📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Hoạt Động Biến Nhân Hình

58 trả lời, 10.950 lượt xem — Trang 2 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-11-13 13:29:08tuyết liên>
Mình nhận gõ từ trang 510-520 nha.
Không hổ thẹn sao biết đời vinh nhục
Không đau buồn sao biết nghĩa nhân gian
Không thương nhớ sao biết sầu ly biệt
Không hiếu thảo sao biết đạo làm người

http://www.readbud.com/?ref=4967248
Đăng nhập để trả lời
0
Hi Tuyết Liên,

Mình đã ghi tên bạn vào danh sách nhận gõ trang 510 - 520.
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
từ trang 1 - 10

Hoạt Động Biến Nhân Hình

Chương 1

Một ngày xuân sớm ở Giang Nam, tôi thả bộ trên con đường nhỏ rợp bóng cây, cô quạnh  mà tự do tự tại.
Bạn nói xem, sợi dây kia dài bao na?
Thân cây nhỏ mà cao, có những vết màu đỏ loang lố ngoài vỏ, cành cây non mềm đan xen thành mạng lưới tua tủa chỉa lên trời, sau những ngày mưa dầm, bầu trời màu lam pha xám đã bắt đầu trở nên trong trẻo và ấm áp.
Sợi dây kia, mối ràng buộc kia đã ngủ say, năm mươi năm, năm mươi năm rồi, năm này qua năm khác, cho đến tận hôm nay.
Nhìn lá thì thấy giống cây hoè ở miền bắc, nhưng lại dày dặn hơn lá cây hoè miền bắc.  Mà kỳ diệu là, dù lá cây rất dày rậm, nhưng chúng chỉ mọc ở bên trên đỉnh ngọn cây, trông giống như lợp lên một lớp mái mỏng.  Do vậy, nhưng cành cây đan xen nhau theo hình lưới và những tia nắng rọi qua kẽ lá, nom cứ rõ mồm một.
Nói rằng sợi dây nọ thật quá dài, xuyên qua cả nửa thế kỷ, vì vậy tôi có muốn nhưng cũng không dám tùy tiện rút kéo nó.
Tôi biết bên cạnh đây là đường vành đai rộng lớn trải nhựa.   Lúc nào cũng cõ những chiếc xe con loại cao cấp chạy qua, hai bên đường là những rặng ngô đồng Pháp vừa um tùm dày rậm vừa cao to lửng lững.  Tôi biết ở phía bên kia là một hồ nước đẹp mê người.  Tôi biết đó cũng là mùa xuân như ma xui quỉ khiến, vừa triền miên bất tận vừa chớp mắt vụt qua.  Mùa xuân thì mênh mang vô hạn.  Nhưng tạm thời bây giờ tôi chỉ muốn thong thả dạo bộ trên con đường nhỏ này, dường như tôi chỉ thuộc về nó mà con đường nhỏ đó cũng chỉ thuộc về tôi.
Nếu như cái sợi dây như thế chợt rung lên, thì âm thanh của nó, chẳng lẽ lại có thể hài hòa, lại có thể khiến những con người thích hoa tươi kẹo ngọt, nghe lọt tai chăng?
Ngày mười bảy thán sáu năm một chín tám mươi, phó giáo sư ngữ văn Nghê Tảo được cử làm một thành viên trong đoàn đại biểu học giả Trung Quốc đi thăm thị trấn H thuộc một thành phố cảng nổi tiếng ở một nước phát triển phía bắc châu Âu.  Nghê Tảo bốn mươi sáu tuổi, đầu tóc xanh tốt mượt mà, ăn nói lanh lợi sắc sảo, mắt mũi tinh tường, tay chân hoạt bát, đôi chân tuy không thật chắc khoẻ nữa nhưng vẫn giữ được dáng dấp ung dung nhanh nhẹn khi đi lại.  Nếu không nhìn thấy những nếp nhăn rất kín đáo trên mặt, đặc biệt là ở đuôi mắt và khoé miệng, nếu không nhìn thấy nỗi buồn nhân thế sâu xa trong ánh mắt khi rơi vào suy tưởng của ông thì có thể nghĩ đó vẫn là một thanh niên hăm hở đầy hoài bão, đồng thời khéo giữ điệu bộ, biết cách chăm sóc vẻ ngoài, giữ được tư thái hào hoa đương thịnh.
Tán giờ ba mươi phút sáng, đoàn của Nghê Tảo bước lên máy bay của công ty hàng không Briten tại thành phố B.  Ngồi phía bên trái ông là một nữ sĩ tóc màu khói, người mảnh mai, mặc áo choàng sang trọng, mặt mũi rất nghiêm trang, giống đàn ông.  Nữ sĩ xách một chiếc sắc cũng sang đẹp đắt tiền.  Khi máy bay đã trở lại bình ổn sau khi tăng hết độ cao, bà ta mở túi xách tay bằng da, lấy từ trong đó ra một chú chó lông vàng nhỏ xíu.  Bà ca cầm sợi dây xích chó bằng bạc, đặt con chó nhỏ đã được huấn luyện kỹ trông như một thứ đồ chơi xuống dưới chân.  Nghê Tảo chợt hiểu, cái vẻ nghiêm trang đó của vị nữ sĩ, chẳng qua chỉ là để che dấu việc lậu vé cho con chó nhỏ kia mà thôi.  Ngồi phía bên phải của Nghê Tảo là một vị đang hết sức chăm chú thao tác máy tính xách tay để điền số liệu vào một bảng biểu gì đó.  Ông kia làm việc chăm chú đến nỗi không mảy may chú ý gì cũng như chẳng buồn liếc qua cửa sổ để xem phong cảnh trời mây gì cả, đã vậy còn trả lời "không" với chiêu đãi viên khi cô ấy đưa đồ uống.  Ông ta thật là bận rộn.
Vừa quá chín giờ một chút, máy bay đã hạ cánh xuống sân bay thành phố H.  "Thế ra chúng ta đã đến thành phố H rồi ư?  Vậy tôi đã có thể tìm được giáo sư Sử Phúc Cương thật ư?"  Ông hỏi tiểu thư Betty, người hướng dẫn kiêm phiên dịch của đoàn.
"Tôi nhất định giúp ông tìm được người bạn cũ của ông, ông Sử Phúc Cương đó."  Cô Betty ân cần và hết sức chu đáo trả lời ông bằng tiếng Trung Quốc thật rõ ràng và chuẩn xác.
Nghê Tảo hơi có ý giận mình.  Vì Sử Phúc Cương mà lại sinh sự lôi thôi ra chứ?  Rốt cục Sử Phúc Cương với ông thì dính dáng gì?  Nói cho cùng ra, người thực sự là bạn cũ của Sử Phúc Cương không phải là Nghê Tảo, mà là cha của Nghê Tảo, ông Nghê Ngô Thành.  Lần ra nước ngoài thăm thú này của Nghê Tảo thì dính dáng gì đến người cha Nghê Ngô Thành?  Cho dù Nghê Tảo không đi nước ngoài, cho dù ông có cùng sống trong một thành phố với cha mình, thì hai cha con với nhau cũng có dính dáng gì bao nhiêu đâu?
Thế mà nửa năm trước đây, khi nhận được lời mời của phía hữu quan nước ngoài, ông đã nghĩ ngay tới Sử Phúc Cương.  Suốt đường đi, ông không hề quên Sử Phúc Cương.  Đến thành H thăm Sử Phúc Cương một cái, điều đó dường như là một ý nguyện phải hoàn thành, dường như là một kiểu kiếm tìm nguồn cội, dường như là gảy lên một dây đàn cổ đã yên ngủ từ lâu lắm.
Sau  khi đến thành H, việc đầu tiên là tham quan hiệu sách Phương Đông, rồi đến một trung tâm giao lưu học thuật quốc tế gặp gỡ với một vị nữ tiến sĩ thân hình mảnh dẻ, mặt mũi trang nghiêm, đeo một cặp kính cực to, rồi đến bến cảng tham quan và dùng bữa trưa.  Khi dùng bữa, có chủ bút một tờ báo lớn nhất của địa phương cùng tiếp khách, Nghê Tảo bất chợt lại bắt vào câu chuyện rồi say sưa cùng vị đó thảo luận rất nghiêm chỉnh về vị trí của Mao Trạch Đông trong lịch sử thế giới, đặc biệt là với lịch sử tư tưởng.  Ông chủ bút báo giới thiệu với Nghê Tảo ảnh hưởng to lớn của phong trào hồng vệ binh "Maoit" những năm một chín sáu sáu, sáy bảy đối với thanh niên châu Âu, lúc đó... Họ nói chuyện nở như ngô rang, cho đến khi xong bữa, leo lên ô tô đi trường đại học H, ngoài miếng bánh pudding tưới rượu brand đi ra, Nghê Tảo không còn nhớ bữa trưa đã ăn những gì.  À, đúng rồi, có một bát nhỏ súp đặc mà mùi hành tây rất đậm, lại mặn nữa... chương trình trong ngày bố trí thật quá căng thẳng.
Hai giờ chiều bắt đầu tọa đàm với sáu nhà Hán học của đại học H.  Trong sáu vị  đó thì bốn vị thuộc huyết thống châu Âu. Một vị có đôi mắt to màu xanh lơ rất đẹp, mái tóc hạt dẻ vuốt gọn ra sau, nói năng nhỏ nhẹ, rất lễ độ, lịch thiệp.  Nhưng ông ta, với nụ cười thanh nhã và cởi mở, đã đặt ra rất nhiều câu hỏi khá hóc búa.  Vị thứ hai cẳng tay cẳng chân đều dài, khi nói chuyện ưa nháy con mắt, vừa nói vừa tự mình cười trước, khi nào cũng vậy.  Người thứ ba tuy là đàn ông, nhưng lại để tóc xõa ngang vai, ông ta nói tiếng Hán sõi nhất tất cả, hiểu biết khá nhiều việc đang xảy ra ở Trung Quốc, ra vẻ là người thông thạo Trung Quốc đương thời lắm.  Người thứ tư, người thứ năm... người thứ sáu ánh mắt vô cùng u tối, mỗi một bộ phận của cơ thể đều trong ung ủng đầy thịt, nhìn cái béo tốt đến chảy mỡ của ông ta mà phát ớn, Nghê Tảo mất cả tự nhiên, cảm thấy những ngón tay chuối mắn được rửa sạch đến trong như nến của ông ta cứ y như những khúc lòng non trên bàn bỗng sống dậy và hết cử động vậy.
Hai vị kia thì vốn là đồng bào của Nghê Tào.  Cái vị lớn tuổi là em trai của một kép võ kinh kịch nổi tiếng ở Hán Khẩu.  Vai Võ Tòng mà kép võ đó diễn đã trở thành mốt thời thượng suốt mấy chục năm ở đôi bờ sông lớn, đến nỗi sau đó những cuốn truyện tranh lấy đề tài tử truyện Thủy Hử, khi vẽ đến nhân vật Võ Tòng đều lấy ông làm mẫu, nếu có ai vẽ không giống hình người kép võ nổi tiếng kia thì độc giả già trẻ đều không chấp nhận, họ sẽ cho rằng vẽ như vậy là không giống Võ Tòng.  Người em trai của kép võ đã xuất dương du học từ thập niên bốn mươi, rồi định cư ở thành H, bây giờ đang mặc bộ âu phục màu trắng ngà rất vừa vặn, thắt chiếc cà vạt hai màu, đôi kính gọng tròn rộng, dáng vẻ và tác phong
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
Trang 11 – 20
--------------
này không giống với phương Đông, khiêm tốn không được coi là nét đẹp đạo đức đáng kể nhất, người ở đây bất kể nam hay nữ, kể cả trẻ con, tất cả đều thẳng lưng ưỡn ngực, khí phách hiên ngang, thần thái tươi mở. Nói theo cách ví von thời thượng, thì ai nấy đều tỏ ra hài long với mình. Thế mà người anh em đồng hương âu phục thẳng tắp ở đây, tuy vẻ ngoài khiến người ta thấy có vẻ tự hài lòng về mình, song thực ra lại thể hiện cái gì đó dường như là nhút nhát đến mức khốn khổ thế nào ấy? Nhưng tại sao ta lại quan tâm đến một người chẳng can hệ gì, một người chỉ thuộc hạng bèo nước tương phùng như vậy nhỉ? Góc biển chân trời, ở đâu chẳng có những người hình dung tiều tụy, tâm tình u uất, có hoàn cảnh khó khăn cứ khiến mình không thể bỏ qua, khiến ai cũng cảm thấy thân thiết. Những người trực tiếp liên quan đến Nghê Tảo kia mà ông còn chẳng quan tâm được hết nữa là…
Vừa bước vào giang phòng hội nghị thoáng mát dễ chịu, không một hạt bụi, trần nhà tuy không cao, diện tích không rộng nhưng vô cũng sang sủa ưa nhìn này, Nghê Tảo nhìn ngay thấy người anh em đồng hương nọ. Cái không khí bi kịch toát ra từ ông ta, sự nóng nảy bộp chộp, sự tài tình hoặc kém cỏi ẩn dấu trong khồn khí bi kịch đó đã lập tức lay động Nghê Tảo. Nghê Tảo chọn một chỗ ngồi gần ông ta, nở nụ cười và đưa cho ông ta một tấm các. “ Người anh em” cũng lập tức móc ra một tấm danh thiếp, màu xanh da trời. Một mặt ghi tiếng Anh, một mặt là tiếng Trung Quốc.
Phó giáo sư đại học H
Tiến sỹ văn học, thạc sĩ lịch sử
Triệu Vi Thổ
 
Nghê Tảo gật đầu và ngạc nhiên sao trên đời lại còn có cái tên như vậy.
Cuộc tạo đàm tiến hành hơi có vẻ hình thức, chủ yếu là do vị trưởng đoàn của Nghê Tảo, vừa lựoi khẩu vừa thong kim bác cổ nói chuyện với mấy vị học giả phía bạn Đức. Nghê Tảo được dịp ngầm thả lỏng bản thân một chút. Lúc thì ngắm nghía thưởng thức những chiếc đèn bàn ở bốn góc nhà được làm theo dạng các bình hoa lớn, lúc thì ngó đầu nhìn qua cửa sổ ngóng hai chú chim nhảy nhót trên cành cây. Bọn chim nhảy nhót hót chơi chán thì dừng lại, dung những chiếc mỏ nhòn nhọn màu vàng quay ra rỉa long rỉa cánh, sang sửa bản thân. Nghê tảo cảm thấy không thể tưởng tượng được. Cả những con chim cùng loài lại có thể sống ở các nước khác nhau. Chẳng phải chúng có thể bay lượn tự do trên bầu trời ư? Chúng có thể tự lựa chọn chứ? Phải chăng chim choc cũng có số phận riêng, có những oan ức và khoái lạc riêng của mình?
Trưởng đoàn của Nghê Tảo dõng dạc nói:
“ Đối với lịch sử Trung Quốc, trăm năm lại đây, hoặc ba trăm năm lại đây, các ngài có thể có những lúng túng, bất ngờ, khó phán đoán thậm chí khó lí giải với một số sự việc, điều đó là hoàn toàn có thể hiểu được. Chẳng riêng gì các ngài, mà cả chũng tôi, tổ tiên ở Trung Quốc sinh ra và lớn lên ở Trung Quốc, đã chứng kiến bao nhiêu sự biến, bản thân là người trong cuộc của biết bao sự kiện đầy lịch tính phát sinh ở Trung Quốc, mà cũng thường cảm thấy lung túng và khó hiểu đối với những thứ đó nữa là…”
Lời nói của trưởng đoàn đã gây ra những tiếng cười, Nghê Tảo cũng cười. Cười là điềm lành, Nghe Tảo nghĩ, tiếng cười chung đó cũng có thể coi là một kiểu khơi thông chứ?
 
Năm một chín bốn chín, nhân dân Trung Quốc đã nắm được vận mệnh của mình, đã dung phương pháp cách mạng để lật lại xã hội Trung Quốc, đã dung phương pháp cách mạng để tiến hành cải tạo xã hội Trung Quốc về căn bản, điều đó là tuyệt đối cần thiết, là vĩ đại và thiêng liêng. Không có cuộc cách mạng long trời lở đất đó, nước Trung Quốc già nua sẽ không thể nào tiếp tục sinh tồn, không thể nào tiến lên được một bước. Đương nhiên, con đường cách mạng là không bằng phẳng…”
Trưởng đoàn tiếp tục nói. Nghê Tảo cảm thấy ông ta nói rất hay. Để xốc lại tinh thần nghe trưởng đoàn nói cho nghiêm túc hơn, Nghê Tảo đứng dậy, đi tới chỗ bình cà phê công cộng có cắm điện để giữ ấm, rót cho mình một cốc. Triệu Vi Thổ ra hiệu cho Nghê Tảo lấy thứ bột trắng thay thế sữa ( để chống béo phì) và đường để pha vào, nhưng ông đã cảm ơn và từ chối. Uống cà phê đen,đó là thói quen mà Nghê Tảo từ nhỏ đã học theo cha mình.
“…Nhưng tôi cảm thấy rát tiếc vì sự thất bại của cuộc đại cách mạng văn hóa”, vị học giả béo múp có những ngón tay chuối mắn gần như trong suốt lắp bắp nói bằng tiếng Trung Quốc, ông ta tìm người phiên dịch, đưa mắt quét quanh, tiểu thư Betty không có mặt. Triệu Vi Thổ đưa tay ra hiệu “xin mời” cho ông ta, ông ta liền trở lại nói bằng tiếng mẹ đẻ, Triệu Vi Thổ làm phiên dịch : “Tôi cảm thấy đáng tiếc cho sự thất bại của phong trào hồng vệ binh. Năm một chin sáu sáu tôi còn đang học đại học, tôi cho rằng hồng vệ binh Trung Quốc đã lập ra một mẫu mực cho toàn thế giới, những người trẻ tuổi chống lại truyền thống, chống lại thể chế đã tìm được một phương pháp cải tạo xã hội một cách nhanh chóng…”
Lời nói của vị học giả lắm thịt khiến Nghê Tảo giật mình.
Lần xuất quốc này, đối với tất cả những sự hiểu lầm, nghi ngờ, thậm chí khiêu khích của phái hữu và sự thành kiến chống cộng của thế giới phương Tây, ông đều đã có chuẩn bị cả rồi. Nhưng ông thực không ngờ tới ở đây mà lại có luận điệu cực tả thế này. Chỉ phải cái ngoại hình của vị học giả này hầu như không thể nào ăn nhập với quan điểm của ông ta, theo tưởng tưởng của người ngoài. Theo một tiêu chuẩn được công nhận, thì ngài kia hiển nhiên nên thuộc loại :giai cấp tư sản” mới đúng.
“ Vậy mà,nhiệm vụ cải tạo xã hội, trước nay không thể hoàn thành một cách nhanh chóng được ạ.” Rưởng đoàn trả lời một cách giản đơn mà lại trúng phóc.
Một lần nữa lại vang lên tiếng cười chung.
Triệu Vi Thổ dung tiếng Anh bổ sung them mấy câu, sau đó tự dịch ra rằng: “Tôi nói, tôi cảm thấy vui vẻ yên tâm, cảm thấy vui đến phát cuồng nữa đối với cái mà ông ta gọi là “thất bại” của phong trào hồng vệ binh trong cuộc đại cách mạng văn hóa, nếu không thì, Trung Quốc của chúng ta đã đi đời rồi…”
Nghê tảo đã nhận ra thứ tiếng Trung Quốc mà phó giáo sư Triệu nói không giống với giọng điệu của người đã định cư hải ngoại lâu năm, trái lại, còn giống “người đằng mình” hơn. Đồng thời, mấy câu nói hơi có vẻ khẩu ngữ kia của ông Triệu, tự nhiên lại làm tăng thêm một chút không khí thô cục cho buổi tọa đàm từ đầu vốn rất thanh tao nhã nhặn ở đây.
Sắc trời bỗng trở nên tối hẳn đi, chủ nhà bật những chiếc đèn ẩn trên trần phòng họp lên. Nghê tảo xem đồng hồ, vẫn chưa đến năm giờ. Ông lại nhìn ra cửa sổ, trời đã sầm xuống rồi. hai con chim nhỏ trên cây không thấy nữa. Những con chim bay qua  khung cửa có vẻ hoảng hốt, trời sắp mưa.
Không biết ở thành H này, lũ chim nhỏ có tìm được chỗ trú mưa không…Nhà cửa ở đây hình như thiếu những mái hiên.
Tiểu thư Betty vội vàng rảo bước đi vào phòng. Khi đi lại, cô không bao giờ uốn lắc mông gợi tình, mà luôn có dáng vẻ khẩn trương coi trọng hiệu suất làm việc của những phụ nữ công sở, mắt nghiêm trang không hề nhìn ngang nhìn ngửa. Thực ra, cô Betty còn rất trẻ, đang tuổi yêu đương. Nhưng cách ăn bận, cử chỉ, lời nói của cô cho đến cả nụ cười đều mang một vẻ giản dị rất Trung Quốc. Nghê Tảo tin chắc rừng cái vẻ giản dị đó chính là kiểu Trung Quốc. Học một ngôn ngữ nào thì sẽ bị ám thị bởi văn hóa của nó một cách không tự giác, tự Nghê Tảo có kinh nghiệm về việc đó. Hơn nữa, ông tin rằng, lấy một thứ ngôn ngữ làm quĩ tích cho một thứ văn hóa chứ không chỉ coi ngôn ngữ là phương tiện kí hiệu diễn đạt ý tứ để lúc nào cũng tùy tiện dùng thay cho tiếng mẹ đẻ, đó mới là điều kiện đầu tiên cần thiết để học tốt thứ ngôn ngữ ấy.
Cô Betty đi thẳng tới chỗ Nghê Tảo, kéo một chiếc ghế ra, ngồi xuống, nói nhỏ với Nghê Tảo: “ Tôi vừa đi nắm tin tức về Sử Phúc Cương. Sau khi từ Trung Quốc trở về, ông Sử Phúc Cương vẫn giảng dạy ở trường đại học này. Tháng mười một năm ngoái, ông ấy đã nghỉ hưu. Ông thường không ở đây, có khi đi du lịch một số nơi ở châu Á, có khi về nông thôn. Nghe nói cách đây ít lâu, ông và phu nhân vẫn còn ở Trung Quốc, còn bây giờ người ta nói hai vợ chồng ông có thể đang ở Manila. Giáo sư Sử nghỉ hưu ở đây, nhưng lại nhận làm giáo sư thỉnh giảng  cho đại học ở Philippin…”
“ Cô nói là, ở đây lúc này, không thể tìm được ông ấy hoặc phu nhân của ông ấy ư?” Cái từ “phu nhân” kia, đã cách đi rất lâu rồi, khi nói đến nó, Nghê Tảo cảm thấy hơi gượng gượng.
Hình như ngoài cửa sổ, mưa đã tí tách rơi, lá cây và những cành nhỏ đang rung động, trên đường những chiếc xe đã làm nước bắn tóe lên như hoa. Vì cửa sổ có tác dụng cách âm tuyệt hảo, người trong phòng không nghe thấy tiếng mưa, vì vậy cảnh vật bên ngoài trông giống như một bức tranh.
Xa trông non hữu sắc
Gần nghe nước vô thanh
Xuân đi hoa ở lại
Thấy người chim chẳng kinh.
Đó là một câu đố mà dì ruột ông đã dạy khi còn bé. Ở đó chim không trách người, bởi vì người không làm hại chim. Tại sao chúng ta lại không chú ý bảo vệ chim choc nhỉ? Thậm chí đã công bố cả văn bản luật rồi mà vẫn không xong. Có một số người cứ nhất định phải làm hại những con chim không hề làm hại gì họ. Hễ có cơ hội là họ phải làm hại ngay những sinh linh khác. Còn bản than họ thì, lại thường bị…
“ Đúng ạ, ở đây chỉ còn có nhà cửa để trống của họ thôi. Chắc là ngài buồn lắm, ngài đã không gặp được bạn cũ rồi!” Betty nói một cách rất thông cảm và đầy băn khoăn.
“ Xem ra, không gặp họ thì hay hơn…” Nghê Tảo nhè nhẹ trút một hơi thở, hơi nhúc nhích than mình, không biết là đang được giải thoát hay là buồn tiếc. Triệu Vi Thổ thoáng cười với ông một cách bang khuâng nhàn nhạt.
Cuộc tọa đàm kết thúc, mọi người chuẩn bị rời đi. Triệu Vi Thổ đi tới, hơi nghiêng mình ra phía trước, nói với Nghê Tảo: “ Ngài có muốn gặp Sử Phúc Cương hoặc phu nhân của tiên sinh Sử không?”
“ Có chứ ạ, ngài cũng quen biết họ ư?” Nghê Tảo nhướng lông mày.
“ Rất thân quen là khác, cực kỳ đấy”, ba chữ “cực kỳ đấy” được phát âm có vẻ hơi cường điệu, hơi giống giọng trên sân khấu kịch, nói thời giải phóng, hơi có vẻ…Không, rõ rang là không giống ngữ điệu của người Trung Quốc ở Đại Lục ngày nay gì cả.
“ Theo tin mới nhất của tôi, thì phu nhân Sử tiên sinh đã trở về rồi, bà ấy về tới nhà tối hôm qua, đi bằng máy bay của hang không Tây Ban Nha, giá vé sẽ rẻ hơn chút ít. Theo tôi được biết, thì tình hình như vậy đó.” Khi nói, Triệu Vi Thổ vừa gật gật đầu với tiểu thư Betty, dường như có ý xin lỗi vì đã đưa ra những thông tinh không đồng nhất với Betty.
“ Thế thì tốt quá rồi, xin ngài giúp tiên sinh Nghê liên lạc với phu nhân Sử cho, thế có được không ạ?” Tiểu thư Betty nói một cách vui vẻ, hào hứng.
Theo kế hoạch cũ, đòan phải trở về khách sạn, đúng sáu giờ rưỡi thì đi ăn tối với một vị phu nhân già. Vị lão phu nhân này khi còn trẻ đã kết hôn với một lưu học sinh Trung Quốc có tư tưởng cấp tiến, sau đó họ cùng nhau về Trung Quốc tham gia hoạt động cách mạng, lại cùng đến Diên An, cùng chào đón cuộc giải phóng năm bốn chín. Bà có quốc tịch Trung Quốc, là một nhà cách mạng lão thành tiếng tăm, giờ tuổi già sức yếu, trở về qquê hương chữa bệnh, sống nốt những năm cuối đời, nhưng vẫn còn tình cảm rất đầy đặn đối với Trung Quốc. Sau bữa cơm đó, đúng tám giờ rưỡi, ọ sẽ đến lhà hát thưởng thức buổi diễn ca kịch cổ điển. Và ngày hôm sau, các hoạt động được bố trí còn khẩn trương hơn nữa.
Triệu Vi Thổ đưa ra một kiến nghị: “ Ngài phải đành bỏ qua cơ hội dung cơm với vị lão phu nhân kia vậy, chúng ta sẽ đi ăn bữa cơm thường, rồi đến thăm phu nhân Sử, sau đó trước tám giờ tôi sẽ đưa ngài đến nhà hát…Như vậy, tôi cũng có dịp để tâm sự với ngài một chút”.
“ Đó là một ý hay”. Không đợi Nghê Tảo mở miệng, mọi người trong đoàn đều cho đó là rất khả thi, nên sốt sắng tỏ thái độ tán thành. Nghê Tảo tuy hơi tiếc không được gặp vị lão phu nhân nọ, nhưng lại nghĩ được những ba giờ đồng hồ thả lỏng bản than một chút, cũng vừa đúng với nhu cầu của mình. Hơn nữa, ông dự cảm rằng Triệu Vi Thổ hình như còn muốn nói gì đó với mình nên ông gật gật đầu và công việc liền định đoạt như vậy.
Dường như vì kiến nghị của mình được chấp nhận, Triệu Vi Thổ thấy được động viên tinh thần, nên tỏ ra hoạt bát hẳn, rút chiếc máy tình điện tử bé xíu trong túi ra, màn hình liền hiện ra “ Straoxơ Wolfgang” ( Sử Phúc Cương) – số điện thoại nhà. Bấm theo thứ tự hang số có bảy chữ số trên phím bấm của máy điện thoại, bàn phím phát ra tiếng nhạc cao thấp ngắn dài khác nhau, một lúc sau, Triệu Vi Thổ hớn hở nói:
“ Phu nhân Sử đấy ạ? Vất vả quá vât vả quá…Tôi là ai ư, ồ phu nhân chưa nhận ra giọng, chắc là vì tiếng động cơ máy bay làm ồn đấy, tôi là Tiểu Triệu…”
Toàn bộ ngữ điệu, ngữ khí, thần khí của Triệu Vi Thổ dường như chẳng còn dinhd dáng gì đối với mảnh đất của nước Châu Âu mà họ đang đứng chân, với thành H, với quốc tịch nước sở tại mà Triệu Vi Thổ và phu nhân Sử đang sử dụng, với cả huyết thống chính cống của “ tiên sinh Sử” nữa. Trong ống nghe điện thoại, rành rọt vang ra tiếng nói của phu nhân Sử với giọng kinh đô mà đúng giọng điệu Bắc Kinh xưa ( giọng điệu Bắc Konh trước giải phóng), “ Tiểu Triệu à, cái cậu bé láu lỉnh này hỏi thăm ở đâu mà biết tôi đã về rồi nào?...” Thoáng một cái, Nghê Tảo bỗng quên bẵng mình đang ở chỗ nào, ông chỉ còn cảm giác như mình đang đứng trong phòng điện thoại công cộng bên cạnh thị trường nhân dân Đông Tứ trong chùa Long Phúc hay sao.
“…Có một người bạn từ Bắc Kinh tới, cha của ông ấy là bạn cũ của tiên sinh Sử..bà thử đoán xem…gì cơ? Bà không đoán ra được, ông ấy họ Nghê, đồng chí Nghê Tảo đó, thế nào ạ?” Im ắng đi giây lát, có lẽ đối phương vẫn chia kịp có phản ứng. Điều đó khiến Nghê tảo hơi thấy tự ái, thậm chí phát nghi ngờ, chẳng hiểu mình tự nơi xa tới hỏi thăm, rồi lại một mình rời bỏ cả đoàn tự đi riêng, vậy có là khôn ngoan, có phải cần thiết không? Có phải thật là vẩn vơ và ngu xuẩn không nhỉ?
Triệu Vi Thổ bịt tay vào ống nói, hỏi bằng một thái độ lịch sự khác hẳn giọng nói trong điện thoại: “ Phu nhân Sử hỏi lệnh tôn đại nhân có phải là Nghê Vô Trần…”
“ Đúng ạ, cha tôi là Nghê Ngô Thành. Chữ Ngô là người Ngô, chữ Thành là thành thực…” (*)
“ Đúng ạ, đúng ạ”, Triệu Vi Thổ rất hào hứng nói vào điện thoại: “ Chính là con trai lão tiên sinh Nghê Ngô Thành, người ta từ xa xôi đến muốn gặp bà..Không, không ăn cơm, chỗ chúng tôi còn có một số việc phải làm, đã bố trí trước rồi…Đúng ạ, đúng tám giờ ông ấy đã phải rời nhà ta rồi, chỉ ngồi ở chỗ bà được bốn mươi phút thôi…Chiêu đãi á? Bà vừa về đến nhà, lấy gì mà chiêu đãi tôi? Ồ, không phải vậy, là nói chiêu đãi tiên sinh Nghê…Có xoài mang từ Philippin về không?...Vậy thì xin bát nước chè trong vậy”.
Triệu Vi Thổ đặt điện thại và cười ha hả. Gần như kéo tay Nghê tảo ra khỏi phòng họp, tới chỗ cầu thang máy. “ Vâng, đúng đấy, thời gian của chúng ta ít lắm, gần đây có một quán ăn ngài thích không?...Tốt rồi, ngài thích thử nghiệm các thứ mới mẻ, đó đúng là một chỗ mạnh…Đến rồi, xin mời”. Họ ra khỏi thang máy. Ở chỗ cửa lớn có một chiếc máy chữ, ngọn đèn bàn đặt cạnh máy chữ chiếu ánh sang dìu dịu, một người phụ nữ không nhìn thấy mặt đang ngồi đánh máy. Đầu cúi xuống, hai tay mổ xuống bàn phím chữ dẻo như đánh đàn. Khi đi qua bên cạnh chị ta, Triệu Vi Thổ giơ tay lên, chào một câu buổi tối. Chị nọ ậm ừ đáp lại một câu, đầu hơi ngẩng lên một chút. Nghê Tảo chỉ kịp nhìn thấy mấy nếp nhăn trên trán chị ta. Triệu Vi Thổ đẩy cánh cửa lớn bằng kính dày, mời Nghê Tảo đi trước, sau đó ông ta mới ra theo và bước những bước chân thoải mái vui vẻ tới dãy xe ôtô đỗ thành hang dài bên đường. Nghê Tảo ngửi ngay thấy một làn hơi ẩm mát dễ chịu trong không khí, những lá cây dường như đang hòa tan vào nước mưa, tỏa ra hương thơm mơn mởn. Mưa bụi rơi thật nhẹ lên da mặt dường có dường không, giống như mát xa cho người ta vậy. Một cơn gió thổi đến, Nghê Tảo còn hơi cảm thấy lạnh nữa chứ. Tuy nói là mùa hè, nhưng vĩ độ ở đây ( Nghê Tảo không chỉ xem một lần bản đồ, trước khi xuất quốc), xấp xỉ với Mạc Hà cực bắc của tỉnh Hắc Long Giang, lại thêm mưa ẩm, Nghê Tảo chỉ cảm thấy như đang là mùa xuân. Có lẽ cũng giống tiết trời đang lạnh chợt ấm lên hơn ấy.
-----------------
(*) Trong phát âm giọng Bắc Kinh, Nghê Ngô Thành và Nghê Vô Trần nghe gần giống nhau. Ở đây chữ “ Vô Trần” nghĩa là không vướng bụi trần, có thể tác giả còn ngụ ý gì đó (ND).
 
 

Mặt trời có nóng lắm không?
Bé ngây ngô hỏi nhìn hoa mặt trời
Mỉm cười tôi nói bé ơi
Hoa mặt trời ấy - mặt trời nào đâu?
Tùng Anh
Đăng nhập để trả lời
0
 nhân dịp năm mới mình xin đăng ký thêm vài trang cho vui , thấy mọi người ko chiu nộp bài gì cả , nhất là mấy bạn nhận đăng ký các trang đầu tiên . Ct.Ly hay canary có thể coi lại người đăng ký ( hạn nộp bài luôn ) nha .giờ ngồi gõ coi đc bao nhiêu trang rồi đăng luôn 
Cuộc đời là một câu truyện! Bạn muốn câu truyện của bạn như thế nào ? Hãy tự mình sáng tác câu truyện của chính mình bạn nhé ...

Hậu Tinh Thần Biến: http://blog.360.yahoo.com/blog-bK3x.0s_bZnINFuFZ8s-?cq=1
Đăng nhập để trả lời
0
(tiếp trang 270 đến trang 279 )

Khi một thế hệ người mà già lão cổ hủ đi cũng như đậu đac lên meo , liền trở thanh tương. Các em đã thấy người ở quê tự làm lấy tương ăn chưa? Gọi bao nhiêu là ruồi đến ! Đẻ bao nhiêu là doi! Đó  chính là sự tích đọng bụi bẩn của lịch sử , giống như móng chân , móng tay của chúng ta tàng tích bao nhiêu là vi khuẩn , vi sinh vật vây.Hết đời này qua đời khác tích luỹ lại , đó cũng là một tần đậu tương dày cao lên vậy. Mỗi một lưa đậu đều đổ vào chum đậu cũ , thế là rất nhanh lên meo và rưa nát ra , tất cả đều biến thanh mùi vị như nhau , cùng một loại vật chất lõng bõng dền sệt như nhau , sau khi khô rồi đóng chóc thành vảy cứng. Cứ thế chất chông lên , thương xót không băng mất hẳn hi vọn . Hi vọng của chúng ta ở đâu? Chính là trên mình các em dó. Chính là dám khcó , dám cười dám nghĩ dám làm dám chiu trách nhiêm. Đối với cái thế giới này phải không khóc không cười mà phải lý giải. Các em có biết không , tôi đac từng nghe một cuộc diễn giảng của nhà giá dụch Đức SParangơ , ông ta da đỏ tóc trắng , tinh thần quắc thước... Tôi tin vào tiền đồ sáng sủa của nhân loại , tin vao thuyết tiến hoá của Đácuyn . Ngòi bút của Nghiêm Phúc dịch " Thiên diễn luạn " hay biết bao. So với thời đại ăn lông ở lỗ thì chúng ta đã tiến bộ rất to lớn. Tôi có thể nói rõ ràng với các em rằng , tôi tin vào tương lai , tôi tin vào sự tái tạo của tinh thần độc lập của dân tộc  Trung Hoa. Ngoài ra tôi không biết cái gì hết nữa , tôi còn có thể biết cài gì nưa? Tôi có bết Uông Tinh Vệ , Vương Ấp Đường , Chu Phật Hải không? Uông Tinh Vệ lúc còn trẻ đã đâm chết nhiếp chính vương bị bắt rồi làm thơ các em có biết không? Tôi có biết Tương Giới Thạch , Tống Tử Văn , Trần Lập Phu không ư? Tôi có biết Diên An không ư? Tôi có biết trục tam giác Tokiô -Baclin - Rôma không ư?Tôi có biết nước Nga không ư? Nước Nga đã lớn mạnh lên rồi , bởi vì có Xtalin. Nước Đức mạnh lên là bởi vì có Hitle. Nhưng mà hai nước đó đang đánh nhau. Mà Mỹ có Rudơven , Anh có Sơcsin.Tôi không hiểu tại sao Trương Quốc chưa cso một lãnh tự quân dân đủ mạnh. Bất kể lãnh tụ như nào/ Trung Quốc tất yếu phải Âu hoá , chỉ có Âu hoá mới có đường ra , mới có cuộc sông s. Chính trị không phải là sở trường của tôi. Nhật bản cũng là sau khi Âu hoá mới mạnh lên đấy...

 Ânh ta đã quá hưng phấn , vui sướng như một đức tre , thao thao bất tuyêt. Hẽ nói đến một số vấn đề liên quan đến cuộc sống hiện tại cá nhân của anh ta thì anh ta liền có thể cực kỳ cao hứng , cười nói rổn ràng , như cá được nước , nhưng hễ nói một chút đén thực tế , nhưng việc liên quan đến cuộc sống, sự nghiệp hành động của anh , thì anh ta liền cảm thấy lúng túng vô cùng , sờ đầu bứt trán , ruột rối tơ vò , cúi đầu tiu nghỉu. ANh ta chỉ thích cao đàm khoát luận với học sinh thân yêu của mình thôi, chứ không bao giừo tiến hanh thảo luận một cách nghiêm túc và đào sâu suy nghĩ gì cả. ANh ta đã nói quá nhiều , cướp hết cả khả nói chuyển của nhưng người trẻ tuổi. ANh ta pháp hiện sự thất lễ và vô ý của mình đã để mất đi cơ hội đển nghe xem quan điểm của nhưng người trẻ tuổi đối với các lại vấn đề. Thế là anh ta nhiệt tình hò hẹn , anh ta bảo ba ngày sau vào buổi chiều tối mời ba anh em học sinh đến nhà hàng Đông Lai Thuận ở thị trường Đông An ăn thịt dê tái. Tôi yếu quí thầy tôi càng yêu chân lý. BA người đồng hành tất có người đáng làm thầy tôi. Trong mười bà vợ thế nào cũng có người trung tín. Đươch rồi , chúng ta nhất định sẽ gặp

 
 ( Hết trang 272 stop tạm ở đây co điện thoại đi tắm biển chơi đã , có gi tí về đăng kí sau hihii)
Cuộc đời là một câu truyện! Bạn muốn câu truyện của bạn như thế nào ? Hãy tự mình sáng tác câu truyện của chính mình bạn nhé ...

Hậu Tinh Thần Biến: http://blog.360.yahoo.com/blog-bK3x.0s_bZnINFuFZ8s-?cq=1
Đăng nhập để trả lời
0
mình gửi trước từ trang 71 tới trang 85.
Hoạt động biến nhân hình
Sherlockhomes gõ
Trang 71 đến 85
 
“Bại hoạ” cũng là một tiếng địa phương dùng làm động từ cập vật, tức là gây dư luận khiển trách, gây dư luận công kích, làm bại hoại thanh danh của một người nào đó. Chủ trương “bại hoạ nó”, Khương Triệu Thị không phải lần đầu tiên đề xuất ra. Tịnh Trân và Tịnh Nghi cũng không chỉ một lần hưởng ứng. Nhưng mỗi lần đi vào hành động, Tịnh Nghi đều giữa đường thoái lui. Dù sao cô cũng là người vợ kết tóc của Nghê Ngô Thành, cô chỉ có mỗi mình anh ta, anh ta cũng chỉ có cô thôi, không thể đổi chác, không thể thay đổi. Như số phận, như giới tính và xuất thân, như sống và chết vậy, cô chỉ có bổn phận chấp nhận. Cứ như người chị duy nhất của cô, Tịnh Trân Chu Khương Thị kia, kết hôn được tám tháng đã chết chồng rồi, cứ như mẹ cô Khương Triệu Thị không có con trai, là “tuyệt hộ”, chỉ còn có ba mẹ con sống dựa vào nhau thôi. Cô lấy một người chồng như Nghê Ngô Thành, nói là tốt cũng không phải, xấu cũng không phải, chẳng ra lừa chẳng ra ngựa, chẳng ra người chẳng ra thú, cũng là tại số phận của cô. Cô hận anh ta, cô oán anh ta, hễ nghĩ đến chồng là liền đau đớn khóc chảy nước mũi, là nghiến răng nghiến lợi. Điều cô mong mỏi vẫn không phải là sự huỷ diệt của anh ta mà là anh ta hồi tâm chuyển ý. Cô chưa quên được lần đầu tiên gặp mặt, cô bị lay động bởi hình dáng cao to anh tuấn của Nghê Ngô Thành. Cô chưa quên trước khi Nghê Bình ra đời, Nghê Ngô Thành đưa cô đến Bắc Kinh để đi học, lúa đó họ đã cùng sống những ngày vui vẻ. Dù rằng tại lúc này, những ngày vui vẻ đó cũng đã khiến người ta thấy xa lạ lắm rồi, đến nỗi cô cảm thấy Khương Tịnh Nghi ngày xưa vào thư viện, lên lớp học, nghe Lỗ Tấn và Hồ Thích diễn thuyết… không hề là cô, là mình, là Tịnh Nghi bây giờ. Mà bây giờ ngay cả Nghê Ngô Thành và Khương Tịnh Nghi mà từ lúc đó đã cảm thấy thời xưa kia là xa lạ giờ cũng đã tan tành mây khói rồi đã không còn bóng dáng nữa rồi. Tất cả những cái đó đều là số mệnh, cơ hồ từ lâu đã đoán trước là sẽ như vậy. Tất cả những cái đó đều độc ác đến vậy đó, khiến cô vừa nghĩ tới đã cảm thấy chân răng vừa buốt vừa ngứa. Cô thật muốn cắn vào Nghê Ngô Thành, cắn chảy máu ra, đứt thịt ra! Nhưng mà không, cô và Chu Khương Thị không giống nhau, cô không hề muốn cắn đứt cổ anh ta. Cắn đứt cổ anh ta, cô sẽ ra sao? Cô đã từng tự đáy lòng mong cho ô tô cán chết chồng cô. Nhưng khi cô một mình tỉnh lại giữa đêm, cô lại sợ đến phát rủn người vì lo anh ta sẽ “trúng thề” những câu rủa sả của cô, của chị cô, của mẹ cô. Cô và mẹ với chị đã từng nguyền rủa Nghê Ngô Thành khẩn khoàn thực lòng đến thế, đã từng oán ghét chửi thề độc địa đến thế, cô rất tin là những thứ đó sẽ biến thành một lực luợng vật chất, sẽ ảnh hưởng thật sự đến vận mệnh của Nghê Ngô Thành. Thành thực sẽ linh nghiệm, cô tin rằng những lời rủa sả có một sức mạnh thần bí rất đáng sợ. Đặc biệt là những câu chửi thề của mẹ và chị cô, hai người đàn bà một già một trẻ đều ở goá, hai người như vậy mà cầu nguyện, khấn khứa, nguyền rủa và làm những động tác, thể hiện những tình cảm rất âm thầm sâu xa của họ thì tuyệt nhiên không phải là việc không đâu, không phải cứ đợi đấy mà nhìn đâu. Quả thực, bất kỳ lúc nào Nghê Ngô Thành cũng đều có thể bị ô tô cán, bất kỳ lúc nào củng có thể bị mọc đinh mọc nhọt, bất cứ lúc nào cũng có thể lở loét khắp người. Mà như vậy, cô lập tức sẽ trở thành người đàn bả goá thứ ba trong gia đình của họ. Bây giờ dù cô đang có muôn vàn cái khó, muôn vàn điều xấu, dù sao cô vẫn là một người có hoàn cảnh tốt nhất trong ba mẹ con. Cô có một người chồng to cao sáng giá. Cô có con trai Nghê Tảo. Tất nhiên còn có cả một đứa con gái. Vấn đề là con trai vẫn còn quá nhỏ. Nếu như sống thêm mười năm nữa, nếu như Nghê Tảo đã trờ thành người lớn, cô sẽ càng thật lòng và trước sau như một, sẽ kiên trì cầu nguyện - nguyền rủa cho Nghê Ngô Thành sớm về chầu tiên tổ. Nhưng hiện nay thì không thể. Cô thậm chí còn có lúc âm thầm phản cảm với hai cây trụ cột, chỗ dựa lớn là mẹ và chị. Họ muốn Nghê Ngô Thành chết thật sao? Sao họ không nghĩ xem Nghê Ngô Thành chết thật thì Tịnh Nghi sẽ thế nào chứ?
Nhưng Nghê Ngô Thành không chết. Anh ta mặt mày láng bóng, sức khoẻ dồi dào. Có thể cũng vì trong khi nguyền rủa hoặc sau khi nguyền rủa, Tịnh Nghi đã không kiên quyết đến vậy, thù hận trong lòng không chất chứa đủ để đi đến quyết biệt, vì thế mà đã khiến những câu chửi “thề”daoumasevaheua của bọn họ bị mất hiệu lực, vì thế mà đã giữ được cái mệnh của Nghê Ngô Thành chắc?
Và Nghê Ngô Thành sao lại không thể láng bóng mặt mày chứ? Anh ta ngày ngày ăn cơm tiệm, chơi bời bài bạc bán trời không văn tự, cái thằng cha chết dầm chết tiệt kia!
 
CHƯƠNG 4
 
Nghê Ngô Thành sinh ra trong một làng quê hoang vắng nghèo nàn tên là Mạnh Quan Đồn thuộc tỉnh Hà Bắc. Nơi đó đã kề với Bột hải rồi, toàn là đất bạc màu nhiễm mặn, lại hay có nạn châu chấu, dân không đủ sống. Hễ nhắc tới quê hương, Nghê Ngô Thành liền nhớ tới một đoạn ca dao học được từ thuở nhỏ:
            Trứng cứt dê,
            Đưa chân đi,
            Chú là anh em tôi,
            Tôi là anh chú,
            Kiếm vò rượu,
            Ta uống chơi
            Uống say rồi,
            Đánh bà xã,
            Bà xã chết đi rồi,
            Sống sao đây?
            Nếu có tiền
            Kiếm bà khác
            Nếu không tiền
            Đeo trống bói
            Múa ương ca
Bài hát đó như có một sức mạnh gì thần bí và thiết cốt lắm. Nghê Ngô Thành có một trí nhớ rất tốt, nhưng lại không nhớ nổi bài hát này học được của ai. Anh ta cảm thấy bài hát như có sẵn từ khi anh ta sinh ra, tựa như từ trước đó đã được khắc vào xương cốt anh ta rồi. Tính tiên nghiệm của bài ca dao đó khiến anh ta thấy không lạnh mà run.
Bao nhiêu năm về sau nữa, bài ca dao đó đã truyền tới Nghê Tảo. Trải qua sự biến đổi long trời lở đất của Trung Quốc năm một chín bốn chín. Nghê Tảo đã quên mất bài ca dao đó rồi. Bài ca dao đó và cuộc sống được đánh dấu bằng nội dung biểu thị trong đó, tựa như từ đây đã biến mất ở Trung Quốc. Nhưng sau khi trải qua bao nhiêu khấp khểnh gập ghềnh, sau khi Nghê Tảo đã phân thời gian rỗi trong chuyến đi nước ngoài để tìm thăm nhà Sử Phúc Cương, ông ta (bây giờ đã là ông ta rồi) bỗng nhớ ra cái bài ca đó mà nội dung của nó chẳng hề liên quan gì đến chuyến thăm nước Châu Âu này sất cả. Trước mắt ông ta tựa như đã xuất hiện một bứa tranh làng quê hoang vắng nghèo nàn của Trung Quốc. Ông ta không lạnh mà run, khó bề dứt bỏ.
Đúng vậy, đó là tiên nghiệm đấy. Bởi vì bất kể là Nghê Ngô Thành hay Nghê Tảo. Họ ra đời trên mảnh đất “Trứng cứt dê đưa chân đi” “đánh chết bà xã” “kiếm bà khác”, đó là những cái mà họ không thể biết trước được.
Nếu mà Nghê Ngô Thành biết được, thì ông ta còn có đủ dũng khí để ra đời không?    
Bây giờ, hãy để chúng tôi trở về việc cũ. Gia đình Nghê Ngô Thành là hộ đứng đầu của nơi làng quê nghèo nàn hoang vắng đó, là một nhà đại địa chủ. Ông từng nghe nói rằng tổ phụ tức ông nội ông là một cử nhân danh tiếng, chủ trương biến pháp duy tâm, từng tham gia vụ “công xa dâng sách” năm Quang Tự thứ hai mươi mốt (năm một tám bốn lăm trước công nguyên). Ông nội đã tự bỏ tiền ra khắc in truyền đơn đề xướng thiên túc, việc đó lúc đương thời có thể là một hành động cách mạng cực kỳ quá khích và mạo hiểm. Đến năm Quang Tự thứ hai mươi bốn, sau thất bại của Biến pháp Mậu Tuất, ông nội ông đã thắt cổ tự vẫn. Những người lớn trong nhà chưa bao giờ chính thức nói chuyện về tổ phụ với Nghê Ngô Thành, tất cả điều đó là ông ta nghe câu được câu chăng từ người quản gia và họ hàng.
Nghê Ngô Thành còn có một người bác ruột, là một người điên. Ông ta xé rách bươm rách tướp hết cả áo quần của mình ra, vừa hát vừa khóc vừa cười, có mấy lần đã bị trói lại. Nghê Ngô Thành láng máng nhớ rằng, cho đến khi chết, chân ông bác ấy vẫn còn mang dây xích sắt.
Bà nội Nghê Ngô Thành cảm thấy hết sức hoang mang sợ hãi về những bất hạnh mà gia đình gặp phải. Bà cho rằng trong nhà đã bị tà ma ám nhiễm. Bà bàn với cha và chú Nghê Ngô Thành xem nên làm thế nào, hai người con trai của bà không đưa ra được phương án nào cả. Trái lại, người con dâu của bà mẹ của Nghê Ngô Thành dám nghĩ dám nói, có chút khí phách. Người con dâu đó kiến nghị rằng, cần phải chuyển nhà dời cửa, để tránh tà ma ám nhiễm.
Kiến nghị bạo gan của cô con dâu được chấp thuận. Nhưng những làng xóm lớn quanh đó không có chỗ cho họ đặt chân. Thế là họ phải chọn thôn Đào cách Mạnh Quan Đồn sáu mươi dặm, nơi đó càng cùng khốn, càng bất tiện giao thông hơn. Họ đã phải tiêu tốn rất nhiều tiền, và mất những ba năm trời mới dựng lên được một toà gia trạch với một vườn lê rộng hai mẫu đất. Ngoài ra còn có một kho lương, một nhà xay lương thực, hai mươi mấy gian nhà to nhỏ. Đúng vào năm hoàng đế Quang Tự giá băng (một chín linh tám), họ đã dời hẳn đến ở Đào Thôn.
Không giống người cha cấp tiến và người anh tâm thần dị kỳ khác biệt của mình, cha Nghê Ngô Thành là Nghê Duy Đức là một người thật thà ngố nghế, phản ứng chậm chạp, có vẻ là người bị thịt. Ông ta vai trái cao, vai phải thấp, mồm miệng xì xịt, khó mà nói được mấy câu cho hoàn chỉnh, hơn nữa suốt đời quen dạ ỉa lỏng, lại đái nhiều, một năm bốn mùa dề dề mũi rãi, ngáp vặt, hắt hơi. Từ thời thanh niên Nghê Duy Đức đã bị nhiễm ác tật hút thuốc phiện, điều đó khiến bà mẹ bực dọc phẫn nộ lắm, đồng thời ảo não đau buồn cũng nhiều. Nhưng vợ Nghê Duy Đức tức mẹ Nghê Ngô Thành lại có một cách nhìn nhận riêng, đối với việc chồng nghiện thuốc phiện lại tỏ ra khá thông cảm và ủng hộ. Mặc dù vợ Nghê Duy Đức là người cao to ngồn ngộn sức vóc, cử chỉ đoan trang, khôn ngoan quyết đoán, tự ái hiếu thắng, nhưng là một nhân vật có uy tín nhất trong nhà họ Nghê. Từ nhỏ Nghê Ngô Thành đã mang sẵn một lòng kính nể đặc biệt đối với mẹ. Bà vừa tới nhà họ Nghê, đã ngấm ngầm cảm thấy ở nhà họ Nghê có một loại “tà” đặc biệt, đó là một thứ linh khí, một kiểu nhiệt tình, một thứ xao động, một thứ đau khổ. Đó là một thứ mê hoặc, một thứ dày vò, một thứ hoả độc huỷ diệt tất cả mà cũng tự huỷ diệt bản thân. Cho nên mới có chuyện biến pháp duy tân và treo cổ tự tử của ông anh chồng. Bà rất sợ cái “tà thần” đó sẽ huỷ diệt hết cả nhà họ Nghê. Trong sân lớn của toà gia trạch ở Mạnh Quan Đồn, ban đêm khi trở gió bà thường nghe thấy một thứ tiếng hu hu giống như tiếng con gì kêu hú, giống như tiếng kêu khóc của oan hồn, bà nghĩ đó chính là tà thần, bà cảm thấy sởn tóc gáy. Ông anh chồng mất đi đã lâu, vậy mà đã mấy lần bà mơ gặp ông ấy. Ông ấy dùng một giọng nói rất kỳ quái khiến người ta phải sợ rơi rụng cả tim gan, run run rẩy rẩy nói rằng: “Tôi hút thuốc phiện mà khỏi bệnh đấy”. Sau đó bóng dáng ông ta từ từ biến mất. Nhưng câu nói đó, giọng nói run rẩy làng màng đó vẫn cứ văng vẳng bên tai người vợ khôn ngoan can đảm của Nghê Duy Đức. Sau khi tỉnh dậy rồi, bà vẫn nghe thấy cái tiếng nói thần bí nọ: “Tôi hút thuốc phiện mà khỏi bệnh đấy!”
Thế là xảy ra việc bừng thức, chợt tỉnh. Tổ tông có mắt, mệnh của Nghê gia chưa bị tuyệt. Thuốc phiện hoá ra là thuốc cứu mệnh! Hãy nghĩ xem, nếu như thân phụ Nghê Duy Đức mà hút thuốc phiện, ông còn có thể đi mà chủ trương biến pháp duy tân gì đó không, có tham gia “công xa dâng sách” gì đó không, có đề xướng thiên túc chân to gì đó không? Ông còn có thể tự thắt cổ mà chết không đúng với mệnh trời nữa hay không? Người hút thuốc phiện dù có phải sống không được như chó lợn vẫn không chịu tự mình kết liễu bản thân. Không muốn sống cuộc sống trần gian chỉ có hoạ là người điên. Nếu ông anh chồng điên ấy mà hút được thuốc phiện sớm hơn, thì ông ấy có đau khổ, có nổ bùng lên như sấm, có tách mình ra khỏi tất cả nhân thế và gia đình như vậy không? Người hút thuốc phiện thật là yên tĩnh, thật là an phận, thật là thảnh thơi biết bao nhiêu!
Và Nghê Duy Đức hút thuốc phiện, không phải đó chính là chỗ đáng yêu và đáng tin cậy của Nghê Duy Đức hay sao?
Từ đó mẹ Nghê Ngô Thành ân cần hầu hạ ông chồng hút “đại yên” (tức thuốc phiện, nói cho giống với việc hút thuốc lá); có lúc bà cũng cùng hút vài hơi với chồng. Nhưng bà cực kỳ tỉnh táo tự điều khiển mình, bà tuyệt đối không để cho mình trở thành “nghiện” thuốc phiện. Từ khi chuyển về Đào Thôn, gai đạo họ Nghê ngày một suy, bà đã trở thành cây cột trụ giữa dòng của nhà này, đã không quá khích, lại càng không mạo hiểm kiểu bệnh tâm thần. Bà không dùng tới mà cũng không cho phép mình mơ màng phun mây nhả khói như ông chồng.
Quả nhiên, thuốc phiện đã buộc chặt trái tim Nghê Duy Đức, đã bảo hộ Nghê Duy Đức khỏi sự xâm nhập đánh lén của tà thần. Ông ta cứ ừ ừ ầm ầm, gặp sao yên vậy, nhát gan sợ việc, cứ có thuốc hút là được. Nghe nói có lần ông ta nổi hứng bất kỳ, muốn tự mình giết một con gà ăn thịt. Với sự phục dịch bảo hộ và trợ uy của người hầu, ông ta đã bắt được gà, vặn cổ và cánh gà, đã đặt con dao mới mài cực kỳ sắt bén vào cái cổ nóng hôi hổi của con gà. Chỉ cần đưa cán dao kéo nhẹ một cái, một cái thôi là đã có thể hoàn thành được đại sự nghiệp lần đầu tiên làm đồ tể của mình, thế nhưng không biết vì từ tâm hay vì cơn thèm thuốc phiện đã lên, ông ta chỉ thiếu một ly mà “bất thành đại sự”, ném toạch con dao xuống đất, thả quách gà ra, về buồng nằm lân ổ vê thuốc cho rồi.
Cùng với việc đó, thân thể Nghê Duy Đức đã ngày càng hư nhược. Năm Tuyên Thống thứ hai (năm một chín một không) vợ ông ta đã có thai. Cả nhà cho đó là một “đại hỉ sự”, đồng thời qui công cho phong thuỷ Đào Thôn là tốt, cuộc di dời của họ đã thắng lợi. Nhưng khi đến mùa đông, Nghê Duy Đức trở nên khò khè hen xuyễn, ho hắng khật khừ trong đờm có máu, từ sáng đến tối toàn dựa vào thành lò sưởi, mình khoác áo da lông mà vẫn lạnh cóng run cầm cập. Tháng giêng năm Tuyên Thống thứ ba, bà mẹ Nghê Duy Đức ốm chết. Nghê Duy Đức thân mang bệnh mà làm ma cho mẹ, nào khóc lóc, nào túc trực trước linh sàng, nào phục lạy, nào khiêng linh cữu, nào dâng phướn, nào lăn huyệt, nào nhập liệm…cho đến lúc thái phu nhân mồ yên mả đẹp thì Nghê Duy Đức liền nằm ngay vào giường ốm thổ huyết không dậy được. Tháng ba năm đó, Nghê Duy Đức đã hao tận những khí huyết cuối cùng, đưa mệnh qui âm, khi chết chỉ còn da bọc lấy xương, cả người chỉ có một bộ khung mà thôi.
Vợ Nghê Duy Đức mang thai được năm tháng thì mất mẹ chồng, mang thai được bảy tháng thì mất chồng, bà ta đau khổ không thiết sống, vật vã khóc than chết đi sống lại. Việc tang ma đã làm xong, cái thai đó khiến bà cảm thấy không bình thường, cảm thấy sợ hãi, hơi chán ghét nhưng lại quý hoá nâng niu quá mức. Nghê Duy Đức thân hư tính nhược, từ khi kết hôn rất ít cùng phòng với vợ. Người vợ thân thể cao to chỉ một lòng chăm lo công việc gia đình, gồng mình chống đỡ thế suy sụp của nhà họ Nghê, còn chuyện ân ái vợ chồng, tư tình trai gái, cái sợi tơ mành đó trong linh hồn và thể xác của bà chưa từng rung động bao giờ. Trái lại, chẳng ai dạy bảo mà đối với sợi tơ đó bà không chỉ lạnh nhạt, hư vô chủ nghĩa mà còn có thể gọi là miệt thị, gớm ghét, tránh né không muốn nói đến. Trong một tâm trạng như vậy mà lại mang thai, rồi mẹ thì chết, chồng thì đi, khiến bà thấy đầy những dự cảm không hay. Mặt khác, vì sự nối dõi tông đường của họ Nghê mà phải có con trai – cái tiền cảnh đó lại đem đến cho bà một ý thức về sứ mệnh thiêng liêng bi tráng. Cái chết của người chồng, cũng khiến cho ý nghĩa của đứa con để lại càng không hề tầm thường gì hết.
Năm Tuyên Thống thứ ba, trước khi nổ ra cuộc cách mạng Tân Hợi ba tháng, đứa con để lại của Nghê Duy Đức là Nghê Ngô Thành đã đến nhân gian. Đứa bé mà ngay từ trong thai đã phải chịu những buồn thương to lớn, liên tiếp mất những người thân, vậy mà nó lại lớn lên vô cùng khoẻ mạnh. Trên mình nó có cái cao lớn tráng kiện của mẹ, nhưng không có cái khôn lanh sáng suốt như mẹ nó. Dường như nó vừa có sự thông minh hơn người, nhưng lại thiếu hụt sự láu lỉnh tinh ranh như một người bình thường. Nó được bảy tháng thì mọc răng, chưa đầy năm đã tập biết đi, khi một tuổi rưỡi đã vào nhà Tây ở huyện thành (đó là cách gọi thông tục của bà con địa phương đối với nhà thương của giáo hội Thiên chúa giáo duy nhất ở trong vùng) để chủng đậu. Khi lên bốn tuổi nó đã biết viết tên của mình, năm tuổi đi học trường tư thục, chín tuổi lại đi học trường Tây. Vừa vào học trường Tây nó liền mê ngay văn chương của Lương Khải Siêu, Chương Thái Viêm, Vương Quốc Duy. Khi lên mười, một lần nó được mẹ dẫn về chơi nhà bà ngoại, vừa nhìn thấy cô con gái nhỏ con nhà ông cậu bị bó chân, nó lập tức khảng khái trình bày lý lẽ (mà chẳng ai dạy cả), phát biểu ý kiến phản đối việc bó chân, vừa khóc vừa tố cáo sự ngu muội và dã mann của việc bó chân. Việc đó đã làm mếch lòng ông cậu và làm mẹ nó sợ hết hồn. Bà mẹ lại nhìn thấy sự ứng nghiệm của tà thần đối với nhà họ Nghê trên mình đứa con trai. Bà lại nhớ tới những tiếng hu hu âm u vọng tới trong đêm khuya ở khu vườn cũ Mạnh Quan Đồn…Rốt cuộc họ Nghê đã làm ra nghiệt chướng gì để cho bà phải trở thành người của nhà họ Nghê chứ?
Từ đó mẹ Nghê Ngô Thành trở nên kinh hoàng khiếp hãi. Các thân tín nô bộc của bà không ngừng báo cho bà những tin tức đáng lo về Nghê Ngô Thành. Nghê Ngô Thành nói chuyện phiếm với các nhà tá điền, nó nói địa chủ nên chia ruộng cho nông dân, người cày có ruộng là lời dạy của “Quốc phụ” Tôn Trung Sơn, địa chủ ăn địa tô là hành vi của ký sinh trùng. “Anh nhà lại nói lung tung đấy!”, tình báo trẻ con báo với mẹ như vậy.
Người mẹ còn phát hiện con trai thường hay mất ngủ. Tuổi còn rất trẻ, thế mà có lúc nửa đêm gà gáy cứ trằn trọc trở mình. Hỏi nó tại sao mà không ngủ nó nói là nghĩ không ra mục đích của đời người, ý nghĩa và giá trị của cuộc đời. Khi Nghê Ngô Thành mười tuổi, đêm ba mươi Tết, toàn thể người nhà họ Nghê đang tế tổ, rập đầu trước bài vị tổ tông, đang khi tìm không thấy Nghê Ngô Thành đâu nữa. Tìm tòi rất lâu, hoá ra Nghê Ngô Thành chạy ra vườn lê quan trắc sao trời. Mẹ gọi cậu về đi, cậu công kích rằng những hành động mê tín đó thuần tuý là tự lừa mình, sớm muộn rời cậu cũng sẽ đập nát những bài vị tổ tông đó cho xem.
Bà mẹ cảm thấy tai nạn sắp rơi xuống đầu đến nơi, nhưng không có ai để cùng bàn bạc. Đối với người nhà họ Nghê đang lập tâm kiếm kế tìm cách nhòm ngó tài sản của mẹ con bà. Chỉ vì còn có “công tử” Ngô Thành họ mới không dám hấp tấp làm càn. Bàn bạc với người bên nhà mẹ đẻ ư? Thứ nhất, nói về vấn đề đó không tránh khỏi hiềm nghi về bàn mưu tính kế với nhà mẹ để hại nhà chồng, điều đó đối với một người đàn bà mà nói, là một hành vi vô đạo đức, chỉ kém có tội “đem tiền nhà đi nuôi trai” mà thôi. Thứ hai, dù chưa có cái sự kiện chống đối bó chân kia thì người bên đàng nhà mẹ cũng đã có ấn tượng không tốt với Nghê Ngô Thành rồi; cũng chẳng biết tại sao lại như vậy. Vả lại bên nhà mẹ cảm thấy Nghê Ngô Thành là người dưng nước lã, không phải người trong gia tộc, là phần tử dị kỳ. Thứ ba, ông anh trai của mình bản thân đã rất không đàng hoàng, là loại không ra của gì cả.
Nhưng cuối cùng bà mẹ của Nghê Ngô Thành vẫn cứ nói chuyện với người anh trai đó. Người anh vốn đã có tính toán riêng, liền chỉ thị hai điều, thứ nhất phải dạy cho thằng cháu biết hút “thuốc lá lớn”, thứ hai phải lấy vợ cho nó. “Bất luận là anh hùng hảo hán hay yêu ma quỉ quái. Một cái ống điếu cộng với một con vợ, bảo đảm có thể nhốt chặt được bụng dạ của nó, bắt nó phải chịu ngoan ngoãn mà sống qua ngày!”. Ông anh nói rất tự tin. “Như tôi chẳng phải là thế hay sao? Lúc còn trẻ cũng là loại tính nết như giặc, thế mà chẳng đã trị được đấy ư? Một con vợ không áp chế nổi, thì kiếm them hai đứa “nhỏ” nữa mà…”Ông ta bổ sung thêm.
Mẹ Nghê Ngô Thành nghe xong những lời đó chỉ muốn khóc to lên một trận. Bà nhớ lại người chồng Nghê Duy Đức cuối cùng đã trở thành con nghiện với bộ dạng khốn khổ đáng thương trong những năm cuối đời. Hai phần người, tám phần ma quỉ. Nhưng kết cục của ông bố chồng với ông anh chồng thì lại càng đáng sợ hơn. Đồng thời người phụ nữ mù chữ như bà cả đời chưa hề rời khỏi chốn nhà quê cũng đã cảm thấy bằng trực giác cái đáng sợ của phong trào cách mạng từ cách mạng Tân Hợi, từ Dân Quốc đến nay.
Hơn nữa, bà cũng bằng trực giác cảm thấy trong con người Nghê Ngô Thành cơ hồ như cũng có mầm mống đòi cách mạng hay sao đó. Cái thứ “cách mạng” đó, nếu so với khói thuốc phiện, tất nhiên còn hung hiểm đến một ngàn lần. Hút thuốc phiện mà chết, chẳng qua chỉ chết mất có một người, chỉ là cái tang của cả nhà đối với một người. Còn “cách mạng” là sự mất mát của cả gia nghiệp tổ tông miếu đường tôn thất, là trời rơi đất hãm, là tội lỗi tày trời vạn kiếp không chuộc lại được.
Thế là, Nghê Ngô Thành chưa đầy mười lăm tuổi, một hôm đi học về, chỉ thấy mẹ mình nằm trên giường nhả khói phun mây, đầy phòng một mùi thơm say người rất lạ, chỉ ngửi một lúc thôi đã cảm thấy tinh thần hưng phấn trăm lần, đồng thời gây lên một thứ thèm muốn ghê gớm, một thứ cảm giác đói cồn cào. Cậu ta hút liền mấy hơi, càng hút càng cảm thấy như say như mê, toàn thây dậm dựt, cậu kích động, khoan khoái, thoả mãn đến chảy nước mắt.
Từ đó, dưới sự chỉ đạo của người mẹ đẻ của mình, Nghê Ngô Thành đã bập vào thuốc phiện. Rồi sau đó là một vị anh họ của cậu bắt tận tay dạy cậu biết thủ dâm. Việc đó luôn luôn là một mối hoài nghi trong lòng Nghê Ngô Thành, là một cái nút mắc cứng nặng nề trong cậu. Khi đã lớn lên thành người rồi, cậu cảm thấy có đầy đủ lý do để phán đóan rằng sự dạy dỗ cùa ngừơi anh họ đó và sự dạy dỗ của mẹ cậu đều có cùng một tính chất, xuất phát từ cùng một sự thiết kế và âm mưu tính toán sẵn, là hai mắc xích của chiếc lưới đã dày công bố trí để chụp lên mình cậu. Nhưng cậu không thể tin được là người anh kia cũng là đã thông qua sự cho phép của mẹ cậu. Điều đó quá kinh khủng, quá tàn khốc, quá vô sỉ, khiến cậu mỗi khi nhớ lại là muốn nôn mửa…Thượng đế ôi, ngoài một mình cậu ra, còn có ai có thể tưởng tượng ra tại sao mà cậu lại sống tiếp được nữa đây?
Cậu thiếu niên Nghê Ngô Thành bị nhiễm vào thói xấu với cái chết từ từ kia, khi vừa đầy mười sáu tuổi đã ngã bệnh. Xem ra chỉ là một chừng bệnh rất đơn giản – đi ngoài phân lỏng, nhưng đi đến mức không nghỉ không ngừng, ăn cái gì cũng đi ra hết, đến mức ăn không nổi một thứ gì nữa, người chỉ còn thoi thóp thở. Ví dụ nếu cậu ăn một bát miến có dưa chuột thái sợi thì không đến hai giờ đồng hồ sau là có thể đã cho ra hết toàn bộ, những thứ bài tiết ra sau khi đã đi hết một lộ trình trong ruột thậm chí vẩn còn có thể phân biệt rõ, như có thể thấy cả vỏ dưa chuột màu xanh xanh. Quả thật là đáng sợ. Sau một tháng nằm bệnh, cậu dậy khỏi giường – lò sưởi, bỗng phát hiện ra mình vốn cao to nay biến thành chân vòng kiềng. Từ đó đến hết đời, tấm thân cao to anh tuấn, khuôn mặt đ5p đẽ sáng sủa của cậu thuỷ chung cùng lớn lên với đôi chân không đồng bộ vừa bé vừa cong như thân cây đay. Đặc biệt là xương mắt cá chân, nó nhỏ và giòn đến nỗi khiến cậu thường phải cảm thấy không an toàn, cứ nghĩ biết đâu chỉ một phút sau trượt chân một cái là sẽ gãy tan cẳng chân ngay.
 
Hết trang 85.
Còn tiếp....


 
 
 
 
Bắt đầu là ngọn lửa
Rốt cuộc là tro than
Bắt đầu từ niềm tin
Sẽ bùng lên ngọn lửa


Homes
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-03-18 18:11:46Ct.Ly>
Vậy mình xin nhận gõ trang 261-574 nhé.
Không hổ thẹn sao biết đời vinh nhục
Không đau buồn sao biết nghĩa nhân gian
Không thương nhớ sao biết sầu ly biệt
Không hiếu thảo sao biết đạo làm người

http://www.readbud.com/?ref=4967248
Đăng nhập để trả lời
0
Hoạt động biến nhân hình
Sherlockhomes gõ
Trang 251 đến 257
 
được hoà mục với nhau đi! Chỉ cần các người thể hiện ra uy lực và sự linh nghiệm đó thôi, thì tôi nguyện sẽ suốt đời làm việc thiện, ăn chay, kể cả xuất gia gọt tóc làm ni cô cũng được ạ, chẳng lẽ các người lại không chịu đoái hoài đến một chút xíu nguyện vọng này của tôi hay sao?
Từ Cảnh Sơn mỗi người tự vẽ mỗi đường khác nhau. Lễ kết nghĩa và những lời cầu chúc thiện lương khiến cô bé cảm thấy trong lòng thảnh thơi đi rất nhiều. Nó nghĩ, kể cả vong linh hoàng đế Sùng Trinh đã tự tận trên Cảnh Sơn này chắc sẽ phù hộ cho nhà của nó chứ. Nó biết câu chuyện về hoàng đế Sùng Trinh tự tận, bà ngoại đã từng kể cho nó câu chuyện “Phí Trinh Nga đâm hổ”, nói rằng Lý Sáng Vương sau khi phá được kinh thành rồi thì chiếm lấy hoàng cung, cung nữ Phí Trinh Nga bị một đại tướng của Lý Sáng Vương biệt danh là “Một ông hổ” bắt đi, Phí Trinh Nga đã dùng kéo đâm mạnh vào yết hầu của “Một ông hổ”rồi tự tận. Dì còn đọc cả bài “Bài ca đâm hổ” cho hai đứa chúng nó nghe. Câu chuyện đó đối với Nghê Tảo thì chẳng ý nghĩa gì nhiều lắm, chỉ nghe vì hiếu kỳ một chút mà thôi. Nhưng với Nghê Bình thì lại nghiêm túc ghê lắm, nghe xong là nó cứ nghĩ ngợi mãi, nếu như nó ở vào địa vị của Phí Trinh Nga, nó có đủ dũng khí đi đâm hổ và tự vẫn không? Vấn đề đó cứ bám riết làm khổ nó mãi. Linh hồn nó đã bị chấn động. Nó cảm thấy làm một con người thật quá khó. Thậm chí do đó mà nó đâm ra oán trách số phận, tại sao mình lại phải là một đứa con gái, mà không được là con trai như thằng em kia nhỉ?
Như vậy là nó đã biết được Sùng Trinh rồi. Nó tin người ta sau khi chết đều có một thứ sức mạnh uy nghiêm nào đó. Huống nữa là một vị hoàng đế chứ? Khi đi qua cái cây hoè to lớn đã chết khô kia, nó cảm thấy tràn đầy sự kính trọng đối với vị hoàng đế đó.
Nó âm ư trong cổ họng bài hát “Hoa tươi trăng tròn” đang thịnh hành đã học được từ chị Hai mà trở về nhà. Khi về đến nhà thì lại bắt gặp ngay cái cảnh huống kinh hồn lạc phách nọ, vừa đúng lúc nhìn thấy cái bát canh đậu xanh nóng của bà dì hắt vào cha nó ra sao. Nó đã nhìn thấy dáng vẻ vừa cuồng nộ lại vừa khiếp đảm như một con thú hoang của cha nó. Nó đã nhìn thấy cái dũng khí xung phong hàm trận, quyết chết không lùi của bà dì. Nó đã nhìn thấy cái hung hăng, bức xúc, hận thù và hư hoang trống trải của mẹ nó.  Nó cũng đã nhìn thấy sự mạnh mẽ dẻo dai của tuổi già và khí thế hăng hái chống kẻ thù chung của bà ngoại. Nó sợ đến ngây ngừơi ra, rún người xuống, tim nó đập thình thình. Nó rùng mình lên, hai hàm răng đánh vào nhau cầm cập, bàn tay bàn chân lạnh ngắt. Hoá ra ngọn lửa hận thù và phẫn nộ có uy đến thế như vậy, có nhiệt độ cao đến như vậy, nó dễ dàng đốt cháy con người đến như vậy. Hoá ra trong mỗi một người, mỗi người thân của nó, trong trái tim những người mà nó cho đều là thân yêu và gần gũi nhất kia đều tàng trữ nhiều ác độc và oán hận đến thế, hoá ra khi họ đã xung đột lẫn nhau thì đều không còn nhớ gì nữa hết, chỉ một sống hai chết, như say như cuồng. Thật đáng sợ, thật đến chết khiếp! Làm gì còn có hoà mục, làm gì còn có hoa tươi trăng tròn, làm gì còn có những lời cầu chúc và khấn nguyện thiện lương! Hoá ra con người ta là như thế đấy! Ông trời ở đâu? Thần phật ở đâu? Bồ tát ở đâu cơ? Sự linh thiệng trên trời của tổ tiên và hoàng đế ở đâu? Bọn họ đều không kể là gì. Chẳng lẽ nó và các chị em kết nghĩa, lại còn nó và em trai thân yêu nữa, tương lai cũng sẽ trở thành những người như vậy cả ư? Không! Không!
Đ1o là một chấn động linh hồn thực sự mạnh mẽ, đó là một sự đau khổ lớn và một sự thức tỉnh lớn, nó đã đến quá sớm trong lòng cô bé gái chín tuổi này. Tất nhiên, về “quan điểm”, thì nó hoàn toàn đứng về phía mẹ, bà ngoại và dì, còn đối với ba, nó hoàn toàn áp dụng thái độ phê phán và khiển trách. Nhưng nó lại cứ quan tâm đến ba, cứ không yên tâm về ba, nó mơ mơ hồ hồ nhận thức được, rằng ba nó đang đi trên con đường lệch lạc của tội ác, cứ tiếp tục đi theo con đường đó thì sẽ dẫn đến sự tự huỷ diệt bản thân và sự diệt vong của cả nhà. Nó mơ hồ hiểu được một đạo lý, rằng dì nó thủ chí là việc tốt, là vịêc rất tốt, còn ba nó ăn chơi đàn đúm ở bên ngoài là đại ác, là cái ác nhất trong vạn ác. Nhưng hễ nó vừa nhìn thấy ba, là lập tức trực giác được ba là một người đáng thương. Ba trở về nhà là liền cô độc biết bao, chẳng có ai là muốn nghe ba nói, cũng chẳng có ai muốn nói chuyện với ba. Ba người đàn bà trong nhà của ba cộng thêm hai đứa trẻ con là một bè, đã bao bọc với nhau thành một bó, đã thân lại càng thân hơn. Còn ba thì sao. một người to đùng vụng dại, mặc bồ đồ Tây chẳng ra kiểu gì, thật là đáng thương! Ba không thường xuyên ở nhà, khi ở nhà, ba luôn tìm con gái để nói chuyện, lại còn mua cho con cái đồ chơi và đồ ăn, mua này mua nọ. Nhưng mà nó và em trai lại thường vô tình hữu ý lẩn tránh ba. Chúng biết là mẹ thì tốt, ba thì không tốt. Những điều ba nói cũng không hay. Khi ba hăng hái sôi nổi mà lại cố gắng cố sức không thấy mệt mỏi phiền hà để giảng giải cho Nghê Bình tầm quan trọng của việc phải ưỡn ngực ra, thẳng lưng lên, thì sự phản cảm của nó không kém gì mẹ cả. Một đứa con gái mà ưỡn ngực ra để đi đường thì ra cái kiểu gì? Trách nào bà ngoại và mẹ đều nói ba không phải là người tốt. Những thứ mà ba mua về cho chúng phần lớn không phải là thứ mà chúng nó cẩn thiết. Nó biết thứ ở nhà cần là tiền, là quần áo, là bột mì và bột ngô, chứ không phải là những thứ đồ chơi vớ vẩn chỉ xem được mà không ăn được cũng không dùng được. Nhung đồ chơi mà ba mua về lại đem tới một thế giới hư vô huyền hoặc, chúng nó với không tới, lại vô cùng xa lạ và có chút quyến rũ mê hoặc. Hai năm trước đây, khi nó ăn mừng sinh nhật bảy tuổi, ba đã tặng nó một bộ đồ chơi cao cấp sản xuất ở nhà in và buôn bán sách. Đó là một bộ búp bê gỗ, trong đó đẹp nhất là công chúa Bạch Tuyết, ngoài ra còn có bảy chú lùn, có các kiểu mũi tròn và nhọn, trắng và đỏ, để các kểiu râu rối tung hợac trơn mượt, trắng hoặc đen. Tám con búp bê gỗ đó đều có thể tự đứng trên mặt đất được, chúng được xếp hàng theo một thứ tự nhất định. Ngoài ra còn có một cây gậy gỗ đánh vào quả bóng, quả bóng lăn đi chạm vào búp bê gỗ, chạm vào những con búp bê khác nhau thì được tính điểm khác nhau. Hay đấy, đánh được tới công chúa Bạch Tuyết thì điểm cao nhất nhưng khó nhất, bởi vì công chúa Bạch Tuyết phải đặt ở tận đằng sau, phía trứơc có bảy chú lùn bảo vệ cô ấy.
Hình tượng công chúa Bạch Tuyết vô cùng rực rỡ. Nghê Bình thường hay tưởng tượng khi nó đã ngủ say thì công chúa Bạch Tuyết và bảy người hầu của cô ấy sẽ sống dậy. Công chúa Bạch Tuyết mặc váy, chắc chắn cô ấy biết khiêu vũ, chắc chắn cô ấy nói tiếng nước ngoài. Có khi nó tưởng tượng nó Nghê Bình cũng gia nhập hàng ngũ công chúa Bạch Tuyết và những người hầu của cô ấy. Công chúa Bạch Tuyết sẽ hoan nghênh nó, công chúa Bạch Tuyết bảo với những chú lùn, cô bé Trung Quốc này rất đáng thương, ba và mẹ cô ấy cứ đánh cãi nhau suốt, hơn nữa cô ấy trông cũng không xinh, trên mặt toàn mọc nốt ruồi, đánh đi một cái nhỏ thì lại mọc ra cái lớn hơn, cô ấy cũng không có quần áo đẹp, ở trường cô ấy học có một quan giám thị Nhật Bản, cô ấy sợ cái vị quan mặc áo quần bằng nỉ màu vàng đó lắm. Nhưng mà, công chúa Bạch Tuyết còn nói, bụng dạ cô ấy rất tốt, cô ấy mong muốn mỗi con người đều hiền hoà lương thiện, hạnh phúc, vui tươi. Công chúa Bạch Tuyết lại có thể nói như vậy ư? Nó hạnh phúc đến nỗi thở không ra hơi được nữa.
Rồi thế nào nữa? Rồi bọn công chúa Bạch Tuyết sẽ hoan nghênh nó, sẽ mời nó đi thăm căn nhà gỗ ở trong rừng của họ, sẽ mời nó ăn món táo tươi đỏ au, trong quả táo đó tuyệt đối không có thuốc độc đâu. Bọn họ sẽ còn thay cho nó một bộ váy áo mới lóng lánh sáng nữa cơ, công chúa Bạch Tuyết sẽ thổi một luồng hơi thần tiên vào mặt nó, một hơi thở thần tiên thơm ngát thấm vào tận gan ruột, rồi sau đó, Nghê Bình tuy vẫn là Nghê Bình, nhưng lại là một Nghê Bình xinh đẹp mà lại cao quí cơ, nó biết rồi, hoá ra Nghê Bình cũng có thể trở thành cao nhã mà sang đẹp…
Cảm ơn ba, ba đã đem tới những huyễn tưởng đó của nó. Trong con người ba tuyệt đối không có một chút văn nhã thuần khiết nào như là công chúa Bạch Tuyết, cũng không có sự hiền lành chất phác của bảy chú lùn. Trong con người ba chỉ có một thứ thói xấu cố chấp lạ lùng khó hiểu thế nào ấy. Công chúa Bạch Tuyết không trở thành người sống thật được, mà đã nhanh chóng bong tróc hết các nét vẽ, khô hết keo dán, chẳng còn ra kiểu gì nữa. Công chúa Bạch Tuyết chết mất rồi, nó nghĩ, vốn dĩ con người vẫn là mong manh yếu ớt. Nhưng công chúa Bạch Tuyết có lẽ cũng có linh hồn của mình chứ? Có lẽ cô ấy vẫn lẩn quất ở trong khu rừng xanh tươi của mình. Cô ấy không bằng lòng ở lại Trung Quốc, ở lại thành Bắc Kinh trong tay người Nhật, ở lại cái gia đình bất hoà đến thế của nó.
Công chúa Bạch Tuyết đã đi rồi, nhưng còn ba trong lòng nó thì lại không như vậy. Nó không biết tại sao ba cứ phải đi vào con đường xấu. Nhưng nó cần có ba. Cũng như nó không thể không có mẹ, không có bà ngoại, không có dì, không có em trai vậy, nó không thể không có ba, nó không thể không có ba mà!
Nhưng sao mà ba ngốc thế. Sau khi cuộc chiến đấu vào buổi chiều tối qua đi, nó vẫn không tài nào bình tâm lại được. Mẹ thì bận dạy con trai. Em thì còn mải làm bài và buồn ngủ. Dì thì tự ngẫm tự than, tự nói tự nghe. Bà ngoại với dì hết lần đến lần khác bàn kế hoạch sống của mình. Còn ba thì sao? Chẳng lẽ không còn một ai nữa nghĩ đến một người xúi quẩy như ba ư? Căn nhà phía Bắc bị đẩy đổ cửa rồi liền bị bỏ mặc tang hoang ra đó. Trước khi đi ngủ cổng lớn ngoài sân đả bị đóng chặt, chốt chặt, lại cài thêm một thanh ngáng to tướng nữa. Vậy khi ba về thì vào thế nào được? Ba không về thì lại đi đâu chứ? Nếu là bọn thó cáy (tức là kẻ trộm, đó là cách gọi họ, của bà ngoại đấy) nửa đêm trèo tường vào, lấy hết đồ đạc của ba đi thì làm thế nào? Chẳng lẽ đường đường là một người như ba , mà đến một vật phẩm đáng để kẻ trộm lấy đi cũng không có hay sao?
Nó không biết thảo luận với ai về những vấn đề đó được. Nó biết trong một buổi tối như hôm nay mà nêu ra những vấn đề đó là không hợp thời, thậm chí còn bị nói là “ăn cây táo rào cây lê” cũng chưa chừng. Những người lớn chỉ một câu không hợp là cáu giận ngay, là sẽ mắng mỏ ngay đó là điều chẳng thể tình gì cả.
Nhưng mà nó đau lòng xót ruột lắm. Đi ngủ rồi càng xót ruột. Trong tiếng mưa vọng lại cả tiếng ngáy của mẹ, đó là thứ tiếng ngáy của người suốt ngày làm lụng mệt mỏi. Tiếng thở sau khi ngủ của dì thì giống tiếng rên rẩm hơn, dì có thể rên rẩm suốt đêm cơ, có khi còn thêm cả tiếng nghiến răng cọ răng kèn kẹt và cả tiếng nói đột nhiên có đột nhiên không nữa. Bà ngoại sau khi ngủ thì cứ thở pho pho, giống như tiếng thổi một cây sáo trúc bị dập vậy. Chỉ có tiếng thở của em trai là đều đều và rành rẽ thôi, em trai dường như không sẵn sàng chấp nhập, nó cự tuyệt mọi sự lằng nhằng phiền não trong cuộc sống này.
Nghê Bình không ngủ được. Mỗi khi sắp bắt đầu ngủ say nó lại cứ nghe tiếng thầm thầm ngay bên tai, tiếng nói sao gần mà nhỏ thế, giống như có một u hồn vô hình áp sát vào tới mình, thật là sợ. Đó chính là tiếng của ba. Sao? Ba vào căn phòng này rồi à? Nghê Bình ngồi bật dậy. Tiếng dì cũng không nghe thấy nữa. Lại sắp đi vào giấc ngủ, thì lại nghe thấy tiếng bước chân bước ở ngoài sân lẹt xẹt, lẹt xẹt, là ba hay là tên thó cáy? Hơn nữa trong bóng tối nó đã nhìn thấy nụ cười ngô nghê ngớ ngẩn, không làm sao thay đổi, không thể lý giải được của ba, ba đang thao thao bất tuyện giảng giải cho nó, vung tay lên, như là phát biểu diễn thuyết nhìn thấy động tác tay và cái miệng động đậy, nhưng không nghe thấy tiếng nói. Cọt kẹt, ba mở cửa đi rồi. Chẳng phải là không có cửa hay sao?
Huỵch! Nó giật mình tỉnh giấc, nó lại ngồi dậy, nó dám…
 
Hết trang 257, còn tiếp
Bắt đầu là ngọn lửa
Rốt cuộc là tro than
Bắt đầu từ niềm tin
Sẽ bùng lên ngọn lửa


Homes
Đăng nhập để trả lời
0
Trang 31 - 50

tóc vàng mắt xanh, tay trái cầm máy bộ đàm, tay phải đặt vào báng súng, hễ xảy ra sự gì, chỉ trong nửa giây đồng hồ các cảnh sát sẽ chồm lên như mãnh hổ.  Nhưng vừa mới vượt qua kiểm soát biên giới và hải quan thì liền khác hẳn, đã là cảnh tượng một thế giới rực rỡ sắc màu, sáng tươi lóa mắt.  Vẫn còn ở sân bay thôi, tủ kính của cửa hiệu, quảng cáo, biển hiệu và đèn đóm giữa ban ngày cũng quyết không chịu tắt, đặc biệt là trong tất cả các quảng cáo thương mại cơ hồ không thể thiếu những mỹ nhân phương Tây với các kiểu màu sắc đường nét, mảng miếng, tư thế mê hoặc... đủ khiến người ta thấy rối tung rối mù lên...
Ông lại nhớ tới những cuộc phỏng vấn và lữ hành siêu căng thẳng khẩn trương liên tục mấy ngày, bay lên và đáp xuống, lên xe và xuống xe, lĩnh và trả chìa khóa phòng khách sạn, danh thiếp và tự giới thiệu, những lời nói trống rỗng, sáo mòn, lịch thiệp rất công thức và những lời nói đã bắt đầu có nội dung thực nhưng mới chỉ được nói qua loa phớt rồi thôi, đầy những  khẩn trương ít gặp, mà lại như mất đi cái gì đó hiếm thấy.  Đi ra thế giới, đi đến nước ngoài rồi, ông cảm thấy một thứ quạnh hiu đơn độc hiếm thấy.  Trung Quốc, đường đường một Trung Quốc của chúng ta cho tới lúc nào mới có thể chen vai thích cánh trong hàng ngũ các nước phát triển?  Vấn đề đó có một sự đắng đót nặng nề.  Cứ nghĩ lắm rồi, có lẽ ông sẽ phải âm thầm mà gạt lệ không để người ngoài nhìn thấy.
Ông nghĩ tới quá nhiều công việc mà mình phải để lỡ.  Ở nhà, mỗi giờ đồng hồ đều có công việc và thu hoạch từ công việc đó.  Tập sách chuyên nghiên cứu về phương ngôn Ôn Châu còn phải hiệu đính kỹ lại một lần từ đầu đến cuối.  Hai vị lão chuyên gia quyền uy trong viện nghiên cứu tranh luận với nhau có tính bè phái khiến ông không thể đứng ngoài, nhưng cảm thấy nếu tham gia tranh luận thì còn phải chuẩn bị, mà ông lại chưa chuẩn bị tốt được.  Cuộc thảo luận với giáo sư Sakata ở đại học Tokyo Nhật Bản còn đang khiến ông lúng túng.  Vẫn còn những bảy ngày trong chương trình nữa.  Rồi tính cả dừng ở Trung Đông, thì phải bay tới mười sáu tiếng đồng hồ mới về được Bắc Kinh.
Đương nhiên, người mà ông nghĩ tới nhiều nhất là Sử Phúc Cương.  Khi ông còn nhỏ, Sử Phúc Cương đã công kênh ông đi vào cửa sau của công viên Bắc Hải.  Tuy vậy, đó là việc đã qua lâu lắm rồi, đã bị chôn vùi đi từ lâu rồi, một việc xa xưa cơ hồ chẳng còn dính dáng gì tới ông ngày nay nữa.   Nhảy tới thành phố H của nước ngoài để chắp nối lại một sự kiện xa xưa đã chẳng còn một chút ý nghĩa gì đối với mình, ông cảm thấy có vẻ tức cười, thậm chí chẳng có gì là thú vị.  Rốt cục là ông tìm ai?  Tìm gì?
Phanh xe kêu két lên, Nghê Tảo hơi bị xô người về phía trước.  Triệu Vi Thổ hai tay nắm vô lăng, đã lấy lại kiểu cách nhã nhặn lịch thiệp với ý tự trào trên khoé miệng, đưa bàn tay phải mở rộng ra, nói: "Đến rồi."
Nghê Tảo xuống xe, một cơn gió lạnh mang mưa khiến ông run rẩy toàn thân.  Ông không ngờ sau hai tiếng đồng hồ mưa, khi tới ngoại ô nhiệt độ không khí lại giảm đi nhiều thế.  Trong xe ô tô, trên mình ông vẫn còn giữ được cái ấm áp màu da cam của quán ăn.
Ông rảo bước theo Triệu Vi Thổ tới một mái hiên trước tòa nhà bốn tầng để trú mưa, chùm đèn treo rủ xuống trên cây cột mảnh mai sau đám lá cây dày đổ những ánh đền lốm đốm lấp lánh như hoa lên mình ông.  Lùm cây đứng ngược sáng lá trông đen nhánh, rỏ những giọt nước ly ty trong mưa, nhẹ nhẹ đung đưa trông thực là thanh thoát, ưu nhã, sầu muộn mà lại bâng khuâng.  Cổng hàng rào đẹp đẽ đang đóng im im, cánh cửa phía trong hàng rào hình như bằng gỗ, bên ngoài phủ một lớp bảo vệ có hoa vàng màu hổ phách.  Trên tòa nhà có mấy ô cửa sổ sáng đèn, để người ta có thể nhìn thấy rèm cửa rất đẹp ở bên trong, lại có thể phảng phất như thấy cả những cái cây leo bám bên cửa sổ.  Bên hông tòa nhà có dăm chiếc xe đang đỗ, chúng tắm mình trong nước mưa, trên thân xe rải rác những chiếc lá bị gió mưa đánh rụng.  Ánh đèn pha ở những chiếc xa đang chạy trên đường chiếu tới đây, lúc thì khiến mọi vật sáng choé lên, lúc thì lại khiến nơi đây tối sẫm hơn.  Nơi đây thực sự là một nơi ở yên hàn tĩnh lặng, Nghê  Tảo nghĩ, và lại rùng mình.
Phía trái cổng sắt của hàng rào có một ngọn đèn nhỏ ánh sáng yếu ớt, phía dưới đèn là một tấm biển sắt có viết một số chữ cái, còn có một số nút bấm.  Triệu Vi Thổ xem xét một chút rồi ấn cái nút thứ tư, Nghê Tảo giật nẩy mình khi nghe vang tới ngay bên tai tiếng một bà già hỏi:
"Là câu Triệu phải không?"
Tiếng Bắc Kinh chính hiệu, hơi có giọng mũi, lại nghe được cả tiếng thở của người nói.
"Đúng ạ đúng ạ, chúng tôi đến rồi đây, tôi với tiên sinh Nghê".  Triệu Vi Thổ vội vã trả lời.
Sau đó cái cổng cọt kẹt kêu, và tự động mở ra.
Lúc này Nghê Tảo mới hiểu ra, bên cạnh cánh cổng sắt có một cái loa tự động truyền tiếng của người nói và người nghe, những chữ viết trên tấm biển sắt kia là tên tắt của chủ hộ, người khách bấm đúng vào cái nút tức là đã mở thông đường truyền điện thoại với người trong nhà mà họ muốn đến thăm, sau khi kiểm tra đối chiếu xong, chủ nhà liền có thể dùng một thiết bị điều khiển từ xa để ra lệnh mở hai chiếc cửa và cổng để cho khách vào.   Như vậy thì có thể ngă chặn được kẻ trộm hoặc ăn mày hoặc người điên hay tất cả những vị khách không mời đột nhập vào tòa nhà.
Nếu chủ nhân không muốn gặp khách, chỉ cần lờ đi không để ý gì tiếng chuông là xong.
Họ vừa mới bước vào, hai cái cửa liền kẹt một tiếng đóng sập ngay lại.
Đối với người Trung Quốc lạc hậu về kỹ thuật mà nói, có gì đó chua xót trong việc từ chối người ngoài cổng sắt.  Nghê Tảo nghĩ.
Triệu Vi Thổ khách sáo ra hiệu mời Nghê Tảo đi trước.
"Phải trèo lên tận tầng bốn..."  Anh ta giải thích.
Họ đi trên cái cầu thang vừa hẹp lòng vừa dốc, mỗi bậc đều rất cao.   Ngoài tiếng chân và tiếng thở của họ ra, không còn nghe thấy bất kỳ âm thanh nào nữa.  Trừ ánh đền trên tường mờ mờ, không trông thấy ánh sáng nào nữa.  Tính năng cách âm và che ánh sáng của những căn phòng ở đây thật là tốt.  Nghê Tảo vừa tán thán vừa cảm thấy bắp chân hơi nhức mỏi.  Ngày nào cũng chẳng được nhàn, quả tim lúc nào cũng căng lên, không thể tĩnh lại được.
Leo đến tầng tư, một cánh cửa đang khép hờ để lọt một cái khe nhỏ có ánh sáng hắt ra, tất nhiên là phu nhân Sử đã mở sẵn cửa đợi họ.
"Phu nhân Sử!"  Triệu Vi Thổ vui vẻ gọi lên một tiếng, tay đẩy cửa ra.  Ở sảnh không có người, hai vị khách lẳng lặng đợi một lát, Nghê Tảo đã kịp nhìn thấy một chiếc biển nhỏ, trên vân đá màu đỏ gạch viết ba chữ cổ nhã màu xanh lục: "Chí viễn trai."  Phía dưới biển là một tờ giấy viết chữ lớn lồng khung kính, nét chữ rất thảo, xem kỹ mới nhận ra chữ đó là chữ "Ngu".  Đôi câu đối hai bên, một bên là "Thủ thân như chấp ngọc" và "Tích đức thẳng di kim."
Nghê Tảo chớp chớp mắt, mình đang ở đâu vậy?  Vào năm tháng nào đây nhỉ?
Lúc đó, một bà lão đẫy đà lạch bạch đi ra, huyết thống Trung Quốc trăm phần trăm.  Bà già mặc bộ áo trong nhà kiểu Trung Quốc màu đỏ tía, đi giày đoạn thêu hoa nét mặt tươi cười, đôi má đầy đặn hơi chảy xệ, nom hồn hâu dễ gần.  Chỉ phải giữa hai đầu lông mày có ba nếp nhăn dọc sâu nông không đều nhau, điều đó khiến người ngoài cảm thấy bà già này chưa chắc đã có tính nết thật dễ chịu.
Phu nhân Sử hoan nghênh họ ở mức thích hợp, ánh mắt xét nét Nghê Tảo dường như có chút nghi hoặc "Thân phụ tôi bảo tới thăm cụ.  Tôi có đem thư của ông, và có một chút đồ ông giử tới cụ và cụ Sử Phúc Cương."  Trước ánh mắt nghi hoặc của phu nhân Sử, Nghê Tảo cảm thấy cần phải giải thích một chút.
"Xin mời vào, xin mời!"  Phu nhân Sử gật gật đầu, "Thật không ngờ lại gặp được ngài.  Hôm qua tôi mới trở về đấy, còn tiên sinh Sử vẫn ở lại Manila."
Nghê Tảo bước vào phòng khách rộng rãi nhưng cũng tôi tối như ngoài sảnh, ông được nhường chỗ ngồi trên chiếc ghế xô pha màu đỏ sậm đã rung rúc.  Qua lại mấy câu xong, phu nhân Sử lạch đạch đi lấy nước trà cho khách, Nghê Tảo được yên tĩnh một lát để quan sát nơi ở của chủ nhân.
Bất luận thế nào, ông cũng không thể tưởng tượng đây là phòng ở của một người châu Âu.  "Nhẫn vi cao" (nhẫn nhịn là cao) ba chữ lớn đó đối thẳng trước mặt ông.  Đó là chữ của Khổng Lệnh Di, con cháu đời thứ bao nhiêu của Khổng Tử viết đấy.  Tranh của Tề Bạch Thạch hình như đã từng biết.  Con nòng nọc nhỏ vui vẻ bơi trong khe núi.  Bức tranh sơn thủy bên cạnh đó không nhìn rõ tác giả là ai.  Bên cạnh bức tranh sơn thủy là một chiếc kỷ gỗ màu đen, trên kỷ gỗ đặt một chậu hoa lan.  Ánh mắt Nghê Tảo dời sang bên phải, dịch tới bức tường phía cửa.  Ông trợn mắt há miệng, giật nảy mình vì trông thấy một bức hoành, đó là chữ từ cổ để lại: "Hồ đồ hiếm có" (Nan đắc hồ đồ).
Không biết tại sao tim ông đập mạnh lên.  Ông đứng dậy, dón châ bước tới gần bức hoành.  Không sai, đúng là như vậy.  Chữ nan đó là chữ viết tay của Trịnh Bản Kiều.  Chữ nom chắc khoẻ hùng mạnh, mấy chữ dưới đó "thông minh khó, hồ đồ khó, từ thông minh chuyển thành hồ đồ càng khó.  Bỏ một bước, lùi một bước, lập tức yên ổn trong lòng, không phải mong được phúc báo ngày sau.  Nhận thức của Bản Kiều."  Đó là những chữ ông từ lâu đã thuộc nằm lòng, có thể đọc một hơi ra được.  Lúc trước ông không hiểu ý nghĩa của nó, sau rồi đã quên biến quên bay.
Thế mà, chính trong khoảnh khắc này, ông đã hiểu ra, quên tiệt đi là không thể, là quá khó.  Quên tiệt, quên hẳn không hề đem đến cho con người sự an ủi thực sự.  Mà những ký ức tưởng đã quên hẳn bỗng nhiên sống lại, thì lại cho người ta một cảm giác nghẹt thở.
Ánh mặt trời ngày đầu đông đó, những chiếc lá rụng đầy sân, ánh ngời trên cửa kính, con mèo hoa già nhảy một cái đã lên mái nhà, tiếng rao bán bột ngó sen, tiếng xe nước quay kẽo kẹt, cái bậc thang bằng đá vỡ một góc, ông bố mặc bộ com lê, chiếc khóa sắt trên cửa, tấm thư pháp mà Trịnh Bản Kiều viết chữ nan thành chữ đó, những mảnh thủy tinh vụn đầy đất, những oán hận thù hằn mà đến nay ông vẫn không thể giải thích được đó, lại còn những bài hát càng trong trẻo ngọt ngào thì càng thê lương tuyệt vọng của giọng ca vàng Chu Tuyền nữa!
Nước trà dường như không tươi mới như kia, cũng không nóng hổi như kia.  Phu nhân Sử bưng tới một khay bánh điểm tâm, ông ăn một chút bánh gato, rất ngon.
Phu nhân Sử nói: "Năm ngoái tôi có về qua Bắc Kinh.  Em gái tôi ở Bắc Tân Kiều mà.  Tại sao lại dỡ hết cả cổng chào Đông Tứ và Tây Tứ đi nhỉ?  Tôi thật đau lòng quá.  Trở ngại giao thông ư?  Khải hoàn môn Pari cũng trở ngại giao thông, họ liền mở rộng mặt đường, xe cộ có thể đi qua từ hai bên.  Anh còn ở lại thành H mấy ngày?  Anh có ăn quen cơm ở đây không?  Anh còn mạnh hơn tôi đấy.  Cha anh đã già rồi, tất nhiên thôi.  Còn mẹ anh thì sao?  Ồ, tôi có nghe nói.  Anh còn chị gái phải không?  Tất nhiên nhớ hết chứ.  Tôi có bệnh tim, không phải thế đâu, ngồi máy bay tới nỗi sưng hết cả hai chân lên, đến hôm nay vẫn chưa hết sưng..."
Phu nhân Sử lại nói: "Anh đã hơn bốn mươi rồi à?  Ồ, anh cũng đã lớn thế rồi đấy.  Mấy cháu rồi?  Tốt quá, tôi hoan hô anh.  Vẫn nên có con trai, ở Trung Quốc không có con trai không được.  Nhà ở có mấy phòng?  Thế sao đủ?  Tốt nhất vẫn là nhà kiểu cổ có sân ở giữa, trồng hoa, nuôi cá, nuôi chim, làm bô đá.  Nói vậy cũng bằng không.  Thế sao bây giờ mình lại đang trên đường đi học nào?  Có lẽ ở đây có hai thằng Nghê Tảo chăng?  Một thằng Nghê Tảo đang ăn khoai nướng mà đi học, còn một thằng Nghê Tảo hãy còn ngủ trong chăn chăng?  Hình như mình biết cái thằng Nghê Tảo ngái ngủ đến như thế, gọi cũng không tỉnh được, mắt thì lèm nhèm đầy những dử...
Cứ vừa đi vừa nghĩ như vậy, sắp đến trường học rồi, một dãy tường trắng, một đống người.  Làm gì thế?  Hóa ra một kẻ ăn mày chết gục... Nó không muốn xem.  Nó sợ xem.  Xem nữa thì muộn học mất.  Không biết ai đã đắp cho một manh chiếu rách, hai cái chân người chết thò ra ngoài đấy, hai chiếc giày đều há mõm, ngón chân con vào, giống móng chân gà... Hốt nhiên Nghê Tảo thấy ngạc nhiên thật lực, nó cảm thấy người chết kia biết đâu lại là mình.  Nó làm sao dám chắc chắn là mình vẫn sống mà chết lại là người khác nhỉ?  Nó làm sao biết được người đã chết rồi lại không có một hóa thân khác đang sống nào?
Có lẽ có thể giả định người chết lại là một thằng Nghê Tảo, một Nghê Tảo chết rồi.  Một Nghê Tảo có những ngson chân quắp vào, trên mình đắp một manh chiếu.  Sống cùng với một Nghê Tảo đó sẽ là một mẹ nữa, một bố nữa... một thế giới nữa.  Sau khi Nghê Tảo kia chết rồi, bà mẹ kia, ông bố kia, bà chị kia, bà dì, bà ngoại kia tất nhiên chạy đến, khóc lên: "Con (cháu, em...) của tôi ơi, con (cháu, em...) thế này là thế nào đây?"  Họ khóc thật là đau đớn làm sao, tiếng khóc sao mà to thế, đến nỗi suýt làm cho Nghê Tảo này nghe thấy nữa, chắc là như vậy chăng?  Mỗi ngày đồng thời với hoạt động của một Nghê Tảo đang sống, Nghê Tảo khác đang chết đi đấy chắc?  Cứ thế mà nghĩ, tên Nghê Tảo sống đã đi vào cổng trường, trước cửa phòng lao công dán một tấm giấy: "Táo chua bở, kẹo hạnh khô, quả áo đường", đều là những thứ bọn nữ sinh thích ăn.  Lúc đó nó mới dễ chịu được một chút.
Còn bây giờ thì, ở tại châu Âu, tại nước ngoài, tại thành phố H, dưới bức hoành "Nan đắc hồ đồ", bên cạnh có cả Triệu Vi Thổ, ông bỗng phát hiện, việc cũ chưa hề tiêu tán.  Việc cũ chẳng qua tồn trữ tại nhà phu nhân Sử ở thành phố H.  Việc cũ cũng tồn trữ trong lòng mỗi một người đã trải qua việc cũ.   Hóa ra, ngoài ông ta hiện nay, vẫn có một ông ta khác sống trong việc cũ.  Hóa ra con người trong thập niên năm mươi cáo biệt thập niên bốn mươi, lại ở trong thập niên sáu mươi cáo biệt thập niên năm mươi, cũng giống như người ta rời Thượng Hải đi Thanh Đảo, rời Thanh Đảo đi Yên Đài vậy.  Người ta nói chung thường cho rằng, cuộc du hành không gian là có thể ngược trở lại, mà du hành thời gian thì không thể ngược trở lại được.  Nhưng tối nay, ông đã thu hoạch được một thể nghiệm chấn động nhân tâm, trong thập niên tám mươi, trên một thành phố lạ, ông đã phát hiện một số quá khứ đã chôn vùi lâu lắm.
Khảo cổ?
Nối tiếp.  Lại nối vào rồi ư?





