<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-05-07 07:21:55Nhân văn>
.
Tình cờ tôi đọc lại bài bình luận của anh Phạm Văn Chúc về một tập thơ của Phạm Ngọc Thái cách đây đã hơn mười năm với tên đề: "Nhận định về tập thơ Người Đàn Bà Trắng" - Bài bình thì chi tiết & rất sâu sắc, nhưng vì rất dài hàng chục trang giấy nên tôi chưa có điều kiện để đăng lên đây cho các bạn đọc tham khảo, chỉ nói lại đôi dòng về tập bình luận ấy!
Theo anh Chúc nói anh đã có thời kỳ cùng sống & chiến đấu với nhà thơ trên chiến trường Tây nguyên Nam Bộ, qua ba mặt trận Việt-Miên-Lào. Như lời trong bài bình luận của anh:
- Suốt chặng đời chiến sỹ PNT ham viết nhật ký & làm thơ từ hồi đó. Nhiều đêm nằm với nhau bên võng giữa rừng trên đường hành quân ra trận, anh vẫn thường hay đọc thơ cho các chiến hữu nghe! Sau này được biết những cuốn nhật ký đều đã bị mất trong chiến đấu, tác giả chỉ còn nhớ lại ít bài thơ tản mạn... cũng thật là một điều đán tiếc!
Và anh Chúc viết tiếp:
- Kể lại một chút kỉ niệm xưa vì khi đọc toàn bộ 52 bài trong tập thơ NGƯỜI ĐÀN BÀ TRẮNG không khỏi ngỡ ngàng nhận thấy: một PNT hôm nay tâm lý, tình cảm... khác với những năm tháng ấy nhiều quá?
Suốt tập thơ luôn luôn bắt gặp một cái bóng của một con người cặp kè với tuổi hoa niên... (Tập thơ NĐBT xuất bản từ năm 1994), một cái bóng bảng lảng khi góc này, góc nọ quanh quất cõi thiền. Nhưng có lẽ không hoàn toàn do vấn đề tuổi tác, bởi vì đến khi đó tuổi tác giả tuy không còn trẻ nhưng cũng chưa đến mức độ quá già. Phần nhiều hơn bởi khách quan cuộc sống, nhân tình thế sự thời thế thế thời đã tác động làm thay đổi suy nghĩ, tâm tư & tâm hồn tác giả. Chỉ cần đọc 4 câu thơ anh đề tựa cho tập cũng thấy thái độ, quan niệm của tác giả trước cuộc đời:
Tiếng chuông chùa bốn phía âm vang
Mình lễ cả ba thiên toà phật
Người có vận! Thôi đừng oán trách,
Chuyện thơ văn vừa thực vừa chơi...
Khi bình luận cụ thể vào tập thơ anh Chúc viết:
- Khái quát hàm súc đã tạo thành nền tảng bao trùm trong thơ PNT, kể cả những bài thơ viết dưới dạng triết lý ngắn gọn đến những bài thơ chảy theo dòng cảm súc tự nhiên. Thí dụ như bài Cửa quán, Nỗi trăn trở người đi tìm vàng, Đi dưới những hàng đêm, Lời hót con chim khách, Bên chùa Trấn Quốc, hoặc như bài Viết sau đám xe tang khi nói về nhân tình thế sự PNT đã viết:
Đừng ai khóc khi đưa ta tới đó
Ta muốn nghe tiếng người cười theo tiễn một vong linh
Nhớ vứt cho ta thêm nắm cỏ xanh
Những đêm mát ta còn ngắm trăng thanh nghe gió thoảng...
Rồi:
Ngồi suy ngẫm đôi ba thế sự
Cuộc cờ người bên thắng bên thua
Ván bài kia tuy kết hôm qua
Hôm sau đã thấy bàn cờ mới
Cuộc cờ ấy theo thời như hội
Vàng, đỏ, trắng, đen... thay sắc luân hồi
Từ anh nhà thơ tới đứa ăn mày
Mấy ai tránh nổi trò sấp ngửa...
Ở bài Đi Dưới Những Hàng Đêm:
Chùa nghìn năm dưới các bóng đa cổ thụ
Nhiều cánh chim qui tụ về đây
Trời xanh nơi chân đài Phật Tổ
Với trời xanh trời đất khoáng đạt thay!
