ nghe lời nấu. Người ta lựa vài chỗ điêu tàn để rắc những hột đó, nhưng thầy cán sự trẻ tuổi lại lắc đầu, bảo những chỗ đó đất cằn cỗi, miên liễu mọc làm sao được. Và thầy bảo phải liệng bỏ những hột bắp họ giữ để làm giống đi, vì ở nhà ông Jarvis có nhiều hột giống tốt hơn. Dĩ nhiên họ không liệng đi mà dùng để ăn.
Tất cả những việc đó không phải làm mau lẹ như ảo thuật đâu. Phải mất bao nhiêu buổi hội họp, có bao nhiêu kẻ lầm lì, nhăn nhó. Chỉ vì sợ viên Tù trưởng, nên những cuộc hội họp đó mới không biến thành những cuộc gây lộn, cãi vã. Bất bình nhất là những người bắt buộc phải bỏ ruộng nương của mình.
Người em ông Kusule suốt mấy ngày hờn dỗi, không nói một lời vì cái đập lấn vào đất của chú ta và miếng đất người ta bù lại không làm cho chú vừa lòng. Umfundisi phải nói mãi chú ta mới chịu nghe, chú ta không lẽ từ chối, vì chính nhờ Umfundisi mà đứa con người anh của chú mới có sữa uống mà khỏi chết.
Viên Tù trưởng đã nói bóng nói gió rằng ông sẽ đòi hỏi những điều khó khăn hơn nữa, và thầy cán sự bực mình rằng muốn gì thì sao không nói hết đi. Nhưng khó mà bắt dân chúng chấp nhận mọi sự cải cách luôn một lúc được. Thầy ta bảo rằng ngay năm nay, dân chúng có thể thấy được vài sự tấn bộ, mặc dầu thầy chán nản lắc đầu vì đất đai cằn cỗi quá.
Có tin đồn chính phủ sẽ tặng viên Tù trưởng một con bò mộng, và thầy cán sự trẻ tuổi bảo Kumalo rằng dân chúng phải giết những con bò sức sản xuất thấp nhất đi, nhưng trong các buổi họp thầy không tuyên bố ra như vậy, vì dân chúng có tục tính tài sản theo số bò, dù là bò bịnh hoạn, gầy ốm, họ sẽ cho biện pháp đó là tàn khốc quá.
Nhưng làm cho họ kinh ngạc nhất là cái máy lớn mà họ bảo là đã “ tham chiến ” trong chiến tranh vừa rồi, cái máy nó ủi đất của người em ông Kusule lên lấp hàng gậy mà người da trắng đã cắm và đùn đất lên mỗi ngày mỗi cao. Và chính người em ông Kusule cau có nhìn cảnh đó cũng không thể không bật cười lên, rồi sực nhớ lại, làm bộ bí xị như trước. Nhưng chú ta được an ủi đôi phần khi nghĩ rằng sang năm, hồ nước trên đập đầy rồi thì hai anh em nhà Zuma cũng phải bỏ khu ruộng của họ ở phía dưới, vì người ta định trồng cỏ của người da trắng ở dưới đó, tưới cỏ bằng nước ở đập, rồi khi cỏ cao thì cắt, liệng vào khu đất rào cho bò ăn. Hai anh em nhà Zuma đã chế diễu chú ta, khi chú ta cau có về cái đập chiếm đất của chú, thì lúc đó chú sẽ có dịp trả thù mà chế diễu lại họ.
Quả thực đang có cái gì thay đổi trong thung lũng này, một tinh thần mới, một đời sống mới và trong chòi nào người ta cũng bàn tán rất nhiều. Tuy chưa sản xuất được gì cả, nhưng đã bắt đầu có cái gì rồi.
 
 
Kumalo bảo:
- Có một người nữa cũng tên là Napoleon. Ông ta làm được rất nhiều việc, nhiều tới nỗi người ta đã viết vô số sách về ông ta.
Thầy cán sự trẻ tuổi cười mà cúi xuống nhìn đất, cà chiếc giầy nọ vào chiếc kia.
Kumalo nói tiếp:
- Thầy có thể hãnh diện được vì đã có một đời sống mới trong thung lũng này. Tôi đã sống ở đây già đời rồi mà chưa bao giờ thấy người ta hăng hái cầy ruộng như vậy. Ở đây đã có một cái gì mới. Tôi không nói tới mưa đâu, mặc dầu mưa làm mát mẻ tâm hồn con người. Tôi nói tới hy vọng, chưa bao giờ thấy ở đây người ta tràn trề hy vọng như vậy.
Người trẻ tuổi đó có vẻ lo ngại, đáp:
- Không nên nuôi nhiều ảo tưởng quá. Riêng tôi, năm nay tôi không hy vọng gì nhiều. Bắp sẽ cao một chút, thu hoạch sẽ tăng được một chút, thế thôi, vì đất xấu quá.
- Nhưng sang năm, sẽ có khu rào bò đó.
Người trẻ tuổi hăng hái đáp:
- Vâng. Nhờ khu rào đó, sẽ khỏi mất đi nhiều phân. Umfundisi, họ hứa với tôi dù mùa đông này lạnh nhiều thì họ không đốt phân bò để sưởi nữa.
- Phải mấy năm cây mới lớn nhỉ?
Thầy cán sự rầu rầu, đáp:
- Phải nhiều năm. Thưa Umfundisi, họ có thể chịu được lạnh sáu bảy năm không nhỉ?
- Đừng nản chí. Ông Tù trưởng và tôi sẽ hết sức giúp thầy.
- Vâng. Tôi nóng lòng về việc xây đập quá. Xây xong thì sẽ có nước để tưới các bãi cỏ. Và thưa Umfundisi - giọng chàng hoá hăng hái - lúc đó thung lũng này sẽ có sữa để uống, và chúng ta sẽ không cần tới sữa của người da trắng nữa.
Kumalo ngó thầy ta, hỏi:
- Không có sữa của người da trắng thì chúng ta sẽ ra sao? Người da trắng không giúp chúng ta tất cả những việc đó thì chúng ta sẽ ra sao? Và chính thầy nữa, lúc này thầy sẽ ở đâu? Thầy không đương làm việc cho ông ấy đấy ư?
Thầy ta đáp, giọng hơi sẵng:
- Vâng, ông ấy trả lương tôi. Tôi không phải là người vong ân.
Kumalo có giọng lạnh lùng:
- Vậy không nên ăn nói như vậy.
Hai người hơi ngượng với nhau, cho tới khi thầy cán sự ôn tồn nói:
- Thưa Umfundisi, tôi đã tận tâm với công việc ở đây. Umfundisi thấy chứ?
- Thấy.
- Tôi tận tâm như vậy là để phụng sự quê hương tôi, dân tộc tôi. Xin Umfundisi hiểu cho như vậy. Tôi không thể tận tâm như vậy vì bất kỳ ông chủ nào được.
- Nhưng nếu thầy không làm cho ông chủ thì lúc này thầy có ở đây không?
- Tôi hiểu Umfundisi. Con người đó tốt và tôi ca tụng ông ta. Nhưng việc không nên xảy ra cách đó.
- Thế thì việc nên xảy ra cách nào?
Thầy ta bướng bỉnh đáp:
- Không phải cách đó.
- Thế thì cách nào?
- Thưa Umfundisi, bọn da trắng để lại cho chúng ta rất ít đất, họ lôi chúng ta ra khỏi đất đai của chúng ta để bắt chúng ta làm công cho họ. Rồi chúng ta lại dốt nát. Chính vì những nguyên nhân đó mà thung lũng này mới điêu tàn. Vậy những việc thiện của người da trắng đó chỉ là một cách đền bù lại thôi.
- Tôi không ưa cái giọng đó.
- Tôi hiểu Umfundisi, hiểu lắm. Nhưng Umfundisi cho tôi hỏi một điều.
- Cứ hỏi.
- Nếu thung lũng này phục sinh lại được như Umfundisi vẫn luôn cầu nguyện, thì theo Umfundisi, nó có thể nuôi được hết người của bộ lạc này không, nếu những kẻ đi nơi khác đều trở về đây hết?
- Điều đó tôi không biết.
- Nhưng tôi biết thưa Umfundisi. Phục sinh lại được thì thung lũng này đủ nuôi những người hiện ở đây, nhưng khi con cái họ lớn lên thì lại không đủ nuôi nữa, sẽ đông quá, một số lại sẽ phải đi nơi khác kiếm ăn.
Kumalo làm thinh, không biết đáp sao. Ông thở dài:
- Thầy thông minh hơn tôi nhiều.
- Tôi xin lỗi Umfundisi.
- Thầy có lỗi gì đâu. Tôi thấy rằng thầy rất yêu sự thực.
- Thưa Umfundisi, tôi đã được một người dạy cho tôi yêu sự thực, một người da trắng. Ông đó bảo: “ Không yêu sự thực thì ngay việc trồng cây cũng không thể có kết quả tốt được ”.
- Ông đó sáng suốt.
- Chính ông ấy cũng dạy tôi rằng: chúng ta làm việc không phải cho chủ mà cho quốc gia, dân tộc. Ông ấy còn bảo: “ Cũng không làm việc vì tiền nữa ”.
Kumalo cảm động, nói:
- Có nhiều người nghĩ như thầy không?
- Thưa Umfundisi, tôi không biết được. Tôi không biết có nhiều người không, nhưng có.
Thầy ta hăng hái, nói tiếp:
- Chúng ta làm việc cho châu Phi, chứ không phải cho người này, người khác. Không phải cho người da trắng hay da đen, mà cho châu Phi.
- Sao thầy không nói là cho Nam Phi?
Thầy ta vắn tắt đáp:
- Nếu nói được thì chúng ta sẽ nói như vậy?
Thầy suy nghĩ một lát:
- Chúng ta nói như trong bài chúng ta hát Nkosi Sikelel’i Afrika.
Kumalo bảo:
- Tối rồi, thôi đi tắm rửa thôi.
Thầy cán sự rất nghiêm trang nói thêm:
- Xin Umfundisi hiểu cho tôi. Tôi không phải là người làm chính trị, tôi không phải là người khuấy động thung lũng của Umfundisi. Tôi chỉ muốn phục sinh nó thôi.
Kumalo cũng nghiêm trang đáp:
- Cầu trời phù hộ cho thầy thành công.
- Dạ.
- Tôi không thể ngăn cản cháu có những tư tưởng đó được đâu, một thanh niên nên có những tư tưởng sâu sắc như vậy. Nhưng cháu đừng nên oán thù ai hết nhé, đừng mong có uy quyền đối với ai hết nhé. Vì một ông bạn tôi đã bảo tôi rằng: uy quyền làm hư hỏng con người.
- Thưa Umfundisi, cháu không oán thù ai hết, không muốn có uy quyền đối với ai hết.
- Vậy thì tốt. Vì ở trên quê hương chúng ta đã có nhiều oán thù quá rồi.
Chàng trẻ tuổi vô nhà để tắm rửa. Ông lão còn ngồi nán lại trong bóng tối. tinh tú bắt đầu lấp lánh ở trên vòm trời thung lũng sắp được hồi sinh này. Ông chỉ mong thung lũng được hồi sinh thôi vì đời ông đã sắp tàn. Ông già quá rồi, không quan tâm tới những tư tưởng mới mẻ lộn xộn đó, nó còn làm ông thêm khổ vì nó đả kích nhiều cái quá. Phải, nó đả kích con người ít nói, nghiêm nghị ở High Place, con người chịu cảnh đau lòng như vậy mà vẫn tỏ lòng nhân từ mực đó. Ông già quá rồi, không quan tâm tới những tư tưởng mới mẻ, lộn xộn đó. Người ta gọi ông và hạng người như ông là chó săn của bọn da trắng. Thì từ trước ông vẫn sống như vậy, nay cũng sẽ sống như vậy cho đến tàn niên.
Ông quay vào nhà với chàng thanh niên.
 
 
 
 
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-02-02 03:25:26ĐạoCấy>
7.
 
