#46 —
08.11.2008 20:51
(đã sửa)
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-11-09 06:31:32canary>
Trang 331 - 361, Chương 16
Tết dương lịch vừa xong, hai người làm trùm cá hộ tá điền ở quê là Trương Trí Ân và Lý Liên Giáp đã đến ngay. Họ trọ ở bên ngoài Tiền Môn, đem đến cho bà lớn nửa tải táo, nửa tải đậu xanh, một ít đậu tạp, bốn giỏ rau đông, hai khay lạp xưởng có nhuộm đỏ, cò có một số tiền nữa. Đó là số địa tô mà họ thu được và bán một số sản vật từ địa tô thành tiền. Ngoài ra hai người Trương Lý còn đem đến hai loại đặc sản địa phương, là của cống nạp của cá nhân, một thứ là chân giò chay hun khói, chủ yếu làm từ đậu phụ cuốn với một số phụ liệu nhìn bên ngoài trông giống chân giò hun khói, thực ra là món chay. Đó là loại thực phẩm độc quyền kinh doanh gia truyền của một nhà họ Lý ở quê nhà, nghe nói đã có hơn hai trăm năm lịch sử. Tịnh Trân đặc biệt nghiện loại thực phẩm này, vì vậy, món quà đó xem như quà cho cô lớn (lời tôn xưng với Tịnh Trân, cũng như họ đã tôn xưng Khương Triệu Thị là bà lớn vậy. Thứ hai là một hũ mứt dẻo của quả lê mùa thu do họ tự làm lấy, ở quê chẳng phải là có loại lê giòn khi rơi xuống đất một cái là vỡ ngay thành tám cánh hay sao? Cuối mùa thu dùng loại lê đó nấu nhừ cho thêm đường phèn, nấu đến độ đặc sền sệc vào là được. Mọi người tin rằng loại cao lê này có tác dụng làm thuốc nhuận phế khứ đàm chỉ khái. Mùa đông Khương Triệu Thị thường bị đau ngực, ho, nhiều đờm, hai người Trương Lý biết vậy, đặc biệt đưa thưa quà này đến, tỏ lfong hiếu kính. Hai người Trương Lý đến, hai bên chủ tớ đều thi nhau kêu khổ thấu trời. Khương Triệu Thị và Tịnh Trân thuật lại rằng bọn họ ở thành Bắc Kinh đã không sống nổi nữa rồi, cần gấp tiền để tiêu, đối với công việc ở nhà quê không thể qua loa quýt luýt, mắt nhắm mắt mở nữa rồi. Trương Tri Ân và Lý Liên Giáp kể lể năm nay kém kinh tế thế nào, binh hoang mã loạn, người Nhật đòi góp tiền góp lương thực, bát lộ hoạt động tứ tung, tâm tư người trong thôn đổi khác, nhân tâm bất ổn. Bọn thổ phỉ bắt cóc cụ Hạ giàu nhất thôn, con trai cụ Hạ đã đưa đến ba ngàn đồng tiền đại dương, thổ phỉ xé ngay ngân phiế, lấy dây thừng thắt cổ cụ Hạ chết tươi. Lại thêm xuân hạn hạ lụt, tiết đoan ngọ lại có nạn châu chấu, sau hạ chí thì lại có mưa đá, người làm ruộng lắm nhà chẳng có igf bỏ vào nồi. Thực tế nhiều nhà bây giờ ba người mặc chung một cái quần, năm người đắp chung một cái chăn, khổ không sao nói xiết, thắp hương khấn đại phật ở chùa Đại Phật, khấn Quan Âm ở am Thủy Nguyệt đều không linh nghiệm nữa. Chút ít tiền, vật phẩm này cũng là hai gười bọn họ nhớ tới ân nghĩa của bà lớn, tới tới ân nghĩa của ông lớn, cha của Tịnh Trân, Tịnh Nghi mà chạy ngược chạy xuôi đến gãy cả chân, nói rách cả mồm, hết lùa lại khích rồi dọa dẫm mới móc từ mồm các nhà thuê ruộng ra được đấy. Rồi hai bên lại nhắc đi nhắc lại mấy lần những ý tứ giống nhau. Rồi cô lớn đi làm cơm nướng bánh cho hai vị đầu hộ tá điền, lại mua cả chút rượu nữa. Để nhắm rượu, ngoài việc thái ngay một ít lạp xưởng và giăm bông chay, cô lớn còn tự tay làm một món ngon bánh phết tương tôm. Tương tôm là loại thực phẩm dùn các loại tôm nhỏ không thành hình nghiền ra thành bột nhão, có màu tím nhạt, mùi tanh gắt, để đề phòng nó tiếp tục biến chất, cứ phải thường xuyên cho thêm muối vào, vì vậy vị của tương thường là cực mặn. Các loại tương tôm này giá cực rẻ, rất thích hợp với người thèm chất tanh mà không mua nổi thịt cá, những năm bốn mưới, nó là một loại thực phẩm được hoan nghênh nhất ở Bắc Kinh. Nhưng ăn thì quá mặn quá tanh, đó cũng là vấn đề. Thế là Tịnh Trân áp dụng một biện pháp chế biến mới, cho một ít bột mì vào tương tôm, cho một ít mỡ nước vào nồi nhào trộn nên rồi phết bột trộn đó thành từng bánh nho nhỏ, bỏ và rán trong dầu nóng, rán xong lên thì màu vàng rộm, thế là được bánh tương tôm. Loại bánh tương tôm dó ăn thì chắc không phải ngon lành gì ghê gớm lắm, nhưng khi rán lên mùi vị cũng cực điếc mũi đấy, trong đó có đủ các mùi tanh, khắm, ngọt, thơm chả thiếu vị nào. Mỗi khi ngửi thấy mùi rán bánh tương tôm Tịnh Trân liền thấy vui vẻ thoải mái hẳn, mà đến lượt mình tự ra tay rán thì lại càng như mở cờ trong bụng.
Chủ tớ cùng ăn với nhau, cũng gọi thêm cả Tịnh Nghi và hai đứa trẻ - Nghê Ngô Thành sợ nhất là mùi bánh tương tôm, lại càng sợ cái mùi khi đang rán bánh (tiếng ở quê thì không gọi rán bánh mà gọi là bày). Với lại anh ta không thích gặp hai vị đứng đầu các hộ tá điền. Từ nhỏ anh ta đã phản đối sự bóc lột địa tô của địa chủ. Anh ta không sang bên đó. Mọi người vừa ăn vừa không ngừng than thở kể lể, khi thì ai nấy nói nghe, khi thì người nọ bắt người kia nghe. Không ngờ, bà lớn, cô lớn, cô hai lại gian nan như vậy khi sống ở thành phố! Chẳng phải à, đến uống nước lã cũng phải tiền. Dường như để chứng minh cho tính chân thực của lời Tịnh Trân, vừa hay lúc đó xuất hiện một người Sơn Đông đẩy một chiếc xe nước bằng gỗ, nước rỏ tí tách xuống dưới bụng xe. Vặn cái nút ở dưới thùng gỗ to, nước liền chảy ra, đong đầy vào những thùng gỗ nhỏ, gánh vào cho từng nhà. Nghê Bình đi mở nắp chum nước, người Sơn Đông đưa nước liền đổ những thùng nước vào đó, Tịnh Trân đưa ra cái thẻ nước. Trương Tri Ân và Lý Liên Giáp sau khi biết thẻ nước đó là phải dùng tiền để mua, thì liền thè lưỡi ra vì việc đó.
Tất cả đều do cái bọn Nhật Bản gây ra cả, mọi người nhất trí than thở vậy. Sau đó Trương Tri Ân và Lý Liên Giáp chuyển đề tài câu chuyện sang Nghê Tảo và Nghê Bình, đặc biệt chuyện về Nghê Tảo nói rằng chớp mắt bọn Nghê Tảo sẽ cao lớn trưởng thành lên ngay ấy mà, bà lớn, cô cả, cô hai tiền đồ sáng sủa quá. Chắc bọn họ cũng biết sự bất hòa giữa Nghê Ngô Thành và Tịnh Nghi nên không hề nói đụng đến Nghê Ngô Thành chồng cô hai một câu nào.
Chúng nó lớn lên thì có thể làm gì cho tôi! Khương Triệu Thị và Tịnh Trân hơi có ý khó chịu. Hai vị trùm hộ tá điền lập tức nghiêm túc lại mà phân tích, không thể nói vậy được đâu, cháu trai, cháu gái đều là ngoại, nhưng từ nhỏ đã đều ở nhà bà ngoại, nhà bà ngoại lại không có ai khác, thì chúng nó chính là cháu nội của bà lớn chứ ạ, cũng như con của cô cả chứ ạ.
Tịnh Nghi dường như không hứng thú lắm với đề tài đó, nên cô đã mấy lần cụp mắt xuống.
