[/align]Những người yêu nước.
Chúng tôi, những người Việt Nam yêu nước, yêu tư tưởng Hồ Chí Minh nhận thấy rằng hiện nay, Đảng cộng sản Việt Nam mặc dù đang nêu cao khẩu hiệu học tập và làm theo gương đạo đức, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng trong thực tế, Đảng đang có một số biểu hiện xa rời các nguyên lý tự do, dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Phần đông các đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay vẫn là những người tốt, nguyện làm việc và cống hiến cho lợi ích của nhân dân. Nhưng một số những người bảo thủ, năng lực yếu kém, và thậm chí biến chất trong hàng ngũ lãnh đạo của Đảng từ trung ương đến địa phương đang thao túng Đảng, làm cho Đảng xa rời tư tưởng Hồ Chí Minh, xa rời những lý tưởng cao đẹp ban đầu của Đảng.
Những sự xa rời đó của Đảng cộng sản Việt Nam được thể hiện bằng các sự việc cụ thể dưới đây:
1- Ngày mồng 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nhưng đến năm 1976, Đảng cộng sản Việt Nam đã cho đổi tên thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngày mồng 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh không đọc bản tuyên ngôn khai sinh ra nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đó.
2- Ngày 11 tháng 11 năm 1945, dưới dự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Đông Dương đã ra Thông cáo tự giải tán, để rút lui vào hoạt động bí mật. Sau đó, đến tháng 2 năm 1951, Đảng đã đổi tên thành Đảng Lao động Việt Nam. Đảng Lao động Việt Nam dưới sự dẫn dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam ta trong 2 cuộc kháng chiến gian khổ, đem lại hai cuộc chiến thắng lừng lẫy, là chiến thắng người Pháp năm 1954, và chiến thắng người Mỹ năm 1975, đem lại độc lập và thống nhất toàn vẹn cho nước nhà. Nhưng năm 1976, với sự ấu trĩ về Chủ nghĩa Mác-Lênin, và sự “ngạo mạn cộng sản”, coi thường tiền bối, một số người lãnh đạo hậu sinh của Đảng đã cho đổi tên Đảng thành Đảng cộng sản Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh không biết, và không đặt cái tên Đảng cộng sản Việt Nam đó.
3- Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ là phương tiện để đấu tranh, nhằm đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là mục đích tự thân của cuộc cách mạng. Trong cả hai cuộc kháng chiến anh dũng của nhân dân ta, toàn dân ta đã đoàn kết một lòng xung quanh Đảng Lao động Việt Nam, tạo thành cuộc chiến tranh nhân dân thần thánh, đánh bại mọi kẻ thù dù hung bạo nhất, hùng mạnh nhất. Chính chủ nghĩa yêu nước, và hình ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo được sự đoàn kết một lòng đó, tạo được sức mạnh vô địch của nhân dân ta, chứ không phải Chủ nghĩa Mác-Lê nin. Và giờ đây, thành quả của hơn 20 năm đổi mới ở nước ta cũng là nhờ áp dụng cơ chế thị trường, chứ không phải nhờ Chủ nghĩa Mác-Lênin.
Ngày nay, Chủ nghĩa Mác-Lênin đã sụp đổ trên toàn thế giới, và thực tế đã chứng minh nước nào còn bám theo chủ nghĩa Mác-Lênin, với quốc hữu hóa, kinh tế Nhà nước là chủ đạo, chuyên quyền, độc đoán, hạn chế các quyền tự do, dân chủ của nhân dân, thì còn nghèo đói, dân còn lầm than, oan khuất, người tài còn không được trọng dụng.
Thế nhưng, mặc dù đã biết Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp, nhưng vì sợ mất ghế, mất chỗ làm ăn, những người bảo thủ trong Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay đã sử dụng chiêu bài “ổn định chính trị” để ngăn chặn mọi tiếng nói yêu cầu đổi mới, dân chủ trong Đảng, trong nhân dân.
Cái phương tiện chủ nghĩa Mác-Lê nin đó nay đã trở nên lỗi thời, thì nên bỏ đi, vì mục đích cao cả của Nhà nước, của Đảng không phải là việc tôn thờ chủ nghĩa Mác-Lê nin xa lạ, mà là, “việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh”, như lời Bác Hồ đã nói.
4- Bác Hồ đã nói “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì”. Chính vì vậy, năm 1986, một bộ phận những đảng viên tiến bộ, trung thành tuân theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã dũng cảm gạt bỏ bước đầu một số giáo điều của Chủ nghĩa xã hội, khởi xướng công cuộc Đổi mới, thừa nhận những nguyên lý kinh tế tự nhiên mà các nước trên thế giới đang làm, đó là thừa nhận kinh tế thị trường, thừa nhận kinh tế tư nhân, cho phép có đầu tư nước ngoài, giảm bớt các bao cấp cho khu vực kinh tế Nhà nước, nới lỏng một số quyền tự do dân chủ,,,. Nhờ vậy đã đưa nước ta từng bước thoát khỏi đói nghèo, tụt hậu, cứu Đảng không bị sụp đổ.
Nhưng đến nay, những người bảo thủ trong Đảng vì sợ mất quyền lực, sợ mất ghế, vẫn cố níu kéo lấy cái đuôi Chủ nghĩa xã hội, vì cho rằng xóa bỏ cái tên gọi Chủ nghĩa xã hội có thể dẫn đến làm sụp đổ chế độ. Chính sự níu kéo cái tên gọi Chủ nghĩa xã hội đó đang làm cho công cuộc Đổi mới bị chậm lại, quyền tự do dân chủ của nhân dân vẫn bị trói buộc, văn hóa, đạo đức xã hội tiếp tục bị băng hoại, tham nhũng ngày càng trầm trọng, oan khuất, khiếu kiện ngày càng nhiều lên, đời sống của đông đảo nhân dân vẫn nghèo khổ, người tài tiếp tục không được trọng dụng. Một ví dụ nhỏ, nước ta đã xuất khẩu được nhiều gạo, đứng thứ 2 thế giới, nhưng trong cả nước, vẫn có nhiều nông dân bị đói, hàng ngày không có gạo ăn, chỉ được ăn cơm vào những ngày lễ, Tết.
Các thành tựu của Đổi mới trong hơn 20 năm qua đã cho thấy chính việc từng bước xóa bỏ các giáo điều của Chủ nghĩa xã hội đã cứu Đảng, cứu chế độ không bị sụp đổ. Việc níu kéo cái tên gọi Chủ nghĩa xã hội hiện nay thực chất chỉ làm cản trở mọi bước cải cách, làm tăng nguy cơ tiềm ẩn cho Đảng, cho chế độ.
Lợi ích dân tộc lên trên hết, như tấm lòng yêu thương của Bác Hồ đối với nhân dân, hay sự tôn thờ chủ nghĩa Mác-Lênin xa lạ nhằm bảo vệ cái ghế lên trên hết? Những người có lương tâm trong Đảng cộng sản Việt Nam cần phải dũng cảm đặt ra câu hỏi này và trả lời.
5- Ngày 28 tháng 6 năm 1919, Bác Hồ, khi đó với tên gọi Nguyễn Ái Quốc, đã gửi cho Hội nghị Versailles, Pháp, Bản yêu sách 8 điểm, đề nghị Chính phủ Pháp thừa nhận, và tôn trọng các quyền tự do, dân chủ tối thiểu, cơ bản cho nhân dân Việt Nam. 8 yêu sách đó là:
Thả hết các chính trị phạm,
Cải cách nền pháp lý Đông Dương,
Tự do báo chí và tự do tư tưởng,
Tự do lập hội và tự do hội họp,
Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do ra nước ngoài,
Tự do học tập và mở trường kỹ thuật,
Thay thế chế độ sắc lệnh bằng chế độ luật pháp,
Phải có đại diện người Việt Nam trong Nghị viện.
Thế nhưng, thật trớ trêu, rất nhiều quyền mà Bác Hồ kêu đòi cho nhân dân Việt Nam cách đây gần 100 năm từ tay người Pháp, thì đến nay Đảng cộng sản Việt Nam vẫn chưa thực hiện đầy đủ cho nhân dân Việt Nam.