Chương Hai

Con mèo đã quậy phá suốt một đêm.  Buổi tối hôm đầu, hình như trời mới tối chưa lâu, đã vọng tới một kiểu tiếng mèo kêu khúc khắc lên bổng xuống trầm, réo rắc buồn thảm, khổ đau, thèm nhạt và lại hung ác.  Tiếng kêu đó với nó thì giống như tìm bạn tình, không giống cách nói là đi quyết đấu, đi giết chóc, đi ăn người.  Tiếng kêu này khiến Tịnh Trân rung tay lên một cái, đánh rơi chiếc chén sứ mắt trâu để uống rượu, vỡ một nhát tan tành.
Tịnh Trân (tên ngày nay trong sổ hộ khẩu là Chu Khương Thị) cầm cây chổi lau nhà lau một cái, cô hò hét vào bức tường, vào cái đầu dốc nhà ngói xám hiển hiện trong ánh sao mông lung.  Cô nhảy một cái rõ cao, cô phì phì phì phì nhổ bọt một hồi, cô tưởng tượng cô đã bắt được cái con mèo lông da hổ mắt xanh lục sáng loé bụng chang bang kia.  Đó là hóa thân của tà ác và vô sỉ.  Cái chổi lau nhà của cô mỗi nhát đều quật trúng bụng dưới của con mèo ma quỉ kia, đánh đến máu chảy đầm đìa khắp mình nó.  Cô cảm thấy thở không ra hơi nữa.  Đứa cháu trai gọi cô bằng dì ruột lên tám là Nghê Tảo và cháu gái lên chín là Nghê Bình trợn mắt há miệng ra mà nhìn bà gì quay lại.  Chu Khương Thị âu yếm nhìn bọn trẻ một cái, bật cười giải thích: "Những ngày gần đây nhà ta cứ đen đủi thế nào ấy, tất cả đều là do con mèo chết tiệt kia đem tới cả. Dì phải đập cho tan cái vận đen kia đi.  Có đen đủi gì cũng để mình dì chịu cho..."  Nghê Bình và Nghê Tảo đứng chớp mắt nửa như hiểu nửa như không, Chu Khương Thị nói: "Thôi, bỏ đi, bỏ đi không nói những cái đó nữa.  Để dì dạy các cháu hát nhé."  Nói xong, cô liền dọn giọng, lại cả ho, lại cả nhổ đờm, lại thở ra một hơi dài, lại còn hưm hưm khịt mũi.  Cuối cùng, cổ họng đã thanh thoát đàng hoàng rồi, cô mới từng câu từng câu rành rọt mà hát:
Gió thì thổi mây thì bay
Biển liều liệu mà hành tử liệu...

Câu thứ hai lời thế nào cô không nhớ nữa, liền hát thành "liều liệu" và "mã hành tử" (giống giống cái gì đó) vậy.
Cái cây biết nói, con chim biết hát,
Đều cùng nhau ngủ say rồi,
Dương liễu đong đưa...

Đang hát  vậy, chỉ thấy lỗ mũi sao mà ngứa dữ dội, cô hắt hơi một cái thật to, hắt hơi mà như dẫy chết ấy, người ngợm mặt mũi rung bần bật lên không dừng lại được, khiến hai đứa trẻ nhìn thấy bật cười.
Hai đứa bị mẹ gọi về phòng đi ngủ rồi, Tịnh Trân - Chu Khương Thị vừa sửa soạn chăn đệm cho mình vừa bật ra ngâm bài Trường hận ca của Bạch Cư Dị:
... Họ Dương có cô nàng mới lớn
Giấu trong nhà chưa kẻ nào hay
Trời cho sắc đẹp sao nghiêng nước
Tuyển vào cung bỗng chốc thành phi
Ma hành tử ma hành tử
Người hầu đỡ dậy còn õng ẹo
Thành người mới rồi phải chọn thời...

Vừa mới  nằm xuống thì lại nghe tiếng mèo kêu từ thấp lên cao, lại từ cao xuống thấp giống như hình sóng, tiếp ngay sau đó là tiếng phun phì phì và tiếng cào móng vuốt.  Tịnh Trân muốn xông ra nữa, nhưng bất lực, vừa lên giường thì chân tay đã nặng như chì đầu như cái đấu, tựa như bị đóng đinh vào ba tấm ván giường rồi, không làm sao nhấc nổi người lên, cựa cũng không nổi trong chăn nữa.  Hán hoàng trọng sắc mà nghiêng nước, rõ ràng là Đường Minh Hoàng sao lại cứ nói Hán Hoàng, ngao - meo - phì!
Cũng chẳng biết thực ra là cô đã ngủ bao nhiêu lâu, một tiếng đồng hồ hay là một phút, đều có thể.  Dầu sao thì cô cũng đã mở choàng mắt ra trong một mớ tiếng mèo kêu.  Ở đâu ra mà lắm mèo thế?  Chẳg lẽ là đại hội của mèo?  Mèo thành tinh ư?  Một tiếng dài, một tiếng ngắn, một tiếng cao, một tiếng thấp, một tiếng buồn, một tiếng nhộn, cứ như có hàng ngàn hàng vạn con mèo chồ tới chỗ cô, hàng ngàn vạn móng vuốt mèo đồng thời cào vào mặt vào tim cô.  Vừa may đúng lúc đó, trên nóc nhà có một tiếng ầm ầm nghe như thiên binh vạn mã dậy biển trào sông, thực ra đó là một đàn chuột bung ra.  Tiếng chuột kêu lại còn làm khó chịu hơn cả tiếng mèo.  Thử nghe xem, cứ cảm thấy như nó ở ngay gần đây, cứ thấy như nó đang lổm ngổm nhung nhúc khắp đất đầy trời, cứ thấy như một đàn chuột đang đá tới tấp vào huyệt thái dương của mình.  Chuột dọn nhà, chuột cưới vợ, đều là những hỉ sự to lớn.  Làm sao mà Chu Khương Thị chỉ cảm thấy từng cơn co giật thắt chặt lấy tim, đằng sống lưng tựa như có móng tay ma quỉ rút lấy vò lại thành một búi, gỡ cũng không gỡ ra được, rút cũng không rút ra được, biến thành một mớ bòng bong rồi ư?  Trong tiếng đồng ca của mèo chuột, cô cố dãy dụa vùng vẫy nhưng không làm sao thoát ra được, cuối cùng không biết là ai, không biết là ai cười nhạt hi hi ba tiếng bên gối của cô, lại giống như thổi vào tai cô, cô kêu to lên một tiếng, mở choàng mắt ra, nước mắt chảy tràn trên mặt, khắp mình ướt đầm mồ hôi lạnh.  Chẳng lẽ vừa rồi mình vừa chết đi một lần - xuống tới địa ngục một lần ư?
Chắc có lẽ là mình bị bóng đè, trở mình đi một cái là xong thôi.  Cô tự an ủi mình như vậy.
Cô trở mình một cái, trước mắt thoáng như có một thân hình màu trắng lướt qua.  Cái bóng đó sao mà nhẹ tênh tênh, cô độc, hư ảo không rõ hình hài gì cả.  Cô định thần lại rồi đọc một bài từ đệm theo trống của mình.
Đánh chết con hoành oanh.
Không được hót trên cành,
Hót làm tan mộng thiếp,
Chẳng tới được Liêu Tây.

Cô có thể đọc thuộc rất nhiều thi ca từ phú lời thoại trong các vở ca kịch.  Nhưng ở nhà, mọi người anh em họ hàng đều coi tất cả các loại văn vần mà cô đọc thuộc đó là những bài hát trống quân.
Bài ngụ ngôn tuyệt cú này trong số bài hát trống quân, không biết từ bao giờ đã trở thành câu thần chú của Tịnh Trân, cô niệm hết lần này đến lần khác, có khi niệm thầm trong bụng không ra tiếng, có khi thì khe khẽ lầm rầm, có khi kéo dài giọng ngâm nga bằng tiếng địa phương nhà mình, có khi lại dùng điệu hát tự bịa đặt ra, ghép lẫn giọng dân ca "cây cải trắng nhỏ xinh" với giọng Đỗ Thập Nương trong bang kịch thành điệu tự do mà hát một phen.  "Đánh chết con hoàng oanh", chỉ có năm chữ đó đã đủ khiến cô thần hồn điên đảo, đau khổ đến không muốn sống, như phát sốt phát rét, sinh bệnh viêm phổi lên vậy, chỉ cảm thấy toàn thân nóng vô cùng lạnh vô cùng, mỏi mệt vô cùng, trống trải vô cùng.  Và cứ vậy mà đọc, ngâm, hát trong khi khóc thảm thương, cười cay đắng, mỉm cười hoặc giả trầm tư, "Đánh chết con hoành oanh" lặp lại mười mấy lần, mấy chục lần xong, rồi chảy mất bao nhiên nước mắt, đổ mất bao nhiêu mồ hôi thì cô mới cảm thấy được một kiểu giải thoát, một kiểu gửi gắm.  "Hót làm tan mộng thiếp", đã nói đến cùng, đã nói một cách ngắn gọn dứt khoát, tự cổ chí kim, số phận của người phụ nữ là thường chỉ bị tan vỡ tàn mộng mà thôi!  Vậy thì làm sao mà tới được Liêu Tây đây?
Cả đêm đó cô chỉ một mực như tụng kinh, đã đánh chết "con hoàng oanh" không biết đến bao nhiêu lần.  Cuối cùng đã đuổi tung hết cả tiếng mèo tiếng chuột đi rồi, sau đó cô nghe thấy tiếng gió thổi cành cây và tiếng lá rời cành rơi xuống đất, cô nghe thấy tiếng còi tàu hỏa thình lình huýt lên, sau đó là tiếng bánh xe va đập vào đường sắt từ mạnh đến yếu rồi dần dần tan biến đi.  Rất lạ là đã qua đến năm sáu phút đồng hồ rồi, Chu Khương Thị vẫn còn nghe thấy tiếng xịnh xình xình, xịch xình xình lúc mạnh lúc nhẹ tận cho đến khi gần như nó tan biến... Gần như tan biến, nhưng vẫn cứ không tan biến hẳn.  Làm sao đoàn tàu lại dài đến thế?  Làm sao đoàn tàu cứ không hết đi được hả... Cái đoàn tàu dằng dặc không bao giờ hết đó, rốt cục là có đồ đạc gì đang vận chuyển trên đó chứ?  Tại sao lại cứ phải kéo từng toa từng toa rỗng tuếch mà đi dằng dặc như vậy nhỉ?  Cô cứ nghĩ vậy, và dần dần mất đi các cảm giác khác ngoài những tiếng xịch xình xình.
Khi Chu Khương Thị tỉnh dậy thì trời đã sáng bạch.  Cô gấp chăn màn của mình lại không một ly cẩu thả, thần thái nghiêm túc, giống như sắp sửa đi thực hiện một sứ mệnh trọng đại.  Cô dùng cái chậu rửa mặt đã vá một miếng bằng sắt tây của mình đi lấy một chậu lớn nước ấm, đặt cái chậu rửa mặt bằng sắt tráng men lên cái giá để chậu bằng gỗ màu da cam.  Sau đó cô rửa mặt hết lần này đến lần khác.  Cách rửa mặt của cô là, trước tiên lấy một chiếc khăn mặt bông đã cũ hơi thủng lỗ, đã từ màu trắng ngã sang xám ngâm cho ướt, rồi dùng xà phòng bánh ra sức đánh lên khăn mặt, sau đó lấy tay dấp nước xao lên khăn mặt hết lần này đến lần khác, xà phòng trên khăn mặt đã dính nước hiện lên một lớp bọt mong mỏng, nước trong chậu thì chưa rửa mặt đã trở nên đục ngàu rồi.  Lúc đó, cô bắt đầu dùng chiếc khăn mặt dính đầy xà phòng và nước, vừa trơn tuột vừa sền sệt chà qua xát lại trên mặt một cách hăng hái, cơ hồ là xung động nữa.  Đồng thời mũi cô phát ra những tiếng ngàn ngạt, giống như có người nào cố tình bịt lấy miệng cô, mũi cô, muốn cô nghẹt thở, mà khí quan hô hấp của cô đang lên tiếng chống cự và phản kháng.  Cứ vậy rửa xong một lần lại dầm khăn vào nước để giặt, nước trong chậu trông càng đục hơn, nhưng như vậy chưa coi là xong, lại bắt đầu dùng tay ướt cầm cục xà phòng xát lên khăn mặt, xát rồi vò, vò rồi giặt, giặt rồi lại xát, sau khi tuần hoàn như vậy mấy bận, cơ hồ nước trong chậu đã thành màu đen, mà mặt Tịnh Trân lại mỗi lúc mỗi trắng.  Nhìn thấy nước trong chậu ngày càng bẩn, Tịnh Trân có một tâm trạng như là hài lòng và thích thú, vì sự biến đổi của nước đánh dấu hiệu quả việc rửa mặt loại bỏ chất bẩn của cô.  Nhưng cô vẫn chưa chịu dừng tay, vẫn còn phải rửa thêm một lần nữa.
Nghê Tảo đã biết từ trước, khi bà gì rửa mặt chải đầu trang điểm, cậu quyết không nên đến quấy rầy.  Cho dù bình thường dì có yêu mình đến thế nào, nhưng khi dì rửa mặt chải đầu trang điểm, có một thứ thần thái rất đáng sợ, có thể không từ một giá nào, sẵn sàng gạt phăng tất cả mọi trở ngại, điều đó khiến Nghê Tảo chỉ dám đứng xa nhìn mà không dám nhích tới một bước.  Nhưng, theo đà tăng trưởng của tuổi tác, cậu cũng càng ngày càng bứt rứt, mục đích của bà gì rửa mặt nói cho cùng là để làm gì nhỉ?
Cuối cùng, Tịnh Trân đã rửa mặt xong.  Lúc đó, cô kéo ra một chiếc ghế vuông con, đặt trước một chiếc bàn dài sơn màu trắng đã tróc loang lổ.  Ghế vuông được đặt cực kỳ ngay ngắn, cách đều hai đầu bàn chính xác đến từng ly.  Cô ngồi trên ghế đôn đó, lấy ra một cái tráp đựng gương lược hình vuông.  Tráp sơn màu đỏ tía, nhưng năm tháng dài lâu đã làm cho nó gần trở thành màu đen, có chỗ còn lộ ra những điểm bong tróc.  Cô mở cái nắp ra, một mảnh gương gắn bên trong nắp để ở độ nghiêng thích hợp.  Cô kéo tay cầm của hai cái ngăn kéo phía góc trên bên trái, tay nắm hình chiếc lá nhỏ bằng đồng.  Từ trong chiếc ngăn kéo vừa kéo ra đó, cô lấy ra một chiếc lược thưa, một lược bí, cây trâm, hộp phấn phủ lót, những phấn hồng son môi và sáp thơm chất lượng xấu kém cùng các kẹp tóc to nhỏ khác nhau với một cái lưới bọc tóc đã có lỗ thủng rách, ngăn kéo nhỏ vừa mở ra thì một mùi hương nóng sực phả ra.  Sau đó, Chu Khương Thị mở chiếc cửa nhỏ bên phải lấy từ cái tráp nhỏ đã xạm đen bên trong tráp lớn kia ra một cái đĩa nước ngâm vỏ bào.  Sau đó Chu Khương Thị đóng lại từng thứ cửa và ngăn kéo vào như cũ.  Cô soi mình vào chiếc gương tuy đã có những chỗ bong lổ chỗ, nhưng vì mặt gương rất trong và bằng phẳng nên vẫn có thể cho hình bóng rất chuẩn xác.  Cô nhìn thấy một khuôn mặt vàng vàng, giống đàn ông, nửa Trung Quốc nửa tây phương.  Chỉ có mắt và tóc là đẹp.  Con ngươi đen sáng và có thần, khoé mắt lộ ra bao nhiêu là u oán, thông tuệ, điên cuồng và sự tiều tụy sớm.   Tóc dày, đen, óng và sợi nhỏ.  Cô tin chắc là sợi tóc của cô mảnh hơn tóc của người khác một ít.  Xương gò má quá cao và chiếc cằm quá vuông cùng sống mũi quá cứng và mạnh của cô là những thứ mà cô đều không thích.  Cô tin rằng đó là tướng mạo khắc phu, cô tin đó là triệu chứng khiến cô phải đau khổ bất hạnh suốt đời - có lẽ cũng là căn nguyên nữa.  Cô ngắm nghía tỉ mẩn khuôn mặt của mình, chỉ cảm thấy vừa đáng chán vừa đáng thương, và nhiều hơn thế là mệt mỏi.  Cô đã nhìn thấy bộ mặt quen thuộc kia quá nhiều rồi, mà nhìn thấy bộ mặt cô rất mong thấy được thì lại là quá ít cơ chứ.
Cô bắt đầu trang điểm.   Trong cả một ngày, chỉ có lúc này cô cảm thấy có một sức mạnh thần bí đang dậy men, đang tích lũy, đang thôi thúc mình.  Cô cảm thấy một cơn tim đập dồn dập, trong người cô bắt đầu phát sốt, một cơn xung động mãnh liệt muốn khóc, muốn ngất xỉu, muốn thắt cổ, muốn quậy phá đến long trời lở đất đang thúc giục cô, thế là phải dùng một tràng cười lạnh lẽo để che lấp mình đi.  Đầu tiên cô lấy lòng bàn tay dấp nước để bôi kem sáp thơm đều khắp mặt, rồi hai tay nhè nhẹ vỗ lên mặt.  Bản thân cô cảm thấy không dùng sức gì mấy, nhưng trên mặt lại phát ra tiếng bốp bốp nhỏ và giòn, tiếng đó mỗi lúc một to lên.  Những tiếng đó thường khiến Nghê Tảo cảm thấy đau lòng, cậu đau đớn cảm thấy bà dì rõ ràng đang tự vả miệng mình.  Sau khi đánh tát một hồi, cô cầm hộp phấn phủ lên.  Hộp phấn phủ làm bằng giấy bìa, hình tròn, ngoài nắp hộp có dán một tấm ảnh chân dung "nữ lang thời đại".   Cô cố sức cạy ái khe giữa nắp và thân hộp bị đóng rất chặt, cô cầm chiếc núm chấm phấn lông xùm xòa màu hồng ra, trong chùm tia nắng chiếu qua khe cửa trong phòng bắt đầu thấy những hạt phấn thơm li ti nhảy nhót, thật là sự tồn tại hết sức nhỏ nhoi và bất định.  Tịnh Trân mang một vẻ đắm say, cung kính mà xót xa vô hạn, cầm cái núm chấm phấn nhẹ nhẹ chấm vỗ lên mặt, cô cảm thấy cái núm lông chấm phấn có một sự êm ấm khác thường, sao mà mềm mại, sao mà dịu dàng dễ chịu đến thế.  Cái đó khiến cô thấy sự mềm mại của chính khuôn mặt mình, cái đó tựa hồ là một thứ êm ấm dịu mềm duy nhất trong số phận của cô.  Tuy trái tim cô đã bị cứng lên thành đá từ lâu, nhưng lại còn được cái mặt mềm rười rượi thế này, cô như đã khóc to lên rồi.  Đôi mắt cô đọng nước mắt mà đã càng đẹp thêm, càng tiều tụy thêm đi.  Cô cứ thế mà dồi phấn, vỗ phấn, đập phấn lên mặt không ngừng nghỉ.  Phấn thơm loại kém phẩm chất có chứa chì khiến mặt cô trở nên tái mét trắng bệch.  "Đồ mặt trắng!" đó là một từ cửa miệng mà Nghê Tảo và chị và mẹ và bà ngoại thường dùng để hình dung và diễn đạt ý trách cứ.  Bà di đang làm gì?  Đang làm "đồ mặt trắng".  Thế thì đứa trẻ con như Nghê Tảo cũng phải thể hiện ra một vẻ dở cười dở khóc mà vừa băn khoăn khó hiểu mới chết chứ.
Mặt trắng đã phủ phấn xong.  Bắt đầu bôi má hồng môi son.  Đó chỉ là động tác bên ngoài mà thôi.  Mọi người hoàn toàn có lý do để nghi ngờ cái hộp màu má và thỏi son, có thể đã hết son hết màu từ lâu rồi, bởi vì dù có dùng hết cả màu má son môi đi nữa thì sau khi cất những thứ đó đi rồi, trên mặt Tịnh Trân vẫn chẳng có một chút màu hồng nào cả.
Trong khoảnh khắc đang cất phấn son đó cơ thịt và lớp da trên mà Tịnh Trân cơ hồi hơi co giật một lúc, Tịnh Trân hừm mũi cười khẩy một tiếng.
Từ trong gương Chu Khương Thị đã nhìn thấy hình ảnh của mình thật bơ vơ, bi thảm, tuyệt vọng và tàn khốc.  Cô lại hừm đằng mũi  cười khảy một tiếng.  Định tính sổ với ta à, định đẩy ta vào liên hoàn kế của ngươi à, định lột da rút gân uống máu ăn thịt ta à, ngươi cứ tính toán cho nổ mắt ngươi ra!
Đôi mắt cô trợn ngược, bắt đầu kích động, phì một tiếng, một bãi nước bọt đã bắn vào mặt gương.  Oán thù và ác độc, bi ai và phẫn nộ tích luỹ từ lâu, đột nhiên phun trào bắn ra.
Ngươi thật là bụng ác tay độc.  Hay đấy, ngươi?  Lượng nhỏ không phải là quân tử, không độc không phải trượng phu!  Giết người không chớp mắt.  Khổ sở khẩn cầu, vẫn không nương tay!  Gió dữ trời cao vượn hú buồn!  Cây rơi cành gãy vô biên vi vu xuống!  Nhất là thời sinh ly tử biệt!  Ta băm ngươi thành bùn thịt!  Giết nó không thèm phân xấu tốt, gà chó không tha!  Một không làm, hai không nghỉ, thà để ta phụ người thiên hạ, không để người thiên hạ phụ ta!  Quân tử báo thù mười năm không muộn!  Tôi không xuống địa ngục, ai xuống địa ngục đây!  Chết đi vẫn biết mọi sự đều trống rỗng!  Ta có dễ dãi không?  Cũng gọi là thư hương môn đệ, biết sách hiểu lễ.  Trung hậu truyền gia cửu, thi thư tục thế trường.  Lại là một năm hoa cỏ xanh.  Một tiếng pháo lại thêm một tuổi.  Ân ái vợ chồng vạn sự không.  Chết đói là chuyện nhỏ, thất tiết là chuyện lớn.  Một đời con gái chẳng phải chỉ hai chữ trinh tiết sao?  Hay một dung nhan cá lặn nhạn sa, một tướng mạo trăng mờ hoa thẹn.  Thôi, bỏ, bỏ.  Thược dược nở, mẫu đơn cười, một giải hoa đỏ rực.  Ngày nắng đẹp, ánh xuân tươi, muôn chim đua hót.  Lòng xuân đừng tranh nở với hoa, một tấc tương tư một tấc buồn.  Kết cỏ ngậm vành, ta đến trả ơn người.  Lương thần mỹ cảnh nại hà thiên, thưởng tâm lạc sự thùy gia viện?  Oan có đầu, nợ có chủ.  Chỉ sợ người đã khiếp kiếp sống tàn qua gió thảm mưa sầu, cô độc trần trụi qua qua lại lại chẳng vướng víu gì!
Tịnh Trân cứ lẩm ba lẩm bẩm đọc những câu chẳng dính dáng gì như vậy, mặt mũi luôn làm theo nhiều vẻ hết sức khác nhau, thể hiện rất mạnh mẽ, chợt đau khổ, chợt bi thương, chợt xót xa, chợt say đắm, chợt lạnh tanh khô khốc.  Tâm trạng của cô càng lúc càng hăng hái, cô nói chuyện càng lúc càng bốc đồng với hình mình trong gương.  Cô trợn mắt nhướng mày, nghiến răng nghiến lợi, thân thể phát run, ngay đơ như bị quỉ thần ốp vào người vậy.  Cô giãy dụa khua khoắng, vừa nói vừa lên gân lên cốt, vừa ra sức nhổ bọt tứ tung vung vít - Nghê Tảo biết, nếu lúc này mà đến gần bà dì, tất sẽ bị Chu Khương Thị nhổ bọt đầy mặt chẳng nghi ngờ gì cả.  Và tất cả mọi người trong nhà cậu đều biết vào lúc này phải tránh bà dì vài phần thì hơn.
Chu Khương Thị đập đùng một tiếng lên bàn, nhổ xuống đất một bãi đờm đặc kệt, chuyển sang nỏ mồm chửi rủa.
Người táng tận lương tâm, cầm thú đội lốt người, bắt nạt
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 14

Anh Ngô Thành, ba chúng nó ạ, chẳng phải cám ơn làm gì, câu nói đó của anh đã đi đến đâu rồi ấy.  Nói lời này sai lắm thay!  Anh là ai?  Tôi là ai?  Dù tốt, dù tệ, dù khóc, dù cười, dù đẹp, dù xấu, dù chết, dù sống... gì đi nữa, số mệnh của anh chính là số mệnh của tôi, số mệnh tôi chính là số mệnh của anh, anh ốm đau thì tôi cũng ốm đau, anh khoẻ lên thì tôi cũng khoẻ lên.  Anh ốm đến thừa sống thiếu chết, tôi không hầu thì ai hầu, tôi không lo thì ai lo?  Ba hoa trời đất tôi không biết, tiếng Tây tiếng nước ngoài tôi chẳng hay, nhưng khi anh ốm thì sao nhỉ?  Người ta chẳng ai khoẻ cả trăm ngày, hoa có đẹp cũng chẳng được ngày ngày, khi khoẻ phải nghĩ đến khi yếu để một chỗ mà lui.  Hoa hoè hoa sói, thì cũng chẳng mài ra mà ăn, mà uống mà chữa bệnh được.  Anh thử sờ vào cái lương tâm xem ngoài tôi lo cho anh hầu đãi anh như thế, anh còn tìm đâu ra người thứ hai nữa nào?
Hoa hoè hoa sói tôi cũng không oán, người ta đâu phải thánh hiền, đâu phải cỏ cây, ai chẳng biết cái trò rượu chè nhậu nhẹt, chơi bời đàn đúm.  Biển dục vô bờ, hưởng thụ vô biên, khi xấu thì mong được tốt, tốt rồi mong tốt nữa, làm đến hoàng đế, vẫn còn mong trường sinh bất lão đấy thôi!  Với lại, anh cần hạnh phúc, anh cần hưởng thụ, cũng chẳng phải mỗi mình anh là cần.  Ai chẳng biết gà vịt thịt cá là ngon, lĩnh lụa gấm vóc là đẹp, nhà cao cửa rộng ở là sướng?  Ai chẳng muốn ăn uống chơi bời, cao đàm khoát luận?  Nhưng tất cả những thứ đó đều từ trên trời rơi xuống cho ư?  Anh có được bao nhiêu năng lực, bao nhiêu bản lĩnh, bao nhiêu phúc phận để tìm kiếm được những hạnh phúc đó nào?  Anh không kiếm được, nhưng lại muốn cao hơn cả trời, thế là mơ hão!  Muốn thì cao hơn trời, phận thì mỏng như giấy, vậy không phải là tự chuốc lấy phiền ư?  Với lại không thể chỉ biết có trước mắt, chỉ nghĩ nhất thời.  Người ta sống một đời, không quá trăm năm, hôm nay còn tuổi trẻ sức khoẻ, huyết khí bừng bừng, lay trời chuyển đất, ngày mai thì sao?  Ngày mai chớp mắt đã lưng còng gối mỏi, chân chậm mắt mờ, thở chẳng ra hơi.  Khoái lạc nhất thời không có gì là khó, mà nay chẳng biết sau,  thì rồi chết chẳng có chỗ vùi thây đấy!
Tục ngữ nói nhân tâm bất đồng, mặt nào dạ nấy.  Lại nói người ta cưỡi ngựa tôi đây cưỡi lừa, trông lên thì chẳng bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng mình.   Tấc thì ngắn, thước thì dài.  Nhưng quan trọng nhất chẳng qua là hai chữ bổn phận mà thôi.  Ăn chơi chè rượu, người ta có thì cũng chẳng sai gì!  Đói cơm rách áo, người không có lại càng không có gì là sai!  Chết không đúng mệnh, trong thời binh mã loạn lạc, nhiều đến nỗi đếm cũng không xuể.  Cũng chẳng có gì là sai cả.  Bán buôn phải xem vốn, ăn cơm phải lường bụng chứ!  Người nhà quê mỗi bữa ăn tám chiếc bánh bao, anh chri ăn ba chiếc, người ta no, anh cũng đến no thì thôi.  Hoàng đế tam cung lục viện, bảy mươi hai phi tần, người dân thường không làm nổi như thế, nhưng đạo vợ chồng thì cũng như nhau.  Nếu anh mà có năng lực thật, tổ tiên sẵn có tiền thì ăn chơi chè rượu, tìm hoa hỏi liễu thế nào, tôi cũng để tuỳ anh!  Nói bằng thật nhá, khi tôi được gả đến nhà anh, họ Nghê đã không còn được nữa rồi, họ Nghê đã tụt dốc rồi, họ Nghê đã mỗi năm mỗi kém, giống như Vương Tiều Nhị ăn tết ấy mà... không có tiền tư trợ của nhà tôi, anh có được như ngày nay không?  Con người ta không thể vong ân phụ nghĩa, con người ta không thể quá ngông cuồng, con người ta không thể vô tình vô nghĩa, con người ta không thể cạn tàu ráo máng!  Anh đòi hỏi cái này cái kia, anh không muốn cái này cái kia, anh không quen nhìn cái này cái kia, anh không thử nghĩ xem bây giờ là thời buổi nào rồi?  Anh thì lại có thể làm được việc gì?  Một tờ giấy vẽ một cái mũi, cái mắt sao mà to thế chứ!  Được được được, tất cả sẽ để anh tha hồi nói, tất cả sẽ làm theo ý anh, nói kéo trời xuống thì cũng theo anh kéo trời xuống, miễn vợ con già trẻ đều có cơm ăn thôi.  Anh vào khách sạn vào vũ trường không có lấy một hào có được không?  Anh thử một ngày không ăn cơm xem!  Thử bỏ một bữa thôi xem!
Tôi không hề muốn hỏi han gì đến việc của anh.  Đạo làm vợ, tôi cũng hiểu.  Nhưng anh cũng phải để cho mẹ con tôi mấy con đường sống, anh không thể cắt đứt con đường sống của chúng tôi!  Anh hãy nhìn đi nhìn đi, mọi người bốn xung quanh đây, bè bạn gần xa kia, người thì khôn, kẻ thì ngốc, người thì xấu, người thì đẹp, người thì giỏi giang, kẻ thì kém cỏi, nhưng đều có mỗi nơi mỗi chốn, có chỗ chui ra chui vào, có bát cơm ăn, có bổn phận riêng của mình đấy!  Dù anh có đi làm thổ phỉ đi nữa, làm thổ phỉ cũng phải có hai khẩu súng, cũng phải có một cái bản lĩnh giết người cướp của chứ!
Tuy rằng khi tôi còn nhỏ gia cảnh có hơn người, nhưng bao nhiêu năm đã qua, lại thêm cảnh binh mã loạn lạc, tôi cũng đã quen được cảnh sống phải chịu cực khổ!  Chỉ cần anh an phận một chút, chỉ cần anh nghiêm chỉnh mà làm việc của anh, chỉ cần anh kiếm cho mấy mẹ con tôi đủ miệng ăn, thì anh bảo làm gì tôi sẽ làm nấy.  Tôi phục vụ hầu hạ anh, đó bổn phận phải làm của tôi!  Tôi phải nói lại một lần cho thủng câu chuyện với anh, rằng đến ngày nào Nghê Ngô Thành anh thực sự không kiếm nổi cơm ăn, thì tôi nuôi anh!  Tôi vai không biết gánh, tay không xách nổi làn, tôi không biết anh văn không biết lô cái gì gíc đâu, tôi có phải kêu đường xin cơm cũng cố nuôi sống anh!
Không coi tôi ra gì thì cũng phải nhìn nhận đến con cái chứ.  Anh có xấu hổ hay không?  Anh có đau lòng hay không?  Đi đâu mà tìm được những đứa con ngoan như vậy.  Thằng Tảo mới đây kiểm tra quốc văn, toán, thường thức đều được một trăm điểm, về hạnh kiểm là chín mươi tám.  Anh có biết không?  Thành tích học thi của chúng nó, bài tập của chúng nó, anh đã hỏi được một đề bài bốn qui tắc nào chưa?
... Người ta cũng là người, người ta cũng có người học đại học, cũng từ đi Tây đấy.  Người đồng hương của nhà ta là Triệu Thượng Đồng, lưu học Nhật Bản, thạc sĩ y học chính hiệu, viện trưởng viện nhãn khoa Quanh Minh, hoạc vấn của người ta có nhỏ hơn anh không?  Người ta kiến thức không bằng anh ư?  Tiếng Tây người ta chả thạo bằng mười anh ấy chứ?  Nhưng người ta ấy à, khi hành nghề y thì là bác sĩ đông - tây, khi về nhà thì là con hiếu chân chính của Trung Quốc, là rể hiền, là cha quí, luân lý đạo đức, chằng khuyết điều nào.  Anh chẳng phải là chưa từng gặp, cái bà phu nhân Triệu kia, chân nhỏ thì chả nói, lại còn mặt rỗ chằng nữa, nhưng người ta là vợ chồng kết tóc, Triệu Thượng Đồng với phu nhân của ông ấy, có thể nói được là tương kính như tân, chắp cánh cùng bay!  Bần tiện chi giao bất khả vong, tao khang chi thê bất hạ đường đó mới là nhân cách tối thiểu, là tình người tối thiểu!
Bây giờ anh đã rộng rãi gì đâu, anh bây giờ hơi tí là ăn chịu mua chịu, nợ dây dưa, tôi vẫn phải trả nợ cho anh đấy, anh là như thế... Nếu anh mà thật sự trở nên đại phú đại quý đại hồng đại tía, thì mấy mẹ con tôi chả thơm lây thì đừng, nhưng cũng không để cho anh vỗ tuột đi đâu!
... Ồ, chẳng nói chuyện đó nữa!  Phải nói tôi cũng không phải không biết điều đâu, tôi biết bụng dạ của anh cũng chẳng đến nỗi nào, anh cũng chẳng phải là người xấu, ý tốt của anh đối với tôi, tôi biết cả, tôi có phải là đứa hồ đồ đâu!  Anh đón tôi lên Bắc Kinh, anh đưa tôi đi nghe diễn giảng, anh cho tôi đi học Anh văn, tất cả đều là việc tốt, kể cả anh đưa tôi đi khiêu vũ cũng không phải rắp tâm làm gì xấu.  Tôi nhận hết cái tình của anh, tôi biết hết việc hay việc dở.  Nhưng anh lại muốn những điều cao quá, cao hơn cả chín tầng mây cơ.  Việc khác thì không nói, chứ tôi đi học, tôi đi nghe giảng đọc sách, thì ai trông hai đứa trẻ?  Thời buổi thế này, một người mẹ hai con, anh bảo tôi còn chạy đâu được nữa?  Anh là ngòi đã từng ở bên Tây, biết nói tiếng Tây, là người đàn ông thân cao năm thước, chẳng qua cũng vậy, để nuôi miệng qua ngày mà thôi.  Anh làm những việc như vậy, tôi nói ra cũng còn xấu hổ.  Dù tôi có học được cái gì đi nữa, thì cũng chỉ để đi với anh chơi bời vui vẻ mây mưa trăng gió chỗ nọ chỗ kia, học biết được Căng với Heghen, thì tôi cũng làm gì được?  Một là không để ăn, hai là không để uống, ba là không thể dùng để trị quốc bình thiên hạ được phải không nào!  Chúng ta đã là những người có gia đình con cái rồi, làm sao còn trẻ con thế được?  Mọi người ai chẳng phải sống như thế?  Nếu anh quả thật có chí khí, thật lòng muốn cứu nước, anh đi đánh giặc kháng Nhật đi!  Nếu anh dám liều kiếm miếng nào ra miếng nấy, thì đi làm Hán gian đi!  Như vậy anh còn coi là chiếm được một đàng!  Nhưng anh bây giờ nói cho cùng, là cái trò gì cơ chứ?  Thượng chỉ thì quan, hạ chỉ thì dân, ai định làm gì thì làm nấy, chứ cứ mỗi lúc mỗi kiểu, biến hóa bảy mươi hai phép kiểu Tôn Ngộ Không thế này sao được nhỉ?
Anh cũng không nghĩ cho thực tế một chút, tôi có thể khiêu vũ được không?  Cần nhảy nhót thì đi tìm gái nhảy!  Đại gia có tiền thì chơi!  Không tiền thì ta đành phận vậy, một thì không được ăn trộm, hai thì không được ăn cướp, ba thì không được ăn quịt.  Anh cứ nhìn đi mà xem, tất cả những người nghiêm chỉnh đứng đắn, kể cả những người gia sản tiền nghìn bạc vạn, có mấy người đi vũ trường nào?  Công tử ăn chơi đắc ý nhất thời, ngồi ăn núi lở, cuối cùng chả thành con khỉ đeo giấy xích vào nhà công thì cũng đến ra đầu đường mà làm ăn mày!
... Tôi còn biết, anh không thích chị tôi, mẹ tôi, điểm này cũng là chỗ không phải của anh đấy.  Tôi đã nói hàng vạn lần rồi, chị tôi mẹ tôi là người có ơn có đức đối với chúng ta, đối với anh, đối với cả nhà họ Nghê!  Chị tôi mười tám tuổi lấy chồng, mười chín tuổi thủ chí, cũng có thể gọi là kiên trinh cang liệt, nữ trung hào kiệt.  Anh phải thấy được gia phong của họ Khương nhà tôi!  Với lại, hai người đó ở đây, chẳng ăn một miếng cơm nào của nhà họ Nghê, không tiêu một đồng tiền nào của nhà họ Nghê, làm sao mà anh lại không thể chịu đựng được hai người cốt nhục chí thân bơ vơ cô độc không nơi nương tựa nhỉ?
Vẫn là việc của mấy năm trước đây, đó là lần đầu tiên chúng mình xô xát ầm ĩ dẫn đến đánh nhau một trận, cũng là lần đầu tiên anh mất mặt mấy ngày liền, không về nhà.  Anh còn nhắn cả người mời tôi đến ăn cơm ở chợ Đông Anh, anh đã hỏi tôi một câu, rốt cuộc là theo anh hay theo mẹ tôi chị tôi.  Câu hỏi mới hay chứ!  Tôi là vợ anh, là mẹ của các con, là con gái của mẹ tôi, là em gái của chị tôi.  Tốt đẹp ra thì là ngũ thế đồng đường, ngũ phòng đồng thất, kính già yêu trẻ, gia đình hòa mục.  Nghe mẹ tôi nói, nhà nào mà thật là tốt thì bao nhiêu đời cũng vẫn không ra ở riêng, đó mới là văn minh của Trung Quốc chứ!
Nói thì một ngàn, đạo lý thì một vạn, câu nào mà chả vì muốn tốt cho anh?  Từ mười một năm về trước được gả về nhà họ Nghê, thì tôi đã là người của họ Nghê rồi, khăng khăng một dạ, không nghĩ đi đâu khác nữa.  Nếu anh vẫn cứ không chịu sống ra con người, thì tôi biết trông cậy vào đâu để sống?
Những lời đó của Tịnh Nghi có thể nói là có tình có nghĩa, nói cùng nước mắt, gan ruột phơi bày, vô cùng đanh thép.  Nghê Ngô Thành mới qua cơn bệnh nặng đã chăm chú lắng nghe, tuy không thể tiếp nhận tất cả qua điểm luận điểm trong đó, nhưng về tổng thể, anh ta quả có cảm thấy hết sức chặt chẽ, có lý có tình, chỉ thiếu có nước phải chảy nước mắt, rửa tai cung kính mà nghe thôi.  Anh ta cảm thấy kỳ quái, Tịnh Nghi đã học được cái kiểu nói năng ghê gớm, thao thao bất tuyệt như vậy từ bao giờ, mà sao tình cảm văn chương đều lai láng, nghĩa lý cũng đủ đầy như vậy?  Có lẽ trước đây mình lại nhìn nhận sai về cô ấy chăng?  Có lẽ tất cả những cái đó đều là do cơ hội tạo nên đấy.  Nếu như Tịnh Nghi có cơ hội không bị bó chân, nếu như cô ấy có cơ hội học hết đại học và đi du học châu Âu, nếu như cô ấy có cơ hội lên bục giảng, biết đâu cô ấy đã chẳng thành giáo sư chính hiệu từ lâu rồi cũng nên?  Cứ cái khẩu khiếu đó, có lẽ cô ấy còn thích hợp với việc làm chính trị hơn đấy?  Nếu như cô ấy có cơ hội khiêu vũ thì sao nhỉ?  Nếu cô ấy có cơ hội sinh ra ở Oropa - America hay là quần đảo Phù Tang thì sao nhỉ?  Ô hô, tại sao một đời ngắn ngủi tuổi chưa đủ một trăm, đường đường là linh hồn của muôn vật, mà lại đều trở thành nô lệ cho cơ hội, đồ chơi cho cơ hội, vật hy sinh cho cơ hội thế à?
Thế còn bản thân anh ta thì có thể có cơ hội gì đây?
Đúng một tuần sau khi khỏi bệnh, anh ta nhận được bức thư lời lẽ rất uyển chuyển của hiệu trưởng trường đại học sư phạm.  Nói rằng vì sức khoẻ của anh ta không được tốt nên phải bảo trọng nhiều, nghỉ ngơi nhiều hơn, trường đã mời một giảng sư khác đảm nhiệm khóa trình của anh ta hiện nay rồi, xin anh tìm một chỗ cao hơn, sau khi phục hồi sức khoẻ.
Đã bệnh tật lại thêm mất việc, điều đó hóa ra lại dường như một liều thuốc mát hữu hiệu đối với tâm hồn vốn mãnh cuồng bất ổn của Nghê Ngô Thành.  Đã bao nhiêu năm rồi, anh ta hầu như chưa hề yên ổn như trong cơn bệnh thế này, đến ác mộng cũng không mơ thấy nữa.  Cứ cho là chỉ ngẫu nhiên cảm thấy một chút thảm thương mà thôi, chứ còn thì đã dễ chịu đi kha khá so với sự nung nấu cháy bỏng trong ngọn lửa của các loại dục vọng và lý tưởng quan niệm trong thời gian trước đây.  Chả trách nào lúc còn ở quê, hễ hơi ốm đau bệnh tật một tí, cho dù nhức đầu trúng gió đau răng gì, cũng đều gọi là nóng đầu, bốc hỏa, mà hễ uống thuốc, thì cứ gọi là khứ hỏa rồi.  Sách vở cũng viết nào là hư hỏa, tà hỏa, vị hỏa, phế hỏa, can hỏa, tâm hỏa, hỏa khí... cả một đời người chỉ toàn như lửa thiêu lửa đốt lửa nung thế thôi, ở đâu mà có được cái thân ung dung mát mẻ?
Bể khổ mênh mông, quay đầu lại là bờ.  Chẳng lẽ anh ta quay đầu thật rồi ư?  Lần đau ốm này toàn dựa vào Tịnh Nghi chăm lo, chứ những bạn bè cao đàm khoát luận, những bạn bè rượu lục đèn hồng, kể cả những cô bạn gái chẳng phải không từng có ý tứ gió trăng trăng gió với anh ta nữa, cũng chẳng thấy bóng vía đâu cả.  Vậy anh ta không nghe Tịnh Nghi nói, anh ta không chấp nhận lời Tịnh Nghi, liệu có được không?
Vì vậy anh ta chỉ có thể rưng rưng nước mắt, nói bằng giọng run run yếu ớt: "Xin lỗi, hết sức xin lỗi, tôi có lỗi với cả nhà nhiều lắm."
Chỉ hai câu nói đó thôi mà Tịnh Nghi đã khóc lặng cả đi.  Thật là sự hồi tâm chuyển ý hiếm có!  Cô gọi Nghê Tảo và Nghê Bình đến thăm hỏi sức khoẻ của ba.  Xin lỗi các con nhé, Nghê Ngô Thành nhắc lại lần nữa.  Nghê Bình cũng khóc lên thành tiếng.  Nghê Tảo vừa cảm động, vừa vui mừng, nó lập tức cảm thấy mình được sống trong một gia đình hạnh phúc, mình đã là một đứa trẻ hạnh phúc nhất trên thế giới.
Buổi trưa, Tịnh Nghi lấy hành hoa thái nhỏ xào qua, nấu một bát canh bằng mì sợi khô, đập vào đấy hai quả trứng để bồi dưỡng cho Nghê Ngô Thành.  Canh mì bưng lên cho Nghê Ngô Thành rồi, cô lại nói: "Có gì anh để phần cho trẻ con một tí trứng nhé."  Thế là Ngô Thành ăn đi một quả trứng, quả kia đưa Nghê Bình.  Nghê Bình ăn một nửa non, nửa già phần Nghê Tảo.  Mọi người đều ăn rất vui vẻ.  Ăn xong mì, Nghê Ngô Thành lại bảo hai đứa lấy lọ dầu cá mà anh ta mua trước khi ốm, đem ra, rồi hổn hà hổn hển giảng cho bọn trẻ sự cần thiết phải uống dầu cá, bảo bọn chúng uống đi.  Hai đứa trẻ mở nắp lọ ngửi ngửi, đều nói là tanh quá, vừa ngửi đã muốn nôn.  Nghê Ngô Thành cảm thấy vô cùng đáng tiếc cho cái sự ngu muội đó, nó quả đã khiến anh ta đau lòng nhức đầu.  Sau đó nghĩ đến mình đang cơn bệnh, dầu cá chắc là rất tốt cho việc phục hồi cơ thể, liền nghĩ để lại cho mình uống cũng tốt.  Thế là trước mặt hai đứa con anh ta liền uống làm mẫu, lấy cái công tơ gút, hút một nửa ống thủy tinh dầu cá.  Há miệng ra, bóp vào cái mũ cao su, dầu cá bắn vào miệng rất mạnh, anh ta lập tức vui vẻ nuốt đi ngay, mặt nở một nụ cười.  Một mùi tanh khó chịu lạ lùng đầy ắp trong khoang miệng, khiến anh ta mấy lần không nhịn nổi suýt nôn.  Nhưng tất cả những kiến thức về chất dinh dưỡng, về vitamin, về vệ sinh sinh lý học của anh ta đã lập tức phát huy tác dụng, lập tức hóa thành tri giác tình cảm chi phối sự ngon miệng trên mặt lưỡi, anh ta cố thuyết phục bản thân đồng thời cố làm cho mình tin rằng, dầu cá là tốt, vì vậy là ngon miệng, là tiêu chí quan trọng của văn minh hiện đại hóa.  Khi anh ta đang thành thực  nghĩ như vậy thì vị giác khứu giác đều bắt đầu biến chuyển, cảm giác khó khăn phải chịu cực chịu khổ dần dần tan biến, cảm giác vui sướng được thỏa mãn nhu cầu dẫn đến sự hưởng thụ dễ chịu đã từ đó mà xuất hiện, và cuối cùng thậm chí còn thay thế cảm giác khi trước.  Sự cố gắng đeo đuổi sức khoẻ và khoa học đối với lý trí của anh ta thường có thể nhanh chóng hóa thành tình cảm, hóa thành tri giác, thành phản xạ vô điều kiện, thành dịch tiêu hóa một cách nhanh chóng như vậy đấy.  Đó là ưu điểm mà người thường hiếm có.  Anh ta hể hả cười thành tiếng, đồng thời anh ta cũng dần dần nhận thấy rõ sự vận động của dầu cá trong cơ thể.  Trong thực quản và trong dạ dày.  Dạ dày bắt đầu ấm lên, đầy lên, no đủ hẳn.  Dạ dày bắt đầu hấp thụ dầu cá.  Chất dinh dưỡng trong dầu cá bắt đầu ngấm qua thành dạ dày đi vào mạch máu, hòa tan vào huyết dịch, rồi theo máu huyết chảy lên nách, lên cánh tay, lên đùi, lên eo lưng... Một thứ sức mạnh kỳ diệu bắt đầu tác động lên từng bộ phận cơ thể anh ta.  Bắt đầu thức tỉnh các tế bào suy nhược rã rời của anh ta.  Tất cả những quá trình đó, anh ata đều cảm thấy một cách rất rõ ràng, đã cảm ứng được và nhận ra từ nội tạng.  Thật là quá linh diệu.  Ngay lúc này, cả những cơ thịt trên mặt, trên má của anh ta cũng đã bắt đầu cảm thấy sự hạ cố của chất dầu cá, sự phong phú của chất dầu cá và sự an ủi vỗ về từng ly từng tí của chất dầu cá.  Đó là sự thụ hưởng vật chất, đó cũng là sự thụ hưởng học vấn về sinh lý học, dinh dưỡng học, y học vậy.
Anh đã lại bắt đầu nói đủ chuyện trời đất.  Vốn liếng không đủ, nhưng cũng không hề trở ngại hứng chí đang dần dần dâng cao lên.  Đã có dầu cá trợ giúp rồi còn gì.  Anh ta kể chuyện đối câu đối cho con cái.  Anh ta nói về Minh Thành tổ Yên Vương.  Thầy giáo ra cho ông ta một vế đối: "Gió tung đuôi ngựa bay ngàn sợi."  Minh Thành Tổ lúc đó còn niên thiếu đã liền xuất khẩu đối ngay: "Trời chiếu vảy rồng vạn điềm vàng."  Ông thầy thất sắc, không dám dạy nữa.  Sao vậy, nghe mà không hiểu ư?  Nghe khẩu khí của cậu bé kia liền biết chắc chắn sau này sẽ làm hoàng đế.  Lại còn Trương Chi Động nữa, bảy tuổi đã lên kinh ứng thí, quan chủ khảo thấy ông ấy còn trẻ con quá, mới bảo bây giờ ta hãy ra cho cậu một vế đối để cậu đối thử xem đã nhé.  Vế đó là: "Nam Bì huyện ngoan đồng thất tuế."  (Cậu bé tuổi ương bướng ở huyện Nam Bì) rõ ràng là có ý giễu Trương Chi Động đấy.  Trương Chi Động xuất khẩu đối rằng: "Bắc Kinh thành thiên tử vạn niên" (Nhà vua muôn năm ở thành Bắc Kinh)  Quan chủ khảo cũng phải vội đứng nghiêm lại, rồi chào thua.
Tịnh Nghi khuyên anh ta đừng nên nói nhiều quá như vậy, vẫn nên nghỉ ngơi nhiều nhiều một chút, anh ta lờ đi.  Lại nói ở lớp anh ta có một anh chàng mọt sách.  Thầy giáo ra vè đối là: "Thư thanh truyền đình viện" (tức: tiếng đọc sách vang khắp sân trường), chàng mọt sách đối là: "Cẩm vận mãn cao lầu" (tức điệu đàn đầy ắp tòa nhà cao), quả nhiên người này chỉ biết tầm chương trích cú.  Lại còn một thằng bé hư ở trong lớp, kiểm tra thì chẳng bao giờ đủ điểm.  Thầy giáo ra một vè đối rằng: "Ngư dữ hùng chưởng giai sở dục dã", nó đối rằng: "Điếu  cân bàng giải đều một đãi trước" (câu đối của thầy nghĩa là cá và tay gấu dều là những thứ đáng thèm muôn cả, câu đối lại của trò là chim với cua đều chẳng mà bắt được, khiến thầy giáo cũng không thể nào nhịn được cười.
Ba đã từng đối câu đối nào chưa?  Nghê Tảo hỏi.
"Ba ấy à?" sắc mặt Nghê Ngô Thành bỗng tối hẳn lại.  Anh ta xuống giọng, như tự nói một mình rằng: "Thầy giáo ra câu đối là: Thập thất chi nội tất hữu trung tín (nghĩa là trong mười người vợ, thế nào cũng có một người đáng tin cậy), ba đối là: Cửu châu dĩ hà há vô giai nhân (tức xa gần khắp chín châu chẳng lẽ không tìm ra người đẹp).  Nói xong, anh ta bèn nhắm mắt lại ngay.
Ngay tối hôm đó, Nghê Ngô Thành vừa mới hơi đỡ bệnh, đã lại có một chuyển biến rất khác thường.  Anh ta bị toát một trận mồ hôi lạnh ướt đẫm cả đầu tóc, tim đập gấp gáp miệng thở không ra hơi, bụng đau quặn đi ngoài thốc tháo, cứ thấy như sắp rỗng hết cả ruột ra vậy.  Tịnh Nghi thì trách anh ta trưa đó nói chuyện quá nhiều.  Nghê Bình thì nhắc nhở rằng ba uống dầu cá mà như trút ấy, nhiều quá đấy.  Trong tờ hướng dẫn sử dụng của lọ dầu cá đã viết rõ rồi mà, mỗi ngày hai đến ba lần, mỗi lần hai đến ba giọt.  Đối với câu phê bình của Tịnh Nghi, Nghê Ngô Thành chẳng nói gì.  Đối với câu phê bình của Nghê Bình, anh ta tuyệt đối không tin, đã vậy cái ý kiến bài xích phương thức cung cấp dinh dưỡng cho cuộc sống một cách khoa học đó lại đến từ đứa con gái mới vừa lên chín, điều đó càng khiến anh ta thấy khó chịu trong người.
Qua được một đêm khổ sở, sáng sớm hôm sau rốt cục cũng đã ngủ đi được, một giấc đến tận mười giờ, anh ta cảm thấy người khoẻ ra rất nhiều.  Anh ta lại cứ đòi lấy lọ dầu cá, lần này thì đổ không nhiều như trước, đại khái là vào miệng độ tám đến mười giọt.  Vừa nuốt xuống một chốc, đã ợ lên toàn bộ chỗ dầu cá, lại lẫn cả chất dịch từ dạ dày vừa chua vừa đắng vừa hôi.  Thật hay cho Nghê Ngô Thành nhá, mặt thì trắng bệch ra, rồi anh ta phải nghiến chặt răng, mím chặt môi lại, vận hết gân cốt lên, mới nuốt trở lại cái thứ nước sền sệt kinh khủng kia xuống được.  Lòng trung thành với dầu cá, với tất cả mọi kiến thức khoa học, phải nói là thuộc hạng trung thành tuyệt đối, cũng đáng gọi là cảm động cả trời đất đấy chứ.
Sau đó thân thể Nghê Ngô Thành mỗi ngày mỗi khá lên, sức khoẻ phục hồi khá nhanh chóng.  Nghê Ngô Thành cho rằng trong đó dầu cá đã có tác dụng quan trọng.  Nghê Ngô Thành đề xuất muốn ăn một chút thức ăn gì dậm dậm miệng.  Tịnh Nghi nướng bánh bột mì, lại chuẩn bị cả hành tây, tương đậu nành, tương vừng, rán thêm hai quả trứng, lấy một đĩa rau thơm ngâm nước muối.  Ninh một nồi cháo bột ngô.  Khuấy tương đậu, tương vừng vào làm thức ăn, đó là một phát minh sáng kiến của Tịnh Nghi, cô tin là ăn như vậy vừa được cơm, vừa đỡ tốn tiền vừa khoẻ người, đó chính là dầu cá của Tịnh Nghi.  Nghê Ngô Thành thì cực thích ăn hành tây chấm tương đậu (không thèm tương vừng), thích húp cháo bột ngô.  Anh ta hào hứng húp sụp soạt, đến nói năng cũng đổi cả giọng điệu, khôi phục hoàn toàn giọng nói của vùng Mạnh Quan Đôn - Đào Thôn như hồi còn nhỏ, đến cuối cùng trở lại một kiểu nhà quê, tuyệt đối không có chút ảnh hưởng của ôropa nào nữa.  Anh ta hể hả nói:
"Ai cũng nói tôi tham ăn, thực ra tôi không hề tham gì cả.  Thực ra tôi rất dễ thỏa mãn.  Một củ hành tây chấm tương, một bát cháo bột ngô, thế là đủ rồi.  Tôi không phải là người cực kỳ xa xỉ.  Khổng Tử nói: Một giỏ cơm, một bầu nước, người ngoài không phải lo cho anh ta.  Hồi cũng không thay đổi sự vui vẻ của mình, Hiền thay là Hồi.  Hiền thay là Hồi."
Nói đến đây anh ta lại vuốt tóc Nghê Tảo, và hơi xúc động mà nói: "Tất nhiên ba tin các con lớn lên sẽ có cuộc sống tốt đẹp hơn bây giờ.  Trung Quốc không thể cứ thế này mãi.  Thế giới không thể cứ thế này mãi."
Nhưng ba hy vọng khi các con lớn lên rồi cũng không nên quên, ba tin là các con sẽ nhớ được.  Khi các con còn thơ ấu, có món đậu tương vừng để chấm đã là món ăn ngon lắm rồi.  Lại còn chiến tranh nữa.  Lại còn người Nhật nữa.  Quả là không nên để các con phải sống một tuổi thơ như thế này đâu!"  Anh ta nghẹn lời, rơi cả nước mắt.
Anh ta lại nói tiếp: "Tục ngữ nói, nhai được một ngọn rau thơm, thì vạn sự đều có thể làm được hết."  Nói vậy xong, anh ta nhón một cọng rau thơm, nhai nuốt luôn.  Nghê Tảo và Nghê Bình cũng bắt chước nhón một cọng rau thơm, cố gắng ăn hết.
Trong khi ăn cơm anh ta bàn bạc với Tịnh Nghi ít ngày nữa sẽ đi nhờ bạn bè tìm việc.  Trong khi còn chưa xin được việc mới, anh ta nói sẽ phiên dịch một số tác phẩm triết học của tác giả nước ngoài, anh phải bán văn kiếm sống vậy.  Tịnh Nghi rất tán thành.
Khi nhận được lá thư cho thôi việc của ông hiệu trưởng trường đại học, tâm trạng Tịnh Nghi rất là mâu thuẫn.  Sự kiện buộc thôi việc trong tình huống thế này rõ ràng là một sự trừng phạt đối với Nghê Ngô Thành.  Không có sự trừng phạt như vậy Nghê Ngô Thành sẽ chẳng còn biết trời cao đấy dày là gì, sẽ tiếp tục quậy phá chẳng biết hậu quả ra sao.  Chỉ có giáng cho anh ta một trận thật nên thân, khiến anh ta không còn đường mà chạy nữa, khiến anh ta phải chết đói, anh ta mới biết điều một chút.  Dồn vào chỗ chết để tìm ra con đường sống, anh ta mới có thể trở thành chân phương thật thà và thực tế một chút, anh ta mới có thể nghe lọt vào tai những lời lẽ của cô.  Anh ta mới có thể cùng sống được với cô.  Vì vậy việc buộc thôi việc chính là sự mong đợi của cô, việc buộc thôi việc cũng đem lại hy vọng.  Đồng thời, cô cũng không chút nghi ngờ rằng cái việc bại họa của mình đã có tác dụng thúc đẩy đến việc đó, đó là thắng lợi của cô, mặc dù xem ra Nghê Ngô Thành có vẻ không cảm nhận thấy mà cũng không đoán được ra điều đó.  Như vậy lại hóa ra khiến Nghê Ngô Thành có vẻ đáng yêu hơn một chút.
Một mặt khác, rõ ràng việc buộc thôi việc không những là một đòn giáng vào Nghê Ngô Thành mà cũng là đòn đánh vào cô, đánh vào cô, đánh vào cả gia đình, khiến cho cuộc sống vốn đã khó khăn lại càng khó khăn thêm, chỉ có thể chịu đói, chỉ có thể dựa vào cầm cố và bán các thứ trong nhà đi một độ nhật thôi.  Trước đây tuy chẳng đáng tin cậy lắm, song mỗi lần lĩnh lương cũng vẫn để lại cho gia đình chẳng ít thì nhiều.  Bây giờ thì hay rồi, Nghê Ngô Thành đã phải nhờ cô nuôi sống rồi.  Như vậy chẳng phải chính là cô đã vác đá ghè chân mình hay sao?
Suy nghĩ đó không thể nào nói với con cái được, lại càng không thể nào nói với Nghê Ngô Thành.  Dù sao đi nữa, câu nói xin lỗi và ân hận với thiếu sót của Nghê Ngô Thành cũng là một biểu hiện của quyết tâm sửa chữa sai lầm, của việc lãng tử trở về, điều đó khiến cuộc sống của cô đột nhiên xuất hiện ánh sáng mới.  Cô hoàn toàn biết cái đạo lý vừa dùng ân vừa dùng uy.  Có ra đòn hung hăng đến đâu có làm ầm ỹ đến đâu đi nữa, cũng chẳng phải cô định gây hại cho Nghê Ngô Thành, mà là để lôi kéo Nghê Ngô Thành trở về với mình.  Bây giờ là lúc ra ân nhiều hơn một chút, phải làm cho anh ta thực sự quyết lòng quay đầu trở lại.  Người ta sống cả một đời, đạo lý làm người thì muôn vạn, nhưng theo cô thì quan trọng nhất là bốn chữ thật sự quyết lòng đó.  Đã sinh ra ở trên đời, đã sống thì ngoài sự quyết lòng để sống tiếp ra, còn làm gì khác được nữa?
Trong thời kỳ Nghê Ngô Thành dưỡng bệnh và khi  họ đang hòa hảo, Tịnh Nghi đi sang nhà mé Tây chuyện trò cùng Khương Triệu Thị.  Tịnh Trân nói đến việc Nghê Ngô Thành bị mất việc, không khỏi búc xúc than thở: "Bại hoạ, bại họa!  cuối cùng bại họa đến cái thân mình chứ lại!  Bại họa đến cơm cũng chẳng có mà ăn nữa rồi."
Khương Triệu Thị và Tịnh Trân cực kỳ nhạy bén, họ lập tức phản kích lại: "Chẳng có cơm ăn cũng đừng dựa dẫm chúng tôi!  Chính cô tức giận đến nôn nỗi ấy đấy, oán hận đến nông nỗi ấy đấy nhá!  Nếu cô mà bênh hắn thì chúng tôi cũng chẳng chống, ngày ngày đi chơi nơi hang ổ xấu xa cũng chẳng tiêu đến tiền của chúng tôi.  Tiền ngày xưa cho hắn thì cũng gọi là xong một chuyện đi rồi.  Chúng tôi ăn cơm hay không có ăn cô cũng chẳng phải lo.  Cô không có cơm mà ăn chẳng phải tại chúng tôi gây ra đâu đấy nhé!"
"Nói vậy là làm sao?  Ai ỷ vào các bà."
"Ỷ lại hay không chẳng việc gì đến chúng tôi."
"Chẳng việc gì là thế nào?  Đã nói rồi, đã nói rồi, lại cứ khăng khăng, chỉ biết có bại hoạ, chẳng biết gì đến hậu quả..."
"Cô sao chẳng biết sĩ diện là gì?  Cô tìm cái của nợ gì cơ chứ?"
Do buồn rầu u uất, do sự kiềm chế, do nghèo túng, do nhàn rỗi, do thiếu thuốc điều hòa kích thích nên mùi thuốc súng ở nhà bên Tây lúc nào cũng tràn ngập như vậy.
Cuối cùng cả ba người tức đến phát khóc lên.  Sau một trận khóc ầm ĩ xong lại ôn tồn với nhau, rằng: "Dào ôi, chị cũng quá nóng nảy cơ, nói năng thật khó nghe quá!", "Thế chẳng phải là gì?". "Thực ra, mấy mẹ con nhà mình, ai nói ai, việc gì với việc gì thì rốt lại cũng vẫn là người nọ vì người kia người kia vì người nọ cả thôi mà!", "Nhân cùng chí đoản, ngựa gầy lắm lông, nếu không phải dạo đầu năm đuối đi thì cũng không đến nỗi ầm ĩ đến thế này đâu chứ!" , "Thôi chẳng có gì nữa đâu, không bao giờ việc gì nữa cả, chúng mình sống chết phải dựa vào nhau, đều cố nhịn đi một tí nhá"
Lại có tiếng cười, lại có tiếng khóc, lại có gây gỗ cãi cọ, lại có mong mỏi.  Ngày tháng cũng dần có thể trôi qua.
Cơ thể Nghê Ngô Thành mỗi ngày mỗi khá lên.  Nguyện vọng lớn nhất của Nghê Ngô Thành - trong khi sức khoẻ đang hồi phục - có hai điều, một là ăn cái gì ngon ngon, thực ra chỉ có mỗi dầu cá thôi thì không đủ, hai là được tắm một cái.
Sau khi tuyên bố anh ta thích ăn nhất là hành tây chấm tương đậu và cháo bột ngô, Tịnh Nghi đã rất nhiều lần nấu cháo bột ngô và dọn món hành tây chấm tương cho anh ta.  Tần suất của các món đó đã gần đạt đến năm ngày một lần.  Như vậy là quá thể rồi, đó là sự tỏ lòng trung thành một cách tuyệt đối và máy móc ư?  Đó là vì nghèo túng tát nước theo mưa chăng?  Đó là sự giễu cợt đối với anh ta - hay nói cách khác là trừng trị anh ta ư?  Nghê Ngô Thành chịu không phán đoán ra được.  Sau giải phóng năm một chín bốn chín, Nghê Ngô Thành nhớ tới tấn bi hỉ kịch cháo ngô (hay khoai lang) mà cảm nhận sâu sắc về nguồn gốc và sự phát triển của triết học siêu hình ở Trung Quốc.  Hành tây chấm tương và cháo bột ngô bột khoai liên tục đã khiến anh ta kêu khổ không chỉ một lần, khiến anh ta nhìn thấy thứ đồ ăn đó là đã ợ chua lên đầy cổ, đã co thắt cả dạ dầy, đã khiến anh ta ăn hành mà như uống thuốc, ăn khoai lang mà như nhai nến.  Đặc biệt là sau khi húp xong cháo bột ngô, anh ta chỉ cảm thấy trống hơ trống huếch, không nhữg không được thêm một tí chút dầu mỡ nào mà ngay cả những chất dầu mỡ vốn có trong cơ thể cũng bị đsanh rửa đến sạch trơn hết cả đi, bị làm tan hết ra, trống rỗng thiếu hụt, chán nản mà lại phát cáu cả lên, nhưng vẫn phải ngậm bồ hòn làm ngọt, đắng mấy cũng không thể kêu thành tiếng ra được.  Ai khiến anh ta đã tự mình trịng trọng tuyên xưng mình không phải là kẻ tham ăn, có hành tây chấm tương với cháo bột ngô khoai là đủ rồi nào?
Con người đáng thương!  Tính mệnh đáng thương!  Cơ thể đáng thương!  Cái dạ dầy đáng thương!  Anh ta Nghê Ngô Thành chỉ có một nhu cầu rất nhỏ bé vậy thôi, nhỏ đến nỗi không đáng kể gì cả.  Cái nhu cầu nhỏ bé đó sao lại khiến anh ta đau khổ đến thế, bị dầy vò đến thế, nó giễu cợt hủy hoại linh hồn và chí khí của anh ta đến thế thì thôi.  Tại sao một con người lại phải chịu đựng nhiều đến thế những áp lực nặng nề và sự dày vò của dục vọng triền miên không dứt, rất nhiều mà rất nhỏ nhoi nhưng lại nặng nề không gì sánh nổi?  Nếu như anh ta không nhất thiết phải nghĩ ngợi bận tâm và đau khổ buồn cười như thế này, thì bằng vào thể phách, bằng vào tài năng, bằng vào nhiệt tình của mình cộng với tinh thần ham thích cái mới, tinh thần tiến thủ tích cực cộng với hứng thú và thiên tính tư biện trừu tượng vốn có, anh ta há lại không thể trở thành những Căngtow, Nitxow, Đềcac của Trung Quốc ru?  Anh ta há chẳng làm ra những cống hiến có tầm to lớn mở ra những kỷ nguyên mới kinh thiên động địa, có tầm trị quốc bình thien hạ ru?  Chẳng lẽ anh ta sống mà cứ phải chịu khổ vì không có cách nào để sống một cách thông thường được ư?  Cứ phải đau lòng, phải quằn quại trên ranh giới của tử vong và hủy diệt chỉ vì không được thỏa mãn những nhu cầu thấp cấp nhất sao?  Đáng buồn cho thằng đàn ông!  Dù có là Đắc uyn di nữa, cứ thử cho ông ta ăn cả tháng hành tây chấm tương với cháo bột ngô khoai xem!  Không có giâm bông, không có lạp xưởng, không có sườn rán, không có cá hun khói, không có bơ, không có sữa bò, không có pho mát, không có cá sác đin, không có cà phê, không có đường, cả trà cũng chẳng có xem hả?
Yêu cầu hơn nữa không kém sự thèm ăn ngon đó là sự sạch sẽ của thân thể.  Mồ hôi lạnh, mồ hôi nóng, ghét guớ bụi bậm, Nghê Ngô Thành cảm thấy  một cách rõ ràng rằng mỗi cái lỗ chân lông trên khắp người đều bị hết tầng ghét này đến tầng ghét khác phủ lên, bít chặt lấy.  Anh ta thấy ngột ngạt, nhớp nhúa, phát ngứa, anh ta ngửi thấy mùi kinh khủng trên cơ thể mình, đúng là một cái túi đa thối thật!  Cái túi đa thối này sao lại coi là người được chứ.
Rồi thì anh ta cũng đủ sức để đi đến cửa hàng tắm.  Anh ta nói phải đưa cả Nghê Tảo đi.  Anh ta bảo Nghê Tảo còn bé, người gầy gò, hai bố con đi tắm hiệu chỉ chiếm có một buồng tắm, chỉ phải chi có một suất tiền, với một chút tiền hoa hồng là xong thôi.  Cách tính toán đó đã làm cho Tịnh Nghi cảm động.  Cô vốn định thuyết phục Nghê Ngô Thành ở nhà tắm rửa qua loa bằng một chậu nước ấm cũng được rồi, có thể tiết kiệm tiền hơn.  Nhưng ý tưởng hai bố con chỉ phải chi một suất tiền tắm lại có sức quyến rũ lắm, thế là cô cũng đưa ra một số tiền lấy trong chỗ tiền cầm bán đồ đạc và phải nhịn ăn tiêu giành dụm mới có được.
Cảm ơn quá!  Cảm ơn quá!  Nghê Ngô Thành chắp tay làm một lễ với Tịnh Nghi, rồi đưa Nghê Tảo đến cửa hàng tắm.
Cho đến bao nhiêu năm sau, khi Nghê Tảo tới thăm qua nhà tiên sinh Sử Phúc Cương trong thời gian thăm châu Âu, gặp gỡ với Sử phu nhân, khi nhớ lại một số sự việc từ thời thơ ấu của mình, thì cái lần tắm rửa đó là việc được khơi dậy trước nhất, lần tắm đó là ấn tượng sâu sắc nhất của ông ta.  Nếu như ở Trung Quốc cũng quay một bộ phim lấy tên là "Phụ tử tình thâm", giống như ở châu Âu đã có một bộ phim như thế, thì nhất định phải đưa cái cảnh ông bố đem con trai đi tắm vào trong phim...
Có lẽ khi ông ta còn nhỏ hơn nữa người cha đã từng đưa đi tắm, mà không chỉ một lần, nhưng sự việc ở những lần tắm đó đều bị quên tịt đi mất cả.  Cái lần ông ta không bao giờ quên được chỉ là lần đó.  Đó là vào lúc xế trưa một ngày cuối thu sáng sủa, đó là sau khi cha ông vừa qua cơn bệnh nặng.  "Nghê tiên sinh đến rồi ạ", "Mời Nghê tiên sinh vào ạ", "Mời Nghê tiên sinh sang bên này ạ".  Họ vừa bước vào cửa hiệu, liền được các người làm công đon đả đón chào: "Thưa Nghê tiên sinh, sao lâu quá không được gặp ạ?  Đi đâu xa hay sao ạ?", "Nghê tiên sinh hơi mệt ạ?", "Tiên sinh quý thể bất an sao?"  "Chắc là sơ suất bị gió máy đấy, ngài nên cẩn thận một chút ạ!"  "Nghê tiên sinh dùng ấm trà nhé?  Long tĩnh?  Hương phiến? Hồng cao mạt?", "Vâng, cao mạt một ấm, hai bát."
Người Bắc Kinh vốn thích uốn lưỡi thành đuôi "nhỉ" sau một số danh từ, động từ, bột lá chè vốn là trà diệp mạt thì hay nói thành trà diệp mạt nhỉ.  Chỉ khi nào trong giao dịch mua bán chính thức mới không nói mạt nhỉ mà chỉ nói mạt thôi.  Cao mạt không có nhỉ gì cả - bột loại cao cấp thì có vẻ đặc biệt quan trọng, nhưng vì vậy mà nghe cũng hơi buồn cười.
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
Cho mình nhận gõ phần cuối nha. Và bạn ơi bạn có thể gửi cho mình qua email được không? Vì mình không download được
Email của mình: [email=tuyet_lientien_tu@yahoo.com.vn]tuyet_lientien_tu@yahoo.com.vn[/email]
Cám ơn bạn
Không hổ thẹn sao biết đời vinh nhục
Không đau buồn sao biết nghĩa nhân gian
Không thương nhớ sao biết sầu ly biệt
Không hiếu thảo sao biết đạo làm người

http://www.readbud.com/?ref=4967248
Đăng nhập để trả lời
0
Tuyết Liên ơi,

Mình không biết xé nhỏ vài trang mà gởi cho bạn qua email.  Bạn thử kiên nhẫn sẽ download được mà.  Khi download được thì cho mình biết trang cuối nào bạn muốn đánh nhen.

Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
Trang 301 - 320

Nghê Ngô Thành cầm lòng không đậu, buột miệng gọi ấm trà cao mạt, nhưng đồng thời cũng nói rõ với người làm công là, hai cha con anh ta chỉ cần một buồng tắm thôi.
Nghê Tảo thì dường như mất tự nhiên nhiều lắm.  Nó cũng rất ngại phải cởi bỏ quần áo trước mặt người phục vụ, để ra cái thân thể nhỏ bé bẩn thỉu của mình.  Nhưng cha nó đã làm như vậy rồi, nhìn thấy người cha vốn đường đường tề chỉnh.  Sau khi cởi bỏ hết quần áo lại biến thành bộ hài cốt với những chiếc xương sườn nổi cộm, đôi chân cong hình chữ O, cái xương mắt cá bé tí tẹo và cái mông đít nhọn hoắt chẳng có tí thịt nào, nó chỉ cảm thấy sự xấu hổ và khiếp hãi đến không thể nói ra được.  Cha nói giúp nó cởi quần áo, thân thể bẩn thỉu của cha đụng với thân thể bẩn thỉu của nó, cái đó cũng khiến nó cảm thấy xa lạ và gớm giếc thế nào ấy, nó tránh tránh né né mãi, mặt thì đỏ hét cả lên.
Nhưng cuối cùng Nghê Tảo cũng phải cởi hết quần áo, để người phục vụ treo lên một chỗ rất cao ở tận quá đỉnh đầu cùng với áo quần của cha nó.  Đã đến nhà tắm thì không thể không cởi hết quần áo để ngâm mình vào bồn tắm.
Nghê Ngô Thành dẫn con trai đi vào buồng tắm lớn, hơi nước nóng mù mịt khiến Nghê Tảo thở không được nữa, đất lại trơn trượt dưới chân.  Hết người này đến người khác, đều trần trùng trục, thân thể phát triển không bình thường, gân xanh và thịt đỏ, ngón chân và lông tóc, tất cả đều khiến Nghê Tảo cảm thấy căng thẳng.  Nước trong bể sao mà nóng thế, đáng sợ thật đấy, đây không phải là nơi dội nước cạo lông người chứ?  Đặc biệt là trên giường gỗ kia có người mình trần thân trụi đang nằm tênh hênh, lại có một người khác quấn một chiếc khăn bông từ ngang thắt lưng đang vần ngược vần xuôi cho, chà xát nắn bóp cho, chà cho đến khi toàn thân đỏ ửng như củ cà rốt.  Nghê Tảo không biết cái đó gọi là tầm quất, cảm thụ của nó lại thấy như đang tiến hành mổ thịt vậy.  Còn nó thì sao nhỉ, gầy gò chẳng đáng nói, cổ đen xì cũng chẳng đáng nói, nhưng còn ghét bẩn toàn thân để cộm lên như vẩy ấy?  Nó không thể nào không xấu hổ về thân thể của mình, về thân thể của cha mình và tất cả các cơ thể kia, xấu hổ đến tự mình chán ghét cả bản thân mình.
Lúc đó, cha đã lội xuống một bồn nước có nhiệt độ thấp nhất trong ba bồn nước rồi.  Cha gọi Nghê Tảo xuống đi, Nghê Tảo sợ rúm người không dám xuống.  "Nóng quá ạ!"  Nghê Tảo nói.  Thế là mới ngâm mình được nửa phút, Nghê Ngô Thành đãm nhỏm người lên, anh ta ngồi trên thành bồn nước, bắt đầu lấy bàn tay đã nhúng vào nước nóng của mình vỗ vỗ lên tấm lưng bé nhỏ của Nghê Tảo, rồi vỗ vào ngực nó, vào mông nó, vào đùi nó.  Nghê Tảo mới đầu còn có vẻ hơi tránh né, nhưng về sau thì nó đã cười khanh khách lên.  Nghê Ngô Thành cũng vui lắm, bắt đầu vẩy nước nóng lên mình đứa con.   Mấy lần đầu nước mới bắn vào mình nó, Nghê Tảo rùng mình lên một cái như kiểu phản ứng thần kinh, rụt cả cổ vào, sau đó nó lại cười khanh khách.  Té nước nóng được một lúc, ông bố lôi tuột thằng bé vào trong bồn nước, Nghê Tảo thét lên một tiếng nhảy ra khỏi bể nước nóng.  Thế là Nghê Ngô Thành cũng cười lên khanh khách, rồi cuối cùng cũng nằm sóng đôi với con trai trong bồn nước ấm áp sau khi đã nhẫn nại thuyết phục, đã làm mẫu và hoàn thành một loạt động tác chuẩn bị thích ứng.  Nghê Ngô Thành kỳ ghét cho con trai.  Vừa ngâm nước nóng, dùng ngón tay cái kỳ một cái, ghét trên người Nghê Tảo liền bở ra thành dòng, thành búi, thành tảng, thành cuộn.  Anh ta bảo con phải đặc biệt chú ý kỳ nách, đầu gối, khoe chân tay và mu bàn tay, gót chân, cổ và sau tai.   Anh ta vốn định giúp Nghê Tảo kỳ ghét cơ, nhưng hễ tay anh ta cứ chạm đến chỗ nào trong người cậu con thì nó đã liền ôm bụng mà cười rũ rượi.  Máu buồn của nó lắm quá, nó cứ tưởng cha nó cù nó chứ.  Thế là Nghê Ngô Thành phải chuyển trọng điểm sang kỳ sau lưng, chỗ con trai không tự mình với tới để kỳ được, còn những bộ phận khác thì để con trai tự kỳ lấy và tắm dội.  Anh ta chỉ kiểm tra xem kỳ cọ tắm rửa có sạch không.  Đến khi xát xà phòng và gột đầu thì lại xuất hiện một chút vấn đề trên đầu đấy bọt xà phòng, khi gội nước để rủ bỏ nó đi thì nước xà phòng lại xâm phạm vào mắt Nghê Tảo, mắt Nghê Tảo xót ghê gớm, nó phải nghiến răng ngậm chặt miệng lại mà chịu khiến cha nó cứ cười khúc khích mãi không thôi.  Cha vừa cười Nghê Tảo đã cuống cả lên, suýt nữa thì nó khóc to lên, vừa tấm tức trong miệng, vừa giớ tay đánh cha.  Cuối cùng bọt xà phòng trên đầu cũng đã được giội sạch nước, xà phòng dính ở khoé mắt cũng đã được lau khô.
Tắm xong Nghê Tảo chỉ cảm thấy tinh thần sảng khoái, thân thể nhẹ như chim én, người cứ lâng lâng như chỉ nhảy một bước là đã lên tận trời.  Hai cha con sau khi dùng hết mấy lượt khăn mặt bông để lau mình, uống mấy tuần trà cao mạt, cắt móng tay móng chân, chải đầu chải tóc đàng hoàng xong, đã cực kỳ thỏa mãn mà rời khỏi cửa hiệu tắm.
"Tắm táp thích quá!"  Nghê Tảo hớn hở nói.
Nghê Ngô Thành nghe thấy thì vui lắm, nhưng lại thấy cay cay trong mũi.
Nghê Ngô Thành cũng thấm thía cái nhẹ nhõm khoan khoái dễ chịu của sự sạch sẽ giống như cậu con trai, nhưng chính vì tắm táp xong nên lại càng cảm thấy rõ hơn cái trống trải trong bụng.  Anh ta và con trai từ bể tắm ra đi về hướng nhà mình, có đi qua một cửa hàng thịt nướng.  Anh ta ngửi thấy mùi thịt thơm lựng và mùi mỡ chảy ra xèo xèo bốc lên, anh ta nhìn thấy từng người vừa ăn xong thịt nước đi ra, mặt mũi phởn phơ rạng rỡ, môi thì nhờn mỡ và từng người sắp sửa vào ăn thịt nướng, mặt mũi hăm hăm hở hở.  Anh ta dường như đã thưởng thức tường tận vị ngon lành thơm ngậy của rượu và món thịt nướng kia, bất giác anh ta thè lưỡi liếm liếm, cơ hồ nước bọt, dịch dạ dầy, dịch ruột đều tứa hết cả ra rất nhiều.  Trong cổ họng hình như có cái gì đó khua động không tả, hai bên thành dạ dầy đang cọ xát lẫn nhau, tiêu hóa lẫn nhau.  Anh ta nhớ lại cái câu hình dung trạng thái đó ở quên nhà: thèm đến nỗi con bọ thèm cũng sắp nhảy ra ngoài rồi.
Thực ra thì con bọ thèm là gì vậy?  Vì trong bụng có con bọ đó mới khiến anh ta tham ăn thèm uống đến không thể nhịn được ư?  Nói thế mà lại rất sinh động mà cũng rất chuẩn đấy.  Sự khó chịu hiệ giờ của anh ta vừa hay cũng y như có một con bọ trong tạng phủ đang ngoi ngóp ngược xuôi, đang trằn lên trằn xuống, rất bứt rứt khó chịu.
Thế nhưng làm gì có con bọ thèm chứ.  Giả thử có một người nhìn thấy một  món mỹ vị nào, tự nhiên từ miệng lại thò ra một con bọ, thì đó chỉ có thể là ký sinh trùng, có thể là giun sán cũng có khi bị người nhiễm bệnh nôn ra đằng miệng.  Anh ta nghĩ đến những con giun con dòi trong những căn nhà tranh vách đất hay chỗ nhà chứa phân ở quê mình.
Chúng ta sống như lợn vậy.  Mắt anh ta nhoè đi vì nước mắt.  Nghê Tảo nhìn cha, nhìn đến ngây cả người.  Tuy chỉ là một đứa trẻ con, nhưng nó vẫn nhận ra cha nó đang thèm ăn ở nhà hàng, ăn thịt nướng.  Nó thương hại cha, mà cũng khinh thường cha.  Cái bộ dạng thèm nhạt đó vừa khiến người ta động lòng, vừa khiến người ta coi rẻ.  Mồm miệng cha đang nhóp nhép một cách không tự giác kìa.  Trông giống con mèo mà Nghê Tảo và chị gái đã từng nuôi.  Con mèo đáng thương đó lúc nào cũng bị ăn đói.  Khi mọi người ăn uống, nó liền dán mắt ra mà nhìn, khi mình nhai, mồm nó cũng động đậy nhai theo, cứ như mồm mfinh với mồm con mèo có liên kết chặt chẽ với nhau vậy.  Mình đau lòng quá, mới nhè từ trong miệng ra một tí gì đấy, cho mèo.  Mèo biết ơn và xúc động kêu meo meo chạy tới, ngửi ngửi, nhưng không ăn, vẫn nhìn mình.  Những thứ mình ăn thật là dở quá, không cách nào để mèo chấp nhận được.  Sau đó con mèo đã lên thiên đàng mất rồi, thi thể của nó chôn ngay trong sân nhà của bọn họ.
Trong cái thời điểm này, người cha cao lớn đã biến thành một con mèo gầy nhỏ.  Một con mèo sắp chết đến nơi rồi.
Nghê Ngô Thành nhìn thấy đứa con trai đang ngẩn ngơ im lặng thì càng thấy đau khổ đến quặn cả ruột.  Ta là một người cha chẳng ra cái gì, chẳng ra thế nào hết cả.   Một người cha chỉ mỗi một việc đưa con trai mình đi ăn bữa thịt nướng mà cũng không làm nổi, như vậy còn có lý do gì để tồn tại nữa đây?
Cho dù trời sập đất long Hoàng Hà chảy ngược đi nữa, bữa thịt nướng này nhất định phải ăn bàng được.  Mặt Nghê Ngô Thành đang đỏ bừng bừng vì nước nóng trong cửa hiệu tắm bỗng xanh hẳn lại, trông anh ta có vẻ trang nghiêm và bi phẫn.
"Đi nào, chúng ta đến đằng này đi", anh ta kéo tay đứa con, chỉ sang một hướng khác.
"Đi đâu vậy, không về nhà ạ."
"Đi thăm một người bạn.  Bác ấy rất có học thức."
"Không, ocn không đi."
"Chúng ta chỉ đi mười phút thôi."
"Không, con không đi."
"Đi đi, nghe lời chứ.  Khi về ba mua cho con một cuốn truyện đồng thoại."
"Không, không, con không cần mua.  Ba không có tiền."
"Tuy rằng ba không có tiền," Nghê Ngô Thành xúc động nắm chặt lấy tay con trai, "con phải tin rằng ba có thể có tiền... Ba xin con, con của ba, chúng ta đi một chuyến thôi, không xa đây lắm đâu, chúng ta đi qua hai bến xe điện, sau đó chỉ ngồi mười phút thôi..."
Họ đến nhà Đỗ Thận Hành.  Khắp xung quanh nhà đều là bồn hoa cúc, màu vàng chen với màu lục nhạt, màu trắng chen với màu tím, có cả loại cánh mảnh như tơ, có cả loại cánh to, cái vẻ đẹp nhàn nhã đó khiến cả hai cha con đều cảm thấy hó bề tưởng tượng.  Đi về mé phải đó là thư phòng nơi Đỗ Công gặp khách.  Đã lắp đặt lò sưởi kiểu tân dân lô, ống dẫn khói bằng sắt tây được lau sáng bóng, trong phòng ấm áp như mùa xuân trên bếp lò có cái ấm sắt đang ầm ừ ngâm thơ.  Dựa vào bức tường phía bắc là những giá sách đồ sộ từ đất cao đến tận trần nhà, chứa đựng bao nhiêu là sách đóng bằng chỉ (theo lối mới).  Trong phòng sực lên toàn mùi giấy và mùi mực in.  Sách nhiều đến thế, khiến Nghê Tảo thích thú và sùng kínhh đến nghẹn cả thở.
Nó gọi một tiếng "Thưa bác Đỗ", nó cúi gập người chào bác Đỗ, nó trả lời những câu hỏi của bác Đỗ đặt ra cho nó, rồi sau đó nó chúi mũi vào để ngắm nghía những cuốn sách.  Nó nhìn thấy một cái thang hình chữ nhân (có hai bên chân).  Xem ra lấy sách thì phải leo bằng cái thang đó, điều này khiến nó càng kính nể đối với sách.  Nó đang nghĩ nếu xem hết số sách kia thì phải mất bao nhiêu thời gian.  Nó tưởng tượng người mua số sách kia thì học vấn cao đến đâu.   Nó không chú ý đến câu chuyệnn con cà con kê của cha mình.
"Thưa Đỗ Công, cái khó của tôi...", mấy tiếng đó lọt vào tai Nghê Tảo, sự việc đáng sợ đã xảy ra đấy, hoá ra là cha nó đang hỏi vay tiền Đỗ Công.
Sự việc đáng sợ hơn nữa đã xảy ra, bác Đỗ hiển nhiên là lấy tiền ra đếm đếm một cách khó chịu, chỉ đưa số tiền tương đương một phần mười số tiền mà cha nó hỏi vay.
Sau đó là tiếng cười hớn hở và thớ lợ của cha, cái tiếng cười đó đã quá là khó nghe, khó mà cười được đến hết, cứ chỉ đến nửa chừng rồi lại cười lại từ đầu.  Tất cả cười mất ba lần.  Giống như là một con gà trống không chịu gáy mà có người cứ bóp vào cổ nó bắt phải gáy, bóp đến nỗi nó không thể không gáy lên một tiếng gáy.
Nó và cha cáo biệt nhà họ Đỗ. Sự nhục nhã đã khiến Nghê Tảo cảm thấy không thể chịu nổi nữa.  Khi cha nó nói sẽ tới ngay một quán ăn nào đấy thì nó liền bật khóc: "Con không đi, con không đi".  Nó vừa nói vừa khóc vừa chạy đi.
Nghê Ngô Thành ngạc nhiên.  Rồi anh ta cũng đuổi kịp Nghê Tảo.  Họ cùng đi về nhà.  Cả hai cùng mím chặt miệng, không ai nói gì cả.  Đi qua một tiệm bách hóa, anh tà nhìn cái nọ, ngó cái kia, rồi quyết định mua một chiếc hàn thử biểu.  Anh ta thích chiếc hàn thử biểu vì nó mang màu sắc của khoa học hiện đại.  Anh ta hy vọng trong nhà có thể có nhiều chất khoa học và văn minh phương Tây hơn một chút.  Sau khi mua hàn thử biểu xong tâm trạng anh ta hoàn toàn có chuyển biến tốt, suốt dọc đường cứ giảng giải cho Nghê Tảo về nguyên lý của hàn thử biểu, nói về nhiệt độ Farenhai, nhiệt độ Xen xi uýt và nhiệt đôj tuyệt đối.  Nói mãi nói mãi bỗng đâu dừng tắp lại, bởi vì anh ta phát hiện ra mình đã nói sai.  Kiến thức về mặt đó, anh ta vẫn chưa đủ.
Sau khi về nhà, Tịnh Nghi nhìn thấy hàn thử biểu thì như thể nhìn thấy yêu quái.  Cô hỏi tỉ mỉ cậu con trai, khiến Nghê Tảo cảm thấy cùng ra ngoài với cha quả thật là một tai nạn.  Sau đó cô liền khóc lên, cô oán trách Nghê Ngô Thành lại đi mua cái thứ kỳ quặc dớ dẩn kia trong khi mình đã rơi vào cảnh khốn khó đến thế!
Nghê Ngô Thành một mực giữ được thái độ nhã nhặn chỉ cười hì hì.  Anh ta say sưa ngắm nghía những độ khắc trên hàn thử biểu, anh ta thổi thổi vào cái ống thủy tinh, rồi lấy tay ủ vào đó, y như trẻ con vậy.  Cuối cùng anh ta cũng đã nhìn thấy được hình ảnh sinh động của nguyên lý khoa học là lạnh co vào nóng nở ra, anh ta đã cực kỳ vui vẻ.  Khoa học muôn năm, anh ta nói.