Hình tượng chim ở đây là tác giả nói về con người...Hình ảnh những câu thơ ấy nó gói cả nền tảng xã hội, đạo lý, nhân tình, sự phân hoá trong quan hệ con người & con người, tư tưởng xá hội trước thế thái nó bộc lộ nhân cách thời đại của tác giả... cho nên đọc kỹ thơ là thấy rất thấm thia1... Anh Phạm Văn Chúc đã kết luận như vậy.
Cũng trong việc khi bàn về "Phẩm chất & tính cách nhân văn tác phẩm" anh Chúc nói:
- Đọc cả tập ta thấy nổi lên một điểm rất rõ: Phần nhiều các bài thơ đều được tác giả viết trong các quán xá, bên hồ hoặc ở trong trăng... Nhờ cảnh tình thiên nhiên một sự việc bỗng nhiên nào đó xẩy ra, hay gợi một tâm trạng, một kỉ niệm thoắt đến... tạo thành cảm xúc sáng tác thơ PNT.
Hầu như bài nào cũng có thiên nhiên. Thiên nhiên không chỉ là chỗ dựa cho những tình cảm vui buồn đối với tác giả trong cuộc sống đời thường, nó còn là yếu tố rất quan trọng nuôi sống thơ anh. Rõ ràng nó đã thành ý thức làm thơ, chẳng thế trong một bài thơ tác giả thổ lộ:
Mai ta chết... các bạn bè thân hữu
Bọc thiên nhiên mà đọc điếu văn
Đại bàng vỗ cánh rợp trời mưa gió
Trong không gian vào mãi xứ vô biên
Thơ PNT đều bắt nguồn từ đời thường, cái đời thường ấy khái quát bằng một sự trải đời tương đối sâu sắc: Con người với xã hội, cá nhân và thế giới! Nó mang tính đời sống triết học, hoặc vũ trụ tính: Tồn tại và cát bụi...đời vừa thực lại vừa hư. Tuỳ theo tình cảnh khác nhau tác động mà vào thơ. Bởi thế thơ ẩn chứa một thế giới bên trong, càng đọc sâu càng thấy hay!
Anh Phạm Văn Chúc nhấn mạnh - Cõi thiền là một trong những phẩm chất nhân văn rất căn bản trong thơ PNT!
(xin mở ngoặc rằng: tôi vẫn đang dẫn lời anh PVC nói về Tập thơ Người Đàn Bà Trắng, chứ không phải tập thơ Rung Động Trái Tim)
Nói về tính thế giới quan của nhà thơ anh Chúc phân tích - Khi ta nhìn ra thế giới hôm qua, hôm nay & ngày mai...châu Á, châu Âu, Phi, Mỹ la tinh: những con người đang bị quyền lực, bom đạn chiến tranh chết chóc. Những người da đen đói khổ sống không bằng con vật... cuộc sống con người cứ như thế, như thế mãi biết bao giờ hết? Hiện thực giống như những vòi bạch tuộc, đổi vòi này thay vòi khác - Thực tế dội vào chẳng bao giờ hết bất công ngang trái, để trong bài "Đêm trung thu và đứa ăn mày" anh đã có đoạn viết:
Dưới gầm trời này có phải đã muôn năm như vậy:
- Kẻ cần cơm bên những đứa cần vàng
- Lũ cần tình thương sống lẫn giống bạo tàn...
Và gộp lại gọi chung là Nhân Thế!
Rồi trong một bài thơ đời rất điển hình của tác giả "Nỗi trăn trở người đi tìm vàng" - Anh Phạm Văn Chúc đã phân tích rất kĩ về bài này - Tuy nhiên bài thơ này lại được tác giả cho xuất bản lại trong tập RUNG ĐỘNG TRÁI TIM, lần in lại này tác giả cho xuất bản cả lời bình của chính tác giả...
(Tập thơ Người đàn bà trắng không có lời bình...)