 
Ngày mười bốn tháng đó, Kumalo bảo vợ:
- Anh phải vô núi.
Bà vợ đáp:
- Em hiểu mình.
Vì bà thấy ông đã hai lần hành động như vậy rồi; một lần: Absalom còn nhỏ đau xuýt chết, và một lần nữa: ông muốn bỏ chức mục sư mà quản lý một cửa hàng bản xứ ở Donnybrook cho một người da trắng tên là Baxter, để kiếm được nhiều tiền hơn ở giáo đường. Còn một lần thứ ba nữa, nhưng lần này bà đi vắng nên không biết: hồi đó ông bị cám dỗ ghê gớm, xuýt mắc tội thông dâm với một cô giáo cô đơn, dễ mềm lòng ở trường Ndotsheni.
Ông nói bà:
- Mình có muốn đi với anh không? Anh không muốn mình phải ở nhà một mình.
Bà cảm động đáp:
- Em không thể đi được, vì con dâu nó sắp tới ngày sanh rồi, không biết bất thần lúc nào. Nhưng mình cứ đi đi.
Bà nấu cho ông một bình trà, gói vài cái bánh bột bắp chắc dạ cho ông mang theo. Ông lấy một chiếc áo choàng và cây gậy và leo con đường mòn đưa lên nhà viên Tù trưởng. Nhưng tới ngã ba đầu tiên, ông quẹo về phía tay lấy thức ăn, leo một ngọn đồi nữa, tiến tới những cái chồi ngay ở chân núi. Tới đây lại quẹo nữa, đi men theo chân núi về phía đông, tức về phía thung lũng Empayeni ở xa tít mù, một thung lũng đất cũng đỏ và trụi, cũng chỉ có toàn ông già bà cả, đàn bà và con nít.
Nhưng chưa tới thung lũng mới tới con đường phẳng, tới chỗ nó bắt đầu đổ xuống thung lũng thì ông bỏ con đường đó mà leo lên núi. Núi này tên Emoyeni, có nghĩa là: Ở trong gió, nó cao ngất, nhìn xuống Carisbrooke và các ngọn núi khác, nhất là mặt ngó xuống thung lũng Ndotsheni và Empayeni thì nó lại càng cao. Nó quả là bức thành của thung lũng Umzimkulu và đứng trên núi đó nhìn xuống, người ta thấy được một cảnh đẹp nhất của châu Phi.
Trời đã gần tối và Kumalo đi một mình trong cảnh chạng vạng; như vậy càng tốt vì không nên cho nhiều người biết. Nhưng khi ông bắt đầu leo con đường mòn ở giữa các tảng đá thì thấy bóng một người cỡi ngựa và có tiếng gọi:
- Phải Umfundisi đấy không?
- Thưa phải, Umnumzana.
- May quá, tôi tính lại nhà Umfundisi đây. Trong túi tôi có một bức thư gởi cho các người ở giáo đường.
Ông ta im lặng một lát, rồi nói thêm:
- Vòng hoa hôm đó đẹp quá, Umfundisi.
- Cảm ơn Umnumzana.
- Còn cái chuyện giáo đường? Umfundisi có muốn cất một giáo đường mới không?
Kumalo chỉ mỉm cười lắc đầu chứ không biết đáp ra sao. Và mặc dầu ông ta lắc đầu như thể đáp : “ không ”, Jarvis cũng hiểu ý.
- Bản đồ sắp gởi tới cho Umfundisi coi, và Umfundisi phải cho tôi biết có vừa ý không.
- Thưa Umnumzana, tôi sẽ trình lên đức Giám mục.
- Đó là việc của Umfundisi, tôi không bàn tới. Tôi chỉ muốn rằng đừng lâu lắc quá, vì tôi sắp rời khỏi miền này.
Nghe mấy lời đau buồn đó, Kumalo ngây người ra, lo sợ. Mặc dầu trời tối, Jarvis cũng đoán được tâm trạng của ông, vội nói thêm:
- Nhưng tôi cũng sẽ thường trở về đây, vì Umfundisi cũng biết, tôi có một công việc dở dang ở Ndotsheni. Này, chàng thanh niên đó ra sao?
- Làm việc suốt ngày đêm. Không lúc nào nghỉ ngơi cả.
Người da trắng khẽ cười:
- Tốt lắm.
Rồi ông ta rầu rầu nói thêm:
- Nhà tôi bây gời chỉ còn một mình tôi. Vì vậy tôi ra Johannesburg ở với con dâu và các cháu. Umfundisi biết thằng cháu nhỏ của tôi đấy chứ?
- Thưa Umfundisi, tôi biết cậu ấy.
- Nó có giống ba nó không?
- Thưa giống, Umnumzana.
Kumalo nói thêm:
- Thực tình tôi chưa thấy em nhỏ nào như cậu ấy.
Ngồi trên lưng ngựa, Jarvis quay mặt đi, và trong bóng tối, con người nghiêm nghị ít nói đó như bừng lên chút nhiệt tình.
- Umfundisi, muốn nói gì vậy?
- Thưa Umnumzana, ở cậu ấy tôi thấy có cái gì rực rỡ.
- Ừ, ừ , đúng đấy. Ba nó cũng vậy.
Rồi Jarvis nói thêm, như một người đương khát khao:
- Umfundisi, còn nhớ không?
Và biết ông ta đương khát khao, nên Kumalo mặc dầu chẳng nhớ rõ, cũng đáp:
- Thưa nhớ.
Họ làm thinh một lát rồi Jarvis bảo:
- Tôi phải đi thôi Umfundisi.
Nói vậy mà ông ta vẫn không đi. Trái lại, ông ta còn hỏi thêm:
- Umfundisi, đi đâu vào giờ này?
Kumalo lúng túng, không biết nói sao, nhưng rồi cũng đáp:
- Tôi vô núi.
Thấy Jarvis làm thinh,Kumalo tìm lời để giảng giải thêm, nhưng chưa kịp nói thì Jarvis bảo:
- Tôi hiểu, tôi hiểu lắm.
Giọng Jarvis đầy tình thương xót, làm cho ông lão khóc và Jarvis ngồi trên lưng ngựa, thấy ngượng ngượng. Ông ta có thể xuống ngựa an ủi ông lão, nhưng việc đó không nên khinh xuất. ông ta dang tay trỏ thung lũng chìm trong bóng tối bảo:
- Có một việc đương sắp xong, nhưng ở đây một công việc khác mới đương bắt đầu. Tôi còn sống ngày nào nó sẽ còn tiếp tục ngày đó. Thôi Umfundisi đi mạnh giỏi
- Thưa Umnumzana.
- Cái gì nữa?
- Umnumzana đừng đi vội, cho tôi cảm ơn đã. Cảm ơn về thanh niên đó, và về sữa. Bây giờ cảm ơn thêm về giáo đường.
Jarvis nói, giọng nửa vui mà nửa buồn:
- Tôi biết một người, người đó ở trong bóng tối cho tới khi Umfundisi tìm ra được. Nếu đó là công việc Umfundisi làm thì tôi sẵn lòng tặng.
Có lẽ câu nói có ý nghĩa gì rất thâm thúy, hoặc giả vì ở trong bóng tối, nên Kumalo hoá bạo dạn và đáp:
- Thú thật, trong số tất cả những người da trắng mà tôi được biết…
Jarvis vội ngắt lời một cách xẵng:
- Tôi đâu phải là một vị thánh.
- Cái đó, tôi không thể biết được. Nhưng Thượng Đế đã đặt bàn tay của Ngài lên Umnumzana (1)
Jarvis bảo:
- Có thể như vậy, có thể như vậy.
Rồi ông ta thình lình quay lại, chào:
- Umfundisi đi mạnh giỏi. Suốt đêm nay ở lại mạnh giỏi.
Kumalo chào lại, trong khi Jarvis thúc ngựa đi:
- Umnumzana đi mạnh giỏi.
Thực ra còn nhiều điều khác sâu sắc mà ông lão muốn nói thêm, nhưng không dễ gì mà nói. Đợi cho tiếng vó ngựa chìm hẳn trong cảnh tịch mịch rồi, ông mới bám vào các phiến đá lớn mà khó nhọc leo lên vì sức đã suy. Lên tới đỉnh, ông đã mệt đừ, hổn hển, ngồi xuống một phiến đá để nghỉ, nhìn dãy núi Ingeli và Đông – Griqualand đen sẫm ở bên kia thung lũng lớn. Nghỉ khoẻ rồi, ông tiến thêm một quãng ngắn nữa, tìm thấy chỗ mà mấy lần trước ông đã tới.
Chỗ đó là một góc trong đám đá, khuất gió, có thể ngồi bỏ chân thõng xuống được. Ông nhớ nhất là lần đầu tiên lại đó, có lẽ là vì lần đó là lần đầu,  mà cũng có lẽ là vì lần đó ông cầu nguyện cho đứa con trai của ông, mà không còn lời cầu nào có thể cứu nổi nữa. Thời đó nó không biết viết, bây giờ thì nó viết ba bức thư và cả ba bức đều bảo: “ Nếu con được về Ndotsheni, thì không bao giờ con rời nơi đó nữa ”. Trong một hai ngày nữa ông bà sẽ nhận được bức thư cuối cùng trong đời nó.  Lòng ông xúc động, vô cùng thương xót đứa con sắp chết đó, đứa con đã hứa sẽ không bao giờ phạm tội nữa, nhưng nó đâu có được ân xá. Nếu ông gặp được nó sớm hơn thì có thể….Ông cau mày nhớ lại những câu hỏi tàn nhẫn và vô ích này: “ Tùy ý ba, như ba nói đó. Con không biết ”. Nó trả lời như vậy để làm gì kìa?
Ông gạt bỏ những hồi ức vô ích đó đi, và bắt đầu một đêm không ngủ. Ông xám hối, rán nhớ lại hết các tội lỗi từ lần cuối cùng ông vô núi này. Có những tội ông nhớ dễ dàng như tội nói dối trong chuyến xe lửa, tội nói dối với em ông, làm em ông giận dữ đuổi ông ra khỏi nhà, khép cửa, cài chốt lại; tội mất lòng tin ở Johannesburg; tội dằn vặt làm khổ thiếu nữ sa đoạ mà ngây thơ như em bé nọ. Ông rán ôn lại kỹ tất cả các lần và cầu nguyện để được xá tội.
Rồi ông tạ ân Thượng Đế, nhớ một cách rõ rệt rằng ông có nhiều lý do để tạ ân Thượng Đế về nhiều việc. Ông xét từng việc một, tạ ân về từng việc một và cầu nguyện cho mỗi người mà ông nhớ lại. Trước hết là ông Msimangu rất thân mến đã rộng rãi cứu mạng ông. Rồi tới người da trắng trẻ tuổi ở trại Cải huấn, đã cau mày bảo ông: “ Tôi xin lỗi Umfundisi, đã thốt ra những lời giận dữ đó ”. Rồi tới bà Lithebe từ tâm vẫn thường nói: “Ở đời thì phải giúp đỡ lẫn nhau ”. Rồi tới cha Vincent chìa hai bàn tay ra bảo: “ Umfundisi muốn gì thì cứ cho tôi hay, bất kỳ là việc gì, giúp được thì tôi sẽ giúp ”. Rồi tới ông luật sư vì Thượng Đế mà lo việc ấy, và đã viết thư nhã nhặn thân mến báo tin không được ân xá.
Rồi tới ngày về Ndotsheni, bà vợ và người thân tín đi đón, còn người đàn bà vắt tấm tạp dề lên đầu đó nữa. Rồi bọn phụ nữ đợi ông ở giáo đường. Hôm đó về tới nhà vui quá, ông quên hết nỗi đau khổ của mình.
Ông trầm ngâm một hồi lâu, vì một người khác trở về một thung lũng khác, không phải thung lũng này, có được tiếp đón niềm nở như vậy không? Tại sao riêng ông lại được thấy nỗi đau khổ biến thành nỗi vui mừng như vậy? Tại sao riêng ông giác ngộ về Thượng Đế như vậy?
Một người khác không được giác ngộ như vậy, có thể là sẽ phải sống trong cảnh đau khổ bất tuyệt. Tại sao lại có cái gì thúc đẩy, ông cầu nguyện cho Ndotsheni được phục sinh. Và tại sao lại có một người da trắng, ở trên đỉnh đồi kia làm những công tác đó cho cái thung lũng này, những công tác mà người khác không bao giờ làm. Và tại sao lại xui khiến cho người đó chính là người có con bị con trai ông giết? Một người khác không phải là ông có thể nào cũng bị thúc đẩy, cầu nguyện ngày đêm không ngừng, cho sự phục sinh của một thung lũng nào khác, không bao giờ được phục sinh không?
Nhưng óc ông không thể suy nghĩ hơn được nữa. Cái đó đầu óc con người không sao hiểu nổi. Ông gạt bỏ những ý nghĩ đó đi vì nó huyền bí quá.
Rồi lại còn ông da trắng Jarvis, bà vợ mới chết, cậu bé có cái gì rực rỡ kia. Óc ông cũng không sao hiểu nổi. Nhưng ông thấy những cái đó đủ cho ông tạ ơn Thượng Đế cho tới hết đời. Và ngay bây giờ ông rán tạ ơn vài điều.
Ông giật mình tỉnh dậy. Trời lạnh nhưng không lạnh lắm. Mấy lần trước ông không bao giờ ngủ, nhưng bây giờ ông già nua rồi, đời tuy chưa tàn hẳn, nhưng cũng gần tàn rồi. Ông nghĩ tới tất cả người đau khổ, tới cô Gertrude tâm hồn nhu nhược, điên khùng. Tới những người ở Shanty Town và Alexandra. Tới bà vợ lúc này. Người ông nghĩ tới nhiều hơn cả là Absalom, con trai ông. Lúc này nó thức hay ngủ, cái đêm cuối cùng trong đời nó này, nó thể chợp mắt được không? Ông gào lên: “ Con ơi! Con, con! ”.
Gào thế rồi ông tỉnh hẳn dậy, ngó đồng hồ, thấy một giờ khuya. Quá năm giờ một chút, thì mặt trời sẽ mọc và người ta bảo lúc đó là xong rồi. Nếu con ông còn đương ngủ thì cứ để cho nó ngủ, như vậy là hơn. Nhưng nếu nó đã tỉnh dậy, thì – Ôi! Chúa Ki Tô chí nhân chí từ - xin Chúa ở bên cạnh nó. Ông cầu nguyện như vậy rất thành tâm và rất lâu.
Còn bà vợ ông đã tỉnh chưa? Có nghĩ tới cái đó không? Không vì người con dâu thì bà đã cùng tới đây với ông rồi. Và đứa con dâu đó nữa, ông quên nó chứ? Chắc chắn là nó đương ngủ, không phải vì vô tình với chồng nó, mà vì chồng nó có ân nghĩa gì nhiều với nó đâu, không nhiều gì hơn những người chồng khác của nó.
Ông nghĩ tới Jarvis có tang vợ và tang con, nghĩ tới nàng dâu của ông ta goá bụa, và những đứa nhỏ mồ côi cha, nhất là cậu bé rực rỡ hay cười đó. Cậu ta đứng trước mặt ông và bảo ông: “ Khi tôi đi rồi thì Ndotsheni mất một cái gì rực rỡ ”. Cậu nói: “ Phải, tôi hiểu, tôi hiểu ”. Cậu không bẽn lẽn, không xấu hổ, mà bảo: “ Phải, tôi hiểu ”, rồi cậu cười vui vẻ.
Bây giờ ông nghĩ tới tất cả những người châu Phi, quê hương yêu dấu của ông. Nkosi Sikelel’ i Afrika. Xin Thượng Đế che chở cứu vớt châu Phi. Nhưng ông không được thấy sự cứu vớt đó. Nó còn xa vời quá, vì con người sợ nó. Nói cho đúng, họ sợ ông, sợ vợ ông, sợ Msimangu, sợ thầy cán sự trẻ tuổi.
Mà trong những nguyện vọng, những khao khát của những người này có gì xấu đâu? Đòi được đi đứng hiên ngang trên non sông của tổ tiên mình, nơi chôn nhau cắt rốn của mình, đòi được tự do hưởng huê lợi của đất đai thì có gì xấu? Vậy mà những kẻ kia sợ, sợ ghê gớm tận trong đáy lòng, sợ tới nỗi phải giấu lòng tốt của mình đi, hoặc có biểu lộ ra thì lại biểu lộ một cách tàn bạo, giận dữ, cau mày nhăn mặt. Họ sợ vì họ là thiểu số. Chỉ có tình thương mới diệt được nỗi sợ đó.
Chính Msimangu, con người không thù oán ai hết đó, đã bảo:
- Tôi chỉ có một nỗi sợ trong lòng tôi, sợ một ngày kia khi họ bắt đầu có tình thương yêu, thì thấy chúng mình đã hoá ra thù ghét họ rồi.
Ôi! những lời đó nghiêm trọng và bi thảm làm sao!
 