Chương 15


Cuốn sách "Hoạt động biến nhân hình" đã giúp Nghê Tảo nhận thức được, người ta là do ba bộ phận đủ mọi sắc thái hợp thành nhà: bộ phận đầu có những kiểu như đội mũ hoặc không đội mũ hoặc đội hay không đội khăn; bộ phận thân thì mặc các kiểu áo; bộ phận thứ ba thì mặc quần hoặc mặc váy với các kiểu chân đi các loại giầy dép guốc khác nhau.  Mà ba bộ phận đó có thể biến đổi rất linh hoạt nhá.  Ví dụ một cô gái đầu đội nón lá, dưới thân có thể là một người béo mặc com lê, lại có thể là một người gầy mặc bộ kimono, cũng có thể là một thân hình quay nghiêng mặc áo khoác da.  Tại sao thân hình lại nghiêng sang một bên nhỉ?  Cái đó cũng rất dễ giải thích, thì chính là vì cô tay quay đầu lại nhìn mình... Sau đó là chân, có thể là mặc quần ống túm, cũng có thể là nửa dưới của áo dài, có thể là quần ống lửng, để lộ bắp chân hoặc khoe chân, cũng có thể đi cả giày cỏ nữa.  Như vậy, cùng một cái đầu có thể biến htafnh rất nhiều người, cùng một cái thân người cũng có thể có rất nhiều đầu và có rất nhiều chân.   Hóa ra bao nhiêu kiểu biến hóa cực kỳ phong phú lắm màu sắc hình dạng của người ta là đã xảy ra như vậy.  Chỉ là ba bộ phận cùng xếp vào nhau có khi thì rất hòa hợp, có khi lại hơi cọc cạch không hợp mốt lắm, thậm chí có khi ba đoạn đó xếp vào với nhau thì khiến người ta cảm thấy buồn cười hoặc đáng ghét, kể cả đáng sợ nữa ấy.  Ôi, nếu mỗi người có thể tự biến đổi mình như vậy thì hay quá.  Dầu sao đi nữa, cái trò thiên biến vạn hóa này cũng vẫn khiến người ta thấy thú vị.  Nó với chị đều tự chọn cho mình một kiểu sắp đặt riêng mà mỗi người thấy thích nhất, chúng nó hơi tý thì thay đổi, lúc thích thế này, lúc thì thích thế kia, đâm ra hoa cả mắt.
Hàn thử biểu cũng đem đến sự tò mò mới mẻ.  Cái cột thủy ngân màu hồng kia lúc dài, lúc thì ngắn, lúc thì thấp lúc thì cao.  Làm sao thế nhỉ?  Nó là vật sống ư?  Nó là một loại thiên thần ma mãnh nghịch ngợm ư?  Nghê Tảo có thể lặng lẽ dán mắt quan sát hàn thử biểu hàng mười phút đồng hồ liền.  Nó hy vọng tận mắt nhìn thấy cột thủy ngân dâng lên và tụt xuống, nhìn thấy phép ma và sự hiển linh của nó.  Thế nhưng cũng như một cái nụ đang nở thành hoa ấy, khi ta chăm chăm nhìn vào nó thì chẳng thấy được cái gì cả, đến khi ta vừa quên nó đi, thì ngay trong chốc lát đó thôi, nó đã thay đổi ngay dung nhan hình trạng của mình rồi.  Nghê Tảo không nhìn thấy được quá trình biến đổi của hàn thử biểu, nó chỉ nhìn thấy được kết quả biến đổi của cột thủy ngân màu hồng kia thôi.
Sách đồng thoại cũng có rồi, cũng đến với sách đồng thoại là một cuốn "Tiểu sử danh nhân thế giới" in ấn rất kỹ và đẹp.  Không phải là ba mua đâu, mà là chú Sử mũi lõ bạn của ba mua tặng nó đấy.  Chú Sử chính là Sử Phúc Cương, chú ấy là người châu Âu, chú ấy nói tiếng Trung Quốc lấy được, nói bằng giọng Bắc Kinh lấy được, cố sống cố chết phải uốn lưỡi thêm cái đuôi "er" vào đằng sau các từ kiểu như "ở chỗ ngài"m, "tuyệt thật", "nguy hiểm đấy".  Chú ấy không những có quần áo giày mũ sạch sẽ, mà còn có tinh thần vui vẻ, nụ cười tươi rói.  Một tháng sau lần ốm nặng vừa rồi của ba, chú ấy xuất hiện ở nhà mình, chú ấy thảo luận với ba việc sáng lập một tạp chí dịch và giới thiẹu những tác học thuật của châu Âu.  Chú ấy cũng rất hữu hảo trong cách quan hệ với mẹ, chịu chuyện trò với những việc dài vắn trong gia đình, mẹ nói đó là một người tốt.  Chú ấy còn đòi gặp bà ngoại và dì, dì không chịu, bà ngoại thay vào mình một chiếc áo kép bằng nhung the màu đen, ra gặp Sử Phúc Cương.  Sử Phúc Cương cứ một điều "Thưa phu nhân" hai điều "thưa phu nhân" rồi "phu nhân thọ cao quá", "phu nhân thật phúc hậu", "phu nhân thật khoẻ mạnh rắn rỏi."  Lời nào cũng từ tốn mềm mỏng, nói đến nỗi Trương Triệu Thị tuy thực tế chưa đáng gọi là già nhưng thường lấy già làm vẻ vang cứ phải cười đến không thể khép được miệng lại.
Sau khi gặp gỡ, Khương Triệu Thị đã chặc lưỡi nói, không ngờ trong bọn Tây xồm ấy lại có người có học có hành biết điều lịch sự như vậy.  Bà ta lại nhớ tới Nghĩa Hòa quyền ở quê thuở nhỏ, đại sư huynh vừa mới vận khí một cái đã dùng bàn tay chặt gãy được hai mươi viên gạch, thể hiện uy lực của mình ra.  Khẩu hiệu của Nghĩa Hòa quyền là "phù Thanh diệt Dương", nếu người Tây dương mà biết thư biết lý như ngài Sử Phúc Cương đây thì tốt quá chứ!
"Tiểu sử danh nhân thế giới" thu thập tất cả hơn ba trăm người, mỗi trang có một bức tranh ảnh chân dung và một đoạn văn để thuyết minh.  Xocorat, Platon, Patxto, Noben, Edison, Copecnic, Gialile, Tổng thống cọp Clemangxo, Thủ tướng thép Bitxmac, Nữ thánh Chân đơ, nhà văn Dicken, v.v... Nghê Tảo điều biết đến họ nhờ cuốn sách đó, mà cũng nhờ đó mà nhớ được Copecnic và Galile đều bị thiêu sống (trong cuốn sách đó viết như vậy đấy).  Thực ra Galile khôn bị thiêu sống đâu, điều đó khiến Nghê Tảo cảm thấy đau đớn cực kỳ.  Nó hỏi ba, ba chẳng giải thích rõ ràng gì cả.  Khi còn trẻ Bitxmac vào một quán trọ ở thôn quê, ông ta bấm chuông mấy lần vẫn không thấy người phục vụ tới, thế là ông ta rút súng ngắn ra bắn lên nóc nhà, điều đó chẳng để lại cho Nghê Tảo bất cứ ấn tượng nào về hình ảnh người anh hùng cả, trái lại nó cảm thấy người như vậy thật là ngang ngược, có thể gọi là ngông cuồng ác bác được.  Thánh nữ Chân đơ bị quân xâm lược nước Anh thiêu chết, bức chân dung Chân đơ khiến nó vô cùng tôn kính - Dicken vì đá bóng bị gãy chân, chuyển nghề sang viết văn, điều đấy khiến nó cảm thấy hết sức thú vị.  Làm một nhà văn chẳng có ý nghĩa hơn đá bóng nhiều hay sao?  Cho dù chân Dicken không bị thương, thì ông cũng có thể tập trung công sức vào cho việc viết văn mà không tập trung cho việc đá bóng chứ?  Tại sao lại nói ông ấy trở thành nhà văn là do sự kiện bị gãy chân tạo nên nhỉ?
Trong hơn ba trăm danh nhân thế giới đó chỉ có một người Trung Quốc, đó là Đại thành chí thánh tiên sư Khổng Tử.  Trong trường học của Nghê Tảo, ở phía trước cửa mỗi lớp học đều treo chân dung của Khổng Tử.  Nó không hiểu tại sao quần áo khổng tử mặc lại nhiều nếp gấp đến thế, nó càng lại không hiểu được tại sao Khổng Tử lại đeo một thanh kiếm (dao), Khổng Tử trông già cả lọm khọm thế kia, cho ông ấy một thứ binh khí, ông ấy có biết dùng không?
Nó thông cảm nhất và cũng yêu mến nhất là Edison xuất thân nghèo khổ.  Ông ấy đi bán báo trên tàu hỏa bị một bạt tai mà đã trở thành điếc.  Ông ấy bất hạnh như vậy mà vẫn phát minh ra đèn điện, phát minh ra không biết bao nhiêu thứ quý báu.  Làm một nhà phát minh thú vị biết bao.  Đến khi nó lớn lên, không biết có còn những gì để đợi nó phát minh không nhỉ?
Nó không có cảm tình tốt với Khổng Tử gì cả.  Tuy vậy toàn bộ cuốn sách với cái bìa bóng loáng của nó vẫn có sức hấp dẫn lạ thường đối với Nghê Tảo.  Đó là một thế giới rộng lớn mà có ý nghĩa.  Thế giới đương nhiên không chỉ là cái gia đình cứ luôn luôn cãi cọ của nó.  Thế giới cũng không chỉ là cái lớp học mà mùa đông vẫn thường không đốt lò sưởi, lạnh cóng đến nỗi trẻ con đái cả ra quần, lạnh cóng đến nỗi trẻ con phải phát khóc lên -  Thế giới cũng không chỉ là Bắc Kinh, một Bắc Kinh bị người Nhật chiếm đóng và đang tiến hành cuộc "vận động tăng cường trị an" lần thứ tư.  So sánh với thế giới hiện thực của nó, thậm chí nó còn thấy cái thế giới của các danh nhân thế giới kia lại chân thực hơn.  Các danh nhân thế giới với những mặt mũi, đầu tóc, râu ria trông kỳ hình dị tướng thế, họ đều khiến nó phải ngạc nhiên, thường hay gợi lên cho nó hết tư tưởng này đến tư tưởng khác.
Trong đó quan trọng nhất là nó phát hiện ra các danh nhân thế giới đều có những công việc mà tự họ muốn làm.  Mỗi một người đều biết mình định làm gì, đều bận rộn phấn đấu hết cả đời cho cái việc mà mình muốn làm.  Còn đặc điểm những người trong gia đình nó, thì ở chỗ là ai cũng không biết mình định làm cái gì.  Điều đó thật đáng buồn.
Nó đem cuốn "Tiểu sử danh nhân thế giới" đưa cho dì xem.  Liên tiếp mấy ngày, sau khi rửa mặt chải đầu trang điểm buổi sớm xong dì liền ngồi đàng hoàng ngay ngắn trước chiếc bàn dài để đọc cuốn sách đó.   "Không tồi", "thật không tồi", "không tồi đâu", dì bình luận như vậy bằng giọng ở quê.  Một đốm tàn thuốc cuốn rẻ tiền mà dì hút đã rơi vào đầu của chân dung hoàng đế Napoleon của nước Pháp, gây ra hai lỗ một to một nhỏ cho Napoleon.  Dì lấy tay phủi một cái, tàn thước hóa chỉnh vi linh lại gây ra nhiều vết rám nhỏ ở một số trang sách khác, điều đó khiến Nghê Tảo cảm thấy hơi cụt hứng và đau lòng.
Đồng thoại thì chỉ thuộc về nó và chị.  Hai đứa mỗi đứa đọc riêng một lần, những chữ không biết thì hỏi lẫn nhau, hỏi không được thì tra từ điển.  Một ngang hai sổ ba chấm móc, ngang dưới chấm biến thành không, bốn chéo năm chấm vuông là sáu, bảy góc tám tám tiểu là chín.  Nghê Tảo đọc rành mạch bài vè để tra tứ giác.  Nghe nói phương pháp tra chữ bằng mã số của bốn góc đó là do Vương Vân Ngũ phát minh ra.  Đọc xong chuyện, nó và chị kể lại cho nhau nghe câu chuyện đó.  Khi một người kể thì người kia bổ sung và sửa chữa, giống y như khi ôn bài để chuẩn bị thi vậy.
Nghê Tảo thích nhất là chuyện nước hồi sinh và chim sẻ lông vàng.  Một ông lão đã già lắm rồi, mắc rất nhiều bệnh nên ông buồn rầu suốt ngày cau có mặt mày.  Nữ thần Rừng Sâu nói với các con trai ông là phải đi đến một nơi rất xa để tìm con chim sẻ lông vàng biết ca hát và lấy được nước hồi sinh có thể làm cho người chết sống lại và làm cho người già trở nên trẻ khoẻ.  Ông già có ba người con trai.  Người con cả và người con thứ hai đều quên mất lời cảnh báo của nữ thần, đã ngoảnh lại nhìn nữ yêu quái khi nó gọi tên họ trên đường đi trong khe núi, họ không tìm được con chim sẻ lông vàng và nước hồi sinh, trái lại họ đã bị biến thành đá lạnh ngắt (khi đọc, kể đến đoạn đó Nghê Tảo cứ hay kêu lên một cách phẫn nộ, tại sao lại dở hơi thế chứ, không chịu nghe lời nữ thần, lại để cho nữ yêu tinh quyến rũ!)
Còn người con thứ ba thì kiên nhẫn không quay lại, chiến thắng được nữ yêu tinh, đem được con chim sẻ vàng và nước hồi sinh về, cứu sống được hai anh, cứu sống được bao nhiêu người cũng bị hóa đá, khiến cho người cha đang bệnh tật rề rề lại khoẻ mạnh như thường, mọi người được nghe chim sẻ lông vàng ca hát, cùng nhau sống rất hạnh phúc.
Câu chuyện đó đem đến cho Nghê Tảo một ấn tượng rất xác thực và sâu xa.  Hết lần này đến lần khác nó nghiền ngẫm về nỗi đau khổ của tuổi già, về chí khí của tuổi trẻ, về sự xa xôi của hy vọng, về sự hiểm ác của quyến rũ.  Nó tưởng như bản thân đi vào cùng khe núi hiểm trở đầy đá tai mèo, nó nghe thấy tiếng cười, tiếng gọi của bao nhiêu ma quái.
Nó thử thách bản thân hết lần này đến lần khác, liệu có chiến thắng nổi gian nan khốn khổ, cô đơn sợ hãi và sự quyến rũ rất khó kiềm chế kia không?  Có khi kết luận của nó là có, có thể, nó làm được, nó sẽ là cậu con trai thứ ba, nó sẽ vảy nước hồi sinh lên đsa, biến thành bao nhiêu con người, bao nhiêu sinh mạng sôi nổi nhộn nhịp.  Trên toàn thế giới còn bao nhiêu linh hồn đang chờ đợi như vậy chứ?  Những linh hồn bị đông cứng đã khát vọng hàng ngàn hàng vạn hàng triệu năm rồi, đã chen chúc, đã chất đống lên, đã mất hết cả tiếng nói, cả tình cảm, cả hơi ấm, và sự vận động!  Hóa ra mỗi một tảng đá đều từng là một linh hồn bất hạnh như vậy đấy!  Nó phải đi giải cứu những linh hồn đó, nó phải đi giúp đỡ những linh hồn đó, nó phải làm cho họ nghe được tiếng hát thần tiên của con chim sẻ lông bằng vàng!  Cho dù nó có thất bại trên đường đi tìm nước hồi sinh để giải cứu những tảng đá, cho dù không những nó chưa thể làm sống lại những tảng đá mà bản thân cuối cùng cũng biến thành một tảng đá nặng nề cứng nhắc lạnh lẽo nhưng chỉ cần không vứt bỏ sự quyết tâm cố gắng đi tìm nước hồi sinh, là sẽ có một ngày tìm được nước hồi sinh, sẽ có một ngày giải phsong được những tảng đá trong đó có cả nó và những người thân của nó.
Sự xúc động đó quá mãnh liệt, tấm thân gầy gò nhỏ bé của nó dường như không chứa đựng nổi tình cảm mãnh liệt và sự ưu tư sâu rộng dường ấy.  Nó chỉ nói được với chị mà thôi.  Nói mãi, nói mãi chợt nó hỏi chị: "Chị ơi, chị có yêu Trung Quốc không?"
Nghê Bình không biết hàm ý của câu nói đó, nên chỉ biết gật đầu lơ mơ vậy thôi.
"Lớn lên nhất định em sẽ phải yêu nước.  Em tình nguyện sẽ chết vì Trung Quốc!  Trung Quốc của chúng ta quá nghèo nàn yếu ớt mất rồi!"  Nghê Tảo chảy nước mắt mà nói.
Ngoài việc nói vài câu, ngoài việc  huyễn tưởng về con chim sẻ lông vàng và nước hồi sinh, nó có thể làm được gì nữa chứ?
Nó lấy bút sáp mầu vẽ con chim sẻ lông vàng theo trí tưởng tượng của mình.  Nó đã làm phí bao nhiêu là giấy mực, không những chưa hề vẽ được một con chim sẻ lông vàng nào.  Mà kỳ quái là nó vẽ con chim nhưng lại giống hình ảnh con chuột thực dụng hơn.  Hãy đợi một ngày nào đó, nó sẽ vẽ ra được một con chim sẻ lông vàng biết ca hát, lại biết cả bay nữa chứ?
Nghê Tảo cũng từng đi xem hội chùa cùng bà ngoại.  Nó thích xem những người diễn trò xiếc, chỉ tiếc là họ nói thì nhiều biểu diễn thì ít lắm, miệng cứ như đổ mỡ, cứ thao thao bất tuyệt, mà những lời họ nói lại cứ khiến cho mình tưởng là họ sẽ diễn ngay tức thì cho mình xem ấy, kết quả báo hại mình đứng đợi có đến nửa ngày mà người kia vẫn cứ đứng đó mà nói.
Cuối cùng anh ta cũng đã diễn mấy chiêu làm thuốc, khiến Nghê Tảo lấy làm hứng chí lắm.  Nó trở về nhà, đứng trên giường mình bắt chước họ mà nhào lộn.  Chưa được mấy cái thì bỗng thấy đầu nặng chân nhẹ, từ trên giường lộn cổ xuống đất, vỡ cả mặt.  Cha nó cảm thán kêu to: "Quá thiếu chất dinh dưỡng!  Nhiệt lượng của thực phẩm không được cung cấp đủ!  Não bị thiếu máu rồi!  Đến đứng còn chả vững nữa là!  Để con cái phải sống cuộc sống ăn không no, mặc không ấm, như vậy là phạm tội!  Đó là phạm tội đấy!"
Nghê Ngô Thành sục sôi khí phách như vậy, nhưng Nghê Tảo cảm thấy phản cảm tới mức muốn chê trách.  Nó là một con người, đâu phải con mèo hay con chó, không nên khen chê gì đến người ngợm chân tay ngay trước mặt nó, ngã rồi thì thôi, cần gì phải dinh dưỡng vắn dinh dưỡng dài, đi đâu mà kiếm được lắm dinh dưỡng thế?  Đã ngã vỡ cả mặt, tốt nhất ba nó nên lấy lọ thuốc hai trăm hai mươi đến đây, hoặc là một miếng cao dán, nếu không có thuốc hoặc đồ dùng gì, thì ba hãy cứ an ủi vài câu, xoa xuýt thổi phù vào đầu là xong... Nào nào, xoa xoa, xuýt xuýt, làm tịt chỗ đau nào...  Đó là lời đồng dao ở nhà quê.  Đã chẳng có những cái đó, lạii đứng đó la lối phạm tội gì gì, rất cường điệu, vậy chẳng phải là toàn những lời bỏ đi, vô nghĩa lý ư?  Cái lối cảm thán như vậy, ngoài việc làm bại hoại tinh thần bản thân và làm bại hoại tinh thần tất cả những người nghe thấy những lời cảm thán đó, thì còn có tác dụng nào nữa đây.
Sau khi bị ngã sưng mặt, có đến hai buổi tối Nghê Tảo không xem bài ngoại khóa.  Nó cứ dán mắt lên bức hoành yêu thích của ba, như là đọc sách trời ấy, không hiểu nổi ý nghĩa một chữ nào hết cả.  Cái chữ "nan" trong câu "nan đắc hồ đồ" lại viết thành chữ lại càng khiến Nghê Tảo thấy hồ đồ thêm là cái gì nhỉ?  Nhất định là một cách viết khác của chữ Kê.  Nhưng gà thì có gì mà hồ đồ chứ?
"Đó là học vấn", Nghê Ngô Thành nói, tức là một con người khi ở chỗ cần thông minh thì thông minh, khi ở chỗ cần hồ đồ thì phải hồ đồ.  Nghê Ngô Thành giảng giải một số cái mà con trai anh ta không thể hiểu được, bản thân anh ta cũng chưa hiểu lắm.  Nghê Ngô Thành còn dẫn Nghê Tảo đi thăm hai ngôi chùa, một là chùa Quảng Tế trong nội thành, một nữa là chùa Ngũ tháp ở ngoại thành.  Thuỷ trúc ở chùa Ngũ Tháp, mùa đông vẫn xanh biếc cơ.  Từ chùa trở về, Nghê Ngô Thành dậy con trai cách ngồi thiên, phải làm được đến độ ngũ tâm triều thiên.  Ngồi xếp bằng là một cửa ải, ngồi được một lúc, Nghê Tảo đã thấy nhức mỏi không thể chịu được, tư thế ngồi thiền tựa hồ bao hàm một thứ trang nghiêm thần bí thế nào ấy.  Nghê Tảo cũng đã phảng phất mơ hồ cảm thấy sức lôi cuốn giải thoát siêu nhiên của việc ngồi thiền.
Nó không thể nào hiểu được cha cho thực rõ.
Dù sao thì cũng là một mùa đông yên ả, đó là một mùa đông duy nhất bình lặng và yên ổn trong ký ức của Nghê Tảo, dó là mùa đông duy nhất Nghê Tảo được sống với cha từ khi nó nhớ được mọi việc.  Cha dịch sách dịch bài, suốt ngày tra từ điển.  Sau tết dương lịch, cha ljai tìm được việc làm, là dậy thêm một số buổi ở một trường trung học.  Cha cứ đến tháng lĩnh lương thì nộp lại cho mẹ, việc đó làm tràn ngập một bầu không khí vui vẻ dư dả trong cả nhà, tuy nhiên cha và mẹ mỗi ngày vẫn phải va chạm mấy lần, rất nhiều lần có dính đến nó.
"Khi ăn cơm không nên chóp chép mồm", đang khi Nghê Tảo ăn rất ngon miệng, cha lại đưa ra lời nhắc nhở như vậy.
"Nó đang thích ăn", mẹ nói đỡ, mà lại cũng tỏ vẻ ương ngạnh nữa , cố ý nhai miệng chóp chép lên thành tiếng.
"Thói quen như thế không tốt."  Cha nói nói.
"Thói quen của cha thì tốt lắm đấy."  Nghê Tảo nói thầm trong bụng, sự can thiệp của cha làm mất cả hứng ăn cơm của nó.  Mà trong năm, vốn đã chẳng có cái gì ngon cả.  Lúc đó, khi nhai và nuốt Nghê Ngô Thành cũng để phát ra một số tiếng động, "ba cũng đang chóp chép miệng đấy", Nghê Tảo khoái chí chỉ vào cha.
"Không được lấy tay chỉ vào người khác".  Lại một lời giáo huấn mới.
"Anh nói gì cũng chuyên môn chỉ vào mặt người khác", mẹ vạch vòi luôn như vậy.
Hiển nhiên là cha đã muốn làm ầm lên rồi, nhưng cha chợt nhìn lên bức thư pháp của Trịnh Bản Kiều, liền nhíu chặt lông mày vào và cố nhẫn nhịn.
"Trời lạnh quá, cóng hết cả tay con rồi đây này."  Nghê Tảo đi học về, đưa hai bàn tay nhỏ cóng lạnh đến tấy đỏ cả lên vào chỗ bếp lò để sưởi, miệng kêu ca phàn nàn vì rét.
"Không nên hơ tay", cha lại nhắc nhỏ, rồi lên giọng giảng giải răn dạy, "thế này đã lạnh gì lắm đâu?  Hắc Long Giang Xiberi còn lạnh hơn Bắc Kinh nhiều.  Lại cả Bắc Cực nữa, trong vùng cực có người Eskimo sống trong nhà bằng băng.  Ở một số nước tiên tiến, hàng năm người ta đều cử người đi thám hiểm bắc cực,... nhóc con không nên sợ lạnh."
Toàn là những câu vớ vẩn!  Nghê Tảo đánh giá thế.  Mệ đã khích bác ngay: "Anh nói những cái đó để làm gì.  Anh làm bố  mà không nói đến việc làm sao để may cho con chiếc mũ kiểu phi công - hoặc chiếc mũ nồi len mới.  Cái thân nó thế này, lên bắc cực được à?  Để tiết kiệm than tôi chỉ bớt đi mấy quả không thường xuyên thêm vào bếp lò mà anh cũng đã phát cáu lên rồi, thế mà lại muốn bảo người khác đi bắc cực!"
Nghê Ngô Thành tự hạ giọng nói một mình: "Ngu muội, ngu muội trăm phần trăm, ngu như đứa trẻ bị bệnh Đao.."  Tiếng anh nói nhỏ đến nỗi bản thân cũng không nghe thấy, lại càng không dám để người ngoài nghe được.
Khi rỗi rãi, Nghê Ngô Thành còn bắt hai đứa con đứng cho anh ta xem, đi cho anh ta xem.  Anh ta muốn kiểm tra xem xương sống của chúng nó có thẳng không, hai vai có cân đối không, chân có vòng kiềng không, khi đi lại có bị thành hình chữ bát hay đi kiểu chân vơ rác không?
Điều đó khiến hai đứa trẻ chán ngán đến phát điên.  Chúng không thể chịu đựng được cái kiểu quan tâm có tính sỉ nhục và can thiệp như thế.  Thậm chí Nghê Tảo còn đâm ra nghi ngờ không biết sự hòa giải giữa cha và mẹ rốt cuộc có phải là việc tốt hay không.  Khi cha và mẹ còn như mặt trăng mặt trời, khi cha vẫn thường không về nhà hoặc tuy có về nhưng chúng vẫn cứ bênh mẹ và tránh mặt cha, thì cuộc sống của chúng có lẽ lại còn ung dung tự tại hơn nhiều!

Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
Trang 321 - 330

Lại còn cả một bộ lệ những lý luận cao siêu phiền hà rối rắm theo chủ nghĩa lý tưởng nữa chứ.  Gặp người nào thì nên gọi là chú, gặp người nào thì nên gọi là bác.  Lúc nào thì nói cảm ơn, lúc nào thì phải nói xin lỗi, lúc nào thì nói tạm biệt nhé.  Từ nào đã dùng không đúng chỗ.  Tin tức nào trên báo chí dù thú vị nhưng không đáng tin tí nào.  Mùa đông khi ngủ vẫn nên mở cửa sổ khi trời đẹp thì nên đi ra ngoài trời tắm nắng.  Một cuốn sách chưa xem xong, không nên vì vậy mà gặp một góc để làm dấu...  Rồi thì, gặp người lại cũng nên nở nụ cười tươi tỉnh, gặp người quen thì nên chủ động hỏi han quan tâm.  Khi tham gia diễn đàn không nên chỉ nói cần phải làm một người học sinh giỏi mà còn nên nói cần phải làm một thanh niên có thành tựu, rồi đến cả nên học thêm nhiều bài hát.  Nên học ít nhất phải học chơi được một loại nhạc cụ, nên học vẽ, học điêu khắc.  Nên học cách tự làm lấy một tứ đồ chơi có văn hóa ví dụ cái hòm phim đèn chiếu chẳng hạn.  Nên học biết khiêu vũ từ nhỏ, học cưỡi xe đạp lái ô tô... có bao nhiêu là cái nên, không hở một chỗ nào để không nên nữa cả nghe như ném cho hai chị em hết cái dây trói này đến cái dây trói khác để trói chặt chúng lại, thế mà vẫn còn một số cái nên khác, nghe cứ như nằm mộng giữa ban ngày vậy... Tiếp thu giáo dục của cha sao mà đau khổ thế, sao mà giống một vụ tai nạn vậy.
"Ba con có bệnh thần kinh", sự bình luận và giáo dục con của Tịnh Nghi trái lại rất dứt khoát.  "Khỏi cần để ý đến ông ấy", cô bổ sung như vậy.
Nghê Bình và Nghê Tảo vui vẻ tiếp thu quan điểm của mẹ.
Càng ở nhà lâu Nghê Ngô Thành càng yêu thích hai đứa con mình.  Càng yêu càng quan tâm, càng quan tâm càng phát hiện ra rất nhiều chỗ khiếm khuyết mà chúng bộc lộc ra ngay từ nhỏ, điều đó khiến người ta đau đớn!  Nghê Ngô Thành đã từng đàm luận với người khác từ lâu, rằng muốn cứu Trung Quốc chỉ có thể bắt đầu cứu từ lớp nhi đồng trở đi, phải giáo dục lại từ bảy tuổi hoặc sáu tuổi thậm chí giáo dục lại từ năm tuổi, không muộn mất.  Càng yêu càng quan tâm con cái của mình càng muốn phải giáo dục, càng giáo dục càng khiến Nghê Bình và Nghê Tảo không thích cha mình.
Nghê Tảo bắt đầu đưa tinh lực và huyền tưởng dù còn non nớt nhưng đã rất dồi dào của mình hướng vào việc đọc sách.  Cách ngõ nhà nó ba ngõ cửa, có một tòa nhà nhỏ liền sân gọi là "nhà giáo dục bình dân".  Trng đó chỉ có một phòng đọc sách, ngồi được khoảng hơn ba mươi người đọc sách là nhiều nhất.  Lần đầu tiên nó đến nhà giáo dục bình dân là do một bạn học ở lớp trên dẫn đi, sau khi tan trường.  Bởi vì nó còn quá nhỏ tuổi nên vừa bước vào phòng đọc liền nghe thấy một lời cảnh cáo nghiêm nghị: "Trẻ con không được vào".  Đó là tiếng phát ra từ người phụ nữ trung niên mặt vàng võ không son phấn gì cả, đang ngồi sau quầy giữ sách và trước mấy cái kệ sách.  Nghê Tảo giật nảy mình, run người, mặt đỏ ửng đến tận tai.  "Nó đến để đọc sách ạ", người bạn học lớn nói.  "Không có sách cho trẻ con", người phụ nữa kia nói.  "Cháu không xem sách trẻ con", nó trình bày ngay.  Người bạn lớn dạy nó cách tra mục lục sách, trên những cái phích bốc ra mùi giấy mực lâu năm.  Mỗi lần có thể mượn hai cuốn sách, nó mượn cuốn "Băng tâm toàn tập" và tập truyện đồng thoại của Diệp Thánh Đào "Bù nhìn rơm".
Người phụ nữa nhìn thằng bé nọ một cách thiếu tin tưởng, miễn cưỡng lấy sách ra.  Nghê Tảo đã đọc cuốn sách mà lần đầu tiên trong đời nó mượn từ thư viện dưới áp lực của ánh mắt nghiêm khắc, chăm chú theo dõi của người phụ nữa kia.  Có lẽ bà ta cho rằng mình đến để ăn cắp sách, nên đề phòng mình chạy trốn?  Nghê Tảo nghĩ, nó ngồi đọc sách mà như ngòi trên bàn chông.  Với lại có bao nhiêu chữ còn chưa biết cách đọc, chưa hiểu nghĩa nữa chứ.
Rất nhiều chữ còn chưa biết, nhưng những chữ đã biết còn nhiều hơn.  Thông qua những chữ đã biết, phần lớn có thể đoán ra được những chữ chưa biết.  Mới đầu thì nó hỏi người bạn lớn kia mấy lần, câu trả lời của anh bạn có tám chín phần mười là phù hợp với sự suy đoán của nó, điều đó khiến nó sướng rơn, khiến nó tăng thêm niềm vui thú đọc sách.  Chứ còn có hiểu hay không hiểu nội dung sách, nó cũng không nói được rõ lắm, nhưng nó rất chuyên tâm, nó cảm động, nó đọc thầm từng câu trong sách, nó phục sát đất những từ ngữ đẹp và hàm nghĩa hay trong đó.  Nó đã hoàn toàn chìm đắm vào thế giới của sách.  Nó đã không để ý gì đến ánh mắt nghiêm khắc và thiếu tin tưởng kia nữa rồi.  Ánh mắt đó đã trở nên dịu dàng và thân thiết.  Một người đã già, là một thủ thư khác, đeo đôi kính lão tròn tròn đi tới, người phụ nữ trung niên chỉ Nghê Tảo và cười nói thầm vào tai ông già đó.  Ông già cũng cười, ông gật đầu về phía Nghê Tảo.
Mùa đông đó Nghê Tảo trở thành người khách thường xuyên của nhà giáo dục bình dân.  Ông già và người nữ thủ thư trong thư viện đã quen mặt nó.  Có những khi gió Bắc gầm gào, trời tối đen như mực, bếp sưởi trong phòng đọc phập phù muốn tắt, cho dù mấy độc giả cũ vừa thấy thời tiết thay đổi là đã vội vàng trả sách để về.  Nhưng Nghê Tảo lúc nào cũng kiên trì cho đến cùng, chưa đến giờ đóng cửa thì nó chưa chịu về.  Có khi hai nhân viên không thể không khuyén cáo nó, thuyết phục nó ra về sớm một chút, lúc đó Nghê Tảo mới ý thức được rằng nếu nó không về thì hai vị nhân viên đó cũng không thể về được, thế là nó đành phải bất đắc dĩ trả sách trong bụng vẫn luyến tiếc không nỡ rời.  Người tuy đã rời khỏi cái nhà giáo dục tồi tàn đó mà lòng vẫn còn ở lại.
Nó cũng đọc tiểu thuyết kiếm hiệp và tiểu thuyết diễn nghĩa hai cuốn "Thất hiệp ngữ nghĩa" và "Tiếu ngũ nghĩa" nó không có ấn tượng sâu lắm.  Câu chuyện tư thù xoay quanh tiểu bạch Long nhân vật chính trong tiểu thuyết "Mười hai tờ ngân phiếu" của Bạch Vũ thì lại khiến nó hết sức cảm động.  Tiểu thuyết chiến tranh kỹ thuật "Vua móng chim ưng" của Trịnh Chứng Nhân cũng khiến nó thấy thú vị.  Nó đặc biệt mê kiểu miêu tả người đã từng luyện khinh công khi nhổ hành trên đất hạn như sau: tung mình lộn một cái, lấy chân phải điểm vào mu bàn chân trái, lại lấy chân trái điểm vào mu bàn chân phải, rồi nhao mình, thế là đã lên được nóc nhà hoặc đỉnh tháp, hoặc đỉnh vách núi.  Cái lối đi nhảy ba bước vuông góc với mặt đất khiến Nghê Tảo cực kỳ mơ ước, nó đã thử mấy lần, hít mạnh một hơi, chân phải điểm chân trái, chưa điểm được tới nơi thì người đã rơi ngay xuống đất rồi.
Nghe nó nói tình hình đọc sách ở nhà giáo dục bình dân, trên nét mặt luôn rầu rĩ của mẹ xuất hiện bao nhiêu là nụ cười.  Ngoan quá, giỏi quá, thông minh quá, đáng mặt làm mẹ không tiếc lời khen.  Nhưng đừng để mệt quá nhá, mẹ nhắc vậy.  Dì thì lại càng hứng thú, dì tự xưng dì cũng là người mê sách.  Dì cũng thường dùng một chút tiền lẻ để thuê sách về đọc.  Dì toàn xem những sách giải trí, dì tuyên bố vậy, "Độc thư phá vạn quyển, hạ bút như hữu thần".  Dì bắt đầu dẫn kinh điển, "Đọc thuộc ba trăm bài thơ Đường, không biết làm thơ cũng biết tán", dì lại nói chứ: "Thư đáo dụng thời phương ngăn thiểu, sự phi kinh quá bất tri nan" (tức: Đọc sách đợi đến khi dùng được thì ít lắm, làm việc mà chưa trải qua thì không biết cái khó của nó).  "Trung hậu truyền giả cứu, hti thự tục thế trường", "Gia hữu lương điền thiên khoảnh, bất như bạc nghệ tùy thân", rồi là hết chuyển khổ công đọc sách này đến chuyện khác, cuối cùng lại là "mã hành tử cái con mã hành tử" luôn.
Chị thì tỏ thái độ phản đối và sợ hãi trước việc Nghê Tảo đọc sách.  "Em còn bé thế, đọc nhiều sách như vậy, đầu em sẽ nổ tung, óc sẽ bắn ra đấy."  Chị nói thật khó nghe, cậu em liền đánh nhau với chị.  Sau đó Nghê Bình còn ăn một trận mắng của mẹ nữa.
Cha nghe việc đọc sách của nó thì vô cùng bi thương.  Nghê Tảo, làm sao con lại không có tuổi thơ?  Cha nó nói với Nghê tảo thế này: "Bây giờ vẫn chưa phải là lúc con đọc sách.  Ngoài giờ lên lớp học, thì việc chính của con là vui chơi.  Vui chơi, hiểu không?  Bê Cơn và Đi đơ rô, Giêm xe và đi uây, họ đều nhấn mạnh rằng quyền thiêng liêng của trẻ em là được vui chơi!  Tuổi thơ mà không có trò chơi thì thật là buồn tẻ biết bao!  Cảm giác buồn tẻ của tuổi thơ.  Con không hiểu ư?  Tất nhiên là con hiểu.  Rất nhiều học giả chuyên môn nghiên cứu đề tài này.  Đó là một kiểu đau khổ của nhân sinh, là một kiểu đau khổ lớn nhất.  Từ khi con còn nhỏ ba đã chú ý đến con.  Ví dụ như mùa hè, người lớn đều ngủ trưa, con không ngủ.  Con không ngủ nhưng con không chơi cái gì cả, cũng không có bạn nhỏ nào đến chơi với con.  Con không biết làm gì cho được, con chẳng đòi chẳng khóc, con cứ ngơ ngơ ngẩn ngẩn, chẳng biết đi đâu, đó chính là buồn tẻ, là hiu quạnh cô đơn, đó chính là sự buồn bã quạnh hiu của tuổi thơ đấy!  Mà tuổi thơ lại là năm tháng quý báu nhất của nhân loại.  Trẻ em là hoa của nhân loại.  Tuổi thơ phải nên là những gì khiến người ta phải rối mắt rối mũi lên vì sự rực rỡ, vui tươi, thú vị, muôn màu muôn sắc chứ.  Nhi đồng phải nên có đầy đủ đồ chơi, không những có người bằng đất nặn và chuồn chuồn bằng trúc, mà còn phải có tàu chạy bằng hơi nước, tàu hỏa, máy bay còn có thể tự động chạy được, phải có bóng bơm đầy khí hydro, vừa thả tay là quả bóng liền bay tít lên trời.  Còn có thể có những quả bóng khinh khí lớn, nó mang được cả con mà bay lên trời.  Con trai nên chơi súng ngắn, súng trường, súng máy, không những kêu được, mà còn phun được ra lửa.  Trẻ con nên có những con vật cưng tự mình nuôi nấng, không những nuôi tầm, mà còn nuôi chuột bạch, nuôi thỏ, nuôi hươu con, cũng có thể nuôi cả ngựa.  Ngay từ nhỏ đã nên có cơ hội cưỡi ngựa, trẻ con nên có bãi chăn thả riêng.  Trẻ con nên có các điểm vui chơi riêng để chơi bóng, chơi cờ, chơi trong mê cung.  Lại có cả những dụng cụ luyện tập sức khoẻ, vòng treo và vòng thép thang gỗ và thang dây.  Trẻ con còn nên có phương tiện giao thông của riêng mình, nên có tàu hỏa và tàu điện mà người lái và hành khách đều là trẻ con.  Quan trọng nhất là, chúng ta nên có thuyền riêng, nên là thuyền buồm, chúng ta có thể lái thuyền chạy ra tận biển.  Ít nhất thì phải là thuyền bằng cao su, có thể thổi lên được, tất nhiên mình phải biết bơi, rồi mình sẽ cầm cái bơi chèo hai lá tự chèo lấy thuyền.  Nói tóm lại trẻ em phải có được một thế giới riêng, phải có tổng thống riêng, phải có hải lực không quân riêng, phải có diễn đàn riêng, phải có công viên riêng, phải xe ngựa, tàu hỏa, xe hơi, máy bay và tàu chiến riêng.  Phải có quảng trường riêng, đội kèn đồng riêng, hội trường lớn riêng.  Chỉ có trẻ em có thế giới riêng mới là trẻ em thực sự, mới là những đứa trẻ có tuổi thơ.  Lỗ Tấn đã nói từ rất lâu rồi: Hãy cứu lấy trẻ thơ.  Cứu thế nào?  Tức thì phải giao toàn bộ thế giới này cho trẻ em, trả lại cho trẻ em.  Thế giới vốn đã thuộc về các con rồi.  Nhưng, các con đã có cái gì nào?  Con trai của ba, lại cả con gái của ba nữa, các con có cái gì nhỉ?  Đến một mảnh ngói của cái thế giới đó các con cũng không có.  Thế là con Bình phải đến chùa Bạch Tháp để nghe vở ca kịch "Đại yêu quái".  Thế là con phải đến cái nhà gì đó để đọc cuốn sách không thích hợp với nhi đồng gì cả.  Sách hco nhi đồng phải có màu sắc, phải in thật đẹp, hình vẽ phải nhiều và phong phú.  Sách kèm cho nhi đồng phải có đĩa hát.  Đĩa hát?  Cái gì?  Đến đĩa hát là gì con cũng không hiểu ư?  Chưa nhìn thấy máy ghi âm bao giờ?  Ôi, làm thế nào nhỉ?  Sách cho nhi đồng phải thơm ngọt, đọc xong là có thể ăn luôn như bánh ga tô ấy... Một nước văn minh nên có quan niệm tất cả vì nhi đồng.  Nhi đồng đang sống trong những nước hoàn toàn không có quan niệm đó, thật là vô cùng buồn tẻ khô khan phải không?  Tuổi thơ của ba ở Mệnh Quan Đồn - Đào Thôn, chính là cuộc sống vô cùng, vô cùng khó khăn buồn tẻ đấy!"
Nghê Ngô Thành chợt nghẹn ngào nức nở lên, sụt sùi nước mắt.  Mồm miệng mặt mũi anh ta méo xệch rất khó coi, anh ta không cả thở được nữa.  Anh ta gỡ cặp kính của mình ra, lấy mu bàn tay quyệt nước mắt một cách vô hiệu quả, kết quả nước mắt trên mặt không hề lau được sạch mà tay cũng bị ướt đi.
Nghê Tảo không biết tại sao cha lại đột nhiên xúc động thế.  Nhưng nó đã cảm thấy tình thương yêu của cha đối với nó, nó cảm thấy sự chân tình của cha, cảm thấy tất cả những mộng đẹp của cha đã cố hô gọi đến trước mắt.  Rất nhiều câu nói nó nghe không rõ hoặc không hiểu được, nhưng những lời nói của cha cứ như những cây kim, những cái gai độc cứ từng mũi từng mũi mà châm vào tim nó, vào linh hồn nó.   Cuộc sống của bọn họ, tức cuộc sống của nó, của cha, của mẹ, của chị, của dì, của bà ngoại, lại còn của bao nhiêu bạn học, bao nhiêu láng giềng, bao nhiêu gia đình, có lẽ thực sự là đáng buồn chăng?  Như cha nói đấy, cái buồn tẻ khô khan của ngày hè dài đặc nhàn nhạt quả thật nó cũng đã từng cảm nhận được.  Qua sự đi sâu phân tích và nhấn mạnh của cha, nó càng xác nhận có sự đau khổ của sự khô khan buồn tẻ đó.  Nó chưa từng nhìn thấy thuyền buồm màu trắng, nó không biết thuyền buồm là như thế nào cả.  Nhưng nó đã từng vẽ hình vẽ thuyền buồm trong giờ học vẽ, thuyền buồm và mặt trời, lại dùng những đường cong vẽ ngang ra thể hiện sóng nước, đó là bức tranh mà mỗi một đứa trẻ đều đã từng vẽ.  Nó đã cảm thấy sự đáng yêu của chiếc thuyền buồm màu trắng, cũng cảm thấy cả sự đau khổ vì sự thiếu thốn không có chiếc thuyèn buồm màu trắng.  Cho dù cha nó đều đúng cả, đều chân thành cả thì cũng thế mà thôi.  Rốt cục thì cha nó nói những cái đó để làm gì?  Rốt cục thì đang bảo vệ giữ gìn giành giật lấy hay đang phá hoại, đạp bỏ tuổi thơ của nó đây?  Rốt cục là đau khổ vì con cái hay đang phát tán và tiết ra những đau khổ riêng của mình giống như phát tán bệnh dịch vậy đấy?  Cái thứ bi phẫn oán trời trách người một cách cường điệu đó, rốt cục là có bao nhiêu đạo lý và bao nhiêu lợi ích nhỉ?  Nó có thể cải thiện một chút xíu nào số phận của bất kỳ ai hay cải thiện được tuổi thơ của bất kỳ đứa trẻ nào không?  Một người quan tâm đến tuổi thơ, lại có thể lên cơn Isteri mạnh đến như vậy trước mặt trẻ con mà không một chút kiêng dề như vậy ư?  Anh ta đang chế tạo cho thế hệ của mình đấy ư?  Rốt cục anh ta là người cha hiền từ hay ma quỉ, là triết nhân hay một thằng điên nhỉ?  Dù sao một người đàn ông cao lớn đã khóc, đã vì bản thân mình mà khóc, khóc một cách mặt méo xệch lên như vậy, điều đó khiến Nghê Tảo cuối cùng cũng phải rơi lệ vì không nén nổi mình nữa.
Có lẽ mạch suy nghĩ của Nghê Tảo lúc đó không rành rẽ như vậy, có lẽ lúc đó nó cũng không lý giải được phản ứng của mình đối với cơn cảm khái xúc động của cha mình.  Có một số khái niệm có một số danh từ nó cũng không biết sử dụng.  Nhưng sự nghi ngại của nó thì rất rõ ràng và thấu đáo - Sự nghi ngại đó kéo dài suốt mấy chục năm, kéo dài mãi tận sau khi cha nó chết, mà sau đó nhớ lại, nó còn nhớ rất rành rõ rằng lúc đó, trong vấn đề tuổi thơ, sự cảm khái về cái cảm khái của cha, sao cứ xé rách trái tim của nó, y như có hai con ngựa kéo hai nửa trái tim về hai phía ngược chiều vậy.
"Đừng khóc, đừng khóc", cha chặn cơn khóc của nó lại.  "Chúng ta hãy chơi cái gì một chút đi.  Bây giờ ba không bận gì, ba bằng lòng chơi với con.  Con có thể cưỡi lên lưng ba như cưỡi ngựa, con có thể hò hét, có thể lấy roi mà đánh.  Nếu không thì hai chúng ta đánh bốc, ba chỉ đỡ thôi mà không ra đòn, con đánh trúng đòn nào vào người ba thì ba sẽ giơ ngón tay út ra, sẽ tính là ba thua.  Nếu không thì con tập nhào lộn trên giường lò, ba sẽ đỡ cho con.  Nếu không... nếu không thì đập bóng?  Có lẽ ba không biết đập bóng, nhưng ba có thể học theo con, con làm thầy giáo nhỏ của ba..."
Sau đó Nghê Tảo chọn đấu bốc.  Nó đánh trúng vào người cha hết đòn này đến đòn khác, cha nó hết lần này đến lần khác giơ ngón tay út ra.  Nghê Tảo vừa nhảy, vừa la, vừa cười vui mừng báo tin nó liên tục chiến thắng trong trận thi đấu đánh bốc.

Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-11-09 06:31:32canary>
Trang 331 - 361,  Chương 16

Tết dương lịch vừa xong, hai người làm trùm cá hộ tá điền ở quê là Trương Trí Ân và Lý Liên Giáp đã đến ngay.  Họ trọ ở bên ngoài Tiền Môn, đem đến cho bà lớn nửa tải táo, nửa tải đậu xanh, một ít đậu tạp, bốn giỏ rau đông, hai khay lạp xưởng có nhuộm đỏ, cò có một số tiền nữa.  Đó là số địa tô mà họ thu được và bán một số sản vật từ địa tô thành tiền.  Ngoài ra hai người Trương Lý còn đem đến hai loại đặc sản địa phương, là của cống nạp của cá nhân, một thứ là chân giò chay hun khói, chủ yếu làm từ đậu phụ cuốn với một số phụ liệu nhìn bên ngoài trông giống chân giò hun khói, thực ra là món chay.  Đó là loại thực phẩm độc quyền kinh doanh gia truyền của một nhà họ Lý ở quê nhà, nghe nói đã có hơn hai trăm năm lịch sử.  Tịnh Trân đặc biệt nghiện loại thực phẩm này, vì vậy, món quà đó xem như quà cho cô lớn (lời tôn xưng với Tịnh Trân, cũng như họ đã tôn xưng Khương Triệu Thị là  bà lớn vậy.  Thứ hai là một hũ mứt dẻo của quả lê mùa thu do họ tự làm lấy, ở quê chẳng phải là có loại lê giòn khi rơi xuống đất một cái là vỡ ngay thành tám cánh hay sao?  Cuối mùa thu dùng loại lê đó nấu nhừ cho thêm đường phèn, nấu đến độ đặc sền sệc vào là được.  Mọi người tin rằng loại cao lê này có tác dụng làm thuốc nhuận phế khứ đàm chỉ khái.  Mùa đông Khương Triệu Thị thường bị đau ngực, ho, nhiều đờm, hai người Trương Lý biết vậy, đặc biệt đưa thưa quà này đến, tỏ lfong hiếu kính.  Hai người Trương Lý đến, hai bên chủ tớ đều thi nhau kêu khổ thấu trời.   Khương Triệu Thị và Tịnh Trân thuật lại rằng bọn họ ở thành Bắc Kinh đã không sống nổi nữa rồi, cần gấp tiền để tiêu, đối với công việc ở nhà quê không thể qua loa quýt luýt, mắt nhắm mắt mở nữa rồi.  Trương Tri Ân và Lý Liên Giáp kể lể năm nay kém kinh tế thế nào, binh hoang mã loạn, người Nhật đòi góp tiền góp lương thực, bát lộ hoạt động tứ tung, tâm tư người trong thôn đổi khác, nhân tâm bất ổn.  Bọn thổ phỉ bắt cóc cụ Hạ giàu nhất thôn, con trai cụ Hạ đã đưa đến ba ngàn đồng tiền đại dương, thổ phỉ xé ngay ngân phiế, lấy dây thừng thắt cổ cụ Hạ chết tươi.  Lại thêm xuân hạn hạ lụt, tiết đoan ngọ lại có nạn châu chấu, sau hạ chí thì lại có mưa đá, người làm ruộng lắm nhà chẳng có igf bỏ vào nồi.  Thực tế nhiều nhà bây giờ ba người mặc chung một cái quần, năm người đắp chung một cái chăn, khổ không sao nói xiết, thắp hương khấn đại phật ở chùa Đại Phật, khấn Quan Âm ở am Thủy Nguyệt đều không linh nghiệm nữa.  Chút ít tiền, vật phẩm này cũng là hai gười bọn họ nhớ tới ân nghĩa của bà lớn, tới tới ân nghĩa của ông lớn, cha của Tịnh Trân, Tịnh Nghi mà chạy ngược chạy xuôi đến gãy cả chân, nói rách cả mồm, hết lùa lại khích rồi dọa dẫm mới móc từ mồm các nhà thuê ruộng ra được đấy.  Rồi hai bên lại nhắc đi nhắc lại mấy lần những ý tứ giống nhau.  Rồi cô lớn đi làm cơm nướng bánh cho hai vị đầu hộ tá điền, lại mua cả chút rượu nữa.  Để nhắm rượu, ngoài việc thái ngay một ít lạp xưởng và giăm bông chay, cô lớn còn tự tay làm một món ngon bánh phết tương tôm.  Tương tôm là loại thực phẩm dùn các loại tôm nhỏ không thành hình nghiền ra thành bột nhão, có màu tím nhạt, mùi tanh gắt, để đề phòng nó tiếp tục biến chất, cứ phải thường xuyên cho thêm muối vào, vì vậy vị của tương thường là cực mặn.  Các loại tương tôm này giá cực rẻ, rất thích hợp với người thèm chất tanh mà không mua nổi thịt cá, những năm bốn mưới, nó là một loại thực phẩm được hoan nghênh nhất ở Bắc Kinh.  Nhưng ăn thì quá mặn quá tanh, đó cũng là vấn đề.  Thế là Tịnh Trân áp dụng một biện pháp chế biến mới, cho một ít bột mì vào tương tôm, cho một ít mỡ nước vào nồi nhào trộn nên rồi phết bột trộn đó thành từng bánh nho nhỏ, bỏ và rán trong dầu nóng, rán xong lên thì màu vàng rộm, thế là được bánh tương tôm.  Loại bánh tương tôm dó ăn thì chắc không phải ngon lành gì ghê gớm lắm, nhưng khi rán lên mùi vị cũng cực điếc mũi đấy, trong đó có đủ các mùi tanh, khắm, ngọt, thơm chả thiếu vị nào.  Mỗi khi ngửi thấy mùi rán bánh tương tôm Tịnh Trân liền thấy vui vẻ thoải mái hẳn, mà đến lượt mình tự ra tay rán thì lại càng như mở cờ trong bụng.
Chủ tớ cùng ăn với nhau, cũng gọi thêm cả Tịnh Nghi và hai đứa trẻ - Nghê Ngô Thành sợ nhất là mùi bánh tương tôm, lại càng sợ cái mùi khi đang rán bánh (tiếng ở quê thì không gọi rán bánh mà gọi là bày).  Với lại anh ta không thích gặp hai vị đứng đầu các hộ tá điền.  Từ nhỏ anh ta đã phản đối sự bóc lột địa tô của địa chủ.  Anh ta không sang bên đó.  Mọi người vừa ăn vừa không ngừng than thở kể lể, khi thì ai nấy nói nghe, khi thì người nọ bắt người kia nghe.  Không ngờ, bà lớn, cô lớn, cô hai lại gian nan như vậy khi sống ở thành phố!  Chẳng phải à, đến uống nước lã cũng phải tiền.  Dường như để chứng minh cho tính chân thực của lời Tịnh Trân, vừa hay lúc đó xuất hiện một người Sơn Đông đẩy một chiếc xe nước bằng gỗ, nước rỏ tí tách xuống dưới bụng xe.  Vặn cái nút ở dưới thùng gỗ to, nước liền chảy ra, đong đầy vào những thùng gỗ nhỏ, gánh vào cho từng nhà.  Nghê Bình đi mở nắp chum nước, người Sơn Đông đưa nước liền đổ những thùng nước vào đó, Tịnh Trân đưa ra cái thẻ nước.  Trương Tri Ân và Lý Liên Giáp sau khi biết thẻ nước đó là phải dùng tiền để mua, thì liền thè lưỡi ra vì việc đó.
Tất cả đều do cái bọn Nhật Bản gây ra cả, mọi người nhất trí than thở vậy.  Sau đó Trương Tri Ân và Lý Liên Giáp chuyển đề tài câu chuyện sang Nghê Tảo và Nghê Bình, đặc biệt chuyện về Nghê Tảo nói rằng chớp mắt bọn Nghê Tảo sẽ cao lớn trưởng thành lên ngay ấy mà, bà lớn, cô cả, cô hai tiền đồ sáng sủa quá.  Chắc bọn họ cũng biết sự bất hòa giữa Nghê Ngô Thành và Tịnh Nghi nên không hề nói đụng đến Nghê Ngô Thành chồng cô hai một câu nào.
Chúng nó lớn lên thì có thể làm gì cho tôi!  Khương Triệu Thị và Tịnh Trân hơi có ý khó chịu.  Hai vị trùm hộ tá điền lập tức nghiêm túc lại mà phân tích, không thể nói vậy được đâu, cháu trai, cháu gái đều là ngoại, nhưng từ nhỏ đã đều ở nhà bà ngoại, nhà bà ngoại lại không có ai khác, thì chúng nó chính là cháu nội của bà lớn chứ ạ, cũng như con của cô cả chứ ạ.
Tịnh Nghi dường như không hứng thú lắm với đề tài đó, nên cô đã mấy lần cụp mắt xuống.
Nghê Tảo nhìn hai người nọ, cảm thấy vừa tò mò vừa hâm mộ.  Hai người đều phơi nắng đen cháy đi, vừa nhìn đã thấy chẳng giống tí nào với người ở thành phố.  Những nếp nhăn trên mặt trên tay hai người đều sâu đến thế, dày dặn đến thế, điều đó cũng khiến Nghê Tảo cảm thấy rung động trong lòng.  Hai người đó tay to chân to, đến cả những ngón tay cũng rất thô, chắc là họ khoẻ lắm nhỉ?  Hai người thi nhau nói chuyện, phối hợp ngầm rất ăn ý, thao thao bất tuyệt, ứng đối trôi chảy, đã không thiếu lễ độ tâng bốc cảm thông an ủi, lại vẫn đều giữ được quy tắc nhất định, quyết không hứa hẹn cái gì cụ thể, đúng là hai người tuyệt đỉnh thông minh.  Mà cái quan trọng còn là nhiều cũng vậy, ít cũng thế, táo hay đậu đều là những thứ mà nhà Nghê Tảo vẫn hoan nghênh.  Chỉ tội họ bàn luậ về nó ngay trước mặt nó, khiến Nghê Tảo đâm ra lúng túng ngượng ngập, làm giảm bớt cảm tình của nó đối với hai người đến từ nông thôn đó.
Chuyến viếng thăm của hai người cũng coi là mang lại một ít sinh khí cho cả nhà.  Đặc biệt là hai mẹ con Khương Triệu Thị và Chu Triệu Thị.  Trậm ốm của Nghê Ngô Thành và việc hòa giải giữa Tịnh Nghi với chồng khiến hai người bọn họ như mất một cái gì đó.  Đương nhiên chính họ cũng không ý thức rõ về điểm này.  Cuối đấu tranh với Nghê Ngô Thành, công thủ tiến thoái, thắng bại được mất, gần như đã cấu thành trọng tâm cuộc sống của họ sau khi dời nhà lên Bắc Kinh, thành trọng tâm suy nghĩ và trung tâm thần kinh của họ.  Họ là hậu thuẫn có hiệu lực của Tịnh Nghi, họ nghĩ mưu vạch sách cho Tịnh Nghi, hết lần này đến lần khác, có khi là phân tích lặp đi lặp lại những cử chỉ lời nói của Nghê Ngô Thành, đề xuất rồi lại phủ định lại đề xuất những phương án đối sách.  Vì những phương án đối sách đó mà buồn, mà vui, mà tức giận, mà lo lắng, mà dậm chân ôm hận hoặc vì nó mà vỗ tay khoái trá, lúc cần thiết thì có thể xông cả lên tuyến một, xung phong hãm trận.  Đó là nghĩa vụ luân lý của họ đối với con gái - em gái, đó là sự tất yếu của việc họ tự bảo vệ lợi ích của bản thân.  Đó là tất yếu mà họ phải giáo dục Nghê Ngô Thành, bảo vệ giữ gìn luân lý đạo đức tranh thủ lãng tử quay đầu lại.  Việc đó khiến họ ngày nào cũng có việc để làm, có lời để nói, có gân cốt để đưa ra sử dụng.  Việc đó thậm chí còn khiến họ có được trong mình những cảm gáic khẩn trương, bức xức hưng phấn, và tính chiến đấu.  Điều đó thậm chí còn khiến họ quên đi cái bất hạnh không thể nói được, không thể nghĩ đến được của bản thân mình, quên đi nỗi bất hạnh của gia tộc họ Khương và nỗi bất hạnh của toàn bộ thời thế (quốc gia, xã hội).  Trước khi đến Bắc Kinh, tâm lực của họ tập trung vào cuộc đấu tranh trong họ tộc đối với kẻ định hiếp đáp hai mẹ con góa bụa, lên tòa án đệ đơn, thăng đường biện luận cho đến phải xuất đầu lộ diện đấu tranh mặt đối mặt với bọn lưu manh côn đồ, những cái đó khiến cuộc sống của họ trở nên phong phú, khiến họ trở nên đoàn kết kiên cường dũng cảm thông minh có bản lĩnh, lấy được lòng tự tin, tìm được ý nghĩa và lạc thú trong cuộc sống sau khi đã vượt qua hoàn cảnh gian nan.  Nhất là cuối cùng họ đã giành được thắng lọi, họ đã giữ gìn bảo vệ được tài sản của mình và cuộc sống của mình không bị xâm phạm.
Đến Bắc Kinh được ít lâu thì lại bắt đầu đến Nghê Ngô Thành rồi.  Không nhớ rõ là đến được ba hay năm ngày, nguyên nhân là vì chuyện nhổ đờm.  Sáng sớm Nghê Ngô Thành sang thỉnh an nhạc mẫu, hai bê nói vài câu khách sao lịch sự.  Khương Triệu Thị chợt thấy ngứa cổ, toẹt một bãi đờm đã nhổ ngay xuống chỗ đất dưới chân, rồi nhấc cái chân bó, lấy đế giầy di bỏ bãi đờm đi.  Nghê Ngô Thành ra cửa bình phẩm với Tịnh Nghi, rằng nhổ đờm bừa bãi là một thói xấu, là bẩn thỉu là ốc sạo, là dã man có thể truyền bệnh lao, bệnh bạch hầu, ho gà.  Nói rằng người châu Âu không bao giờ khạc nhổ lung tung như vậy.  Mọi người đều giữ vệ sinh, vì vậy các nước châu Âu ngày càng tiên tiến hùng mạnh...  Tịnh Nghi nghe những lời như thế thì không vui vẻ gì.   Chẳng may những câu đó cũng bị Khương Triệu Thị và Tịnh Trân nghe được.  Chẳng may trong lời Nghê Ngô Thành nói lại có hai chữ ốc sạo, hai chữ đó ba mẹ con họ chưa bao giờ dùng đến, chưa nghe thấy ai nói, mà cũng chưa đọc thấy ở đâu cả.  Hai chữ đó từ cách phát âm đến đầu giọng đều khiến cho họ phản cảm đến cực độ, đều khiến họ bị kích thích rất mạnh, đều khiến họ cho rằng, so với những từ ngữ chửi thề rủa độc đã quen mồm của họ, hai chữ đó còn độc ác và âm hiểm hơn nhiều.  Sau khi nghe thấy hai chữ đó, Khương Triệu Thị đã tức muốn chết được.
Lúc đó Khương Triệu Thị mới tới Bắc Kinh.  Trong lưng vẫn còn một khoản tiền bán nhà đất.  Trên mình mặc quần áo bằng lụa mới tinh.  Hơn nữa, lần đầu tiên gặp mặt con rể sau thời gian xa cách khá lâu, cần phải có một chút kiềm chế.  Bà ta chỉ chửi một câu: Khốn nạn!  Bà ta chỉ giở một kiểu hành động, cần một cái ấm pha trà - ấm trà đó là một món quà tặng của Nghê Ngô Thành mua khi được tin nhạc mẫu sẽ đến Bắc Kinh - mang ra sân đập bốp, đập xuống trước cửa nhà đằng Bắc, đập cho tan nát tinh tươm ra.
Lúc đó Nghê Ngô Thành cũng hoàn toàn chưa hề nghĩ đến ngày sau sẽ quyết liệt đến mức như vậy với nhạc mẫu, chị vợ với cả vợ đâu.  Sự kiện nhổ đờm - đập ấm khiến anh ta thấy sửng sốt, đáng tiếc và cũng có vài phần hối hận.  Như vậy, với sự khuyên giải thuyết phục của Tịnh Nghi, ngay buổi tối hôm đó, Nghê Ngô Thành đã đến nhận lỗi với nhạc mẫu.  Khương Triệu Thị tỏ thái độ rất đoan trang, lạnh lùng nói nhận lỗi cũng phải có quy tắc của nhận lỗi, đứng đó mà nói nhận lỗi thì ra cái đít gì, muốn nhận lỗi thì phải quỳ xuống, rập đầu.  Nghê Ngô Thành ngạc nhiên lúng túng không biết làm gì, Tịnh Nghi lúc đó còn đang chưa hết ngây thơ và hết lòng mong chồng với mẹ có thể chung sống hòa mục với nhau, liền níu ngay vai chồng kéo cho quì xuống.  Nghê Ngô Thành cũng quì xuống thật...   Sau đó mới cảm thấy đau lòng cơ.  Vì cái sự đau lòng bị xúc phạm đó, anh ta thấy trong mình tăng gấp bội phần sự hận ghét đối với các kiểu bẩn thỉu, ốc sạo, dã man và xấu xí ở nơi đây.  Sự công kích của anh ta đối với những thứ đó cũng tăng lên rất nhiều lần.  Sự nhiệt thành tin tưởng vào việc học tập các tập quán văn minh châu Âu cũng kiên định lên gấp nhiều lần.  Từ đó bọn Khương Triệu Thị đấu đá với anh ta dai dẳng suốt chín năm liền.  Thế mà gần đây sau một cuộc đấu đá lớn phấn chấn cả tinh thần, chẳng ai ngờ được, là Tịnh Nghi tự nhiên lại giảng hòa với hắn chứ.  Hòa vi quý.  Hòa được là tốt.  Nhưng hòa rồi Tịnh Nghi có cần đến hai mẹ con nhà này không.  Hòa rồi hai mẹ con còn bận rộn với cái gì nữa chứ?  Hòa rồi thì họ chẳng trở nên thừa ra ư?  Đó là một vấn đề đặt ra rành rành trước mắt nhưng lại chưa có ai nhìn thẳng vào nó cả.
Sau khi hòa với Nghê Ngô Thành rồi, Tịnh Nghi cũng ít qua lại bên nhà đằng Tây.  Có đến cũng nói năng qua quýt, thiếu hẳn sự báo cáo đi sâu và kịp thời.  Khi hai người nọ còn đánh cãi nhau, bất cứ một việc gì cô ta cũng chẳng đến chậm trễ một phút, nói ngay với mẹ và chị, vấn đề gì cũng cùng với mẹ và chị nghiên cứu kỹ càng, sau khi hòa rồi thì chẳng còn gì để nói nữa.  Không có gì để nói, mà cứ giả vờ như có bao nhiêu điều cần nói thì cũng không xong.  Không giống.
Điều đó sinh ra buồn tẻ và trống trải.  Trong sự buồn tẻ đó Khương Triệu Thị chỉ có thể nói đi nói lại những câu cũ rích hết lần này đến lần khác.  Nhớ lại cuộc sống trước kia mười sáu tuổi còn ở nhà họ Triệu của cha mẹ.  Tổ tiên của bà ta có một vị đại quan thay mặt hoàng đế đến nước Lưu Cầu đề phong vương.  Hoàng thượng ban hco người một tấm kim bài, trên kim bài có viết bốn chữ: Như Trẫm có mặt.  Bà ta nhớ lại tình cảnh khi bà ta được xỏ lỗ tai và bó chân.  Bà ta nhớ lại một đôi sư tử đá trước cổng nhà họ Triệu.  Nhắc xong những chuyện cũ, thì đến việc lục rương soát tủ, giở ra gập vào những quần áo cũ.  Nhàn rỗi thì sinh sự, thường thì phát hiện lúc thì mất cái áo nọ, cái quần kia, lúc thì mất miếng vải này, mảnh lụa kia, rồi cả cái cắm kim túi tiền.  Lúc khác thì lại tìm thấy tất cả áo nọ quần kia, mảnh lụa miếng vải cái cắm kim và túi tiền.  Giữa hai lúc đó, bà ta liền tra hỏi một trận.  Tra hỏi thì dễ dẫn đến phản cảm, phản cảm sẽ dẫn đến cười cợt, cãi cọ, mỉa mai, châm biếm.  Chu Triệu Thị là thân cận nhất với bà ta, khi bị tra hỏi tuy cũng phản cảm, nhưng nói lại vài câu là có thể hai bên đã tin cậy thông cảm, tiêu tan mây mù hết.  Tịnh Nghi thì còn mãi hầu hạ, giáo đục tranh thủ ông chồng, với lại có cũng hiểu cũng biết mẹ mình, nên tuy cũng có phản kháng việc tra hỏi nhưng hễ giơ tay lên là thôi, nóng lên là nghi liền.  Nghê Tảo không thuộc hàng ngũ bị tra hỏi, cho dù thi thoảng cũng bị hỏi một đôi câu gì đó, nó liền trố mắt một cái rồi làm như chẳng nghe thấy gì cả, thế là bà ngoại cũng thôi luôn.  Cuối cùng cuộc đấu tranh giữa tra hỏi và chống tra hỏi chỉ độc nổ ra như cơm bữa giữa Khương Triệu Thị và đứa cháu ngoại thân yêu nhất của bà ta là Nghê Bình mà thôi.
Chính là vì thân nhất với cháu gái, nên bất kể Khương Triệu Thị tìm cái gì, bất kể bà ta có dùng hay không dùng đến, chỉ cần một khắc mà không tìm thấy, chỉ cần Nghê Bình đang ở bên cạnh, là bà ta lập tức hỏi ngay: "Bình này, con lấy mấy cái mẫu thêu hoa của bà đấy à?", "Con lấy mẫu thêu hoa của bà làm gì?"  Nghê Bình hỏi lại, nó không hiểu câu hỏi của bà ngoại.  "Bà không hỏi con lấy mấy cái mẫu hoa đó alfm gì, bà hỏi con có lấy hay không.  Lấy thì con bảo là lấy, để bà khỏi phải đi tìm.  Không lấy thì con bảo là không lấy, để bà còn tìm.  Có chôn xuống ba thước đất bà cũng phải tìm bằng được!  Những mẫu hoa ấy của bà là mẫu ngày xưa, khi mười một tuổi bà đã thêu hoa theo các mẫu đó rồi.  Những mẫu hoa lan, hoa thủy tiên, uyên ương, hồ điệp... đó đều là những thứ bây giờ không có đâu.  So với những mẫu hoa của bà, thì mẫu hàng bán bây giờ ở chùa Bạch Tháp với chùa Hộ Quốc thì xứng đáng cho người ta chùi đít!"  Càng nói bà già càng có vẻ nóng nảy.
"Những câu đó nói với cháu làm gì?"  Nghê Bình cảm thấy mình phải chịu sự oan khuất và sự nhục nhã to lớn lắm, gần như bị vu là ăn cắp, "dù là mẫu hoa quý hơn vàng hay mẫu hoa chỉ đáng chùi đít, thì cháu cũng cần chúng nó làm gì?  Cháu cần chúng nó chẳng lẽ cháu không biết hỏi xin bà hay sao?  Ai lấy mẫu hoa người đó không được chết tử tế!"  Nó đã vận dụng cầu thề mà người trong nhà thích dùng nhất một cách rất thành thạo.
"Cái con bé đáng chết này sao lại thế hả, cháu nuốt phải thuốc súng đấy hả?  Sao lại không cho bà nói hả?  Mẹ cháu, ba cháu cũng không dám nói thế với bà nhà, chính cháu mới không được chết tử tế ấy!"
Như thế, như thế, như nọ như kia, chuyện cãi vã vặt qua đi xong thì Khương Triệu Thị đã lấy được đủ cảm hứng chuyện xưa chuyện nay.  Xa rồi thì không nói, chuyện tổ tiên bà ta đi phong vương cho Lưu Cầu Quốc cũng không nói nữa, chuyện ông nội bà ta được phong là Hàn Lâm cũng không nói nữa, chồng bà ta được mời làm thầy thuốc riêng cho trường trung học cao cấp duy nhất cho toàn huyện không nói nữa, thậm chí đến việc bà ta mới bán một phần tài sản gia nghiệp, cùng với con gái góa bụa lên kinh sinh sống cũng không thể nào so sanh được.  Bây giờ chẳng còn dung nhan như ngày xưa, dáng dấp như ngày xưa, tiền tài như ngày xưa, vốn liếng như ngày xưa nữa.  Bây giờ chả nói được chuyện bắt con rể phải quì nữa, cả đến cái con bét chết tiệt Nghê Bình, muốn ra oai bắt nó quì mà cũng chẳng nổi nữa là, trời chiều thì ắt tối, đến thế mà thôi!
Nhăn không trữ lệ lệ thùy, ám sả nhà phao tri hướng thuỳ?  Khi lên cơn buồn thương cảm động, chỉ còn có thơ của Lâm Đại Ngọc thôi.  Hổ lạc xuống đồng chó cũng khinh, Phượng hoàng già rời cõi chẳng bằng gà.  Ngoài những dịp cuối năm hai đầu hộ tá điền Trương Tri Ân và Lý Liên Giáp đến thì mới nghe được mấy tiếng xưng hô là bà lớn ra, cái danh xưng bà lớn và uy phong cũng đã bị tháng ngày xóa sạch không còn dấu vết cũng chẳng khác nào cái lẽ nhân sinh thường hận thủy thường đông (ở đời thì hay hận ghét nước thì hay chảy về đông).
Trải qua mấy cuộc lục rương hòm - tìm đồ vật - phát hiện đồ bị mất - tra hỏi đồ vật - cãi cọ - tìm thấy đồ vật - cất đặt lại - đóng nắp rương hòm xong, trải qua những hồi ức, chuyện xưa, than thở cùng với quá trình tìm được - mất đi - lại tìm được, cuối cùng đồ nào vật ấy lại lặng lẽ trở về chỗ cũ của nó xong, Khương Triệu Thị chuyển sang bận rộn với việc sửa chân.  Chân bó càng dễ bị lên chai dưới bàn chân và lên mắt cá, vì vậy sau khi lấy được tiền mà hai người Trương Lý đưa tới bà lớn nghiến răng mua liền một lúc hai con dao chuyên dùng để sửa chân và đem con dao sửa chân cũ cho Nghê Tảo để chơi trò phi dao cùng với bọn bạn.  Bản thân con dao sửa chân đã có hình dạng giống chân người.  Phi dao là một trò chơi của trẻ con trai, phi con dao xuống đất cho con dao cắm xuống đất mà đứng được, mỗi vết dao phi xuống phải được nối liền với nhau thành một đường thẳng và không được cắt ngang hoặc dính vào đường của người khác.  Đường thẳng ngày càng nhiều và dài ra nên phải rẽ ngoặt gấp khúc càng nhiều, rồi bao vây ngăn chặn lẫn nhau để giành phần thắng.  Nhìn thấy cái trò chơi đó, Nghê Ngô Thành lại sắp sửa nổi cơn cảm khái kinh khủng lên.
Sửa chân (thực chất là giọt chai dưới gậm bàn chân) cũng có thể gây nghiện.  Cởi đôi giày hình tam giác ra, gỡ dây bó buộc chân ra xong, đầu tiên lấy cái vịm sành đựng nước nóng ngâm chân vào, cái vịm sành đó là cái chậu chuyên để rửa chân mà Khương Triệu Thị mang từ quê lên.  Ngâm cho đến khi cái chân nhỏ tí hình dáng vặn vẹo đỏ lên, mềm đi xong là bắt đầu gọt.  Mới bắt đầu đưa lưỡi dao vào thì rất cẩn thận, chỉ sợ làm đau chỗ đso, đến móng chân cũng không dám cắt đi quá nhiều.  Sau mấy lần gọt gọt đến khi đau không ra đau, ngứa không ra ngứa thì bắt đầu cảm thấy nghiện, cứ cảm thấy gọt mà không sạch hết chai, không triệt để thì chưa đã, gọt mà càng thấy đau thì càng đã cơn nghiện, cuối cùng gọt phạm vào sâu quá, chảy cả máu.  Có một lần máu đã chảy mất không ít.
Gọt chân xong thì làm gì nữa nhỉ?  Bà ta định lấy vải vụn làm mấy chiếc đế giày (Bắc Kinh gọi là bồi đệm) để rồi khâu giày.  Nhưng thời tiết không hợp.  Mùa đông đang rét lạnh nhiều, khâu xong thì làm sao mà phơi khô được chứ?    Bà ta vô công rổi nghề lôi ra làm mấy việc khâu khâu vá vá.  Rồi thì là đi chọc lò than quả bàng, bất kể ai nhóm bếp ai làm cơm, Khương Triệu Thị cứ thích chọc chạch vào bếp lò.  Có khi người ta đang nấu dở nồi cơm bà ta lại thêm mấy viên than vào.  Bà ta tin chắc rằng nếu như bà ta không kịp thời bỏ thêm than thì lò than sẽ chắc chắn tắt mất, không nghi ngờ gì cả.  Có khi người khác đã bỏ thêm mấy viên than vào rồi, đã cất cái ống thổi lửa trông giống chiếc kèn hiệu của quân đội sang một bên rồi, tiếng phập phù bập bùng của than bén lửa đã nghe rõ rồi, bà ta vẫn có thể thò tay vào chỗ khói hun lửa đốt đó mà nhón ra mấy hòn than đang bốc khói, thậm chí đã cháy đỏ một bên.  Bà ta tin chắc là mình phải nhặt bớt ra như vậy  mới khỏi lãng phí mấy hòn than và thúc cho lửa cháy được nhanh hơn.   Còn một điều đặc biệt nữa là tuy ở nhà đó có đầy đủ các dụng cụ cái móc để cời than, đũa gắp than và xẻng để xúc tro, nghĩa là tất cả thứ cần cho một bếp lò than nhưng Khương Triệu Thị vẫn thích dùng tay không nhặt bớt than trong lò ra hoặc lấy than cháy rồi vứt đi, có lần trong quá trình nhóm lò than, có thể thò tay vào lửa nhặt viên than chưa cháy hết hoặc đẩy đóm vào giữa lò.  Làm vậy tất nhiên bỏng tay, có khi bỏng nặng hoặc ít nhất hai tay cũng dính than đen nhẻm.  Có khi bà ta chọc chạch vào bếp than còn bị con gái đang dùng bếp kêu la phản đối, nhưng bà ta vẫn thích làm như vậy chẳng chán tí nào.  Đối với bà ta mà nói, giữa những cái bếp lò than với nhau là một vật đang sống, có linh có tính hẳn hoi, có thể đem sức ra phục vụ bà ta nhưng cũng có thể làm hại bà ta, nó đòi hỏi bà ta chăm sóc, nghe theo sự sắp xếp của bà ta, nhưng nó lại có ý chí riêng, có khi còn có tính ương bướng riêng, là thứ thật sự có thể dám đối đầu cả với bà ta.  Bà ta rất có hứng thú đối với lửa, rất tò mò nữa.  Tăng thêm một viên than, giảm bớt một viên than mà không có quan hệ gì ư?  Thêm một viên nữa hay bớt một viên nữa thì đã sao?  Thêm nữa lên thì sao?  Thêm đến mức độ nào thì bị đè chết, giảm đến mức nào thì không chịu nổi một bữa cơm?  Đối với quan hệ giữa lượng và chất như vậy, Khương Triệu Thị hơi cảm thấy có vẻ sâu xa huyền bí.  Nó chẳng khi nào là không biến hóa có khi trông ra thì vẫn còn cháy sáng rực như đang vượng đấy, thế mà đã yếu xìu rồi, đưa đũa gắp than vừa đụng vào một cái là đã bở tơi ngay ra, thêm than vào thì đã muộn rồi.  Nhưng vẫn có thể lấy củi nôm để cấp cứu, có khi chỉ cần thêm một thanh củi bằng ngón tay út là đã có thể cải tử hoàn sinh rồi.  Có khi chỉ thiếu đi chỉ một thanh củi bằng ngón tay út là cả bếp lò ô hô ai tai rồi.  Có khi thấy trong lò đen tối om om chẳng có một chút ánh sáng nào, mọi người chẳng còn hy vọng gì nữa, bà ta liền nhặt cái quạt nan rách lên quạt mấy cái vào miệng lò, cái miệng lò trông như cái rốn trên bụng người ấy.  Quạt mãi quạt mãi thế là lửa lại bùng lên, cái lửa bén lên như vậy có sức nóng ghê gớm, từ trên xuống dưới đều là than mới lửa mới mà.  Có lúc quạt đế nửa ngày cũng chẳng thấy tăm hơi gì, nhưng còn có một làn khói nhẹ luẩn quẩn trên lỗ thông hơi, giống như một hơi thở hiu hắt của người bệnh, giống như một người bệnh chỉ còn một chút hồn mong manh đang bay ra.  Lúc đó Khương Triệu Thị một lòng muốn cứu lửa bằng được, bà  ta có thể cúi rạp người xuống, bà ta có thể quỳ một chân xuống đất, phồng mồm ghét sát vào rốn lò mà thổi phù phù phù liền ba hơi.  Khói nhẹ đã thành khói đượm, cái đượm cay sè cả mắt cả mũi, sặc cả vào cổ họng, nhưng lửa đã bén rồi, hồn đã nhập lại xác, hoàn dương rồi, sau làn khói đượm đã là ngọn lửa bừng bừng.
Lại còn có khi, nhìn ở dưới bụng lò thấy lửa còn tàm tạm, than tiếp thêm cũng không phải là quá muộn, số lượng cũng không nhiều không ít, ống không khói đặt rất ngay ngắn, sao bao nhiêu lâu cũng không thấy lửa cũg chẳng thấy khói nhỉ?  Cấp cứu, thêm củi nòm, có thể bỏ bớt than chưa cháy ở bên trên để thêm củi vào, cũng có thể dùng phương pháp chem, cố nhét củi nòm vào rốn lò.  Sau đây là một phương pháp do Khương Triệu Thị tự mò mẫm tìm ra được đấy, bà ta cho đó là phát minh riêng của mình, là một tuyệt chiêu cải tử hoàn sinh, luôn rất hữu hiệu nhá.  Đến lúc nào nhét đầy củi vào cũng không xong, quạt cũng không xong, thậm hcis vảy cả dầu hỏa vào cũng không xong nữa.  Thì chiêu cuối cùng là đánh một canh bạc dốc vốn, không tính giá thành khi khẩn cấp, dù than quả bàng vẫn đen xì đi nữa, chỉ cần vẫn còn độ nóng, vảy một ít dầu hỏa vào, dầu hỏa bị nóng bốc thành hơi, liền đánh ngay một que diêm vứt vào chỗ hơi dầu đó, phụt phụt một lúc, ngọn lửa liền phu lên rõ cao, thường là bắt vào tất cả các viên than trong lò.  Một thành hai, hai thành bốn, bốn thành tám, tám thành mười sáu, chỉ mấy phút sau là lửa đã ù ù réo lên.  Giống như đổ nước sâm cho người bệnh đang hấp hối để cứu cho tỉnh lại vậy.  Ông chồng là thầy thuốc Trung y đã qua đời của bà ta từng nói, nếu trong nhà có tiền thì đổ nước sâm, mà phải là sâm rừng, tốt nhất là sâm cao ly - mà phải là nguyên cả củ có đầu, thân, rễ đủ hết, hình dạg của nó phải thực sự giống như người.  Đổ được nước sâm như vậy thì nhất định sẽ bắt ngay con bệnh đang qui về cõi âm, trở lại dương gian được thôi.
Nhưng khi bệnh đã nhập cao hoang, đã đến cái hạn của con người, đã đến số mệnh định trước rồi, thì dù có đổ toàn sâm cao ly vào cũng cứu không nổi nữa.  Trị được bệnh không trị được mệnh, đó là ý nghĩa như vậy đấy.
Lửa than quả bàng có mệnh của nó không?  Nếu không thì tại sao cùng một tình huống cùng một biện pháp cấp cứu, phần nhiều thì có hiệu quả, nhưng có lúc thì chỉ là uổng phí tâm  cơ, uổng phí sức lực, uổng phí củi đóm dầu diêm thôi?
Lửa lò thần bí sâu xa như vậy, Khương Triệu Thị làm sao không nhớ nhung, không mày mò mân mê cho được?  Hai tháng gần đây, dần dần Khương Triệu Thị có xu hướng muốn lũng đoạn cái lửa đó, lửa là vật cưng của bà ta, con gái lớn Tịnh Trân, con gái lớn thứ hai là Tịnh Nghi mà đụng vào lửa, là bà ta ghen tuông ngay.  Còn cháu ngoại Nghê Bình mà đụng vào ư, bà ta sẽ mắng mỏ ngay.
Mân mê chọc vạch lửa xong bà ta lại cứ hay nhìn ngắm đối mặt với bàn tay đen nhẻm bỏng sém của mình mà thở than, thời buổi gì thế không biết, bà lớn sao lại phải luân lạc đến cái nước này đây hử?
Lại còn cái việc hạ đẳng này nữa chứ, đó là việc đánh rửa chậu nước tiêu, Khương Triệu Thị cũng có chút hứng thú đặc biệt với việc này.  Bà ta thích dùng một từ đặc biệt, gọi là hả bớt hơi - bà ta cho rằng hả hơi là một phương pháp tốt nhất để giữ vệ sinh sạch sẽ, giữ được phẩm chất của đồ ăn thức dùng, đề phòng ôi thiu thối rửa.  Nếu có một cái quần áo nào bị ẩm ướt mà bốc ra mùi mốc, thế thì phải đem ra phơi, hả bớt hơi đi, phóng thích cái mùi mốc của nó đi, thế là giữ được quần áo.  Nếu có cái bánh bao nhân thịt sắp thiu, vậy thì tốt nhất là đem bẻ bánh bao ra, để nhân thịt bên trong vốn khó hả hơi vì bị bọc trong vỏ bánh, tha hồ mà tán phát mùi vị của nó ra, như vậy bánh bao sẽ giữ được mùi khỏi bị hỏng.  Cũng dùng phương pháp cho hả bớt hơi như vậy, bà già áp dụng biện pháp làm sạch đặc biệt với chậu đựng nước tiểu.
Chậu đựng nước tiểu của bọn họ toàn làm bằng sành, nói chính xác hơn thì phải gọi là bô đái - vì mỗi sáng ngày ra thì đều phải thúc giục trẻ con cho chúng nhanh chóng ngủ dậy, nên vùng Mạch Quân Đồn - Đào Thôn có một câu đồng dao là: "Ai dậy nhanh làm quan lớn, ai dậy muộn làm bô tè."  Cái bô đái bên trong lòng sần sùi thô nhám, mà lại không có nắp đậy.  Loại bô đó có khi trong một buồng có một chiếc, nhưng có khi mỗi buồng để hai ba chiếc.  Nếu như dùng lâu năm cũ kỹ đi rồi, nếu như mùa đông cửa đóng kín mít, thì mùi của nó nặng nề nồng nặc lắm, chả nói thì cũng có thể tưởng tượng được ra.  Cái thứ đồ gốm sành sần sùi lắm vết rỗ của tạp chất đất nung đó rất khó rửa sạch được, dùng chổi cọ thì cũng rất khó tiếp xúc được vào những góc chết.  Vì vậy những cái bô đó thường xuyên đóng cặn trắng như muối.  Phương pháp mà Khương Triệu Thị sử dụng là, sau khi đã đổ hết nước trong bô rồi, thì dùng một siêu nước đang sôi sùng sục dội từ trên cao tít xuống lòng bô, đặc biệt hôm nào trời rét đậm, dội như vậy lập tức một đám hơi nước bốc lên mờ mịt như sương muối, nồng nặc kinh người, khiến người ta phải tắc thở, khiến người ta phải chóng mặt nhức đầu nhưng cũng lại có chút khiến người ta tỉnh táo khỏi cơn ngái ngủ.  Đó là một phen hả hơi quá khoái trá đã cơn nghiền.  Sau khi Tịnh Nghi và Nghê Ngô Thành hòa nhau rồi, cuộc sống của Khương Triệu Thị thiếu mất mùi thuốc súng, bèn phải đưa tâm lực đặt vào việc mân mê chọc vạch lò than và đánh rửa bô nước tiểu thôi.
Sau khi Tịnh Nghi và Nghê Ngô Thành hòa nhau cuộc sống của Chu Khương Thị cũng xảy ra một số thay đổi.  Cuộc sống rửa mặt chải đầu trang điểm buổi sáng sớm của chị ta kéo dài so với bình thường từ mười lăm đến hai mươi phút, dường như chị ta cố tình dành thêm nhiều thời gian để chìm đắm trong thế giới riêng tuyệt đối của mình trong việc tự nghĩ ngợi tự than thở, tự thương hại, tự hận ghét.  Mà còn bớt một chút, chậm một chút trong việc mở mắt để đối mặt với cái thế giới trống rỗng của hiện thực chẳng có một tí gì là mình trong đó.  Trong các cuộc chải chuốc trang điểm như vậy, những cái cười khẩy của chị ta càng ngày càng nhiều, càng khiến người ta phải rợn tóc gáy hơn.
Chị ta triển lãm hết sách vở của mình ra, trong nhà vốn có mấy cuốn sách giải trí như "Tây Sương ký", "Mạnh Lệ Quân", "Kim Phấn thế gia" của Trương Hận Thủy, "Hồng Hạnh xuất trường ký" của Lưu Vân Nhược, lại có một cuốn "Nỗi buồn của chàng Vecte" của Gớt với cuốn "Tiểu sử danh nhân thế giới" của Nghê Tảo, chị ta đọc đi đọc lại, xem đi xem lại,  không sót một chữ, không biết chán nản.  Ngoài những sách trên, chị ta còn thích ra cửa hàng sách để thuê sách nữa, sách diễm tình, sách võ hiệp, sách trinh thám... đều thuê đọc hết, chị ta đã từng thuê cả những tập truyện ngắn của Trương Tư Bình, Uất Đạt Phu, "Ái tình tam bộ khúc" của Ba Kim, "Triệu Tử Viết" của Lão Xá và bản dịch trung văn các tác phẩm của Draydo, Xinclero, Merime.  Chị ta dường như có thể nói là có sách giải trí thì đọc, đã đọc thì không phân biệt loại nào.  Chị ta đọc rất nhanh, đọc một lần là đã nhớ được nội dung câu chuyện, và thích kể lại chuyện.  Chị ta không sợ đã đọc những cuốn sách đọc qua rồi, dường như mỗi lần đọc đều tìm được sự hứng thú mới.  Chị ta rất thích đọc chuyện ái tình và những đoạn miêu tả ái tình, lại còn có những đoạn mà chị ta gọi là phấn (sắc dục) nữa, chị ta đều đọc rất thú, không biết mệt.  Nhưng khi đọc chị ta tuyệt đối không rung tim đỏ mặt, tuyệt không có phản ứng tâm sinh lý gì cả, tuyệt không tơ tưởng miên man gì cả.  Khi đọc những sách đó, chị ta cũng như thể xem ca kịch Đại yêu quái mà thôi, bất kể là diễn vỡ Nhặt được vàng ngọc, hay Đập chum bột, Nhân diện đào hoa, hay Ni cô nhớ phàm, đều là giải khuây, đều là cười đùa, đều là giả vờ giả vịt bỡn cợt cho vui.  Vì vậy người ngoài có thể nói chị ta đọc một quyển sách rồi quên ngay đi được, hay hơn nữa còn có thể nói được là quên quá nhanh.  Nếu không liên tục đọc cuốn sách đó, mà ucnxg không có cơ hội kể lại cho người khác, thì chị ta nhất định tự nghĩ mình đã quên cuốn sách đó rồi, chị ta quyết không bao giờ nghĩ về cuốn sách đó nữa.  Đại khái chính vì vậy, nên chị ta mới có thể giữ được hứng thú đọc đi đọc lại.  Còn thì có phải đã thực sự quên được cuốn sách đó hay không, thì chưa chắc đã đúng.   Giả thử có người gợi ý phần đầu câu chuyện thì chị ta lại thường có thể kể được từ đầu đến cuối câu chuyện trong cuốn sách đã quên kia.
Cũng có khi Tịnh Trân đọc sách mê mải đến quên cả ăn uống.  Chị ta xem, chị ta độc ra tiếng, chị ta lắc la lắc lư, chị ta kéo dài giọng, ngâm nga lên bổng xuống trầm, trên mặt chị ta hiện ra những tình cảm hỉ nộ ai lạc, những lúc như vậy nếu có ai nói chuyện với chị ta, chị ta cũng bịt tai không nghe.  Thật là giống người có cuộc sống tinh thần độc đáo thâm thúy.  Nhưng càng những lúc đọc sách như vậy, sau khi buông sách ra chị ta lại càng cảm thấy mù tịt chẳng biết gì nữa.  Không chỉ là đầu óc, mà lục phủ ngũ tạng đều tựa như đã bị moi rỗng cả ra.  Chị ta chỉ còn lại cái vỏ của mình thôi.  Vừa rồi không hề là chị ta, mà chỉ là cái vỏ của con người đang đọc sách.  Đang đọc cái vỏ của cuốn sách kia.  Còn linh hồn của chị ta thì không có chỗ để ở trong thân thể.
So sánh với việc đọc sách, thì còn có việc làm ra cái gì ăn thật sự.  Từ sau hôm rán bánh tương tôm có cả Trương Tri Ân, Lý Liên Giáp đó trở đi, hứng thú của Tịnh Trân với tương tôm tăng lên rất nhiều.  Chi ta lại rán mấy lần bánh đó nữa, rán đến nỗi khói tanh ngòm cả sân lên.  Chị ta đã hòa giải quan hệ với nóng hổi và lại còn thân mật ghê gớm nữa.  Chị ta làm theo kinh nghiệm tiến tiến của nóng hổi và dưới sự chỉ đạo trực tiếp của nóng hổi, đã trộn một ít bột mì trắng và một ít bột nở, chưng hấp trong độ hai mươi phút, tôm tương định hình thành từng khối vuông vuông trông hơi giống bánh ga tô.  Sau đó đổ một ít dầu mỡ phi thơm lên, uống rượu ăn với bánh mì, phong vị tuyệt ngon.  Một cách nữa là ăn sống, nhưng phải có dầu thơm, có hành củ, ăn kiểu này vì còn nguyên chất chưa nêm thêm gia vị nên tương đối mặn, ngọt đượm, thơm gắt ăn kèm màn thâu có thể ăn thêm già nửa cái, ăn được mấy lần, sau đó sức kích thích của tương tôm có vẻ cũng đã hơi giảm, thì bèn ăn chao đậu phụ.  Chao mà nhắm rượu, vị cay nồng của rượu dung hợp với mùi thum thủm của chao, tựa như cùng nhau làm tiêu tan bớt tất cả phiền muộn bực dọc bức xúc của chị ta.
Hôm nay mình làm cái gì đây?  Trong mỗi một sáng sớm của Chu Triệu Thị, trong giờ phút bắt đầu của một ngày trên con đường sống của chị ta, đều có một câu hỏi cũ kỹ não ruột như vậy chắn ngang ngay trước mặt.  Nặng nề như núi, vô hình như khói, vô biên như trời.  Hôm nay mình làm cái gì đây?  Chị ta mãi mãi không bao giờ trả lời được, chị ta bao giờ cũng sợ phải trả lời câu hỏi đó, chị ta luôn luôn đau khổ vì câu hỏi như thế, thậm chí còn xấu hổ vì nó.   Một con người không biết mình có việc gì để làm thì thật là tủi hổ biết bao nhiêu chứ!  Và cái câu hỏi đó trong mùa đông này lại càng gay gắt hơn.
Hôm nay mình... làm món cà cay.  Đây là sự cống hiến của chị ta cho tập thể.  Lấy quả cà tím cắt xéo từng lát mỏng theo chiều dọc nhưng không cắt dời hẳn ra khỏi quả cả, phi thêm ớt tươi, dằm thành bột nhuyễn trộn với muối xát vào giữa những lát cà, ướp độ nửa ngày, sau đó dùng dầu rán lên, làm thành một món ăn rất khoái khẩu vừa tê, vừa cay, vừa mặn được tập thể rất hoan nghênh, trừ Nghê Ngô Thành.
Hôm nay mình làm... món bánh nhân thịt.  Đó là một món hơi cao cấp riêng của nhà.  Trong các loại thịt làm nhân chị ta nhất định phải chọn thịt cừu, chính vì thịt cừu có cái vị gây gây, có thể khiến chị ta có cảm giác thỏa mãn.  Chị ta băm thịt ra làm nhân "một túi thịt bọc".  Dù vào năm được mùa cũng không thường được ăn bánh nhân "một túi thịt bọc" đâu.  Ăn "một túi thịt bọc" là cả một sự kiện, chị ta toàn tâm toàn ý tập trung làm vỏ và nhân bánh.  Cách vào nhân bánh của chị ta cũng không giống cách vào nhân bình thường.  Chị ta hòa bột xong, trộn và cán thành miếng mỏng, lấy tay kéo kéo vuốt vuốt, khiến vỏ bánh trông như hình chữ nhật, dàn vào đó một phần nhân thịt, chiếm độ một phần ba diện tích, gập cả vỏ bánh lẫn nhân lộ trở lại một trăm tám mươi độ, xong đặt một phần nhân vào chỗ vỏ bánh vừa lật lại và gấp mép vào, ấn cho phẳng phiu rồi đặt vào chảo phẳng đáy xoa chút mỡ mà nướng chín.  Như vậy, hình thành một loại bánh hơi dài, có ba tầng vỏ bánh hai tầng nhân, rất đặc biệt.  Tịnh Trân gọi nó là bánh thịt.  Hai tầng vỏ ngoài cùng thì nướng vàng rộm, tầng vỏ ở giữa thì mềm mại tươi ngon.  Ăn loại bánh vừa ra khỏi chảo này, chị ta thường hứng thú đến nỗi mồ hôi trán chảy cả xuống mặt, nước miếng lẫn nước thịt mỡ tứa ra thành giọt, nóng đến xuýt xoa, thơm đến xuýt xoa, cắn một miếng xong, vỏ vỡ nhân vụn, bánh thịt cũng biến thành xuýt xuýt xoa xoa.
"Hôm nay có khi tôi ăn bánh thịt", trước khi bắt tay vào việc chị ta ra tuyên bố chính thức như vậy.  Trên mặt thể hiện một vẻ nghiêm túc, không thể bàn tán thương lượng, chăm chăm chú chú chỉ biết có mình.  Phần ngấm ngầm sau lời nói của chị ta là các người muốn ăn các người cũng có thể làm - tôi đã làm chỉ là chỉ để mình tôi ăn, tôi chả dại cho các người đâu, các người đừng có mà thèm rỏ dãi, các người đừng hòng mà xin tôi, kẻo lại bảo là tôi không nói trước!
"Ăn thì cứ việc mà ăn", Tịnh Nghi lạnh lùng trả lời.  Có khi còn thêm vào một câu: "Thích ăn gì thì ăn nấy, ai dám ngăn cản chị?"  Có khi lại thêm một câu khác nữa: "Ăn thì cứ việc mà ăn, ai không cho chị hốc nào."
Đổi ăn thành hốc, trong đó có một ý khó chịu, có mùi vị sỉ nhục đấy.
Tịnh Trân không để ý những phản ứng đó.  Từ chỗ tuyên bố ăn bánh thịt đến chỗ làm ra được bánh thịt, dáng vẻ của chị ta thật là dứt khoát, cố gắng gạt mọi khó khăn, không cười kiếc gì cả.  Cho đến khi ăn sắp no rồi, xuýt xoa xì sụp một trận rồi, chị ta mới có thể cười một nụ cười tự đáy lòng.  Nếu mà bánh thịt làm thừa ra, chị ta sẽ gọi trẻ con đến ăn một tí.  Còn như đối với mẹ là Khương Triệu Thị, giữa họ đã có thỏa thuận ngầm.  Khi làm bánh thịt nếu Khương Triệu Thị cũng thèm ăn, thì sẽ đến giúp chị ta cùng thao tác, chị ta hoan nghênh.  Nếu Khương Triệu Thị không thèm ăn, Khương Triệu Thị không thèm để ý gì đến chị ta, chị ta cũng chẳng cần có ý khiêm nhường gì hết khi ăn bánh thịt.
Thái độ nghiêm khắc thế kia chủ yếu là để đối phó với em gái thôi.  Tịnh Nghi cảm thấy không khoái, những cũng không biết làm sao.  Có lúc thì cô công khai nói này nói kia một lúc, phàn nàn việc chị làm bánh đổ quá nhiều dầu vào chảo, bánh đã nhiều mỡ rồi, chảo lại cho lắm dầu, chẳng biết ngày sau sống thế nào được... đại khái vậy thôi.  Tịnh Trân có lúc chả để ý, có lúc cũng trả môi trả miếng mấy câu.  Tinh thần của chị ta đang tập trung vào bánh thịt, hơi đâu chú ý đến bình luận của em gái.
Phải lúc định ăn bánh thịt, Tịnh Trân rất chú ý làm lệch thời gian đi.  Nếu định ăn bánh thịt vào buổi trưa, thì chải đầu buổi sáng xong là bắt đầu chuẩn bị ngay, chưa đến mười giờ là ăn được rồi.  Nếu ăn vào buổi chiều, thì phải bớt ngủ trưa đi một ít, để chưa đến bốn giờ là đã có thể ăn xong bánh thịt rồi.  Làm thế thì tránh được việc cùng lúc phải dùng bếp lò mà xảy ra xung đột, khiến Tịnh Nghi không thể nói được gì về vấn để chiếm dụng bếp lò hết cả, hơn nữa do ăn cơm sớm lên mà - kéo dài kéo rộng được thời gian sau bữa ăn, như vậy có thể khiến chị ta ung dung ngồi nhớ lại và thấm thía mỹ vị của bánh thịt.
Thêm một thứ thưởng thức cấp cao nữa là ăn thịt đầu cừu.  Buổi tối có người bán rượu nhắm đầu cừu đến, gặp buổi Tịnh Trân trong lưng sẵn có đồng tiền, liền gọi người kia vào.  Người bán thịt xách một chiếc đèn bão khi sáng khi tối lập là lập loè, ngồi xổm xuống trước cổng nhà họ, lấy cái đầu cừu trong cái hộp xách tay ra, đặt lên một cái thớt sạch sẽ, dùng con dao phay sáng loáng, thái thịt đầu cừu thành từng lát mỏng trong như giấy bóng mờ, rồi đặt vào một tờ báo cũ đã trãi sẵn, rắc thêm muối tiêu, đưa cho Tịnh Trân.  Đưa cay bằng thứ này, tất nhiên là ngon hơn chao đậu phụ nhiều.  Hơn nữa vì họ cho quá ít, thái quá mỏng, cầm vào trong tay lơ thơ được mấy miếng, tuy ăn xong trong miệng có mùi thơm của thịt và hạt tiêu, nhưng trong bụng hoàn toàn chẳng có cảm giác về thịt gì cả, sự thòm thèm đó lại càng tăng thêm tính hấp dẫn của thịt đầu cừu.
Từ khi em gái và em rể hòa nhau, sau khi Trương Tri Ân, Lý Liên Giáp tới xong, tính tích cực tự làm món cho mình ăn của Tịnh Trân tăng rất mạnh, sức lực đầu tư vào đó cũng tăng lên nhiều.  Điều đó không chỉ gây nên sự bất mãn của Tịnh Nghi, đã gây ra mấy lần kháng nghị và cãi cọ, mà cả Khương Triệu Thị cũg đã đề xuất lời trách cứ và lời khuyên nhủ của mình: Cô lớn này, cô đừng có mà quá khoe mẽ trổ tài lắm nữa, suốt ngày chỉ biết có mình mình, thế thì ra cái gì hả, nhà mình hãy nên sống thế nào cho hài hòa đẹp đẽ tí chứ!
Tịnh Trân nghe lời mẹ nói, lẳng lặng chẳng ra lời gì cả.  Nhưng nghe lắm thì cũng phiền, bèn đột ngột bùng lên rằng: Cần thì có một cái mồm đây, cần thì có một cái thân đây, cần tiền thì chẳng có đâu.  Nếu cho ăn thì ăn, chẳng cho ăn thì chúng tôi nhịn, nhịn đói, nhịn cả nửa tháng cũng chẳng rên lấy một tiếng đâu, nếu rên lên một tiếng thì chẳng phải là giống người cha sinh mẹ dưỡng nhá.  Chết đói thì vứt cho chó ăn, chó không ăn thì nuôi rồi.  Ai muốn ăn thì người ấy làm, không muốn ăn thì câm mồm đi.  Ăn một ngày tính một ngày, ăn một bữa tính một bữa, một bữa cũng không còn mà ăn thì tôi đi đầu thai, đầu thai thành ngươi tôi ăn thịt, đầu thai thành chó tôi ăn cứt, đầu thai thành lơ tôi ăn dao..
"Đấy là cái gì với cái gì hả?"  Khương Triệu Thị hét lên.  Tịnh Nghi nghe thấy xong đến phê bình chị quá là thổ phỉ, rồi thì Nghê Bình cũng tham gia, rồi thì Nghê Tảo cũng tham gia, rồi cả nhà công kích Tịnh Trân.  Rồi Tịnh Trân cười to: "Chắc là thèm rồi chứ gì?  Thèm đến chết các người rồi!  Tôi cứ ăn, cứ không cho các người đấy!"  Cuối cùng mọi người cũng cười, cảm thấy Tịnh Trân thật buồn cười, dường như lại còn hơi đáng buồn đáng khinh nữa.  Tịnh Trân cũng cảm thấy mình đã thắng rồi, không những riêng mình đã tự làm, tự ăn, mà còn khiến cả một lũ người giơ hết cả cái bản mặt xấu xa ra.  Rồi sau khi ăn bánh thịt bánh tôm tương xong, Tịnh Trân quẹt mồm thỏa thuê, mọi người cũng đi ăn thứ khác.  Sau bữa cơm không khí vẫn còn đoàn kết, ai cần nói gì thì nói nấy, còn làm gì thì làm nấy, muốn hát gì thì hát.
Cứ vậy vừa ăn vừa đấu, vừa nấu vừa ăn mấy tao mày đận rồi dần dần cũng chán phè, chằng có gì hay ho nữa liền quay ra đi lại nhiều hơn với "nóng hổi" người đồng hương hiểu sự, người láng giềng suốt ngày bận rộn, tóc tai xõa xợi cả ra.  "Nóng hổi" biết rất nhiều chuyện kiểu nhà Trương thì dài nhà Lý thì vắn, bà ta đặc biệt cần một thính giả.  Mâu thuẫn trước đây giữa "nóng hổi" với Tịnh Trân có lẽ chỉ vì bà kia thì quá cần Tịnh Trân làm thính giả, còn Tịnh Trân thì lại cự tuyệt làm thính giả cũng nên?  "nóng hổi" cũng rất cần Tịnh Trân kể lại những sự việc liên quan trong cái sân nhà chị ta, đặc biệt là tin tức xung qunh Nghê Ngô Thành.  Mâu thuẫn trước kia của họ cũng là cuộc đấu tranh giữa đòi kể và không chịu kể chuyện.  Bây giờ, về đại thể, Tịnh Trân vẫn cự tuyệt việc xung vào đội ngũ kẻ báo tin kẻ đưa chuyện trước "nóng hổi" nhưng lại rất vui lòng làm thính giả của bà ta.
Chị ta đặc biệt thích nghe "nóng hổi" kể chuyện về con "gà đồng" (gái làm tiền) ở cửa phía Đông ngõ nhà bà ta.  Con gà đồng đó Tịnh Trân đã trông thấy rồi, ả ta mặt mày u uất, trát phấn tô son, ngón tay giữa và ngón tay trỏ bên tay phải đeo hai cái nhẫn bạcn, có khi dùng hai ngón tay đó kẹp một điếu thuốc lá, đi qua trước ngõ.  Về mùa hè ả ta mặc áo xường xám xẻ cao đến tận đùi, bên tóc mai dắt một đồ ngọc trang sức hình cái quạt.  Ả đi đường cứ như không nhấc nổi chân, cứ lẹt xẹt lẹt xẹt cái kiểu đi đứng như vậy khiến Tịnh Trân nghĩ đến người bị bệnh hoa liễu, tuy chị ta cũng không thể nói tỉ mỉ bệnh hoa liễu là cái quái gì.  Tóc tai ả thường rối bù, điều đó khiến Tịnh Trân tin vào phán đoán của nóng hổi, tức phán đoán ả kia là gà đồng.  Tóc của người tử tế đâu có cái kiểu không chịu chải vuốt lên như thế?  Cái loại đầu tóc bạc phờ ấy, chả phải y như là vừa bị bọn đàn ông nó vầy vò xong hay sao?
Khi kể đến chuyện gà đồng, nóng hổi nhướng mắt nheo mày, nước bọt bắn tứ tung, nói rất hài hước, vừa nói vừa cười, cười lăn cười lóc.  Hơn nữa khi nói đến Gà đồng cái tiếng nhà quê của bà ta đặc biệt là truyền cảm, giọng nói cũng biến thành khàn đục hẳn đi, lại còn ồ ồ bắt chước các loại âm thanh, giống như người làm xiếc khẩu thuật.  Tịnh Trân cười cười lắng nghe, cũng say sưa lắm nhưng vẫn giữ được khoảng cách.  Sau khi nghe xong những lời của Nóng hổi kể về hàng loạt những sự khuyết ân đức của Gà đồng, Tịnh Trân càng đoán định Nóng hổi là người xấu, tâm xấu miệng xấu.  Chị ta nói với mẹ và em gái: "Nóng hổi chả ra của đâu, ít để ý đi!"
Nghê Tảo tan học nghe thấy những lời nói của Nóng hổi, nó hỏi dì: "Gà đồng là gì?", "Trẻ con đừng hỏi chuyện đó!"  Thái độ dì rất nghiêm nghị và không chịu giải thích.  Nhưng Nghê Tảo đã nghe ra là họ đang giễu cợt chế nhạo rủa xả một người đàn bà đáng thương.  Nó ý thức một cách mơ hồ rằng càng là những người bất hạnh thì càng thích miệt thị và chà đạp những người bất hạnh hơn mình.  Quả thật là bất hạnh trong bất hạnh.  Nó cảm thấy ngột ngạt không thở được ra hơi.
Một hôm Tịnh Trân không tự nấu cơm lấy ăn mà cũng không có sách giải trí để xem, đang ngồi một mình lẩm bà lẩm bẩm rất là vô sự, thì Nóng hổi hớn ha hớn hả chạy đến.  "Em ơi", bà ta gọi Tịnh Trân rất thân thiết, "chị mượn được một cuốn Kim tiền thần quái toàn thư đây này.  Người ta không chịu cho mượn, chị phải nịnh mãi phải lạy phải thề, thề là không cho người báng bổ thần thánh xem, mới mượn được vè đây.  Cả nhà chị đều xem hết rồi, đúng lắm, hơn cả viết ra ấy.  Em thử xem cho mình xem thế nào, chị lấy về cho em xem đấy, gần tối là đã phải trả đi rồi.  Bố chúng nó nhà chị không cho chị mang đi đâu, em biết không?"
Nóng hổi đưa ra một cuốn sách Quái thư tức sách bói quẻ in khắc bằng ván gỗ vừa bẩn vừa nát.  Lại còn cả một cái túi đựng tiền nhỏ trong có bảy đồng tiền cạch.  Bảy đồng cạch đó sắp xếp theo các quy luật khác nhau theo chữ và số, thì tổ hợp thành một trăm hai mươi tám quẻ.  Mỗi quẻ có một quẻ từ là một bài thất ngôn tuyệt cú có bốn dòng thất ngôn hai mươi tám chữ, nhưng hai mươi tám chữ đó không in cùng một trang sách.  Đầu tiên tung đồng tiền để tổ hợp thành tượng quyẻ, theo dấu hiệu của tượng quẻ tìm ra số trang và số hàng, tra chữ thứ nhất, đuôi của chữ thứ nhất có ghi chú số trang và số hàng, từ đó lại tra ra chữ thứ hai, cứ thế mà tiệm tiến, tra một hồi mới tra ra được quẻ từ, cuối cùng còn có thêm lời thuyết minh.  Phương pháp bói và tra quẻ từ, Nóng hổi đã rất nóng hổi nói đến hơn nửa tiếng đồng hồ, rất nhiều chỗ câu trước đá câu sau, cách giải thì tự mâu thuẫn đùng đùng.  May sao Tịnh Trân còn tinh nhanh nhạy bén, suy xét cân nhắc, không thày mà không, đã hiệu chỉnh những chỗ sai về truyền đạt của Nóng hổi, khiến cho Nóng hổi ngạc nhiên thán phục ghê gớm.
Sách thì cũ nát đến kinh người.  Bảy đồng tiền tổ hợp thành một trăm hai mươi tám tượng quẻ (quái tượng) khiến người ta phải thán phục.  Cái con số một trăm hai mươi tám cơ hồ có chút học vân, biết đâu đó là con số các vì tinh tú gì đó.  Quái từ (hay quẻ từ) lật lên tra xuống, tra sai một chữ là sai hết quẻ từ như vậy càng giống thiên thư (sách của trời), càng tăng thêm sự thần bí quyến rũ của sách bói toán này.  Thực ra tuy nói rằng Tịnh Trân tin định mệnh, tin vào sự thần bí của cõi u minh nhưng lại không tin gì lắm vào những trình tự phương thức của những ngẫu tượng, tôn giáo, mê tín cụ thể.  Đối với sự linh nghiêm của Kim tiền quái mà Nóng hổi nói, chị ta chưa chắc đã tin.  Nhưng chị ta cũng rất nhanh chóng bị những quẻ bói thần bí chinh phục trong quá trình thực tiễn bói quẻ và thảo luậ với Nóng hổi.
Chị ta xóc tiền đồng, hai tay bụm lại nâng những đồng tiền lên tay xóc xóc, làm phát ra tiếng lanh canh của kim loại, ngửi thấy vài phần mùi tanh đồng, miệng lầm rầm khấn khứa, rồi buông tay một cái, sắp xếp theo thứ tự điểm rơi, thì là: số số chữ số chữ chữ chữ.  Vội vã đến toát cả mồ hôi hột, rồi cũng coi là đã tra xong chữ để tìm ra quẻ từ là:
cô vân dã hạc ủy hồng trần
Đào ly phân phân tổng thị xuân.
Thương hải nguyệt minh trân hữu lệ,
Thụ cao thiên xích diệp qui cân.

