📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Vọng Mãi Từ Tâm Một Tiếng Chuông - Trần Nghi Hoàng

4 trả lời, 1.249 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-20 17:02:38Thanh Vân>
Nguồn : Thư viện toàn cầu
 
 
Vọng Mãi Từ Tâm Một Tiếng Chuông  - Trần Nghi Hoàng
 
LỜI NGƯỜI VIẾT:
 
Đây là một bài viết cũ năm 1995. Tôi đã ôm ấp từ cuối năm 1990, sau chuyến về Việt Nam thăm ba tôi năm đó 82 tuổi và đang bị bệnh nặng. Tôi có dự tính viết thành một tập sách với nhan đề “Việt Nam, Mười Bốn Năm Sau Tôi Trở Lại”. Dự tính không được thực hiện vì rất nhiều lý do, tâm cảm cũng như hoàn cảnh.
Tôi cho đăng lại bài này với một vài sửa đổi thêm thắt, và sẽ viết tiếp hai bài nữa như là Tam Bộ Khúc về những lần tôi “trở về” Việt Nam. Biết đâu, không chừng từ Tam Bộ Khúc trong dự tính, sẽ là tập sách “Việt Nam, Mười Bốn Rồi Ba Mươi Năm Tôi Thấy:”
Trân trọng.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-20 17:06:30Thanh Vân>
MỘT
 

Tôi về. Như thấy là tôi mất…
Trong bao thư này tôi cất một chuyến đi. Bốn tờ biên lai tiền gọi điện thoại viễn liên từ khách sạn The Malacca Village Resort Kuala Lumpur. Hai cho bận đi và hai cho bận về. (Nhưng bận nào là “đi”, bận nào là “về”, tôi chẳng biết! Tôi “đi” Việt Nam và “về” lại Mỹ? Hay tôi “về” Việt Nam và lại “đi” qua Mỹ?) Bản photo passport và visa. Business card của Peking Art Co. chuyên bán đồ cổ ở Sunggei Wang Plaza. Business card của Liên phòng triển lãm Xí Nghiệp Sàigòn 89. Giấy thu hồi văn hóa phẩm của Bộ Văn Hóa và Thông Tin / Sở Văn Hóa và Thông Tin thành phố Hồ Chí Minh (Sao là “thu hồi”? Phải là “tịch thu” mới đúng chứ? Sách tôi viết (tập thơ Anh Có Thực Sự Muốn Thành Một Bồ Tát? …) tôi mang về, bị quý vị “cưỡng đoạt” mà, người “anh em”,!)… Và rập rình rất nhiều thứ lắt nhắt mà quan trọng khác v.v… Tôi sẽ viết tẩn mỉ chi tiết về những chuyện, nhỏ mà lớn ở những bài sau, mai mốt.

Trong thùng giấy này tôi nhốt tôi 15 năm biệt xứ. 1975 – 1990. Cuốn album gia đình cha mẹ anh chị em. Cái áo sơ mi của cha. Cái tẩu Falcon cũng của cha. Bức hình mẹ được phóng lớn sau ngày mẹ mất… Vài bức hình của vài cô gái mà có thời tôi tưởng là tôi… yêu họ! Bản thảo những bài thơ mà đã là một nửa trong Thơ TRầN NGHI HOàNG. Và gì nữa? Aán tích 15 năm lang bait Los Angeles Mayan The Hotel of California. Saint Paul Mineapolis. Pennsylvania Chicago Washington D.C. Santa Barbara Hollywood… và San Jose nhà quê v.v…

Sàigòn tôi về từ trên mây. Tôi leo lên máy bay còn nghe lắng quắng đâu đó, người ta đang biểu tình “chống du loch Việt Nam”! Trong hạnh phúc náo nức của thằng bé đứng chờ dưới gốc cây, tôi vẫn còn hoang mang sợ quả thị chin vàng bóng lộng thơm tho trên cao kia, sẽ rớt tọt vào bị bà già. Bà già phù thủy đang ngủ… chập chờn trong ác mộng. Đời tôi còn nhiều vết sẹo làm chứng cho mọi nghi nan. Sẹo đầu gối là những lần rượt và bị rượt té (trong những trò chơi hồi con nít và ngay cả lúc đã lớn, đã biết bày đặt… để ria). Sẹo góc trán vì đụng xe gắn máy. Sẹo ở ngực do đánh nhau thời trung học. Và sẹo bị đâm bên hông bởi… không chịu làm chính trị, lại nhất định làm thơ! Còn những vết sẹo “tâm thức”? Hai chữ này mới nghe thấy nặng ký, nhưng cũng vậy vậy thôi. Đừng lo! Tôi nói lâu rồi, mười năm trước. Tôi về cụt mất hai tay. Còn nghe thiên hạ chê bai đủ điều. Không. Phải hai mươi lăm, có thể ba mươi năm mới đúng! Trên sân thượng chùa Quán Thế Aâm. Vết sẹo, vẫn còn màu rất tươi. Vết sẹo mới tôi ngùi. Có một lúc nó vùi tôi biến mất.

bởi mở từ tâm là vô lượng
tôi trở về đây chịu khổ hình
thị phi như những lằn dao chém
vết sẹo hồng. Nguyên dấu hiển linh



Bi nhiêu sẹo thì bi. Chàng tuổi… không còn trẻ, nhưng vẫn còn chịu chơi rất mực. Ta vác gươm lên đời tỉ thí. Em làm khán giả vỗ tay nghe! Có ăn thua mới biết tuổi đá vàng. Phải không?

banh ngực tới đón mùa gặt tương lai
lới chú nguyện râm ran bắn máu
thảo khấu ném trái tim vào canh bạc cuối
vòng roulette quay luân hồi
ngập ngừng
nghiêng cơn say



Mười lăm năm. Tên thảo khấu ngạo mạn không bịt mặt, không mang găng tay. Những chuyến đò bay ngược lên trời. Khách chẳng sang sông. Khách riết róng đạp không khí mà leo lên đò lơ long. Là Hiệp Khách Hành trừ gian diệt bạo của Kim Dung tiên sinh. Bông hoa kèn hứng giọt ruợu thủy tinh. Tôi uống hết. Mười lăm năm!

em khởi sự chìm
như mặt trời chui thầm
góc núi

bóng người qua
kháng cự bóng đêm

thảo khấu không bịt mặt
lá đài các vươn tay tìm ngực tối
lướt thướt thời gian ruing ngón chân



Thời gian! Những giọt ruợu thủy tinh bây giờ là những giọt độc dược. Trên quê hương tôi về lạ lẫm. Những vạt nắng quê-hương-xưa tôi tự tử cuối trời xa. Quê cũ! Bụi mù và áo rách. Những nàng con gái thôn làng mười bảy mười tám tuổi chưa có vú vì thiếu ăn. Những em nhỏ phố thị mười bốn mười lăm tuổi vú thật to vì đã thành đàn bà bất đắc dĩ. Các em làm đĩ. Các em sớm phong sương để kiếm áo cơm. Và nhiều anh, nhiều chú, nhiều bác Việt kiều về thăm quê hương chỉ để kiếm các em! Thậm chí, có bác Việt kiều chính khách Trần Văn Ân từng có lúc làm phát ngôn viên phủ phiếc này nọ thời ông Thiệu, rấp tâm về tìm những em còn thơ dại… để phá trinh. Bác Trần Văn Ân muốn giúp các em mau tiến lên trên con đường đọa lạc…
Dường như, tôi đã lại xung phẫn vì những con dòi đang ung hoại Con Người. Những con dòi chúi đầu xuống và trườn lết tới bằng cả thân mình không xương sống. Và những con dòi thì dĩ nhiên không có chân để mà đứng trên cuộc đời. Mà đứng với thời gian. Thời gian!

trên mốc thời gian người đứng sững
xin đếm dùm tôi những dấu tay
loài sâu quên ngủ trong lòng đất
ai mở từ tâm. Tôi đắng cay!



Riêng tôi, mở từ tâm trong cơn say ngất! Toi say như trái đất. Nhưng bây giờ trái đất đã hết say… Mà tôi, thì bừng bừng cháy. Tôi cháy như những cơn mộng huyễn đã trì bám lấy tôi mười lăm năm lang bait. Trái đất hết say. Trái đất ngừng quay.

ai chờ mê hốt mưa tiền kiếp
gọi lửa trời thiêu mộng huyễn đi
tâm đâu còn nữa mà vô lượng
mười lăm năm. Trái đất ngừng quay



Trái đất ngừng quay. Tôi ngầy ngật đáp xuống từ trên cao và đứng một mình giữa quê xưa. Tiếng tù và ở quá khứ câm âm vọng rền não thức. Những hồn ma kỷ niệm rập rờn nhảy múa trong tôi. Phố thị biến thành hang đá. Những coat điện xiêu vẹo mọc lên như cỏ. Những bóng điện ôi những trái chiều không muốn ruing. Những trái chiều treo ngẩn ngơ trên ngọn đèn đường. Nhưng, chiều đã ruing một lần trong trí nhớ. Ai sẽ tìm nhặt nốt tháng ngày tôi….

tôi về như cỏ. Im trong đá
chẳng thấy người qua, kẻ lại đâu
ai gọi thầm tôi mà vẳng lặng
còn tôi gọi mãi bóng xưa sau



Như thể là xưa sau. Gọi bóng xưa là cùng lúc tôi muốn cố vẽ lên được cái bóng sau. Tôi đứng ở hiện tại gọi hồn quá khứ, để vạch một chân trời cho tương lai. Níu kia qua là tìm mai moat. Bởi mốt mai cũng đã từng lẩn quất từ hôm kia, hôm qua. Nhưng còn lại gì ở miền xưa đó? Mà sẽ có gì ở cõi sau này?

