📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Khoa Học Phổ Thông

danh nhân lịch sử

9 trả lời, 3.699 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-12-01 06:51:47triều giang>
Trong lịch sử có rất nhiều người nổi tiếng như Lê LỢi, trần quốc toản, hồ xuân hương, nguyễn trải
thế bạn biết gì về họ
Hồ Xuân Hương (chữ Hán: 胡春香) là nhà thơ Nôm nổi tiếng sống vào cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19. Bà đã để lại nhiều bài thơ độc đáo với phong cách thơ vừa thanh vừa tục và được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm. Hồ Xuân Hương được coi là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ 18, nửa đầu thế kỷ 19.
Tiểu sử của Hồ Xuân Hương đến nay vẫn còn nhiều điểm gây tranh cãi. Thậm chí có một vài ý kiến còn cho rằng những bài thơ được xem là của Hồ Xuân Hương hiện nay do nhiều người sáng tác, nghĩa là không có ai thực sự là Hồ Xuân Hương. Dựa vào một số tài liệu lưu truyền, những bài thơ được khẳng định là của Hồ Xuân Hương, các nhà nghiên cứu đã tạm thừa nhận một số kết luận bước đầu về tiểu sử của nữ sĩ:
  • Hồ Xuân Hương thuộc dòng dõi họ Hồ ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Đây là một dòng họ lớn có nhiều người đỗ đạt và làm quan nhưng đến đời Hồ Phi Diễn - thân sinh của bà - thì dòng họ này đã suy tàn.
  • Bà sống vào thời kỳ cuối nhà Lê, đầu nhà Nguyễn, tức cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19. Do đó bà có điều kiện tiếp thu ảnh hưởng của phong trào đấu tranh của quần chúng và chứng kiến tận mắt sự đổ nát của nhà nước phong kiến.
  • Bà xuất thân trong một gia đình phong kiến suy tàn, song hoàn cảnh cuộc sống đã giúp nữ sĩ có điều kiện sống gần gũi với quần chúng lao động nghèo, lăn lộn và tiếp xúc nhiều với những người phụ nữ bị áp bức trong xã hội.
  • Hồ Xuân Hương ít chịu ảnh hưởng của Nho giáo về mặt nhân sinh quan cũng như về phương diện văn chương.
  • Bà là một phụ nữ thông minh, có học nhưng học hành cũng không được nhiều lắm, bà giao du rộng rãi với bạn bè nhất là đối với những bạn bè ở làng thơ văn, các nhà nho. Nữ sĩ còn là người từng đi du lãm nhiều danh lam thắng cảnh của đất nước.
  • Là một phụ nữ tài hoa có cá tính mạnh mẽ nhưng đời tư lại có nhiều bất hạnh. Hồ Xuân Hương lấy chồng muộn mà đến hai lần đi lấy chồng, hai lần đều làm lẽ, cả hai đều ngắn ngủi và không có hạnh phúc. (Nhưng theo tài liệu của GS Hoàng Xuân Hãn và ông Lê Xuân Giáo thì nữ sĩ có tới 3 đời chồng chứ không phải hai: Tổng Cóc, Ông Phủ Vĩnh – tường, và cuối cùng là quan Tham hiệp trấn Yên Quảng Trần Phúc Hiến).

Có thể thấy Hồ Xuân Hương không phải là một phụ nữ bình thường của thời phong kiến mà bà đã có một cuộc sống đầy sóng gió.

 
Các tác phẩm của bà đã bị mất nhiều, đến nay còn lưu truyền chủ yếu là những bài thơ chữ Nôm truyền miệng.
Năm 1962, ông Trần Văn Giáp đã công bố 5 bài thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương trên báo Văn nghệ viết về vịnh Hạ Long. Đến năm 1983, giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã dịch và đặt tên cho 5 bài thơ này (bao gồm: Độ Hoa Phong, Hải ốc trù, Nhãn phóng thanh, Trạo ca thanh, Thuỷ vân hương) và công bố trong bài Hồ Xuân Hương với vịnh Hạ Long, đăng trên tập san Khoa học xã hội, tại Paris vào năm 1984.
Năm 1964, nhà nghiên cứu Trần Thanh Mại phát hiện một tập thơ nữa tên là Lưu hương ký 琉香記, theo những nghiên cứu đến nay nhiều người tán thành rằng những bài thơ trong đó là của Hồ Xuân Hương.
 
 
 
 
Lê Thái Tổ (chữ Hán: 黎太祖), húy Lê Lợi (黎利), là người khởi xướng khởi nghĩa Lam Sơn chiến thắng quân Minh trở thành vị vua đầu tiên của nhà Hậu Lê, một triều đại trong lịch sử Việt Nam. Ông sinh năm 1385[2] và mất năm 1433, ở ngôi gần 6 năm, thọ 49 tuổi. Thụy hiệu do Lê Thái Tông đặt là Thống Thiên Khải Vận Thánh Đức Thần Công Duệ Văn Anh Vũ Khoan Minh Dũng Trí Hoàng Nghĩa Chí Minh Đại Hiếu Cao Hoàng Đế.






[/align][/align]Tượng Lê Lợi trước trụ sở
UBND thành phố Thanh Hoá[/align]

Tên húy
Lê Lợi

Sinh
1385[1]

Mất
1433

Trị vì
1428 - 1433

Triều đại
Nhà Hậu Lê

Niên hiệu
Thuận Thiên

Miếu hiệu
Thái Tổ



Cao Hoàng Đế
 
 
Tổ bốn đời của Lê Lợi là Lê Hối, người Thanh Hoá. Một hôm đến vùng núi Lam Sơn thấy cảnh đất lành chim đậu, ông dời nhà về đây. Lê Hối lấy bà Nguyễn Thị Ngọc Duyên, sinh ra Lê Đinh, tức là ông nội của Lê Lợi. Lê Đinh lấy bà Nguyễn thị Quách sinh ra hai người con là Lê Tòng và Lê Khoáng. Lê Khoáng lấy bà Trịnh Thị Ngọc Thương sinh được ba người con: Lê Học, Lê Trừ và Lê Lợi.
Lê Lợi sinh vào giờ tý ngày 6 tháng 8 năm Ất Sửu, tức ngày 10 tháng 9 năm 1385 đời Trần.

 
 
Sau khi bức vua Trần dời đô từ Thăng Long vào Tây Đô (Thanh Hóa) và giết hàng loạt quần thần trung thành với nhà Trần, tháng 2 năm Canh Thìn 1400, Hồ Quý Ly truất ngôi của Trần Thiếu Đế, tự lên làm vua lấy quốc hiệu là Đại Ngu, lập nên nhà Hồ.
Triều đình nhà Minh (Trung Quốc), vốn rất muốn xâm lăng Đại Việt, đã nhân cơ hội Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần để đưa quân tràn vào đất Việt năm 1407. Hồ Quý Ly liên tục thất bại và đến tháng 6 năm 1407, thì bị bắt cùng các con trai là Hồ Nguyên TrừngHồ Hán Thương. Vương triều Đại Ngu sụp đổ.
Nhà Minh thực hiện chính sách xóa bỏ nền Văn minh sông Hồng bằng các cách như đốt, phá và chở về Yên Kinh tất cả các loại sách, văn bia có nói về dân Việt, của dân Việt tạo lập, thiến hoạn đàn ông người Việt, khiến cư dân Việt rất uất ức và căm giận. Hơn 1.000 năm, các triều đình Trung Quốc không đồng hóa được văn hóa Việt, nên việc làm của nhà Minh đã đem lại một kết cục xấu cho sự đô hộ của họ.

Khởi nghĩa Lam Sơn

 Khởi nghĩa
Mùa xuân năm Mậu Tuất 1418, Lê Lợi đã cùng những hào kiệt, đồng chí hướng như Nguyễn Trãi[3], Trần Nguyên Hãn, Lê Văn An, Lê Sát, Lưu Nhân Chú v.v. tất cả 50 tướng văn và tướng võ (trong đó có 19 người đã từng kết nghĩa anh em nguyện cùng chí hướng với nhau ở hội thề Lũng Nhai, năm 1416), chính thức phất cờ khởi nghĩa (khởi nghĩa Lam Sơn). Đồng thời ông tự xưng là Bình Định Vương và kêu gọi dân Việt đồng lòng đứng lên đánh quân xâm lược nhà Minh cứu nước.

 Gian nan ở vùng núi Thanh Hoá
Trong thời gian đầu, lực lượng của quân Lam Sơn chỉ có vài ngàn người, lương thực thiếu thốn, thường chỉ thắng được vài trận nhỏ và hay bị quân Minh đánh bại. Hoạt động trong thời này chủ yếu ở vùng núi Thanh Hoá.
Bị quân Minh vây đánh nhiều trận, quân Lam Sơn khốn đốn ba lần phải rút chạy lên núi Chí Linh những năm 1418, 1419, 1422 và một lần cố thủ ở Sách Khôi năm 1422. Một lần bị quân Minh vây gắt ở núi Chí Linh (có sách ghi năm 1418, có sách ghi năm 1419), quân sĩ hết lương, người em họ Lê Lai theo gương Kỷ Tín nhà Tây Hán phải đóng giả làm Lê Lợi, dẫn quân ra ngoài nhử quân Minh. Quân Minh tưởng là bắt được chúa Lam Sơn nên lơi lỏng phòng bị, Lê Lợi và các tướng lĩnh thừa cơ mở đường khác chạy thoát. Lê Lai bị địch giải về Đông Quan và bị giết.
Ngoài quân Minh, Lê Lợi và quân Lam Sơn còn phải đối phó với một bộ phận các tù trưởng miền núi tại địa phương theo nhà Minh và quân nước Ai Lao (Lào) bị xúi giục hùa theo. Dù gặp nhiều gian nan, quân Lam Sơn mấy lần đánh bại quân Ai Lao. Tuy nhiên do lực lượng chưa đủ mạnh nên Lê Lợi thường cùng quân Lam Sơn phải ẩn náu trong rừng núi, nhiều lần phải ăn rau củ và măng tre lâu ngày; có lần ông phải giết cả voi và ngựa chiến của mình để cho tướng sĩ ăn.
Trước tình thế hiểm nghèo, Lê Lợi phải xin giảng hòa với quân Minh năm 1422. Đến năm 1423, khi thực lực được củng cố, lại thấy quân Minh bắt giữ sứ giả, Lê Lợi liền tuyệt giao cắt đứt giảng hoà.

 Tiến vào nam
Theo kế của Nguyễn Chích, năm 1424 Lê Lợi quyết định đưa quân vào đồng bằng Nghệ An. Trên đường đi, quân Lam Sơn hạ thành Đa Căng, đánh lui quân cứu viện của viên tù trưởng địa phương theo quân Minh là Cầm Bành. Sau đó quân Lam Sơn đánh thành Trà Long. Tướng Minh là Trần Trí mang quân từ Nghệ An tới cứu Cầm Bành, bị quân Lam Sơn đánh lui. Lê Lợi vây Cầm Bành, Trí đóng ngoài xa không dám cứu. Bị vây ngặt lâu ngày, Bành phải đầu hàng.
Lê Lợi sai Đinh Liệt mang quân vào đánh Nghệ An, lại mang quân chủ lực cùng tiến vào, Trần Trí bị thua liền mấy trận phải rút vào thành cố thủ.
Lý An, Phương Chính từ Đông Quan vào cứu Trần Trí ở Nghệ An, Trí cũng mang quân ra ngoài đánh. Lê Lợi dùng kế nhử địch đến sông Độ Gia phá tan. Trần Trí chạy về Đông Quan, còn An và Chính lại chạy vào thành Nghệ An.
Tháng 5 năm 1425, Lê Lợi lại sai Đinh Lễ đem quân ra đánh Diễn Châu, quân Minh thua chạy về Tây Đô (Thanh Hoá). Sau đó ông lại điều Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lê Triện tiếp ứng cho Đinh Lễ đánh ra Tây Đô, quân Minh ra đánh lại bị thua phải rút vào cố thủ trong thành.
Lê Lợi một mặt siết vòng vây quanh thành Nghệ An và Tây Đô, mặt khác sai Trần Nguyên Hãn, Doãn Nỗ, Lê Đa Bồ đem quân vào nam đánh Tân Bình, Thuận Hoá. Tướng Minh là Nhậm Năng ra đánh bị phá tan. Sau Lê Lợi lai sai Lê Ngân, Lê Văn An mang thủy quân tiếp ứng cho Trần Nguyên Hãn chiếm đất Tân Bình, Thuận Hoá. Quân Minh phải rút vào cố thủ nốt.
Như vậy đến cuối năm 1425, Lê Lợi làm chủ toàn bộ đất đai từ Thanh Hóa trở vào, các thành địch đều bị bao vây.

 Chiến thắng Tốt Động, Chúc Động
Tháng 8 năm 1426, Lê Lợi chia quân cho các tướng làm 3 cánh bắc tiến. Phạm Văn Xảo, Đỗ Bí, Trịnh Khả, Lê Triện ra phía Tây bắc, Lưu Nhân Chú, Bùi Bị ra phía Đông bắc; Đinh Lễ, Nguyễn Xí ra đánh Đông Quan.
Lê Triện tiến đến gần Đông Quan gặp Trần Trí kéo ra, liền đánh bại Trí. Nghe tin viện binh nhà Minh ở Vân Nam sắp sang, Triện chia quân cho Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả ra chặn quân Vân Nam, còn Triện và Đỗ Bí hợp với quân Đinh Lễ, Nguyễn Xí đánh Đông Quan.
Phạm Văn Xảo phá tan viện binh Vân Nam. Quân Vân Nam chạy về cố thủ ở thành Xương Giang. Trần Trí thấy mất viện binh bèn cầu viện Lý An ở Nghệ An. Lý An và Phương Chính để Thái Phúc ở lại giữ thành Nghệ An, mang quân vượt biển ra cứu Đông Quan. Lê Lợi liền giao cho Lê Văn An, Lê Văn Linh vây thành, còn mình kéo đại quân ra bắc.
Vua Minh sai Vương Thông, Mã Anh mang quân sang tiếp viện. Thông hợp với quân ở Đông Quan được 10 vạn, chia cho Phương Chính, Mã Kỳ. Lê Triện, Đỗ Bí đánh bại Mã Kỳ ở Từ Liêm, lại đánh luôn cánh quân của Chính. Cả hai tướng thua chạy, về nhập với quân Vương Thông ở Cổ Sở. Lê Triện lại tiến đánh Vương Thông, nhưng Thông đã phòng bị, Triện bị thua phải rút về Cao Bộ, sai người cầu cứu Nguyễn Xí.
Đinh Lễ, Nguyễn Xí đem quân đến đặt phục binh ở Tốt Động, Chúc Động. Nhân biết Vương Thông định chia dường đánh úp Lê Triện, hai tướng bèn tương kế tựu kế dụ Thông vào ổ mai phục Tốt Động[4]. Quân Vương Thông thua to, Trần Hiệp, Lý Lượng và 5 vạn quân bị giết, 1 vạn quân bị bắt sống. Thông cùng các tướng chạy về cố thủ ở Đông Quan.
Sử chép ba đạo quân ra bắc của Lê Lợi chỉ có tổng số 9000 người. Các nhà nghiên cứu cho rằng con số đó chưa chính xác vì các trận đánh của ba đạo quân này đều có quy mô khá lớn và lực lượng quân Minh sang nhập vào khá đông, do đó để giành thắng lợi, 3 cánh quân (sau đó lại chia thành 4) chắc phải đông hơn. Với một vài ngàn người khó đương nổi lực lượng đông và mạnh của quân Minh như vậy. Căn cứ sách Đại Việt thông sử, khi quân Minh sắp rút về, Lê Lợi đã bàn với các tướng, đại ý rằng: quân Lam Sơn hiện có tổng số 25 vạn, ông dự định sẽ cho 15 vạn về làm ruộng và tuyển lấy 10 vạn làm quân thường trực của triều đình. Qua đó thì thấy những cánh quân ra bắc phải có một vài vạn mỗi cánh quân.
Lê Lợi được tin thắng trận liền sai Trần Nguyên Hãn, Bùi Bị chia hai đường thủy bộ tiến ra gần Đông Quan.

 Lập Trần Cảo
Vương Thông thua chạy không dám ra đánh, viện cớ tìm lại tờ chiếu của vua Minh năm 1407 khi đánh nhà Hồ, có nội dung muốn lập lại con cháu nhà Trần[5] ra điều kiện với Lê Lợi rằng Thông sẽ rút về nếu Lê Lợi lập con cháu nhà Trần làm vua.
Lê Lợi vì đại cuộc, muốn quân Minh nhanh chóng rút về nên đồng ý. Ông sai người tìm được Trần Cảo[6] bèn lập làm vua, còn ông tự xưng là Vệ quốc công.
Vương Thông ngoài mặt giảng hòa nhưng lại sai quân đào hào cắm chông phòng thủ và mật sai người về xin cứu viện. Lê Lợi biết chuyện liền cắt đứt giảng hòa.

 Vây thành Đông Quan
Sau khi cắt đứt giảng hoà, Lê Lợi sai các tướng đi đánh chiếm các thành ở Bắc bộ như Điêu Diêu (Thị Cầu, Bắc Ninh), Tam Giang (Tam Đái, Phú Thọ), Xương Giang (phủ Lạng Thương), Kỳ Ôn, không lâu sau đều hạ được.
Đầu năm 1427, ông chia quân tiến qua sông Nhị, đóng dinh ở Bồ Đề[7], sai các tướng đánh thành Đông Quan. Ông đặt kỷ luật quân đội rất nghiêm để yên lòng nhân dân. Do đó quân Lam Sơn đi đến các nơi rất được lòng dân.
Tướng Minh là Thái Phúc nộp thành Nghệ An xin hàng. Lê Lợi sai Thượng thư bộ Lại là Nguyễn Trãi viết thư dụ địch ở các thành khác ra hàng.
Nhân lúc quân Lam Sơn vây thành có vẻ lơi lỏng, quân Minh ở Đông Quan ra đánh úp. Lê Triện tử trận ở Từ Liêm, Đinh LễNguyễn Xí bị bắt ở Thanh Trì. Sau Đinh Lễ bị giết, Nguyễn Xí trốn thoát được.

 Chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang
Cuối năm 1427, vua Minh Tuyên Tông điều viện binh cứu Vương Thông, sai Liễu Thăng mang 10 vạn quân tiến sang từ Quảng Tây; Mộc Thạnh mang 5 vạn quân từ Vân Nam kéo sang. Đây là hai tướng đã từng sang đánh Việt Nam thời nhà Hồnhà Hậu Trần. Theo các nhà nghiên cứu, con số 15 vạn của cả hai đạo quân có thể là nói thăng lên, trên thực tế nếu cộng số các đạo quân điều động từ các nơi thì tổng số chỉ có khoảng gần 12 vạn quân và cánh quân chủ lực là của Liễu Thăng.
Nghe tin có viện binh, nhiều tướng muốn đánh để hạ gấp thành Đông Quan. Tuy nhiên, theo ý kiến của Nguyễn Trãi, Lê Lợi cho rằng đánh thành lạ hạ sách vì quân trong thành đông, chưa thể lấy ngay được, nếu bị viện binh đánh kẹp vào thì nguy; do đó ông quyết định điều quân lên chặn đánh viện binh trước để nản lòng địch ở Đông Quan.
Đầu tiên, ông ra lệnh dời người ở những vùng địch đi qua như Lạng Giang, Bắc Giang, Quy Hoá, Tuyên Quang, để đồng không để cô lập địch. Biết cánh Liễu Thăng là quân chủ lực, ông sai Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lê Văn Linh, Đinh Liệt mang quân phục ở Chi Lăng, lại sai Lê Văn An, Lê Lý mang quân tiếp ứng. Đối với cánh quân Mộc Thạnh, ông biết Thạnh là viên tướng lão luyện, sẽ ngồi chờ thắng bại của Liễu Thăng mới hành động nên hạ lệnh cho Phạm Văn XảoTrịnh Khả cố thủ không đánh.
Tướng trấn giữ biên giới là Trần Lựu liên tục giả cách thua chạy từ Ải Nam Quan về Ải Lưu rồi lại lui về Chi Lăng. Ngày 18 tháng 9 âm lịch, Thăng đuổi đến Chi Lăng. Trần Lựu lại thua, Thăng đắc thắng mang 100 quân kị đi trước. Ngày 20, Thăng bị phục binh của Lê Sát, Trần Lựu đổ ra chém chết.
Các tướng thừa dịp xông lên đánh địch, giết hơn 1 vạn quân, chém được Lương Minh, Lý Khánh tự vẫn. Tướng Minh còn lại Hoàng Phúc, Thôi Tụ cố kéo về thành Xương Giang thế thủ nhưng đến nơi mới biết thành đã bị quân Lam Sơn hạ, phải đóng quân ngoài đồng không. Lê Lợi sai Trần Nguyên Hãn chặn đường vận lương, sai Phạm Vấn, Nguyễn Xí tiếp ứng cho Lê Sát cùng sáp đánh, giết 5 vạn quân Minh ở Xương Giang. Hoàng Phúc và hơn 3 vạn quân bị bắt, Thôi Tụ không hàng bị giết.
Mộc Thạnh nghe tin Liễu Thăng thua bèn rút chạy. Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả đuổi theo chém hơn 1 vạn quân, bắt sống 1000 người ngựa.

 Bình Ngô đại cáo
Vương Thông nghe tin hai đạo viện binh bị đánh tan, sợ hãi xin giảng hòa để rút quân. Lê Lợi đồng ý cho giảng hòa để quân Minh rút về nước. Ông cùng Vương Thông tiến hành làm lễ thề trong thành Đông Quan[8], hẹn đến tháng chạp âm lịch năm Đinh Mùi (1427) rút quân về.
Lê Lợi đứng tên Trần Cảo là người đang làm vua trên danh nghĩa, sai sứ dâng biểu cho nhà Minh xin được phong. Vua Minh biết Lê Lợi không có ý tôn Cảo nhưng vì bị thua mãi nên đồng ý phong cho Trần Cảo làm An Nam quốc vương.
Tháng chạp, Vương Thông rút quân về nước. Các tướng muốn giết địch để trả thù tội ác khi cai trị Việt Nam, Lê Lợi không đồng tình vì muốn giữ hòa khí hai nước, cấp thuyền và ngựa cho quân Minh về.
Lê Lợi sai Nguyễn Trãi thảo bài Bình Ngô đại cáo để bá cáo cho thiên hạ biết về việc đánh giặc Minh[9]. Đây là áng văn chương nổi tiếng, rất có giá trị đời Lê, được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai sau bài thơ Nam quốc sơn hà.

Cai trị

 Lên ngôi
Sau khi quân Minh rút về, trên danh nghĩa Trần Cảo là vua Việt Nam. Theo sử sách, đầu năm 1428, Trần Cảo tự biết mình không có công, lòng người không theo nên bỏ trốn vào châu Ngọc Ma (vùng núi phía Tây), nhưng không thoát, bị bắt mang về và bị ép uống thuốc độc chết. Một số nhà nghiên cứu nghi ngờ việc Cảo phải tự bỏ trốn mà cho rằng các tướng của Lê Lợi được lệnh sát hại Cảo, hoặc Cảo bị đe doạ phải bỏ trốn. Tuy nhiên, suy cho cùng Trần Cảo cũng chỉ là con bài chính trị để Lê Lợi đối phó với nhà Minh trong một giai đoạn cần thiết. Ngay nhà Minh, khi xâm lược Việt Nam lấy lý do lập con cháu nhà Trần thực chất chỉ là cớ để đánh nhà Hồ và rõ ràng không thực bụng. Nhà Minh lấy cớ lập con cháu nhà Trần nhưng lại đàn áp nhà Hậu Trần. Việc đó đã bị Nguyễn Biểu, sứ giả của vua Hậu Trần Trùng Quang Đế bóc trần.
Lê Lợi lên ngôi hoàng đế năm 1428, tức là vua Lê Thái tổ, chính thức dựng lên vương triều Lê Trị vì
Thời kỳ dựng lại quốc gia Đại Việt của Lê Lợi thật khó khăn, do hậu quả tận diệt Văn hóa Việt của quân xâm lược trước đó. Các tài liệu, thư tịch, văn học, nghệ thuật bị tàn phá nặng nề; các học giả và người tài của Đại Việt bị bắt đem về Trung Quốc... Nhưng sức bật của một nền văn minh có gốc rễ sâu bền là đáng kinh ngạc.
Ngoài xây dựng kinh tế, nhà Lê còn phải đối phó với bạo loạn trong nước. Năm 1430, Lê Thái tổ sai thái tử Lê Tư Tề đi dẹp loạn tù trưởng Đèo Cát Hãn.
Khi lên ngôi, Lê Thái tổ đã chia nước ra làm bốn đạo, nay lại đặt thêm một đạo nữa gọi là Hải Tây đạo, gồm cả Thanh Hóa, Nghệ An, Tân Bình và Thuận Hóa. Trong các đạo, đạo nào cũng có quan Hành khiển để giữ sổ sách về việc quân-dân. Còn như các xã-thôn thì cứ xã nào có hơn 100 người trở lên, gọi là đại xã, đặt ba người xã quan; xã nào có 50 người trở lên, gọi là trung xã, đặt hai xã quan; xã nào có 10 người trở lên gọi là tiểu xã, đặt một người xã quan để coi việc trong xã.
Về việc học hành, trường Quốc Tử Giám ở đất kinh đô để cho con cháu các quan viên và những người thường dân có khả năng vào học tập; mở nhà học và đặt thầy dạy nho học ở các phủ và các lộ. Rồi lại bắt các quan văn vũ từ tứ phẩm trở xuống phải vào thi Minh kinh khoa, nghĩa là quan văn thì phải thi kinh sử, quan vũ thì phải thi vũ kinh. Ở các lộ cũng mở khoa thi Minh kinh để cho những người ẩn dật ra ứng thí mà chọn lấy nhân tài.
Về kinh tế, bấy giờ thường những người không công lao thì lắm ruộng nhiều nương, mà những kẻ phải đánh đông dẹp bắc, lúc về không có đất. Vì thế cho nên Lê Thái tổ định ra phép quân điền để lấy công điền, công thổ mà chia cho mọi người, từ quan đại thần cho đến những người già yếu cô quả, ai cũng có một phần ruộng, khiến cho sự giàu nghèo ở trong nước khỏi chênh lệch.

Thảm sát công thần, thay ngôi thái tử
Nhà Lê hình thành và lập tức việc tranh chấp quyền lực giữa các phe cánh bắt đầu nảy sinh, xuất phát từ nhiều lý do. Một lý do là sự mâu thuẫn giữa những người đồng hương hoặc ít nhiều có thân thích với vua và những người có gốc tích từ các vùng khác. Lý do thứ hai là mâu thuẫn giữa các công thần trong việc lập tranh ngôi thái tử giữa con trưởng Lê Tư Tề và con thứ Lê Nguyên Long.
Phe Lê Sát ủng hộ người con thứ Nguyên Long trong khi các tướng xuất thân từ kinh đô như Phạm Văn Xảo, Trần Nguyên Hãn ủng hộ Tư Tề. Năm 1429, Lê Thái tổ tin lời gièm pha nghi Phạm Văn Xảo làm phản nên bắt giết. Sau đó lại có người tố cáo Trần Nguyên Hãn tích trữ vũ khí làm phản. Lê Thái tổ sai người đi bắt. Thuyền đến giữa dòng, Trần Nguyên Hãn kêu vô tội và nhảy xuống sông tự vẫn. Nguyễn Trãi là người cùng họ với Nguyên Hãn[10] cũng bị bắt giam một thời gian, sau vì không có bằng chứng buộc tội nên được thả ra.
Người con cả Lê Tư Tề bị kết luận mắc chứng điên khùng nên bị phế truất. Con thứ Lê Nguyên Long được lập làm thái tử.
Các nhà nghiên cứu thống nhất rằng những sự kiện trên thực chất là kết quả của sự thắng thế của phe Lê Sát trong triều đình mà thôi. Hơn nữa, những hành động của vua Thái tổ để bảo vệ sự thống trị của nhà Lê cũng mang tính hệ thống. Đầu tiên là giết Trần Cảo. Sau đó giết Trần Nguyên Hãn là con cháu nhà Trần[11]. Cuối cùng là lấy lý do mẹ của thái tử Nguyên Long có tên là Phạm Thị Ngọc Trần (đã mất năm 1425) nên bắt những người họ Trần phải đổi sang họ Trình để kiêng huý. Tất cả những hành động đó đều nhằm khiến thiên hạ hết sự nhớ tiếc nhà Trần. Và Lê Tư Tề cũng là nạn nhân trong đó.
Lê Lợi ở ngôi được 5 năm thì mất vào ngày 22 tháng 8 nhuận âm lịch năm 1433, thọ 49 tuổi. Vì nhớ công Lê Lai chết thay cho mình ở núi Chí Linh trước kia, ông dặn lại đời sau phải giỗ Lê Lai trước khi giỗ ông một ngày. Bởi thế đời sau truyền lại câu: "Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi".
Vua Lê Thái tổ được an táng tại Vĩnh Lăng, Lam Sơn. Thái tử Lê Nguyên Long 11 tuổi lên nối ngôi, tức là vua Lê Thái Tông.

Nhận định

 Về công lao sự nghiệp
Lê Lợi là vua có công đánh đuổi quân Minh xâm lược, sáng lập nhà Hậu Lê, triều đại tồn tại lâu nhất trong lịch sử Việt Nam.
Sau thời kỳ độc lập hơn 400 năm kể từ thế kỷ 10, Đại Việt có nguy cơ trở lại thành quận huyện của Trung Hoa. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi đã chấm dứt 20 năm cai trị của nhà Minh tại Đại Việt và chấm dứt hẳn sự đô hộ của Trung Quốc thời phong kiến.
Bởi công lao đó của ông nên đời sau còn nhớ nhà Lê khi bị nhà Mạc thay ngôi và đó là một nguyên nhân khiến nhà Lê có thể trung hưng (1533). Thậm chí ngay cả khi con cháu nhà Lê không còn nắm được thực quyền thì trên danh nghĩa vẫn là người đứng đầu thiên hạ. Họ Trịnh làm phụ chính nhiều đời nhưng vẫn không dám cướp ngôi nhà Lê cũng bởi sợ dư luận còn nhớ công lao giành lại độc lập cho đất nước của nhà Lê.
Về cai trị, ông cũng là người thiết lập lại trật tự, quy củ của chế độ phong kiến các triều đại Lý, Trần trước đây mà các thế hệ vua sau tiếp tục củng cố, phát triển cao hơn nữa.

