<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-21 17:54:06Ct.Ly>

Lời dẫn
Từ trên núi cao đổ xuống rồi tiếp tục chạy ra biển cả - một dòng sông dài tuôn chảy ào ạt bất kể ngày đêm. Đó là một con sông hùng tráng. Với ngọn sóng mạnh mẽ, với khí thế tuôn trào, làm cho người ta nghĩ đến một dũng sĩ hào hùng, uy vũ lẫm liệt, từng xông lên chém giết, không xem ai ra gì, ngang nhiên tràn tới, chiến thắng tất cả, thế mạnh như chẻ tre. Đó là một con sông hung tợn. Thượng lưu của nó bắt nguồn từ một vùng núi cao hiểm trở, dòng nước chảy xiết khó vượt qua. Nó giống như một con rồng dữ tợn, đang vẫy vùng gầm thét dưới dòng sông. Nó đập mạnh vào những tảng đá ngầm, khiến cho bọt trắng bắn lên tung toé, chừng như nó muốn lật đổ tất cả mọi thứ trong cuộc đời.
Nhưng, dòng sông này cũng có lúc rất êm ả, nó chảy từ từ, lặng lẽ gợn lên những làn sóng biếc lung linh. Nó cũng có thể dùng tấm thân của nó đỡ lấy những chiếc thuyền buồm; dùng dòng máu của nó tưới nhuộm đồng hoang và ruộng lúa. Lúc bấy giờ nó giống như một tráng sĩ lỗ mãng, nhưng không còn cái vẻ hung hăng lạnh lùng, không còn sự hung bạo, tàn nhẫn, mà chỉ có lòng nhân hậu hiền hòa...
Dòng sông đó cũng cổ xưa như trái đất. Nó trải qua bao nhiêu tang thương biến đổi, chứng kiến bao nhiêu cái đẹp của cuộc đời. Nó như một nhân chứng lịch sử, dùng ánh mắt thâm trầm để theo dõi mọi sự hưng suy của thế đạo, theo dõi sự đổi thay của mọi thứ quyền lực, cũng như chứng kiến các bậc anh hùng xuất hiện rồi biến đi...
Từ đó quay trở lại 2190 năm trước, cũng tại dòng sông này; có một tráng sĩ cao lớn khôi ngô đã nhảy xuống dòng nước. Trong tình thế bí lối hoàn toàn, ông ta đã đóng một vai trò bi kịch để xuất hiện ở đây. Trên nét mặt hằn sâu dấu vết phong sương của những cuộc chiến tranh vẫn còn thoáng hiện nét hào khí oai hùng, nhưng cũng không thể che giấu được nỗi thê lương của một kẻ cùng đường mạt lộ. Ông ta không còn cách nào khác hơn là tự kết thúc cuộc đời oanh oanh liệt liệt của mình, giã từ một cách không tiếc rẻ bá nghiệp mà bấy lâu nay ông ta thường lấy đó để tự hào. Máu của ông hòa lẫn vào dòng nước của con sông, linh hồn của ông trộn lẫn với âm thanh của những đợt sóng vỗ vào bờ. Dòng nước chảy nghìn năm không cạn đã chở lấy sự nghiệp anh hùng của ông, chở lấy sinh mệnh trẻ tuổi của ông, và nỗi lòng oán hận gần như ngu xuẩn: "Trời đã bỏ tôi", để đưa tất cả đi vào một nơi xa xôi mờ mịt và sâu thẳm của lịch sử.
Ông từng là một kẻ thắng lợi, từng là một bậc anh hùng, thét lên một tiếng làm rung động cả đất trời. Trên chiến trường, ông dũng mãnh phi thường, gan dạ và quả cảm, có tài chỉ huy hơn hẳn mọi người "trợn mắt thét lên" thì tướng địch "mắt không dám nhìn, tay không dám khoát". Cả đời ông đã trải qua mấy chục lần đại chiến, hầu hết đều giành được thắng lợi, và được khen ngợi là "có tài bách chiếcn bách thắng". Có một ngày cuối thu, ông đã chỉ huy hai vạn tinh binh vượt qua sông Chương Hà, rồi đập vỡ nồi nấu cơm, nhận chìm hết ghe thuyền, đốt hết lều trại, chỉ mang theo ba ngày lương thực, và với ý chí chiến đấu cao ngất trời, phát động một cuộc tấn công vào quân Tần đông hơn gấp mười lần. Ông bắt sống tướng Tần, chém binh sĩ của Tần, chín trận đánh đều thắng cả chín, đập tan chủ lực của quân Tần, sáng tạo một kiểu mẫu lấy ít thắng nhiều trong lịch sử chiến tranh cổ đại ở Trung Quốc. Ông trở thành vị thống soái của bốn chục vạn đại quân chống Tần để phục thù và đã được toại nguyện. Từ đó về sau, ông đoạt Bành Thành, chiếm Huỳnh Dương, đánh nhau tại Thành Cao, cùng kẻ kình địch tranh giành thiên hạ, tranh ngôi bá ở vùng Trung Nguyên, triển khai một cuộc đọ sức cả trí lẫn lực để chiếm lấy quyền thế. Chiến tích của ông xưa nay hiếm có trong đời, bá nghiệp của ông trở thành điều mà thời cổ đại đã từng hết lời ca tụng.
Thế nhưng, ông lại là một kẻ thất bại. Những sự thắng lợi trên chiến trường không mở ra một con đường phẳng phiu để ông đi đến sự thành công cuối cùng. Nguyên nhân thất bại là do ông quá ỷ mình võ nghệ cao cường, có thừa dũng cảm, kiêu ngạo nhưng lại thiếu mưu lược, vì quá thơ ngây cả tin, vì do dự và thiếu quả đoán, vì lòng dạ hẹp hòi, không biết dùng người. Ông bỏ qua nhiều cơ hội, phung phí quá nhiều nỗ lực của bản thân. Những sai sót của ông đã làm hỏng mất ưu thế lớn mạnh của chính mình, những bề tôi tốt cũng như những tướng giỏi đều lần lượt ra đi, khiến ông trở thành một con người cô độc. Ông không biết oai dũng cảm của cá nhân không thể đem ra cứu thế giúp đời, lòng dạ nhân từ mềm yếu nhiều khi là nguồn gốc của sự thất bại. Ông ucnxg là người quá tàn bạo, quá hung ác, từng giết bao nhiêu kẻ vô tội. Dưới thành Tân An ông đã chôn sống hai chục vạn hàng binh; tỏng thành Hàm Dương, ông đã thiêu rụi bao nhiêu cung điện huy hoàng của nhà Tần. Tất cả những điều đó đã tạo nên một bi kịch lịch sử khiến mọi người đều oán thán. Cuối cùng, dù có sức mạnh nhổ được cả một quả núi, thì ông cũng đành cất tiếng than cho số mạng trước dòng nước chảy thao thao. Dòng nước đó chính vì vậy đã trở thành làn nước tử vong mà ông không làm sao vượt qua được.
Dòng sông đó được gọi là Ô Giang, là một đoạn của sông Trường Giang.
Còn người đàn ông dũng mãnh đứng trên bờ sông đó chính là Hạng Võ, tự xưng là Tây Sở Bá Vương.
Chương 1
Quý tộc lưu vong
Con cháu của Hoả Thần
Năm 232 Trước CN, Tần vương là Doanh Chính chính thức lên làm vua, nắm quyền cai trị đất nước đã được năm năm. Trong năm đó nước Tần xảy ra động đất. Trong khi ở nước Tần đất bằng cũng như đồi núi đang rung chuyển, nhà cửa bị sụp đổ, thì trong gia đình quý tộc họ Hạng ở nước Sở cũng vang lên tiếng khóc oa oa của một hài nhi - một đứa bé trai bụ bẫm, khoẻ mạnh đã chào đời. Tiếng khóc vang của nó chừng như muốn báo cho mọi người biết sự có mặt của mình, cũng như muốn nói lên ý nghĩa về sinh mệnh của nó. Tất cả mọi người trong nhà đều xúm nhau lại, các bạn bè cũng tranh nhau đến chúc mừng. Trong phủ đệ sang trọng này liền bày tiệc rượu để đón mừng truyền nhân mới của gia đình bao nhiêu đời đều là tướng lãnh cả. Buổi tiệc rất thịnh soạn, không khí rất náo nhiệt, ai ai cũng tràn ngập niềm vui, hoàn toàn không biết chi tai họa đã xảy ra tại nước Tần cách xa đó nghìn dặm, và càng không ai nghĩ rằng, hài nhi khoẻ mạnh này sau đó lại mang đến cho sự thống trị của Tần vương Doanh Chính một trận "động đất" ghê gớm khác: cung điện nguy nga đồ sộ bị sụp đổ, cơ cấu thống trị chặt chẽ bị rã rời, tình trạng đại thống nhất thiên hạ mà Doanh Chính đã khổ tâm xây dựng từ bấy lâu bị sụp đổ hoàn toàn.
Đứa trẻ đó lớn lên rất khoẻ mạnh: đầu tròn to, mặt đen và rộng, trán vồ, xương chân mày cao, miệng to, môi dày, có một tướng mạo khác thường. Khi đứa trẻ mở to đôi mắt, để lần đầu tiên nhìn thế giới xa lạ này, thì mọi người không khỏi ngạc nhiên vì phát hiện mắt nó có đến hai con ngươi, làm cho mọi người nhớ đến vua Thuấn đời xưa đôi mắt cũng có hai con ngươi như thế. Thuấn là hậu duệ của hoàng đế, họ Ngu, vì tròng mắt có hai con ngươi nên được đặt tên là Trùng Hoa. Mẹ Trùng Hoa là Ác Đăng nằm mộng thấy chiếc cầu vồng rơi xuống đất và hoá thành một người đàn ông giao phối với bà, nên bà đã hoài thai. Chiếc cầu vồng chính là hóa thân của Khu Tinh ở trên trời. Sau khi sinh Thuấn không bao lâu thì bà mẹ chết. Thuấn đối với người cha là Cổ Tẩu rất có hiếu. Năm 30 tuổi, do được các thủ lãnh của bộ lạc bốn phương là Tứ Nhạc cùng đề cử, nên vua Nghiêu ra lệnh cho Thuấn nối ngôi. Ngoài ra, vua Nghiêu còn đem hai người con gái là Nga Hoàng và Nữ Anh gả cho Thuấn. Sau khi Thuấn nối ngôi, đã đi thị sát khắp bốn phương, diệt trừ bốn kẻ thù là Cổn, Cộng Cân, Hoan Đâu và Tam Miêu, trở thành một nhà vua nổi tiếng.
Khi nhớ tới câu chuyện đó người trong nhà họ Hạng rất lấy làm đắc ý. Nhà họ Hạng là quý tộc của nước Sở, do có công mà được phong đất Hạng, nên lấy tên đất để làm họ. Gia phả của nhà họ Hạng có rất nhiều danh tướng, võ công trác tuyệt, tôn tộc lấy đó làm điều rạng rỡ của mình. Hôm nay, nhà họ Hạng lại có người kế thừa mới, lại giống như vua Thuấn thời xưa tròng mắt có hai con ngươi, cho nên tất cả mọi người đều cho đó là một điềm tốt đẹp. Biết đâu mai sau cậu bé này cũng giống như vua Thuấn, "làm việc gì cũng trở thành mẫu mực, nói lời nào cũng trở thành điển chương", tức một vị anh hùng làm rung chuyển cả trời đất, khiến quỷ thần đều phải kiêng sợ.