Nghê Tảo nhìn hai người nọ, cảm thấy vừa tò mò vừa hâm mộ. Hai người đều phơi nắng đen cháy đi, vừa nhìn đã thấy chẳng giống tí nào với người ở thành phố. Những nếp nhăn trên mặt trên tay hai người đều sâu đến thế, dày dặn đến thế, điều đó cũng khiến Nghê Tảo cảm thấy rung động trong lòng. Hai người đó tay to chân to, đến cả những ngón tay cũng rất thô, chắc là họ khoẻ lắm nhỉ? Hai người thi nhau nói chuyện, phối hợp ngầm rất ăn ý, thao thao bất tuyệt, ứng đối trôi chảy, đã không thiếu lễ độ tâng bốc cảm thông an ủi, lại vẫn đều giữ được quy tắc nhất định, quyết không hứa hẹn cái gì cụ thể, đúng là hai người tuyệt đỉnh thông minh. Mà cái quan trọng còn là nhiều cũng vậy, ít cũng thế, táo hay đậu đều là những thứ mà nhà Nghê Tảo vẫn hoan nghênh. Chỉ tội họ bàn luậ về nó ngay trước mặt nó, khiến Nghê Tảo đâm ra lúng túng ngượng ngập, làm giảm bớt cảm tình của nó đối với hai người đến từ nông thôn đó.
Chuyến viếng thăm của hai người cũng coi là mang lại một ít sinh khí cho cả nhà. Đặc biệt là hai mẹ con Khương Triệu Thị và Chu Triệu Thị. Trậm ốm của Nghê Ngô Thành và việc hòa giải giữa Tịnh Nghi với chồng khiến hai người bọn họ như mất một cái gì đó. Đương nhiên chính họ cũng không ý thức rõ về điểm này. Cuối đấu tranh với Nghê Ngô Thành, công thủ tiến thoái, thắng bại được mất, gần như đã cấu thành trọng tâm cuộc sống của họ sau khi dời nhà lên Bắc Kinh, thành trọng tâm suy nghĩ và trung tâm thần kinh của họ. Họ là hậu thuẫn có hiệu lực của Tịnh Nghi, họ nghĩ mưu vạch sách cho Tịnh Nghi, hết lần này đến lần khác, có khi là phân tích lặp đi lặp lại những cử chỉ lời nói của Nghê Ngô Thành, đề xuất rồi lại phủ định lại đề xuất những phương án đối sách. Vì những phương án đối sách đó mà buồn, mà vui, mà tức giận, mà lo lắng, mà dậm chân ôm hận hoặc vì nó mà vỗ tay khoái trá, lúc cần thiết thì có thể xông cả lên tuyến một, xung phong hãm trận. Đó là nghĩa vụ luân lý của họ đối với con gái - em gái, đó là sự tất yếu của việc họ tự bảo vệ lợi ích của bản thân. Đó là tất yếu mà họ phải giáo dục Nghê Ngô Thành, bảo vệ giữ gìn luân lý đạo đức tranh thủ lãng tử quay đầu lại. Việc đó khiến họ ngày nào cũng có việc để làm, có lời để nói, có gân cốt để đưa ra sử dụng. Việc đó thậm chí còn khiến họ có được trong mình những cảm gáic khẩn trương, bức xức hưng phấn, và tính chiến đấu. Điều đó thậm chí còn khiến họ quên đi cái bất hạnh không thể nói được, không thể nghĩ đến được của bản thân mình, quên đi nỗi bất hạnh của gia tộc họ Khương và nỗi bất hạnh của toàn bộ thời thế (quốc gia, xã hội). Trước khi đến Bắc Kinh, tâm lực của họ tập trung vào cuộc đấu tranh trong họ tộc đối với kẻ định hiếp đáp hai mẹ con góa bụa, lên tòa án đệ đơn, thăng đường biện luận cho đến phải xuất đầu lộ diện đấu tranh mặt đối mặt với bọn lưu manh côn đồ, những cái đó khiến cuộc sống của họ trở nên phong phú, khiến họ trở nên đoàn kết kiên cường dũng cảm thông minh có bản lĩnh, lấy được lòng tự tin, tìm được ý nghĩa và lạc thú trong cuộc sống sau khi đã vượt qua hoàn cảnh gian nan. Nhất là cuối cùng họ đã giành được thắng lọi, họ đã giữ gìn bảo vệ được tài sản của mình và cuộc sống của mình không bị xâm phạm.
Đến Bắc Kinh được ít lâu thì lại bắt đầu đến Nghê Ngô Thành rồi. Không nhớ rõ là đến được ba hay năm ngày, nguyên nhân là vì chuyện nhổ đờm. Sáng sớm Nghê Ngô Thành sang thỉnh an nhạc mẫu, hai bê nói vài câu khách sao lịch sự. Khương Triệu Thị chợt thấy ngứa cổ, toẹt một bãi đờm đã nhổ ngay xuống chỗ đất dưới chân, rồi nhấc cái chân bó, lấy đế giầy di bỏ bãi đờm đi. Nghê Ngô Thành ra cửa bình phẩm với Tịnh Nghi, rằng nhổ đờm bừa bãi là một thói xấu, là bẩn thỉu là ốc sạo, là dã man có thể truyền bệnh lao, bệnh bạch hầu, ho gà. Nói rằng người châu Âu không bao giờ khạc nhổ lung tung như vậy. Mọi người đều giữ vệ sinh, vì vậy các nước châu Âu ngày càng tiên tiến hùng mạnh... Tịnh Nghi nghe những lời như thế thì không vui vẻ gì. Chẳng may những câu đó cũng bị Khương Triệu Thị và Tịnh Trân nghe được. Chẳng may trong lời Nghê Ngô Thành nói lại có hai chữ ốc sạo, hai chữ đó ba mẹ con họ chưa bao giờ dùng đến, chưa nghe thấy ai nói, mà cũng chưa đọc thấy ở đâu cả. Hai chữ đó từ cách phát âm đến đầu giọng đều khiến cho họ phản cảm đến cực độ, đều khiến họ bị kích thích rất mạnh, đều khiến họ cho rằng, so với những từ ngữ chửi thề rủa độc đã quen mồm của họ, hai chữ đó còn độc ác và âm hiểm hơn nhiều. Sau khi nghe thấy hai chữ đó, Khương Triệu Thị đã tức muốn chết được.
Lúc đó Khương Triệu Thị mới tới Bắc Kinh. Trong lưng vẫn còn một khoản tiền bán nhà đất. Trên mình mặc quần áo bằng lụa mới tinh. Hơn nữa, lần đầu tiên gặp mặt con rể sau thời gian xa cách khá lâu, cần phải có một chút kiềm chế. Bà ta chỉ chửi một câu: Khốn nạn! Bà ta chỉ giở một kiểu hành động, cần một cái ấm pha trà - ấm trà đó là một món quà tặng của Nghê Ngô Thành mua khi được tin nhạc mẫu sẽ đến Bắc Kinh - mang ra sân đập bốp, đập xuống trước cửa nhà đằng Bắc, đập cho tan nát tinh tươm ra.
Lúc đó Nghê Ngô Thành cũng hoàn toàn chưa hề nghĩ đến ngày sau sẽ quyết liệt đến mức như vậy với nhạc mẫu, chị vợ với cả vợ đâu. Sự kiện nhổ đờm - đập ấm khiến anh ta thấy sửng sốt, đáng tiếc và cũng có vài phần hối hận. Như vậy, với sự khuyên giải thuyết phục của Tịnh Nghi, ngay buổi tối hôm đó, Nghê Ngô Thành đã đến nhận lỗi với nhạc mẫu. Khương Triệu Thị tỏ thái độ rất đoan trang, lạnh lùng nói nhận lỗi cũng phải có quy tắc của nhận lỗi, đứng đó mà nói nhận lỗi thì ra cái đít gì, muốn nhận lỗi thì phải quỳ xuống, rập đầu. Nghê Ngô Thành ngạc nhiên lúng túng không biết làm gì, Tịnh Nghi lúc đó còn đang chưa hết ngây thơ và hết lòng mong chồng với mẹ có thể chung sống hòa mục với nhau, liền níu ngay vai chồng kéo cho quì xuống. Nghê Ngô Thành cũng quì xuống thật... Sau đó mới cảm thấy đau lòng cơ. Vì cái sự đau lòng bị xúc phạm đó, anh ta thấy trong mình tăng gấp bội phần sự hận ghét đối với các kiểu bẩn thỉu, ốc sạo, dã man và xấu xí ở nơi đây. Sự công kích của anh ta đối với những thứ đó cũng tăng lên rất nhiều lần. Sự nhiệt thành tin tưởng vào việc học tập các tập quán văn minh châu Âu cũng kiên định lên gấp nhiều lần. Từ đó bọn Khương Triệu Thị đấu đá với anh ta dai dẳng suốt chín năm liền. Thế mà gần đây sau một cuộc đấu đá lớn phấn chấn cả tinh thần, chẳng ai ngờ được, là Tịnh Nghi tự nhiên lại giảng hòa với hắn chứ. Hòa vi quý. Hòa được là tốt. Nhưng hòa rồi Tịnh Nghi có cần đến hai mẹ con nhà này không. Hòa rồi hai mẹ con còn bận rộn với cái gì nữa chứ? Hòa rồi thì họ chẳng trở nên thừa ra ư? Đó là một vấn đề đặt ra rành rành trước mắt nhưng lại chưa có ai nhìn thẳng vào nó cả.