 
 
Khi ông thức dậy lần nữa thì ở phương Đông trời đã hơi thay đổi; ông hơi hoảng hốt nhìn đồng hồ. Nhưng ông yên tâm lại: mới có bốn giờ. Bây giờ thì cần phải tỉnh hẳn, vì có lẽ người ta đương đánh thức con ông bảo nó sửa soạn rồi đây. Ông đứng lên, nhưng chân lạnh và tê cóng, khó đứng vững được. Ông kiếm một chỗ khác để nhìn về phương Đông, vì nếu lời người ta nói mà đúng, thì khi mắt trời ló ở chân trời là mọi sự đã xong.
Ông nghe nói buổi sáng đó, muốn ăn cái gì người ta cũng cung cấp cho. Lúc đó mà còn có người đòi ăn, thì ông cho là điều kỳ dị. Một sự bí mật thầm kín nào đó không biết rằng sắp phải chết, còn thúc đẩy cơ thể làm cho nó thấy đói chăng? Con nó có tĩnh tâm không? Có bình tĩnh bận quần áo không? Hiện lúc này có nghĩ tới Ndotsheni không?
Mắt nó rưng rưng không? Nó có chùi nước mắt không? Nó có đàng hoàng đứng thẳng lên mà ra vẻ con người không? Nó có bảo: “ Không, tôi không muốn ăn, tôi muốn cầu nguyện ” không? Ông Msimangu có ở đó với nó không? Cha Vincent hoặc một mục sư nào có tới an ủi cho nó mạnh bạo lên không? Vì nó sợ treo cổ quá.
Mà nó có hối hận không hay chỉ còn sợ hãi thôi? Lúc này còn có thể làm gì được nữa không? Có một đấng thiên thần nào xuống bảo: “ Việc phán quyết là việc của Thượng Đế, không phải của loài người. Lại đây với ta, đi với ta, con ”.
Cặp mắt nhạt nhoà của ông nhìn ánh sáng còn yếu ớt nhưng mỗi lúc một thêm tỏ ở phương Đông. Ông bình tĩnh lại, lấy gói bánh bột bắp và bình trà ra đặt trên phiến đá, đọc lời kinh Tạ Ân, bẻ bánh ăn và uống trà. Rồi ông thành tâm cầu nguyện, cứ cầu nguyện xong một điều lại ngước mặt lên nhìn về phương Đông. Phương Đông mỗi lúc một sáng lên và ông biết sắp tới lúc đó rồi. Khi ông đoán rằng việc đó đương xảy ra thì ông đứng dậy, dỡ nón, đặt nó xuống đất, chắp tay ở trước ngực. Trong khi ông đứng như vậy, mặt trời ló dạng ở phương Đông.
 
 
 
Phải, trời đã bình minh. Con chim Titihoya bừng tỉnh, cất tiếng hót khắc khoải. Tia sáng bình minh lướt trên đỉnh núi Ingeli và đông – Griqualand. Thung lũng lớn Umzimkulu còn chìm trong bóng tối nhưng ánh sáng sẽ giọi xuống đó. Ndotsheni còn chìm trong bóng tối nhưng ánh sáng cũng sẽ giọi xuống đó. Vì bình minh đã hiện, như nó đã hiện hàng ngàn thế kỷ nay, không hề sai chạy. Nhưng còn cái bình minh kia, cái bình minh của thời giải thoát chúng ta khỏi sự sợ hãi của cảnh nô lệ, khỏi bị nô lệ sự sợ hãi, cái bình minh đó bao giờ mới hiện thì không ai biết được.
 
 
1. Cũng như ta nói: Thượng Đế đã phù hộ Umnumzana.
 
 
 
Hết.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
                                                                                                                                                              
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
0
KHÓC LÊN ĐI, ÔI QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU - ALAN PATON
 
Đã được đem vào thư viện
 
Thanh thật cảm ơn Đạo cấy đã góp sức cho thư viện VNTQ.
 
Chúc đạo cấy một năm Mậu Tý vạn sự như ý, an khang, thịnh vượng 
Thân ái
 



📎 chúcmừngnămmới
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-11-10 14:11:00ĐạoCấy>
15.
 
 
Rất ít người có phòng dư mà không cho mướn, bà Lithebe vào hạng người đó. Chồng bà hồi xưa làm thợ nề, hiền từ, lương thiện, mà ông trời không cho ông bà một mụn con nào. Chính tay ông đã cất ngôi nhà xinh xắn rộng rãi này, gồm một phòng ăn và ngồi chơi nói chuyện với ba phòng ngủ. Bà giữ một phòng cho bà, vui vẻ cho mục sư mướn một phòng nữa. Vì trong nhà có một mục sư, có tiếng cầu nguyện Chúa thì được phước lành. Phòng thứ ba, bà cho mẹ con Gertrude ở vì họ chẳng phải là người nhà của mục sư đấy ư? Nhưng người lạ thì bà nhất định không chứa, bà không cần tiền.
Cảnh của mục sư thật là buồn, cảnh hai mẹ con Gertrude cũng vậy, buồn nhất là cảnh đứa con trai của mục sư. Bà rất kính mộ con người thánh đức đó. Ông ta nhân từ, hiền hậu, đối đãi với bà nhã nhặn, lễ độ, coi nhà bà như nhà mình. Bà phục các hành vi của ông: cứu vớt hai mẹ con Gertrude, sắm cho em gái chiếc áo mới, chiếc khăn trắng đội đầu, cho cháu chiếc sơ mi, chiếc áo nịt dài tay, chiếc quần. Theo tục người bản xứ, chính bà cũng cảm ơn mục sư đã sắm cho em và cháu các thứ đó.
Có Gertrude và đứa nhỏ, cũng vui nhà. Gertrude vui vẻ giúp đỡ bà, tính ưa sạch sẽ, mặc dầu hơi lôi thôi và dễ bắt chuyện với người lạ quá, đặc biệt là với đàn ông. Bà  Lithebe biết rằng nàg đã có chồng và Gertrude biết rằng bà già đó nghiêm khắc về việc nhà việc cửa, nên nàg hiểu bà và nghe lời bà.
 Buồn nhất là chuyện đứa con trai của mục sư. Theo tục lệ, họ đã khóc lóc, rên rỉ cho tình cảnh của nó. Bà Lithebe và Gertrude nói chuyện hoài về chuyện đó, sự thực bây giờ họ chỉ nói về mỗi một đề tài đó. Ông mục sư làm thinh và mặt có những nét đau khổ. Nhưng bà Lithebe nghe thấy ông trong lần cầu nguyện nào cũng không quên vụ đó và bà rất thương hại mục sư. Mặ dầu ông ngồi hàng giờ trên chiếc ghế bành, cặp mắt bi thảm đăm đăm ngó phía trước, nhưng hễ bà Lithebe nói với ông thì ông hơi tươi tỉnh lên, nụ cười xoá được nét đau khổ và bao giờ ông cũng tỏ vẻ lễ độ, nhã nhặn với bà. Khi ông chơi với đứa cháu ông cũng trút được nỗi lòng và nét mặt ông thay đổi. Nhưng cả những lúc đó, đôi khi ông cũng im lặng, và bà Lithebe nghe đứa nhỏ hỏi đi hỏi lại mà mục sư không đáp, bèn nhìn qua cửa thì thấy ông ngồi trầm ngâm, lặng lẽ, vẻ mặt thật đau khổ.
 
 
- Bà Lithebe.
- Umfundisi hỏi chi?
- Bà Lithebe ạ, bà đối đã với tôi tử tế quá. Và tôi muốn xin bà giúp tôi một việc nữa.
- May ra tôi giúp được chăng.
- Bà ạ, bà có nghe nói về thiếu nữ có mang với con trai tôi không?
- Có, tôi có nghe nói.
- Hiện nó ở Pimville, mướn một cái phòng trong nhà người ta. Nó muốn kết hôn với con trai tôi và tôi nghĩ có nên thu xếp việc đó được. Vậy – dù có xảy ra chuyện gì đi nữa – thì nó cũng sẽ theo tôi về Ndotsheni, sanh ở trong một căn nhà sạch sẽ, đàng hoàng. Nhưng tôi rất muốn nó rời khỏi chỗ nó đương ở, và tôi tự hỏi… Tôi ngại làm phiền bà quá.
- Umfundisi muốn cho nó ở lại đây ư?
- Được vậy thì qúi hoá quá.
- Umfundisi cứ cho nó lại. Nó có thể ngủ trong phòng ăn. Nhưng không có giường.
- Không sao. Ngủ dưới đất trong một nhà lương thiện còn hơn là….
- Phải, phải.
-Tôi mang ơn bà quá.Tôi coi bà như má tôi.
- Ở đời thì phải giúp đỡ lẫn nhau, chứ có gì đâu.
Thế là ông ta hớn hở, kêu đứa nhỏ lại, đặt nó ngồi trên đùi rồi xốc cho nó nhổm nhổm lên như chơi trò cưỡi ngựa. Nhưng trò đó không hợp, vì ông già mau mệt hơn đứa nhỏ; hai bác cháu bèn lấy những khúc gỗ nhỏ ra cất những ngôi nhà cao như nhà ở Johannesburg, rồi gạt cho nó đổ rầm xuống mà cười ha hả.
Kumalo bảo:
- Thôi bây giờ bác phải đi. Bác sẽ dắt về cho cháu một người chị nữa.
Ông lấy tiền ra đếm. Chỉ còn vài tấm giấy bạc. Sắp phải dùng tới số tiền trong trương mục bưu điện rồi. Ông khẽ thở dài, bận áo, đội nón rồi cầm lấy chiếc gậy. Bà vợ phải đành đợi lúc khác mới có chiếc lò, còn ông thì hãy khoan sắm y phục và cổ cồn thầy tu vậy.
 