chỉ thấy mang mang đời thống hận
miền xưa còn lại chút lời quen
cõi sau thê thiết trời hư ảo
trong đáy hồn, xanh dấu vết riêng



Chút dấu vết riêng. Chút dấu vềt riêng tôi rớt ở những hè đường góc phố. Những hè đường rác bẩn và những góc phố bụi mù tôi thong một thời.
Hôm 30 tháng 4 vừa qua, tình cờ trên đường lái xe đi làm, buồn tay tôi bật radio. Buồn tinh tôi nghe ông giáo sư Nguyễn Châu đang “hò đối đáp” cùng ông Bão Tố trong chương trình văn hóa lịch sử gì đó của một đài phát thanh Việt Nam tại San Jose. Ông Nguyễn Châu cực lực khiển trách những Việt kiều về thăm Việt Nam, qua đây bày đặt chê Việt Nam bây giờ… bụi quá. Ông Châu cho rằng, mấy người nói năng như vậy là mất… “gốc cây đa”! Bởi vì, gần đây tôi lại… tình cờ một lần nữa, nghe ông Châu luận bàn về “văn minh” Việt Nam. Nền văn minh ông Châu đặt tên “cây đa”.
liếp che lọt nắng hàng thưa đậm


tầng gió hớp mây ngủ quean
nhàn nhạt quá khứ

chiều đen
tách cà phê



Ông Châu nói rằng, Việt Nam ta mổi đầu làng thường có một “cây đa” để dân làng tụ tập (?). Và đó là văn minh “cây đa”. Ông Châu tuyên dương nần văn minh “cây đa” của Việt Nam. Theo tôi biết, chỗ dân làng Việt Nam hội họp thường là Cái Đình làng. Cây đa là chỗ cho bọn chăn trâu hò hẹn chơi đùa và để cho mấy tay thất tình… treo cổ tự tử. Tôi đã từng nghe những “triết gia” và “học giả” Việt Nam ca ngợi nào là “văn minh trống đồng”, “văn minh cái đình”; “văn minh lũy tre xanh”… và bây giờ là “văn minh cây đa”. Việt Nam ta mang nặng nhiều nền văn minh trên cái long gầy còm chữ S quá! Chắc có lẽ vì vậy mà chúng ta luôn tiến… chậm hơn các quốc gia khác chăng? Để hưởng ứng quý ngài, tôi sẽ cố gắng nghiên cứu về nền “văn minh lá đa” của nước ta. Khi nào tìm ra được chân lý, tôi sẽ công bố cho mọi người cùng chia sẻ và thưởng thức.
Quý bạn đọc không nên trách tôi lạc đề. Tôi đang viết Bên Tách Cà Phê và Bên Dòng Đời… Vẫn nhớ, tôi đang nhắc về những hè đường rác bẩn và những góc phố bụi mù tôi thong một thời và bây giờ tôi rất chán. Tôi thong và tôi đi tìm dấu vết riêng của thời tôi niên thiếu. Tôi tìm dấu vết của kỷ niệm. Chứ, tôi nào muốn thếy hè đường rác bẩn bây giờ bẩn thỉu hơn; góc phố bụi mù bây giờ bụi mịt mờ hơn! Có thể, tôi cũng thong “lũy tre xanh”, “cây đa”, “cái đình”, “cái trống” này nọ… Thương “tụi nó” như thong các chân đèn, lư hương, bát nhang trên bàn thờ ông bà tổ tiên trong căn nhà cha tôi tự tay doing lấy hơn bốn mươi năm trước. Tuy nhiên, tôi sẽ rất đau long, nếu đất nước chúng ta mãi nằm yên trong “lũy tre xanh” rợp bóng mát, nhưng thiếu anh mặt trời. Tôi sẽ tức hộc máu nếu, những con người Việt Nam cứ tiếp tục bám tòng teng vào các cọng rễ già nua của “cây đa” đầu ngõ, hay bu quanh cái “trống đồng” rỉ mốc hát đồng ca… Rồi sau cùng, lại kéo nhau vào “cái đình làng” để giành nhau từng miếng thịt heo quay ruồi bu kiến đậu!

Tôi biết, khi tôi về tìm là tôi đã để lạc mất. Nắng và mưa đã rủ nhau đi. Cả tôi nữa. Tôi cũng đã đi hút biệt. Những nắng mưa của thời tôi tuổi trẻ.
tôi về.
 
 Những bước chân xiêu dạt
mắt ngợp sương mù thuở thiếu niên
lặng lẽ tôi tìm quanh ngõ phố
những nẻo đường tôi. Đã ngủ yên



Nhưng, chẳng phải cả đời tôi chỉ thèm đi sao? Tôi đã đi theo nắng mưa thế kỷ. Thân phận này tôi mang, và muốn đặt trên cao kia. Một nụ hôn giã biệt. Và, một nụ hôn tôi mời chào. Bóng chim chìm nhức mắt. Nhân loại, thực ra đâu cần khoa học loch sử mới có thể sinh tồn. Lịch sử như sợi dây thong lọng, xiết cổ hiện tại, lôi ngược về quá khứ. Do đó, loch sử lắm khi cũng là những con đỉa của hiện tại, hút máu, trì níu sự thành tựu của tương lai. Lịch sử, rốt cùng, chỉ là những bóng ma trù ám con người.

con đường núi cũ, mây đùn. Lạnh
bóng nắng soi buồn trong mắt ai
hoa dại nở thầm hôn thế kỷ
bụi tôi mờ khuất.

Bóng chim bay


Bóng chim bay chìm nhức mắt. Tiếng quạ đen réo tên người sắp chết. Núi sông biển gió hoang vu còn một tôi đứng giữa tim đời. Tôi đứng giữa tim đời vẳng nghe nhiều người tranh nhau lý luận về thơ. Các ngài tranh nhau lý luận về thơ! Bởi vì, các ngài bây giờ chỉ “rặn” từng cục thơ hoặc, các ngài thực chất đã-không-còn-đẻ-ra-thơ được nữa!!! Núi sông biển gió không còn đợi nhau…

ở bên kia núi, mây còn biển
ở giữa tim đời, tôi có chi
những dòng sông cũ không về biển
thì núi nghìn năm ngóng đợi gì?



Đứng ngác ngơ giữa quê hương hay chạy ngơ ngác bên trời luân lạc, tôi thấy rồi một định mệnh Việt Nam lóc thóc bước vẹo xiêu bên bờ tồn sinh của thế giới. Nhân loại không cần loch sử. Người chết không cần mộ phần. Đừng ôm mãi lá bùa tự hãnh dân tộc khởi đi từ mặc cảm tự ti nhược tiểu… Đừng “rán” lý luận về thơ khi không viết nổi những câu thơ. Ruợu, thuốc lá và cà phê vô tội. Đừng cưỡng hiếp các thứ để mong thụ thai những trái thơ thiếu máu. Bệnh bạo dâm là bệnh của phương Tây. Phương Đông là mặt trời và cần có mặt trời. Chúng ta cần học cái hay chứ không cần bắt chước cái dở ẹt của Tây phương.

đêm đỏ
bầm
ly rượu trở mặt cười
phút điên

lời trù ếm nặc danh
khiêng cưỡng vác theo niềm hoan lạc
thánh giá mọc gai



Hãy dành đất nghĩa trang mà thắp nến. Chúng ta cần ánh sáng ánh sáng từng giây phút bất kể ngày đêm.

hãy thắp lên tôi nghìn ngọn nến
bởi nghĩa trang không có mộ phần
những hồn lưu lạc từ muôn hướng
sẽ về mở hội giữa đêm câm



Chúng ta cần nắng và mưa. Cần đêm và ngày. Bởi chúng ta đang sống và sẽ chết. Máy bay thả tôi xuống phi trường Tân Sơn Nhất. Từ cửa ngõ đầu tiên bước vào quê hương tôi nhớ. Tôi thấy một Việt Nam không nắng mưa, không ngày đêm và không cả sự sống chết. Một Việt Nam vô tri giác trước dòng sinh động của thế giới bên ngoài tôi lăn lóc mười lăm năm.

ngọn cỏ lẫy lừng xao nương mưa
mưa
bụi
hút hút chập chùng
bay chờn vờn
trong nắng

nắng ngập bờ
kinh nguyệt

bụi mịt mù
hang ma



Và tôi sợ hãi đếm nhẩm mười lăm năm bao nhiêu lần tôi tự nhắc nhủ tôi. Tôi tự nhân danh tôi để còn lại chính tôi.

tại tháng tại năm
em ẩn náu triều nước vọng
khúc qua cầu lần lữa khất
tiền mãi lộ

cuộc hẹn hò không
vướng vất trầm kha



Việt Nam mười lăm năm sau tôi về lại. Tên thảo khấu không bịt mặt chơi ván bài sinh tử. Sau mười lăm năm, phi trường Tân Sơn Nhất bây giờ những hangars trồng xanh rau muống. Những công an thúng thính đồng phục xám úa nẹp đỏ súng dài quá đầu mặt khô mắt trắng trơ tội nghiệp đứng bất động đây đó buồn buồn.

thảo khấu nhăn mặt cắn trái táo cuối cùng
con rắn bò quanh chén thuốc độc

bước chọn lựa bời bã
đếm những tầng mây thất tung
ở những trạm đèn đỏ trên con đường
dẫn tới
quá khứ



Tôi muốn tìm một cái trống đồng. Tôi sẽ đánh vào mặt trống bằng đấm tay tôi tên thảo khấu. Tôi muốn nghe lại cái âm vang của mấy ngàn năm trước cái văn minh văn hóa vĩ đại gì đó còn giữ được trên những hoa văn ngô nghê trên mặt trống. Thốt nhiên, tôi kiệt sức hụt hơi. Tôi như không còn thở. Tôi nằm yean trong tôi tên thảo khấu không bịt mặt. Tôi nằm im tôi nghe… Không phải những tiếng trống đồng mà là một tiếng chuông.

nằm trong khe đá. Tôi là cỏ
nghe lắng thời gian giữa giọt sương
tôi về. Như thấy là tôi mất
vọng mãi, từ tâm một tiếng chuông



****


Một tiếng chuông. Tiếng chuông vọng mãi trong tâm thức tôi cho đến ngày tôi trở về (đi qua?) Mỹ. Và tiếng chuông bong bong trong đầu tên thảo khấu. Cuối tháng 11 năm 1990, tôi quyết định đình bản tap chí Văn Uyển. Tuy nhiên, tiếng chuông. Tiếng chuông vẫn còn âm vang trong tôi miên man miên man như không bao giờ dứt.