Cụ thể là:
- Thứ nhất, Luật Cư trú mặc dù đã sửa đổi, nhưng thực sự nhân dân vẫn chưa có quyền tự do cư trú. Trong khi đó, nhân dân ta trong suốt 4000 năm lịch sử đều có quyền tự do cư trú này. Mọi người hãy nhớ rằng Hà Nội 36 phố phường là nhờ có quyền tự do cư trú, nhân dân từ các địa phương kéo về Hà Nội, làm ăn, buôn bán, sinh cơ lập nghiệp, mới tạo ra Hà Nội 36 phố phường. Đây chỉ là một ví dụ nhỏ về quyền tự do cư trú của cha ông ta ngày trước. Trong Bản yêu sách 8 điểm nêu trên, Bác Hồ không đỏi hỏi về quyền tự do cư trú ở trong nước, vì khi đó dân ta dù dưới ách thống trị của thực dân Pháp, nhưng vẫn có quyền tự do cư trú đó. Khi đó, Bác Hồ còn đòi hỏi cao hơn, về “quyền tự do cư trú ở nước ngoài, và quyền tự do ra nước ngoài” cho nhân dân Việt Nam. Thử hỏi, về mặt tự do cư trú, Nhà nước Xã hội chủ nghĩa hiện nay ở nước ta có bằng được cha ông ta ngày xưa, và bằng Nhà nước thực dân trước đây hay không?
- Thứ hai, quyền tư hữu đất đai đến nay vẫn chưa trả lại cho nhân dân, gây nên bao cảnh quan tham lợi dụng “đất đai là công thổ” để cướp đất của dân, người dân bị oan khuất, kêu rên khôn xiết. Đồng thời vì không có quyền tư hữu về đất đai, nên thủ tục hành chính sinh ra Sổ đỏ, Sổ hồng, một sự kỳ quặc về quản lý hành chính chưa từng có trong lịch sử nước ta, cũng như trong lịch sử thế giới. Trong suốt 4000 năm lịch sử của dân tộc ta, nhân dân ta đều có quyền tư hữu về đất đai này. Có như vậy, nhân dân ta mới đoàn kết một lòng xung quanh các Triều đình, chống lại biết bao cuộc chiến tranh xâm lược, giữ nguyên bờ cõi cho thế hệ chúng ta ngày nay. Trong Bản yêu sách 8 điểm nêu trên, Bác Hồ không nêu yêu sách đòi quyền tư hữu đất đai cho nhân dân, vì khi đó, nhân dân ta đã có quyền tư hữu đất đai rồi, chế độ thực dân Pháp không tước đoạt quyền tư hữu đó của nhân dân Việt Nam ta. Thế mà Đảng cộng sản Việt Nam ngày nay nỡ tước đi cái quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm đó từ ngàn đời của nhân dân ta, gây ra biết bao cảnh ngang trái, bất công, và rắc rối về thủ tục hành chính. Thử hỏi, Nhà nước Xã hội chủ nghĩa của nước ta hiện nay, về mặt tôn trọng quyền tư hữu đất đai của dân, có bằng được cha ông ta ngày xưa, và bằng Nhà nước thực dân trước đây hay không?
- Thứ ba, sau đổi mới, quyền tự do báo chí được nới lỏng một chút, nhưng vẫn chưa có báo chí, xuất bản tư nhân, chưa có tự do tư tưởng. Người dân không được phép công khai thảo luận những ý kiến trái chiều, đóng góp cho tiến trình đổi mới của đất nước. Trong thời gian Bác Hồ sống ở Pháp, Bác đã tự mình ra tờ báo Người Cùng Khổ (1922-1926), để phê phán chế độ thực dân, bênh vực quyền lợi cho người Việt Nam ta. Đó là tờ báo tư nhân, do một người từ xứ thuộc địa đến Pháp, xuất bản trong lòng nước Pháp, phê phán Chính phủ Pháp, nhưng không bị Chính phủ Pháp cho đóng cửa. Vậy tại sao giờ đây Nhà nước Xã hội chủ nghĩa mang tiếng là dân chủ, tự do, của dân, do dân, vì dân ở nước ta lại cấm đoán báo chí tư nhân? Thử hỏi về phương diện tự do báo chí, thì Nhà nước Xã hội chủ nghĩa của ta hiện nay có bằng được Nhà nước thực dân trước đây hay không?
- Thứ tư, hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế đã phát triển khá nhanh, kinh tế tư nhân và kinh tế thị trường đã được thực hiện một bước, nhưng kinh tế Nhà nước vẫn là chủ đạo, bộ máy Nhà nước, công an, thanh tra, quản lý thị trường, thuế vụ,,,vẫn can thiệp thô bạo vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, nhũng nhiễu, gây điêu đứng cho nhiều doanh nghiệp. Bộ máy hành chính và thủ tục hành chính vẫn “hành dân là chính”. Chỉ có chủ yếu các công ty có quan hệ quen biết, các công ty “biết điều”, các công ty con ông cháu cha là được yên ổn.
Tự do cư trú, và quyền tư hữu về đất đai là cái gốc của mọi thủ tục hành chính, và là cái quyền mà dân ta được hưởng từ thời Hồng Bàng đến trước khi có chế độ Xã hội chủ nghĩa. Không giải phóng 2 quyền này, thì cải cách hành chính sẽ chỉ là chắp vá, được chỗ này, lại bị chỗ khác.
Một số thành tựu xóa đói giảm nghèo đang được dùng như cây cảnh để cố làm mờ nhạt đi sự chênh lệch giàu-nghèo, sự bất công, sự băng hoại đạo đức, văn hóa đang gia tăng chóng mặt ở Việt Nam sau hơn 20 năm Đổi mới.
- Thứ năm, người dân Việt Nam ta hiện nay cũng chưa được tự do lập hội, và tự do hội họp, cái quyền mà Bác Hồ đã kêu đòi cho dân ta từ tay người Pháp từ cách đây gần 100 năm.
- Thứ sáu, Quốc hội vẫn chủ yếu là của Đảng, chứ chưa đại diện cho đông đảo các tầng lớp nhân dân. Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946, có tới 43% đại biểu là không đảng phái. Nhưng nay, đảng viên luôn chiếm từ trên 80% đến trên 90% trong Quốc hội. Đảng vẫn nói là Đảng là của gia cấp công nhân, và nhân dân lao động Việt Nam. Nhưng khóa Quốc hội 11 hiện nay, chỉ có 0,4% là công nhân.
- Thứ bảy, Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có đại diện đông đảo các đảng phái và không đảng phái, với những trí thức nổi tiếng như cụ Nguyễn Văn Tố, cụ Huỳnh Thúc Kháng, cụ Bùi Bằng Đoàn, Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên,,,Nhưng đến nay, không một chức Chủ tịch Phường, Xã nào, không một chức Chủ tịch Quận, Huyện nào, không một chức Chủ tịch Tỉnh, Thành phố nào, không một Bộ trưởng nào, một Thứ trưởng nào là người ngoài đảng.
Tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội thứ nhất, ngày 31 tháng 10 năm 1946, trong Lời tuyên bố nhậm chức trước Quốc hội, Bác Hồ đã nói: “Tôi chỉ có một Đảng, Đảng Việt Nam”. Giờ đây, dường như Đảng cộng sản Việt Nam đã biến câu nói đó của Bác Hồ thành “Tôi chỉ có một đảng, Đảng cộng sản”.
“Đảng Việt Nam” của Bác Hồ đã tồn tại suốt chiều dài 4000 năm lịch sử của dân tộc. Còn Đảng cộng sản Việt Nam chỉ tồn tại từ năm 1976, từ sau khi đổi tên.
- Thứ tám, gần đây, những người bảo thủ trong Đảng Cộng sản đã chỉ đạo bộ máy pháp luật bỏ tù một loạt những người mà lý do chỉ vì họ thực hiện các biện pháp hòa bình để kêu đòi tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam. Thực chất họ chính là các “chính trị phạm”, mà Bác Hồ đã yêu cầu Chính phủ thực dân Pháp thả ra từ cách đây gần 100 năm. Khi đó, trong Bản yêu sách 8 điểm nổi tiếng nói trên, Bác Hồ cũng đã kêu gọi Chính phủ thực dân Pháp cải cách nền pháp lý Đông Dương, bỏ hẳn tòa án đặc biệt, vì đó chỉ là “công cụ để khủng bố những người Việt Nam lương thiện nhất”.
Thế nhưng, cái “công cụ khủng bố” mà Bác Hồ đã lên án đó cách đây gần 100 năm, thì nay đang được những người thao túng Đảng cộng sản Việt Nam sử dụng rất tích cực để trừng trị những người Việt Nam lương thiện, đấu tranh ôn hòa cho tự do dân chủ ở Việt Nam. Thật là khôi hài, những người bảo thủ trong Đảng cộng sản Việt Nam đã gọi các “chính trị phạm” đó không phải là “chính trị phạm”.
Thậm chí, còn tồi tệ hơn, trong một số trường hợp, cơ quan an ninh còn sử dụng “luật rừng”, sử dụng bọn lưu manh, xã hội đen để đánh đập, trừng trị những người có tiếng nói kêu đòi dân chủ, tự do. Những hành vi thấp hèn đó không xứng đáng với một Đảng cầm quyền. Tất cả những người Việt Nam có lương tâm đều khinh rẻ, mà không sợ hãi những hành vi trả thù thấp hèn đó.