 
Thiếu nữ đó không giống Gertrude. Nàng vui vẻ ra mặt khi vô ở nhà này. Nàng có ít áo nhưng chiếc nào cũng sạch sẽ, vá lại cẩn thận, ngoài ra chẳng có đồ đạc gì cả. Nàng mở các cánh cửa, ngó vô các phòng, vui thích lắm vì từ trước chưa bao giờ được ở một ngôi nhà như vậy. Nàng gọi bà Lithebe bằng má và bà ta lấy vậy làm thích; bà cũng thích vì thiếu nữ bập bẹ nói được tiếng Sesuto. Gertrude cũng vui vì có thêm thiếu nữ đó, trong nhà thấy đỡ ảm đạm. Rồi đây tha hồ chuyện trò với nhau.
Quả nhiên, bà Lithebe bắt gặp họ đương cười giỡn với nhau. Họ liền im bặt, Gertrude thì khoé mắt còn vẻ đùa cợt, còn thiếu nữ nọ thì thẹn thùng. Bà Lithebe không ưa cái giọng cười vô tâm đó. Bà bảo thiếu nữ vô bếp tiếp tay bà và bảo cho nàng biết bà ghét giọng cười đó.
- Này con, nhà này là một nhà có phép tắc đàng hoàng.
Thiếu nữ cúi mặt xuống, đáp:
- Dạ.
- Con được một người nhân từ hiền hậu dắt lại đây, nhân từ không kể sao cho xiết.
Thiếu nữ tươi tỉnh ngửng lên ngó bà:
- Dạ con biết.
Vậy nếu con mừng rằng, được ông dắt lại đây thì đừng cười một cách vô tâm như vậy, nghe.
- Con hãy còn là con nít và con nít thì nên cười. Nhưng có nhiều cách cười.
- Thưa má dạ.
- Con hiểu ta muốn nói gì không?
- Thưa, con hiểu rồi ạ.
- Ông lão đã tủi nhục nhiều rồi. Con hiểu ta muốn nói gì không?
- Con hiểu rõ rồi ạ.
- Vậy đừng để cho ông bị tủi nhục ở đây, trong nhà ta này, nghe.
- Con hiểu má.
- Thôi con đi ra, nhưng giữ kín những điều chúng ta mới nói với nhau đó nghe.
- Dạ.
- Được dắt lại đây con có mừng không?
Thiếu nữ nhìn thẳng vào mặt bà già, đưa tay ra muốn diễn ý nghĩ của mình bằng một cử động nào đó cho thích hợp:
- Thưa con mừng lắm. Con không muốn ở chỗ nào khác cả. Con không muốn một người cha nào khác Umfundisi. Con không muốn một cái gì khác mà không phải ở trong nhà này.
- Ừ, ta thấy nỗi mừng của con. Còn điều này nữa con. Khi con chơi với đứa nhỏ, đừng để cho nó ghì chặt con như vậy, nghe. Tới lúc con phải giữ ý rồi đấy.
- Con hiểu má.
- Thôi con đi ra. Con cứ coi nhà này như nhà của con.
Từ đó không còn những tiếng cười vô tâm nữa. Thiếu nữ tỏ ra ít nói, vâng lời, còn Gertrude thấy nàng còn con nít cũng không rủ rê nữa, thản nhiên mà vui vui.
 
 
Ông già bước qua cửa rào lớn trong bức tường cao ảm đạm một lần nữa, và người ta dắt đứa con trai của ông ra. Ông lại nắm bàn tay không có sinh khí của nó, cũng cảm động tới sa lệ, nhưng lần này vì sự tuyệt vọng, rầu rĩ của đứa con.
- Con mạnh giỏi không con?
Đứa con đứng yên, quay đầu qua bên này ngó qua cửa sổ một lát, rồi quay đầu qua bên kia, mà không nhìn cha.
- Con vẫn mạnh giỏi.
- Ba có chuyện muốn nói với con. Con có chắc chắn rằng con muốn cưới thiếu nữ đó không?
- Con có thể cưới nó được ư?
- Cha có một ông bạn, một mục sư da trắng, ông ấy sẽ coi xem phải thu xếp ra sao, và sẽ lại thăm đức Giám mục hỏi xem có thể thu xếp cho mau được không. Và ông ấy sẽ tìm một luật sư cho con.
Mắt đứa con toả ra một tia sinh khí, có lẽ là một tia hy vọng.
- Con muốn có một luật sư biện hộ cho không?
- Người ta bảo luật sư giúp đỡ mình được.
- Con đã khai với cảnh sát rằng, hai đứa kia cùng đi với con?
- Vâng, và con đã lại khai như vậy mới tức thì đây.
- Thế rồi sao?
- Người ta cho đi gọi chúng, dắt chúng từ phòng giam ra.
- Thế rồi sao?
- Rồi chúng nổi quạu lên với con, chửi rủa con trước mặt các thầy cảnh sát, và bảo rằng con muốn hại chúng.
- Thế rồi sao?
- Thế rồi chúng hỏi con có chứng cớ gì không. Con chỉ có mỗi chứng cớ này là điều con khai đó đúng: chính hai đứa đó chứ không phải người nào khác, chúng cũng cùng đứng ở trong nhà đó với con, con đứng đây này, còn tụi nó đứng chỗ kia kìa.
Nó đưa ngón trỏ chỗ đứng của tụi nó và nó rưng rưng nước mắt bảo:
- Rồi chúng lại chửi rủa con nữa, chúng hằm hằm nhìn con, đứa này bảo đứa kia: “ Làm sao nó có thể vu oan, cho chúng mình như vậy được kìa ”.
- Chúng là bạn thân của con?
- Vâng, bạn thân.
- Và chúng tính bỏ con một mình chịu đau khổ?
- Con thấy rõ vậy.
- Từ trước cho tới bây giờ, chúng là những bạn thân mà con tin cậy được chứ?
- Vâng, trước kia con tin cậy được.
- Ba hiểu con muốn nói gì. Phải con muốn nói rằng chúng là hạng bạn bè mà một người lương thiện có thể lựa để giao du, hạng bạn bè ngay thẳng, siêng năng và tôn trọng pháp luật, phải vậy không?
Thôi ông già ơi, ông để yên nó. Ông dắt nó tới xa như vậy rồi thình lình ông nhẩy bổ vào nó, đập nó. Nó đương bực tức ngó ông kìa, rồi nó sẽ không thèm trả lời ông cho mà coi.
- Nói đi con, chúng phải là hạng bạn bè như vậy không?
Đứa con làm thinh.
- Và bây giờ chúng bỏ mặc một mình con hả?
Làm thinh một chút rồi đứa con đáp:
- Bây giờ con thấy vậy.
- Và trước kia không thấy?
Nó miễn cưỡng đáp:
- Trước kia con đã thấy.
Ông già muốn hỏi nó: “ Thế tại sao con vẫn giao du với nó? ” nhưng thấy nó rưng rưng nước mắt, ông thương hại nó và nén được, không hỏi nó nữa. Ông nắm lấy bàn tay của con, và lần này bàn tay nó không hoàn toàn vo sinh khí nữa, nên ông vui vẻ nắm chặt.
- Can đảm lên con. Đừng quên rằng có luật sư biện hộ cho con. Nhưng con chỉ được kể với luật sư đúng sự thực thôi.
- Thưa cha, con sẽ chỉ kể đúng sự thực thôi.
Nó mở miệng muốn nói thêm câu gì, rồi lại thôi không nói.
- Con đừng sợ, muốn nói gì muốn nói.
- Ba, ông ấy phải tới sớm sớm mới được.
Nó ngó ra cửa sổ và nước mắt nó lại rưng rưng. Nó rán làm bộ thản nhiên nói:
- Nếu không thì quá trễ.
- Con đừng lo. Ông ấy sẽ tới ngay. Con muốn ba đi hỏi ngay bây giờ xem bao giờ thì ông ấy tới không?
- Vâng, ba đi ngay đi ngay bây giờ đi.
- Và cha Vincent sẽ tới đây thăm con để con thú tội, xá tội cho con và cải hoá con.
- Dạ.
- Còn hôn lễ, nếu có thể làm được thì sẽ làm. Và thiếu nữ đó ba quên chưa nói - hiện ở với ba, tại Sophiatown. Ba sẽ đưa nó về Ndotsheni cho nó sanh đẻ ở quê nhà.
- Dạ.
- Bây giờ con có thể viết thư cho má con được.
- Thưa ba con sẽ viết.
- Và chùi nước mắt đi.
Đứa con đứng dậy, đỡ chiếc khăn ba nó đưa cho nó và chùi nước mắt. Hai cha con xiết tay nhau và bây giờ đã có chút sinh khí trong tay đứa con. Người coi khám bảo nó:
- Anh ở lại đây, có một vị luật sư vô thăm anh. Còn ông già thì ông phải ra.
Kumalo bước ra, tới cửa gặp một người da trắng đứng đó, muốn vô. Ông này cao lớn, nghiêm nghị, có vẻ như một người quen biện hộ cho những vụ quan trọng; người coi khám biết ông ta, tỏ vẻ kính trọng ông ta lắm. Ông ta có vẻ quen biện hộ cho những vụ quan trọng, quan trọng gấp mấy lần cái vụ một thanh niên da đen giết người này; ông ta chững chạc bước vô phòng, điệu bộ như một ông chủ.
 
 
Kumalo trở về hội Truyền giáo uống trà với cha Vincent. Vừa xong buổi trà thì có người gõ cửa và ông cao lớn nghiêm nghị lúc nãy bước vô. Cha Vincent cũng kính trọng ông ta, gọi ông ta là ngài hoặc ông Carmichael. Cha Vincent giới thiệu Kumalo với ông ta và ông Carmichael bắt tay Kumalo, gọi là ông Kumalo, khác lệ thường (1). Họ lại uống trà nữa và bàn bạc về vụ đó.
Ông Carmichael bảo:
- Ông Kumalo, tôi sẽ lo vụ đó cho ông. Tôi sẽ lo vụ đó Pro deo như người ta nói. Vụ đó giản dị vì thanh niên đó ngay thẳng, khai rằng đã nổ súng vì sợ chứ không có ý muốn giết người. Và cái đó sẽ hoàn toàn tuỳ thuộc ông chánh thẩm và các ông phụ thẩm, vì tôi nghĩ chúng ta chỉ nên để các vị ấy quyết đoán chứ không đòi có thêm phụ thẩm nhân dân (2). Còn về hai đứa kia thì tôi không biết nói sao. Ông Kumalo, tôi hay tin rằng em ông đã mướn một luật sư khác cho họ, mà quả thực, tôi không thể biện hộ cho họ được vì theo chỗ tôi biết, họ sẽ cãi rằng họ không có mặt lúc đó và con trai ông vì những lý do riêng, kiếm cách làm cho họ liên lụy vào vụ đó. Điều đó Pháp viện sẽ phán đoán là đúng hay sai, nhưng ý kiến của tôi là con trai ông nói đúng sự thực, nó có lý do gì để làm hại hai đứa kia đâu. Nhiệm vụ của tôi là thuyết phục cho Pháp viện tin rằng con ông đã nói tất cả sự thật, cả khi nó khai rằng vì sợ nên nổ súng thì nó cũng nói tất cả sự thực nữa. Như vậy, dĩ nhiên là tôi không thể hiện biện hộ cho hai đứa kia, đã bảo rằng con ông nói dối. Như vậy minh bạch chưa ông Kumalo.
- Dạ, minh bạch.
- Bây giờ tôi cần biết tất cả các chi tiết về con ông, ông Kumalo; nó sanh năm nào, ở đâu, hồi nhỏ tình nết nó ra sao, có dễ bảo, thành thật không? Nó rời gia đình hồi nào và tại sao, từ hồi lại Johannesburg này nó làm gì? Ông hiểu tôi chứ?
- Thưa ngài, hiểu.
- Tôi muốn có những chi tiết càng sớm cáng tốt, ông Kumalo, vì có thể phiên toà sau sẽ đem ra xử. Ông phải điều tra cho đúng nó đã làm gì, không phải chỉ hỏi nó mà thôi, cần phải hỏi thêm các người khác nữa. ông phải dùng lời người này để kiểm soát lời người khác, ông hiểu chứ, và nếu có những chỗ khác nhau thì cứ kể hết cả ra. Về phía tôi, tôi cũng sẽ điều tra như vậy.
- Thưa hiểu.
- Và bây giờ, cha Vincent, chúng ta có thể cùng nhau bàn về việc trường học ấy chứ?
- Tôi xin sẵn sàng. Ông Kumalo ông thứ lỗi cho chúng tôi nhé.
Ông ta tiễn Kumalo ra khỏi cửa, khép cửa lại rồi nói:
- Ông nên cảm ơn Thượng Đế vì đã được ông ấy giúp cho. Ông ấy là một người rất có danh vọng, một trong mấy vị luật sư nổi tiếng nhất ở Nam Phi, và là một trong số các bạn quí nhất của dân tộc ông đấy.
- Tôi cảm ơn Thượng Đế và cảm ơn cả cha nữa. Nhưng này, tôi ngại quá thưa cha. Phí tổn bao nhiêu đây? Vì số tiền nhỏ của tôi gần cạn rồi.
- Vậy ông không nhe ông ấy bảo rằng, ông ấy sẽ lo vụ đó Pro deo sao? À, phải ông không hiểu tiếng đó. Nó là tiếng La tinh có nghĩa là vì Thượng Đế. Vậy sẽ chẳng phí tổn gì đâu, hoặc có thì rất ít.
- Ông ấy lo vụ đó vì Thượng Đế ư?
- Ở thời cổ, tín ngưỡng còn mạnh, tiếng đó có ý nghĩa như vậy, bây giờ ý nghĩa đó đã mất nhiều rồi, nhưng nó vẫn có ý nghĩa rằng ông ấy sẽ không lấy tiền công.
Kumalo lắp bắp:
- Tôi chưa thấy ai nhân từ tới mức đó.
Ông quay mặt đi, vì mấy bữa nay ông mau nước mắt lắm. Cha Vincent mỉm cười bảo:
- Thôi ông về mạnh giỏi, tôi trở vô với vị luật sư đã nhận lo cái vụ đó vì Thượng Đế.
 