·Tất cả những câu thơ trích trong bài này là của TRẦN NGHI HOÀNG
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
HAI
 
Lần về năm 1990, trên chuyến bay có 37 người Việt Nam. Hai mươi mấy giờ trên không trung, những người Việt tha hương cùng về thăm nhà trên một chiến bay không dưng thành bè bạn, thân tình hết. Khói thuốc mù trong lòng phi cơ. Những câu chuyện xoay quanh rất nhiều về một số đề tài như… khi xuống phi trường Tân Sơn Nhất, thì nên "lót tay" cho những đoạn đường nào… Chỗ xét hành lý, hay khi qua cổng "an ninh"… Và con số đô la cần phải biết chi ra là bao nhiêu. Người đã từng "có kinh nghiệm" chỉ dẫn cho người mới đi lần đầu. Tôi sau 14 năm lưu xứ mày mò về thăm người cha đau nặng, nhìn lại một quê hương cũng đang èo uột trầm kha.
Tôi bay lên cùng đêm. Từng chập giấc ngủ chờn vờn mộng dữ. Tôi thấy bị rượt đuổi cùng đường. Giấc mơ bị rượt đuổi cùng đường này đã đeo đẵng tôi mười bốn năm trên khắp những thành phố, những đất nước tôi đi qua.
Tôi đáp xuống cùng nắng. Từ Kuala Lumpur đến Sàigòn bốn mươi lăm phút. Bốn mươi lăm phút hồi hộp nôn nao. Tôi bước ra khỏi phi cơ và bước vào cơn nắng nung người của đất nước tôi. Phi trường Tân Sơn Nhất những hangars ngày nào bây giờ chẳng thấy phi cơ đâu, chỉ thấy những luống rau muống xanh úa… Những người lính gầy gò quần áo màu cứt ngựa nẹp đỏ, nón màu cứt ngựa phù hiệu vàng chói viền đỏ… Màu đỏ và màu cứt ngựa… Những người lính đứng cạnh thấp bé bên những cây súng dài thép lạnh và trời nóng… Tôi thấy gia đình tôi, hai chị và em trai tôi đang đứng ngóng bến ngoài… Tôi và hai người nữa trong số 37 người Việt Nam trên chuyến phi cơ từ Mỹ về Việt Nam bị giữ lại điều tra an ninh!!!
Mồ hôi tôi vả ra vì nóng, không phải vì sợ. Tôi sợ tôi đã không về! Sàigòn Giađịnh tôi tuổi nhỏ nằm bên ngoài hàng rào, đứng lóng ngóng lo lắng và vẫn chưa bao giớ biết chuyện gì sẽ xảy ra trong phút tới.
 
"Anh ra đi năm nào?"
"Trong tờ giấy này tôi đã có ghi."
"Tôi hỏi, anh cứ trả lời."
Giọng Thanh Nghệ nặng gằn gằn.
"Tôi đi năm 75."
"Tại sao anh đi?"
"Mấy anh vào thì tôi đi."
"Bộ anh có nợ máu với nhân dân sao mà thấy chúng tôi vào anh phải đi?"
"Chẳng có nợ máu gì đâu. Bố tôi bảo đi thì tôi đi. Bố tôi ngày xưa cũng Việt Minh."
"Ý anh muốn nói gì?"
"Tôi muốn nói gia đình tôi có truyền thống: bố bảo sao con nghe theo vậy."
"Anh là tác giả những cuốn sách này?"
"Không. Tôi làm nhà in, sách in cho khách xong tôi muốn cầm về làm quà cho người nhà…"
"Đừng chối! Tôi chỉ cần một cú điện thoại qua Mỹ, thẳng đến SJ chỗ anh đang ở thì đâu ra đấy ngay…"
"Thì tùy anh…"
"Những cuốn sách này chúng tôi tạm giữ. Ba ngày sau, anh lên Nguyễn Du chúng tôi sẽ cho biết anh có lấy lại được hay không… hay sẽ thế nào. Tôi khuyên, anh không nên ra khỏi Sàigòn. Đừng đi đâu xa, nhất là lên vùng cao nguyên. Chế độ luôn sáng suốt trong mọi tình huống… Anh không phải lo chi hết… Nếu anh thực sự không phải là tác giả những cuốn sách… Vấn đề sẽ được xem xét lại. Bây giờ tôi thay mặt nhà nước, cho phép anh được về thăm gia đình anh. Có ai tới đón anh không? "
 
Có! Dĩ nhiên là có anh chị em tôi đang sốt ruột chờ tôi ngoài cửa. Và có cả anh, người của một hành tinh khác đang nồng hậu "sáng suốt" với tôi đây.
Còn tôi thì có gì phải lo!
Bài thơ tôi viết trên đường theo gia đình về lại căn nhà xưa. Căn nhà của ba tôi đã tự tay xây hơn hai mươi năm trước. Bài thơ tôi còn viết tiếp suốt cuộc hành hương.
 
em,
Sàigòn nắng sai giờ trở lại
em Sàigòn
mưa lạnh dấu chân xưa
những bóng ma trong những khoảng tối mờ
và những bóng ma
vẫn ngồi uống cà phê mỗi ngày
nơi quán cóc

 
Tôi về đến Sàigòn ngày thứ hai, buổi sáng, giờ làm việc. Trên con đường từ phi trường về nhà, tôi thấy hai bên đường dường như đầy những quán cà phê và quán nhậu! Thanh niên, trung niên… ngồi kín những cái quán! Giờ làm việc, ngày thứ hai… Như vậy thì, những ai đang làm việc… và làm việc gì? Thanh niên, trung niên của Sàigòn đang ghếch chân ngoài quán nhậu hoặc đang gục đầu sầu thảm trong những quán cà phê.
 
em,
Sàigòn giờ điệu đà còn hơn trước
em đi xe đạp cong tay che dù
em đi xe "coupe"
thẳng tay che dù
những cánh tay mang "găng" dài tận khuỷu
em mặc áo rách
và quần đã phai màu
em Sàigòn, em Sàigòn
những bàn tay thon,
níu những cán dù như níu mộng
em ngại nắng,
e mưa
mà chẳng sợ biển dâu

 
Những thiếu nữ Sàigòn tội nghiệp! Những thiếu nữ Sàigòn 1990 tôi về. 80% đạp xe đạp đội nón che dù và mang "găng" tay. 20% đi xe Honda, xe gắn máy đội nón che dù và mang "găng" tay. Hỏi ra mới biết là để tránh cho khỏi "ăn" nắng, khỏi đen da!!! Sàigòn giữ gìn nhan sắc. Sàigòn giấy rách giữ lấy… lề!
Đàn ông thanh niên Sàigòn ngồi quán nhậu, quán cà phê. Đàn bà thiếu nữ Sàigòn đạp xe đạp, lái Honda che dù đội nón mang "găng" tay… Xã hội Sàigòn không có những người làm việc. Xã hội Việt Nam chỉ có những người sống và thở, và đi đứng ăn ngủ như những bóng ma hiện diện mà không hiện diện… Sàigòn đến trường, Sàigòn đi chợ, Sàigòn đi rong và Sàigòn gì gì nữa… thì để cho đi đến đâu ở cuối đường?
 
em,
Sàigòn bây giờ áo dài vẫn trắng
(nước sông Sàigòn có giặt sạch được tương lai?)
em,
quần lót mini
mỗi ngày đổi một màu theo mưa nắng
vẫn mập mờ thấp thoáng
giữa hai vạt áo dài
quấn quýt vờn bay
em Sàigòn…
giờ nón lá không che mặt
nón che buổi chiều đang rụng xuống vai ai

 
Sàigòn sau 14 năm đọa đày, cho tôi cảm giác là đang muốn ngồi dậy điểm trang. Son phai phấn rửa, quần áo bời bã… Người đi bộ chen nhau cùng xe đạp và xe coupe trên đường, trên lề đường và trong cuộc sống tất tã….
Điều đáng để ý là mỗi người đều trang bị cho mình một cái túi xách, túi đeo vai… Tôi chẳng rõ họ đựng gì trong đó?
Hỏi ông em. Ông em nhếch môi cười như mếu:
"Đất nước này giờ ai cũng làm nghề mua bán và ăn mày hết anh ơi! Trong túi là một món gì đó có thể bán được… đem đi gạ. Hoặc là món tiền gia bảo mang theo mong mua được cái gì đó với giá hời để bán lại kiếm lời. Cái bị, cái túi còn để chứa tất cả những gì có thể nhặt nhạnh, vơ vào được trên con đường lang thang từ sáng đến chiều…Tiền Việt Nam bây giờ từ người giàu tới người nghèo đều phải cất trong một cái bị, cái túi xách. Một ngàn rưởi một gói xôi. Hai ngàn rưởi một tô mì lỏng bỏng nước và hai lát thịt mỡ mỏng teo… Người Việt Nam bây giờ giàu, ai cũng giàu ai cũng có hàng cọc tiền… vô giá trị! Và ai cũng như đang đi tìm một cái gì gì ở đâu đó!"
 