Nhưng, khi người trong nhà họ Hạg nghĩ tới những tai nạn mà vua Thuấn trước kia gặp phải, lại không khỏi lo sợ cho cậu bé mắt có hai con ngươi này. Mẹ vua Thuấn sau khi chết thì người cha lại cưới một người vợ mới. Người kế mẫu này tính tình độc ác, cho nên lúc còn bé vua Thuấn đã chịu sự bạc đãi đủ điều, về sau bà còn xúi giục người con ruột của bà ta là Tượng, cấu kết với người cha để hãm hại Thuấn. Chính vì vậy mà Tượng và Thuấn là hai anh me cùng cha khác mẹ đã bắt đầu tranh đấu kịch liệt với nhau. Tượng và người cha trước tiên lập mưu bảo Thuấn dùng đất trét lại những lỗ thủng của kho lẫm, có ý đồ đốt chết Thuấn. Về sau, hai người lại bảo Thuấn đào giếng, cũng có ý đồ lấp giếng cho Thuấn chết ngạt. Đó chính là "tình lẫm chi nạn". Mặc dù qua hai tai nạn trên Thuấn đã suýt chết bởi âm mưu ác độc của Tượng và người cha. Nhưng may mắn là có Nga Hoàng và Nữ Anh đã trợ lực, giúp Thuấn vượt qua hiểm nghèo. Trước khi Thuấn vào kho lẫm để vá lại lỗ thủng, hai cô gái này bảo Thuấn mặc một chiếc áo có thêu hình chim. Khi người cha nổi lửa đốt kho lẫm Thuấn liền bay ra ngoài như chim. Trước khi đào giếng, hai cô gái cũng bảo Thuấn mặc một chiếc áo có thêu hình rồng. Khi người cha lấp miệng giếng Thuấn chui qua đất để vượt lên trên. Những truyền thuyết thần kỳ đó đã làm cho nhà họ Hạng không khỏi lo lắng. Đứa bé mới sinh ra phải chăng cũng có một người "anh em" ác độc như vậy và cũng sẽ gặp "tình lẫm chi nạn" như Thuấn hay không? Người anh em cùng cha khác mẹ của Thuấn tuy rất ác độc, nhưng cuối cùng âm mưu của hắn cũng vẫn không thực hiện được, vậy đứa bé mỗi con mắt có hai con ngươi này về sau có được may mắn như thế không?
Chính vì lẽ đó, mà người nhà họ Hạng vừa vui mừng lại vừa lo sợ cho đứa bé mới chào đời. Họ đặt tên cho đứa bé là Tịch, tự là Vũ, mọi người thường quen gọi là Hạng Võ (cũng gọi là Hạng Vũ).
Cậu bé Hạng Võ chẳng những khoẻ mạnh mà còn háo động. Thân thể tròn trịa của cậu bé có một sức khoẻ dư thừa, chừng như mọi sự tiếp xúc với thế giới này đều làm cho cậu ta vui vẻ háo hức. Cậu ta biết nói và biết đi rất sớm, cho nên lúc nào cũng chạy nhảy tung tăng khắp đó đây, sức mạnh so với những đứa bé cùng trang tuổi đều hơn hẳn, có thể rinh được nhiều thứ đồ vật nặng nề. Tánh tình của cậu bé cũng rất lạ, có khi tỏ ra hiền lành dễ mến, nhưng cũng có khi nóng nảy muốn làm chi thì làm. Cứ việc gì cậu ta muốn làm mà bị ngăn cản thì sẽ khóc la phản đối, thậm chí lắm lúc cậu ta có thể ném mạnh những món đồ chơi mình ưa thích xuống đất bể nát. Bà nhũ mẫu trông nom cậu bé thường phiền hà là Hạng Võ không chịu nghe lời dạy bỏa, chẳng khác nào một con ngựa chứng. Cha mẹ còn trẻ tuổi của cậu thấy vậy lấm làm lo, sợ cậu sẽ gây ra tai vạ bất cứ lúc nào. Ông nội của Hạng Võ là Hạng Yến, một danh tướng của nước Sở thì lại tỏ ra hết sức yêu mến đứa cháu của mình. Ông nhìn cậu bé Hạng Võ với ánh mắt tán thưởng, khi thấy cậu bé chơi đùa tự do hoặc khóc la ồn ào. Thậm chí ông thường mỉm cười gật gù trước những trò chơi quái ác của cậu bé. Ông thường nói với người chung quanh một cách đắc ý. Cháu của ông có khí chất trời sinh hào phóng, dũng cảm, sau này lớn lên nhất định sẽ trở thành một mãnh tướng!
Hạng Yến ít khi có mặt ở nhà. Với địa vị là một tướng giỏi của triều đình, ông có trọng trách bảo vệ nhà vua, bảo vệ xã tắc. Nước Tần, một quốc gia được mọi người gọi là "đất nước lang sói" là một đối thủ nguy hiểm của nước Sở. Vương triều nhà Tần sau khi được Thương Ương tiến hành cải cách, đã bắt đầu mở rộng bờ cõi sang phía đông, khiến cho sáu nước ở phía đông luôn bị uy hiếp. Các nước Nguỵ, Sở, Tề đã lần lượt bị quân Tần đánh bại. Ba mươi năm trước trong trận đánh tại Trường Bình, bốn chục vạn quân Triệu bị quân Tần bắt sống, và đã bị tướng Tần là Bạch Khởi chôn sống tất cả. Sau trận đánh đó, nước Tần lại lần lượt tiêu diệt Tây Châu, Đông Châu, mở rộng con đường tiến về phía đông. Quốc vương đương kiêm của nước Tần là Doanh Chính có nhiều tham vọng. Sau khi lên ngôi, ông đã sử dụng Lý Tư, Úy Liêu... làm người sách hoạch cho nước Tần, tích cực chuẩn bị "diệt chư hầu, hoàn thành đế nghiệp, thống nhất thiên hạ." Doanh Chính còn sử dụng rất nhiều vàng để mua chuột các quyền thần của sáu nước để phá hoại chính sách "hợp tung" của những nước này. Ngay trong năm Hạng Võ chào đời, quân Tần đã khởi binh phạt Triệu, một cánh quân đánh chiếm đất Nghiệp và một cánh quân khác đánh chiếm Thái Nguyên, Lang Mạnh, Phiên Ngô. Tướng Triệu là Lý Mục mặc dù có thể đánh bại được quân Tần, nhưng cũng tổn thất mấy vạn tướng sĩ và chỉ còn giữ được đô thành Hàm Đan. Hai năm sau, Hàm Đan của nước Triệu bị đánh chiếm, vua Triệu trở thành tù binh của nước Tần. Năm Hạng Võ được ba tuổi, nước Tần tiêu diệt nước Hàn. Đứng trước sự uy hiếp ngày càng nặng nề của nước Tần, vua Sở bắt buộc phải tăng cường đề phòng. Chính vì vậy mà Hạng Yến trong thời đó lúc nào cũng ngồi trên lưng ngựa, ít có khi được rảnh rỗi để về nhà đoàn tụ với gia đình. Dù vậy, ông lúc nào cũng nhớ đến đứa cháu trai bé nhỏ của mình, và hy vọng nó sẽ được nuôi dạy tốt, sau khi trưởng thành sẽ trở thành một vị tướng soái để báo đền ơn vua ơn nước, và tiếp tục viết những trang lịch sử vẻ vang cho gia tộc nhà họ Hạng.
Suốt thời thơ ấu, Hạng Võ đã sống vui vẻ vô tư, vô lự dưới sự nuông chiều thương yêu của ông bà nội. Với điều kiện ưu việt của gia đình, cậu bé Hạng Võ càng lớn càng khoẻ mạnh. Nhưng, khi cậu ta mới bắt đầu hiểu biêt thì đã gặp phải một điều bất hạnh khôn cùng: cha mẹ cậu nối tiếp nhau qua đời. Cậu bé Hạng Võ sớm mồ côi, và tâm hồn non dại của cậu đã bị phủ lên một bóng đen đau buồn.
Người chú của Hạng Võ là Hạng Lương nhận việc nuôi dạy cậu. Hạng Lương là một con người có ý thức quốc gia rất mạnh mẽ. Theo ông thì người nước Sở là người cao quý, đất đai của nước Sở rộng lớn, sản vật dồi dào. Nếu so sánh với nước Tần là một nước mọi rợ (Nhung Địch) thì mọi mặt đều hơn hẳn. Hạng Lương đã dùng một giọng nói tự hào kể thao thao cho đứa cháu của mình là Hạng Võ nghe về lịch sử của nước Sở. Ông nói: tổ tiên của người Sở có nguồn gốc từ bậc đế vương Chuyên Húc thời cổ, do có công trợ giúp Thiếu Cao nene được phong đất Cao Dương, cho nên từ đó lấy họ Cao Dương. Họ Cao Dương là cháu của Hoàng Đế, trong khi đó Cao Tân là trọng tôn trọng lẽ của họ Cao Dương, là người có nhiệm vụ chủ quản về Lửa của Đế Cốc. Ông này mang đến ánh sáng cho cả thiên hạ, có công rất lớn, được Đế Cốc ban cho họ Chúc Dung. Chúc Dung thị là thần hỏa, cho nên tất cả người nước Sở đều là con cháu của thần Hỏa.
Hạng Lương còn nói cho Hạng Võ biết người nước Sở lập quốc rất lâu, từng là nước đồng minh của triều đại nhà Thương. Trong đời Thương - Châu vị tổ của người Sở là Dục Hùng từng phụ tá cho Châu Văn Vương. Đến đời Châu Thành Vương, hậu duệ của Dục Hùng là Hùng Dịch đã dẫn dắt người nước Sở đến định cư tại khu bình nguyên nằm dưới chân núi Kinh Sơn. Tất cả người Sở đều dũng cảm hăng hái tiến lên phía trước, với áo quần lam lũ họ đã khai phá rừng rú để biến đất hoang thành một khu vực phì nhiêu của mình và đã xây dựng đô thành tại Đơn Dương, chính thức thành lập quốc gia. Từ đó trở về sau, thế lực của người nước Sở đã liên tục bành trướng về phía bắc, và đã dời đô đến Kỷ Sính, lần lượt tiêu diệt bốn chục nước chư hầu, để thành lập một đại quốc cường thịnh ở phương nam.
Khi nói tới sự phát triển về kinh tế và văn hóa của nước Sở, Hạng Lương đã lần lượt kể ra những đặc điểm kinh tế và văn hóa của nước Sở như đếm đồ gia bảo: việc chế tác binh khí của nước Sở hơn hẳn các nước khác ở vùng Trung Nguyên, kiếm thép rất bén và nổi tiếng khắp thiên hạ. Hàng dệt bằng tơ tằm rất tinh vi sang trọng, đồ sơn mài chắc chắn và rất đẹp. Người nước Sở còn biết cách nấu muối, làm đồ gốm, làm đồ bằng tre bằng gỗ, làm da thuộc, làm đồ bằng ngọc, và ủ rượu kháp rượu, v.v... tất cả đều có kỹ thuật cao siêu. Chính Hạng Lương có một quả ấn bằng pha lê lóng lánh. Ông ta nói với người cháu là loại pha lê này còn quý giá hơn cả ngọc, chỉ có người nước Sở mới chế tác được.
Khi nhắc đến đô thành cũ của nước Sở là Sính đô, Hạng Lương nói: đây là một đại đô hội lớn nhất trong thiên hạ, trên đường phố người đi chen chúc, lúc nào cũng chật chội, buổi sáng mặc chiếc áo mới vào đi ra phố, đến chiều về thì chiếc áo đã cũ do cọ sát với người đi đường. Chính vì vậy, Sính đô còn được gọi là "đo thành chen lấn rách áo". Sính đô chẳng những là một đo thị phồn hoa, mà còn là một thành phố lúc nào cũng vang tiếng âm nhạc, tại đây có thể nghe được những ca khúc, nhứng lời diễn xướng đủ loại, thường xuất hiện khung cảnh một người lãnh xướng thì có đến hàng vạn người phụ hoạ một cách náo nhiệt. Đô thành hiện nay là Thọ Xuân, có điều kiện địa lý thuận lợi, và phồn hoa không kém gì Sính đô.