Bởi thế tôi xin đăng nguyên cả bài thơ lẫn lời bình của tập RĐTT đó để ta tham khảo lại về sự sâu sắc của tình thơ:
Tôi sống âm thầm trong một đoàn người hỗn hợp
Rời quê qua bên kia biển sóng
Kẻ tìm vàng - Người vì cảnh nghèo đi
Đạo lý có hoá thừa đành giả dại làm ngơ
Đứa mách qué lại vân vi dễ sống.
Hạt muối xót tháng năm và lòng ai đắng?
Tôi nhận chìm tôi vào những lãng quên!...
Ai mang bán vàng mười giữa phiên chợ đông? (1)
Tôi tìm chắt những bụi vàng như anh lính lê-dương
lọc sàng từng đống rác...(2)
Dầu kẻ bán - Người tìm vàng có khác
Nhưng giá vàng tính cũng như nhau.
Nhìn cánh dơi đen xao xác trời chiều
Cứ để cho tất cả lãng quên!
Cây lý chiều xưa gió còn đưa lại
Bông đại ở quảng trường hương vẫn giăng tơ…
Chút thơm thảo: đoá phù du ngắn ngủi
Giả dại ở đời thường mà khôn lại trong mơ.
Rồi một ngày - Sẽ có một ngày qua
Những năm tháng không bẩn đấy,
cũng rộm vàng khói cột...
Nhưng tôi đã có một thỏi vàng, thứ vàng rất thật!
Đánh một đoá hồng vàng tôi trao đứa con thơ
Người vợ quê hương mỏi mắt đợi chờ
Một chút nữa với bạn bè thân hữu...
Và khi đó tóc tôi có ngả mầu chút xíu
Dù cho tất cả đã quên tôi !?...
Nước Đức 1989
(1) Mượn ý trong câu của một nhà thơ:" Còn ít vàng mười mang ra bán nốt!"
(2) Phỏng theo tích truyện Bông Hồng Vàng của nhà văn Nga Pau-Tốp-xki.
Vào những năm cuối cùng của thập niên 80 thế kỉ XX, các đoàn người xuất khẩu (xk) lao động ồ ạt đổ ra nước ngoài. Bối cảnh trong nước khá hỗn độn, nền kinh tế xã hội sa sút, đời sống dân tình, nhất là nhiều vùng quê rơi vào cảnh nghèo khổ đáng báo động. Thế giới thì đảo loạn, ngả nghiêng. Dẫn đến tình trạng ít năm sau (sang thập niên 90) : Nước Nga Xô Viết tan vỡ và xẩy ra nội chiến. Phe phái đánh lộn lẫn nhau, hàng loạt nước XHCN ở Đông Âu bị sụp đổ. Sương mù chủ nghĩa bao phủ bầu trời... Như ở trong bài thơ Trở Về tác giả đã viết:
Đông Âu gió giật xiêu Thành Mác
Bốn bể chân trời lạc khói sương...
Bấy giờ nhà thơ còn là một cán bộ ngoại thương quốc tế - Được sự điều động, biệt phái từ trong nước ra nước ngoài làm công tác quản lý một số đơn vị xuất khẩu lao động kia. Thực cảnh đó là đám dân dã, hạ tầng của xã hội... đi tha phương kiếm sống, cùng những kẻ tham vọng làm giầu … xô bồ ập vào trong anh. Những trăn trở tình cảm riêng chung trước một thực tế đầy phức tạp ấy, để một đêm nào đó - bài thơ Nỗi Trăn Trở Người Đi Tìm Vàng (NTTNĐTV) đã ra đời:
Tôi sống âm thầm trong một đoàn người hỗn hợp
Rời quê qua bên kia biển sóng
Kẻ tìm vàng - Người vì cảnh nghèo đi
Tác giả vẽ lên một bức tranh được khai thác cả bề diện lẫn bề sâu. Những lớp người này phần lớn đều thuộc con em những gia đình nghèo khổ, tình cảm quê hương gắn bó cũng rất tha thiết. Lòng họ nhiều khi thổn thức. Song những cảnh tượng diễn ra nơi đất khách quê người cũng rất kinh khủng, đến mức đạo lý sống tưởng chừng như không còn chỗ để dung thân. Như những đoàn quân ô hợp trong cảnh bèo dạt mây trôi... nhiều nơi, nhiều chỗ tranh giành xô xéo, thậm chí dối lừa nhau làm ăn không kém gì cảnh chợ giời. Đạo đức bị tha hoá. Ít nhất về mặt tinh thần, nó đã thuộc vào hàng là những lớp người tận cùng đáy xã hội rồi:
Đạo lý có hoá thừa đành giả dại làm ngơ
Đứa mách qué lại vân vi dễ sống!...