Cái gì gì đó. Món gì gì đó. Gì gì đó là chưa định hình, và bất khả mường tượng.
Những cơn mưa bóng mây của Sàigòn năm nào bây giờ vẫn còn nhưng không đủ ướt đất. Mảnh đất đã bỏng khô vì nắng. Nắng không rụng xuống vài chiều mà nắng đã bốc cháy từ tâm thức Việt Nam. Mỗi năm giờ sáng người Việt Nam, người Sàigòn âm thầm đeo túi lên vai và ra đường. Sàigòn đổ nhau ra đường chẳng biết làm gì. Hay mọi người đổ nhau ra đường là để còn thấy mặt những người khác và để biết bản thân mình còn sống, còn thở và còn biết đi đứng nói năng.
Ba tôi đứng chờ thằng con lưu lạc dưới bức Bồ Đề Đạt Ma quảy chiếc nón lá trên vai, chân đạp sóng trường giang trợn đôi mắt xanh cắt mí nhìn trực diện vào trần gian. Bich Nhãn Hồ Tăng. Blue Eye Indian Monk. Nhìn trực diện vào trần gian hay nhìn trực diện vào trần ai? Nhìn trực diện vào trần gian hay nhìn trực diện vào thân tâm? Giọt nước mắt ứ trong đôi mắt đục tám mươi hai năm của ba tôi làm thành giọt nước cam lồ trong những đợt sóng trường giang dưới chân Bồ Đề Đạt Ma cuồn cuộn đẩy tôi bồi hồi trôi bập bềnh trong nhang khói trên bàn thờ Phật, bàn thờ tổ tiên.
Trong chiếc tủ sách gỗ nâu ba tôi đóng còn dấu đâu đó trong những góc kẹt những mảnh quá khứ tôi. Những trang thơ, những trang viết của một thời sống tận cùng gào thét với định mệnh. Những trang thơ, những trang viết có còn hay đã "được" đốt đi cho sự an toàn của gia tộc?
 
Ông em cho biết sau tháng Tư 1975, một số gì gì của tôi đã được gia đình đem dấu trên trần nhà… Một số gì gì khác đành phải hỏa thiêu. Lửa phần thư! Lửa phần thư! Dậy lửa phần thư đốt cơn huyễn mộng. Lửa phần thư vẫn còn âm ỉ và cơn huyễn mộng vẫn còn và bôn ba trải dài khắp cùng những lục địa của trái đất già nua.
 
đã hết rồi những con mưa không ướt đất
mưa Sàigòn,
giớ ướt lạnh em tôi
dù em mặc áo dài trắng, quần lót mini
hay em mặc quần phai màu
áo rách vai
em vẫn mang "găng" tay dài tận khuỷu
em vẫn che dù ra đường
vì ngại nắng e mưa
em ngại nắng mưa làm cháy tóc đen da
hay em sợ
buổi chiều không muốn rụng

 
Dù buổi chiều thế cuộc có rụng hay vẫn dai dẳng dằng dai treo trên cây đời, chút kỷ niệm tưởng chừng đã hồ phai sẽ vẫn là những ấn tích đeo mang suốt một kiếp người lữ thứ. N.H., một ông bạn cực thân từng nói những lời bạc hãnh: "Kẻ giang hồ không có quá khứ." Kẻ giang hồ không có quá khứ! Tôi là một tên giang hồ có quá khứ. Những quá khứ tôi muốn quên và cũng muốn nhớ.
 
có những trái chiều không muốn rụng
treo ngẩn ngơ trên ngọn đèn đường
có những bình minh lên rất lặng
trong tách cà phê uống thất thường

và:
chiều đã rụng một lần trong trí nhớ
em hãy chờ
nhặt nốt tháng ngày tôi
và cho dù
nắng quái
mưa oi
ngày tháng đó một lần thành truyện cổ

 
Thứ truyện cổ không phải để người già kể cho con cháu. Mà là thứ truyện cổ để kể giữa chợ đời, giữa một quán rượu phong ba. Thứ truyện kể trong một quán biên thùy trước một lời vĩnh biệt!
Tôi về lại Sàigòn sau 14 năm lưu xứ. Tôi về tìm lại tôi và thực sự thấy là tôi đã mất tôi. Một mất mát bất khả biện luận hay dè chừng của nỗi vắng mặt cần thiết và không cần thiết!
Tôi mất tôi cùng lúc tôi mất hết với những tương quan liên hệ cũ.
Những người xưa đi rồi không về nữa
Một mình ta lại gặp một mình em…
(Hoàng Trúc Ly)
Tôi không gặp tôi mà tôi cũng chẳng gặp lại em. Tình cờ 14 năm cũng là tình cờ của trăm năm.
Trăm năm dù có bao giờ
Đốt lò hương cũ, so tơ phiếm chùng…
(Nguyễn Du)
Lò hương cũ, tơ phiếm chùng… Trăm năm hay mười bốn năm thì tơ phiếm chùng hay lò hương cũ có còn chi. Nắng mưa đã đổi thay thành nắng mưa của những kiếp khác. Nhật nguyệt cũng đã đổi dời thành nguyệt nhật lao lung. Lao lung trong tâm thức của con người.
 
em Sàigòn,
em một lần mất tích,
những hồn ma
vất vưởng giữa phố phường
những hồn ma
đi tìm nhặt trên lề đường
những giọt nắng giọt mưa của ngày tháng cũ

 
Trong bữa rượu cuối năm vừa qua, ông anh một người bạn, một người điềm đạm phong cách khả kính, có nói với tôi hai câu làm tôi nhớ:
"Tôi đọc anh viết, tôi thích. Anh viết ra được nhiều điều thế hệ tôi muốn nói mà chưa thấy ai nói ra."
Ông lớn hơn tôi một số tuổi. Sau đó, ngừng một lúc, ông vỗ vai tôi, nhẹ nhàng tiếp:
"Nhưng bớt cay độc đi!"
Hóa ra, bấy lâu nay ngòi bút của tôi quả tình có cay độc? Cay với ai và độc với ai? Trong một buổi trà đàm sáng, NVT khi khen một bài viết của một người khác, trên một tờ báo:
"Bài này viết khá lắm. Đặt vấn đề nghiêm túc. Nhưng không có cái cay độc của TNH."
Tôi quyết định khi viết Tam Bộ Khúc hay Tứ Bộ Khúc Vọng Mãi Từ Tâm Một Tiếng Chuông này sẽ không… còn cay độc!
Tôi sẽ viết, nói như dịch giả LDL, phải thơ mộng và nhẹ nhàng.
Nhưng tôi không biết là tôi sẽ thơ mộng và nhẹ ngàng ra sao và tới đâu!
Bởi từ Sàigòn đến San Jose, rồi qua Virginia tôi vẫn thấy:
 
trên mặt đường tháng giêng
dòng sông đêm vẫn chảy

hoa cánh chuồn
nở mùa phai
sợi tóc buồn tự sát
chết đuối dưới chân người

tiếng hò reo
nổ bùng trí nhớ
tiếng gọi tên
buổi sáng
mù tăm

 
Bây giờ là tháng giêng. Tháng giêng của một năm mới. Năm Giáp Thân hay năm 2004, thế kỷ thứ ba theo lịch biên niên của nhân loại.
Ngày hôm qua đi chợ ở khu thương xá Eden, có thấy múa lân và nghe tiếng pháo nổ. Tôi không ngửi thấy mùi pháo. Tôi ngửi thấy mùi thuốc súng từ Trung Đông bay về đây.
Ngày hôm qua vào đưa báo ở tiệm sách Minh Văn, gặp một ông độc giả chận hỏi:
"Ông là Thông Biện Tiên Sinh TRẦN NGHI HOÀNG".
Tôi thưa:
"Vâng."
"Ông cho tôi hỏi một câu được không?"
Tôi gật:
"Ông cứ hỏi."
"Ông nghĩ sao chuyện ông Nguyễn Cao Kỳ về Việt Nam tuyên bố bậy bạ?"
"Lâu nay tôi chẳng còn biết có ông Nguyễn Cao Kỳ trên cõi đời này. Báo tôi không đăng bất cứ tin tức nào về ông này."
"Nhưng xin ông cứ cho chúng tôi xin ý kiến của ông về chuyện này."
Tôi đáp:
"Thằng hề sẽ tiếp tục giễu dở khi nó thấy còn có người vỗ tay hay người xem nó làm trò. Nguyên tắc của tôi là không nhắc tới tên, không nói tới những việc làm của những nhân vật kiểu như Nguyễn Cao Kỳ nữa. Cứ xem ông ta như không có, không còn, thì tự ông ta sẽ thấy chẳng có "động cơ" nào thúc đẩy để múa rối nữa."
Ông đọc giả suy gẫm mười giây, xong gật gù:
"Phương pháp của ông TNH mới nghe thấy kỳ cục, nhưng nghĩ kỹ không chừng là phương pháp hay ho và hợp lý nhất."
Tôi cám ơn ông đọc giả.
Hốt nhiên, tôi nhớ tới bữa rượu bên bờ rạch ở Bến Tre, nơi chôn nhau cắt rốn của tôi, hơn mười năm trước. Bữa ruợu đế với dăm người bạn cũ giữa đồng ruộng và mây trời. Rừng dừa ngập nước. Những cô bé gái mười mấy tuổi cởi truồng tắm dưới dòng nước đục phù sa.
Bữa rượu tà dương và những mái đầu chớm bạc hay đã trắng sương pha.
 
tà dương tà dương. Bóng đổ chậm
bốn hướng mịt mù đời thăm thẳm
lá dừa chém rụng. Đầu thương thân
em gái cởi truồng môi đỏ thắm

bàn tay lộng gió chiều thù tạc
hơi rượu máu bay lừng. Ngát ngát
tiếng trống gọi hồn ở chân mây
ơi gái ơi gái. Ngần luân lạc.