 So sánh với Hán Cao Tổ
So với Hán Cao Tổ Lưu Bang, cuộc đời sự nghiệp của Lê Thái Tổ có nhiều điểm trùng hợp nhau.
  • Cả hai vua đều là con thứ ba trong nhà. Trên Lưu Bang có Lưu Bá, Lưu Trọng. Trên Lê Lợi có Lê Học, Lê Trừ.
  • Cả vua Lê và vua Hán đều xuất thân từ người áo vải, khởi nghĩa gặp rất nhiều khó khăn nhiều năm đầu, về sau mới thuận lợi.
  • Khi gặp gian nguy, Lưu Bang phải nhờ Kỷ Tín ra hàng, lừa địch và chết thay, Lê Lợi cũng phải nhờ có Lê Lai theo gương Kỷ Tín để thoát nạn.
  • Sau khi lên ngôi, hai vua đều giết công thần khai quốc.
  • Về sau, cơ nghiệp của hai vua đều bị họ khác cướp ngôi con cháu, nhà Hán và nhà Lê đều bị gián đoạn một thời gian nhưng sau đó đều hồi phục lại được. Nhà Đông Hán kế tục nhà Tây Hán và nhà Lê được trung hưng.
  • Có lẽ do hành trạng giống nhau, khi mất cả hai vua đều được đặt chữ "Cao". Lưu Bang là Cao đế hay Cao tổ, Lê Lợi là (Thái tổ) Cao hoàng đế.


 Về truyền thuyết Gươm thần Thuận Thiên

Bài chính:Thuận Thiên
Sách Lam Sơn thực lục của Nguyễn Trãi chép:

Khi ấy Nhà-vua cùng người ở trại Mục-sơn là Lê Thận cùng làm bạn keo sơn. Thận thường làm nghề quăng chài. Ở xứ vực Ma-viện, đêm thấy đáy nước sáng như bó đuốc soi. Quăng chài suốt đêm, cá chẳng được gì cả. Chỉ được một mảnh sắt dài hơn một thước, đem về để vào chỗ tối. Một hôm Thận cúng giỗ (ngày chết của cha mẹ) nhà vua tới chơi nhà. Thấy chỗ tối có ánh sáng, nhận ra mảnh sắt, nhà vua bèn hỏi:

- Sắt nào đây?
Thận nói:

- Đêm trước quăng chài bắt được.
Nhà vua nhân xin lấy. Thận liền cho ngay. Nhà vua đem về đánh sạch rỉ, mài cho sáng, thấy nó có chữ "Thuận Thiên", cùng chữ "Lợi".
Lại một hôm, nhà vua ra ngoài cửa, thấy một cái chuôi gươm đã mài-dũa thành hình, nhà vua lạy trời khấn rằng:

- Nếu quả là gươm trời cho, thì xin chuôi và lưỡi liền nhau!
Bèn lấy mảnh sắt lắp vào trong chuôi, bèn thành ra chuôi gươm.
Tới hôm sau, lúc đêm, trời gió mưa, sớm ngày mai, hoàng hậu ra trông vười cải, bỗng thấy bốn vết chân của người lớn, rất rộng, rất to. Hoàng hậu cả kinh, vào gọi nhà vua ra vườn, được quả ấn báu, lại có chữ Thuận Thiên (sau lấy chữ này làm niên hiệu) cùng chữ Lợi. Nhà vua thầm biết ấy là của trời cho, lòng lấy làm mừng, giấu giếm không nói ra.
Truyền thuyết kể tiếp rằng, sau Lê Lợi dùng thanh gươm báu đó làm gươm chiến đấu, xông pha chém địch nhiều trận, cuối cùng đuổi được quân Minh làm vua
Đầu năm 1428, Lê Thái Tổ cùng quần thần bơi thuyền ra hồ Thủy Quân. Ra giữa hồ, có Rùa Vàng nổi lên mặt nước, chắn trước thuyền của vua gọi to:

- Hãy trả gươm thần cho ta!
Lê Thái Tổ rút gươm trả, rùa vàng ngậm lấy gươm lặn xuống nước đi mất. Từ đó hồ Thủy Quân được đặt tên là hồ Hoàn Kiếm.

Có thuyết khác nói khác về truyện trả gươm. Đại ý khi thuyền của vua ra giữa hồ thì rùa vàng chắn trước. Vua Lê rút gươm chỉ vào Rùa Vàng, Rùa Vàng liền đớp lấy gươm của vua mà bơi đi. Vua Lê sai tát cạn hồ Thủy Quân để tìm lại gươm báu nhưng không thấy rùa đâu
 
 
 
 
 
 
 
Đoàn Thị Điểm (sinh 1705 – mất 1748), hiệu Hồng Hà, biệt hiệu Ban Tang. Sinh tại làng Hiến Phạm, xã Giai Phạm, huyện Văn Giang, xứ Kinh Bắc (tỉnh Bắc Ninh). Do lấy chồng họ Nguyễn nên bà còn có tên là Nguyễn Thị Điểm.
Mẹ của bà là Võ thị, vợ kế ông hương cống Lê Doãn Nghi, tương truyền trong một giấc mơ ông Nghi thấy có người ban cho họ Đoàn liền lấy họ Đoàn. Ngoài ra bà còn có một anh ruột là ông giám sinh Đoàn Luân.
Đoàn Thị Điểm là người có tài trí và nhan sắc hơn người, nổi tiếng từ hồi trẻ. Năm 6 tuổi đã học rất giỏi. Năm 16 tuổi, có quan thượng thư Lê Anh Tuấn mến mộ muốn xin làm con nuôi, để tiến cử vào cung chúa Trịnh, nhưng bà nhất định từ chối. Về sau cha mất, gia đình phải chuyển về quê nhà, được ít lâu dời về làng Võ Ngai, tại đây Đoàn Thị Điểm cùng anh trai Đoàn Luân hành nghề dạy học.
Nhưng ông Luân mất sớm, bà Điểm lại đem gia đình lên Sài Trang, ở đây bà được vời dạy học cho một cung nữ. Thời gian này bà kiêm luôn nghề bốc thuốc, gần như một tay nuôi sống cả gia đình - gồm 2 cháu nhỏ, mẹ và bà chị dâu goá. Bởi tài năng và sắc đẹp cộng với tính hiếu thuận rất đáng quý, bấy giờ bà được nhiều người cầu hôn nhưng nghĩ đến gia đình đành chối từ tất cả.
Năm 1739 bà lại dẫn gia đình về xã Chương Dương dạy học.
Năm 1743, sau một lời cầu hôn bất ngờ và chân thành, bà nhận lời làm vợ lẽ của ông binh bộ tả thị lang Nguyễn Kiều, theo ông về kinh đô. Ông Nguyễn Kiều sinh năm 1695, đậu tiến sĩ năm 21 tuổi, nổi tiếng là người hay chữ. Sau đám cưới vài ngày, thì ông Kiều phải đi sứ sang Tàu. Thời gian này Đoàn Thị Điểm còn nghiên cứu thiên văn, bói toán và viết sách...
Năm 1746, ba năm chờ chồng dài đằng đẳng vừa kết thúc, bà lại phải khăn gói, từ biệt mẹ già cháu nhỏ để sang Nghệ An, nơi ông Kiều mới được triều đình bổ nhiệm. Sang Nghệ An buồn bã quá, một phần nhớ người thân lại thêm lạ nước lạ cái, bệnh hoạn xuất hiện rồi ngày càng phát, đến ngày 9 tháng 11 năm 1748 (âm lịch), Đoàn Thị Điểm qua đời, hưởng dương 44 tuổi.
Sự kính yêu của người đời sau với Đoàn Thị Điểm không chỉ vì tài thi văn điêu luyện, đặc sắc, còn vì bà có những phẩm chất cao quý, đức hạnh tốt đẹp xứng đáng là mẫu phụ nữ tiêu biểu của xã hội Việt Nam ở mọi thời đại.

 Sự nghiệp
Đoàn Thị Điểm được xem là đứng đầu trong số các nữ sĩ danh tiếng nhất Việt Nam (sau đó là Bà huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương, Sương Nguyệt Ánh).
Bà làm thơ rất hay, tiếng tăm đã nổi từ 15 tuổi, được những bậc hay chữ cùng thời như Ngô Thì Sĩ, Đặng Trần Côn tán thưởng.
Khi bà dạy học ở kinh thành và Chương Dương xã đều được rất đông học sinh tới học, trong đó có người sau này đỗ tiến sĩ là ông Đào Duy Ích.

Tác phẩm
Đoàn Thị Điểm viết sách nhiều nhưng thất lạc cũng nhiều, hậu thế chỉ còn biết đến một vài tác phẩm Hồng Hà nữ sĩ gồm:

 Tục truyền kỳ
Còn gọi là Truyền kỳ tân phả, sách viết bằng chữ nho. Trong có 7 truyện:

Hai truyện cuối trong danh sách trên đã bị thất lạc. Sách này là nối tiếp sách Truyền kỳ mạn lục của ông Nguyễn Dữ

 Chinh Phụ Ngâm
Là bản việt hoá của tác phẩm Chinh Phụ Ngâm bằng hán văn của ông Đặng Trần Côn sáng tác.
Bản dịch gồm 412 câu theo lối song thất lục bát, trong diễn tả nhiều tâm trạng: hy vọng, buồn bã, giận hờn tựu về một mối đó là nỗi nhớ nhung khắc khoải của một người chinh phụ (vợ có chồng đi lính) đang chờ chồng trở về sum họp.
Đây có lẽ cũng là tâm trạng của bà Điểm trong các năm 17431746 khi ông Nguyễn Kiểu đi sứ sang Trung Quốc.
Tuy là bản dịch, nhưng thậm chí còn được yêu thích hơn bản chính, nên đến nay được xem như là một sáng tác của bà Điểm.
Tác phẩm từng được dịch ra tiếng Pháp bởi những nhà văn trong nhóm Mercure de France, với tên Les Plaintes d’une Chinh phu (1939). Sau này giáo sư Takeuchi dịch ra tiếng Nhật, với tên Seifu Ginkyoku.
Cùng với Truyện Kiều của Nguyễn Du, Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, bản dịch Chinh Phụ Ngâm của Hồng Hà nữ sĩ được xem là tác phẩm ưu tú nhất của nền thi văn trung đại Việt Nam.

 Giai thoại về những câu đối
Đoàn Thị Điểm còn là một nữ sĩ nổi tiếng với nhiều giai thoại về khả năng đối đáp văn thơ.

 "Da trắng vỗ bì bạch"
Tương truyền một lần Đoàn Thị Điểm đang tắm còn Trạng Quỳnh đang đợi ngoài cửa và đứng ngoài đập cửa đòi vào. Đoàn Thị Điểm đã ra câu đối "da trắng vỗ bì bạch" và giao hẹn nếu đối được thì đồng ý. Nhưng với câu đối này, Trạng Quỳnh không thể đối lại được.
Có người cho rằng nhân vật nữ trong giai thoại trên có thể là Hồ Xuân Hương[cần dẫn chứng]. Cũng có giả thuyết nói Trạng Quỳnh chỉ là nhân vật hư cấu và các câu chuyện Trạng Quỳnh lấy lại từ điển tích Trung Quốc[cần dẫn chứng].
Ngày nay, có người đưa ra một số vế đối cho "da trắng vỗ bì bạch" không hoàn chỉnh về luật đối như Rừng sâu mưa lâm thâm, Trời xanh màu thiên thanh, Giấy đỏ viết chỉ chu. Quyển Thế Giới Mới đăng câu Tay tơ sờ tí ti, với giải thích như sau : "Tí" nghĩa chữ Hán là "tay", còn "ti" nghĩa là "sợi tơ". "Tay tơ" là tay người trai trẻ. "Tí ti" còn có nghĩa là chút ít, và còn để chỉ nhũ hoa của người phụ nữ.

 Đối đáp với Trạng Nguyễn
Đoàn Thị Điểm có lần gặp Trạng Nguyễn và hai người cùng đi tìm đường đến phố Mía (phố chuyên kéo mía làm mật, đường). Trên đường đi, bà đã phải hỏi đường một cô hàng mật. Gần đến nơi, bà ra vế đối:



Lên phố Mía, gặp cô hàng mật. Cầm tay kẹo lại, hỏi thăm đường.
Trạng Nguyễn không đối lại được đành cúi đầu bái biệt.
 
 
 

Đăng nhập để trả lời
0
Sau đây là một số danhnhân văn hoácủa nước ngoài
 
 
 
Những bài cùng tác giả
Sự trùng hợp số mệnh của Abraham Lincoln và JF Kennedy




Ông Abraham Lincoln luôn luôn đặt tin tưởng vào nền Dân Chủ và đã chứng tỏ rằng chế độ Dân Chủ là một hình thức chính quyền tốt đẹp và tồn tại rất lâu dài, bởi vì chế độ Dân Chủ đã cung cấp cho mọi người dân cuộc sống đầy đủ Tự Do và nhiều hy vọng phát triển. Các niềm tin và mục đích của ông đã được ông xác nhận trong bài Diễn Văn Gettysburg, trong bài diễn văn nhậm chức Tổng Thống lần thứ hai, trong các buổi nói chuyện và các bài viết khác nhau.

Ông Abraham Lincoln là đảng viên Cộng Hòa đầu tiên đắc cử chức vụ Tổng Thống nhưng lại xuất thân từ một nguồn gốc tầm thường để đạt tới chức vụ cao cấp nhất của quốc gia Hoa Kỳ. Ông đã chứng tỏ một bản tính cao thượng, khiến cho mọi người trên Thế Giới phải kính trọng.

Ông Abraham Lincoln đã giúp công rất nhiều vào việc chấm dứt chế độ nô lệ. Ông là kiến trúc sư chính của cuộc chiến thắng vẻ vang khi xẩy ra cuộc Nội Chiến Nam-Bắc Mỹ (1861-65). Đây là cuộc khủng hoảng chính trị và quân sự lớn lao nhất trong lịch sử của nước Hoa Ky, thời đó còn đang cần được củng cố và ổn định. Ông Lincoln là một vị lãnh tụ chiến tranh sáng suốt, đã ra lệnh cho các đạo quân Bắc Mỹ tiến đánh mọi mặt trận vào cùng một thời gian để tiêu diệt các đạo quân Miền Nam đối nghịch mà không cần chiếm giữ đất đai. Trong nhiều lần, ông đã thay đổi các tướng lãnh chỉ huy vì các vị này đã không theo đúng đường hướng chiến lược do ông đặt ra, cho tới khi ông gặp Tướng Ulysses S. Grant, một vị tướng mà ông Lincoln yểm trợ hết lòng.

Trong cuộc chiến tranh Nam-Bắc Mỹ, nhiều gia đình người Mỹ đã gặp cảnh anh em chém giết lẫn nhau. Ông Abraham Lincoln đã thúc đẩy tinh thần chiến đấu của người dân vì lý tưởng Tự Do, vì nền Dân Chủ, vì chủ trương giải phóng nô lệ. Cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ này là trận chiến đẫm máu nhất. Chỉ riêng trong trận Gettysburg, số tổn hại lên tới trên 45,000 người, gồm những người bị giết, bị thương, bị bắt và mất tích. Nếu phe Miền Bắc do Tổng Thống Abraham Lincoln điều hành bị thất trận trong cuộc Nội Chiến này, thì ngày nay Hoa Kỳ không còn là một quốc gia cường thịnh và quan trọng bậc nhất trên Thế Giới, mà đã bị phân chia thành 2 nước, hay có thể thành nhiều nước nhỏ, như vậy ông Abraham Lincoln đã gây ảnh hưởng mạnh mẽ tới chiều hướng của Lịch Sử Thế Giới.

Đời sống của người dân Hoa Kỳ dưới thời của Tổng Thống Abraham Lincoln đã bị quay vòng theo chiến cuộc nhưng chính trong các năm chinh chiến này, việc phát triển kinh tế đã đóng một vai trò quan trọng. Ngân Hàng Quốc Gia đã cung cấp các loại tiền giấy và việc kiểm soát tài chính liên bang đã bảo đảm dịch vụ ngân hàng và tín dụng. Chính quyền Liên Bang thời đó đã đánh thuế lên các hàng hóa nhập cảng từ châu Âu để giới hạn sự cạnh tranh từ bên ngoài và khuyến khích việc phát triển kỹ nghệ trong nước. Chính quyền Hoa Kỳ cũng nâng đỡ việc thành lập liên đoàn công nhân (labor unions), cung cấp đất đai canh tác miễn phí cho các người định cư và trợ giúp di dân. Đất công cũng được phân chia cho các Đại Học nhờ đó các Đại Học lớn của tiểu bang được thành lập. Cũng vào thời gian này, đường xe lửa xuyên liên bang được xây dựng và thuế lợi tức được áp dụng để có ngân khoản dùng cho chiến tranh.

Dưới thời Nội Chiến của Tổng Thống Abraham Lincoln, văn hóa vẫn phát triển với các tác phẩm tiêu biểu như bài thơ “Barbara Frietchie” của nhà thơ John Greenleaf Whittier, cuốn truyện “Một người không quê hương” (the Man Without a Country) của Edward Everett Hale, tác phẩm hội họa “Các tù binh từ chiến tuyến” (Prisoners from the Front) của Winslow Homer và cũng vào thời kỳ khủng hoảng này, nhiếp ảnh gia Mathew Brady cùng với các phụ tá, đã chụp hơn 3,500 tấm ảnh mô tả đầy đủ về con người, cảnh vật, trại quân, bãi chiến trường . . . cùng các biến cố lịch sử khác.

Trước khi được bầu vào chức vụ Tổng Thống Hoa Kỳ, rất ít người dân Mỹ biết tới tên tuổi của ông Lincoln. Ông Abraham Lincoln đã nhận được dưới 40 phần trăm phiếu bầu phổ thông (popular vote) trong cuộc tranh cử năm 1860 nhưng tới năm 1865, hình ảnh của ông Abraham Lincoln đã ở tầm vóc quan trọng ngang bằng với ông George Washington.


1- Thuở thiếu thời.


Abraham Lincoln chào đời ngày 12-2-1809 tại Hardin, ngày nay thuộc hạt Larue trong tiểu bang Kentucky. Ông nội và cha của Abraham tên là Thomas, đã sinh ra tại hạt Rockingham, Va., còn ông tổ tên là Samuel Lincoln làm nghề dệt vải, đã từ miền Hingham nước Anh tới Hingham, Massachusetts, năm 1637 và lập nên dòng họ Lincoln tại nơi này. Người con của ông cụ Samuel tên là Mordecai, đã di chuyển xuống New Jersey, Pennsylvania, rồi xuống Virginia và vì vậy, ông nội của Abraham Lincoln cũng tên là Abraham, đã có một nông trại tại thung lũng Shenandoah, Va.

Năm 1782, ông cụ Abraham cùng vợ và 5 người con nhỏ di chuyển tới miền hoang vu thuộc Kentucky rồi tại nơi này, ông cụ Abraham bị người da đỏ giết chết vào năm 1786. Một trong các người con của ông cụ này tên là Thomas, là cha đẻ của vị Tổng Thống tương lai, sinh năm 1778 và đã sống thời niên thiếu không học vấn và hành nghề thợ mộc. Năm 1806 vào tuổi 28, ông Thomas Lincoln đã kết hôn với bà Nancy Hanks có nguồn gốc bình dân. Cặp vợ chồng này sinh sống trong 18 tháng đầu tại Elizabethtown, thuộc hạt Hardin, Ky., và tại nơi đây đã ra đời người con gái đầu tiên tên là Sarah. Năm sau, ông Thomas Lincoln đã mua một nông trại tại South Fork, gần dòng sông Nolin, cách Elizabethtown 8 cây số về phía nam. Chính tại nông trại nhỏ này, Abraham Lincoln đã ra chào đời.

Khi Abraham được 2 tuổi, gia đình Lincoln lại dọn tới Knob Creek, xa hơn 16 cây số và tại nơi này, 2 chị em Sarah và Abraham đã học tập đọc, tập viết và tập làm toán trong một căn nhà gỗ dùng làm lớp học. Cũng tại nơi định cư mới này, một người con thứ ba tên là Thomas đã chào đời nhưng chẳng may chết sớm.

Năm 1816, ông Thomas Lincoln lại quyết định di chuyển sang Indiana là nơi nông dân có thể mua đất đai trực tiếp từ chính phủ. Gia đình Lincoln đã chất đồ đạc lên một toa xe, di chuyển lên mạn bắc, vượt qua dòng sông Ohio để tới hạt Spencer ở phía tây nam của miền Indiana. Tại nơi này, ông Thomas đã khai phá 65 mẫu rừng thành nông trại. Mùa đông tới làm cho gia đình Lincoln thêm cơ cực. Ông Thomas và cậu con trai Abraham đã chặt cây rừng, dựng nên một căn nhà gỗ để gia đình dọn vô cư ngụ vào tháng 2 năm 1817. Đây là một miền hoang dã, gấu, chó sói và các loài dã thú






Cây white snakeroot gây bệnh milky
khác thường lai vãng quanh vùng. Chính trong khung cảnh sơn lâm này, Abraham Lincoln dù mới 8 tuổi, đã giúp đỡ cha trong việc chặt cây, bửa củi. Cuộc sống đơn sơ nơi núi rừng này càng trở nên dễ chịu thì bất ngờ, bà Nancy Lincoln bị “bệnh sữa” (milk sickness) và qua đời vào tháng 10-1818. Bệnh này có lẽ gây ra do chất độc trong sữa bò khi con bò sữa ăn phải loại lá cây nguy hiểm. Ông Thomas đã chôn vợ bên sườn đồi, gần căn nhà gỗ.
Từ khi bà Nancy chết đi, gia đình Lincoln không còn hạnh phúc như trước nữa. Chị gái Sarah với tuổi 12, đã phải đảm đương việc bếp núc trong hơn một năm cho tới khi ông Thomas quay trở về Kentucky. Trong chuyến viếng thăm này, ông Thomas đã cưới bà góa phụ Sarah Bush Johnston, một người quen cũ. Bà Johnston đã mang 3 người con riêng 12, 8 và 5 tuổi về sống chung với gia đình Lincoln và làm cho cuộc sống của tất cả trở nên đầm ấm, hạnh phúc.

 
2- Thời thanh niên của Abraham Lincoln.

Từ 7 tới 21 tuổi, Abraham Lincoln lớn lên tại miền biên giới hoang vu, một nơi không được phát triển về giáo dục. Sách và giấy rất khan hiếm. Nền học vấn chính thức của Abraham vì thế chỉ kéo dài được một năm. Ngoài các hiểu biết căn bản về tập viết và làm toán, Abraham chỉ có vài cuốn sách để tập đọc như các truyện Robinson Crusoe, truyện ngụ ngôn Aesop. Abraham vì muốn đọc sách nên thường phải đi bộ vài cây số mới mượn được các cuốn truyện.

Năm 1823 khi Abraham lên 14 tuổi, ông bà Thomas đã tham gia vào nhà thờ Pegeon Creek Baptist. Vào thời gian này, đã có sự cạnh tranh giữa nhiều hệ phái như Baptist, Methodist, Presbyterian. Trước các ảnh hưởng tôn giáo, Abraham Lincoln đã không theo một nhà thờ nào và cũng không đi lễ nhà thờ một cách đều đặn mặc dù có niềm tin tôn giáo.

Khi chưa đủ 20 tuổi, Abraham Lincoln đã là một thanh niên cao 6 feet 4 inches (193 cm) với thân hình gầy gò nhưng rất mạnh mẽ, nhất là về 2 cánh tay. Cậu Abraham có khuôn mặt xấu trai, nước da đậm, tóc đen và thô nhưng lại có một biệt tài, đó là khả năng nói năng, thuyết phục. Nhiều người trong vùng đã từng được nghe cậu Abraham kể chuyện rất hấp dẫn.

Với vóc người cao lớn, khỏe mạnh lại siêng năng, cậu Abraham rất dễ kiếm được việc làm gần nhà : cậu rất giỏi về bửa củi, chặt cây làm hàng rào, cày ruộng, đập lúa. Dòng sông Ohio cách nhà 24 cây số là nơi hấp dẫn trí tìm hiểu của cậu. Abraham thường chở đò cho khách tới con tầu thủy bỏ neo giữa dòng sông. Năm 1828, Abraham cùng với bạn chở nông phẩm trên một cái bè, xuôi dòng sông tới tận New Orleans. Lần viễn du này đã khiến cho Abraham Lincoln ra khỏi được nơi làng mạc nhỏ bé, nhìn thấy thế giới bên ngoài. Cũng tại New Orleans, Abraham Lincoln được chứng kiến cảnh chợ mua bán người nô lệ. Vào thời kỳ đó, chế độ nô lệ được coi là hợp pháp tại các miền đất phía nam của dòng sông Ohio. Abraham đã thấy từng đoàn người da đen bị xiềng xích và dẫn tới các đồn điền.

Năm 1830, ông Thomas Lincoln lại quyết định di chuyển vì công việc khẩn hoang tại Indiana không khả quan, ngoài ra “bệnh sữa” đã làm cho một số dân định cư sợ hãi. Các người bà con tại Illinois đã rủ gia đình Lincoln về miền đồng cỏ phía tây vì thế ông Lincoln cùng với một vài gia đình khác đã dọn nhà và định cư tại 16 cây số phía tây của Decatur, trên bờ phía bắc của dòng sông Sangamon. Vào thời gian này, Abraham Lincoln đã 21 tuổi, cậu giúp cha làm nhà, dựng hàng rào, trồng vụ hoa màu đầu tiên. Cậu cũng làm công cho các người định cư khác trong vùng.

Mùa xuân năm 1831, một người lái buôn tên là Denton Offutt đã mướn Abraham Lincoln cùng 2 thanh niên trẻ tuổi khác chèo một cái bè chở hàng xuống New Orleans. Sau đó nhờ tin cẩn, ông Offutt đã mướn Abraham làm thư ký riêng trông coi cửa hàng mới tại New Salem, thuộc Illinois, cách Springfield 32 cây số về phía tây bắc. Cũng vào thời gian này, ông bà Thomas Lincoln đã dọn nhà qua hạt Coles.

New Salem là một ngôi làng nhỏ gồm nhiều căn nhà gỗ xây dựng chung quanh một nhà máy xay lúa. Trong làng có vài cửa hàng, một tiệm làm thùng gỗ, một tiệm chải và dệt len . . . Chính tại nơi này Abraham Lincoln đã sống trong 6 năm, từ tháng 7-1831 tới mùa xuân năm 1837 và đã học hỏi được nhiều hiểu biết nhờ ông Jack Kelso đã dạy cho Abraham về các tác phẩm của đại kịch gia William Shakespeare và về thơ phú của Robert Burns, một thi sĩ Tô Cách Lan. Abraham Lincoln cũng tìm học về Thánh Kinh nhờ vậy, sau này khi đã trở thành Tổng Thống, ông Lincoln đã dẫn chứng các câu Thánh Thư trong các bài diễn văn và bài viết khác nhau.

Năm 1831, chính quyền Liên Bang đã ra lệnh dời các nhóm dân da đỏ Sauk và Fox từ Illinois sang Iowa. Mùa xuân năm 1832, tù trưởng da đỏ Black Hawk đã dẫn hàng trăm quân da đỏ, vượt sông Mississippi, cố chiếm miền đất gần Rock Island. Trước tình trạng khẩn trương này, chính phủ Hoa Kỳ phải tuyển mộ dân quân và Abraham Lincoln đã tình nguyện nhập ngũ. Đại đội của Abraham gồm các thanh niên từ vùng New Salem. Họ đồng thanh bầu Abraham làm cấp chỉ huy vì các đức tính thật thà, thân mật và tài kể chuyện. Họ cũng kính phục trước sức mạnh của Abraham trong các cuộc đấu vật và đọ sức khác. Đây là cơ hội chứng tỏ Abraham Lincoln có tài về chỉ huy và dẫn đạo.

Sau thời gian đầu quân 30 ngày chấm dứt, Abraham Lincoln phục vụ quân đội trong 90 ngày nữa với cấp bậc binh nhì và dù không tham gia trận chiến nào nhưng Abraham đã nhìn thấy các tử thi của dân chúng bị bọn da đỏ giết chết. Chính nhờ thời gian này mà Abraham Lincoln hiểu rõ các cực khổ của người lính trên chiến trường để về sau, khi đã trở thành vị Tổng Tư Lệnh Quân Đội, ông Lincoln đã đối xử với tất cả binh sĩ bằng tấm lòng thông cảm.


3- Tham gia ngành Lập Pháp và nghề Luật Sư.

Abraham là con người ham học hỏi và thích tự học. Ông rất quan tâm đến ngành luật pháp và thường mượn các sách Luật của miền Indiana để đọc trong nhiều đêm trường. Ông cũng đã đi bộ nhiều dậm đường, tới các tòa án địa phương để nghe các luật sư biện hộ trong các vụ tranh tụng. Những kinh nghiệm này đã dạy cho Abraham Lincoln biết các phương thức làm việc của luật sư, hiểu rõ nhiều câu chuyện tranh tụng và cách giải quyết các vấn đề pháp lý.

Trước thời kỳ quân dịch, nhiều người đã khuyên Abraham nên ra tranh cử trong ngành lập pháp địa phương vì thế ông đã ghi danh vào tháng 3-1832 nhưng cuộc chiến tranh Black Hawk đã khiến ông vắng nhà. Lúc trở về vào tháng 7 năm đó, Abraham Lincoln bị thất cử dù rằng người dân quanh vùng đã dồn cho ông 277 phiếu trong tổng số 300 phiếu.

Lúc bấy giờ, một người bạn tên là William F. Berry rủ Abraham Lincoln mua chung bằng tín khoản một cửa tiệm tại New Salem. Việc kinh doanh thất bại sau vài tháng khiến cho cả hai người mắc nợ.