Dịch nghĩa: Đám mây cô lẻ và chim hạc đồng không đếm xỉa đến bụi hông, trong cuộc sống trần gian, hoa đào hoa lý đều đua nở ấy là mùa xuân, trăng sáng trên biển xanh con trai ngọc có hạt lê, cây cao ngàn thước lá vẫn rụng về cội.
Chú giải ở cuối là: cầu quan khó được, cầu tài có triển vọng, bệnh tình chữa khỏi nhưng khó dứt được tận gốc, mất của có thể tìm được nhưng đừng sốt ruột, dễ tĩnh dưỡng, dễ tắm rửa, dễ trai giới, dễ thăm hỏi người thân, dễ kinh doanh buôn bán...
Quẻ từ này khiến Tịnh Trân giật nảy mình, mà không biết  đã thấy ở đâu rồi thì phải.  Đặc biệt là câu "Thương hải nguyệt minh trân hữu lệ" chị ta biết trong thơ Đường có câu "thương hải nguyệt minh châu hữu lệ", ở đây chỉ khác có mỗi chữ chân thành chữ trân thôi!  Trân là cái gì?  Trân là vật ư?  Trân không phải là chính chị ta ư?  Quẻ từ nằm tĩnh lặng trong cuốn sách từ đầu chí cuối, chẳng phải là đợi để chị ta bói đến hay sao?  Thương hải nguyệt minh, Tịnh Trân hữu lệ.  Trời ơi, trời ơi!
Nóng hổi hiểu văn đoản chữ kém xa Tịnh Trân, bà ta mới quấn lấy Tịnh Trân để muốn được nghe giảng giải về lời thơ trong các quẻ.  Tịnh Trân vừa định mở miệng, thì nảy ra một ý, nên nói là thiên cơ không thể tiết lộ.  Chị ta cố ý nói mình cũng không nhìn được rõ chữ lắm.
Tim Tịnh Trân đập thình thịch lên, chị ta muốn xem thêm một quẻ nữa, nếu như quẻ này mà lại có thể đóng chặt vào cảnh ngộ của chị ta, thì chị ta sẵn sàng tin tuyệt đối vào thần minh từ nay trở đi, một lòng hướng thiện.  Chị ta khấn như vậy trong khi không ngừng xóc những đồng tiền, mấy lần định buông tay, lại mấy lần muốn cầu nguyện thêm một phen để kiên định tâm ý hơn nữa, để cầu cho quẻ bói bản mệnh của mình càng thật linh nghiệm.  Cuối cùng đã xếp được một hàng: số chữ số số số số số, tượng quẻ là như vậy, độc mỗi chữ ở vị trí thứ hai, tượng quẻ chỉ mỗi một chữ đơn như vậy khiến Tịnh Trân mới nhìn đã kinh hãi, tra ra thì thấy quẻ từ là:
Tĩnh như xứ tử động như phong, (tĩnh như nơi chốn động như gió)
Hỉ nộ bi hoan phi bất đồng, (vui giận buồn mừng cũng giống nhau)
Vũ qua thiên tế phong vật hảo, (trời mưa xong trời tạnh ráo mọi vật tốt tươi)
Dục cầu hoàn dữ...

Ba chữ dưới cùng chưa tra ra được, thì cuốn sách xem quẻ kia đã bị Nóng hổi lấy đi mất.
Nóng hổi vốn định tìm Tịnh Trân để cùng bàn về những bí mật của quái thư.  Không nghĩ đến là Tịnh Trân vừa bói một quẻ là đã đâm ra nghiện, chỉ còn biết bói quẻ của mình mà gạt bà ta sang một bên.  Nóng hổi hỏi mười câu, Tịnh Trân không đáp đến một câu, tự mình ngâm nga suy nghĩ rất là say sưa thú vị.  Điều đó khiến Nóng hổi hết sức bất mãn, bụng nghĩ không biết từ lúc nào mình lại trở thành chú tiểu đồng hầu sách hầu đàn cho nó đấy nhỉ?  Thế là cuối cùng đã không để Tịnh Trân tra hết quẻ từ của quẻ bói thứ hai.
Nếu không phải là quẻ thần linh nghiệm khiến Tịnh Trân cảm thấy trong lòng sùng bái, trong lòng sợ sệt, thì chị ta chỉ muốn lập tức nhảy lên chửi cho Nóng hổi một trận nên thân.  Nhưng lần này chị ta đã cố kiềm chế bản thân.  Từ hai lần bói được hai quẻ từ (lần thứ hai còn dang dở, điều đó khiến người ta rất bứt rứt) đó, chị ta dường như có ngộ được một số ý gì đó.  Chị ta thấy được an ủi.  Chị ta lắng nghe lời thì thầm hàm hồ mà uy nghiêm của số phận.  Chị ta hiểu được cuộc sống tuy sống đấy mà cũng như chết.  Chị ta thấy thê lương lạnh lẽo quá.
Nhưng có gì mà đáng lạnh lẽo thê lương nhỉ?



Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
Trang 361 - 380 ,  Chương 17


Các ông, các bà ấy đã đón năm một chín bốn ba - năm Trung Hoa Dân quốc thứ ba mươi hai - mồng một tháng giêng năm Quý Mùi như vậy đó.  Trong tháng chạp, chính phủ Uông ở Nam Kinh ra tuyên bố: Tuyên chiến với Anh, Mỹ.  Tuy cái vở kịch rối đó chẳng có ý nghĩa là bao, nhưng vãn khiến một bộ phận người Trung Quốc sống trong vùng chiếm đóng càng thêm cảm thấy không khí căng thẳng, sinh kế gian nan.
Vì vậy ngày ba mươi Tết việc "đưa tiễn thần tài" càng được sự coi trọng của người dân thành phố.  Mới hơn ba giờ chiều ba mươi Tết, Khương Tịnh Trân đã thỉnh về một ông thần tài đỏ chẳng ra đỏ, xanh chẳng ra xanh, đưa ông thần tài cung cung kính dính dán lên tường, và dập đầu đánh đốp trước thần tài.  Cũng chỉ là cầu thần tài phù hộ mình một năm tới đây được ăn thêm mấy lần bánh thịt và đầu cừu, không thiếu thuốc lá không thiếu rượu.  Nghê Bình và Nghê Tảo nghe nói cái thứ đồ chơi kia có thể chăm lo việc phát tài, tuy cảm thấy không thể hiểu được, bán tin bán nghi, nhưng dập đầu lạy ông ta một cái cũng chẳng tốn kém gì, hơn nữa lại là một hoạt động của ngày nghỉ, biết đâu ít nhiều cũng có thể xua đuổi bớt sự buồn tẻ nhàm chán của tuổi thơ mà cha đã từng luận thuật đến một cách đau lòng nhức óc trước đây.  Nhỡ mà cái vị thần tài mặt mũi lem nhem, áo xống lung tung kia lo được một chút việc gì thì sao nhỉ?  Ít nhất cũng sẽ không tồi hơn là không cúng ông ấy chứ?  Như vậy, Nghê Bình và Nghê Tảo liền cảm thấy rập đầu lạy thần tài là một việc vui vẻ.
Kết quả, lạnh nhạt nhất đối với sự viếng thăm của ông thần tài ở nhà này lại chính là Khương Triệu Thị.  Dập đầu lạy ông thần tài, bà ta đã dập hơn bốn mươi năm!  Chưa hề thấy thần tài hiển linh bao giờ, chỉ thấy cuộc sống mỗi ngày một khó.  Đầu năm mà đã thế này, thì phát tài phát tiếc gì, thật chán chết.  Sau khi Trương Tri Ân và Lý Liên Giáp đến, tâm tư của bà ta lại càng tăm tối.
Quả thực là chẳng thấy một tia hy vọng nào.  Chàng rể đã cải tà quy chính ư?  Bà ta không nghĩ như vậy một tí nào.  Nghê Ngô Thành là sao xấu, là dị vật, là quái vật, còn không bằng bọn thổ phỉ bắt cóc tống tiền.  Cái nghề lục lâm kia cũng coi là từ cổ đã có rồi.  Chứ còn Nghê Ngô Thành thì sao đây?
Rốt cục hắn ta là cái hạng người nào chứ?
Khi một đứa bé nghèo khổ đi bán ông thần tài đến gọi cổng nhà họ, nói to lên rằng đã đưa thần tài đến rồi đây! mà Nghê Tảo lại có trả lời có rồi, không cần nữa đâu, thì bà ta cuống lên chặn ngay lại.  Sao lại dám bảo không cần ông thần tài nữa hả?  Như thế chả phải là phủi hết cả tâm ý của mình mời thần tài, kính trọng ông thần tài đi hay sao?  Đối với một gia đình lại lên tiếng không cần ông thần tài nữa, thì liệu ông thần tài có còn muốn chiếu cố, có sẵn sàng ứng nghiệm không?  Bà ta dạy cho Nghê Tảo biết, lần sau có người đưa ông thần tài đến, thì không được nói không cần nữa mà phải khách sáo một tí, phải nói một cách lịch sự rằng: "Đã mời rồi ạ!'  Như vậy ông thần tài mới không chê trách, không bực giận, không hiểu lầm.  Ôi ông thần tài sao mà nhỏ nhen hẹp bụng thế, cho dù hết cả đời cũng chả chịu hiển linh mà mình cũng không dám làm phật ý hay sao?
Rồi sau đó là làm bánh sủi cảo chay để thắp hương cúng thần chủ là bài vị tổ tông đó.  Là bài vị tổ tông họ Khương mà không phải bài vị tổ tông họ Nghê, bài vị tổ tông họ Nghê chẳng biết đi đằng nào cả rồi.
Thần chủ là mấy cái hộp mỏng hình chữ nhật màu nâu đỏ, màu sắc gần giống cái tráp đựng gương lược của Tịnh Trân.  Nhưng nó khiến Nghê Tảo cảm thấy cực kỳ thần bí.  Linh hồn trên trời của tổ tông chỉ độc ở trong những cái hộp kia thôi ư?  Họ đều là những cụ già bạc tóc bạc râu hay sao?  Họ đều ăn mặc trang sức như Khổng Phu Tử hay sao?  Họ có thể đem đến cho con cháu đời sau của mình những gì nhỉ?  Họ có thể có bao nhiêu sức mạnh nhỉ?  Nghê Tảo những muốn mở những cái hộp gỗ kia ra xem sao, nhưng mà không dám.
"Bây giờ là lúc chư thần hạ giới, chư thần có nghĩa là tất cả các vị thần đều đã hạ xuống trần gian đấy!"  Sau khi đã thắp hương và rập đầu lễ thần chủ, Khương Triệu Thị tuyên bố với cháu trai cháu gái bên ngoại như vậy.
Dường như khắp trời đều có các vị thần đang xập xoè bay liệng.  Bầu trời lạnh lẽo mà tối tối mịt mù vì có sự tĩnh lặng và chót vót cao nên càng tỏ vẻ thần bí.  Trong những làn khói nồng đặc của bếp lò, làn khói mong manh luẩn quẩn của hương và pháo tựa hồ có ẩn giấu cái gì đó thật.  Dường như đâu đâu cũng có một thứ hy vọng, một thứ kính sợ, một thứ gợi ý và một thứ tưng bừng rực rỡ gì đó.  Nghê Tảo cảm thấy có gì như sự phong phú và thăng hoa, lần đầu tiên nó biết sự quan trọng của việc ăn một cái Tết và con người đối với cái Tết cũng như một năm trời đều ôm ấp bao nhiêu là nhiệt tình và tín ngưỡng to lớn đến chừng nào.  Ngoài sân có để một đám thân cây vừng khô, dẫm chân lên nó gãy lép bép lách tách, thế gọi là "đạp toái" nghe giống như "đạp tuế" (bước vào năm mới).  Khắp nơi vang lên tiếng pháo thưa thớt rời rạc nhưng vẫn không kém phần vui vẻ.  Từ bếp lò bay ra mùi thịt thơm từng chặp từng chặp một.  Vì là ăn Tết, nên nhà Nghê Tảo bạoo tay mua một lần những một cân thịt.  Thịt đang được hầm trong bếp cùng với hạt tiêu bắc và các loại rau củ cùng với xì dầu, sôi lục cục lạch cạch.  Trong gia đình mà thường ngày rất ít có mùi thịt thà như vậy, mùi thơm của thịt hầm quả thật khiến người ta phải ngây ngất, phải xiêu hồn lạc phách.  Ngoài ra còn có một chút thịt, Tịnh Trân và Tịnh Nghi đang thay nhau mà băm bổ.  Tối ba mươi Tết các bà băm thịt làm nhân bánh, băm cứ ầm ỹ đến long cả đất lên, băm đến nhuyễn như bùn rồi mà vẫn còn băm, sau đó lại băm rau, cũng băm kêu ầm  cả tiếng dao thớt lên.  Cứ nghe mà xem, đầu tường bên này, đầu tường bên kia, đâu đâu cũng vang lên tiếng băm lách cách lách cách.
"Ba mươi Tết băm thịt nhân, là băm bọn tiểu nhân đấy!"  Dì giải thích thế.
Thật thú vị.  Hóa ra có một hạng người là tiểu nhân mà bọn tiểu nhân đó thì bị bằm nát ra như bùn trong đêm giao thừa.  Tiếng băm bọn tiểu nhân lại còn ròn hơn cả tiếng pháo nổ.
Thế sang năm thì sao?  Đêm giao thừa sang năm thì vẫn phải băm bọn tiểu nhân một lần nữa, chứng tỏ lại có tiểu nhân để mọi nhà đều băm, chứng tỏ trong mắt nhà nào cũng có tiểu nhân riêng của mình.  Tiểu nhân thật là nhiều đấy chứ nhỉ!
Sau đó thì kéo một bóng điện qua khe của cái cửa sổ có thể đóng mở từ nhà phía Bắc ra, cái sân nhỏ được chiếu sáng khiến màn đêm lại có vẻ tối hơn đi.  Bầu trời đêm đen kịt chứa đầy vẩn khói, loe loé những tia sáng yếu ớt - tựa như vẫn còn rất nhiều những cái bóng vật vờ bay qua bay lại, đó có phải là bóng dáng của chư thần không?
Nghê Ngô Thành tỏ ra rất thảnh thơi dễ chịu.  Anh ta dường như muốn hát lên, đằng hắng mấy cái liền, hát hai câu "Mãn giang hồng" của Nhạc Phi, nhưng cuối cùng không hát ra tiếng được.  Sau đó thì gọi Nghê Bình và Nghê Tảo.  Bọn trẻ đã đến ngay, anh ta nói: "Ba dạy các con học đồng dao của quê mình, đồng dao ăn Tết nhá."  Anh ta lại đằng hắng, đọc ra rằng:
Kẹo dưa cùng ông Táo
Năm mới đã đến rồi
Gái phòng khuê đòi hoa
Thằng cu con đòi pháo
Cụ ông đòi mũ đội đầu
Cụ bà đòi có giày tàu bó chân.

Nội dung của dao hơi vô vị, không thú lắm.  Anh ta lại đọc bằng cái giọng nửa Bắc nửa Nam.  Đọc xong, bọn trẻ chẳng có phản ứng gì cả, anh ta cũng thấy lúng túng.  Liền không để ý bọn trẻ nữa, cầm sách ngoại văn lên đọc, đọc một lúc, nhưng đọc chẳng vào, anh ta liền đi tìm Tịnh Nghi, nói anh ta muốn làm lễ chúc Tết bà cụ và chị vợ - Tịnh Nghi được chiều mà đâm sợ, liền đi báo cáo.  Nhị vị nói: "Để đến mồng một khi ăn sủi cảo rồi hãy hay, bây giờ không cần thiết sang đâu."  Câu trả lời của nhị vị khiến Tịnh Nghi cụt cả hứng.  Ai dè Nghê Bình vẫn đứng cùng mẹ đang mở to mắt nhìn chằm chằm vào bà ngoại và dì tự nhiên mở miệng nói một câu.   Nó nói: "Hễ mẹ con với ba con mà hòa với nhau là bà ngoại với dì con liền không vui ngay."  Câu nói đó lập tức khiến cả ba người lớn đều giật mình ngây hết cả người ra.
Im lặng đến ba phút sau, cả ba người cùng bắt đầu mắng chửi Nghê Bình.  Những câu chửi mắng khá nặng nề, chửi đến nỗi mặt Nghê Bình xạm đi như màu đất, mắt lộn hết con ngươi trắng dã ra.  Đến Nghê Tảo chưa hề nghe hết mà cũng không hay để ý nghĩ ngợi gì về nội dung những câu chửi thề đó mà tim cũng phải đập thình thịch.  Đây đang là lúc các thần hạ giới, nói cái gì đều có thể bị các thần nghe thấy, nói cái gì cũng đều có thể ứng nghiệm đấy.  Rốt cục Nghê Bình đã nói những câu đại nghịch bất đạo gì mà chuốc lấy những lời chửi mắng phẫn nộ đến thế chứ?
Nghê Bình vẫn cứ trợn mắt trắng dã, mặt xạm như màu đất.  Nhưng không ai chú ý đến nó.
Cuối cùng, nhân thịt đã băm xong, thịt đã hầm chín, thân cây vừng khô đã dẵm nát đến mức không còn thể phát ra tiếng kêu nào nữa, việc vái lạy ông thần tài và thần chủ cũng đã tiến hành nhiều lần rồi, những câu nói vu vơ nói ra hết cả rồi, giao thừa đã qua rồi, ai nấy đều đã thấy mí mắt trên cãi nhau với mí mắt dưới rồi, mọi người đã chuẩn bị đi ngủ cả.
Đúng ngay vào lúc đó, Nghê Bình đột nhiên khóc ré lên.  Đó không phải là tiếng khóc của một đứa trẻ con, mà là một thứ rền rĩ ruột xé gan vượt rất xa tuổi của nó, khóc đến đau đớn, thống thiết, quyết liệt, điên cuồng không thể tả.
Đêm ba mươi Tết, vào giờ phút cực kỳ then chốt, chỉ một tiếg khóc đã khiến toàn gia đều ngơ ngác sững sờ.  Nghê Bình đã khóc suốt nửa tiếng đồng hồ, khóc đến nỗi tất cả mọi người trong nhà đều xám mặt đi như đất.  Kể cả Nghê Tảo nữa, cả nhà đều đến khuyên giải, dỗ dành an ủi.  Mới bắt đầu, Tịnh Nghi định mắng át đi vài câu cho nín đi là xong, nhưng không có một tí hiệu quả nào.  Nghê Bình đã khóc là hai mắt trợn ngược, toàn thân rung lên, đầu tóc rũ rượi, khóc đến thở không ra hơi.  Khóc đến nước mắt nước mũi có thể vớt được từng nắm, vừa khóc vừa xỉ mũi xuống đất, xì ra khắp nhà khắp cửa, nước mắt tuôn rào rào như suối.  Trong khi khóc như thế, nó không thể nghe thấy tiếng của bất cứ ai, bất kể là nói tốt hay nói xấu.  Mọi người trong nhà đều đứng ngây đứng đực ra mà nhìn.
Nghê Tảo sợ tiếng khóc của bất kỳ ai.  Nó đã từng thấy mẹ khóc.  Nó đã từng thấy bà ngoại khóc.  Nó từng thấy dì khóc.  Thậm chí từng thấy ba khóc, nước mắt của người đàn ông cao lớn đó làm cho nó cảm thấy trong lòng như có dao cắt.  Vậy mà trong đêm giao thừa này, tiếng khóc của chị mới khiến nó thấy sợ nhất.  Đó là tiếng khóc như muốn chết, là tiếng khóc giống như chỉ độc muốn tự sát.  Đó là tiếng khóc của một kẻ yếu đang thực sự tuyệt vọng, là tiếng khóc của kẻ bị xúc phạm đến không thể sống nổi nữa.  Và tiếng khóc đó phát ra từ một bé gái chẳng lớn hơn nó bao nhiêu, phát ra từ người bạn chơi của tuổi thơ của nó, từ chị nó.  Thật là nát ruột nát gan!
Khóc hết nửa giờ đồng hồ xong, Nghê Bình lúc đó đã khản đặc cả giọng bắt đầu dùng một kiểu nói giật cục rất đáng sợ để kể lể nỗi oan khuất và thống khổ của mình.  Trước hết nó nói mọi người sao lại mắng chửi nó vào đêm ba mươi Tết, trước đây họ cũng luôn chửi rủa nó, nghĩ đến những câu thề khi họ chửi rủa nó, nghĩ tới những thảm trạng khi chẳng may nó trúng phải những câu thề độc đó, nó cảm thấy không thể nào tiếp tục sống được nữa.
Quả là khiến người ta phải giật mình sợ hãi!  Hóa ra Nghê Bình đã quá thật thà ngây thơ cho tất cả những câu chửi rủa kia là thật, hóa ra những lời chửi rủa đó lại ác độc đến thế, lại có uy lực lớn đến thế, hóa ra Nghê Bình nhớ hết tất cả lời từng người một (bao gồm cả Nghê Tảo!  nhưng không có cha Nghê Ngô Thành), ai đã từng chửi câu gì trong mấy năm qua, nó còn nhớ đinh ninh không quên ý nghĩa của từng câu chửi đó.  Hóa ra đã từng có nhiều lần đến thế, bừa bãi đến thế và vô ý đến thế trong việc chửi mắng nó, cả những câu chửi cũng cực kỳ bừa bãi tùy tiện và vô ý thức nữa.  Cuối cùng Nghê Bình đã không thể chịu đựng nổi nữa, cuối cùng đã nổi tung ra rồi, Nghê Bình cuối cùng đã phải bùng lên phản kháng.
"Tôi thấy phải đưa đến bệnh viện", Nghê Ngô Thành mặt xanh tái vặn vẹo đôi tay.  "Ba đi đi, ba hãy đi khỏi đi!"  Nghê Bình nghiêm giọng nói, Nghê Ngô Thành không dám nhiều lời, đành phải rời xa Nghê Bình, trong lòng băn khoăn không yên tí nào.
Nghê Bình tiếp tục khóc, khóc đến nỗi người khác cũng phải rớt nước mắt.
Nghê Tảo haong mang run rẩy đến an ủi chị rằng: "Bất kể là ai, tất cả những câu chửi mắng chị, những câu thể độc kia, đều không tính nữa, tất cả đều không trúng đâu, chị đừng khóc nữa, hoàn toàn không tính, hoàn toàn không chứng nghiệm!"
"Hoàn toàn không tính, hoàn toàn không nghiệm!"  Nghê Bình trợn tròn mắt hỏi.
"Hoàn toàn không tính, hoàn toàn không nghiệm!"  Trả lời cùng một câu như của người hỏi.
"Bà nói đi, nghiệm hay không?"  Nghê Bình đột nhiên nhảy dựng lên, nhảy đến trước mặt bà ngoại, nắm lấy ngực áo, thở hồng hộc mà nói.
"Nói không nghiệm nhanh lên, nói không nghiệm nhanh lên!"  Tịnh Trân và Tịnh Nghi cùng nhau giục giã.
"Không nghiệm một ngàn lần, không nghiệm một vạn lần không nghiệm!"
"Nếu mà nghiệm thì sao nào?"  Nghê Bình truy hỏi đến cùng, dáng vẻ của nó càng đáng sợ, khiến cho Khương Triệu Thị người đã từng trải hết các loại cảnh đời cũng phải rùng mình lên một cái.  Dù sao con bé cũng là đứa cháu ngoại thương yêu bà nhất cơ mà.  Đã vậy, vừa rồi người mà Nghê Bình nhớ lại là đã chửi mắng nó nhiều nhất, lại chính là bà ngoại.  Ai mà biết được thế này là thế nào cơ chứ?
"Nếu mà nghiệm thì bà là người đầu tiên trúng!"  Khương Triệu Thị hăng lên nói.
"Được!  Một mình bà trúng nghiệm, một mình bà trúng nghiệm, một mình bà trúng nghiệm!"  Nghê Bình giơ bàn tay như cẳng gà của mình ra, đưa ngón tay trỏ chỉ vào tận mũi Khương Triệu Thị nhấn đi nhấn  lại câu đó.  Sau rồi "một mình bà trúng nghiệm" biến thành một câu thần chú, Nghê Bình càng nói càng nhanh, thành ra bà chúng em bà chúng em bà chúng em... Nghê Bình nhắm mắt lại mà niệm hàng ngàn hàng vạn lần.
Toàn bộ tư thế và lời lẽ trở thành lạ lùng kỳ quặc như vậy.  Tịnh Trân cố nhìn mà vẫn bật ra một tiếng cười qua đằng mũi.
Nghê Bình đang nửa nhắm nửa mở mắt mà niệm thần chú nhưng vẫn giữ được cảnh giác cao độ.  Tiếng cười phát ra từ lỗ mũi bà dì lập tức bị nó nghe thấy, nó buông bà ngoại ra, ngồi phệt xuống đất, hai tay lại khua khoắng cào cấu như điên, hai chân dậm đạp loạn xạ miệng khóc thét lên, nước mắt nước mũi lại ràn rụa ra đầy quần đầy áo đầy đất.
Chúng nhân đều mắng Tịnh Trân, Trịnh Trân cũng hăng lên mà gào to: "Đó là dì không phải, dì sai rồi, tự dì phải tát vào mồm!"  Vừa nói chị ta vừa định đánh vào mồm mình, Nghê Bình nhao mình đứng dậy, dùng tư thế như vừa nãy đối với bà ngoại, túm lấy ngực áo của bà gì, chỉ vào mũi dì, hỏi như quan toà hỏi tội câu "nghiệm hay không" và nhận được câu trả lời hài lòng rồi, "mình dì trúng nghiệm".. "dì chúng em" cứ thế mà niệm thần chú tên.
Đại khái ước độ ba phút, mọi người đều nghiêm chỉnh yên lặng ngồi nghe.   Sau đó lại quay trở về chỗ bà ngoại, không hỏi gì thêm, chỉ niệm bổ sung thêm mấy trăm lần "bà chúng em".  Rồi sau đó là đối với mẹ, cuối cùng là đối với em trai, em trai cũng tuyệt đối không thể là ngoại lệ gì cả.  Nghê Tảo kinh hồn bạt vía thừa nhận ngay tất cả những câu chửi mắng trước đây chính là chửi mắng mình, nhận lấy "mình em trúng nghiệm".  Cuối cùng nói lại nhấn mạnh rằng: "Không chỉ những câu mắng chửi chị em bị trúng nghiệm, tất cả những câu dù ai chửi mắng chị, nếu có nghiệm cũng trúng vào em hết.  Thế không được ả?"
"Không cho phép", "Thế không được à?"  Nghê Bình giọng khản đặc kêu lên như vậy, mắt nó lại quắc lên tròn xoe - Nghê Tảo bèn liến thoắng vâng dạ.
Sau khi thi hành "chống chửi" đối với từng người một xong, Nghê Bình đứng giữa nhà mé Tây, giang hai tay giống như đuổi gà vậy, hướng lên trời hướng ra ngoài mà đuổi, vừa đuổi vừa kêu to "úi xùy, úi xùy".  Nó tự giải thích rằng, nó làm thế để đuổi tống hết những câu người ta chửi nó đấy, đuổi hết những câu chửi thề đe doạ cuộc sống của nó, những câu chửi thề luôn làm vướng víu phiền nhiễu linh hồn của nó.
Rồi sau đó từ từ bình tĩnh trở lại, rồi lấy nước rửa mặt.  Rồi là đi lấy một ít tro xỉ than trong lò rắc lên chỗ nước mắt nước mũi trên mặt đất, gom lại, quét đi.  Rồi Nghê Bình chuẩn bị đi ngủ, xếp chăn chiếu của mình... Tự nhiên nó gập chăn của mình lại thành một khối vuông nhỏ, mà gập rất vuông vắn bằng bặn, lấy tay vỗ, lấy tay đo, vuốt bên nắn góc, cực kỳ cẩn thận không cẩu thả một ly.  Tịnh Nghi thấy nó gập thành nhỏ và ngắn như vậy thì có ý kiến, nó nghiêm giọng nói: "Nói ít thôi!"  Trên mặt nó thể hiện một vẻ quyết liệt, có thể bất chấp tất cả để làm lại từ đầu.  Không ái dám nói thêm gì khác nữa.  Mọi người lẳng lặng rời đi.  Nghê Bình liền cứ thế mà chui vào khối chăn vuông vắn kia, cuộn thu lu thành một cục mà ngủ qua đêm giao thừa.
Từ tối hôm đó trở đi, tối nào trước khi đi ngủ Nghê Bình cũng phải làm một lần như vậy, lôi mẹ, dì, bà ngoại, em trai đến nhà phía Tây, rồi chất vấn, niệm chú, đuổi gà, gập chăn, tiến hành toàn bộ các khoa mục không sót một ly nào.  Hơi có một chút xíu bất như ý là liền giãy đành đạch lên, gào khóc kêu la, đầu năm mà làm như vậy, đến một người gan góc như Tịnh Trân cũng không dám dở một bài nào khác.
Tối mùng hai Tết khoa mục niệm chú đang sắp hoàn thành, Tịnh Nghi bỗng thở dài một tiếng, thốt ra một câu: "Mẹ của tôi ơi!"  Lập tức tất cả không được tính nữa, bỏ đi hết, bắt đầu khóc lại từ đầu, quấy phá ne nét lại từ đầu.  Sắc mặt Nghê Bình xạm xanh, rắn đanh lại, cơm cũng ăn uống qua loa thôi.  Một đứa trẻ con mà có sắc mặt và dáng vẻ như vậy, quả là khiến người ta phải rùng mình.  Nghê Tảo thì nhất định cho rằng chị nó sắp chết rồi.  Nói gì với chị ấy cũng không lọt tai nữa rồi.  Mùng ba Tết có một cô bé ở cùng trường đến tìm Nghê Bình.  Nghê Bình gặp bạn học vẫn còn nói nói cười cười, không hề có gì dị thường, điều đó làm cho Nghê Tảo thấy nhẹ trong lòng đi một ít.  Người bạn kia vừa đi khỏi, nét mặt và thần thái Nghê Bình lại lập tức xạm xanh vào.  Nghê Tảo cảm thấy thật là đau lòng không chịu được.
Nên đưa Nghê Bình đi bệnh viện.  Nghê Ngô Thành đề xuất như vậy, liền nhận được sự phản đối nhất loạt của cả nhà.  Nếu cần đi bệnh viện thì chính anh phải đi trước ấy, Tịnh Nghi nói.  Đúng đấy, tôi cũng nên đi đấy.  Ở Trung Quốc, ít nhất có một phần ba số người mắc bệnh thần kinh nhá, Ngô Thành giận dữ nói vậy.  Ở cái nước ngoài của anh kia thì sao nào?  Nước ngoài của anh thì hay lắm đấy phỏng?  Tôi thấy cái nước ngoài của anh đến hai phần ba là điên đấy!  Tịnh Nghi giả môi giả miếng "nói mới hay cực kỳ chứ!" Ngô Thành hưng phấn hẳn lên, "Hơn mười năm rồi, chưa bao giờ cô lại nói được một câu thông minh như vậy đấy!"  Nghê Ngô Thành tán tụng một cách chân thành "Tôi chỉ muốn nhổ vào anh một bãi!"  Tịnh Nghi trả lời.
Cái đoạn nhạc xen giữa giờ đó của Nghê Bình để lại trong lòng Nghê Tảo một vết thương tình cảm đau đớn nặng nề.  Đến lúc đó nó mới biết sự lợi hại của lời lẽ, sự lợi hại của việc chửi mắng.  Sau này khi đã lớn, nó cũng biết sự lợi hại ghê gớm của "đại phê phán".  Anh ta đã làm về ngôn ngữ học, anh ta luôn cho rằng đó là một chuyên đề có ý nghĩa cực lớn, nên nghiên cứu một chút về các câu chửi trong ngôn ngữ các dân tộc trên thế giới, bao gồm cả các câu rửa.  "Đại phê phán" cũng là một kiểu nguyền rủa, nguyền rủa về chính trị.  Ở đó cũng có phản ánh về văn hóa, phản ánh tính dân tộc, mang đầy đủ màu sắc địa phương độc đáo, bao hàm cả mê tín, bao hàm cả ức chế tính dục và bạo hành về tính dục, bao hàm cả chủ nghĩa AQ...
Khoa mục thường xuyên của Nghê Bình giống như đám mây đen che phủ bầu trời của cái sân nhà bọn họ.  Nhưng khoa mục như vậy đã lại được chấp nhận dễ dàng, đã thành ngay thói quen hàng ngày.  Mỗi buổi tối họ đều tụ tập tại nhà phía Tây, nín lặng mà tiếp nhận khoa mục của Nghê Bình, sau khi hoàn thành thì muốn nói gì thì nói, muốn cười gì thì cười, muốn ăn gì thì an, muốn uống gì thì uống.  Chỉ cần trong quá trình tiến hành khoa mục, giữ được thái độ nghiêm túc, trong khi tiến hành khoa mục tuyệt đối không cho phép xao nhãng bất kính, sau khi hoàn thành bài vở rồi, mọi người thể hiện ra sao Nghê Bình cũng không để ý nữa.  Về việc phản bác những câu chửi thề, có lẽ cái tiết mục đó trong cả khoa mục là có thể dễ lý giải hơn cả.  Đó là một cuộc chiến tranh thần kinh, là một kiểu kháng nghị giữa thần kinh với thần kinh.  Nhưng việc gập chăn thì là thế nào nhỉ?  Tại sao lại cần đến mười phút, hai mươi phút, lại gập hết lần này đến lần khác chứ?  Tại sao lại phải gập ngay ngắn, vuông thành sắc cạnh như vậy?  Tại sao lại phải gập nhỏ như vậy, lại hoàn toàn không quan tâm đến chiều cao của mình?  Nhìn thấy một đứa trẻ hơn mười tuổi như Nghê Bình đang chui vào cái chăn nhỏ bé đến như vậy, thực sự là người khác cảm thấy đau đớn và tàn khốc thế nào ấy.  Người ta thậm chí không thể tin là nó có thể, nó cần phải, nó không chui vào cái chăn gấp vuông quá nhỏ đó thì không thể được.  Không kể là lúc đó hay là sau này, việc đó đều khiến Nghê Tảo cảm thấy phải nghĩ đến nát óc mà vẫn không lý giải nổi.  Nó đã từng thử thảo luận một chút với chị nó về việc này.  Nhưng nó vừa mở miệng, chị đã quay đầu lại lườm nó một cái.  Nét mặt và ánh mắt của chị khiến cái lưỡi của nó lập tức cứng đơ.
Ngày tháng kéo dài khoa mục thường xuyên của Nghê Bình cũng dần dần có xu hướng nhạt nhẽo trùng lắp đơn điệu, dường như biến thành sự ứng đối theo thói quen, không còn có không khí kinh hồn bạt vía như lúc ban đầu nữa.  Cuộc chất vấn và niệm chú của Nghê Bình cũng dần dần rút ngắn thời gian cần thiết đi rất nhiều, việc gập chăn về sau cũng dần dần không còn quá cẩn thận, quá ngay ngắn và gập thành quá nhỏ như trước nữa.  Nghê Tảo cảm thấy may mắn, giống như cái tai nạn đó xảy ra một cách âm thầm kỳ quặc, rồi cũng sẽ tan đi một cách lặng lẽ mơ hồ vậy.
Vào đúng lúc như vậy, một ngày sau Tết nguyên tiêu rằm tháng giêng, trong khi Nghê Bình đang chất vấn bà dì bằng một nét mặt đã bình thường trở lại rất nhiều rồi, thì bỗng bà dì lại buồn hắt xì hơi.  Cái việc hắt hơi của Tịnh Trân vốn không bình thường tí nào.  Mỗi lần sắp sửa hắt hơi, chị ta liền cảm thấy trong khoang mũi, khoang miệng, mu mắt, xương gò má và toàn bộ khuôn mặt đều ngứa ngáy kỳ lạ, dường như có một cục bông nút chặt vào lỗ mũi vậy.  Chị ta tức thở, chị ta buồn hắt hơi ghê gớm, càng không hắt hơi ra được thì càng ngột ngạt đến khó chịu, càng ngột ngạt khó chịu càng ngứa ngáy tợn.  Ngứa ngáy ngột ngạt giống như có một con rắn nhỏ bò vòng quanh mặt, thế là cái cơ thịt hai bên sống mũi dưới mắt chị ta cứ giật giật muốn co thắt lại, co thắt đến nỗi mắt trái phải nháy, mắt phải cũng nháy, cả hai mắt cùng nháy, rồi toàn bộ khuôn mặt đều rung giật lên như cơn thần kinh.  Có khi bên trái mặt co thắt lại thành một nhúm gồ lên, mà bên mặt phải vẫn còn bằng phẳng.  Một nửa giây sau mặt bên trái giãn ra, thì mặt bên phải lại rúm lại thành cục.  Như vậy trên khuôn mặt liền hiện ra sự biến đổi không ngừng, cho dù là một diễn viên thiên tài cũng không thể điều khiển được các cơ mặt để thể hiện những tình cảm tâm trạng đặc biệt và đa dạng như vậy.  Mỗi lần gặp tình huống kiểu như vậy, Khương Triệu Thị không phản ứng gì, Tịnh Nghi và hai đứa trẻ khi nhìn chị ta như thế, không thể nhịn được, bất giác bật cười.  Động tác khi sắp sửa hắt hơi của Tịnh Trân, tự nhiên trở thành một trò vui để hai đứa trẻ thưởng thức.  Trải qua khoảng độ ba giây của cái động tác ngứa ngáy đó, Tịnh Trân bắt đầu vừa co cơ mặt vừa liếm lưỡi và nhổ bọt một cách vô thức.  Trong tình huống đó, nước bọt chị ta nhổ ra rất ít, kém xa cái lúc nhổ vào buổi sáng khi rửa mặt chải đầu, chị ta vừa nháy mắt vừa phát ra tiếng phì phì làm động tác của môi và lưỡi khi nhổ bọt, nước bọt bắn ra chỉ là chấm nhỏ li ti thôi.  Như vậy thêm vào độ một giây nữa, mới hắt xì một tiếng, xong một cái hắt hơi, khiến cho người xem cũng thở ra một hơi dài, cùng chia xẻ sự khoái trá là rốt cục chị ta đã hắt xì hơi ra được.
Nhưng đôi lúc cũng có một tình huống khác xảy ra.  Tịnh Trân chịu đựng cơn ngứa ngáy đến phát cuồng xung quanh mũi chị ta làm ra các quái tướng trên mặt khiến người ta phải buồn cười đến phun cơm ra, nước bọt phì ra một tia hai chấm rồi lại một chấm hai tia... Cuối cùng lại không thể hắt xì hơi ra được.  Điều đó thật là đáng tiếc biết bao!
Lần này cuộc chất vấn của Nghê Bình đối với Tịnh Trân đã sắp kết thúc.  Tịnh Trân bỗng buồn hắt hơi.  Cơ thịt hai bên sống mũi của chị ta đã bắt đầu giật giật, nhưng Nghê Bình chưa nhận thấy ngay.  Bà dì bỗng nhiên từ chối trả lời chất vấn của nó, điều đó khiến Nghê Bình đau khổ và phẫn nộ "Dì thế này là làm sao hả?  Làm sao dì lại không nói năng gì nữa chứ?"  Nó kêu gào lên một cách đau đớn, nó đẩy dì nó, lắc dì nó.  Dì nó không nói ra lời được, lại vì có sự quấy nhiễu của nó mà không tiếp tục và tăng cường cuộc vận động cơ mặt được.  Chị ta cứ trợn mắt mà nhìn đứa cháu gái, không ơi hời được một tiếng nào, giống như cố tình giả câm giả điếc.  Nghê Bình khóc to lên, đồng thời lấy đầu của nó húc vào dì của mình.
Kết quả Tịnh Trân không hắt xì hơi ra được!  Tịnh Trân tức giận ghê gớm đến nỗi bùng lên như sấm.  Chị ta tuyệt đối không thể tha thứ ai gây nhiễu việc hắt hơi của mình cũng như không tha việc gây nhiễu khi đang rửa mặt chải đầu.  Người khác có thể xem mà cười ha ha lên, có thể chế nhạo, có thể chờ khi xong việc rồi tha hồ khuyên bảo, góp ý hoặc nói những câu rỉa rói xỉ nhục ngay vào mặt nhưng đang trong lúc đó thì tuyệt đối không được cản trở quấy nhiễu gì cả.  Khi chị ta hắt xì hơi xong, Tịnh Nghi đã từng phát biểu cảm tưởng rằng: Ôi mẹ ơi, quả là quân yêu quái!  Câu bình phẩm gay gắt đến thế mà Tịnh Trân nghe rồi cũng chỉ cười hì hì mà thôi.
Nhưng ngay lúc đó Nghê Bình đã gây nhiễu phạm vào điều cấm kỵ lớn của chị ta, chị ta mắng chửi ngay: "Cái con bé chết tiệt kia, sao ngày nào cũng giày vò bà như thế!  Mình mày chán sống rồi thì đi mà nhảy xuống giếng đâm đầu ô tô, suốt ngày ngồi đây tốn cái gì hả!  Điên không ra điên, ngây không ra ngây, dính tà phong ở cửa nào đấy không biết.."
Có thể thấy ngay được sự phản ứng của Nghê Bình.  Nó lăn lộn ra khắp mặt đất, cuối cùng khóc đến nghiến răng cắn lợi, miệng sùi bọt trắng toàn thân run giật, thở không ra hơi.
Tịnh Nghi thương con đến đứt ruột lập tức dùng cả một bài chửi rủa như "không có bụng dạ con người" "hiểm độc" "khuyết âm (đức)" "hạ độc thủ với trẻ con" có chị trúng tà phong thì có, chính chị là đồ điên "không được chết tử tế"...  để đối đầu với bà chị.  Còn có thể thế nào được nữa?  Một cuộc hổn chiến, Nghê Tảo cũng đứng về phía chị và mẹ mà nói.  Khương Triệu Thị có vẻ bề ngoài siêu thoát, tựa như khuyên giải cả đôi bên, nhưng lời lẽ thực tế thì lại bênh Tịnh Trân, điều đó càng gây ra sự phản bác của Tịnh Nghi, sự gầm gào của Tịnh Trân và sự kêu khóc của Nghê Bình.
Cuối cùng mọi người đều mệt rồi, đều tắt hết rồi, phê đấu lẫn nhau cũng xong rồi, đều thảy cần phải đi ngủ.  Đột nhiên không đoán trước được Nghê Bình vẫn ngoan cường và bình tĩnh bước tới trước mặt dì, ngửa cổ nhìn thẳng vào mặt dì, tiếp tục cuộc chất vấn của thời tiền chiến.
Tịnh Trân cũng rất lạ lùng, đã tỏ thái độ bình tĩnh và hợp tác, hoàn thành cuộc chất vấn một cách hết sức qui củ.
Khoa mục của ngày hôm đó, vẫn theo đúng nghi thức mà hoàn thành vào lúc đêm khuya.  Lúc Nghê Tảo đã nằm xuống ngủ rồi, nó mơ màng nghe thấy tiếng hắt xì hơi một cái, nó cảm thấy đấy là một hạnh phúc trong bất hạnh.
Ngày hôm sau mới sáng sớm, Khương Triệu Thị và Tịnh Trân tuyên bố họ phải về quê có việc, nói xong Tịnh Trân liền đi ra khỏi cửa ngay để mua vé tàu.
Tịnh Nghi tối hôm trước mới bắt đầu hạ được hỏa, cô cho rằng họ tuyên bố về quê là để ra oai dọa dẫm thôi nên chẳng để ý gì.
Buổi trưa Tịnh Trân ngồi xe Tây trở về nhà, trong tay cầm hai tấm vé tàu hỏa.  Lập tức không khí có thay đổi ngay.  Cả một buổi chiều, ba mẹ con Khương Triệu Thị chìm đắm trong bầu không khí biệt ly đầy tình cảm nồng ấm.  "Mẹ với chị chỉ đi ít ngày thôi, nhiều thì hai ba tháng, ít thì dăm bữa nửa tháng là lại về."  Khương Triệu Thị nói.
"Hai người trở về nhanh nhanh một tí nhá..  Đừng nghĩ đến cái chuyện đánh nhau nữa, nói đi là đi, làm đến nỗi con hết cả hồn."  Tịnh Nghi nói, mắt đỏ hoe lên.
"Cái đấy con nói làm gì, chúng mình là ruột thịt, là chân với tay... Nhưng việc ở quê cũng phải đi xem xem thế nào.  Trương Tri Ân, Lý Liên Giáp cũng coi là không dễ có, nhưng dẫu sao chủ nhà mà không có người là khác lắm.  Một chút đất kia của nhà ta, bây giờ càng ngày càng chẳng đáng kể gì nữa rồi."  Tịnh Trân vừa nói vừa không ngớt thở dài.
Sau đó lại nói một hồi những câu thông cảm biết điều quan tâm, chu đáo với nhau nữa.  Tịnh Nghi chỉ chỉ sang nhà phía Bắc nói: "Lấy phải cái đồ chẳng ra kiểu gì, thì còn biết làm sao đây?  Ai biết được một canh giờ nữa thì anh ta sẽ làm gì?  Hai người đi rồi, con có việc gì thì biết tìm ai?"  Tịnh Nghi cuối cùng đã òa lên khóc.
"Nói gì thế nào, nói gì thế nào!"  Tịnh Trân thở dài mà nói "Gặp phải việc gì thì em cũng nhớ, phải cố mà giữ bình tĩnh đừng tức bực.  Có sập trời xuống thì em cũng phải gữ được chủ ý của mình.  Em gái cứ yên tâm, chị với mẹ đi rồi lại về mà.  Sản nghiệp họ Khương là của ba mẹ con ta, bọn vớ vẩn nào cũng không thể động được vào một xu ở đó!  Chị thì sao nào, chị chẳng có con trai con gái, sống ngày nào hay ngày ấy.  Mẹ chúng mình cũng chẳng có ai khác đâu.  Em ạ, chồng em tuy chẳng ra cái của gì, nhưng em có con trai, em có con gái.  Chúng ta ngoài việc dựa vào em, hy vọng vào em thì chẳng còn chỗ nào mà dựa dẫm mà trông mong nữa cả!  Em yên tâm đi, chị sẽ vì em, vì cháu Bình cháu Tảo, hai tay cắp hai đao, muôn chết không từ, trên là núi đao, dưới là vạc dầu, cũng không hề chớp mắt đâu nhá!"
"Em chỉ không yên tâm về mẹ thôi, đi đường nhỡ ra..."
"Có chị cơ mà, chị vừa là đàn bà kiên trinh tiết liệt vừa là con hiếu thảo...  Nếu mà chị không vì mẹ, vì em với cháu thì hai trăm năm trước đã thắt cổ mà chết rồi, dây thừng chị đã kiém sẵn mấy sợi rồi đấy chứ..."
"Đấy lại nói những câu điên khùng lên rồi!"  Khương Triệu Thị trách cứ Tịnh Trân.
"Đó là ví dụ thế thôi mà."  Tịnh Trân quệt nước mắt trên gò má, lại thở dài một tiếng ngao ngán.
"Nhưng bây giờ trời vẫn còn lạnh, lại có gió bắc..."
Giờ phút cáo biệt, ba người đàn bà và hai đứa trẻ đều rơi nước mắt.  Hai chị em họ Khương cứ dặn dò đinh ninh ngàn câu vạn điều mãi, rồi lại khóc lên mấy tiếng, cuối cùng người phu kéo xe phải giục rằng, nếu cứ không chịu đi thì ông ta sẽ bỏ mặc, lúc đó mới gạt lệ mà chia tay.  Khi chiếc xe bắt đầu lăn bánh Nghê Bình khóc ré lên, miệng cứ há hốc ra.  Người phu xe áo xống rách rưới, áo quần bông buộc thắt chặt chẽ, quay đầu lại nhìn Nghê Bình bằng một ánh mắt dị thường.


Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
Trang 380 - 400   Chương 18

"Hoạt động biến nhân hình" của tuổi thơ mình, đầu người, hình và bóng biến hóa một cách lạ lùng!  Trong khi sắp sửa đi vào giấc ngủ hoặc sắp tỉnh lại, chẳng phải thường có sự ẩn hiện của những hình bóng đó hay sao?
Vẻ mặt.  Mặt gầy tựa như đang biến thành mặt béo, trẻ con đang biến thành ông già.  Mặt buồn thường trong chớp mắt thành ra mặt lơ láo buông tuồng.  Lưng còng đi với cười sằng sặc.  Có tiếng tăm sinh động đi với thở dài lặng lẽ.  Sự ngố nghếch của trẻ thơ kia đi với cái mồm ha há ra như cá chết.  Kẻ đắc ý dương dương kia đi với kẻ rên rĩ vì đau khổ.  Những kẻ không có hình ảnh, tinh thần tình cảm cố định.  Tựa hồ đều đáng nói: Rốt cục chúng tôi có thể chịu đựng được bao nhiêu đau khổ?  Chúng tôi đã từng sống như thế nào?
Rồi sau đó là sụp đổ ầm ỹ của nhà cửa.  Đó là một buổi trưa dài dặc của mùa hè.  Giấc ngủ trua dài dặc tựa hồ đã khiến mình rời khỏi dương thế một thời gian.  Sau giấc ngủ trưa như vậy mà còn có thể tỉnh lại là một điều không thể tưởng tượng, là vạn phần may mắn đấy.  Tuổi thơ của mình bị đè nặng dưới những mệt mỏi rã rời từ âm tào địa phủ đen tối.  Sau khi tỉnh giấc mình vẫn không biết mình đã thực sự tỉnh lại chưa.  Ít nhất là mình cũng đã không biết mình có còn giữ được chính bản thân mình không?  Mình nghi ngờ mình không biết có thể từ nằm chuyển sang ngồi được hay không?  Mình nghi ngờ bản thân có phải đã biến thành nhân hình hoạt động biến màu vặt và chia làm ba đoạn đầu, thân, đuôi riêng biệt hay không?  Huống chi còn có tiếng ve ngân nga kéo dài đến vô cùng không ngừng nghỉ?  Huống chi "các ông các bà làm ơn làm phúc, có cơm thừa cho một miếng nào..."  Tiếng kêu xin của người ăn mày cũng trở nên uể oải cũng thuỷ chung với thế giới.  Huống chi cả một thế giới đang đầy ắp những ánh sáng trắng chói mắt.  Ánh mặt trời của mùa hè sao nhiều và quá thừa thãi đến thế.  Huống chi lại có tiếng rao của người bán kem và tiếng hát kinh kịch từ đâu vọng tới và tiếng ca ngâm những ca khúc lưu hành khi có khi không thi thoảng từ rất xa vọng tới.  Tiếng rao kia, tiếng hát xướng, tiếng ca ngâm kia lại cũng giống tiếng ve xin xỏ, sao mà chua xót đến không thể nào chịu được.  Ánh sáng trắng của mùa hè cũng chất đống và đầy phè ra như vậy.  Thành tai hoạ.
Lúc đó là lúc trờ về sau khi đi ra khỏi khoảng sân của người thân.  Người thân mang về mấy bắp ngô non luộc thơm phức.  Ngô bẹ xanh ngô non cứ khăng khăng cố gọi ngô già, không biết có phải là bé gái nhỏ gọi là vú già không.  Cái ngọt thơm của non xanh tựa như đã phục hồi những sức sống của mình.  Mình vẫn còn nhỏ dại, mặt mình vẫn còn bấm ra nhiều sữa hơn ngô xanh kia đấy.  Mình chẳng biết tại sao lại đã ngồi dậy được.  Lúc đó mới nghe thấy tiếng rao "ngô già đợi nào".
Mình duòg như không há nổi miệng ra.  Không biết vì sự mỏi mệt của cái mồm hay vì nước bọt đã biến thành keo dính, dán hai môi của mình vào với nhau rồi.  Chắc trưa nay mình đã ngủ đi mất hàng thế kỷ rồi.  Có lẽ mình đang thay răng, đã rụng mất răng cửa rồi chăng?  Lâu quá rồi, không nhớ rõ nữa.  Khi thay răng phải ném cái răng sửa đã rụng lên mái nhà, phải ném lên thì mới làm cho răng của người lớn chóng mọc lên được.  Cái hặt trắng nhỏ màu trắng dính vết máu đáng thương kia, chính nhờ cái hạt nhỏ như vậy mà đã từng ăn những mấy năm giời cơm của nhân gian đấy, vậy mà nó lại ủng hộ một nhân hình đang biến hóa.  Không có răng cửa thì gặm sao nổi ngô già, nhưng rồi cũng có mấy hạt ngô đã bị gặm ra.  Đúng vào lúc đó đã nổ đùng một tiếng.  Cứ như sấm nổ vậy, là một tiếng sấm uy nghiêm và phẫn  nộ.  Rồi đổ xuống một trận mưa to, một trận mưa đất và tro.  Nhà sập rồi, người nào đó hét lên một tiếng.  Người đó khiến mình nhớ đến một hình tượng nhân vật trong cuốn sách bịa đặt ra.  Có lẽ có một loạt tiếng kêu la.  Mình không hề sợ hãi một tí gì.  Thậm chí mình còn không hé mắt, chỉ cảm thấy trên đầu trên mặt trên vai trên tay lập tức bị đổ đầy một lớp hồ bột.  Có một thứ mùi tanh.  Người thân kia bế bổng mình ra nhanh như bay.  Lại một tiếng nổ lớn ầm vang hơn, kèm theo một tiếng "rắc" khô khốc của cái gì đó bị gãy, và tiếng rơi vỡ xuống đất xong vỡ vụn ra, ầm oàng, ào ào, lạch tạch, rầm rầm.  Thằng bé này bị đập gãy răng rồi!  Vang lên tiếng kêu thét của mẹ.  Rồi nhìn ra không phải răng, mà là hạt ngô già dính vào cằm, mà hạt ngô lại vãi đầy ra đất.  Việc đó trở thành câu chuyện thú vị cho đến tận sau này, trở thành sự ấm áp như chuyện chiếc răng sữa bị ném lên mái nhà của tuổi thơ, và sự hài hước nữa, có lẽ vậy.
Mà sự hứng thú của mình lại ở "cái nhà" đã bị mục nát đổ sập mất mái đó.  Cái nhà đó đã nên sập đi từ lâu rồi, cái nhà đó sập được là hay!  Dù mình có bị đè chết trong đó cũng vẫn cười thích thú vì sự sụp đổ của nó.  Cái nhà bị sập mất một mảng mái to lại hóa ra sáng sủa và thoáng mát tợn.  Tuy rằng ở đó cũng giống một cái miệng bị thương vấy máu loang loang.  Manh chiếu rách xung quanh che trên mái trông như mảnh da bị lở lói.  Cái cột rui một bên mái vừa bị gãy chòi ra ngoài trông như xương bị lòi ra khỏi da.  Từng tầng đầu dao bằng đất trộng vôi rớt xuống đất trông như cơ thịt bị cắt ra từng mảng một.  Lại còn những mảnh bìa làm trần nhà màu nâu đen rách tả tơi nữa chứ!  Đại khái như căn bệnh ác tính đã lâu năm bên trong nay mới lộ - Vì từ năm nào tháng nào chẳng biết, đã từng hứng chịu một hay nhiều lần mưa dột, cái trần dán giấy loang loang lổ lổ, giống y như cái chiết lót đầy vết nước đái khi mình còn ẳm ngửa.  Đất bụi đang đắp đầy mặt đất giống như khói như sương mù như tuyết.  Ánh nắng chiếu rọi khắp căn buồng nhỏ quanh năm tăm tối không bao giờ nhìn thấy mặt trời, lẽ ra căn buồng này cũng có thể sáng như thế này chứ.  May mắn sao trong lần sập nhà đột nhiên như thế này không có thương vong nào cả, có lẽ tổn thất lớn nhất là những hạt ngô già lấm bụi của mình.  Vui thế!
Rồi tất cả bị vùi lấp vào nơi rất sâu của dĩ vãng, dĩ vãng đã chôn vùi bên dưới địa tầng.  Trên địa tầng đã dựng lên bao nhà lầu mới, có mái chắc chắn.  Đường mới làm, ngựa xa như nước chảy.  Hoa tươi như gấm, pháo nổ tạch đùng, cờ đỏ bay phần phật, hết lớp này đến lớp khác như dậy sống.  Cơ hồ đã không còn người trẻ tuổi nào biết được chúng ta đang bước chân trên đống đổ nát ra sao.  Cơ hồ không còn nhiều người chú ý nền đất dưới chân ta đã chôn lấp những thứ gì.  Việc nhớ lại chí ít là do quá rỗi rãi, nếu không phải là đáng xấu hổ nữa.  Ký ức đã bước qua những bước dài tự mình nhớ lại cũng còn cảm thấy ngại ngùng.  Có thể còn ảnh hưởng đến sĩ diện của mình, tổn hại đến sự lớn lao của con người trước nay chỉ đảm nhiệm những công ta việc lớn.  Giống như cái xác có được khai quật ra, nếu không phải vô trí thì sẽ cảm thấy không có đất để dung mình.  Xác đàn bà đời Hán và xác đàn ông đời Đường khôn hề yêu cầu gặp gỡ với người hiện đại, đối với họ thì tốt nhất là cứ để cho lặng lẽ mà tiêu đi.
Tất nhiên nếu mình gặp phải thời khác của ký ức cũ kỹ khiến người ta phải ngượng ngùng, thì liền giống như chiêm ngưỡng xác ướp cổ.  Mình không tự tại nữa.  Mình vừa muốn bỏ chạy lại vừa muốn đến gần xem một cái.  Mình buồn bã bâng khuâng.  Mình cảm thấy sự dài lâu xa ngái long trọng và nghiêm trang.  Mình từ từ nhấc mũ.  Mình yêu họ.  Mình cảm thấy một nỗi đau thiết cốt vì sự xấu xa của họ.  Mình đã xét xử họ, không tha một người nào.  Mình đã xử quyết họ.  Nhưng mình cũng lại lý giải được sự bất hạnh của họ.  Mình rơi lệ vì họ, mình tuyên bố ân xá hàng loạt và vĩnh viễn đối với họ, mình đâu có biết đấy là một thứ khiến người sống và người chết đẩy lẫn nhau ghét lẫn nhau mà lại thân thiết với nhau, ta nghĩ đó cũng là một loại sức hấp dẫn.  Nhìn thẳng vào lịch sử cũng như nhìn thẳng vào hiện thực, có thể run sợ, có thể phát run phát sợ.
Không đến nửa tháng Khương Triệu Thị và Chu Khương Thị đã từ quê hương trở lại.  Lập xuân quá sớm, cửu cửu tiêu hàn lại là một năm xuân qua sớm.  Nghê Bình và Nghê Tảo và cả một bạn gái cùng học với Nghê Bình đang cùng nhau dá kiệu.  Tịnh Trân đã trở về, khoác một tay nải lớn, xách một giành đan bằng cành liễu, mặt đầy gió bụi, vừa gầy vừa đen.  Chẳng để ý gì đến sự hoan hô của cháu trai cháu gái, chị ta hấp tâp hỏi ngay câu đầu tiên: "Bà ngoại các cháu đâu?"
Hai đứa trẻ không biết trả lời ra sao.
Bước vào đến sân, gặp được Tịnh Nghi.  Tịnh Nghi đang quét sân nghe thấy động tĩnhh đang định quay lại, chưa nhìn thấy thì chị đã cuống quýt hỏi: "Mẹ mình đâu?"
Câu hỏi đã lấy ngay đi nụ cười trên mặt Tịnh Nghi khi thấy bà chị về.  Cô ngẩn người ra một lát, rồi mới hiểu, vội vàng hỏi lại: "Mẹ không về cùng với chị à?"
"Vậy tức là mẹ vẫn chưa về đây ư?"
"Không phải là mẹ đi cùng với chị về quê ư.  Sao lại hỏi em?"
"Chị chỉ hỏi em mỗi một câu, mẹ có nhà hay không?"  Tịnh Trân đã đỏ mặt lên, gân xanh ở cổ nổi lên, trên trán lấm tấm mấy giọt mồ hôi.
"Chả phải em đã nói rồi sao, không có đâu."  Tịnh Nghi cũng đã cuống mặt đỏ rồi lại tái.  Cô hỏi lại thêm một câu: "Thế rốt cục là làm sao?"
Mặt Tịnh Trân đã tái đi.  Chị ta đặt tay nải và giỏ xách xuống, vừa lau mồ hồi vừa buồn bực: "Đừng hỏi nữa, đừng hỏi nữa, tàu chạy đến trấn Thạch Kiều thì đỗ ở ga.  Chị xuống ga định tìm mua hco mẹ cái bánh nướng kẹp đậu xị, suốt từ sáng sớm đến lúc đó đã kịp ăn uống gì đâu.  Chị đang mua bánh dưới sân ga, người đông quá thể, lại có cả một toán quân Nhật Bản, bọn lích Nhật lại đang lên tàu chứ, chị đi tới thì nó đẩy chị ra, dọa giết chị nữa cơ, chị sợ quá đi mất!  Có cách nào nữa đâu, chị phải chạy về phía cuối tàu, lên chỗ toa cuối cùng, toa đó không có lính Nhật mà, ôi chao ôi, họ ghê lắm, bắn chết mình còn dễ hơn dẫm chết con kiến nữa ấy.  Chị nghĩ lên tàu rồi sẽ đi tìm mẹ cũng được, từ trấn Thạch Kiều đến Bắc Kinh cũng phải mất năm tiếng đồng hồ, chị chen hết toa này đến toa khác tìm đi tìm lại mà vẫn không thấy.  Làm chị cuống hết cả lên!  Nhưng làm sao mà tìm được chứ!  Chen ngược trở lại nữa nhưng cảnh sát cũng không cho, người ta ngồi ngay trên sàn tàu, bao to bao nhỏ rương hòm, chị đi lại lắm cũng bị ăn chửi chứ, chị mà cứ chen đi chen lại nữa chắc họ đẩy chị từ trên tàu xuống mất.."
"Cuối cùng thì mẹ làm sao rồi?  Nói những cái với vẩn đấy làm gì?"  Tịnh Nghi đã sốt cả ruột.
"Chị nghĩ là trên tàu không thể tìm được rồi, đợi chốc nữa xuống tàu hãy tìm vậy.  Thôi thì đành, mẹ ở chỗ đó còn có ghế ngồi, cơm chưa được ăn thì đành nhịn vậy, hãy ngồi lại đây đã.  Tàu vừa đến Bắc Kinh, chị nhảy xuống trước nhất.  Chị đứng chặn ở cửa ra ga, đằng nào tất cả những người xuống tàu đều chẳng phải đi qua đấy.  Đằng nào mà mẹ chẳng phải xuống chứ, chị chờ ở đó đến nửa tiếng đồng hồ.  Ai biết được lúc đó là mấy giờ, chỉ biết mọi người đều đi sạch cả rồi.  Cuối cùng vẫn là đợi không thấy, chị lại nghĩ mẹ đã về nhà rồi cơ!"
"Nói vậy mà cũng nghe được hả?  Chị đã để lạc mẹ ở trấn Thạch Kiều rồi, mẹ mọc cánh ra hay sao hả, làm sao mà bay đến đây được chứ?"
Tịnh Trân chẳng lý sự được với em gái, dậm chân nói: "Thôi, thôi, chị ra ga tàu, chị lại đi tìm mẹ lần nữa, nếu ở ga mà không có, chị lại đi tàu ngược trở lại, đến ga nào chị cũng tìm, tìm không thấy mẹ chị cũng không về nữa!"  Nói đến đây Tịnh Trân đã chảy cả nước mắt.
Nước mắt Tịnh Trân đã chấm dứt sự phàn nàn của Tịnh Nghi.  Tịnh Nghi cũg ý thức được sự nghiêm trọng của sự việc.  Cô nói: "Đừng vôi, chị vừa về đến nhà vất vả nhiều rồi, thế nào chị cũng phải nghỉ một tý, em đi tìm, em không tin một người to như thế mà lại không tìm thấy, nếu không được nữa thì mình đi báo cảnh sát."
Hai chị em nhường nhịn đùn đẩy qua lại một lúc, cuối cùng quyết định, hai người cùng đi tìm.  Tình huống khẩn cấp, không khí trang trọng, đang định gọi trẻ con lại dặn dò mấy câu, thì nghe thấy tiếng Nghê Bình vui vẻ reo to:  "Bà ngoại về rồi!"
Mặc quần áo bằng nhung đen, đầu đội một chiếc mũ nhung the đen đôi chân bó, dặn đôi giày nhỏ bằng nhung kẻ đen, bà Khương Triệu Thị xách hai giỏ rau đồng túc tắc đi vào.  Bộ y phục cất dưới đáy rương đã lâu không mặc đó, cải thiện rất nhiều phong độ của Khương Triệu Thị.  Thần thái của bà ta lúc vào cổng đối nghịch một cách rõ rệt với dáng vẻ lôi thôi lếch thếch của Tịnh Trân lúc mới về.  Hai vị khuê nữ thấy mẹ đã về thì mừng ra mặt, sung sương muôn phần, nước mắt trào tuôn, hớn ha hớn hở, quây quần dắt dúi cùng nhau vào nhà, cả hai tranh nhau nói chuyện lo lắng cho mẹ, thương mẹ nhớ mẹ, hiếu thảo với mẹ, quyết tâm cùng nhau tìm mẹ và đau lòng đến thế nào khi thấy mẹ không cùng về với Tịnh Trân.  Các cô càng nói như vậy, Khương Triệu Thị càng hoan hỉ càng nở lòng nở ruột, càng ung dung bình tĩnh mà nói: "Các con gái ngốc của tôi ơi, sốt ruột cái gì cơ chứ.  Mẹ mắt không mù, tai không điếc, người không hồ đồ, ở dưới mũi còn có cái mồm.  Đằng nào thì tàu cũng đến Bắc Kinh nhá.  Cô lớn mà không lên được tàu thì mình mẹ cứ ngồi tàu thôi.  Mẹ lại sợ cô lớn không lên được tàu ấy chứ.  Nhưng mẹ nghĩ nó cũng lên được tàu thôi.  Còn may, bọn lính Nhật có vẻ khách sáo lắm.  Xuống tàu rồi mẹ lại đi tìm cô ấy cơ mà.  Cái gì?  Không đói, chỉ nghĩ sắp về nhà rồi lại quên cả đói thôi.  Chỉ tội cái thằng cha kéo xe kia chả ra cái trò gì, hắn đã chạy chậm lại cứ kéo đi lòng vòng cùng đường.  Hắn định đòi thêm ít tiền đấy!  Chẳng may dọc đường mẹ cứ nói với hắn, nhà tôi chính là ở Bắc Kinh nhá, đường xá tôi biết hết, anh đi đường gần một chút thì mới tốt, đừng có vòng vèo qua lại nữa.  Chỗ này không phải, chỗ này mới đến nhà!"
"Tốt quá rồi, tốt quá rồi, về được là tốt rồi... Vạn nhất nếu mà không về được, con đã định đập đầu chết ở ga tàu rồi đấy!"  Tịnh Trân vừa khóc vừa cười, nói một cách xúc động.
"Chẳng phải thế sao, ba người nhà ta thật là!  Bận sau đừng có đập nhá!  Đừng đập nhá!  Mẹ về muộn độ ba phút nữa, con cũng chỉ muốn chết luôn thôi!"  Tịnh Nghi nói một cách ngây thơ, chất phác.  Ba người nói rất nhiều câu thân thiết dịu ngọt nữa.  Bọn trẻ cũng đều vui vẻ khác thường.  Bà già Khương Triệu Thị có một niềm thương cảm không thể nào nguôi đi được.  Lần này về quê, lại gần như bán đi toàn bộ gia tài điền sản, từ nay về sau đến hai người làm công lâu năm như Trương Tri Ân, Lý Liên Giáp cũng chả cần phải đến nữa, cũng sẽ không đến nữa, sản nghiệp họ Khương thế là hết rồi đấy.  Giờ bà ta chỉ còn có hai cô con gái bất hạnh mà thôi.  Buổi chiều hôm đó, họ đều tin vào sự lương thiện của mình.  Mẹ con đoàn tụ đã là cái may mắn lớn nhất rồi.  Cuối cùng nhân dịp này Tịnh Nghi đã nói cho mẹ và cho chị biết: Con lại có mang rồi.  Mẹ và chị nhình nhau một cái, không biết phản ứng ra sao.
Cả buổi chiều Nghê Ngô Thành ở nhà phía Bắc dịch cố một bài viết về Cromoen.  Đó là bài Sử Phúc Cương đặt anh ta dịch.   Tạp chí "Học thuyết Đông Tây" do Sử Phúc Cương lập ra đã chi cho anh ta rất nhiều tiền, bài viết này là do một người mà anh ta không biết viết ra, người đó tên là Hecman Onekern, anh ta nghĩ mấy lần mới dịch được cái tên Onekern ra tiếng Hán.  Cái tên đó không gây cho anh ta hứng thú, các loại danh từ như "quốc hội trường kỳ" "tiểu quốc hội" "chính sách thực tế" "sự lựa chọn tính ngưỡng thượng đế" đều khiến anh ta đầu sưng lên như cái đấu.  Anh ta hoàn toàn không biết mình dịch có đúng hay không.  Nhưng hễ cứ nghĩ đến châu Âu, hễ nghĩ đến người châu Âu, hễ nghĩ đến ngôn ngữ của nước châu Âu, hễ nghĩ đến các danh từ khó hiểu, hễ nghĩ đến bộ com lê và áo măng tô luôn sạch sẽc cao quý không dính chút bụi nào của Sử Phúc Cương là anh anh liền cảm thấy vui vẻ, thăng hoa, lên tiên ngay.  Như vậy, mặc dù nội dung thuật ngữ của bài viết đó, bất luận về mặt lô gích hay về tính hiện thực của nó đối với anh ta đều rất lạ lùng và chẳng có ý nghĩa gì cả, nhưng trong khi tiến hành công việc phiên dịch khô khan đó, trong khi không ngừng tra từ điển, nghĩ ngợi, đoán định, đoán mò không ra phát cáu lên rồi dứt khoát gán cho nó một ý nghĩa tùy tiện nào đó, thì mặc khác, từ mặt tình cảm và trình độ anh ta đã giành được sự an ủi và thỏa mãn kha khá.  Dù chỉ là tiếp xúc với những dạng chữ cái của tiếng nước ngoài cũng đã đủ là khoái lạc và kiêu hãnh lắm rồi nhá!
Nhưng buổi chiều hôm nay anh ta đã bị dịch một cách không thuận lợi.  Sự trở về của Tịnh Trân, sự sợ hãi không đâu, sự trách cứ, sự trở về của nhạc mẫu, niềm vui đoàn tụ...  Cả một loạt những reo hò ầm ĩ nỉ non, những mớ tạp âm truyền đến màng nhĩ của anh ta.  Cái thứ ngu xuẩn, cái thứ nông cạn, cái thứ vô tri vô năng nhàm chán, cái thứ ồn ào và phô phang vô tích sự, sự cười khóc kêu gọi hò reo lung tung chọc vào tai muốn điếc đó, chính là tai nạn.  Đó là tai nạn của Nghê Ngô Thành.  Đó là tai nạn của Hecman Onekern.  Đó là tai nạn của Cromoen con người nước Anh ngang ngược của thế kỷ mười bảy. Đây cũng là tai nạn của châu Âu, của nhân loại, của văn hóa.
Anh ta không dịch tiếp được nữa.  Anh ta hút thuốc, anh ta âm thầm nhìn bốn xung quanh, anh ta đã ngoan ngoãn ở trong gian phòng này bốn tháng trời rồi, anh ta đoán rằng anh ta sắp sửa phát điên!
Và anh ta là một tên súc sinh, anh ta là một tên súc sinh, tôi là một tên súc sinh!
Hạ giọng nói khẽ.  Tấn công, thẩm phán, cảnh cáo, tự bạch.  Anh ta phát run.  Anh ta hút một hơi thuốc thật sâu, hút một hơi hết nửa điếu thuốc.
Anh ta gõ nhẹ xuống bàn.  Anh ta khôn dám gõ mạnh!  Đến cả cái khả năng đập mạnh xuống bàn một cái cũng đã bị cướp đi mất rồi.  Bất kỳ một sự thể hiện cảm xúc nào của anh ta cũng bị Tịnh Nghi công kích - Đừng có dọa con như thế!  Nếu như anh ta nói to tiếng một tí, nếu như anh ta lấy khổ làm vui mà đọc một đoạn cách ngôn bằng tiếng Anh, nếu như anh ta chuyển sang dùng một câu chi hồ giả dã, anh ta sẽ lập tức nhận được sự kháng nghị của Tịnh Nghi.  Còn bọn họ thì có thể tha hồ mà hò reo!  Hơn nữa cái bàn của anh ta cũng đã không chịu nổi một cú đập mạnh.  Vì bị giầy vò, vì sự chà đạp đối với linh hồn của anh ta, vì phẫn nộ và đau khổ, cái bàn đã chấp nhận không chỉ một lần những cú đánh đập đáng sợ của anh ta.  Nước sơn trắng của cái bàn đã bị đập bong ra, trên bàn xuất hiện những mấy cái lỗ, tay anh ta đã dính đầy máu.   Chính là cái bàn như vậy, chính trên cái bàn như vậy mà giới thiệu văn mình ôropa.  Mà anh ta cũng không hề đoán định được cái kiểu phiên dịch và giới thiệu như vậy liệu có một ý nghĩa gì không, trong thời buổi ngày nay đang binh hoang mã loạn, trong thành Bắc Kinh bị quân Nhật chiếm đóng?  Ngoài việc có thể kiếm được ít tiền nhuận bút không đủ để ăn cháo!
Cũng trên cái bàn thế kia mà còn phải ăn cơm trên đó nữa, khi ăn cơm lại phải dọn những từ điển, giấy nháp, lọ mực và bút sắt, lại cả một cái tráp đựng bản thảo tương đối tử tế làm bằg lưới thép nhỏ đem để hết xuống nề nhà lổm nhổm những mụn như mụn có mụn ghẻ.  Nền nhà vốn là nền gạch xanh vuông cạnh, cũng không đến nỗi nào.  Nhưng không biết từ bao giờ, đế giày của mọi người đã tha đất đến, mặt nền lại ẩm ướt, thế là đất bụi trên mặt nó tập kết vào thành những búi lổn nhổn to nhỏ tròn méo khác nhau.  Nghê Ngô Thành đã từng đi qua không ít nhà mọi người, anh ta đã phát hiện gần như mọi nhà đều có loại đất dính lổn nhổn trên nền nhà như vậy, nhưng ở nhà anh ta, phòng anh ta những vết lổn nhổn bùn đất như mụn cơm mụn cóc như vậy dày đặc nhất và to nhất.  Hai mươi ba tháng chạp kẹo dưa dính, hai mươi tư tháng chạp là ngày quét dọn nhà cửa.  Ngày quét dọn hôm đó Tịnh Nghi lấy khăn mặt bịt lên đầu, lấy một cái chổi rơm buộc đặt deo lên cây sào trúc, tay huơ sào khua khoắng quét trần nhà, hình ảnh đó quả thật khiến Nghê Ngô Thành xót ruột.  Nhưng lúc đó anh ta vẫn cố sức làm lơ.  Sau cái lần uống rượu chịu rồi sinh ra viêm phổi nọ, anh ta đã cảm thấy mình chết đi rồi, vậy mà Tịnh Nghi không chấp nhặt cái xấu cũ đã cứu anh ta.  Anh ta đã thực tâm thành ý muốn làm như cách hồ đồ khó kiếm của Trịnh Bản Kiều mà sống tiếp với Tịnh Nghi một cách hồ đồ như vậy đi, ai mà chẳng phải như vậy cơ chứ!  Số phận chính là Phật Như Lai.  Anh ta cao lắm cũng chỉ là con khỉ nhỏ.  Con khỉ nhỏ tuy đã nhao mình vượt qua mười vạn tám ngàn dặm đường mà cuối cùng cũng chẳng vượt qua nổi lòng bàn tay của Phật Như Lai.  Câu chuyện đó thật là tàn khốc, nghe xong câu chuyện tàn khốc thì cũng như uống ba đậu đại hoàng, khi đang đi rửa thì đau bụng, đi hết xong chẳng phải là hết sức dễ chịu khoan khoái đó sao?  Yên bụng mà ngủ.
Khi Tịnh Nghi quyét dọn nhà cửa anh ta cố hết sức muốn khiến bản thân mình thể hiện cái gì hay ho một chút.  Anh ta thấy mọi người tíu tít quét quáy dọn dẹp, khi Tịnh Nghi không yêu cầu anh ta làm gì cả, anh ta vẫn cứ thủ động tìm việc để làm.  Anh ta cầm lấy cái bàn sản để xúc xỉ than và tro bếp, anh ta đi cạo những mụn cơm mụn cóc ở nền nhà, sạt sạt sạt sạt, rất hăng hái, đã sắp cạo bật được một cái mụn lên rồi.  Anh ta đắc ý hát - Lao động là thiêng liêng!  Bỗng nghe một tiếng thét cắt ngang: Đừng động vào!
Tịnh Nghi nói, dưới nền dưới gốc của năm tức cuối năm là không được cạo bất cứ mụn cơm mụn cóc nào dù to hay nhỏ ở nền nhà đâu, đó là cái sự kiêng khem giữ ỹ mà cô đã học được sau khi đến Bắc Kinh.
Tại sao?
Tại sao?  Tịnh Nghi xịt xịt mũi, không nói gì.  Nói ra rồi là mất thiêng ngay.  Thiên cơ bất khả tiết lậu mà.
Đã không giải thích được là tại sao thì tất nhiên là phải cạo tiếp.  Cạo đất cát dính bết trên nền nhà là giữ vệ sinh chứ.  Chẳng lẽ cái thứ lổn nhổn đất cát bẩn thỉu nhớp nhúa chứa đầy những vi trùng kia lại được cắt cứ giữ việc gì ư?  Làm gì có cái lý đó!
Anh ta bắt đầu cạo đến cái mụn thứ hai.  Tịnh Nghi đang bị bụi bặm từ trần nhà rơi xuống khiến phát ho phát sặc lên liền vứt cây sào có buộc chổi ra, hùng hùng hổ hổ chạy tới giật phắt ngay lấy cái bàn sản trong tay Nghê Ngô Thành.
Ầm ỹ lên một trận, gần như đã cãi cọ quát mắng nhau, cuối cùng mới vỡ lẽ.  Bảo rằng những cái mụn đó tượng trưng cho vốn quý trong nhà.  Mà trong thời kỳ Tết nhất, thần nhân đều vui lòng tiếp nhận những dấu hiệu tượng trưng, không chấp nhận những lời nói trắng phớ ra đâu.  Đó chính là ý tại sao lại bảo cạo bỏ đất cát tích tụ dưới nền nhà tượng trưng vứt bỏ vốn quý - tài lộc trong nhà.  Mặc dù Tịnh Nghi đã vừa cười vừa nói và chắc chính cô cũng cảm thấy cái thứ kiêng kỵ này có vẻ buồn cười.  Nhưng cũng lại rất nghiêm túc đấy.  Đã vậy càng nói càng thấy bực mình.  Việc này lẽc ra chỉ được hiểu ngầm chứ không được nói kia mà!
Nghê Ngô Thành chỉ cảm thấy toàn thân ngùn ngụt cơn tức.  Đến phát bệnh thần kinh.  Đến phát cơn điên cơn dại lên.  Đó chính là cái văn minh của một đất nước năm ngàn năm cổ kính văn minh!
Sau đó cũng chẳng buồn đụng vào cái vốn quỹ đầy rẫy trong nhà kia nữa.  Khi ăn cơm, lại phải vơ tất cả văn chương bài vở của văn minh châu Ân, xếp đống trên vốn quý nhỏ nọ.
Lại ăn cái gì nữa đây?  Cứ nghĩ đến bữa cơm ở nhà mấy tháng qua, Nghê Ngô Thành chỉ có thể cúi đầu cụp mắt, bụng dạ giống như tro tàn mà thôi.  Đó là khả năng kém hay cố ý đối đầu đây?  Nếu anh ta mà nói món này mặn quá, thì bữa sau có thể nấu thứ ăn mà không bỏ một hạt muối nào.  Nếu nói cái món rau này xào kỹ quá, thì bữa sau nhất định sẽ là một món dở sống dở chín.  Cái món củ cải kho thật ngon lành, khi sắp được ăn lại đi bỏ cái món rau cải trắng nấu canh còn thừa từ hai hôm trước và món đậu phù trúc thừa từ ba hôm trước đã  bắt đầu biến chất vào cùng nấu.  Cuối cùng vừa mất cả vị củ cải, lại cũng chẳng thấy cả mùi cải trắng lẫn phù trúc đâu, chỉ còn lại mùi cám lợn.  Lại còn công khai nói rất hùng hồn rằng: "Đậu phù trúc đã mất mùi, không trộn vào thức ăn mới thì không thể ăn được."  Thật hoàn toàn là cái lô gích của việc nuôi lợn.  Lại còn một lần ăn cháo nấu rau, đó là thứ rau cải rất tươi mới hái.  Nghê Ngô Thành đã húp hai bát to, và cứ khen mãi cháo rau ngon lắm.  Cái kiểu khen đó bao hàm sự coi trọng vitamin chứa trong rau tươi, mà cũng báo hàm một ý đồ quan trọng khác.  Anh ta thừa biết là trước mặt hai đứa con Tịnh Nghi vẫn thường nói rất nhiều điều xấu về anh ta, mô tả anh ta như một kẻ ăn chơi đàng điếm, xa xỉ dâm dật, vung tay quá trán.  Anh ta không phải là người như vậy!  Anh ta có thể húp cháo rau như uống nước đường mạch nha, anh ta phải xây dựng lên hình ảnh chân thực của mình trước mặt con cái.
Kết quả là thế nào nhỉ?  Cũng giống như cái tai nạn lạm phát hành tây chấm tương trước đây anh ta đã tự chuốc vào đó, nó khiến anh ta đến bây giờ hễ cứ nhắc đến hành tây là nước chua trong dạ dầy đã ộc lên tận cổ.  Liên tục hàng loạt bữa cháo nấu với thân rau, rễ rau cải nát bét, lá rau, nhồi nhét khiến anh ta thấy đắng như hoàng liên.  Sau đó cháo rau mà anh ta húp còn có mùi lưu huỳnh nồng gắt lên, anh ta nghi ngờ chẳng biết có phải là đã bỏ cả thuốc cao trị bệnh ngứa vào trong cháo mà nấu không...
Một điều khiến anh ta cực buồn lòng, khiến anh ta nát lòng, nản lòng, lạnh lẻo trong lòng nhất đó là hai đứa con của anh ta.  Con cái đã kiên quyết đứng về phía mẹ nó, chúng hoàn toàn không lý giải được sự theo đuổi, sự khổ tâm và tình thương yêu của anh ta.  Trong khi anh ta húp cháo như húp nước hoàng lên thì bọn trẻ húp cháo rau đó cứ nhem nhẻm, làm như là thích thú vô cùng vô tận vậy.  Đó chính là khiêu khích, đó chính là thị uy với anh ta đấy.  Bọn trẻ nhìn trộm cái bộ dạng mặt nhăn mày nhỏ nuốt cháo một cách khó khăn của anh ta, chúng đưa mắt nháy nhau, lại đưa mắt nháy với mẹ chúng cười ngầm với nhau, cười khẩy và cưỡi giễu.  Cười nhạo cái đau khổ của anh ta, cười nhạo cái dạ dày và cái lưỡi của anh ta, ai bảo anh ta có một cái lưỡi biết phân biệt đủ năm mùi vị nào?  Ai bảo anh ta hiểu được ABC về dinh dưỡng đồng thời hiểu được một cách đớn đau tường tận về món ngon có lợi cho sự lành mạnh của thân tâm ra sao!  Món ngon có thể khiến con người tính tình hiền dịu, da dẻ tươi nhuận, tóc tai dày đẹp, tứ chi linh hoạt, tâm địa thiện lương, cử chỉ lịch thiệp.  Món ngon xúc tiến xã giao, đề cao văn minh, bồi dưỡng ra tố chất mới.  Anh ta là một con người, đó là tội của anh ta ư?  Anh ta có da thịt của con người, anh ta có tri thức, anh ta đeo đuổi thể diện, anh ta nhiệt tình với đời sống và theo đuổi đời sống, hơn nữa anh ta đã từng gặp, anh ta đã may mắn được gặp và từ đó anh ta đã hiểu được thế nào là cuộc sống chân chính mà con người đáng được sống, điều đó chẳng lẽ lại là tội ư?
Anh ta vốn tưởng rằng bọn trẻ có thể hiểu được.  Anh ta vốn tin rằng vào thuyết tiến hoái.  Anh ta gửi hy vọng vào tương lai, vào thế hệ sau.  Anh ta hy vọng anh ta cũng tin tưởng vào đời sau sẽ được sống văn minh cao thượng, hiền lương hạnh phúc hơn, ít nhất thì chúng cũng được sống lành mạnh và hợp lý hơn.  Ngay từ đầu anh ta đã tập trung sức vào việc nhồi nhét kiến thức sống lành mạnh cho con cái.  Anh ta bảo con không nên đi giày quá chặt để khỏi bố chặt các ngón chân.  Anh ta bảo các con sau khi ăn cơm xong không nên lấy tay áo lau mồm.  Anh ta bảo con tối đi ngủ không nên trùm chăn kín đầu, nếu như vậy không khí khiến con người tức thở lại càng khiến cho người ta ngột ngạt hơn, thậm chí quá thiếu dưỡng khí và quá thừa thản khí sẽ dẫn đến tử vong.  Thế mà đến cái đạo lý đã là thiên kinh định nghĩa và là điều dễ sửa như trở bàn tay đó cũng đã bị phản đối - Tịnh Nghi nói: trong nhà đã lạnh như thế, không trùm chăn lên thì chết cóng còn gì?  Không muốn trùm chăn kín đầu cũng được, mùa hè sẽ không trùm đầu!  Đổi một cái bếp lò to hơn, gọi than cục, đưa  tiền đây!
Còn đứa con thân yêu nhất của anh là Nghê Tảo thì đã hỏi rằng: "Ba ơi, ba lại uống trà trồi.  Nghe nói trà đắt lắm mà, sao ba cứ phải uống trà mới được chứ, tốn tiền lắm..."
Điều đó là đáng sợ nhất.  Hiển nhiên không chỉ là ba người đàn bà, mà cả hai đứa trẻ cũng gia nhập mặt trận thống nhất, phản đối anh ta, đứng trên trận tuyến đối lập với anh ta.  Cũng tức là trận tuyết thống nhất phản đối tất cả mọi văn minh và tiến bộ từ bên ngoài tới, phản đối tất cả những thứ khoái lạc và có hy vọng.  Đó cũng là cái thứ mặt trận thống nhất của sự tự phong tỏa, tự giày xéo, tự hủy hoại vậy.
Trong cái gia đình này, anh ta bị cô lập tuyệt đối.  Bởi vì, ví dụ nói là bởi vì anh ta uống trà.
Anh ta yêu cầu bọn trẻ khi húp cháo thì không nên húp sùm sụp, không nên nuốt ừng ực từng miếng to, nuốt xong thì không nên chớp chép miệng!  "Nếu sau này các con đi học nước ngoài, khi ăn uống mà mồm miệng lại kêu to lên như vậy, thì đó là một việc thiếu lịch sự."  Anh ta nói như van, nói như xui vậy.
Khách khách khách khách, hai chị em cười đến nửa ngày, vừa cười ra tuyên bố rằng, chúng con là người Trung Quốc, chúng con không phải là người Tây.  Chúng con biết ba đã từng xuất dương - ba từng đi Tây thì làm sao?  Ba biến thành người Tây rồi à?  Chúng con không muốn xuất dương mà cũng không có tiền xuất dương.  Chúng con không hiểu phép tắc của Tây.
Trả lời xong là xì xà xì xụp, ừng ực ừng ực, nhóp nha nhóp nhép, hai đứa trẻ với hai cái miệng tựa như đang biểu diễn khẩu thuật không bằng.
Bộ mặt của Nghê Ngô Thành đầy vẻ bực tức muốn giết mới hả nhục nhã.  Sự dã man và tàn khốc của những con người non trẻ.  Ai cũng giỡn hớt cái đau khổ của anh ta.  Không thể hiểu nổi, ấm ức.  Anh ta đã hiểu được sức mạnh của sự ngu muội và dã man.
Nghê Bình vốn chẳng bao giờ xu thời và ưa nói thẳng đã quay cái đầu tóc mới cắt của nó lại, nhìn thẳng vào Nghê Ngô Thành mà nói: "Ba ơi, ba không thích ăn cháo rau rồi phải không?  Ba nói ba thích ăn cháo rau thực ra ba nuốt không nổi đúng không? Chắc là cháo rau không ngon bằng thịt gà, thịt vịt, thịt lợn với cá ở ngoài hiệu đúng không ba?  Ba không nuốt nổi cháo rau nên mới hơi phát cáu lên ba nhỉ?  Ba không vui nên mới soi đến tật xấu của chị em con đấy ba nhỉ?"
Thậm chí đứa con gái bé nhỏ, ngây thơ trong trắng cũng đã dùng một mũi dao găm đâm vào linh hồn của anh ta mà vặn đi vặn lại.  Cơ hồ sự tồn tại của mỗi con người đều là để xúc phạm người khác.  Càng là người thân thiết thì xúc phạm càng sâu, càng mạnh, càng là người anh ta thương yêu càng có thể hạ độc thủ với anh ta nhiều hơn.
"Mất dạy!"  Anh ta đập bóp vào bà.
"Anh mất dạy ấy!"  Tịnh Nghi phản ứng lại không một chút do dự.  Phản ứng xong cô mới kịp nghĩ đến nguyên nhân bên trong của sự việc.  Đương nhiên là anh ta không thể tiếp tục đập bàn, tiếp tục quát tháo, tiếp tục lên cơn isteri.  Anh ta đã nhìn thấy những giọt nước mắt trong mắt Nghê Bình, những giọt nước mắt hiền lương chân thành thật thà, ngốc nghếch nữa!  Nghê Ngô Thành những muốn quỳ xuống trước mặt đứa con.  Các con phải được sống!  Các con phải trở thành những con người hiện đại!  Các con phải được hưởng cuộc sống chân chính của con người!  Các con nghe ba nhá, hãy nghe ba một chút đi!  Tại sao lại tự chà xát mình, tự bóp bẹp mình vào trong lòng bàn tay?  Tại sao khi mặc một chiếc áo hoa thì lại phải khoác một chiếc áo đen cũ kỹ ra ngoài?  Tại sao khi gặp khách, thậm chí là gặp một người khách như Sử Phúc Cương lại không mỉm cười, lại khôn chào hỏi cả không đáp lời chào hỏi của người ta?  Tại sao không chải đầu cho đẹp một chút, mà lại cắt xẹt một nhát ở đằng trước trán thành một cái mành mành như vậy?  Tại sao một món thịt ngon như vậy, chẳng mấy khi được ăn mà lại phải thêm nhiều muối và nước, để nói rằng như vậy thì có vẻ nhiều hơn?  Tại sao khi đi đường cứ phải còng lưng xuống mà đi chân chữ bát, gặp người cúi chào tại sao lại phải vươn cổ ra phía trước?  Tại sao khi cười lại để lộ ra lắm răng thế, cười xong sao không mím môi lại?  Tại sao cho con bé tiền nó cũng không chịu đi ra cửa hiệu mà tắm?  Tại sao một đứa bé gái lại không hát, không múa, mà có hát thì cũng hát thầm hát vụng, hát như kẻ cắp kẻ trộm ấy, hễ có người đi tới là vôi dừng ngay câu hát lại?  Sợ cái gì sợ cái gì?  Còn nhảy máu, anh ta chỉ vừa nói đến nhảy múa, khiêu vũ là bộ dạng của con gái lại khó coi hơn cả gặp ma ngay, tại sao vậy?  Tại sao mua cho con một chiếc mũ len đen rất đẹp rõ ràng con đã thích không thể chịu được rồi (từ ánh mắt của con có thể nhận được ra điều đó chứ) mà con lại không đội, lại lẳng lặng đem cất nó đi, một mình lặng lẽ ngắm nghía, chỉ tội không chịu đội lên thôi, đã thế lại còn nói bằng cái giọng bất chước Tịnh Nghi như hệt: "Chỉ phí tiền!"  Thậm chí đã mua bánh ga tô rồi Nghê Tảo cũng còn hỏi: "Bao nhiêu tiền?"  Rồi cũng lại như vậy, lại phụng phà phụng phịu mà trách: "Chỉ phí tiền!"  Trẻ con từ nhỏ đã bị đào tạo thành cái kiểu như vậy... Hả!  Ba xin các con lạy các con, hãy đổi một cách sống khác đi, đổi một cách sống khác đi, không đổi cách sống thì bằng không sống!  Sao sống khổ vậy?
Nghê Ngô Thành đột nhiên rời khỏi bàn ăn, anh ta không ăn tiếp nữa, anh ta bãi thực rồi.
Lại còn công việc, lại còn tiền lương, lại còn triết học, lại còn chính trị, lại còn kháng Nhật, lại còn sức khoẻ, lại còn tình yêu mà anh ta luôn khao khát nhưng căn bản không thể có.  Lại còn tiền nợ và tiện chịu ở khắp nơi.  Lại còn lối thoát, sự lựa chọn từ nay về sau, con đường sống từ nay về sau.  Tất cả đều là một mớ hồ đồ, một màu đen kịt.  Thế giới rộng mênh mông nhường ấy, mà chẳng có một con đường cho anh ta đi thông ra được, tất cả những tư tưởng cao thượng kia, anh ta có thực hiện được không?  Tất cả những lối sống cẩu thả thấp kém kia, anh ta liệu có an tâm được không?  Ôi... sống không bằng chết, nhưng anh ta có chết cũng chẳng dám!
Ngươi thật là một tên súc sinh!
Một cái rùng mình, một cơn ớn lạnh.  Nghê Ngô Thành là một loại vật nào thế không biết?  Anh ta nghĩ đến cái bụng của Tịnh Nghi.
Đứa con thứ ba, đứa thứ ba không giáo dưỡng không linh hồn, mà là người cũng không thể tiếp nhận được giáo dưỡng và linh hồn!  Là kẻ thù của anh ta!  Là tiêu chí đánh dấu cái vô sỉ vô năng vô vọng của anh ta, thật là chết tiệt cho cái bụng của Tịnh Nghi!
Súc... sinh.  Ha ha ha...
Tiếng cười bùng phát từ chỗ Tịnh Nghi và hai đứa con đang ra sức húp cháo rau.  Việc bãi thực giữa chừng của anh ta chẳng gây ra được mảy may quan tâm nào của bọn họ.  Cũng có thể, bọn họ đang cười nhạo anh ta.  Hiển nhiên, sau khi anh ta rời khỏi bàn ăn không khí trong bàn ăn lại trở nên dung hòa và tự tại biết bao.


Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-11-12 05:56:05canary>
Trang 401 - 418, Chương 19

Tuy những điều hiểu biết về khoa học tự nhiên của Nghê Ngô Thành là có hạn, nhưng anh ta luôn ôm một nhiệt tình gần như tham vọng muốn lắng nghe người khác nói chuyện khoa học.
Có một lần Sử Phúc Cương và Nghê Ngô Thành nói tới nhà tâm lý học nước Nga Paplop.  Sử Phúc Cương giới thiệu rằng, Paplop đã từng làm một thí nghiệm, lấy một miếng thịt bò treo trước mặt con chó, lắc chuông, phát lệnh cho con chó ăn miếng thịt.  Chó vui mừng quá, nhảy lên định ăn thịt, người làm thí nghiệm nhằm đúng vào lúc chó đã tiếp cận thịt, đột nhiên giật miếng thịt lên cao, khiến chó không với tới được nữa.  Thí nghiệm như vậy đã được lặp lại nhiều lần.
"Sau đó con chó đã phát điên."  Sử Phúc Cương nói.
Tiếng Trung Quốc của ông ta rất là lưu loát, hoàn mỹ, mỗi một chữ đều được nói hết sức chuẩn xác và chân phương, bốn thanh điệu của từng chữ đều được nói đến nơi đến chốn, nói hay đến nỗi người nghe phải đau lòng.
"Tôi chính là một con chó như vậy."  Nghê Ngô Thành trầm ngâm nói.
Sử Phúc Cương sững sờ, đôi mắt to màu xám của ông ta tựa hồ bị dán chặt tại chỗ, rồi ông ta mỉm cười một cách tế nhị.
"Tôi yêu Trung Quốc, tôi yêu văn minh của Trung Quốc."  Ông ta tiếp tục nói bằng thứ tiếng Trung Quốc không thể chê vào đâu được kia, "ngài xem, bao nhiêu nước văn minh từ thời cổ đều đã suy bại rồi, tan rã rồi, bao nhiêu nền văn minh cổ đjai đều đã trở thành di tích của lịch sử rồi. Chỉ có nền văn minh của Trung Quốc là cổ kính, hoàn chỉnh, độc lập, thống nhất thôi.  Nền văn minh ấy có tính độc đáo của nó, có sự hoàn chỉnh độc đáo và năng lực ứng biến độc đáo."  Nói xong, ông ta trầm ngâm một lúc rồi lại nói: "Ngài không nên bi quan như vậy."
"Trung Quốc đang chia năm xẻ bảy, mà..." Nghê Ngô Thành không thích cái giọng Bắc Kinh khi Sử Phúc Cương nói "Anh xem", mà cũng không thích tư tưởng của Sử Phúc Cương - Nhưng anh ta thích - thậm chí say mê phong độ của Sử Phúc Cương.
"Cho dù về chính trị, quân sự là chia rẽ, nhưng văn minh là thống nhất đó.  Đến quân chiếm đóng Nhật Bản còn hiểu được, là muốn thống trị Trung Quốc, muốn lấy được cảm tình của người Trung Quốc thì phải tôn trọng Khổng Phu Tử."
"Lại còn Diên An, Bát Lộ, đảng cộng sản..."
"Tôi với ngài đều không hiểu về họ.  Có thể họ là bọn gây rối, là một nhóm người trẻ tuổi cuồng nhiệt, như vậy bọn họ sẽ không cần để ý đến Khổng Phu Tử, chỉ quan tâm đến Mác thôi.  Nhưng tôi nghĩ họ không đơn giản như vậy, họ cũng tuyệt đối không đơn giản vì là những người được quốc tế thứ ba huấn luyện đào tạo ra.  Họ cũng có khả năng giành được những thành công nào đó, vậy nhất định là họ cũng học được và vận dụng những đạo lý của Khổng Phu Tử...  Tóm lại, tôi cũng chưa có được tin tức gì, để nói họ phản đối Khổng Phu Tử... chống lại Khổng Phu Tử kịch liệt nhất chủ yếu là một số mọt sách phái tà.  Hãy tin tôi đi, ông anh, trong một trăm năm, hoặc lâu hơn nữa.  Trung Quốc sẽ không có một nhà chính trị nào có đầu óc, có lý trí mà lại phản đối hoặc vứt bỏ Khổng Phu Tử đâu, trừ phi ông ta không muốn làm chính trị ở Trung Quốc.
"Nhưng mà..."  Nghê Ngô Thành không biết nói thế nào cho được, cái lô gíc của người châu Âu này khiến anh ta cảm thấy đáng sợ.  Anh ta ở châu Âu ba năm, chưa từng gặp một người châu Âu nào như vậy "Nhưng mà Heghen đã từng nói, may sao những trước tác của Khổng Phu Tử chưa được dịch ra tiếng Đức, nếu không, thì không tránh khỏi sự quá ghẻ lạnh đâu."  Cuối cùng Nghê Ngô Thành đã tìm được một luận cứ để phản bác.
"Đó là vì Heghen không hiểu biết gì về phương Đông."  Sử Phúc Cương lại cười một cách rất nhã nhặn rất điềm tĩnh, nói như đinh đóng cột.  "Lepnit lại không nói như vậy đâu.  Văn hóa của Trung Quốc quan tâm đến quan hệ con người với nhau, quan tâm việc người nào chỗ ấy, khắc chế bản thân, mỗi người đều hết sức thực hiện luân lý và nghĩa vụ của mình, để giành lấy sự giai hòa trong quan hệ người với người.  Giống như tư tưởng của Khổng Phu Tử về chữ "lễ", thậm chí khi mở rộng sang lĩnh vực chính trị, ông ta đã đề xuất tư tưởng "lễ trị", điều đó quả thật là đáng ngạc nhiên hết sức.  Người châu Âu hoàn toàn thiếu vắng những tinh thần đó.  Những đạo lý thông thường như thế.  Ví dụ như phụ từ từ hiếu (cha hiền con hiếu), ví dụ như tôn sư trọng đạo, ví dụ như kỷ sở bất dục vật thi ư nhân (những cái mình không muốn thì đừng thực hiện với người khác)....  Vì vậy nên, ở châu Âu mới nổ ra hai cuộc chiến tranh thế giới..."
"Nhưng anh không biết được tình hình thực tế,"  Nghê Ngô Thành không muốn học tiếng Bắc Kinh mà nói "anh" thành ra "ngài", "trong mỗi căn nhà, mỗi gia đình, ở đâu cũg đọng đầy những cáu bẩn tích tụ lâu năm, còn cái gì là hiếu để trung tín, cái gì là lễ nghĩa liêm sỉ đâu..."
"Đó là do gió Tây tiệm tiến về phương Đông, khiến văn minh Trung Quốc đã bị đe dọa và mục ruỗng đi... Trong nước tôi, có một số học giả nói, tại sao Trung Quốc lại rối loạn lên đến như vậy?  Chính vì đã đánh đổ một hoàng đế đang rất tốt đẹp.  Xin lỗi nhé, cho phép tôi được nói đến nơi đến chốn, tôi đã từng đọc kỹ về lịch sử Trung Quốc, bạo chúa hôn quân chỉ là số cực ít thôi.  Đa số hoàng đế coi trọng nhân chính, là hoàng đế cầm quyền thì thanh hòa, yêu dân như con...'
Sử Phúc Cương hạ thấp giọng, trịnh trọng nhấn mạnh rằng: "Tôi tin tưởng nước Trung Quốc tương lai nhất định sẽ trở lại với bản vị văn hóa dân tộc của mình, bất kể về hình thái có xảy ra thay đổi thế nào - chỉ có đứng trên bàn vị văn hóa dân tộc, Trung Quốc mới có thể là quan trọng đối với thế giới - Mười mấy năm tới đây, có thể Trung Quốc sẽ biến đởi long trời lở đất.  Nhưng chỉ cần Trung Quốc là Trung Quốc, thì ở dưới tầng sâu của nó vẫn gìn giữ được những thứ thực chất bất biến.  Ngài hãy đợi mà xem, ông anh ạ, bất kể là Nhật Bản hay quân phiệt hay các nhà cách mạng không ai có thể thay đổi được truyền thống văn hóa riêng của Trung Quốc."
Thế là Nghê Ngô Thành phải bắt chước điệu bộ của Sử Phúc Cương, cười một cách rất điệu nghệ.  Anh ta nói gì?  Nếu là một người Trung Quốc, cho dù anh ta vốn rất kính trọng (mà còn cho anh tay vay tiền, đến nay vẫn chưa giục anh ta trả) như Đỗ Công mà nói những lời đó với anh ta, thì anh ta cũng chỉ có thể khảy mũi một cái mà phán là "ngu xuẩn" "ngớ ngẩn".  Nhưng những lời đó lại là của Sử Phúc Cương.  Sử Phúc Cương mặc bộ com lê màu cà phê sữa và uống cà phê, trong cà phê lại tra thêm vài giọt rượu uytxki.  Toàn thân ông ta tỏa mùi nước hoa cao nhã.   Áo khoát ngoài của ông ta là loại len thô nguyên chất.  Khi nhảy các điệu tango và rumba tư thế cực kỳ thanh nhã.  Ông ta rất thích tiếp xúc với các kiểu người Trung Quốc.  Ở Thiên Tân có một khuê nữ thuộc danh gia vừa biết hát Kinh kịch vừa biết nói tiếng nước ngoài, tốt nghiệp đại học, là loại học sinh tân thời kỳ lân phương hoàng, là tình nhân của ông ta.  Nghe đâu họ đang bàn tới việc kết hôn...  Ông ta đã mê văn minh Trung Quốc một cách cuồng nhiệt.  Ông ta đặt cho mình một tên hiệu rất cổ kính là: Chí viễn trai chủ nhân.  Ông ta nói ở nhà ông ta bên châu Âu có treo tấm biển viết ba chữ Chí viễn trai.  Ông ta còn thuê đại sư quốc hoạ khắc con ấn riêng của mình.  Ông ta nói mỗi ngày ông ta bỏ ra một tiếng đồng hồ để luyện thư pháp, thư pháp Trung Quốc có thể điều tiết công năng đại não, thần kinh và hệ thống tiêu hóa.  Ông ta có bệnh thì mời thày thuốc Trung y khám, uống thuốc Bắc.  Ông ta đã mua một đôi cầu bằng sắt của nhà Bảo Định, lách cách lách cách, để giãn giảng hoạt huyết...  Và quan trọng nhất là sự thông minh của ông ta.  Ông ta có thể viết lách bằng tiếng Đức, tiếng Anh.  Ông ta có thể giao tiếp bằng tiếng Đức  Tiếng Hán của ông ta thông thạo cực kỳ, ông ta còn đang xông vào tiếng Nhật.  Một con người như vậy đã đến Trung Quốc trong đại chiến thứ hai, đã ghé tai Nghê Ngô Thành thầm bắn Hitle, đồng thời cũng nói xấu Stalin, và nước nga rất nhiều.  Ông ta đi khắp nơi sưu tầm những bản khắc bia của Trung Quốc  từ đời Tống trở về trước, dưới mắt Nghê Ngô Thành, những di hài văn tự đó chẳng mảy may có ích lợi gì.  Ông ta đã tìm Nghê Ngô Thành và mấy người bạn cùng với mình lập ra tạp chí học thuật, ngày nào cũng sống rất vui vẻ nhộn nhịp.  Vừa nói tới văn minh Trung Quốc là liền sôi nổi hẳn lên, cũng phấn chấn tinh thần và tưng bừng vui vẻ y như Nghê Ngô Thành khi nói đến triết gia Ôropa và hồ xí tự hoại của châu Âu vậy.
Sử Phúc Cương đối với Nghê phu nhân - cũng chính là Tịnh Nghi - thể hiện cảm tinh rõ rệt.  Ông ta mời cả nhà Nghê Ngô Thành đến Đông Lai Thuận ở chợ Đông An cùng ăn thịt dê nhúng tái.  Một người nước ngoài mà lại có thể tinh thông đầy đủ lệ bộ của việc nhúng thịt dê, lại còn giải thích ngược cho ba mẹ con Tịnh Nghi từng thứ gia vị đựng trong cái bát: đây là dầu bột tôm, đây là sữa chua, đây là tương trong - tức là xì dầu.  Đây là tương hạt vừng.  Đây là hẹ hoa.  Đúng rồi, còn phải gọi một ít rau thơm, gọi một đĩa tỏi ngâm đường.  Ngoài thịt ra, còn phải gọi một đĩa gan và một đĩa bầu dục...Sao chưa lên lửa nhỉ?  Anh cho tôi cái ống thổi lửa nhỏ kia nào...  Được rồi, nhúng thế này là được rồi đáy, để lâu hơn là dai đấy...  Thơm thật, ngài bảo có đúng không?
Tịnh Nghi và hai đứa trẻ cứ trố mắt ra mà nhìn ông ta, thưởng thức cái vị "am hiểu Trung Quốc" kia biểu diễn kỹ nghệ nhúng thị dê.  Giống hệt như đang xem biểu diễn tiết mục gấu đi xe đạp ở rạp xiếc vậy.  Nghê Ngô Thành cảm thấy khi ăn cơm mà cứ nhìn người ta chòng chọc thì thật là không lịch sự cho lắm, định dùng lời nói khéo để nhắc nhở.  Nhưng Tịnh Nghi và bọn trẻ lại hoàn toàn không có tri giác tổi thiểu nào về mặt đó, mà cũng hoàn toàn không chú ý gì đến khí sắc và ngôn ngữ của anh ta, việc đó quả thật khiến anh ta phát bực lên.  Chẳng lẽ các người không biết tiến sĩ Sử Phúc Cương là bạn của tôi hay sao?  Không có tôi, thì ông ấy biết các người là ai nào?
Bản thân Sử Phúc Cương thì lại không để ý gì cả.  Ông ta vừa nói vừa ăn, có lẽ cũng hơi có chút khoe khoang.  Không chỉ là ba người thuộc bọn Tịnh Nghi, mà cả những người chạy bàn ở trong quan, cả những người khách ở bàn bên, đều đổ dồn cả ánh mắt vào Sử Phúc Cương mà sửng sốt.  Một bà già ở bàn bên cạnh có cái búi tóc nhỏ bóng mượt nói; "Tôi thấy cái anh kia đúng là sắp thành tinh ra rồi đấy..."  Câu nói đã khiến Nghê Ngô Thành đập tim thình thịch lên.  Mong sao Sử Phúc Cương chưa nghe thấy câu nói mất lịch sự đó - nhưng đâu có được.  Anh ta chỉ có thể tức tối khó chịu với đủ mọi thứ ngu xuẩn của người Trung Quốc đối với người nước ngoài.  Anh càng thêm cảm ơn và khâm phục phong độ lịch thiệp của tiến sĩ Sử đã làm như không có việc gì.
Sau khi ăn xong, họ cùng nhau đi dạo chợ Đông An.  Sử Phúc Cương bế Nghê Tảo lên, rồi lại công kênh lên vai, cười ha hả, như ở chỗ không người.  Ông ta mời mỗi đứa bé một bát nước xiro màu đỏ tươi, ông ta nói với Nghê Ngô Thành: "Ngài thật hạnh phúc".
Sau việc đó, Nghê Ngô Thành nói với Sử Phúc Cương: "Khi người Trung Quốc còn sống đau khổ như thế này, khi tôi còn sống đau khổ thế này, mà anh lại cứ luôn mồm khen khao tán thưởng..  Xin lỗi, tôi không thể dễ dàng đồng ý.  Ví dụ như tôi phải nói với anh, ở Trung Quốc, mấy ngày năm nay, căn bản là không có hạnh phúc, cũng chẳng có tình yêu.  Tôi đã khổ đến chết được!  Anh lại bảo tôi hạnh phúc, hình như anh tán thưởng cái đau khổ của tôi thì phải."
Sử Phúc Cương vẫn cười nhã nhặn, ông ta đề nghị anh ta cùng đi uống cà phê.  Cái đề nghị đó bản thân nó đã rất có tác dụng làm nguôi cơn phẫn khích của Nghê Ngô Thành, mà khi thần kinh khướu giác của Nghê Ngô Thành tan vào với vị đắng thơm của cà phê, thì quả thật anh ta cũng cảm thấy có chút hạnh phúc.
Uống cà phê xong, ăn một chút điểm tâm, hút một điếu thuốc xong, Sử Phúc Cương báo cho Nghê Ngô Thành biết nữa tháng nữa ông ta sẽ kết hôn với nữ sĩ Lâm Tân Thu ở Thiên Tân.  Hôn lễ sẽ hoàn toàn theo kiểu Trung Quốc, "tám chữ ngày giờ sinh" của họ đã được thày xem rồi, hoàn toàn tương hợp, thượng thượng đại cát.  Trong đám cưới ông ta sẽ khấu đầu hành lễ với các vị gia trưởng bên nhà gái và khách khứa.  Sẽ phải song song bái đường.  Sẽ phải hát bài mừng.  Sẽ phải bày đầy những táo, lạc, hạt dẻ trong động phòng.  "Tôi hy vọng có một vị phu nhân Trung Quốc.  Tôi tha thiết có một cuộc hôn nhân bền vững theo kiểu Trung Quốc.  Tôi sẽ cùng với người vợ Trung Quốc của mình tương kính như tân (kính nhau như khách) bách niên giai lão.  Tôi thực sự cho rằng, có được quan niệm luân lý và ý thức nghĩa vụ kiểu Trung Quốc, mới có thể có hạnh phúc gia đình.  Tất nhiên Trung Quốc cũng có đủ các loại vấn đề về gia đình và vấn đề về hôn nhân, điều này không có gì là lạ.  Tôi tin người Trung Quốc sẽ tìm được biện pháp giải quyết những vấn đề đó.  Trong lịch sử họ - các anh đã giải quyết không biết bao nhiêu vấn đề khó khăn đầy rãy trong cuộc sinh tồn của các anh.  Trong khi đó ở châu Âu, những vấn đề khó khăn tương tự, đồng dạng hoặc khác biệt, không hề ít hơn chút nào.  Có thể càng không có cách giải quyết.  Bởi vì ở đó không có chuẩn tắc hành vi chung và chuẩn tắc đạo đức chung, mỗi người đều làm những việc mình cho là phải, mỗi người liền trở thành đối thủ của người khác.  Thậm chí là kẻ thù.  Chỉ vì anh chưa sống hẳn ở châu Âu, nên anh mới cảm thấy ở đó hay.  Ở đó hay gì chứ/  Chẳng hay một tí nào hết!  Chiến tranh khiến cho toàn bộ châu Âu lung lay muốn sụp đổ, văn minh châu Âu vỡ tung rồi, tan rã rồi, thất bại rồi!"
Nghê Ngô Thành không nói thêm gì nữa.  Anhh ta cảm thấy càng lúng túng hơn.
Từ đó anh ta gặp phải một bài toán khó.  Sử Phúc Cương sắp kết hôn, anh ta sẽ tặng quà gì đây?  Anh ta những muốn tặng Sử Phúc Cương một bức - ví dụ là tượng Phật bằng ngọc.  Hoặc giả là mộ đôi lục bình lớn.  Hoặc là bức thêu Hồ Nam.  Hoặc một thứ đồ sơn Phúc Kiến, hoặc là đồ sứ Cảnh Đức trấn... Sử Phúc Cương là một gia sáng, một cọng rơm trong cuộc sống tối tăm chật hẹp của anh ta hiện nay...  Thế mà, anh ta lại không thể bất chấp liêm sỉ mà nói với Tịnh Nghi rằng: cứ yên tâm, Sử Phúc Cương tuyệt đối không chịu nhận không quà tặng giá trị của nhà ta đâu.  Người người ngoài thì cũng như người Trung Quốc, người ta đâu có phải là ngốc, mà cũng chả phải là đầu không có óc.
Nói những lời như vậy, Nghê Ngô Thành đã đỏ mặt đến tận tai vì sự dung tục và thấp kém của mình.
Vẫn chẳng đạt được sự hưởng ứng và ủng hộ của Tịnh Nghi.  Tặng quà hơn hơn một chút thì mới thể hiện cái tình, tôi còn muốn tặng một đôi vòng đeo tay bằng vàng cơ.  Nhưng ở đâu ra chứ?  Trên trời rơi xuống chăng?  Trong nhà ta sẵn có ư?  Rồi Tịnh Nghi bắt đầu tính sổ tỉ mỉ, muối dầu gạo củi mắm tương dắm thuê nhà kim chỉ áo mũ... Lại còn nợ cũ, lại nợ hiệu cầm đồ.  Nói tóm lại là không thể được.  Tất nhiên Sử Phúc Cương là người tốt.  Nếu là người khác, thì chẳng phải nghĩ, cũng chẳng phải nói.  Hay là tặng Sử Phúc Cương một cái khăn trải giường?  Tịnh Nghi cắn cắn môi mà nói.
Nghê Ngô Thành u uất phiền muộn mất mấy hôm liền.  Không được thì ông, mẹ nó chứ...  Thậm chí anh ta nghĩ đến chuyện đi ăn trộm.
Trong khi phiền muộn, anh ta đưa mắt soi mói xem xét bốn bức tường xấu xí của nơi mình ở, bỗng nhiên phát hiện tấm bảng treo thư pháp của Trịnh Bản Kiều.  Anh ta mừng rỡ ghê gớm, đây không phải là của nhà sẵn có hay sao?  Anh ta bồi hồi lại một lần, cuốn giấy đỏ ra ngoài, trên giấy đỏ viết tên anh ta, tên Tịnh Nghi và hai đứa con, hớn ha hớn hở mang đi tặng.  Anh ta cảm thấy được sự sung sướng và an ủi còn nhiều hơn chính bản thân việc tặng quà cho người bạn tốt.  Suốt mấy tháng sống kiểu "lãng tử quay đầu", đã khiến anh ta hận ghét đến tận xương tủy cái triết học "hồ đồ hiếm có" kia rồi.
Việc đi lại với Sử Phúc Cương khiến Nghê Ngô Thành cố gắng sống "chân phương nghiêm chỉnh" được mấy tháng.  Thái độ của Sử Phúc Cương đối với văn hóa Trung Quốc, thái độ Sử Phúc Cương đối với Tịnh Nghi, đối với gia đình anh ta, không thể không có một chút ảnh hưởng nào đối với anh ta.
Nhưng sự đi lại với Sử Phúc Cương lại luôn luôn khiến anh ta phải so sánh, và đã làm tăng lên, làm nổi cộm những cảm giác của anh ta: cuộc sống của anh ta sao mà nghèo khó, ngu muội, dã man và vô vọng đến thế chứ?  Tại sao anh ta lại phải sinh ra ở Trung Quốc, ở Mạnh Quan Đồn nhỉ?  Mục đích sống một đời người của anh ta là để chịu toàn bộ cái tội nghiệp, nghiệp chướng của quốc gia, của thôn quê, của lịch sử, của cái gia đình địa chủ sa sút suy tàn ư?  Nếu như anh ta dứt khoát làm theo như hy vọng của người mẹ thân yêu - cầu cho linh hồn mẹ được yên nghỉ trên trời - dứt khoát trở thành con nghiện, để rồi đần đần độn độn, tê liệt đờ đẫn, hoặc ngô nghê càn rỡ, hoặc lang thang vờ vật hoặc chết dấp chết duối như vậy chẳng phải sự việc lại hóa hay hơn một chút, chả phải vừa ít đau khổ cho mình, vừa bớt làm người khác phải đau khổ ư?
Ở trong nhà, ngày nào anh ta cũng cảm thấy mệt mỏi.  Thiếu dinh dưỡng.  Sống cả một đời, mà đến chất dinh dưỡng để có thể làm cho người mình tiếp tục sống một cách bình thường, cũng không có được.  Cũng giống như một con tằm, ngóc nửa thân mình lên, há mồm ra, lại há mồm ra nữa, nhưng chẳng có dâu mà ăn.  Cũng giống như một con chó, ngửi thấy mùi thịt thơm lừng mà chẳng được lấy một miếng xương.  Chó chạy quấn xung quanh, giơ chân trước cào cào đất, ngoáy ngoáy đuôi rồi lại dứng đứng cái đuôi lên, kêu ăng ẳng, rất thảm thê, mất hẳn đi cái uy phong, cái tốc độ, cái thính nhạy, cái màu lông, cái dáng vẻ của chó.  Chỉ vì một miếng xương!  Tạo vật mới tàn nhẫn làm sao!  Tịnh Nghi hàng ngày làm cơm, cứ khư khư cái kiểu không nấu cho bằng hông, bằng khó ăn bằng bẩn tưới bằng phát nôn lên thì mới chịu thôi, chưa được như thế quyết không thôi, như vậy chẳng phẩi cố tâm chọc tức anh ta, giày vò anh ta, day dứt anh ta, chà đạp anh ta ư?  Thậm chí khi đang ăn một bữa cơm có món thịt cũng chẳng được yên lành, hết chế thêm nước lại, độn thêm rau khiến canh thịt biến thành canh nước, khiến món thịt thành món chay.  Cho dù đã hoàn thành được việc pha loãng rồi cũng vẫn không để cho người ta được yên.  Còn phải vừa ăn vừa kể lể thịt này đắt như thế nào, ăn một lần thịt thì phải tiêu nhiều tiền bằng bao nhiêu lần ăn củ cải, khiến người ta cắn một miếng thịt cũng cảm thấy áy náy trong lòng, cảm thấy sợ hãi, cảm thấy mình không xứng đáng với miếng thịt ấy, mình phải xin lỗi miếng thịt ấy.  Cuối cùng thì mình cũng nhận thức ra, cô ấy đang hy vọng mình phải nhận biết được ăn thịt là một hành vi xấu xa ghê gớm, cô ấy đang muốn bắt anh phải nói: lần sau không dám nữa ạ!  Không dám ăn thịt nữa ạ...  Mà bọn trẻ lại cũng cùng nhau hướng ứng điều đó, cùng với mẹ chúng giỡn hớt và đè bẹp sự ngon miệng ham ăn của anh ta... Bóp nghẹt!  Tại sao việc bóp nghẹt dục vọng của người khác thậm chí lại đem đến khoái cảm cho một đứa trẻ vô tư như vậy nhỉ?
Còn Sử Phúc Cương, đọc nhiều sách như thế, biết nhiều thứ tiếng như thế, đi nhiều đường đất như thế, làm nhiều việc như thế.  Vậy người ta ăn như thế nào? Từ nhỏ, bơ, pho mát tươi, pho mát khô, sữa bò, sữa dê, dầu gan cá, mật ong, dâu tây đỏ tươi, vịt quay ngỗng quay, thịt bò, cà chua, súp đuôi bò, sa lát cua bể, trứng cá hồng cá đen, kem put đinh, cam vắt chanh vắt, bò lợn bao tử, các loại mứt quả, bánh qui ga tô, cà phê sô cô la, cá kim thương, rượu brandi...  cần gì có nấy, dồi dào vô tận, tính chất nguyên liệu của cuộc sống, sự tươi tốt xum xuê của văn minh...  Nếu tôi cũng được sự chăm bẵm bù trì như vậy, tôi cũng sẽ làm nên một sự nghiệp lớn cống hiến cho nhân loại!  Nếu được sự chăm bẵm như vậy của quốc gia, thì sao lại không bừng bừng nhiệt huyết, giết giặc sa trường, hiến thân cho đất nước?
Còn đối với những khao khát trong cuộc đời con người, những đòi hỏi thiết tha, đau khổ, nhiệt tình và điên rồ khác thì lại càng sùng sục lên như nước sôi lửa bỏng.  Khi Nghê Ngô Thành lưu học châu Âu, đúng vào lúc đang lưu hành những học thuyết mới trong việc phân tích thế giới tinh thần, thành ra cái "mốt thời thượng" một thời để mọi người nhao nhao phát biểu.  Nghê Ngô Thành tiếp xúc được với những học thuyết về mặt đó, thì cảm thấy như được nước cành dương nhà Phật tưới lên đầu, được bụt bưng cho uống!  Học thuyết đại nghịch bất đạo mới đã đánh đuổi tan tác những hắc ám đang đè nặng trong tâm hồn, anh ta cảm thấy như người đã cởi tung áo quần chỉ còn tấm thân trần trụi mà đứng giữa chỗ đông người, dưới ánh đèn nghìn oát vậy.  Vừa xấu hổ đến không biết chui vào đâu cho được, vừa phấn khởi đến không biết để đâu cho hết.  Bao nhiêu những thứ trong quá khứ tưởng đã chết ngày hôm qua, hoặc bị đẩy vào chỗ chết nay sống lại.  Tòa đại sảnh tinh thần hai mươi năm hốt nhiên đổ sụp, một thằng tôi trần trụi từ đống hoang tàn đứng dựng mà lên!  Quay dầu nhìn lại, quê hương mình, tổ tiên mình, thê quyêsn mình vẫn còn bị đè nặng dưới đáy vực tối đen vạn trượng.  Mà anh ta thì cứ cố mở trừng đôi mắt suốt mấy ngàn năm không cho phép mở!
Châu Âu, sao tôi lại có thể không khâm phục người sát đất!  Chỉ thích nhìn thấy trang phục của các bạn, thân hình của các bạn, nét mặt và đồ mỹ phẩm của các bạn, giày dép và dáng đi (chưa kể là dáng khiêu vũ) của các bạn, cách xã giao và phong tục tập quán của các bạn.  Bất kỳ một lưu học sinh con nhà tài chủ nào ra đi từ những ruộng đất cát, ruộng nhiễm muối, ruộng trũng ở Mạnh Quân Đồn, Đảo Thôn, Lý Gia Oa, Trương Gia Đà khi gặp các cô con gái bên các bạn cũng đều như sét đánh vào đúng đỉnh đầu, mắt tròn mắt dẹp, mắt nhìn không chớp, miệng há hốc ra, chảy rớt chảy rãi!  Nghĩ lại nước mình, thôn mình, những trinh tiết liệt phụ và trinh tiết liệt nữ nô tì hầu bộc ở nhà mình, thật chỉ muốn cho một mồi lửa đốt cháy bản thân mình, đốt cháy sạch sành sanh cả họ Nghê họ Khương.  Một Trung Hoa đường đường, một nền văn minh năm ngàn năm, sao người lại tụt hậu rơi xuống loại đất ruộng đó?
Nước cành dương nhà Phật tưới nhuần xong anh ta đã làm gì?  Anh ta có thể làm gì làm được cái gì và thu được cái gì chứ?  Một người bạn học của anh ta, một con cái nhà quyền quí, là con  một vị bộ trưởng của chính phủ Bắc Dương, một đồng bào, đã kể lại một kinh nghiệm tìm thú vui ở nước ngoài.  Anh chàng công tử đó có rất nhiều tiền.  Anh ta đã kéo các vị nữ thần đợi khách trên đường phố Paris đi chơi.  Cô gái Paris nhận tiền và quà tặng đắt tiền của anh ta xong, rồi thì châm lên một điếu thuốc, cầm lên một tờ báo, ung dung vừa hút thuốc vừa đọc báo.  Sau một hồi công tử tay chân luống cuông vội vội vàng vàng xong, cô ta hỏi, xong chưa?  Xong rồi thì đi ra, tạm biệt.  Vị công tử khốn nạn chơi bời đàng điếm nọ tự nhiên đã bị kích thích bởi kinh nghiệm lần đó, mà nâng lên cao độ thành ra vấn đề địa vị quốc gia và tôn nghiêm dân tộc, cho rằng không có độc lập dân tộc và giàu mạnh của quốc gia thì tuyệt nhiên không có cá nhân - kể cả chơi gái cũng không sung sướng gì!
Nghê Ngô Thành thì sao, Nghê Ngô Thành thì càng không thể nói gì được.  Tuy anh ta tự tin mình cao lớn, đàng hoàng, ứng xử và học ván đều hơn xa anh bạn chơi dở hơi vừa từ Paris trờ về kia.  Nhưng anh ta không có địa vị, anh ta không có tiền, anh ta không có sản nghiệp, cổ phiếu và ông tư bản đứng sau lưng.  Mặc dù anh ta phục sát đất và tinh thông các lý thuyết  về libido và idea (dục năng và tri năng) nhưng tình hình libido và idea của anh ta không những không có được bất cứ sự thỏa mãn và cải thiện nào, mà chỉ càng thể hiện sự tuyệt vọng và bi thảm hơn về mặt đó!  Sau khi về nước lại càng không thể nói gì được nữa.  Mặc dù Tịnh Nghi có nói thế nào về sự chơi bời trác táng và xa hoa dâm dật của anh ta.  Phì!  Anh ta không những chưa từng được yêu, mà cũng chưa từng biết thế nào là một lần hạnh phúc...  Chỉ có kinh nghiệm qua mấy lần phóng đãng nhưng nó lại đẩy anh ta rơi xuống vực sâu tăm tối.  Có tự biện giải thế nào đi nữa, anh ta cũng không thể cảm thấy được một mảy may đàng hoàng và ấm áp nào trong đó.  Anh ta đã mấy lần nằm mơ thấy mình đem tấm thân trần truồng ra giứa chốn đông người.  Thế nhưng, chẳng thấy hưng phấn, chỉ thấy xấu hổ.  Chỉ có co rúm và tránh né.  Chỉ có cảm giác bị tróc nã bị trách cứ vì tội ác mà thôi.  Thật không có đất dung thân.
Mấy tháng lại đây thì lại là một kiểu đen tối mới.  Anh ta thường thấy mệt mỏi, thường cứ ngồi dịch trước tác, dịch mãi rồi gục xuống chiếc bàn cũ nát lung lay lúc nào không biết.  Lúc đó không những mong được ngủ, mà còn mong được chết, chỉ có ngủ mãi không dậy thì mới có thể được nghỉ ngơi, giải thoát và an ủi.  Thế là không thể không ngủ, kê gối ngủ liền.  Đại khái nhiều nhất là ngủ đi mất một tiếng đồng hồ, cũng có khi chỉ nửa tiếng, anh ta đã giật mình tỉnh dậy.  Giật mình sợ cái gì?  Không biết.  Đã tỉnh là không thể nào ngủ lại được, mà cũng không hề nghĩ gì cả.  Không vui, không buồn, không trống trải, không ham muốn, không cảm xúc, không đau, không mỏi...  Tất cả đều là không, bản thân Nghê Ngô Thành cũng là không.  Nghê Ngô Thành rốt cục đã đi đâu mất rồi nhỉ?  Ở đâu cũng chẳng có Nghê Ngô Thành đang làm cái gì?  Chẳng làm gì sất cả.  Nghê Ngô Thành cần cái gì?  Chẳng cần gì sất cả.  Thậm chí cả tiếng ngáy của Tịnh Nghi và mùi khai thối đầy một buồng (mùa đông cửa đóng kín mít) cũng không cảm thấy gì cả.
Anh ta có thể tỉnh queo tịnh rụi trong hai tiếng đồng hồ, ba tiếng đồng hồ, bốn năm tiếng đồng hồ, cho đến khi trời sáng, thậm chí anh ta cũng không rõ là mình đang thức hay đang ngủ.   Điều đó thật đáng sợ.  Chỉ đến khi ăn cơm, khi anh ta phải phẫn uất đau đớn len vì bữa sáng mà Tịnh Nghi dọn ra quá là kinh khủng, anh ta mới đột nhiên tìm ra được bản thân mình.
Cũng trong thời khắc như vậy anh ta được biết tin: Tịnh Nghi đã có thai.  Thật ư?
Việc gì thế nhỉ?  Việc gì thế nhỉ?
Súc sinh!  Thậm chí anh ta quên cả là việc gì.
Nghê Ngô Thành tự nhiên chảy nước mắt.  Mi là một người rất xấu.  Ta là một người rất xấu.  Mi là một tên súc sinh.  Ta là một tên súc sinh.  Vô sỉ đến thế.  Thiếu văn minh đến thế. Thiếu tính người đến thế.
Trăng chiếu đất
Sáng ngời ngời
Đóng cổng thôi
Ngồi giặt áo
Giặt sạch tinh
Hồ thật trắng
Lấy phải thằng bằng nhắng
Vừa uốn rượu
Vừa đánh bài
Hẩm hiu thôi biết kêu ai
Con mẹ thằng giai cái đèn rũ ri.

Anh ta nhớ tới bài ca dao ở quê hương.  Anh ta vẫn chưa làm rõ được "con mẹ thằng giai cái đèn rũ ri" là ý nghĩa làm sao.
Minh chính là cái đèn cũ ri!  Con mẹ thằng giai cái đèn cũ ri khó hiểu kia!
Có thể giết cũng có thể bắn.  Có thể xử tội chết lăng trì, gọi là xẻo thây vạn mảnh, xẻ thây làm tám miếng, chết chẳng đất chôn.  Những cái đó thì có gì nào?  So với sự đau khổ của riêng anh ta, sự tự xét xử của anh ta, sự tự hủy hoạ và tự giày vò của anh ta, thì xẻ thây làm tám đã đi đến đâu?  Từ khi sinh ra, linh hồn anh ta, tính mạng anh ta, sự thông minh của anh ta, sự lương thiện của anh ta, lương tâm lương tri năng của anh ta, đã chẳng đang bị giết mồ bị lăng trì bị nhục hình, chết đi rồi lại phun cho tỉnh, tỉnh lại rồi lại ép cho chết...  Trong lịch sử bao nhiêu người đã bị chết phanh thây, bị chôn sống,  bị hỏa thiêu, bị đi trên ống đồng nung đỏ, bị hấp luộc rán, nhưng đã ai từng có số phận như anh ta, đã ai từng phải chịu đau khổ như anh ta chưa?  Số phận của anh ta chỉ có con chuột dưới móng vuốt của mèo mới hòng so sánh nổi.  Thiên địa bất nhân, lấy vạn vật làm cho dữ.  Thiên địa bất
nhân, lấy Nghê Ngô Thành làm chuột dưới vuốt mèo!
Vì vậy tôi chẳng nghe ai, tôi chẳng nợ ai!  Chẳng ai có quyền phán xét tôi, chế nhạo tôi, chỉ trích tôi!  Ngày nào tôi cũng đang chịu nhục hình, ngày nào tôi cũng đang chịu tội, thiên địa quân thân đều thi hành hình phạt tàn khốc đối với tôi.  Ngày nào tôi cũng đều bị chế nhạo bị phán xét bị trách cứ!  Tất cả tội chướng mà tôi phải chịu, đã nhiều gấp trăm lầm ngàn lần những nghiệt chướng mà tôi phạm phải, tôi mắc nợ từ lâu rồi, bây giờ kẻ bị phán xét bị chế nhạo bị trách cứ bị xử nhục hình bị xử cực hình chính là các người đó!  Tôi vĩnh viễn không khoan thứ các người đâu!
Anh ta tự nhiên đâm ra cáu kỉnh chứ lại.
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-11-12 07:31:05canary>
Trang 419 - 436,  Chương 20

Sau khi biết tin vợ đã có thai lần thứ ba, Nghê Ngô Thành đã hạ một quyết tâm:  Anh ta nhất định phải ly hôn với Tịnh Nghi.
Nhân lúc còn chưa hết hẳn hơi, cứ phải sống thêm mấy năm đã.  Nếu sống mà như người đã chết, không bằng chết luôn đi.
Con mèo hay kêu gào thì không bắt chuột.  Đã hạ quyết tâm rồi, anh ta không bàn với bất cứ ai hết, không để lộ cho một ai hết.  Anh ta trở nên giỏi chịu đựng hơn, có lòng nhẫn nại hơn, dịu dàng hơn đi.  Anh ta nuốt nước mắt mà nhìn con cái mình, không còn định uốn nắn cái gì, giáo dục cái gì nữa.  Thậm chí cũng nuốt nước mắt mà nhìn Tịnh Nghi, anh ta hoàn toàn có thể tưởng tượng cái tư tưởng định ly hôn của anh ta mà bị Tịnh Nghi biết được, thì sẽ là một đòn hủy diệt đối với Tịnh Nghi thế nào.  Anh ta hoàn toàn hiểu rõ, nếu ly hôn thật, thì cuộc sống của Tịnh Nghi sẽ gian nan đáng sợ đến thế nào.
Ta là tên đao phủ của Tịnh Nghi.  Ta trước hết là đao phủ của chính mình.  Một nhát dao giết chết một người, cùng với nó dùng cái giá của một mình mình xuống địa ngục đổi lấy việc mọi người cùng xuống địa ngục, chẳng bằng cố cứu lấy một người còn có thể cứu được.
Anh ta lặng lẽ đi tìm luật sư.  Trước sau anh ta đã gặp ba bị luật sư cả thảy.  Trong đó một vị luật sư ở trong khách sạn Bắc Kinh, nói chuyện một tiếng đồng hồ phải trả một khoản tiền tương đương với gia một đồng cân vàng.  Lại còn một vị luật sư mang biển hiệu bằng tên của Nhật, ông ta tiếp khách bằng tiếng Hán và tiếng Nhật.  Vị luật sư thứ ba là loại mới gặp đã nên quen, anh ta giả vờ đến thăm người ta, nói chuyện khó giải quyết của bản thân mình, không phải trả tiền.
Các vấn đề ba vị đặt ra về cơ bản giống nhau.  Hai bên có làm được một bản đề nghị cùng đồng ý ly hôn không/  Trên thực tế thường có tuyên bố như sau:  Tình cảm của hai chúng tôi không hợp, nhất trí ly hôn, từ nay trở đi hai bên có thể kết hôn với người khác, không ai cản trở ai...  Câu trả lời đương nhiên là phủ định.  Lý do yêu cầu ly hôn là gì.  Tính cách?  Tính cách như thế nào?  Văn hóa, cái đó không thành được lý do.  Hay phát hiện cô ta không trung thực?  Thông gian với người khác?  Tuyệt đối không có.  Hay có khuyết tật về sinh lý?  Hay có sự xúc phạm gây tổn hại cho anh?  Sao cái gì anh cũng không nêu ra được?  Sao anh lại cứ chảy nước mắt ra thế?  Nếu ngài còn tình cảm dạt dào vậy thì tại sao lại đòi ly hôn?  Xem ra ngài và bà Khương Tịnh Nghi có tình cảm sâu nặng lắm, nhu cầu của ngài chỉ là cần điều chỉnh... hay cần điều trị về tinh thần cho bản thân ngài.
Bây giờ chúng ta hãy bàn một chút đến vấn đề cấp dưỡng.  Tôn phu nhân hiện không có việc làm.  Lại là anh đơn phương yêu cầu ly hôn.  Tình cảm không hòa hợp, điều đó chị ấy có thể thừa nhận, tất nhiên cũng không đơn giản như vậy.  Thế thì chị ta sẽ có quyền đòi hỏi được cấp dưỡng.  Chị ta hoàn toàn có thể đưa ra một yêu cầu cấp dưỡng với giá trị cao, anh chuẩn bị trả lời ra sao?  Anh có thể chi trả bao nhiêu?  Điều này là không thể lơ mơ được rồi, đến vấn đề như vậy mà anh cũng chưa hiểu rõ, tại sao lại đã đến chỗ luật sư?
Con cái, anh định giá vấn đề thế nào?  Đoán là mẹ nó sẽ không chịu bỏ.  Cái gì?  Anh đoán là trong tình huống có thể chi được số tiền cấp dưỡng giá trị cao, đồng ý ly hôn, đối phương cũng không có yêu cầu tái hôn?  Như vậy thì càng có thể khẳng định, chị ta nhất định đòi nuôi con.  Anh khóc cái gì?  Trước nay chưa bao giờ gặp một ông bố thương con như vậy mà yêu cầu ly hôn...  Cái gì cái gì?  Nghê tiên sinh ngài thế này là sao?  Sao ngài không nói sớm?  Việc này thật là - xin thứ lỗi - như trò cười.  Tất cả mọi luật pháp của các nước có luật pháp đều cấm chỉ bên nam đòi ly hôn khi bên nữ đang mang thai, trong lúc như vậy mà nêu ra việc ly hôn thì về mặt đạo nghĩa đã là đứng không vững rồi...  Xin mời về đi, đề nghị không nên tiếp tục ở đây để làm mất thời gian của cả hai bên chúng ta.
Nhưng Nghê Ngô Thành trái lại vẫn thổ lộ tâm tư rất là kích động.  Thưa ngài luật sư tôn kính, chính vì tôn kính đối với nghề nghiệp và con người của ngài nên tôi mới đến đây để xin chỉ giáo.  Xin ngài không cần ám thị, tôi sẽ thanh toán tiền đúng hạn.  Tôi yêu cầu ly hôn, tôi không ly hôn không được, bất cứ ai dùng bất cứ danh nghĩa gì cũng không thể ngăn cản được tôi.  Luật này luật nọ, chính phủ này chính phủ kia, làm gì có đạo lý dùng một sợ dây thừng trói hai người lại để bảo họ cùng xuống địa ngục?  Đó là thiếu văn minh và thiếu lý trí.  Vì vậy, tôi nói một cách rõ ràng không nhầm lẫn gì với các ngài rằng, các ngài bằng lòng giúp tôi thắng được vụ kiện này cũng vậy, ngài từ chối thụ lý vụ kiện này cũng vậy, tòa án phán quyết đồng ý cũng vậy, tòa án bác bỏ vụ này cũng vậy, thậm chí bắt tôi lên đoạn đầu đài cũng vậy, tôi phải ly hôn với Tịnh Nghi!  Tôi phải ly hôn!  Các ngài không có bất cứ lý do gì bắt buộc tôi tiếp tục cùng sống với một người đàn bà mà hai người chúng tôi đều chỉ có thể đem lại đau khổ giày vò lẫn nhau.  Ít nhất các ngài cũng phải hiểu được những nguyên tắc cơ bản của văn minh hiện đại chứ?
Nhưng mà, tôi quyết không thể phỉ báng Khương Tịnh Nghi vợ của tôi.  Các ngài ám thị tôi phải tiến hành phỉ báng đối với cô ấy chứ gì, xin lỗi nhé, xin cho tôi nói hết.  Tôi thẳng thắn từ chối làm như vậy.  Vì làm như vậy là mất đạo đức mà cũng không phù hợp sự thực.  Trái lại, tôi phải nói Tịnh Nghi không có tội gì cả, cô ấy không có tật xấu gì đáng kể.  Cô ấy là một người tốt.  Cô ấy sinh con đẻ cái, nuôi nấng chúng, trông nom nhà cửa.  Cô giữ nghiêm đạo đàn bà, yêu cầu của cô ấy rất thấp thấp ghê gớm, cô ấy chưa làm gì có lỗi với tôi hết.  Ngài muốn nói thế kia thì cứ việc nói như vậy.  Đúng vậy, tôi đã chảy nước mắt, không phải là tôi hoàn toàn không... yêu cô ấy đâu...  Nghĩ mà xem, mười mấy năm rồi, chúng tôi đã có hai đứa con...  đến mùa hè này sẽ có đứa thứ ba.  Tôi yêu con cái, tôi yêu con cái!  Chính vì yêu, tôi mới nhất định phải ly hôn với cô ấy.  Bởi vì tôi chỉ có thể đem lại đau khổ cho cô ấy, cô ấy cũng chỉ có thể đem lại cho tôi đau khổ và còn cả hủy diệt nữa!
Giả dối!  Giả lương thiện?  Rất tốt.  Tôi yêu cầu, không, tôi khẩn cầu các vị chứng minh tôi là một người giả dối.  Các vị có thể ra tòa làm chứng được không?  Tôi không những là một kẻ giả dối mà còn là một kẻ mưu sát...  Hiện giờ vẫn đang tồn tại khả năng mưu sát Khương Tịnh Nghi, Nghê Bình, Nghê Tảo, và đứa bé thứ ba tội nghiệp kia, lại còn sự nguy hiểm hết sức thực tế!  Hoặc là sống, hoặc là chết, hoặc là ly hôn, hoặc là không cho ly hôn.  Hoặc là ly hôn để sống, hoặc là không ly hôn để chết.  Không có sự lựa chọn nào khác...
Ánh mắt của luật sư thật lạnh lẽo, khéo miệng ẩn hiện nét cười chế giễu...  Vị đại luật sư ở khách sạn Bắc Kinh ngáp một cái.  Vị luật sư nói tiếng Nhật đưa tay vỗ nhẹ nhẹ lên bụng mình.
Tiền vay được đã dùng hết.  Nói chuyện với luật sư không đem lại cho Nghê Ngô Thành một lối thoát nào cả.  Nhưng Nghê Ngô Thành lại càng kiên định, anh ta còn phải tìm cách khác.  Anh ta nhất định phải làm bằng được việc này.  Anh ta tuyên cáo với vị luật sư một lần nên quen không phải trả tiền nọ rằng: Tôi hoàn toàn thừa nhận, về mặt đạo nghĩa thì tôi không thể đứng vững.  Hành động của tôi sẽ đưa đến cho tiên sinh Khương Tịnh Nghi (anh tự nhiên gọi là tiên sinh, khiến bản thân cũng phải ngỡ ngàng) một tổn thất to lớn về thân tâm.  Tôi sẽ bồi thường lại cho cô ấy bằng một khoản chi phsi cấp dưỡng lớn.  Khương Tịnh Nghi rất coi trọng tiền, nếu tôi có thể cho cô ấy một khoản tiền lớn, sẽ là sự an ủi không nhỏ đối với cô ấy.  Khoản tiền đó trước mắt tôi chưa xoay ra được.  Mà vừa hay trái lại tôi còn nợ khá nhièu, không những nợ người ngoài, mà còn nợ cả Tịnh Nghi.  Tôi hết sức thật thà mà nói với anh, tôi đi du học châu Âu là đã nhận được sự tiếp tế của vợ và mẹ vợ đó.  Số tiền đó tôi cũng phải trả cùng với tiền bồi thường cho họ.  Nợ ơn một giọt, phải trả cả một dòng suối, đấy là nguyên tắc làm người nhất quán của tôi...  Đúng vậy, hôm nay tôi chưa có tiền.  Tại sao lại không có tiền chứ?  Bởi vì tôi không có đất dụng võ.  Năng lực của tôi, trí lực của tôi, nhiệt tình của tôi, tinh thần chịu khó của tôi, tinh thần treo tóc xà nhà, đâm dùi vào người để học của tôi, tất cả đều bị áp chế, tất cả đều bị trói chặt.  Tiềm lực của tôi hiện nay chưa phát huy được đến một phần nghìn, vậy tức là nói còn chín trăm chín mươi chín phần vẫn bị đè dưới Ngũ Hành Sơn, bị trói trong dây chói của tiên ông!  Ngũ Hành Sơn và dây trói tiên đó chính là hôn nhân của tôi, gia đình của tôi.  Nó làm bại hoại tâm tư tình cảm của tôi, bại hoại khẩu vị của tôi, bóp nghẹt sự khôn ngoan của tôi, đè nén tinh thần của tôi, nghiền nát tâm hồn tôi...  Mà chỉ cần dỡ bỏ được núi kia, cởi bỏ thừng kia, thì tôi sẽ có thể làm học vấn, làm giáo dục, tôi có thể làm chính trị quân sự kinh doanh quản lý tài chánh...  Cái gì tôi cũng có thể làm được.  Tiền thì là cái gì?  Vàng bạc là cái gì?  Trân châu mã não là cái gì?  Trời sinh ta có tài tất có chỗ dùng, ngàn vàng rắc đi còn vớt được...  Ngày ngàn vàng mà vớt lại được, tôi sẽ hiến cho Tịnh Nghi là người đầu tiên...  Ngài có thể thử tìm Khương Tịnh Nghi mà xem, chính cô ấy cũng sẽ không thể không tin những lời của tôi là thành tâm trăm phần trăm!
Vị luật sư mới gặp lần đầu cau lông mày vào rất sâu, rất chặt.
Rời chỗ luật sư, Nghê Ngô Thành cảm thấy một cơn mệt mỏi đến tận xương.  Anh ta dựa vào một cây cột đèn đã nghiêng ngả để nghỉ một lát.  Xe điện kêu leng keng khiến anh ta tâm hoảng, ý loạn.  Mắt anh ta hoa lên, đường phố, xe cộ và người đi đường cứ cồn lên như sóng.
Đồng ruộng nhiễm mặn của quê hương sao hoang liêu vô tận!  Chỉ có những vết nứt nẻ đau đớn, chỉ có những váng phèn đỏ đen ngàu đục, chỉ có những vết sần trắng xóa.  Gió to cuộn tới, cát bay, đá chạy, bụi mù tăng tít, rồi chỉ còn trơ trọi cây khô, cây khô và sự trống trải.
Trong trống trải đó lại có những thôn nhỏ bên trái, trang trại nhỏ bên phải.  một hảo hán.  Cầu Trương Nhị.  Trại ngự ô.  Ao nhà Hoa.  Đàm nhà Thôi.  Quả lăn họ Lưu.  Triệu Tú Tài.  Chùa Xá Nữ.  Chu Bát Đạt.  Đầu ấn.  Đuôi ấn.  Đào thôn.  Mạnh Quan Đồn.  Đó chính là quê hương thân yêu của anh ta.  Đó chính là ruộng đất để sinh tồn của bao đời tiên tổ.  Những cái tên thôn xóm đó thật vô cùng thân thiết.  Nhưng lại tràn ngập lên sự buồn tẻ và hoang vắng ở nơi đó.  Trách nào mà ở đâu xuất hiện một liệt nữ mười ba tuổi uống phốt pho đỏ hay ở đâu xuất hiện một đôi chị em gái treo cổ tự vẫn, là những con người mê muội kia liền lập tức hứng lên như phát cuồng, tranh nhau truyền tụng, làm thơ, làm văn, lập bia, lập truyện...
Trong cảnh đầm cát, ruộng muối lúc hoàng hôn, nếu như sau khi đâm thủng cổ họng mà có thể nhìn thấy một chút máu đỏ, có thể rơi xuống đất một bãi hoa đào, có thể ngửi thấy mùi tanh mặn, có thể cảm thấy một cơn đau dữ dội thì còn có được vài phần phấn khích chăng?  Có lẽ đối với cuộc sống của chúng ta, cái thứ còn chưa hoàn toàn mất đi sự quyến rũ duy nhất chỉ còn một chữ "chết" thôi chăng?
Nghê Ngô Thành mơ mơ màng màng cắt đứt động mạch của mình.  Nhưng chẳng thấy có máu, chẳng đau, chẳng có màu đỏ bầm, chẳng có phun phè phè cũng chẳng có chảy tràn trề.  Từ trong mạch máu của anh ta chỉ chảy ra từng giọt, từng giọt nước bùn!
Con đường thụt xuống, hai bên đường như vách đá cheo leo.  Đất mặn rất xốp, không chịu nổi sức nén.  Đường đất ở vùng ruộng mặn đều là những khe hẹp. Nghê Ngô Thành dắt xe đi trong cái khe chỉ vừa đủ chứa một người và một xe, nhưng lại gặp một chiếc xe từ trước mặt đi tới.  Hai chiếc xe đều không thể tiến lên được, nhưng cũng không lùi lại được.  Đường bị kẹt rồi, người đi đường phẫn nộ hò hét: Đem mà đập tan bọn họ đi!
Đập tan đi?  Hộ pháp đá một trượng hai đời nhà Đường ở quê hương bị đập tan đổ trên cát mặn.  Gió.  Gió, gió không có gì che đậy, ai oán và không bao giờ bị thổ bạt, không bao giờ ngừng hết cả.  Trong căn phfogn trống rỗng đã bị lãng quên từ lâu.  Anh ta đã giáng sinh rồi, đã nhất quyết chịu đựng tất cả mọi tội chướng và khổ đau.  Anh ta đằng nào cũng đã thối nát và diệt vong rồi.  Ha ha ha...
Nghê Ngô Thành cực kỳ lần lữa rồi cuối cùng đã trở về nhà.  Anh ta trông sắc mặt rất xấu, thần thài trầm buồn.
"Ba con thế nào ấy?"  Anh nghe thấy Nghê Bình hỏi mẹ nó.
"Ít hỏi thôi!"  Đó là câu trả lời của Tịnh Nghi.
Bỗng tự dưng vào lúc ăn cơm tối Nghê Tảo lại đặt ra một đống câu hỏi, toàn là những vấn đề chính trị, chắc đây là lần đầu tiên từ bé đến giờ Nghê Tảo gặp phải những sự khó hiểu về chính trị.
Ba ơi, ba bảo người Nhật tốt hay không tốt?
Người Nhật bắt nạt người Trung Quốc, chiếm đất Trung Quốc.  Nhưng người Nhật tiên tiến, có chí khí.  Đáng để chúng ta giật mình tỉnh ngộ.
Uông Tinh Vệ thì thế nào?
Ba nghĩ hoàn cảnh của Uông Tinh Vệ là đáng buồn.  Cũng giống như từ cổng chào bốn cửa bên Tây đến cổng chào một cửa đằng Đông vậy, đi đường thẳng thì rất gần, nhưng đường thẳng thì đã xây bao nhiêu nhà cửa rồi, không có đường nữa, phải đi đường vòng thôi...  Đó là cách giải thích riêng của anh ta.
Thế thế cái ông gì ấy nhỉ, họ nói tên là Tương...
Con định nói Tưởng Giới Thạch đấy chứ gì?  Tưởng Giởi Thạch đang lãnh đạo kháng chiến, ông ấy là lãnh tụ của Trung Quốc.  Ba hy vọng ông ấy có thể thành công.
Còn Bát lộ quân thì thế nào,  đảng cộng sản thì thế nào?
Mao Trạch Đông, Chu Đức, đó đều là những kỳ nhân, vĩ nhân, họ chủ truog chủ nghĩa cộng sản.  Chủ nghĩa cộng sản là một tủ tưởng ghê gớm lắm, chỉ phải cái thực hiện thì quá khó.  Hy sinh quá nhiều đi.
Nga Xô thì sao?
Nga Xô là nước lớn mạnh nhất thế giới.  Họ thực hiện kế hoạch năm năm để làm cho đất nước trở nên giàu mạnh...
Thế thì... rốt cục là ai đúng nhỉ?
Đều đúng cả?
Thế tại sao bạn ở lớp con lại nói Vương Bái Đường là Hán gian nhỉ?  Ba có thích Hán gian không?
Nói bậy!  Nghê Ngô Thành đột nhiên cáu kỉnh lên.  Những vấn đề đó anh ta vốn cũng chẳng nghĩ được rành rẽ gì cả, hôm nay nói đến, càng thấy rối như canh hẹ.  Thà là con chó của thời bình, còn hơn làm con người thời loạn.  Tại sao anh ta lại bị sinh vào thời loạn?  Tại sao lại phải sống trong cái gia đình loạn nhất trong thời loạn?  Quả là kêu trời chẳng thấu, gọi đất không thưa, muốn khóc mà không nước mắt!
"Mẹ đã bảo con từ trước rồi, ít hỏi thôi!"  Tịnh Nghi dằn từng tiếng nói với cậu con trai.
Nghê Tảo nghiêng đầu, mặt đầy vẻ băn khoăn thắc mắc.  Câu trả lời của cha hiển nhiên không thế nào khiến nó tin phục.  Trước kia, tuy nó đã từng cùng với chị chế giễu cha tham ăn, chế giễu bao nhiêu những thói quen và những tín điều trong cuộc sống lúc nào cũng ra vẻ kiểu cách của cha, với lại nó luôn phải nghe những lời mẹ nói xấu cha là "không quan tâm gia đình", nhưng trên những vấn đều quan trọng dính dáng đến quốc gia đại sự hoặc vấn đề khoa học, học thuật, thì nó vẫn sùng bái cha lắm và tin tưởng sâu sắc không nghi ngờ gì cả.  Mấy tháng nay, cha ở nhà dịch bài, dịch sách, việc đso càng khiến cậu con trai phải bái phục.  Nhưng những câu trả lời về vấn đề chính trị với việc nổi nóng một cách vô cớ như hôm nay đã hạ thấp uy tín của cha đi rất nhiều.  Nghê Tảo thậm chí còn ngầm cảm thấy sự bất lực và lúng túng của cha.  Cha có lẽ không thế nào nói cho đến nơi, đến chốn được, nó cảm thấy trong cái câu "nói bậy" kia của cha có ý như ngượng quá hóa bực ấy.  Không những nó thất vọng mà còn ngượng thay cho cha nữa.
Vẻ mặt đứa con khiến Nghê Ngô Thành không có đất dung thân.  Thật kỳ lạ, sống trong cái thời loạn lạc như vậy mà anh ta trước nay chưa hề suy nghĩ một cách toàn diện và thử trả lời những vấn đề chính trị quan trọng nhất có liên quan với nhau như vậy.  Thằng con trai lại là người đầu tiên hỏi cùng một lúc nhiều vấn đề chính trị trọng đại mà khó tránh né như vậy.  Thế mà những câu trả lời của anh lại chẳng phù hợp lô gíc, hoàn toàn rối rắm và kỳ cục.  Nghe ra giống như kẻ giả đò thớ lợ, nghe ra giống như kẻ mắc chứng ngớ ngẩn đầu óc toàn bã đâu.  Thằng con trai đã đột nhiên lại đẩy anh ta vào góc chết trên bình diện chính trị chứ!  Anh ta đã lờ mờ cảm thấy ra được sự đáng xấu hổ trong trạng huống của mình.
Hai tiếng đồng hồ trước đây, anh ta còn tuyên bố với vị luật sư không thu tiền rằng: chỉ cần cất bỏ trái núi lớn đang đè lên đầu anh ta, thì anh ta có thể làm chính trị quân sự được ngay!  Làm cái chính trị quân sự gì cơ chư?  Há chẳng phải sự dối trá tày trời ư?
Từ trước tới nay, chưa có ai từng thảo luận với anh ta những vấn đề đó.  Trước nay anh ta cũng chưa từng chính thức trả lời bao giờ.  Những câu hỏi của anh ta khiến bản thân cũng đã thấy hồ đồ.  Những câu trả lời của anh ta rốt cục có ý nghĩa gì chứ?
Mãi đến lúc thời qua vận biến, Trung Quốc giải phóng, thôn quê cải cách ruộng đất, sau rất nhiều thay đổi, Nghê Ngô Thành mới gọt bỏ khối xương cốt của mình cái chất túy của tính nô lệ, của địa chủ vùng đất mặn, đất trũng.  Những kẻ du côn nhà quê sợ tường thành, kẻ du côn thành phố sợ nhà lớn.  Quan đánh, dân không xấu hổ, cha đánh, con không xấu hổ.  Nói đến quan, kể cả quan của Uông Tinh Vệ, địa chủ to nhỏ từ chùa Xá Nữ đến Đuôi ấn cơ hồ toàn bộ đều nhũn hết đầu gối...
Tất nhiên, cho dù ngay lúc đó, anh ta cũng biết rất rõ rằng hàng mấy chục triệu nhân sĩ trí thức đang tắm máu mà kháng chiến, đang hiến thân cho cách mạng, đang lập chí cứu nước.  Anh ta hoàn toàn biết Nhạc Phi, Lương Hồng Ngọc, Văn Thiên Tường, Sử Kha Pháp, Lâm Tắc Từ, Tôn Trung Sơn.  Nhưng những người đó cách xa anh nhiều quá.  Tôi không phải là thánh nhân, anh ta dùng câu nói đó để chặn đứng khả năng của mình đi lên con đường yêu nước và cách mạng chân chính.  Anh ta chỉ có thể chạy theo đuôi mọi người, mỗi lúc mỗi tụt xa...
Ba ngày sau, truyền tới một tin hay: Cuối cùng Nghê Ngô Thành đã tìm được một việc làm thích hợp.  Đại học Triều Dương đã mời anh ta đến làm giảng sư về lô gíc học cho khoa giáo dục học và khoa triết học, mỗi tuần sáu tiết học, lương tháng còn cao hơn hồi ở trường đại học Sư Phạm.  Đó là kết quả của việc Tịnh Nghi với anh ta đã chạy ngược, chạy xuôi, nhờ hết bạn này, bè nọ, lại đưa mấy lần phong bao quà cáp mới thu được.  Để tìm việc làm đó, người đồng hương của họ, Triệu Thượng Đồng viện trưởng viện Nhãn khoa Quang Minh đã phải tốn không ít công sức.  Tịnh Nghi phấn khởi khác thường, việc đó có thu nhập cao hơn việc dạy ở trường trung học nhiều, chắc chắn hơn nhiều so với việc kiếm sống bằng dịch một số bài viết và tác phẩm mà chẳng ai thấy thích đọc.  Xem ra đứa con thứ ba sắp ra đời của cô là đứa tốt số đấy, chưa sinh ra đã gặp thời gặp vận, lãng tử đã quay đầu rồi...
Nhận được giấy mời chính thức rồi, nhưng vì Nghê Ngô Thành ra ngoài không có nhà, nên còn chưa kịp nói với anh ta.  Khi Tịnh Nghi đang một mình sung sướng, thì người láng giềng Nóng hổi bên cạnh nhà, tóc tai xõa sợi, vội vội vàng vàng, như lửa  được gió chạy tới: "Em Hai, chị có chuyện cần phải nói riêng với em..."
Có chuyện cần nói riêng?  Ý tứ gì đây?  Tại sao không thể để mẹ, chị cùng nghe?  Chẳng lẽ định ly gián quan hệ ba mẹ con chúng tôi hay sao?  Mình nói chuyện riêng với bà ta, không cho mẹ và chị tham dự, mẹ và chị lại chẳng nghi hoặc hay sao?  Đó chẳng phải là không khều mà rụng hay sao?  Ai chẳng biết Nóng hổi là một kẻ giỏi đưa tin đặt điều, là kẻ chúa lắm chuyện thị phi?  Tịnh Nghi nghĩ ngợi một lúc, lông mày cụp lại, nói rề rà: "Có chuyện gì thì nói luôn ra đi.  Tôi với mẹ, chị chẳng ai nói cái gì sau lưng ai.  Chuyện tốt không nói sau lưng, nói sau lưng không chuyện gì tốt."
"Đây là tôi muốn tốt cho cô thôi, cô em ngốc của tôi ạ."  Nóng hổi kéo dài giọng, thu chân vào, "Tôi có gì mà phải nói sau lưng, có phải chuyện của tôi đâu?  Tôi chỉ sợ cô bị nhốt trong hũ nút, để cho người ta chê bỏ, cuối cùng rơi mất cả đầu rồi mà vẫn chẳng biết tại sao lại rơi đấy!"
"Chị nói gì?" Tịnh Nghi vắn ắmt hỏi lại.  Cái câu "rơi mất đầu" đã xúc phạm đến nỗi cô đã sắp ra lệnh đuổi khách.
"Thôi thôi!  Cô muốn nghe cũng thôi, không muốn nghe cũng thôi, ai bảo chúng mình lại là đồng hương nào?  Anh em xa không bằng láng giềng gần, láng giềng gần không bằng nhà ở đối diện.  Chúng mình tuy không phải nhà đối diện, cách một bức tường thì cũng như người một nhà, cùng một bụng.  Việc của cô cũng là việc của tôi, ai giở trò xấu đối với cô cũng như giở trò xấu với tôi, cô chịu thiệt cũng như tôi chịu thiệt.  Tôi là tôi tận trung báo quốc, không ăn ở hai lòng, có đánh cũng không đi, có đuổi cũng không rời!  Em Tịnh Nghi ơi, chị báo cho mà biết, em phải đề phòng đấy, chồng em chị phải gọi là tiên sinh Nghê đấy, ông ta chẳng có bụng gì hay đâu!"
Tịnh Nghi chẳng vui vẻ gì nữa, cô ngắt lời Nóng hổi, hỏi một cách thô bạo: "Chị nói đi, chị muốn nói gì nào?  Chị muốn gì/  Ba mấy đứa bé làm sao, dính dáng gì đến chị?"
Nóng hổi chẳng tính toán gì đến việc mình bị đối xử lạnh nhạt, bà ta đưa mắt nhanh nhẹn, chuyên chú, bí hiểm mà nhìn khắp bốn xung quanh, rồi hạ giọng; "Em Tịnh Nghi này, nói thực với em nhé, chị biết rồi đấy, chị đã nghe ngóng được rồi, em có biết không?  Ba của Nghê Tảo đã tìm luật sư đấy, anh ta sắp ly hôn với em!"  Bà ta liến thoắng, mặt mũi hớn hởn, tựa hồ đưa được cái tin đó thì mới thấy thỏa mãn trong lòng.  Sự hứng thú của bà ta đã tràn cả ra ngoài mặt và lời nói.
Sự rung động vì cái tin bất ngờ và sự phản cảm hoài nghi với thái độ cử chỉ nói năng của Nóng hổi hình như đã triệt tiêu lẫn nhau.  Tịnh Nghi mặt lạnh tanh, chẳng nói chẳng rằng, đằng đằng sát khí.  Cô không thể để lộ phản ứng bất ngờ, hoảng hốt, khó chịu gì trước mặt Nóng hổi.  Cô nhất định không để Nóng hổi cười vào mũi, không để cho Nóng hổi moi được ở mình bất cứ lời nào.  Cô đùng một sự bình tĩnh lạnh lùng chưa từng có để bắt đầu suy nghĩ vấn đề quan hệ của Nghê Ngô Thành.   Thật ư?  Giả ư?  Là sự thực?  Là lời bịa đặt?  Bất kể dụng tâm của Nóng hổi ra sao, việc phải phán đoán bây giờ là cái tin tức như sấm sét giữa trời quang mà bà ta mang đến kia có phải là sự thực đáng tin cậy không?
Sự trầm lắng của Tịnh Nghi khiến Nóng hổi hơi thất vọng.  Bà ta hỏi: "Sao không nói gì cả thế?  Ba chúng nó dạo này rốt cục thế nào rồi nhỉ?"
Vốn không định tâm nghe câu chuyện của bọn họ, nhưng Tịnh Trân lúc đó tự nhiên cũng bắt chuyện: "Sao chị biết hả?"  Thần thái chị ta hoàn toàn giống như thẩm vấn Nóng hổi.
"Sao tôi lại không biết?  Nếu muốn người ngoài không biết việc, trừ phi mình không làm.  Đằng nào tôi cũng đã báo tin cho các cô rồi, tin hay không tùy các cô, tôi chẳng hơi nào lại biến lòng tốt của mình thành đồ vứt đi!  Tôi cũng chẳng phải con mèo đem chuyện đem tin xấu đâu!"  Nói xong, bà ta nhấp nhổm định bỏ đi.
Tịnh Nghi không biết nói thế nào cho được.  Tịnh Trân thì chỉ cười nhạt: "Tôi nói cho chị biết nhá, tôi không tin.  Em rể tôi dạo này rất được, rất quy cũ, chú ấy đã hồi tâm chuyển ý rồi.  Em ạ, đừng có tin những câu chuyện rỗi hơi đó, chúng khẩu đồng từ ông sư cũng chết, lời đồn đại không đủ căn cứ.  Tục ngữ có câu trăm nghe không bằng một thấy.  Mình không nên nghe gà hoá cuốc, cầm dùi lại ngỡ là kim!"
Nóng hổi cuống lên.  "Ơ, nói thế chẳng hóa tôi là đứa đặt điều à?  Em gái ngốc của tôi ơi!  Tôi chỉ mong các người già trẻ đoàn viên, gia đình hòa mục. Nhưng biết làm gì được chứ!  Cái ông đại luật sư Hồ Thế Thành ở khách sạn Bắc Kinh mà tiên sinh Nghê đến tìm, lại cả luật sư Nhật Bả Viên Khẩu Chính nữa nhá!  Cháu gọi bằng cậu của bên nhà tôi làm văn thư cho luật sư Hồ, nó lại kiêm cả tiếp nhận và liên lạc với khách hàng.  Đại luật sư Hồ thích nó ghê chứ lỵ!  Việc gì của đại luật sư Hồ mà nó chả biết?  Vụ án nào mà nó chả hay?  Việc chia nhà, việc ngủ ngáy loạn luân, việc gì nó chẳng biết?  Nhà luật sư Viên Khẩu á, nó cũng ra vào thường xuyên, như người nhà ấy!  Các cô không tin các cô đi nghe ngóng mà xem.  Báo tin cho các cô thì tôi được gì nào?  Chẳng phải thế à, thế mà lại làm các cô không vui.  Từ xưa vẫn thế mà, làm ơn nên oán, nói thật mất lòng chẳng có cơm mà ăn!  Cái cô em thật thà ngốc nghếch kia của tôi!  Ngày thường thì cũng khôn ra phết, sao giờ cứ đặt như bí ấy vậy.  Ai chả biết sơ không chia rẽ được thân - tôi thì là cái trò trống gì cơ chứ?  Tiên sinh Nghê là phu quân của em Tịnh Nghi, là ba của hai đứa bé kia mà..."
Trong khi Nóng hổi vẫn đang hoa chân múa tay thao thao bất tuyệt, Tịnh Trân đưa mắt nháy Tịnh Nghi một cái, nói một cách khôn khéo: "Được rồi, được rồi, lòng tốt của chị chúng tôi xin nhận.  Thực ra những tình hình đó chúng tôi đã biết cả rồi, nhưng chưa tra xét được rõ ràng.  Việc chưa xem xét, kiểm tra được rõ thì không cần nói, chúng tôi cũng không cần thiết phải nói với chị.  Chị cũng không cần thiết phải nói với người khác.  Việc cưới tang gả bán, là việc lớn của người ta, chưa tra xét đến nơi đến chốn đã nói lung tung khắp nơi thì chẳng phải là người lớn đâu.  Hơn nữa như vậy còn là phạm pháp, bởi vì làm vậy có khi còn động đến cả mạng người đấy.  Động đến mạng người thì ai đưa tin người ấy phải chịu trách nhiệm!  Nó thật với chị, người đồng hương tốt, người hàng xóm tốt của chúng tôi nhé!  Con gái họ Khương chúng tôi, người nào người nấy cứng như dao, nóng như lửa.  Mỗi bước một dấu chân, bước nào bước nấy đều đi đường đúng đắn.  Lão thiên vương Ngọc hoàng thượng đế có nể vợ cũng phải nói rõ đầu đuôi xấu xí thế nào.  Chị đừng có nghe nói thế này thế nọ, theo tôi thì toàn là đồ cứt chó cả!  Em rể tôi chỉ tội học hơi nhiều tiếng Tây một ít, nên có hơi yếu đuối, nhưng con người vẫn là tốt.  Chú ấy chẳng thế nào đâu, mà có thể nào cũng chẳng xong!  Bà chị tốt của tôi ơi, bà chị cứ yên tâm đi, thế nào bà cũng hưởng được điều tốt đấy!"
Nóng hổi chớp chớp mắt, chẳng biết là nghe hiểu đến đâu.  Dù sao cũng thấy mình chẳng có gì đề nói nữa, cũng chẳng nghe được gì nữa, liền cáo từ bỏ đi.
Tịnh Trân có sẵn ý trong bụng đuổi khéo Nóng hổi đúng như ý muốn - lần này còn tỏ ra lịch sự có thừa, tiễn ra đến tận cổng, cười khà khà hai tiếng.  Tận mắt thấy Nóng hổi đã vào nhà bà ta thực rồi, chị ta mới đóng chặt cổng nhà mình, quây quả trờ vào trong nhà.  Chị ta nói với Tịnh Nghi lúc đó mặt đang tái nhợt, hoang mang ngơ ngác rằng: "Xem ra là thật đấy, chị đã biết cái lão tôn đó còn phải biến hóa bảy mươi ba phép kia!"
"Chị..." Tịnh Nghi run cả môi, nói không ra lời nữa.
"Chị cố ý nói kiểu như vậy đay, em rể tôi tốt lắm kia!  Chị gọi có vẻ thân lắm chứ!  Không vậy, làm sao kích cho loại người như Nóng hổi nói ra được những câu thật sự đúng?  Nóng hổi đằng nào cũng đã đến rồi, bà ta đến chính là để báo tin cho em thôi, mèo đêm đã vào nhà, thì chẳng sự gì không tới!  Chúng mình lại còn lại gì cái con người chuyên thấy người gặp nạn thì vỗ tay cười như bà ta?  Có tin dữ mà bà ta không thêm dấm, thêm mắm vào để báo cho mình thì chả hóa ra uổng một lần đến, uổng một đời người hay sao?  Nhưng bà ta muốn nửa kín nửa hở, muốn vòng vo để dứ em, muốn thấy em đau đớn, thấy em lăn lộn vật vã ngay ra đó thì mới sướng trong bụng đấy.  Em hôm nay hay thật, đã cho bà ta một quả, không thèm hé nửa lời.  Còn chị nhá, mày cuống tao không cuống, mày tin tao không tin, em rể tốt thật rồi...  Nếu không vậy, thì sao mụ ấy lại nói hết tất cả ra.  Chúng mình ấy à, một câu cũng không bị mụ ấy moi ra được..."
Tài năng hiểu biết và xử sự của chị đã khiến Tịnh Nghi phục sát đất.  Sự biến đổi đột ngột của sự việc cũng khiến cô cảm thấy bà chị càng thân cận, càng đáng tin cậy.  Cô lặng đi một lúc, rồi vừa khóc, vừa kể, vừa chửi: Đồ đại lưu manh!  Đại côn đồ!  Táng tận lương tâm!  Mất hết nhân tính!  Qua cầu rút ván!  Già đổi lươn lẹo...
Đừng khóc!  Tịnh Trân gắt ỏng, chặn đứng Tịnh Nghi: "Bảy mươi ba phép của lão Tôn, chúng mình lại chẳng từng thấy rồi đó sao!  Có gì là mới mẻ đâu?  Chị đã biết trước, hắn ta đâu đã yên cái bụng!  Càng ra vẻ thật thà chân phương càng không có gì tốt đẹp cả.  Súng bắn trước mặt dễ tránh, tên ngầm sau lưng khó phòng!  Không sợ chồn hôi ăn thịt gà, chỉ sợ chồn hôi đi chúc tết gà!  Mấy tháng nay em cứ nói hắn ta tốt mãi đi!  Em nói vậy thì chị còn biết nói gì?  Chị chẳng còn biết nói gì nữa.  Chị đã đợi cái ngày này của hắn từ lâu rồi cơ!  Chúng mình cũng đừng có thanh động gì đến hắn nhá, cứ vững như Thái Sơn, chị đã ngẫm nghĩ về cái ngày này từ lâu rồi, ăn miếng trả miếng, đuôi ngựa chọc đậu phụ!  Đi tìm Lắc lư đi!  Tìm Lắc lư đi!  Muôn vạn không được lộ, muôn ngàn không được lộ!  Chúng mình phải cho lão Tôn nếm một bài đúng khẩu vị của hắn, và trị thẳng vào thân xác hắn!  Lượng nhỏ thì không phải là quân tử, không độc thì không phải trượng phu!
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
Trang 437 - 456,  Chương 21