Hạng Lương kể chuyện một cách sống động, tình cảm tràn trề, làm cho cậu bé Hạng Võ không khỏi lấy làm phấn khởi, một cảm tưởng người nước Sở là người ưu việt tự nhiên xuất hiện trong lòng cậu bé, và cậu ta cảm thấy rất vinh hạnh mình là con cháu của Hoả thần.
Đàn ông, trai tráng của nước Sở hầu hết đều rất ngưỡng mộ những bậc anh hùng, ai ai cũng có tinh thần thượng võ, cho nên cậu bé Hạng Võ cũng không ngoại lệ. Sau khi nghe chuyện kể của người chú, cậu cũng biết được trong lịch sử trước kia, Sở Trang Vương là vị bá chủ một thời, thì đôi mắt bé thơ đen nhánh của Hạng Võ liền sáng lóng lánh lên, cậu nhảy tưng lên hoan hô vì quá tự hào.
Hạng Lương tiếp tục mô tả một cách sống động: vị Sở Trang Vương đó lúc mới lên ngôi vẫn không hề cho thấy có dấu hiệu nào của một nhà vua sắp sửa xưng hùng. Ông ta suốt ngày uống rượu nghe nhạc và dan díu với những cung nữ, chừng như không hề xem đại sự của quốc gia vào đâu. Ông ta sở dĩ làm như thế là để che mắt một người đang nắm thực quyền trong tay, và có dụng tâm bất chính, tức đại quý tộc Nhược Ngao thị, nhằm tìm hiểu triều thần ai trung ai gian. Về sau, khi cơ hội đã chín muồi, ông liền phát động một cuộc tấn công để tiêu diệt Nhược Ngao thị, rồi nắm đại quyền của quốc gia vào cả trong tay. Từ đó trở đi, ông ta nhờ có Lệnh doãn Tôn Thúc Ngao phụ tá, tiến hành cải cách nội chính, huấn luyện quân đội, phát triển sản xuất, làm cho nước Sở trở thành một quốc gia giàu mạnh. Với ý đồ thay thế cho vương triều nhà Châu để cai trị thiên hạ, Sở Trang Vương đã liên hệ với một đại thần của nhà Châu là Vương Tôn Mãn để tìm hiểu chiếc đỉnh đồng tượng trưng cho quyền lực của nhà Châu có kích thước bao lớn, nặng nhẹ bao nhiêu và mạnh dạn phủ định quyền lực thao túng của các quốc gia của vị thiên tử tối cao của nhà Châu. Khi ông được biết xưng bá ở vùng Trung Nguyên thì trước tiên phải đọ sức vớc nước Tần, phải đè bẹp uy thế của nước này. Cho nên ông liền tiến hành tập trung binh mã tìm kiếm cơ hội để mở một trận đại chiến có quy mô lớn với nước Tần tại vùng đất Tất, đồng thời, giành được thắng lợi huy hoàng. Mấy năm sau, ông lại chinh phục nước Tống, hàng phục được rất nhiều tiểu quốc khác, làm cho ngoài nước Tần, Tề, Lỗ, còn các nước ở vùng Trung Nguyên đều tôn ông lên làm bá chủ. Sau Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, ông trở thành một vị bá chủ mới, làm cho người nước Sở được nở mày nở mặt đối với các nước chư hầu...
Hạng Lương kể hết mọi sự kiện đáng kiêu hãnh của nước Sở cho Hạng Võ nghe, nhưng không bao giờ nói rõ tình trạng hiện thực của nước Sở ngày nay. Trên thực tế thì những trang sử hùng cường của nước Sở đều đã trở thành quá khứ. Kể từ sau khi Sở Hoài Vương bị thất bại trong kế hoạch "hợp tung chống Tần" đã dần dần đi vào con đường suy sụp. Sở Hoài Vương là một nhà vua hồ đồ, ông ta cả tin lời hứa của vua Tần là sẽ tặng cho nước Sở vùng đất Thương Ư rộng sáu trăm dặm, cho nên đã dại dột cắt đứt mối liên hệ liên minh với nước Tề, khiến cho nước Tề phải ngã về phía nước Tần, cùng chung đối hó với nước Sở. Sau khi Sở Hoài Vương biết mình bị gạt liền phát động binh mã đánh Tần, nhưng quân Tần đã chuẩn bị trước, nên quân Sở liên tiếp bị thất bại. Thế là vùng đất tại Hán Trung của nước Sở bị quân Tần đoạt mất, trong khi Sở Hoài Vương cũng bị quân Tần bắt sống mang về nước. Sau khi Sở Hoài Vương bị bắt được ba năm thì ông ta đã tìm cách chạy trốn khỏi nước Tần, ông ta không dám trực tiếp trở về nước Sở, cho nên đã trốn sang nước Triệu, với hy vọng sẽ từ nước Triệu tìm đường chạy trốn tiếp. Nhưng, lúc bấy giờ nước Triệu không dám dính líu tới cuộc tranh chấp giữa nước Tần và nước Sở, cho nên Triệu Huệ Văn Vương đã từ chối không cho Sở Hoài Vương nhập cảnh. Sở Hoài Vương không còn cách nào khác hơn là phải chạy sang nước Ngụy, nhưng giữa đường thì bị quân Tần bắt giữ, áp giải về Hàm Dương và bị giam vào ngục. Sở Hoài Vương vừa thẹn vừa tức giận nên đã sinh bệnh, không bao lâu thì chết ở đất khách quê người.
Hạng Lương không muốn cho đứa cháu của mình biết được việc Sở Hoài Vương đã mang đến nỗi nhục cho nước Sở, không muốn cho Hạng Võ biết nước Sở hiện giờ đang lâm vào tình thế suy nhược, mà chỉ mong muốn Hạng Võ luôn luôn nhớ mãi: nó là người nước Sở, là con chấu của Hoả thần, vậy cần phải xứng đáng với tổ tiên, làm rạng rỡ đất nước mình trong thiên hạ, để tiếng tăm được truyền mãi tận đời sau!
Một cơn ác mộng lúc tuổi ấu thơ
Thời ấu thơ là thời mà con người thường có nhiều giấc chiêm bao. Những giãc chiêm bao đó thật chẳng khác nào những bông hoa rực rỡ hiện lên trong ống kính vạn hoa, xinh đẹp mê hồn như chiếc cầu vồng bắc ngang bầu trời. Sự tưởng tượng ngây thơ của trẻ con thường từ đó vẽ nên những bức tranh xinh đẹp về cuộc đời, dẫn dắt cho tâm hồn thơ ngây đi dạo khắp những miền xa xôi trong trời đất.
Giấc mộng của Hạng Võ trong thời thơ ấu không phải tất cả đều đẹp đẽ. Xã hội đang có những sự biến chuyển to tát, gia cảnh đang suy sụp, thân nhân chết chóc, đã mang đến cho cậu những ký ức như một cơn ác mộng.
Năm 225 Tr. CN, Hạng Võ đã 8 tuổi. Qua sự giáo dục của người chú là Hạng Lương, cậu bé Hạng Võ đã hiểu biết rất nhiều sự việc. Cậu không còn ham thích những trò chơi đùa con trẻ nữa, mà luôn tò mò tình hình ở bên ngoài. Cậu luôn đặt ra nhiều vấn đề lý thú để hỏi người chú, trong đó có cả những đại sự về binh nhung, về danh thần hiền tướng, về dũng sĩ tài ba, không có vấn đề gì mà cậu không đặt thành câu hỏi. Cậu chừng như đã trưởng thành không còn giống những đứa bé ở chung quanh. Thế nhưng, Hạng Lương lúc bấy giờ không còn một tình cảm sôi nổi, sẵn sàng giải đáp những câu hỏi của Hạng Võ như trước kia. Với một tâm hồn có ý thức về quốc gia rất mãnh liệt, cũng như mặc cảm về sự suy vong của đất nước sâu đậm, Hạng Lương đang có rất nhiều âu lo trước tình hình hiện tại của đất nước.
Trong những ngày gần đây, thế tấn công của nước Tần cứ ngày càng mãnh liệt, tin tức chiến bại từ các nước cứ liên tục truyền tới. Nước Hàn đã bị diệt vong, đô thành của nước Yên là Kế cũng đã bị đánh chiếm, vua Yên phải bỏ chạy về Liêu Đông. Mùa xuân năm nay, tướng Tần là Vương Tiễn và người con trai của tướng này là Vương Bôn đang dẫn mười vạn quân mở cuộc tấn công vào nước Ngụy, bao vây đô thành của nước Ngụy hết sức chặt chẽ, một con kiến cũng khó bò qua. Họ chờ cho quân sĩ của nước Ngụy mệt mỏi, thiếu lương thực ăn, mới phá đê sông Hoàng Hà và đê Hồng Câu, cho nước sông chảy vào thành Đại Lương, khiến vách thành sụp đổ, quân dân trong thành chết đuối vô số kể, buộc Ngụy Vương Giả phải đầu hàng, nước Ngụy cũng bị tiêu diệt. Giờ đây, nước Sở đã trở thành mục tiêu tấn công kế tiếp của nước Tần. Quân Tần đang gióng trống phất cờ tiến về phía đông, uy hiếp một cách nghiêm trọng nước Sở. Vua Sở như đang ngồi trên bàn chông, nhân tâm đang chao đảo, đâu đâu cũng sợ hãi hoang mang. Phụ thân của Hạng Lương là Hạng Yến từ lâu bặt vô âm tin. Tương truyền rằng ông suốt ngày bận rộn với việc chiến tranh, không lúc nào được rảnh rỗi. Mùa đông năm qua, tướng Tần là Vương Bôn dẫn quân mở cuộc tấn công vào nước Sở, do nước Sở thiếu phòng bị, việc chỉ huy cũng có nhiều điều sơ hở cho nên đã liên tiếp bị quân Tần chiếm đến hơn mười thành ấp. Sau khi thành bị phá hủy thì nhân dân cũng bị tàn sát, hao binh tổn tướng, thảm bại nặng nề, làm cho sĩ khí của quân Sở bị ảnh hưởng rất lớn, không ít binh sĩ và bộ phận tướng tá bị mất tinh thần, vậy nước Sở phải chăng có thể chống đỡ được những cuộc tấn công của nước Tần, rõ ràng là điều mà mọi người đều mất niềm tin. Thống soái của quân Sở là Hạng Yến, sau khi được sự đồng ý của vua Sở đã tiến hành chỉnh đốn quân đội, lập lại kỷ cương để sĩ khí của nước Sở mau chóng được củng cố. Hạng Yến là một lão tướng của nước Sở, có nhiều công lao, biết thương yêu binh sĩ, có uy tín rất cao trong quân đội. Quân Sở sau khi được sự chỉnh đốn mạnh mẽ của ông, đã bắt đầu có một số khởi sắc. Giờ đây quân Sở đang gối giáo chờ đợi thời cơ, chuẩn bị phản kích trước những cuộc tấn công của quân Tần. Nhưng tin tức ngoài biên cương truyền về cho biết, một viên tướng trẻ tuổi của nước Tần là Lý Tín đã phụng mệnh vua Tần làm thống soái, cùng Mông Điềm dẫn hai chục vạn binh tập kết tại quận Dĩnh Xuyên, và chia binh thành hai cánh cùng tiến về hướng đông. Họ đã đánh chiếm được Bình Dư và Tấm Thành là hai ngôi thành ở ngoài biên cương của nước Sở. Xem ra, một trận đại chiến sẽ khó tránh khỏi.
Vào một ngày âm u, có một lính kỵ mã từ trạm dịch ở ngoài biên cương phi như bay về đến nhà Hạng Lương. Người kỵ mã này được lệnh trở về Kinh Sư để báo cáo tình hình quana sự cho quân Sở, nhân tiện ghé qua nhà họ Hạng để trao một bức thư. Đây là bức thư của Hạng Yến, chỉ vỏn vẹn có mấy chữ: "Cuộc chiến tại Bình Dư và Tấm Thành đang bất lợi, chuẩn bị phản kích. Vậy con ta nên an tâm lo việc nhà, lo dạy dỗ cháu nhỏ, không cần lo lắng chi cả."