Tháng 5-1833, Abraham Lincoln được đề cử làm trạm trưởng bưu điện tại New Salem rồi viên trưởng ngành đo đạc địa phương lại đề nghị Lincoln làm phó ban. Abraham đã cố gắng học hỏi môn học mới và nhờ 2 công việc, ông đã kiếm đủ sống. Năm 1835, người bạn Berry qua đời, dồn tất cả các món nợ chung vào khoảng 1,100 mỹ kim cho Abraham lãnh. Trong nhiều năm, ông Lincoln đã cố gắng thanh toán dần các nợ cũ và nhờ thế, mọi người đã gọi ông là “Abe lương thiện” (Honest Abe). Cũng tại New Salem, Abraham đã làm quen được với cô Anne Rutledge nhưng cô Anne này chẳng may qua đời vào mùa hè năm 1834, để lại nỗi buồn sâu đậm cho Abraham Lincoln. 18 tháng sau, Abraham lại quen với cô Mary Owens, người miền Kentucky và đã đề nghị hôn nhân nhưng đã bị cô này cự tuyệt.

Vào năm 1834, Abraham Lincoln lại ra tranh cử ngành lập pháp, lần này ông được nhiều người biết tiếng nên đã thắng cử. Ông đã phục vụ 4 nhiệm kỳ 2 năm liên tiếp tại Hạ Viện Illinois (the Illinois General Assembly). Trong nhiệm kỳ đầu tiên, ông Lincoln đã gặp một nhà lập pháp trẻ tuổi thuộc đảng Dân Chủ tên là Stephen A. Douglas. Ông Lincoln đã sớm trở nên người lãnh đạo nhóm Whig. Ông cũng đứng đầu các công trình thiết lập ngân hàng Illinois, chương trình xây dựng các đường xe lửa, các sông đào và các công cuộc vận động dời thủ phủ của tiểu bang từ Vandalia tới Springfield.

Cũng vào năm 1834, khi ông Lincoln vận động tranh cử chức vụ lập pháp lần thứ hai, ông John T. Stuart đã đốc thúc ông Lincoln theo học Luật Khoa. Ông Stuart là một luật sư tại Springfield và là nhân vật dẫn đầu về lập pháp. Vào thời kỳ đó, chỉ có vài trường Luật trên toàn Bắc Mỹ. Các sinh viên luật chỉ "đọc Luật" tại văn phòng một luật sư và được một luật sư thực thụ dạy bảo bằng các lời khuyên, các chỉ dẫn cần thiết. Để vượt qua sự yếu kém về giáo dục, ông Abraham Lincoln đã mượn các sách Luật để tự học. Đối với phương pháp học hành, ông Lincoln đã nói rằng :”ta nên luôn luôn nhớ trong đầu óc rằng quyết định thành công của chính mình thì quan trọng hơn tất cả các yếu tố khác”. Vì thế, nhiều khi ông Lincoln đã phải đi bộ 32 cây số từ New Salem tới Springfield để mượn sách về học. Một luật sư cộng tác với ông Stuart là ông Henry E. Dummer đã nhớ lại như sau :”Đôi khi ông ta đi bộ, nhưng thường thì cưỡi ngựa. Ông Lincoln là một thanh niên trông quê mùa nhất mà tôi đã từng gặp. Ông ta có vẻ ít nói, e thẹn, với vẻ hơi buồn rầu nhưng khi ông ta nói năng thì tất cả những điều kể trên đã tan biến đi và ông Lincoln đã chứng tỏ cả về sức mạnh lẫn sự chính xác. Ông Lincoln làm chúng tôi ngạc nhiên thêm sau mỗi lần thăm viếng”.

Ngày 9-9-1836, ông Abraham Lincoln nhận được giấy phép hành nghề luật sư nhưng tới ngày 1-3-1837, tên của ông mới xuất hiện trên danh sách luật sư đoàn. Do dân số của thị trấn New Salem giảm bớt, ông Lincoln đã dọn văn phòng tới Springfield vào ngày 15-4-1837 và tham gia vào Văn Phòng Luật Sư Stuart & Lincoln. Cuộc hợp tác này kéo dài tới mùa Xuân năm 1841. Sau đó, ông Lincoln lại cộng tác với luật sư Stephen T. Logan, là một trong các luật sư tài giỏi nhất đã từng làm việc tại Illinois. Công việc mở văn phòng chung thứ hai này chấm dứt vào mùa thu năm 1844. Sau đó, ông Abraham Lincoln đã mời ông William H. Herndon, một luật sư trẻ hơn 9 tuổi, cộng tác tại một văn phòng do ông Lincoln đứng đầu. Hai nhân vật này đã không giải tán văn phòng ngay cả 16 năm sau khi ông Lincoln rời Springfield để tới Washington D.C. nhậm chức vụ Tổng Thống. Vào thời kỳ của ông Lincoln, các luật sư chưa được phân chia thành các ngành chuyên môn nên ông Lincoln đã cãi tại các tòa án địa phương của hạt Sangamon, tại Tòa Liên Bang của Illinois và Tòa Tối Cao của tiểu bang. Ông cũng biện hộ cho các thân chủ tại các tòa án hòa giải và chỉ tính lệ phí nhẹ.

Năm 1837, các ông Abraham Lincoln và Dan Stone, một nhà lập pháp khác, đã vận động và phản đối chế độ nô lệ. Cả hai ông đã tuyên bố rằng “căn bản của chế độ nô lệ được đặt trên sự bất công và chính sách xấu xa” (the institution of slavery is founded on both injustice and bad policy). Vấn đề nô lệ này 23 năm về sau đã trở thành một đề tài gây sóng gió khi ông Abraham Lincoln đắc cử chức vụ Tổng Thống.

Một thời gian ngắn sau khi dọn tới Springfield, ông Abraham Lincoln đã gặp cô Mary Todd (1818-82), một cô gái Kentucky sống với người chị đã có gia đình. Hai người quen nhau và đã có lần hủy bỏ ước hẹn hôn nhân nhưng cuối cùng, họ đã làm đám cưới vào ngày 4-11-1842, khi đó ông Lincoln 32 tuổi còn cô Todd 23.

Bà Mary Todd Lincoln là một người tính khí bất thường lại nhiều tham vọng. Bản tính tương khắc của 2 vợ chồng này đã gây nên nhiều vụ va chạm. 18 tháng sau ngày cưới, ông Lincoln đã mua một căn nhà gỗ và dọn gia đình tới đây cho tới khi trở nên Tổng Thống. Họ đã có 4 người con : Robert Todd, Edward Baker sinh năm 1846 nhưng đã chết 4 năm sau, William Wallace sinh năm 1850 nhưng rồi qua đời tại Tòa Bạch Cung năm 11 tuổi và Thomas, thường được gọi là Tad, chết năm 1871 ở tuổi 18 vì bị bệnh.


4- Chính khách quốc gia.

Sau 4 nhiệm kỳ lập pháp tại miền Illinois, ông Abraham Lincoln ước muốn được bầu vào Quốc Hội. Năm 1840, ông Lincoln đi tới nhiều tiểu bang để vận động tranh cử Tổng Thống cho ông William Henry Harrison. Ông đã dùng đề tài “Hệ Thống Ngân Hàng” và ủng hộ giải pháp Ngân Hàng Hoa Kỳ (the Bank of the U.S.). Các vận động tranh cử của ông vào Hạ Viện vào các năm 1843 và 1844 đã không giúp ông thành công.

Năm 1844, ông Abraham Lincoln lại ủng hộ ông Henry Clay, một ứng viên Tổng Thống thuộc đảng Wig. Trong kỳ vận động này, ông Lincoln đã chọn đề tài thuế vụ (tariff) theo đó một loại thuế cần được áp đặt vào các hàng hóa nhập cảng để giúp đỡ kỹ nghệ Hoa Kỳ phát triển. Hai năm sau, ông Lincoln đã thắng cử vào Viện Dân Biểu. Đối thủ của ông là ông Peter Cartwright, một nhân vật Methodist rất danh tiếng.

Ông Abraham Lincoln vào ngồi trong Quốc Hội từ ngày 6-12-1847, lúc mà Hoa Kỳ đã thắng cuộc chiến tranh Mễ Tây Cơ nhưng hiệp ước hòa bình giữa Hoa Kỳ và Mễ Tây Cơ chưa được ký kết. Vào thời gian này, ông Lincoln đã cùng các bạn Whig đồng viện trách cứ Tổng Thống James K. Polk về chiến tranh và ông đã bỏ phiếu cần phải cung cấp cho quân đội Hoa Kỳ đầy đủ phương tiện. Ông Lincoln cũng ủng hộ chương trình Wilmot Proviso theo đó chế độ nô lệ phải bị tiêu hủy tại các miền đất mà Hoa Kỳ chiếm được của Mễ Tây Cơ. Ông cũng vận động tranh cử chức vụ Tổng Thống năm 1848 cho ông Zachary Taylor.

Tới ngày 4-3-1849, nhiệm kỳ dân biểu của ông Lincoln chấm dứt. Ong Lincoln đã không thành công trong việc vận động để đạt chức vụ Bộ Trưởng Đất Dai (Commissioner of the General Land Office) trong khi lại từ chối chức vụ Thống Đốc tiểu bang Oregon. Ông Abraham Lincoln trở về Springfield, Illinois, với nghề luật sư. Vào thời kỳ này, các công ty lớn đang phát triển tại miền Illinois và các tiểu bang lân cận. Ông Lincoln đã tranh cãi trong nhiều vụ kiện nhờ đó lợi tức của ông rất khả quan. Thù lao cao nhất của ông là 5,000 mỹ kim khi ông biện hộ cho Công Ty Đường Sắt Trung Ương Illinois (the Illinois Central Railroad) trong một vụ kiện liên quan tới thuế vụ. Sau vụ này, nhờ danh tiếng vang lừng, ông Abraham Lincoln trở nên một trong các luật sư hàng đầu của miền Illinois.

Vào năm 1820 về trước, đạo luật hòa giải Missouri (the Missouri Compromise) đã cấm chỉ chế độ nô lệ tại các miền đất mới phía bắc của con đường đông tây, là đường kéo dài của biên giới phía nam của tiểu bang Missouri. Nhưng rồi tới đầu năm 1854, Thượng Nghị Sĩ Stephen A. Douglas của tiểu bang Illinois lại đề ra một đạo luật tổ chức các miền đất Kansas và Nebraska. Đạo luật Kansas-Nebraska này đã xét lại đạo luật hòa giải Missouri và cho phép các người định cư tại các tiểu bang mới được quyền quyết định duy trì hay không duy trì chế độ nô lệ. Ông Abraham Lincoln và một số người khác đã tin tưởng rằng chế độ nô lệ đã bị giới hạn để rồi suy tàn trong tương lai. Chính sách mới kể trên như thế có thể làm sống lại chế độ tàn nhẫn đó và điều này đã khiến ông Abraham Lincoln bất bình.

Ông Abraham Lincoln đã tin tưởng vào các vị lập quốc khi viết ra “Bản Tuyên Ngôn Độc Lập” theo đó Tự Do và Bình Đẳng đã được hứa hẹn. Có lần ông Lincoln đã nói :”Tôi không có một tư tưởng chính trị nào không bắt nguồn từ Bản Tuyên Ngôn Độc Lập” và ông hướng về ông Thomas Jefferson vì các nguyên tắc chính trị dân chủ và về ông Alexander Hamilton do các nguyên tắc kinh tế. Ông Lincoln cũng tin rằng Hiến Pháp Hoa Kỳ đã bảo vệ việc chống lại chế độ nô lệ vì chế độ này là điều xấu xa, đang dần dần bị hủy diệt. Cũng vì thế, ông Lincoln đã quyết định vận động triệt tiêu Đạo Luật Kansas-Nebraska.

Từ năm 1854, ông Abraham Lincoln đã diễn thuyết hùng hồn tại Springfield, Peoria và Chicago, và là nhà lãnh đạo phong trào chống đối đạo luật kể trên. Ông được bầu vào Viện Lập Pháp Illinois nhưng sau đó từ chức để tranh cử chức vụ Thượng Nghị Sĩ. Trong cuộc bầu cử lần đầu, ông Lincoln bị thiếu 5 phiếu và để không cho ông Douglas đắc cử, ông đã quay sang ủng hộ ông Lyman Trumbull và ông Trumbull này đã thắng lợi.

Trong thập niên 1850, đảng Whig bị phân hóa vì các đảng viên tại các miền đất khác nhau đã bất đồng ý kiến về chế độ nô lệ. Năm 1856, ông Lincoln tham gia đảng Cộng Hòa chủ trương chống nô lệ, lúc đó đảng này mới được 2 tuổi. Ông Lincoln đã vận động giúp ông John C. Fremont, một đảng viên Cộng Hòa, bằng hơn một trăm bài diễn thuyết giá trị nhưng rồi ông này đã bị thua trước ông James Buchanan, thuộc đảng Dân Chủ.

Năm 1858, ông Lincoln được đề cử ra tranh chức Thượng Nghị Sĩ với ứng viên Douglas. Trong bài diễn văn nhận lãnh trách nhiệm, ông Lincoln đã nói “một căn nhà bị chia rẽ không thể đứng vững được. Tôi tin rằng chính phủ này không thể tồn tại mãi với một nửa nô lệ, một nửa tự do. Tôi không mong đợi Liên Bang bị giải thể. Tôi không mong đợi căn nhà sụp đổ, tôi chỉ mong đợi không còn bị chia rẽ nữa". Cũng nhân dịp này, ông Lincoln đã thách đố ông Douglas tranh luận và ông Douglas đã nhận lời, nêu ra 7 nơi tụ họp. Nơi đầu tiên vào ngày 21-8-1858 tại Ottawa, Illinois, và nơi sau cùng tại Alton, Illinois, vào ngày 25-10. Mỗi ứng viên nói trong một giờ rưỡi. Thính giả rất đông. Các tranh luận tập trung vào việc nới rộng chế độ nô lệ tại các tiểu bang mới. Ông Douglas đã bênh vực đạo luật Kansas-Nebraska và cho rằng người dân của bất cứ miền đất nào có thể chối bỏ chế độ nô lệ bằng cách không chấp nhận các đạo luật địa phương bênh vực chế độ đó. Luận điệu này được gọi là Chủ Thuyết Freeport (the Freeport Doctrine). Trong khi đó, ông Abraham Lincoln lại nhấn mạnh rằng chế độ nô lệ là một điều xấu xa về luân lý, xã hội và chính trị (a moral, social and political evil).

Trong các cuộc tranh luận, ông Lincoln đã vượt trội hơn ông Douglas nhưng vì tiểu bang được chia thành các khu vực nên các đại biểu của ông Stephen Douglas đã đoạt được đa số phiếu và ông Douglas đã thắng cử. Dù sao, cuộc tranh luận đã khiến cho ông Lincoln trở nên một nhân vật có danh tiếng, thuộc tầm vóc quốc gia.

Vào ngày 16-5-1860 đã diễn ra Đại Hội Toàn Quốc Đảng Cộng Hòa họp tại Chicago. Các nhân vật ứng cử gồm Thượng Nghị Sĩ William H. Seward của thành phố New York, ông này được sự ủng hộ mạnh nhất nhưng cũng có nhiều kẻ thù, Thượng Nghị Sĩ Salmon P. Chase thuộc tiểu bang Ohio, nhân vật chưa từng giữ một chức vụ quốc gia cao cấp nào. Quá trình bình dân của ông Lincoln đã được dùng để vận động các cử tri. Sau 3 lần bỏ phiếu, ông Abraham Lincoln đã thắng và được đề cử làm ứng viên Tổng Thống. Ứng viên Phó Tổng Thống là Thượng Nghị Sĩ Hannibal Hamlin, thuộc tiểu bang Maine.

Về phía đảng Dân Chủ, đã có sự chia rẽ. Các đảng viên miền Bắc đề cử Thượng Nghị Sĩ Stephen Douglas làm ứng viên Tổng Thống còn miền Nam chọn lựa ông John C. Breckinridge. Ngoài ra còn có một đảng thứ tư gọi là Đảng Hiến Pháp Liên Bang (the Constitutional Union Party), họ đã đề cử cựu Thượng Nghị Sĩ John Bell của tiểu bang Tennessee. Sau khi kiểm phiếu, ông Lincoln được 1,865,593 phiếu; ông Douglas được 1,382,713 phiếu còn ông Breckinridge được 848,356 phiếu. Như vậy ông Abraham Lincoln là đảng viên Cộng Hòa đầu tiên đắc cử chức vụ Tổng Thống Hoa Kỳ và là vị Tổng Thống thứ 16.


5- Vị Tổng Thống kiên nhẫn và cương quyết.

Khi nghe tin ông Abraham Lincoln thắng cử chức vụ Tổng Thống, các tiểu bang Miền Nam của Hoa Kỳ đã báo động. Họ nghĩ rằng một Tổng Thống Cộng Hòa sẽ không tôn trọng các tài sản và quyền lợi của họ, như vậy đối với họ, chỉ còn một cách cứu vãn là ly khai khỏi Liên Bang Hoa Kỳ.

Ngày 20 tháng 12 năm 1860, tiểu bang South Carolina thông qua đạo luật ly khai (an Ordinance of Secession) và vào lúc ông Abraham Lincoln tuyên thệ nhậm chức, 6 tiểu bang Miền Nam tuyên bố ly khai khỏi Liên Bang Thống Nhất (the Union) rồi sau đó còn có 4 tiểu bang nữa tham gia. Các tiểu bang ly khai đã tạo nên các Tiểu Bang Liên Minh Hoa Kỳ (the Confederate States of America).

Ngày 11-2-1861, khi từ biệt các người quen biết tại Springfield, Illinois, để lên đường đi nhậm chức, ông Abraham Lincoln đã nói “Tôi đã sống ở đây một phần tư thế kỷ và đã trải qua thời kỳ từ trẻ tới già. Các con của tôi đã sinh ra tại nơi này và có đứa đã chôn tại nơi này. Bây giờ tôi phải ra đi, không biết bao giờ mới có thể trở lại, ra đi với một nhiệm vụ trước mặt còn lớn lao hơn thứ của ông Washington”. Rồi hành trình của chuyến xe lửa chở ông Lincoln tới Washington D.C. đã được trù liệu cẩn thận để ngừng lại tại các thành phố lớn miền Đông, làm sao cho hàng ngàn dân chúng có cơ hội nhìn thấy mặt vị Tổng Thống tương lai của họ. Tại thành phố Philadelphia, ông Lincoln nghe tin có một âm mưu ám sát, vì vậy chuyến đi đã được thay đổi tại Harrisburg, Pa., và ông Abraham Lincoln đã tới Thủ Đô vào sáng sớm ngày 23-2.

Ngày 4-3-1861, ông Abraham Lincoln đã tuyên thệ nhậm chức Tổng Thống Hoa Kỳ thứ 16. Trong bài diễn văn khai mạc, ông Lincoln đã nói : “Tôi không có chủ đích nào can thiệp vào bản chất của vấn đề nô lệ của các tiểu bang mà thứ đó đang tồn tại. Hỡi các đồng bào bất mãn của tôi, trong tay các bạn và không phải là trong tay tôi, là vấn đề trầm trọng vì nội chiến. Chúng ta không phải là kẻ thù.”. Ông Abraham Lincoln đã xác định không có ý muốn can thiệp vào các tiểu bang khác, bởi vì vấn đề “nô lệ” hay “tự do” đã được Hiến Pháp quy định và bảo vệ. Ông chỉ muốn sự thống nhất Liên Bang.

Non 6 tuần lễ sau ngày nhậm chức hay vào ngày 12-4-1861, khi mà cuộc nội chiến đã bắt đầu và khi ông phải đảm nhiệm trọng trách đưa các tiểu bang ly khai trở về với đại gia đình quốc gia và duy trì sự thống nhất, ông Abraham Lincoln đã viết : “Mục tiêu chính của tôi trong cuộc tranh đấu này là duy trì Liên Bang, không phải là duy trì hay tiêu hủy chế độ nô lệ. Nếu tôi có thể duy trì Liên Bang mà không giải phóng một người nô lệ nào, tôi sẽ làm điều đó, và nếu tôi có thể duy trì Liên Bang mà lại giải phóng tất cả các nô lệ, tôi cũng sẽ làm điều đó”, và ông Lincoln đã xác nhận điều ước muốn của ông là “mọi người ở mọi nơi phải được Tự Do”. Ông Lincoln đã cảnh cáo rằng ông sẽ dùng tất cả sức mạnh của quốc gia để chiếm giữ các “tài sản và địa điểm” thuộc về chính quyền Liên Bang. Danh từ này ám chỉ các pháo đài, công xưởng, tòa nhà quan thuế.

Một ngày sau lễ tuyên thệ nhậm chức, Tổng Thống Abraham Lincoln đã công bố danh sách các nhân vật nội các, gồm cả hai đối thủ chính trị của ông trong cuộc tranh cử Tổng Thống là ông William H. Seward, Bộ Trưởng Ngoại Giao và ông Salmon P. Chase, Bộ Trưởng Ngân Khố. Như vậy Nội Các của đảng Cộng Hòa đã gồm nhiều sắc thái chính trị khác nhau, đây là một nhóm nhân vật có các khả năng đặc biệt để phục vụ quốc gia và ông Lincoln đã khéo léo duy trì Nội Các một cách lịch duyệt. Ông cần tới sự giúp đỡ của họ, không phải các lời khen ngợi của họ.

Nhờ các kinh nghiệm của một luật sư, Tổng Thống Lincoln đã cứu xét mọi vấn đề theo mọi khía cạnh trước khi đi tới một quyết định. Ông đã nói với một người bạn : "đầu óc tôi làm việc chậm chạp nhưng khi nó đã tiến hành, nó đi về phía trước", và khi ông đã quyết định xong một điều quan trọng nào, không ai có thể khiến ông đổi ý.

Ngay khi các tiểu bang Miền Nam ly khai, họ đã chiếm giữ các đồn lũy nằm trong biên giới của họ khiến cho ông Lincoln phải quyết định hoặc là củng cố các đồn lũy còn lại hay giành chiếm các địa điểm đã lọt vào vòng kiểm soát của phe Miền Nam. Tại hải cảng Charleston, đồn Sumter (Fort Sumter) là một biểu tượng của Liên Bang Thống Nhất (the Union). Người chỉ huy đồn này là thiếu tá Robert Anderson. Nếu Tổng Thống Abraham Lincoln ra lệnh rút quân đội ra khỏi đồn này, sẽ có một làn sóng phản đối tại Miền Bắc, còn nếu ông tăng cường đồn lũy đó, phe Miền Nam sẽ coi đây là một hành động chiến tranh. Để dung hòa cả hai, ông Lincoln đã quyết định chỉ gửi lương thực tới đồn Sumter là thứ mà nơi đây đang cần. Tổng Thống Lincoln đã thông báo việc làm này cho tiểu bang South Carolina biết, nhưng phe Miền Nam vẫn coi đó là một hành động thù nghịch và ra lệnh cho thiếu tá Anderson phải đầu hàng. Viên thiếu tá này từ chối nên vào ngày 12-4, Tướng Pierre G.T. Beauregard đã ra lệnh cho pháo binh Liên Minh oanh tạc đồn Sumter. Ngày hôm sau, Anderson phải quy hàng và từ nay bắt đầu cuộc Nội Chiến Nam Bắc Mỹ.

Trước cuộc khủng hoảng này, Tổng Thống Abraham Lincoln đã hành động một cách cương quyết. Ông tuyên bố sẽ phong tỏa các hải cảng miền Nam, bành trướng quân đội ra khỏi giới hạn quy định bởi Luật Pháp, dùng các ngân khoản của Liên Bang mà không chờ đợi sự chấp thuận của Quốc Hội, và các người miền Bắc nhưng có cảm tình với phe Miền Nam bị tước đi “quyền bảo thân” (habeas corpus). Ông Lincoln tin tưởng rằng các hành động này nằm trong quyền hạn mà Hiến Pháp đã dành cho Tổng Thống lúc chiến tranh, và ông đã chứng tỏ các hành động đó là đúng khi Quốc Hội họp lần đầu tiên vào tháng 7 năm 1861. Bản văn gửi Quốc Hội của ông Lincoln được coi là một trong các văn thư quan trọng nhất. Khi vị Chánh Án Tòa Tối Cao Roger B. Taney phản đối ông Lincoln về vấn đề tước đoạt “quyền bảo thân”, Tổng Thống Lincoln đã đặt câu hỏi mà cho tới ngày nay, việc trả lời hợp lý vẫn còn là một vấn đề khó khăn : “Nếu chỉ có một luật lệ trong tất cả các luật lệ khác không được thi hành và chính quyền bị phân hóa ra từng mảnh, thì có nên tránh vi phạm luật lệ đó không ?”.

Tổng Thống Abraham Lincoln cho rằng sẽ là một thảm cảnh nếu quốc gia Hoa Kỳ bị tan vỡ, khi đó không phải chỉ có người Mỹ là bị tổn hại mà về sau này, mọi người đều bị thiệt thòi bởi vì đối với ông Lincoln, Hoa Kỳ tượng trưng cho một kinh nghiệm theo đó người dân có thể quản trị lấy chính mình. Nếu loại chính quyền này thất bại thì các vua chúa, các kẻ độc tài và những người ủng hộ họ sẽ nói rằng người dân không thể tự quản trị được và cần phải có một loại người nào đó đứng ra điều khiển dân chúng. Và ông Abraham Lincoln đã coi trung tâm của vấn đề Nội Chiến là Số Phận của nền Dân Chủ trên Thế Giới.
 
6- Điều hành chiến tranh.

Hai ngày sau khi đồn Sumter thất thủ, Tổng Thống Lincoln đã gọi nhập ngũ 75,000 người. Các người tình nguyện vào Quân Đội đã đông hơn số quân sĩ mà chính quyền có thể trang bị. Tháng 7-1861, một đạo quân được tập họp quanh thủ đô Washington. Một lực lượng quân sự tương đương của phe Miền Nam cũng được huy động tại phía bên kia dòng sông Potomac, thuộc tiểu bang Virginia.

Vào thời kỳ đó, nhiều người Miền Bắc tin rằng các lực lượng quân sự của họ có thể đánh bại phe Miền Nam trong một trận chiến. Các báo chí hô hào “tiến tới Richmond”. Tổng Thống Lincoln bèn ra lệnh xung trận. Đạo quân Miền Bắc ở dưới quyền Tướng Irvin McDowel. Trận đánh Bull Run đầu tiên diễn ra vào ngày 21-7 với phe Miền Bắc bị thất bại. Tới lúc này các người Miền Bắc mới nhận thức được rằng đây là một cuộc chiến lâu dài.

Vì là vị Tổng Tư Lệnh Quân Đội, Tổng Thống Lincoln phải chọn lựa vị tướng lãnh nào có khả năng tổ chức các người tình nguyện thành những đạo quân mang về chiến thắng. Tướng George B. McClellan là một nhà tổ chức quân đội tài giỏi nhưng chiến dịch Peninsular năm 1862 của ông đã gặp thất bại. Đây là kế hoạch đánh chiếm Richmond, Va., thủ đô của phe Miền Nam. Tống Thống Lincoln sau đó đã chỉ định Tướng John Pope làm chỉ huy trưởng các đạo quân nhưng Tướng Pope cũng bị thua trong trận đánh Bull Run thứ hai, diễn ra vào ngày 29 tới 30 tháng 8 năm 1862, khiến cho Tổng Thống Lincoln phải gọi tới Tướng McClellan bảo vệ thủ đô Washington. Khi Tướng McClellan không chịu tiến quân vào đầu tháng 11, Tổng Thống Lincoln đành phải cất chức Tướng McClellan và đặt Tướng Ambrose E. Burnside vào chức vụ chỉ huy. Nhưng vào ngày 13-12, Tướng Burnside cũng thua trận Fredericksburg và người kế tiếp là Tướng Joseph Hooker cũng thất bại vào ngày 1 tới ngày 4 tháng 5 năm 1863 trong trận đánh Chancellorsville.

Trong phần lớn thời kỳ Nội Chiến này, các báo chí và dân chúng đã chỉ trích các chính sách của Tổng Thống Lincoln một cách cay đắng, nhưng ông Lincoln đã không biện hộ vì tin rằng ông đang thi hành các công việc có lợi cho Liên Bang. Tại Tòa Bạch Cung, mỗi ngày các thư ký mang tới Tổng Thống Lincoln các bản tin chiến trường, và một cách cô đơn, Tổng Thống phải nghĩ ra các giải pháp. Ông Lincoln đã ngồi vào bàn giấy trước 7 giờ mỗi sáng, cố gắng tìm cách chiến thắng và duy trì sự thống nhất Liên Bang. Các giấy tờ tràn ngập văn phòng của ông. Nỗi khổ tâm nhất của ông Lincoln là phải đọc hay nghe các đơn xin ân xá của các binh lính bị kết tội “tử hình” vì đào ngũ hay vì không làm tròn nhiệm vụ, và mỗi khi tìm ra được một lý lẽ nào, ông Lincoln đều tha tội cho các người lính. Có một lần, ông Abraham Lincoln đã nói một cách buồn rầu : “Trong 4 năm, tôi gặp nhiều vụ phải giải quyết liên quan tới sống và chết hơn tổng số các vụ mà các vị khác ngồi vào chiếc ghế này gặp phải. Không ai hiểu nổi nỗi phiền muộn của tâm hồn tôi". Quả vậy, không ai cảm thấy được thảm cảnh của chiến tranh hơn ông Abraham Lincoln. Đã có lần ông nói với nhà văn Harriet Beecher Stowe một cách mệt mỏi rằng “không rõ cuộc xung đột này sẽ chấm dứt theo cách nào, nhưng tôi có cảm tưởng rằng tôi sẽ không tồn tại được lâu sau cuộc kết thúc”.

Trong hoàn cảnh mệt nhọc vì suy tính của ông Lincoln, cậu Tad đã luôn luôn ở gần bên cha và là niềm vui cho ông. Cậu trai nhỏ nhất này thường xuyên thức khuya trong văn phòng làm việc của cha cho tới khi ngủ gục. Ông bà Lincoln lúc này có 3 con trai là William Wallace hay “Willie”, Thomas hay “Tad” nhưng Willie đã chết vào ngày 20-2-1862 khiến cho ông bà Lincoln buồn rầu vô hạn, còn cậu con trai lớn Robert Lincoln là một sinh viên Đại Học Harvard, sau đó phục vụ trong ban tham mưu của Tướng Grant với cấp bậc đại úy.

