.
Một bộ sử mới cho Việt Nam
(Nói chuyện với Lê Mạnh Hùng)
Nguyễn Gia Kiểng
Nguyễn Gia Kiểng: Tại sao cần có một bộ sử mới ?
Lê Mạnh Hùng: Cho đến nay có thể nói rằng Việt Nam không có một bộ sử bao quát hết quá khứ của dân tộc. Trong những năm qua nhiều cuốn sách rất hay viết về lịch sử Việt Nam đã được ra đời cả bằng tiếng Việt lẫn tiếng ngoại quốc. Tuy nhiên đại đa số các cuốn này chỉ viết về một giai đoạn nào, hoặc một vài sự kiện nào đó trong lịch sử Việt Nam mà thôi, chứ không tìm cách bao quát toàn bộ. Một số sách như của ông Lê Thành Khôi, hoặc của ông Phạm văn Sơn viết vào trước năm 1975, hoặc của ông Hoàng Cơ Thụy viết sau năm 1975 đã cố gắng bao quát toàn bộ lịch sử nước Việt, nhưng những sách này, theo tôi, được viết ra với những thiên kiến về chính trị mà hiện nay khó có thể chấp nhận được. Ngoài ra, những cuốn này đều thiếu phần về lịch sử cận đại và hiện đại, rất quan trọng đối vơí những người Việt Nam hiện nay. Tại miền Bắc trong những năm trước 1975 cũng có một số sách về lịch sử Việt Nam như cuốn Lịch Sử Việt Nam của ông Đào Duy Anh nhưng những cuốn sách này vì bị bắt buộc phải viết theo quan điểm của chủ nghĩa mác-xít thành ra ngay cả những người Hà Nội hiện nay cũng thấy rằng khó có thể đọc được.
Có lẽ cuốn sử đáng tin cậy nhất và hầu hết chúng ta đều biết đến là cuốn Việt Nam Sử Lược của cụ Trần Trọng Kim. Nhưng cuốn sử của cụ Kim từ lúc được viết ra cho đến nay đã trên 80 năm. Trong suốt gần một thế kỷ đó, đã có biết bao nhiêu thay đổi diễn ra cho nước ta. Khi cụ Kim viết cuốn sử này, nước ta còn đang là một thuộc địa của Pháp thành ra khi viết cụ cũng bị những giới hạn vì tình trạng này. Cụ không thể viết đến những cố gắng của những nhà cách mạng Việt Nam để dành lại độc lập chẳng hạn. Ngoài ra cần phải nói thêm rằng cuốn Việt Nam Sử Lược của cụ Kim được viết ra như là một cuốn sách giáo khoa cho học sinh trung học chứ không phải là một cuốn sách lịch sử đầy đủ. Đó chính là lý do tại sao cụ Kim đặt tên cho cuốn sách của cụ là Việt Nam Sử Lược, có ý nói đây chỉ là một bộ sử có tính cách giản lược chứ không phải đầy đủ.
Nhu cầu có một cuốn sử tương đối đầy đủ vì vậy rất lớn, và nhiều người cũng đã dự tính viết một cuốn sử như vậy. Viện Sử Học tại Hà Nội chẳng hạn cũng đã có một dự án xuất bản một bộ Lịch Sử Việt Nam từ hai chục năm nay, nhưng theo chỗ tôi biết thì mới ra được cuốn đầu tiên thì ngưng lại. Thành ra tuy rằng với sức học giới hạn tôi cũng muốn đóng góp vào việc bổ khuyết vào cái khiếm khuyết nghiêm trọng đó.
Nguyễn Gia Kiểng: So với những sách sử về Việt Nam đã xuất bản, bộ sử này có điều gì khác hoặc mới ?
Lê Mạnh Hùng: Tôi đã cố gắng để mang vào trong cuốn sách này tất cả những gì mới được các sử gia Việt Nam và thế giới tìm ra trong vòng hơn bốn mươi năm nay, cả trong lãnh vực tiền sử cũng như là khảo cổ, mà các bộ sử khác vì viết trước nên đã không có. Ngoài ra, tôi cũng cố gắng đặt sử Việt Nam trong bối cảnh chung của Đông Nam Á và thế giới. Trong những bộ sử cũ, quan hệ với bên ngoài và những ảnh hưởng của bên ngoài đến tiến trình phát triển và hình thành của dân tộc Việt Nam hầu như chỉ giới hạn vào Trung Quốc và sau này trong giai đoạn cận đại, thêm ảnh hưởng của các nước Tây phương. Trong khi đó chính sự tương tác giữa Việt Nam và các xã hội khác ở chung quanh đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành bản sắc dân tộc của Việt Nam. Và tôi hy vọng rằng đã có thể chứng minh được điểm đó.