Mẹ con nhà họ Khương, không hề chân phương thật thà sùng bái thần Phật gì hết cả.  Đối với thần chú (bài vị tổ tông) thì còn khá là cung kính, đó vẫn còn là sự kéo dài của đạo hiếu, là nguyện vọng thỉnh cầu tiên nhân phù hộ.  Cúng ông thần tài lên, thì cũng đã có ý đùa vui ngấm ngầm trong bụng không nói lộ ra.  Trong bụng càng bật phì cười, ngoài miệng càng ra vẻ nghiêm trang.  Đối với những người, những ma quỷ thần thánh có tước vị lớn, thanh danh lớn, năng lực lớn hơn người bình thường, đối với quyền uy của những người siêu thường, thì thà tin là có còn hơn không tin là có.  Thà để người khác thất kính, thất lễ đến nỗi trở thành ngang tàng ngạo ngược, chứ không để mình có gì bất cung kính, bất cẩn trọng.  Như vậy, người chiêu tai rước hoạ sẽ là kẻ khác, chứ bản thân mình thì muôn vàn vững chãi.  Hơn nữa cái thần ý về thần tài tuy rất xa xôi mờ mịt, nhưng cái chữ "tài" của thần tài thì không thể nào không kính không thân.  Thần tài thần tài, cái cần là tài chứ đâu phải là thần.  Đến nay, thỉnh thoảng có vào chùa vào miếu thắp hương, cũng chẳng qua chỉ là có bệnh thì vái tứ phương mà thôi.
Nhưng, mẹ con họ Khương cũng có một đối tượng thực tế thực sự sùng bái.  Ông chính là Lắc lư.
Lắc lư tất nhiên là biệt hiệu thôi, tên thật là Triệu Thương Đổng.  Sau cơn bệnh nặng cuối mùa thu của Nghê Ngô Thành được cứu chữa xong, Tịnh Nghi đã tâm sự rất dài, đã phơi gan móc ruột với Nghê Ngô Thành.  Trong khi tâm sự đã nêu ra tấm gương sáng cho anh ta, đó chính là ông anh Lắc lư - Triệu Thượng Đổng.  Gọi là Lắc lư cũng khá là sát với thần thái.
Ông ta ngày thường mặc áo blu trắng của thầy thuốc Tây y, không dính một hạt bụi, cởi áo blu ra thì là bộ âu phục.  Người gầy khẳng khiu, tinh thần hăng hái, mũi cao, mắt sâu như chim ưng hạc, đầu to óc lớn, sắc mặt như tiên bân trong phòng thí nghiệm màu vàng như sáp, như ngâm lâu ngày trong nước phooc môn.  Ông ta vừa nói vừa lắc lư cái đầu, vừa đi vừa lắc lư cái đầu, vừa khám bệnh kê đơn vừa lắc lư cái đầu, vừa ăn cơm uống trà vừa lắc lư cái đầu, cực kỳ phong độ.  Đến giọng điệu nói năng của ông ta cũng có cái kiểu bổng trầm ngắc nghi, lắc lại lắc qua như cái đầu vốn vẫn lắc lư vậy.
Ông ta du học Nhật Bản bốn năm, giành được học vị thạc sĩ y khoa.  Bản luận văn nghiên cứu bệnh viêm mí mắt dạng vảy mùn phát biểu bằng tiếng Nhật ở Taisaka xong lại được dịch ra tiếng Anh để đăng lên trên tờ thông báo hàng năm của hội y học Vạn Quốc năm 1933.  Bản thân ông ta sử dụng tiếng Anh cũng rất khá.  Khi học trung học ở Bắc Kinh, ông ta đã từng tham gia ban kịch nghiệp dư tiếng Anh của học sinh, diễn kịch nói của Macxim Gorki bằng tiếng Anh.  Do tướng mạo cử chỉ và trình độ tiếng Anh của mình, ông ta đã lọt mắt xanh một đạo diễn đoàn kịch Thượng Hải.  Ông ta cứ muốn kéo bằng được anh này  đi làm diễn viên.  Vị đạo diễn định để anh ta chuyên môn đóng vai người Tây, đông giáo sĩ châu Âu đi truyền đạo thì dứt khoát không phải dùng đến mặt nạ.  Tiếng La tinh và tiếng Pháp của ông ta cũng đều được cả.  Trong hội liên hoan sinh viên, ông ta còn hát được cả tiếng Ý, những bài dân ca Napoly nổi tiếng bằng giọng nam cao khá xuất sắc (như là bài Mặt trời của tôi chẳng hạn).
Hiện nay, ông ta đang là viện trưởng bệnh viện Nhân khoa Quanh Minh.  Bệnh viện nhãn khoa vốn đặt trong một con ngõ ở khu Tuyên Vũ Môn, vì ông ta có y thuật cao, có thuật kinh doanh giỏi, nên cái bệnh viện trong một cái ngõ, đã nổi tiếng toàn thành phố.  Một năm trước đây, ông ta đã mua được một tòa nhà nhỏ có ba tầng, phá đi, xây mới xong làm trụ sở bệnh viện Quang Minh ngay trên mặt đường đông đúc phồn hoa của khu phố gần chợ Tây Đơn.  Bệnh viện ở địa chỉ cũ trong khu Tuyên Vũ Môn trở thành phân viện.  Sự nghiệp của ông ta hưng thịnh phát đạt như vậy đấy!  Ông ta còn dùng biện pháp kết hợp Trung Tây y tự nghiên cứu chế tạo một loại thuốc nước tra mắt Quang Minh, tiêu thụ rộng rãi ở nhiều tỉnh miền Bắc, thu lợi cực lớn.  Theo những người trong nghề thì nếu không có chiến tranh, thuốc tra mắt của ông ta có thể tiêu thụ toàn cầu, ông ta có thể trở thành tỷ phú ngay.  Hiện nay, ông ta cũng không phải là nhỏ đâu, nghe nói ngoài việc hành nghề y ông ta còn thông qua người đại diện kinh doanh một cửa hàng tiền tệ nhỏ, thu lời vô số.  Về việc này mỗi người nói mỗi khác.  Bản thân ông ta thì không thừa nhận cũng không phủ nhận, chỉ lắc lư cái đầu mà cười đắc ý.  Cười ha hả lên xong thu lại miệng rồi nhưng vẫn còn nét mặt tươi tỉnh ôn hòa dễ chịu ở lại.
Ông ta là đồng hương của nhà Khương Thị.  Nếu không phải sợ mất quá nhiều quanh co trắc trở và sức lực thì cũng có thể chứng minh được rằng ông ta là anh họ của Tịnh Trân và Tịnh Nghi, ông ta hơn Trịnh Trân năm tuổi.  Nhà mẹ để của Khương Triệu Thị chính là họ Triệu, chính là đồng tông của Lắc lư.
Triệu Thượng Đổng xuất thân hàn vi.  Bố ông ta là một thầy giữ sổ sách cho một nhà con cháu địa chủ Trần Bách Vạn ở quê hương.  Ông ta học xong tiểu học ở nhà quê, hoàn toàn nhờ vào thành thích ưu tú khác người, thi đỗ được vào trường công được học bổng lên học ở Bắc Kinh, sau đó thi được đủ điểm du học nước ngoài, phấn đấu làm nên được cả một sự nghiệp.  Bản thân ông ta là con vợ lẽ, mẹ đẻ mất sớm vì bệnh gan.  Mẹ già của ông ta bị bại nửa người, mấy năm gần đây lại phát triển đến mức liệt hẳn và khô quắt.  Còn ông ta sau khi đi du học trở về lập tức đưa bà mẹ già đến Bắc Kinh.  Lúc đso, cuộc sống của ông ta vẫn còn khá gian nan, nhưng ông ta vẫn thuốc thang đầy đủ cho bà mẹ không phải người đẻ ra mình đó, vẫn thực hiện ngày hai lần sáng chiều thăm hỏi, sự hiếu đạo của ông ta đã sớm được bao nhiêu đồng hương xa gần khen ngợi.  Mấy năm gần đây, bà mẹ già lại mất hẳn khả năng tự phục vụ, sự phiệp của ông ta thì đang hưng thịnh, công việc bận rộn nhưng trong việc hầu hạ mẹ già ông chưa bao giờ có một chsut xao nhãng.  Gần đây, bệnh bà ta lại nặng đến mức ỉa di đái dầm, ăn uống phải bón phải đút, Triệu Thượng Đổng vẫn tự mình chăm sóc, chưa bao giờ ỷ cho người khác cái vất vả đó.  Người nào nghe chuyện cũng không ngớt lời tấm tắc: Ôi!  cái thời buổi này!  nếu không thể nào cũng được cứ làm hiếu liêm.  Giá mà hoàng thượng không đổ, giá mà hoàng thượng biết, chẳng biết sẽ phong tước vị cao đến đâu?"
Vậy mà điều đó cũng chưa phải là vấn đề quan trọng nhất.  Điều thực sự khiến người ta cảm động, khiến người ta coi như thần thánh, khiến xa gần đều chắt lưỡi ca tụng lại là việc hôn nhân và thái độ đối với hôn nhân của ông ta.  Mười bốn tuổi ông ta vâng mệnh mẹ già kết hôn.  Vợ hơn ông ta năm tuổi, mù chữ, bó chân, mặt rỗ chằng rỗ chịt, vì đã từng mắc bệnh tràng nhạc nên cổ có vết sẹo.  Bây giờ, bà vợ đã bốn mươi tư, tóc màu đã bạc, dáng vẻ đã già lão, nhìn bề ngoài khi hai người đi với nhau, chẳng lẽ lại bảo giống hai mẹ con, chỉ dám nói với ông ta là trông như chị em.  Ngay từ khi ông ta mới ngày đầu đi du học trở về, ai cũng đoán trước ông ta sẽ cho vợ nghỉ để lấy người khác, có người còn nhiệt tình tính đến việc giới thiệu cho ông ta một cô bạn gái, giúp ông ta lập biệt thất nữa.  Nghe nói có hai vị danh hoa từng có ảnh đăng trên họa báo 369 đã nhắm tài học, phong độ, tài sản của ông ta, đặc biệt là tinh thần phấn đầu và bản lĩnh phấn đấu, đã chính thức thổ lộ tình ái mộ đối với ông ta nhưng đều bị ông ta nghiêm trang cự tuyệt.  Nghe nói - cách nói dưới đây càng khiến người ta rơi nước mắt, càng lưu truyền rộng rãi, duy chỉ không biết tại sao lại lưu truyền ra được - Người vợ kết tóc của ông ta thậm chí đã khuyên ông ta "không cần thiết phải làm khổ mình đâu, có lập thêm thứ thất cũng không phải là không được.  Chàng và thiếp chỉ có hai gái, không có con trai thừa tự, chàng nên lập thêm một dinh nữa đi."  Nghe nói ông ta chỉ cười, ông ta trả lời rằng: "Tuy rằng tôi đã học được một số y thuật nổi tiếng và thuốc của Tây nhưng tôi là hiện thân của đạo đức chân chính Trung Quốc, là người ngồi lòng mà vẫn không loạn.  Bao nhiêu trò cầm thú phá hoại luân thường đạo lý của Tây đó, Triệu mỗ chẳng bao giờ dính dáng."
Nói đến đoạn đấy, mọi người đều chặc lưỡi khen phục, giơ ngón tay cái ra.   Xem đấy người ta mới là trụ đá giữa tầng lớp trung lưu của thế giới ngày nay chứ!  Thật là không tồi, thật là không tồi.  Tịnh Trân mỗi khi nói đến con người đó thì đều hớn hở mặt mày nước bọt bắn tứ tung, có vẻ như đầy cảm khái với con người đồng chí đồng tâm đó lắm.
Mẹ con Khương Triệu Thị khi còn ở quê không hề qua lại với Triệu Thượng Đổng, chẳng qua chỉ biết đến tên mà thôi.  Triệu Thượng Đổng y học cũng biết tên họ vị lang y chồng bà Khương Triệu Thị.  Có điều sau khi đến Bắc Kinh rồi qua sự giới thiệu của người khác ba mẹ con họ mới giành thời gian để thăm hỏi một lần.  Triệu Thượng Đổng đã hiếu lại dễ, đối với người họ hàng hương đảng, cũng rất nhiệt tình thân thiện.  Với ba mẹ con này vừa gặp đã như cố tri.  Trước hết, từ đó ông ta gánh ngay trách nhiệm khám bệnh cho ba mẹ con và hai cháu Nghê Bình và Nghê Tảo.  Về nhãn khoa thì khỏi phải nói, còn cả các loại bệnh như trái gió trở trời, lên đinh, lên nhọt, đau răng, đau bụng, cũng đều được Triệu Thượng Đổng khám bệnh cho thuốc, không lấy một xu.  Gặp phải loại bệnh mà quả không khám ra hoặc ở chỗ mình không có thứ thuốc cần thiết, thì ông ta đều kiên trì giải thích rành rọt rõ ràng, giới thiệu cho bằng gặp thày gặp thuốc.  Chỉ về mặt đó thôi thì ông ta đã trở thành vị thần bảo hộ y tế cho bọn Khương Triệu Thị rồi.  Cứ mỗi năm, năm hết tết đến bọn họ bất quá cũng chỉ có chút quà mọn vài bọc tổ yến và vài thứ điểm tâm mà thôi.  Ngoài việc đó ra, trong quan hệ Tịnh Nghi với Nghê Ngô Thành, sau khi bọn Tịnh Nghi tố khổ với ông ta, ông ta cũng quan tâm đầy đủ, như Tịnh Nghi thì "còn hơn cả anh ruột bên nhà mình!"  Thái độ ông ta rất rõ ràng, đã mấy lần cùng Nghê Ngô Thành gặp gỡ trò chuyện, gây sức ép rất nặng nề với Nghê Ngô Thành, đã có tác dụng to lớn về mặt ngăn chặn Nghê Ngô Thành chối bỏ vợ con, ngăn chặn sự giải thể của cái gia đình đó.  Như vậy ông ta không chỉ là thần bảo hộ về y tế mà quan trọng hơn còn là thần bảo hộ về phong hóa luân lý gia đình nữa.
Đối với mọi người nói chung, Nghê Ngô Thành thường rất hay găng go, gay gắt.  Các vị thầy đạo đức trong con mắt anh ta nếu không phải loại nguỵ quân tử trăm phần trăm chuyên năm thê bảy thiếp, gian díu lăng nhăng thì lại là loại người như xác không hồn, già nua lẩm cẩm, cơ năng suy thoái chỉ có ngồi mà thở.  Người thế tục nói chung chỉ là đồ dòi bọ lúc nhúc ngờ nghệch, ngô nghê đầu chày đít thớt.  Còn số ít vài người trí thức đã từng uống cà phê cô ca brandi, hầu như chẳng ai là không rơi vào cảnh đau khổ mâu thuẫn phiền hà đại loại như anh ta, chẳng ai là không có thái độ thâm thù đoạn tuyệt với văn hóa Trung Hoa như anh ta.  Chỉ có điều đại đa số họ địa vị hiển hách hơn, thành tựu to lớn hơn anh ta mà thôi, cũng vì vậy mà có đủ bảnh lĩnh để thỏa mãn nhu cầu bản thân.  Vì vậy mà không nhếch nhác như anh ta thế này, không vô vọng, không bị nung nấu đọa đầy vạn trạng đến như thế này.  Họ tuy không thể giúp đỡ anh ta một cách vô tư, nhưng ít nhất cũng còn có một chút đồng tình thông cảm.  Kể cả không đồng tình đi nữa, thì cũng không trách cứ không can thiệp vào việc riêng của anh ta.
Nhưg mà viện trưởng Triệu Thượng Đổng, bác sĩ Triệu, thạc sĩ Triệu thì không thế.  Triệu huynh không cao bằng anh ta nhưng trông khí thế hơn anh ta nhiều, tự tin hơn nhiều.  Cử chỉ lắc lư, rung rinh cái đầu một cách có nhịp điệu kia thôi thì thử hỏi nếu không phải là người có học vị, có kỹ thuật, có tài sản, có địa vị xã hội, có đạo đức đến tự mãn tự đắc, làm sao mà lắc lư rung rinh như vậy được chứ.  Bước đi của ông ta vừa nhanh nhẹn, vừa dứt khoát, người thẳng đuột chỉ nhằm phía trước, không hề có ý ngoái lại phía sau.  Khác biệt với đa số người dân nông thôn miền Bắc ở ông ta là, ông ta không bị chân vòng kiềng, mắt cá chân ông ta to khoẻ hơn so với Nghê Ngô Thành chân dài mình cao, mặt mũi thần thái của ông ta,  Nghê Ngô Thành tự tin là không hơn mình, nhưng ánh nhìn của ông ta thì uy nghiêm, sắc sảo hơn nhiều.  Có lẽ cũng có thể hình dung là "ánh mắt như điện" được.  Khi mắt ông ta nhìn thẳng vào mắt Nghê Ngô Thành, Nghê Ngô Thành có cảm giác rùng mình cả lên.  Khuôn mặt ông ta và các nét thì cực kỳ là đẹp, cái kiểu mặt sắc nét, góc cạnh cân đối đso là tương đối hiếm trong số con cháu Viêm Hoàng ở Thần Châu của chúng ta đấy.  Nghê Ngô Thành quan sát hình thể của ông ta, thường nghi ngờ có thể ông ta có xuất xứ nào khác chăng?  Anh ta đã từng thăm dò về tổ tông của họ Triệu, khi thấy bảo nhiều đời chỉ ở quê làm nông, trước nay chưa từng đi đâu hết cả.
Điều khiến Nghê Ngô Thành phải phục nhất chính là học thuật (y thuật) và ngoại ngữ của ông ta.  Nghê Ngô Thành vốn là người cực yêu thích và sùng bái khoa học và ngoại ngữ.  Vốn liếng về khoa học và ngoại ngữ của anh ta tuy đã vô cùng ưu việt, quá nhiều quá cao, thậm chí là quá dư quá thừa trước mặt mẹ con họ Khương, nhưng trước mặt việcn trưởng Triệu, anh ta lại có cảm giác như phù thủy nhỏ gặp phù thủy già.  Đơn cử như là hàng lô tên thuốc là tiếng La tinh mà thạc sĩ Triệu kể ra đã khiến Nghê Ngô Thành kính nể đến mờ cả người.  Có lần cái văn bản La tinh kia dài quá và hay quá, thạc sĩ Triệu lại nói một cách quá lưu loát, dẫn đến Nghê Ngô Thành nghe mê mẩn đến nỗi chảy cả nước dãi.  Lúc đó Nghê Ngô Thành không tỏ vẻ gì cả, anh ta chỉ hỏi thăm tỉ mỉ về những chứng bệnh thích hợp với việc dùng thứ thuốc đó thôi.  Anh ta cũng đã biết thuốc đó là dùng để trị bệnh giun chỉ, anh ta cũng biết là phòng dược của bệnh viện nhãn khoa Quang Minh chưa hề chuẩn bị được loại thuốc này.  Anh ta ra hiệu thuốc ở chợ Tây Đơn, nói muốn mua thuốc để trị giun chỉ, người bán thuốc không biết trên đời lại có loại thuốc nào như vayaj, cũng không biết trên đời có loại bệnh như thế.  Vậy là con người luôn khát khao khoa học và những kinh nghiệm mới mẻ như Nghê Ngô Thành đã chẳng bao giờ uống được loại thuốc đó.  Điều đó khiến Nghê Ngô Thành cảm thấy vô cùng đáng tiếc.  Có khi chính đó lại là một trong những nguyên nhân mà anh ta tự nhận định mình là con chó của Paplop cũng nên?
Như vậy, gần như trong tất cả mọi phương diện, Triệu Thượng Đổng đều áp đảo Nghê Ngô Thành một cách không thể nghi ngờ, một cách quá hiển nhiên.  Thượng đế tạo ra một Triệu Thượng Đổng như kia dường như chính là để áp đảo Nghê Ngô Thành vậy.  Mà thượng đế tạo ra Nghê Ngô Thành chính là dể tôn cao Triệu Thượng Đổng ở mọi nơi mọi lúc, tôn cao không phải một bậc mà những mấy bậc.
Tuy vậy, đó lại không phải là điều đáng sợ nhất khiến người ta khó chịu nhất.  Trong cái tâm địa đố kỵ mà người đời khó tránh khỏi kia, Nghê Ngô Thành lại có một mặt khác, đó là sự buông thả luông tuồng, là sự vui vẻ bông phèng, là sự qua loa qua quít kiểu trẻ con.  Mặt tính cách đó của anh ta lại có tác dụng giữ được cân bằng và pha loãng bớt tâm địa đố kỵ.  Đáng sợ nhất là cái vị đồng hương Triệu Thượng Đổng tinh thông đủ thứ văn Tây, học thuật Tây, y thuật Tây, công việc bên Tây đó lại đứng đắn đến thế kia.  Đáng sợ nhất là khi ông ta làm những việc như vậy, anh chẳng thể tìm ra được một chỗ nào là cố tình lên gân lên cốt, là nguỵ tạo hết.
Các ông đổ gàn, các ông đạo đức giả thì hầu như không thể nào che đậy được chỗ sở hở của mình.
Triệu Thượng Đổng đã từng tìm Nghê Ngô Thành để nói chuyện hai lần.  Nghê Ngô Thành biết đó là do Tịnh Nghi lại khóc lóc kể kể với Triệu Thượng Đổng thôi.  Triệu Thượng Đổnng đưa thuốc lá thơm cho anh ta.  Cái tư thế hút thuốc của Triệu Thượng Đổng, đặc biệt là cách dùng ngón tay út nhẹ nhàng gạt tàn thuốc khiến anh ta bị khuynh đảo.  Ngữ điệu của Triệu Thượng Đổng thể hiện ra như hình sóng từ thấp lên cao, từ cao xuống thấp, âm lượng từ nhỏ dần to lên, từ to dần nhỏ lại.  Đó là một kiểu thói quen ngâm vịnh và sự tự mãn đang ngâm vịnh, không liên quan gì đến nội dung cụ thể câu chuyện mà ông ta nói.
Mỗi con người có thể nói là do ba bộ phận hợp lại mà thành.  Linh hồn của nó, nguyện vọng và dục vọng của nó, ảo tưởng, lý tưởng, sự theo đuổi, hy vọng của nó...  Những cái đó thuộc về bộ phận đầu.  Kiến thức của nó, bản lĩnh của nó, vốn liếng của nó, thành tựu của nó, hành vi hành động của nó, ứng xử của nó là thuộc về bộ phận thân.  Hoàn cảnh của nó, địa vị của nó, mảnh đất mà nó đứng chân như thế nào - Đó alf phần chân của nó.  Ba bộ phận đó nếu hòa hợp được, nếu về  cơ bản là điều hòa, hoặc cái nọ chứa đựng được cái kia, thì người ta sẽ có thể sống được và có lẽ sống không đến nỗi tồi.  Nếu không thì chỉ có phiền não, chỉ có đau khổ.  Vì vậy mới nói dục vọng sinh yêu đương, yêu đương sinh phiền não, phiền não sinh đau khổ.  Vì vậy nói biển khổ vô bờ quay đầu là bến.  Anh thì là cái gì?  Anh có mấy cân mấy lạng.  Anh biết trời cao bao nhiêu đất dầy bao nhiêu?  Chỉ dựa vào mấy cái trò hời hợt ba su ba tú kia của anh thì đến cái bụng mình cũng chưa nhét đủ, vợ con đều không nuôi nổi, anh lại còn coi khinh văn minh đạo đức truyền thống văn minh Trung Hoa được hay sao?  Anh lại sắp giở trò Âu hóa phải không?  Anh có biết chế tạo súng Tây pháo Tây không?  Anh có biết kinh doanh cổ phiếu hoặc các thứ chứng khoán có giá không?  Rốt cục thì anh biết cái gì?  Biết uống cà phê, biết nói trời nói đất, biết ăn cơm Tây rồi để mà làm gì nữa.  Khương Tịnh Nghi không xứng vơi sanh, không sánh kịp anh ở điểm nào?  Anh có thể rời bỏ khỏi mảnh đất văn minh cổ kính dưới chân anh kia không?  Cái bộ dạng như anh nếu mà sống ở châu Âu, Bắc Mỹ, Nga Xô, Nhật Bản chẳng phải chết đói nhăn răng ngay tức thì sao?  Anh không giữ luân thường đạo lý, không nói đến đạo đức, không biết hiếu để trung tín, liệu có đứng vững trên mảnh đất này không?  Đứng cũng chẳng vững chân thì nói gì đến văn minh, tiến bộ, hạnh phúc!  Phơi bày cái tham lam dục vọng của mình, cái tài nông mà chí nóng vội của mình, cái sự mây mưa trên đỉnh Vân Sơn nữa, đó mới là dã man thiếu văn minh.
Đôi mắt thiếu ngủ nên hơi có mấy tia đỏ đó của Triệu Thượng Đổng phát ra hai tia bức bối cả người.   Nghê Ngô Thành cảm thấy mình không có đất dung thân, không trốn đi đâu được.  Nghê Ngô Thành vốn miệng trơn như đổ mỡ mà lúc đó trở nên lắp ba lắp bắp, anh ta biện giải một cách đuối lý rằng, anh ta sống với Tịnh Nghi, cảm thấy vô cùng - anh ta dùng một từ tiếng Anh, ý là rất cô đơn buồn tẻ.  Anh ta còn nói cứ bắt anh ta phải miễn cưỡng tiếp tục sống với Tịnh Nghi là không nhân đạo.
Triệu Khương Đổng cười khẩy một tiếng, sửa lại cách dùng từ và phát âm của anh ta, Triệu Thượng Đổng nói: nếu anh định dùng tiếng Tây để diễn đạt một kiểu tâm trạng đã Tây hóa, thì ít nhất nên học tiếng Tây cho thạo hơn nữa mới được.  Sau đó Triệu Thượng Đổng nêu ra cho anh ta một câu hỏi gay gắt, đó là câu hỏi mà bất cứ một vị đồ Nho nào, một chính nhân quân tử nào, một vị cha hiền, chồng tốt nào có ý định dạy dỗ Nghê Ngô Thành cũng chưa dám đặt ra.  Triệu Thượng Đổng hỏi: "Anh không thích vợ anh đến thế, tại sao lại đẻ với cô ấy không chỉ một đứa con..."
Nghê Ngô Thành đỏ găng cả mặt.
Rất hiển nhiên Triệu Thượng Đổng hơi có nét cười trên mặt, dằn từng tiếng mà nói: "Anh là một kẻ xấu xa ti tiện.  Anh bắt nạt kẻ yếu, bắt nạt kẻ bơ vơ khốn khổ hơn mình.  Anh chỉ cần phát tiết thú tính của anh, anh chỉ cần thỏa mãn nhu cầu sinh lý của mình...  Đã vậy lại còn tự cho mình giỏi giang, vĩ đại hơn người nhiều lắm.  Anh không coi người khác là người.  Anh cảm thấy cô ấy nên phải hy sinh cho anh, mà anh thì không phải hy sinh cho cô ấy cái gì hết.  Đạo của trời thì là tổn hại nhiều vì lễ chưa đủ, còn đạo của người thì ngược lại, tổn không bù đủ vì dâng hiến quá dư.  Đó là cái nhân đạo mà anh học từ châu Âu về đấy phải không?"
Khi nói những lời kiểu như vậy, ánh mắt Triệu Thượng Đổng rất nghiêm khắc giống như chim ưng sắp vồ con thỏ, nhưng nét mặt lại hòa dịu và lộ ra một vẻ như đắc ý và khoái cảm giống như đang nâng cốc chúc sức khoẻ trong một bữa tiệc.  Cốc tay hoàn toàn Âu hóa.  Sự pha trộn các biểu cảm một cách kỳ diệu như vậy đã khiến Nghê Ngô Thành thấy không lạnh mà run.
Ông ta có phải là thật không nhỉ?  Ông ta có chân thành không?  Nghê Ngô Thành suốt từ đầu đến lúc đó không thấy có gì là chắc cả.  Suốt từ đầu đến cuối Nghê Ngô Thành không thể hiểu tại sao Triệu Thượng Đổng lại yên tâm như thường và dương dương đắc ý về cuộc sống tư riêng của mình như vậy, không thể hiểu tại sao một bà vợ rỗ mặt mù chữ lại có thể đem đến cho ông ta thêm một vầng hào quang như vậy.  Nếu mà ông ta dứt khoát tịnh thân đi như bọn thái giám thì sao nhỉ?  Ông ta có trở nên thánh thiện trong sạch hơn nữa hay không?
Không.  Thái giám thì bị người đời coi khinh coi rẻ.  Cảnh ngộ của Tư Mã Thiên bị coi là nhục nhã ghê gớm.  Nói vậy thì vòng hào quang của thánh hiền chính là ở chỗ vừa phải giữ lại toàn bộ dục vọng của mình, vừa phải ngày này qua ngày khác, giờ này qua giờ khác, luôn luôn đè nén khống chế bóp nghẹt toàn bộ dục vọng của mình.  Như vậy, cốt lõi của đạo đức là nó, giống như cuộc huấn luyện chó của Paplop thôi.  Mà con chó như vậy thì quả có thể huấn luyện ra được.
Anh ta nhớ lại một chuyện mà bạn của anh ta kể cho anh ta nghe về một chi của đạo Lạt Ma.  Lạt Ma đó phải vượt qua một cửa ải, họ được lệnh phải hành phòng với đàn bà, nhưng được một khoảng thời gian lại phải tự mình làm cho mình triệt tiêu hết ham muốn, trở lại như không hề có gì.  Làm được như vậy thì trở thành Phật sống, thành Lạt Ma.  Ai không giữ được, chém đầu.
Trái ngược với điều đó, số phận của những con bò bị thiến lại càng đáng được hâm mộ hơn.  Khi mười ba tuổi, anh ta được anh họ dẫn đi xem thiến bò.  Chính mắt anh ta đã nhìn thấy người thú y làng cắt rách và nạn ra những túi tinh màu xanh trắng của từng con bò một, có dính cả chút máu tươi.  Đàn bò non bị dồn tới một khoảng ruộng trũng mặn, trên mặt đất muối trắng lấp lánh, cỏ khô lơ thơ như tóc trên cái đầu hói.  Những con bò đã bị rạch và nặn lấy dịch hoàn đứng giật giật chỗ mông đít, tựa như sắp trở về trạng thái bình thường, đến một tiếng ò ò cũng không thấy kêu gì cả.  Mặt cậu thiếu nêin Nghê Ngô Thành lúc đso như tro xám, cậu lại cảm thấy ở bộ phận nhạy cảm nhất trong người mình như cũng đang bị cắt xẻ và nặn bóp, cậu thấy một sự đau đớn và nhức nhối, trống rỗng như một mất mát to lớn.  Kết quả là hai cái chân của cậu ta cũng run bần bật lên, cậu oẹ, một tiếng rồi nôn thốc ra tất cả bánh bột mì với cá tép kho vừa ăn bữa trưa.  Hơn thế nữa, cậu còn đái cả ra quần.  Điều đó khiến người anh họ thấy sướng lắm, cười suốt mấy hôm liền.
Cuộc trò chuyện với Triệu Thượng Đổng khiến anh ta nhớ lại cái việc xưa đã khiến người ta buồn nôn đó.   Sắc mặt anh ta rất khó coi.
Dường như Triệu Thượng Đổng vừa nhìn thì đã thấu suốt cả tâm tư của anh ta.  Anh ta hơi cười cười, cố chịu đựng sự càn quét vào phòng tuyết cuối cùng của mình.
Đương nhiên chuyện ăn uống trai gái cũng là thiên tính, nhưng tất cả thiên tính cũng chỉ trong một qui phạm nhất định mới được phát huy, phát triển và thỏa mãn.  Buông tuồng phóng túng không hề là sự thỏa mãn thiên tính mà là sự méo mó lệch lạc của thiên tính.  Ví dụ như ăn cũng là một thiên tính.  Anh có vì vậy mà gặp gì ăn nấy, bất cứ trường hợp nào cũng ăn, ăn lung tung, ăn bẩn, ăn vụng, ăn cả vi trùng, ăn cả mùi hôi thối không?  Sự ăn uống của con người đâu có phải là chỗ ăn phân.  Chuyện trai gái cũng như vậy.  Người ta đâu phải chó đực chó cái.  Yêu cầu của con người không có gì giống kiểu loài vật phủ hoặc nhảy lung tung với nhau.  Phủ, nhảy lung tung thì có gì là khó?  Cứ đến chuồng thú là được.  Không thực hiện qui củ nhất định, yêu cầu nhất định thì đến sự vệ sinh và sức khoẻ tối thiểu cũng không bảo đảm được, thì còn nói gì đến hạnh phúc và tình yêu nữa?  Huống chi lại còn có xã hội nữa!  Anh có bao nhiêu sức chịu đựng, bao nhiêu gan góc để đối đầu với luân lý xã hộ, tập quán xã hội, dư luận xã hội?  Chỉ có đứng vững chân được trong xã hội, mới có tất cả các thức khác: mọi người đều như thế này đấy, khi còn trẻ cảm thấy xã hội là bất hợp lý, muốn chiến đấu với xã hội.  Cuối cùng bao giờ cũng hòa giải với xã hội, cá nhân xã hội đạt tới hai bên đều có lợi.
Lợi dụng lẫn nhau ư?  Nghê Ngô Thành ngắt lời ông ta một cách hấp tấp.
Lợi dụng lẫn nhau vẫn còn tốt hơn làm tổn hại đến nhau.  Anh đã làm tổn hại cho xã hội thì cũng làm tổn hại cho người khác, cũng tổn hại cho bản thân mình, có gì là tốt kia chứ?  Mắt Triệu Thượng Đổng lại càng sáng hơn.
Lúc đó một người nữ hộ lý mặc chiếc áo tạp dề trắng toát đội mũ tu nữ đi vào tìm viện trưởng.  Triệu Thượng Đổng láy một tờ giấy kê đơn thuốc, viết mấy từ bằng tiếng La tinh, ký một chữ như rồng bay phượng múa, đưa cho hộ lý mang đi.  Trước khi mang đi người hộ lý quay về phía khách - Nghê Ngô Thành mà cười tủm tỉm.  Nụ cười rạng rỡ của cô ta đã bao trùm lên toàn bộ cái mũ tu nữ trắng tinh khiết rất rộng vành, nghiêm trang và xa lạ với nhân gian.  Nghê Ngô Thành chỉ kịp nhìn thấy làn da sạch sẽ nõn nà và mềm mượt của cô ta.  Làn da sáng bóng trông như mỡ.  Anh ta cười.  Anh ta có vẻ như đã khá vui khi cáo từ viện trưởng đồng hương.  Anh ta ngỏ lời cảm ơn ý tốt của Triệu huynh, xin cứ yên tâm, tất cả sẽ tốt lên thôi, Nghê mỗ tôi quyết không làm gì không xứng đáng.  Triệu Thượng Đổng nhương nhướng lông mày, cười bâng khuâng.  Ông ta bắt chặt tay anh ta.  Sự thanh khiết của những ngón tay bác sĩ nhãn khoa với sự thanh khiết trên khuôn mặt nữ hộ lý đều khiến anh ta kinh dị.  Triệu huynh vừa rút tay lại, không đợi Nghê Ngô Thành ra khỏi phòng đã vội đưa tay vào chậu rửa và dội nước sát trùng.  Nghê Ngô Thành cảm thấy rất ngưỡng mộ và thán phục.
Cuối cùng vào một ngày chủ nhật Nghê Ngô Thành đã trông thấy cái cảnh Triệu Thượng Đổng và vợ con cùng đi chơi với nhau.  Đó là ở công viên trung ương (nay gọi là công viên Trung Sơn).  Cả nhà họ từ trong ra ngoài đều trông rất hòa mục.  Tư thế đi lại của Triệu Thượng Đổng trông lại càng lắc lư tợn.  Gặp phải chỗ dốc lên xuỗng, chỗ có khe có bậc, Triệu Thượng Đổng đều rất nhẹ nhàng lịch thiệp dìu đỡ bà vợ, lại còn thường xuyên nói thì thầm vào tai vợ, nói xong hai người cùng cười với nhau.  Nghê Ngô Thành chạy tới hỏi hăm cả nhà họ.  Trước khi đi, Triệu Thượng Đổng còn liếc qua Nghê Ngô Thành một cái, Nghê Ngô Thành rủn cả người.
Ông ta trước sau cũng giết mình thôi!  Nghê Ngô Thành nghĩ.
Khi Tịnh Nghi lấy Triệu Thượng Đổng làm gương để khuyên nhủ, giáo dục kích thích Nghê Ngô Thành, Ngô Thành liền nói ông ta là thánh nhân, tôi không bì được.
Tịnh Nghi cũng rất thạo việc phản ứng với cách nói đó, cô nói: anh nên biết anh không thể bắt chước nổi thánh nhân, nhưng thánh nhân lại quản được anh.  Thánh nhân chuyên môn quản lý anh đấy!  Rồi Tịnh Nghi lại dấn thêm, so với người ta thì anh chỉ đáng là cứt chó!  Anh đã uống mấy lọ mực Tây? Anh đã biết mấy chữ khỉ gió?  Anh hiểu về khoa học?  Anh đừg có mà giả mạo loè người nữa!   Nói chuyện học vấn với người ta chỗ nào anh cũng bị hố, làm trò cười cho thiên hạ.  Còn người ta thì sao?  Người ta có học vấn thực sự mới có thể thế chứ, chữa chỗ sai cho đúng lại, đọc sách sâu đến mức nào cũng vẫn bình tĩnh, có tính toán hẳn hoi như đàn bà con gái.  Anh tưởng mỗi mình anh biết chữ?  Tôi cũng đã từng xem.  Lưu hầu thế gia rồi đấy.  Tư Mã Thiên tả Trương Lương thế này nhá: "như đàn bà con gái tốt."  Từ cổ đến nay, gieo lắm gió thì gật lắm bão.  Người thực sự có học vấn lớn, bản lĩnh gió thì gặt lắm bão.  Người thực sự có học vấn lớn, bản lĩnh lớ thì thành sự nghiệp lớn thôi, có mấy người cứ bộp chà bộp chộp, tâm thần bất định, giống như một con khỉ thế này chứ?
Đến buồn tẻ nhàm chán mình cũng chẳng cảm thấy nữa, chỉ cảm thấy mệt mỏi.  Mệt mỏi có phải là tired không?  Phát âm của mình có cần được thánh nhân viện trưởng thạc sĩ sửa chữa uốn nắn không nhỉ?
Càng tranh luận thì càng thán phục Triệu Lắc lư.  Ba mẹ con Khương Triệu Thị đã từng nghị luận với nhau.  Triệu Thượng Đổng có khuyết tật gì không nhỉ?
Đối với mẹ, đối với vợ, đối với con cái, đối với họ mạc đồng hương, đồng với công việc, đối với học vấn, đối với bệnh viện...  chẳng có một sai sót gì cả, không hề sai sót.  Vậy khi nói chuyện cứ lắc lư cái đầu có tính là một khuyết điểm thiếu sót không nhỉ?  Cái đó mà tính là khuyết tật hay thiếu sót gì, người ta nói chuyện thích lắc lư lắc lư thế thì sao.  Thế nhỡ ông ấy là quan lớn, là ủy viên trưởng hoặc tư lệnh thì sao... cứ lắc lư cái đầu như vậy có thích hợp không?  Nếu đã làm quan to, làm ủy viên hoặc tư lệnh trưởng hoặc đạo trưởng thì khi nói chuyện có lắc lư cái đầu lại càng có thần khí, càng oai phong, càng đẹp đẽ chứ...  Thế, thế, thế ông ấy khôn đi gặp cụ Tưởng để tham gia kháng Nhật, có tính là thiếu sót không?  Vấn đề chính trị nghiêm túc như vậy lại là do Khương Triệu Thị nêu ra cơ chứ, sự chiếm đóng của người Nhật vẫn khiến bà ta lo sợ hết hồn mà.  Vấn đề đó không dễ trả lời nó đã làm khó cho hai cô con gái.  Vẫn là Tịnh Trân nhanh nhẩu hơn, kiến thức cao hơn, chị ta trả lời rất khảng khái: "Nếu mà tất cả người Trung Quốc chúng mình đều được như bác sĩ Triệu, có nhân phẩm như vậy có bản lĩnh như vậy, có đạo đức học vấn như vậy, đúng đắn như vậy thì Trung Quốc đã cường thịnh lên từ lâu rồi, làm gì mà bọn giặc Nhật lùn lại đến đây được."  Mẹ và em gái đều thán phục về câu đó quá.
Tịnh Nghi hễ có tí việc gì là liền đi tìm Lắc lư ngay, để xin chỉ giáo về biện pháp và cũng cầu xin sự giúp đỡ ủng hộ.  Vì vậy khi Nghê Bình bảy tuổi mới bắt đầu vào tiểu học, cô đã bị nó tỏ ý kiến bất đồng: "Mẹ, mẹ đừng có mà hơi tí là đến chỗ bác Triệu nhá, không tốt gì đâu."
Chẳng ai có thể hiểu được hàm nghĩa "không tốt gì đâu" mà Nghê Bình nói là thế nào, nhưng cái câu nói mơ mơ hồ hồ ấy khiến Tịnh Nghi và Tịnh Trân, Khương Triệu Thị nữa đều phải tỏ vẻ nghiêm túc hơn bao giờ hết.   Họ gọi Nghê Bình đến trước mặt để Khương Triệu Thị làm một cuộc tuyên giảng rất khảng khái và gay gắt.
Con bé ngốc nghếch kia việc không hiểu thì không được nói lung tung đâu nhé!  Con gái nhà họ Khương chúng ta ai cũng vậy, đi đến đâu để dấu chân lại đó!  Họ Khương nhà chúng ta tuy không phải danh gia vọng tộc, nhưng cũng chưa bao giờ hàm hồ!  Nội trong sách truyện chí đã có bốn trinh nữ được ghi tên tiết phụ thì có ba người, được xây cổng chào là có một người.  Nói đến sự đứng đắn của đàn bà con gái họ Khương thì chúng ta phải xứng đáng với trời, xứng đáng với đất, trên không thẹn với tổ tôn, dưới không thẹn với con cháu!  Bà nói cho mày biết nhà, bà cụ gì ấy, tính ra là bà cô thứ ba của ông ngoại mày đấy.  Người ta đúng là trinh nữ, năm tuổi thì đính hôn, đến khi mười một tuổi vị hôn phu kia lâm trọng bệnh.  Bà cô thứ ba của ông nội mày chưa đợi lang quân qua đời đã nhảy xuống giếng trước.  Cử nhân họ Trương trong phủ đã viết riêng cho bà một bài thơ đấy.  Thế nào nhỉ?
Tịnh Trân kéo dài giọng ra ngâm nga:
Ánh sao ảm đạm một liềm trăng,
Thà đó lang quân dưới suối vàng,
Thủ tiết nọ cầu chiêu hồn thúy,
Sợ để dòng đau tới nhân gian.

Không phải vậy là gì, với lại chẳng cần nói đâu xa!  Chả phải dì mày ngay trước mắt đấy thôi?  Khuê nữ này của nhà bà mười tám tuổi thì lấy chồng, mười chín tuổi chủ chí, mày thử hỏi xem có ai dám bới móc được ở dì một nửa chữ không phải hay không hả?  Bao nhiêu năm nay nhà ta chả đã thấy chán vạn kẻ xấu xa ra rồi chứ?  Đã thấy bao nhiêu đứa hư ra rồi chứ?  Thế mà đã ai dám nói mẹ con nhà bà như thế chưa...
Nói đến nỗi Nghê Bình xót xa đau đớn, nói đến nỗi nó muốn chui xuống đất vì hổ thẹn và hối hận, òa khóc nức nở.
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
Trang 456 - 472, Chương 22

Tuy đã lập tức lớn tiếng chửi rồi, tuy đã có bà chị không ngoan hăng hái đỡ sau lưng, tuy bà chị đã nhắc đến cây đại thụ Lắc lư, vị tôn thần đó rồi, tin tình báo của Nóng hổi vẫn khiến Tịnh Nghi càng nghĩ càng nuốt không trôi.
Ô hay, làm sao cái con người này lại đối xử xấu đến thế, cạn tàu ráo máng đến thế, xảo trá đến thế!  Nuôi con chó, con mèo thì chả phải nói, nó thân với chủ biết bao!  Kể cả loài chim sinh ra ở rừng sâu, tổ tiên nó bao đời quen sống trong hoang dã, vậy mà nuôi nó trong nhà, ngày ngày cho nó ăn, nó uống, rồi nó cũng theo mình!  Ngày xưa trong hội chùa, cô đã nhìn thấy có con chim vàng cắp tiền, nếu mình để một đồng tiền cạch trên bàn tay, chim vàng sẽ bay tới ngậm lấy đồng tiền đó, đưa về cho chủ.  Một người tò mò hỏi người nuôi chim, sao ông lại huấn luyện được thế?  Sao nó lại không bay đi nhỉ?  Người nuôi chim trả lời, có gì đâu, chỉ dựa vào một nắm gạo thôi.
Tịnh Nghi dâng hiến cho Nghê Ngô Thành, đâu phải chỉ là một nắm gạo.  Đó là tất cả tấm thân, cả tấm lòng, cả con người của mình.  Lấy nhau mười mấy năm, cô đã làm một việc gì có lỗi với Nghê Ngô Thành chưa?  Nghê Ngô Thành được như ngày nay, nếu không có cô và gia đình bên cô thì có xong không?  Bao nhiêu là ái, bao nhiêu là ân, chẳng lẽ không đi vào lòng anh ta được một chút nào ư?  Chuyện xa xôi rồi không nói, hãy nói mới tháng mười một năm ngoái thôi, anh ta đã làm cái việc khuyết tâm tổn đức biết là bao!  Dùng cái con dấu đã bỏ đi để lừa cô, giỡn hớt làm cô mất mặt trước bao nhiêu người.  Liền ba ngày anh ta không về nà ở bên ngoài chơi bời tung tẩy tìm hoa giỡn nguyệt.  Cô và bọn trẻ ở nhà thì cơm nhạt chè hẩm, nhìn đói nhịn khát.  Còn anh ta thì sơn hào hải vị thanh sắc khuyến mã.  Cô và bạn trẻ là dân nghèo tệ mạt, là ăn mày trong ổ lạnh, còn anh ta là vương tôn công tử, là cậu ấm trong hoàng cung.  Rõ là kẻ vui để rượu thịt thối, ở nhà đống xương khô!  Thế rồi cái đồ thổ phỉ, cái tên lưu manh thối tha vô tình vô nghĩa vô trung vô hiếu vô từ vô ái khiến người ta phát gớm kia đã bị quả báo.  Ông trời có mắt giáng tai họa xuống trừng phạt, anh ta bệnh đến nỗi ba hồn đã chui ra đằng mũi đằng mồm, thở không thấy hơi, tính mệnh chỉ một sớm một chiều, cách điện Diêm Vương chỉ còn bằng tờ giấy!  Lúc đấy chỉ muốn bỏ mặc anh ta, để anh ta chết thối thây ra đó mà bỏ chiếu khiêng đi...  Nhưng rồi nghĩ lại, dầu sao cũng là người chồng kết tóc của mình, cha của con mình.  Quả tim con người đều là máu thịt cả, người ta nói lấy tấm lòng mà sánh với tấm lòng, lấy quả tim đổi lấy quả tim, người ta lại nói có công mài sắt có ngày nên kim.  Nghê Ngô Thành ơi!  Hỡi Nghê Ngô Thành, dầu sao anh cũng là con người, dầu sao anh cũng sinh ra trong hình hài một con người, nói tiếng nói của người!  Tấm lòng tốt, tấm lòng thiện, tấm lòng bồ tát, tấm lòng nhẫn nhịn của tôi thế mà anh không hiểu được một tí nào ư?  Tôi đã cứu mạng anh.  Tôi đã bán đứt một chút dắt lưng cuối cùng để lấy tiền mời thầy mua thuốc cho anh, mua trứng gà nấu mì khô cho anh.  Có phải trời sinh ra để cho anh được ăn ngon, còn mẹ con tôi phải đứng mà nhìn không?  Tiền giắt lưng của tôi còn phải bỏ ra trả nợ dạy cho anh nữa chứ!  Anh lăng nhăng bậy bạ đến nỗi mất cả công ăn việc làm, đường đường tấm thân bảy thước mà anh lại để một người đàn bà vừa không có nghề nghiệp vừa không có thu nhập phải nuôi, anh không thấy xấu hổi ư?  Anh khôn biết ơn ư?  Anh hễ mở miệng thì nói những là tình yêu tình cảm, anh ốm đau thối nát ra đây có mẹ con nhà nào đã từng tiêu tiền của anh, đã từng là tình là ái cùng anh đến nhìn qua anh một cái không?  Những giày rách tất thối vì tình vì cảm vì tự vì do của anh kia giờ đi đâu hết cả rồi?  Nói thật với anh lần này tôi cũng không ngờ bản thân mình lại có thể tử tế hiền lành đến thế để mà hy sinh tất cả cho cái đồ bất thành tài như anh, chắc là kiếp trước kiếp sau tôi mắc nợ gì anh nên kiếp này đã phải yêu anh đó hẳn?  Giá mà tôi dùng tấm lòng từ ái này để nuôi một con chó sói, nuôi một con hổ, chắc con sói con hổ đó cũng sẽ thân với tôi rồi đấy?  Còn anh thì sao?  Anh không phải là người, anh cũng khôn được như con sói, con hổ, như loài cầm thú!  Anh là đồ ăn cháo đái bát, qua cầu rút ván, dỡ cối giết lừa!   Cuộc sống của anh vừa khá lên một chút, vừa tìm được việc làm là đã lập tức ra tay ngay với mẹ con tôi!  Anh độc hơn bò cạp, giảo hoạt hơn cáo!  Anh đã lừa đảo làm tôi khốn khổ...  Anh lừa lọc để tôi lại mang thai lần nữa!  Anh suốt ngày luôn mồm tuôn ra cả mớ "ti tiện ốc sạo bẩn thỉu dã man hạ lưu vô sỉ" vân vân, những thứ đó đổ hết lên đầu anh chẳng phải là thích hợp hay sao?  Chẳng phải là anh đã thực sự làm cái trò ti tiện nhất, ốc sạo nhất, bẩn thỉu nhất, hạ lưu nhất, dã man nhất, vô sỉ nhất đó sao?  Chẳng phải là anh đã khuyết âm đức cả đến tổ tông tám đời họ Nghê nhà anh, anh đã nghĩ ra hết tất cả các chiêu hại người, làm hết tất cả các việc xấu xa đen tối hay sao?  Đã là cái thứ người sao lại xấu xa đến thế, sao lại có thể nhẫn tâm đến thế!  Tôi thật hối hận, tôi thật hối hận, sao tôi lại ngu ngốc đến thế chứ!  Tôi lại cứ tưởng cái thiện tâm của tôi có thể cảm hóa được anh kia đấy!  Đó là cái kiếp tôi đáng bị trời tru đất diệt đấy.  Tôi lại cứ tưởng từ đây là anh đã bị lên đường chính rồi cơ chứ!  Đó chính là tôi tự mang bệnh vào người, đó chính là đáng cái kiếp tôi bị xúi quẩy, đó là bài học bằng máu cho tôi đấy!  Người ơi, người thương tiếc người ta, người ta đâu có thương tiếc chi người đâu!  Người ơi, muôn vàn đừg có đi thương người khác nhá!  Người ơi, nếu người có đi thương người khác, thì bất luận là chí thân ruột thịt, bất kể là cha con chồng vợ, nếu người đã động thiện tâm, người sẽ bị bất ngờ đến nỗi đầu rơi rồi vẫn chưa biết tại sao mà rơi đấy!
Những tâm tư nghĩ ngợi đó, những lời đó cứ như dòng suối phun trào từ trong lòng cô mà ra.   Cô nghĩ đi, nghĩ lại lật lên lật xuống cái sự kia, tự mình làm mình xúc động.  Về nỗi bản thân đã thiện tâm thiện chí lấy đức báo oán.  Nếu có thay đổi địa vị đi mà nghĩ, thì quả thực cũng không nghĩ ra được ai có thể làm tốt hơn cô, làm sao có thể làm được tốt hơn những cái thực tế cô đã làm.  Điều khiến cô thấy bế tắc trong lòng, đè nặng trong lòng, day dứt bức bối đến thở không ra được đó chính là tấm lòng tốt của cô tại sao không hề được một chút báo đáp?  Một người qua đường, một người xa lạ cũng có thể cảm động về lòng thiện của cô.  Đằng này cô chỉ đổi lại được bằng một thủ đoạn càng thâm độc tàn nhẫn mà thôi.  Cái điều khiến cô tức bực đến không thở nổi ấy lại càng là khó lý giải, lại chính là ở chỗ: nghĩ cho kỹ thì Nghê Ngô Thành không thực sự là một kẻ lưu manh, là du côn, du kề như khi tức quá cô thường chửi vậy.  Nói có lương tâm thì Nghê Ngô Thành đối đãi với họ hàng bè bạn xa gần, với đồng nghiệp đồng học, đối đãi với người nước ngoài, đối đãi với người dưới (những người từng hầu hạ anh ta) cũng đều được lắm.  Có khi còn rất khá nữa, khó mà nói anh ta xấu đến thế.  Duy nhất đối với cô, duy nhất đối với người tốt nhất với anh ta là cô, tại sao lại xấu xa tồi tệ đến như vậy chứ?
Nghĩ đi nghĩ lại, chỉ thấy rung toàn thân lên, đặc biệt là tiếng tim đập, hình như nó không còn từng tiếng một nữa mà rung lên từng hồi từng đợt một, tim rung đến phát tê cả đi.  Chửi xong còn bao nhiêu lời lẽ chất chứa trong lòng mà lại không nói ra mồm được.  Đêm nằm trên giường mà mắt cứ không muốn nhắm.  Nửa tiếng lại dậy đi giải một lần.  Chẳng biết trong cơ thể tích trữ nhiều nước như vậy từ bao giờ, sao lại bài tiết ra nhiều được như vậy.  Chẳng uống nhiều đến thế thì nước ở đâu ra nhỉ?  Có phải tất cả cơ thể đều đã biến thành nước để thải ra không?
Ngày thứ hai thì chỉ còn uống nước.  Uống một ngụm, rồi lại uống thêm ngụm nữa.  Uống một bát rồi lại uống thêm bát nữa.  Trọn hai ngày Tịnh Nghi không ăn qua một cái gì.  Ngày nào cũng chỉ rặt uống nước và đi giải không ngừng.  Uống nước và vào vệ sinh, Nghê Ngô Thành phát hiện tình hình như vậy thì giật mình, hỏi làm sao vậy, Tịnh Nghi không trả lời.
Ngày thứ ba Tịnh Nghi gọi xe Tây đi ra ngoài, tìm ông anh Lắc lư cô khóc một phen nức nở.
Ngày thứ tư Tịnh Nhgi bình tĩnh nói với Nghê Ngô Thành anh xem đấy thật không dễ tí nào nhé, mọi người đều ra sức giúp đỡ anh, cuối cùng thì cũng đã tìm được việc làm, vừa đẹp mặt lại vừa có tiền, vừa hợp với ý anh.  Chúng mình không thể ăn bắm lấy một mình chứ, mình làm một bữa tiệc đi, mời tất cả những người đã bỏ sức giúp anh tìm việc nhá.
Nhưng còn tiền...
Tiền có đây, em đã để dành cho anh đây rồi.  Có nghèo nữa cũng không thể nhờ vả không được, có nghèo nữa cũng không thể để người ta giúp công không mình được chứ.
Thế thì quá tốt rồi!  Quá tốt rồi!  Không thể tốt hơn được nữa.
Thế thì anh không phải lo nữa.  Em sẽ sắp xếp cho anh.  Anh hãy cứ chuyên tâm nhà lo đi nhậm chức ở đại học Triệu Dương đi.
Cảm ơn nhiều.
Đừng - khách - sáo.
Thế là tối thứ bảy ngay tuần lễ đó, tiên sinh Nghê Ngô Thành và phu nhân đã mở tiệc thết đãi đồng hương và bạn bè tại nhà hàng Thần Tiên Cư.
Cử động đó của Tịnh Nghi khiến Nghê Ngô Thành vui mừng ra mặt.  Trên bàn tiệc anh ta lại được đứng vai chủ, đó là việc có nằm mơ anh ta cũng chẳng bao giờ thực hiện được.  Đây vừa là sự hưởng thụ vật chất rất là khảng khái, vừa là sự hưởng thụ tinh thần cũng rất là khảng khái.  Thần Tiên Cư quả đã trở thành thế giới thần tiên thật.  Kiến trúc kiểu sân vườn, những mảnh sân nối liền với nhau.  Hoan nghênh xuân trong chậu, thủy trúc ở góc sân, những mùi thơm của rượu của thịt của hành của kẹo đều khiến người ta thấy say say.  Họ đã giữ trước một bàn, nhưng tối hôm nay bàn bên cạnh không có khách, thành ra lại là chiếm được cả gian phòng ở trong sân thứ ba nhà phía Tây.  Trong nhà treo bộ tranh Tứ Mỹ Đồ phục chế của Đường Bác Hổ, lại có cả thư pháp của Ân Nhữ Canh.  Môi trường đó thật là không tồi, anh ta hài lòng nói với Tịnh Nghi.  Một cách sống lành mạnh, chỉ phải đã cách khá lâu rồi chưa đến với bạn bè ở quán mà thôi.  Tất nhiên là để ăn, ăn là rất quan trọng chứ, là nhu cầu của cuộc sống và cũng là văn hóa.  Kiến thức, văn hóa, giáo dưỡng khí độ của người từng ăn các kiểu các thức cơm, cũng tức là nếu so sánh với người chỉ húp cháo loãng thì càng rộng lớn và khôn ngoan sáng suốt hơn nhiều.  Nhưng mà lại không chỉ vì ăn, mà là còn để điều tiết và làm phong phú thêm hoàn cảnh sinh tồn của con người.  Cứ lấy Thần Tiên Cư này mà nói, các bức tường trắng kia, các thứ tranh chữ kia nữa, cái mặt đất lát gạch hoa kia, lại còn cả cái bàn tròn sơn mài màu đỏ trải khăn trắng và những chiếc ghế đồng bộ màu gụ kia, chẳng lẽ không đủ khiến con người thấy tâm hồn thoải mái hay sao?  Tôi thường ngày vốn phản đối tầm mắt nông cạn bụng dạ nhỏ nhen.  Bụng dạ con người thì phải rộng rãi, tầm mắt thì phải sâu xa.  Tất nhiên rồi, còn có giao tiếp nữa, nhất định là phải có xã giao.  Ngay từ nhỏ đã phải học để biết một thứ sinh hoạt xã giao lành mạnh, văn minh rộng rãi.  Gặp người lạ thì ngúng nga ngúng nguẩy, đó là cái tật khó chịu nhất của người Trung Quốc, nhất là đàn bà con gái.  Con người ta là động vật mang tính xã hội mà.  Cái đó khôn hề là chiều người lấy việc, cần thì mới mời người ta ăn một bữa cơm.  Cái đó không phải là chính.  Người của xã hội, xã hội của người, mỗi người nều cần được đứng vững trong xã hội thì nhất định phải kết lập nhiều tình bạn bè hữu nghị với mọi người trong xã hội phải liên hệ nhiều mà.  Nói ra thì tôi thật xấu hổ, cũng là do chưa có đủ điều kiện, chứ không thì...
Trải qua mấy ngày ăn uống thất thường đã gây đi một lớp nhưng Tịnh Nghi cũng chẳng thấy lạ gì cái mớ huyên thuyên kia cả.  Chỉ tội khi anh ta nói đến hai chữ "xấu hổ" thì trái tim cô vốn đã yên ả trở lại sau cơn chấn động dữ dội (giống như trái tim trống rỗng đã bị bứng đi mất), lại đột nhiên rung lên đâu khổ một lúc khá lâu.
Khách đã lục tục đến rồi.  Người đầu tiên là Triệu Thượng Đổng, miệng mỉm cười, đầu lắc lư, từ đầu đến chân sạch tinh đến khó tưởng tượng.  Vì được mời người khác ăn cơm, Nghê Ngô Thành cảm thấy mình tựa như cao lớn hơn ngày thường một ít, đến mức nhìn thấy Triệu Thượng Đổng người mà mọi thứ đều vãn thường đè nặng lên đầu mình, anh ta cũng chưa cảm thấy ức chế gì lắm.  Trái lại, anh ta nhiệt tình sán đến hàn huyên.  Ha ha, Triệu huynh đã đến được ạ, quả thật rất cảm ơn, mọi người trong phủ đều khoẻ cả?  Việc kinh doanh làm ăn của bệnh viện tốt chứ ạ?  Ha ha ha, Triệu huynh thật là ba đầu sáu tay, người giỏi giang thì vất vả nhiều...
Rồi là Sử Phúc Cương, Nghê Ngô Thành cũng vui vẻ nhiệt tình tuôn ra một lô tiếng Tây, trái lại Sử Phúc Cương chỉ dùng tiếng Trung Quốc để trả lời thôi, sau đó là vị luật sư thâm thấp mới gặp đã thân của anh ta.  Nghê Ngô Thành hơi chột dạ, chẳng lẽ ông ta cũng ra tay giúp mình tìm việc làm? Cũng có thế chăng?  Dù sao để tìm được việc ở trường đại học Triều Dương, Tịnh Nghi đã nhờ rất nhiều người.  Thực ra cũng khôn cần thiết phải tìm đến nhiều người như vậy đâu.
Khách đã đến đủ rồi.  Phía chủ, ngoài Nghê tiên sinh và phu nhân, còn có Nghê Tảo.  Mọi người ngồi vào chỗ nhường nhịn lẫn nhau mãi, cuối cùng đẩy Triệu Thượng Đổng ngồi vào ghế chủ của phía khách.  Bày thức ăn, gắp thức ăn, nâng cốc chúc rượu, chúc mừng lẫn nhau.  Sau thức ăn nguội thì đã có món ớt xào thịt thái sợi, ớt xanh chao qua dầu bóng lên như ngọc bích.  Món thịt xào lăn đầy đặn nõn nà bắt mắt.  Món viên chiên giòn nóng rây, món hoa hành khau nhục om với xì dầu thơm điếc mũi.  Các vị khách đồng thanh khen ngon, nói món ăn của Thần Tiên Cư làm khá lắm.  Rồi nói đến vở kịch mới của Lý Vạn Xuân, nói đến phim của Trần Vân Thương, nói tới trên sông Hoàng Hà, nàng tiên cá nhảy lên rõ cao, để lộ ra cái đuôi cá.  Sau đó nói đến một người công nhân bị chết vì sụp hầm lò ở mỏ than Môn Đầu Câu, mang thi thể về nhà quàn ba ngày, đế ngày thứ tư mới sáng tinh mơ trời còn tối, xác biến mất háo ra đã đứng dậy đuổi một đứa ăn trộm, đuổi ra khỏi nhà đến bốn chục mét, kẻ trộm sợ đến chết.
Món cuối cùng, rất lớn, làm ra hai kiểu đã được bưng lên.  Đó là một con cá chép to, một nửa nướng chín thành màu bạc, một nửa tưới nước sốt như sữa, cực kỳ tươi đẹp khiến cho không khí bữa tiệc được đẩy tới cao trào.  Rồi thì đưa lên món ngọt tráng miệng, đó là món ba không dính theo phong vị Sơn Đông, vàng rực rỡ như vàng ròng, bóng láng như ngọc.
Nghê Ngô Thành chép môi liếm mép, cười nói rôm rả, đã mấy tháng rồi anh ta chưa có được thần thái như vậy.
Triệu Thượng Đổng bỗng buông cạch đũa xuống, nhíu lông mày lại.
Tịnh Nghi đứng phắt ngay dậy, chưa nói năng gì cả mà đã òa lên khóc rất mùi mẫn rồi.
Chúng nhân đang ăn uống ngon lành, đều sững cả lại.  Nghê Ngô Thành đang hup canh ngọt quá, đã quá, có đến mấy giây trôi qua, anh ta vẫn chưa cảm nhận được bão táp đã bùng lên trên bàn tiệc.
"Hết sức xin lỗi,"  Tịnh Nghi vừa nói vừa khóc "hôm nay mời các vị đến đây vốn là để cảm ơn mọi người, để cho mọi người cùng được vui vẻ.  Nhưng có mấy câu này không thể không nói ra, tôi muốn nhờ mọi người đứng ra phân giải xem xét lẽ công bằng.  Tôi xin mọi người tha cho lỗi mạo muội này."
Sự lịch thiệp nhã nhặn trong cách dùng từ và phong độ ngoại giao của Tịnh Nghi khiến Nghê Ngô Thành hết sức kinh ngạc.
"... Các vị có tin được không?  Chính vào lúc cái người họ Nghê kia vừa tìm được việc làm, chính vào lúc vừa chữa khỏi căn bệnh nặng bằng đồng tiền giắt lưng ít ỏi riêng của tôi, đúng vào lúc tôi mang thai đứa con thứ ba, anh ta đã đòi ly hôn với tôi..."
Tịnh Nghi khóc một cách đau đớn thất thanh, khách khứa ngồi đó biến hết sắc mặt.  Những lời lẽ lịch thiệp nhã nhặn đã kết thúc, Tịnh Nghi khóc và hít vào một hơi dài, rồi cứ vậy từng câu từng câu một mà tố cáo kể lể hết tất cả những điều mà cô đã nghĩ từ bao nhiêu đêm bao nhiêu ngày qua, đã nghĩ đi nghĩ lại hàng trăm hàng vạn lần...
Nghê Ngô Thành tái xanh tái xám hết cả mặt mày, ngồi như bị đóng đinh tại chỗ.  Anh ta nhìn nhìn Tịnh Nghi rồi lại nhìn nhìn khách khứa, nhìn những bát đĩa ngổn ngang trên bàn, ngây người ra đó, hoàn toàn mất hết năng lực phản ứng, lại càng chẳng nói đến việc tìm ra đối sách để tự vệ hoặc tự giải thoát khỏi tình trạng khốn quẫn thế này.
Cái tin đó cũng có tính chất bùng nổ đối với Nghê Tảo.  Tiếng khóc lóc kể lể của người mẹ khiến lòng nó như có dao cắt.  Nhưng nó lại khôn khóc, bởi vì những cảnh huống thế này thực ra nó đã từng nhìn thấy quá nhiều rồi, nó mệt mỏi vì cái đó lắm rồi.  Nó chỉ khe khẽ khuyên rằng: "Mẹ đừng khóc nữa."
Người giữ được thần sắc bình thản nhất trong tất cả là Sử Phúc Cương.  Ông ta chỉ nhìn qua Khương Tịnh Nghi một cái khi cô bắt đầu khóc lên thành tiếng thôi.  Sau đó ánh mắt của ông ta lặng lẽ thu về, nhìn nhìn các món ăn trên bàn tiẹc, lại ngó xuống đầu bàn chân mình, thể hiện sự im lặng, thể hiện thái độ không muốn nghe hoặc bàng quan không muốn tham dự việc riêng của người khác, điều đó có lẽ cũng là một kiểu lịch sự phương Tây chăng?  Cũng thể hiện cái cách ông ta nhận thức rằng ở đây chưa xảy ra cái gì cả, tất nhiên ông ta đã hiểu ra câu cách ngôn cùng tồn tại của các vị thân sĩ tri thức, người trí thức chân chính không phải chỉ là không gây ra sự gì, mà còn là nếu người khác có gây ra chuyện đối với mình thì cũng không cần để ý, coi như không có gì.  Chỉ có người thật tinh ý mới có thể nhận ra từ một động tác rất kín đáo của ông ta, đặc biệt là từ cái đầu mút của vành tai ông ta đang rung cực khẽ, rằng ông ta tuy có vẻ bàng quan, nhưng vẫn đang chăm chú nghe.
Sự khóc lóc kể lể của Tịnh Nghi là rất cảm động lòng người.  Bất cứ ai khi nghe cô nói đều đồng tình cảm thông với cô ngay không một chút do dự.  Hoàn cảnh của cô sao mà gian nan vậy.  Sự lừa dối và phản bội mà cô gặp phải sao mà vô liêm sỉ đến thế.  Trong cả lô những lời nói như dời non lấp biển kia, đã chứa chất bao nhiêu là ấm ức, oán hờn, bất bình phẫn nộ đau buồn tuyệt đối chân thật.  Kèm theo đó là tiếng khóc, kèm với những tiếng thô tục kiểu nhà quê, những câu chửi bới cửa miệng.  Vì chân thành và oan uổng nên những câu thô tục và chửi bới kia cũng có vẻ thiêng liêng sạch sẽ xác đáng, đầy nghĩa khí lắm.  Nghê Ngô Thành sững sờ cả người, anh ta chưa từng biết đến cái bản lĩnh đó của Khương Tịnh Nghi, hóa ra cô lại có thể diễn thuyết một cách xúc động lòng người đến thế trong trường xã giao.  Rất lâu về sau khi nhớ lại thời điểm này, anh ta đều không thể tránh khỏi nhận định rằng khẩu khiếu của Tịnh Nghi mạnh hơn anh ta nhiều, năng lực phát biểu ứng tác tại chỗ mạnh hơn anh ta nhiều, bản lĩnh diễn thuyết của Khương Tịnh Nghi còn mạnh hơn cả một số ông quan chức tầm tầm nói năng khô cứng nhiều.  Có lẽ khẩu khiếu của Khương Tịnh Nghi còn mạnh hơn cả một số đại sứ nước ta tại nước ngoài ấy chứ.  Có lẽ Khương Tịnh Nghi vốn có một tài năng chính trị nào đó trong các thủ đoạn tranh thủ đồng tình, đánh bại đối thủ kẻ địch vào đất chết...  Vậy mà anh ta lại cứ thích dùng những từ ngữ như ngu xuẩn, đần độn để đánh giá Tịnh Nghi.  Tiềm năng của cái bọn mà anh cho là đần độn và ngu xuẩn ở  Trung Quốc... lắm khi khiến người ta phải mê hoặc, khiến người ta phải giật mình kinh sợ, lại khiến người ta phải dậm chân mà kêu trời lên.
Cuộc diễn thuyết của Tịnh Nghi đã xong, bây giờ đến tiếng rền rĩ như khóc người chết vậy.  Người chạy bàn của phòng bao tái mặt chạy tới, Triệu Thượng Đổg đưa tay ra hiệu cho anh ta lui ra.  Tiếng khóc rền rĩ réo rắt như tiếng kêu của cầm thú khiến người ngồi xung quanh phải rơi lệ.  Nghê Tảo cũng sợ quá phát khóc lên.  Sử Phúc Cương cũng phải động lòng về tiếng khóc đó, phải băn khoăn lúng túng, phải bối rối chân tay vì nó.  Nghe tiếng khóc của cô Nghê Ngô Thành cũng phải khóc lên.  Rốt cục là tại sao, rốt cục là tại sao con người sống trên đời lại phải làm cho bản thân mình đau khổ, lại phải làm cho người khác đau khổ đến thế!  Anh ta sụt sịt nói: "Tịnh Nghi, anh xin lỗi em.  Thưa các vị, tôi xin lỗi các vị.  Xin mọi người hãy tin tôi, tôi chỉ vì hạnh phúc của mọi người, cũng bao gồm cả Tịnh Nghi nữa.  Giờ đây, cô ấy đang mang thai những lời kia có thể hoãn lại.  Tôi vãn có thể làm nên một sự nghiệp.  Tôi tự tin tư chất của tôi vẫn không phải là quá kém.  Tương lai tôi cũng sẽ có một chút thành tựu, Tịnh Nghi ạ, cứ cho là chúng ta đã chia tay, đã ly hôn đi chăng nữa, anh vẫn phải giúp đỡ em mà.  Nếu mai kia anh có thể kiếm được một số tiền lớn, anh sẽ chia cho en ba mươi, bốn mươi, năm mươi, bảy mươi, đúng, bảy mươi phần trăm của anh sẽ cho em..."
Lời nói của anh ta dừng lại giữa chừng, bởi vì anh ta đã nhìn thấy một tia hung hiểm trong hai con mắt sâu đang rưng rưng nước mắt của Triệu Thượng Đổng.
Nước mắt đã chảy xuống đến má của Triệu Thượng Đổng.  Ông ta nhìn nhìn mọi người rồi nhìn nhìn Tịnh Nghi, ông ta từ từ đứng dậy, chệch choạng đi tới lại còn xoa xoa tay lên đầu Nghê Tảo.  Ông ta đi tới gần Nghê Ngô Thành, những cơ thịt trên mặt ông ta giật giật, ông ta đưa con mắt tức tối chiếu thẳng vào Nghê Ngô Thành.
Ông muốn... không cho phép Nghê Ngô Thành kêu một câu nào.
Bốp, bốp, bốp!  Ba tiếng giòn tan vang lên, ba cái vả vào miệng.  Đến Sử Phúc Cương cũng sợ hãi mà kêu to lên: Á. Thượng đế ơi!  Triệu Thượng Đổng vả miệng xong thì lại bạt ngang tai nhanh hơn chớp.  Động tác của ông ta nhanh nhẹn dẻo dai như những cú bạt trái giặt phải của danh thủ bóng bàn vô địch Trung Quốc Trang Tác Đổng hai mươi năm sau.  Không kịp để những người xung quanh nhìn rõ, ông ta đã vung tay tát bốp vào má trái Nghê Ngô Thành, và cứ thế tác bên trái và bên phải, những cú và trái tay đặc biệt mạnh, trên mặt Nghê Ngô Thành đã xuất hiện những dấu ngón tay có máu, không biết mặt Nghê Ngô Thành bị chảy máu hay mu bàn tay Triệu Thượng Đổng bị rách da chảy máu, đồng thời chân răng bên má phải của Nghê Ngô Thành cũng bắt đầu chảy máu.  Cuối cùng mới kết thúc dứt khoát một cú tát phải đầy uy lực vào bên má trái.
Nghê Ngô Thành từ trên ghế bị tát ngã lăn xuống dưới đất.  Anh ta đã như một con chó ghẻ lăn quèo dưới đất không gượng lại được.  Bản thân anh ta cũng chưa thể làm rõ việc gì đã xảy ra cả, anh ta vẫn sụp người tại chỗ.
Nghê Tảo òa lên khóc rất to.  Vừa khóc vừa gào:  "Đừng có đánh - người!"
Thế nào là một giây đồng hồ?  Thế nào là một triệu năm?  Một giây đồng hồ chỉ là một khoảnh khắc.  Một triệu năm thì dài đến mức khiến người ta ngạt thở.  Lúc đó, tổ tiên chúng ta, con cháu của chúng ta, con cháu của vô số đời con cháu chúng ta, đều đã trở thành xác chết.
Đều không tồn tại nữa.
Nhưng đã từng tồn tại từng người một.  Mỗi người tồn tại trong một khoảng thời gian của mình.  Sau đó, đối với những người không tồn tại mà nói thì mỗi giây bằng cả một triệu năm, bằng cả vĩnh hằng.
Thế là không còn hô hấp nữa, không còn phập phồng cánh mũi và đờm không còn đọng ở cổ họng nữa, không còn thở hổn hển vì xúc động, khoái cảm, phẫn nộ, giày đạp và nghẹt thở nữa.  Không còn sự tươi mát của rừng thông sau cơn mưa nữa.  Không còn mùi mồ hôi của người tình và kẻ địch nữa.  Không còn có ợ hơi sau những bữa cơm no rượu say nữa.  Không còn sự thương cảm với con chó không với tới được khúc xương dính thịt nữa, không còn nổi cáu và đói khát nữa, không còn nước mắt và lời than thở ôn tồn nữa.  Không còn sự điên tiết man dại nữa, không còn lỗ mũi và răng lợi chảy máu nữa, không còn mùi hôi điếc mũi trong người nữa, không còn xà phòng thơm, nước hoa, phấn thơm... những thứ tiêu hoa uổng phí đó nữa.  Không còn âm mưu lừa gạt, phụ nghĩa, cướp bóc, hiếp dâm, xâm lược, giết chóc, chính quyền ngụy nữa.  Không còn các thứ dính dáng đến những bàn tán không đâu về chân lý, logic, văn minh, tiến hóa nữa.  Không còn có cái kiểu vĩ nhân cuồng tự đại về các loại ngôn ngữ giấy tờ, thánh hiền nữa.  Không còn run lên vì trời lạnh, không còn lưu luyến bất cứ người nào và bất cứ ai lưu luyến nữa.  Không còn uổng công đi thuyết phục cảm hóa ai, không còn uổng công đi mong mỏi một sự lý giải của mọi người nữa.  Không còn mong mỏi được sống, được vui vẻ hạnh phúc, mong được dịu dàng và tình yêu, không còn đợi bất cứ ai đến nữa, không còn mỏi mắt chờ trông, không còn rơi lệ, không còn tỏ ra vội vã, hấp tấp và sợ hãi.  Không còn sợ chết, sợ rữa nát và tiêu vong, không còn sợ thi thể bị giày dép đá qua lật lại, không còn sợ xấu hổ tự ti vì mình chân vòng kiềng, vì hôi miệng, vì nghèo túng, vì không có quyền thế, vì phát âm tiếng Anh tồi dở nữa.  Không còn phải trốn tránh người đòi nợ, trốn tránh mẹ vợ và vợ bắt ngoại tình, trốn tránh đội kiến binh và mật thám.  Cũng không còn phải hâm mộ những con cưng nhà giời được ăn ngon, được đi ô tô, được xuất ngoại, có quyền có thế, có giường đêm ở khách sạn, vừa có vợ chăm non săn sóc lại vừa có nhân tình theo dúng mốt phong lưu thời thượng nữa.
Thế tức là đã, không, còn, đau, khổ, nữa.
Trong đêm khuya, Nghê Ngô Thành cảm thấy có sự hưng phấn và siêu thoát chưa từng thấy bao giờ.  Ba mươi năm có dư anh ta vẫn một mực tìm kiếm và mong ngóng một sự thỏa mãn về tinh thần và thể xác như thế này, đêm nay anh ta đã tìm được.  Anh ta nhớ tới người mẹ cao lớn của mình.  Anh ta nhớ lại cái vườn sau ở quê nhà, những cây lê to cao và những quả lê giòn trĩu cành vừa rơi xuống đất đã vỡ toang.  Anh ta nhớ lại cuốn tiểu thuyết...
Nhớ lại chiếc tàu thủy chở khách lênh đênh trên Địa Trung Hải.  Nhớ tới căn phòng trống trải suốt đời lãng đãng như gần như xa, suốt đời không đặt chân tới được song suốt đời vẫn để trống để chờ đợi anh ta trở về.
Anh ta đã ra đi rồi.  Cuối cùng anh ta đã tự mình trở thành chủ nhân của bản thân mình.
Mấy hôm sau, trên chỗ cuối trang ở tờ Thực Báo do Quản Thực Hiền một Hán gian có tiếng (người này đã bị chính quyền nhân dân ta xử bắn trong cuộc chấn áp phản cách mạng năm 1950) làm chủ bút có đăng mấy dòng tin tức, nhan đề là: "Đã chểt mà sống lại, tin ly kỳ trong nhân gian", phụ đề là: "Tin hay không tùy bạn đọc".
Tin viết:
Tin bản báo: Lê X - một cử nhân học phù cao đảng thành phố ta vì có chuyện tranh chấp trong gia đình đã tự sát trong đêm hôm kia.  Họ Lê kia đã treo cổ lên cành cây hoè cổ mọc ngang trước cổng nhà trường.  Khi phát hiện thì đã tắt thở nhiều giờ trước rồi, quanh cổ có vết máu.  Khi giãy chết Le X - đã đánh văng giày dưới chân đi xa mấy trượng.  Tình trạng hết sức thê thảm.  Sau khi phát hiện đã hạ thi thể đưa đến đồn tuần cảnh.  Hơn mười tiếng đồng hồ sau bắt đầu tìm gia thuộc đến nhận thi thể.  Sau khi gia thuộc xác nhận đó chính là giảng sư Lê thì đột nhiên phát hiện Lê tiên sinh vẫn đang còn hơi thở nơi mũi, tim còn có tiếng đập, thực sự đã hoàn dương.  Kinh qua cứu chữa đã từ cõi chết mà sống lại.  Phóng viên bản báo đã đến phỏng vấn bác sĩ người Nhật nổi tiếng là Sankushiro về vấn đề đó, bác sĩ cho rằng việc ông Lê X hổi sinh vẫn còn thiếu căn cứ khoa học chưa thể tin chắc.  Có tin Lê tiên sinh tự vẫn, có thể liên quan đến sự kiện đào kép chi chi gì đó.  Tình như trời, hận như biển, đạo thì vô tình mà cũng hữu tình, dưới hoa mẫu đơn vụng trộm không được.  Buồn ư, vui ư, tỉnh hề, mơ hề, biết đâu lại mượn một góc báo, góp vui cùng bạn đọc để trò chuyện giải buồn cười cợt ngả nghiêng đôi chút mà thôi.

Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
Trang 473 - 490, Chương 23


Như vậy là Nghê Ngô Thành đã từ cõi chết sống lại vào tháng năm năm một  chính bốn ba, rời khỏi Bắc Kinh mà chẳng có căn cứ y học nào cả.  Đầu tiên anh ta đi theo một người bạn học tới một trấn nhỏ ở Giang Tô, lang thang kiếm sống mấy tháng, nhưng không trụ nổi.  Sau rồi xoay sở hết Sơn Đông sang Hà Bắc, cuối cùng dừng chân ở bán đảo Giao Đông.  Làm giáo viến, làm hiệu trưởng ở một trường ven biển.  Xứ mù thằng chột làm vua.  Ở cái thành phố bờ biển đó, Nghê Ngô Thành nghiễm nhiên trở thành một nhân vật trong giới học thuật.  Sau khi rời Bắc Kinh Nghê Ngô Thành đã có một số thay đổi về tính cách.  Anh ta càng coi trọng lợi lộc, càng trọng hưởng lạc mà nhẹ đạo nghĩa, tỉnh tỉnh mê mê như cũ, có lòng ham thực lợi mà không có thuật để chiếm thực lợi.  Ở cái thị trấn nhỏ bên bở biển đó, ít lâu sau anh ta đã bị coi là một quái nhân chẳng giống ai.  Anh ta đã trở thành bạn rượu thịt của một số quan chức ngụy quyền tay sai Nhật.  Năm một chín bốn nhăm, trước khi giặc Nhật bị thua trận, anh ta đã được bổ sung làm đại biểu đại hội dân chúng, đi Nam Kinh họp đại hội.  Lúc đó Uông Triệu Danh đã chết, chủ tịch chính phủ quốc dân tay sai Nhật, người kế thừa nguỵ quyền Uông là Trần Công Bác.
Nghê Tảo hết sức kinh dị phát hiện, sau khi cha mình ra đi trong một trạng huống tàn nhẫn đến vậy, thì cuộc sống gia đình này lại có một bước chuyển biến mới.  Sau khi Nghê Ngô Thành đi rồi thì mẹ con bà cháu đã chuyển nhà, đến một căn nhà hướng Nam hai phòng trong một khu sân cổng nhỏ hơn, tiền thuê nhà đã rẻ được khá nhiều.  Sau khi đã chuyển vào được chỗ ở mới, hầu như mọi người đều trút được ra một hơi dài.  Sắc mặt bà ngoại, dì và mẹ đều nhẹ nhõm hơn một ít so với dạo trước.  Chỉ có chị vẫn không thay đổi được động tác thở dài và lắc đầu vốn ưa thích từ bé của mình.  Đương nhiên tinh thần của chị ấy cũng ngày càng khá lên.  Hoạt động của các chị em kết nghĩa của Nghê Bình giờ sôi nổi tưng bừng ghê gớm.  Mỗi người mua một cuốn sổ lưu niệm để ghi lưu niệm cho nhau.  Trong sổ lưu niệm của chị có đủ các kiểu chữ trẻ thơ xinh đẹp bằng bút lông và bút sắt:
Bóng dáng đẹp tươi xinh
Tấm lòng dịu dàng hiền,
Đôi mắt trong lại sáng,
Nhìn ra đường rộng xa, đường em qua.
Đó chính em tôi - Nghê Bình.

Trang khác là:
Đừng bảo thế gian lắm gai chông,
Coi đây tình bạn ủ ấm lòng.

Lại một trang nữa là:
Uôm uôm uôm, kêu inh inh,
Em là con ếch nhỏ xinh trên đồng
Nhanh nhanh em đớp côn trùng,
Để thành cô ếch béo tròn béo quay.
Lại một trang là:
Khi chú dế mèn khóc than trong đêm thu giá lạnh,
Hãy đừng quên tôi,
Biết đâu tôi đã chết rồi trong đêm.

Những dòng lưu niệm trong trang cuối khiến Nghê Tảo đọc mà buồn hẳn xuống.
Đọc xong cuốn sổ lưu niệm của chị nó phảng phất như cảm nhận rằng ngôn ngữ đẹp hơn hẳn hiện thực.
Tính nết chị chứa đựng sự cổ quái ngay trong lúc bình thường.  Nghê Tảo đang dở xem cái bìa sách trước màu đỏ, bìa sau màu đen, các trang ruột của cuốn sổ lưu niệm năm bảy màu, trong lòng cũng không hề thấy cảm động về những thứ đó lắm thì Nghê Bình bỗn giật lấy quyển sổ khỏi tay nó một cách thô bạo, cất ngay vào tráp nhỏ bằng gỗ của mình, rồi khóa tráp lại nói: "Thôi đi, thôi đi, đừng có mà xem sổ lưu niệm của tôi!"  Nghê Tảo rất bực mình.  Nó không mảy may yêu cầu giở xem sổ lưu niệm của chị.  Tự Nghê Bình chủ động đưa sổ lưu niệm cho nó chứ, nó tin chắc chắn rằng tình bạn thân thương giữa họ khiến Nghê Bình đã đưa sổ lưu niệm cho nó xem.  Đối với việc của nó, trước đây Nghê Bình vẫn hay hỏi han này nọ, rất quan tâm cặn kẽ thậm chí còn can thiệp quá nhiều nữa.  Nghê Bình vui vẻ, chủ động và hồn nhiên đưa sổ lưu niệm ra, cho nó xem, để nó cùng chia sẻ tình cảm của các chị em kết nghĩa của chị.  Việc đó đã gây ra cho nó hứng thú, khiến nó cảm động đã khơi dậy và tăng cường những tình cảm tốt đẹp của nó đối với các chị em kết nghĩa bé nhỏ của chị mình...  Thế mà đang lúc nó háo hức xem thì đột nhiên bị đẩy bật ra một cách kỳ cục.
Phải chăng đó cũng là một kiểu sung sướng của quyền lực?  Có quyền gây ra sự thích thú cho người ta, rồi lại lập tức chặn đứng nó lại, để thấy được sự thèm thuồng và nuối tiếc của người ta.
Từ sự ngọt nào khi lật dở sổ lưu niệm đến sự hậm hực sau khi bị cướp mất cuốn sổ, hai trạng thái tâm lý đó sao mà gần nhau đến vậy?
Sau khi Nghê Ngô Thành ra đi, Tịnh Nghi đã từng bị hoang mang sợ hãi vì sinh kế.  Cuối cùng được sự giúp đỡ của Lắc lư cũng đã tìm được một công việc để làm, đảm nhiệm chân chuyên quản lý các đồ dùng trong thư viện của một trường dạy nghề nghiệp cho nữ sinh.  Vì Tịnh Nghi đang mang thai nên phải nói khó để họ nhận thêm Tịnh Trân vào, hai người cùng đảm nhiệm một chức vụ đó.  Hai người làm việc của một người, thì phải ăn một suất lương.  Để dành được một chỗ làm đó Tịnh Trân và Tịnh Nghi đã phải chạy vay mãi ở chỗ xưởng thủy tinh gần cửa Hòa Bình mới mua được hai tấm giấy chứng nhận.  Hai người đã thảo luận đi thảo luận lại với nhau mãi, cuối cùng cho rằng hai cái tên Tịnh Trân và Tịnh Nghi có vẻ quá cũ kỹ, không giống tên phụ nữ trí thức thời mới có học vấn gì cả, sợ không lọt được vào mắt của chủ tịch hội đồng và hiệu trưởng trường chuyên dạy nữ sinh.  Hai người quyết định cải tên, để tìm được tên gì thì lại phải thảo luận rất sôi nổi hàng bao nhiêu ngày, có khi thảo luận một cách hăng hái dị thường, tiếng cười lanh lảnh khanh khách đến nỗi gây ra sự chú ý nhòm ngó của các loại Nóng hổi nặng óc tò mò.   Có khi thảo luận đến đỏ mặt tía tai, bức xúc thực sự với nhau.  Cuối cùng cũng chọn được ra hai cái tên tạm hợp ý một chút.  Khương Tịnh Trân đổi tên thành Khương Khước Chi, Khương Tịnh Nghi đổi tên thành Khương Nghênh Chi, một người khước từ, một người nghênh đón, thế mới giống hai chị em ruột chứ.
Rồi là việc điền vào bảng lý lịch trích ngang, chủ yếu phải dựa vào Khước Chi.  Ba ngày liền sau khi rửa mặt chải đầu trang điểm xong, Tịnh Trân bèn nhập thần tĩnh khí, mài mực chỉnh bút luyện tập kiểu chữ tiểu khải.  Vừa luyện chữ vừa thở dài than vãn đã lâu quá không động tới bút mực, chữ nghĩa có vẻ ngả nghiêng lung tung quá rồi.  Nghênh Chi đứng hầu một bên, hơi có vẻ cung kính.  Hai chị em Nghê Bình khi đi vào buồng cũng đều kính cẩn thận trọng giữ yên tĩnh, cảm thấy khâm phục lắm.  Khước Chi viết ra bao nhiêu trang giấy luyện chữ Tiểu Khải đều được hai đứa bé lấy ra ngắm nghía thưởng ngoạn rất thú vị.  Ngày thứ tư mới chính thức điền bản lý lịch.  Quả nhiên chữ tiểu khải viết cực kỳ nắn nót, nét chữ đạt tới trong nhu có cương, khiến phía nhà trường ưng ý ngay.  Sau đó là trình báo, sau đó là nhờ người nghe ngóng tình hình, sau đó là sốt ruột đợi chờ.  Cuối cùng quả đã được trọng dụng, nhất trí cho rằng đó là thành công của thư pháp của Khương Khước Chi tiên sinh.  Khương Nghêng Chi tiên sinh lần đầu tiên chủ động dặn Nghê Tảo đi mua rượu mua lạc mua đậu phụ ngũ hương thịt sấy khô về ăn mừng.  Khước Chi cũng lần đầu tiên thực lòng khước từ, nói rằng sắp trở thành phụ nữ công chức kiểu mới rồi, đâu lại có cái kiểu uống say bí tỉ thế kia chứ.
Đầu tiên thì hai người hoặc cùng đi làm hoặc thay phiên nhau đi.  Sau đó Nghênh chi dần dần đi lại cử động trở nên bất tiện, thì chủ yếu là Khước Chi đi làm.  Việc đó không những đem lại thu nhập cho cái gia đình này mà còn đem đến hy vọng, sinh khí và những lĩnh vực sống mới.  Họ đã từng đưa hai nữ sĩ về nhà chơi.  Học sinh trung học trong mắt Nghê Tảo là cao là go ghê gớm lắm.  Hai nữ sinh trung học đó một người cắt tóc ngắn một người tết đuôi sam, họ dạy hai vị giáo viên họ Khương những bài hát đang lưu hành.  Hát bài "Bay qua biển mà mua tạp hóa", lại hát "Ca nữ nơi chân trời", lại hát "Hoa hồng ơi, hoa hồng tôi yêu em."  Bốn người hát lạc giọng lung tung cả lên, hễ có ai lạc giọng một cái là lại khanh khách lên cười.
Trình tự rửa mặt, chải đầu, trang điểm của Tịnh Trân mỗi buổi sáng vẫn không hề thay đổi.  Vẫn trang nghiêm và bi phẫn lắm, có thể thời gian rút ngắn đi một ít?  Có thể khi tự nói tự nghe những lời chửi mắng ít đi một chút, những lời tự bốc đồng tự nghĩ ngợi tự thở than nhiều lên một chút?  Cũng khó mà nói được.
Từ nhà trường cũng đã từng có một vị nữ giáo viên tóc hoa râm đến nhà chơi.  Bà ta nói năng cũng có hơi đá giọng quê quê, Khước Chi và Nghênh Chi cố gắng suy diễn mãi để hòng chứng minh rằng họ với nhau cũng có thể coi là đồng hương.  Họ Khương giữ bà ta ở lại ăn cơm.  Nghê Bình có vẻ đặc biệt có ấn tượng tốt với cái bà giáo viên này, nó sốt sắng với bà ta lắm, lúc thì rót nước, lúc thì lấy thêm tấm đệm để kê vào ghế cho bà ta ngồi.  Lúc ăn cơm toàn cười với bà giáo viên đó.  Có thể là rất hiếm khi nhà có khách, nên khách quá đáng quý chăng?
Trong khi ăn cơm người đồng sự đã làm việc lâu năm ở trường giới thiệu với hai người mới vào nghề một bí quyết công tác quản lý dụng cụ ở thư viện và phòng thí nghiệm.  Chủ yếu trong đó có một số "màu mè", có thể làm thế nào bớt xén được một ít vật phẩm mà không bị lộ hình tích, có thể tự mình sử dụng hoặc biếu xén, đưa bán thì phải hết sức thận trọng, vì rất dễ bị lộ cái đuôi chuột.  Khước Chi và Nghênh chi gật đầu lia lịa, chăm chú lĩnh hội, cảm kích rơi nước mắt nước mũi, thừa nhận mình quả thật chưa có kinh nghiệm làm việc.  Nghe một cuộc chuyện trò của bà chị hơn đứt đọc sách mười năm, quả đúng "nhân tình mà đạt được là học vấn, thế sự mà hiểu sâu ấy là văn chương" đó nhỉ.  Bà chị già đó sau khi giới thiệu hết kinh nghiệm thì tâm sự rằng: "Chúng ta đều là người thật thà, lại nhát gan, những cái tôi nói vừa rồi, chẳng qua là ba chuyện vặt vãnh, chẳng nhằm nhò gì, chẳng coi được là cái gì đâu.  Gặp phải người rắn á, thì cứ gọi là sành cũng rán ra mỡ được!  Trung Quốc chúng mình bất kể hoàng đế nhà Thanh hay đại tổng thống Viên, hay ủy viên trưởng Tưởng cũng như chủ tịch Uông, ai ngồi chủ giang sơn cũng thế cả thôi.  Vậy Trung Quốc không mất nước sao?  Trung Quốc mà không mất thì còn gì là cái lý của trời đất nữa?"
Tiễn khách đi rồi, chị em Khước Chi, Nghênh Chi còn tiếp tục ngẫm nghĩ thấm thía sự chỉ đạo của khách, cảm thấy phục sát đất.  Nhưng lại đều nói: người này quá khôn, quá xấu, không tốt đẹp gì đâu từ nay về sau không phải phòng bị ai cả, hãy đề phòng bà ta đầu tiên.  Lúc sắp đi ngủ bỗng nhiên Tịnh Nghi lại nhớ ra, liền mắng cho Nghê Bình một trận: khách đến nhà mày sốt sắng thế để làm gì?  Nếu mỗi người khách đến nhà mà lại cứ hầu hạ mãi như thế thì chịu sao được?  Chẳng phải bố, chẳng phải mẹ, sao mày lại hiếu thuận bà ta đến thế?  Nói đến nỗi Nghê Bình cực kỳ tủi thân mới thôi.
Một lúc nữa, Nghê Tảo đã bắt đầu lơ mơ ngủ rồi, lại nghe thấy mẹ ta thán: ba mày đúng là chẳng ra cái đồ gì, ấy thế nhưng mà cái tâm địa kiểu như thế thì lại chẳng hề có hơi một chút nào!  Ông ấy mà chỉ có đến một phần mười tâm địa như cái bà giáo viên kia thì đã phát tài lâu rồi.  Xã hội như thế, người như thế thì mẹ con nhà mình có dính đòn máu cũng là đáng đời!
Nghê Tảo mơ thấy ba, người ba lơ lửng, miệng cười cười.  Có vẻ mọc thừa ra nhiều cánh tay và chân.  Nói chuyện cứ như thổi hơi vào tai nó ấy.
Cái người như ba thật vừa đáng thương lại vừa đáng hận!  Chị thử nói xem khi ba đang bị treo thì cổ đau lắm chứ nhỉ!  Khực một cái thế là lập tức chết đi mất rồi, cổ rỉ ra hàng đống máu.  Làm gì có như thế, làm gì có thế đâu...  Từ hôm đó cứ đến tối là em không dám ra khỏi nhà.  Em cứ cảm thấy có một người đang treo ở trước cửa nhà ta.
Nghê Tảo nói cho chị biết giấc mơ của mình.  Chị nó thở dài bình luận bằng cách nói về thảm trạng khi ba tự vẫn.  Cái kiểu nói của chị nó cứ như khi cha tự sát thì chị nó ở ngay bên cạnh.  Cứ như là chị nó đã từng bị treo cổ rồi ấy.
Nghê Bình còn bảo, nếu như lần ấy ba bị chết thật, thì ba sẽ biến thành ma thắt cổ.  Ma thắt cổ lúc nào cũng thè lưỡi, vì chúng không thể thở được, chúng bị tức thở mà chết tại chỗ mà.  Lưỡi của chúng trắng bệch ra vì bị mất hết máu.  Lưỡi trắng bệch như vậy thì trông khiếp lắm.  Như thế thì linh hồn lúc nào cũng thè lè cái lưỡi trắng bệch của cha chẳng thế nào được yên ổn, nó sẽ luẩn quẩn bên mình mấy mẹ con.  Nó sẽ không tha thứ cho mẹ cho dì cho bà ngoại, chắc chắn nó sẽ dọa cho chết khiếp, sẽ bắt đi, sẽ đưa xuống địa ngục từng người một.  Bắt được xuống địa ngục rồi nó còn phải thưa kiện, còn phải đòi ly hôn cho xong.  Rồi họ còn phải đi tìm Diêm Vương để phán xử xem ai đáng vào vạc dầu, ai đáng bị cưa ngang lưng, ai đáng phải đầu thai làm kiếp chó, làm chó sói làm cú vọ...
Chẳng ai chịu thương hại ai, chẳng ai chịu nhường nhịn ai đâu.  Bất kể là còn sống hay đã chết.
Đó chính là kết luận của Nghê Bình, một đứa trẻ mới qua tuổi lên mười.
Khi nói những câu trên mắt Nghê Bình phát ra ánh nhiệt tà, khiến em nó cảm thấy sợ hãi, khiến em nó nhớ tới nghi thức "một mình chứng nghiệm" dạo trước.  Nghi thức đó đã tự động thủ tiêu ngay sau khi bà ngoại và dì về quê một chuyến.  Từ đó nó chưa bị khôi phục lại lần nào nữa.
Ngoài việc hát những bài hát đang khá phổ biến thì còn hát ca  kịch.  Sau khi chuyển đến nhà mới họ thấy ở sát vách có một bà lão lưng còng.  Bà cụ này thuộc họ Bạch, dòng Kỳ, ngày nào sáng sớm ra cũng pha một ấm trà thơm ngon rồi ung dung nhấm nháp, không bao giờ ăn sáng.  Bà cụ Bạch hút thuốc lào, khoọc khoọc khoọc giống tiếng mèo gừ khi ngủ say, Nghê Tảo mãi vẫn không thể làm rõ được đó là tiếng phát ra từ cái điếu hay là phát ra từ trong khoang ngực của bà cụ.
Bà cụ Bạch tuy đã già lụ già khụ rồi nhưng cụ nói cụ vẫn là con nghiện, cụ nghiện ca kịch và đánh bài.  Tuy cổ họng cụ đã khàn đặc, tiếng thì như tiếng thanh la vỡ, hễ hát câu gì đó lên là ho ngay khù khụ một lúc đến đứt cả hơi, thở hi ha hi hóp như lên cơn sốt rét, nhưng cụ vẫn kiên trì nói.  Bà nghe cái ý vị mùi này nhá!  Các thứ khác đều là giả hết, chỉ "mùi" mới là thật.  Có người vừa có sắc, vừa có giọng, vừa nhận thày vừa nhận đóng kịch luôn, lại còn biết cả kéo nhị lại còn biết được cái kiểu khúc thức, ấy vậy mà ông ta cứ không ca được "mùi" đấy, suốt cuột đời vẫn không hát được mùi đâu nhá.  Không tin bà hãy nghe xem cái chỗ mùi mẫn của tôi nhé:
Tô Tam, đã rời khỏi huyện Hồng Động rồi,
Đem thân đứng ở giữa đường thôi...