Sống tại Tòa Bạch Cung, bà Mary Todd Lincoln cũng gặp nhiều bất mãn. Bản tính của bà hay ghen tị và nóng nẩy khiến cho bà Mary mất đi các bạn thân. Người em trai trẻ nhất của bà, 2 người anh em khác dòng và chồng của các em gái khác cha/mẹ đều phục vụ trong quân đội của phe Miền Nam, vì vậy bà Mary Lincoln thường bị nghi ngờ về lòng trung thành. Còn đối với ông Abraham Lincoln, chức vụ Tổng Thống là tham vọng cao nhất của mọi công dân Mỹ nhưng cuộc Nội Chiến đã làm cho đời sống trong Tòa Bạch Cung của ông thiếu hạnh phúc. Ông thường xuyên viếng thăm các bệnh viện quân đội và điều này đã khiến ông rất đau lòng.

Ngoài nhiệm vụ điều hành Nội Các, điều khiển Lục Quân, Hải Quân và quản trị đất nước, Tổng Thống Abraham Lincoln còn phải lo việc bổ nhiệm hàng ngàn chức vụ chính trị và quân sự, chuẩn bị các bài diễn văn, tự viết các bức thư, tìm đọc các sách báo về khoa học quân sự và tìm kiếm các vị tướng lãnh có tài, có thể mang lại chiến thắng.

Sau một thời gian dài thất bại, lực lượng quân sự Miền Bắc mới đạt được một số chiến thắng nhỏ tại thung lũng dòng sông Mississippi. Ngày 6-2-1862, Tướng Ulysse S. Grant chiếm được đồn Henry rồi đồn Donelson vào ngày 16-2. Tới tháng 4, đội quân Miền Nam đã phải rút lui sau trận Shiloh nhưng quân Miền Bắc cũng bị thiệt hại nặng nề.

Tổng Thống Lincoln còn phải lo mặt đối ngoại. Từ năm 1861, Bộ Trưởng Ngoại Giao William Seward đã đề nghị gây chiến với vài quốc gia của châu Âu để đoàn kết trong nước nhưng Tổng Thống Lincoln đã làm ngơ trước ý kiến này. Tới tháng 11-1861, Đại Tá Charles Wilkes của Hải Quân Miền Bắc đã ngăn chặn chiếc tầu chiến Trent của nước Anh và bắt 2 vị bộ trưởng Miền Nam là James M. Mason và John Slidell. Nước Anh đã phản đối dữ dội sự việc này và muốn gây chiến. Để tránh chiến tranh tai hại, Tổng Thống Lincoln đã ra lệnh thả 2 ông Mason và Slidell.

Vào thời kỳ đầu của cuộc Nội Chiến, đã có một số người cực đoan tại Miền Bắc chống đối chế độ nô lệ. Nếu những người này thắng thế thì Miền Bắc sẽ mất đi sức ủng hộ của các tiểu bang biên giới như Kentucky, Missouri, Delaware và Maryland, và việc đánh bại phe Miền Nam không thể nào thực hiện được nếu không có sự yểm trợ của các tiểu bang này. Vì thế Tổng Thống Lincoln phải duy trì sự ôn hòa, cố gắng làm sao có được sự ủng hộ của đa số dân chúng, bảo vệ sự thống nhất của Liên Bang hơn là sớm giải phóng nô lệ. Tổng Thống Lincoln đã tuyên bố : “Mục tiêu chính của tôi là duy trì Liên Bang và không phải duy trì hay hủy bỏ chế độ nô lệ”. Nhưng tới cuối mùa hè năm 1862, Tổng Thống Lincoln nhận thấy đã tới thời cơ phải thay đổi chiến lược. Nhiều quốc gia bên ngoài có cảm tình với phe Miền Nam nhưng lại lên án chế độ nô lệ là xấu xa và như vậy, họ không thể ủng hộ phe ly khai trong khi đó nhiều người Miền Bắc trước kia dửng dưng với chế độ nô lệ thì nay lại tin rằng cần phải chấm dứt sự bất công đó. Ngoài ra, các người nô lệ được giải phóng có thể tham gia vào quân đội Miền Bắc. Tổng Thống Lincoln đã bàn ý kiến này với vài nhân vật nội các và theo lời khuyên của ông Seward, ông chưa công bố Bản Tuyên Bố Giải Phóng Nô Lệ cho tới khi quân đội Miền Bắc tạo được chiến thắng thích hợp.

Ngày 17-9-1862 diễn ra trận đánh Antietam. Đây là chiến thắng đầu tiên của phe Miền Bắc. Ngày 22-9, Tổng Thống Lincoln ban ra một bản tuyên bố mà ông gọi là “hành động chính của chính quyền của tôi và cũng là biến cố lớn nhất trong thế kỷ 19”. Bản Tuyên Bố Giải Phóng sơ khởi hứa hẹn Tự Do dành cho các nô lệ bị giữ trong các tiểu bang Miền Nam nào không trở về với Liên Bang vào cuối năm đó. Bản Tuyên Bố này đã ảnh hưởng tới 3 triệu người nô lệ. Các tiểu bang Miền Nam và các chủ nhân sở hữu nô lệ đã không quan tâm tới Bản Tuyên Bố sơ khởi nên vào ngày 01-01-1863, Tổng Thống Lincoln lại công bố Bản Tuyên Bố Giải Phóng cuối cùng. Văn bản này không ảnh hưởng tới các tiểu bang biên giới là các nơi không nổi loạn chống Liên Bang. Từ khi đó, mỗi khi quân đội Miền Bắc chiếm được một miền đất nào, các nô lệ tại miền đất mới đó được giải thoát ngay và nhiều người trong bọn họ đã gia nhập vào quân đội Liên Bang.

Bản Tuyên Bố Giải Phóng (the Emancipation Proclamation) của ông Abraham Lincoln đã tạo nên một ảnh hưởng dài hạn. Đối với các quốc gia bên ngoài, bản văn này đã cung cấp cho cuộc chiến tranh một lý tưởng mới và đã giúp công vào tinh thần chiến đấu của phe Miền Bắc. Bản Tuyên Bố cũng tạo nên một hướng đi cho Tu Chính Án thứ 13 của Hiến Pháp, được phê chuẩn vào ngày 18-12-1865 theo đó chế độ nô lệ bị chấm dứt theo Luật Pháp trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ.


7- Chiến thắng và thắng cử lần thứ hai.

Sau thắng lợi tại Chancellorsville vào tháng 5 năm 1863, Tướng Robert E. Lee nhận thấy phe Miền Bắc dần dần có lợi thế hơn nên ông đã quyết định đưa quân đánh sang tiểu bang Pennsylvania, gây ảnh hưởng tâm lý tới nhân dân Miền Bắc. Ngày 01-7-1863, đạo quân của tướng Lee đụng trận với quân đội Miền Bắc dưới quyền Tướng George G. Meade gần một thị trấn nhỏ tên là Gettysburg. Trong 3 ngày, trận tuyến giằng co tại các dải đất hẹp thuộc miền nam Pennsylvania rồi cao điểm giao tranh xẩy ra vào ngày mồng 3 khi 15,000 quân Miền Nam do Tướng George Pickett tấn công dữ dội vào các vị trí của quân đội Miền Bắc nhưng đã gặp thất bại. Sáng sớm ngày 5-7, Tướng Lee đành phải ra lệnh rút lui, không còn hy vọng đánh Miền Bắc nữa. Đạo quân của Tướng Lee tại phía bắc Virginia khi đó lên tới 75,000 người, gồm cả sĩ quan và binh lính trong khi Tướng Meade có 88,000 quân thuộc đạo quân Potomac. Phe Miền Nam thiệt hại tại Gettysburg vào khoảng 28,000 người trong khi tổn thất của phe Miền Bắc là 23,000, gồm cả các người chết, bị thương và mất tích.

Ngày 19-11-1863 tại nghĩa trang Gettysburg trên ngọn đồi Cemetery thuộc tiểu bang Pennsylvania, đã diễn ra lễ truy điệu các tử sĩ. Diễn giả chính của buổi lễ là ông Edward Everett, một trong các nhà hùng biện danh tiếng nhất thời đó. Ông Everett đã nói liền trong 2 giờ, sau đó Tổng Thống Lincoln được mời nói vài lời. Ông Abraham Lincoln đứng lên, từ từ rút cặp kính ra và một mẫu giấy nhỏ rồi nói bằng một giọng rõ ràng. Trong 3 phút ngắn ngủi, Tổng Thống Lincoln đã hoàn tất Bài Diễn Văn Gettysburg **  lừng danh với câu mở đầu : “Cách đây 87 năm, ông cha của chúng ta đã thành lập trên lục địa này một quốc gia mới, thành hình trong Tự Do và với chủ đích rằng mọi người được sinh ra bình đẳng”. Và lời kết luận của Tổng Thống Abraham Lincoln đã trở thành một câu danh ngôn quen thuộc với tất cả mọi người: Chính quyền của Dân, do Dân, vì Dân sẽ không bao giờ suy tàn trên mặt đất”.

Nhiều nhà khảo cứu nói rằng Tổng Thống Lincoln đã phác thảo bài diễn văn bất hủ kể trên, trên chuyến xe lửa đi tới Gettysburg. Thực ra ông Lincoln đã suy nghĩ rất nhiều về buổi lễ, rồi do chuẩn bị cẩn thận, lại đúc kết trong một khung cảnh bi thương, Bài Diễn Văn Gettysburg đã trở nên một văn bản lừng danh của Lịch Sử và Văn Chương Hoa Kỳ.

Trong khi Tướng Lee thua trận tại phía bắc thì tại phía tây vào ngày 4-7-1863, đạo quân của Tướng Grant đã chiếm được địa điểm Vicksburg khiến cho toàn thể khu vực dòng sông Mississippi, các tiểu bang Arkansas, Texas và Louisiana bị cắt ra khỏi quyền kiểm soát của phe Miền Nam. Hai chiến thắng Gettysburg và Vicksburg đã hứa hẹn việc kết thúc chiến tranh.

Vào năm 1864, các đảng viên Cộng Hòa và đảng viên Dân Chủ ủng hộ chính sách quân sự của Tổng Thống Lincoln (War Democrats) đã lập ra đảng Thống Nhất Quốc Gia (the National Union Party). Tháng 6 năm đó, đảng này đề cử ông Abraham Lincoln ra tranh chức vụ Tổng Thống với ứng viên Phó Tổng Thống là Thượng Nghị Sĩ Andrew Johnson của tiểu bang Tennessee. Các đảng viên Dân Chủ chọn Tướng George B. McClellan làm ứng viên Tổng Thống và Dân Biểu Geoge H. Pendleton của tiểu bang Ohio làm ứng viên Phó Tổng Thống. Ngoài ra còn có một nhóm thứ ba tự gọi là các đảng viên Cộng Hòa Cấp Tiến (Radical Republicans), họ đề nghị Tướng John C. Fremont, nhưng ông này đã rút lui một tháng trước cuộc bầu cử.

Mùa hè năm đó, Tổng Thống Lincoln không đạt được nhiều ủng hộ. Ông Lincoln đã phải thú nhận nơi riêng tư vào tháng 8 rằng chính quyền của ông sẽ không được bầu lại. Nhưng các thắng lợi quân sự đã làm thay đổi niềm tin của dân chúng Hoa Kỳ thời bấy giờ. Ngày 5 tháng 8, Phó Đề Đốc David G. Farragut đã chiến thắng tại Vịnh Mobile trong khi tại phía nam, Tướng William T. Sherman đã chiếm được Chattanooga rồi tới ngày 2-9-1864, kéo quân tới Atlanta, Ga., và sau đó, băng qua tiểu bang Georgia, tới tận bờ biển là thành phố Savannah. Trên đường tiến quân, đạo quân Miền Bắc này đã đốt sạch các nhà máy, kho hàng, đã tàn phá các đường xe lửa và cầu cống. Sau khi tới được Savannah, đạo quân của Tướng Sherman lại quay lên mạn bắc, vượt qua các tiểu bang South Carolina và North Carolina, chủ đích phối hợp với đạo quân của Tướng Grant để đánh tới Richmond, Virginia.

Khi cuộc bầu cử Tổng Thống diễn ra, ông Lincoln đã đánh bại ông McClellan bằng 212/21 phiếu cử tri đoàn (electoral vote) và thắng hơn 400,000 phiếu bầu phổ thông (popular votes). Ngày 4 tháng 3 năm 1865, ông Abraham Lincoln ở tuổi 56, đã tuyên thệ nhậm chức Tổng Thống nhiệm kỳ 2 và nhiệm vụ của ông là đoàn kết lại quốc gia. Trong bài diễn văn kỳ này, Tổng Thống Lincoln đã trình bày rằng nhờ cuộc Nội Chiến, chế độ nô lệ mới được hủy bỏ và cả miền Bắc và miền Nam cùng nhau phải trả giá cho chế độ đó.

Vào mùa xuân năm 1865, đạo quân Miền Nam của Tướng Lee vừa thiếu người lại hết tiếp liệu trong khi các cánh quân của Tướng Grant và Tường Sherman đang đánh tới. Ngày 9 tháng 4 năm 1865, Tướng Robert E. Lee đã đầu hàng trước Tướng Ulysse S. Grant tại Tòa Án Appomattox của Virginia, rồi tới ngày 11-4, lá cờ Sao và Sọc của Hoa Kỳ đã được kéo lên tại Đồn Sumter, nơi mà cuộc Nội Chiến đã bắt đầu.

Cuộc Nội Chiến Nam-Bắc Mỹ là trận chiến tranh bi thảm và tàn phá nhất trong Lịch Sử Hoa Kỳ. Đã có vào khoảng 2.5 triệu người phục vụ trong lục quân và hải quân. Hơn 618,000 người Mỹ bị giết trên chiến trường hay bị chết vì thương tích. Nhưng mặc dù các tổn thất rất lớn lao về nhân mạng và tài sản, cuộc Nội Chiến đã giải quyết được hai vấn đề chính, đó là Liên Bang Hoa Kỳ được duy trì và chế độ Nô Lệ đã bị chấm dứt.


8- Tổng Thống Lincoln bị ám sát.

Nhân vì ăn mừng việc chấm dứt chiến tranh, Tổng Thống Lincoln cùng với vợ và 2 vị khách đã tới Rạp Hát Ford tại Thủ Đô Washington để tham dự buổi trình diễn vở hát “Người bà con Mỹ của chúng tôi” (Our American Cousin). Vài phút sau 10 giờ đêm, một tiếng súng đã nổ vang trong rạp hát đông người này. John Wilkes Booth là một trong các kịch sĩ danh tiếng nhất, đã dùng súng lục bắn từ phía sau vào đầu Tổng Thống Lincoln. Tên Booth đã ám hại Tổng Thống để trả thù cho phe Miền Nam. Tổng Thống Lincoln nằm bất tỉnh. Gia đình ông và một số nhân viên cao cấp vây quanh ông, tìm cách cứu chữa. Ông Abraham Lincoln qua đời lúc 7 giờ 22 sáng ngày 15-4-1865.

Khi còn sống, Tổng Thống Abraham Lincoln đã bị nhiều người chỉ trích cay đắng nhưng sau khi ông đã qua đời, mọi người kể cả các kẻ thù cũ của ông cũng phải ca ngợi tấm lòng tử tế và không vị kỷ của ông. Hàng triệu người đã gọi ông là “Người Cha Abraham” (Father Abraham). Chiếc xe lửa chở quan tài của ông Lincoln, khởi hành từ thủ đô Washington hướng về phía tây, đã làm đau lòng hàng trăm ngàn người đứng chờ đón tại hai bên đường. Ngày 4 tháng 5, thi hài của ông Abraham Lincoln được chôn cất tại Nghĩa Trang Oak Ridge ở Springfield, Illinois. Đài kỷ niệm trên ngôi mộ của ông Lincoln đã là nơi hành hương của dân chúng và nhiều người còn tưởng nhớ tới ông Abraham Lincoln tại các điểm kỷ niệm thuộc các tiểu bang Illinois, Kentucky, Indiana, và nhất là tại Gettysburg, Pa., và tại Thủ Đô Washington D.C.


Chỉ sau khi đã qua đời, Thế Giới mới nhận ra ông Abraham Lincoln là một bậc vĩ nhân. Ông Lincoln đã là một chính khách siêu đẳng, một nhà lý tưởng cương quyết, một con người kiên nhẫn và giàu lòng thương kẻ khác.

Ngày nay ở nhiều nơi trên thế giới, các học sinh, các sinh viên, các người tranh đấu cho Tự Do và Dân Chủ, tranh đấu chống lại các chế độ độc tài, đàn áp dân chúng, vẫn thường nhắc nhở tới câu nói bất hủ của ông Abraham Lincoln, vị Tổng Thống thứ 16 của Hoa Kỳ, đó là câu: “Chính quyền của Dân, do Dân, vì Dân sẽ không bao giờ suy tàn trên mặt đất

** Diễn văn Gettysburg:
Four score and seven years ago our fathers brought forth on this continent, a new nation, conceived in Liberty, and dedicated to the proposition that all men are created equal.
Now we are engaged in a great civil war, testing whether that nation, or any nation so conceived and so dedicated, can long endure. We are met on a great battle-field of that war. We have come to dedicate a portion of that field, as a final resting place for those who here gave their lives that that nation might live. It is altogether fitting and proper that we should do this.
But, in a larger sense, we can not dedicate -- we can not consecrate -- we can not hallow -- this ground. The brave men, living and dead, who struggled here, have consecrated it, far above our poor power to add or detract. The world will little note, nor long remember what we say here, but it can never forget what they did here. It is for us the living, rather, to be dedicated here to the unfinished work which they who fought here have thus far so nobly advanced. It is rather for us to be here dedicated to the great task remaining before us -- that from these honored dead we take increased devotion to that cause for which they gave the last full measure of devotion -- that we here highly resolve that these dead shall not have died in vain -- that this nation, under God, shall have a new birth of freedom -- and that government of the people, by the people, for the people, shall not perish from the earth.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-12-07 05:29:02Ngọc Lý>
Lê Thị Công Nhân
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia


[/align][/align]
 


[/align]Lê Thị Công Nhân

[/align][/align][/align]Luật sư Lê Thị Công Nhân (sinh năm 1979- )
là một nhà bất đồng chính kiếnViệt Nam.
 
Lời Phát Biểu của Nữ Luật Sư Lê Thị Công Nhân, Phát Ngôn Viên của Văn phòng Trung Ương đảng Thăng Tiến Việt Nam, qua Paltalk

1 Tiểu sử
2 Hoạt động
3 Phản ứng xung quanh vụ án Lê Thị Công Nhân
4 Ghi chú
5 Liên kết ngoài

Tiểu sử


Lê Thị Công Nhân sinh tại Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang, Việt Nam; trú tại tập thể Văn phòng Chính phủ, phường Phương Mai, Hà Nội, xuất thân trong một gia đình công nhân viên chức và tốt nghiệp Đại học Luật Hà Nội năm 2001.

Năm 2004, cô tốt nghiệp lớp luật sư và công tác tại bộ phận thư ký quan hệ quốc tế, Văn phòng Đoàn Luật sư Hà Nội.

Năm 2005, thôi việc tại Văn phòng Đoàn Luật sư Hà Nội để về làm việc tại văn phòng Luật sư Thiên Ân.

Lê Thị Công Nhân là thành viên của Khối 8406 và đồng thời là đảng viên của Đảng Thăng Tiến Việt Nam.

Lê Thị Công Nhân bị bắt tạm giam tại Hà Nội vào ngày 6 tháng 3 năm 2007 với lý do hoạt động tuyên truyền chống nhà nước Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, và bị xóa tên khỏi danh sách Đoàn Luật sư Hà Nội[1].

Vào ngày 11 tháng 5 năm 2007, sau hơn hai tháng tạm giam, cô và Nguyễn Văn Đài được đem ra xét xử, bị kết án 4 năm và 3 năm quản chế[2].

Hoạt động


Lê Thị Công Nhân tham gia phong trào đòi đa nguyên, đa đảng, chống đối nhà nước Việt Nam. Lê Thị Công Nhân đã từng viết tham luận, nội dung tố cáo Tổng Công đoàn Việt Nam hiện nay không bảo vệ quyền lợi của người lao động Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam vi phạm nhân quyền và kêu gọi thế giới hỗ trợ cả tinh thần lẫn vật chất để lập ra những công đoàn độc lập cho công nhân Việt Nam.

Cô là phát ngôn viên công khai của Đảng Thăng Tiến Việt Nam[3][4], cô đã trả lời một số cuộc phỏng vấn của các đài và báo chí ngoại quốc và viết bài nói về thực trạng của Việt Nam[5]. Vào tháng 12 năm 2006, trả lời cuộc phỏng vấn hội đoàn Lên Đường ở hải ngoại với những lời lẽ phê phán chỉ thị số 37/2006/CT-TTg của Thủ tướng chính phủ về việc quy định một số biện pháp tăng cường lãnh đạo và quản lý báo chí, cô nói: "Là một luật sư thì tôi xin khẳng định với những hiểu biết cá nhân của mình rằng chỉ thị 37-TTG ngày 29/11/2006 là hoàn toàn vi hiến"[6].

Cô đã được mời tham dự Hội nghị Công đoàn Tự do tổ chức tại Warszawa, thủ đô của Ba Lan, (28 - 30 tháng 10 năm 2006), nhưng cô không tham dự được vì bị công an giữ lại trước khi lên máy bay[7]. Trong thời gian Hội nghị APEC 14 họp ở Hà Nội, theo hội đoàn Quê Mẹ của người Việthải ngoại, cô là một tiếng nói đối lập với nhà nước Việt Nam bị lập chốt gác giám sát ngay trước nhà để ngăn chặn cô tiếp xúc với các thành viên trong đoàn dự APEC[8].

Từ đầu tháng 12 năm 2006 đến tháng 2 năm 2007, cô đã cùng luật sư Nguyễn Văn Đài tổ chức các lớp học về dân chủnhân quyền, vận động giới thiệu các tổ chức như Đảng Dân chủ thế kỷ 21, Đảng Thăng Tiến Việt Nam, Khối 8406... cho một số sinh viên, trí thức và người khiếu kiện, tại văn phòng luật sư Thiên Ân. Một số người tham gia lớp học này đã viết đơn tố cáo hoạt động này[9].

 Phản ứng xung quanh vụ án Lê Thị Công Nhân

Xung quanh vụ án Lê Thị Công Nhân có các chiều hướng phản ứng khác nhau:
  • Các báo và đài trong hệ thống truyền thông của nhà nước Việt Nam đều phê phán Lê Thị Công Nhân và cho rằng vụ án này cần được xử lý nghiêm khắc. Báo Lao động gọi việc Lê Thị Công Nhân gặp gỡ và cùng hoạt động đòi đa nguyên, đa đảng với Nguyễn Văn Đài là "Ngưu tầm Ngưu"[10]. Tờ báo này viết[11]: Lê Thị Công Nhân "bập" vào Nguyễn Văn Đài rất nhanh. Về làm nhân viên Văn phòng Luật sư Thiên Ân năm 2004, Nhân nhanh chóng trở thành trợ thủ đắc lực của Đài. Khiếu ăn nói, viết lách của cô luật sư trẻ đã được Đài tận dụng triệt để khi giao cho Nhân "trách nhiệm" chính biên soạn những tài liệu có nội dung xuyên tạc dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, cung cấp cho bọn phản động lưu vong người Việt và các thế lực thù địch ở bên ngoài sử dụng vào các mục đích tuyên truyền chống phá Nhà nước VN. Hàng loạt bài viết, trả lời phỏng vấn mà nội dung xuyên suốt là xuyên tạc, bịa đặt và vu cáo tình hình dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam như “Khía cạnh pháp lý về đình công và yêu cầu có hệ thống công đoàn độc lập tại Việt Nam”, “Sự thật về việc bãi bỏ nghị định 31/CP ngày 14-4-1997”, “Bài trả lời phỏng vấn và đối thoại” nhằm vu cáo chỉ thị 37/2006/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ... đã được Nhân phát tán trên các trang web hay đài phản động bên ngoài. Có nghe Nhân trả lời phỏng vấn trên đài, báo của bọn phản động lưu vong người Việt và nước ngoài như “Chân trời mới”, “Tiếng nước tôi”, “Đối thoại”, RFA... mới thấy hết sự lộng ngôn. Chưa đầy 30 tuổi và rời ghế nhà trường chưa lâu mà Nhân cứ đứng lên hô hào rằng “tẩy chay bầu cử Quốc hội khóa XII”, “Việt Nam đàn áp những người bất đồng chính kiến”, “ngày toàn dân mặc áo trắng ủng hộ dân chủ”... Thậm chí Nhân còn thề thốt “chiến đấu tới cùng, không bao giờ đầu hàng, thỏa hiệp với cộng sản.


Cũng theo hệ thống truyền thông tại Việt Nam, Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân còn đứng ra mở một số lớp học nhằm tuyên truyền chống Nhà nước, vận động giới thiệu cho các tổ chức bất hợp pháp do những đối tượng chống đối thành lập như: Đảng Dân chủ thế kỷ 21, Đảng Thăng Tiến Việt Nam, Khối 8406...

Theo các báo trong nước, hoạt động của Lê Thị Công Nhân đã gây phẫn nộ đối với quần chúng nhân dân và dư luận xã hội[12]; nhân dân đã tỏ rõ thái độ bất bình tại các cuộc họp dân phố[13], sự xử lý của pháp luật cũng đã được dư luận hoan nghênh[14][15].

Theo báo Lao động: "Đều là những đối tượng tuổi đời còn trẻ, được sinh ra, lớn lên trong nền hòa bình độc lập của Tổ quốc, được học tập và đào tạo thành những luật sư nhưng chưa có hoạt động gì đóng góp cho đất nước, Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân đã quay lưng phủ nhận tất cả những gì đã được thừa hưởng từ xã hội, đất nước…"[cần dẫn chứng]


Theo hệ thống truyền thông của các tổ chức dân chủ[22] và của người Việt hải ngoại, đã có những phản ứng phản đối đối với vụ án này. Theo báo Đàn Chim Việt, đây là phiên tòa áp đặt, không chính đáng, luật sư được thông báo phiên xử sẽ diễn ra ngày 11 tháng 5 năm 2007. Trong khi đó, giấy chứng nhận người bào chữa “sẽ” được cấp vào ngày 2 tháng 5 năm 2007 và thời gian để đọc hồ sơ bị giới hạn trong 7 ngày - từ ngày 2 đến ngày 10 tháng 5 năm 2007. Tờ báo này cho rằng tòa không muốn luật sư có nhiều thời gian tiếp cận nghiên cứu hồ sơ để dễ bề thao túng, áp đặt, thực chất là một kiểu bịt miệng luật sư [1].

Sau phiên tòa luật sư Trần Lâm cho biết: “Bản thân hai bị can trong quá trình xử án khi được hỏi đều cho rằng họat động của họ không phải là tội, không vi phạm luật pháp của Việt Nam mà chỉ hành xử các quyền tự do phát biểu và lập hội mà thôi. Trước khi phiên xử kết thúc, luật sư Lê Thị Công Nhân, phát biểu phản đối phiên toà, cho rằng không chính đáng”.

Bác sỹ Phạm Hồng Sơn một nhà bất đồng chính kiến cáo buộc trong quá trình khởi tố luật sư Lê Thị Công Nhân cũng như luật sư Nguyễn Văn Đài và linh mục Nguyễn Văn Lý đã có những dấu hiệu thông tin bị cơ quan truyền thông (Báo Nhân Dân, đài truyền hình VTV1) đưa tin trái với tinh thần khách quan, công bằng của pháp luật gây bất lợi cho vị linh mục và hai luật sư[23].

Một số hội đoàn của người Việt hải ngoại đã đăng những bài thơ, bài hát ca ngợi Lê Thị Công Nhân, trong đó sử dụng những từ như “thiên thần”, “anh thư của nước Việt", "bông hồng có ánh thép”[2], [3]. Nhạc sĩ Trúc Hồ viết bài hát "Thiên thần trong bóng tối" nhằm vinh danh luật sư Lê Thị Công Nhân, được trình bày trên video Mùa hè rực rỡ của Trung tâm Asia[24].

Trên các báo và một số diễn đàn, tranh luận khá gay gắt xung quanh vụ án này. Luật sư Trần Lâm, người nhận biện hộ cho hai bị can, sau khi phiên xử kết thúc đưa ra nhận định về bản án vừa tuyên cho hai thân chủ của ông: “Nói về mặt luật là nặng nhưng nói về chính trị là không nặng. Vụ này họ nhìn về mặt chính trị; tôi có cãi về mặt luật pháp nhưng họ không chịu. Nhìn về mặt chính trị thì có nguy hiểm thật; nhưng về luật pháp thì chưa đến mức như vậy. Trong phiên xử đấu tranh giữa hai quan điểm đó.”[cần dẫn chứng]

 Ghi chú

Xóa tên 2 luật sư có hành vi chống nhà nước
Phạt 9 năm tù Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân
Phát Ngôn Viên: Nữ Luật Sư Lê Thị Công Nhân
Phỏng vấn nữ luật sư Lê thị Công Nhân - phát ngôn viên của Đảng Thăng Tiến
Phỏng vấn tại BBC tiếng Việt
Trao đổi với Luật Sư Lê Thị Công Nhân về chỉ thị báo chí 37
Bà Công Nhân bị cấm xuất cảnh - BBCnews Việt ngữ
Tự do Mậu dịch nhưng cấm Tự do Ăn nói: Các nhà bất đồng chính kiến ở Hà Nội bị khủng bố và cấm tiếp xúc khách tham dự Thượng đỉnh APEC.
Báo Lao Động, "Chiếc loa" Lê Thị Công Nhân
Thành ngữ: "Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã" tức ngựa tìm ngựa, trâu tìm trâu
"Chiếc loa” Lê Thị Công Nhân
Đài truyền hình trung ương, Lê Thị Công Nhân - phần tử nòng cốt cho Nguyễn Văn Đài chống phá Nhà nước Việt Nam
Báo Quân đội Nhân dân, Bộ mặt thật của các “nhà dân chủ” (Tiếp theo và hết)
Đài truyền hình Hà Nội, Hai luật sư bị bắt vì chống nhà nước
Báo Sức khỏe Đời sống, Tòa án TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội xét xử 2 vụ án chống phá nhà nước Việt Nam: Bản án thích đáng cho những kẻ ngông cuồng
House Res 243
17,0 17,1 Liên minh Châu Âu (15 tháng 5, 2007). Declaration by the Presidency on behalf of the EU on the sentencing of human rights defenders in Viet Nam. Được truy cập ngày 2007-06-23.
18,0 18,1 Ân xá Quốc tế (24 tháng 4, 2007). Viet Nam: Silenced critics must be released. Được truy cập ngày 2007-06-23.
Vietnam: Crackdown on Dissent in Wake of WTO and APEC”, 9 tháng 3, 2007. Địa chỉ URL được truy cập 2007-06-23.
20,0 20,1 Phóng viên không biên giới (11 tháng 5, 2007). Two more cyber-dissidents get long jail terms in Stalinist trial. Được truy cập ngày 2007-08-09.
TIME, “A Show (and Tell) Trial in Vietnam”, 30 tháng 3, 2007. Địa chỉ URL được truy cập 2007-08-09.
Bán nguyệt san TỰ DO NGÔN LUẬN, tự ý phát hành trong nước
Những cáo buộc phản động
Tạ Xuân Thạc, “ASIA 56 Vinh Danh Luật Sư Lê Thị Công Nhân, Thiên Thần Trong Bóng Tối”, Việt Báo, 29 tháng 9, 2007. Địa chỉ URL được truy cập 2007-11-23.