 
Xin trả lại ngày hôm qua những đụn cát bồi của quá khứ. Những đụn phù sa còn ướt nắng mưa…
 
Chú thích: Những câu thơ trích không có ghi chú tên tác giả là của TNH.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
BA
 
 
Những cơn mưa bóng mây đã đi về bất chợt cùng đêm. Và ngày mở ra bao trận cuồng phong của đối mặt tử sinh. Năm 1992 tôi lại trở về Việt Nam như vào một cơn mộng du bất tận trong lòng biển thẳm.
Trả ba đô la một lon Coca ở phi trường Tokyo cho con gái Trần Nghi Âu Cơ sáu tuổi, tôi ném lại nuớc Nhật mẩu thuốc lá đắng và đặt bước chân bềnh bồng xuống phi trường Tân Sơn Nhất với những nghi ngờ vô cảm.
 
Lúc này, tờ Văn Uyển bộ mới đã tục bản được mấy số. Nhiều nỗi ám ảnh đè nặng trong tôi. Những suy nghĩ của tôi về một đất nước Việt Nam sau chuyến trở lại năm 1990 càng bi quan nếu không muốn nói là tuyệt vọng. Con người Việt Nam bây giờ sống như những âm hồn trong những phiên chợ nửa khuya.
Những phiên chợ. Những hàng quán mọc lên hàng hàng lớp lớp khắp nơi. Trong một khu phố người ta có thể đếm ra mỗi đơn vị nhà của cư dân là một cửa hàng. Bán cà phê bánh trái hoặc cà phê chưa xay. Cho thuê phim bộ đồng thời bán kẹo và thuốc lá v.v…. Căn nhà của cha tôi tự tay xây lên trong con hẻm Long Vân Tự vừa là tiệm may của hai bà chị, vừa là gian hàng bán tạp hóa của ông em kế cũng là em út tôi. Sạp bán sách báo đầy khắp nơi và người mua lúc nào cũng tấp nập. Rất nhiều những cuốn sách dịch vội vàng để cung ứng cho thời “cởi trói văn hóa” và “tự do thị trường”. Nhưng hầu như mọi người đang sống cho sáng ngày mai sẽ chết! Con người Việt Nam hối hả dồn nhét mọi thứ vào cho cá nhân mình. Sao cho nhanh nhất. Sao cho “hiện đại” nhất! Từ kiến thức chấp vá nhặt nhạnh của thế giới bên ngoài, đến bao nhiêu là thứ thực phẩm trần gian nhai nuốt được.
 
Một cảm giác kỳ dị luôn đeo đẵng tôi là: Sau một đêm ngủ ở Việt Nam, buổi sáng mở mắt ra tôi sẽ không còn tìm thấy được chút dấu vết nào của những xô bồ, chen chúc, hối hả… ngày hôm qua! Mọi sự hầu như trầm mình trong một bản chất chung: Bản chất không thật sự hiện diện. Bản chất hư vô
Từ ngôi nhà từng hàng quán từng khu phố từng con đường từng rừng người nối bước nhau đi và đi chẳng biết về đâu Việt Nam sẽ biến mất sau một đêm với những con mưa bất chợt
 
Và chữ nghĩa cũng sẽ biến mất cùng đêm và mưa. Những trang báo đủ màu những rừng báo những sạp báo. Những trang sách những rừng sách những tiệm sách mà người điều hành là công an văn hóa cũng sẽ biến mất.
Trong tiệm Khai Trí tôi bước vào hỏi một cuốn sách mà tôi đọc đâu đó thấy quảng cáo vừa xuất bản. Một thanh niên nhân viên trong tiệm nheo mắt thầm thì với tôi:
“Anh sẽ không làm sao tìm được cuốn sách đó trong bất kỳ tiệm sách nào bây giờ. Tụi công an văn hóa nó đã “chôm” hoặc mua “mão” để bán ra cho đầu nậu sách đường phố. Anh không nhớ em nhưng em nhớ anh. Em là một trong những đứa trẻ mồ côi mà ông Khai Trí mang về làm trong tiệm sách từ trước 75. Tụi em vẫn được làm ở đây nhưng bao giàn chung quanh là tụi cán bộ văn hóa. Anh thấy thằng cha kính đen kia không?… “Xếp” ở đây đó… “
Tôi hỏi:
“Vậy em có cách chi để anh gặp một “đầu nậu” sách không?”
Cười:
“Dễ thôi! Anh thấy tên đội cái nón lưỡi trai xanh đang đứng tựa gốc cây ngoài kia… Anh ra nói với hắn là em, TT giới thiệu anh với hắn. Anh muốn tìm sách gì, cứ hỏi hắn. Giá sẽ “mềm” riêng cho anh.”
Tôi gật đầu:
“Cám ơn em!”
Trong tiệm sách Khai Trí tôi đã từng quen thuộc trước 1975 bây giờ tôi lạ lẫm. Tôi lạ lẫm ngay cả với chàng thanh niên TT nói còn nhận nhớ ra tôi. Chữ nghĩa nhảy múa và đu dây trong đầu tôi:
 
nhân danh cùng một nòi thi sĩ
tôi muốn hỏi Maiakovski
ông tự sát để làm chi?
nếu không tự tử
ông có là thi sĩ?
(Nhân Danh, sept 13/1992)
 
Những câu thơ này những suy nghĩ này là chìa khóa là mầm móng của Trường Ca Mở Cửa Tử Sinh mà gần mười năm sau tôi đã viết.
Trường Ca Mở Cửa Tử Sinh tôi viết xong lúc 11 giờ 39 phút đêm 26 tháng 9 năm 1997. Trong phần “Tựa”, tôi viết:
“Kẻ làm thơ là một con người SINH HAI LẦN. Vì vậy, hắn sẽ CHẾT HAI LẦN, hoặc giả, NHIỀU LẦN. Một lần cho chính hắn; và LẦN KHÁC, NHỮNG LẦN KHÁC cho KẺ KHÁC…”
 
ô! Maiakovski?
tiếng súng nổ trong bởi vì tình huống?
(ibid)
 
Tình huống của vạn đại chung thân hay chỉ là của một sát na phù du phiêu hốt? Tôi tìm mua được những cuốn sách tôi cần. Dưới một gốc cây bên lề đường Sài Gòn tôi được mời một ly cà phê người thanh niên đội mũ lưỡi trai xanh đưa tôi mảnh giấy để tôi ghi xuống tất cả những cuốn sách tôi tìm
“Cho em cái địa chỉ của anh. Chiều, em sẽ mang sách đến cho anh. Có những cuốn bây giờ không còn. Nhưng em sẽ cố. Hy vọng sẽ có đủ cho anh…”
 
Thời đại mới người ta không dùng “lửa” để “phần thư”. Người ta cho sách mang số phận lưu đày. Sách sẽ nằm trên trần nhà. Trong những hốc kẹt kín đáo. Sách được chôn trong vườn sau nhà. Dưới gốc cây khế chua hai mươi ba mươi bốn mươi năm trước được bón tro thấm ngầm gốc rể đã biến thành cây khế ngọt…
 
“dưới gốc cây khế chua chôn một bụm tro hai bài thơ cổ tích ba năm sau cây khế chua biến thành cây khế ngọt. Cây khế ngọt để hái tặng người con gái vú quả cau lông mày xanh như chiêm bao và nụ cười thơm mùa mía ngày bong bóng nổ.”
(trường ca “mở cửa tử sinh”, phân đoạn 14 trang 25; Profess Publication Company 1997)
 
Ngày bong bóng nổ cũng là ngày lằn ranh giữa vô minh và giác ngộ bị xóa nhòa. Con đường tuổi trẻ Việt Nam đã đi qua và đi trên thứ tâm thức vô ngại mà hoang mang như thế!
 
“cánh tay trẻ dại một thời múa may lung tung thanh kiếm trúc giữa vườn xá lị, vườn mận dòn căng măng cụt mãng cầu của ngoại; đánh bạt anh hùng hào kiệt xà lỏn ở trần để chỏm xóm trên làng dưới mấy phương, đem thanh bình thống nhất về tụ tập dưới gốc cây khế sau nhà khao thưởng anh em phe thua phe thắng, kẻ hận người thù giả bộ cho vui.”
(trí nhớ lung linh, trong Lưu Vong Hành, Chỉ Thảo 1988)
 
Cuộc chơi thời trẻ dại lớn dần theo năm tháng thành cuộc chơi lớn có máu có xương và tôi có những bài thơ để thở để sống còn. Tiếng súng nổ trong đầu Maiakovski cũng là tiếng súng nổ trong đầu thi sĩ. Tiếng súng kết thúc cuộc tình oan khiên giữa thi ca và thi nhân hay là tiếng súng để khai diễn cuộc chạy đua tẩu tán của trí tuệ và tâm linh. Giữa phút giây hiện tại và vĩnh cửu. Cái chết thình lình của thi sĩ cái chết thập phần bất khả lý giải và là cái chết cho CHÍNH HẮN hay cho KẺ KHÁC, NHỮNG KẺ KHÁC?
 
nhân danh những gì còn sống
tôi tuyên ngôn sự chết là thẩm mỹ tuyệt đối duy nhất
và là sự sống cuối cùng
như Tôi và Em
và những triết lý mù mịt thất tung
(bởi trí nhớ không nằm trong bộ não
nên chiếc lưỡi vẫn vinh danh những nụ hôn buồn)
(Nhân Danh, sept 13/1992)
 