Sau khi tiễn chân người lính trạm dịch, Hạng Lương cảm thấy tâm trạng nặng nề, không ngớt bước tới bước lui trong gian phòng. Hạng Võ từ bãi bên ngoài nhanh nhẹn chạy vào. Trên tay cậu bé còn cầm một thanh kiếm sắt, hơi thở hào hển, rõ ràng là cậu đang luyện tập kiếm pháp, vừa thấy Hạng Lương, Hạng Võ lộ sắc tức giận ném mạnh thanh gương xuống đất nói: "Thưa chú, con không muốn học kiếm pháp nữa đâu!" Hạng Lương ngạc nhiên hỏi: "Tại sao?" Hạng Võ đáp: "Kiếm thuật dù học có tinh thâm tới đâu, cũng chỉ có thể đối kháng với một người, vậy có dùng vào đâu được!" Nghe qua câu nói đó Hạng Lương rất tức giận, trước đây Hạng Lương đã dốc lòng dạy Hạng Võ học thư pháp, nhưng Hạng Võ cảm thấy không hứng thú lắm nên cuối cùng đã bỏ dỡ giữa chừng. Hạng Lương liền dạy cậu học kiếm pháp, hy vọng cháu mình sẽ trở thành người giỏi võ nghệ. Không dè Hạng Võ suy nghĩ lung tung, không thể tập trung tinh thần vào việc luyện kiếm. Một khi không thể tập trung tinh thần để hằng ngày khổ luyện, thì làm sao thành tài cho được? Hạng Lương đang muốn lên tiếng quở trách đứa cháu có nhiều cao vọng của mình, không ngờ Hạng Võ đã lên tiếng trước: "Thưa chú, ngoài chiến trường bao giờ cũng có thiên binh vạn mã chém giết lẫn nhau, vậy xin chú hãy dạy cho cháu bản lãnh của một người có thể chống trả được với muôn người. Sau này cháu khôn lớn sẽ giống như ông nội trở thành một tướng quân thống lãnh quân đội tác chiến ngoài mặt trận!" Hạng Võ nhắc tới ông nội với sắc mặt rất kiêu hãnh. Trong tâm khảm của Hạng Võ, ông nội chính là một thần tượng đẹp nhất. Cậu luôn luôn sùng bái khí khái của ông nội mình.
Tâm trạng của Hạng Lương không giống như đứa cháu. Ông đang nhớ đến người cha ở ngoài mặt trận, cho nên đang nóng lòng như lửa đốt. Tất nhiên, Hạng Lương cũng không khỏi thầm khen ngợi Hạng Võ, tuy còn bé mà đã có chí lớn, nói lên những lời nói phi thường. Thế là Hạng Lương buộc phải hứa với Hạng Võ, là chờ khi có thì giờ rảnh rỗi sẽ dạy cậu ta học binh pháp. Binh pháp là môn học dạy con người ngồi trong lều tướng để thảo ra những kế hoạch tác chiến ngoài mặt trận, cũng như cách dụng binh chọn tướng trong chiến tranh. Đó chính là một môn học có thể chống trả lại với sức mạnh của muôn người. Hạng Võ nghe qua lấy làm vui mừng, nói: "Thưa chú, chú nhất định phải dạy cho cháu đấy nhé!" Hạng Lương đáp: "Dạy thì được, nhưng hôm nay thì chưa được, chú còn đang bận nhiều việc, vậy cháy hãy đi luyện tập kiếm pháp nhé!" Hạng Võ vâng lời, vui mừng bỏ đi ra ngoài.
Quân Tần mở cuộc tấn công vào nước Sở lần này, đã chọn vùng bình nguyên nằm giáp giới giữa hai nước Tần và Sở để làm điểm giao tranh. Mục đích của quân Tần là có ý đồ tiêu diệt quân đội dã chiến của nước Sở. Thống soái quân Tần là Lý Tín phán đoán, quân Sở đứng trước cuộc tấn công của quân Tần, chắc chắn sẽ xây dựng tuyến phòng ngự hai bên dòng sông Nhử Thủy, cho nên ông ta đã tiến quân thành hai cánh như hai gọng kềm, ra lệnh cho Mông Điềm chỉ huy một bộ phận quân lực men theo hai bờ sông Nhử Thủy, tiến lên để mở cuộc tấn công quân Sở từ chính diện, còn bản thân ông ta thì chỉ huy quân chủ lực cơ động tấn công vào cánh trái của quân Sở, và sẽ hội sư với Mông Điềm để cùng ra tay tiêu diệt quân Sở. Giai đoạn đầu của chiến dịch này, các mũi tần công của quân Tần đều rất thuận lợi, họ xua quân tiến lên đánh bại quân Sở yếu thế hơn. Mông Điềm đã tiến tới Tẩm Thành, và Lý Tín cũng tiến tới Bình Dư. Người binh sĩ trạm dịch đưa tin về kinh đô chính là tình hình của giai đoạn chiến đấu này.
Thực ra, Hạng Yến là người rất giỏi chiến lược, cho nên ông không bố trí quá nhiều binh lực tại Bình Dư và Tẩm Thành. Số binh sĩ của ông bố trí tại hai địa điểm trên chẳng qua là để theo dõi tình hình quân địch. Ông chờ cho chủ lực của quân địch đi sâu vào nội địa sẽ mở cuộc bao vây rồi áp dụng cách phòng ngự cơ động có chiều sâu, xua quân chủ lực của mình tập trung tại khu vực bờ sống Hoài Hà nằm về phía bắc của kinh đô Thọ Xuân. Do không gặp sự chống trả quyết liệt nào của quân Sở, cho nên Lý Tín đã chỉ huy một đoàn khinh binh nhanh nhẹn tiến về phía đông, vượt qua sông Hoàng Hà, Hạng Yến thấy Lý Tín chỉ huy một đạo quân cô đọc thọc sâu vào nội địa của mình, bị cắt đứt với quân chủ lực ở phía sau, bèn ra lệnh cho quân chủ lực của nước Sở cấp tốc tiến lên để mở cuộc đại phản công. Quân Tần không ngờ điều đó nên hoang mang và rối loạn cả hàng ngũ. Lý Tín vội vàng dẫn tàn quân chạy về Thành Phụ ở phía tây, rồi hợp cùng quân của Mông Điềm lui về giữ Trần Ấp, đắp luỹ cố thủ. Quân Sở thừa thắng truy kích, sau ba ngày ba đêm tiến quân không lúc nào ngừng, quân Sở đã áp sát doanh luỹ của quân Tần, hạ được hai doanh trại, chém chết bảy viên Đô Úy, Lý Tín thấy thế vội vàng bỏ chạy trở về đất Tần.
Sau khi tin chiến thắng truyền về kinh đô của nước Sở, người trong nước ai ai cũng vui mừng, nhất là nhà họ Hạng lại càng vui mừng khôn xiết, Hạng Lương liền bày tiệc trong nhà, gặp gỡ nhiều bạn bè thân thiết để cùng chúc mừng họ Hạng vừa lập được chiến công mới cho nước Sở. Hạng Võ cũng đắm mình trong bầu không khí cực kỳ vui mừng đó. Cậu ta cảm thấy ông nội của mình thật xứng đáng là một vị anh hùng có thể chống trả với sức mạnh muôn người. Cậu ta mong mỏi ông nội sớm trở về đề dạy cậu trở thành một con người trong tương lại cũng có thể "đối địch với muôn người."
Thế nhưng, ông nội cậu không trở về vì chiến tranh vẫn còn tiếp diễn. Mặc dù quân Tần lần thứ nhất tấn công nước Sở gặp trở lực, nhưng quyết tâm diệt Sở của họ vẫn chưa nguôi. Vua Tần Doanh Chính đang tích cực trù hoạch lần tấn công thứ hai vào nước Sở.
Vua Tần Doanh Chính sau khi bị thất bại đã nhận ra nguyên nhân chủ yếu là do dùng người không đúng chỗ. Lúc ban đầu khi cử binh đánh Sở, Doanh Chính nghĩ rằng Lý Tín từng chỉ huy quân Tần tiêu diệt nước Yên, nên muốn cử ông ta làm thống soái. Vua Tần hỏi ông ta cần bao nhiêu binh mã, Lý Tín nói một cách quả quyết, chỉ cần hai chục vạn quân là đủ. Doanh Chính lại hỏi lão tướng Vương Tiễn, tướng này bảo quân lực của Sở hãy còn mạnh, vậy nếu không đủ sáu chục vạn binh thì không thể đánh chiếm được. Doanh Chính trách Vương Tiễn quá nhu nhược, Vương Tiễn cảm thấy bất mãn, nên đã cáo lão xin trở về quên nhà. Khi nhớ lại chuyện đã qua, Doanh Chính không khỏi hối hận, đích thân đến quê hương của Vương Tiễn để mời ông ta làm thống soái, cử binh đánh Sở lần thứ hai. Vương Tiễn không thể thoái thoác, đành phải đồng ý. Nhưng ông ta vẫn kiên quyết nói: "Nếu đại vương muốn sử dụng thần, thì phải có đủ sáu chục vạn quân mới được!" Doanh Chính hứa sẽ cấp đủ quân số như lời yêu cầu của Vương Tiễn, nên Vương Tiễn đã trở lại triều đình nhận nhiệm vụ.
Lần này Vương Tiễn rút ra được bài học khinh địch của Lý Tín, nên đã thay đổi sách lược tấn công. Ông đi theo con đường tiến binh trước kia của Lý Tín để vào nước Sở, và khi tới Thương Thủy, Thượng Thái, Bình Dư thì liền ra lệnh cho toàn thể quân đội dừng lại, đắp luỹ cố thủ, dồn binh luyện võ với mục đích cho binh sĩ nghĩ ngơi để chờ quân Sở từ xa kéo tới tấn công. Tần Vương Chính đã động viên tất cả nhân lực, vật lực chi viện cho tiền tuyến. Lúc bấy giờ thống soái của quân Sở là Hạng Yến vẫn tập trung chủ lực tại Bắc Cương nằm trên bờ sông Hoài, tức tại vị trí cách đô thành Thọ Xuân về phía bắc, chờ quân Tần kéo tới tấn công. Hai quân chong mặt nhau suốt mấy tháng, vua Sở là Phụ Sô cho rằng Hạng Yến sợ địch, nên nhiều lần phái người hối thúc ông ra quân. Hạng Yến không còn cách nào khsc, nên đành kéo quân về hướng tây để tấn công quân Tần. Quân Tần do có chiến luỹ kiên cố, nên quân Sở không cách nào đánh chiếm được, phải đành chuyển quân sang hướng đông. Lúc bấy giờ quân Tần liền từ trong doanh luỹ tuôn ra, chuyển thế thủ thành thế công. Họ rượt theo quân Sở tới Kỳ Nam, thì phía trước mặt của quân Sở là sông Oa Hà, còn sau lưng là quân Tần đang truy đuổi, khiến trật tự bắt đầu rối loạn, mất cả hàng ngũ. Thống soái Hạng Yến bị quân Tần chém chết. Tiếp đó Vương Tiễn ra lệnh cho tướng Mông Võ tiến hành bình định khu vực phía bắc sông Hoài của nước Sở, còn bản thân ông ta thì xua quân đánh thẳng vào kinh đô của nước Sở là Thọ Xuân.