    [/align]
    Liên kết ngoài

    Lấy từ “http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Th%E1%BB%8B_C%C3%B4ng_Nh%C3%A2n

    [/align]
    Thể loại: Bài cần chú thích nguồn gốc | Nhân vật bất đồng chính kiến Việt Nam | Sinh 1979


    [/align][/align]
    Đăng nhập để trả lời
    0
    <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-12-08 23:44:58Ngọc Lý>
    Hoàng Minh Chính
    Bách khoa toàn thư mở Wikipedia




    [/align]Hoàng Minh Chính (sinh ngày 16 tháng 11, 1922) là một nhân vật bất đồng chính kiến người Việt, nguyên Tổng thư ký Đảng Dân chủ Việt Nam và Viện trưởng Viện Triết học Mác-Lênin (Marx-Lenin).

     Tiểu sử

    Hoàng Minh Chính tên thật là Trần Ngọc Nghiêm, bí danh Lê Hồng, sinh năm 1922 ở Nam Trực, Nam Hà, tham gia cách mạng từ năm 1937. Năm 1939 ông vào Đảng Cộng sản Đông Dương (năm 1952 đổi tên thành Đảng Lao động Việt Nam và sau 1975 đổi tên thành Đảng Cộng sản Việt Nam). Trong kháng chiến chống Pháp, ông chịu trách nhiệm đánh Trường bay Gia Lâm, rồi lên Việt Bắc đảm nhận nhiều công tác đoàn thể, sau hòa bình về Hà Nội tiếp tục làm công tác đoàn thể.

    Ông đã từng giữ những chức vụ cao trong bộ máy nhà nước như: Phó chủ nhiệm Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, Viện trưởng Viện Triết học Mác-Lênin.
    • 1957, ông được cử đi học tại Liên Xô.
    • 1961, ông về công tác tại Ủy ban Khoa học nhà nước, làm Viện trưởng Viện Triết học.
    • 1967, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khai trừ ông ra khỏi đảng vì ông thuộc số những người không tán thành Nghị quyết 9 của Đảng Cộng sản Việt Nam.
    • 1967-1973, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ông đi tập trung cải tạo.
    • 1973-1976, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quản chế ông tại Sơn Tây.
    • Tháng 6 năm 1995-tháng 6 năm 1996, chính quyền bắt giữ và xét xử theo pháp luật Việt Nam, ông bị tù 1 năm với tội trạng "lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nuớc, tổ chức xã hội và công dân".
    • Sau khi ra tù, ông vẫn tiếp tục viết đơn thư khiếu nại, vận động, yêu cầu Đảng và chính quyền Việt Nam "giải oan" cho các vụ án "chống Đảng", "xét lại"; tuyên truyền phát tán tài liệu, vận động người tham gia góp ý cho bản dự thảo "Thách thức và triển vọng".
    • Tháng 4 năm 1998, ông cùng với Lê Hồng Hà bàn việc chuyển hướng hoạt động sang đấu tranh với mục đích thành lập "Hội nhân dân chống tham nhũng".
    • Ngày 16 tháng 1 năm 2000, ông gửi thư ngỏ cho Tổng thống Hoa Kỳ, nói rằng ở Việt Nam chưa có tự do báo chí, tự do ngôn luận..., những vấn đề mà Mỹ có thể can thiệp.
    • Tháng 8 năm 2005, ông sang Mỹ chữa bệnh, diễn thuyết nhiều lần, công khai phê phán Đảng Cộng sản Việt Nam và chính quyền Việt Nam.
    • Ngày 28 tháng 9 năm 2005, nhận lời mời của những người từng làm việc dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa, ông đã đến phát biểu, có 20 người Việt và 4 người Mỹ tại Đại học Harvard về đề tài dân chủ cho Việt Nam (có quay phim).
    • Ngày 29 tháng 9 năm 2005, ông ra điều trần trước Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Hoa Kỳ để, như ông nói, "nêu ra những vụ đàn áp tôn giáo, khủng bố tàn bạo" ở Việt Nam.


    Hiện nay, Hoàng Minh Chính vẫn giữ vai trò quan trọng trong các hoạt động của những người bất đồng chính kiến: vận động lấy chữ ký đòi hủy bỏ điều 4 của Hiến pháp Việt Nam và nghị định số 31/CP, tìm cách phát triển lực lượng, liên kết với Phạm Quế Dương, Trần Khuê và những nhân vật bất đồng chính kiến khác, viết đơn và kêu gọi thành lập Hội nhân dân chống tham nhũng.

    Hoàng Minh Chính nhiều lần cùng các nhân vật bất đồng chính kiến khác tổ chức gặp mặt nhằm công khai tổ chức, nhằm tái lập Đảng Dân chủ cùng nhiều hoạt động khác. Ông cũng đã soạn một số tài liệu gửi ra nước ngoài cho một số tổ chức nhân quyền, trả lời phỏng vấn về tình hình dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo ở Việt Nam.

    Hoàng Minh Chính cho rằng học thuyết của Karl MarxFriedrich Engels có sai sót cơ bản và và trong việc thực hiện ở các quốc gia cộng sản đã có sai lầm nghiêm trọng - chủ nghĩa mà có thời ông, trên cương vị Viện trưởng Viện Triết học, đã tuyên truyền và ca ngợi.

    Những bài viết về Hoàng Minh Chính đã thu hút sự quan tâm của báo chí trong và ngoài Việt Nam.

    Ngày 1 tháng 6 năm 2006, Hoàng Minh Chính ra tuyên bố khôi phục hoạt động Đảng Dân chủ[2]. Tuy nhiên, theo ông Huỳnh Văn Tiểng, nguyên uỷ viên Thường vụ Đảng Dân chủ Việt Nam từ năm 1944 đến năm 1988:
    "Bản thân ông Chính đã bị khai trừ khỏi Đảng dân chủ từ lâu; khi không được sự đồng tình của số đông cựu đảng viên ông không có quyền và không đủ tư cách đứng ra khôi phục Đảng"[cần dẫn chứng]

    "Đảng Dân chủ hiện nay mà ông Hoàng Minh Chính lên tiếng “khôi phục” thì về bản chất đã khác Đảng Dân chủ từng tồn tại từ năm 1944 đến 1988"[cần dẫn chứng]

    Liên kết ngoài

    Kiến Dân[/align]Hoàng Minh Chính, nhà chính trị yêu nước không sợ tù đày[/align] [/align] [/align][/align]Có lẽ nên lấy ngay câu nói của ông Đỗ Mười, khi nhân danh Tổng Bí thư ĐCSVN đến dự đại hội liên hiệp văn học nghệ thuật cách đây hai khóa để minh chứng cho điều đó: “Anh ấy bị tù cùng với tôi thời thanh niên phản đế, nhưng rồi anh ấy chống đối nên chúng tôi bắt, chúng tôi đã thả, nhưng anh ấy lại chống, nên chúng tôi lại bắt”. Lần “lại bắt” này, người ta có đem ra bịt miệng xét xử (có ghi hình qua quít), chứ không như lần bắt trước, không xét xử và giam giữ trái phép kéo dài khoảng hai chục năm, lâu hơn cả ông Nguyễn Hữu Đang. Thế đấy! Thực dân bỏ tù vì tội làm cộng sản cứu nước, rồi lại bị chính cộng sản bỏ tù vì tội đòi dân chủ, nhân quyền cứu dân. Dã man hơn, thời gian bị thực dân Pháp cầm tù chỉ bằng khoảng một phần năm thời gian nếm mùi nhà tù cộng sản.

    Ra khỏi nhà tù Sơn La, ông tiếp tục hoạt động chống Pháp Nhật, năm 1946; khi sắp nổ ra cuộc kháng chiến toàn quốc, ông là Lê Hồng, đại đội trưởng Quyết Tử quân; thời kháng chiến chống Pháp, ông là chủ tịch Liên đoàn Thanh niên Sinh viên Việt Nam; thời hòa bình lập lại, ông là Viện trưởng Triết học, rồi bị bắt.

    Vậy mà kẻ viết bài trên tờ Quân đội Nhân dân kia dám càn rỡ gọi ông là “bán nước, hại dân”. Bán nước cho ai? Pháp thì hẳn không phải rồi. Vậy cho Tàu, cho Liên Xô hay cho Mỹ? Lấy bao nhiêu tiền? Thay vì lấy tiền đổi lấy mấy chục năm tù cộng sản ư? Hại dân như thế nào? Đấu tố, bắn giết oan hàng vạn người trong cải cách ruộng đất, hay trong cải tạo công thương mấy năm cuối thập kỷ năm mươi (do Đỗ Mười trực tiếp chỉ đạo), phá tan nền công thương nghiệp tư doanh hình thành từ đầu thế kỷ chỉ mong nước nhà độc lập để có cớ tự do phát triển?

    Có lẽ khi ông Chính bị thực dân Pháp bắt tù vì hoạt động yêu nước, kẻ viết bài này còn chưa sinh, thậm chí, cha chú hắn mới chỉ là đứa trẻ. Trò xúi quẩy trẻ con làu bàu, vốn là thủ đoạn chính trị của bọn phát-xít và được các nhà chính trị cộng sản tiếp thu điệu nghệ. Sực nhớ đến một cuộc mít tinh (được đài truyền hình trung ương ghi và phát hình) của thày và trò trường phổ thông cơ sở Trưng Vương Hà Nội, gồm toàn các cháu học sinh dưới 14 tuổi, để kịch liệt lên án Công đoàn Đoàn kết Ba Lan âm mưu lật đổ chính quyền, thời kỳ cộng sản Đông Âu và Liên Xô bắt đầu sụp đổ. Hoặc thời Nhân văn-Giai phẩm, một học sinh trung học khoe vừa đi dự mít tinh lên án Nhân văn-Giai phẩm do đoàn trường tổ chức. Hỏi: “Em đã học bài nào của Nhân văn-Giai phẩm chưa?” Hồn nhiên trả lời: “Em chưa!”. Trẻ con Việt Nam thời CCRĐ được tổ chức rầm rộ đánh trống cà rùng, hô khẩu hiệu, uy hiếp trấn áp tinh thần của “địa chủ”; trẻ con Trung Quốc, các vị tiểu tướng Hồng Vệ binh đã gây thảm họa tang thương cho đất nước Trung Quốc có lẽ bằng trăm, bằng nghìn lần cuộc động đất ở Trường Sơn. Bè lũ Pol Pot ở Campuchia, bọn bè phái quân phiệt ở Châu Phi ấn súng vào tay lũ trẻ để bắn giết bừa bãi; đến như Giang Thanh, đệ nhất phu nhân của vương triều đỏ còn phải nói: “Tôi chỉ là con chó của Mao chủ tịch, Mao chủ tịch bảo tôi cắn ai là tôi cắn”.

    Đúng sai, sai đúng, chửi rủa rồi lại ôm hôn, đó là đặc điểm nổi bật của Văn hóa Đảng của các đảng cộng sản. Điển hình là những cuộc chửi rủa nhau hàng tôm hàng cá bằng nhiều thứ tiếng, kể cả tiếng Việt giữa Bắc Kinh và Moskva những năm đầu thập kỷ sáu mươi, nhưng phong phú nhất vẫn là giữa cộng sản Trung Quốc và cộng sản Việt Nam, với mối tình “hữu nghị núi liền núi, sông liền sông”, “môi hở, răng lạnh”, “vừa là đồng chí, vừa là anh em”, kéo dài bốn năm năm liền, bắt đầu từ đầu năm 1979, “dạy cho Việt Nam một bài học”. Thật là dịp may hiếm có để nhân dân Việt Nam nhận diện được bộ mặt thật của hai Đảng thông qua đài phát thanh và sách báo hai bên, đồng thời cũng nhận diện được tình “đồng chí” vĩ đại của cộng sản quốc tế. Ấy thế mà gần đây, ông Trần Đức Lương sang thăm Trung Quốc đã không quên đến kính cẩn nghiêng mình trước đài tưởng niệm Mao Trạch Đông, kẻ đã sát hại bẩy mươi triệu dân Trung Quốc trong thời bình. Âu cũng là một dạng văn hóa “Bước qua lời nguyền” của Đảng.

    Ông Chính nêu vấn đề chính quyền Việt Nam đàn áp tôn giáo. Đúng, nhưng chưa đủ. Đàn áp, chỉ cần nêu sự việc một nhà nguyện Tin Lành thời phong trào “Tin Lành đề ga” đầu thế kỷ 21 ở Tây Nguyên, sau một đêm công an vòng trong, quân đội vòng ngoài, xóa sạch vết tích cùng với hơn bốn chục tín đồ trong đó (người trong cuộc kể lại) chẳng khác chi vụ tắm máu sinh viên, trí thức ở Thiên An Môn năm 1989. Nói chưa đủ, bởi chính quyền Việt Nam chỉ đàn áp những tín đồ đòi tự do tín ngưỡng, dân chủ, nhân quyền, còn cứ việc lũ lượt, chen lấn, xô đẩy đi đền chùa, nhà thờ cúng lễ, cứ việc thả sức đốt vàng mã gieo quẻ, cầu xin lỗ lãi, thăng chức, thăng quan, công tác nước ngoài… nhà nước chẳng những không ngăn cấm mà còn mừng thầm, đỡ lo dân tự do suy nghĩ, đòi hỏi, đấu tranh “khiếu kiện kéo dài, vượt cấp”, “diễn biến phức tạp”.

    Để bác bỏ ông Chính nói Việt Nam không có tự do báo chí, không có tự do ngôn luận, Duy Nguyễn trên tờ vnExpress nêu một ví dụ: luật xuất bản quy định nhà nước không kiếm duyệt nội dung ấn phẩm trước khi xuất bản, làm như có vẻ tiến bộ so với trước, nhưng giám đốc xuất bản nào lại dại dột cấp phép cho những ấn phẩm thoáng bóng quan điểm khốc liệt với đường lối chính sách, dại dột bỏ cái ghế ngồi đầy bổng lộc, mà hãn hữu xảy ra chuyện dại dột nào đó, thì liền sau đó là kiểm điểm, cách chức, phát lệnh thu hồi, tiêu hủy. Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn là một trong nhiều ví dụ. Nếu “tự do” thật sự thì Việt Nam đã có hàng nghìn cuốn dạng Chuyện kể năm 2000. Nhà xuất bản nào, tờ báo nào mà lại không có chi bộ Đảng thường do chính giám đốc, tổng biên tập làm bí thư, chịu trách nhiệm với Đảng, cho nên giám đốc các nhà xuất bản, các tổng biên tập các báo cứ việc vô tư cắt xén “gọt đầu” cho hợp với “ý Đảng”, bất kể “lòng dân”, thường chẳng thèm đếm xỉa đến sự đồng ý của tác giả; chỗ thân quen, thì bắt tay cười xòa, buông một tiếng “thông cảm” là xong chuyện. Để làm sáng tỏ hơn điều này, nên kể đến bức thư của ông Võ Văn Kiệt gửi Nguyễn Khoa Điềm, phản đối việc Điềm cấm không cho báo đăng bài phỏng vấn ông ta:

    “Các đồng chí cho rằng những nhận xét của tôi về công tác của Ban Tư tưởng Văn hóa như: áp đặt, cửa quyền, thiếu dân chủ, rất ít khi được đối thoại những vấn đề còn có ý kiến khác nhau, nặng về quyền lực hơn là thuyết phục…, dùng quyền của Ban Tư tưởng Văn hóa để bác bỏ tùy tiện là “thỏa đáng hay không thỏa đáng…”.

    Đến những ý kiến của ông Kiệt còn bị ngăn cấm tùy tiện như thế, thì những ý kiến, quan điểm của người khác sẽ bị đối xử như thế nào, không cần nói cũng quá rõ rồi.

    Bác bỏ ông Chính, họ đặt vấn đề nếu dân khổ, nếu xã hội đen tối, sao một số báo chí nước ngoài, một số tổ chức Liên Hiệp Quốc lại đánh giá cao những thành tựu của Việt Nam trong những năm “đổi mới”, về xóa đói giảm nghèo, về xóa nạn mù chữ, tăng trưởng GDP… Một người dân có chút hiểu biết thôi, cũng có ngay được câu trả lời: sao không so với đời sống kinh tế, văn hóa, thu nhập của mấy nước xung quanh Thái Lan, Malaysia, Singapore… trước đây dăm sáu chục năm, nước họ so với nước ta thế nào, nước ta nhờ có Đảng Cộng sản lãnh đạo giờ đây thế nào? Bao lâu nay, cứ mắt nhắm, mắt mở, đóng cửa nhốt dân, tự ve vuốt, tách tách nhập nhập, giở trò phù thủy, nhập hợp tác xá, nhập làng, nhập huyện, nhập tỉnh, nhập sở, nhập ngành, nhập bộ rồi lại tách, tách hợp tác xã, tách làng, tách huyện, tách tỉnh, tách sở, tách ngành, tách bộ, mỗi lần nhập tách nhập nhằng, thụt quỹ thụt két, thất thoát không biết bao nhiêu tiền của dân, công tư hợp doanh, rồi nhà nước hóa, nay lại cổ phần hóa, tư nhân hóa, bao nhiêu của cải của dân bị bòn rút, vơ vét (VTV1 trong mục “Tiêu điểm” đã nói lên phần nhỏ việc này). Làm bao nhiều điều sai trái, cản trở sự tiến hóa của xã hội, phá hoại truyền thống đạo lý, truyền thống gia đình (con cháu đấu tố ông bà, cha mẹ, học trò trong cấp ủy lãnh đạo thầy v.v…) nay buộc lòng phải sửa, mong tránh sụp đổ, lại tự khen mình sáng suốt “đổi mới”, “mở cửa”, thủ dâm chính trị một cách trơ trẽn, không chút hổ thẹn với lương tâm. “Cái tốt phô ra, xấu xa đậy lại”, đó là bửu bối, hồ lô yêu quái của đường lối tuyên truyền của các đảng phát-xít Đức, Áo, Ý, Nhật thuở nào, chứ không phải đường lối của một đảng quang minh chính đại. Đời sống nhân dân được cải thiện ư? Tiêu chuẩn quy định nước nghèo được nâng lên cho phù hợp dần với tiêu chuẩn thế giới ư? Nhưng tiền chủ yếu từ đâu ra? Chẳng phải từ hàng tỉ đô la kiều hối (của những người bỏ chạy thoát thân) gửi về, từ bán đất, bán nhà, từ các khoản viện trợ cho vay của các tổ chức quốc tế sao? Nhưng, những khoản tiền này bị đục khoét bao nhiêu phần trăm, 30, 40, hay 50 %? Nạn cường hào mới, cường hào thôn, cường hào xã, cường hào huyện, cường hào tỉnh, cường hào bộ, cường hào ngành (Việc ngành chống buôn lậu ở Quảng Ninh đáng được xét xử) tồn tại từ ba bốn chục năm nay, mỗi ngày một nặng nề, trắng trợn, hiếp dân, những công trình lớn nhỏ, từ xã đến trung ương đủ loại, thủy lợi, cầu đường, điện lực, dầu khí, khách sạn, nhà hát, trường học… bị rút ruột, cắt xén. Chẳng lẽ việc thế giới xếp Việt Nam vào hàng thứ 102 kể từ thấp lên cao trong số 145 nước tham nhũng nặng lại là một điều đáng tự hào về cái đường tròn AQ vẫn còn tròn hơn của hơn bốn mươi nước khác? Chẳng nhẽ việc đầy gái mãi dâm khắp các tỉnh thành phố, việc bán được nhiều lao động cho các nước xưa kia chẳng hơn gì (nếu không nói là còn kém) nước mình, nghề “Ô xin”, cái nghề mà Tố Hữu đã từng cảm xúc rên lên “Rồi từ hôm ấy ôm con chủ… bỗng ngậm ngùi” lại được coi như biểu hiện văn hóa, lại là điều đáng tự hào so với quá khứ? Nợ bao nhiêu, không ai biết, không bao giờ công khai trên báo chí, trong quốc hội, lũ con cháu chúng ta phải bao nhiêu năm, bao nhiêu đời mới trả hết nợ, món nợ mà lũ quan chức mới, cường hào mới đã bòn rút phân nửa để làm giàu, mà Quốc hội đã ban hành pháp lệnh từ chục năm nay, quy định từ phó phòng cấp huyện trở lên hoặc tương đương phải kê khai tài sản, đến nay vẫn mới chỉ là dự luật, vẫn phó phòng cấp huyện trở lên hoặc tương đương phải kê khai tài sản, chẳng khác chi truyện “Đào kép mới” của ông Nguyễn Công Hoan, trước “đã có ta phò tá”, nay “đổi mới”, “đã có mỗi tá phò”.

    Việc một vài tờ báo, nhà báo, tổ chức nước ngoài cưỡi ngựa xem hoa, đường mật bị lừa chẳng qua giống như nữ nhà báo kiêm nhà văn Mỹ Edgar Snow, nữ nhà báo kiêm nhà văn Anh gốc Hoa Han Suyn nhìn chế độ Mao, thậm chí đến nhà văn Pháp danh tiếng, uyên bác, được giải Nobel Jean Paul Sartre còn nhầm lẫn ca ngợi “bạo lực cách mạng” của Mao là “đạo lý sâu sắc”. Do đâu có như André Gide, cũng giải Nobel, phải đến tận hang cùng ngõ hẻm Liên Xô, bắt tận tay, day tận mắt, mới tỉnh ra, mới “ngộ” ra, mới viết nổi cuốn Retour de l’ URSS khiến ông Nguyễn Đình Thi trong bài đăng trên tạp chí Học tập số 3 tháng 4 năm 1958 gọi là nhà văn phản động, người mà ông Trương Tửu đã chịu ảnh hưởng nặng nề.

    Một đảng tha hóa (như giáo sư Trần Đức Thảo đã sớm nhìn ra từ 1956) tham lam, đục lợi, tiếm đoạt công lao, thành tích của các đảng phải yêu nước khác (điển hình là vụ chôn sống hai Đảng Xã hội và Dân chủ rồi truy tặng huân chương sao vàng, vì lo sẽ trở thành hai đảng đối lập) của những người yêu nước không đảng phái (gần đây, không đừng được, họ phải đặt tên cho hai con đường là Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường), sau hơn nửa thế kỷ gọi các ông là bọn trốt-kít), và của nhân dân đã đổ không biết bao tiền của xương máu chống ngoại xâm, hy sinh thầm lặng để họ bây giờ mồm leo lẻo xây dựng xã hội công bằng, văn minh, thực chất là một xã hội phân ngôi thứ, nhiều cấp, nhiều bậc, chặt chẽ hơn cả thời vua quan phong kiến để hưởng bổng lộc. Mồm nói xây dựng một xã hội loài người không giai cấp, nhưng sau một thời gian dài bìa A, bìa B, bìa C, sổ mua hàng các loại… lại đến việc phân đất, phân nhà, thanh lý biệt thự, xe con các cấp, tiêu chuẩn thuốc men, giường bệnh, bệnh viện khác nhau, thậm chí khi chết trở về cát bụi cũng phân biệt khu A, khu B và tiêu chuẩn nào thì vào Mai Dịch. Một đảng, bên trong tìm đủ mọi cách che bịt những chuyện thối tha (Xiêm Riệp, Sáu Sứ, T4, Lê Đức Anh, Nguyễn Chí Vịnh, v.v…) mà những cán bộ cách mạng lão thành, những tướng tá quân đội, công an trung trực đã tố giác, bên ngoài hù dọa dân chủ, tự do, mở mồm ra là chống diễn biến hòa bình (ngay trong đại hội Đảng bộ Công an Thành phố, đã đề ra thêm một nhiệm vụ mới từ xưa đến nay chưa bao giờ công khai nói ra: Không để có những nhóm chính trị đối lập) (thực chất là nhóm tướng tá quân đội, công an bất đồng chính kiến). Một đảng như thế lại tự gán cho mình vĩnh viễn độc quyền lãnh đạo đất nước (một loại bối lạc, bát kỳ mới) lãnh đạo Chính phủ, Quốc hội để xây dựng chủ nghĩa xã hội theo cơ chế thị trường (thực chất là chủ nghĩa tư bản đỏ như ông Bùi Tín đã vạch ra từ mười lăm năm nay) mặc dầu chưa nặn ra nổi mặt mũi nó, và suốt từ Đại hội 3 (1960) đến nay gần nửa thế kỷ, vẫn chỉ là giai đoạn quá độ, ép Quốc hội phải ghi độc quyền lãnh đạo vào hiến pháp (việc chỉ xảy ra ở thời Mao – Lâm Bưu và cha con Kim Nhật Thành), đặt ra những thiết chế quái gở trong lịch sử, một thứ “quốc hội” trên Quốc hội, tức Ban Chấp hành Trung ương, một thứ chính phủ trên Chính phủ tức Ban Bí thư và Bộ Chính trị, quyết định mọi chính sách đối nội, đối ngoại quan trọng của đất nước, còn cái Quốc hội và Chính phủ do toàn dân biểu kiến bầu ra chỉ được vỗ tay, bàn vặt để “trình lên” cái thứ siêu quốc hội và siêu chính phủ vẻn vẹn do mấy triệu đảng viên gián tiếp bầu ra (thực chất cũng chỉ là hình thức sau khi đã thử đi, thử lại trong hội nghị trù bị).

    Vì vậy mà ông Chính đòi đa nguyên, đa đảng. Độc đảng chuyên chế đặc quyền, đặc lợi, không có đối lập, đương lan tràn, phát triển, không thể phòng chống hữu hiệu. Ngay như trong kỳ họp tháng 10. 2005 này, bàn về việc thành lập Ủy ban đặc biệt về chống tham nhũng, người ta vẫn còn lúng túng như gà mắc tóc, không biết nên gọi là gì, đặt nó ở đâu, ở Quốc hội, ở Chính phủ, hay ở Quốc hội và Bộ Chính trị, ai là chủ soái, để nó có thể hoạt động độc lập (tất nhiên không ai dám hỏi, dù trong lòng rất muốn, phát biểu thẳng ra, Ủy ban đó có quyền yêu cầu Tổng Bí thư, Chủ tịch nước ra điều trần như các nước văn minh khác, bởi vì nhỡ con vị ấy giết người, buôn lậu, v.v…)? Giao cho Quốc hội, thế ai giám sát Quốc hội? Không giao cho Thủ tướng là không tin Thủ tướng (!?) và Nguyễn Văn An, Chủ tịch Quốc hội cười khà đưa ra ví dụ chân ga, chân phanh (chân hãm, chân phát động) mà báo chí nịnh bợ khen nức nở. Thật ra cả tay lái, chân ga, chân phanh vẫn chỉ ở một anh tài xế. Ba cái chiếu tam quyền phân lập được mấy ông chủ trải ra và bảo: anh này ngồi chiếu này, anh kia chiếc kia… điển hình là câu nói nổi tiếng của Đỗ Mười: “Cho Khải làm thủ tướng thêm vài năm nữa”, và “Nó – tức Phiêu – lật tôi, nên tôi lật nó”. Cho nên tất cả chẳng qua chỉ là trò “lục sở”, ga với phanh gì?

    Ông Chính đòi đa nguyên, đa đảng cũng là nói lên cái tâm nguyện thầm kín của hầu hết tầng lớp nhân dân bao nhiêu lâu nay, kể cả đảng viên, lớp già thì quá chán ngán vì lý tưởng bị phản bội, lớp trẻ thì vào Đảng để được yên ổn, vào vì đồng lương, chức vụ, đi công tác nước ngoài v.v… Cứ thử tổ chức trưng cầu dân ý, có giám sát nghiêm ngặt của Liên Hiệp Quốc xem, xem “độc đảng” được bao nhiêu xu phiếu? Trưng cầu dân ý ư? Họ sẽ tru lên như kẻ mắc bệnh dại sợ gió, lên tiếng phản đối, đấy là xâm phạm chủ quyền… giống như xưa kia họ đã từng lên tiếng bác bỏ ông hoàng Phu Ma vu khống Bắc Việt đưa quân sang Lào.

    Họ sẽ nhân danh “chính phủ của dân, do dân, vì dân” mà bác bỏ. Thuổng được mấy cái khẩu hiệu trong bài diễn văn của tổng thống Abraham Lincoln tại Gettysburg ngày 19.11.1863 (government of the people, by the people, and for the people), thời Đỗ Mười lên Tổng Bí thư, họ không ngớt nhai đi nhai lại, làm như đó là do Đảng của họ nghĩ ra, để bịp dân và để bác bỏ và bác bỏ. Nào, có giỏi cãi nhau xem ai thắng ai thua? Gần sáu trăm tờ báo, gần bẩy chục đài truyền hình, truyền thanh lớn nhỏ, rồi thông tấn xã, tất cả đều trong tay Đảng, sẽ được lệnh mở hết công suất và chiết áp, không sợ rát họng khản cổ, kéo dài bao lâu cũng được, xem ai phát ngán trước.