Tôi mua được tất cả những quyển sách tôi cần qua người thanh niên đội nón lưỡi trai xanh đứng dưới gốc cây trước nhà sách Khai Trí. Trong số những quyển sách mà người thanh niên nón lưỡi trai xanh mang đến nhà cha tôi chiều hôm đó, có những cuốn có in dấu triện “Thư Viện Quốc Gia”… Tôi nhân danh lòng yêu sách, yêu chữ nghĩa để mang đi những cuốn sách của “Thư Viện Quốc Gia” với lời dặn dò cẩn trọng:
“Anh nhớ lấy bút tô đen đi những dấu triện này… Em sợ khi ra phi trường anh sẽ bị làm khó. Cùng lắm, anh cho tụi nó vài chục đô la để khỏi bị rắc rối…”
Rắc rối thì tôi lúc nào chả bị vướng vào… Năm 1990 từ phi trường Tân Sơn Nhất đi Mỹ, tôi đã bị rắc rối bởi hai cây đàn Violin cũ. Một half size và một quarter size mua cho con gái tôi. Hai cây đàn tôi mua mỗi cây độ hai mươi lăm đô và bị đòi trả thuế – chẳng biết loại thuế chi – cho mỗi cây đàn là năm chục đô. Tôi nói “đây là của gia đình tôi đưa tôi mang qua Mỹ cho con gái tôi học đàn, hà cớ tôi lại phải đóng thuế?”
Câu trả lời thật vô tiền khoáng hậu:
“Của gia đình anh tức là của Đất Nước. Anh muốn mang đi phải trả thuế. Anh không trả thuế thì phải để lại.”
Tôi nói:
“Như vậy, anh cho tôi đưa lại hai cây đàn này cho gia đình tôi đang đứng ngoài kia.”
Lại một câu trả lời vô tiền khoáng hậu khác:
“Anh đã vào “cách ly”, không được ra ngoài kia nữa.”
Tôi lạnh mặt:
“Vậy, tôi còn một cách giải quyết.”
“Cách gì?”
“Tôi sẽ đập hai cây đàn.”
“Anh đập hai cây đàn, chúng tôi bắt buộc sẽ giữ anh lại điều tra.”
“Điều tra gì? Đàn của tôi, tôi muốn đập hay vất bỏ hay cho ai là quyền của tôi chứ!”
“Anh quên tôi đã nói, của gia đình anh hay của anh, còn nằm trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam là của Đất Nước Việt Nam. Anh “hủy hoại” tài sản Đất Nước là anh có tội.”
Cuối cùng, một tay công an hải quan nhào tới cố gắng giải quyết:
“Thôi thôi. Có gì đâu mà “găng” với nhau quá. Bây giờ thay vì đóng thuế năm chục đô cho mỗi cây đàn, thì anh có thể đóng ít hơn. Khả năng anh có thể đóng bao nhiêu?”
Tôi nói:
“Hai chục đô cho hai cây. Tôi về đã xài hết tiền, chỉ còn một ít đi đường qua Mỹ…”
 
Cuối cùng, cái giá đồng thuận cho cả hai bên là ba chục đô la cho hai cây Violin. Những gì của gia đình anh hay của anh mà còn nằm trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam là của Đất Nước Việt Nam. Đất Nước Việt Nam chỉ có Nhà Nước và Đảng Cộng Sản Việt Nam có quyền mang bán hay mang cho ai cũng được. Và tài sản của người dân Việt Nam cũng có nghĩa là tài sản của Nhà Nước Việt Nam… Lý luận tài hoa theo kiểu con chim manh manh nó đậu cây chanh tôi vác miểng sành tôi đập chết vãi làm bảy mâm cơm cho ông ăn ông hỏi con chim gì tôi nói con chim manh manh nó đậu cây chanh tôi vác miểng sành tôi đập chết vải làm bảy mâm cơm cho ông ăn ông hỏi… Tôi nuốt cơn tức. Tôi cũng nhìn thấy tên hải quan thứ nhất, tên hoạnh hoẹ làm khó tôi nuốt cơn tức. Tôi cũng nhìn thấy tên công an hải quan nheo mắt với tôi và cười. Nụ cười tôi không hiểu. Nụ cười nhân danh cho một cái gì đó mà tôi không biết tên.
 
ở mỗi chúng ta có riêng một đêm trắng
để thức một mình và để nhân danh

ở mỗi chúng ta ai cũng có một ngày vui
ngày tìm thấy cho mình cơn chiêm bao chết
có nghĩa là cơn chiêm bao của bắt đầu chấm hết

tại sao chấm hết cũng là (có) sự bắt đầu
 
một người đã đặt câu hỏi này
hai ngàn năm trăm ba mươi sáu năm trước
câu hỏi mà bây giờ ai (muốn) trả lời cũng được
(ibid)
 
Cơn chiêm bao chết hay cái chết chẳng qua cũng chỉ là một giấc chiêm bao? Tôi nhìn thấy rất rõ ràng sự hèn hạ, ti tiện, tham lam vô lý của con người v.v … và ngay cả những sự thanh khiết, anh hùng mã thượng v.v… cũng đều phải vịn vào một cái gì đó để đứng với cuộc đời!
 
Con người ta hầu như không ai đã sống cho chính mình, cho chính cá nhân bản lai của mình. Con người ta đã phải vịn vào một thứ gì đó để thở, để sống còn. Tôi mượn ý của Phùng Quán nói với Hoàng Cầm, mặc dù Hoàng Cầm có thể đã không tương xứng với cái ý này của Phùng Quán: Tôi vịn vào Thơ để sống, để thở. Tôi thở bằng thơ và tôi tồn tại với thơ tôi.
 
nhân danh những tư duy sáng suốt
con người khuyên nhau
“anh chỉ cần sống theo đúng ý tôi”
mọi sự sẽ vãn hồi
hạnh phúc ấm no hòa bình
ngay cả tình yêu là cái mơ hồ khó nói
(ibid)
 
Không phải chiến tranh hòa bình chủ thuyết tự do vô sản chuyên chính du mục du canh và ngay cả du côn là những điều khó nói mà tình yêu. Con người Cộng Sản không phải đã nhân danh Tình Yêu sao? Lại là thứ Tình Yêu được viết hoa và viết đậm là Tình Yêu Thế Giới Vô Sản. Nếu cả thế giới cùng rủ nhau Vô Sản tức là Chuyên Chính Vô Sản thì con người sẽ lấy gì ăn và lấy gì mặc lấy gì sống….?
 
“anh chỉ cần sống theo đúng ý em” hay
“em chỉ cần sống theo đúng ý anh”
thì tình yêu chúng ta sẽ là mặt trời soi bóng tối
mở lối niết bàn
(ibid)
 
Niết bàn của ai? Nhiều khi niết bàn của một người này lại là “địa ngục” cho người kia. Cuộc dằng co rượt đuổi “niết bàn” và “địa ngục” sẽ triền miên bất tận và bất khả phân ly. Hạnh phúc của người này là khổ đau cho người khác…

Tôi trở lại đất nước tôi Việt Nam lần thứ nhì mười sáu năm. Lần thứ nhất năm 1990 tôi về tìm lại tôi và đã không tìm thấy tôi là tôi đã mất tôi. Lần thứ nhì 1992 tôi không về tìm lại tôi không về tìm lại bất cứ gì hết và hốt nhiên tôi thấy tôi có mặt ở khắp mọi nơi trên đất nước. Trong tất cả những nỗi bất hạnh của con người Việt Nam và cây cỏ đất đai sông suối rừng núi phố phường đồng ruộng thành quách Việt Nam
Màu chiêm nghiệm úa vàng trong mắt khô ký ức.
 
vì thế nên Miakovski tự bắn một viên đạn vào đầu
chuyện không có gì đáng ngạc nhiên
khi ông ta là thi sĩ!

Cuộc tử sinh của thi sĩ có phải cũng là cuộc tử sinh của Thơ Ca?
Trăm ngàn lần không phải!!!

 
những dòng chữ mệt nhoài lăn trên giấy
con người hoang mang tìm định nghĩa chính mình
con ốc vẫn làm thinh

(Con Ốc, hè 94)
 
Con ốc bọc vụ trụ quan của nó lại trong chiếc vỏ. Thỉnh thoảng nó thò đầu ra ngoài nhưng phần còn lại của cơ thể vẫn dấu bên trong chiếc vỏ. Thân tâm của con ốc vẫn dấu kín trong lớp vỏ cứng lớp vỏ vôi. Con ốc tự gọt đầu gọt thân bọc vôi mình và bềnh bồng trôi dạt trong lòng biển thẳm. Chìa khóa của giác ngộ nằm bên trong hay bên ngoài cái vỏ ốc? Con ốc vẫn làm thinh và công án bắt đầu mở ra vô cùng tận những ẩn số và những đáp số. Những câu hỏi gà và những câu trả lời vịt
Như vậy, gà cùng vịt cùng nhau phối hợp cuộc nhân duyên hỏi đáp triền miên bất tận. Cuộc nhân duyên của tử sinh rốt ráo!
 
người chết biết đi như người sống
người điên khóc cười qua cơn mộng
những mảnh tường trôi nứt kẽ đời
ngôn ngữ loan nhào trong óc rỗng

ai hát. Ai hát. Lời sao mệt?
máu nhỏ bàn tay. Dấu chấm hết
ở đó tôi nhốt thời thanh xuân
trên nấm mộ xanh hoa nở miết

 
trái tim Trang Tử cười vô lượng
ngày qua. Ngày qua chim mất hướng
bướm cũng tìm chim bay lang thang
giữa thịt và xương khua ngất ngưỡng.