Tạo thành một mảng xã hội của những người Việt Nam xa xứ. Ở đây anh đã phải lặng lẽ, trăn trở sống, lòng xa xót không yên:
Hạt muối xót tháng năm và lòng ai đắng ?
Tôi nhận chìm tôi vào những lãng quên!
Sử dụng những cụm từ như "giả dại", "làm ngơ" ,"mách qué","vân vi"... vẫn giữ được phong cách của dòng thơ trữ tình chính thống, bản sắc thêm đậm đà chất văn học dân gian. Đoạn thơ đầu ta thấy hiện lên toàn bộ hình ảnh nhà thơ tự truyện : Giữa cái cảnh chợ giời nơi đất khách quê người, Người đã phải hoá mình thành giả dại, ngây ngô, khi cười cợt, khi như một thứ trò người...để mà sống, nén mình nuốt cái "đạo lý có hoá thừa" kia đi, tâm hồn và lương tri Người vò xé.
Tiếng thơ từ trong trái tim đau bật ra mặn đắng hơn cả dòng nước mắt. Người tự nhận chìm mình như là không tồn tại, để lãng quên. Đó là sự mở đầu đầy bi hài của cuộc sống trong NTTNĐTV này! Ta hãy nghe xem cái giá phải trả của những kẻ đi xk laođộng đó như thế nào:
Ai mang bán vàng mười giữa phiên chợ đông? (1)
Tôi tìm chắt những bụi vàng như anh lính lê-dương
lọc sàng từng đống rác...(2)
Dầu kẻ bán - Người tìm vàng có khác
Nhưng giá vàng tính cũng như nhau.
Câu (1) - Sử dụng ý thơ của một nhà thơ :" Còn ít vàng mười mang ra bán nốt" !
"vàng mười"ở đây chính là thứ vàng của lương tâm. Nghèo cực quá thì đến cả tâm hồn cũng phải mang mà bán cho quỉ sứ! Nền tảng xã hội quá thấp thì cá nhân làm sao có thể giữ cho mình trong sạch được? Huống hồ quan hệ cuộc đời còn có cả gia đình và những người thân . Sự mâu thuẫn trong thực tế giữa xã hội và con người ấy, đã đưa đẩy biết bao thân phận phải đánh đổi đi " một chút lương tâm"... Nếu nhà thơ kia có lúc còn phải mang cả "một ít vàng mười" còn sót lại trong mình... ra phiên chợ người mà bán - Thì hẳn cái thứ vàng kiếm được của đám người lao động, tha phương ở nước ngoài giá đổi còn chua chát hơn nhiều! Còn câu:
Tôi tìm chắt những bụi vàng như anh lính lê-dương
lọc sàng từng đống rác...
Phỏng theo tích truyện Bông Hồng Vàng của nhà văn Nga Pau-Tốp-xki: Có người lính lê-dương làm cận vệ cho một viên tướng Pháp. Trong chuyến sang chiến trường Đông Dương viên tướng ấy mang theo một cô con gái nhỏ. Trước khi bị tử trận, viên tướng còn kịp dặn lại người lính cận vệ của mình: Hãy mang cô con gái của ông về trao lại cho mẹ nó ở Pa Ri! Trên đường về Pháp lênh đênh qua đại dương, bé gái ngây thơ cứ thầm ao ước có một Bông Hồng Vàng!... “ Bông hồng vàng “ chính là biểu tượng cho ước mơ hạnh phúc của cuộc đời bé gái! Những tháng năm sau đó, cuộc sống cực khổ đã xô đẩy anh lính trở thành một người quét rác nghèo hèn, sống trong một túp lều xiêu vẹo dưới gầm cầu của ngoại ô Pa Ri! Ngày ngày khi quét qua các cửa hiệu kim hoàn, người quét rác lại chắt vét lấy những nắm cấn rác có dính chút bụi vàng mang về nơi mình ở. Năm này qua năm khác, dần dà anh ta cũng tích được một ít vàng đủ để nhờ người thợ kim hoàn làm cho cô bé gái một bông hồng vàng nhỏ. Cô bé ấy giờ đã trở thành một thiếu nữ xinh đẹp ở Pa Ri! Trớ trêu, bông hồng vàng chưa kịp gửi đi cho cô gái, thì người quét rác đã chết trong đói nghèo và tủi nhục. Xác anh nằm trên một manh chiếu mục, đầu vẫn gối lên bông hồng vàng nhỏ, sau đó bị người thợ kim hoàn đến lấy đi mất… không đến được tay cô gái.