    Mà thôi, có lẽ nên dừng bút, bởi có chẻ hết trúc Nam Sơn… cũng chẳng viết xong, hơn nữa không khéo bị gán cho tội “nhận tiền hối lộ của ông Chính”, thì có thanh minh cũng không có chỗ, chứ đâu có thể trở mặt như ông Đỗ Mười bị tố giác là nhận quà biếu một triệu đô la của Hàn quốc, mặc dù ông có dùng một phần nhỏ ủng hộ xây trường học cho các cháu, giống như Khánh trắng xây nhà từ thiện cho mấy bà mẹ liệt sĩ trước đây. [/align]

    © 2005 talawas
    [/align]http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=5720&rb=0401[/align]
    Đăng nhập để trả lời
    0
    <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-12-12 07:21:28Ngọc Lý>
    Nguyễn Văn Đài
    Bách khoa toàn thư mở Wikipedia


    [/align]
    [/align]Luật sư Nguyễn Văn Đài
    là một người bất đồng chính kiến
    Việt Nam.

    Mục lục
    [/align]
      1 Tiểu sử
      2 Hoạt động
      3 Vụ án Nguyễn Văn Đài-Lê Thị Công Nhân
      4 Theo hệ thống truyền thông của Nhà nước Việt Nam
      5 Theo hệ thống truyền thông nhà nước không quản lý được
      6 Ghi chú
      7 Tham khảo
       
      Tiểu sử


      Nguyễn Văn Đài sinh năm 1969 tại xã Giã Trạch, huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên, trong một gia đình công chức. Sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học, ông từng làm việc tại Cộng hòa Dân chủ Đức trong một thời gian. Sau khi bức tường Berlin sụp đổ, ông trở về Việt Nam và theo học Đại học Luật. Năm 1995, tốt nghiệp đại học, ông làm việc cho một số văn phòng luật sư. Tuy nhiên, khởi đầu ông không là thành viên của Đoàn Luật sư Hà Nội[1]. Đến năm 1999, ông xin làm thành viên đoàn luật sư tỉnh Vĩnh Phúc, năm 2002 thì chuyển về Đoàn Luật sư Hà Nội. Năm 1997, ông tự ứng cử đại biểu cho Quốc hội Việt Nam khóa XI nhưng không trúng cử. Ông thành lập và làm giám đốc Công ty TNHH Dịch thuật và Tư vấn Việt Luật; đồng thời là Trưởng Văn phòng Luật sư Thiên Ân, có trụ sở tại số 10 Đoàn Trần Nghiệp, Hà Nội.

      Hoạt động


      Từ năm 1999, Luật sư Nguyễn Văn Đài đã tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ tự do tôn giáo tại Việt Nam. Ông là luật sư bào chữa trong vụ xử Mục sư Nguyễn Hồng Quang và nhà truyền đạo Phạm Ngọc Thạch năm 2004. Ông cũng là thành viên của Hiệp hội Luật sư Cơ đốc Quốc tế, Hội Luật sư Cơ đốc Châu Á.

      Tháng 4 năm 2004, ông cùng với 11 luật sư thành lập nhóm "Luật sư Vì Công lý", nhưng sau đó 11 luật sư này đều rút tên vì sợ[cần chú thích] bị thu giấy phép hành nghề.

      Luật sư Nguyễn Văn Đài đã viết một số bài nghiên cứu luật học về các quyền tự do chính trị ở Việt Nam. Trong một bài viết năm 2006, ông khẳng định rằng tuy Điều 4 của Hiến pháp 1992 của nhà nước Công hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhưng nó không ngăn cấm công dân Việt Nam thành lập các chính đảng mới. Ông lấy dẫn chứng là sự tồn tại của Đảng Dân chủ Việt NamĐảng Xã hội Việt Nam cho đến năm 1988 đã không vi phạm điều đó (đã ghi trong bản Hiến pháp 1980). Vì thế, ông cho rằng tuy chưa có hướng dẫn cụ thể, các công dân Việt Nam đều có quyền tuyên bố thành lập đảng chính trị mà không cần phải xin phép nhà nước. Tuy không trực tiếp tham gia, Luật sư Nguyễn Văn Đài sẵn sàng tư vấn về mặt pháp lý cho các đảng phái mới thành lập.

      Luật sư Nguyễn Văn Đài đã góp phần đáng kể cho sự ra đời của Khối 8406 và Tuyên ngôn Tự do Dân chủ 2006. Ban đầu nhóm chỉ có 118 thành viên là người Việt trong nước. Đến ngày 22 tháng 8 năm 2006, số thành viên công khai đã lên đến 1951 thành viên là người Việt trong nước. Ngoài ra, nhóm cũng đã có 3881 thành viên công khai là người Việt đang sinh sống ở nước ngoài. Cùng với 139 chính khách quốc tế bao gồm đại diện các tổ chức, 50 nhân sĩ Hiến chương 77 Tiệp Khắc và 50 dân biểu, nghị sĩ Hoa Kỳ[2]. Ngoài ra, Luật sư Nguyễn Văn Đài cũng đã hỗ trợ cho sự ra đời của các tổ chức công nhân và bảo vệ nhân quyền như "Công đoàn Độc lập", "Ủy ban Nhân quyền Việt Nam", "Liên minh dân chủ nhân quyền Việt Nam". Trước khi bị bắt, ông làm biên tập viên cho báo Tự do dân chủ và cộng tác viên của báo Tự do ngôn luận. Ông đã được nhận giải thưởng nhân quyền Hellman-Hemmet của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch)[cần chú thích].

      Vụ án Nguyễn Văn Đài-Lê Thị Công Nhân

      Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và tổ chức xong Hội nghị Thượng đỉnh châu Á-Thái Bình Dương vào cuối năm 2006, khoảng hai mươi nhà hoạt động vì dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo đã bị bắt và truy tố.[cần chú thích]

      Ngày 3 tháng 2 năm 2007, công an[cần chú thích] đã khám xét văn phòng của luật sư Thiên Ân trong khi luật sư Lê Thị Công Nhân (cộng sự của luật sư Nguyễn Văn Đài) đang giúp cho một số sinh viên tìm hiểu về nhân quyền, tịch thu các tài liệu của ông. Ngày 6 tháng 2 năm 2007, Luật sư Nguyễn Văn Đài bị bắt cùng với luật sư Lê Thị Công Nhân. Ngày 28 tháng 2 năm 2007, phòng Đăng ký kinh doanh thuộc sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội ra quyết định và thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Dịch thuật và Tư vấn Việt Luật mà ông Đài là thành viên. Trong thời gian bị tạm giam, thân nhân của hai luật sư cũng bị ngăn cản[cần chú thích] tiếp xúc với phái đoàn nghị sỹ Quốc hội Mỹ sang Việt Nam.

      Ngày 11 tháng 5, TAND thành phố Hà Nội đã tuyên án Nguyễn Văn Đài 5 năm tù giam.
       
      Ngày 27 tháng 11, 2007, dưới áp lực của quốc tế, Phiên Tòa Phúc Thẩm của CSVN giảm 1 năm tù giam cho án của Luật Sư Nguyễn Văn Đài, tuy ông cương quyết không nhận là mình phạm tội chỉ vì tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ dựa trên Hiến Pháp Việt Nam và Công Pháp Quốc Tế (phụ chú của Ngọc Lý).

      Theo hệ thống truyền thông của Nhà nước Việt Nam

      Các đài phát thanh, truyền hình và hơn 600 tờ báo của nhà nước Việt Nam đều đưa tin: Vụ án hình sự xét xử Nguyễn Văn Đài-Lê Thị Công Nhân tiến hành vào ngày 11 tháng 5 năm 2007, Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội bố trí một căn phòng lớn, có màn hình truyền hình ảnh trực tiếp từ phòng xét xử, để các nhà báo có thể theo dõi các diễn biến chính của phiên toà. Theo bản cáo trạng số 28/CT-VKS-P2 ngày 23 tháng 4 năm 2007 của Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố Hà Nội, do Phó Viện trưởng Vũ Thị Đức ký, các bị cáo đã có các hành vi tàng trữ các tài liệu có nội dung xuyên tạc lịch sử dân tộc, bôi nhọ chế độ xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, vu cáo xuyên tạc chính sách của Nhà nước đối với tổ chức công đoàn và giai cấp công nhân Việt Nam; bên cạnh đó, các bị cáo đã nhiều lần trả lời phỏng vấn các đài, báo nước ngoài và đã viết, tán phát các tài liệu có nội dung tuyên truyền kích động nhằm chống Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. . Qua thống kê sơ bộ[cần chú thích], Nguyễn Văn Đài đã nhận 60.000 USD của các Tổ chức "Mạng lưới nhân quyền Việt Nam", "Họp mặt dân chủ" và "Ủy ban cứu trợ thuyền nhân Việt Nam" ở Mỹ.

      Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2006, Nguyễn Văn Đài đã nhận được gần 19.000 USD tiền "trả công" của các đối tượng phản động bên ngoài[3].

      Ông Nguyễn Trọng Tỵ Chủ nhiệm Đoàn luật sư Hà Nội đã có viết một bài "phê phán sự ngông cuồng, vô ơn bội nghĩa" của Nguyễn Văn Đài trên Báo Pháp luật Việt Nam và đề nghị: "Đã đến lúc Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội và cơ quan quản lý Nhà nước cần có biện pháp thích hợp không để cho Nguyễn Văn Đài lợi dụng danh nghĩa luật sư Hà Nội đi sâu vào con đường tội lỗi[4].

      Theo hệ thống truyền thông nhà nước không quản lý được

      Luật sư Nguyễn Văn Đài và luật sư Lê Thị Công Nhân bị bắt cùng ngày 6 tháng 3 với cáo buộc là họ đã từng sử dụng văn phòng luật Thiên Ân của luật sư Đài để “đào tạo về dân chủ và nhân quyền cho sinh viên ở Hà Nội”. Hai luật sư này cũng bị cáo buộc đã “kêu gọi người dân tẩy chay cuộc bầu cử đại biểu quốc hội khóa XII”[2] [3].

      Tại phiên xử, luật sư Đài được hãng AP trích lời thừa nhận có lưu giữ tài liệu ủng hộ dân chủ và gặp gỡ một số sinh viên Việt Nam, ông cũng nói là ông không vi phạm bất kỳ luật nào mà chỉ đơn thuần thực hiện quyền tự do ngôn luận và quyền lập hội.

      Có người cho rằng "phiên tòa quả là một điều bỉ ổi và sỉ nhục cho cả dân tộc Việt Nam về cái gọi là sự công minh [4] [5], một phiên tòa diễn ra tranh luận không quá một giờ đồng hồ cho các luật sư bào chữa được phép trình bày [6]. Đặc biệt là sự chụp mũ của Viện Kiểm sát Nhân dân TP Hà Nội và của chủ tọa phiên tòa là cứng nhắc, cả vú lấp miệng em, cho thấy một sự dập khuôn bản án đã định trước, từ trên xuống. Tại sao đến thời đại ngày nay khi mà cả loài người trên thế giới đều rất văn minh và tiến bộ được hưởng hầu hết các giá trị nhân quyền, dân chủ, tự do, thì người dân Việt Nam chỉ vì nói lên quan điểm, chính kiến của mình lại bị nhà nước và đảng Cộng sản Việt Nam khép tội "tuyên truyền chống phá nhà nước". Theo Việt báo những hành động đó của bộ máy cầm quyền hiện nay của nhà nước chỉ có thể là sự chà đạp lên chính Hiến pháp, luật pháp của mình và luật pháp quốc tế mà chính quyền Việt Nam đã ký kết, có nghĩa vụ phải tuân thủ và áp dụng"[7].

      Nhà bất đồng chính kiến Phạm Quế Dương nói: ”những hoạt động của Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân là những hành động rất dũng cảm, trí tuệ, và họ đúng là những con người anh hùng. Bởi vì vấn đề dân chủ và vấn đề nhân quyền hiện nay là vấn đề bức xúc của nhân dân Việt Nam. Thế mà có những người rất trẻ như luật sư Nguyễn Văn Đài, như luật sư Lê Thị Công Nhân (27 tuổi) dám nói ra những vấn đề sự thật như vậy, lột trần tất cả những vi phạm nhân quyền và dân chủ của đảng Cộng sản và của chính phủ Việt Nam này ra; cho nên tôi hoàn toàn ủng hộ Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân”[8].

      Việc ông và luật sư Lê Thị Công Nhân bị bắt giữ, bỏ tù đã có dư luận phản đối, một số tổ chức quốc tế lên tiếng phản đối và kêu gọi chính quyền Việt Nam trả tự do cho hai người và một số nhân vật bất đồng chính kiến khác, trong đó có Quốc hội Hoa Kỳ[5], Liên minh Châu Âu[6], Ân xá Quốc tế[7], Tổ chức Theo dõi Nhân quyền[8].

      Ghi chú

      Nguyễn Văn Đài - kẻ cơ hội và ngông cuồng (Bài 1)
      [1]
      Nguyễn Văn Đài - kẻ cơ hội và ngông cuồng
      Nguyễn Văn Đài - kẻ cơ hội và ngông cuồng (Bài 1)
      House Res 243
      Liên minh Châu Âu (15 tháng 5, 2007). Declaration by the Presidency on behalf of the EU on the sentencing of human rights defenders in Viet Nam. Được truy cập ngày 2007-06-23.
      Ân xá Quốc tế (24 tháng 4, 2007). Viet Nam: Silenced critics must be released. Được truy cập ngày 2007-06-23.
      Vietnam: Crackdown on Dissent in Wake of WTO and APEC”, 9 tháng 3, 2007. Địa chỉ URL được truy cập 2007-06-23.



      Tham khảo

      Lấy từ “http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_V%C4%83n_%C4%90%C3%A0i
      [/align]
      Thể loại: Bài cần chú thích nguồn gốc | Sinh 1969 | Nhân vật bất đồng chính kiến Việt Nam

      [/align][/align]
      Đăng nhập để trả lời
      0
      <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-12-26 00:26:57Ngọc Lý>
       
      ANH HÙNG LỊCH SỬ: NGUYỄN THÁI HỌC
      Kế hoạch 'dân chủ hóa Đông Dương'
      Nguyễn Ðại Việt
      BBC - 25/12/2007


      Nguyễn Thái Học đã muốn lập nhà nước dân chủ từ 80 năm trước

      Ngày 25/12 năm nay đánh dấu tròn 80 năm ngày thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng mà người sáng lập là Nguyễn Thái Học. Ông Nguyễn Đại Việt, độc giả thường xuyên của bbcvietnamese.com và thành viên của Nguyễn Thái Học Foundation có bài viết sau đây, thể hiện quan điểm của cá nhân ông về Nguyễn Thái Học.
       

      [/align]Nguyễn Thái Học, một sinh viên, và là một trong những nhà cách mạng và lãnh tụ có tầm vóc và trẻ tuổi nhất trong lịch sử đấu tranh cho dân chủ và tự do của nhân loại trong đầu thế kỷ 20.

      Ông sáng lập, chỉ huy, và lãnh đạo Việt Nam Quốc Dân Đảng trong cuộc khởi nghĩa giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của người Pháp, giành lại chủ quyền cho Việt Nam.

      Cuộc nổi dậy và tổng tấn công được phát động vào ngày 10 tháng 2 năm 1930 diễn ra trên toàn cõi Bắc Kỳ, sau này được lịch sử mệnh danh là cuộc Tổng Khởi Nghĩa Yên Bái. Cuộc tổng khởi nghĩa này là một kế hoạch nằm trong sách lược Dân Chủ Hoá Đông Dương của Nguyễn Thái Học.

      Sau khi triều đình nhà Nguyễn bị ép buộc ký hoà ước Nhâm Tuất năm 1862, hợp thức hoá sự cai trị của Pháp tại Việt Nam, trong suốt thời gian từ năm đó cho đến trước năm 1930, các phong trào đấu tranh chống Pháp được dấy lên liên tục.

      Mục đích của tất cả các cuộc đấu tranh là đánh đuổi người Pháp giành lại chủ quyền cho Việt Nam. Hầu hết lãnh tụ các cuộc kháng chiến trong thời gian này đều có khuynh hướng duy trì chế độ quân chủ phong kiến sau khi thành công.

      Trong khi đó, ngoài mục đích giành lại độc lập cho đất nước và tự do cho dân tộc, cuộc Tổng Khởi Nghĩa Yên Bái còn mang một sắc thái mới, một sắc thái cách mạng đúng nghĩa, đó là thay chế độ phong kiến bằng một thể chế dân chủ tiến bộ mà hiện nay nhân loại đang cổ súy.

      Việt Nam ngày ấy

      Vào thời điểm khi cuộc Tổng Khởi Nghĩa Yên Bái xảy ra, thế giới còn phân hoá, chậm tiến, và chưa có công pháp quốc tế như bây giờ. Thời kỳ này là thời kỳ của quyền lực, tiêu diệt, và thống trị, điển hình qua chính sách thuộc địa, một chính sách được các cường quốc, đặc biệt là các cường quốc tây phương, cổ cõ và triệt để ủng hộ.

       Người Việt tự do nên có một biểu tượng. Người sinh viên anh hùng Nguyễn Thái Học là một biểu tượng thích hợp nhất cho phong trào đấu tranh cho tự do và dân chủ của Việt Nam.

      [/align] 
      Nói một cách khác, đây là thời kỳ mà các cường quốc tranh nhau đi chinh phục các nước nhược tiểu, hỗ trợ nhau trong việc cai trị để khai thác tài nguyên của các thuộc địa và dân bản xứ.

      Nhìn chung, thế giới đang ở trong một hoàn cảnh khá hỗn loạn và phức tạp, bao gồm nhiều khuynh hướng chính trị, kinh tế, và xã hội khác nhau. Một trong những khuynh hướng ấy là khuynh hướng đòi lại Tự do và giành lại Độc lập của dân các nước thuộc địa.

      Khi ấy, cụm từ "độc lập tự do" trở nên phổ biến, được dùng làm khẩu hiệu, và thường xuyên được thấy trên đôi môi và trong giấc mơ của người dân bản xứ.

      Việt Nam thuở bấy giờ là một nước nhỏ, nghèo nàn, lạc hậu ở Đông Dương, và bị người Pháp đô hộ và cai trị trong một thời gian dài.

      Lúc ấy khái niệm về độc lập tự do tương đối dễ hiểu đối nhưng khái niệm về dân chủ thì còn quá mới mẻ và xa lạ, nếu không nói là mơ hồ đối với một xã hội mà đa số là nông dân và thất học. Thành phần được đi đến trường rất hiếm hoi, nhất là các trường do Pháp thành lập và bảo hộ.

      Tệ hơn nữa, sống trong một chế độ phong kiến, người dân Việt Nam còn chịu thêm sự áp bức và bóc lột bởi chế độ thuộc địa của người Pháp.

      Trong một hoàn cảnh xã hội như vậy, người ta khó lòng để mường tượng, chứ đừng nói đến lĩnh hội được cái khái niệm dân chủ trừu tượng và mơ hồ kia. Đây là một hiện thực và là một thảm trạng chung của dân tộc ba nước Việt Nam, Lào và Cambodia, thường được gọi là ba nước Đông Dương vào những năm của thập niên 1920.

      Nguyễn Thái Học lập đảng

      Sự khai thác và bóc lột của chính sách thuộc địa là nguyên nhân chính đưa đến các cuộc khởi nghĩa liên tục trong suốt thời gian người Pháp cai trị Việt Nam.



      [/align]
      Nguyễn Thái Học lập Việt Nam Quốc Dân Đảng ở Hà Nội

      Đa số các cuộc khởi nghĩa được tổ chức và tham gia bởi hầu hết các tầng lớp của xã hội, bao gồm công nhân, nông dân, học sinh, sinh viên, và giới sĩ phu.

      Năm 1927, Nguyễn Thái Học, một sinh viên của trường cao đẳng thương mại do Pháp bảo hộ, cùng với một số sinh viên và các thành phần yêu nước của hai vùng Bắc Kỳ và Trung Kỳ, bí mật thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng, một đảng cách mạng, với mục đích giải phóng đất nước khởi sự thống trị của người Pháp và thay thế chế độ quân chủ phong kiến bằng một chế độ dân chủ.

      Căn cứ theo sử liệu thì Nguyễn Thái Học và các đồng chí của ông đã hoạch định sẽ thiết lập một thể chế Dân Chủ ở Việt Nam, Lào và Cambodia sau khi thành công trong việc đánh đuổi người Pháp ra khỏi Đông Dượng. Nói một cách khác, người sinh viên Nguyễn Thái Học muốn giải phóng và dân chủ hoá toàn cõi Đông Dượng. Ông đã khai triển sách lược này bằng cuộc Khởi Nghĩa Yên Bái vào ngày 10 tháng 2 năm 1930.

      Thực vậy, trong ngày thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng, và cũng là kỳ đại hội lần thứ nhất của đảng cách mạng này, được tổ chức bí mật vào ngày 25 tháng 12 năm 1927 tại Hà Nôi, Nguyễn Thái Học được bầu làm chủ tịch, và dưới sự lãnh đạo của ông, tất cả các đại biểu đã cùng vạch ra mục tiêu đấu tranh cho tổ chức của họ và được ghi lại trong văn kiện sau đây:

      “Mục đích và tôn chỉ của Đảng là làm một cuộc cách mạng quốc gia, dùng võ lực đánh đổ chế độ thực dân phong kiến, để lập nên một nước Việt Nam Cộng Hòa. Đồng thời giúp đỡ các dân tộc bị áp bức trong công cuộc tranh đấu giành độc lập của họ đặt biệt là các lân quốc: Ai Lao và Cao Miên.” (1)

      Suốt thời gian bị cai trị, người Việt đã biết bao lần sử dụng phương thức ngoại giao, thương thảo, và điều đình với Pháp để đòi lại chủ quyền nhưng đều thất bại.

      Người Pháp không chấp nhận bất kỳ hình thức ngoại giao nào của người bản xứ nếu sự thương thuyết ấy có liên quan đến việc trả lại chủ quyền cho dân tộc đó.

      Lý do đơn giản là họ muốn duy trì chính sách thuộc địa, khai thác tài nguyên của các nước nhược tiểu và dân bản xứ, nhằm phục vụ việc phát triển kinh tế của nước Pháp.

      Do vậy, họ không bao giờ có ý định rời bỏ Đông Dương. Trường hợp của Nguyễn Thái Học cũng không ngoại lệ. Ông cũng đã gặp và viết thư cho Varenne, toàn quyền Đông Dương, nhưng đã không nhận được một sự trả lời nào cả. Vì không còn giải pháp nào khác nên Nguyễn Thái Học và các đồng chí quyết định làm một cuộc cách mạng vũ trang, đánh đuổi người Pháp ra khỏi Việt Nam.

      Liên minh Đông Dương



      Không những chỉ đánh đuổi người Pháp ra khỏi đất nước, người sinh viên 25 tuổi còn muốn giúp các dân tộc trong vùng đang bị đô hộ giành lại độc lập và tự do cho quốc gia họ.

      Lào và Cambodia là hai quốc gia láng giềng của Việt Nam và cũng là những thuộc địa của Pháp.

      Nói một cách khác, văn kiện trên đây chứng tỏ công cuộc giải phóng toàn cõi Đông Dương khỏi ách thống trị của Pháp là một trong hai mục tiêu đấu tranh chính của Việt Nam Quốc Dân Đảng.

      Có hai lý do để Nguyễn Thái Học quyết định giải phóng Đông Đượng. Ngoài lý do “thấy cảnh bất bình rút đao tương trợ”, người ta có thể hiểu là việc giải phóng Lào và Cambodia nằm trong mục tiêu chiến lược, liên quan đến nền độc lập và hoà bình lâu dài cho Việt Nam.

      Lãnh tụ họ Nguyễn và Việt Nam Quốc Dân Đảng không thể không nhìn thấy thế chiến lược quan trọng về phương diện chính trị và quân sự của ba nước Đông Dương đối với cuộc đấu tranh cách mạng của họ. Ông và các đồng chí chắc chắn đã nhận định rằng độc lập, tự do, và nền dân chủ ở Lào và Cambodia liên quan mật thiết đến độc lập, tự do, và thể chế dân chủ của Việt Nam.

      Do đó, quyết định hỗ trợ Lào và Cambodia đánh đuổi người Pháp là một nhận định khôn ngoan và thật cần thiết.
      Thật vậy, khi nhìn vào vị trí của ba nước này trên bản đồ thì bất kỳ người nào, không cần phải là một nhà quân sự lỗi lạc, cũng có thể lập luận là nếu chỉ đánh đuổi người Pháp ra khỏi Việt Nam, không sớm thì muộn, từ thuộc địa Lào và Cambodia, chắc chắn họ sẽ trở lại Việt Nam.

      Từ trước đến nay, Lào và Cambodia luôn luôn được xem là những quốc gia vô cùng quan trọng trong chiến lược phòng thủ biên giới trọng yếu phía Tây của nước Việt.

      Việt Nam Cộng Hòa


      Khi người ta nói đến thể chế Cộng Hòa có nghĩa là người ta đang nói về chế độ Dân Chủ. Cộng Hòa là một tên gọi khác của Dân Chủ. Mục đích đấu tranh thứ hai của Việt Nam Quốc Dân Đảng, theo văn kiện trích dẫn trên đây, là thành lập một nước Việt Nam Công Hòa sau khi thành công trong việc đánh đuổi người Pháp ra khỏi Đông Dượng.
      Mục tiêu này diễn tả đầy đủ tính chất cách mạng của tổ chức mà họ thành lâp. Cách mạng là thay đổi cái cũ lạc hậu bằng cái mới tốt đẹp và văn minh hơn.

      Cuộc cách mạng của họ là thay chế độ quân chủ phong kiến bằng chế độ dân chủ sau khi mục tiêu thứ nhất được hoàn thành.

      Tuy văn kiện không nói rõ việc thành lập nền Cộng Hòa hay Dân Chủ ở Lào và Cambodia, nhưng từ mục đích hỗ trợ dân tộc của hai quốc gia láng giềng giải phóng đất nước của họ, thêm sự phân tích tư thế chiến lược của ba nước đã được trình bày, cho phép người ta suy luận rằng Việt Nam Quốc Dân Đảng sẽ giúp đỡ và hỗ trợ phong trào hoặc đảng phái nào có khuynh hướng đấu tranh cách mạng tương tự như của họ.

      Vả lại, một khi công cuộc giải phóng thành công, chắc chắn mối quan hệ giữa ba nước này sẽ trở nên mật thiết hơn. Việt Nam sẽ được xem là một nước láng giềng tốt, và là một đồng minh đáng tin cậy trong việc bảo vệ, canh tân, và phát triển đất nước của họ, cũng như của cả Đông Dương.

      Lập luận xây dựng một thể chế Dân Chủ ở ba quốc gia sau khi Nguyễn Thái Học thành công trong việc giải phóng Đông Dương là một lập luận hợp lý. Điển hình, Cộng sản quốc tế và Cộng sản Trung quốc hỗ trợ đảng Cộng sản Việt Nam, đảng Cộng sản Việt Nam hậu thuẫn đảng Cộng sản Lào và đảng Cộng sản Cambodia. Kết qủa là tất cả các quốc gia này đều theo chế độ Cộng sản.

      Ba thời kỳ


      Cũng trong đêm 25 tháng 12 năm 1927, sau khi đưa ra mục tiêu đấu tranh đánh đuổi người Pháp ra khỏi Việt Nam, Lào và Cambodia, Nguyễn Thái Học cùng với 36 đại biểu đại diện cho 14 tỉnh Bắc Kỳ và Trung Kỳ, đa số cùng trạc tuổi với ông, vạch ra một lộ trình cho Việt Nam Quốc Dân Đảng, nhằm thực hiện mục tiêu của sách lược Dân Chủ Hoá Đông Dương.

      Trong đêm lịch sử ấy, họ đã chia lộ trình của cuộc đấu tranh làm nhiều giai đoạn. Giai đoạn cuối của lộ trình là công cuộc kiết thiết đất nước được chia làm ba thời kỳ và ghi lại trong văn kiện sau:

      1) Thời kỳ Quân chính: Quân cách mạng chiếm được đến đâu là lập ngay chính quyền cách mạng quân sự đến đó.


      2) Thời kỳ Huấn chính: Tổ chức các cơ cấu dân cử, trực tiếp hoặc gián tiếp giáo hoá dân quen với nếp sống dân chủ về các thể chế mới, v.v… Trong hai thời kỳ này áp dụng nguyên tắc “Dĩ Đảng Trị Quốc.”

      3) Thời kỳ Hiến chính: Tổ chức phổ thông đầu phiếu bầu cử Quốc Dân Đại hội, xây dựng Hiến pháp và trao trả chính quyền lại cho toàn dân. (2)


      Trong ba thời kỳ của giai đoạn kiết thiết, thì hai thời kỳ sau là đáng chú ý; vì nó đề cập đến việc thành lập một thể chế dân chủ cho Việt Nam.

      Nội dung của thời kỳ Huấn chính chứng tỏ là họ đã nghiên cứu những khó khăn trong quá trình thay đổi chế độ từ phong kiến sang dân chủ. Cái khó khăn nhất mà họ đương đầu là nâng cao trình độ văn hoá và kiến thức của người dân.

      Điều này được diễn tả trong văn kiện khá rõ ràng qua kế hoạch tổ chức các cơ cấu dân cử, cũng như kế hoạch giáo hóa người dân về bổn phận, trách nhiệm, và quyền hạn của họ trong một chế độ dân chủ. Đó cũng là lý do tại sao họ đưa ra chính sách "Dĩ Đảng Trị Quốc" trong giai đoạn này.

      Thời kỳ này là giai đoạn đất nước chuyển tiếp từ chế độ quân chủ phong kiến sang chế độ dân chủ.

      Đòi hỏi một sự chuẩn bị công phu và chu đáo để trang bị những kiến thức căn bản về dân chủ cho người dân. Giai đoạn chuyển tiếp là giai đoạn tranh tối tranh sáng.

      Quyền dân chủ có thể bị vi phạm một cách nghiêm trọng vì vô tình hoặc cố ý. Không cẩn thận thì đất nước sẽ rơi vào hoàn cảnh rối loạn, xã hội mất an ninh trật tự, cuộc sống người dân sẽ bất ổn.