(Từ Việt Nam, New York Đến San Francisco, 92-94)
 
Bướm tìm chim hay con người tìm lại thân tâm giữa tim đời rách nát? Cuộc hành trình này gian nan và vô vọng giữa hai vách núi chót vót sừng sững còn lại một khoảng trời hẹp và những vì sao đêm. Một vì sao ngày nhấp nháy có và không giữa hai vách núi. Chỉ có một con đường giữa hai vách núi. Chỉ có hai chiều giữa một con đường trong hai vách núi. Tới và lui. Hướng nào là tới hướng nào là lui?
Tới lui trong cuộc trần ai là tới lui giữa trần gian vô nghĩa lý. Từ Mỹ trở về Việt Nam hay từ Việt Nam trở về Mỹ? Công án này trùng lấp lên những công án khác hàng lớp dày dặc và bất khả ngừng nghỉ. Trên bờ biển Vũng Tàu có con chim hải âu chết không nhắm mắt. Trên bờ biển Nha Trang tôi lại tìm thấy một con chim hải âu chết không nhắm mắt. Hai con chim chết trên hai bờ biển khác nhau rất giống nhau. Cùng màu xám nhạt và cùng chết không nhắm mắt. Hai con chim chết trên hai bờ biển hay là một con chim đã chết hai lần trên hai bờ biển Việt Nam?
 
con chim gõ kiến bay qua bờ bỉ ngạn
mổ nát núi tu di tìm lại thân tâm
(Con Chim Gõ Kiến, Hè 94)
 
Con chim gõ kiến hay con chim hải âu?
Câu hỏi này biền biệt bắn vào hư vô và không chút chờ đợi một câu trả lời. Dù là một câu trả lời vô duyên tối nghĩa.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
BỐN
 
Năm 1990, những cuốn sách tôi mang về bị tịch thu với lời chú dẫn trong “biên bản”:
 
“Văn chương bôi bác chế độ. Thơ thì đồi trụy.”
 
Văn chương bôi bác chế độ là cuốn “Gã Cùi Và Miếng Dừa Non” trong đó tôi có những bài tạp ghi một thời hoang dại của những năm đầu sống trên đất Mỹ. Những năm tháng mà ông bạn rất thân của tôi NH gọi là “Những ngày hoang dại.” Những ngày hoang dại của Building Mayan the Hotel of California. Căn phòng đọc sách của Thiền Viện thầy Thích Thiện Aân Los Angeles. Cái chăn cũ do Jack đen tặng và Erica với bài thơ nói về những bãi cứt chó trên bờ biển Santa Monica…  “Gã Cùi Và Miếng Dừa Non” BỊ tịch thu và ĐƯỢC in lậu lại khoảng hơn tháng sau đó; để rồi lại BỊ tịch thu lần thứ nhì những ấn bản của các tay đầu nậu sách ở Việt Nam.
 
Khỏi cần nói ra, sách của tôi bị công an nhà nước Việt Cộng tịch thu, mà sao mấy tay đầu nậu in lậu sách chôm đâu ra để mà in lại?
Tập thơ “Anh Có Thực Sự Muốn Thành Một Bồ Tát” bị treo cổ vì tội “đồi trụy”, trong đó mỗi trang thơ là một Pháp Ấn của bàn tay Phật.
 
về quên Lăng Nghiêm Kinh
ngồi như Kim Cương Đại Định
ngồi ở đâu cũng là ngồi
thì ngồi giữa New York city
cũng vậy
như như bất động
ngồi giữa New York city đọc Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh
không chấp nơi tướng là không chấp nơi tướng
dù rằng vạn đại Cổ Đức, Thiện Tri Thức và Phật Tử
ai ai cũng đều ngưỡng mộ ngợi ca những tướng đẹp của Như Lai

(TRẦN NGHI HOÀNG,
thơ “Anh Có Thực Sự Muốn Thành Một BỒ TÁT”,
Văn Uyển 1990, trang 17)
 
Ngồi ở đâu cũng vậy nhưng ngồi ở Việt Nam bây giờ khác! Ngồi ở Việt Nam bây giờ không phải là ngồi bình thường mà là ngồi trong lửa đỏ. Lửa của sự ngu muội và tiểu tâm. Của sự hèn nhát và nghi kỵ. Của con người rất khó khăn để gặp một con người năm 1990 đất nước Việt Nam đã ba hồi bốn hiệp “cởi trói” và nhấp nhỏm trước những chữ “tự do, dân chủ”.
Mười một năm sau 2001 tôi lại về Việt Nam và Huy Tưởng tặng tôi cuốn “Gửi Vầng Trăng Lưu Lạc” do nhà xuất bản Hội Nhà Văn in năm 1994. Tập  “Thơ của những người Việt ở ngoài nước”. Trong đó có thơ tôi!
 
tôi muốn ngợi ca những tướng đẹp của con người
nhưng tôi không dám thức
cũng không dám ngủ
mà người ta thì thức ngủ bình thường
giữa ngày và đêm
ở trong tôi không có ngày đêm
ở trong tôi chỉ có triền miên mặc tưởng
ở trong tôi có vô vàn hạnh phúc và vô vàn khổ đau
bí mật này
là bí mật của máu và hơi thở
tôi không nói ra được như một bình thường
mà người ta thì thức ngủ bình thường

(Ibid)
 
Trước sân nhà nghiên cứu Hán Nôm Nguyễn Quảng Tuân bảy giờ sáng hai đứa bé ở truồng bò lê la. Cặp vợ chồng cuộn mình trong đống chăn chiếu rách làm tình một cách im lặng. Hai đứa bé một đứa khoảng năm tuổi. Đứa kia chừng đâu hai tuổi. Và biết đâu một đứa nữa đang tượng hình trong bụng người đàn bà sau khi những con tinh trùng của người đàn ông đang nhắm mắt nhịp nhàng kia cũng đã “nhắm mắt” phóng vào ngõ tối. Cái ngõ của Tử Sinh.
 
cửa tử sinh
là chốn nơi hoan lạc
bởi tử sinh
cùng một nghĩa như nhau
đi hay về
đi để về đâu?

tôi đứng lại
là tôi đã đến

(Ibid, trang Mở)
 
Đến đâu? Về đâu? Chỉ còn đứng lại giữa một ngã ba hư vô là cách chọn lựa của con người khôn ngoan ở ngoài tôi.
Chuyến xe đò Sài Gòn Nha Trang nổ bánh hai lần. Gãy nhíp một lần. Bình xăng bị lủng chảy hết xăng một lần và cuối cùng là liệt máy. Trước những sự vụ tai ương này hành khách có bổn phận phải chờ cho đến… khi nào tài xế và lơ xe săn tay áo… thành thợ máy sửa cho xong chiếc xe tội nghiệp. Nếu hành khách nào nóng lòng muốn đi nhanh thì đón các xe đò khác chạy ngang qua… Và lại phải mua vé với chiếc xe “khác” này. Như thế như thế, thì món tiền đã mua chỗ ngồi đi từ Sài Gòn đến Nha Trang trên chiếc xe đang liệt máy coi như… xong. Hành khách bỏ xe, chứ xe vẫn “rán” lo cho hành khách!
Có điều, chiếc xe đò sau cũng chưa chắc an toàn!!! Tôi đã bị nằm đường với độ hơn bốn chục khách đồng hành giữa đồng không mông quạnh với những lửa đèn tù mù xa khuất hai bên ruộng lúa khô cằn hiu hắt gió. Hỏi thì được cho biết là “ông đang ở đâu đó gần Cam Ranh”. Cam Ranh là đoạn đường sạn đạo với đầy đủ và đúng đắn nghĩa của nó hồi năm 1990. Tôi đang hoang mang ở đâu đó trên đất nước tôi. Cam Ranh hay Lằn Ranh của hôn trầm mê chướng. Mê đạo. Tôi vuốt ve nhẹ nhàng trái tim mình và thầm đếm những nhịp hẫng của Nó. Của Trái Tim Tôi.
 
hãy đánh vào chính trái tim của anh
không có tiếng chuông nào
bằng sự im lặng nhưng lại vang vọng thâm sâu như
tiếng chuông được đánh phát ra
từ trái tim của chính mình

tiếng chuông từ trái tim chính anh
sẽ bay đến từng chúng sinh trong khắp cõi ta bà
sẽ bay đến cõi Phạm Thiên
sẽ thức tỉnh Đế Thiên Đế Thích
sẽ bay đến cõi A Tu La
và sẽ làm xúc động tấm lòng những giai nhân
A Tu La thần bí
Các nàng A Tu La sẽ yêu anh
Như các nàng đã yêu tôi

(Ibid, trang 23)
 
Tôi đã đánh vào trái tim chính tôi, sau khi đã nhẹ nhàng vuốt ve Nó. Tiếng vọng từ trái tim tôi đã không đánh thức Đế Thiên Đế Thích Phạm Thiên. Và Nó đã không bay đến được cõi A Tu La thần bí. Mà Nó đang xót xa giữa một buổi chiều hôm giữa bốn bề hoang vu đất ruộng… Những đóm lửa đèn dầu xa khuất như từ một cõi khác. Cõi A Tu La?
 
và khi các nàng A Tu La đã yêu anh rồi
anh không cần đánh vào trái tim anh nữa
vì tiếng chuông từ sự
nát tan của trái tim anh
sẽ vang vọng đời đời

(Ibid, trang 23)
 
Tôi đang thèm một cơn mưa dù là một cơn mưa bóng mây. Tôi đứng ở hiện tại hoang vu đất đá Cam Ranh mà tôi đang bay đâu đó. Những bóng người nhòa nhạt lô nhô hai bên đường những tiếng chửi thề những lời than vãn! Ngày mai trình diện công an thành phố Nha Trang bây giờ tôi còn đứng giữa chốn hiện tại không có! Cam Ranh mười sáu năm trước đó những ly ruợu nửa đêm hết ruợu uống qua cồn hòa với nước dừa. Tụi mày uống ruợu kiểu như vậy sẽ có thằng ỉa ra máu, tin tao đi. Thằng Ngà phán như vậy như vậy nhưng cuối cùng rồi nó cũng phải nốc từng ấy ly như những thằng sắp ỉa ra máu khác!
 
mũi tên hiện tại
cắm vào hồng tâm quá khứ
những nhân vật của vở trường kịch
xuất hiện trên tiền trường
và những nhân vật
thấp thoáng sau cánh gà
cùng khán giả vỗ tay rầm rộ

quá khứ vỡ ra thành những
giọt nước mắt
của những nhân vật buồn
trong vở trường kịch không tên
và hiện tại bay lên
thành tiếng cười
của những nhân vật hân hoan
hạnh phúc

màn vừa mở
và màn đã khép!