Nước Sở đang chao đảo giữa phong ba bão táp. Một vùng đất rộng lớn của họ đã bị quân Tần chiếm lấy. Riêng Thọ Xuân cũng trở thành một ngôi thành cô độc, vừa không có quân đội mạnh mẽ để giữ thành lại không có quân cứu viện tỏng khi quân Tần vây thành thì người đông thế mạnh, việc thành bị hạ chỉ là việc xảy ra nay mai. Vua Sở là Phụ Sô ngồi trong cung điện lúc nào cũng bồn chồn lo sợ. Ông ta hối hận tại sao trước đây không để cho Hạng Yến được chủ động tấn công, khiến cho mấy chục vạn quân Sở bị hủy diệt trong chốc lát. Hạng Yến chính là cây trụ chống, tấm bình phong của nước Sở, nay mất đi Hạng Yến và cả quân đội của ông, thì đô thành này làm sao bảo vệ được? Nhà vua kêu trời, kêu đất khóc than cho cơ nghiệp của nước Sở sắp sửa tiêu tan, nhưng tất cả hành động đó chẳng còn có ích lợi gì. Tiếng hò reo của quân Tần đang mở cuộc tấn công nghe đinh tai nhức óc, và chẳng khsc gì một ngọn thủy triều đang ồ ạt cuốn tới. Phụ Sô hết sức sợ hãi, nhưng cũng không biết làm gì hơn.
Rõ ràng tường thành Thọ Xuân không thể nào ngăn chặn được bước tiến của quân Tần. Sau khi quân đội của Vương Tiễn phá được cửa thành, liền xông thẳng vào hoàng cung của nước Sở. Thế là người cháu năm đời của Sở Hoài Vương là Hùng Phụ Sô lại đóng vai trò bi thảm của Sở Hoài Vương trươc kia, trở thành một tên tù binh của quân Tần.
Sau khi nước Sở bị diệt vong thì lịch sử tám trăm năm của quốc gia này xem như đã lật đến trang cuối. Gia tộc họ Hạng cùng hưởng vinh hoa cùng chịu nhục với nước Sở cũng vì vậy mà suy sụp hoàn toàn. Sự giàu sang danh vọng trước kia đã trở thành quá khứ, tài sản trong gia đình không mong mỏi gì được phát triển thêm, mà họ chỉ dùng số tài sản đó để sống qua ngày. Ruộg đất mênh mông của họ được bán dần, đông đảo tôi tới trong nhà đã lần lượt ra đi, không còn thấy cảnh trước cổng, trước sân khách khứa đông như hội, mà trong khu sân rộng lạnh lẽo đó chỉ còn nghe tiếng dế nỉ non, trong thiên tỉnh lạnh lẽo của gia đình chỉ còn bóng trăng tàn giá lạnh như băng. Đối với gia đình họ Hạng, một điều đau đớn nhất chính là cái chết của Hạng Yến. Lúc Hạng Yến còn sống và đang nắm binh quyền trong tay, thì uy quyền của ông trở thành cây trụ chống của gia đình; chức tước quyền uy của ông đã mang đến cho gia đình họ Hạng tất cả những sự vẻ vang danh giá. Ông đã mang vinh hoa phú quý cho cả gia tộc. Con cháu của ông cũng nhờ danh vọng của ông mà được người đời kính trọng hơn. Thế nhưng ngày nay, cùng với sự ra đi của ông, và sự tiêu vong của nước Sở, gia đình họ Hạng mất đi tất cả những nơi nương tựa và cũng giống như một đỉnh núi cao bỗng nhiên đổ ập xuống hố sâu.
Năm đó là năm 223 Tr. CN, tức năm thứ hai mươi bốn đời vua Tần Vương Chính.
Năm đó Hạng Võ vừa mới 10 tuổi. Chỉ mới 10 tuổi mà một ấn tượng long trời lở đất, nước mất nhà tan đã gieo vào lòng của cậu. Hạng Võ cảm thấy đó là một sự thù hận làm rung chuyển cả tâm hồn, là một ký ức đầy thống khổ!
Qua năm sau, tức vào năm 222 Tr. CN, Hạng Võ được 11 tuổi, tướng Tần là Vương Bôn lại cử binh đánh chiếm Liêu Đông, bắt sống Yên Vương Hỷ, thế là nước Yên đang sống cầu an ở tại một góc xó đã bị diệt vong. Tiếp đó Vương Bôn lại cử binh đánh chiếm Đại Quận. Triệu công tử Gia đang xưng vương tại đất Đại, trong tay chỉ có một dúm binh mã cho nên đã bị quân Tần đánh bại một cách dễ dàng và bắt làm tù binh. Từ đó nước Triệu cũng hoàn toàn bị diệt vong.
Qua năm sau, Vương Bôn lại từ phía nam nước Yên tấn công đô thành của nước Tề là Lâm Tri. Tề vương Điền Kiến bị bắt sống, nước Tề từ đó cũng bị tiêu diệt. Đến đây thì Tần Vương Doanh Chính đã hoàn thành sự nghiệp nhất thống của ông ta, cuộc chiến tranh chinh phục kéo dài nhiều năm cũng tuyên cáo kết thúc. Tất cả đất đai trong thiên hạ chỉ trong vòng một đêm đều trở thành của nước Tần, tất cả bá tánh trong thiên hạ chỉ trong vòng một đêm đã trở thành con dân của vương triều nhà Tần.
Một vương triều mới đã ra đời. Từ đó từng chính lệnh một đã liên tục từ trung tâm quyết sách của vương triều nhà Tần tại Hàm Dương được truyền tới khắp mọi nơi:
Để chứng tỏ địa vị tối cao và sự nghiệp to lớn của mình, Doanh Chính đã tập trung tôn hiệu của Tam Hoàng Ngũ Đế thời cổ, tự xưng là Hoàng Đế, cũng được gọi là Thủy Hoàng Đế, tức vị hoàng đế đầu tiên. Nhà vua quy định Hoàng Đế tự xưng là "Trẫm", mệnh của hoàng đế được gọi là "Chế", lệnh được gọi là "Chiếu" , quả ấn được gọi là "Tỷ". Trong chế thư Tần Thủy Hoàng có nói: Trẫm là Thủy Hoàng Đế, các đời sau cứ theo thứ tự mà tính, như Nhị Thế, Tam Thế, và nối tiếp cho tới Vạn Thế, tức truyền ngôi vô cùng vô tận. Ông ta xây dựng "một quốc gia của riêng nhà mình", và mở đầu một hệ thống hoàng gia muôn đời.
Nhằm tăng cường sự khống chế trên toàn quốc, Tần Thủy Hoàng đã xây dựng một thể chế chính trị chặt chẽ từ trung ương tới địa phương: ở trung ương Hoàng Đế là người đứng đầu, bên dưới có "Tam Công Cửu Khanh". Tam Công và Cửu Khanh bàn bạc về việc chính sự, và tất cả đều do hoàng đế quyết định. Tại địa phương được thực hành chế độ Quận, Huyện, chia toàn quốc ra thành 36 quận, dưới Quận có Huyện, dưới Huyện có Hương, dưới Hương có Lý, dưới Lý có Đình, và ở cơ sở còn có Thập, Ngũ, cứ mười nhà được gọi là một Thập, năm nhà được gọi là một Ngũ, cứ từng thứ bậc được khống chế chặt chẽ với nhau.
Tất cả những pháp luật của sáu nước trước kia đều bị xóa bỏ, và "Luật Nhà Tần" sau khi được sửa chữa đã ban hành khắp toàn quốc. Luật văn chia thành ba loại. Loại thứ nhất có tương quan đến những vụ án như trộm, cướp, tù, bộ (bắt bớ), tạp, cụ, v.v... và kèm theo sự giải thích về những trường hợp đó; loại thứ hai có tương quan đến ruộng đất, lương thực, tiền tệ, mậu dịch, sân bắn, cân đong đo đếm; loại thứ ba là luật và lệnh đối với các mặt khác, cũng như điều lệ về các vụ án cũng như hình ngục. Trong luật văn về mặt hình pháp được quy định hết sức nghiêm khắc.
Phép cân đong đo đếm, tiền tệ, văn tự của sáu nước trước kia cũng nhất luật phải chấp hành theo quy định mới và thống nhất. Phép cân đong đo đếm được dùng "Hành, Thạch, Trương, Xích" của Thương Ương quy định để làm tiêu chuẩn, đơn vị tính bằng Dật; tiền tròn lấy nửa lượng làm một đơn vị; văn tự thì lấy kiểu chữ Truyện của nước Tần làm cơ sở, và công bố ba nghìn ba trăm chữ Tiểu Truyện để làm mẫu mực, sử dụng trên toàn quốc, quy định cả nước nhất luật đều phải viết theo thể Tiểu Truyện và Lệ Thư.
Quốc gia thực hành chính sách "Thượng Nông Trừ Mạc" (đề cao nghề nông và xóa bỏ nghề buôn bán), ra lệnh cho tất cả những đại thương gia cùng với cac người bị tội đều phải dời cả gia đình xuống vùng Lĩnh Nam sinh sống, lấy đó để hạn chế sự phát triển của thương nghiệp; lại quy định sự miễn giảm xâu thuế để làm biện pháp khuyến khích phát triển canh nông, đồng thời, di dời những người nông dân đông đảo ở vùng Trung Nguyên đến những địa phương thiếu sức lao động để khai khẩn đất hoang...
Cần phải nói những biện pháp của Tần Thủy Hoàng ban bố là có lợi đối với việc phát triển sản xuất, sự tiến bộ của xã hội, và việc hình thành một quốc gia phong kiến trung ương tập quyền. Nhưng, đói với chú cháu của họ Hạng, thì đây lại là một hành động ngược ngạo, trái với lẽ trời, trái với lòng dân, là những hành động hoàn toàn xằng bậy! Họ quen sống theo tất cả chế độ do nước Sở quy định, họ lưu luyến những gì đã bị mất, cũng như đời sống quý tộc của nước Sở mà không bao giờ quay trở lại. Họ không quan tâm tới chuyện bỏ những cái cũ để thay vào những cái mới của vương triều nhà Tần, vì đso không phải là quốc gia của họ, trái lại, quốc gia của họ là nước Sở. Họ là thần dân của nước Sở! Họ đau đớn nhận thấy: nước Sở không còn nữa, kinh đô của nước Sở là Thọ Xuân đã trở thành quận lỵ của quận Cửu Giang nhà Tần, còn đất đai dưới chân họ đã được phân chia lại theo chế độ Quận Huyện! Tường thành kiên cố của Thọ Xuân đã bị đập bỏ, cảnh tượng phồn hoa trước kia của kinh đô nước Sở nay không còn nữa, những gia tộc giàu có của nước Sở bị buộc phải dời về Hàm Dương. Tương truyền Tần Thủy Hoàng muốn dời hết mười hai vạn gia tộc giàu có của sáu nước về Hàm Dương để phá hoại cơ sở kinh tế của các quý tộc ở sáu nước. Triều đình liên tục phái người đi vào dân để tịch thu binh khí, ai cất giấu sẽ bị trừng trị theo luật pháp của nhà Tần. Triều đình không cho phép dân gian giữ binh khí để ngăn chặn âm mưu tạo phản. Tất cả binh khí thu gom được đem nấu ra để đúc thành mười hai tượng đồng khổng lồ, đặt trước cung Hàm Dương. Tần Thủy Hoàng mê tín con số "6" cho rằng số 6 là con số hên. Mười hai tượng đồng mỗi tượng nặng hai mươi bốn vạn cân, đều là bội số của 6. Ngoài ra ông ta còn phân chia cả nước thành ba mươi sáu quận, còn khỏag cách giữa hai bánh xe trene toàn quốc đều là sác xích (thước Trung Quốc), tất cả xe đều dùng sáu con ngựa kéo, v.v... Nhưng, các quý tộc của các nước đối với con số 6 lại cảm thấy hết sức căm thù. Tất cả họ đều gặp phải tai họa tày trời: có người bị giết, có người bị lưu đày, có người bị đưa đi làm khổ sai chung với tất cả mọi thứ tội phạm. Sau khi sau nước bị diệt vong, quốc vương của họ đều trở thành tù binh và bị Tần Thủy Hoàng cho giáng xuống làm thứ dân, tịch thu toàn bộ gia sản, tước bỏ tất cả đặc quyền, đồng thời, hậu duệ của họ cũng bị di đời đến những địa phương cách xa quê cha đất tổ của họ. Tôn thất của nước Ngụy đã từ Đại Lương di dời tới Phong huyện; Triệu vương bị lưu đày đến Phong Lăng, chỉ có thể đứng nhìn quê hương xa tít mà hát lên những tiếng hát bi thảm. Tôn thất của nước Sở cũng bị lưu đày, có không ít quan viên và quý tộc đã chịu đổ máu, xác chết của họ bị vứt trên đường đi không ai dám chôn cất...