      Do đó, chủ trương nắm quyền điều khiển đất nước của họ trong giai đoạn ấy là hợp lý. Đây có lẽ là thời kỳ quan trọng nhất trong giai đoạn kiến thiết. Qua sự phân tích trên, người ta nhận thấy Nguyễn Thái Học và các đồng chí của ông đã thấy được những ưu điểm của thể chế dân chủ, nên họ đã nghiên cứu kỹ lưỡng về thể chế tiến bộ đó và những đòi hỏi căn bản cần thiết của nó trước khi vạch ra lộ trình cho sách lược Dân Chủ Hoá Đông Dương.
      Thời kỳ Hiến chính là giai đoạn cuối của giai đoạn kiến thiết. Chế độ Dân chủ được hình thành, được mô tả một cách rõ nét và dễ hiểu qua cách bầu cử với hình thức phổ thông đầu phiếu Quốc Dân Đại Hội, mà bây giờ được gọi là Quốc Hội. Cơ quan này sẽ do dân bầu ra, và sẽ giữ nhiệm vụ soạn thảo hiến pháp.

      Đó là hình ảnh của một thể chế Dân chủ. Một sự kiện quan trọng khác cũng được đề cập đến trong giai đoạn này là việc họ khẳng định Việt Nam Quốc Đảng sẽ rút lui, trao trả chính quyền lại cho toàn dân sau khi nhiệm vụ cách mạng của họ đã hoàn tất. Đây là hình ảnh của một cuộc cách mạng chân chính.

      Nội dung của hai giai đoạn Huấn chính và Hiến chính tuy đơn giản nhưng đã cho người ta hình dung được một thể chế dân chủ rõ ràng, nói lên sự quyết tâm của Nguyễn Thái Học và Việt Nam Quốc Dân Đảng về việc xây dựng thể chế này ở Đông Dương. Họ đã đưa ra những căn bản được tìm thấy trong các chế độ dân chủ của các quốc gia tiến bộ trong thế kỷ 21.

      Chẳng hạn như hình thức phổ thông đầu phiếu, bầu cử Quốc Hội, soạn thảo hiến pháp, là những điều không thể tìm thấy trong chế độ phong kiến cũng như dưới chế độ Cộng sản.

      Nhìn xa trông rộng


      Trong thế kỷ 21, tiến bộ và văn minh của nhân loại được xem là vượt bực so với so với những năm của thập niên 1920.

      Đó là nhờ khái niệm dân chủ được phổ biến, khuyến khích, và áp dụng một cách rộng rãi trên toàn cầu. Khái niệm dân chủ bây giờ không còn là điều mơ hồ và khó hiểu như những năm tháng đưới chế độ thuộc địa nữa.

      Thật vậy, dẫu cho các văn kiện được chuyển dịch sang bất kỳ ngôn ngữ nào chăng nữa, cái ý nghĩa nguyên thuỷ của văn kiện vẫn không thay đổi. Tóm lại, kết qủa sự nghiên cứu và phân tích các văn kiện cho phép người ta đã khẳng định là:

      Người sinh viên 25 tuổi Nguyễn Thái Học, lãnh tụ của Việt Nam Quốc Dân Đảng, đã vạch ra sách lược dân chủ hóa toàn cõi Đông Dương vào năm 1927.

      Từ sự khẳng định này, người ta không do dự khi kết luận rằng, cuộc Tổng Khởi Nghĩa Yên Bái không đơn thuần là chỉ đánh đuổi Pháp giành lại tự do độc lập cho Việt Nam, mà mục tiêu xa hơn của Việt Nam Quốc Dân Đảng là:

      Thực hiện một cuộc cách mạng thay chế độ quân chủ và thuộc địa bằng một thể chế dân chủ tiến bộ mà hiện nay nhân loại đang cổ súy.

      Phân tích lại lịch sử, người ta sẽ không lấy làm lạ về cái tư tưởng dân chủ rất mạnh mẽ, cũng như cái viễn kiến của Nguyễn Thái Học về một tương lai sáng sủa, tốt đẹp của Việt Nam trong một chế độ dân chủ. Là một sinh viên theo Tây học, sống trong chế độ phong kiến và thuộc địa, nên chắc chắn ông đã được trang bị một kiến thức khá bao quát về tình hình kinh tế và chính trị của Đông Dương và thế giới lúc đó.

      Nguyễn Thái Học đã lĩnh hội những ưu và khuyết điểm từ chế độ phong kiến đến chế độ thuộc địa, từ chủ nghĩa Xã Hội đến Nguyên Tắc Tam Dân của Tôn Dật Tiên, từ phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục của Phan Chu Trinh đến phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, và đặc biệt là sự hình thành của nền Dân chủ của Hoa Kỳ (1787) và thể chế Cộng hoà ở Pháp (1789).

      Một điều đáng chú ý là mặc dù chống Pháp, nhưng ông rất thích đọc và nghiên cứu cuộc cách mạng của nước này (3). Bên cạnh đó, vì là sinh viên, nên bạn bè và những đồng chí của ông đa số cũng nằm trong giới sinh viên theo Tây học, trong số đó có người từng đi du học ở Pháp về. Sống và sinh hoạt trong một môi trường như vậy, nên khái niệm dân chủ tiến bộ đã sớm được hình thành trong tư tưởng của người lãnh tụ trẻ tuổi này.

      Qua hình ảnh trên, người ta có thể hình dung là tư tưởng của Nguyễn Thái Học chịu ảnh hưởng của nền Dân chủ Hoa Kỳ, thể chế Cộng hoà ở Pháp, và Nguyên Tắc Tam Dân của nhà cách mạng Tôn Dật Tiên. Cũng nên lưu ý là Tam Dân chỉ là một nguyên tắc. Nó không phải là một chủ thuyết hoặc chủ nghĩa.

      Nguyên tắc ấy đã được rút ra từ khái niệm dân chủ, để đơn giản hóa việc truyền bá tư tưởng dân chủ cho người dân Trung Hoa vào đầu thế kỷ 20. Nhà cách mạng Tôn Dật Tiên đã lĩnh hội tư tưởng dân chủ trong thời gian ông sống và lưu vong ở hải ngoại.(*)

      80 năm trước


      Tư tưởng cách mạng đã được hình thành nơi con người của Nguyễn Thái Học rất sớm. Ông đã có tư tưởng cách mạng khi mới mười tuổi (4). Đây là một sự kiện đặc biệt, đáng chú ý.

      Chi tiết này chứng tỏ suốt 18 năm sau đó, nghĩa là cho đến ngày phát động cuộc Tổng Khởi Nghĩa Yên Bái, có lẽ tâm hồn và suy nghĩ của Nguyễn Thái Học thường xuyên bị chiếm ngự bởi tư tưởng cách mạng cùng với các khuynh hướng chính trị và thể chế xã hội khác nhau.

      Cộng thêm cái băn khoăn và mặc cảm về sự nghèo nàn lạc hậu của đất nước so với sự văn minh và giầu có của tây phương. Tất cả những ảnh hưởng và tác động đó là những nguyên nhân khiến ông quyết định làm một cuộc cách mạng dân chủ và phác họa một tương lai sáng lạn cho Việt Nam qua sách lược dân chủ hoá toàn cõi Đông Dương.

      Chế độ thuộc địa và người Pháp đã làm Việt Nam đánh mất một cơ hội hiếm có để phát triển như một số quốc gia theo chế độ dân chủ.

      Thật vậy, với đà phát triển của thế giới ngày nay, có lẽ người ta sẽ không quá chủ quan khi cho rằng, bẩy thập niên qua là thời gian đủ để cho Việt Nam xây dựng một nền tảng dân chủ vững chắc với những thế hệ của tinh thần trách nhiệm, của năng động lẫn sáng tạo.

      Với tiềm năng như vậy, nước Việt hoặc có thể đã trở thành một cường quốc kinh tế như Nam Hàn, hoặc tệ lắm thì cũng đang đứng đâu đó gần ngưỡng cửa của cộng đồng của các nước đã phát triển; đồng thời dân tộc sẽ không bị phân hóa và chia rẽ trầm trọng, đất nước cũng không đến nổi phải lâm vào cảnh nghèo nàn và lạc hậu như hôm nay.

      Đã đến lúc người Việt nên cho thế giới hiểu là không phải mới đây, mà lâu rồi, nghĩa là hơn bẩy thập niên về trước, dân tộc Việt đã lĩnh hội khái niệm dân chủ hiện đang được nhiều quốc gia cổ suý khắp nơi trên thế giới, kể cả nước Pháp.

      Thêm nữa, Việt Nam cũng nên cho thế giới biết rằng, dân tộc họ đã từng chiến đấu cho tự do dân chủ không những cho Việt Nam mà còn cho cả Đông Dương từ năm 1927.

      Làm sáng tỏ vấn đề này, quốc tế mới có cơ hội biết đến công lao và xương máu mà dân Việt đã đóng góp vào việc cổ suý phong trào dân chủ của thế giới, một đóng góp đã từng bị người Pháp ngăn cản, đàn áp, và xuyên tạc.

      Làm sáng tỏ vấn đề này, người Việt sẽ có thêm cơ hội đánh tan những suy nghĩ lệch lạc của một số người ngoại quốc cho rằng dân tộc này đã không chiến đấu cho tự do dân chủ của nước họ.

      Hơn một thập niên trở lại đây, những xung đột ở Trung Đông đã liên tiếp tạo ra các cuộc chiến ở vùng Vịnh, ở Afghanistan và Iraq, với sự tham chiến của nhiều nước trên thế giới. Những cuộc chiến tranh liên tiếp cộng thêm biến cố 911 trong năm 2001 ở Hoa Kỳ khiến người ta lo ngại trước một viễn ảnh là chiến tranh có thể ngày càng lan rộng đến các lục địa còn lại nếu quốc tế không có giải pháp kịp thời.

      Anh hùng dân tộc


      Với sự ủng hộ của đồng minh, Tổng Thống Hoa Kỳ, George W. Bush, đã tuyên bố với thế giới về sách lược Dân Chủ Hoá Toàn Cầu, được xem là một giải pháp có khả năng ngăn chặn những cuộc chiến tranh đang có nguy cơ bùng nổ trong tương lai.

      Với sách lược ấy, người ta hy vọng Hoa Kỳ đang mở ra một lộ trình mới cho thế giới, giảm bớt chiến tranh và đem lại một nền hoà bình lâu dài cho nhân loai. Thế giới vui mừng khi nghe lời tuyên bố của Tổng Thống Bush, đồng minh của Hoa Kỳ cũng hân hoan, ủng hộ, và tin tưởng vào giải pháp này.

      Tuy nhiên, vào những thập niên của đầu thế kỷ 20, ắt hẳn người ta sẽ không hân hoan khi khám phá ra rằng, trong một căn nhà nhỏ ở Hà Nội, một sinh viên Việt Nam 25 tuổi đã bí mật vạch ra sách lược Dân Chủ Hoá Đông Dương có cùng mục đích cơ bản với sách lược của thế giới hiện đang cổ súy; đó là việc đem lại dân chủ, thịnh vượng, và hoà bình cho người dân của ba nước thuộc địa Việt Nam, Lào và Cambodia.

      Tên tuổi của Nguyễn Thái Học đã đi vào lịch sử.

      Ông là người anh hùng của dân tộc và không còn là biểu tượng riêng của một đảng phái nào cả. Ngoài việc ngưỡng mộ khí tiết và cái chết hào hùng của ông, người đời sau còn ngưỡng mộ tinh thần trách nhiệm, lòng ái quốc, và viễn kiến xây dựng một thể chế dân chủ ở Đông Dương từ năm 1927 của một sinh viên, một nhà cách mạng, một lãnh tụ quê quán ở Vĩnh Yên.

      Lịch sử đấu tranh của Việt Nam không thiếu những anh hùng liệt nữ. Nhưng trong lịch sử đấu tranh cận đại của dân tộc, phong thái và tinh thần của Nguyễn Thái Học, có lẽ được xem là hình ảnh gần gũi nhất với các thế hệ sau ông.

      Tinh thần Nguyễn Thái Học nên được phát huy trong việc xây dựng và đào tạo thế hệ mai sau, vì cái vốn liếng quý giá nhất của một quốc gia là con người.

      Con người có tinh thần dân tộc, dĩ nhiên là không phải cực đoan và quá khích, càng cao thì trách nhiệm và sự quan tâm của họ đối với đất nước càng nhiều. Thật vậy, cho đến nay, lịch sử phát triển của nhân loại đã khẳng định rằng, điều kiện cần và đủ để thay đổi và biến một xứ sở đang phát triển thành một cường quốc đòi hỏi xã hội phải xuất hiện những thế hệ của tinh thần trách nhiệm và mang tư tưởng chinh phục.

      Do vậy, Việt Nam cần đào tạo tối thiểu hai thế hệ (liên tiếp) của tinh thần trách nhiệm, nghĩa là phải mất ít nhất 60 năm tính từ ngày thể chế dân chủ được xây dựng, thì đất nước này mới có cơ hội trở thành một cường quốc.

      Biểu tượng


      Trong các cuộc xuống đường đấu tranh của các dân tộc trên thế giới, ngoài lá cờ, người ta còn thấy có hình ảnh của một vị lãnh tụ hoặc một bậc anh hùng dùng làm biểu tượng của họ.

      Từ bao năm nay, các cuộc xuống đường đấu tranh của người Việt tự do vẫn còn thiếu hình ảnh một nhân vật như vậy; và đó là một thiếu sót quan trọng.

      Người Việt tự do nên có một biểu tượng. Người sinh viên anh hùng Nguyễn Thái Học là một biểu tượng thích hợp nhất cho phong trào đấu tranh cho tự do và dân chủ của Việt Nam.

      Người Việt của các thế hệ sau Nguyễn Thái Học, dù là người miền Bắc hay miền Nam, dù sống dưới bất kỳ chế độ nào, dù là Quốc gia hay Cộng sản, dù ở quốc nội hay hải ngoại, tất cả đều ca ngợi tinh thần trách nhiệm và viễn kiến của người sinh viên Nguyễn Thái Học đối với tự do dân chủ của Việt Nam và Đông Dương.

      Cuộc sống riêng tư và cuộc đời đấu tranh của ông cộng thêm cái kết thúc hào hùng ở pháp trường Yên Bái, nếu được kể lại, đôi khi người ta cứ ngỡ là một câu chuyện huyền thoại.

      Biết bao học sinh, sinh viên đã say mê và bị cái hình ảnh hào hùng này lôi cuốn trong giờ sử học ở miền Nam trong nhiều thập niên qua.

      Câu chuyện này phải được truyền tụng vì đó là sự hãnh diện và niềm tin của dân tộc.

      Tinh thần trách nhiệm


      Hoàn cảnh hiện tại của xã hội Việt Nam khiến người ta không khỏi lo âu về tiền đồ của đất nước. Cũng như người ta đang băn khoăn về thế hệ tương lai của xứ sở này.

      Việt Nam cần nhiều sinh viên Nguyễn Thái Học.

      Không phải nhiều mà là rất nhiều, hai, ba, hoặc nhiều thế hệ Nguyễn Thái Học trong mọi lãnh vực, văn hoá, khoa học, xã hội, kinh tế, chính trị, để đấu tranh và vận động tự do dân chủ, để xây dựng một thể chế dân chủ, để lãnh đạo một quốc gia dân chủ, và để thúc đẩy một Việt Nam tụt hậu bắt kịp với đà phát triển của thế giới một cách thực tế chứ không phải bằng khẩu hiệu nữa.

      Tuy nhiên, điều cần làm trước tiên là hãy trang bị cho các thế hệ tương lai một thứ vũ khi cần thiết. Thứ vũ khí ấy không phải là súng đạn, cũng chẳng phải là tranh giành và đố kỵ, càng không phải là chia rẽ và thù hận. Vũ khí ấy chính là Tinh Thần Trách Nhiệm.

      Tinh thần của Nguyễn Thái Học đã vượt qua biên giới của chính tri và thù hận. Tên của ông đã được cả hai chế độ dùng đặt cho các con đường ở hầu hết các thành phố của hai miền Nam Bắc.

      Hiện nay ở Hà Nội, đường Nguyễn Thái Học một đại lộ dài, thật đẹp, và là con đường được một số quốc gia chọn làm nơi đặt toà đại sứ. Khi chọn con đường này, có lẽ, nếu không nói là chắc chắn, họ cũng đã tìm hiểu ý nghĩa cái tên Nguyễn Thái Học, nghe kể về huyền thoại của ông, cũng như nghe nhắc đến cuộc tổng Khởi Nghĩa Yên Bái.

      Duy có điều là các quốc gia này có thể chưa được nghe kể về sách lược Dân Chủ Hoá Đông Dương từ năm 1927 của dân Việt; dân tộc duy nhất trên thế giới đã ba lần chiến thắng quân Mông Cổ; và cũng là dân tộc duy nhất còn sót lại của giòng tộc Bách Việt đã đánh bại mọi âm mưu xâm lăng và đồng hóa của Trung quốc.

      Cuộc Tổng Khởi Nghĩa Yên Bái trong sách lược Dân Chủ Hoá Đông Dương của Nguyễn Thái Học và Việt Nam Quốc Dân Đảng không những đã bắt đầu cho làn sóng đấu tranh chống Pháp với hình thức quy mô hơn, mà còn lồng vào đó một khuynh hướng xã hội và chính trị tiến bộ rõ nét, mở đầu cho một hình thái đấu tranh mới cho các phong trào đấu tranh cho dân chủ, tự do, và tiến bộ của Việt Nam trong đầu thế kỷ 20.

      Cuộc Tổng Khởi Nghĩa Yên Bái và sách lược Dân Chủ Hoá Đông Dương là các sự kiện quan trọng trong lịch sử đấu tranh cận đại của dân tộc Việt.

      Trong khi các quốc gia tiến bộ đang hô hào và cổ võ sách lược Dân Chủ Hoá Toàn Cầu, trong tình huống ấy, một cách công bằng và hợp lý, người ta cũng nên kêu gọi quốc tế nghiên cứu, đánh giá, và ghi nhận sự đóng góp quan trọng của dân tộc Việt và của nhà cách mạng, người sinh viên anh hùng Nguyễn Thái Học trong việc cổ suý phong trào Dân Chủ của nhân loại.

      Tác giả Nguyễn Đại Việt là tiến sĩ về điện toán. Ông từng giữ các chức vụ như kỹ sư Thiết kế, Director, Vice President of Engineering cho IBM, Fujitsu Limited, và một số công ty khác ở Hoa Kỳ. Hiện nay, tác giả là CEO của một công ty start-up.


      Tham Khảo


      (1) Hoàng Văn Đào (*), VNQĐ, Lịch Sử Đấu Tranh Cận Đại 1927-1054, 1970, tr. 33, in lần thứ hai, Việt Dân Hoàng Văn Đào, 1970.
      (2) Hoàng Văn Đào, VNQĐ, Lịch Sử Đấu Tranh Cận Đại 1927-1054, 1970, tr. 38, 39, in lần thứ hai, Việt Dân Hoàng Văn Đào, 1970.
      (3) Hoàng Văn Đào, VNQĐ, Lịch Sử Đấu Tranh Cận Đại 1927-1054, 1970, tr. 495, in lần thứ hai, Việt Dân Hoàng Văn Đào, 1970.
      (4) Nhượng Tống (*), Nguyễn Thái Học (1902-1930), Nhà xuất bản Việt Nam Thư Xã, 1945.
      Chú thích
      (*) Bác sĩ Tôn Dật Tiên (Sun Yat-sen, 1866-1925), quê quán Hàng Châu, Quảng Đông, Trung quốc. Có tài liệu cho rằng tổ tiên của ông là người Mân Việt. Năm 13 tuổi, ông sang Honolulu sống với người anh, một thương gia. Trở về nước năm 1883 và tốt nghiệp y khoa ở Hồng Kông năm 1892. Từ 1895, ông sống lưu vong ở Âu châu, Hoa Kỳ, Canada, và Nhật Bản trong 16 năm. Tôn Dật Tiên chịu ảnh hưởng sâu đậm nền dân chủ của Hoa Kỳ, đặc biệt là tư tưởng cấp tiến của Tổng thống Abraham Lincoln. Một câu nói trong bài diễn văn Gettysburg Address nổi tiếng của vị tổng thống này: "Chính phủ của dân, do dân, vì dân," (government of the people, by the people, for the people.) chính là nguồn cảm hứng cho sự ra đời của Nguyên Tắc Tam Dân (The Three Principles of the People). Bác sĩ Tôn Dật Tiên cũng là nhà sáng lập Trung Hoa Quốc Dân Đảng. Cả hai phe Quốc Cộng đều tôn xưng ông là Quốc phụ.
      (*) Nhượng Tống và Hoàng Văn Đào là sáng lập viên của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Cùng với Phạm Tuấn Tài và Phạm Tuấn Lâm, năm 1925, Nhượng Tống thành lập Nam Đồng Thư Xã, tiền thân của Việt Nam Quốc Dân Đảng.
      ------------------------------------------------------------------------------------------

      Mai Nam, Việt Nam
      Thời nào cũng vậy thôi: giác ngộ cách mạng là trí thức tinh hoa của dân tộc, kể cả cách mạng Pháp, Mỹ, Nga (1917), Ấn Độ... Cứ cố ý lồng nội dung giai cấp vào chỉ để chứng minh "vai trò lịch sử" của giai cấp vô sản mà bộ tư lệnh của nó là "đảng ta". Cụ Nguyễn Thái Học là trí thức, giác ngộ chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn, làm cách mạng dân chủ tư sản chống phong kiến và thực dân, đúng như trào lưu chung của các nước phong kiến thuộc địa thời đó. Tuy nhiên, giai cấp tư sản năm 1930 còn quá non nớt, chưa hình thành đầy dủ, tức là chưa có yêu cầu cầm quyền. Tham gia Việt Nam quốc dân đảng chủ yếu là trí thức tân học và nho học giác ngộ một chủ nghĩa mà thôi. Nhưng ông Nguyễn Đức Bình (và các nhà lý luận tiền bối hàng đầu của ông) lại coi VNQDĐ thất bại là sự chấm dứt vai trò của giai cấp tư sản VN, để lịch sử trao quyền cho giai cấp vô sản (!) mặc dù từ Hồ Chí Minh tới các vị lãnh tụ tép riu hiện nay chẳng có ai là vô sản hết. Dứt khoát phải viết lại lịch sử VN.

      Minh, Boston
      NTH có lòng yêu nước, nhưng quá lẽ loi và có suy nghĩ quá đơn giản về việc lập và phát triển quốc gia. Cho dù lúc đó ông khởi nghĩa thành công thì cũng không có đủ kiến thức cá nhân, và không đủ người cùng chia sẻ ý tưởng để có thể lập nền tảng phồn vinh lâu dài cho VN. Lập và giữ nước thì phải theo trường phái do các bậc hiền triết vô cùng cao siêu lập nền tảng.
      Tại VN trong bốn ngàn năm KHÔNG có ai đủ tài lập một trường phái như vậy, ngay cả hiểu ra điều này, sự kém cỏi này của dân tộc cũng đã cực hiếm, theo tôi không quá 100 người. Toàn thế giới trong thời NTH chia ra làm ba nền tảng: Một là Tây phương theo Plato (the Republic, 360 BC), Hai là theo Khổng - Mạnh hoặc phong kiến, Ba là theo CS lúc đó chỉ có Nga Xô nhưng đang phát triển mạnh. NTH không tài nào tìm ra đủ người VN chịu bác bỏ Khổng - Mạnh để theo Tây phương trong cách dựng và giữ nước, ngay cả chính ông cũng chưa chắc hiểu ra việc PHẢI chia quyền với người Pháp để học hỏi.
      Do đó, cho dù NTH khởi nghĩa thành công thì chế độ ông lập ra cũng không thể tồn tại vì thiếu nền tảng triết học, cũng đã rơi vào tình trạng chia rẽ cục bộ, quan chức cất nhấc người thân quen (cronyism). Chính quyền CS ngày nay cũng rơi vào cái bẫy này, và nhiều người cổ xúy cho "dân chủ" cũng vậy, đều thiếu kiến thức để hiểu rằng không đủ người VN dựng và giữ nước, mà ít ra trong 50 năm phải có Âu Mỹ vào làm Bộ trưởng, Anh ngữ hóa hành chánh, và VN không thể có hướng riêng trong thời gian này.

      Mai Loc
      Bài viết rất có giá trị, nên đưa vào chương trình lịch sử để đối chứng với lịch sử đảng Cộng sản.

      Nguyen Thi Vinh, Germany
      I am sorry in writting English here because of no program of Vietnamese Thank you very much Mr. Nguyen Dai Viet . From your information about the history of Vietnam , I am appreciate your knowledge and very proud of our national Hero Mr . Nguyen Thai Hoc whose name is located in the first district of Saigon . Hope the young Vietnamese people read this and understand more our history .

      http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2007/12/071224_nguyen_thai_hoc.shtml
      Đăng nhập để trả lời
      0
      <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-12-28 23:00:24Ngọc Lý>
      Benazir Bhutto (1953-2007)
      Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
      Benazir Bhutto
      بینظیر بھٹو



      Thủ tướng thứ 12 của Pakistan
      Nhiệm kỳ 2 tháng 12 năm 1988 – 6 tháng 8 năm 1990
      Tiền nhiệm Muhammad Khan Junejo
      Kế nhiệm Ghulam Mustafa Jatoi
      Thủ tướng thứ 16 của Pakistan
      Nhiệm kỳ 18 tháng 7 năm 1993 – 5 tháng 11 năm 1996
      Tiền nhiệm Moin Qureshi (nhiệm quyền)
      Kế nhiệm Miraj Khalid (nhiệm quyền)
      Đảng Đảng Nhân dân Pakistan
      Sinh 21 tháng 6, 1953 (54 tuổi)
      Karachi, Pakistan
      Tôn giáo Hồi giáo phái Shia

      Benazir Bhutto (tiếng Urdu: بینظیر بھٹو, IPA: bɛnɜziɽ botɔ) (sinh 21 tháng 6 năm 1953 tại Karachi - mất 27 tháng 12 năm 2007 tại Rawalpindi), là một nữ chính trị gia Pakistan, cũng là người phụ nữ đầu tiên lãnh đạo một đất nước Hồi giáo sau thời kỳ thuộc địa. Bhutto đã hai lần đắc cử Thủ tướng Pakistan, tuyên thệ nhậm chức lần đầu năm 1988, nhưng bị bãi nhiệm 20 tháng sau đó theo một sắc lệnh gây nhiều tranh cãi của Tổng thống Ghulam Ishaq Khan, do những cáo buộc về tham nhũng. Benazir đắc cử lần nữa trong năm 1993, nhưng lại bị tổng thống bãi nhiệm năm 1996 cũng với những lý do tương tự.

      Từ năm 1999, Bhutto sống lưu vong ở Dubai cho đến khi trở về Pakistan vào ngày 18 tháng 10 năm 2007, sau khi đạt được một thỏa thuận với Tướng Musharraf, theo đó một lệnh ân xá được dành cho bà, cùng lúc với quyết định rút lại mọi cáo buộc về tham nhũng.

      Mặc dù không được chọn vào trong danh sách "100 phụ nữ nhiều quyền lực nhất thế giới" của tạp chí Forbes, trong trang dành cho các nữ chính khách, một bài viết của tờ báo đưa ra nhận xét "Từ một nơi nào đó ở tiểu lục địa Ấn Độ, có thể một người phụ nữ sẽ sớm trở về với quyền lực. Đó là cựu Thủ tướng Benazir Bhutto của Pakistan".

      Benazir Bhutto là con đầu của cựu thủ tướng Zulkifar Ali Bhutto, người Pakistan gốc Sindhi và Begum Nusrat Bhutto, người Pakistan gốc Kurd. Benazir theo học tại Đại học Oxford chuyên ngành triết, chính trịkinh tế, cô cũng có một văn bằng của Đại học Harvard. Ông nội của cô là Sir Shah Nawaz Bhutto.

      Bà Benazir Bhutto bị ám sát ngày 27 tháng 12 năm 2007 trong một vụ đánh bom tự sát trong cuộc tuần hành của Đảng Nhân Dân Pakistan tại thị trấn Rawalpindi.

      Mục lục
      1 Học vấn
      2 Thủ tướng
      2.1 Chính sách về Phụ nữ
      2.2 Taliban
      2.3 Lưu vong
      3 Cáo buộc tham nhũng
      3.1 Thụy Sĩ
      3.2 Ba Lan
      3.3 Pháp
      3.4 Trung Đông
      4 Lưu vong
      4.1 Tuyển cử năm 2002
      4.2 Thập niên 2000
      5 Hồi hương
      6 Bị ám sát
      7 Tác phẩm
      8 Trích dẫn
      9 Tham khảo
      10 Chú thích
      11 Liên kết ngoài

      Học vấn

      Bhutto học tại trường Lady Jenning Nursery ở Karachi, rồi đến nữ tu viện Jesus và Mary tại Karachi. Hai năm sau, cô nhập học tại nữ tu viện Rawalpindi Presentation, rồi nữ tu viện Jesus và Mary tại Murree. Năm 15 tuổi, Bhutto đậu kỳ thi tốt nghiệp hạng trung bình.

      Từ năm 1969 đến 1973, Bhutto theo học tại Đại học Radcliffe, tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ rồi tiếp tục đến Đại học Harvard để tốt nghiệp với văn bằng cử nhân môn chính quyền so sánh.

      Từ năm 1973 đến 1977, Bhutto đến Viện Lady Margaret thuộc Đại học Oxford, Anh Quốc để học triết, chính trị học, và kinh tế. Tháng 12 năm 1976 cô được bầu làm chủ tịch Oxford Union (một hội đoàn chuyên tổ chức các cuộc hội thảo đào tạo các chính trị gia tương lai), cô là phụ nữ châu Á đầu tiên lãnh đạo tổ chức danh giá này.

      Ngoài ra, Bhutto còn hoàn tất khóa học Công pháp Quốc tếNgoại giao tại Oxford.

      Ngày 18 tháng 12 năm 1987, Benazir kết hôn với Asif Ali Zardari, hôn lễ tổ chức tại Karachi. Hai người có ba con: Bilawal, Bakhtawar và Aseefa.

      Thủ tướng

       

      [/align]Bhutto trong chuyến thăm Washington D.C. năm 1988.