Trong bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2000, dưới sự chỉ đạo của Hội đồng lý luận Trung ương của Đảng cộng sản Việt Nam, đã không cho xuất bản tác phẩm Bản yêu sách 8 điểm này của Bác Hồ.
Người ta còn nhớ lại ngay bản Di chúc của Bác Hồ, sau khi Bác vừa nằm xuống, đã bị một số vị lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam cho sửa chữa lại. Chỉ đến năm 1988, sau khi bị dư luận lên tiếng, nguyên bản Di chúc của Bác Hồ mới được phục hồi.
Nếu sợ tư tưởng Hồ Chí Minh đến như vậy, tìm cách che dấu, cắt xén, làm sai lệch tư tưởng Hồ Chí Minh, hoặc chỉ nói, mà không làm, hoặc chỉ làm một cách hình thức, đại khái, thì liệu Đảng cộng sản Việt Nam có nên treo ảnh Bác Hồ, đặt tượng Bác Hồ tại các trụ sở của Đảng không?
Các nội dung trong Bản yêu sách 8 điểm của người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc gửi Hội nghị Versailles năm 1919 đó, cũng chính là những nội dung cơ bản về quyền tự do, dân chủ cho nhân dân, được cụ thể hóa trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, do Bác Hồ chỉ đạo soạn thảo năm 1946. Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cho phép có tự do báo chí, xuất bản, có tự do cư trú, có quyền tư hữu, quyền tự do ra nước ngoài, tự do mở trường tư, nhân dân có quyền bãi miễn người mình đã bầu ra, nếu làm việc không tốt, ,,Hiến pháp năm 1946 không hề nói gì đến Chủ nghĩa xã hội, đến Chủ nghĩa cộng sản, chỉ nói đến một nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mái nhà chung cho tất cả mọi người Việt Nam, không phân biệt thành phần giai cấp, địa vị xã hội, không phân biệt sự khác nhau về quan điểm, tư tưởng,,,
Giờ đây, không có bất kỳ một Hội nghị nào, một Nghị quyết nào của Đảng cộng sản Việt Nam đề cập đến Bản yêu sách 8 điểm đó của Bác Hồ, cũng như bản Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
6- Hiện nay, tình hình dân oan, khiếu kiện ngày càng trở nên gay gắt. Số lượng người dân bị mất đất, mất nhà, mất tài sản, bị xử lý oan sai ngày càng nhiều lên. Một số cấp chính quyền địa phương tham nhũng, cướp đất của dân, đùn đẩy trách nhiệm cho nhau, gây nên cảnh thương tâm oan khuất tày liếp, nhiều chưa từng có trong lịch sử hơn 4000 năm của nước ta.
Ngày 29 tháng 6 năm 1956, Ban bí thư trung ương Đảng lao động Việt Nam đã có Thông tri số 37/TT-TW, “Về việc xét và giải quyết các đơn yêu cầu và khiếu nại của cá nhân, đơn vị gửi Hồ Chủ Tịch”. Thông tri này nêu rõ Văn phòng Phủ Chủ Tịch đã thiết lập bộ phận giải quyết đơn thư khiếu nại của dân. Đồng thời, Thông tri 37 cũng chỉ thị cho các cấp ủy địa phương phải “chú ý giải quyết các đơn khiếu nại đã gửi đến cấp mình phụ trách cho kịp thời, để đương sự khỏi phải kêu lên Hồ Chủ Tịch”.
Thế nhưng từ đó đến nay, đã hơn 50 năm trôi qua, tình hình khiếu nại, oan khuất của dân không những không giảm đi, mà còn tăng lên, phức tạp hơn. Không phải là Đảng cộng sản Việt Nam không cố gắng giải quyết oan khuất cho dân, mà là vì ở nhiều địa phương, bộ máy Đảng và chính quyền đã quá yếu kém, thậm chí thối nát, mục ruỗng, khiến cho mọi chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước đều bị vô hiệu hóa, hoặc kém hiệu lực. Hơn nữa, các chủ trương, chính sách cũng còn nặng tính bao che, nửa vời, “giơ cao đánh khẽ”, vì sợ bị đụng chạm. Từ đó để mặc cho người dân không chút quyền lực phải tự đấu tranh với một số bọn quan tham ở địa phương nắm quyền lực, cảnh sát, quân đội, tòa án, kiểm sát trong tay.
Từ đó oan khuất ngày càng chồng chất thêm oan khuất.
Nếu Bác Hồ giờ đây sống lại, hẳn Bác sẽ ngạc nhiên lắm, bởi vì sao dân khiếu kiện, oan khuất giờ đây nhiều đến thế? Các cấp chính quyền đâu cả rồi? Thế này mà gọi là chính quyền của dân, do dân, vì dân ư? Thế này mà gọi là chính phủ công bộc của dân ư? Thế này mà gọi là cán bộ là đày tớ của dân ư? Thế này mà gọi là Đảng của nhân dân, Đảng từ nhân dân mà ra ư? Cái tinh thần giải quyết nghiêm minh khiếu kiện của dân mà Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo thực hiện trong Thông tri 37 năm 1956 ấy, bây giờ đâu cả rồi? Liệu Đảng cộng sản Việt Nam có còn nhớ cái Thông tri đó không?
Người ta sẽ nói là còn nhớ, rằng sau Thông tri đó, đã có bao nhiêu văn bản luật pháp về giải quyết khiếu nại, tố cáo cho dân được ban hành. Thế nhưng có một điều không thay đổi, là khiếu kiện, oan khuất của dân cứ ngày càng nhiều thêm.
Người ta còn tìm cách xuyên tạc, nói xấu dân, cho rằng dân đi khiếu kiện là do bị kích động, xúi dục. Hoặc khiếu kiện sai nhiều, khiếu kiện đúng ít. Người dân bị oan khuất thì có cần ai xúi dục, người ta cứ xuống đường đấu tranh thôi. Trong lịch sử dân tộc ta có biết bao nhiêu cuộc khởi nghĩa nông dân đã nổ ra. Những cuộc khởi nghĩa nông dân đó thì có cần ai xúi dục.
7- Dưới sự ủng hộ của Đảng cộng sản Đông Dương, và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 6 năm 1944, Đảng dân chủ Việt Nam đã được thành lập. Và ngày 22 tháng 7 năm 1946, Đảng xã hội Việt Nam cũng đã được thành lập. Đây là 2 Đảng trí thức, đã đoàn kết lực lượng tri thức yêu nước xung quanh Đảng lao động Việt Nam, tham gia đóng góp to lớn trong suốt 2 cuộc kháng chiến, và trong công cuộc xây dựng đất nước từ khi có hòa bình.
Thế nhưng sau khi chiến tranh kết thúc, Đảng cộng sản Việt Nam đã không có các chính sách, thể chế cần thiết để cho 2 Đảng này được phát triển. Trong Chính phủ không còn các Bộ trưởng là người của 2 Đảng. Chỉ có duy nhất 2 chức vụ Phó Chủ tịch Quốc hội, mang nặng tính hình thức là do Tổng thư ký của 2 Đảng đảm nhiệm. 2 Đảng Dân chủ và Xã hội đã tồn tại trong một thể chế trói buộc, không có tương lai. Từ đó, dẫn tới sự tự giải tán của 2 Đảng dân chủ và Đảng xã hội vào năm 1988. Từ đó, Nhà nước Việt Nam bị mang tiếng là Nhà nước độc tài một đảng, làm xấu đi hình ảnh một nước Việt Nam dân chủ, đại đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân, mọi đảng phái xung quanh Đảng lao động Việt Nam mà Bác Hồ đã chủ trương xây dựng. Nếu Bác Hồ còn sống, chắc Bác sẽ không bao giờ cho phép một hành động thiếu dân chủ như thế xảy ra.
Trên đây là 7 điều cơ bản, cho thấy Đảng cộng sản Việt Nam sau khi Bác Hồ mất, dưới sự thao túng của một số người bảo thủ, đã dần xa rời tư tưởng Hồ Chí Minh, và xa rời những lý tưởng cao đẹp ban đầu của Đảng như thế nào.
Người dân Việt Nam đã một lòng theo Đảng trong suốt 2 cuộc trường kỳ kháng chiến anh dũng, tốn biết bao xương máu, không phải để giờ đây một số kẻ có chức quyền trở nên giàu có, con cháu ung dung đi học ở nước ngoài, bộ máy công quyền hách dịch với dân, còn đông đảo nhân dân vẫn đói nghèo, chịu cảnh bất công, và một số quyền tự do dân chủ của dân vẫn bị tước doạt.
Không. Điều đó quyết không thể được.
Chính vì những lý do đó, chúng tôi, những người Việt Nam yêu nước, yêu tư tưởng Hồ Chí Minh, trong Đảng cũng như ngoài Đảng, đã cùng nhau đứng lên thành lập Phong trào Hồ Chí Minh, nhằm học tập, nuôi dưỡng, và động viên nhau thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng một “Nhà nước công bộc của dân”, “việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh”, một Nhà nước “cán bộ là đầy tớ của dân”, một Nhà nước thực sự trong sạch, thực sự tôn trọng dân, của dân, do dân, và vì dân.