 
 
1. Vì người da trắng vào hạng luật sư thường coi rẻ người da đen, mặc dầu người da đen là một mục sư.
2. Ở Anh, trong các vụ án đại hình, có thêm đoàn phụ thẩm này, gồm 12 người được tuyển lựa và tuyên thệ. Nếu bị cáo nhận tôi thì đoàn đó không phải họp.
 
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-11-16 04:52:04ĐạoCấy>
16.
 
 
Một con đường cái đẹp đẽ đưa từ Ixopo vào miền đồi núi. Đồi miền này nhấp nhô, cỏ xanh mướt, đẹp không sao tả xiết. Con đường tiến vào đó, leo mười hai cây số tới Carisbrooke; và ở đây khi nào không có sương mù, nhìn xuống dưới chân người ta có thể thấy một trong những thung lũng đẹp nhất của châu Phi. Bốn bề là cỏ và phượng vĩ, văng vẳng tiếng kêu khắc khoải của con titihoya, một loài chim của miền đồng cỏ. Ở dưới chân là dòng sông Umzimkulu bắt nguồn từ Drakensberg và chảy ra biển; phía bên kia sông, trùng trùng điệp điệp hết đồi này tới đồi khác; và sau những đồi đó là dãy núi Ingdi và Đông Griqualand.
Cỏ tốt và rậm phủ kín mặt đất. Nó giữ nước mưa và sương, nhờ vậy nước mưa và sương thấm xuống đất, thành những dòng suối chảy ra các khe. Cỏ được giữ gìn kỹ lưỡng; ít bò lại ăn và cũng ít có những đám cháy tàn phá nó, làm cho nó chết dụi.
Tại đây ở trên cao, có một thung lũng nhỏ xinh xắn, núp giữa hai ngọn đồi. Có một ngôi nhà, một khu đất cày bằng phẳng; ai cũng khen là một trong những trại đẹp nhất trong miền. Trại đó là trại High Place của ông James Jarvis, ông ta ở tại đó. Nó ngó xuống Ndotsheni và thung lũng lớn Umzimkulu.
 
 
 
Jarvis rầu rĩ nhìn theo lưỡi cày. Mặt trời trưa tháng mười đổ ánh nắng gay gắt xuống thửa ruộng, trên trời không có một đám mây. Mưa, mưa, trông hoài mà không mưa. Những cục đất cày lật lên, chắc nịch, không vỡ và có chỗ lưỡi cày trượt trên mặt đất cứng như sắt. Tới cuối thửa ruộng, nông phu ngừng lại, bò đứng dưới ánh nắng, đổ mồ hôi và thở phì phì.
- Thưa Ummunzana (1) chẳng ích lợi gì đâu.
- Cứ tiếp tục đi, Thomas. Tôi lên ngọn đồi xem ra sao.
- Không thấy gì đâu, Ummunzana. Vì tôi đã lên đó coi rồi.
Jarvis lằm bằm, gọi con chó, rồi đi theo con đường mòn của thổ dân Cafre (2) lên tới đỉnh đồi. Ở trên đó đất không khô cháy vì cỏ được hưởng sương mù, và gió hiu hiu thổi, mặt mày đẫm mồ hôi của ông thấy dễ chịu. Nhưng xuống thấp một chút là cánh đồng cỏ khô cháy, cảnh đồi Ndotsheni đỏ và trơ trụi. Chủ trại ở trên cao bắt đầu lo ngại cảnh hoang tàn đó sẽ gậm lần đất đai từ năm này qua năm khác, hết cây số này tới cây số khác, rồi lên tới đất của họ.
Họ thường bàn tán với nhau vì khi lại thăm nhau, ngồi dưới những mái hiên dài và mát mẻ để uống trà, bắt buộc họ phải nhìn xuống thung lũng và đồi trọi ở dưới chân họ. Một số thợ cấy thợ gặt của họ ở Ndotsheni lên và họ hỏi thăm, biết rằng ở dưới đó thực phẩm mỗi năm mỗi khan dần. Có nhiều đàn bò quá mà đất bị xoi lở, trơ ra! Đất cày lần lần biến thành đất hoang.
Có thể cứu vãn được một chút, nếu dân chúng biết cách ngăn cho đất khỏi bị xoi mòn: xây những bức tường thấp để giữ cho đất khỏi bị nước mưa xối đi, cầy theo đường ngang vòng vòng thân đồi. Nhưng đồi dựng đứng và vài ngọn không hợp với việc cày bừa. Mà bò lại yếu, thành thử cày dọc theo sườn đồi dễ hơn nhiều. Và dân lại thiếu học, không biết chút gì về phương pháp canh tác. Quả thực vấn đề đó nan giải. Có người bảo phải giáo dục thêm cho dân chúng, nhưng một thanh niên có học thì không muốn làm ruộng nữa, mà ra tỉnh kiếm một công việc hợp với sở thích hơn. Thành thử công việc đồng áng để lại cho người già và đàn bà, và khi bọn trai tráng ở mỏ hoặc châu thành về chơi, thì họ chỉ ngồi dưới ánh nắng, uống rượu và chuyện trò không ngớt miệng. Có kẻ bảo dù sao thì cũng không đủ đất đai, có áp dụng những phương pháp canh tác tối tân thì đất cũng không nuôi nổi thổ dân. Nhưng vấn đề đó có nhiều khía cạnh. Vì nếu có nhiều đất hơn mà vẫn không biết giữ gìn, canh tác như hiện nay thì chẳng bao lâu miền này cũng thành đất hoang hết. Với lại đất ở đâu mà có thêm được, mà có thì ai bỏ tiền ra mua? Có người lại đưa ra luận điệu này nữa: nếu họ có thêm đất đai mà nhờ một phép mầu nào đó, họ có thể sống nhờ đất đai được, thì còn ai chịu làm trong các trại của người da trắng nữa? Người ta đã cho phép một người bản xứ có thể về Ndotsheni và lại làm công cho các trại kế cận, tuỳ ý. Lại có một quy ước khác cho phép một người bản xứ nhận một thửa đất của một chủ điền, cất nhà, dắt vợ con lại ở, cấy cày để sinh sống, miễn là người đó và vợ con người đó, mỗi năm phải làm một số công việc nào đó cho chủ điền. Nhưng giải pháp đó cũng không ổn vì một số người đó có con trai con gái bỏ ra tỉnh ở, không bao giờ trở về nữa để giữ đúng hợp đồng, có kẻ làm hư miếng đất cấp cho họ; có kẻ ăn cắp bò hay cừu để mổ thịt; có kẻ biếng nhác chẳng làm gì cả, chủ điền phải đuổi đi, lấy đất đai cho người khác ở mà không biết người mới có hơn người cũ không?.
Jarvis vừa leo lên đồi vừa suy nghĩ về những vấn đề cũ kỹ đó; lên tới đỉnh, ông ngồi xuống một tảng đá, dỡ nón để hưởng gió mát. Cảnh thung lũng lớn Umzimkulu này thật là nhìn không chán mắt. Jarvis ngắm những ngọn đồi xanh, phì nhiêu ở chung quanh của cha để lại, và thung lũng cũng phì nhiêu ở dưới chân, nơi ông cất nhà ở và khai phá. Ông ước ao rằng người con trai duy nhất của ông sẽ nối nghiệp ông. Nhưng con trai ông lại nghĩ khác, muốn thành kỹ sư kia. Ừ, muốn sao tuỳ ý. Con ông cưới một thiếu nữ xinh đẹp, và sanh được hai đứa cháu ngoan mà ngộ. Ông rất đỗi thất vọng khi con ông quyết định rời High Place, nhưng đời nó là của nó, không ai có quyền xen vào đời một người khác.
Từ dưới thung lũng, một chiếc xe hơi leo dốc lên nhà ông. Ông nhận ra là xe của ty cảnh sát Ixopo. Chắc là Binnendyk đi tuần đây, một người Afrikaaner mà như chú ta thì đáng gọi là đàng hoàng lắm. Ixopo bây giờ đầy người Afrikaaner, hồi xưa không có được một người.Tất cả các cảnh sát đều là người Afrikaaner, rồi các nhân viên bưu điện và nhà ga nữa. Dân trong làng hơi mến họ. Nhiều người Afrikaaner cưới các thiếu nữ nói tiếng Anh, khắp trong xứ nơi nào cũng vậy. Hồi xưa chính thân phụ ông đã thề rằng đứa con nào mà cưới người Afrikaaner thì sẽ bị truất phần gia tài, nhưng thời buổi đã khác rồi. Chiến tranh đã làm cho tình trạng thụt lùi một chút. Vì có một số người Afrikaaner tình nguyện nhập ngũ thì có một số khác tuy tán thành chiến tranh chống Đức nhưng nằm nhà, một số nữa trung lập, có nỗi bất bình gì cũng giấu, và có một số có thiện cảm với Đức, nhưng không dại gì mà để lộ ra.
Bà Jarvis ở trong nhà ra đón khách và hai người cảnh sát từ trên xe bước xuống. Một người có vẻ là viên đại uý, tên Van Jaarsveld, rất được dân làng quý mến hồi trẻ chơi Rugby có hạng, cựu chiến binh trong thế chiến thứ nhất, Jarvis cho rằng nhà cầm quyền phải lựa rất kỹ các sĩ quan cảnh sát, để phái tới một miền nói tiếng Anh như miền Ixopo này. Hai người cảnh sát có vẻ như lại kiếm ông vì bà vợ đưa tay chỉ lên ngọn đồi. Ông tính trở xuống nhưng còn ngó thung lũng lớn một chút đã. Không một nơi nào mưa cả, mà cũng không có dấu hiệu gì sắp mưa. Ông gọi con chó rồi đi theo con đường dốc đổ xuống một trong sườn đá. Xuống được nửa chừng dốc, tới một bình nguyên nhỏ, ông thấy Van Jaarsveld và Binnendyk đương leo dốc lên kiếm ông, còn chiếc xe thì họ lái trên con đường mòn lởm chởm, rồi cho ngừng lại ở mép khu ruộng đương cày. Họ cũng nhìn thấy ông, ông đưa tay vẫy, rồi ngồi xuống một phiến đá để đợi họ. Binnendyk ở lại sau, để một mình viên đại uý tiến lên phía ông.
- Sao, đại uý có đem mưa lại cho chúng tôi không?
Viên đại uý ngừng lại, quay lại ngó về phía thung lũng và dãy núi ở xa.
- Thưa ông, tôi không thấy có đám mây nào cả.
- Tôi cũng vậy. Hôm nay có việc gì mà ông lại kiếm tôi đây?
Hai người bắt tay nhau, viên đại uý nhìn ông.
- Ông Jarvis à!
- Chi vậy?
- Tôi báo tin buồn cho ông.
- Tin buồn?
Jarvis ngồi xuống tim đập mạnh.
- Tin về con tôi hả?
- Dạ.
- Nó chết rồi ư?
- Dạ.
Viên đại uý ngưng một chút rồi nói tiếp:
- Bị một phát súng lục, mất hồi một giờ rưỡi trưa hôm nay ở Johannesburg.
Jarvis đứng dậy, miệng run run hỏi:
- Bị một phát súng lục? Ai bắn?
- Ngờ là một tên trộm bản xứ. Ông biết rằng mợ ấy đi vắng chứ?
- Tôi biết.
- Cậu ấy hơi mệt, nên ngủ ở nhà. Tôi đoán rằng tên bản xứ đó tưởng trong nhà không có ai. Hình như cậu ấy nghe thấy tiếng động, xuống coi xem có cái gì. Tên bản xứ bắn một phát, chết liền. Không thấy có dấu vết gì chứng tỏ có cuộc vật lộn.
- Trời ơi!
- Thưa ông, tôi thật đau lòng. Đau lòng rằng lại phải báo tin đó cho ông.
Viên đại uý đưa tay ra, nhưng Jarvis lại ngồi xuống phiến đá, nên không thấy đại uý đưa tay.
- Trời ơi!
Van Jaarsveld đứng yên, trong khi ông già rán nén nỗi khổ tâm.
- Đại uý không cho nhà tôi hay đấy chứ?
- Thưa không.
Jarvis cau mày, nghĩ tới cái việc phải cho vợ hay đó nữa. Ông bảo:
- Nhà tôi không được mạnh. Tôi không biết rồi làm sao chịu nổi tin đó.
- Thưa ông, tôi được lệnh trên bảo phải tận lực giúp đỡ ông mọi việc. Bynnendyk sẽ lái xe đưa ông lại Pietermaritzburg nếu ông muốn. Ông có thể đón chiếc xe tốc hành chạy chín giờ tối và mười một giờ trưa mai tới Johannesburg. Có một toa dành riêng cho ông bà.
- Đại uý thật tốt bụng.
- Thưa ông, ông muốn gì tôi cũng xin tuân ý.
- Mấy giờ rồi.
- Ba giờ rưỡi.
- Cách đây hai giờ.
- Dạ.
- Cách đây hai giờ thì nó vẫn còn sống.
- Dạ.
- Trời ơi.
- Nếu ông muốn đi xe lửa, thì phải đi từ sáu giờ. Hoặc nếu ông muốn thì có thể đi máy bay. Hiện có một chiếc máy bay đợi ông ở Pietermaritzburg. Nhưng phải báo trước cho họ hồi bốn giờ. Đi máy bay thì nửa đêm ông sẽ tới Johannesburg.
- Phải, phải. Lúc này tôi không suy nghĩ gì được cả.
- Dạ, tôi hiểu ạ.
- Đi cách nào hơn?
- Thưa ông, theo ý tôi, đi máy bay hơn.
- Được, vậy chúng tôi sẽ đi máy bay. Ông bảo phải báo trước cho họ ư?
- Khi chúng ta trở xuống nhà ông tôi sẽ báo liền cho họ. Tôi có thể nào kêu điện thoại mà bà nhà không nghe được không? Phải làm gấp đi.
- Được, được. Ông có thể kêu điện thoại mà nhà tôi không nghe thấy được.
- Thôi, chúng mình phải đi về ngay thôi.
Nhưng ông Jarvis vẫn ngồi yên không nhúc nhích.
- Ông Jarvis, ông đứng dậy được không? Tôi muốn đỡ ông dậy. Bà nhà đương ngó chúng ta.
- Đại uý, nhà tôi chắc đương tự hỏi có chuyện gì đây. Dù ở xa như vậy, nhà tôi cũng cảm thấy có cái gì bất thường.
- Có thể như vậy lắm. Chắc bà nhà đã nhận thấy có cái gì trên nét mặt tôi, mặc dầu tôi đã rán không để lộ ra.
Jarvis đứng dậy.
- Trời, lại có cái việc đó nữa.
Họ xuống con đường dốc, Binnendyk đi trước. Jarvis đi như một người ngây dại, mất hồn. Bầu trời không gợn mây thế kia, mà những việc như vậy xảy ra….
Ông ta hỏi:
- Bắn chết?
- Dạ.
- Bắt được tên bản xứ đó không?
- Thưa chưa.
Nước mắt ông rưng rưng, Răng ông cắn môi. Ông nói:
- Cấn quái gì.
Họ xuống tới chân đồi, gần tới thửa ruộng. Dù mắt mờ vì lệ, ông cũng thấy lưỡi cày lật các cục đất lên, rồi trượt trên mặt đất cứng như sắt. Ông bảo:
- Thôi Thomas. Đại uý à, vợ chồng tôi chỉ có một mình nó.
- Thưa ông, tôi biết ạ.
Họ leo lên xe, và vài phút sau về tới nhà.
- Anh James, có chuyện chi đó.
- Chuyện buồn mình. Vô phòng giấy với anh. Đại uý kêu điện thoại đi. Biết chỗ đấy chứ?
- Thưa biết.
Viên đại uý đi lại chỗ đặt điện thoại. Đường điện thoại này không tự động; ông nghe thấy hai người hàng xóm đương nói chuyện với nhau. Ông bảo:
- Xin các ông móc lại đi. Ty cảnh sát, có chuyện gấp. Xin móc lại đi.
Ông nhấn chuông liên hồi mà không ai đáp. Ông nghĩ thầm chắc có việc kêu đặc biệt về ty cảnh sát, trên các đường điện thoại thôn quê này. Để xem là chuyện gì. Ông nhấn chuông càng dữ dội hơn nữa.
- Địa phương. Cảnh sát Pietermaritzburg. Việc tối khẩn.
Có tiếng đáp:
- Cho bắt tức thì đây.
Ông nóng ruột đợi, nghe thấy những thanh âm kỳ dị, không hiểu là gì.
Có người nói:
- Cho bắt rồi đấy, với cảnh sát Pietermarutzburg.
Ông bèn cho chỉ thị về vụ máy bay. Tay ông sờ soạng ống nghe thứ nhì, đưa lên tai để khỏi nghe tiếng đàn bà gào khóc.
 