      [/align][/align][/align]Sau khi tốt nghiệp đại học, Benazir Bhutto trở về Pakistan nhằm lúc thân phụ của cô bị tống giam rồi bị xử tử, còn cô liền bị quản thúc tại gia. Đến năm 1984, cô được phép quay lại Anh, và trở thành thủ lãnh đối lập lưu vong của Đảng Nhân dân Pakistan (PPP) của cha cô, nhưng không có ảnh hưởng đáng kể nào trong nước cho đến khi Tướng Muhammad Zia-ul-Haq qua đời. Benazir Bhutto kế nhiệm thân mẫu lãnh đạo PPP và khối dân chủ đối lập với chính quyền Tổng thống Zia ul-Haq.

      Ngày 16 tháng 11 năm 1988, trong cuộc bầu cử đầu tiên trong một thập niên, đảng PPP của Bhutto trở thành chính đảng giành nhiều ghế nhất tại Quốc hội. Ngày 2 tháng 12, Bhutto tuyên thệ nhậm chức thủ tướng liên minh cầm quyền ở tuổi 35, trở thành chính khách trẻ tuổi nhất và là người phụ nữ đầu tiên trong lịch sử đương đại lãnh đạo chính phủ tại một nước có đa số dân theo Hồi giáo. Cũng trong năm ấy, tạp chí People chọn Bhutto vào danh sách Năm mươi người đẹp nhất.

      Chính phủ Bhutto bị bãi nhiệm theo những cáo buộc tham nhũng mà bà bác bỏ. Benazir chưa bao giờ bị xét xử theo những tội danh này. Nawaz Sharif, người được Zia đỡ đầu, lên nắm quyền. Năm 1993, Bhutto tái đắc cử nhưng lại bị bãi nhiệm trong năm 1996 vì những cáo buộc tương tự. Tổng thống Farooq Leghari sử dụng tu chính án thứ tám để gải tán quốc hội và tổ chức bầu cử. Tối cao Pháp viện phê chuẩn quyết định của Leghari bằng một phán quyết có 6 phiếu thuận và 1 phiếu chống.

      Phe chống đối Benazir thường thuộc thành phần thế lực người Punjab và các gia đình chủ đất, khi bà đẩy mạnh các cải cách quốc gia chống tầng lớp phong kiến mà theo cáo buộc của bà, là nguyên nhân gây ra tình trạng bất ổn tại Pakistan.

      Chính sách về Phụ nữ

      Suốt trong chiến dịch bầu cử, chính phủ Bhutto bày tỏ sự quan tâm đối với các vấn đề xã hội và y tế liên quan đến phụ nữ, cũng như thái độ kỳ thị đối với phụ nữ. Bhutto công bố kế hoạch thiết lập các đồn cảnh sát và tòa án phụ nữ, cùng các ngân hàng phụ nữ. Song Bhutto không chịu đệ trình dự luật nào nhằm cải thiện các dịch vụ phúc lợi cho phụ nữ. Tương tự, bất kể những lời hứa hủy bỏ các đạo luật hạn chế quyền phụ nữ tại Pakistan (như luật Hudood và Zina), trong hai nhiệm kỳ thủ tướng của Bhutto, đảng của bà đã không thực hiện những lời hứa đã được đưa ra trong thời gian tranh cử, một phần là do áp lực từ phe đối lập.

      Chỉ sau khi mất chức thủ tướng, đảng của Bhutto mới vận động thu hồi luật Zina (qui định những trừng phạt nghiêm khắc đối với người phạm tội ngoại tình), trong lúc chính phủ Tướng Musharaf cầm quyền. Nhưng nỗ lực này bị đánh bại bởi các đảng phái tôn giáo cánh hữu đang kiểm soát quốc hội.

       Taliban

      Trong thời gian Bhutto cầm quyền tại Pakistan, Taliban nổi lên như một thế lực mới tại Afghanistan, và tiến chiếm quyền lực tại Kabul vào tháng 9 năm 1996. Bhutto xem Taliban là một lực lượng có thể ổn định Afghanistan và mở đường thông thương mậu dịch đến các nước Trung Á. Chính quyền Bhutto cung cấp những hỗ trợ tài chính và quân sự cho Taliban, ngay cả việc gởi một đơn vị quân sự đến Afghanistan. Nhưng gần đây, bà theo đuổi lập trường chống Taliban, và lên tiếng kết án những hành động khủng bố của Taliban.

       Lưu vong

      Sau khi bị tổng thống Pakistan bãi nhiệm dựa trên những cáo buộc tham nhũng, đảng của Bhutto cũng thất bại trong kỳ tuyển cử tháng 10. Bhutto trở thành lãnh tụ phe đối lập trong khi Nawaz Sharif đảm nhiệm chức vụ thủ tướng trong ba năm kế tiếp. Đến kỳ bầu cử tổ chức vào tháng 10 năm 1993, liên minh PPP giành thắng lợi, và Bhutto trở lại nắm quyền. Đến năm 1996, chính phủ Bhutto lại bị giải tán về những cáo buộc tham nhũng. Năm 1998, Bhutto đến sống lưu vong ở Dubai.

       Cáo buộc tham nhũng

      Chính phủ các nước Pháp, Ba Lan, Tây Ban NhaThụy Sĩ đã cung cấp chứng cứ cho chính phủ Pakistan về những cáo buộc được cho là tham nhũng nhắm vào Bhutto và chồng bà, trong đó có cáo buộc rửa tiền qua các ngân hàng Thụy Sĩ. Zardari, được trả tự do năm 2004, nói đến sự tra tấn ông phải chịu trong thời gian bị cầm tù, các tổ chức nhân quyền hậu thuẫn ông, cho rằng những tố giác này là có thật.

      Một báo cáo năm 1998 cho thấy các điều tra viên Pakistan phát hiện những tài liệu về một mạng lưới tài khoản ngân hàng, tất cả đều liên quan đến luật sư của gia đình Bhutto tại Thụy Sĩ, với Asif Zardari là cổ đông chính.

      Những tư liệu do giới hữu trách Pháp cung cấp cho thấy Zardari dành ưu tiên cho Dassault, một nhà sản xuất máy bay của Pháp, trong chương trình thay thế phản lực cơ chiến đấu cho không quân; đổi lại 5% tiền hoa hồng được chuyển cho một công ty Zardari nắm quyền kiểm soát ở Thụy Sĩ. Tài liệu này cũng đề cập đến một công ty Dubai được độc quyền nhập khẩu vàng vào Pakistan, nhờ đó Zardari nhận 10 triệu USD trả vào các tài khoản của ông tại Citibank ở Dubai. Chủ công ty này đã bác bỏ các cáo buộc trên. Bản báo cáo cho biết cha mẹ của Zardari, chỉ có một tài sản khiêm tốn khi con trai của họ kết hôn với Bhutto, nay sở hữu một lãnh địa rộng 355 mẫu Anh ở phía nam Luân Đôn. Lãnh địa này đã bị bán đấu giá theo lệnh của tòa án.

      Bhutto vẫn duy trì luận cứ cho rằng mọi cáo buộc chống bà và chồng bà đều xuất phát từ những âm mưu chính trị, “Hầu hết những tài liệu này là giả mạo”, bà nói, “cũng như các câu chuyện xung quanh chúng đều hoàn toàn sai lạc”. Một tường trình của Tổng Kiểm toán Pakistan ủng hộ quan điểm của Bhutto, đưa ra những thông tin cho rằng việc Benazir Bhutto bị truất bỏ quyền lực trong năm 1990 là kết quả của một chiến dịch bôi nhọ Bhutto có sự hậu thuẫn của tổng thống Ghulam Ishaq Khan, và vạch ra rằng Khan đã trả một khoản tiền bất hợp pháp 28 triệu ruppee cho các cố vấn pháp lý để họ xúc tiến 19 vụ kiện chống Bhutto và chồng bà về tội danh tham nhũng từ năm 1990 đến 1992.

      Tuy nhiên, cho đến nay nhiều người vẫn tin rằng Bhutto và chồng có dính líu đến việc nhận những khoản hoa hồng trị giá hàng trăm triệu USD từ những hợp đồng và các vụ đấu thầu của chính phủ. Song, Bhutto và Musharaf vừa đồng ý với nhau về một thỏa thuận chia sẻ quyền lực, theo đó Bhutto được phép tiếp cận tài khoản của bà tại ngân hàng Thụy Sĩ trị giá 1, 5 tỉ USD.

      Thụy Sĩ

      Ngày 23 tháng 7 năm 1998, chính phủ Thụy Sĩ giao cho chính phủ Pakistan những văn kiện liên quan đến các cáo buộc tham nhũng chống lại Benazir Bhutto và chồng bà, bao gồm một cáo buộc chính thức của giới chức Thụy Sĩ về tội rửa tiền dành cho Zardari. Chính phủ Pakistan tiến hành một cuộc điều tra rộng rãi trong năm 1997 nhằm kiểm tra số tiền hơn 13, 7 triệu USD đã bị đóng băng theo lệnh của giới hữu trách Thụy Sĩ , người ta cho rằng Bhutto và chồng đã kín đáo ký thác số tiền này vào các nhà băng.

      Ngày 6 tháng 8 năm 2003, tại tòa án Thụy Sĩ, Benazir và chồng bị buộc tội rửa tiền và bị bị kết án sáu tháng tù treo, nộp phạt 50 000 USD và phải hoàn trả cho chính phủ Pakistan 11 triệu USD. Benazir và Zardari đã ký thác vào tài khoản ở Thụy Sĩ 10 triệu USD, tiền “lại quả” từ một công ty Thụy Sĩ sau khi công ty này giành được một hợp đồng tại Pakistan. Hai người cho biết họ sẽ kháng án. Theo các điều tra viên Pakistan, năm 1995 Zardari mở một tài khoản tại Citibank ở Geneva, qua tài khoản này Zardari đã chuyển khoản 40 triệu trong số tiền 100 triệu USD tiền hoa hồng từ các công ty nước ngoài đang làm ăn tại Pakistan.

       Ba Lan

      Chính phủ Ba Lan công bố một tài liệu dày 500 trang liên quan đến những cáo buộc tham nhũng chống Benazir Bhutto và chồng bà, trong đó có một hợp đồng ký năm 1997 mua 8 000 chiếc máy kéo. Theo các viên chức Pakistan, trong tài liệu này còn có những chi tiết liên quan đến những khoản hoa hồng bất hợp pháp mà công ty máy kéo đã chi trả để có được hợp đồng, số tiền lên đến 2 triệu USD.

      Pháp

      Trong những tài liệu được công bố, vụ làm ăn đắt giá nhất là thương vụ có dính líu đến tập đoàn hàng không Dassaut Aviation. Giới hữu trách nước Pháp cho biết, năm 1998 chồng của Bhutto, Zardari, đề nghị dành độc quyền cho Dasault trong đề án thay thế chiến đấu cơ phản lực cho không quân Pakistan, để nhận 5% tiền hoa hồng; số tiền này được chuyển cho một công ty của Zardari ở Thụy Sĩ.

      Vào lúc ấy, luật chống tham nhũng của Pháp cấm hối lộ các viên chức Pháp, nhưng lại cho phép “lại quả” cho các viên chức nước ngoài. Tuy vậy, đến năm 2000 Pháp đã thay đổi bộ luật này.

      Trung Đông

      Trong số các khoản tiền lớn nhất được trả một lần mà các điều tra viên phát hiện, có vụ một nhà buôn vàng thỏi ở Trung Đông đã ký thác ít nhất 10 triệu USD vào các tài khoản của Zardari, sau khi chính quyền dành cho nhà buôn này độc quyền nhập khẩu vàng nhằm duy trì ngành công nghiệp kim hoàn của Pakistan. Người ta tin rằng số tiền trên được chuyển vào tài khoản của Zardari tại Citibank ở Dubai.

      Bờ biển Arabian Sea của Pakistan, trải dài từ Karachi đến biên giới Iran, từ lâu là lãnh địa của giới buôn lậu vàng. Mãi cho đến đầu nhiệm kỳ thứ hai của chính phủ Bhutto, các thương vụ lên đến hàng trăm triệu USD hằng năm vẫn diễn ra rầm rộ ở đây với vàng miếng gọi là biscuit, sau này là vàng thỏi, được vận chuyển bằng máy bay và thuyền qua lại trên Vịnh Ba Tư mà không gặp trở ngại nào ở bờ biển Pakistan.

      Sau khi Bhutto trở lại cầm quyền năm 1993, một nhà buôn vàng thỏi người Pakistan ở Dubai, Abdul Razzak Yaqub, đưa ra một đề xuất: để được độc quyền nhập khẩu vàng, Razzak sẽ giúp chính phủ đưa việc mua bán vàng vào qui củ. Tháng 11 năm 1994, Bộ Thương mại Pakistan cho Razzak biết ông đã được cấp giấy phép, ít nhất trong hai năm, để trở thành nhà nhập khẩu vàng độc quyền cho Pakistan. Trong một cuộc phỏng vấn tại văn phòng của mình ở Dubai, Razzak thừa nhận đã sử dụng giấy phép này để nhập khẩu lượng vàng trị giá hơn 500 triệu USD vào Pakistan, và thêm rằng ông đã đến Islamabad vài lần để gặp Bhutto và Zardari, nhưng bác bỏ bất cứ vụ hối lộ hoặc thỏa thuận ngầm nào, “Tôi không trả một xu nào cho Zardari,” Razzak nói.

       Lưu vong

      Tuyển cử năm 2002

      Trong kỳ tổng tuyển cử vào tháng 10 năm 2002, Đảng Nhân dân Pakistan (PPP) do Bhutto lãnh đạo giành được số phiếu cao nhất (28, 42%) và chiếm 80 ghế (23, 16%) trong quốc hội. Liên minh Hồi giáo Pakistan của Nawaz chỉ được 18 ghế. Một số nghị sĩ thuộc PPP tách ra lập đảng PPP-Patriot và gia nhập chính phủ liên hiệp của Musharaf.

      Thập niên 2000

      Năm 2002, Tổng thống Pakistan Pervez Musharraf tu chính hiến pháp giới hạn chức vụ thủ tướng trong hai nhiệm kỳ. Điều khoản này ngăn chặn khả năng Bhutto trở lại cầm quyền. Nhiều người xem đây là động thái trực tiếp nhắm vào hai cựu thủ tướng Benazir Bhutto và Nawaz Sharif.

      Từ tháng 9 năm 2004, Bhutto đến sống tại Dubai, Các Tiểu Vương quốc Ả rập. Ở đây bà lo chăm sóc các con và thân mẫu đang mắc bệnh Alzheimer; bà cũng đi diễn thuyết và vẫn giữ liên lạc với những người ủng hộ bà thuộc đảng PPP. Bhutto có ba con và đã đoàn tụ với chồng vào tháng 12 năm 2004 khi chồng bà được trả tự do sau năm năm bị cầm tù.

      Ngày 27 tháng 1 năm 2007, bà được mời đến nói chuyện trước một cử tọa đoàn gồm có Tổng thống Bush, các nghị sĩ quốc hội, và các viên chức bộ ngoại giao.

      Tháng 3 năm 2007, Bhutto xuất hiện trong chương trình Question Time của đài truyền hình BBC tại Anh. Bà cũng có mặt trong chương trình Newsnight của BBC. Tháng 5 năm 2007, Bhutto phản bác nhận xét của Muhamad Ijaz-ul-Haq về việc phong tước hiệp sĩ cho Salman Rushdie, cho rằng ul-Haq đang kêu gọi ám sát các công dân nước ngoài.

      Bhutto tuyên bố ý định trở về Pakistan trong năm 2007, bất kể thông báo của Musharraf đưa ra trong tháng 5 năm 2007 không cho phép bà trở về trước kỳ tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào cuối năm 2007, hoặc đầu năm 2008. Có những lời đồn đoán bà sẽ trở lại nắm quyền thủ tướng.

      Đến giữa năm 2007, có những dấu hiệu cho thấy Hoa Kỳ đang thúc đẩy một thỏa hiệp, theo đó Musharraf sẽ duy trì chức vụ tổng thống sau khi rút khỏi vị trí tổng tư lệnh quân lực, và Bhutto, hoặc một nhân vật được bà ủng hộ, sẽ đảm trách chức vụ thủ tướng.

      Ngày 5 tháng 10 năm 2007, Musharraf ký Sắc lệnh Hòa giải Quốc gia ân xá Bhutto và các nhà lãnh đạo chính trị khác – ngoại trừ cựu thủ tướng Nawaz Sharif đang sống lưu vong – khỏi mọi cáo buộc chống lại họ, kể cả tội danh tham nhũng. Sắc lệnh được ban hành một ngày trước khi có cuộc bầu cử chức vụ tổng thống. Đáp lại, Bhutto và đảng PPP của bà đồng ý không tẩy chay cuộc bầu cử tổng thống.

      Ngày 6 tháng 10 năm 2007, Pervez Musharraf thắng cuộc bầu cử tổng thống tại quốc hội. Tuy nhiên, Tòa án Tối cao ra phán quyết sẽ không có tuyên bố kết quả chính thức cho đến khi tòa ra quyết định về việc Musharraf ra tranh cử tổng thống khi đang là tướng lĩnh quân đội có hợp pháp hay không. Đảng PPP của Bhutto đã không gia nhập các đảng đối lập tẩy chay cuộc bầu cử.

       Hồi hương

      Sau tám năm sống lưu vong ở Dubai và Luân Đôn, ngày 18 tháng 10 năm 2007, Bhutto trở về Karachi để chuẩn bị cho kỳ tổng tuyển cử năm 2008.

      Ngày 18 tháng 10 năm 2007, trên đường đến một buổi tụ họp tại Karachi, hai quả bom đã phát nổ sau khi Bhutto rời Phi trường Quốc tế Jinnah. Bà không bị thương nhưng vụ nổ, kích hoạt bởi một kẻ đánh bom tự sát, giết chết 136 người và làm bị thương ít nhất 450 người khác. Trong số người tử nạn có ít nhất 50 vệ sĩ thuộc các toán an ninh của PPP, là những người tạo một màn chắn sống xung quanh chiếc xe chở Bhutto nhằm ngăn chặn những kẻ đánh bom. Ngoài ra, còn có 6 cảnh sát thiệt mạng trong vụ này.

      Bhutto nói rằng bà đã cảnh báo chính phủ Pakistan về việc các toán đánh bom cảm tử sẽ nhắm vào bà nhưng chính phủ đã không hành động. Bhutto cẩn thận không nhắc đến Musharaf mà chỉ kết án “một vài cá nhân [trong chính quyền], là những người lạm dụng chức quyền” để ủng hộ các chiến binh Hồi giáo. Các phụ tá thân cận của Bhutto cho biết một trong những tên tuổi được nhắc đến trong bức thư Bhutto gởi chính phủ có tên Ijaz Shaz, tổng giám đốc Văn phòng Tình báo, một trong các cơ quan tình báo của Pakistan; Shaz cũng là phụ tá thân cận của Tướng Musharraf. Bhutto vẫn thường cáo buộc các cơ quan tình báo quân đội, nhất là cơ quan Tình báo Liên ngành (ISI), hoạt động chống lại bà và đảng của bà, bởi vì họ bất đồng với bà về lập trường tự do và chủ trương thế tục. Trong những thập niên qua, ISI vẫn hậu thuẫn các nhóm Hồi giáo ở Kashmir và Afghanistan.

       Bị ám sát

       

      [/align]Bà Bhutto rời khỏi điểm vận động bầu cử ngay trước khi bị ám sát.


      [/align][/align][/align]Ngày 27 tháng 12 năm 2007, bà Bhutto đã thiệt mạng trong vụ tấn công tự sát tại thành phố Rawalpindi, ngay sau khi bà kết thúc bài diễn thuyết trong một cuộc vận động tranh cử. Một tay súng đã bắn vào cổngực bà rồi cho kích hoạt quả bom mang theo người khiến ít nhất hơn 22 người nữa thiệt mạng[1][2][3] . Thông tin ban đầu cho biết, bà Bhutto chỉ bị thương trong vụ đánh bom liều chết và được đưa tới bệnh viện để phẫu thuật. Nhưng phát ngôn viên của quân đội Pakistan và quan chức đảng Nhân dân Pakistan (PPP) của bà Bhutto sau đó thông báo, bà đã qua đời lúc 18h16' giờ địa phương tức 13h16' giờ GMT[4] .

       Tác phẩm
      • Benazir Bhutto, (1983), Pakistan: The gathering storm, Vikas Pub. House, ISBN 0706924959
      • Benazir Bhutto, (1988), Hija de Oriente, (Spanish language) Seix Barral, ISBN 8432246336
      • Benazir Bhutto (1989). Daughter of the East, Hamish Hamilton. ISBN 0-241-12398-4.
      • Benazir Bhutto (1989). Daughter of Destiny: An Autobiography, Simon & Schuster. ISBN 0-671-66983-4.
       Trích dẫn

      “Tôi nhận thấy mỗi khi tôi cầm quyền, hoặc khi thân phụ tôi lên nắm quyền, mọi sự trở nên tốt lành. Kinh tế phát triển, mưa thuận gió hòa, vụ mùa tốt. Theo tôi, đó là do chúng tôi muốn dâng tặng tình yêu và được nhận lại tình yêu.”

      Tham khảo
      • W.F.Pepper, (1983), Benazir Bhutto, WF Pepper, ISBN 0946781001
      • Rafiq Zakaria (1990). The Trial of Benazir, Sangam Books. ISBN 0-861-32265-7.
      • Katherine M. Doherty, Caraig A. Doherty , (1990), Benazir Bhutto (Impact Biographies Series), Franklin Watts, ISBN 0531109364
      • Rafiq Zakaria, (1991), The Trial of Benazir Bhutto: An Insight into the Status of Women in Islam, Eureka Pubns, ISBN 9679783200
      • Diane Sansevere-Dreher, (1991), Benazir Bhutto (Changing Our World Series), Bantam Books (Mm), ISBN 0553158570
      • Christina Lamb, (1992), Waiting for Allah, Penguin Books Ltd, ISBN 0140143343
      • M FATHERS, (1992), Biography of Benazir Bhutto, W.H. Allen / Virgin Books, ISBN 024554965X
      • Elizabeth Bouchard, (1994), Benazir Bhutto: Prime Minister (Library of Famous Women), Blackbirch Pr Inc, ISBN 1567110274
      • Iqbal Akhund, (2000), Trial and Error: The Advent and Eclipse of Benazir Bhutto, OUP Pakistan, ISBN 0195791606
      • Libby Hughes, (2000), Benazir Bhutto: From Prison to Prime Minister, Backinprint.Com, ISBN 0595003885
      • Iqbal Akhund, (2002), Benazir Hukoomat: Phela Daur, Kia Khoya, Kia Paya?, OUP Pakistan, ISBN 0195794214
      • Mercedes Anderson, (2004), Benazir Bhutto (Women in Politics), Chelsea House Publishers, ISBN 0791077322
      • Mary Englar, (2007), Benazir Bhutto: Pakistani Prime Minister and Activist, Compass Point Books, ISBN 0756517982
      • Ayesha Siddiqa Agha, (2007), Military Inc.: Inside Pakistan's Military Economy, Pluto Press, ISBN 0745325459
      • Abdullah Malik, (1988), Bhutto se Benazir tak: Siyasi tajziye, Maktabah-yi Fikr o Danish, ASIN B0000CRQJH
      • Bashir Riaz, (2000), Blind justice, Fiction House, ASIN B0000CPHP8
      • Khatm-i Nabuvat, ASIN B0000CRQ4A
      • Mujahid Husain, ((1999)), Kaun bara bad °unvan: Benazir aur Navaz Sharif ki bad °unvaniyon par tahqiqati dastavez, Print La'in Pablisharz, ASIN B0000CRPC3
      • Ahmad Ejaz, (1993), Benazir Bhutto's foreign policy: A study of Pakistan's relations with major powers, Classic, ASIN B0000CQV0Y
      • Lubna Rafique, (1994), Benazir & British press, 1986-1990, Gautam, ASIN B0000CP41S
      • Sayyid Afzal Haidar, (1996), Bhutto trial, National Commission on History & Culture, ASIN B0000CPBFX
      • Mumtaz Husain Bazmi, (1996), Zindanon se aivanon tak, al-Hamd Pablikeshanz, ASIN B0000CRPOT
      • Unknown author, (1996), Napak sazish: Tauhin-i risalat ki saza ko khatm karne ka benazir sarkari mansubah, Intarnaishnal Institiyut af Tahaffuz-i
       Chú thích

      ^Benazir Bhutto Assination NBC News Coverage”, NBC, 2007-12-27. Địa chỉ URL được truy cập 2007-12-27.
      ^Benazir Bhutto Assination CBS News Coverage”, CBS, 2007-12-27. Địa chỉ URL được truy cập 2007-12-27.
      ^Benazir Bhutto Assination ABC News Coverage”, ABC, 2007-12-27. Địa chỉ URL được truy cập 2007-12-27.
      ^Benazir Bhutto killed”, Time, 2007-12-27. Địa chỉ URL được truy cập 2007-12-27.
         Liên kết ngoài


        Lấy từ “http://vi.wikipedia.org/wiki/Benazir_Bhutto
        Thể loại: Thời sự | Nữ chính khách | Thủ tướng Pakistan | Sinh 1953 | Mất 2007
        Đăng nhập để trả lời
        0
        Lịch sử quả là một môn học khá lý thú. Nó vừa giúp chúng ta hiểu thêm về dân tộc mình vừa giúp chúng ta học hỏi về các gương tốt của họ. Học sử có thể sẽ học mãi mãi mà không thể ngừng. Nếu như yêu thích thì có thể biết đâu bạn có thể trở thành nhà sử học như LÊ VĂN LAN chẳng hạn( nói đùa thui!!@@@@)[:D] 
        Đăng nhập để trả lời
        0
        ai còn bít gì nữa về các danh nhân lịch sử thì cứ gởi nha
        Chàng Cóc ơi! Chàng Cóc ơi!
        Thiếp bén duyên chàng có thể thôi
        Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé
        Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi
        Đăng nhập để trả lời
        0
        Danh nhân lịch sử thì phải là những nhân vật đã thuộc về quá khứ thì mới gọi là lịch sử được dù những nhân vật lịch sử này có thể đã làm những điều tốt hay xấu cho quốc gia, dân tộc hay nhân loại.  Ta thuờng nói tới những nhân vật lịch sử có lợi cho đất nuớc, cho nhân loại. Và chữ "nhân vật lịch sử" thuờng đuợc hiểu theo ý đó.  Nhưng những nhân vật lịch sử đã làm những chuyện "gì đâu, tào lao", có hại cho dân tộc, nhân loại cũng có thể gọi là "nhân vật lịch sử" đuợc.   Hitler, Stalin, Mao trạch Đông giết nguời như chóe cũng vẫn đuợc coi là nhân vật lịch sử đuợc (dĩ nhiên là theo ý xấu).  Riêng VN ta có ông Hồ chí Minh chắc chắn phải là nhân vật lịch sự, tuy rằng có phe tâng bốc ông lên như một vị thánh, nhất là với những nguời theo chủ thuyêt CS, với những "tư tuởng Hồ chí Minh" mà cả nuớc cần nên học tập.  Một thành viên trên TQVN đã từng nói "4000 năm dựng nuớc chưa có ai đuợc như Nguời".  Nguợc lại một số khác không nhỏ coi ông như 1 kẻ có tội với dân tộc VN khi ông đã mang chủ nghĩa CS vào Việt Nam, làm cho VN chậm tiến thua có nuớc lân bang, đem lại bao đau khổ cho dân tộc VN như vụ thảm sát hàng trăm ngàn nguời VN vô tội trong vụ đấu tố "Cải cách ruộng đất" thời thập niên 50 (dù có bào chữa tại Trung quốc ép buộc hay xin lỗi, thì công việc sai lầm vẫn là sai lầm)  và quyết tâm thống nhất đất nuớc VN của ĐCS VN với hàng triệu nguời bỏ mạng (có đáng cái giá phải trả hay không, tùy ý kiến mỗi nguời).  Trừ 1 số nguời hòan tòan tin tuởng vào chủ nghĩa xã hội, trong tuơng lai chủ nghĩa CS (lâu hay chóng thì chưa ai biết) sẽ biến mất trên trái đất này và mọi nguời sẽ nhớ lại như 1 thời kỳ nhân loại tìm cách tìm 1 hệ thống chính trị, xã hội tốt hơn hòng có thể thay thế cho cái chủ nghĩa tư bản "thối nát" này.  Sau 1 thời gian thí nghiêm với chủ nghĩa CS, những nguời CS đã thấy cuộc cách mạng CS chẳng tốt lành gì hơn cái xã hội tư bản "thối nát" mà họ muốn thay thế và họ đã quay nguợc 180 để làm y hệt những gì tư bản đã và đang làm, nhưng vì tự ái hay vì lý do tuyên truyền họ vẫn để cái đuôi "kinh tế thị truờng với định huớng xã hội chủ nghĩa".
         
         Tản mạn 1 chút sợ chắc hơi đi lạc đề, xin trở lại chủ để "nhân vật lịch sử".
         
        Trở lại các nhân vật như LS Lê thị công Nhân, LS Nguyễn văn Đài, cụ Hòang minh Chính, bà cựu Thủ tuớng Benazir Butto của Pakistan mới bị ám sát.  Đây là những nhân vật hiện đại, những nhân vật của thời cuộc ngày nay, có lẽ không thuộc vào topic này.  Tùy theo thời cuộc thay đổi như thế nào, họ có thể là những nhân vật lịch sử tốt hay xấu tùy theo kẻ chiến thắng là ai.  Nếu chế độ VNCH chiến thắng trong cuộc chiến Nam-Bắc Vn truớc 1975, Nguyễn văn Trổi chỉ là 1 kẻ khủng bố không hơn không kém, và thực tế là chế độ VNDCCH đã chiến thắng và Nguyễn văn Trỗi là 1 anh hùng dân tộc. Nhưng chế độ nào rồi cũng qua đi, triều đại nào rồi cũng tan rã, chỉ có dân tộc là bền vững.  Lịch sử cũng sẽ rất công bằng với những vị có công với Tổ quốc như ta luôn kính trọng Lê Lợi, Trần quốc tỏan, Trần hưng Đạo v..vvv. 
        Đăng nhập để trả lời
        0