Lịch sử là một tiến trình. Một xã hội như xã hội Việt Nam trong quá trình sinh hoạt và phản ứng với những yếu tố bên ngoài đã thay đổi. Thành ra xã hội dân Lạc thời Hùng Vương chẳng hạn không giống với xã hội Đại Việt thời Lý Trần. Và xã hội Đại Việt thời Lý Trần cũng khác hẳn với xã hội Việt Nam triều Nguyễn, trong khi xã hội Việt Nam triều Nguyễn khác hẳn xã hội Việt Nam hiện nay. Và trong những chuyển biến này, nhiều khi những yếu tố bị coi như là xấu ở thế hệ trước lại thành ra những hạt nhân tốt cho thế hệ sau. Một trong những khiếm khuyết của các cuốn sử Việt Nam trước là hầu như chỉ nhắc đến những khía cạnh tích cực chứ không nói đến những khía cạnh tiêu cực của xã hội Việt Nam, hoặc có nhắc đến thì cũng chỉ nhắc đến một cách phác qua. Chúng ta chỉ nhắc đến tinh thần đoàn kết dân tộc chống ngoại xâm của dân ta chẳng hạn như là một chủ đề xuyên suốt trong toàn bộ quá trình lịch sử của dân tộc Việt, nhưng hầu như không bao giờ nhắc đến những kỳ thị và chia rẽ địa phương vốn cũng là một trong những chủ đề khác có mặt hầu như trong toàn bộ quá trình lịch sử này. Tôi hy vọng rằng cuốn sách này có thể nói lên được những điều đó và sẽ giúp độc giả hiểu được rằng nhiều vấn đề của xã hội Việt Nam hiện nay có gốc rễ nằm sâu xa trong lịch sử dân tộc.
Nguyễn Gia Kiểng: Tên chung của bộ sử này là gì ? Ông đã khởi sự viết bộ sử này từ lúc nào và đã hoàn tất sau thời gian bao lâu ?
Lê Mạnh Hùng: Bộ sử này lấy tên là Nhìn lại sử Việt vì tôi muốn nhấn mạnh đến việc nhìn vào lịch sử Việt Nam theo quan điểm mới. Tôi bắt đầu thật sự có ý định viết nó và thu thập tài liệu cho nó từ năm 1995 khi tôi ở Aix en Provence một mùa hè để nghiên cứu cho luận án tiến sĩ. Nhưng viết thì phải đợi mãi đến năm 2001 khi tôi nhận viết loạt bài về lịch sử Việt Nam có tên là "Tản Mạn Lịch Sử" trên tuần san Viet Tide xuất bản tại Calfornia. Những bài viết đó giúp tôi có một cái sườn để viết lại thành sách. Có lẽ nhờ vào kỷ luật mỗi tuần phải viết một bài cho nên tôi mới có thể làm được công chuyện dài và khó khăn này. Hiện tôi còn đang tiếp tục viết tiếp những phần sau của bộ sử này mà tôi dự định chấm dứt vào năm 1975. Những bài viết lịch sử của tôi hiện còn đang được đăng hàng tuần trên Viet Tide.
Nguyễn Gia Kiểng: Bộ sử này gồm tổng cộng bao nhiêu quyển, tổng cộng bao nhiêu trang ? Hiện nay mới chỉ có quyển đầu được xuất bản, những quyển khác bao giờ mới tới tay độc giả ?
Lê Mạnh Hùng: Tôi dự trù bộ sử này gồm năm quyển chia ra như sau:
Quyển 1: Từ thời tiền sử cho đến hết thời Bắc thuộc.
Quyển 2: Từ Ngô vương Quyền cho đến thời thuộc Minh.
Quyển 3: Từ Lê Lợi khởi nghĩa đến khi Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ.
Quyển 4: Thời thuộc Pháp, từ lúc Pháp chiếm Nam Kỳ cho đến 1945.
Quyển 5: Từ 1945 cho đến 1975.