 
 
1. Tiếng Zulu, đọc gần như: um-num-dan, chữ a cuối cùng gần như câm. Có nghĩa là: ông, ngài.
2. Tức thổ dân Bantu
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-11-17 12:19:46ĐạoCấy>
17.
 
 
Một thanh niên đứng đón họ ở phi trường.
- Thưa, phải ông bà Jarvis đây không?
- Phải.
- Cháu là John Harrison, em của chị Marry. Chắc hai bác không nhớ ra cháu. Lần cuối cùng hai bác gặp cháu thì cháu bé. Để cháu xách đồ tiếp hai bác. Cháu có đem xe lại rước hai bác.
Vừa đi về phía trạm kiểm soát, thanh niên đó vừa hỏi:
- Cháu chẳng cần thưa hai bác cũng biết rằng, gia đình cháu rất đau khổ về chuyện đó. Cháu chưa thấy ai đáng quý như anh Arthur.
Lên xe rồi, chàng nói tiếp:
- Chị Marry và các cháu đều ở nhà ba má cháu, và xin mời hai bác về đó.
- Marry ra sao?
- Chị cháu xúc động ghê gớm, nhưng rất can đảm.
- Thế còn mấy đứa nhỏ.
- Thưa hai bác, hai cháu khóc lóc thảm thiết và chị Marry phải vỗ về, nhờ vậy mà chị tạm quên được nỗi khổ một lát.
Họ không nói thêm gì nữa. Jarvis nắm lấy bàn tay của vợ và mọi người lặng thinh, mỗi người đeo đuổi những ý nghĩ riêng, cho tới khi xe qua cổng rào một ngôi nhà ngoại ô và ngừng lại trước một cái cửa lớn có đèn sáng. Một thiếu phụ nghe tiếng xe, ở trong nhà bước ra, ôm hôn bà Jarvis, rồi hai người cùng khóc với nhau. Rồi nàng qua lại phía ông Jarvis, hai người ôm nhau. Để họ biểu lộ nỗi niềm với nhau rồi, ông bà Harrison mới cùng nhau bước ra, hai bên chào hỏi nhau rồi mọi người cùng vô nhà.
Ông Harrison quay lại hỏi ông Jarvis:
- Anh uống chút gì nhé.
- Vâng.
- Vậy mời anh vô phòng làm việc của tôi.
Vô phòng rồi Harrison bảo:
- Bây giờ xin anh cứ làm theo ý anh. Có việc gì chúng tôi có thể giúp anh được, xin anh cho hay. Nếu anh muốn lại ngay nhà xác thì cháu John sẽ đưa anh đi. Hoặc anh muốn để sáng mai cũng được. Nhân viên cảnh sát muốn được gặp anh, nhưng đêm nay họ không lại làm phiền anh đâu.
- Anh cho tôi hỏi ý nhà tôi đã. Về chuyện đó, chúng tôi chưa bàn tính gì với nhau cả. Anh cứ ngồi đây, để tôi đi kiếm nhà tôi.
- Vâng, tôi ngồi đây đợi anh.
Jarvis thấy vợ và con dâu nắm tay nhau, rón rén từ phòng hai đứa cháu nội bước ra, vì chúng đương ngủ. Ông nói chuyện với bà và bà lại khóc nữa, nép vào mình ông mà nức nở. Bà muốn đi ngay. Ông trở vô với Harrison, uống nốt ly rượu rồi cùng với vợ và con dâu, lên chiếc xe hơi trong đó John đã ngồi chờ sẵn.
Trong khi xe chạy lại phòng Phẩu nghiệm của ty cảnh sát, John Harrison kể cho Jarvis nghe tất cả những gì chàng biết về án mạng đó. Ty cảnh sát đợi người đầy tớ hồi tỉnh và đã cho lùng xét các đồn điền chung quanh Parkwold Ridge. Chàng cũng nói với ông về bài diễn văn, mà Arthur Jarvis đương viết dở khi bị giết, nhan đề là: “ Sự thật về tình trạng phạm pháp của người bản xứ ”
Ông Jarvis bảo:
- Bác muốn coi bài đó.
- Sáng mai, cháu sẽ đi lấy đưa bác.
- Cậu John, Arthur với bác không đồng ý kiến với nhau về vấn đề dân bản xứ. Đã mấy lần hai cha con hăng hái thảo luận với nhau. Nhưng bác muốn coi xem nói viết gì.
- Thưa bác, ba cháu và cháu cũng vậy, về vấn đề đó ý kiến mỗi người một khác. Bác ạ, ở Nam Phi này không có người nào suy nghĩ sâu sắc về vấn đề đó, và diễn giải được minh bạch như anh Arthur đâu. Anh thường bảo ở Nam Phi, còn có vấn đề nào đáng suy nghĩ sâu sắc và diễn giải minh bạch bằng vấn đề đó.
Họ tới phòng Phẩu nghiệm, Jonh Harrison ngồi lại trên xe, còn ba người kia vô làm cái việc đau khổ không thể tránh được nọ. Họ lặng lẽ bước ra, hai người đàn bà khóc thút thít và mọi người lặng lẽ trở về nhà. Ông Harrison mở cửa đón họ.
- Anh Jarvis, anh uống thêm ly nữa nhé, hay là muốn đi nghỉ?
Ông Jarvis hỏi vợ:
- Em Margaret, mình muốn anh lên cùng với mình không?
- Không, anh ở lại đây một lát nữa đi.
- Vậy mình lên nhé.
- Dạ.
Bà ôm ông hôn, níu lấy ông một lát.
- Cảm ơn anh đã nâng đỡ em.
Nước mắt bà lại trào ra và mắt ông cũng rưng rưng. Ông nhìn vợ cùng với con dâu leo cầu thang và khi cửa phòng của bà khép lại rồi, ông cùng Harrison trở về phòng làm việc.
- Người mẹ bao giờ cũng đau khổ nhất, phải không anh Jarvis?
- Vâng.
Jarvis suy nghĩ một chút về điều đó rồi bảo:
- Tôi yêu cháu Arthur lắm. Chưa bao giờ có điều gì ân hận về cháu cả.
Họ lại ngồi xuống uống rượu và Harrison kể cho thông gia nghe, vụ án mạng đó đã làm xúc động mọi người ở Parkwold, và gia đình ông bà nhận được rất nhiều lời chia buồn:
- Từ mọi nơi, mọi hạng người đều gởi lời chia buồn anh ạ. Nhận tiện đây, tôi cho anh hay, chúng tôi tạm định rằng đám tang sẽ cử hành chiều mai, sẽ làm lễ ở giáo đường Parkwold khoảng ba giờ chiều.
Jarvis gật đầu.
- Cảm ơn anh.
- Chúng tôi còn giữ lại tất cả bức thư chia buồn. Có thư của đức Giám mục, của ngài Thủ tướng, của ngài Thị trưởng và mười mấy người khác nữa. Các tổ chức bản xứ cũng gởi thư chia buồn, có một tổ chức tên Con gái Phi Châu và vô số tổ chức khác nữa, tôi nhớ không hết. Rồi còn các người lai, các người Ấn Độ và Do Thái nữa chứ.
Một niềm hãnh diện buồn thảm dâng lên trong lòng Jarvis.
-  Cháu nó thông minh, nhờ di truyền của má nó.
- Quả thực là thông minh. Cháu John vẫn phục cậu ấy. Mà được đủ mọi hạng người yêu quý nhé. Anh biết không, nói tiếng Afrikaans y như người Afrikaaner vậy.
- Tôi nghe nói cháu có học ngôn ngữ đó.
- Tôi chẳng biết chút gì về cái thổ ngữ đó cả, mà tôi cũng chẳng muốn biết. Nhưng cậu ấy bảo cần phải biết mới được, thế là bắt đầu học và vô ở trại ruộng của một người Afrikaaner. Cậu ấy nói được tiếng Zulu, điều đó anh đã rõ, mà còn tính học thêm tiếng Sesuto nữa. Anh biết dân bản xứ có đại biểu ở Quốc hội, nghe đâu như cuộc bầu cử tới, người ta mời cậu ấy ra ứng cử đấy.
- Tôi không hay đấy.
- Ngày nào cậu ấy cũng diễn thuyết, hết chỗ này tới chỗ khác. Anh biết những vấn đề đó chứ: vấn đề phạm pháp của người bản xứ, tình trạng thiếu trường học cho người bản xứ…. Cậu ấy làm rùm beng trên báo chí, về tình trạng trong dưỡng đường cho các bệnh nhân không phải gốc Âu. Cậu ấy còn bất bình về chính sách giam các phu mỏ bản xứ trong trại lao động. Và đòi toàn thể Quốc hội biểu quyết cho một đạo luật cho vợ con phu mỏ được ở với chồng, cha trong mỏ.
Jarvis vừa chậm rãi nhồi thuốc vào ống điếu, vừa nghe Harrison kể những chuyện đó về con mình mà từ trước ông có biết gì đâu, y như chuyện của một người xa lạ vậy.
Harrison nói:
- Ông Hathaway ở hội mỏ đã kể hết cho tôi nghe, lại yêu cầu tôi khuyên cậu ấy nên có giọng bớt hăng đi một chút, vì hãng của cậu ấy thầu nhiều việc cho mỏ lắm. Và tôi đã nói với cậu ấy, tôi bảo rằng tôi biết cậu ấy nhiệt tâm với các vấn đề đó lắm, nhưng nên từ từ một chút, đừng hấp tấp quá. Phải nghĩ tới vợ và con chứ. Tôi không hề nói thay cho Marry, anh hiểu tôi chứ? Tôi không muốn xen vào việc của vợ chồng cậu ấy.