Vậy là - Thứ vàng mười lương tâm mà nhà thơ kia đã phải mang ra chợ người để bán, cũng như vàng của kẻ quét rác lăn lộn kiếm từ trong rác bẩn cuộc đời, với loại vàng mà đám người lao động làm thuê ở nước ngoài kiếm được:
Dầu kẻ bán - Người tìm vàng có khác
Nhưng giá vàng tính cũng như nhau.
Nó đã phải đổi bằng cả phẩm giá, tủi cực, nhục nhã trong cuộc đời. Nếu lấy giá cả thị trường mua bán ra để tính ( vàng nào cùng loại mà giá chả như nhau? ) - Đem cả ba thứ vàng đó đặt lên chiếc bàn giá của lương tri: thì chúng đều phải trả cái giá đổi như nhau mà thôi! Câu thơ vừa hay với cách đem so sánh với giá chợ giời, lại vừa sâu sắc xót xa. Nó phục lại để điển hình cho một hiện thực xã hội đầy mâu thuẫn, nền đạo lý bị sa hoá, dung lượng thơ có sức chứa tính thời đại rất lớn. Đây là 4 câu thơ hay nhất bài - Như lời một nhà bình thơ đã nhận xét: Nó có thể đạt đến những câu thơ trở thành kinh điển!
Nhìn cánh dơi đen xao xác trời chiều
Cứ để cho tất cả lãng quên!
Nhưng nhà thơ không chỉ dừng ở đấy - Vì dù với lý do gì? Nếu trước mắt họ chỉ biết có vàng! Vàng!...Thì đám người lao động kia cũng chẳng khác bao so với những kẻ hám lợi đi đào mỏ vàng. Không đâu! Thông qua sự trăn trở bản thân, tác giả đã khai thác rất sâu vào nỗi lòng tâm linh của họ, đưa tính nhân bản cùng giá trị hiện thực thơ lên đến tột cùng:
Cây lý chiều xưa gió còn đưa lại
Bông đại ở quảng trường hương vẫn giăng tơ
Chút thơm thảo: đoá phù du ngắn ngủi
Giả dại ở đời thường mà khôn lại trong mơ...
Sự khao khát những chiều hương lý trong kỉ niệm, nhớ đến những bông đại nơi quảng trường quê hương - Nỗi đau và tình thương yêu giằng xé trong lòng họ (những con người lao động), càng thấy sự phũ phàng thực tế mà những kẻ đi tìm vàng đã phải chịu đựng. Kịch tính biết bao khi chính những con người lao động ấy lại phải sống với nhau như hài kịch:
Giả dại ở đời thường mà khôn lại trong mơ...
Câu thơ điệp trở lại hai lần để nhấn mạnh, thật là một màn bi hài của xã hội và cuộc đời. Bài thơ tuy là tự sự bản thân, nhưng đã trở thành đại diện cho một lớp dân sinh đông đảo nhất xã hội. Cuối cùng tác giả lý giải về mục đích mà những nỗi đời trớ trêu ấy đã phải chịu đựng:
Nhưng tôi đã có một thỏi vàng, thứ vàng rất thật!
Đánh một đoá hồng vàng tôi trao đứa con thơ
Người vợ quê hương mỏi mắt đợi chờ
Một chút nữa với bạn bè thân hữu...