Bà cụ đã hát ngay được cả một điệu "Tây Bì lưu thủy" quả cũg có gì đó có vẻ mùi thật.  Nhưng Tịnh Nghi lúc đó đã ộ ệ lắm rồi, lại  nói trước kia bọn mình không hát như vậy đâu, cô hát lại lời khác của điệu đó là:
Tô Tam, đã rời khỏi Hồng Động rồi,
Đem thân đứng ở bên đường thôi.

Sao lại nói "ở bên đường" nhỉ?  "Ở bên đường đâu có phải là lời trong Kinh kịch, bài hát Bang kịch rồi chứ gì..."  Bà cụ không tiếc công tranh biện.  Tịnh Trân giật mạnh tay áo em gái, sợ có gì bất kính đối với bà lão tuổi cao đức tốt nghệ tinh đó.
Thế là hai chị em liền học theo cách thát mùi mẫn của bà lão một cách ngoan ngoãn, hát là "ở giữa đường" chứ không phải là "ở bên đường".
Nghê Tảo hoàn toàn không thể hiểu được hàm nghĩa của "ở giữa đường" với "ở bên đường" là thế nào.  Nó cứ nghe nhầm lẫn "ở giữa đường" với "tiền của bà chị", "ở bên đường" nghe thành "roi đao lớn".  Hơn nữa nó không thể chịu nổi những từ đó và điệu hát đó cứ lặp đi lặp lại.  Họ vẫn cứ hát hết lần này đến lần khác, hết ngày này sang ngày khác, có khi là hết đời này sang đời khác khiến người ta nghe mà chỉ muốn treo quách cổ lên thôi.  Nó không thích Tô Tam, cũng như không thích bà cụ nọ.  Tô Tam là người nào chứ, cũng là một bà già còng rỗi hơi suốt ngày thổi (nó cho là bà cụ thổi) vào ống điếu khọc khọc khọc khọc kia hay sao?
Hát chán rồi bà cụ Bạch quay sang chửi con dâu, chửi nghe rất hứng thú và sinh động, mới nghe lần đầu tiên đến chị em Nghê Bình cũng cảm thấy bị lôi cuốn.
Chửi xong rồi bà cụ chợt nhớ ra hỏi: Ba của Nghê Tảo đâu nhỉ?
Nghê Tảo thấy tim đập thình thịch lên.  Nó chỉ muốn trốn đi, nó sợ mẹ và dì nhân khí thế bà cụ vừa chửi con dâu mà cũng đưa theo chửi cha nó một trận tương tự.  Nhưng may sao bà cụ đã ôm chặt lấy Nghê Tảo, cứ như rất thân thiết với nó vậy, cứ làm như Nghê Tảo là cháu nội không bằng và bà cụ ta vừa mới mua cho nó một thằng người bằng kẹo ấy.
Nhưng mà Nghê Tảo đã hoàn toàn lo hão lo huyền rồi, chưa đợi Tịnh Nghi nói câu gì, Tịnh Tran đã trả lời: "Em rể cháu ở Thượng Hải, làm ở đường sắt, trưởng phòng kia đấy."
"Đúng vậy, đúng vậy ạ", Tịnh Nghi tiếp lời, "ở Thượng Hải làm trưởng phòng, mà trưởng phòng kia đấy... chả vậy sao, mấy hôm trước cũng có gửi thư vè nhỉ...  Anh ấy cũng bận, cũng ít viết thư lắm.  Anh ấy còn mẹ già, cả một gia đình lớn, gánh nặng lắm cơ!"
Sau này Nghê Tảo đã mất bao nhiêu thời gian, bao nhiêu công sức đồng thời phải hỏi cả dì và mẹ mới hiểu ra tại sao lại phải trả lời như vậy.  Vừa dọn đến đây ít lâu, lạ nước lạ cái, làm sao mà lại phải nói thật tất cả với cụ ấy?  Nói thật với cụ ấy rồi để cụ ấy nói lung tung ra cho người ta coi thường mình à, cho người ta cười mũi, cho người ta bắt nạt mình à?  Nhưng mà không thể làm ra cách nhà mình tốt đẹp lắm đâu, việc đến tai chủ nhà họ lại chả xoay xở bắt mình nộp tiề thuê dài hạn trước thì sao?  Con phải biết nghe dì bảo nhát, một đời người ta sống khó lắm đấy!  Nghèo thì người ta khinh, giàu thì người ta tìm cách xoay sở mình ngay.  Như thế gọi là "gặp người chỉ nói ba phần mười, không được dốc hết lòng mình ra với ai."  Hai câu ngạn ngữ cuối cùng này Tịnh Tran nói bằng giọng nhấn nhá như người đang biểu diễn hát vè ngoài chợ ở vùng Hồ Quảng.
Đợi cho bà cụ Bạch đi rồi, Khương Triệu Thị cũng phát biểu cảm tưởng rằng Kinh kịch thì có cái gì mà là hay, nghe vở "Nữ khởi giải" thì phải nghe Bang kịch mới hay chứ, cứ thử nghe Linh Chi Thảo của phái cũ trực lệ mà xem, người ta hát Tô Tam thế nào nhà:
Tiền đủ đi nào hả a
Ải ải ải.... Ải... ải ải ải ải...
Có đồng xu... đến...
Được... sống nào a... sống mạng a...

Mẹ chúng mình hát hay thật đấy, chị em sụt sùi than thở.  Năm ấy, đoàn Linh Chi Thảo đến xã mình bắc rạp diễn kịch... Năm ấy cha vẫn còn sống, chúng mình vẫn chưa ra khỏi khuê phòng...  Còn nói gì nữa?  Còn nói gì nữa đây?  Ai có ngờ chị em chúng mình lại sa sút đến bước này, còn nói gì được nữa nhỉ!
Hễ nói đến Bang kịch là họ lại xuất hiện sự cảm thương vô hạn.  Họ cũng có những chuyện xưa ngây thơ trong trắng của riêng mình.  Nhưng còn nói gì được đây?
ĐƯợc ngày chủ nhật khi Khước Chi và Nghênh Chi ở nhà, bà cụ Bạch liền đưa ngay một người bạn của mình đến tìm Tịnh Trân và Tịnh Nghi để đánh bài mạt chược (vị đó là một giáo viên tiểu học quê chính ở Hà Nam).  Cái đó đã gây hứng thú cực lớn cho chị em Nghê Bình, bọn chúng rất nhanh chóng nắm được cách thức và mánh khoé đánh bài mạt chược này, có lúc chúng đứng đằng sau lưng mẹ và dì, vươn cổ ra xem đánh bài, xem một mạch đến hai tiếng đồng hồ.  Tất nhiên, chúng không ra lời một tiếng nào, chúng rất hiểu luật chơi.  Nhưng chúng cũng thường hay thấy vui vẻ cùng với sự thay đổi biến hóa trên mặt bài.  Có khi chờ đợi một con bài hồi hộp đến mức tim đập dồn lên đến tận cổ họng.  Có khi còn khấn thầm trong bụng: xin một con tứ bích, tức bích!  Lại có một lần chị kéo em trai vào buồng trog, kéo rèm cho kín, chị em rập đầu lạy trước tượng "ông thần tài xin ông phù hộ cho mẹ và dì con thắng một ván, ông thần tài ơi chúng con mãi mãi sùng bái ông!"
Nhưng có đến bảy tám phần mười những lần sau ba bốn năm, hoặc tám chín mười một tiếng đồng hồ đánh bài, dì và mẹ vẫn cò đậm đà nuối tiếc đứng dậy khỏi chỗ chơi bài.  Mặt mũi họ tái nhợt, ánh mắt họ lờ đờ, thất vọng đau đớn, buồn bã.  Tuy miệng vẫn gượng nói vài câu với khách: hãy ngồi chơi một chốc đi, ở lại ăn cơm nhé, nhưng nụ cười trên mặt họ thực ra còn khó coi hơn là mặt mếu.  Cái đó rốt cục là vì sao?  Cái trò bài bạc này thành vận xúi rồi.  Dì nói thế!  Họ còn thảo luận nghiên cứu phương pháp xoay chuyển vận xúi  nữa.  Rằng nếu đánh bài mà xúi quá thì có thể đứng dậy đi một vòng, thế là biết đâu vận xúi lại qua, vận đỏ lại đến.  Làm thế mà không được thì sao?  Thì hễ liền năm ván mà không "ù" nổi, hãy nói muốn đi ra ngoài, thế nhưng nếu đi ra ngoài mấy lần mà chả đem vận may về để thắng được tiền lần nào cả?
Dù rằng có khi đã thắng nhiều nhất, "may" nhất rồi bà cụ Bạch vẫn cứ lắc đầu lia lịa, bà cụ bảo: tôi đánh thế này đã gọi là ngon ăn gì?  Thời buổi bây giờ tính là cái thời vận gì chứ?  Cái năm nay có phải thời vận gì đâu!  Khi tôi còn trẻ, cái năm hăm ba tuổi ấy, tôi ngồi kiệu đi đánh bài, bà thử đoán xem tôi đã "ù" được một ván như thế nào?  Chắc bà không đoán nổi đâu, cái ván mà tôi ù được là: toàn quân bài trắng, nào bộ con rồng, nào sạch sành sanh, nào nhị tướng khấu thỉnh, tróc ngũ khôi... tài thân nguyên bảo, mèo bắt chuột, tứ quý hoa... Ù được ván đó ai cũng lắc mắt, vơ được tất cả số bạc đó về thì... Bà bảo ở đó có bao nhiêu tay bao nhiêu mồm nào?  Chính tôi cũng phát ngốt cả lên, phát hoảng cả lên chứ!  Mới hai mươi ba tuổi mà đã đánh đến thế thì thôi, liệu sau này bà có trị được không?  Bà đoán xem nào? Bạc thắng được tôi chẳng lấy tí nào, tôi cúng vào chùa hết!
Mọi người đều trợn tròn mắt kể cả trẻ con.  Sau khi bà cụ Bạch đi rồi, Tịnh Trân hăng lên nói, con bà nó chứ!  Tôi cũng phải ù được một ván như vậy, ù được ván đó thì tôi không bao giờ đánh bài nữa!  Tôi thì không tin bà ta đã ù được một ván như thế thật, bà ta mà ù được thì tại sao tôi lại không ù được?  Người Kỳ họ Bạch kia làm được việc đó, sao người Hán họ Khương này lại không làm được chứ.  Khương Tử Nha, Khương Thái Công câu cá cũng chẳng phải họ Khương là gì?  Chúng ta phải tranh lấy cái phần thắng này mới được!
Một lúc sau Tịnh Trân bổ sung rằng, tôi mà thắng thì không chịu cho bọn ni cô hòa thượng đâu.  Tôi thì tiêu hết tất cả.  Lại một lúc nữa, Tịnh Tran cười than rằng: Thật là điêu hết mức, lóa hết cả mắt rồi.
Hai chị em làm việc ở trường chuyên nữ mấy tháng cũng không đến nỗi tồi, nhưng vào mùa hè đã xảy ra một việc.  Cứ đến hè là người Nhật ráo riết tiêm phòng dịch tả, ở đâu cũng cưỡng bức mọi người phải tiêm.  Nhưng trình độ tay nghề tiêm rất kém, điều kiện hoàn cảnh nơi tiêm cũng rất tồi, rất nhiều tin đồn rằng vì tiêm mà sinh bệnh nặng mà nhiễm trùng phải cưa cả cánh tay, thậm chí chết cả người.  Khương Khước Chi vốn dĩ sợ thuốc men chữa trị, lại nghe những tin tức như vậy lại càng mất hồn mất vía.  Chẳng may vừa đúng hôm chị ta đang làm việc ở trường thì bọn đi tiêm cũng đến.  Mang theo cả cảnh sát, không tiêm không được, Khương Khước Chi lúc đầu năn nỉ xin miễn, không được.  Người tiêm lôi chị ta lại vén tay áo lên, Khương Khước Chi vừa nhìn thấy đầu mũi kim tiêm đã kêu toáng lên, rồi ngất xỉu đi... thành ra trò cười.
Tháng chín năm một chín bốn tư, Tịnh Trân và Tịnh Nghi bị nhà trường cho thôi việc, tiếp ngay sau đó Tịnh Nghi sinh đứa con thứ ba, một đứa con gái, từ đó họ không đi tìm việc làm nữa mà có lẽ cũng chẳng thể tìm được.
Ôi!  Những tháng ngày như vayaj thật nặng nề biết bao.  Đối với Nghê Tảo mà nói, thà là cuộc sống hồi ở nhà cũ trong cái sân riêng đầy những chuyện đấu đá vẫn còn tốt hơn bây giờ một ít.  Lúc đó, đúng là đầy những sự tranh chấp cãi cọ, thù hận, tàn nhẫn cố tìm mọi cách, cố bắt người khác phải nghe theo mình, rồi khóc lóc, gây gỗ, toan tính, mưu mô, mềm có rắn có, và những ảo tưởng không bao giờ có thể từ bỏ.  Lúc đó, một thằng bé mới tí tuổi như nó mà đã biết mong mỏi sự hòa dịu, mong mỏi sự cảm thông tha thứ, mong mỏi sự thật thà ngay thẳng.  Còn từ khi dọn đến đây thì sao, từ khi cha đi rồi thì sao, lại chỉ có Tô Tam hát mãi không hết, chỉ có ván bài ù lý tưởng như của bà cụ Bạch nhưng mãi mãi không thành!  Kể cả nó nữa, cũng đã đâm ra mong mỏi mẹ hay dì ù được một ván như vậy!  Chính mắt nó đã nhìn thấy mẹ và dì cố gắng đến thế nào, bao lần đánh dấu bài, nhìn trộm bài, tráo bài, rồi cuối cùng công cốc hết.  Đó mà là cuộc sống ư?  Đến bao giờ mới thay đổi được cuộc sống đó một chút nhỉ?
Dạo trước tết năm một chín bốn tư, có một ngài lạ mặt đến nhà.  Gặp ai ông ta cũng cúi mình gật đầu, gặp Nghê Tảo cũng vội vã khom lưng.  Ông ta nói đã phải mất bao nhiêu công sức đi tìm loanh quanh mãi mới gặp được nhà Nghê Tảo.  Ông ta đến từ thành phố bờ biển ở bán đảo Giao Đông, ông ta đem thư của tiên sinh Nghê Ngô Thành và bánh ga tô mừng ngày tết cho trẻ con, còn có cả một hộp kẹo sô cô la, Nghê Bình và Nghê Tảo ngạc nhiên ngẩn cả người ra, chúng không thể ngờ cha mình vẫn còn tồn tại, mà lại còn liên hệ được với chúng.  Hình vẽ bằng kem trên chiếc bánh ga tô và giấy trang kim bọc ngoài kẹo sô cô la giống y như chúng nó đến từ một thế giới xa lạ nào vậy.
Khôn đem tiền đến ư?  Tịnh Nghi hỏi rất khẩn thiết.
Người ta cười nhàn nhạt khẽ lắc đầu.
Tịnh Nghi quá thất vọng thở dài một cái, đứa bé thứ ba trong lòng khóc ré lên.
Lá thư viết thế này:
Con Bình, con Tảo ơi,
Cha ở đây rất tốt không phải nhớ nhung gì đâu.  Món quà mừng năm mới gửi đến này, là một lời chúc nguyện tốt đẹp của người cha.  Điều cha lo lắng từng giờ từng phút là sự trưởng thành lành mạnh của các con.  Không có cơ thể khoẻ mạnh thì không có tất cả.  Mỗi buổi sáng ngày ra sau ba bữa cơm và lúc sắp đi ngủ đều phải đánh răng, bàn chải phải chọn loại hợp tiểu chuẩn vệ sinh đấy.  Lông bàn chải dày quá, nhiều quá thực ra không có lợi cho răng, cần nhớ kỹ nhé!  Phải chú ý dinh dưỡng, không phải nói thế là mỗi bữa cơm đều cần có cá thịt đâu, mà phải phối hợp tốt các loại thức ăn.  Các thức ăn chế biến từ đậu không những cực tốt đối với cơ thể, mà giá lại rẻ.  Nhất là không được quên tắm rửa, vì cha không có nhà không thể đưa con đến cửa hàng tắm, nhưng cha lúc nào cũng mong các con, mỗi ngày nhất định phải tắm một lần, mà tốt nhất là hai lần.  Còn việc về chân cong hình chữ o và chân chữ bát...
Cho cha gửi lời thăm sức khoẻ mẹ, bà ngoại, dì các con.  Chúc họ ăn Tết được vui vẻ, mọi việc đều như ý, sức khoẻ được tốt.  Happy New Year!
Xem xong thư, Tịnh Nghi tức quá mất khôn, buột miệng chửi ầm lên.  Tịnh Trân vừa cười vừa lắc đầu.  Chị bảo thế là cái của gì?  Chị bảo thế là cái của gì?  Khương Triệu Thị khuyên con gái rằng: Đừng tức giận, cứ cho là nó chết rồi đi, hồi đó mà chết thì chả phải là chết rồi hay sao?

Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
Trang 536 -  550,   Chương Ba

Hạ tuần tháng sáu năm một chín sáu bảy, trên một khe núi sâu hiểm trở trên biên cương Tây Bắc nước ta, có một xe chở khách đường dài đang ỳ ạch chạy.  Trên xe có Nghê Tảo và bà dì anh ta tên là Khương Khước Chi.  Tên trong hộ khẩu bà ta sau khi giải phóng vẫn là Khương Khước Chi.  Hai người đều mặt đầy gió bụi, hình hài gầy xanh.  Trong các phong trào chính trị những năm năm mươi,  sau khi gặp những khó khăn vì dây dưa liên lụy, Nghê Tảo đã đến vùng Tây Bắc mênh mông rộng lớn này.  Anh ta về Bắc Kinh lần này là để đón bà dì lên Tây Bắc, giúp đỡ trông nom việc nhà.  Họ đã ngồi tàu hỏa bốn ngày bốn đêm rồi, còn phải ngồi tiếp ba ngày ô tô đường dài nữa.  Trên tàu hỏa họ ngồi tao ghế cứng.  Khương Khước Chi mấy lần ngủ gật tụt cả trên ghế xuống sàn tàu, có lần còn ngã lăn cả người xuống nữa.  Nghê Tảo buồn ngủ đến cực điểm, liền chui xuống gầm ghế nằm ngay dưới sàn nhà mà ngủ.  Sàn tàu bẩn kinh khủng, đờm mũi dính đầy, vỏ dưa vỏ trứng và các loại rác rưởi, đều có hết.  Nhưng anh ta vẫn ngủ được rất ngon lành.
So với sự gian nan khốn khổ trên tàu, thì nếp sinh hoạt ngày đi đêm nghỉ trên ô tô tỏ ra dễ chịu hơn nhiều.  Đây đã là ngày cuối cùng trong cuộc hành trình của họ rồi, ô tô chạy trong rừng rậm núi cao, hay bên mép vực bên đồng cỏ, trên dọc đường, những ngọn núi tuyết, rừng văn sam, đàn dê cừu, nhà gỗ, hồ nước, khe lạch suối trong, ngựa chạy, người chăn gia súc... đều khiến người ta thấy vui tươi thanh thản trong lòng.  "Sướng quá đi!  Rộng rãi quá đi mất!  Còn gì hay hơn nào, dì thấy quá vui vẻ rồi, còn gì tự do phóng khoáng hơn nào.  Quả thực không tưởng tượng dì đã già thế này mà còn được đi một chuyến xa như thế, lại có thể đến được chỗ cháu ở...  Cháu bảo bây giờ dì còn mong gì nữa nào?  Còn có việc gì nữa nào?  Còn phải sống kiểu gì nưa nào?  Không ngờ vào lúc đó cháu lại viết thư cho dì, coi như cả một đời dì khổ cực ngu ngơ cuối cùng vẫn còn vận tốt thật nhỉ..."  Khước Chi xúc động nói như vậy hết lần này đến lần khác.   Bà ta lại nói: "Nơi này xa thật đấy!  Núi ở đây cao thật đấy!  Hồ trong quá đi mất!  Cả đời dì chưa thấy bao giờ nhá!  Lần này dì đã quyết tâm rồi, dì không lưu luyến gì dưới quê nữa.  Dưới quê cũng vậy, Bắc Kinh cũng vậy, còn có cái gi ở đấy đâu?  Đi thôi, đi thôi đi càng xa càng tốt, những việc ngày xưa càng quên nhiều càng tốt.  Từ khi dì biết cuộc đời, đã bao giờ gặp được việc gì hay?  Lần này coi như đã gặp rồi, dì đi theo cháu của dì cao chạy xa bay, chân trời góc biển.  Cái biên cương Tây Bắc này, sẽ là mảnh đất cuối đời của bà già này đây..."  Bà ta nói với vẻ hớn ha hớn hở, mặt mũi nở rạng rỡ hẳn lên.  Cái thần thái đó giống y như Chu Khương Thị năm nào rửa mặt chải đầu, ngâm thơ, hắt xì hơi vậy.
Nghê Tảo cười lặng lẽ, chẳng thể nói là cay đắng hay ngọt ngào.  Đã mấy chục năm rồi, quan hệ giữa Nghê Tảo và bà dì rất nhạt nhẽo.  Khi anh ta còn bé dì đã từng quan tâm, cưng chiều anh ta, dạy dỗ anh ta.   Nhưng vào cuối những năm bốn mươi, sau khi anh ta đi theo cách mạng, anh ta đã khá tự giác tỏ thái độ khinh miệt và thù địch với bà ngoại và dì.  Họ là hai phần tử địa chủ lọt lưới, Nghê Tảo không vất vả gì, không do dự gì khi hoạch định thành phần cho họ cả.  Họ sợ cách mạng, cực kỳ khiếp sợ khi cácnh mạng ập tới, bản thân việc đó chính là bản chất giai cấp của địa chủ.  Sau giải phóng và qua học tập Nghê Tảo đã kiên định lập trường và phê phán nghiêm túc hai thành phần tử đó.  Anh ta nhớ lại sự hung ác của họ, sự thù địch có tính chất bản năng của họ đối với cách mạng, anh ta viết những nội dung phê phán đối với họ vào bản thu hoạch học tập và tổng kết tư tưởng của mình.  Anh ta nói chuyện về bộ mặt xấu xa của hai thành phần địa chủ trong các cuộc sinh hoạt tiểu tổ, đã nói một cách hết sức chân thành.  Không chỉ riêng anh ta, mà cả Nghê Bình, cả Khương Nghênh Chi cũng đều áp dụng phương châm mở rộng khoảng cách với họ một cách rõ ràng.
Thế là còn Khương Triệu Thị và Khương Khước Chi dựa vào nhau mà sống.  Họ gần như đã mất hẳn nguồn kinh tế để duy trì cuộc sống.  Năm một chín bốn bảy cuối cùng họ đã bán hết sạch những tài sản (bất động sản) cuối cùng ở quê, mang lên Bắc Kinh mua mấy gian nhà nhỏ.  Sau giải phóng, họ chỉ còn dựa vào tiền cho thuê bốn gian nhà rách nát để sinh sống.  Không nghi ngờ gì, họ chính là những kẻ ăn bám từ đầu chí cuối.  Họ suốt ngày kéo qua kéo lại một cái bếp lò than đã ngày càng cũ kỹ, đứng cũng không vững nữa, những  tưởng chỉ cần thổi một cái thôi thì cũng đủ đổ kềnh ra.  Họ chỉ hấp bánh bột ngô để ăn.  Khi làm bánh bột ngô Khương Triệu Thị cứ thích cho thật nhiều bột nở, đến nỗi bánh bột ngô khi hấp chín đã ngả sang màu lục, khá là xốp mềm, nhưng lại đặc biệt có vẻ rất giống cám, ăn vào mồm cứ như nuốt phải một miếng vỏ kiều mạch dùng để nhồi gối vậy.  Khi hấp bánh màn thầu có lúc cũng dùng nhiều bột nở đến nỗi màu của nó chẳng khác gì bánh bột ngô.
Sau khi Nghê Bình lấy chồng và đẻ con vào giữa thập kỷ năm mươi.  Khương Khước Chi đã từng nhận làm bảo mẫu cho cháu ngoại, như vậy đời sống của bà ta trở nên cao hơn Khương Triệu Thị một chút.  Càng nghèo thì càng sợ người khác tranh  mất phần hơn, trong thời gian đó, Khương Triệu Thị cùng với Khương Khước Chi cùng với Khương Nghênh Chi mỗi người đều tự nhóm bếp nấu ăn riêng.  Trong cái gia đình đó hoặc gọi là tập đoàn họ hàng thân thích đó, đã từng có mấy cái bếp lò than nhỏ cùng tồn tại song song, trông đẹp sáng lạ mắt đáo để.
Cơm nước ở cái bếp Khương Triệu Thị bao giờ cũng kém nhất.  Nhưng bà già đó vẫn luôn lấy làm may mắn vì từ sau giải phóng đã được bình an vô sự.  Khi có cuộc bầu cử của toàn dân trong cả nước, trên bảng danh sách cử tri đã ghi tên Khương Triệu Thị, tất nhiên cũng đã đăng tên cho Khương Khước Chi.  Vì việc đó Nghê Tảo từng liên hệ với ủy ban khu dân cư.  Đứng vững trên lập trường giai cấp, anh ta đã nói rõ về thành phần giai cấp của bà ngoại và dì mình.  Nhưng xem ra chính quyền không có ý định truy cứu về lịch sử đã sống nhờ vào thu địa tô của họ từ trước năm một chín bốn bảy.  Thậm chí trong các cuộc vận động "tứ thanh" hoặc gọi là "phong trào giáo dục xã hội chủ nghĩa" vào những năm sáu mươi, tuy mang tiếng là phân định thành phần ở thành phố, nhưng vẫn chưa động gì đến họ.
Khương Triệu Thị ngày càng ra dáng già lọm khọm tợn.  Đến cuối những năm sáu mươi bà ta đã hơn tám mươi tuổi.  Tóc trên đầu gần như sắp rụng hết, bà ta mua ít thuốc nhuộm loại ít tiền về tự nhuộm da đầu.  Nhuộm xong trông rất buồn cười.  Bà ta đã nhiều lần trả lời những người hỏi thăm đến mình, rằng: "Tôi chẳng sợ chết một chút nào sất cả.  Tôi nay sống chẳng còn một chút ý nghĩa nào.  Tôi ra đầu ngõ mua hai xu bạc dấm về ăn, mua được dấm rồi thì từ từ đi về.  Về đến cửa nhà mình rồi vẫn không nhận ra.  Vẫn cứ đi, sắp đi đến chỗ rẽ dưới gốc cây hoẻ cổ rồi, tôi mới thấy cuống, tôi cầm bát dấm đi đâu đây nhỉ?  Tôi làm gì thế này?  Tôi đến gốc cây hoè này để làm gì nhỉ?  Nghĩ mãi nghĩ mãi, hà, mãi mới nghĩ ra.  Ơi dào, tôi thế này chẳng phải ngây rồi hay sao?  Tôi mua dấm mang đến đây làm gì nhỉ?  Lúc đó mới quay mình đi về.  Đi mãi, đi mãi, phen này vậy là đã tìm được cổng nhà rồi, không bị đi quá đà.  Đến khi vào đến nhà, vừa nhìn vào bát dấm, ôi giời dấm đã bay mất từ bao giờ, hay là bị đổ mất ở đâu.  Bác thử nói xem, tôi đã ra thế vậy rồi thì còn sống làm cái gì?  Tôi chẳng còn sợ gì chết nữa, chẳng sợ chết gì nữa.  Tôi chỉ sợ mình không chết được.  Ai lại gài đến như tôi thế này rồi, mà vẫn không chết cho chứ?"
Lưới trời lồng lộng thưa mà không lọt.  Cuối cùng cách mạng văn hóa đã bắt đầu.  Hồng vệ binh đi phá "bốn cũ" đã bước vào căn nhà tối tăm bẩn thỉu mùi chua xộc vào mũi của Khương  Triệu Thị và Khương Khước Chi.  Phản ứng của Khương Triệu Thị dường như là bà ta đã chờ đợi từ lâu lắm rồi, từ năm mới giải phóng bà ta đã chờ đợi cái ngày này.  Thực ra người ở đây không hề quen thuộc gì đối với thành phần giai cấp của bà ta cả, mà cũng chẳng thấy hứng thú gì về vấn đề đó.  Thế nhưng Hồng vệ binh vừa bước vào bà ta đã rập đầu sụp lạy Hồng vệ binh ngay rồi, cái đầu rụng hết tóc, da đầu lại nhuộm đen của bà ta đập xuống đất kêu cộp cộp, như thế ở quê gọi là "dập đầu kêu" trong xã hội cũ khi đi kiện Khương Nguyên Thọ về gia sản, bà ta gặp quan cũng liền "dập đầu kêu" như vậy.  Có thể là từ khi giải phóng đến nay bà ta luôn muốn dập đầu kêu nhưng chưa dập bao giờ.
Bà ta vừa dập đầu vừa nói: "Thưa ông nội Hồng vệ binh, tôi là địa chủ, tôi đáng chết từ lâu rồi, tôi là cái của gì đây..."  Bà ta quay đầu hỏi Khước Chi, Khước Chi bảo bà ta là "chết chưa hết tội", thế là bà ta dập đầu kêu mấy cái nữa mà miệng thì không ngừng nhận mình là "chết chưa hết tội."
Hồng vệ binh cho là thái đội nhận tội của bà ta thế cũng là được.  Nhưng có một cô nàng Hồng vệ binh đeo kính có vẻ tinh nhanh hơn những người xung quanh một chút đã chỉ ra bà ta gọi Hồng vệ binh là "ông nội" thực tế là làm nhục Hồng vệ binh, câu đó thực tế là chửi người.  Hồng vệ binh của Mao Chủ tịch sao lại trở thành ông nội của mụ địa chủ chứ?  Chẳng nhẽ mụ lại dám nói Hồng vệ binh là địa chủ à?   Câu chất vấn đó đã làm bà già kia sợ đến vãi đái cả ra quần.  Các Hồng vệ binh khác không hiểu rõ lắm về sự phân tích khôn ngoan của cô đeo kính, lại thấy hình dạng vừa già vừa bẩn vừa hôi thối của Khương Triệu Thị, không định ở lại thêm lâu nữa.  Họ nghĩ xem sẽ cho cái phần tử địa chủ "mãi không chết" này phải nhận sự trừng phạt của chính nghĩa như thế nào đây.  Tịch thu tài vật ư?  Thực tế chẳng có cái gì đáng tịch thu.  Cho hai cái vả mồm ư, vậy thì cái khuôn mặt héo khô móm mém kia chắc không thể làm cho cái tát giòn tan chấn động không khí được.  Cuối cùng vẫn là cái vị đeo kính kia lắm kiểu cách.  Cô ta nhìn thấy trong buồng có một cái chậu sành, trong chậu có đựng nước bẩn - thực tế là nước rửa chân của Khương Triệu Thị.  Vì chân Khương Triệu Thị là chân bó, về già suốt ngày lên mắt cá lên chai chân, thành thử, có khi một ngày rửa chân đến hai ba lần.  "Đeo kính" hạ lệnh cho Khương Triệu Thị phải uống chỗ nước rửa chân đó.  Có thể thấy chậu nước quá nhiều mà trông Khương Triệu Thị có vẻ không đủ sức uống hết lại càng làm càng giật giật tay chân, không thể hoàn thành được nhiệm vụ, thế là cô kia đưa ánh sáng của đôi kính nhắm trúng Khương Khước Chi.
Khương Khước Chi quả không hổ danh là đã từng ăn tim gấu gan báo.  Chị ta nói: "Tôi không phải là đia chủ!  Trước giải phóng tôi là nhân viên quản lý dụng cụ của thư viện trường nữc học sinh Bắc Kinh!  Tôi có chứng chỉ!  Tôi..."
Như vậy Khương Khước Chi đã không uống nước rửa chân.  Khương Triệu Thị đã uống một ít lại đánh đổ vãi ra đầy người xong, thì coi như đã qua được cửa ải cách mạng văn hóa.  Khương Triệu Thị cứ nói đi nói lại Hồng vệ binh thật tốt, thật hòa nhã, ở trên đã chẳng nói rồi là gì, đó là thiên binh thiên tướng mà!
Ba ngày sau Khương Triệu Thị bắt đầu bị đau bụng đi ngoài, rồi sau nằm không dậy được nữa.  Mẹ ơi, mẹ có đau bụng không?  Khước Chi hỏi.  Không đau.  Có chỗ nào khó chịu không?  Không, mẹ không thấy khó chịu ở đâu cả, mẹ dễ chịu.  Mẹ khoẻ lắm.
Chỉ có đến giờ phút cuối cùng Khương Triệu Thị mới yêu cầu Tịnh Trân giúp xê dịch người mình ra chỗ khác một chút, giờ phút cuối cùng bà ta cũng biết Tịnh Trân đã không từ chối (như cái tên Khước Chi mà chị ta tự đặt cho mình) nguyện vọng của bà ta là không dám nằm chết ở trước bức tường có treo ảnh và dán những câu trích dẫn lời lãnh tụ tối cao.
Ngoài Khương Khước Chi ra, chẳng có ai cùng lo cho cái chết của Khương Triệu Thị nữa.  Khương Nghênh Chi vì tránh né cái thành phần địa chủ cũ kia mà quá sợ không đến.  Khương Khước Chi nói, khi hỏa táng trên người mẹ vẫn còn mặc chiếc áo lông báo.  Chiếc áo khoác đó đã mặc được năm mươi năm rồi.  Là chiếc áo duy nhất mang từ quê lên đến nay vẫn còn lại đấy, mà cũng là đồ vật còn đáng giá mấy đồng bạc.  Có người đề nghị nên cởi chiếc áo đó ra trước khi đưa người chết vào lò thiêu, Khương Khước Chi cười cay đắng mà nói, tôi làm sao có thể thế được.
Ít năm sau Nghê Ngô Thành mới nghe được câu chuyện Khương Triệu Thị phải uống nước rửa chân.  Lúc đó bản thân vẫn còn đội cái mũ phản cách mạng trong lịch sử nhưng Nghê Ngô Thành vẫn nói, đối với phần tử địa chủ như loại Khương Triệu Thị kia, thì đáng phải như vậy.  Ông ta hoàn toàn tán thành hành động cách mạng của tiểu tướng Hồng vệ binh.  Cũng giống như năm xưa ông ta tán thành tất cả những hành vi hoặc chưa hoặc đã rất quá khích trong cải cách ruộng đất.  Nghê Ngô Thành cũng nhât quán trước sau đấy chứ.
Khi nghe tin bà ngoại đã mất Nghê Tảo nảy ra ý định về đón dì.  Trải qua hàng loạt những gian nan trắc trở của đời người, trải qua cuộc "đại rửa tộI' không chừa một ai trong cách mạng văn hóa, anh ta cũng đã không còn nhìn nhận quan hệ giữa mình và bà dì một cách quá nghiêm khắc cay nghiệt như trước, đến mức bày đặt mỗi người một chỗ như trước nữa.  Với lại, ở nhà anh ta quả cũng đang cần có thêm người.  Con cái anh ta không có ai trông nom.  Đến khi đã ngồi sang ô tô nghe thấy dì bày tỏ cảm xúc vui vẻ trong lòng, anh ta cũng cảm thông, cũng thấy có chút thơ thới trong lòng mình.  Dầu sao dì cũng là dì ruột của mình, là người thày dậy văn học đầu tiên của mình.  Năm xưa Tịnh Trân từng giúp Nghê Tảo sửa chữaa bài tập làm văn, từng giới thiệu tác phẩm của Băng Tâm và Lô Ẩn.  Trên dọc đường Khương Khước Chi đã kể tình hình bà ngoại cho anh ta nghe, anh ta cũng cảm thấy bùi ngùi.  Việc đã qua rồi, dì chẳng phải suy nghĩ gì nữa.  Cháu đã đón dì về rồi, thì dì cháu mình đồng cam cộng khổ, cùng sống với nhau...  Nghê Tảo an ủi dì như vậy.
Hành lý của Khước Chi cực ít.  Bà ta nói bà ta chẳng còn vướng bận gì nữa, nhà cửa thì đã nộp cho nhà nước rồi, mẹ cũng chết rồi, bà ta sẽ ở hẳn với cháu ngoại thôi.  Vật kỷ niệm duy nhất là tấm ảnh đã ngả màu vàng của "chú bé họ Chu".  Chú bé họ Chu là cách Khương Khước Chi gọi người chồng đã mất của mình, cho đến năm một chín sáu bảy, anh ta đã chết được ba nhăm ba sáu năm rồi.  Tịnh Trân lấy tấm ảnh đó cho Nghê Tảo xem, "cháu thấy có giống cháu nội của dì không?"
Câu nói khiến tâm trạng Nghê Tảo nặng trĩu xuống.  Điều đó khiến anh ta nhớ đến sự việc nặng nề trong quá khứ, những việc xưa giống như trong mộng mị khiến cho người ta chỉ nghĩ đến thôi mà đã thấy ngạt thở vì sự tàn khốc và tăm tối của nó.  Những tưởng các việc như vậy sau giải phóng đã bị triệt để chôn vùi đi rồi.  Tâm trạng đó thậm chí đã khiến Nghê Tảo lại thấy nghi ngờ chẳng biết mình đón dì lên đây có phải là một sáng kiến hay hay không đây.  Sao lại có thể đón về nhà mình một cái hồn ma của giai cấp địa chủ, cái hồn ma của xã hội cũ, hồn ma của lịch sử chứ?  Nếu không có các phong trào chính trị và những trục trặc bất ngờ, thì Nghê Tảo trong cuộc sống mới đang ôm ấp đầy mình áng sáng vui tươi có lẽ đến một nửa con mắt cũng chẳng thèm liếc qua cái bà dì đã chắc chắn là sắp xuống mồ đến nơi kia đâu.
Thế là Nghê Tảo lại cảm thấy chán hẳn đi.
Đến nơi ở của Nghê Tảo tại một thị trán nhỏ ở biên cương, Khước Chi kêu đau đầu, cứ nằm mãi trên giường không dậy.  Điều đó khiến Nghê Tảo thấy không vui.  Trong một bứa ăn cơm anh ta đã kể cho con cái một câu chuyện vui, rằng ngày xưa có một bà vợ lười, chồng bà ta có việc phải đi xa, không yên tâm về vợ mình ở nhà, bèn làm một chiếc bánh to treo trước cổ bà vợ.  Ông chồng sau khi đi xa trở về, thì thấy vợ mình đã chết rồi, nhưng chiếc bánh treo trên cổ vợ thì vẫn còn rất nhiều; làm sao thế không biết?  Bà vợ chỉ ăn có phần của chiếc bánh ở đằng trước ngực, chỗ mà ta há miệng một cái là với tới được ngay.  Còn phần lớn của chiếc bánh ở hai bên vai phải vai trái, thì vì bà ta quá lười đến nỗi không đưa tay kéo lại để đút vào miệng, nên không ăn được, vì vậy mới bị chết đói.
Nghê Tảo còn kể một câu chuyện về một bà lười khác mà sau khi đi đến biên cương đã nghe được ở chỗ người dân tộc thiểu số; rằng có một nhà kia, một hôm bị kẻ trộm đột nhập, chủ nhà nghe được động tĩnh liền dậy đuổi bắt, kẻ trộm đang cầm cái chảo gang chạy đằng trước, bị đuổi gấp sợ quá liền bỏ chảo xuống chạy mất.  Chủ nhà tới cầm nồi lên thì phát hiện chảo đã bị vỡ làm mấy mảnh, ông ta lấy làm lạ sao cái chảo lại thiếu chắc chắn đến như vậy?  Đến khi về nhà thì thấy cái chảo bốn tai vẫn còn y nguyên trên bếp.  Các con thử đoán xem đó là việc gì nào?  Hóa ra bà vợ ông ta ở nhà lười quá, chẳng bao giờ đánh rửa chảo nên trong lòng chảo đã kết lại một tầng dầy các thwus cáu ghét cháy cơm cùng thức ăn.  Kẻ trộm mò mẫm bao nhiêu lâu, nhắc được lớp cháy đóng tróc trong chảo, mới tưởng là chảo định mang ra thì bị đuổi, vứt lại, vậy làm sao mà không vỡ chứ?
Chuyện kể khiến mọi người đều cười.  Thực ra khi bắt đầu kể, Nghê Tảo dường như không có dụng ý gì khác, nhưng khi thấy cái cười thiếu tự nhiên của dì, anh ta đã ý thức được mình kể thế là quá cay nghiệt cũng nên.  Bà dì chắc hẳn sẽ cho rằng anh ta mượn cổ nói kim, cạnh khoé về cái lười của mình.  Điều đó khiến Nghê Tảo chợt thấy ân hận.
Đêm hôm đó Khương Khước Chi cứ chốc chốc lại rên rỉ, hỏi làm sao vậy, trả lời là đau đầu.  Thì bảo chắc không hợp thủy thổ, bị cảm rồi, sáng sớm mai sẽ đi mua aspirin cho dì.  Hôm sau mua thuốc giảm đau về, khi uống thuốc Khương Khước Chi cầm cốc nước lên mà cái tay rung lắc rất ghê, bà ta nói, "Dì đau đầu cứ như sắp vỡ ấy."  Dì vốn người không được khoẻ, vẫn hay đau đầu chóng mặt, cũng hay rên rỉ, thường xuyên nằm mấy ngày liền không dậy.  Người nhà vẫn thường nghĩ dì vừa lười vừa gian vừa chày cối chả việc gì mà không dám làm, động có việc gì là cứ hay nằm lì không chịu dậy, thường bán tín bán nghi, nghĩ là chắc có tâm trạng gì hay tức giận hay đang làm găng với ai mới nằm vậy để bãi công thôi.  Vì vậy lần này Nghê Tảo cũng không để ý gì nhiều, Khương Khước Chi uống thuốc cắt cơn đau xong thì đã ngủ thiếp đi.
Hôm đó là ngày thứ ba vợ Nghê Tảo đi chi viện vụ thu hoạch hè, con cái ở nhà cứ quấy khóc lải nhải suốt, nhất định đòi xem bằng được bộ phim "chú lính Trương Ca".  Trong nhà chẳng có ai, Nghê Tảo bị con vòi vĩnh nhiều phát bực lên.  Phim Chú lính Trương Ca đã xem từ đầu những năm sáu mươi đến nay, đã năm lượt rồi đấy chứ.  Bà dì cứ ngủ mê ngủ mệt, lúc ăn cơm tối gọi mãi cũng không tỉnh, ăn cơm xong vì trẻ con quấy khóc quá không chịu được nên đã phải cho nó đi xem cái chú lính Trương Ca chết tiệt kia lần thứ sáu.  Khi xem về lại hỏi đến dì nhưng dì vẫn không trả lời, vẫn ngáy đều đều.  Nghê Tảo vừa mệt vừa mỏi vừa bực dọc, liền ôm con ngủ biến đi một giấc.  Ngủ được độ chừng một tiếng đồng hồ, Nghê Tảo chợt tỉnh dậy, việc này không hay rồi, chẳng lẽ là dì bị hôn mê hay sao?  Ngủ gì mà lại ngủ lâu đến thế?   Mong sao đừng có chuyện gì.
Đêm khuyên Nghê Tảo từ buồng trong đi ra, phát hiện thì thở có vẻ khó nhọc nặng nề hơn nhiều, hai má đỏ găng lên, gọi mãi không tỉnh.  Việc không hay rồi đây!  Đêm đã khuya quá rồi, gọi ai bây giờ?  Cuối cùng đành phải trơ mặt đi gọi một người hàng xóm đã đi ngủ từ lâu rồi, đó là một người đánh xe ngựa thuộc dân tộc thiểu số, phải thuyết phục nịnh nọt mãi, lại phải đưa thằng bé con gửi sang nhà một người hàng xóm khác cũng là người dân tộc, đang đêm đưa Tịnh Trân đến bệnh viện.  Người bác sĩ trực mắt nhập nhèm chẩn đoán là xuất huyết não, chọc tủy sống ra lấy máu xét nghiệm là đau lắm.  Nghê Tảo đã nhìn thấy lúc dì bị chọc tủy sống thì co giật người lên nhưng không kêu la gì.  Thần thái bác sĩ căng thẳng, tim Nghê Tảo thì đập thình thình.  Cấp cứu liền ba ngày, bao gồm tất cả các việc đặt ống để bơm thức ăn vào đằng mũi, truyền huyết thanh, cho thở oxy, tiêm thuốc long nha thảo tố để cầm máu.  Vì trong nhà không có người, Nghê Tảo không thể trông suốt được cả ngày đêm, chỉ có thể cách mấy tiếng đồng hồ lại đến thăm một lần.  Buổi sáng ngày thứ tư khi đến thì những người cùng phòng bệnh bảo, bệnh nhân đã từng mấp máy mồm như muốn nói, nhưng lúc đó Nghê Tảo không ở bên cạnh nên không có người nghe được bà ấy nói gì.  Nghê Tảo gọi dì hồi lâu nhưng không gọi được dì tỉnh lại.  Anh ta chỉ muốn nói một điều giản đơn, chỉ muốn để dì yên tâm mà ra đi, dì có thể tin rằng tanh ta sẽ phụ trách việc lo liệu hậu sự đàng hoàng.  Sinh thời Khương Khước Chi từng bộc lộ là sợ nhất hỏa táng, điều đó tuy lạc hậu, nhưng Nghê Tảo vẫn sẵn sàng thỏa mãn yêu cầu thổ táng của bà dì.  Đến buổi chiều khi Nghê Tảo lại vào thăm lần nữa thì Tịnh Trân - Chu Khương Thị - Khước Khước Chi đã ngừng thở được bốn mươi nhăm phút, xác đã được đưa sang nhà quàn rồi.
Việc mua quan tài thế mà cũng còn thuận lợi.  Trước khi chết và lúc mới tắt thở đã không kịp thay quần áo được cho người chết, thế là sau khi chết những mấy tiếng đồng hồ, Nghê Tảo và chủ nhiệm khoa nội của bệnh viện mới thay quần áo cho Khương Khước Chi được.  Một vị có chút tiếng về viết lách ở địa phương rất nhiệt tình sốt sắng giúp lo việc tang lại bảo, việc thay quần áo này nên kiếm một người phụ nữ thì phải, chủ nhiệm khoa nội vốn từng bị đấu đá không ít trong thời kỳ đầu cách mạng văn hóa đã nói một cách phẫn nộ: "Chẳng lẽ lại còn phải giở cái lệ bộ ấy nữa ra hay sao?  Thi thể bây giờ đã bắt đầu cứng ra rồi, đợi ông tìm được một bà đàn bà bằng lòng mó vào cái việc này, thì tay người chết đã chẳng gặp vào nổi nữa đâu!"
Khi thay quần áo Nghê Tảo mới phát hiện thân hình dì đã biến thành gày nhỏ đến như vậy.  Nhưng tóc của dì thì vẫn đen và dày lắm.  Tính toán mãi thì tuổi thực của dì lúc lâm trung cũng vẫn chưa đến năm mươi chín.  Răng dì cắn rất chặt vào nhau, hai má hóp lại.  Nghê Tảo có nghĩ đến nát cả óc cũng không thể hiểu nổi, không biết tại sao lại có người sống cả cuộc đời như vậy được.  Nếu như có thượng đế, thì thượng đế cũng chỉ là thứ vô tình và tàn khốc nhất trong tất cả mọi sự vật mà thôi.
Người đến điếu phúng là các nông dân dân tộc thiểu số ở địa phương.  Họ đều mặc áo khoác dài để ria dài, họ quan hệ với Nghê Tảo hàng ngày rất tốt.  Nghe Nghê Tảo kể về cuộc đời bất hạnh của dì, họ rưng rưng nước mắt vuốt râu thở dài.  Họ nghe nói Tịnh Trân không ngại đường xa vạn dặm từ Bắc Kinh đến tận đây, chưa được năm ngày đã chết thì họ lại cười hiền hậu.  Họ đều nói, theo cách nói, theo cách nói của chúng tôi từ cổ xưa thì điều đó đã chứng minh rằng nơi đây mới là mảnh đất của chính người chết.  Bà ấy đã vội vội vàng vàng chịu bao vất vả để tới cho được đây, rồi cuối cùng coi như đã được yên nghỉ trên mảnh đất riêng của mình.  Cả một đời bà ấy chưa được tiếp xúc với mảnh đất của mình, nhưng khi chết lại có thể yên giấc ngàn thu trên mảnh đất ấy...  Làm xong đủ sáu điều nghi thức ở đây, thì dì lại chẳng hóa ra vốn là người của biên cương Tây Bắc.  Làm đủ lục cúng, hóa ra dì đã thực hiện bắt rễ ở biên cường này thật.
Sau việc đó Nghê Tảo nhiều lần gặp lại dì trong giấc mơ.  Trên mặt dì bôi đầy phấn trắng, vệt nước mắt loang khắp mặt.  Anh ta hỏi, chẳng phải dì đã chết rồi sao?  Dì mỉm cười thủng thẳng đáp: "Đánh chết con hoàng oanh, không được hót trên cành, hót làm tan mộng thiếp, chẳng tới được Liêu Tây."
Liêu Tây cố nhiên không phải biên cương miền Tây ngày nay, dù sao cũng có một chữ Tây như nhau.  Họ đã đến được miền Tây rồi.  Đó chắc cũng coi như một lời sấm truyền, một điềm báo trước chăng?
Sau đó Nghê Tảo và cả nhà Nghê Tảo lại chuyển về Bắc Kinh.  Sau đó có một người là con cháu nông dân địa phương đã từng viết thư cho Nghê Tảo, nói anh ta có lần đã ra nghĩa trang đốt vàng mã cho vong linh Khương Tịnh Trân.  Anh thanh niên đó trước đây cũng đã giúp đào huyệt mộ cho Khương Khước Chi.  Anh ta đề nghị Nghê Tảo làm một cái dấu gì đó, kẻo rồi phần mộ của dì sẽ bị lẫn mất trong đám mộ ở đó.  Nghê Tảo không đáng dấu gì cả.  Đằng nào rồi cũng sẽ mai một đi mà.  Có ai mà lại không bị mai một cơ chứ?  Đến cổng chào trinh tiết cũng chẳng dùng làm gì nữa kia mà.  Cách mạng rồi, xã hội mới rồi, cái cổng chào trinh tiết đã đọng đầy bao nhiêu huyết lệ và sự sợ hãi kia, chỉ đang cho những người hạnh phúc của đời sau chế nhạo mà thôi.  Không còn bất cứ một người nào có hứng thú gì với lai lịch của cái cổng chào trinh tiết kia nữa.  Lớp người sau đối với lớp người trước đã cảm thấy thật không thể nào hiểu nổi được nhau!  Ai nói ràng sự phát triển và đổi thay của Trung Quốc là quá chậm chạp được nào?
Nghê Ngô Thành sau khi nghe tin về cái chết của Khương Khước Chi thì bình luận rằng, thế là bớt một đồ ma quỷ.  Ông ta còn dùng một số những từ ngữ chẳng thiện cảm gì và lại bất nhã nữa.
Sự hận ghét còn mạnh hơn cả cái chết.
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
Trang 551 - 556,  Chương Bốn


Ít ra thì số phận của một số nhân vật khác, có lẽ vẫn phải dựa vào sự tưởng tượng của bản thân độc giả của chúng tôi là chính thôi.  Khương Nghênh Chi có thể nói là số còn may, vừa giải phóng là tham gia công tác ngay, cô ta tránh được sự cùng diệt vong với mẹ và chị.  Nghê Bình thì khoảng trước sau năm một chín bốn chín cũng đã lao vào cơn lũ cách mạng, rồi sau đó sống cuộc đời riêng của mình không hề nhẹ nhàng thoải mái mà lại càng không một chút màu sắc lãng mạn nào.  Bác sĩ Triệu Thượng Đồng, sau giải phóng bị đối đãi theo thành phần là "nhà tư bản", bị đi cải tạo một thời gian, vào đầu những năm năm mươi đã chết.  Đỗ Công thì suốt hơn ba mươi năm đều bị "chỉnh", năm một chín bảy bảy, hoàn cảnh của ông ta mới hơi tốt lên một chút, thì chẳng may lại mang bệnh mà chết.  Trước khi ông chết một tuần lễ, đã đưa xuống một văn kiện, triệt để minh oan cho Đỗ Công, đồng thời cho được hưởng sự đánh giá tương đối cao, đãi ngộ tương đối cao.  Ông ta được chuyển đến nằm phòng cao cấp ở bệnh viện cao cấp, đồng thời được hưởng sự chăm sóc đặc biệt.  Ông ta đã bình yên lặng lẽ chết dưới sự chăm sóc đặc biệt đó.  Giá mà Đỗ Công có thể trường thọ thêm ít nữa thì tốt quá.  Sau đó Đỗ Công chết được ít lâu, có một người bạn Nhật Bản đã đến thăm gia đình ông.  Người Nhật đó đã cúi mình rơi lệ trước di ảnh của Đỗ Công.  Sau đó ông ta tự giới thiệu, ông ta đã từng làm công tác trợ giúp quân xâm lược Nhật ở Bắc Kinh thời kỳ chiến tranh, để giành được sự hợp tác của Đỗ Công, ông ta đã từng đe dọa và mua chuộc, nhưng Đỗ Công đã hiên ngang khảng khái cự tuyệt.
Nghê Hà thì sau giải phóng mới học tiểu học.  Cô không biết nói tiếng kiểu nhà quê, mà chỉ biết nói tiếng Bắc Kinh.  Cô chưa bao giờ học nói những câu đồng dao của quê hương với bà dì.  Cha cũng vậy, bà ngoại và dì cũng vậy, chưa bao giờ giành được vị trí gì trong đời sống của cô.  Họ quá xa lạ với cô, hoàn toàn xa lạ là khác.  Rồi thì để bảo vệ bản thân, cô đã cự tuyệt họ và tránh xa họ đến ngàn dặm.
Cô có một chất giọng rất hay.  Đó là chất giọng ngay từ lúc mới đẻ đã gây cho người ta ấn tượng mạnh.  Cô vừa mới lọt lòng, đã khóc chẳng giống ai cả, tiếng khóc ròn tan lanh lảnh giống  như tiếng kèn hiệu.  Cô biết hát các bài hát thuộc nhiều phong cách khác nhau, cô rất thích và thường xuyên tham gia các hoạt động ca hát nghiệp dư.  Cô rất giỏi bắt chước cách hát của các ca sĩ nổi tiếng.   Cô hát bài "Bé cưng" thì giống Lưu Thục Phương, cô hát bài nền của phim "Huyết đọng" tên là "Cảm ơn người" thì giống như ca sĩ người Nhật Bản San ko hia ku e, cô hát bài hát nền trong phim "Quay đầu nhìn lại" thì giống ca sĩ Mỹ bar ba ra stri san... Nhưng Nghê Tảo thì lại chẳng bao giờ quên được khi cô em còn bé tý đã bắt chước từng ly từng tý cách phát âm của ca sĩ Quách Lan Anh khi hát bài "Bài ca phụ nữ tự do".  Cô bé đã biểu diễn bài hát đó trong lễ khai mạc "Nhà thiếu nhi" Bắc Kinh năm một chín năm mươi, cô đã được tiếp kiến cả ông thị trưởng thành phố Bắc Kinh.
... đáy vực khổ đau sâu vạn trượng tối om om,
... chẳng thấy mặt trời đâu chẳng thấy cả trời xanh,
... những năm tháng những ngày dài đâu đếm nổi,
... ai người đến cứu chúng tôi.
Đó là một bài ca sao mà mạnh mẽ, sao mà vui tươi hăng hái, nhưng lại rất nặng nề như vậy.  Một đứa bé mới bảy tuổi đã có thể hát được bài hát như thế, có thể diễn đạt được cái bi thương và sâu thẳm như thế, có lẽ bản thân việc đó đã thuyết minh được về lịch sử của chúng ta, đã thuyết minh được sự tất yếu và sức mạnh uy nghiêm cuồng bạo, sức mạnh của cách mạng.  Cũng có cả nỗi đau xót không bao giờ dứt nữa.
Nghê Hà học ngành khoa học kỹ thuật, cô học rất khá.  Chồng cô cũng là một sinh viên khoa học chuẩn mực.  Hiện giờ cả hai người đều đã là giáo sư.  Cả một đời Nghê Ngô Thành chỉ muốn kiếm được cái học hàm giáo sư mà cuối cùng vẫn chẳng thành công.  Trong thời kỳ lịch sử mới, chồng của Nghê Hà đã mấy lần được đi học tiến tu ở nước ngoài, anh ta mang về nào là những tài liệu công nghệ tiên tiến, những quy trình, những vật liệu các loại, mà cũng mang về cả bốn rồi tám thứ đồ gia dụng lớn dùng điện tối tân hiện đại.  Hiện nay hai vợ chồng đang dốc tâm sức cho đời con cái.  Con trai họ tư chất thông minh.  Thời kỳ học tiểu học và trung học cơ sở đã hai lần học nhảy cóc.  Từ nhỏ đã được nhồi nhét các khẩu hiệu kiểu như phấn đấu thành "thần đồng", thành "nhân tài đất nước".  Khi con trai làm bài tập, cả hai vợ chồng đều kèm bên cạnh, luôn đôn đốc bảo ban.  Sắp đến kỳ thi học kỳ thì lại kèm học cho đến tận khuya.  Họ đều bị ảnh hưởng của các loại quảng cáo trên đài truyền hình trung ương, khi con học hơi căng thẳng một chút là mua ngay sữa ong chúa để bồi dưỡng.  Sau khi giải phóng dần dần mọi người đều không coi bệnh lao phổi là nguyên nhân chính đe dọa sức khoẻ nữa, cũng không coi dầu cá là thứ thuốc bồi bổi cơ thể duy nhất nữa.  Thời nay sữa ong chúa, phấn hoa, vitamin E mới là những thứ được sánh chuộng.  Thời nay căn bệnh được sính chuộng bởi tiểu thuyết và phim nhiều tập là bệnh máu trắng.  Thời nay đang thịnh một cái mốt là gửi gắm cho đời con cái những hoài bão ước mơ mà bản thân mình chưa thể thực hiện được, tuổi thỉ chưa đến bốn mươi mà đã bắt đầu hy sinh đời bố củng cố đời con rồi.  Hết đời này sang đời khác có một sự huy hoàng sán lạn không bao giờ tắt và cũng lại bao hàm cả hy vọng trong sự nuối tiếc vĩnh viễn đối với bản thân mình.
Chúng ta hãy ngoái nhìn lại "Nóng hổi" một chút nhé.  Năm một chín bốn ba Nghê Ngô Thành ra đi, rồi đến Khương Tịnh Nghi chuyển nhà, sau đó Nóng hổi cũng chuyển nhà, vừa hay (hoặc chẳng may) lại gần như trở thành hàng xóm của nhà họ Khương.  Sau khi giải phóng, ông chồng Nóng hổi đã làm giám đốc một cửa hiệu, ít lâu sau khi có phong trào "tam phản" "ngũ phản" thì lại trở thành thành phần bất hảo, thành "con hổ" tham ô ăn của đút.  Phê đấu chán rồi thì cách chức.  Nghê Tảo vẫn thường thất "con hổ chết" đó cong lưng khom cật mặt tái mét mà đi lại trong ngõ.  Ông ta đi đường mắt lúc nào cũng nhìn xuống, chẳng bao giờ nhìn ai cả, cũng chẳng chuyện trò với bất cứ ai.  Nhưng nay sau đó lại xảy ra một việc.  Cô con gái có đôi mắt to cực kỳ xinh đẹp của họ đã lấy được một nhân vật lớn.  Từ đó hễ đến chủ nhật là có một chiếc xe Zim rất oai phong đỗ ở đầu con ngõ nhỏ này, ngay trước cửa nhà  Nóng hổi.  Ít lâu sau lại lắp đặt điện thoại cho nhà họ.  Dây điện thoại trơ trọi mắc trên trời thể hiện địa vị cao quý của họ.  Điện thoại và xe con, đều là lần đầu tiên đến được với con ngõ nhỏ này.  Nóng hổi quả có nóng lên được một dạo thật đấy chứ.
Ngày vui ngắn chẳng tày gang, đến năm một chín năm bảy, cô con gái xinh đẹp mắt to của họ gặp việc phiền phức về chính trị.  Về sau xe ô tô cũng không đến nữa.  Về sau điện thoại cũng dỡ đi.  Nghe nói vì việc đó mà vợ chồng nhà Nóng hổi và cô con gái cãi cọ ầm ỹ một trận với nhau.  Cô con gái thì kiên quyết ly hôn với con rể quý.  Về sau... năm một chín sáu sáu, cách mạng văn hóa được ít lâu, cô gái đẹp mắt to đã tự vẫn vì bị bọn tiểu tướng đánh đập.
Sau giải phóng Nóng hổi vẫn đi lại với mẹ con nhà họ Khương, không xảy ra những chuyện nhảy cẩng chửi đổng nữa, xã hội mới vẫn văn minh hơn nhiều.
Cuối cùng xin để chúng tôi được nói thêm về một nhân vật rất có thể đã bị bạn đọc quên mất rồi.  Đó chính là Miss Lưu.  Hồi năm một chín bốn hai Nghê Ngô Thành đã từng đưa Nghê Tảo đi ăn cơm Tây với người này ở thương trường Tây Đơn.  Nghê Ngô Thành cợt nhả với cô ta, cô ta đã dùng một giọng rất dễ nghe để nói: Bậy nào.  Tên cô ta là Lưu Lợi Phần, quả thật là vô cùng xinh đẹp.  Ngay cả Tịnh Nghi -  Nghênh Chi khi nói đến cô ta cũng phải khen ngợi trầm trồ về cái dung mạo đó.  Cô ta đã từng "nhất kiến khuynh tâm" đối  với Nghê Ngô Thành, Nghê Ngô Thành cũng thực lòng định  theo đuổi cô ta.  Sau đó cô ta biết là quan hệ đó đã không còn hy vọng.  Sau đó tất cả mọi thứ của Nghê Ngô Thành đã khiến cô ta đau lòng mà lại phẫn nộ.  Cô ta đã nhanh chóng cắt đứt hẳn với Nghê Ngô Thành.  Rồi cô ta cũng có chút thành tựu trong học thuật, không biết lộ trình trong cuộc sống của cô ta sau giải phóng ra sao.  Dầu sao đến nay vẫn còn sống khoẻ, vẫn còn phong độ, vẫn còn có thể khiến người khác nhớ về sự tươi đẹp từ ngày xưa.  Hiện nay cô ta đã là giáo sư một trường đại học ở miền Nam.  Mới đây vẫn còn được mời đi tham gia những hoạt động trao đổi học thuật bên nước Anh và nước Pháp.
Đời người mấy chục năm, đến đây đã đủ để viết ra những câu chuyện phong vị khác nhau mà đều khiến người ta phải sụt sịt lau mũi chấm mắt rồi.
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-12-05 03:21:43canary>
Trang 557 -  571,   Chương Năm



Bạn của tôi ơi!  Khi cuốn sách này sắp kết thúc tôi lại nhớ tới bạn.  Chúng ta quen biết nhau ở trường vừa học vừa làm "mùng bảy tháng năm" trên xa mạc Gô bi.  Hôm đó là ngày nghỉ, đa số các chiến sĩ "mùng bảy tháng năm" đã vào thành phố đi chơi rồi, tôi thì phải trực ban.  Tôi đang cán mì sợi cùng với một chiến sĩ trực ban khác trong nhà ăn thì bạn tới, rồi bạn gọi tên tôi, bạn khen tôi cán mì rất giỏi, lại hỏi tôi khi miếng mì cán đã rộng rồi mà ống cán mì lại ngắn thì làm thế nào mà cán tiếp được?  Tôi dạy cách cho bạn, bạn tỏ ra khâm phục hết biết.  Thế là tôi biết bạn với tôi cùng ở một thành phố, thậm chí còn là cùng một khu, cùng một đường phố nữa.
Bạn vai rộng chân dài, ánh mắt thông minh, nói năng nhanh nhảu, hóm hỉnh, thích giao tiếp... Chỉ tội môi của bạn quá mỏng, bạn lại nói nhanh nữa, đôi môi bạn máy động gây cho tôi cảm giác nó có vẻ dị dạng thế nào.  Từ đó chúng ta trở thành bạn bè, tôi vẫn thường cười thú vị vì bạn nhanh nhảu liến thoắng và hay pha tiếng dưới quê.  Vả vào mặt thì bạn nói thành "quả cà vào tai", kẻ keo bẩn thì bạn nói thành "tiền xuyên qua xương sườn", chỗ không thể học tập được gì thì bạn nói thành "chẳng có tình hình quái gì", từ nào tôi cũng học theo bạn.  Những câu công kích của bạn đối với cách mạng văn hóa, đối với tệ nạn đương thời, đối với các chính sách chủ trương tả khuynh khắc sâu trong lòng tôi.  Trong những năm tháng hiu quạnh của tôi may mắn có một người bạn như bạn mà cảm thấy không hề hiu quạnh nữa.
Sau sự kiện Lâm Bưu trường vừa học vừa làm của chúng ta  dần dần đi vào giải thể.  Cho đến sau năm một chín bảy ba, chúng ta đã chia tay đi mỗi người mỗi ngả, vì bận bịu nên cũng khó mà gặp mặt.  Trang Tử nói rồi, gặp nhau nhạt nhẽo chẳng bằng quên ở giang hồ.  Sau hơn mười năm chúng ta đã có dịp gặp gỡ và giao lưu rất đẹp, hôm đó chúng ta vừa kể chuyện vừa uống rượu Phần, rượu và món nhắm ngồn ngộn đầy bàn.  Đã thể hiện đầy đủ cái tình thế tốt đẹp của thời kỳ mới.  Bạn trông già đi ghê gớm, đầu hói, giọng khàn, mặt đầy nếp nhăn, thậm chí đã xuất hiện cả một số vết nám.  Đó chẳng phải là vết da mồi của tuổi già sao?  Bạn vẫn nói bạn muốn cho người này người nọ một "quả cà vào tai", bạn bảo hơn mười năm qua bạn đã phải chuyển bảy vị trí công tác qua ba thành phố thuộc hai tỉnh, nào sở văn hóa, nào xưởng phim, nhà triển lãm, trường chuyên sư phạm, công sở hành chính, hội nhà văn, nhà hát kịch.  "Càng luân chuyển càng chẳng có tình hình quái gì".  Trung Quốc thì có tình hình quái gì được?  Bạn nói một cách bực tức, nghiễm nhiên đã đứng ngoài Trung Quốc, nghiễm nhiên là người phán xét Trung Quốc.  Rượu càng uống càng mềm môi, bạn càng nhấn mạnh rằng tiềm lực của bạn chưa được phát huy.  Mẹ bố nó cái đứa nọ đứa kia chứ, con người ta sống cả một đời cứ phải xem cơ duyên.  Hiểu không?  Ông Vương này, ông có tin không, phải xem cho tôi một cơ duyên, cho tôi một cơ duyên, thì tôi cũng có thể làm trưởng ty, vụ trưởng, bộ trưởng như ai, tôi không có bản lĩnh á?  Tôi thấy bản lĩnh của tôi quá lớn đấy.  Cái gì?  Sáng tác á?  Tôi chẳng thiết viết những cái vớ vẩn đâu, anh moi móc tôi tôi moi móc anh, anh phỉnh phờ tôi tôi phỉnh phờ anh, anh biết những trò đen tối trong văn nghệ chứ?  Cái gì?  Làm đối ngoại?  Làm đối ngoại có bao nhiêu nguy hiểm ông biết không, như vậy thì gọi là ăn không được thì khăn gói mà chuồn.  Hơn nữa làm đối ngoại thì phải học ngoại ngữ.  Ai mà đi học cái đó?  lúc thì xô vào học tiếng Nga.  Lúc thì lại đổ xô học tiếng Anh.  Việc gì cũng rối cả lên, cũng cứ hùa theo thời thượng!  Cái gì?  Cứ có đám cháy thì có ngay ánh sáng à?  Mẹ kiếp tôi muốn cháy mãi mà không cho tôi cháy, thì giúp con cháu tôi đi... tiềm lực của tôi đã mục nát phí hoài đi trong cơ thể tôi mất rồi!
Tô nhớ đến bạn, bạn của tôi ạ.  Tôi khâm phục tiết tháo của bạn, khâm phục sự uyên thâm của bạn, khâm phục tích cách của bạn dám làm theo ý thích riêng của mình.  Vì ba của bạn từng làm thứ trưởng thời quốc dân đảng, nên từ hồi trẻ bạn đã buộc phải mà cũng tự giác đứng ngoài cuộc trong tất cả mọi việc.  Năm một chín năm tám, bạn thành loại cờ trắng, thành điển hình của chuyên môn đơn thuần.  Nhưng đến lúc cần có người biết làm thật, ví dụ như cần dịch thơ và từ của Mao Chủ Tịch, thì bao nhiêu ông quan to quan nhỏ lại cung cung kính kính đi cầu cạnh bạn, không cầu cạnh bạn thì không xong, không có anh đồ tể họ Trương thì ăn lợn cả lông ngay, không tin cứ thử xem!  Trước đây người ta đã không thể không thừa nhận ư, hiện nay lại càng phải thừa nhận giá trị của bạn.  Khi học tập văn kiện "chống luồng gió lật án hữu khuynh", bạn dám ngậm một điếu thuốc thơm mà ngồi ngủ gật trên ghế sopha trong khi mọi người đang thi nhau "thể hiện", bạn dám để miệng mình chảy rớt rãi lòng thòng mấy thước mà ngáy khò khò, điều đó bản thân nó đã là khiếp rồi!  Ngông rồi!  Điên rồ rồi!  Những kẻ tiểu nhân vốn thích dìm dập bạn xúc phạm bạn cũng chẳng dám lợi dụng việc đó để tiêu diệt bạn, ai bảo bạn là ông Trương đồ tể nào!
Tại sao, tại sao cho đến nay bạn vẫn cứ hơi rượu mù trời nhỉ?  Một tháng thì mất nửa tháng say rồi.  Tại sao cả cái gia đình đó lại cãi nhau đánh nhau với bạn, thậm chí con gái duy nhất của bạn cũng đánh bạn "một quả cà vào tai"!  À!   Có lẽ bạn đã quen nết đi mất rồi, đã quen dùng sự tự khinh tự miệt để thể hiện cái ngông nghênh đặc hữu của mình!  Đến khi tình hình đã khác đi rồi thì bạn lại không kịp sửa bỏ thói quen kia đi được nữa!  Bạn không còn có thể trân trọnbg tài năng của mình, không còn cảm thụ được sứ mệnh của lịch sử, không còn có thể làm công việc được một cách nghiêm túc chân phương cần cù chăm chỉ nữa rồi chăng?  Điều đó có thể gọi là độ trơ của tính cách chăng?  Nhìn thấy bạn đang tự chà đạp mình, nhìn thấy bao nhiêu là tiềm lực của bạn cứ ngủ say mãi trong cái cơ thể to khoẻ như trâu của bạn, thì bạn bè và người thân của bạn chẳng đau đớn đến vô cùng hay sao?
Còn bạn nữa, bạn của tôi ơi, người bạn thời trẻ tuổi của tôi.  Tất nhiên là bạn chưa thể quên những ngày tháng chúng mình phải chống chân mà ngủ.  Chưa thể quên những cảnh cùng nhau thảo luận về Ôstropxki, Phadep, Antonop, Phanova,...  Rồi sau lại thảo luận về Romanh Rolang.   Chắc chắn bạn cũng chưa quên cái cảnh mỗi người chúng ta đã tự viết được một thiên truyện đầu tay rồi trao đổi nhau đọc và thảo luận với nhau.  Chắc bạn cũng chưa quên bạn đã dự lễ cưới của tôi, lúc sắp đi tôi còn nhét vào túi áo của bạn bao nhiêu là táo ngâm rượu.  Mà về sau khi tôi "xảy chuyện" rồi, bạn còn đến thăm tôi với bao nhiêu tình cảm lưu luyến và xót xa, bạn đã ở bên tôi, an ủi tôi, săn sóc tôi...
Nhưng sau đó những cơn bão táp chính trị xã hội cuối cùng cũng đã dọa được bạn phải khiếp sợ, người thân của bạn cũng đã đưa ra lời cảnh cáo, bạn đã phải hạ quyết tâm vạch rõ giới hạn với tôi.  Khi sắp đi biên cương tôi vốn định đến cáo biệt bạn đấy, nhưng bạn lại viết thư trả lời rằng, thôi thì không gặp nhau vẫn hơn.  Bạn còn nói, bạn (tức là tôi) thông minh, không thể không hiểu ra...
Không có gì là khôn hiểu.  Chỉ có không ngờ đến mà thôi.  Tôi xót xa vì mình đã mất một người bạn, và càng thấy thương cho bạn hơn, không còn đau khổ về cái hồi ức ảm đạm kia nữa.  Hãy cùng nhau đọc một bài thơ của Maiakopxki đi.  Việc cũ như khói.  Bạn vẫn là cán bộ cách mạng cũ vào đảng trong chiến tranh chống Nhật kia mà!  Lẽ ra bạn đã làm bộ trưởng từ lâu rồi?  Suốt một đời quan chức bé mọn như hạt tấm hạt vừng, đến một gian nhà để cưới vợ cho con cũng không kiếm đâu ra được.  Từ năm một chín năm chín trở đi chẳng bao giờ nói tới Rô manh Rô lăng nữa, đến những năm tám mươi lại càng không muốn nói đến.  Suốt đời thận trọng như thế, nghiêm chỉnh như thế.  Ai cũng bảo bạn là người tốt hiếm thấy.  Ôi bạn thiện lương và mềm yếu như thế đấy, bạn cứ chờ đợi mãi, ai sẽ là người đứng ra quyết mọi việc cho bạn?  Cạn một chén rượu Mao Đài đi!  Đến bao giờ lại được một lần nữa trở lại với những ngày trẻ thần thái vui tươi chí khí hăm hở!
Tôi đã nhớ đến các bạn, những người bạn trong nước và nước ngoài của tôi.  Đó là một ngày trời tạnh ráo sau những ngày mưa dầm hoàng hôn.  Gần như là ngày cuối cùng chuyến thăm thành phố B.  Tối hôm đó không bố trí chương trình gì.  Bạn bảo đưa chúng tôi đi xem một chỗ ăn chơi, do một công ty của nước Anh liênh doanh với một công ty bản địa, chúng tôi vui vẻ nhận lời.  Ô tô chạy vòng vèo mãi, qua một cây cầu sắt và bãi sông hoang vắng, qua những chỗ ống khói và kho chứa nguyên liệu xếp thành dẫy nom xấu xí khó coi, đến một bãi trống ở ngoại ô, những món đồ nhỏ, món quà làm thủ công lung linh bắt mắt đang chờ vận may của bạn, bởi vì những đồ chơi, những đồng hồ treo, đồng hồ để bày cho đẹp rất đáng yêu kia đều không phải để bán, mà chỉ có thể giành được bằng cách như kiểu đánh bạc thông qua quay bánh xe, bắn súng.  Chúng tôi nhậu bia với gà non nóng bỏng tay và xúc xích ở trong lều bạt - nơi có ban nhạc rốc nặng đang gào thé ầm ĩ.  Không có đồ dùng để ăn, dùng tay mà bốc ăn thôi, lau tay bằng một thứ giấy có mùi thơm của dầu bạc hà.  Người hát sô lô của ban nhạc rốc là một cô gái tóc vàng không cao lắm nhưng rất chắc khoẻ.  Tôi đoán cô ta chỉ mới mười mấy tuổi thôi, chắc chắn là từ nhỏ đã thích ăn pho mát.  Khi ban nhạc tạm nghỉ thì có một anh chàng tàn tật ngồi xe lăn ra kéo đàn ắc cooc đê ông và hát những bài dân ca cổ của vùng biển Ban tích và vùng sông Enbo, giọng cứ như hò hét xung phong ra trận tuyến vậy.
Tôi nhớ tới hội chùa của Trung Quốc.  Tôi nhớ đến Thập Sa Hải ở Bắc Bình trước giải phóng.  Cái kiểu quán ăn trong lều bạt sao mà giống Thập Sa Hải thế.  Tối đến là thắp lên những chiếc đèn khí than chói mắt.  Khắp nơi quanh quất bay lên mùi hoa sen thơm lẫn với mùi tanh của nước nuôi cá.  Lúc đó quán ăn "Phòng Thiện" được bắc trên mặt hồ Thập Sa Hải.  Ở đó có thể được ăn cháo lá sen và bánh nướng bột thịt.  Trứng gà đậu Hà lan, đậu giải cuốn và bánh bột hấp gọi là làm bằng hạt dẻ nhưng không có tí bột hạt dẻ nào.  Sử Phúc Cương và cả nhà Nghê Ngô Thành chắc đã nhiều lần dùng cơm ở đó rồi chăng?  Cũng là việc gần nửa thế kỷ rồi còn gì.
C hơi cái gì đây?  Lái xe?  Đâm vào nhau giống như ăn một quả đấm.  Trò "chim bay" treo ngược người lên thật cao, mỗi lần đến mấy phút, rất kích thích mà cũng rất đáng sợ.  Ghế quay hoa sen chỉ nhìn thôi cũng đủ hoa mắt.  Tôi chọn món đu quay.
Chỉ có bạn, đồng bào đồng sự đồng hương của tôi đã cự tuyệt.  Tất nhiên, bởi vì đã phải đi công tác tận Lasha mà cũng từ chối không chịu đi máy bay kia mà.  Bạn lại từng có ý tốt khuyên tôi rằng, đừng có đi máy bay, để khỏi xảy chuyện.
Động cơ đã được phát động.  Chúng tôi ngồi trên đu quay từ từ quay.  Càng quay càng nhanh, càng quay càng cao.  Cuối cùng đến cái dây thép không rỉ buộc tính mạng và cơ thể của chúng tôi vào cùng một trụ cũng đã gần như song song với mặt đất ít nhất cũng là ba mươi mét.  Đường chân trời bay lên trên đầu chúng tôi.  Các thiết bị trên núi sông đất giống như người già đã nằm từ lâu nay bỗng ngồi phắt dậy, đột nhiên đứng dựng lên.  Ánh đèn chuyển động loang loáng, ánh đèn màu nối kết thành vệt sáng thành dòng sông, trời xoay đất chuyển. Bạn sợ hãi, bạn hoan hô, bạn muốn kêu to nhưng cuối cùng bạn biến cả sắc mặt.  Đúng vào lúc đó tốc độ quay dần dần chậm lại, chúng tôi từ từ xuôi người xuống, đường chân trời dần dần đã hạ xuống, núi sông dần dần trở lại chỗ của nó đáng phải tồn tại, bạn cũng đã khôi phục lại nụ cười tự nhiên, thở phào một hơi nhẹ nhõm, lại nhanh nữa rồi, lại thăng lên rồi, lại chóng mặt, lại kêu lên, lại chậm rồi, lại xuôi xuống rồi, lại nhẹ nhõm người rồi...  Cứ như vậy lập đi lập lại rất nhiều lần...  Cuối cùng, bạn đã xuống rồi, bạn vẫn còn đứng trên mặt đất, bạn chưa mọc cánh ra, bạn chưa thể bay lượn được, bạn vẫn còn y như cũ.  Bay tung lên và hạ xuống liên kết với nhau, vừa hay giống sống và chết vẫn thường cặp đôi với nhau.  Chỉ là bạn có thể thể nghiệm ôn lại nhiệt tình với vĩnh hằng mà thôi.  Sự va đập đau đớn và mạnh mẽ đó đã làm điên đảo cả bầu trời.  Cùng với bao nhiêu lần hạ xuống, cuối cùng vẫn là cái uy nghiêm của trọng lực khiến không bay lên được, cuối cùng vẫn là giấc mộng vỡ tim...  Vẫn là vị trí nguyên như cũ.  Lại tăng tốc, lại vút lên, lại hạ thẳng xuống và quay tít.  Lại tắt máy, lại xuôi xuống, lại khôi phục vị trí.  Hết lần này đến lần khác bay lên hết, lần này đến lần khác hạ xuống chúng ta kết luận thế nào đây nhỉ?  Nói rằng cuối cùng chúng ta đã bay lên, cuối cùng đã thực hiện được nhiệt tình và nguyện vọng vĩnh hằng của loài người, cuối cùng đã đánh thức được núi sông và đất đai ư?  Hay là nói nhiệt tình của chúng ta, ảo tưởng của chúng ta, giấc mộng rẽ gió mà bay lượn của chúng ta cuối cùng cũng là công cốc, cuối cùng cũng phải dừng lại, hạ xuống mặt đất thôi?
Mùa hè năm một chín tám nhăm, người viết cuốn sách này đã ngẫu nhiên gặp được bạn cũ Nghê Tảo khi đang nghỉ dưỡng ở vùng biển.  Ông ta đã ngoài năm mươi, người trông khoẻ khoắn.  Hai năm qua có vẻ sống dễ chịu lắm (nói theo ngôn ngữ của một người bạn cũ là "có tình hình" lắm).
Ông ta hẹn tôi cùng đi bơi.  Ông ta bơi ếch, bơi trườn, bơi ngửa, bơi một cách chậm rãi, chắc chắn nhẹ nhàng thoải mái.  Lúc mới bắt đầu, tôi bơi đàng trước, ông ta đàng sau, để bơi được cùng với nhau, thỉnh thoảng tôi lại phải hãm chậm tốc độ đợi ông ta.  Bơi được quá bốn mươi phút tôi thấy trong người thấm mệt, đề nghị bơi quay lại.  Nhưng ông ta lại nói, hết sức xin lỗi hôm nay tôi không bơi xa là không được, có lẽ đây là lần cuối cùng được bơi xa thế này chăng?  Ông ạn Vương, ông về trước đi nhé.  Tôi cảm thấy ông ta bơi có vẻ thiếu ý tứ, nhưng cũng không thể ép ông ta trở về.  Bên cạnh chẳng có lấy một người nào.  Tôi bơi thêm cùng ông ta chừng mười phút nữa, sau thấy thực sự khôn cố được nữa, bèn bỏ ông ta mà bơi trở về.  Xung quanh chỉ có hết đợt sóng này đến đợt sóng khác, chỉ có nước mênh mang vô bờ, tiếng quạt nước soàn soạt, tiếng phun nước thở phì phò, trời và biển đều một màu bàng bạc xám, lóa mắt, khiến người ta chóng cả mặt.  Tôi bỗng chợt thấy sợ, quay mình lại tìm ông ta, chỉ thấy ông ta càng bơi càng nhanh, càng bơi càng xa, đúng vào hướng biển sâu, có thể là nơi sâu nhất của Thái Bình Dương.  Chẳng có cách nào nữa, dù có hô cứu ông ta cũng không nghe thấy nữa.  Tôi đành phải nằm ngửa ra, để cho sóng biển đưa đi, cố gắng tự điều chỉnh và giữ bình tĩnh.  Cuối cùng phải mất đúng hai tiếng đồng hồ, mới kết thúc được lần đi bơi chẳng lấy gì làm vui vẻ đó.
Tôi nằm trên bờ biển mà nghỉ, nghe tiếng sóng biển gầm dữ dội ầm ào và dập vào bờ cực kỳ mãnh liệt hết sức mù quáng, tiếng sóng ca ngợi cái vĩ đại của biển, xót xa cho sức mạnh của biển, hơi thở của biển, sự biến ảo sục sôi của biển, cuối cùng chẳng dùng được vào việc gì.  Sau đó tôi đi tráng nước ngọt thay quần áo, lên bờ rồi mà vẫn chưa thấy bóng dáng Nghê Tảo.  Tôi đã thực sự sợ hãi, tôi định đi báo để cấp cứu với những người có trách nhiệm.  Cho đến lúc hoàng hôn buôn xuống Nghê Tảo mới xuất hiện cái hình bóng chỉ là một chấm đen nhỏ xíu của ông ta ở chỗ đường chân trời xa lơ xa lắc.  Tôi vẫy tay, hô hoán gào thét lên nhảy cẳng chân với ông ta, nhưng ông ta không hề có phản ứng gì.  Lại qua hai mươi phút nữa, cuối cùng ông ta cũng đã trở về được bờ.  Ông ta lên bờ rồi, chẳng tỏ vẻ mệt mỏi cũng chẳng tỏ vẻ khoan khoái.  Đã chẳng tỏ ra không để ý chuyện vặt, thừa sức bơi xa, ra dáng anh hùng hảo hán, lại cũng chẳng khoe khoang hù dọa về những nguy hiểm, những chuyện hú vía mà mình đã gặp phải hay khoe về kỹ thuật bơi của mình tốt đến đâu.  Điều đó khiến tôi cũng thấy tẽn tò, không tiện thuật lại những gì mình đã thấy đã nghĩ đã cảm nhận trong suốt hai giờ đồng hồ bơi lội vùng vẫy vừa qua.  Tôi chỉ hỏi một câu, "làm sao phải bơi xa đến thế nhỉ?"
"Tôi cứ nghĩ, càng xa càng tốt", ông ta cười mãi rồi mới nói.  Tôi lại cứ tưởng ông lại định tự sát cơ.
Ông ta không trả lời gì.
Bất chợt ông ta nói với tôi một câu chả đâu vào với đâu cả: Hiện nay Bắc Kinh và rất nhiều thành phố đang tiến hành "cuộc vận động" chống nhổ đờm bừa bãi, việc đó quả là rất tốt.  Cha tôi ở dưới kia mà biết được, thì ông sẽ cảm thấy vui mừng lắm.  Nghê Tảo hỏi tôi: Ông bạn Vương này, để hoàn thành công việc giải quyết vấn đề nhổ đờm bừa bãi đó, phải dùng bao nhiêu thời gian nhỉ?
Tôi chịu không thể trả lời được.
Ông ta nói, tôi cho rằng phải cần đến mấy đời người, mới có thể đạt được kết quả tiêu diệt về cơ bản thói nhổ đờm bừa bãi trong các nơi từ nông thôn đến thành thị trong toàn quốc.
Có quá bảo thủ không nhỉ?
Ông ta cười một cách nhợt nhạt.
Tối đó ông ta kéo tôi đi ăn cơm ở một quán cơm Tây thuộc hệ thống tiệm cơm Tây đã có tiếng từ xưa.  Ông ta nói, từ khi thân phụ ông còn chưa ra đời, tiệm cơm Tây này đã bắt đầu mở tại thành phố T rồi.  Chi nhánh của tiệm đó ở bờ biển này chỉ có tính thời vụ, một số nửa bàn ăn là lộ thiên, còn một nửa số bàn ghế đặt trong phòng có lắp đèn trần trang trí theo kiểu chuỗi hạt pha lê.  Trong và ngoài phòng đều mở nhạc, tiếng đàn oóc đệm nhẹ nhàng du dương êm tai.  Những khách ăn ở đó phần lớn đều là người nước ngoài.  Họ ăn mặc nói năng khá lịch sự.  Món tôm bự rán ở đây làm rất khéo, màu đỏ rất bắt mắt, tôi lại cứ tưởng họ trộn tương cà chau vào, người phục vụ thì khăng khăng nói đó là màu vốn có của tôm; kem hoa quả (gọi là "ba được" gì đó) làm cực kỳ công phu tươi đẹp, trông giống như những đóa hoa.  Chỉ nội cái khay đựng thức ăn nguội có nắp bằng bạc cũng đủ khiến người ta không tiếc lời khen rồi.
Ăn xong chúng tôi cùng đến chỗ hội nhảy.  Không ngờ Nghê Tảo lại nhảy được thành thạo và thoải mái đến thế.  Khi ông ta nhảy, có rất nhiều đôi là Trung Quốc và nước ngoài cùng nhảy, cả nam lẫn nữ đều phải chăm chú nhìn Nghê Tảo.
Trong khi Nghê Tảo nhảy thì tôi chìm vào việc cấu tứ một cuốn tiểu thuyết của mình.  Tôi định viết một cuốn tiểu thuyết, hay có thể không gọi là tiểu thuyết, nên gọi là lịch sử.  Tôi muốn viết một chút gì đó về lịch sử khiêu vũ mà tôi từng quan sát được.  Trước ngày giải phóng những người khiêu vũ quốc tế đa phần là kẻ xấu.  Năm một chín bốn tám, thời kỳ trước khi chính quyền quốc dân đảng bị đánh đổ, ở Vũ Hán từng xảy ra một sự kiện báo chí rất tồi tệ.  Các bà các cô vợ con các tướng lĩnh quốc dân đảng đang cùng nhảy với sĩ quan Mỹ thì đột nhiên mất diện, nghe nói sau khi mất diện đã xảy ra vụ án hiếp dâm tập thể, tất cả báo chí của quốc dân đảng đều đã đăng tải, lại còn rêu rao sẽ tra xét đến cùng.  Cũng vào năm bốn tám, các vũ nữ Thượng Hải đã có một hành động cách mạng chung, biểu tình thị uy đòi lật đổ chính quyền thành phố.  Khi còn nhỏ tôi chỉ toàn nghe người lớn nói vũ nữ là loại người không đứng đắn, nhưng đã đến năm một chín bốn tám, thì vũ nữ cũng đi làm cách mạng đấy.
Thế còn người cách mạng cũng khiêu vũ nhá, điều đó là sau khi xem cuốn "Bài ca chiến đấu Trung Quốc" của nữ văn sĩ Smottrai tôi mới được biết, trong cuốn sách đó bà ta đã mô tả những bước nhảy của các lãnh tụ cách mạng như Mao Trạch Đông, Chu Đức, Bành Đức Hoài, v.v...  Ngay lúc đó tôi cũng còn không muốn tin vào việc đó, ai lại khiêu vũ ở Diên An được nhỉ?  Ở Diên An thì chỉ có thể khoác tay nhau mà hát "Đấu tranh này là trận cuối cùng, kết đoàn lại là ngày mai..." chứ nhỉ?
Tôi không còn nhớ rõ lắm.  Hình như Vương Thực Vị từng côn kích việc khiêu vũ ở Diên An thì phải?
Sau giải phóng vào đầu những năm năm mươi, quốc tế vũ được phổ biến rộng rãi trên toàn quốc.  Lúc đó tôi làm công tác đoàn, ban chấp hành khu đoàn của chúng tôi cũng làm việc trong một tòa nhà với công đoàn khu, phía trước tòa nhà là sân rộng đặt van ống dẫn nước.   Mỗi tối thứ bảy, công đoàn đều tổ chức khiêu vũ.  Những người trẻ được tự do nhảy quốc tế vũ, đó là quang cảnh mới của Trung Quốc sau giải phóng, là một trong những biểu trưng của cuộc sống trong đó mọit người được sống hạnh phúc hơn văn mình hơn phóng khoáng hơn sau khi giải phóng.  Khi đó bài hát được mở thường xuyên là bài "Từng bước cao hơn" để nhảy điệu tango, tiết tấu nghe rất rõ ràng mạch lạc.  Lại còn một bài vũ khúc mà tôi rất thích, tên là "bài ca sinh viên" của Liên Xô, có giọng nam cao mượt mà cùng hát với dàn nhạc.  Tôi yêu thích quay tròn trẻ trung, những cánh tay xoè rộng vô tư đầy tin tưởng, sự say sưa cuồng nhiệt của cuộc sống mới.
Nửa cuối những năm năm mươi, thì chẳng còn vũ hội nào nữa cả, hoặc ít nhát không còn vũ hội công khai rộng rãi nào nữa.  Có lẽ cũng còn cực ít những tinh hoa nòi giống, mới có cơ hội để khiêu vũ.
Sau đó thì càng không cần phải nói nữa.
Mãi cho đến mùa đông năm một chín bảy tám, các kiểu nhảy giao tiếp bỗng nhiên được khôi phục, thịnh hành trên toàn quốc.  Sau đó nghe đâu có xuất hiện rất nhiều tình hình không hay, nhiều sự việc không đứng đắn không phù hợp quỹ đạo.  Nhảy nhót làm nảy nòi những lưu manh tội phạm trẻ con, sinh ra bọn sùng bái phương Tây mê tín nước ngoài, bọn mất gốc, bọn đạo đức suy đồi, sinh ra những bồ bịch nhố nhăng...
Đến xuân hạ năm một chín bảy chín bỗng lại không đâu nhảy nữa.
Sau năm tám mươi bắt đầu hiện đại hóa, khiêu vũ chỉ vẫn xuống xuống lên lên.  Cũng lạ, về vấn đề khiêu vũ, khôn hề có nghị quyết, quyết định, chỉ thị mệnh lệnh, kế hoạch, pháp lệnh, điều lệ, công văn dấu đỏ gì cả.  Thế mà khiêu vũ vẫn cứ trở thành thước đo của thời tiết chính trị.
Trong tiểu thuyết của Trần Kiến Công có miêu tả một loại vũ hội có tổ chức.  Thanh niên sinh viên khiêu vũ, công nhân về hưu giám sát một bên.  Nhân viên giám sát dùng một giọng thấp trầm cảnh báo người trẻ tuổi: Chú ý tư thế khiêu vũ!  Chú ý giữ khoảng cách!
Đến các công viên cũng phát rầu.  Năm một chín bảy tám và một chín bảy chín một dạo rất nhiều người trẻ tuổi hay đến công viên để nhảy, đến giờ đóng cửa công viên họ vẫn không chịu rời khỏi.  Họ vi phạm chế độ, họ phá hoại tài sản văn hóa công cộng, phá hoại vườn hoa thảm cỏ, động tác của họ tục tĩu, ngôn từ thô lỗ, cuối cùng phát triển đến mức nhục mạ ẩu đả nhân viên trông coi công viên...
Nghe nói tổ chức kinh doanh sàn nhảy cũng phải chịu sự phiêu lưu mạo hiểm nhất định.  Anh đang mở sàn nhảy, bỗng tự nhiên có một xe chở đầy bọn choai thuộc loại "cô chiêu cậu ấm" xịch đến, các cô cậu choai choai "đập phá" hội trường, không, phải nói là đập phá vũ trường, thì còn làm sao mà giữ được phong khí và trật tự nữa?
Năm một chín tám tư, vũ trường các nơi thi nhau mọc lên như nấm sau mưa.  Và đều bán vé công khai cả.  Cũng đã xuất hiện một số bài báo bạo gan khẳng định cả khiêu vũ "disco".  Nhưng disco vẫn còn ít được nhảy công khai và trên quy mô lớn.  Ít lâu sau, ví dụ như trên trang nhất "Giải phóng nhật báo" có đăng tải một thông báo của cục công an thành phố về vũ hội bị biến tướng thành nơi giành giật ký kết việc làm ăn, vũ hội kiểu đó là có tính doanh nghiệp.
Sau đó nghe nói lại có một kiểu giải thích khác, nói rằng vũ hội có tính doanh nghiệp vốn để chỉ vũ hội có người chuyên môn đứng ra làm ban nhảy.
Những tình hình biến thiên của tâm lý, hành động cử chỉ phong tục tập quán như vậy, không đáng được viết ra hay sao?  Tất nhiên, Nghê Tảo không cảm thấy vướng bận gì về việc cũng có tôi tham gia trong vũ hội này cả.  Nghê Tảo nói, cha của anh ta Nghê Ngô Thành rất thích mà cũng rất giỏi khiêu vũ đấy.  Tuy vậy, cả cuộc đời ông chẳng có được mấy cơ hội, mấy lần đi khiêu vũ.  Mà bây giờ thì sao nhỉ, đèn thì đèn màu, sáng sáng tối tối, nhưng vẫn không giống những kiểu đèn mê hồn kích thích mạnh như trong một số khách sạn cao cấp ở Quảng Đông.  Sàn nhà thì bóng lộn con trai con gái đều có kiểu ăn mặc cử chỉ khiến người ta tràn đầy niềm tin vào tương lai.
Những bản nhạc làm nền cho buổi khiêu vũ tối nay gồm có "Cô gái Bô hê miêng" "Con vẹt màu xanh lục" và "Mùa hè năm ngoái".
Ta cực kỳ thích người đấy, mùa hè năm ngoái ạ.


Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
Tập Nối Thêm

Trang 493 - 509, Chương I


Buổi sáng hôm cuối cùng của chuyến thăm châu Âu, bọn Nghê Tảo đến làm khách tại trung tâm nghiên cứu Phương Đông của một trường đại học thành phố M.  Nữ chủ nhân của trung tâm nghiên cứu Phương Đông theo con mắt người châu Âu thì thuộc loại nhỏ nhắn xinh xắn, đôi mắt to cực kỳ hoạt bát.  Bà ta nói chủ yếu bà ta nghiên cứu tiếng Nhật và lịch sử Nhật Bản, văn hóa Nhật Bản, tiếng Hán thì còn trọ trẹ lắm.  Bà ta nói hết sức hứng thú đối với Trung Quốc, hiện giờ có một vị Hoa Kiều đang dạy bà ta về Thái cực quyền, một tuần tậpo hai lần, mỗi lần bốn mươi nhăm phút.  Bà ta còn mua một cuốn sách về nghệ thuật nấu ăn của Trung Quốc, đã học được mấy món ăn kiểu Trung Quốc rồi.
Vĩ đại thay văn minh Trung Hoa!  Đi đến đâu cũng có thể nghe thấy những lời xưng tụng đối với "Khung phu" (võ thuật) và xào nấu của Trung Quốc!
Phòng làm việc của bà ta ngào ngạt mùi thơm của gỗ thông.  Tất cả bàn ghế đều ra vẻ có hoa văn tự nhiên (tự nhiên một cách nhân tạo?), trong tủ kính có bày những đồ phóng cổ của Ấn Độ, Nhật Bản, Malaysia và Trung Quốc.
Bà ta tự giới thiệu rằng, bà có bốn đứa con và một ông chồng thân yêu, hàng ngày sau giờ làm việc, bà tự chăm lo lấy việc gia đình, chăm sóc ông chồng và các con.  Vì vậy mọi người đều gọi bà là Wonderful Woman - người phụ nữ tuyệt vời.
Bà ta nói chính vì ở châu Âu, mà không chỉ có châu Âu chế độ hôn nhân và gia đình đang phải chịu thách thức nghiêm trọng, tựa hồ đang lâm vào quá trình giải thể, cho nên đã dấy lên một lực lượng và tư trào phản đối quá trình đó, họ tán thành đồng thời hướng quan niệm về giá trị luân lý gia đình kiểu phương Đông.
Một vị học giả Trung Quốc đi cùng đoàn với Nghê Tảo nghe vậy thì vui mừng ra mặt, ông ta liền nói ngay, điểm này rất quan trọng, khi về nước nhất định ông ta sẽ phải truyền đạt tình hình đó với nhân dân Trung Quốc.
Hàng lông mi của vị chủ nhà nhỏ nhắn xinh đẹp kia chợt chớp chớp cực kỳ nhạy cảm.
Đúng lúc đó một đĩa điểm tâm viên giòn vỏ được đưa lên.  Chủ nhà nói, đó là món tự tay bà ta chọn nguyên liệu và chế tác thành công đúng như trong cuốn "Sổ tay nghệ thuật nấu ăn Trung Quốc" đấy.  Bọn Nghê Tảo rào rào nếm thử, thơm, giòn, ngọt, đậm mùi vị rất thơm ngon.  Nhân bên trong màu phấn hồng, hình như có trộn bơ và mứt quả dâu tây, đúng là một món ăn chơi kiểu Đông Tây hợp bích.  Nữ chủ nhân hớn hở hỏi, có giống không?  Có nhận ra được phong vị Trung Quốc không?  Mọi người nhiệt liệt khen ngợi và nói về mặt nấu nướng chế biến món ăn thì sự giao lưu giữa Đông và Tây là ít gặp trở ngại nhất, có hiệu quả to lớn nhất đấy.
Thế là bắt đầu nói đến văn hóa Trung Quốc và lịch sử Trung Quốc.  Nữ chủ nhân nói văn hóa Trung Quốc là một thứ văn hóa kỳ diệu, sức sống Trung Quốc là sức sống kỳ diệu, các nhà tri thức Trung Quốc là kỳ diệu.  Bà ta nói, sự phát sinh của thứ văn hóa đó, sự hình thành và phát triển cùng sự tồn tại cho đến tận ngày nay của nó vốn đã là một kỳ tích của lịch sử, là một kỳ tích của nhân loại rồi...
Nhưng gần một trăm năm lại đây, chúng tôi đã lạc hậu quá mất rồi.  Một đồng chí Trung Quốc nói xen vào.  Chắc ngài định nói về phương diện kinh tế và khoa học kỹ thuật?  Nữ chủ nhân nói, tất nhiên đó cũng là một vấn đề nghiêm trọng nhưng không phải là toàn bộ các vấn đề.  Ở chỗ chúng tôi đây ngày càng có nhiều người cho rằng sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sản xuất công nghiệp đã đem lại những hậu quả hết sức tiêu cực.  Có người còn cho rằng, mặt tiêu cực của phát triển còn nhiều hơn mặt tích cực.  Mọi người ngày càng nghiêng về thứ văn hóa cổ kính, chú trọng giữ gìn thiên thiên và điều chỉnh quan hệ giữa người với người.  Đối với lịch sử lâu đời của các người mà nói, một trăm năm chỉ là một cái chớp mắt, hiển nhiên là các ngài có thể đuổi kịp, các ngài có thể hấp thu tất cả những thứ cần thiết cho các ngài và tiến hành cải tạo nó.  Ví dụ như Phật giáo của Ấn Độ, lại cả Macx, lại cả cách mạng Nga.  Điều kỳ diệu là các ngài vừa có thể hấp thu và thích ứng vừa có thể cải tạo thành những thứ của riêng mình.  Châu Âu cũng đang đối mặt với ảnh hưởng to lớn của Mỹ, Holywood, cocacola, nhà chọc trời, đồ ăn nhanh và nhạc rock.  Ở đây đầy rẫy những mâu thuẫn và xung đột.  Chúng tôi cũng vậy, cũng cần phải giữ gìn truyền thống văn hóa, bản sắc văn hóa riêng của mình.
Điều khiến chúng tôi kinh ngạc nhất là những phần tử trí thức bên các ngài, nữ chủ nhân chuyển sang một đề tài khác.  Trong năm vừa qua, tôi từng tiếp đón không ít các chuyên gia học giả đến từ Trung Quốc.  Trong số họ có nhiều người đã phải chịu rất nhiều lần công kích và bức bại trong thời kỳ đại cách mạng văn hóa và thời kỳ trước đó.  Tôi nghĩ, nếu là một người trí thức ở chỗ chúng tôi, phải chịu đựng nhièu sự bất công và kinh khủng đến thế, chắc hẳn là đã không sống nổi, không là tự sát thì cũng phát điên, nếu không phát điên thì từ đó trở đi cũng trở thành một người suy sụp tinh thần, bi quan yểm thế.  Có những người được sống dễ chịu lắm mà vẫn còn chán đời, còn muốn tự sát nữa là.  Những người trí thức Trung Quốc thì không thế, hoàn cảnh của các ngài vừa mới được cải thiện một chút thôi là các ngài đã không mảy may phàn nàn oán thán mà lao ngay  vào sự nghiệp xây dựng phát triển đất nước rồi.  Nếu không được tự mình tiếp xúc trực tiếp với các ngài, chắc tôi cũng sẽ nghi ngờ về cái bên ngoài tỏ vẻ lạc quan tin tưởng kia của các ngài, cho đó là bị bắt buộc và cố gượng mà làm ra như vậy thôi.  Nhưng giờ thì tôi đã hiểu sự lạc quan tin tưởng của các ngài là chân thành đấy, có thể nói cho tôi biết cội nguồn của chủ nghĩa lạc quan của các ngài là ở đâu không?
Đó là thứ chủ nghĩa yêu nước từ ngàn xưa.  Nó bắt nguồn từ lý tưởng, từ sự tiến bộ xã hội.  Chúng tôi là một lớp người theo lý tưởng, lý tưởng xã hội chủ nghĩa đối với thế giới, vẫn là thứ giàu sức hấp dẫn lắm đó.
Dân tộc Trung Hoa vốn đặc biệt riêng có tinh thần mềm dẻo, giỏi chịu đựng, kiên trì không nao núng, có sức mạnh ý chí nếm mật nằm gai, mười năm tích góp, mười năm rèn giũa.
Nội dung của mọi người nói thì là đại đồng tiểu dị.  Nghê Tảo chưa nói gì nhưng vấn đề đó đã gây cho ông ta nhiều suy nghĩ.  Kể cũng lạ, khi còn ở trong nước, ông ta cũng đã từng nghe đủ các kiểu nói năng bức xúc và phàn nàn, ca cẩm, nghe đủ các kiểu nói năng kỳ cục, nửa đùa nửa thật, ra điều trăng nước ngoài tròn hơn trăng Trung Quốc.  Thế mà vừa mới rời khỏi tổ quốc chừng một vạn cây số, khi ông ta có thể quan sát và suy gẫm một cách ung dung tự tại và khách quan toàn diện hơn, có thể so sánh với nước khác, thì chính bản thân ông ta cũng hết sức kinh ngạc... Sự tồn tại của Trung Quốc, sự đổi thay của Trung Quốc, sức mạnh của Trung Quốc thật là kỳ diệu đấy chứ.
Nhưng đó là điều rất khó để làm cho vị nữ chủ nhân đeo kính tuyệt vời kia hiểu được.  Thậm chí cũng khó mà làm cho con cái mình có thể hiểu được.  Bọn Nghê Tảo và lớp người trên của họ đã từng sống trên một điểm xuất phát như thế nào.  Họ đã đi qua một chặng đường dài dặc như thế nào.  Gian nan, kỳ diệu, không có lựa chọn nào khác cả.
"Trung Quốc thật là thần bí mà lại rất gần gũi!"  Cuối cùng nữ chủ nhân nói và bắt tay chào từ biệt từng người một.
Ăn cơm trưa xong là lập tức đi ra sân bay quốc tế ngay, các cuộc phỏng vấn gì đó chẳng qua chỉ là vội vội vàng vàng liếc mắt một cái, vội vội lật qua một trang mà thôi.  Thời gian ghi trên máy bay là một giờ bốn mươi nhăm phút chiều máy bay cất cánh.  Sắp trở về nước rồi, đối với cuộc sống du lịch thời gian vừa qua và châu Âu, Nghê Tảo đã chẳng hề lưu luyến gì, mà lại có cảm giác như trút gánh nặng "cuối cùng cũng đã về được rồi".  Thực ra họ  mới rời khỏi Bắc Kinh mới được có mười ba ngày.
Điều khiến ông ta bất ngờ là Triệu Vi Thổ lại đi máy bay từ thành phố H đến tiễn chân ông ta.  Nét mặt của Triệu Vi Thổ đã bình tĩnh hơn hôm trước nhiều.  Anh ta có một gói đồ nhỏ nhờ Nghê Tảo chuyển giùm đến người thân của anh ta ở Bắc Kinh.
"Tôi rất cảm ơn ngài đã có cuộc trò chuyện với tôi hôm đó.  Hình như tôi không thấy đau lòng như hôm trước nữa rồi.  NHưng có lúc tôi vẫn không thể hiểu nổi, hình như không thủng ra được, tại sao làm một người Trung Quốc lại khó thế?  Tại sao cách mạng của Trung Quốc, sự tiến bộ của Trung Quốc lại khó như vậy, lại phải giá thảm thê, nặng nề đến như vậy nhỉ?  Trả giá ít đi một chút không được ư?  Ngài cũng biết đấy, sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, ở đây đã có rất nhiều người họ vừa nghe nói đến chiến tranh, vừa nghe nói đến cách mạng, là đã biến sắc như nói đến hổ vậy..."
Trên loa phóng thanh đã truyền đến thông báo yêu cầu hành khách đi chuyến bay này đến ngay quầy xác định để làm thủ tục lên máy bay.  Tiếng cô phát thanh viên nghe rành rẽ mà rất êm dịu.
Những người cùng đoàn đã giục Nghê Tảo đi làm thủ tục.  Nghê Tảo chỉ còn kịp nói với Triệu Vi Thổ: "Có lẽ anh còn quá trẻ chăng?  Tôi nói đây không chỉ là về tuổi tác."  Ông ta vẫy tay cáo biệt Triệu Vi Thổ.  Triệu Vi Thổ cũng vẫy tay chào lại.  Ông ta đã bước lên cầu thang chạy bằng điện rồi, ông ta đã cách Triệu Vi Thổ ngày càng xa rồi, Triệu Vi Thổ bỗng nhớ ra cái gì, gào to: "Phu nhân Sử bảo, ngài nhất định phải nói giúp..."
Tiếng người nói ồn ào quá, Nghê Tảo chỉ có thể đoán quá khẩu hình là bảo mình chuyển lời hỏi thăm đến cha.
Tất nhiên, tất nhiên là hỏi thăm sức khoẻ, phải nói đến tòa nhà chung cư của Sử Phúc Cương ở thành phố H, phải nói một chút về phu nhân Sử, đặc biệt nói đến "Hồ đồ khó kiếm" của Trịnh Bản Kiều.  Ở nước ngoài, ở chỗ đó dường như ông ta đã nối tiếp được một mảnh keo dán đứt đoạn đã lâu.  Cái đó vốn là quá khứ đã vĩnh viễn qua rồi, vĩnh viễn ngủ say rồi.  Ông ta đã từng vui sướng biết bao khi bước qua và chôn vùi cái quá khứ đó, cái quá khứ còn nặng nề ghê gớm hơn cả sự oán hờn và tàn nhẫn của cuộc sống và con người, còn nhàm chán và trống rỗng hơn cả sự tàn nhẫn và oán hờn.  Ông ta bỗng lại tìm kiếm ra được di tích của chúng, thật là buồn nẫu ruột.  Có lẽ cũng có cả một chúc xúc động, nhưng như vậy, dường như ông ta mới có căn cứ để trả lời Triệu Vi Thổ, để thay đổi cuộc sống mà thời thơ ấu ông đã lãnh đủ kia, cũng chẳng có gì là cao đâu.
Nhưng khi ông ta đã ngồi lên máy bay về Bắc Kinh rồi, khi ông ta đang bay trên những tầng máy bay dày đặc, khi ông ta đã cầm trong tay những tờ "đơn xin nhập cảnh" và 'tờ khai hải quan" mà biên phòng Trung Quốc và hải quan Trung Quốc phát cho tất cả các hành khách qua tay các cô tiếp viên hàng không, khi đã tới rất gần Bắc Kinh, đã tới rất gần Trung Quốc thập kỷ tám mươi thì ông ta liền cảm thấy đó chẳng còn ý nghĩa gì nữa.  Ông ta lại còn nhận thấy xấu hổ với những xúc động và buồn rầu mà mình từng có vừa rồi nữa.
Tất nhiên cũng coi là có tư liệu để nói chuyện.  Nếu không, ông ta sẽ nói gì với cha mình được chứ?
Nhưng rồi cả đến những tư liệu để nói chuyện kia cũng đã chẳng cần đến nữa rồi.  Nghê Ngô Thành đang đi tới tận cùng của số mệnh.
Nghê Ngô Thành vừa tròn bảy mươi tuổi đã vào nằm viện được năm ngày.  Không ăn uống gì đã hơn mười ngày.  Sốt cao, khó thở, dạ dày xuất huyết, đi ngoài phân đen như nhựa đường.  Ông ta luôn bứt rứt không yên, cứ nhắc đi nhắc lại mỗi một câu: Bao giờ thì Nghê Tảo mới về nước?   Tựa như đã dự cảm được đại hạn của mình đã tới.
"Chết" xưa nay vẫn là đề tài Nghê Ngô Thành thích bàn suông tán dóc nhất.  "Ngoài lục hợp ra thì chẳng cần bàn gì hết", có lúc ông ta đã từng nói như vậy.  Thái dương hệ, địa cầu, nhân loại đều có thời hạn riêng, mà điều không thể nghi ngờ là khi cái thái dương hệ này, cái quả địa cầu này, cái nhân loại này diệt vong, thì đồng thời lại đã hình thành và phát sinh ra thái dương hệ khác, địa cầu khác, nhân loại khác.  Ông ta trích dẫn luận điểm của Anghen trong sách: "Phép biện chứng của tự nhiên" mà nói vậy.  Thế mới gọi là nhìn xa thấy rộng chứ, ông ta tán tụng thêm: những người muốn trường sinh bất lão chỉ có thể là những kẻ tham vọng cá nhân thôi.  Ta từ vạn vật trong vũ trụ tới, lại trở về với vạn vật trong vũ trụ chứ...  Cuối cùng chỉ là một chiếc màn thầu bằng đất mà thôi.  Từ thời còn thanh niên ông ta đã thích dạo bước quanh những nấm mồ nơi tùng bách thường xanh, vạn vật tĩnh lặng, ông ta thường dắt con đi tản bộ trong nghĩa trang.  Ông ta thường lặng lẽ đọc từng tấm bia mộ, tưởng tượng về sự phiền não buồn đau về lẽ sống chết của người trong mộ.  Và sự giải thoát cuối cùng của những cái đó.
Bệnh viện bảo, không có giường.  Ông ta không có chức vụ lãnh đạo, không có chức danh cao cấp, không có vị trí xã hộ, không phải nhân vật tiêu biểu, đằng nào cũng không với tới.  Chỉ có thể trở về nhà cứ vậy nằm không ăn, không uống mà đi ngoài ra máu thôi.
Nghê Tảo vừa về nước xong, chạy ngược chạy xuôi cậy nhờ mọi người, rồi cũng lách vào được một buồng bệnh, trước khi vào buồng bệnh còn phải đặt ngoài hành lang mất bảy tiếng đồng hồ.  Bác sĩ khám phát hiện hiện trạng khó thở, xuất huyết bên trong của ông ta, hiện trạng không ăn uống được, và sự đau đớn bứt rứt toàn thân của ông ta.  Tình hình vô cùng nghiêm trọng, làm ăn thế nào thế?  Để bệnh nhân đến như thế này mới đưa vào viện?  Nghê Tảo chỉ có thể trả lời bằng một cái cười chịu nhịn.
Không thể phân biệt được là bệnh nặng mới vào viện hay vào viện rồi bệnh mới nặng thêm.  Vừa vào một cái - đặt trên tấm trải giường cực kỳ bẩn thỉu, vì tạm kê thêm giường nên phải để ngay cửa ra vào, cứ mở ra mở vào cửa đã gây khó chịu ghe gớm cho người bệnh - tất cả những thứ đó lập tức khiến cho bệnh trạng thực sự nặng lên nhiều.  Hàng ngày phải truyền bằng ống suốt hai mươi bốn tiếng đồng hồ để cung cấp dưỡng khí, bình đựng oxygen bên ngoài vỏ đã bong sơn, chỗ nào cũng đầy những vết gỉ giống như một quả tên lửa bị phế bỏ, đặt đứng bên ngoài cửa buồng bệnh vì buồng bệnh quá nhỏ.  Để đảm bảo được độ ẩm nhất định, khí oxygen nhất thiết phải đi qua một ống đựng nước bằng thuỷ tinh.  Trong ống đó thỉnh thoảng lại nổi lên một cái bong bóng rất nhỏ, giống như nước đun sôi yếu quá không thể sôi lên được, sau đó thì trở lại tĩnh lặng như thường.  Đó là sự sống chết rất không ổn định, rất miễn cưỡng và duy nhất đối với cuộc đời Nghê Ngô Thành vậy.
Và truyền dung dịch đường Gluco với nước muối sinh lý.  Bình dung dịch vạn năng được treo bơ vơ trơ trọi trên đầu cây giá sắt dựa vào thành giường, sự vạn năng của nó dường như là để đánh dấu sự đối mặt với cái vô năng của con ma bệnh và tử thần thì phải.  Tiêm thuốc cầm máu và thuốc điều chỉnh huyết áp, khi phát hiện huyết áp thấp thì nâng nó lên, ngược lại thì hạ nó xuống.  Thế là không bị bứt rứt nữa, ông ta đã nhắm được mắt lại, thở như rên rẩm vì đau đớn nặng nề, trên mặt hình như có thoảng qua một vẻ gì không thể hiểu nổi, không đáng kể gì hay sao.  Trải qua một loạt các động tác xử lý như trên, mỗi ngày người bệnh đã có thể nuốt được vài thìa bột ngó sen.
Con đã về rồi đây, con đã đến nhà bác Sử Phúc Cương ở thành phố H, bác Sử Phúc Cương không có nhà, nhưng bác gái Sử có nhà.  Bác ấy gửi lời thăm hỏi ba.
Ở, ờ, tốt, cảm ơn.  Cảm ơn bà Sử.
Con đã hỏi bác sỉ rồi, họ nói không có vấn đề gì lớn, nhất định sẽ khỏi thôi, sẽ rất nhanh khỏi thôi.  Họ sẽ tận tình chữa chạy, ba không nên sốt ruột...
Ờ, ờ, tốt.  Cảm ơn bác sĩ, cảm ơn thày thuốc.
x x x đến thăm ba đấy...
Cảm ơn x x x...
Không mở mắt, việc mở mắt đối với Nghê Ngô Thành từ lâu đã không còn ý nghĩa.  Ông ta bị mất thị giác đến gần mười năm rồi.  Đó là thời kỳ mới đến trường vừa học vừa làm "mùng bảy tháng năm" được ít lâu thì phát hiện bị đục thủy tinh thể và tăng nhãn áp, phải mổ mới chữa được.  Bệnh viện cấp huyện chưa bao giờ làm thủ thuật đó.  Lúc bấy giờ bác sĩ chân đất đang chiếm lĩnh trận địa y tế, Nghê Ngô Thành đã đột ngột thể hiện thái độ, ông ta rêu rao mình kiên quyết ủng hộ bác sĩ chân đất một sự vật mới mẻ của chủ nghĩa xã hội.  Ông ta sẵn sàng dùng đôi con ngươi của mắt mình để ủng hộ.  Sự nhiệt tình ủng hổ đến mức như vậy của ông ta thậm chí đã khiến những người phái tả chuyên chính của quần chúng vốn đang tiến hành giám sát việc cải tạo ông ta cũng phải ngạc nhiên đến trợn mắt há miệng.  Theo qui định "sáu điều của công an" Nghê Ngô Thành vốn không được tham gia cách mạng văn hóa, nay bỗng dưng trở nên "tả" đã khiến phái "tả" đỏ chân chính đang thời đầy đủ lẽ phải cũng phải giật mình thất sắc.  Rồi sau đó ông ta đã gần như mất hẳn thị lực.  Anh có cách nào có thể chứng minh, đôi mắt đó nếu không giao cho thày thuốc chân đất, thì sẽ nhất định chữa được?  Nghê Ngô Thành hùng hồn phản bác lại người bạn thân đã oán tránh các thày thuốc chân đất và cũng oán trách Nghê Ngô Thành đã quá cả tin.
Mấy năm sau, bị vấp ngã gẫy mất xương cẳng chân bên phải - xương cẳng chân của ông ta vốn đã quá nhỏ (điều đó khiến ông ta từ nhỏ đã cảm thấy rất tiếc xót rồi).  Sau nửa năm xương cẳng chân ông ta đã liền lại được, nhưng cơ bắp của cả hai bên chân đã teo hết đi, ông ta không thể nào đứng dậy được nữa...
Sau khi nằm viện được một tuần lễ, ông ta bỗng nhiên nói rất chậm rãi nhưng rành rọt rằng: "Có lẽ không cần phải lâu nữa đâu nhỉ?  Khi ba còn trẻ, khi bà sắp mất, bà đã từng nói con người hít một hơi thở, cũng chẳng dễ gì.  Câu nói đó đến giờ ba vẫn còn nhớ đấy."
Một lúc sau ông ta lại nói: "Căn buồng kia vẫn còn để không đấy."
Rồi cứ thế mà lẳng lặng đi vào giấc ngủ, trong y học gọi là hôn mê, gọi là nhũn não.
Lại thêm bốn ngày nữa, trải qua nhiều lần cấp cứu.  Cuối cùng đã đến một thời điểm, tiếng chuông điện chói tai vang lên, tất cả các bác sĩ đều chạy tới, hô hấp nhân tạo, xoa bóp tim... giống như là nghi thức hơn.  Tất cả đều không cần thiết nữa.  Mọi người đã yên tâm rồi.
Con người cao lớn như vậy mà khi chết cuộn lại chỉ còn một nắm, hốc mắt, đôi má, lồng ngực đều lõm sâu xuống.  Giống như một con tằm nhả tơ trở thành nhộng nằm trong kén, nhưng không được đầy đặn như con nhộng thật.
Nghê Tảo nói, cha chết rồi.   Suốt đời ông theo đuổi vinh quang nhưng chỉ có thể đem lại cho mình và người khác nhục nhã.  Suốt đời ông theo đuổi hạnh phúc, nhưng chỉ đem lại cho mình và người khác đau khổ.  Suốt đời ông theo đuổi tình yêu, nhưng chỉ đem lại cho mình và người khác sự thù hận.
Tịnh Nghi nghe tin Nghê Ngô Thành chết thì nói, ông ta chết đi là trừ cho xã hội một mối họa.  Tôi hận ông ta.  Chết rồi vẫn còn hận ông ấy.  Hận chết đi được.  Tịnh Nghi đã già lão rồi mà khi nói đến ông ta vẫn xanh tái mặt.
Chỉ có Nghê Bình là có con mắt thấu suốt như mắt tuệ, Nghê Bình cho rằng Tịnh Nghi nói như vậy thực sự lại phản ánh chút tình cảm còn sót lại nào đó đối với Nghê Ngô Thành.
Người con thứ ba của Nghê Ngô Thành với Tịnh Nghi, em gái Nghê Bình và Nghê Tảo là Nghê Hà cho đến khi ông ta chết vẫn không chịu gặp mặt.  Nghê Tảo cũng đã từng báo tin cẩn thận cho Nghê Hà về tình trạng nguy kịch của cha, nhưng cuối cùng vẫn không gặp.
Trong mười năm, sau khi Nghê Ngô Thành bị mù, việc muốn gặp mặt Nghê Hà dù chỉ một lần đã giày vò ông ta cơ hồ muốn phát điên.  Đã mấy lần, sau khi gặp Nghê Tảo, ông ta đã nói tới nguyện vọng muốn gặp Nghê Hà, ông ta nói ông ta chỉ mong nghe được một tiếng nói của Nghê Hà, sờ bàn tay Nghê Hà, dù Nghê Hà có từ chối không gọi ông ta là ba cũng chẳng sao.  Ông ta dẫn ra câu chuyện về bà mẹ của một danh nhân nước ngoài, người mẹ đó bị mù, ngày đêm bà mong nhớ con trai, bà chỉ muốn được nắm tay con mình một lần thôi, nhưng bà không thể thực hiện được nguyện vọng của mình, bởi vì con trai bà đã chết trước mất rồi.  Bà yêu cầu, dù chỉ còn nắm xương, thì bà cũng phải tận tay chạm vào một lần... Nói đến đây, Nghê Ngô Thành tu tu lên khóc, sau đó ông ta lại kể cho Nghê Tảo câu chuyện về con chó của Paplop mà ông ta đã kể bao nhiêu lần.
Ông ta phẫn nộ nói bằng giọng tố cáo rằng, thái độ của Nghê Hà đối với ông ta là ngược đãi ông ta, là cố tình lạnh nhạt, là giày vò, là mưu sát không đổ máu.  Sự khóc lóc và giọng điệu sắc sảo của ông ta khiến Nghê Tảo đồng tình thông cảm, mà cũng khiến Nghê Tảo bất bình và chán ghét.  Những lời nói kiểu như vậy Nghê Tảo đã nghe suốt mấy chục năm, suốt từ trước giải phóng cho đến sau giải phóng, suốt từ thời thơ ấu cho đến tuổi thanh niên, trung niên đủ quá rồi!  Xa rồi thì không nói, hơn ba mươi năm từ khi giải phóng đến nay, từ khi Nghê Tảo chẳng qua mới mười mấy tuổi đã chẳng phải là con trai tố khổ, phàn nàn cầu xin giúp đỡ với cha, mà trái lại cha cứ tố khổ, phàn nàn đưa tay xin trợ giúp đối với con.  Mỗi lần gặp mặt, gần như Nghê  Ngô Thành đều phải kể về sự bất hạnh của mình, sự nhục nhã của mình, sự đau khổ của mình.  Cứ nghĩ đến việc mình trong thời thiếu niên, thanh niên khi phải nghe những lời như vậy thì không chịu nổi ra sao, giống như lên cơn sốt thế nào thì Nghê Tảo không tránh khỏi cơn bức xúc phát cáu.  Trên đời có người cha nào như vậy không?
Ông ta lại đi phát cơn thần kinh, lại kêu giời kêu đất lên với một đứa con mười lăm tuổi, mười sáu tuổi, mười bảy tuổi, mười tám tuổi... ông ta lại đi khoác cái gánh nặng của tâm hồn mình cho con trai nữa chứ... Vậy mà từ khi ra tự lập, trái lại con trai đã chẳng bao giờ quấy quả cha mình bất cứ việc gì.  Nếu nói cuộc sống đã ghẻ lạnh Nghê Ngô Thành thì Nghê Ngô Thành đã chả chà đạp, làm lỡ, phản bội cuộc sống gấp mười gấp trăm lần hay sao?  Rốt cục ông ta đã làm được một chút việc nào đó cho gia đình, xã hộ, tổ quốc, và người khác chưa?  Cứ nghĩ như vậy mãi thì Nghê Tảo chỉ có thể run lên mà thôi.
Việc Nghê Hà triệt để cắt đứt với cha chắc về đại thể cũng từ đó mà phát triển lên đấy, tuy Nghê Tảo không biết những tình tiết trong đó.  Dưới sự gương mẫu dẫn dầu của Nghê Bình và Nghê Tảo, lại được sự cổ vũ vào niềm tin và chân lý "trong xã hội mới, quan hệ giữa người với người đều là mới, là lương thiện, là tốt đẹp", cuối những năm năm mươi, đầu những năm sáu mươi, cô thiếu nữ Nghê Hà đã từng đối đãi với người cha hết sức thân thiết và cảm động, tuy trong ký ức của cô hầu như chưa hề có một người cha như vậy, hơn nữa hồi mới giải phóng cha đã ly hôn với mẹ mà cô thì tất nhiên là theo mẹ chứ.  Thái độ đối đãi với cha đã từng không hề khác gì bất cứ một cô gái nào đối đãi với cha đẻ của mình.  Cô đã mua thịt thủ lợn cho cha nhắm rượu, cô khuyên cha hút bớt mấy điếu thuốc.  Cô đi hàng giờ xe đạp để đến thăm cha.  Thế nhưng thần kinh của Nghê Hà rốt cục không đủ sức chịu đựng những lời ca cẩm lải nhải dài dòng của cha.  Cô ý thức rất rõ rằng nếu không cắt đứt hẳn việc đi lại với cha thì sẽ có thể trở thành một cọng rơm mà cha vớ được trong suốt cuộc đời chết đuối dưới nước, ông ấy sẽ kéo hết người này, người khác cùng chết đuối với mình.  Sau đó cô con gái đã giận dữ đến mức độ như vậy, khiến cho Nghê Tảo cũng phải giương mắt mà nhìn.
Chỉ là một năm cuối cùng vừa qua, Nghê Ngô Thành không nói gì đến việc Nghê Hà nữa.  Ông ta đã hết hy vọng rồi.  Tựa hồ ông ta tự biết là không thể được, tuy ông ta không để lại bất cứ lời trăng trối gì, cũng không tỏ ra nghi ngờ đối với "bệnh sẽ khỏi nhanh thôi mà".  Trong những giờ phút cuối cùng phản ứng của ông ta đối với một số người, một số việc, chỉ còn lại là "cảm ơn". Cuối cùng ông ta không chửi người nữa, không kêu trời đất nữa, không phàn nàn ca cẩm gì nữa.
Chẳng lẽ đối với một con người như vậy, cái chết đúng thực là một thứ an ủi, một kiểu giải thoát thật sao?
Hơn nữa, trên thực tế, sau khi ông ta chết, những người nhà của ông ta đã sống nhẹ nhõm hơn, đơn thuần hơn, dễ dàng hơn một tí.  Một người thân ruột thịt đã khóc hết hơi sau khi ông ta chết, đó là một người duy nhất đã khóc ông ta thành tiếng.  Cô vừa khóc vừa nói, đến bây giờ tôi mới nghĩ ra được điểm tốt của ông.  Sự thực đúng như vậy, ông ta chỉ sau khi chết mới được người khác nghĩ ra được điểm tốt của mình.  Những người lãnh đạo và nhân viên hữu quan ở "đơn vị sở tại" của ông ta rốt cục cũng đã thở ra một hơi dài vì cái chết của ông ta.  Cái đơn vị đó cũng thật là "xúi quẩy đến đổ cả máu" vì có một nhân viên công tác như ông ta, mà lại có một nhân viên về hưu như ông ta, một người mà mấy tháng trước khi chết mới được thực hiện chính sách để từ một tên "phản cách mạng trong lịch sử" lại trở thành một nhân sĩ "lão đồng chí rời chức nghỉ hưu".  Cuối cùng cũng đã cử hành nghi thức vĩnh biệt di thể Nghê Ngô Thành trên bục kệ bên cạnh nhà lạnh ướp xác trong buồng tang lễ.  Lễ tang tiễn biệt thật là thờ ơ lạnh nhạt, qua loa quýt luýt.  Mọi người chỉ mong sao những thủ tục đó mau chóng kết thúc.
Mang tới được một chút sinh khí đó là những anh em thu xác của nhà hỏa táng.  Gia quyến "theo qui định" đã cống cho họ tiền hương khói và rượu, họ cứ hi hi ha ha, có một kiểu dương dương tự đắc rất siêu thoát của những kẻ đắc đạo.  Mặc dù gia đình đã nói ra những câu van nài, nhưng vẫn không tránh khỏi sự nghiêng ngả xóc nẩy của linh xa trên đường vận chuyển cái thi thể chưa tan hết hơi lạnh trong nhà ướp xác.  Đó là một cửa ải sinh ly từ biệt cực kỳ thảm thiết thê lương.  Vẫn còn ở khá xa bắt đầu nghe thấy từ nơi đó vọng tới tiếng khóc đau đớn xé ruột xé gan như điên như cuồng của gia quyến người chết.  Mấy người cùng khóc lóc đau đớn thất thanh, lôi kéo một người phụ nữ khóc lóc thê thảm  nhất chỉ chực lao mình vào lò thiêu.  Tiếng khóc đó vừa như khóc vì người chết, lại vừa như khóc cho chính mình.  Một đời người, một đời người, có ai trốn thoát được số phận bắt đầu bằng tiếng khóc to chào đời, rồi cuối cùng kết thúc cũng bằng tiếng khóc như cuồng như dại kia không?  Và có ai lại không khóc một trận thật to khi hồi tưởng lại cả cuộc đời mình chứ?
Đội ngũ đưa ma cho Nghê Ngô Thành thật là tĩcnh lặng chưa từng thấy.  Tĩnh lặng đến mẫu mực.  Không có nước mắt.  Không có tiếng nghẹn ngào nức nở. Tất nhiên, càng không có tiếng gào khóc thảm thiết.
Không để người khác, bất cứ người nào thực sự đau khổ vì cái chết của mình, điều đó có lẽ là một việc tốt duy nhất trong suốt cuộc đời mà Nghê Ngô Thành thực sự đã làm được.
Sau đó làm thủ tục đặt một lọ đựng tro xương với giá tương đối thấp.  Và đã kết thúc một cách vĩnh viễn như vậy.  Còn một chi tiết nữa là người chết cho đến chết vẫn chưa kiếm nổi cho riêng mình một chiếc đồng hồ đeo tay.

Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
Trang 521 - 535

thành tựu, thiên tài là một chuổi dài cần mẫn, trong khoa học không có con đường nào rộng rãi bằng phẵng...
Nhưng ba không phải là thánh nhân.  Ba đã nói với con từ lâu rồi, có hai vấn đề vẫn áp bức, trở ngại ba phát huy tiềm lực.  Thứ nhất là hôn nhân và gia đình của ba.  Thứ hai là địa vị xã hội của ba.  Ba đã quá cái tuổi "bất hoặc" từ lâu rồi, ba không còn có thể tìm được sự tôn trọng và lý giải.
Nghê Tảo đã phát cáu lên, cậu bắt đầu tranh luận với cha mình, một con người có chí khí mà lại có thể như vậy ư?  Mao chủ tịch nói, nguyên nhân bên trong là căn cứ của sự biến hóa, sao ba lúc nào cũng cứ lằng nhằng nói mãi, nhấn mạnh điều kiện bên ngoài thế?  Ba đã đọc một câu chuyện đồng thoại của An Đồ Sinh chứ nào? Nói rằng có một nấm mồ với cả ba bia mộ.  Trên bia mộ viết, ở đây yên nghỉ một nhà thơ vĩ đại, nhưng ông ta chưa kịp viết ra một câu thơ nào.  Còn viết rằng, ở đây chôn một vị tướng lĩnh vĩ đại, nhưng ông ta vẫn chưa có cơ hội thống lĩnh quân đội.  Ở đây chôn một nhà phát minh, nhưng tất cả những ý tưởng phát minh vẫn còn nằm trong đầu óc của ông ta...
Nghê Ngô Thành cũng tỏ ra bi phẫn.  Trong chuyện ngắn "AQ chính truyện", địa vị thấp nhất là một ni cô trẻ.  Đến thằng cu D  mà AQ còn không đánh nổi, thế nhưng AQ còn sờ được vào cái đầu trọc của ni cô.  Ni cô chỉ biết khóc mà chửi một câu "Thằng AQ chết tiệt".  Còn ba thì sao?  Địa vị của ba bây giờ còn không bằng ni cô.  Ba là phó ni cô đấy.  Cái "bọn AQ" đã từng thất bại dưới tay cu D và thủ hạ của Vương Hồ, khi gặp cụ cố Triệu vẫn phát run lên ấy vậy mà chúng đều có thể tùy tiện sờ đầu ba.  Còn ba, đến một câu "Đồ chết tiệt" cũng không dám chửi.  Nói vậy tức là, có mấy kẻ tư chất thấp lè tè, đã chẳng có chân tài thực học, lại chẳng có nhiệt tình cách mạng chân thành, đúng như bọn AQ kia, bọn họ nhắm vào đầu ba để sờ vì cho là dễ mó.  Họ coi ba là phần tử lạc hậu, là tay lõi đời, là đồ ăn hại.  Thậm chí họ còn phê bình ba là đồ vô công rỗi nghề, vô tích sự, chỉ biết có bơi...   Cứ như vậy, thì ba chắc phải từ chức, kiếm một cái bếp than, về làm bà nội trợ.  À, không phải, ba phải làm ông nội trợ chứ.  Tranh luận kiểu đó khiến Nghê Tảo cảm thấy tức nghẹn cả thở.  Còn may Nghê Tảo đang là lúc rất vui vẻ hân hoan ôm vào lòng cuộc sống mới đầy phấn khởi, nên mới đỡ bị kích thích mà hóa ra mất ngủ về cái kiểu nói nào là "phó ni cô", nào là "ông nội trợ' rất khó chịu kia.
Khi sắp kết thúc một cuộc tranh luận, khi Nghê Ngô Thành sắp cáo biệt với con trai (nói chung thường là Nghê Ngô Thành đến tìm con trai, bởi vì con thì bận mà bố thì nhàn), thì đa phần là đã xoay chuyển được tâm trạng trở lại bình thường.  Ông ta sẽc nói, ba lạc quan về tiền đồ lắm chứ.  Đã có chủ nghĩa Mác Lê nin và tư tưởng Mao Trạch Đông chúng ta chẳng có khó khăn nào là không thể khắc phục.  Những khó khăn và những lời oán thán kia, dù sao cũng chỉ là tạm thời thôi.  Theo đà tiến triển của công cuộc xây dựng và cải tạo xã hội chủ nghĩa, tất cả những khó khăn kia sẽ phải tan thành mây khói.
Thái độ thể hiện sau cùng đó quả thật không giống sự giả trá vờ vịt một tý nào.  Một mặt là những ca cẩm oán hờn vô kể với tình trạng cụ thể xung quanh, một mặt là những lời ca tụng thủy chung như nhất đối với đảng đối với chủ nghĩa Mác - Lê nin đối với tư tưởng Mao Trạch Đông đã mấy mươi năm, như một ngày không hề thay đổi.  Nghê Tảo không thể nào lý giải nổi tại sao hai mặt đó  lại thống nhất được trong con người của cha mình, cũng như vậy Nghê Tảo không tìm thấy bất kỳ sự cần thiết và khả năng nào khiến cha mình phải ca tụng một cách vờ vịt.  Ở đây không có bất cứ một động cơ để phải làm hàng giả như vậy.  Vào đảng?  Đề bạt?  Chiếm chỗ tốt?  Tất cả những tính toán đó đều không liên quan đến Nghê Ngô Thành.
Năm một chín năm tư Nghê Ngô Thành tuyên bố phải viết một bài luận văn phê phán chủ nghĩa thực dụng của giai cấp tư sản.  Nghê Tảo hơi có ý hoài nghi về việc đó, chẳng lẽ cha lại là người Mác xít Lê nin?  Thật quả là chuyện đùa, là sự chế nhạo đối với chủ nghĩa Mác - Lê nin.  Sau hai tuần, đã viết xong.  Gửi cho một tờ báo lớn, lại qua hai tuần nữa, tòa soạn báo gửi bản sao tới cho tác giả.  Nghê Ngô Thành sướng điên, gặp ai cũng lấy ra cho xem bản sao mà tòa soạn báo gửi trả lại, gặp ai cũng tuyên bố đó là bước ngoặt lớn trong sự nghiệp của mình, đó là một thời cơ đáng kể trong cuộc sống, gặp ai cũng ngở lời mời, khi nào lĩnh được nhuận bút sẽ mời các bạn bè một bữa.  Đồng thời còn lấy ý kiến trước, mọi người thích ăn ở  "Đồng Hòa Cư" hay "Thúy Hoa Lâu"?  Nhà hàng vịt quay hay nhà hàng hải sản?  Liền trong bao nhiêu hôm, chân bước thong dong, nụ cười tươi mở, khảng khái rộng rãi...  như mọc cánh mà lên tiên.
Sau khi đã sửa chữa hiệu chỉnh bài viết hai lần, sau khi đã thông báo không biết bao nhiêu lần với bạn bè và con cái là bài viết sẽ đăng báo trong nay mai, thì ông ta được tòa soạn báo cho biết, bài báo kia không dùng nữa.
Ông ta mặt tái đi như chàm đổ, cơ hồ bị đánh ngã lăn ra đất.  Ông ta đạp xe đến nửa tiếng đồng hồ để đi tìm Nghê Tảo đã sống và làm việc độc lập từ lâu, miệng nói mà răng đánh vào nhau lập cập.  Tiếp đó là liền bị đau bụng đi ngoài, không tự đứng dậy được...  Rồi ông ta chửi tòa soạn báo, rêu rao là toà soạn báo giỡn hớt và lăng nhục mình, rêu rao là trong tòa soạn có người ăn cắp văn chương và luận điểm của ông ta.  Một tuần lễ sau ông ta già hẳn đi.
Năm một chín năm nhăm, trong phong trào quét sạch phản động, ông ta bị moi ra.  Tội danh là Hán gian và hiềm nghi gián điệp quốc tế.  Tội thứ hai đó chỉ vào việc ông ta có đi lại, quan hệ với Sử Phúc Cương và một số người nước ngoài.  Trong thời gian bị phe đấu, ông ta hết sức ngoan ngoãn hiền lành, không một lời oán thán.  Ông ta thừa nhận trong toàn bộ thời kỳ chiến tranh kháng Nhật, những lời nói việc làm của ông ta giống như đồng bọn với Hán gian.  Trước mặt lão đồng chí kháng chiến hy sinh đổ máu, ông ta thừa nhận mình là đồ đốn mạt của toàn dân tộc.  Ông ta tỏ ý sẵn sàng chấp nhận sự phán xử của tổ quốc.  Khi nói câu đó tay phải của ông ta vung lên mạnh mẽ, cởi chiến cúc áo thứ hai ra, y như nói rằng ông ta sẵn sàng nhận một viên đạn vào chỗ đó.
Phê đấu tưng bừng một trận xong, cũng chưa đấu được ba bảy hai mươi mốt người, thì liền gác lại coi như xong.  Cuộc vận động coi như đã kết thúc, tuyên bố vấn đề của Nghê Ngô Thành thuộc vấn đề lịch sử thông thường.  Thế là Nghê Ngô Thành bắt đầu xúc động bi phẫn ngay lên, ông ta gặp người là luôn kể câu chuyện Tư Mã Thiên bị cung hình, bị lăng nhục cái từ trước kia đã thích dùng nay lại trở thành một từ đầu lưỡi.  Đồng thời, bất luận ở trong hay ngoài cuộc họp, trong trường hợp công việc chung hay riêng, ông ta đều thanh minh rằng, ông ta tuyệt đối không vì cá nhân bị lăng nhục mà dao động niềm tin đối với đảng cộng sản Trung Quốc vĩ  đại, đối với chủ nghĩa Mác Lê nin vĩ đại, đối với tư tưởng Mao Trạch Đông.  Mấy câu nói về sau kia, cùng với những câu tương tự mà ông ta thường xuyên không bao giờ quên nhắc lại đó đã phù hộ cho ông ta được bình an vô sự mà sống qua hết năm một chín năm bảy.  Có mấy người đồng sự, ông ta cho là có vai trò như loại AQ và thằng cu D bắt nạt ni cô đã bị moi móc, bị phê đấu bị xếp vào loại phần tử trong cuộc đấu tranh chống phái hữu năm một chín năm bảy, điều đso khiến ông ta cảm thấy như mình trở thành phái tả sung sướng trong bụng.  Đấu phái hữu là cần thiết, tốt. Một vị cán bộ làm công tác chính trị đã trải qua việc tổ chức phê đấu mà đề cao được uy tín của mình lên đến đỉnh điểm, vị ấy đã nói chuyện với Nghê Ngô Thành một lần.  Bảo rằng anh vẫn còn phải theo yêu cầu cách mạng đấy nhé... Ít nhất cũng phải trên đầu môi chót lưỡi mới xong.
Nghê Ngô Thành thường hay trích dẫn lại lần nói chuyện đó, vừa nói vừa cười, hơi có vẻ thú vị cái chất hài hước ở đó.  Và lại tự giễu rằng, đó mới thực là sự sỉ nhục lớn nhất.
Năm một chín năm tám trong phòng trào đại nhảy vọt ông ta đã mấy lần ghi tên xin đi tham gia lao động.  Trên đầu môi chót lưỡi, ông ta bày tỏ thái độ sẵn sàng đối với sự vinh quanh vĩ đại tốt đẹp của lao động.  Ông ta dẫn lời của Paplop rằng, tôi thích lao động trí óc, mà cũng thích lao động chân ta.  Ông ta lại dẫn chứng ví dụ về Spi nô da, Spi nô da là nhà triết học nổi tiếng của Hà Lan, nhưng suốt đời lấy việc mài mắt kính để sống.  Ông ta ca ngợi lao động chân tay rất chân thành, nhưng khi bắt tay vào làm thì hết sức lơ mơ.  Khi xuống nông thôn ông ta thường xuyên kêu ốm để xin phép nghỉ.  Có khi đứng ở bờ ruộng hút đến năm điếu thuốc rồi mới đi ra làm việc.  Gặp khi có người nghé mắt ngó nghiêng nhìn mình, ông ta liền kéo dài giọng, như đang cố bắt chước các vị lão thành cách mạng nhưng chẳng giống một tí nào, gọi lên một tiếng.  Đồng chí ơi, Lê nin nói không biết cách nghỉ ngơi thì cũng không biết cách làm việc.  Nhưng bác chỉ biết nghỉ ngơi mà không biết làm việc.  Người đồng chí đã đưa mắt nhòm ngó kia cau mặt lại nói vậy.  Đó tất nhiên cũng là...  khuyết điểm, Nghê Ngô Thàn cười to lên.  Nhưng ông ta lại có một cơn sốt cao ba mươi chín độ hôm đi làm cỏ ruộng lúa, đổ xuống ngay tại chỗ, mình dính đầy bùn đất, báo hại đến mấy người phải đến cứu chữa, săn sóc.  Có người tức quá nói toạc ra đó là ông ta cố tình phá bĩnh, bày trò ra để bôi nhọ chủ trương sáng suốt cho các phần tử trí thức tham gia lao động để cải tạo tư tưởng, và từ đó hễ có cuộc họp để nói tâm sự nào, là Nghê Ngô Thành liền đưa ra ngay ví dụ về việc mình bị ngã xuống ruộng nước, nói là qua đó có thể chứng minh rõ hơn quy luật của phép biện chứng duy vật, quy luật lượng đổi thành chất trong cơ thể người, sự yếu kém từ gốc của mình có tính tất yếu là phải "học bù lại bài từ vườn trẻ trở đi" (đó là một cách nói do ông ta sáng tạo ra, có vẻ sinh động hơn khẩu hiệu hành động "học lại từ đầu" đang lưu hành trên cửa miệng mọi người thời đó).  Rồi sau đó thì cãi nhau với người phụ trách đôi vì họ phê bình ông ta về việc hay la cà đến nhà nông dân uống rượu nào thì cảm thấy hoàn toàn xa lạ với việc nông dân uống rượu ăn thịt chó hả?
Sự khó khăn trong vấn đề cung cấp lương thực năm một chín sáu mươi khiến Nghê Ngô Thành phải xiêu hồn lạc phách.  Ông ta cứ nằm trên giường không chịu dậy, rên rỉ, kêu rêu là mình sắp chết đói đến nơi.  Hễ thấy bất cứ thứ gì có thể và vào miệng là ông ta sáng mắt lên ngay.  Năm một chín sáu mươi có được một cơ hội ăn cơm ở tiệm ăn cao cấp.  Ông ta ăn lấy ăn để, ăn đi ăn lại, ăn mãi không ngừng.   Đến tối thì bị viêm loét hành tá tràng.  Sau khi điều trị bằng thủ thuật ngoại khoa, ông ta lại già thêm bao nhiêu.
Năm một chín sáu sáu "đại cách mạng văn hóa" bắt đầu mở màn, mấy tên AQ thường ngày trong mắt Nghê Ngô Thành kia, liền căn cứ vào quy định "sáu điều của công an", nói Nghê là phần tử có lịch sử phản cách mạng, khôn được tham gia cuộc cách mạng này.  Ông ta bị lửa đốt trúng tim, sinh bệnh glocom, tăng nhãn áp lên rất cao.  Nhưng ông ta lại đi nói khắp nơi, rằng ông ta cho đây mới là một cuộc cách mạng sâu sắc triệt để nhất.  Từ lâu rồi ông ta đã mong mõi, đã đòi hỏi, đã sẵn sàng cho cuộc cách mạng này.  Đây là một cuộc cách mạng giống như "ý niệm tuyệt đối" tinh thần tuyệt đối mà Nghê thường nói.  Tức là phải gắng hết sức để thiết lập quyền uy tuyệt đối.  Không dám làm đến tuyệt đối, đó chính là chỗ yếu chí mạng của tất cả các phần tử trí thức tư sản.  Ông ta thể hiện sự kính trọng đối với người lãnh đạo của cách mạng văn hóa.  Trong đó tất nhiên bao gồm đồng chí Giang Thanh kính yêu.  Ông ta thốt ra cái tên đó cực cung cực kính mà hơi có vẻ cảm tình, lại vô cùng cẩn trọng nữa.  Khi ông ta nêu ra việc ủng hộ phá bỏ tư tưởng cũ, văn hóa cũ, phong tục cũ, tập quán cũ, tất cả  bốn cũ đó, ông ta kích động đến mức khiến cho sự rung thanh đới xảy ra biến dị, phát ra một giọng nghẹn ngào rưng rưng có sức truyền cảm khá kỳ lạ.  Hiển nhiên là ông ta sẵn sàng quyết một trận tử chiến với bốn cũ.  Ông ta nói chỉ có Mao Trạch Đông đảng cộng sản mới có thể phát đi lời kêu gọi vĩ đại như thế, để tuyên chiến với bốn cũ muôn vàn tội ác.  Tội cũng là bốn cũ, bị vây hãm bởi bốn cũ, vì nó mà đau khổ không thiết sống, mà lại không thể tự thoát ra được.  Bốn cũ hại cho con  người đến chết được.  Bốn cũ khiến cho Trung Quốc rơi vào vòng nguy hiểm của xét lại, của thay đổi màu sắc, của vong quốc diệt chủng!  Nếu vì phá bỏ bốn cũ mà cần phải trừ bỏ tôi, hoặc tiêu diệt thể xác tôi, tôi vẫn giơ hai tay tán thành!  Cầu nhân từ được nhân từ, chết cũng không tiếc, thà chết để bảo vệ, kiên quyết ủng hộ, muôn năm muôn năm muôn muôn năm!
Phát ngôn của ông ta đã khiến những hồng vệ binh, "côn đồ bằng vàng" và AQ trước kia đang cảnh giác lắng nghe và xét nét ông ta, đều phải trợn tròn cả mắt.  Đối với những kẻ thuộc phần tử đã được quy định trong sáu điều của công an kia, bọn họ vốn rất hăng hái và biết cách phê phán nhất, nghe một câu phê mười câu, phê đến nỗi trên người không còn một mảnh da nào được lành nữa.  Những giờ đứng trước phát ngôn "cách mạng" xúc động lòng người đến thế của Nghê Ngô Thành, bọn họ lại đâm lúng túng không biết phải phê thế nào mới được.  Cuối cùng một vai giống như là loại tổ trưởng chuyên chính cầm đầu bọn họ đành phải gắng gượng nói mấy câu cửa miệng, thừa nhận Nghê Ngô Thành thái độ của anh cũng còn tốt đáy, nhưng hôm nay đối với người như anh mà nói, chủ yếu vẫn là vấn đề nhận tội và cải tạo, là vấn đề người khác cách cái mạng của anh, chứ không phải anh đi cách mạng cái gì cả.  Anh cần phải biết thân phận của mình.  Chỉ được tuân theo qui củ nghiêm ngặt, không được phép nói năng hành động lung tung, hội nghị đến đây giải tán.  Nếu không lập tức giải tán cuộc họp, biết đâu Nghê Ngô Thành còn nói ra bao nhiêu lời lẽ cách mạng mẽ cao thượng hơn vừa rồi nữa.
Sau năm một chín bảy tám, con gái lớn Nghê Bình chế nhạo Nghê Ngô Thành lúc bấy giờ đã gần như mù hẳn, về những ngôn luận cực tả trong thời kỳ đầu cách mạng văn hóa và nói ông ta thật giống một chú hề.  Nghê Ngô Thành ngượng nghịu cười cười, nói ta ủng hộ phá bỏ bốn cũ, đúng thế, đến nay vẫn hy vọng phải chi thực sự có thể phá bỏ được bốn cũ, ba cảm thấy đáng tiếc nhất lại chính là chúng ta chưa hề thực sự phá bỏ bốn cũ gì sất cả.
Nói cho công bằng thì sự cầu tiến bộ của Nghê Ngô Thành không chỉ ở những ngôn luận cách mạng kinh người của ông ta.  Ông ta còn bỏ rất nhiều sức lực ra đọc sách Mác Lê nin.  Trong đó ông ta đọc một cách chăm chú nhất là hai cuốn "chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán" với "bút ký triết học" của Lê nin.  Ông ta đã mấy lần cầm đến cuốn "tư bản luậ" nhưng vẫn chưa vào.  Tuy thế, đối với trước tác triết học của Lê nin, thì ông ta chăm chú đọc nghiên cứu hẳn hoi, chăm chú ngân nga thưởng thức, gạch dưới bằng bút đỏ hết chương này đến chương khác, rồi đánh dấu khen hay, rồi phê ra lề sách, rồi chấm than chấm hỏi, tự cảm thấy nhiệt tình vô tận, khoái chí vô cùng.  Hơn nữa hễ đọc được một chút, tự thấy tâm đắc một chút là ông ta liền không để bụng được, phải vội đi nói với người khác ngay.  Có khi chỉ vì việc đó mà phải đi gọi mất bốn xuất tiền điện thoại công cuộc để nói chuyện với một số không nhiều bạn bè về thu hoạch mới đi đọc Mác Lê nin.  Có một lần gọi điện thoại cho Nghê Tảo lúc đó đang vội đi họp, nói hôm nay ba đã được sống một ngày vui vẻ nhất, vì ba đã đọc lại một lần nữa bài phê phán của Lê nin đối với "chủ nghĩa duy tâm thực chứng", mà đó là vấn đề triết học cơ bản.  Đối với ông ta mà nói, đó là vấn đề xúc động lòng người, vấn đề có ý nghĩa yên thân lập nghiệp.  Khổng Phu Tử đã nói rồi, sáng còn được nghe đạo thì chiều chết cũng đáng.  Hôm nay một lần nữa ông ta lại được nghe đạo, ông ta rất cao hứng, ông ta hy vọng nội trong tuần sẽ đi ăn một bữa "cua thi đấu" ở quán Khang Lạc với Nghê Tảo.  Sau đó ông ta chửi rủa những nhân vật như Vương Hồ, cu D (theo quan niệm của ông ta), tiếng rằng cũng viết sách lập thuyết lớn tiếng vỗ ngực chủ nghĩa Mác Lê nin, nhưng từ trước bọn người đó đều là những kẻ tuyên truyền lý học Trình Chu, tuyên truyền chủ nghĩa duy tâm chủ quan của giáo chủ Boc giay nhá, cứ bằng vào phẩm chất năng lực thấp như vịt ấy - đến bơi mà còn không biết kia mà - thì họ làm sao hiểu nổi chủ nghĩa Mác Lê nin?
Những lời phàn nàn ca cẩm kiểu như "phó ni cô", "ông nội trợ" gì gì của cha đã luôn khiến hco thần kinh của Nghê Tảo phát sốt ruột.  Cha đối với Nghê Tảo vốn vẫn rất tốt, Nghê Tảo cơ hồ đã trở thành người duy nhất chịu nghe ông ca cẩm oán thán và nói chuyện lý luận.  Khi sức khoẻ còn tốt Nghê Ngô Thành đã hết lần này đến lần khác đi tìm Nghê Tảo đến mức Nghê Tảo cảm thấy không thể chịu nổi nữa.  Thế là Nghê Tảo không thể không thực hiện biện pháp tự bảo vệ, không thể không luôn từ chối lời mời củ cha, có khi cha đến tìm, cậu cũng chỉ có thể gạt ông ta sang một bên, rồi cuối cùng phải ra lệnh tiễn khách.  Nếu không thì công tác, học tập, sinh hoạt, nghỉ ngơi của cậu sẽ phải chịu sự quấy nhiễu vô cùng vô tận, được đằng chân lấn đằng đầu mất.
Trong những năm cuối đời của Nghê Ngô Thành, tựa hồ như ngày nào ông ta cũng chờ đợi Nghê Tảo đến.  Nhưng Nghê Tảo lại quá bận bịu, có khi hơn một tháng, có khi hơn hai tháng cậu mới đến được một lần.  Khi đến Nghê Tảo cũng chỉ có chút mục đích giản dị thôi, cậu định vui vẻ thăm hỏi về cuộc sống hàng ngày của cha, rồi cũng định nói qua về mình và cuộc sống của mình.  Đương nhiên Nghê Tảo đã thành gia lập nghiệp, lấy vợ đẻ con, hơn nữa cũng đã trải qua một phen dâu bể.  Nhưng khi gặp mặt rồi, Nghê Ngô Thành không để cho con trai một chút xíu cơ hội nói năng nào sất, thậm chí không để cho con trai một chút xíu cơ hội vấn an mình nữa.  Hình như Nghê Ngô Thành cứ sợ mất cơ hội để nói chuyện với con trai thành thử luôn phải vội vội vàng vàng nói hết chuyện này chuyện khác, chẳng chuyện nào đến đầu đến đũa, đông một nhát cuốc, tây một nhác vồ.  Ông ta nói ông ta giống con quỷ trong câu chuyện ông đánh cá của sách một ngàn lẻ một đêm ấy, con quỷ bị nhốt trong chiếc bình chìm xuống đáy biển.  Trong năm vạn năm đầu tiên, con quỷ nghĩ nếu có ai cứu ta ra khỏi thì ta sẽ đem tất cả số vàng trên thế giới ra tặng người đó.  Năm vạn năm lặng lẽ trôi qua, chẳng có ai cứu nó.  Năm vạn năm thứ hai bắt đầu đến, con quỷ trong bình nghĩ, nếu có người cứu ta, ta sẽ đem châu báu của toàn thế giới tặng người đó, lại năm vạn năm nữa lặng lẽ trôi qua, vẫn không có người đoái hoài đến nó.  Thế là từ yêu đã chuyển thành oán hận, từ hy vọng đã biến thành phẫn nộ vì tuyệt vọng.  Đó chính là phép biện chứng của Hê ghen, mà cũng là điều mà Paplop muốn chứng minh bằng thí nghiệm tâm lý học của mình đấy.  Con quỷ bị nhốt trong bình trong cơn đau khổ quá mười vạn năm chờ đợi vô vọng, nó đã quyết định, ai cứu ta ra ta sẽ ăn thịt ngay kẻ đó!
Câu nói cuối cùng đó ông ta đã nói một cách rất hiên ngang khảng khái.  Ông ta lại nói, sự lạnh nhạt và việc phải để người khác phải chờ đợi uổng công, đó là ngược đãi về tình cảm, đó là một tội trạng nặng nhất của loại người, là vô nhân đạo đấy..  Nghê Tảo nghe những lời đó, thoạt tiên thấy tim đập thình thình, sau đó từ thình thình chuyển sang tê dại.  Rồi Nghê Ngô Thành lại vội vội vàng vàng nói đến Huy mơ và Phepakha, nói đến sự hoang đường của chủ nghĩa Ma khơ, rồi nói đến cụ tổ mình ở nhà quê đã có tinh thần dũng cảm chống lại truyền thống, để xướng việc để chân tự nhiên không bó, rồi nói trí thức là sức mạnh, rồi nói đến điều đáng tiếc là ông ta chưa được đi máy bay lần nào, ông ta hy vọng sẽ có được cơ hội đi máy bay, rồi nói đến cái hại của hút thuốc, rồi nói đến "luận văn tiến sĩ" của Mác, rồi nói đến ông ta cần một người giúp việc, để ông ta nói ra ý kiến xong viết thành một cuốn sách triết học phổ cập, sau đó hỏi Nghê Tảo có mang cho mình thứ thuốc lá nào khá khá một chút không, đến nay mà toàn cho ông ta hút thuốc loại ba thì thật là quá kinh khủng.  Rồi thì nói tới cái thời còn bé đi ngoài chưa bao giờ dùng giấy vệ sinh...
Đã đến lúc Nghê Tảo phải cáo từ rồi.  Nghê Tảo nhận ra, đối với sự cáo từ của mình, cha bịn rịn đến thế nào.  Cha đối với cậu cơ hồ như đã sinh ra một kiểu quan hệ "tương tư đơn phương", điều đó khiến cậu thấy bất an.  Nhưng quả thực cậu không có cách nào thể hiện sự quan tâm hơn nữa, không cách nào thể hiện hy vọng và tình cảm ấm áp hơn nữa đối với cha, kể cả việc nghe những câu nói của cha cũng cần phải có sức kiềm chế cực lớn.  Mỗi lần đến chỉ khiến cho cậu thấy do dự hơn trong lần đến sau, càng thêm không muốn đến, càng không muốn làm cái cọng rơm hay cái cọc mục để cha vớ được trong khi đang trôi dạt nổi chìm trong đại dương tuyệt vọng cuối đời.
Những năm cuối đời Nghê Ngô Thành lại còn kịp gặp được một không khí chính trị rất hay.  Đầu tiên là sự thừa nhận lý lịch cách mạng từ năm một chín bốn sáu đã vào vùng giải phóng của ông ta, phủ định sự hiềm nghi về vấn đề Hán gian và gián điệop quốc tế, lại tiến thêm một bước thừa nhận tư cách vẻ vang là "cán bộ cách mạng lão thành rời chức nghỉ ngơi", nên ông ta được hưởng trăm phần trăm lương chứ không phải chỉ có bảy mươi phần trăm.  Tiếp đó vì ông ta đã nhiều lần yêu cầu nên người ta đã cử cho ông ta một người thư ký giúp việc.  Người giúp việc mỗi ngày đến một buổi, nghe ông ta nói vo, rồi căn cứ vào đó mà viết thành văn bản nghiên cứu học thuật.  Người giúp việc đến những mấy tuần, nhưng quả tình không thể nào nắm được trọng điểm và logic của những câu nói miệng kia của ông ta, thực tình không hiểu ông ta nói gì, nên đã thôi không đến nữa.  Vì phải quán triệt tinh thần chính sách ưu đãi cán bộ cũ và phần tử trí thức cũ, nên đã thay cho ông ta một người giúp việc khác thật nhẫn lại và khéo chiều, người giúp việc đến một thời gian được đón tiếp cực kỳ lịch sự, anh ta cũng cực kỳ lịch sự đối đáp lại với Nghê Ngô Thành và gia đình, thế nhưng tác phẩm triết học thì chẳng bao giờ hoàn thành được.
Có lần Nghê Ngô Thành nói về một sự  việc một cách rõ ràng rành mạch và đầy thán phục.  Lúc đó Nghê Ngô Thành còn đang làm việc ở trường vừa học vừa làm "mùng bảy tháng năm", lúc đó mắt Nghê Ngô Thành vẫn còn chưa bị tổn hại vì ủng hộ thày thuốc chân đất cái "sự vật của chủ nghĩa xã hội mới mẻ" kia.  Ông ta nói ông ta được biên chế vào một "liên đội" có một đồng chí nữ tham gia lao động, một vị có chút tiếng tăm trong làng văn hóa, bà ta thường nói với Nghê Ngô Thành về những trải nghiệm của mình ở Diên An.  Khi nhớ lại cuộc sống Diên An, nữ đồng chí nói: "Đó là thời đại vàng son trong cuộc sống của tôi!"
Nghê Ngô Thành nói ông ta nghe nữ đồng chí đó nói thì suy nghĩ rất lâu, ông ta tự hỏi mình: thời đại vàng son trong cuộc sống của mình là lúc nào nhĩ?  Cuối cùng ông ta kết luận: Thời đại vàng son của tôi còn chưa bắt đầu nhé.
Có đáng thương không?  Nghê Tảo nghe câu nói đáng sợ kia mà thấy kinh hãi.  Cha đã gần bảy mươi tuổi rồi, đã mất hết thị lực của hai con mắt, đã mất cả công dụng của đôi chân rồi, ông đã lãng phí hết sạch, để mất sạch cả bao nhiêu năm tháng cuộc đời, đến nay ông đã chẳng còn một cái gì nữa rồi.  Thế mà ông còn nói thời đại vàng son của ông vẫn chưa bắt đầu mới chết chứ, cứ làm như ngày mai hoặc ngày kia, ngay năm sau hoặc năm sau nữa ông sẽ có thể bùng phát ánh sáng huy hoàng rực rỡ lên được ấy...  Điều đó đã chẳng phải là bi quan, lại cũng chẳng phải là lạc quan, điều đó vừa chẳng đáng được cảm thông lại vừa chẳng đáng được an ủi.  Bởi vì đó là sự nông nổi hời hợt trăm phần trăm, là sự hồ đồ đến mức đầu rơi rồi mà vẫn không biết làm sao lại rơi!
Điều đó xét đến cùng là cái gì nhỉ?  Sau khi cha từ biệt thế gian được mấy năm, Nghê Tảo mỗi khi nhớ tới cha nói tới cha mình vẫn cảm thấy bị kích động ghê gớm.  Một con người đường đường như vậy, một phần tử trí thức, một người đã từng đi học châu Âu lại đã từng vào vùng giải phóng, sao lại có thể như thế được?  Cậu cảm thấy sự nghèo nàn thiếu thốn của ngôn ngữ và khái niệm.  Nghê Tảo không tài gì phân định nổi cha mình thuộc loại người nào cả.  Phần tử trí thức?  Bịp bợm?  Điên rồ?  Ngô nghê ngớ ngẩn? Tốt bụng/  Hán gian?  Cách mạng lão thành?  Đông ki sốt?  Cực tả?  Cực hữu?  Dân chủ?  Rô đin?  Ôblomop?  Chậm phát triển trí tuệ?  Siêu trí tuệ?  Kẻ ăm bám?  Người bị mai một?  Bị thịt?  Ngây thơ cụ?  Khổng Ất Kỷ?  AQ?  Tây giả?  Đáng thương hại?  Rắn độc?  Kẻ lạc hậu?  Kẻ theo phái siêu tiên phong?  Người theo chủ nghĩa lạc quan?  Lưu manh?  Gian thương?  Mọt sách?  Người theo chủ nghĩa lý tưởng?  Cứ thế mà nghĩ mãi, Nghê Tảo thấy căng thẳng đến toát mồ hôi ra đầy mình.
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
Trang 510 - 520

Chương hai


Không riêng gì Nghê Tảo mà cả Tịnh Nghi cũng tin rằng thắng lợi của cách mạng Trung Quốc năm một chín bốn chín đã chôn vùi tất cả những đau khổ cũ.  Năm một chín bốn nhăm, quân xâm lược Nhật Bản tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.  Nghê Ngô Thành đang làm hiệu trưởng ở thành phố bờ biển, một thời gian sau đã kết bạn với người Mỹ tiến vào thành phố, đóng quân ở căn cứ hải quân tại đây.  Ông ta đã từng đi tắm biển ở một bãi tắm với một người Mỹ, ông ta đã từng tận mắt nhìn thấy người Mỹ đó bị cá mập Hoàng Hải hung dữ cắn đứt một chân, cuối cùng người Mỹ đó đã chết vì chảy máu quá nhiều.  Trong thời kỳ đó chàng thiếu nhiên Nghê Tảo được kích thích rất mạnh bởi thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Nhật, với lòng yêu nước thiết tha bừng chay, đã hoan nghênh sự trở về của Quốc quân trong không khí vui mừng đến phát điên.
Sau đó thì Nghê Ngô Thành đã mất chức vụ hiệu trưởng, ông ta trở về Bắc Bình - lại đổi tên thành Bắc Bình - trở về nhà với thân phận một kẻ thất nghiệp, giống như một người khách tạm trú, giống như một dị vật trong cơ thể.  Lúc này nhiệt tình hoan hô thắng lợi và chào đón Quốc quân của Nghê Tảo đã bị thực tế đập tan tành rồi. ở đâu cũng có tệ tham ô hoành hành, vật giá leo thang, tệ nạn tràn lan, hoàn cảnh sống của mọi người thật khó mà nói có gì tốt hơn thời ngụy Nhật thống trị.  Sự trở về của người cha thất nghiệp lại chất thêm cho cái gia đình vốn đã lắm người ngẩn ngơ đờ đẫn và sống kiểu tạm bợ này một nguy cơ to lớn hơn về những cuộc tranh chấp nảy lửa luôn luôn tiềm ẩn.  Nhưng dẫu sao cũng đã đem đến cho Nghê Bình và Nghê Tảo, chủ yếu là Nghê Tảo một niềm an ủi nào đó.  Nghê Bình đã mười ba tuổi, nó đã từ chối không chịu đi ra ngoài cùng với cha, bất kể là đi đâu. Sự cố chấp kiểu đó đã khiến Nghê Ngô Thành nổi trận lôi đình, cảm thấy không thể nào hiểu nổi, cảm thấy Nghê Bình không tự nhiên thoải mái gì cả, quá nhút nhát.  Ông ta bức xúc, tôi thì ghét nhất người nào hơi một tí thì "em ngại lắm".  Một đứa bé gái cần phải biết làm dáng, cần phải sống, nên bằng lòng vui vẻ mặc bộ quần áo đẹp nhất của mình, nên phải tự nhiên đàng hoàng không nên nhút nhát như chuột, thẹn thẹn thò thò, hơi tí rúm ró cả người.
... Lần này những sự "tôi chúa ghét" hay là "tôi không thích" vân vân của Nghê Ngô Thành đã chẳng cần đến sự tố cáo phản bác của Tịnh Nghi.  Bởi vì Nghê Bình không đợi ông ta nói xong đã trả lại một câu rằng "thật phí lời", rồi lại thêm một câu "đáng ghét".  Nghê Bình quay mình đi luôn, không hề thừa nhận một tí nào về sự tồn tại của một người cha như vậy, càng không thể nói gì đến uy quyền với chẳng quyền uy gì cả.  Nếu Nghê Ngô Thành cứ cố truy đến cùng không chịu buông tha, thì cô con gái sẽ quay phắt lại, nhìn gườm gườm vào mặt cha nói bằng cái giọng nghiêm túc đến không thể bàn tán gì được nữa: Cha ăn uống chơi bời ở bên ngoài mãi thế đã đủ chưa?  Hết cơm ăn rồi chứ?  Vì vậy cha mới trở về.  Chẳng phải nghe nói cha đã lấy thêm một người nữa rồi hay sao?"
Chỉ có Nghê Tảo là vẫn âm thầm giữ được một chút hứng thú đối với những câu chuyện suông thường hay pha tiếng nước ngoài của Nghê Ngô Thành mà thôi.  Nghê Ngô Thành đã đưa Nghê Tảo đi khám mụn chắp mắt một lần, nhưng không khám ở bệnh viện nhãn khoa Quang Mình.  Nghê Ngô Thành còn đưa Nghê Tảo đi ăn một lần cơm tiệm, Nghê Ngô Thành tỏ ra lão luyện, thân thiết, cực kỳ lịch thiệp.  Từ việc chọn chỗ ngồi đến xem thực đơn, gọi món ăn, điều khiển bồi bàn, việc nào ông ta cũng làm rất thạo, rất giỏi.  Tâm tình và nét mặt của ông ta càng có vẻ tươi tắn sáng láng.  Ông ta nghiễm nhiên trở thàn mộ vị quân vương của khoái lạc.  Sau này có lúc Nghê Tảo đã nói ngay vào mặt cha, chỉ một bữa cơm ngon cũng đủ làm thay đổi thế giới quan của cha.  Nghê Ngô Thành cười ha hả, gật đầu khen phải và nói cái đó phù hợp thuyết  duy vật.
Nghê Ngô Thành kết bạn với con trai đi tắm hiệu mấy lần.  Thật là khó kiếm được một người như ông công nhân già ở bồn tắm.  Cách đã mấy năm mà ông chưa quên khách tắm Nghê Ngô Thành.  Nghê tiên sinh, ngài khoẻ không?  Ngài phát tài lắm ạ!  Dùng một ấm chè bánh thơm nhé, nếu hông, mình lại dùng trà bột?
Mãi không tìm được việc làm chính thức, tù hãm mãi trong cảnh khó khăn, vào mùa xuân năm một chín bốn sáu Nghê Ngô Thành đột nhiên quyết định đến vùng giải phóng đi theo Đảng cộng sản.  Trước đó ông ta nhận được thư của một thày giáo và của một học sinh trước đã từng dạy và học mình, hiện nay họ đều đang ở vùng giải phóng.  Rồi ông ta lại liên hệ được với một nhân viên cộng sản ở ban điều hành quân sự Bắc Bình.  Ông ta nói, tôi muốn đi xem sao.  Họ phản đối bóc lột, chống phong kiến tôi tán thành.  Họ đấu tranh với địa chủ tôi cũng tán thành. Tôi xuất thân trong gia đình địa chủ nên tôi biết cách đấu tranh chống địa chủ, có tàn khốc thế nào cũng không coi là quá đáng.  Nhất là các mụ vợ địa chủ, dù sao cũng phải trừng trị đích đáng các mụ ấy.  Lúc đó trong các vùng mà Quốc dân đảng đang thống trị có lưu truyền các loại tin đồn đại về cải cách ruộng đất.  Đáng sợ nhất là một kiểu nói rằng khi nông dân đấu các mụ vợ địa chủ thì bắt một con mèo cho vào đũng quần của các mụ.  Nghê Ngô Thành nghe được như vậy thì hứng chí lên nói, đối với một số mụ địa chủ hễ mà có dùng cách đó để xử lý, thì tôi vỗ tay khen hay.  Cái đất Trung Quốc này không thế thì không đánh đổ được từng đứa từg đứa một đâu.  Mọi người thì lao động, già thì đi làm với già, trẻ thì đi làm với trẻ, tôi càng tán thành.
Cuộc sống đã mục ruỗng đến mức này, đau khổ đến mức này thì tất cả mọi người dù hoàn toàn không giống nhau đi nữa, đều cùng thật lòng mong mỏi bão to gió lớn nổi lên, đều khấn nguyện cho đất sụt lở dưới chân, trời sụp xuống, núi lửa bùng lên, giang sơn đảo lộn, kể cả những hạng người cặn bã ương nghiệt chuyên bóc lột ăn người, cả những người không cam chịu lề luật cũ kỹ, cả những người lẻ loi bên lề của lịch sử chỉ ngồi đợi sự tiêu vong của cuộc sống...  Cái thế giới này không  đảo lộn đi một cái thì không được nữa rồi, đa số người đều ý thức được điều đó.  Vậy nên, Nghê Ngô Thành nói đi là đi liền, đi làm cách mạng đây.  Cái cách mạng của ông ta cũng giống như sự bùng nổ của một quả đạn pháo vốn đã bị cho là thối mất từ lâu, đã từng bao nhiêu năm chềnh ềnh nằm đó cho người ta giễu cợt, đã câm bặt từ lâu.  Người biết rõ sự tình đều phải há mồm, trợn mắt vì kinh ngạc.
Còn người đi làm cách mạng một cách chân thành và gấp rút lại là Nghê Tảo.  Cậu hấp thu lý luận và thực tiễn cách mạng như một kẻ đói khát lâu ngày. Cậu quyết không thể sống một cách thấp hèn như lớp người đời trước của mình.  Cậu quyết sống chét với sự đen tối của cuộc sống cũ đáng sợ đến mức đâu đâu cũng chui lọt kia.  Cậu hoàn toàn tin vào máu đổ nơi chiến trường, nơi pháp trường, trong nhà ngục, những dòng máu đó chính là nước hồi sinh của cuộc sống.  Chỉ có dòng máu tươi đỏ mới rửa sạch được quá nhiều cáu ghét tích tụ của Trung Quốc.  Giòng máu đó sẽ cứu được hàng ngàn hàng vạn người nô lệ đã bị hóa đá.  Bản thân cậu đã sẵn sàng hiến dâng dòng máu nóng của tuổi thiếu niên.  Luôn luôn sẵn sàng!  Cách mạng đích thực là bó đuốc, là tháp đèn, là mặt trời.  Cách mạng là khởi động một động cơ cực lớn. Thời đại sau khi có cách mạng sẽ thảy đổi đến đâu, cuộc sống sẽ thay đổi đến đâu, bản thân cậu sẽ thay đổi đến đâu?!  Không có cách mạng thì thà chết còn hơn.
Nhiệt tình cách mạng đã khiến cậu thay đổi nhận thức và thái độ đối với rất nhiều người.  Đến khi giải phóng Bắc Bình năm một chín bốn chín, hình ảnh người cha trong mắt cậu đã dần trở nên cao lớn, ở đây chỉ có một nguyên nhân là từ năm một chín bốn sáu cha đã đi vào vùng giải phóng, tất nhiên cha là tốt chứ, là vĩ đại chứ.  Tuy vậy trong tầng sâu của ý thức Nghê Tảo cũng vẫn không tránh khỏi lúng túng, bởi vình hình ảnh người cha trong ký ức của cậu quả thực rõ ràng có sự cọc cạch bất đồng với hình tượng cách mạng mà cậu theo đuổi.  Cho đến rất nhiều, rất nhiều năm về sau, sau khi rất nhiều ảo tưởng ấu trĩ và ảo tưởng thời thơ ấu về chim sẻ lông vàng nước hồi sinh của Nghê Tảo đã cùng bị sụp đổ tan tành rồi, cậu mới hiểu rõ: Cách mạng không hề là thứ nước hồi sinh trong truyện thần thoại, nó tuyệt không có thể lập tức đổi thay tât thảy, tuyệt không có thể lập tức sắp xếp lại tất cả hoạt động của nhân hình.  Không phải vì cách mạng không đủ mức vĩ đại mà là vì con đường cách mạng là thực tại, quanh co dài dặc như vậy kia mà.  Mặc dù có thể phê phán cách mạng chưa đầy đủ lý tưởng như hy vọng và đòi hỏi của một số người, nhưng như vậy chẳng lẽ có thể không làm cách mạng nữa hay sao?
Nghê Tảo sau khi tham gia cách mạng, đã lập tức nhận định bà ngoại Khương Triệu Thị và dì Chu Khương Thị, Tịnh Trân, Khương Khước Chi là xấu xa, suy tàn tất yếu sẽ diệt vong.  Bởi vì họ là địa chủ, có lẽ họ không đủ bản lĩnh để thành phản cách mạng trên thực tế.  Nhưng trong khi Nghê Tảo đã được cải tử hoàn sinh cùng với toàn thể đất nước toàn thể dân tộc, toàn thể xã hội thì đối với hai kẻ tội nghiệp kia, cậu có yêu quý lắm cũng đành không giúp được gì.  Bởi vì họ cùng với giai cấp của họ đang cùng bị đánh đổ bị tiêu diệt, bị chôn vùi xuống mồ sâu.  Nếu như họ đã tất yếu bị diệt vong thì hãy sớm diệt vong đi cho xong!  Cả cuộc đời của họ có lẽ cũng là đại diện của một loại tôi ác trong vô số tội ác của xã hội cũ chăng?  Thực ra dù không có cách mạng thì sự mục ruỗng tự thân của họ cũng đã định sẵn, kết cục của họ cũng sẽ không thể kém nhục nhã hơn.  Biết đâu lại còn xấu xa đáng tởm hơn?  Sự vô vọng của họ có lẽ đang đối lập rõ ràng với những hy vọng vô bờ vinh quang vô hạn của lớp người như Nghê Tảo chăng?  Chẳng phải là Nghê Bình cũng đã bị dòng nước lũ cách mạng đang dào dạt tuôn trào kia cuốn vào rồi đó sao?
Năm một chín bốn chín, Nghê Ngô Thành đã trở về Bắc Bình với tư thế của người thắng lợi.  Ông ta mặc chiếc áo bông của người cán bộ màu xám được phát thống nhất như mọi người.  Ông ta được hưởng đãi ngộ theo chế độ cung cấp "trung táo".  Địa vị của ông ta là nhân viên nghiên cứu của "Đại học cách mạng" một lớp huấn luyện ngắn ngày, rất thời thượng lúc bấy giờ.  Nhưng tính cách mạng của ông ta lập tức đã bị Nghê Tảo nghi ngờ  một cách khổ não.  Bởi vì thứ nhất là ông ta đã vào vùng giải phóng, ông ta đã thắng lợi nhưng ông ta không phải là đảng viên cộng sản.  Thứ hai, không lâu sau ông ta đã rời bỏ đại học cách mạng, nhận lời đến làm giảng sư ở một trường đại học tư thục chẳng có gì là cách mạng cả.
Năm một chín năm mươi, hoàn toàn dưới sự nỗ lực điều hành giải quyết của Nghê Tảo, Nghê Ngô Thành và Tịnh Nghi đã thực hiện một hiệp nghị ly hôn tự nguyện.  Chỉ riêng một việc đó Nghê Tảo đã muốn ca ngợi cách mạng cả đời cả kiếp rồi.  Không có cách mạng thì tuyệt đối không thể tưởng tượng đến một kết thúc bình thường êm ả cho cuộc hôn nhân đáng sợ và bất hạnh như thế.  Năm một chín bốn chín, Nghê Tảo đã từng cho rằng cách mạng có thể khiến cho cha mẹ cậu có thể hòa giải với nhau, nhưng xem ra cách mạng vẫn chưa có được sức mạnh vạn năng như vậy, điều đó cũng hơi đáng tiếc.  Nhưng khi cha cậu nói với cậu nguyện vọng ly hôn thì cậu đã ủng hộ cha.  Cậu tin chắc rằng một xã hội mới mẻ sẽ xây dựng được một mối quan hệ giữa người với người rất mới mẻ hữu ái, văn minh, mà cuộc ly dị bình thường văn minh lịch sự của cha mẹ sẽ là một phần của thứ quan hệ mới mẻ đó.
Trước khi chính thức làm thủ tục ly hôn, Nghê Ngô Thành bức thiết yêu cầu và sắp xếp cụ thể trước hết là Tịnh Nghi cùng với ông ta và con cái chụp chung một kiểu ảnh, sau đó ông ta và Tịnh Nghi chụp chung một kiểu.  Lúc chụp ảnh vẫn rất thân thiết dịu dàng.  Trên thế giới chỉ thấy có chuyện chụp ảnh "kết hôn" chứ chưa từng thấy ai chụp ảnh "ly hôn" mà như vậy cả.  Trong hai tấm ảnh đó, hình tượng Nghê Ngô Thành là một người cha hiền, một người chồng tử tế, là ông chúa Giêsu cực kỳ nhân ái.  Ông ta giang rộng hai cánh tay ôm lấy vợ con, hai mắt rớm lệ tựa như e sợ cái gia đình hạnh phúc này biến đi mất.  Quá trình chụp ảnh thậm chí còn khiến Tịnh Nghi nảy sinh cảm giác sai lầm - có lẽ ông ta đã thay đổi ý định về ly hôn chăng?  Nói cho cùng Tịnh Nghi vẫn là không hề muốn ly hôn tí nào chắc?
Sau khi cầm được giấy chứng nhận ly hôn, từ nơi làm thủ tục ở trên phố đi vào ngõ, Nghê Ngô Thành đã khóc sướt mướt tưởng như cả người đều tan thành nước mắt.  Anh xin lỗi em, anh xin lỗi em!  Ông ta cứ lặp đi lặp lại.  Giọng ông ta cứ nghẹn, cục yết hầu của ông ta giật lên giật xuống, ông ta vừa nói vừa khóc lạc cả giọng.  Cái con người Nghê Ngô Thành bốp chốp tự phủ, coi Tịnh Nghi như cỏ rác kia đã bị thay thế bằng một Nghê Ngô Thành đa sầu đa cảm, thiện lương mềm yếu.  Kết quả lại là Tịnh Nghi tỏ ra bình tĩnh hơn nhiều, Tịnh Nghi cố gắng dùng những từ ngữ mới để an ủi Nghê Ngô Thành rằng, chuyện quá khứ hãy để nó đi qua.  Ai bảo chúng ta sống trong cái xã hội cũ kia nào...  Tôi chúc anh sau này tiền đồ rộng lớn, cuộc sống hạnh phúc.
Rồi sau đó là lần kết hôn thứ hai của Nghê Ngô Thành.  Kết hôn được một tuần lễ đã liền xảy ra một cuộc cãi nhau to.
...  Mức độ cuộc cãi cọ rất khó nói là ôn hoà hơn các cuộc cãi cọ với Tịnh Nghi, người vợ mới khăng khăng nói Nghê Ngô Thành đã lừa dối cô ta, những là giáo sư những là cách mạng cũ, những là cuộc hôn nhân trước đã dứt khoát, kết thúc...  Hóa ra Nghê Ngô Thành lại vĩ đại đến mức độ như thế, mới kết hôn được ba ngày đã lấy ảnh chụp với Tịnh Nghi và con cái khi ly hôn ra cho vợ mới ngắm nghía, đồng thời bày tỏ chủ nghĩa nhân đạo thiện lương của mình.
Thực tế ở đại học tư thục kia đã chứng minh ông ta không có năng lực dạy đại học sau giải phóng.  Ông ta trước nay chưa từng có, hiện giờ cũng không có quan điểm riêng, tài liệu riêng, tri thức riêng và logic riêng của mình.  Thậm chí đến cả sách công cụ và sách tư liệu riêng của mình.  Thậm chí đến cả sách công cụ và sách tư liệu riêng của mình cũng không có nốt.  Nhưng ông ta lại không thiếu cơ trí và sáng kiến vặt, ông ta không thể mà cũng không chịu chấp nhận mô thứ triết học vốn có, cứ nhìn sách mà đọc ra.  Bài giảng của ông ta thường là câu sau đá câu trước, lan man không rõ trọng điểm, không có trọng tâm, không rõ mạch suy nghĩ và logic, khiến cho học sinh không hiểu ông ta đã nói những gì.  Tuy rằng thái độ ông ta đối với học sinh cực tốt, hơn nữa bất kể trên lớp học hay ngoài giờ học, ông ta luôn luôn bộc lộ và bày tỏ nhiệt tình ca ngợi từ đáy lòng đối với lý luận Mac Lê nin, và lý luận cách mạng.
Sau khi điều chỉnh trong trường trong khoa, ông ta đã trở thành giảng sư đại học không có lớp mà dạy.  Nói là làm nghiên cứu thì cũng không thể yên tâm mà đào sâu suy nghĩ.  Ông ta hâm mộ cuộc sống xã hội và đời sống vật chất phong phú rực rỡ giống như gái già hâm mộ tình yêu vậy.  Hứng thú của ông ta chỉ còn lại ở hai điều, một là ăn cơm tiệm, hai là bơi.  Sau khi quán cơm Matxcova của nhà triển lãm Liên Xô khai trương được ít lâu, để có thể ăn một bữa cơm kiểu Nga, ông ta ôm trong lòng một chai rượu Mao Đài, đạp một cuốc xe tới mười cây số, xuýt xoa chờ đợi suốt hai tiếng đồng hồ.  Trông ông ta giống hệt như một gã ăn mày.
Còn thì mùa hè tới, ông ta liền biến thành một kẻ cuồng bơi. Sau giải phóng, đã mở ra và xây dựng sửa chữa rất nhiều bể bơi công cộng.  Mao chủ tịch lại tự thân gắng sức đề xướng việc bơi lội.  Sự nghiện ngập của Nghê Ngô Thành với việc tắm rửa ở hiệu đã có thể phát triển thành sự nghiện bơi, thể hiện sự tiến bộ của thời đại.  Mỗi ngày ông ta đều dùng tới hai ba bốn giờ đồng hồ để đi bơi.  Tư thế bơi của ông ta không tốt, không có tốc độ nhưng hết sức thành thạo và dẻo dai.  Mỗi một lần xuống nước, ông ta có thể bơi liên tục hai ba tiếng đồng hồ, mấy cây số mà chưa cần lên bờ.  Cứ đến mùa hề là ông ta liền bêu nắng đến đen cháy và gầy như con mắm.
Sau bốn mươi lăm tuổi, ông ta bắt đầu tập nhảy cầu.  Ông ta run run rẩy rẩy bước lên bục nhẩy cao ba mét, cúi xuống nhìn mặt nước bể bơi, đứng có đến năm phút.  Những đứa trẻ hiếu động xếp hàng đợi sau lưng ông ta sốt ruột quá liền bắt đầu mỉa mai châm chọc.  Nhanh lên chứ, đừng có mà sợ nhá!  Cụ ơi, sao phải khổ vậy, nhỡ mà sút lưng thì không phải chuyện chơi đâu.  Ơ kìa ông cụ này mà vẫn còn vận được khí công kia nhỉ!
Cuối cùng ông ta đã rời được khỏi bục nhảy, tiếp nước trăm phần trăm cơ thể nằm ngang, bép một tiếng đập bụng xuống nước, bọt nước bắn tung toé, người đỏ tấy lên, bốn xung quanh cười rộ.
Rốt cục đó là nhảy cầu hay tự sát nhỉ?
Nếu mà sau khi bơi trong túi còn đủ tiền để uống hai cốc bia, một đĩa vài món rán hay chỉ một đĩa đậu phụ tẩm vừng rán thôi, là tâm trạng của ông ta đã nhanh chóng bốc cao lên ngay.  Mình mới hơn bốn mươi tuổi, chín mươi lăm phần trăm tiềm lực của mình còn chưa được phát huy ra, bây giờ mình bắt đầu sự nghiệp vẫn chưa hề muộn.  Mình đang chuẩn bị nghiên cứu Heghen, Lão Tử, Tôn Trung Sơn, Vương Quốc Duy, Lỗ Tấn.  Mình phải vận dụng tư tưởng thiên tài của đồng chí Mao Trạch Đông để tổng kết và tiêu hóa di sản của tất cả các nhà triết học trong ngoài kim cổ.  Hơn nữa phải phê phán giai cấp phong kiến, giai cấp tư sản.  Mình có thể làm dịch thuật, mình có thể viết sách, mình có thể...  Bao nhiêu người có tư chất khá là kém cỏi đần độn mà bây giờ cũng đang viết lách lập ngôn lập thuyết ra phết đấy thôi?  Điều đó không chỉ là sự nghiệp mà còn là một cách sản xuất rất tốt.  Gọi là tay làm hàm nhai mà.  Được in các trước tác viết và dịch, thì sẽ có một khoản thu nhập.  Khi nào thu được tiền nhuận bút, ba sẽ mua cho các con mỗi đứa một chiếc xe đạp mới...
Đã rất nhiều lần Nghê Tảo đeefu chân thành tin tưởng vào sự đánh giá tiềm lực của cha.  Nhưng trước mắt cứ phải chứng kiến sự đau khổ của một người chỉ vì tiềm lực đã ngủ say quá, lâu quá; hoặc là nhân vật Từ Thu Ảnh trong phim "Vụ án Từ Thu Ảnh" đã nói: "Tôi là một hạt giống bất hạnh, bị bít bùng trong nỗi đau khổ không được nảy mầm", điều đó tự thân nó đã đủ cho người ta nuốc tiếc đau khổ vì lỡ bước.  Nghê Tảo đã chân thành xúc động mà an ủi khích lệ cha bằng những ngôn ngữ của xã hội mới.  Phải tiến thủ, phải gian khổ phấn đấu, phải biết tiếc thời gian.  Không nên so đo tính toán sự được mất của cá nhân, không nên suy tính thiệt hơn.  Phải khắc phục chủ nghĩa cá nhân hẹp hòi thiển cận và chủ nghĩa anh hùng đao to búa lớn.  Phải kiên trì mục tiêu trước sau như một, phải lao động miệt mài, một bát mồ hôi đổi lấy một phân thành tựu.
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»