- Tôi hiểu.
- Cậu ấy đáp rằng đã có bàn với Marry rồi, và hai vợ chồng đồng ý với nhau: cái việc vạch thực sự ra còn quan trọng hơn cái việc kiếm tiềm.
Harrison kể lại như vậy rồi cười. Sau ông nín bặt nhớ lại cảnh buồn thảm trong nhà. Ông bảo:
- Thằng John của tôi cũng có mặt lúc đó, và nó coi Arthur như đức Thượng Đế chí tôn vậy. Như vậy, tôi còn biết nói gì nữa?
Hai người yên lặng hút thuốc một lát. Harrison nói tiếp:
- Tôi có hỏi cậu ấy, các người hùn vốn với cậu ấy nghĩ sao? Vì dù sao, công việc của họ là bán máy móc cho mỏ mà. Cậu ấy đáp: Con đã đem ra bàn với các người hùn vốn, và bảo họ rằng nếu hành động của con gây khó khăn gì cho họ thì con sẽ rút vốn cổ phần ra. Tôi hỏi: Nếu rút vốn cổ phần ra rồi thì làm gì? Cậu ấy đáp: Có việc gì mà con không làm được? Coi nét mặt cậu ấy hăng hái quá. Anh nghĩ coi, tôi còn biết nói thêm gì nữa.
Jarvis không đáp. Vì người con đó của ông như con vịt xa đàn lội tới những dòng nước xa lạ cha mẹ không hay. Có thể rằng vợ ông biết đấy. Nhưng thực vậy thì ông không thấy gì làm lạ. Nhưng riêng ông thì chưa khi nào tiến xa như vậy, nên ông không biết nói gì cả.
- Tôi có làm anh chán và mệt không, anh Jarvis? Chắc anh muốn nghe những chuyện khác? Hoặc muốn đi nghỉ?
- Trái lại, xin anh cứ kể.
- Chuyện chỉ có vậy thôi. Cậu ấy và tôi ít khi nói với nhau về những việc đó. Không phải là khu vực sở trường của tôi. Tôi rán cư xử đàng hoàng với dân bản xứ, nhưng nỗi khốn khổ của họ không làm cho tôi mất ăn mất ngủ. Nói thực ra thì những tội ác đó làm cho tôi phẫn nộ. Anh Jarvis này, anh biết không, lúc này ở Johannesburg làm cho chúng tôi kinh hoảng.
- Vì tụi giết người ư?
- Phải, vì tụi sát nhân bản xứ. Có quá nhiều vụ ám sát, trộm cướp, hành hung. Tôi nói thực với anh, đêm phải cài cửa thật kỹ rồi mới dám đi ngủ….Cách đây ba nhà, một tụi côn đồ đã ùa vô nhà ông Phillipson, đập ông già đó chết ngất rồi hành hung bà vợ nữa. May thay mấy cô con gái, đêm đó đi dự một cuộc khiêu vũ, nếu ở nhà thì có Trời biết được việc gì xảy ra. Tôi có hỏi cậu Arthur nghĩ sao về vụ đó, cậu bảo dù sao chúng ta cũng đáng trách. Tôi không thể nói rằng, tôi luôn luôn hiểu được ý kiến, lý luận của cậu ấy, nhưng cậu ấy có vẻ thành thực. Tôi có cảm tưởng rằng nếu có thời giờ thảo luận, thì có thể thấy cậu ấy có lý ở một điểm nào đó.
Jarvis nói:
- Có một điều tôi không sao hiểu nổi, là tại sao cái đó lại xảy ra chứ?
- Anh muốn nói…sao không xảy ra cho một người nào khác mà lại xảy ra cho chính cậu ấy?
- Vâng.
- Đó chính là một trong những điều chúng tôi tự hỏi trước hết. Cậu ấy ngày này qua ngày khác, chỉ lo thực hiện một thứ sứ mạng nào đó. Mà rồi bị chúng giết.
Jarvis bỗng nghĩ ra, bảo:
- Anh nhận thấy rằng từ hồi nào vẫn xảy ra như vậy. Tôi muốn nói: bao nhiêu nhà truyền giáo đã bị giết rồi đấy.
Harrison không đáp và hai người lặng thinh hút thuốc. Jarvis nghĩ bụng: Một nhà truyền giáo. Gọi con ông là một nhà truyền giáo, ông thấy có vẻ kỳ cục. Từ trước ông vốn không ưa các nhà truyền giáo. Đành rằng Giáo hội trong các nhà đó, tổ chức các cuộc quyên tiền để giúp họ và lần nào ông cũng quyên, nhưng quyên thì quyên, chứ không tin mấy vào công việc truyền giáo. Ở Ndotsheni có một hội Truyền giáo ở gần nhà ông, nhớ lại thấy cảnh thật buồn thảm: một giáo đường nhỏ, cũ kỹ, bẩn thỉu, cất bằng ván và tôn ráp nối, có vẻ như bỏ hoang, có một ông mục sư già nua bẩn thỉu, ở trong một thung lũng hoang tàn lơ thơ mấy ngọn cỏ úa. Có một trường học cũng cũ kỹ, bẩn thỉu, trẻ con lại đó đọc bài như vẹt, đôi khi tình cờ cưỡi ngựa đi ngang qua, ông nghe chúng đọc những câu mà chúng không hiểu nổi.
- Anh Jarvis, anh muốn đi nghỉ chưa? Hay muốn uống thêm một ly nữa?
- Tôi muốn đi nghỉ thôi. Anh bảo sáng mai nhân viên ty cảnh sát sẽ tới hả?
- Vâng, chín giờ sáng.
- Tôi muốn lại coi nhà cháu.
- Tôi cũng nghĩ vậy. Ngày mai chúng tôi sẽ đưa anh đi.
- Vậy, bây giờ tôi đi nghỉ. Anh cho tôi gởi lời chúc chị an giấc nhé.
- Vâng. Anh biết phòng của anh ở đâu không? Và nhớ giờ điểm tâm: tám rưỡi nhé.
- Vâng, tám giờ rưỡi. Chúc anh an giấc. Và cảm ơn anh đã ân cần với chúng tôi.
- Có gì mà ơn với huệ, anh. Có giúp được anh bao nhiêu đi nữa cũng chẳng đáng kể. Chào anh, tôi mong rằng anh chị sẽ ngủ được.
Jarvis leo cầu thang lên phòng, rón rén bước vô khép cửa lại mà không bật đèn. Ánh trăng chiếu qua cửa sổ, ông đứng lại nhìn ra ngoài trời đất và tất cả những điều ông nghe được buổi tối đó lặng lẽ hiện ra trong óc. Bà vợ trở mình trên giường gọi.
- Anh James.
- Em.
- Anh nghĩ gì đó?
Ông làm thinh tìm câu trả lời.
- Nghĩ về tất cả chuyện đó.
- Em cứ tưởng anh không lên đây nữa chứ?
Ông vội vàng lại gần vợ, nắm lấy bàn tay bà.
- Bọn anh nói chuyện về con. Nói về tất cả những chuyện nó đã làm và rán làm. Về tất cả các người buồn rầu về tin đó.
- Anh kể lại cho em nghe đi.
Và ông nói nho nhỏ, kể lại hết những điều ông đã nghe. Bà hơi ngạc nhiên vì tính ông vốn ít nói, chưa bao giờ ông nói nhiều như hôm nay. Đêm nay ông kể hết cho bà nghe, những điều ông Harrison đã nói với ông.
Bà thủ thỉ:
- Em lấy làm hãnh diện về con.
- Nhưng từ trước em vẫn biết rõ nó như vậy mà.
- Vâng em biết.
- Anh cũng biết nó là người đàng hoàng. Nhưng em vẫn gần nó hơn anh.
- Mẹ bao giờ cũng dễ gần con hơn.
- Anh cũng nghĩ vậy. Nhưng bây giờ anh ân hận rằng trước kia không được biết rõ nó hơn. Em thấy đấy, tất cả những vấn đề nó lưu tâm tới đó, có bao giờ anh nghĩ đến đâu.
- Em cũng vậy anh ạ. Đời sống của con khác hẳn với đời sống chúng mình.
- Đời sống đó đẹp về mọi mặt.
Ông ngồi mà bà nằm, hai người lặng thinh, mỗi người có những ý nghĩ riêng, hồi ký riêng, nỗi buồn riêng.
Ông nói tiếp:
- Đời của con khác hẳn đời chúng mình, mà trước kia em cũng hiểu được.
- Vâng.
- Còn anh, anh ân hận rằng trước kia anh không hiểu được.
Rồi ông nói thêm giọng rất nhỏ:
- Trườc kia anh không ngờ rằng hiểu đời con là điều quan trọng tới bực đó.
- Mình ơi, mình…
Bà ôm lấy người ông mà khóc.
Ông vẫn nói rất nhỏ:
- Có một điều anh không hiểu nổi là tại sao, chính nó lại bị như vậy…
Bà nằm suy nghĩ về lời ông mới nói, nỗi đau khổ của bà thật là đứt ruột, không sao chống lại được. Bà ôm lấy ông, chặt hơn nữa, bảo:
- Thôi, rán ngủ đi anh James…
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-11-18 11:18:45ĐạoCấy>
CUỐN HAI.
 
 
 
1.
 