Tất cả những người Việt Nam ở trong nước cũng như ở nước ngoài, trong Đảng cũng như ngoài Đảng, và cả những bạn bè năm châu có thiện cảm với Việt Nam, xin hãy tham gia Phong trào Hồ Chí Minh, để nhằm bày tỏ cụ thể các mong muốn sau đây:
Mong muốn trả lại tên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Mong muốn trả lại tên Đảng lao động Việt Nam.
Mong muốn trả lại quyền tư hữu đất đai cho nhân dân.
Mong muốn trả lại quyền tự do cư trú cho nhân dân.
Mong muốn trả lại quyền tự do báo chí, xuất bản, mong muốn có báo chí, xuất bản tư nhân.
Mong muốn trả lại quyền tự do lập hội, và quyền tự do hội họp.
Mong muốn thả tất cả các chính trị phạm.
Mong muốn khôi phục lại hoạt động cho 2 Đảng dân chủ và Đảng xã hội, đoàn kết xung quanh Đảng lao động Việt Nam, để tập hợp được sức mạnh toàn dân tốt hơn trong công cuộc xây dựng đất nước, và để tạo hình ảnh một Nhà nước Việt Nam dân chủ, không độc tài.
Mong muốn người dân được trực tiếp bầu ra các vị lãnh đạo địa phương, từ xã, phường, quận, huyện, đến tỉnh, thành phố, để người dân thực sự có cơ sở thực hiện quyền làm chủ, quyền kiểm tra, giám sát ở cơ sở.
Mong muốn 9 điểm trên đây của Phong trào Hồ Chí Minh, nếu được thực hiện, hoàn toàn không làm ảnh hưởng đến quyền lãnh đạo của Đảng, mà ngược lại, còn làm cho Đảng mạnh lên, trong sạch hơn, gần với tư tưởng Hồ Chí Minh hơn, Đảng mới có thể đoàn kết được đông đảo các tầng lớp nhân dân xung quanh Đảng như trước đây, để lãnh đạo đất nước có hiệu quả hơn trong tiến trình phát triển đất nước, và để có thể chống lại được mọi kẻ thù tiềm ẩn từ bên ngoài.
Lịch sử đã cho thấy mặc dù nước ta thời nhà Trần đã từng 3 lần thắng quân Nguyên một cách lừng lẫy, nhưng đến thời Hồ Quý Ly, chỉ sau thời nhà Trần vài năm, chỉ vì mất lòng dân mà mất nước vào tay nhà Minh. Nếu không có Lê Lợi, Nguyễn Trãi đoàn kết được toàn dân, lãnh đạo nhân dân giành lại được độc lập, thì nước ta đến nay đã không có tên trên bản đồ thế giới.
Bài học suýt nữa mất nước ở nước ta vẫn còn tiếp tục.
Sau khi dân tộc ta chiến thắng lừng lẫy quân Minh, quân Thanh, thì người Pháp vào đô hộ, chia nước ta thành 3 miền, với 3 chế độ chính trị khác nhau, 3 tên gọi khác nhau, như 3 quốc gia riêng biệt. Nước ta lại một lần nữa suýt bị xóa tên trên bản đồ thế giới. Nếu không có sự thua trận của người Nhật vào năm 1945, để tạo điều kiện cho cuộc Cách mạng tháng 8 giành chính quyền thành công, thì tình hình nước ta chắc không thể thuận lợi như bây giờ.
Những bài học đó đến bây giờ vẫn còn nóng hổi.
Những bài học đó là Chính quyền phải “Làm sao cho được lòng dân”, như lời Bác Hồ đã nói. Không thực hiện tự do, dân chủ, không làm cho nhân dân được hạnh phúc, làm mất lòng dân, thì dễ dẫn đến nguy cơ mất Chính quyền, hoặc mất nước. Không một bộ máy đàn áp nào có thể cứu được Chính quyền, nếu mất lòng dân.
Thực hiện mong muốn 9 điểm trên đây, cũng sẽ làm giảm bớt được các lời phê phán dai dẳng, kiên trì từ bên ngoài về sự vi phạm nhân quyền ở nước ta, để từ nay Nhà nước ta không còn phải lắp bắp nói dối, đánh trống lảng khi bị chất vấn về nhân quyền, làm mất đi tư thế đĩnh đạc trước dư luận thế giới, từ đó tạo điều kiện để nước ta hội nhập được với thế giới tốt hơn.
Cần phải nhắc lại một lần nữa sự thật lịch sử rằng, trong suốt hơn 4000 năm lịch sử của dân tộc, cả 3 quyền tư hữu đất đai, quyền tự do cư trú, và quyền tự do tư tưởng, xuất bản đều không bị ngăn cấm. Nhà đại thi hào Nguyễn Du đã viết Truyện Kiều, và tự cho xuất bản lấy từ nhà xuất bản tư nhân. Các học giả như Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú,,, các nhà thơ như Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm,,, cho đến nhà văn hóa lớn Nguyễn Trãi, đều đã tự sáng tác, và tự xuất bản lấy các tác phẩm của mình. Nhờ vậy, nền văn hóa của nước Việt Nam ta mới được bảo tồn và phát triển đến ngày nay.
Trong lịch sử nước ta kể từ sau Dương lịch, 1000 năm Bắc thuộc không ngăn cấm 3 quyền này. 1000 năm phong kiến độc lập, Đinh, Lý, Trần, Lê, Nguyễn,,, không ngăn cấm 3 quyền này. Gần 100 năm người Pháp đô hộ nước ta cũng không ngăn cấm 3 quyền này. 21 năm của Chính quyền Sài Gòn cũ ở miền Nam trong chiến tranh Việt Nam cũng không ngăn cấm 3 quyền này.
Tất cả các nước tự do dân chủ trên thế giới cũng không hề ngăn cấm 3 quyền này.
Chỉ có Nhà nước ta cùng với Nhà nước của 4 nước cộng sản còn lại trên thế giới mới ngăn cấm 3 quyền này của nhân dân. Đấy phải chăng là cái hay ho của Chủ nghĩa cộng sản Mác-Lênin?
****
Hãy đeo huy hiệu Hồ Chí Minh lên ngực áo, hoặc đơn giản đeo biển hiệu tự làm có dòng chữ Hồ Chí Minh lên ngực áo, bạn đã trở thành thành viên của Phong trào Hồ Chí Minh. Ngoài ra, không có bất cứ điều kiện ràng buộc nào khác.
Phong trào Hồ Chí Minh không có lãnh đạo. Các thành viên ở các nơi có thể tự bầu lên người đại diện luân phiên để điều khiển các buổi thảo luận, học tập về tư tưởng Hồ Chí Minh.
Mỗi thành viên của Phong trào Hồ Chí Minh có thể tự lấy tên chung là Người yêu nước.
Càng có nhiều người Việt Nam đeo biển hiệu có dòng chữ Hồ Chí Minh trên ngực áo, thì ngày thực hiện được 9 điều mong muốn nêu trên cũng càng đến gần.
Tất cả các đảng viên trung thực, các sinh viên, học sinh, nam, phụ, lão, ấu, nông dân, công nhân, trí thức, nhà kinh doanh, người về hưu, cựu chiến binh, văn nghệ sĩ, nhân viên Nhà nước, quan chức, chiến sĩ quân đội, chiến sĩ công an còn có lương tâm và còn chút lòng dũng cảm, không mù quáng, người Việt Nam học tập, làm việc ở nước ngoài, bà con Việt kiều, người nước ngoài có thiện cảm với Việt Nam, người có các quan điểm chính trị khác nhau,,, hãy tham gia Phong trào Hồ Chí Minh, vì một nước Việt Nam tự do, dân chủ, Nhà nước tôn trọng dân, nhân dân được thực sự hạnh phúc, sớm sánh vai được với các cường quốc năm châu, như Bác Hồ mong muốn.
Mọi người hãy truyền cho nhau bản Tuyên ngôn này của Phong trào Hồ Chí Minh cho thật nhiều người được biết.
Mọi hành động cường quyền nhằm xuyên tạc, hoặc ngăn chặn việc truyền bá bản Tuyên ngôn của Phong trào Hồ Chí Minh đều sẽ thất bại.
Chúng ta tin tưởng nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam mới, sẽ nhanh chóng được phục hồi, nhân dân sẽ ấm no, hạnh phúc, và sẽ đóng góp tích cực cho tiến trình hòa bình, tự do, dân chủ và thịnh vượng chung trên toàn thế giới.
Tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam.
Việt Nam, ngày mồng 2 tháng 9 năm 2007.
Những người yêu nước.