Tuy nhiên hiện thời vẫn chưa quyết định số quyển có hoàn toàn đúng như vậy không vì những tài liệu, nhất là trong giai đoạn cận và hiện đại rất nhiều, thành ra phần sau, đặc biệt là giai đoạn 1945-1975, có thể sẽ phải chia thành ra một hai quyển. Hiện tôi mới viết đến hết quyển hai và đang hoàn tất quyển số ba. Tôi hy vọng rằng có thể ra mắt quyển hai trong năm nay và quyển ba trong năm tới. Có thể tôi sẽ tách riêng, viết một cuốn về Cách Mạng tháng tám vá các đảng phái quốc gia. Cuốn này có thể sẽ viết bằng tiếng Anh vì tôi nghĩ rằng mình cũng cần phải để cho người ngoại quốc biết về những chuyện xảy ra trong giai đoạn này vì cho đến nay, những tài liệu bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp viết về giai đoạn này phần lớn có một cái nhìn thiên lệch.
Nguyễn Gia Kiểng: Trong những nguồn vật liệu chính được sử dụng (sử liệu, khảo cổ, ngôn ngữ và phong tục) nguồn nào phong phú nhất, nguồn nào đáng tin cậy nhất ? Văn chương qua các thời đại có đóng góp gì cho sự hiểu biết và xét lại lịch sử ?
Lê Mạnh Hùng: Việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam, nhất là lịch sử cổ đại gặp một khó khăn quan trọng nhất là thiếu tài liệu. Thành ra tất cả mọi nguồn tại liệu đều phải được sử dụng để bổ túc và hỗ trợ cho nhau. Tỉ dụ như tất cả những gì viết về Việt Nam trong giai đoạn tiền Bắc thuộc và trong thời Bắc thuộc đều là do các sử gia phương Bắc viết. Và đương nhiên là họ viết theo quan điểm của họ, tức là từ một quan điểm của những kẻ thống trị đến "khai hoá một dân tộc dã man". Những sự kiện mà họ chọn lựa để viết lại cũng xuất phát từ quan điểm đó. Tuy nhiên vì ta không có những sử liệu do chính người mình viết thành ra phải tìm cách bổ sung những thiên lệch đó bằng những nguồn khác, quan trọng nhất là qua truyền thuyết, thần thoại tức là những ký ức lịch sử được lưu truyền trong nhân dân. Những truyền thuyết, thần thoại đó tuy nhiên cũng cần phải gạt bỏ những tầng lớp mà các thời đại sau thêm vào để chỉ nắm lấy cái cốt lõi lịch sử gốc của nó.
Chúng ta không có một tài liệu nào do chính người đương thời của ta viết. Thành ra ngay cả cái tên Hùng Vương cũng là do các nhà sử gia Trung Quốc viết lại theo ý nghĩ của họ, chứ chúng ta thật sự không biết rằng thời đó, xã hội chúng ta có hay không có vua. Và nếu có thì có phải gọi là Hùng Vương hay không. Trong trường hợp này, ngôn ngữ đóng một vai trò quan trọng để lý giải những cái tên như Hùng Vương, Mê Linh v.v. Ngôn ngữ và phong tục cũng giúp chúng ta có thể xác định được nguồn gốc và những giai đoạn trong tiến trình thành hình của dân tộc. Sự trùng hợp trong một số những phong tục tập quán của dân Việt với các dân tộc Đông Nam Á khác chẳng hạn (tục ăn trầu, vẽ mình, v.v.) cho thấy dân tộc ta tùy thuộc vào một nền văn minh Đông Nam Á khác hẳn với nền văn minh Trung Quốc. Và nó cũng giải thích một số những đặc thù của lịch sử ta so với các nước khác.
Các khám phá của khảo cổ đóng góp rất nhiều trong việc chứng thực những gì viết ra trong các sử liệu. Đôi khi, Tỉ như việc khám phá ra nền văn minh Đông Sơn đã rọi một tia sáng vào những gì mà các sử liệu để trống. Tuy nhiên nếu không dựa vào những sử liệu và những thu thập khác qua ngôn ngữ, phong tục hoặc văn chương, người ta rất dễ bị lầm lẫn, nhất là khi chính các nhà khảo cổ đã có những thiên kiến từ trước. Tỉ như Olov Janse, người khám phá ra nền văn minh Đông Sơn, vì không thể nào nghĩ rằng người dân Việt cổ có thể xây dựng được một nền văn minh như vậy, đã đưa ra lý thuyết rằng nền văn minh này học từ văn minh Halstatt tại Đông Âu dù rằng không có một bằng chứng nào về sự liên hệ giữa hai nơi.