Sau khi hòa với Nghê Ngô Thành rồi, Tịnh Nghi cũng ít qua lại bên nhà đằng Tây. Có đến cũng nói năng qua quýt, thiếu hẳn sự báo cáo đi sâu và kịp thời. Khi hai người nọ còn đánh cãi nhau, bất cứ một việc gì cô ta cũng chẳng đến chậm trễ một phút, nói ngay với mẹ và chị, vấn đề gì cũng cùng với mẹ và chị nghiên cứu kỹ càng, sau khi hòa rồi thì chẳng còn gì để nói nữa. Không có gì để nói, mà cứ giả vờ như có bao nhiêu điều cần nói thì cũng không xong. Không giống.
Điều đó sinh ra buồn tẻ và trống trải. Trong sự buồn tẻ đó Khương Triệu Thị chỉ có thể nói đi nói lại những câu cũ rích hết lần này đến lần khác. Nhớ lại cuộc sống trước kia mười sáu tuổi còn ở nhà họ Triệu của cha mẹ. Tổ tiên của bà ta có một vị đại quan thay mặt hoàng đế đến nước Lưu Cầu đề phong vương. Hoàng thượng ban hco người một tấm kim bài, trên kim bài có viết bốn chữ: Như Trẫm có mặt. Bà ta nhớ lại tình cảnh khi bà ta được xỏ lỗ tai và bó chân. Bà ta nhớ lại một đôi sư tử đá trước cổng nhà họ Triệu. Nhắc xong những chuyện cũ, thì đến việc lục rương soát tủ, giở ra gập vào những quần áo cũ. Nhàn rỗi thì sinh sự, thường thì phát hiện lúc thì mất cái áo nọ, cái quần kia, lúc thì mất miếng vải này, mảnh lụa kia, rồi cả cái cắm kim túi tiền. Lúc khác thì lại tìm thấy tất cả áo nọ quần kia, mảnh lụa miếng vải cái cắm kim và túi tiền. Giữa hai lúc đó, bà ta liền tra hỏi một trận. Tra hỏi thì dễ dẫn đến phản cảm, phản cảm sẽ dẫn đến cười cợt, cãi cọ, mỉa mai, châm biếm. Chu Triệu Thị là thân cận nhất với bà ta, khi bị tra hỏi tuy cũng phản cảm, nhưng nói lại vài câu là có thể hai bên đã tin cậy thông cảm, tiêu tan mây mù hết. Tịnh Nghi thì còn mãi hầu hạ, giáo đục tranh thủ ông chồng, với lại có cũng hiểu cũng biết mẹ mình, nên tuy cũng có phản kháng việc tra hỏi nhưng hễ giơ tay lên là thôi, nóng lên là nghi liền. Nghê Tảo không thuộc hàng ngũ bị tra hỏi, cho dù thi thoảng cũng bị hỏi một đôi câu gì đó, nó liền trố mắt một cái rồi làm như chẳng nghe thấy gì cả, thế là bà ngoại cũng thôi luôn. Cuối cùng cuộc đấu tranh giữa tra hỏi và chống tra hỏi chỉ độc nổ ra như cơm bữa giữa Khương Triệu Thị và đứa cháu ngoại thân yêu nhất của bà ta là Nghê Bình mà thôi.
Chính là vì thân nhất với cháu gái, nên bất kể Khương Triệu Thị tìm cái gì, bất kể bà ta có dùng hay không dùng đến, chỉ cần một khắc mà không tìm thấy, chỉ cần Nghê Bình đang ở bên cạnh, là bà ta lập tức hỏi ngay: "Bình này, con lấy mấy cái mẫu thêu hoa của bà đấy à?", "Con lấy mẫu thêu hoa của bà làm gì?" Nghê Bình hỏi lại, nó không hiểu câu hỏi của bà ngoại. "Bà không hỏi con lấy mấy cái mẫu hoa đó alfm gì, bà hỏi con có lấy hay không. Lấy thì con bảo là lấy, để bà khỏi phải đi tìm. Không lấy thì con bảo là không lấy, để bà còn tìm. Có chôn xuống ba thước đất bà cũng phải tìm bằng được! Những mẫu hoa ấy của bà là mẫu ngày xưa, khi mười một tuổi bà đã thêu hoa theo các mẫu đó rồi. Những mẫu hoa lan, hoa thủy tiên, uyên ương, hồ điệp... đó đều là những thứ bây giờ không có đâu. So với những mẫu hoa của bà, thì mẫu hàng bán bây giờ ở chùa Bạch Tháp với chùa Hộ Quốc thì xứng đáng cho người ta chùi đít!" Càng nói bà già càng có vẻ nóng nảy.
"Những câu đó nói với cháu làm gì?" Nghê Bình cảm thấy mình phải chịu sự oan khuất và sự nhục nhã to lớn lắm, gần như bị vu là ăn cắp, "dù là mẫu hoa quý hơn vàng hay mẫu hoa chỉ đáng chùi đít, thì cháu cũng cần chúng nó làm gì? Cháu cần chúng nó chẳng lẽ cháu không biết hỏi xin bà hay sao? Ai lấy mẫu hoa người đó không được chết tử tế!" Nó đã vận dụng cầu thề mà người trong nhà thích dùng nhất một cách rất thành thạo.
"Cái con bé đáng chết này sao lại thế hả, cháu nuốt phải thuốc súng đấy hả? Sao lại không cho bà nói hả? Mẹ cháu, ba cháu cũng không dám nói thế với bà nhà, chính cháu mới không được chết tử tế ấy!"
Như thế, như thế, như nọ như kia, chuyện cãi vã vặt qua đi xong thì Khương Triệu Thị đã lấy được đủ cảm hứng chuyện xưa chuyện nay. Xa rồi thì không nói, chuyện tổ tiên bà ta đi phong vương cho Lưu Cầu Quốc cũng không nói nữa, chuyện ông nội bà ta được phong là Hàn Lâm cũng không nói nữa, chồng bà ta được mời làm thầy thuốc riêng cho trường trung học cao cấp duy nhất cho toàn huyện không nói nữa, thậm chí đến việc bà ta mới bán một phần tài sản gia nghiệp, cùng với con gái góa bụa lên kinh sinh sống cũng không thể nào so sanh được. Bây giờ chẳng còn dung nhan như ngày xưa, dáng dấp như ngày xưa, tiền tài như ngày xưa, vốn liếng như ngày xưa nữa. Bây giờ chả nói được chuyện bắt con rể phải quì nữa, cả đến cái con bét chết tiệt Nghê Bình, muốn ra oai bắt nó quì mà cũng chẳng nổi nữa là, trời chiều thì ắt tối, đến thế mà thôi!
Nhăn không trữ lệ lệ thùy, ám sả nhà phao tri hướng thuỳ? Khi lên cơn buồn thương cảm động, chỉ còn có thơ của Lâm Đại Ngọc thôi. Hổ lạc xuống đồng chó cũng khinh, Phượng hoàng già rời cõi chẳng bằng gà. Ngoài những dịp cuối năm hai đầu hộ tá điền Trương Tri Ân và Lý Liên Giáp đến thì mới nghe được mấy tiếng xưng hô là bà lớn ra, cái danh xưng bà lớn và uy phong cũng đã bị tháng ngày xóa sạch không còn dấu vết cũng chẳng khác nào cái lẽ nhân sinh thường hận thủy thường đông (ở đời thì hay hận ghét nước thì hay chảy về đông).
Trải qua mấy cuộc lục rương hòm - tìm đồ vật - phát hiện đồ bị mất - tra hỏi đồ vật - cãi cọ - tìm thấy đồ vật - cất đặt lại - đóng nắp rương hòm xong, trải qua những hồi ức, chuyện xưa, than thở cùng với quá trình tìm được - mất đi - lại tìm được, cuối cùng đồ nào vật ấy lại lặng lẽ trở về chỗ cũ của nó xong, Khương Triệu Thị chuyển sang bận rộn với việc sửa chân. Chân bó càng dễ bị lên chai dưới bàn chân và lên mắt cá, vì vậy sau khi lấy được tiền mà hai người Trương Lý đưa tới bà lớn nghiến răng mua liền một lúc hai con dao chuyên dùng để sửa chân và đem con dao sửa chân cũ cho Nghê Tảo để chơi trò phi dao cùng với bọn bạn. Bản thân con dao sửa chân đã có hình dạng giống chân người. Phi dao là một trò chơi của trẻ con trai, phi con dao xuống đất cho con dao cắm xuống đất mà đứng được, mỗi vết dao phi xuống phải được nối liền với nhau thành một đường thẳng và không được cắt ngang hoặc dính vào đường của người khác. Đường thẳng ngày càng nhiều và dài ra nên phải rẽ ngoặt gấp khúc càng nhiều, rồi bao vây ngăn chặn lẫn nhau để giành phần thắng. Nhìn thấy cái trò chơi đó, Nghê Ngô Thành lại sắp sửa nổi cơn cảm khái kinh khủng lên.