(Ibid, trang 24)
 
Thực ra, màn kịch đã khép tự bao giờ chẳng thể nào nhớ nỗi! Màn kịch khép âm thầm không một tiếng vỗ tay. Quá khứ tan tác ngập ngập chìm chìm những nhân vật vô cảm của vở trường kịch không bao giờ chấm dứt. Chẳng có hiện tại nào để bay lên. Để hóa thành những nhân vật hạnh phúc hai bên tấm màn khép mở của một sân khấu đời luân lạc.
Mười sáu năm trôi nổi ở đất lạ quê người nhưng chưa khi nào tôi có một cảm giác bơ vơ khốc lạnh như buổi chiều hôm, như đêm xám đó với chiếc xe liệt máy Sài Gòn Nha Trang như không bao giờ tới!
Tôi ngồi trên bờ cỏ, tựa long vào một gốc cây khô tôi không biết tên. Tiếng côn trùng. Tiếng dế gáy. Mỗi lần tôi nghe tiếng dế gáy tôi liên tưởng tới những nghĩa trang. Trong nghĩa trang đêm có loài hoa vô nhiễm. Nở sáng như trăng nên giữa nguyệt là hương. Tôi nhớ tới những người chết. Tôi nhớ Tây Hương.
 
những con dế
(tiếng gáy của dĩ vàng)

trong đôi mắt em
(có màu xanh của nắng buổi sớm)
và những vòng hoa trên mộ người chết
vẫn long lanh tươi đẹp
nhờ những giọt sương đêm
(không bao giờ là những giọt nước mắt của người sống)

(Ibid, trang 64)
 
Người chết bây giờ biết đi như người sống! Những người chết còn thở. Hơi thở của quỷ ma và của bóng tối.
Ngày mẹ chết tôi không có mặt. Tôi ở xa buổi sáng thức trên giường mở mắt thấy mẹ ngồi trên thành cửa sổ nhìn tôi cười buồn tôi biết mẹ ở Sài Gòn đã mất 1971. Tôi bay về Sài Gòn bước vào nhà hai bà chị vừa nhìn thấy tôi bốn con mắt đã mọng đỏ những giọt nước mắt đã trào ra trào ra. Tôi không khóc tôi vào tủ lạnh lấy một ly beer tôi uống hết ly beer và ném chiếc ly vào vách rào để nghe tiếng thủy tinh vỡ nát.
 
Cha tôi chết trong tay tôi hai con mắt nhắm chiếc miệng móm mém như cười. Cha tôi chết như đi vào một giấc ngủ dài ở California. 1992.
 
sợi mây chở trọn tâm hồn
bay lên ở trí nhớ mòn mỏi
(bay lên như tiếng hát của quá khứ)
rớt mất tâm vào hư không

trên mộ người chết những vòng hoa đã héo
(song le những giọt sương đêm vẫn lộng lẫy muôn màu)
trong ánh nắng tàn phai
và trong mắt em có màu tím buổi chiều
hấp hối

tiếng gáy của dĩ vãng
(những con dế bây giờ đã ngủ)

(Ibid, trang 65)
 
Cha tôi đang ngủ trong nghĩa trang Virginia và mẹ tôi đang ngủ vùi trước sân nhà từ đường ở Tân Thủy Ba Tri Bến Tre. Cả đời mẹ tôi chưa từng nghe to tiếng với cha tôi. Mẹ cả một đời phục tùng cha như một chiếc bóng và cha lại như một chiếc bóng xum xuê che kín đời mẹ. Cha bảo bọc, trùm phủ lên mẹ và các con suốt mấy mươi năm. Các con của cha mẹ trừ hai chị và thằng Út, hai thằng con trai lớn từng đứa từng đứa mất hút vào đời mất hút vào năm tháng. Và tôi là đứa con đã đi hoang sớm nhất. Tôi đã rời bỏ mái ấm của cha mẹ từ những năm mười bốn. Mười sáu tuổi. Tháng Tám năm xưa tôi lãng tử hồi đầu về vì nhớ mẹ. Trên đoạn đường tôi về tôi có qua Cam Ranh. Lần đó tôi uống nước dừa không có pha ruợu. Nước dừa uống cho đã khát và sau đó uống ruợu để cho khát nước!
 
những trái gió kết nôi trăng lạnh
muộn màng trên những bãi chiêm bao
gió cuồng nộ lên cỏ vây bất hạnh
nói làm chi những chuyện xưa sau

trăng lạnh hơi sương trăng đông đặc
bữa tôi về tháng Tám
mẹ nằm võng đu đưa nhìn tôi cười
đỏ thắm nụ trầu tươi
mẹ nấu cho tôi nồi canh chua cá bông lau
ăn với tôm rang để vỏ ngọt thịt mặn môi
tôi lang bạt giữa đời
với mẹ vẫn là tôi trẻ nít
bây giờ tôi còn lại sau
bốn mươi năm của mẹ banh da xẻ thịt
là bốn mươi năm luân lạc của tôi
bốn mươi năm thất tán nổi trôi
và mẹ thì đã
bay lên trời từ thuở ấy

chén máu lệ ngọt ngào tôi đã uống
ở trần gian không còn chất đắng cay
tôi viên mãn trong vô cùng đau noun
từ mẹ sinh tôi để sống kiếp này

tôi đã nhân danh tôi chơi đời tôi tận tuyệt
những dấu tay người xa lạ lớp da khô
những lớp da khô
trên xác thân tôi ngày tháng mù mờ
bong tróc mất và lớp da non đang liền mặt

(Ibid, trang 100)
 
Tôi viết bài thơ cho mẹ năm tôi trên bốn mươi. Đã hơn mười năm qua. Bây giờ tôi đã trên năm mươi. Bằng tuổi tôi hôm nay thời xưa là những “bô lão” dự Hội Nghị Diên Hồng. Những “bô lão” trên năm mươi tuổi thời xưa dự Hội Nghị Diên Hồng lo toan việc nước. Tôi ngày nay trên năm mươi vẫn nhiều lúc nhớ mẹ rưng rưng! Tôi chơi đời tôi cạn kiệt và tôi vẫn trẻ thơ! Tại sao không? Mặc dù tôi đã không còn mẹ từ lâu lắm!!!
 
(như cỏ dại chết vùi trong lòng đất
rồi phục sinh ở giây phút không ngờ
và tươi xanh vào một lúc tình cờ)
và tôi vẫn chơi đời tôi tận tuyệt

tôi đã sống từng phút giây quyết liệt
giữa trần gian mất lối đi về
nhờ có mẹ với nụ cười giữa nguyệt
nụ từ bi mở hết cửa điên mê

(Ibid, trang 100 & 101)
 
Chuyến xe đò liệt máy hôm đó 1992 giữa con đường hoang vu Cam Ranh như mang tôi về với bóng mát của quá khứ với mẹ tôi. Con sâu không chịu nằm yên trong chiếc kén con sâu hóa thành bướm và bay vào rừng hoa và bay vào đời giông bão. Và bay đi tìm hoa thơm cỏ lạ và đã lắm phen bay lạc vào những rừng gai khô hay giữa những bầy ong vò vẻ!
 
tôi có nụ cười mẹ khơi nguồn quá khứ
đem tôi về hiện tại
và dắt đưa tôi đến mai sau
giữa trần gian mất lối
tôi nhìn thấy tôi trong nụ cười mẹ nhiệm mầu
nụ cười mẹ nằm trong nôi trăng lạnh
những trái gió kết bởi những vì sao
trên bãi chiêm bao
muôn cây cỏ hồn nhiên lớn dậy
hát ca
bằng những lời thơ tự tại

thầm gọi mẹ hai bờ môi run rẩy
những ngày đêm lưu lạc giữa đời
tôi vẫn thấy trong vầng trăng lộng lẫy
mẹ tôi cười đỏ thắm nụ trầu tươi

(Ibid, trang 101)
 
Hốt hốt nhiên nhiên nhờ chiếc xe đò liệt máy trên đoạn đường Sài Gòn Nha Trang ở khoảng Cam Ranh mà tôi đã ngộ ra nhiều điều trong những trầm tư nhớ về mẹ tôi. Tôi đã giễu đời tôi rất tận tình có nghĩa là tôi đã sống bằng hết hơi sức của tôi. Tôi sống bằng máu thịt xương da của cha mẹ và tôi mang anh chị em tôi theo trên nỗi sống đó cũng bằng tất cả những nghiệt ma của một kiếp nào những kiếp nào của bản lai tôi.
 
không do tình cờ mà đến
không do tình cờ mà đi
không có gì dị biệt
Pháp Giới này mở ra
để nói những điều mà ai cũng biết
mà ai cũng nghĩ là

(Ibid, trang 117)
 
Tôi thầm niệm hồng danh bát phương Chư Phật! Nam Mô…
 
 
Virginia Feb, 10/2004 

Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0