Nguồn: http://www.x-cafevn.org/forum/index.php
Chúng tôi, những người Việt Nam yêu nước, yêu tư tưởng Hồ Chí Minh nhận thấy rằng hiện nay, Đảng cộng sản Việt Nam mặc dù đang nêu cao khẩu hiệu học tập và làm theo gương đạo đức, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng trong thực tế, Đảng đang có một số biểu hiện xa rời các nguyên lý tự do, dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Phần đông các đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay vẫn là những người tốt, nguyện làm việc và cống hiến cho lợi ích của nhân dân. Nhưng một số những người bảo thủ, năng lực yếu kém, và thậm chí biến chất trong hàng ngũ lãnh đạo của Đảng từ trung ương đến địa phương đang thao túng Đảng, làm cho Đảng xa rời tư tưởng Hồ Chí Minh, xa rời những lý tưởng cao đẹp ban đầu của Đảng.
Những sự xa rời đó của Đảng cộng sản Việt Nam được thể hiện bằng các sự việc cụ thể dưới đây:
1- Ngày mồng 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nhưng đến năm 1976, Đảng cộng sản Việt Nam đã cho đổi tên thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngày mồng 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh không đọc bản tuyên ngôn khai sinh ra nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đó.
2- Ngày 11 tháng 11 năm 1945, dưới dự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Đông Dương đã ra Thông cáo tự giải tán, để rút lui vào hoạt động bí mật. Sau đó, đến tháng 2 năm 1951, Đảng đã đổi tên thành Đảng Lao động Việt Nam. Đảng Lao động Việt Nam dưới sự dẫn dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam ta trong 2 cuộc kháng chiến gian khổ, đem lại hai cuộc chiến thắng lừng lẫy, là chiến thắng người Pháp năm 1954, và chiến thắng người Mỹ năm 1975, đem lại độc lập và thống nhất toàn vẹn cho nước nhà. Nhưng năm 1976, với sự ấu trĩ về Chủ nghĩa Mác-Lênin, và sự “ngạo mạn cộng sản”, coi thường tiền bối, một số người lãnh đạo hậu sinh của Đảng đã cho đổi tên Đảng thành Đảng cộng sản Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh không biết, và không đặt cái tên Đảng cộng sản Việt Nam đó.
3- Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ là phương tiện để đấu tranh, nhằm đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là mục đích tự thân của cuộc cách mạng. Trong cả hai cuộc kháng chiến anh dũng của nhân dân ta, toàn dân ta đã đoàn kết một lòng xung quanh Đảng Lao động Việt Nam, tạo thành cuộc chiến tranh nhân dân thần thánh, đánh bại mọi kẻ thù dù hung bạo nhất, hùng mạnh nhất. Chính chủ nghĩa yêu nước, và hình ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo được sự đoàn kết một lòng đó, tạo được sức mạnh vô địch của nhân dân ta, chứ không phải Chủ nghĩa Mác-Lê nin. Và giờ đây, thành quả của hơn 20 năm đổi mới ở nước ta cũng là nhờ áp dụng cơ chế thị trường, chứ không phải nhờ Chủ nghĩa Mác-Lênin.
Ngày nay, Chủ nghĩa Mác-Lênin đã sụp đổ trên toàn thế giới, và thực tế đã chứng minh nước nào còn bám theo chủ nghĩa Mác-Lênin, với quốc hữu hóa, kinh tế Nhà nước là chủ đạo, chuyên quyền, độc đoán, hạn chế các quyền tự do, dân chủ của nhân dân, thì còn nghèo đói, dân còn lầm than, oan khuất, người tài còn không được trọng dụng.
Thế nhưng, mặc dù đã biết Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp, nhưng vì sợ mất ghế, mất chỗ làm ăn, những người bảo thủ trong Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay đã sử dụng chiêu bài “ổn định chính trị” để ngăn chặn mọi tiếng nói yêu cầu đổi mới, dân chủ trong Đảng, trong nhân dân.
Cái phương tiện chủ nghĩa Mác-Lê nin đó nay đã trở nên lỗi thời, thì nên bỏ đi, vì mục đích cao cả của Nhà nước, của Đảng không phải là việc tôn thờ chủ nghĩa Mác-Lê nin xa lạ, mà là, “việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh”, như lời Bác Hồ đã nói.
4- Bác Hồ đã nói “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì”. Chính vì vậy, năm 1986, một bộ phận những đảng viên tiến bộ, trung thành tuân theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã dũng cảm gạt bỏ bước đầu một số giáo điều của Chủ nghĩa xã hội, khởi xướng công cuộc Đổi mới, thừa nhận những nguyên lý kinh tế tự nhiên mà các nước trên thế giới đang làm, đó là thừa nhận kinh tế thị trường, thừa nhận kinh tế tư nhân, cho phép có đầu tư nước ngoài, giảm bớt các bao cấp cho khu vực kinh tế Nhà nước, nới lỏng một số quyền tự do dân chủ,,,. Nhờ vậy đã đưa nước ta từng bước thoát khỏi đói nghèo, tụt hậu, cứu Đảng không bị sụp đổ.
Nhưng đến nay, những người bảo thủ trong Đảng vì sợ mất quyền lực, sợ mất ghế, vẫn cố níu kéo lấy cái đuôi Chủ nghĩa xã hội, vì cho rằng xóa bỏ cái tên gọi Chủ nghĩa xã hội có thể dẫn đến làm sụp đổ chế độ. Chính sự níu kéo cái tên gọi Chủ nghĩa xã hội đó đang làm cho công cuộc Đổi mới bị chậm lại, quyền tự do dân chủ của nhân dân vẫn bị trói buộc, văn hóa, đạo đức xã hội tiếp tục bị băng hoại, tham nhũng ngày càng trầm trọng, oan khuất, khiếu kiện ngày càng nhiều lên, đời sống của đông đảo nhân dân vẫn nghèo khổ, người tài tiếp tục không được trọng dụng. Một ví dụ nhỏ, nước ta đã xuất khẩu được nhiều gạo, đứng thứ 2 thế giới, nhưng trong cả nước, vẫn có nhiều nông dân bị đói, hàng ngày không có gạo ăn, chỉ được ăn cơm vào những ngày lễ, Tết.
Các thành tựu của Đổi mới trong hơn 20 năm qua đã cho thấy chính việc từng bước xóa bỏ các giáo điều của Chủ nghĩa xã hội đã cứu Đảng, cứu chế độ không bị sụp đổ. Việc níu kéo cái tên gọi Chủ nghĩa xã hội hiện nay thực chất chỉ làm cản trở mọi bước cải cách, làm tăng nguy cơ tiềm ẩn cho Đảng, cho chế độ.
Lợi ích dân tộc lên trên hết, như tấm lòng yêu thương của Bác Hồ đối với nhân dân, hay sự tôn thờ chủ nghĩa Mác-Lênin xa lạ nhằm bảo vệ cái ghế lên trên hết? Những người có lương tâm trong Đảng cộng sản Việt Nam cần phải dũng cảm đặt ra câu hỏi này và trả lời.
5- Ngày 28 tháng 6 năm 1919, Bác Hồ, khi đó với tên gọi Nguyễn Ái Quốc, đã gửi cho Hội nghị Versailles, Pháp, Bản yêu sách 8 điểm, đề nghị Chính phủ Pháp thừa nhận, và tôn trọng các quyền tự do, dân chủ tối thiểu, cơ bản cho nhân dân Việt Nam. 8 yêu sách đó là:
Thả hết các chính trị phạm,
Cải cách nền pháp lý Đông Dương,
Tự do báo chí và tự do tư tưởng,
Tự do lập hội và tự do hội họp,
Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do ra nước ngoài,
Tự do học tập và mở trường kỹ thuật,
Thay thế chế độ sắc lệnh bằng chế độ luật pháp,
Phải có đại diện người Việt Nam trong Nghị viện.
Thế nhưng, thật trớ trêu, rất nhiều quyền mà Bác Hồ kêu đòi cho nhân dân Việt Nam cách đây gần 100 năm từ tay người Pháp, thì đến nay Đảng cộng sản Việt Nam vẫn chưa thực hiện đầy đủ cho nhân dân Việt Nam.
Cụ thể là:
- Thứ nhất, Luật Cư trú mặc dù đã sửa đổi, nhưng thực sự nhân dân vẫn chưa có quyền tự do cư trú. Trong khi đó, nhân dân ta trong suốt 4000 năm lịch sử đều có quyền tự do cư trú này. Mọi người hãy nhớ rằng Hà Nội 36 phố phường là nhờ có quyền tự do cư trú, nhân dân từ các địa phương kéo về Hà Nội, làm ăn, buôn bán, sinh cơ lập nghiệp, mới tạo ra Hà Nội 36 phố phường. Đây chỉ là một ví dụ nhỏ về quyền tự do cư trú của cha ông ta ngày trước. Trong Bản yêu sách 8 điểm nêu trên, Bác Hồ không đỏi hỏi về quyền tự do cư trú ở trong nước, vì khi đó dân ta dù dưới ách thống trị của thực dân Pháp, nhưng vẫn có quyền tự do cư trú đó. Khi đó, Bác Hồ còn đòi hỏi cao hơn, về “quyền tự do cư trú ở nước ngoài, và quyền tự do ra nước ngoài” cho nhân dân Việt Nam. Thử hỏi, về mặt tự do cư trú, Nhà nước Xã hội chủ nghĩa hiện nay ở nước ta có bằng được cha ông ta ngày xưa, và bằng Nhà nước thực dân trước đây hay không?