Sửa chân (thực chất là giọt chai dưới gậm bàn chân) cũng có thể gây nghiện. Cởi đôi giày hình tam giác ra, gỡ dây bó buộc chân ra xong, đầu tiên lấy cái vịm sành đựng nước nóng ngâm chân vào, cái vịm sành đó là cái chậu chuyên để rửa chân mà Khương Triệu Thị mang từ quê lên. Ngâm cho đến khi cái chân nhỏ tí hình dáng vặn vẹo đỏ lên, mềm đi xong là bắt đầu gọt. Mới bắt đầu đưa lưỡi dao vào thì rất cẩn thận, chỉ sợ làm đau chỗ đso, đến móng chân cũng không dám cắt đi quá nhiều. Sau mấy lần gọt gọt đến khi đau không ra đau, ngứa không ra ngứa thì bắt đầu cảm thấy nghiện, cứ cảm thấy gọt mà không sạch hết chai, không triệt để thì chưa đã, gọt mà càng thấy đau thì càng đã cơn nghiện, cuối cùng gọt phạm vào sâu quá, chảy cả máu. Có một lần máu đã chảy mất không ít.
Gọt chân xong thì làm gì nữa nhỉ? Bà ta định lấy vải vụn làm mấy chiếc đế giày (Bắc Kinh gọi là bồi đệm) để rồi khâu giày. Nhưng thời tiết không hợp. Mùa đông đang rét lạnh nhiều, khâu xong thì làm sao mà phơi khô được chứ? Bà ta vô công rổi nghề lôi ra làm mấy việc khâu khâu vá vá. Rồi thì là đi chọc lò than quả bàng, bất kể ai nhóm bếp ai làm cơm, Khương Triệu Thị cứ thích chọc chạch vào bếp lò. Có khi người ta đang nấu dở nồi cơm bà ta lại thêm mấy viên than vào. Bà ta tin chắc rằng nếu như bà ta không kịp thời bỏ thêm than thì lò than sẽ chắc chắn tắt mất, không nghi ngờ gì cả. Có khi người khác đã bỏ thêm mấy viên than vào rồi, đã cất cái ống thổi lửa trông giống chiếc kèn hiệu của quân đội sang một bên rồi, tiếng phập phù bập bùng của than bén lửa đã nghe rõ rồi, bà ta vẫn có thể thò tay vào chỗ khói hun lửa đốt đó mà nhón ra mấy hòn than đang bốc khói, thậm chí đã cháy đỏ một bên. Bà ta tin chắc là mình phải nhặt bớt ra như vậy mới khỏi lãng phí mấy hòn than và thúc cho lửa cháy được nhanh hơn. Còn một điều đặc biệt nữa là tuy ở nhà đó có đầy đủ các dụng cụ cái móc để cời than, đũa gắp than và xẻng để xúc tro, nghĩa là tất cả thứ cần cho một bếp lò than nhưng Khương Triệu Thị vẫn thích dùng tay không nhặt bớt than trong lò ra hoặc lấy than cháy rồi vứt đi, có lần trong quá trình nhóm lò than, có thể thò tay vào lửa nhặt viên than chưa cháy hết hoặc đẩy đóm vào giữa lò. Làm vậy tất nhiên bỏng tay, có khi bỏng nặng hoặc ít nhất hai tay cũng dính than đen nhẻm. Có khi bà ta chọc chạch vào bếp than còn bị con gái đang dùng bếp kêu la phản đối, nhưng bà ta vẫn thích làm như vậy chẳng chán tí nào. Đối với bà ta mà nói, giữa những cái bếp lò than với nhau là một vật đang sống, có linh có tính hẳn hoi, có thể đem sức ra phục vụ bà ta nhưng cũng có thể làm hại bà ta, nó đòi hỏi bà ta chăm sóc, nghe theo sự sắp xếp của bà ta, nhưng nó lại có ý chí riêng, có khi còn có tính ương bướng riêng, là thứ thật sự có thể dám đối đầu cả với bà ta. Bà ta rất có hứng thú đối với lửa, rất tò mò nữa. Tăng thêm một viên than, giảm bớt một viên than mà không có quan hệ gì ư? Thêm một viên nữa hay bớt một viên nữa thì đã sao? Thêm nữa lên thì sao? Thêm đến mức độ nào thì bị đè chết, giảm đến mức nào thì không chịu nổi một bữa cơm? Đối với quan hệ giữa lượng và chất như vậy, Khương Triệu Thị hơi cảm thấy có vẻ sâu xa huyền bí. Nó chẳng khi nào là không biến hóa có khi trông ra thì vẫn còn cháy sáng rực như đang vượng đấy, thế mà đã yếu xìu rồi, đưa đũa gắp than vừa đụng vào một cái là đã bở tơi ngay ra, thêm than vào thì đã muộn rồi. Nhưng vẫn có thể lấy củi nôm để cấp cứu, có khi chỉ cần thêm một thanh củi bằng ngón tay út là đã có thể cải tử hoàn sinh rồi. Có khi chỉ thiếu đi chỉ một thanh củi bằng ngón tay út là cả bếp lò ô hô ai tai rồi. Có khi thấy trong lò đen tối om om chẳng có một chút ánh sáng nào, mọi người chẳng còn hy vọng gì nữa, bà ta liền nhặt cái quạt nan rách lên quạt mấy cái vào miệng lò, cái miệng lò trông như cái rốn trên bụng người ấy. Quạt mãi quạt mãi thế là lửa lại bùng lên, cái lửa bén lên như vậy có sức nóng ghê gớm, từ trên xuống dưới đều là than mới lửa mới mà. Có lúc quạt đế nửa ngày cũng chẳng thấy tăm hơi gì, nhưng còn có một làn khói nhẹ luẩn quẩn trên lỗ thông hơi, giống như một hơi thở hiu hắt của người bệnh, giống như một người bệnh chỉ còn một chút hồn mong manh đang bay ra. Lúc đó Khương Triệu Thị một lòng muốn cứu lửa bằng được, bà ta có thể cúi rạp người xuống, bà ta có thể quỳ một chân xuống đất, phồng mồm ghét sát vào rốn lò mà thổi phù phù phù liền ba hơi. Khói nhẹ đã thành khói đượm, cái đượm cay sè cả mắt cả mũi, sặc cả vào cổ họng, nhưng lửa đã bén rồi, hồn đã nhập lại xác, hoàn dương rồi, sau làn khói đượm đã là ngọn lửa bừng bừng.
Lại còn có khi, nhìn ở dưới bụng lò thấy lửa còn tàm tạm, than tiếp thêm cũng không phải là quá muộn, số lượng cũng không nhiều không ít, ống không khói đặt rất ngay ngắn, sao bao nhiêu lâu cũng không thấy lửa cũg chẳng thấy khói nhỉ? Cấp cứu, thêm củi nòm, có thể bỏ bớt than chưa cháy ở bên trên để thêm củi vào, cũng có thể dùng phương pháp chem, cố nhét củi nòm vào rốn lò. Sau đây là một phương pháp do Khương Triệu Thị tự mò mẫm tìm ra được đấy, bà ta cho đó là phát minh riêng của mình, là một tuyệt chiêu cải tử hoàn sinh, luôn rất hữu hiệu nhá. Đến lúc nào nhét đầy củi vào cũng không xong, quạt cũng không xong, thậm hcis vảy cả dầu hỏa vào cũng không xong nữa. Thì chiêu cuối cùng là đánh một canh bạc dốc vốn, không tính giá thành khi khẩn cấp, dù than quả bàng vẫn đen xì đi nữa, chỉ cần vẫn còn độ nóng, vảy một ít dầu hỏa vào, dầu hỏa bị nóng bốc thành hơi, liền đánh ngay một que diêm vứt vào chỗ hơi dầu đó, phụt phụt một lúc, ngọn lửa liền phu lên rõ cao, thường là bắt vào tất cả các viên than trong lò. Một thành hai, hai thành bốn, bốn thành tám, tám thành mười sáu, chỉ mấy phút sau là lửa đã ù ù réo lên. Giống như đổ nước sâm cho người bệnh đang hấp hối để cứu cho tỉnh lại vậy. Ông chồng là thầy thuốc Trung y đã qua đời của bà ta từng nói, nếu trong nhà có tiền thì đổ nước sâm, mà phải là sâm rừng, tốt nhất là sâm cao ly - mà phải là nguyên cả củ có đầu, thân, rễ đủ hết, hình dạg của nó phải thực sự giống như người. Đổ được nước sâm như vậy thì nhất định sẽ bắt ngay con bệnh đang qui về cõi âm, trở lại dương gian được thôi.
Nhưng khi bệnh đã nhập cao hoang, đã đến cái hạn của con người, đã đến số mệnh định trước rồi, thì dù có đổ toàn sâm cao ly vào cũng cứu không nổi nữa. Trị được bệnh không trị được mệnh, đó là ý nghĩa như vậy đấy.