 
Jarvis ngồi trên chiếc ghế bành của con, còn bà vợ và nàng dâu trở về nhà ông bà Harrison. Sách, sách, và sách nữa, chưa thấy nhà nào có nhiều sách như vậy. Trên bàn la liệt giấy tờ, thư từ và sách nữa.
“ Thưa ông Jarvis, xin mời ông lại diễn thuyết tại Giám lý hội (1) Parkwold”
“ Thưa ông Jarvis, chúng tôi lấy làm hân hạnh được ông lại diễn thuyết ở câu lạc bộ Thanh niên Anglican Sophiatown”
“Thưa ông Jarvis, xin mời ông quá bộ lại tham dự cuộc thảo luận ở Đại học….”
Không ông Jarvis không thể lại diễn thuyết ở một nơi nào cả.
“ Thưa ông Jarvis, chúng tôi hân hạnh mời ông lại dự buổi họp hàng năm của hội Ki Tô và Do Thái…”.
“Ông bà H.B. Singh hân hạnh mời ông bà Jarvis lại dự tiệc cưới con gái đầu lòng của chúng tôi, cô Sarajini”
“ Xin mời ông bà Jarvis quá bộ lại dự dạ hội Toc. H ở thung lũng Van Wyk, cho buổi dạ hội được thêm long trọng…”
Không ông Jarvis không thể nhận những lời nhã nhặn đó được.
Trên tường bên cạnh các tủ sách, treo ba tấm hình: hình Chúa Ki Tô trên thánh giá, hình Abraham Lincoln, hình ngôi nhà trắng ở Vergelegen và bức tranh vẽ một phong cảnh đồng cỏ mùa đông, lơ thơ mấy gốc liễu trụi lá bên dòng nước.
Ông Jarvis đứng dậy bước lại nhìn các tủ sách. Riêng về Abraham Lincoln đã có mấy trăm cuốn. Một người mà sao có thể làm đề tài cho bấy nhiêu tác phẩm, chứa đầy một tủ sách. Một tủ nữa chứa các sách về Nam Phi: cuốn Tiểu sử Rhodes của Sarah Gertrude Millin, cuốn về Smuts cũng của nữ văn sĩ đó, cuốn Tiểu sử Louis Botha của Engelenburg, rồi các sách nghiên cứu về các vấn đề chủng tộc, về loài chim Nam Phi, về Kruger Park và vô số các sách khác nữa. Một tủ thứ ba đầy những sách viết bằng tiếng Afrikaans, nhưng đọc nhan đề ông chẳng hiểu gì cả. Rồi đây nữa sách về tôn giáo, về Nga Sô, về vấn đề phạm pháp, về tội nhân, có cả những tập thi tuyển nữa. Ông kiếm Shakespeare. Có cả Shakespeare.
Ông trở về ngồi ở chiếc ghế bành, ngắm nghía hồi lâu bức hình Chúa Ki Tô trên thánh giá, hình Abraham Lincoln, hình ngôi nhà Vergelegen và tấm tranh vẽ cành liễu bên dòng nước. Rồi ông kéo mấy tờ giấy lại gần.
Tờ thứ nhất là một bức thư của người thư ký câu lạc bộ Thanh niên Phi ở Claremont, đường Gladiolus gởi cho con ông, tỏ ý tiếc rằng con ông không lại dự buổi hội họp hằng năm được, và báo tin rằng con ông lại được bầu làm Hội trưởng một khoá nữa. Cuối thư có đoạn cú pháp kỳ cục này:
“ Cuộc họp hằng năm giao cho tôi cái việc mừng ông về điều đó, và đa tạ ông rất nhiều về tất cả thời gian ông đã hội họp với chúng tôi, về các vật mà ông đã tặng cho Hội. Nếu không có ông dự thì Hội này làm sao mà tổ chức được, đó là điều bí mật mà đa số chúng tôi không hiểu. Vì vậy chúng tôi nhất định bầu ông làm Hội trưởng một khoá nữa.
Tôi xin lỗi ông vì dùng tờ giấy này, nhưng xấp giấy viết thư của Hội chúng ta đã bị mất rồi do những hoàn cảnh bất ngờ.
Tôi xin trân trọng chào ông.
Washington Lefifi ” (2)
Còn tờ giấy kia có nét chữ của con ông. Chắc là những đoạn trong một bài hoặc một cuốn nào đó, vì hàng đầu là cuối một câu và hàng cuối là một câu còn dở dang chưa hết. Ông tìm không thấy những trang còn thiếu, bèn đọc những trang đó vậy:
“ Có thể chấp nhận được. Việc mà chúng ta  đã làm khi tới Nam Phi có thể chấp nhận được. Phát triển những nguồn lợi lao của ta nhờ nhân công tại đó, là điều hồi xưa có thể chấp nhận được. Dùng những người không chuyên môn vào một công việc không chuyên môn là điều hồi xưa có thể chấp nhận được. Nhưng lấy cớ là những việc không chuyên môn, mà không đào tạo những thợ chuyên môn thì là điều không chấp nhận được.
“ Khi chúng ta tìm thấy mỏ vàng, phải kiếm nhân công cho mỏ, đó là điều chấp nhận được. Lúc đó lập trại cho thợ mỏ, bắt vợ con họ phải ở xa châu thành, là điều có thể chấp nhận được. Chấp nhận được vì hồi đó chúng ta chưa biết gì cả và chúng ta còn thí nghiệm. Nhưng ngày nay chúng ta đã hiểu biết rồi thì điều đó không thể chấp nhận được nữa. Khi chúng ta biết rằng như vậy, là làm gia đình họ tan tành, mà chúng ta vẫn tiếp tục làm thì điều đó không sao chấp nhận được.
“ Nếu có sự thoả thuận của thợ thuyền, thì sự khai thác tài nguyên là điều chấp nhận được. Nhưng khai thác mà làm hại cho thợ thuyền, thì là điều không thể chấp nhận được. Không thể chấp nhận được cái việc đào vàng, chế tạo sản phẩm, hoặc cấy cầy ruộng đất, nếu việc khai thác, chế tạo, trồng trọt đó cần có một chính sách duy trì cảnh khốn khổ của thợ thuyền. Không thể chấp nhận được sự gia tăng tài sản của một số người, nếu họ chỉ có thể làm giầu trên lưng người khác. Sự thực chỉ có một danh từ để gọi các hành động ấy, danh từ “ bóc lột ”. Cái đó có thể chấp nhận được hồi chúng ta mới tới xứ này, vì lúc đó chúng ta không thể lường được, sự bóc lột đó đã làm cho đời sống cộng đồng của dân bản xứ tan nát ra sao, đời sống gia đình của dân bản xứ trụy lạc ra sao, họ hoá ra nghèo khổ, hà tiện ra sao, gây tội lỗi ra sao. Nhưng bây giờ chúng ta đã thấy những tai hại đó rồi, thì việc đó không thể chấp nhận được nữa.
“ Hồi xưa có thể chấp nhận được cái việc bỏ thí sự giáo dục cho dân bản xứ, cho ai muốn cáng đáng thì cáng đáng. Nghi ngờ sự ích lợi của việc giáo dục dân bản xứ, là điều hồi xưa có thể chấp nhận được. Nhưng ngày nay đã có kinh nghiệm rồi thì điều đó không chấp nhận được nữa. Một phần do sự phát triển kỹ nghệ của ta, một phần do những nguyên nhân ngoài ý muốn của ta, hiện nay số dân bản xứ ở các thành thị đã rất đông. Xã hội thời nào cũng vì cái lợi của xã hội, nếu không phải vì những lý do khác. Lo việc giáo dục con em để dạy cho chúng biết trọng pháp luật, có những mục đích hợp với đời sống xã hội. Phải dùng cách đó chứ không cách nào khác. Vậy mà chúng ta vẫn để mặc, vài người Âu lưu tâm tới vấn đề muốn dạy dỗ dân bản xứ ở thành thị ra sao tuỳ ý, mà không giúp họ tiền và phương tiện để họ phát triển công việc của họ, cái đó không thể chấp nhận được. Vả lại, chỉ xét riêng về cái lợi của xã hội thì chính sách đó còn nguy hại là khác.
“ Hồi xưa, việc tiêu diệt một bộ lạc, nó làm cản trở sự phát triển của xứ này, là điều có thể chấp nhận được, tin rằng sự tiêu diệt đó không sao tránh được là điều lúc đó có thể chấp nhận được. Nhưng ngày nay, thản nhiên nhìn một sự tiêu diệt như vậy, mà không kiếm cách thay thế nó bằng một cái gì khác, hoặc chỉ thay thế một chút thôi, để đến nỗi cả một dân tộc bị hủy hoại về thể chất và tinh thần, là một điều không thể chấp nhận được.
“ Chế độ bộ lạc cổ truyền mặc dầu tàn nhẫn, dã man, mặc dầu có nhiều mê tín dị đoan, pháp thuật, cũng vẫn là một chế độ luân lý. Dân bản xứ chúng ta thời nay thành những kẻ phạm pháp, mãi dâm, nghiện rượu, không phải vì bản tính của họ như vậy, mà vì các chế độ trật tự chất phác, cái hệ thống tập tục, truyền thống của họ đã bị hủy hoại. Vậy xã hội văn mình của chúng ta, không thể trốn tránh được cái bổn phận thành lập cho họ một chế độ trật tự với những tập tục, truyền thống khác.
“Đành rằng thời trước chúng ta hy vọng rằng dùng một chính sách chia cách chủng tộc, thì điều đó có thể duy trì chế độ bộ lạc. Điều đó hồi xưa có thể chấp nhận được. Nhưng chúng ta chưa bao giờ theo chính sách đó một cách đúng đắn hoặc thành tâm. Chúng ta để ra một phần mười đất đai cho bốn phần năm dân số. Như vậy chúng ta làm cho – có người bảo rằng chúng ta cố ý làm cho – nhân công bản xứ nhất định phải đổ dồn về các châu thành. Thế là chúng ta phải chịu hậu quả của tính ích kỷ của chúng ta.
“ Không nên làm cho vấn đề có vẻ kém quan trọng đi. Không nên gây cảm tưởng rằng giải quyết vấn đề đó là việc dễ. Không nên coi thường những nỗi lo lắng, sợ sệt nó bao vây chúng ta. Nhưng dù chúng ta lo lắng, sợ sệt hay không thì chúng ta cũng không được trốn tránh vấn đề luân lý, vì chúng ta những người theo Ki Tô giáo.
“Đã tới lúc….”
Tới đó hết trang, Jarvis đương say mê đọc, kiếm đoạn tiếp nhưng coi hết các tờ giấy bừa bãi trên bàn, mà không thấy được thêm trang nào nữa. Ông đốt thuốc, kéo mấy tờ giấy lại gần mình và đọc lại.
Khi đã đọc xong lần thứ nhì, ông vẫn tiếp tục hút thuốc, trầm ngâm suy tư. Rồi ông đứng dậy, lại đứng trước tủ chứa sách về Lincoln, ngó lên bức hình của bậc vĩ nhân đã ảnh hưởng lớn tới con ông như vậy. Ông nhìn qua nhan đề mấy trăm cuốn sách, đẩy miếng kính qua một bên, lấy ra một cuốn. Rồi ông trở về ngồi ở ghế bành, lật trang sách. Tới một chương nhan đề: Bài diễn văn nổi tiếng ở Gettysburg, một diễn văn mới đầu không ai để ý tới, rồi sau được coi là một trong những diễn văn quan trọng nhất của thế giới. Ông lật mấy trang mở đầu, tới bài diễn văn, rồi chăm chú đọc từ hàng đầu tới hàng cuối. Đọc xong ông lại hút thuốc, suy nghĩ miên man. Được một lát ông đứng dậy, đặt trả cuốn sách vào chỗ cũ, khép tủ lại. Nghĩ sao ông lại mở tủ ra, lấy cuốn sách bỏ vào túi, rồi đẩy tấm kính khép lại. Ông ngó đồng hồ đeo tay, gõ ống điếu vào lò sưởi để trút hết tàn thuốc, đội nón, cầm lấy chiếc can.
Ông chậm rãi xuống cầu thang mở cái cửa đưa tới hành lang bi thảm đó. Ông dỡ nón ngó vết sẫm ở trên sàn. Ông không cố ý gợi lại mà tự nhiên hình ảnh em bé ở High Place hiện lên trong óc ông, một em bé chơi mấy cây súng bằng gỗ. Ông đi dọc theo hành lang, lơ đãng không nhìn thấy gì cả bước qua cái cửa mà mấy hôm trước thình lình thần chết đã ùa vô. Thầy cảnh sát chào ông, ông đáp lại bằng mấy lời bâng quơ chẳng có ý nghĩa gì cả. Ông lại đội nón lên, bước ra cửa rào. Ông do dự ngó hai phía đầu và cuối con đường cái. Rồi gắng sức bước đi. Thầy cảnh sát thở dài, vươn vai.
 
 
 
1. Một giáo phái của Anh: Methodist.
2. Giọng thư ngây ngô, vì người viết là một người da đen ít học.
 
 
 
 
 
 
 
 
0
«« « 1 2 » »»