- Thứ hai, quyền tư hữu đất đai đến nay vẫn chưa trả lại cho nhân dân, gây nên bao cảnh quan tham lợi dụng “đất đai là công thổ” để cướp đất của dân, người dân bị oan khuất, kêu rên khôn xiết. Đồng thời vì không có quyền tư hữu về đất đai, nên thủ tục hành chính sinh ra Sổ đỏ, Sổ hồng, một sự kỳ quặc về quản lý hành chính chưa từng có trong lịch sử nước ta, cũng như trong lịch sử thế giới. Trong suốt 4000 năm lịch sử của dân tộc ta, nhân dân ta đều có quyền tư hữu về đất đai này. Có như vậy, nhân dân ta mới đoàn kết một lòng xung quanh các Triều đình, chống lại biết bao cuộc chiến tranh xâm lược, giữ nguyên bờ cõi cho thế hệ chúng ta ngày nay. Trong Bản yêu sách 8 điểm nêu trên, Bác Hồ không nêu yêu sách đòi quyền tư hữu đất đai cho nhân dân, vì khi đó, nhân dân ta đã có quyền tư hữu đất đai rồi, chế độ thực dân Pháp không tước đoạt quyền tư hữu đó của nhân dân Việt Nam ta. Thế mà Đảng cộng sản Việt Nam ngày nay nỡ tước đi cái quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm đó từ ngàn đời của nhân dân ta, gây ra biết bao cảnh ngang trái, bất công, và rắc rối về thủ tục hành chính. Thử hỏi, Nhà nước Xã hội chủ nghĩa của nước ta hiện nay, về mặt tôn trọng quyền tư hữu đất đai của dân, có bằng được cha ông ta ngày xưa, và bằng Nhà nước thực dân trước đây hay không?
- Thứ ba, sau đổi mới, quyền tự do báo chí được nới lỏng một chút, nhưng vẫn chưa có báo chí, xuất bản tư nhân, chưa có tự do tư tưởng. Người dân không được phép công khai thảo luận những ý kiến trái chiều, đóng góp cho tiến trình đổi mới của đất nước. Trong thời gian Bác Hồ sống ở Pháp, Bác đã tự mình ra tờ báo Người Cùng Khổ (1922-1926), để phê phán chế độ thực dân, bênh vực quyền lợi cho người Việt Nam ta. Đó là tờ báo tư nhân, do một người từ xứ thuộc địa đến Pháp, xuất bản trong lòng nước Pháp, phê phán Chính phủ Pháp, nhưng không bị Chính phủ Pháp cho đóng cửa. Vậy tại sao giờ đây Nhà nước Xã hội chủ nghĩa mang tiếng là dân chủ, tự do, của dân, do dân, vì dân ở nước ta lại cấm đoán báo chí tư nhân? Thử hỏi về phương diện tự do báo chí, thì Nhà nước Xã hội chủ nghĩa của ta hiện nay có bằng được Nhà nước thực dân trước đây hay không?
- Thứ tư, hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế đã phát triển khá nhanh, kinh tế tư nhân và kinh tế thị trường đã được thực hiện một bước, nhưng kinh tế Nhà nước vẫn là chủ đạo, bộ máy Nhà nước, công an, thanh tra, quản lý thị trường, thuế vụ,,,vẫn can thiệp thô bạo vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, nhũng nhiễu, gây điêu đứng cho nhiều doanh nghiệp. Bộ máy hành chính và thủ tục hành chính vẫn “hành dân là chính”. Chỉ có chủ yếu các công ty có quan hệ quen biết, các công ty “biết điều”, các công ty con ông cháu cha là được yên ổn.
Tự do cư trú, và quyền tư hữu về đất đai là cái gốc của mọi thủ tục hành chính, và là cái quyền mà dân ta được hưởng từ thời Hồng Bàng đến trước khi có chế độ Xã hội chủ nghĩa. Không giải phóng 2 quyền này, thì cải cách hành chính sẽ chỉ là chắp vá, được chỗ này, lại bị chỗ khác.
Một số thành tựu xóa đói giảm nghèo đang được dùng như cây cảnh để cố làm mờ nhạt đi sự chênh lệch giàu-nghèo, sự bất công, sự băng hoại đạo đức, văn hóa đang gia tăng chóng mặt ở Việt Nam sau hơn 20 năm Đổi mới.
- Thứ năm, người dân Việt Nam ta hiện nay cũng chưa được tự do lập hội, và tự do hội họp, cái quyền mà Bác Hồ đã kêu đòi cho dân ta từ tay người Pháp từ cách đây gần 100 năm.
- Thứ sáu, Quốc hội vẫn chủ yếu là của Đảng, chứ chưa đại diện cho đông đảo các tầng lớp nhân dân. Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946, có tới 43% đại biểu là không đảng phái. Nhưng nay, đảng viên luôn chiếm từ trên 80% đến trên 90% trong Quốc hội. Đảng vẫn nói là Đảng là của gia cấp công nhân, và nhân dân lao động Việt Nam. Nhưng khóa Quốc hội 11 hiện nay, chỉ có 0,4% là công nhân.
- Thứ bảy, Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có đại diện đông đảo các đảng phái và không đảng phái, với những trí thức nổi tiếng như cụ Nguyễn Văn Tố, cụ Huỳnh Thúc Kháng, cụ Bùi Bằng Đoàn, Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên,,,Nhưng đến nay, không một chức Chủ tịch Phường, Xã nào, không một chức Chủ tịch Quận, Huyện nào, không một chức Chủ tịch Tỉnh, Thành phố nào, không một Bộ trưởng nào, một Thứ trưởng nào là người ngoài đảng.
Tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội thứ nhất, ngày 31 tháng 10 năm 1946, trong Lời tuyên bố nhậm chức trước Quốc hội, Bác Hồ đã nói: “Tôi chỉ có một Đảng, Đảng Việt Nam”. Giờ đây, dường như Đảng cộng sản Việt Nam đã biến câu nói đó của Bác Hồ thành “Tôi chỉ có một đảng, Đảng cộng sản”.
“Đảng Việt Nam” của Bác Hồ đã tồn tại suốt chiều dài 4000 năm lịch sử của dân tộc. Còn Đảng cộng sản Việt Nam chỉ tồn tại từ năm 1976, từ sau khi đổi tên.
- Thứ tám, gần đây, những người bảo thủ trong Đảng Cộng sản đã chỉ đạo bộ máy pháp luật bỏ tù một loạt những người mà lý do chỉ vì họ thực hiện các biện pháp hòa bình để kêu đòi tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam. Thực chất họ chính là các “chính trị phạm”, mà Bác Hồ đã yêu cầu Chính phủ thực dân Pháp thả ra từ cách đây gần 100 năm. Khi đó, trong Bản yêu sách 8 điểm nổi tiếng nói trên, Bác Hồ cũng đã kêu gọi Chính phủ thực dân Pháp cải cách nền pháp lý Đông Dương, bỏ hẳn tòa án đặc biệt, vì đó chỉ là “công cụ để khủng bố những người Việt Nam lương thiện nhất”.
Thế nhưng, cái “công cụ khủng bố” mà Bác Hồ đã lên án đó cách đây gần 100 năm, thì nay đang được những người thao túng Đảng cộng sản Việt Nam sử dụng rất tích cực để trừng trị những người Việt Nam lương thiện, đấu tranh ôn hòa cho tự do dân chủ ở Việt Nam. Thật là khôi hài, những người bảo thủ trong Đảng cộng sản Việt Nam đã gọi các “chính trị phạm” đó không phải là “chính trị phạm”.
Thậm chí, còn tồi tệ hơn, trong một số trường hợp, cơ quan an ninh còn sử dụng “luật rừng”, sử dụng bọn lưu manh, xã hội đen để đánh đập, trừng trị những người có tiếng nói kêu đòi dân chủ, tự do. Những hành vi thấp hèn đó không xứng đáng với một Đảng cầm quyền. Tất cả những người Việt Nam có lương tâm đều khinh rẻ, mà không sợ hãi những hành vi trả thù thấp hèn đó.