Tất cả những điều đó đối với chú cháu của họ Hạng cũng như đối với quý tộc của nước Sở mà nói, thì rõ ràng là một tai nạn kinh hồn, như sống trong cảnh địa ngục! Họ căm hận, họ oán thù, tâm hồn của họ đang rung lên lẩy bẩy!
Chú cháu họ Hạng còn nghe nói Tần Thủy Hoàng dựa theo thuyết "Ngũ đức tương khắc, tuần hoàn bất tận", nên đã tuyên bố lấy Thủy Đức để lập quốc. Thủy Đức là gì? Đó là sự tổng hợp của cái giá rét ở miền bắc, cái khắc nghiệt của mùa đông, và cái vô tình của màu đen hắc1 Muốn thể hiện Thủy Đức thì về mặt hành chánh phải xử lý mọi việc một cách cứng rắn, khắc khe, cấp tốc, dùng hình phạt cực nghiêm. Xem ra Tần Thủy Hoàng hiện nayu đang thực sự bắt đầu dựa vào Thủy Đức để tiến hành mọi việc. Đó là một quyết định có tính chất hủy diệt đối với tầng lớp quý tộc của sáu nước, vậy không phải là một cuộc "khủng bố màu đen" ghê tởm đó sao?
Chú cháu họ Hạng cảm thấy hết sức phẫn nộ. Do không khí ngày càng căng thẳng, cho nên họ cảm thấy không thể sống yên được trong gia đình nữa. Họ chuẩn bị tìm nơi khác để tạm lánh thân. Trong giây phút sắp sửa rời khỏi gia đình, bỗng họ dừng chân đứng lại với sắc mặt ngẩn ngơ: Hỡi quê hương! Chả lẽ từ nay ta pha xa rời ngươi sao? Hỡi nước Sở! Chả lẽ ngươi đã bị tan rã trong cơn ác mộng này rồi sao? Họ không tin đây là một sự thực vĩnh viễn. Khắc sâu trong lòng họ là câu nói kích động lòng người của Sở Nam Công: Sở tuy chỉ có ba hộ, mà tiêu diệt nhà Tần chính là Sở!
Lửa ngầm đang chuyển động
Giữa bầu không khí oi bức của mùa hè, chú cháu họ Hạng cùng đến Lịch Dương, bắt đầu một cuộc sống phiêu bạt đó đây. Thành Lịch Dương nguyên là cố đô của nước Tần, được xây dựng sửa chữa hồi đời Tần Hiến Công năm thứ hai (tức năm 383 Tr. CN), đến đời Tần Hiếu Công năm thứ mười hai (tức năm 350 Tr. CN) thì nước Tần dời đô về Hàm Dương. Như vậy, Lịch Dương đã là thủ đô của nước Tần trước sau ba mươi bốn năm. Thành Lịch Dương toạ lạc tại bờ bắc sông Vị, và nằm trên con đường lớn từ đông sang tây. Phía đông có thể đi đến vùng đất Tam Tấn là nơi có nhiều đại thương gia giàu có. Có thể xem đây là một đại đo thị, từng một thời là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của nước Tần. Thời đó Thương Ương một pháp gia nổi tiéng đã hưởng ứng lời kêu gọi thay đổi đường lối chính trị để đưa nước Tần bước lên con đường giàu mạnh của Tần Hiếu Công nên ông đã tới đây. Tần Hiếu Công đã tiếp nhận ý kiến "thay đổi đường lối chính trị, sửa chữa hình luật, bên trong chú trọng việc canh tác, bên ngoài khuyến khích tưởng thưởng những người dám liều chết cho nước Tần" của Thương Ương thực hành một đường lối pháp trị giúp cho nước Tần đi lên con đường cường thịnh.
Hôm nay kinh đô cũ của nước Tần vẫn phồn hoa như xưa, nhưng bước tới một vùng đất xa lạ này, Hạng Lương bỗng cảm thấy thật là chua xót. Lịch Dương là nơi khởi điểm đi lên con đường cường thịnh của nước Tần, khi quân Tần cử binh tiến về phía đông để bình định sáu nước, thì chiến xa của họ cũng khởi hành từ đây. Lịch Dương là niềm kiêu hãnh của người nước Tần, nhưng đối với chú cháu của họ Hạng là những người dân vong quốc của nước Sở, là một quý tộc lưu vong, thì sự có mặt của họ ở đây quả là một điều sỉ nhục, một sự mỉa mai.
Hạng Lương có một người bạn đang làm nghề buôn bán tại thành Lịch Dương. Ông này đã dựa vào việc buôn bán cũng như việc chăn nuôi mà phát tài. Người này rất trọng khí tiết, có tình nghĩa, đối với bạn bề và tri kỷ một khi đã nói thì chắc, một khi đã làm thì bao giờ cũng có hiệu quả cụ thể, luôn luôn lấy lòng dạ chân thành để cư xử với bạn bè, có phong cách là một người nghĩa hiệp, chứ không giống như bọn con buôn láu cá gian xảo thường thấy, chính vì vậy mà ông ta đã kết giao với rất nhiều bằng hữu ở khắp mọi nơi. Hai năm trước Hạng Lương quen biết với ông trong dịp ông đến Thọ Xuân, thủ đô của nước Sở. Người này cũng có tinh thần thượng võ, biết ít nhiều về kiếm thuật, cho nên đôi bên khi gặp nhau đàm đạo rất hợp ý; từ đó trở thành bạn chí thân. Giờ đây Hạng Lương là người nước mất nhà tan, nhớ tời tình bạn cũn nên mới tìm đến để nương nhờ. Người bạn này tuy là người Tần, một quốc gia chiến thắng, giờ đây lại càng được danh giá hơn; nhưng đối với chú cháu của họ Hạng, tuy là người dân vong quốc, ông ta vẫn không hề có ý xem khinh, mà trái lại có thái độ chân thành hơn lúc trước. Chú cháu họ Hạng hết sức cảm kích, nên dự định ở lại đây một thời gian rồi sau đó sẽ tìm cách trở về cố hương.
Không mấy chốc thời gian đã trôi qua bốn năm năm. Trong khoảng thời gian này, chú cháu họ Hạng có một đời sống rất vui vẻ. Có khi uống rượu, có khi đọc sách, có khi còn ra con đường đông tây buôn bán sầm uất trong thành Lịch Dương để dạo phố, hoặc đến bờ sông Vị để xem người ta câu cá, hoặc ngắm cảnh ghe thuyền buôn bán vào ra tấp nập. Cứ mỗi lần đến đây thì họ liền nghĩ tới quê hương lắm gạo nhiều cá ở nước Sở của mình, cho nên nỗi niềm nhớ quê hương không khỏi làm cho họ cảm thấy rất bùi ngùi. Thế là Hạng Lương liền cùng cháu nhắc lại đủ thứ chuyện ở quê nhà để vơi bớt nỗi niềm của người đang sống phiêu bạt tại đất khách. Như vậy âu cũng là một điều an ủi.
Hạng Võ nay đã là một thanh niên 17, 18 tuổi. Cậu ta có một thân hình cao to, ngực nở vai rộng, sắc mặt màu nâu trông rất khoẻ mạnh, lại có đôi chân mày lưỡi kiếm và đôi mắt sáng rực, có khí khái của một bậc anh hùng. Tính tình của cậu bộc trực, hào phóng, hai cánh tay rắn chắc hơn hẳn mọi người. Đối với binh pháp cậu cũng từng một thời quan tâm học hỏi, nhưng về sau thì lại tỏ ra lạnh nhạt dần. Cậu là người rất sùng bái lòng can đảm, trong khi sức khoẻ của cậu không ai sánh bằng. Cậu cho rằng vũ lực có thể chinh phục được thiên hạ, vậy một người anh hùng chân chính thì phải vừa có sức khoẻ vừa có lòng can đảm, vừa phải gan dạ, vừa phải có kiến thức. Có một hôm cậu cùng đấu vật với một người bạn trẻ, và nhân đó đã dùng hai cánh tay lực lưỡng của mình nhấc bổnng một chiếc đỉnh đồng to làm cho mọi người chung quanh kinh ngạc đến há mồm trợn mắt. Đất Tần là nơi từ lâu có tinh thần thượng võ. Tần Võ Vương là người rất thích trò chơi đấu vật, bên cạnh ông có những người như Nhâm Bỉ, Ô Hoạch, Mạnh Thuyết, nhờ có sức khoẻ hơn người mà được làm quan to. Sau khi nhà vua lên nối ngôi được bốn năm (tức tháng 8 năm 307 Tr. CN), nhà vua cùng thi đua trò cử đỉnh với lực sĩ Mạnh Thuyền, do dùng sức thái quá nên vỡ mạch máu mà chết. Mấy chục năm, tại vùng đất cũ của nước Tần trước kia, lại xuất hiện một dũng sĩ có thể cử đỉnh qua khỏi đầu, tất nhiên việc đó đã trở thành giai thoại truyền tụng khắp nơi ở Lịch Dương. Nhưng người có thể cử đỉnh như Võ Vương trước kia không phải là người Tần, mà chính là một người nước Sở một nước đã từng bị nước Tần tiêu diệt, một quý tộc lưu vong. Khi anh ta đưa cao chiếc đỉnh khỏi đầu, thì trong khoảnh khắc đó không phải anh ta nghĩ tới Tần Võ Vương bị đứt mạch máu chết, mà đang nghĩ tới người anh hùng của nước Sở, từng hỏi thăm chiếc đỉnh đồng tượng trưng cho quyền lực ở Trung Nguyên, từng xưng bá trước chư hầu, đó là Sở Trang Công. Trong tâm hồn của anh đang tràn ngập một thứ hào khí của người nước Sở, trong đầu óc của anh đang hiện lên hình ảnh một ngày nào đó mình sẽ đưa cao chiếc đỉnh tượng trưng quyền lực của nước Tần rồi ném mạnh xuống đất cho nó vỡ tan!
Về sức mạnh có thể cử đỉnh của Hạng Võ, cũng như lòng dũng cảm phi thường của anh ta đã trở thành một giai thoại lưu truyền tự cổ chí kim. Ngày nay phía trước di tích Ý Mã Đài của Hạng vương tại thành phố Từ Châu mà thời xưa gọi là Bành Thành, vẫn còn để một chiếc đỉnh to. Trên chiếc đỉnh sắt này vẫn còn những dòng chữ nổi ca ngợi sức khoẻ phi thường của Hạng Võ: "Vĩ tai Hạng Võ! Khí quán trường hồng. Bạt sơn cái thế, uy chấn cửu trùng..." (Vĩ đại thay Hạng Võ! Hào khí bốc tận trời, nhổ núi sức trùm đời. Rung chuyển khắp nơi nơi...)