Vậy nếu khi nhà thơ của NTTNĐTV này có phải tự chất vấn về mình:
Những năm tháng không bẩn đấy, cũng rộm vàng khói cột…
Thì cũng giống như cảnh nhà thơ kia đã viết:
Còn ít vàng mười mang ra bán nốt!
Làm sao ta có thể lên án được họ (những kẻ đi tìm vàng)?... Vì chính họ đã phải đổi cả một phần nhân cách cần thiết chỉ vì lương tri. Bởi những việc làm của họ xuất phát từ lương tri của lương tri!
Khi NTTNĐTV được in lần đầu trong tập thơ Có Một Khoảng Trời (NXB Hà Nội 1990) - Trong lời giới thiệu của nhà thơ HHL đã nhận xét:
"...xa nước là một nỗi luôn ám ảnh người thơ nghĩ về số phận của những con người rời bỏ quê hương, gia đình và rời bỏ nhiều thứ khác trong những năm tháng của đời mình để đi kiếm sống. Bao nhiêu vật vã tưởng chừng như chính họ - Con người trong cuộc đi này khó có thể vượt qua nổi!...Nhiều bài thơ trong tập Có Một Khoảng Trời bộc lộ rõ cái khả năng không yên ấy. Tình thi NTTNĐTV để rồi chính họ đã đánh mất bao nhiêu điều thường tình nhất... Những hình ảnh , cảnh tượng diễn ra kinh khủng những nơi của người đi kiếm sống ấy. Đọc bài thơ nào tôi cũng thấy Thái hiện lên khá điển hình, những xúc động nhiều suy tưởng. Vấn đề thơ Thái đặt ra mang được cái tầm có ý khái quát cao, và nhiều câu thơ về số phận mỗi con người hiện nay? "
- (trích trong lời giới thiệu tập thơ).
Chỉ với hơn hai mươi câu thơ: NTTNĐTV phục lại không khác gì một pho tiểu thuyết! Một Tấn Đời!...Như lời một nhà phê bình khác đã nói: Bài thơ còn có khả năng trở thành một di sản văn học. Không phải chỉ vì sự hoàn bích độc lập của nó, mà còn vì ý nghĩa sâu sắc, giá trị nhân văn và tính điển hình xã hội... ở trong một giai đoạn có nhiều biến động thời đại phức tạp xẩy ra trên thế giới!
Tình cờ tôi đọc lại bài bình luận của anh Phạm Văn Chúc về một tập thơ của Phạm Ngọc Thái cách đây đã hơn mười năm với tên đề: "Nhận định về tập thơ Người Đàn Bà Trắng" - Bài bình thì chi tiết & rất sâu sắc, nhưng vì rất dài hàng chục trang giấy nên tôi chưa có điều kiện để đăng lên đây cho các bạn đọc tham khảo, chỉ nói lại đôi dòng về tập bình luận ấy!
Theo anh Chúc nói anh đã có thời kỳ cùng sống & chiến đấu với nhà thơ trên chiến trường Tây nguyên Nam Bộ, qua ba mặt trận Việt-Miên-Lào. Như lời trong bài bình luận của anh:
- Suốt chặng đời chiến sỹ PNT ham viết nhật ký & làm thơ từ hồi đó. Nhiều đêm nằm với nhau bên võng giữa rừng trên đường hành quân ra trận, anh vẫn thường hay đọc thơ cho các chiến hữu nghe! Sau này được biết những cuốn nhật ký đều đã bị mất trong chiến đấu, tác giả chỉ còn nhớ lại ít bài thơ tản mạn... cũng thật là một điều đán tiếc!
Và anh Chúc viết tiếp:
- Kể lại một chút kỉ niệm xưa vì khi đọc toàn bộ 52 bài trong tập thơ NGƯỜI ĐÀN BÀ TRẮNG không khỏi ngỡ ngàng nhận thấy: một PNT hôm nay tâm lý, tình cảm... khác với những năm tháng ấy nhiều quá?