Tuy rằng đóng góp của văn chương vào việc tìm hiểu lịch sử nằm nhiều trong lãnh vực văn hoá xã hội hơn là trong lịch sử chính trị hoặc quân sự, nhưng ngay cả trong lãnh vực này, văn chương, nhất là văn chương hiện thực hoặc văn chương bình dân cũng có những đóng góp. Văn chương phản ảnh xã hội và đóng góp vào việc mang lại sức sống cho lịch sử.
Nguyễn Gia Kiểng: Đây là một bộ sử được viết bới môt người Việt Nam khi đang ở nước ngoài. Có những khác biệt nào giữa cách viết và nhìn lịch sử giữa miền Nam và miền Bắc trước 1975 và giữa trong nước và ngoài nước từ sau 1975 ?
Lê Mạnh Hùng: Có lẽ điều khác biệt quan trọng nhất trong cách viết và nhìn lịch sử giữa miền Nam và miền Bắc trước năm 1975 là việc các sử gia miền Bắc dù muốn dù không đều bị bắt buộc phải nhìn và giải thích lịch sử không phải chỉ theo quan điểm mácxít-lêninít mà còn theo định hướng chính trị vào lúc đó của đảng cầm quyền. Thành ra ta có thể thấy rõ những thay đổi rõ rệt trong việc giải thích một số những sự kiện lịch sử trong những bài viết chỉ cách nhau vài năm vì những thay đổi trong chính sách của đảng. Một trong những thí dụ điển hình về sự kiện này là cách các sử gia miền Bắc viết về vai trò của quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc trong cuộc chiến tranh Việt-Pháp ở thế kỷ 19 tùy theo những thay đổi trong quan hệ Việt-Trung.
Tại miền Nam, vấn đề ý thức hệ không được đặt ra trong việc viết và nhìn lịch sử. Tuy nhiên tại miền Nam, nhất là dưới thời Ngô Đình Diệm cũng có một số điều cấm kỵ, thành ra việc viết và nhìn lịch sử ở miền Nam, nhất là lịch sử cận và hiện đại, cũng có rất nhiều dè dặt.
Sau năm 1975, nhất là từ sau 1986 khi chính quyền trong nước có những thay đổi trong chiều hướng cởi mở hơn, các sử gia miền Bắc đã không còn bị gò bó trong cái gông cùm ý thức hệ cộng sản nữa, thành ra việc viết và nhìn lịch sử cũng đã có nhiều thay đổi. Còn tại bên ngoài, chúng ta cần phải phân biệt giữa những người viết sử bằng tiếng ngoại quốc và nhũng người viết bằng tiếng Việt. Những tác phẩm viết bằng tiếng ngoại quốc có thể nói rằng tất cả đều có giá trị và khách quan, nhưng đôi khi các tác giả này cho thấy một sự tách biệt làm cho người đọc nhiều khi có cảm giác rằng đọc một người ngoại quốc viết về sử Việt Nam hơn là một người Việt. Còn những tác phẩm viết bằng tiếng Việt thì lại bị những vấn đề khác.
Nguyễn Gia Kiểng: Ông có tham vọng rằng bộ sử này sẽ làm cho sự hiểu biết về lịch sử của người Việt Nam tiến thêm một bước quyết định, sẽ thay đổi cách nhìn của người Việt Nam về đất nước mình và cách hoạt đông chính trị của người Việt Nam không ?
Lê Mạnh Hùng: Tôi không dám có tham vọng làm cho sự hiểu biết của người Việt về lịch sử tiến thêm một bước quyết định hoặc làm thay đổi người Việt. Tôi chỉ hy vọng rằng bộ sách này sẽ đóng góp vào trong việc giúp người Việt mình hiểu rõ thêm vào lịch sử nước nhà và nếu nó giúp được họ thay đổi một số cách nhìn về đất nước hoặc thay đổi cách hoạt động thì đó là một điều may mắn thêm nữa.