Lửa than quả bàng có mệnh của nó không? Nếu không thì tại sao cùng một tình huống cùng một biện pháp cấp cứu, phần nhiều thì có hiệu quả, nhưng có lúc thì chỉ là uổng phí tâm cơ, uổng phí sức lực, uổng phí củi đóm dầu diêm thôi?
Lửa lò thần bí sâu xa như vậy, Khương Triệu Thị làm sao không nhớ nhung, không mày mò mân mê cho được? Hai tháng gần đây, dần dần Khương Triệu Thị có xu hướng muốn lũng đoạn cái lửa đó, lửa là vật cưng của bà ta, con gái lớn Tịnh Trân, con gái lớn thứ hai là Tịnh Nghi mà đụng vào lửa, là bà ta ghen tuông ngay. Còn cháu ngoại Nghê Bình mà đụng vào ư, bà ta sẽ mắng mỏ ngay.
Mân mê chọc vạch lửa xong bà ta lại cứ hay nhìn ngắm đối mặt với bàn tay đen nhẻm bỏng sém của mình mà thở than, thời buổi gì thế không biết, bà lớn sao lại phải luân lạc đến cái nước này đây hử?
Lại còn cái việc hạ đẳng này nữa chứ, đó là việc đánh rửa chậu nước tiêu, Khương Triệu Thị cũng có chút hứng thú đặc biệt với việc này. Bà ta thích dùng một từ đặc biệt, gọi là hả bớt hơi - bà ta cho rằng hả hơi là một phương pháp tốt nhất để giữ vệ sinh sạch sẽ, giữ được phẩm chất của đồ ăn thức dùng, đề phòng ôi thiu thối rửa. Nếu có một cái quần áo nào bị ẩm ướt mà bốc ra mùi mốc, thế thì phải đem ra phơi, hả bớt hơi đi, phóng thích cái mùi mốc của nó đi, thế là giữ được quần áo. Nếu có cái bánh bao nhân thịt sắp thiu, vậy thì tốt nhất là đem bẻ bánh bao ra, để nhân thịt bên trong vốn khó hả hơi vì bị bọc trong vỏ bánh, tha hồ mà tán phát mùi vị của nó ra, như vậy bánh bao sẽ giữ được mùi khỏi bị hỏng. Cũng dùng phương pháp cho hả bớt hơi như vậy, bà già áp dụng biện pháp làm sạch đặc biệt với chậu đựng nước tiểu.
Chậu đựng nước tiểu của bọn họ toàn làm bằng sành, nói chính xác hơn thì phải gọi là bô đái - vì mỗi sáng ngày ra thì đều phải thúc giục trẻ con cho chúng nhanh chóng ngủ dậy, nên vùng Mạch Quân Đồn - Đào Thôn có một câu đồng dao là: "Ai dậy nhanh làm quan lớn, ai dậy muộn làm bô tè." Cái bô đái bên trong lòng sần sùi thô nhám, mà lại không có nắp đậy. Loại bô đó có khi trong một buồng có một chiếc, nhưng có khi mỗi buồng để hai ba chiếc. Nếu như dùng lâu năm cũ kỹ đi rồi, nếu như mùa đông cửa đóng kín mít, thì mùi của nó nặng nề nồng nặc lắm, chả nói thì cũng có thể tưởng tượng được ra. Cái thứ đồ gốm sành sần sùi lắm vết rỗ của tạp chất đất nung đó rất khó rửa sạch được, dùng chổi cọ thì cũng rất khó tiếp xúc được vào những góc chết. Vì vậy những cái bô đó thường xuyên đóng cặn trắng như muối. Phương pháp mà Khương Triệu Thị sử dụng là, sau khi đã đổ hết nước trong bô rồi, thì dùng một siêu nước đang sôi sùng sục dội từ trên cao tít xuống lòng bô, đặc biệt hôm nào trời rét đậm, dội như vậy lập tức một đám hơi nước bốc lên mờ mịt như sương muối, nồng nặc kinh người, khiến người ta phải tắc thở, khiến người ta phải chóng mặt nhức đầu nhưng cũng lại có chút khiến người ta tỉnh táo khỏi cơn ngái ngủ. Đó là một phen hả hơi quá khoái trá đã cơn nghiền. Sau khi Tịnh Nghi và Nghê Ngô Thành hòa nhau rồi, cuộc sống của Khương Triệu Thị thiếu mất mùi thuốc súng, bèn phải đưa tâm lực đặt vào việc mân mê chọc vạch lò than và đánh rửa bô nước tiểu thôi.
Sau khi Tịnh Nghi và Nghê Ngô Thành hòa nhau cuộc sống của Chu Khương Thị cũng xảy ra một số thay đổi. Cuộc sống rửa mặt chải đầu trang điểm buổi sáng sớm của chị ta kéo dài so với bình thường từ mười lăm đến hai mươi phút, dường như chị ta cố tình dành thêm nhiều thời gian để chìm đắm trong thế giới riêng tuyệt đối của mình trong việc tự nghĩ ngợi tự than thở, tự thương hại, tự hận ghét. Mà còn bớt một chút, chậm một chút trong việc mở mắt để đối mặt với cái thế giới trống rỗng của hiện thực chẳng có một tí gì là mình trong đó. Trong các cuộc chải chuốc trang điểm như vậy, những cái cười khẩy của chị ta càng ngày càng nhiều, càng khiến người ta phải rợn tóc gáy hơn.
Chị ta triển lãm hết sách vở của mình ra, trong nhà vốn có mấy cuốn sách giải trí như "Tây Sương ký", "Mạnh Lệ Quân", "Kim Phấn thế gia" của Trương Hận Thủy, "Hồng Hạnh xuất trường ký" của Lưu Vân Nhược, lại có một cuốn "Nỗi buồn của chàng Vecte" của Gớt với cuốn "Tiểu sử danh nhân thế giới" của Nghê Tảo, chị ta đọc đi đọc lại, xem đi xem lại, không sót một chữ, không biết chán nản. Ngoài những sách trên, chị ta còn thích ra cửa hàng sách để thuê sách nữa, sách diễm tình, sách võ hiệp, sách trinh thám... đều thuê đọc hết, chị ta đã từng thuê cả những tập truyện ngắn của Trương Tư Bình, Uất Đạt Phu, "Ái tình tam bộ khúc" của Ba Kim, "Triệu Tử Viết" của Lão Xá và bản dịch trung văn các tác phẩm của Draydo, Xinclero, Merime. Chị ta dường như có thể nói là có sách giải trí thì đọc, đã đọc thì không phân biệt loại nào. Chị ta đọc rất nhanh, đọc một lần là đã nhớ được nội dung câu chuyện, và thích kể lại chuyện. Chị ta không sợ đã đọc những cuốn sách đọc qua rồi, dường như mỗi lần đọc đều tìm được sự hứng thú mới. Chị ta rất thích đọc chuyện ái tình và những đoạn miêu tả ái tình, lại còn có những đoạn mà chị ta gọi là phấn (sắc dục) nữa, chị ta đều đọc rất thú, không biết mệt. Nhưng khi đọc chị ta tuyệt đối không rung tim đỏ mặt, tuyệt không có phản ứng tâm sinh lý gì cả, tuyệt không tơ tưởng miên man gì cả. Khi đọc những sách đó, chị ta cũng như thể xem ca kịch Đại yêu quái mà thôi, bất kể là diễn vỡ Nhặt được vàng ngọc, hay Đập chum bột, Nhân diện đào hoa, hay Ni cô nhớ phàm, đều là giải khuây, đều là cười đùa, đều là giả vờ giả vịt bỡn cợt cho vui. Vì vậy người ngoài có thể nói chị ta đọc một quyển sách rồi quên ngay đi được, hay hơn nữa còn có thể nói được là quên quá nhanh. Nếu không liên tục đọc cuốn sách đó, mà ucnxg không có cơ hội kể lại cho người khác, thì chị ta nhất định tự nghĩ mình đã quên cuốn sách đó rồi, chị ta quyết không bao giờ nghĩ về cuốn sách đó nữa. Đại khái chính vì vậy, nên chị ta mới có thể giữ được hứng thú đọc đi đọc lại. Còn thì có phải đã thực sự quên được cuốn sách đó hay không, thì chưa chắc đã đúng. Giả thử có người gợi ý phần đầu câu chuyện thì chị ta lại thường có thể kể được từ đầu đến cuối câu chuyện trong cuốn sách đã quên kia.