Trong bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2000, dưới sự chỉ đạo của Hội đồng lý luận Trung ương của Đảng cộng sản Việt Nam, đã không cho xuất bản tác phẩm Bản yêu sách 8 điểm này của Bác Hồ.
Người ta còn nhớ lại ngay bản Di chúc của Bác Hồ, sau khi Bác vừa nằm xuống, đã bị một số vị lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam cho sửa chữa lại. Chỉ đến năm 1988, sau khi bị dư luận lên tiếng, nguyên bản Di chúc của Bác Hồ mới được phục hồi.
Nếu sợ tư tưởng Hồ Chí Minh đến như vậy, tìm cách che dấu, cắt xén, làm sai lệch tư tưởng Hồ Chí Minh, hoặc chỉ nói, mà không làm, hoặc chỉ làm một cách hình thức, đại khái, thì liệu Đảng cộng sản Việt Nam có nên treo ảnh Bác Hồ, đặt tượng Bác Hồ tại các trụ sở của Đảng không?
Các nội dung trong Bản yêu sách 8 điểm của người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc gửi Hội nghị Versailles năm 1919 đó, cũng chính là những nội dung cơ bản về quyền tự do, dân chủ cho nhân dân, được cụ thể hóa trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, do Bác Hồ chỉ đạo soạn thảo năm 1946. Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cho phép có tự do báo chí, xuất bản, có tự do cư trú, có quyền tư hữu, quyền tự do ra nước ngoài, tự do mở trường tư, nhân dân có quyền bãi miễn người mình đã bầu ra, nếu làm việc không tốt, ,,Hiến pháp năm 1946 không hề nói gì đến Chủ nghĩa xã hội, đến Chủ nghĩa cộng sản, chỉ nói đến một nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mái nhà chung cho tất cả mọi người Việt Nam, không phân biệt thành phần giai cấp, địa vị xã hội, không phân biệt sự khác nhau về quan điểm, tư tưởng,,,
Giờ đây, không có bất kỳ một Hội nghị nào, một Nghị quyết nào của Đảng cộng sản Việt Nam đề cập đến Bản yêu sách 8 điểm đó của Bác Hồ, cũng như bản Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
6- Hiện nay, tình hình dân oan, khiếu kiện ngày càng trở nên gay gắt. Số lượng người dân bị mất đất, mất nhà, mất tài sản, bị xử lý oan sai ngày càng nhiều lên. Một số cấp chính quyền địa phương tham nhũng, cướp đất của dân, đùn đẩy trách nhiệm cho nhau, gây nên cảnh thương tâm oan khuất tày liếp, nhiều chưa từng có trong lịch sử hơn 4000 năm của nước ta.
Ngày 29 tháng 6 năm 1956, Ban bí thư trung ương Đảng lao động Việt Nam đã có Thông tri số 37/TT-TW, “Về việc xét và giải quyết các đơn yêu cầu và khiếu nại của cá nhân, đơn vị gửi Hồ Chủ Tịch”. Thông tri này nêu rõ Văn phòng Phủ Chủ Tịch đã thiết lập bộ phận giải quyết đơn thư khiếu nại của dân. Đồng thời, Thông tri 37 cũng chỉ thị cho các cấp ủy địa phương phải “chú ý giải quyết các đơn khiếu nại đã gửi đến cấp mình phụ trách cho kịp thời, để đương sự khỏi phải kêu lên Hồ Chủ Tịch”.
Thế nhưng từ đó đến nay, đã hơn 50 năm trôi qua, tình hình khiếu nại, oan khuất của dân không những không giảm đi, mà còn tăng lên, phức tạp hơn. Không phải là Đảng cộng sản Việt Nam không cố gắng giải quyết oan khuất cho dân, mà là vì ở nhiều địa phương, bộ máy Đảng và chính quyền đã quá yếu kém, thậm chí thối nát, mục ruỗng, khiến cho mọi chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước đều bị vô hiệu hóa, hoặc kém hiệu lực. Hơn nữa, các chủ trương, chính sách cũng còn nặng tính bao che, nửa vời, “giơ cao đánh khẽ”, vì sợ bị đụng chạm. Từ đó để mặc cho người dân không chút quyền lực phải tự đấu tranh với một số bọn quan tham ở địa phương nắm quyền lực, cảnh sát, quân đội, tòa án, kiểm sát trong tay.
Từ đó oan khuất ngày càng chồng chất thêm oan khuất.
Nếu Bác Hồ giờ đây sống lại, hẳn Bác sẽ ngạc nhiên lắm, bởi vì sao dân khiếu kiện, oan khuất giờ đây nhiều đến thế? Các cấp chính quyền đâu cả rồi? Thế này mà gọi là chính quyền của dân, do dân, vì dân ư? Thế này mà gọi là chính phủ công bộc của dân ư? Thế này mà gọi là cán bộ là đày tớ của dân ư? Thế này mà gọi là Đảng của nhân dân, Đảng từ nhân dân mà ra ư? Cái tinh thần giải quyết nghiêm minh khiếu kiện của dân mà Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo thực hiện trong Thông tri 37 năm 1956 ấy, bây giờ đâu cả rồi? Liệu Đảng cộng sản Việt Nam có còn nhớ cái Thông tri đó không?
Người ta sẽ nói là còn nhớ, rằng sau Thông tri đó, đã có bao nhiêu văn bản luật pháp về giải quyết khiếu nại, tố cáo cho dân được ban hành. Thế nhưng có một điều không thay đổi, là khiếu kiện, oan khuất của dân cứ ngày càng nhiều thêm.
Người ta còn tìm cách xuyên tạc, nói xấu dân, cho rằng dân đi khiếu kiện là do bị kích động, xúi dục. Hoặc khiếu kiện sai nhiều, khiếu kiện đúng ít. Người dân bị oan khuất thì có cần ai xúi dục, người ta cứ xuống đường đấu tranh thôi. Trong lịch sử dân tộc ta có biết bao nhiêu cuộc khởi nghĩa nông dân đã nổ ra. Những cuộc khởi nghĩa nông dân đó thì có cần ai xúi dục.
7- Dưới sự ủng hộ của Đảng cộng sản Đông Dương, và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 6 năm 1944, Đảng dân chủ Việt Nam đã được thành lập. Và ngày 22 tháng 7 năm 1946, Đảng xã hội Việt Nam cũng đã được thành lập. Đây là 2 Đảng trí thức, đã đoàn kết lực lượng tri thức yêu nước xung quanh Đảng lao động Việt Nam, tham gia đóng góp to lớn trong suốt 2 cuộc kháng chiến, và trong công cuộc xây dựng đất nước từ khi có hòa bình.
Thế nhưng sau khi chiến tranh kết thúc, Đảng cộng sản Việt Nam đã không có các chính sách, thể chế cần thiết để cho 2 Đảng này được phát triển. Trong Chính phủ không còn các Bộ trưởng là người của 2 Đảng. Chỉ có duy nhất 2 chức vụ Phó Chủ tịch Quốc hội, mang nặng tính hình thức là do Tổng thư ký của 2 Đảng đảm nhiệm. 2 Đảng Dân chủ và Xã hội đã tồn tại trong một thể chế trói buộc, không có tương lai. Từ đó, dẫn tới sự tự giải tán của 2 Đảng dân chủ và Đảng xã hội vào năm 1988. Từ đó, Nhà nước Việt Nam bị mang tiếng là Nhà nước độc tài một đảng, làm xấu đi hình ảnh một nước Việt Nam dân chủ, đại đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân, mọi đảng phái xung quanh Đảng lao động Việt Nam mà Bác Hồ đã chủ trương xây dựng. Nếu Bác Hồ còn sống, chắc Bác sẽ không bao giờ cho phép một hành động thiếu dân chủ như thế xảy ra.
Trên đây là 7 điều cơ bản, cho thấy Đảng cộng sản Việt Nam sau khi Bác Hồ mất, dưới sự thao túng của một số người bảo thủ, đã dần xa rời tư tưởng Hồ Chí Minh, và xa rời những lý tưởng cao đẹp ban đầu của Đảng như thế nào.
Người dân Việt Nam đã một lòng theo Đảng trong suốt 2 cuộc trường kỳ kháng chiến anh dũng, tốn biết bao xương máu, không phải để giờ đây một số kẻ có chức quyền trở nên giàu có, con cháu ung dung đi học ở nước ngoài, bộ máy công quyền hách dịch với dân, còn đông đảo nhân dân vẫn đói nghèo, chịu cảnh bất công, và một số quyền tự do dân chủ của dân vẫn bị tước doạt.
Không. Điều đó quyết không thể được.
Chính vì những lý do đó, chúng tôi, những người Việt Nam yêu nước, yêu tư tưởng Hồ Chí Minh, trong Đảng cũng như ngoài Đảng, đã cùng nhau đứng lên thành lập Phong trào Hồ Chí Minh, nhằm học tập, nuôi dưỡng, và động viên nhau thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng một “Nhà nước công bộc của dân”, “việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh”, một Nhà nước “cán bộ là đầy tớ của dân”, một Nhà nước thực sự trong sạch, thực sự tôn trọng dân, của dân, do dân, và vì dân.