Nguyễn Gia Kiểng: Làm chính trị là đóng góp làm ra lịch sử, hay ít nhất cũng là có tham vọng làm ra lịch sử. Một nhận định là cho tới nay những người cầm quyền và những người hoạt đông chính trị hiểu biết rất lệch lạc về lịch sử và, ngược lại, những người viết sử thường không tham gia các hoạt động chính trị để hiểu sự tạo thành của sử. Có phải đây là một điều nghịch lý không và cũng là một nguyên nhân cho tình trạng đáng buồn của nước ta không ?
Lê Mạnh Hùng: Theo tôi nghĩ thì những người cầm quyền và những người hoạt động chính trị đều biết rất nhiều về lịch sử. Hầu hết những nhà cầm quyền và hoạt động chính trị Việt Nam cũng như nước ngoài đều được học về lịch sử. Vấn đề là người ta rút tỉa từ lịch sử ra những bài học như thế nào. Biết lịch sử một cách thiên lệch còn nguy hiểm hơn là không biết lịch sử nữa. Còn việc những người viết sử thường không tham gia các hoạt động chính trị cũng không hoàn toàn đúng. Cái khó khăn là để có thể viết được một cuốn sử trung thực, ta thường phải đặt mình vào một vị thế khách quan và tách rời ra khỏi những tình cảm đam mê mà nếu muốn thành công về mặt chính trị người ta cần phải có. Vì vậy nhiều nhà viết sử khi tham gia vào chính trị đã thất bại. Tôi đọc cuốn hồi ký Một Cơn Gió Bụi của cụ Trần Trọng Kim và cảm thấy thương cụ rất nhiều. Nếu cụ có cái đam mê của một nhà chính trị thì có lẽ lịch sử Việt Nam đã thay đổi và chúng ta chưa đến nỗi này.
Nguyễn Gia Kiểng: Thanh niên Việt Nam trong cũng như ngoài nước, nhưng đặc biệt là ngoài nước, có vẻ chỉ hiểu biết một cách rất sơ sài về lịch sử Việt Nam. Tình trạng này có những nguyên nhân và hậu quả nào ?
LMH: Sự kiện thanh niên Việt Nam trong và ngoài nước hiểu biết một cách sơ sài về lịch sử Việt Nam có một nguyên nhân rất đơn giản rằng ta thiếu một bộ sử phổ thông về lịch sử Việt Nam. Chúng ta có những công trình nghiên cứu rất hay và rất chi tiết về những giai đoạn khác trong lịch sử nước nhà, nhưng những công trình nghiên cứu này thuờng lại chỉ dành cho những người chuyên môn, những nhà sử giá khác đọc chứ không phải để cho quảng đại quần chúng. Sự hiểu biết sơ sài đó có thể dễ làm cho các thanh niên này bị ảnh hưởng bởi những luận điệu thiên lệch về lịch sử mà những nguời khác có thể đưa ra để lợi dụng họ.
Nguyễn Gia Kiểng: Có người bạn nói rằng ông coi bộ sử này là công trình lớn nhất của đời mình, có đúng vậy không ?
Lê Mạnh Hùng: Đúng vậy. Ước vọng của tôi là làm sao hoàn tất được bộ sử này để đóng góp được một cái gì cho đất nước.
Nguyễn Gia Kiểng: Bà Phan Lâm Hương cũng là một nhà báo, nhà văn và nhà văn hoá lớn, bà Hương đóng vai trò nào trong việc soạn thảo bộ sử này ?
Lê Mạnh Hùng: Bà xã tôi nói bà ấy không có đóng góp gì cho bộ sử này cả. Tuy nhiên tất cả những bài của tôi viết bà ấy đều đọc và phê bình. Cũng nhờ sự khuyến khích đó mà tôi đã có thể kiên nhẫn viết được bộ sử này.
Lê Mạnh Hùng
Tìm đọc:
Nhìn Lại Việt Sử
Cuốn 1: Từ tiền sử tới tự chủ (278 trang, 18 USD)
Đặt mua sách:
- Tại Mỹ: liên lạc với Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông và Cành Nam Publishers (E-mail: [email=canhnam@dc.net]canhnam@dc.net[/email])
- Tại châu Âu: liên lạc thẳng với tác giả.
Địa chỉ: Lê Mạnh Hùng - 113 Shaldon Drive, Morden, Surrey SM4 4BQ, United Kingdom.
Giá bán tại châu Âu £13 (đã kể tiền gởi)
http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=2233