Cũng có khi Tịnh Trân đọc sách mê mải đến quên cả ăn uống. Chị ta xem, chị ta độc ra tiếng, chị ta lắc la lắc lư, chị ta kéo dài giọng, ngâm nga lên bổng xuống trầm, trên mặt chị ta hiện ra những tình cảm hỉ nộ ai lạc, những lúc như vậy nếu có ai nói chuyện với chị ta, chị ta cũng bịt tai không nghe. Thật là giống người có cuộc sống tinh thần độc đáo thâm thúy. Nhưng càng những lúc đọc sách như vậy, sau khi buông sách ra chị ta lại càng cảm thấy mù tịt chẳng biết gì nữa. Không chỉ là đầu óc, mà lục phủ ngũ tạng đều tựa như đã bị moi rỗng cả ra. Chị ta chỉ còn lại cái vỏ của mình thôi. Vừa rồi không hề là chị ta, mà chỉ là cái vỏ của con người đang đọc sách. Đang đọc cái vỏ của cuốn sách kia. Còn linh hồn của chị ta thì không có chỗ để ở trong thân thể.
So sánh với việc đọc sách, thì còn có việc làm ra cái gì ăn thật sự. Từ sau hôm rán bánh tương tôm có cả Trương Tri Ân, Lý Liên Giáp đó trở đi, hứng thú của Tịnh Trân với tương tôm tăng lên rất nhiều. Chi ta lại rán mấy lần bánh đó nữa, rán đến nỗi khói tanh ngòm cả sân lên. Chị ta đã hòa giải quan hệ với nóng hổi và lại còn thân mật ghê gớm nữa. Chị ta làm theo kinh nghiệm tiến tiến của nóng hổi và dưới sự chỉ đạo trực tiếp của nóng hổi, đã trộn một ít bột mì trắng và một ít bột nở, chưng hấp trong độ hai mươi phút, tôm tương định hình thành từng khối vuông vuông trông hơi giống bánh ga tô. Sau đó đổ một ít dầu mỡ phi thơm lên, uống rượu ăn với bánh mì, phong vị tuyệt ngon. Một cách nữa là ăn sống, nhưng phải có dầu thơm, có hành củ, ăn kiểu này vì còn nguyên chất chưa nêm thêm gia vị nên tương đối mặn, ngọt đượm, thơm gắt ăn kèm màn thâu có thể ăn thêm già nửa cái, ăn được mấy lần, sau đó sức kích thích của tương tôm có vẻ cũng đã hơi giảm, thì bèn ăn chao đậu phụ. Chao mà nhắm rượu, vị cay nồng của rượu dung hợp với mùi thum thủm của chao, tựa như cùng nhau làm tiêu tan bớt tất cả phiền muộn bực dọc bức xúc của chị ta.
Hôm nay mình làm cái gì đây? Trong mỗi một sáng sớm của Chu Triệu Thị, trong giờ phút bắt đầu của một ngày trên con đường sống của chị ta, đều có một câu hỏi cũ kỹ não ruột như vậy chắn ngang ngay trước mặt. Nặng nề như núi, vô hình như khói, vô biên như trời. Hôm nay mình làm cái gì đây? Chị ta mãi mãi không bao giờ trả lời được, chị ta bao giờ cũng sợ phải trả lời câu hỏi đó, chị ta luôn luôn đau khổ vì câu hỏi như thế, thậm chí còn xấu hổ vì nó. Một con người không biết mình có việc gì để làm thì thật là tủi hổ biết bao nhiêu chứ! Và cái câu hỏi đó trong mùa đông này lại càng gay gắt hơn.
Hôm nay mình... làm món cà cay. Đây là sự cống hiến của chị ta cho tập thể. Lấy quả cà tím cắt xéo từng lát mỏng theo chiều dọc nhưng không cắt dời hẳn ra khỏi quả cả, phi thêm ớt tươi, dằm thành bột nhuyễn trộn với muối xát vào giữa những lát cà, ướp độ nửa ngày, sau đó dùng dầu rán lên, làm thành một món ăn rất khoái khẩu vừa tê, vừa cay, vừa mặn được tập thể rất hoan nghênh, trừ Nghê Ngô Thành.
Hôm nay mình làm... món bánh nhân thịt. Đó là một món hơi cao cấp riêng của nhà. Trong các loại thịt làm nhân chị ta nhất định phải chọn thịt cừu, chính vì thịt cừu có cái vị gây gây, có thể khiến chị ta có cảm giác thỏa mãn. Chị ta băm thịt ra làm nhân "một túi thịt bọc". Dù vào năm được mùa cũng không thường được ăn bánh nhân "một túi thịt bọc" đâu. Ăn "một túi thịt bọc" là cả một sự kiện, chị ta toàn tâm toàn ý tập trung làm vỏ và nhân bánh. Cách vào nhân bánh của chị ta cũng không giống cách vào nhân bình thường. Chị ta hòa bột xong, trộn và cán thành miếng mỏng, lấy tay kéo kéo vuốt vuốt, khiến vỏ bánh trông như hình chữ nhật, dàn vào đó một phần nhân thịt, chiếm độ một phần ba diện tích, gập cả vỏ bánh lẫn nhân lộ trở lại một trăm tám mươi độ, xong đặt một phần nhân vào chỗ vỏ bánh vừa lật lại và gấp mép vào, ấn cho phẳng phiu rồi đặt vào chảo phẳng đáy xoa chút mỡ mà nướng chín. Như vậy, hình thành một loại bánh hơi dài, có ba tầng vỏ bánh hai tầng nhân, rất đặc biệt. Tịnh Trân gọi nó là bánh thịt. Hai tầng vỏ ngoài cùng thì nướng vàng rộm, tầng vỏ ở giữa thì mềm mại tươi ngon. Ăn loại bánh vừa ra khỏi chảo này, chị ta thường hứng thú đến nỗi mồ hôi trán chảy cả xuống mặt, nước miếng lẫn nước thịt mỡ tứa ra thành giọt, nóng đến xuýt xoa, thơm đến xuýt xoa, cắn một miếng xong, vỏ vỡ nhân vụn, bánh thịt cũng biến thành xuýt xuýt xoa xoa.
"Hôm nay có khi tôi ăn bánh thịt", trước khi bắt tay vào việc chị ta ra tuyên bố chính thức như vậy. Trên mặt thể hiện một vẻ nghiêm túc, không thể bàn tán thương lượng, chăm chăm chú chú chỉ biết có mình. Phần ngấm ngầm sau lời nói của chị ta là các người muốn ăn các người cũng có thể làm - tôi đã làm chỉ là chỉ để mình tôi ăn, tôi chả dại cho các người đâu, các người đừng có mà thèm rỏ dãi, các người đừng hòng mà xin tôi, kẻo lại bảo là tôi không nói trước!
"Ăn thì cứ việc mà ăn", Tịnh Nghi lạnh lùng trả lời. Có khi còn thêm vào một câu: "Thích ăn gì thì ăn nấy, ai dám ngăn cản chị?" Có khi lại thêm một câu khác nữa: "Ăn thì cứ việc mà ăn, ai không cho chị hốc nào."
Đổi ăn thành hốc, trong đó có một ý khó chịu, có mùi vị sỉ nhục đấy.
Tịnh Trân không để ý những phản ứng đó. Từ chỗ tuyên bố ăn bánh thịt đến chỗ làm ra được bánh thịt, dáng vẻ của chị ta thật là dứt khoát, cố gắng gạt mọi khó khăn, không cười kiếc gì cả. Cho đến khi ăn sắp no rồi, xuýt xoa xì sụp một trận rồi, chị ta mới có thể cười một nụ cười tự đáy lòng. Nếu mà bánh thịt làm thừa ra, chị ta sẽ gọi trẻ con đến ăn một tí. Còn như đối với mẹ là Khương Triệu Thị, giữa họ đã có thỏa thuận ngầm. Khi làm bánh thịt nếu Khương Triệu Thị cũng thèm ăn, thì sẽ đến giúp chị ta cùng thao tác, chị ta hoan nghênh. Nếu Khương Triệu Thị không thèm ăn, Khương Triệu Thị không thèm để ý gì đến chị ta, chị ta cũng chẳng cần có ý khiêm nhường gì hết khi ăn bánh thịt.
Thái độ nghiêm khắc thế kia chủ yếu là để đối phó với em gái thôi. Tịnh Nghi cảm thấy không khoái, những cũng không biết làm sao. Có lúc thì cô công khai nói này nói kia một lúc, phàn nàn việc chị làm bánh đổ quá nhiều dầu vào chảo, bánh đã nhiều mỡ rồi, chảo lại cho lắm dầu, chẳng biết ngày sau sống thế nào được... đại khái vậy thôi. Tịnh Trân có lúc chả để ý, có lúc cũng trả môi trả miếng mấy câu. Tinh thần của chị ta đang tập trung vào bánh thịt, hơi đâu chú ý đến bình luận của em gái.
Phải lúc định ăn bánh thịt, Tịnh Trân rất chú ý làm lệch thời gian đi. Nếu định ăn bánh thịt vào buổi trưa, thì chải đầu buổi sáng xong là bắt đầu chuẩn bị ngay, chưa đến mười giờ là ăn được rồi. Nếu ăn vào buổi chiều, thì phải bớt ngủ trưa đi một ít, để chưa đến bốn giờ là đã có thể ăn xong bánh thịt rồi. Làm thế thì tránh được việc cùng lúc phải dùng bếp lò mà xảy ra xung đột, khiến Tịnh Nghi không thể nói được gì về vấn để chiếm dụng bếp lò hết cả, hơn nữa do ăn cơm sớm lên mà - kéo dài kéo rộng được thời gian sau bữa ăn, như vậy có thể khiến chị ta ung dung ngồi nhớ lại và thấm thía mỹ vị của bánh thịt.