Tất cả những người Việt Nam ở trong nước cũng như ở nước ngoài, trong Đảng cũng như ngoài Đảng, và cả những bạn bè năm châu có thiện cảm với Việt Nam, xin hãy tham gia Phong trào Hồ Chí Minh, để nhằm bày tỏ cụ thể các mong muốn sau đây:
Mong muốn trả lại tên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Mong muốn trả lại tên Đảng lao động Việt Nam.
Mong muốn trả lại quyền tư hữu đất đai cho nhân dân.
Mong muốn trả lại quyền tự do cư trú cho nhân dân.
Mong muốn trả lại quyền tự do báo chí, xuất bản, mong muốn có báo chí, xuất bản tư nhân.
Mong muốn trả lại quyền tự do lập hội, và quyền tự do hội họp.
Mong muốn thả tất cả các chính trị phạm.
Mong muốn khôi phục lại hoạt động cho 2 Đảng dân chủ và Đảng xã hội, đoàn kết xung quanh Đảng lao động Việt Nam, để tập hợp được sức mạnh toàn dân tốt hơn trong công cuộc xây dựng đất nước, và để tạo hình ảnh một Nhà nước Việt Nam dân chủ, không độc tài.
Mong muốn người dân được trực tiếp bầu ra các vị lãnh đạo địa phương, từ xã, phường, quận, huyện, đến tỉnh, thành phố, để người dân thực sự có cơ sở thực hiện quyền làm chủ, quyền kiểm tra, giám sát ở cơ sở.
Mong muốn 9 điểm trên đây của Phong trào Hồ Chí Minh, nếu được thực hiện, hoàn toàn không làm ảnh hưởng đến quyền lãnh đạo của Đảng, mà ngược lại, còn làm cho Đảng mạnh lên, trong sạch hơn, gần với tư tưởng Hồ Chí Minh hơn, Đảng mới có thể đoàn kết được đông đảo các tầng lớp nhân dân xung quanh Đảng như trước đây, để lãnh đạo đất nước có hiệu quả hơn trong tiến trình phát triển đất nước, và để có thể chống lại được mọi kẻ thù tiềm ẩn từ bên ngoài.
Lịch sử đã cho thấy mặc dù nước ta thời nhà Trần đã từng 3 lần thắng quân Nguyên một cách lừng lẫy, nhưng đến thời Hồ Quý Ly, chỉ sau thời nhà Trần vài năm, chỉ vì mất lòng dân mà mất nước vào tay nhà Minh. Nếu không có Lê Lợi, Nguyễn Trãi đoàn kết được toàn dân, lãnh đạo nhân dân giành lại được độc lập, thì nước ta đến nay đã không có tên trên bản đồ thế giới.
Bài học suýt nữa mất nước ở nước ta vẫn còn tiếp tục.
Sau khi dân tộc ta chiến thắng lừng lẫy quân Minh, quân Thanh, thì người Pháp vào đô hộ, chia nước ta thành 3 miền, với 3 chế độ chính trị khác nhau, 3 tên gọi khác nhau, như 3 quốc gia riêng biệt. Nước ta lại một lần nữa suýt bị xóa tên trên bản đồ thế giới. Nếu không có sự thua trận của người Nhật vào năm 1945, để tạo điều kiện cho cuộc Cách mạng tháng 8 giành chính quyền thành công, thì tình hình nước ta chắc không thể thuận lợi như bây giờ.
Những bài học đó đến bây giờ vẫn còn nóng hổi.
Những bài học đó là Chính quyền phải “Làm sao cho được lòng dân”, như lời Bác Hồ đã nói. Không thực hiện tự do, dân chủ, không làm cho nhân dân được hạnh phúc, làm mất lòng dân, thì dễ dẫn đến nguy cơ mất Chính quyền, hoặc mất nước. Không một bộ máy đàn áp nào có thể cứu được Chính quyền, nếu mất lòng dân.
Thực hiện mong muốn 9 điểm trên đây, cũng sẽ làm giảm bớt được các lời phê phán dai dẳng, kiên trì từ bên ngoài về sự vi phạm nhân quyền ở nước ta, để từ nay Nhà nước ta không còn phải lắp bắp nói dối, đánh trống lảng khi bị chất vấn về nhân quyền, làm mất đi tư thế đĩnh đạc trước dư luận thế giới, từ đó tạo điều kiện để nước ta hội nhập được với thế giới tốt hơn.
Cần phải nhắc lại một lần nữa sự thật lịch sử rằng, trong suốt hơn 4000 năm lịch sử của dân tộc, cả 3 quyền tư hữu đất đai, quyền tự do cư trú, và quyền tự do tư tưởng, xuất bản đều không bị ngăn cấm. Nhà đại thi hào Nguyễn Du đã viết Truyện Kiều, và tự cho xuất bản lấy từ nhà xuất bản tư nhân. Các học giả như Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú,,, các nhà thơ như Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm,,, cho đến nhà văn hóa lớn Nguyễn Trãi, đều đã tự sáng tác, và tự xuất bản lấy các tác phẩm của mình. Nhờ vậy, nền văn hóa của nước Việt Nam ta mới được bảo tồn và phát triển đến ngày nay.
Trong lịch sử nước ta kể từ sau Dương lịch, 1000 năm Bắc thuộc không ngăn cấm 3 quyền này. 1000 năm phong kiến độc lập, Đinh, Lý, Trần, Lê, Nguyễn,,, không ngăn cấm 3 quyền này. Gần 100 năm người Pháp đô hộ nước ta cũng không ngăn cấm 3 quyền này. 21 năm của Chính quyền Sài Gòn cũ ở miền Nam trong chiến tranh Việt Nam cũng không ngăn cấm 3 quyền này.
Tất cả các nước tự do dân chủ trên thế giới cũng không hề ngăn cấm 3 quyền này.
Chỉ có Nhà nước ta cùng với Nhà nước của 4 nước cộng sản còn lại trên thế giới mới ngăn cấm 3 quyền này của nhân dân. Đấy phải chăng là cái hay ho của Chủ nghĩa cộng sản Mác-Lênin?
****
Hãy đeo huy hiệu Hồ Chí Minh lên ngực áo, hoặc đơn giản đeo biển hiệu tự làm có dòng chữ Hồ Chí Minh lên ngực áo, bạn đã trở thành thành viên của Phong trào Hồ Chí Minh. Ngoài ra, không có bất cứ điều kiện ràng buộc nào khác.
Phong trào Hồ Chí Minh không có lãnh đạo. Các thành viên ở các nơi có thể tự bầu lên người đại diện luân phiên để điều khiển các buổi thảo luận, học tập về tư tưởng Hồ Chí Minh.
Mỗi thành viên của Phong trào Hồ Chí Minh có thể tự lấy tên chung là Người yêu nước.
Càng có nhiều người Việt Nam đeo biển hiệu có dòng chữ Hồ Chí Minh trên ngực áo, thì ngày thực hiện được 9 điều mong muốn nêu trên cũng càng đến gần.
Tất cả các đảng viên trung thực, các sinh viên, học sinh, nam, phụ, lão, ấu, nông dân, công nhân, trí thức, nhà kinh doanh, người về hưu, cựu chiến binh, văn nghệ sĩ, nhân viên Nhà nước, quan chức, chiến sĩ quân đội, chiến sĩ công an còn có lương tâm và còn chút lòng dũng cảm, không mù quáng, người Việt Nam học tập, làm việc ở nước ngoài, bà con Việt kiều, người nước ngoài có thiện cảm với Việt Nam, người có các quan điểm chính trị khác nhau,,, hãy tham gia Phong trào Hồ Chí Minh, vì một nước Việt Nam tự do, dân chủ, Nhà nước tôn trọng dân, nhân dân được thực sự hạnh phúc, sớm sánh vai được với các cường quốc năm châu, như Bác Hồ mong muốn.
Mọi người hãy truyền cho nhau bản Tuyên ngôn này của Phong trào Hồ Chí Minh cho thật nhiều người được biết.
Mọi hành động cường quyền nhằm xuyên tạc, hoặc ngăn chặn việc truyền bá bản Tuyên ngôn của Phong trào Hồ Chí Minh đều sẽ thất bại.
Chúng ta tin tưởng nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam mới, sẽ nhanh chóng được phục hồi, nhân dân sẽ ấm no, hạnh phúc, và sẽ đóng góp tích cực cho tiến trình hòa bình, tự do, dân chủ và thịnh vượng chung trên toàn thế giới.
Tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam.
Việt Nam, ngày mồng 2 tháng 9 năm 2007.
Những người yêu nước.
Nguồn: http://www.x-cafevn.org/forum/index.php