Nhờ sự giúp đỡ của người bạn, nên đời sống của chú cháu họ Hạng tại Lịch Dương có thể gọi là rất ổn định. Nhưng vào mùa thu năm đó, một tai họa đã giáng xuống đầu họ. Đầu đuôi câu chuyện là như thế này: Tần Thủy Hoàng khi đi vi hành tại Hàm Dương, đã gặp phải thích khách. Mặc dầu, các cận vệ theo hầu Tần Thủy Hoàng đã bắt và giết chết được thích khách đó, nhưng một cuộc lục soát khắp toàn quốc liền được tiến hành. Mục tiêu lục soát để tìm bắt là các quý tộc của sáu nước cũ. Vì Tần Thủy Hoàng cho rằng chỉ có họ mới có mối thù khắc cốt ghi xương đối với ông ta. Sau khi lệnh lục soát bắt bớ đến Lịch Dương, chú cháu họ Hạng bắt đầu cảm thấy không yên tâm, hơn nữa, lúc bấy giờ Hạng Lương lại do một nguyên nhân ngẫu nhiên đã phạm tội giết người, cho nên trở thành đối tượng bị tìm bắt. Mặc dù có sự che chở của bạn bè nhưng cũng không thể thoát được. Thế là Hạng Lương bị bắt giam vào ngục. Đứng trước tình cảnh dữ nhiều, lành ít đó, Hạng Lương chợt nhớ đến Tào Cửu là một ngục lại trước kia ở Kỳ huyện, giữa họ từng có dịp qua lại với nhau. Hạng Lương bèn nhờ người nhắn tin cho Tào Cửu, nói rõ tình trạng của mình đang bị bắt giam. Tào Cửu không quên tình bạn cũ, liền viết cho viên ngục lại tại Lịch Dương là Tư Mã Hân một phong thư, nhờ ông ta tìm cách giúp đỡ Hạng Lương. Bức thư của Tào Cửu sau khi đến tay Tư Mã Hân, ông này liền suy nghĩ trong giây lát, rồi quả nhiên đã làm đúng theo lời nhờ cậy của Tào Cửu, ra lệnh thả Hạng Lương. Nhưng sau đó, Hạng Lương cảm thấy không thể ở lâu được tại Lịch Dương, nên đã tạ won Tư Mã Hân, Tào Cửu, và những người từng giúp đỡ mình rồi lặng lẽ rời khỏi Lịch Dương trong một đêm tối trời, để bắt đầu một cuộc sống lưu lạc mới.
Nơi dừng chân tiếp đó của chú cháu họ Hạng là Ngô huyện. Ngô huyện trong thời Xuân Thu nguyên là thành Hạp Lư của nước Ngô. Vào năm Châu Kính Vương thứ sáu (tức năm 514 Tr. CN) được Ngô vương Hạp Lư và viên đại thần của ông ta là Ngũ Tứ Tư xây dựng. Thời bấy giờ có quy mô rất to lớn, tường thành cao lại dày, bên ngoài lẫn bên trong tường thành đều có hào sâu, và có tám cửa đfuogn bộ lẫn đường thủy. Trong đó có một cửa được mệnh danh là "Phá Sở Môn", vì quân Ngô từng từ cửa này xuất phát đánh bại nước Sở. Ngôi thành Hạp Lư này trong lịch sử của nước Ngô, vào thời vua Hạp Lư từng xây dựng sửa chữa, cải tiến việc triều chính với ý đồ đưa nước Ngô bước lên con đường cường thịnh, cho nên đã tích tụ rất nhiều lực lượng hùng hầu, "Uy danh lan ra xa ba nghìn dặm, là đệ nhất kinh đô của vùng Giang Nam", một thời xưng hùng, xưng bá tại phía đông nam. Đến khi người con của Hạp Lư là Ngô Phù Sai lên nối ngôi, đã quên mất công lao đời trước, chỉ biết ăn chơi hưởng lạc, khiến đất nước ngày càng suy nhược, cuối cùng bị Việt Vương Câu Tiễn tiêu diệt, từ đó thành Hạp Lư bị đưa vào bản đồ của nước Việt. Sau khi tiến vào thời Chiến Quốc, nước Việt bị nước Sở là một đại quốc ở phương nam đánh chiếm, thế là ngôi thành này trở thành thuộc địa của nước Sở. Hiện nay nó là Ngô huyện, tức một trong hai mươi sáu huyện thuộc quận Hội Kê của nước Tần.
Ngô huyện mặc dù không phồn hoa bằng Lịch Dương, nhưng sống ở đây thì chú cháu họ Hạng có thể nghe được tiếng nói của quê hương nước Sở, thấy được tập quán cũ của nước mình, cho nên họ cảm thấy hết sức thân thiết và sung sướng. Họ Hạng có tiếng tăm rất lớn trong người Sở. Việc Hạng Yến liều chết bảo vệ nước Sở là việc mà ai ai cũng biết. Chính vì vậy mà mọi người đều ngưỡng mộ gia tộc họ Hạng, cho rằng họ có công lớn với nước Sở, là rường cột của nước Sở. Cho nên khi tin tức chú cháu họ Hạng đến Ngô Trung, thì các nhà giàu có, các bận hiền sĩ danh lưu ở địa phương đều đua nhau tới ra mắt. Có những người còn sẵn sàng giúp đỡ về mặt đời sống cho họ, cũng có những người đến nương tựa vào họ. Những thanh niên khoẻ mạnh háo thắng, có lòng yêu nước sôi nổi tại vùng Ngô Trung khi nghe nói Hạng Võ là người vừa dũng cảm vừa có sức mạnh hơn người, lại có một tinh thần nghĩa hiệp, càng tỏ ra sùng kính. Chú cháu họ Hạng cũng hết sức vui vẻ kết giao với họ, cho nên chỉ trong một thời gian ngắn, chung quanh họ đã tập trung những người hào kiệt hảo hán, và họ trở thành một lãnh tụ có uy danh rất lớn tại vùng Ngô Trung. Bất cứ ở địa phương có chuyện nhỏ chuyện lớn gì xảy ra, bao giờ họ cũng tìm chú cháu họ Hạng để xin ý kiến giải quyết. Một khi gặp phải vấn đề sưu thuế hoặc chuyện ma chay, thì những người giàu có đều xin họ đứng ra chủ trì. Hạng Lương là người làm việc rất giỏi, có tài tổ chức, nên được họ rất kính phục, ngay đến quan quyền tại địa phương cũng tỏ ra nể mặt một phần nào đối với họ. Đứng trước tình hình đó, Hạng Lương cảm thấy rất hết sức đắc ý. Trên sắc mặt màu nâu của ông ta không khỏi hiện lên một nét vui mừng.
Nhưng, Hạng Lương là người xuất thân trong gia đình danh tướng của nước Sở, là thành viên của gia tộc họ Hạng, nay đã trở thành một quý tộc lưu vong, chả lẽ chỉ biết lấy nghề giải quyết sưu thuế và tang sự trong địa phương để làm nghề sinh nhai hay sao? Ông có chí hướng riêng, có hoài bão riêng. Vậy chả lẽ lại chịu mai một trong những sự vụ tầm thường đó hay sao? Ông có kế hoạch riêng của mình. Cho nên trong khi làm những công việc, sự vụ đó, ông thường khôn khéo dùng binh pháp để phân phối và khống chế những tân khách, những tử đệ ở chung quanh cùng làm việc, rồi chú ý quan sát tính tình và năng lực của họ. Tỏng quá trình chỉ huy họ làm việc, ông tạo điều kiệu để cho họ phát triển tài năng, đồng thời, cũng từ đó xây dựng thành một lực lượng do chú cháu của họ làm nòng cốt. Trong đời sông hằng ngày, họ thường truyền thụ binh pháp cho các tử đệ Ngô Trung, và dùng thao lực của binh gia để hun đúc họ. Ông bí mật đào tạo chín chục tráng sĩ wor chung quanh mình, rồi huy động tiền bạc để mua binh khí, chỉ đạo họ thường xuyên luyện tập võ công. Trong khi luyện tập thường nghi trang thành những trò chơi, nhưng trong thực tế thì đó lại là những buổi sinh hoạt có ý nghĩa sâu xa. Trong số các tử đệ đó có người sức khoẻ rất phi thường, với hai tay không họ có thể nhổ một thân cây to bằng miệng bát lene khỏi mặt đất, rồi nắm gốc cây múa vun vút và đập xuống mặt đất nghe ào ào. Cứ mỗi lần trông thấy cảnh tượng đó Hạng Lương bao giờ cũng hò reo tán thưởng, và dùng tiền bạc của cải làm phần thưởng để khuyến khích họ. Chừng như trước mắt ông hiện lên cảnh tượng thiên binh vạn mã đang đứng lên khởi nghĩa cũng như trông thất từng đợt tấn công đang ồ ạt diễn ra!
Hạng Võ cũng đoán biết ít nhiều tâm trạng của người chú. Cho dù Hạng Võ không phải là một con người tế nhị, nhưng ông có chung một tình cảm, một tâm trạng với chú, cho nên có một sự sự việc không cần phải nói rõ ra, nhưng tiếng lòng của họ vẫn có thể giao lưu được. Ông nghĩ rằng chú mình chắc hẳn không phải can tâm chịu sống mãi cuộc đời trôi nổi bồng bềnh và quên đi mối hận thù của đất nước. Ông biết chú mình xông xáo lo việc sưu thuế, giúp đỡ mọi người làm ma chay là nhằm che giấu sự nghiệp lớn lao đang ấp ủ. Một lực lượng có thể làm rung chuyển cả đất trời đang được người chú tìm cách tập hợp, tuy bề ngoài đâu đó vẫn bình yên vô sự, nhưng kỳ thực thì ngọn lửa ngầm đang âm ĩ ở trong lòng đất. Hạng Võ cảm thấy hết sức phấn khởi mà cũng cảm tháy hết sức kích động, ông phải gúp chú mình một tay và phải đồng cam cộng khổ với người chú. Năm Tần Thủy Hoàng thứ 37 (tức năm 210 Tr. CN), vào một ngày mùa xuân, trong thành Ngô Trung bỗng thấy tăng cường nhiều lính canh gác. Chúng luôn đi tuần rôn khắp các nẻo đường, đối với người lạ mặt xét hỏi một cách chặt chẽ, khiến cho bầu không khí trong thành Ngô Trung căng thẳng hẳn lên. Cùng một lúc đó, quan quyền địa phương truyền xuống mệnh lệnh cho biết: Vào mùa đông năm nay Tần Thủy Hoàng sẽ đi thị sát khắp thiên hạ, và trên đường đi sẽ ghé ngang qua địa phương này, vậy bá tánh trong cả thành cần phải giữ nghiêm luật lệ, để bảo đảm cho cuộc thị sát của hoàng đế được thành công!
Đây không phải là lần đầu tiên Tần Thủy Hoàng đi thị sát trong thiên hạ. Trước đó nhà vua này từng đi thị sát bốn lần. Lần thứ nhất cách đây mười năm về trước, tức vào năm Tần Thủy Hoàng thứ 27 ( cũng tức là năm 220 Tr. CN). Lúc bấy giờ vua Tần vừa thống nhất toàn quốc, chuẩn bị đi thị sát ở vùng tây bắc Quan Trung và vùng biên giới phía trong Trường Thành. Nhà vua xuất phát từ Hàm Dương, đi về hướng tây bắc quận lỵ của quận Bắc Địa, rồi lại chuyển sang phía tây đi tới Kê Đầu sơn, lại quay trở lại về đi đến quận lỵ của quận Lũng Tây, sau đó thì trở về Hàm Dương. Qua năm sau thì nhà vua lại bắt đầu chuyến thị sát lần thứ hai. Lộ trình của chuyến đi này rất dài, phía đông tới Hàm Cốc Quan, qua Lạc Dương đến Trần Lưu nằm về hướng đông nam kinh đô cũ của nước Nguỵ là Đại Lương. Sau khi tới Định Đào chỗ hai con sông Tế Thủy và Hà Thủy gặp nhau, rồi lại lên núi Trâu Dịch và đi núi Thái Sơn để cử hành lễ phong thiện, sau đó mới tiếp tục đi Lâm Trì, tới khu Thành Sơn ở phía đông. Từ đó nhà vua quay về Chi Phù, rồi tới Lang Nha, lại từ Lang Nha lên đường tới Bành Thành. Sau đó nhà vua đi thị sát vùng đất Sở ở phía nam, và gần như đi khắp vùng lãnh thổ của nước Sở từ đông sang tây, cuối cùng lại từ Nam quận lên bộ đi theo đường Đạo Võ Quan trở về Hàm Dương. Lần đi thứ ba vào năm Tần Thủy Hoàng thứ 29 (tức năm 218 Tr. CN). Nhà vua lại xuất phát từ Hàm Dương đi tới Hàm Cốc Quan ở phía đông, vượt qua Dương Võ, Bộc Dương, Lâm Tri, Chi Phù, Lang Nha rồi trở lại con đường cũ để đi qua Lâm Trí, Bình Nguyên Tân, Cự Lộc, Hoàn Sơn, Hàm Đan, Lô Quan, Thượng Đảng, An Ấp, Bồ Châu Tân, rồi trở về Hàm Dương. Lần đi thứ tư vào năm 32 (tức năm 215 Tr. CN). Sau khi từ Hàm Dương đi đến Hàm Cốc Quan ở phía đông rồi đến Mạnh Tân, vượt qua sông Hoàng Hà đến quân Hà Nôi, sau đó tiếp tục đi tới Kiệt Thạch và từ Kiệt Thạch đi thị sát vùng biên cương ở phía bắc. Tiếp đó, nhà vua từ quận Vân Trung vượt qua sông Hoàng Hà xuống phía nam, đi ngang Thượng Quận trở về Hàm Dương.