Thêm một thứ thưởng thức cấp cao nữa là ăn thịt đầu cừu. Buổi tối có người bán rượu nhắm đầu cừu đến, gặp buổi Tịnh Trân trong lưng sẵn có đồng tiền, liền gọi người kia vào. Người bán thịt xách một chiếc đèn bão khi sáng khi tối lập là lập loè, ngồi xổm xuống trước cổng nhà họ, lấy cái đầu cừu trong cái hộp xách tay ra, đặt lên một cái thớt sạch sẽ, dùng con dao phay sáng loáng, thái thịt đầu cừu thành từng lát mỏng trong như giấy bóng mờ, rồi đặt vào một tờ báo cũ đã trãi sẵn, rắc thêm muối tiêu, đưa cho Tịnh Trân. Đưa cay bằng thứ này, tất nhiên là ngon hơn chao đậu phụ nhiều. Hơn nữa vì họ cho quá ít, thái quá mỏng, cầm vào trong tay lơ thơ được mấy miếng, tuy ăn xong trong miệng có mùi thơm của thịt và hạt tiêu, nhưng trong bụng hoàn toàn chẳng có cảm giác về thịt gì cả, sự thòm thèm đó lại càng tăng thêm tính hấp dẫn của thịt đầu cừu.
Từ khi em gái và em rể hòa nhau, sau khi Trương Tri Ân, Lý Liên Giáp tới xong, tính tích cực tự làm món cho mình ăn của Tịnh Trân tăng rất mạnh, sức lực đầu tư vào đó cũng tăng lên nhiều. Điều đó không chỉ gây nên sự bất mãn của Tịnh Nghi, đã gây ra mấy lần kháng nghị và cãi cọ, mà cả Khương Triệu Thị cũg đã đề xuất lời trách cứ và lời khuyên nhủ của mình: Cô lớn này, cô đừng có mà quá khoe mẽ trổ tài lắm nữa, suốt ngày chỉ biết có mình mình, thế thì ra cái gì hả, nhà mình hãy nên sống thế nào cho hài hòa đẹp đẽ tí chứ!
Tịnh Trân nghe lời mẹ nói, lẳng lặng chẳng ra lời gì cả. Nhưng nghe lắm thì cũng phiền, bèn đột ngột bùng lên rằng: Cần thì có một cái mồm đây, cần thì có một cái thân đây, cần tiền thì chẳng có đâu. Nếu cho ăn thì ăn, chẳng cho ăn thì chúng tôi nhịn, nhịn đói, nhịn cả nửa tháng cũng chẳng rên lấy một tiếng đâu, nếu rên lên một tiếng thì chẳng phải là giống người cha sinh mẹ dưỡng nhá. Chết đói thì vứt cho chó ăn, chó không ăn thì nuôi rồi. Ai muốn ăn thì người ấy làm, không muốn ăn thì câm mồm đi. Ăn một ngày tính một ngày, ăn một bữa tính một bữa, một bữa cũng không còn mà ăn thì tôi đi đầu thai, đầu thai thành ngươi tôi ăn thịt, đầu thai thành chó tôi ăn cứt, đầu thai thành lơ tôi ăn dao..
"Đấy là cái gì với cái gì hả?" Khương Triệu Thị hét lên. Tịnh Nghi nghe thấy xong đến phê bình chị quá là thổ phỉ, rồi thì Nghê Bình cũng tham gia, rồi thì Nghê Tảo cũng tham gia, rồi cả nhà công kích Tịnh Trân. Rồi Tịnh Trân cười to: "Chắc là thèm rồi chứ gì? Thèm đến chết các người rồi! Tôi cứ ăn, cứ không cho các người đấy!" Cuối cùng mọi người cũng cười, cảm thấy Tịnh Trân thật buồn cười, dường như lại còn hơi đáng buồn đáng khinh nữa. Tịnh Trân cũng cảm thấy mình đã thắng rồi, không những riêng mình đã tự làm, tự ăn, mà còn khiến cả một lũ người giơ hết cả cái bản mặt xấu xa ra. Rồi sau khi ăn bánh thịt bánh tôm tương xong, Tịnh Trân quẹt mồm thỏa thuê, mọi người cũng đi ăn thứ khác. Sau bữa cơm không khí vẫn còn đoàn kết, ai cần nói gì thì nói nấy, còn làm gì thì làm nấy, muốn hát gì thì hát.
Cứ vậy vừa ăn vừa đấu, vừa nấu vừa ăn mấy tao mày đận rồi dần dần cũng chán phè, chằng có gì hay ho nữa liền quay ra đi lại nhiều hơn với "nóng hổi" người đồng hương hiểu sự, người láng giềng suốt ngày bận rộn, tóc tai xõa xợi cả ra. "Nóng hổi" biết rất nhiều chuyện kiểu nhà Trương thì dài nhà Lý thì vắn, bà ta đặc biệt cần một thính giả. Mâu thuẫn trước đây giữa "nóng hổi" với Tịnh Trân có lẽ chỉ vì bà kia thì quá cần Tịnh Trân làm thính giả, còn Tịnh Trân thì lại cự tuyệt làm thính giả cũng nên? "nóng hổi" cũng rất cần Tịnh Trân kể lại những sự việc liên quan trong cái sân nhà chị ta, đặc biệt là tin tức xung qunh Nghê Ngô Thành. Mâu thuẫn trước kia của họ cũng là cuộc đấu tranh giữa đòi kể và không chịu kể chuyện. Bây giờ, về đại thể, Tịnh Trân vẫn cự tuyệt việc xung vào đội ngũ kẻ báo tin kẻ đưa chuyện trước "nóng hổi" nhưng lại rất vui lòng làm thính giả của bà ta.
Chị ta đặc biệt thích nghe "nóng hổi" kể chuyện về con "gà đồng" (gái làm tiền) ở cửa phía Đông ngõ nhà bà ta. Con gà đồng đó Tịnh Trân đã trông thấy rồi, ả ta mặt mày u uất, trát phấn tô son, ngón tay giữa và ngón tay trỏ bên tay phải đeo hai cái nhẫn bạcn, có khi dùng hai ngón tay đó kẹp một điếu thuốc lá, đi qua trước ngõ. Về mùa hè ả ta mặc áo xường xám xẻ cao đến tận đùi, bên tóc mai dắt một đồ ngọc trang sức hình cái quạt. Ả đi đường cứ như không nhấc nổi chân, cứ lẹt xẹt lẹt xẹt cái kiểu đi đứng như vậy khiến Tịnh Trân nghĩ đến người bị bệnh hoa liễu, tuy chị ta cũng không thể nói tỉ mỉ bệnh hoa liễu là cái quái gì. Tóc tai ả thường rối bù, điều đó khiến Tịnh Trân tin vào phán đoán của nóng hổi, tức phán đoán ả kia là gà đồng. Tóc của người tử tế đâu có cái kiểu không chịu chải vuốt lên như thế? Cái loại đầu tóc bạc phờ ấy, chả phải y như là vừa bị bọn đàn ông nó vầy vò xong hay sao?
Khi kể đến chuyện gà đồng, nóng hổi nhướng mắt nheo mày, nước bọt bắn tứ tung, nói rất hài hước, vừa nói vừa cười, cười lăn cười lóc. Hơn nữa khi nói đến Gà đồng cái tiếng nhà quê của bà ta đặc biệt là truyền cảm, giọng nói cũng biến thành khàn đục hẳn đi, lại còn ồ ồ bắt chước các loại âm thanh, giống như người làm xiếc khẩu thuật. Tịnh Trân cười cười lắng nghe, cũng say sưa lắm nhưng vẫn giữ được khoảng cách. Sau khi nghe xong những lời của Nóng hổi kể về hàng loạt những sự khuyết ân đức của Gà đồng, Tịnh Trân càng đoán định Nóng hổi là người xấu, tâm xấu miệng xấu. Chị ta nói với mẹ và em gái: "Nóng hổi chả ra của đâu, ít để ý đi!"
Nghê Tảo tan học nghe thấy những lời nói của Nóng hổi, nó hỏi dì: "Gà đồng là gì?", "Trẻ con đừng hỏi chuyện đó!" Thái độ dì rất nghiêm nghị và không chịu giải thích. Nhưng Nghê Tảo đã nghe ra là họ đang giễu cợt chế nhạo rủa xả một người đàn bà đáng thương. Nó ý thức một cách mơ hồ rằng càng là những người bất hạnh thì càng thích miệt thị và chà đạp những người bất hạnh hơn mình. Quả thật là bất hạnh trong bất hạnh. Nó cảm thấy ngột ngạt không thở được ra hơi.