Trong vòng mười năm ngắn ngủi, Tần Thủy Hoàng đã đi thị sát với quy mô rộng lớn như thế không phải vì nhà vua muốn du sơn ngoạn thủy, mà là muốn tuyên dương thanh thế của một vị hoàng đế, mở rộng ảnh hưởng chính trị, vừa trấn áp tinh thần vừa xoa dịu những thế lực tàn dư của quý tộc sáu nước cũ. Vì nhà vua biết rằng sáu nước tuy đã bị tiêu diệt, nhưng lực lượng chống đối vẫn còn chưa xoa bỏ hẳn, nhóm quý tộc của họ không cam tâm làm một thường dân của nước Tần. Do vậy, nhà vua không tiếc tốn phí một số lượng lớn nhân lực tài lực, không ngại đường xa nhọc nhằn, đã tổ chức một đội ngũ thị sát hết sức khổng lồ, gần như đi khắp tất cả những vùng đất cũ của sáu nước trước kia. Đó là một sự thể hiện sức mạnh, và cũng là một cách tuyên truyền tốt nhất. Theo dọc đường, nhà vua nhiều lần đến các danh sơn, các sông lớn, để chứng tỏ rằng mình là người được trời ban cho thần quyền, nên việc thống trị toàn quốc là điều tự nhiên. Trong những lần tuần du nói trên, nhà vua còn cho khắc bia đá, để khoe khoang mình và áp đảo tinh thần của những kẻ chống đối. Trong lời văn của các bia đá đã nói lên sự tàn bạo của sáu nước cũ trước kia, từng mang đến cho nhân dân bao nhiêu tai hoạ, cho nên tiêu diệt sáu nước là để chấm dứt tai họa cho dân, chấm dứt những cuộc chiến tranh liên miên bất tận, nói rõ việc thống nhất quốc gia, thống nhất chế độ, chữ viết, phong tục, pháp lệnh có thể giúp cho nhân dân được hòa bình và giàu có, người người tự lo việc làm ăn của mình. Trong lời văn khắc trên bia còn nói rõ việc xóa bỏ hủ tục, xây dựng tập quán mới là có ích cho việc ổn định trật tự xã hội. Nội dung của những tấm bia đá này đã thể hiện ý chí của Tần Thủy Hoàng, thể hiện quốc sách vủa vương triều nhà Tần, và cũng nói lên mục đích chân thật trong việc đi thị sát của nhà vua.
Giờ đây nhà vua tiến hành chuyến đi thị sát lần thứ năm. Nhà vua và đoàn tùy tùng khởi hành tại Hàm Dương từ đầu tháng 10 (Tần lấy tháng 20 làm tháng đầu tiên của năm). Đến tháng 11 thì tới Vân Mông, và tổ chức lễ cúng tế vua Thuấn đã chết ở núi Cửu Nghi tại một địa điểm gần đầm Vân Mông, rồi mới đáp thuyền xuôi theo sông Trường Giang đi xuống, đến Đương Dương thì lên bờ, sau đó đến sông Tiền Đường để xem thủy triều, một kỳ quan của con sông này. Nhà vua từ Tiền Đường tiếp tục đi đến bến đò Hiệp Trung để vượt sông Phú Xuân, sau đó lên núi Hội Kê để tế vua Vũ. Trên đường trở về Hàm Dương nhà vua từng đến Ngô huyện. Trước đó các quan viên địa phương tại Ngô huyện đã đốc thúc nhân dân lo việc "cung nghinh" đến kiệt sức vì mỏi mệt: người dân phải gánh đất vàng mới đem trải trên mặt đường, phải kiểm tra và gia cố tất cả các cây cầu, phải sơn phết trang trí nhà cửa hai bên đường đi, tất cả mọi nhà đều phải quyên tiền để chi cho công việc làm nói trên, còn những người trai tráng khoẻ mạnh phải đi làm xâu không công, khiến bá tánh đều rất khổ sở, tiếng than oán đầy đường.
Ngày xa giá của hoàng đế tới thì tất cả mọi sự chuẩn bị đều phải hoàn thành. Do lòng hiếu kỳ thôi thúc, bá tánh đau nhau kéo ra vệ đường, đứng xa xa để nhìn. Hạng Võ từ xưa tới nay chưa từng thấy Tần Thủy Hoàng cho nên ngày hôm đó cũng rủ người chú của mình là Hạng Lương đi xem. Họ chen chúc giữa đám đông cũng giống như mọi người khác.
Dẫn đầu là đội kỵ binh và đội nghi trượng. Vũ khí của họ che khuất cả mặt trời, áo giáp của họ sáng ngời dưới ánh nắng, trông thật uy phong lẫm liệt. Đội ngũ đông đảo đó đi cả một tiếng đồng hồ mới qua khỏi, và cuối cùng là ba mươi sáu chiếc xe đặc biệt của hoàng đế, các quan viên đi theo chuyến thị sát này gồm có tả thừa tướng Lý Tư, trung xa phủ lệnh Triệu Cao, ngoài ra còn có đứa con nhỏ mà Tần Thủy Hoàng rất yêu mến là Hồ Hợi. Riêng hữu thừa tướng là Phùng Khứ Tật thì ở lại Hàm Dương để lưu thủ.
Chiếc xe đặc biệt của Tần Thuỷ Hoàng do sáu con ngựa kéo, mui xe được trang hoàng bằng vàng và bạc, trên màn che có vẻ dấu hiệu mặt trời, mặt trăng. Tần Thủy Hoàng đầu đội vương miện có tua, mình mặc áo cẩm bào, ngồi ngay ngắn trông hết sức uy nghiêm đáng sợ. Nhưng, sắc mặt của nhà vua có vẻ mệt mỏi, tinh thần có vẻ căng thẳng. Trước đấy mấy hôm, khi xem thủy triều ở sông Tiền Đường, do gió mạnh, sóng to đã làm cho Tần Thủy Hoàng có cảm giác đây là điềm bất tường. Nhà vua chợt nhớ lại trong chuyến đi thị sát tám năm về trước đã gặp phải một sự nguy hiểm mà đến nay vẫn còn thấy ghê sợ. Đó là khi cỗ xe của nhà vua đi tới Bác Lăng Sa thuộc huyện Dương Võ, và khi cỗ xe đang chạy trên đường, thì bỗng từ trong núi đá bên vệ đường có một trái chùy to bằng sắt bay ra và đánh trúng mui xe đi kèm theo. Sau một tiếng "ầm", mui xem bị đánh thủng một lỗ to, và trái chùy sắt đã rơi thẳng vào trong xe. Tình hình đó làm cho Tần Thủy Hoàng hết sức sợ hãi, cũng may là nó đánh trúng một cỗ xe phụ đi kèm, nếu đánh trúng cỗ xe của nhà vua thì không biết tính mạng của nhà vua sẽ ra sao? Nhà vua kêu to thất thanh: "Có thích khách!", đồng thời ra lệnh cho thị vệ đuổi bắt nhưng không hề bắt được ai. Tiếp theo sau đó là một cuộc lục soát trên mười ngày trong cả nước, nhưng vẫn không có kết quả gì. Về sau mọi người mới biết đó là do Trương Lương thuê một lực sĩ để hành thích Tần Thủy Hoàng. Nhưng Trương Lương thì đã trốn đi biệt tăm biệt tích từ lúc nào.
Qua bài học hành thích nói trên, chung quanh cỗ xe của Tần Thủy Hoàng trong chuyến đi này đã tăng cường thêm nhiều thị vệ, canh phòng rất cẩn mật. Thế nhưng trong lòng Tần Thủy Hoàng vẫn phập phồng lo sợ. Nhà vua cố giữ vẻ uy nghiêm bất khả xâm phạm, nhưng một mặt khác thì luôn đưa ánh mắt quan sát đám đông đứng hai bên vệ đường, cảnh giác mọi bất trắc có thể xảy ra.
Riêng bá tánh đứng xem đều trố đôi mắt hiếu kỳ nhìn đội nghi trượng của hoàng gia. Thỉnh thoảng còn nghe có tiếng tặc lưỡi của người ít có dịp nhìn thấy sự dàn binh bố trận uy nghiêm và xa hoa lộng lẫy. Họ chưa bao giờ được chứng kiến đội nghi trượng của hoàng gia và nhất là chưa bao giờ được nhìn thấy mặt Tần Thủy Hoàng, một vị vua uy danh lừng lẫy khắp thiên hạ. Tất nhiên, cũng có người lén thì thầm bàn tán, nhắc lại những hành động tàn bạo của Tần Thủy Hoàng, cũng như những mẩu chuyện vui về ông.
Khi ánh mắt của Hạng Võ chăm chú nhìn cỗ xe của Tần Thủy Hoàng, và từ từ nhìn đến chiếc vương miện có tua và khuôn mặt xa lạ nhưng trong thâm tâm đã tưởng tượng từ lâu của nhà vua, thì ông cảm thấy một luông máu nóng từ dưới dâng lên, khiến ông suýt nữa ngạt thở, trong khi đôi mắt thì sáng quắc như nẩy lửa. Sắc mặt của ông bị tái xanh, hai hàm răng cắn chặt, đôi môi tím ngắt đến rướm máu. Đây phải chăng là tên bạo chúa đã mang đến cho nước Sở cũng như cho gia tộc họ Hạng cảnh nước mất nhà tan? Đây có phải là tên hung thủ đã từng giết chết ông nội và bao nhiêu tướng sĩ của nươc Sở? Đây có phải là Doanh Chính đã phá hoại cuộc sống tốt đẹp của họ và khiến cho họ ngày nay phải lưu lạc khắp nơi? Ông cảm thấy bánh xe đang lăn nhanh trên mặt đường như đang nghiến lấy quả tim của mình, khiến vết thương trong lòng ông đau nhói. Niềm uất hận tích tụ từ lâu trong lòng như đang chạm mạnh vào từng sợi thần kinh khiến cho ông cảm thấy vừa miệt thị vừa phẫn nộ đối với vua Tần. Bất giác ông rít qua kẻ răng: "Ta có thể giết nó để thay thế!"
Lúc bấy giờ có một bàn tay to lớn vội vang bụm lấy miệng ông. Hạng Lương nói khẽ bên tai người cháu: "Đừng lên tiếng, bị giết cả họ đấy!" Hạng Võ chừng như không để ý tới lời cảnh báo của người chú, vẫn siết chặt hai quả đấm, vẫn tròn xoe đôi mắt, nhìn theo bóng dáng cỗ xe của nhà vua cho tới khi nó đã đi thật xa.
Đội xe ngựa khổng lồ đã đi qua, nhưng hận thù vẫn còn âm ỉ. Ngọn lửa ngầm đang chuyển động dưới lòng đất, chắc chắn rồi đây sẽ có ngày nó bùng lên để đốt cháy tất cả mặt đất đang phủ đầy cỏ khô!
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