Một hôm Tịnh Trân không tự nấu cơm lấy ăn mà cũng không có sách giải trí để xem, đang ngồi một mình lẩm bà lẩm bẩm rất là vô sự, thì Nóng hổi hớn ha hớn hả chạy đến. "Em ơi", bà ta gọi Tịnh Trân rất thân thiết, "chị mượn được một cuốn Kim tiền thần quái toàn thư đây này. Người ta không chịu cho mượn, chị phải nịnh mãi phải lạy phải thề, thề là không cho người báng bổ thần thánh xem, mới mượn được vè đây. Cả nhà chị đều xem hết rồi, đúng lắm, hơn cả viết ra ấy. Em thử xem cho mình xem thế nào, chị lấy về cho em xem đấy, gần tối là đã phải trả đi rồi. Bố chúng nó nhà chị không cho chị mang đi đâu, em biết không?"
Nóng hổi đưa ra một cuốn sách Quái thư tức sách bói quẻ in khắc bằng ván gỗ vừa bẩn vừa nát. Lại còn cả một cái túi đựng tiền nhỏ trong có bảy đồng tiền cạch. Bảy đồng cạch đó sắp xếp theo các quy luật khác nhau theo chữ và số, thì tổ hợp thành một trăm hai mươi tám quẻ. Mỗi quẻ có một quẻ từ là một bài thất ngôn tuyệt cú có bốn dòng thất ngôn hai mươi tám chữ, nhưng hai mươi tám chữ đó không in cùng một trang sách. Đầu tiên tung đồng tiền để tổ hợp thành tượng quyẻ, theo dấu hiệu của tượng quẻ tìm ra số trang và số hàng, tra chữ thứ nhất, đuôi của chữ thứ nhất có ghi chú số trang và số hàng, từ đó lại tra ra chữ thứ hai, cứ thế mà tiệm tiến, tra một hồi mới tra ra được quẻ từ, cuối cùng còn có thêm lời thuyết minh. Phương pháp bói và tra quẻ từ, Nóng hổi đã rất nóng hổi nói đến hơn nửa tiếng đồng hồ, rất nhiều chỗ câu trước đá câu sau, cách giải thì tự mâu thuẫn đùng đùng. May sao Tịnh Trân còn tinh nhanh nhạy bén, suy xét cân nhắc, không thày mà không, đã hiệu chỉnh những chỗ sai về truyền đạt của Nóng hổi, khiến cho Nóng hổi ngạc nhiên thán phục ghê gớm.
Sách thì cũ nát đến kinh người. Bảy đồng tiền tổ hợp thành một trăm hai mươi tám tượng quẻ (quái tượng) khiến người ta phải thán phục. Cái con số một trăm hai mươi tám cơ hồ có chút học vân, biết đâu đó là con số các vì tinh tú gì đó. Quái từ (hay quẻ từ) lật lên tra xuống, tra sai một chữ là sai hết quẻ từ như vậy càng giống thiên thư (sách của trời), càng tăng thêm sự thần bí quyến rũ của sách bói toán này. Thực ra tuy nói rằng Tịnh Trân tin định mệnh, tin vào sự thần bí của cõi u minh nhưng lại không tin gì lắm vào những trình tự phương thức của những ngẫu tượng, tôn giáo, mê tín cụ thể. Đối với sự linh nghiêm của Kim tiền quái mà Nóng hổi nói, chị ta chưa chắc đã tin. Nhưng chị ta cũng rất nhanh chóng bị những quẻ bói thần bí chinh phục trong quá trình thực tiễn bói quẻ và thảo luậ với Nóng hổi.
Chị ta xóc tiền đồng, hai tay bụm lại nâng những đồng tiền lên tay xóc xóc, làm phát ra tiếng lanh canh của kim loại, ngửi thấy vài phần mùi tanh đồng, miệng lầm rầm khấn khứa, rồi buông tay một cái, sắp xếp theo thứ tự điểm rơi, thì là: số số chữ số chữ chữ chữ. Vội vã đến toát cả mồ hôi hột, rồi cũng coi là đã tra xong chữ để tìm ra quẻ từ là:
cô vân dã hạc ủy hồng trần
Đào ly phân phân tổng thị xuân.
Thương hải nguyệt minh trân hữu lệ,
Thụ cao thiên xích diệp qui cân.
Dịch nghĩa: Đám mây cô lẻ và chim hạc đồng không đếm xỉa đến bụi hông, trong cuộc sống trần gian, hoa đào hoa lý đều đua nở ấy là mùa xuân, trăng sáng trên biển xanh con trai ngọc có hạt lê, cây cao ngàn thước lá vẫn rụng về cội.
Chú giải ở cuối là: cầu quan khó được, cầu tài có triển vọng, bệnh tình chữa khỏi nhưng khó dứt được tận gốc, mất của có thể tìm được nhưng đừng sốt ruột, dễ tĩnh dưỡng, dễ tắm rửa, dễ trai giới, dễ thăm hỏi người thân, dễ kinh doanh buôn bán...
Quẻ từ này khiến Tịnh Trân giật nảy mình, mà không biết đã thấy ở đâu rồi thì phải. Đặc biệt là câu "Thương hải nguyệt minh trân hữu lệ" chị ta biết trong thơ Đường có câu "thương hải nguyệt minh châu hữu lệ", ở đây chỉ khác có mỗi chữ chân thành chữ trân thôi! Trân là cái gì? Trân là vật ư? Trân không phải là chính chị ta ư? Quẻ từ nằm tĩnh lặng trong cuốn sách từ đầu chí cuối, chẳng phải là đợi để chị ta bói đến hay sao? Thương hải nguyệt minh, Tịnh Trân hữu lệ. Trời ơi, trời ơi!
Nóng hổi hiểu văn đoản chữ kém xa Tịnh Trân, bà ta mới quấn lấy Tịnh Trân để muốn được nghe giảng giải về lời thơ trong các quẻ. Tịnh Trân vừa định mở miệng, thì nảy ra một ý, nên nói là thiên cơ không thể tiết lộ. Chị ta cố ý nói mình cũng không nhìn được rõ chữ lắm.
Tim Tịnh Trân đập thình thịch lên, chị ta muốn xem thêm một quẻ nữa, nếu như quẻ này mà lại có thể đóng chặt vào cảnh ngộ của chị ta, thì chị ta sẵn sàng tin tuyệt đối vào thần minh từ nay trở đi, một lòng hướng thiện. Chị ta khấn như vậy trong khi không ngừng xóc những đồng tiền, mấy lần định buông tay, lại mấy lần muốn cầu nguyện thêm một phen để kiên định tâm ý hơn nữa, để cầu cho quẻ bói bản mệnh của mình càng thật linh nghiệm. Cuối cùng đã xếp được một hàng: số chữ số số số số số, tượng quẻ là như vậy, độc mỗi chữ ở vị trí thứ hai, tượng quẻ chỉ mỗi một chữ đơn như vậy khiến Tịnh Trân mới nhìn đã kinh hãi, tra ra thì thấy quẻ từ là:
Tĩnh như xứ tử động như phong, (tĩnh như nơi chốn động như gió)
Hỉ nộ bi hoan phi bất đồng, (vui giận buồn mừng cũng giống nhau)
Vũ qua thiên tế phong vật hảo, (trời mưa xong trời tạnh ráo mọi vật tốt tươi)
Dục cầu hoàn dữ...
Ba chữ dưới cùng chưa tra ra được, thì cuốn sách xem quẻ kia đã bị Nóng hổi lấy đi mất.
Nóng hổi vốn định tìm Tịnh Trân để cùng bàn về những bí mật của quái thư. Không nghĩ đến là Tịnh Trân vừa bói một quẻ là đã đâm ra nghiện, chỉ còn biết bói quẻ của mình mà gạt bà ta sang một bên. Nóng hổi hỏi mười câu, Tịnh Trân không đáp đến một câu, tự mình ngâm nga suy nghĩ rất là say sưa thú vị. Điều đó khiến Nóng hổi hết sức bất mãn, bụng nghĩ không biết từ lúc nào mình lại trở thành chú tiểu đồng hầu sách hầu đàn cho nó đấy nhỉ? Thế là cuối cùng đã không để Tịnh Trân tra hết quẻ từ của quẻ bói thứ hai.
Nếu không phải là quẻ thần linh nghiệm khiến Tịnh Trân cảm thấy trong lòng sùng bái, trong lòng sợ sệt, thì chị ta chỉ muốn lập tức nhảy lên chửi cho Nóng hổi một trận nên thân. Nhưng lần này chị ta đã cố kiềm chế bản thân. Từ hai lần bói được hai quẻ từ (lần thứ hai còn dang dở, điều đó khiến người ta rất bứt rứt) đó, chị ta dường như có ngộ được một số ý gì đó. Chị ta thấy được an ủi. Chị ta lắng nghe lời thì thầm hàm hồ mà uy nghiêm của số phận. Chị ta hiểu được cuộc sống tuy sống đấy mà cũng như chết. Chị ta thấy thê lương lạnh lẽo quá.
Nhưng có gì mà đáng lạnh lẽo thê lương nhỉ?
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
★
★
★
★
★
0