Suốt tập thơ luôn luôn bắt gặp một cái bóng của một con người cặp kè với tuổi hoa niên... (Tập thơ NĐBT xuất bản từ năm 1994), một cái bóng bảng lảng khi góc này, góc nọ quanh quất cõi thiền. Nhưng có lẽ không hoàn toàn do vấn đề tuổi tác, bởi vì đến khi đó tuổi tác giả tuy không còn trẻ nhưng cũng chưa đến mức độ quá già. Phần nhiều hơn bởi khách quan cuộc sống, nhân tình thế sự thời thế thế thời đã tác động làm thay đổi suy nghĩ, tâm tư & tâm hồn tác giả. Chỉ cần đọc 4 câu thơ anh đề tựa cho tập cũng thấy thái độ, quan niệm của tác giả trước cuộc đời:
Tiếng chuông chùa bốn phía âm vang
Mình lễ cả ba thiên toà phật
Người có vận! Thôi đừng oán trách,
Chuyện thơ văn vừa thực vừa chơi...
Khi bình luận cụ thể vào tập thơ anh Chúc viết:
- Khái quát hàm súc đã tạo thành nền tảng bao trùm trong thơ PNT, kể cả những bài thơ viết dưới dạng triết lý ngắn gọn đến những bài thơ chảy theo dòng cảm súc tự nhiên. Thí dụ như bài Cửa quán, Nỗi trăn trở người đi tìm vàng, Đi dưới những hàng đêm, Lời hót con chim khách, Bên chùa Trấn Quốc, hoặc như bài Viết sau đám xe tang khi nói về nhân tình thế sự PNT đã viết:
Đừng ai khóc khi đưa ta tới đó
Ta muốn nghe tiếng người cười theo tiễn một vong linh
Nhớ vứt cho ta thêm nắm cỏ xanh
Những đêm mát ta còn ngắm trăng thanh nghe gió thoảng...
Rồi:
Ngồi suy ngẫm đôi ba thế sự
Cuộc cờ người bên thắng bên thua
Ván bài kia tuy kết hôm qua
Hôm sau đã thấy bàn cờ mới
Cuộc cờ ấy theo thời như hội
Vàng, đỏ, trắng, đen... thay sắc luân hồi
Từ anh nhà thơ tới đứa ăn mày
Mấy ai tránh nổi trò sấp ngửa...
Ở bài Đi Dưới Những Hàng Đêm:
Chùa nghìn năm dưới các bóng đa cổ thụ
Nhiều cánh chim qui tụ về đây
Trời xanh nơi chân đài Phật Tổ
Với trời xanh trời đất khoáng đạt thay!
Hình tượng chim ở đây là tác giả nói về con người...Hình ảnh những câu thơ ấy nó gói cả nền tảng xã hội, đạo lý, nhân tình, sự phân hoá trong quan hệ con người & con người, tư tưởng xá hội trước thế thái nó bộc lộ nhân cách thời đại của tác giả... cho nên đọc kỹ thơ là thấy rất thấm thia1... Anh Phạm Văn Chúc đã kết luận như vậy.
Cũng trong việc khi bàn về "Phẩm chất & tính cách nhân văn tác phẩm" anh Chúc nói:
- Đọc cả tập ta thấy nổi lên một điểm rất rõ: Phần nhiều các bài thơ đều được tác giả viết trong các quán xá, bên hồ hoặc ở trong trăng... Nhờ cảnh tình thiên nhiên một sự việc bỗng nhiên nào đó xẩy ra, hay gợi một tâm trạng, một kỉ niệm thoắt đến... tạo thành cảm xúc sáng tác thơ PNT.
Hầu như bài nào cũng có thiên nhiên. Thiên nhiên không chỉ là chỗ dựa cho những tình cảm vui buồn đối với tác giả trong cuộc sống đời thường, nó còn là yếu tố rất quan trọng nuôi sống thơ anh. Rõ ràng nó đã thành ý thức làm thơ, chẳng thế trong một bài thơ tác giả thổ lộ:
Mai ta chết... các bạn bè thân hữu
Bọc thiên nhiên mà đọc điếu văn
Đại bàng vỗ cánh rợp trời mưa gió
Trong không gian vào mãi xứ vô biên
Thơ PNT đều bắt nguồn từ đời thường, cái đời thường ấy khái quát bằng một sự trải đời tương đối sâu sắc: Con người với xã hội, cá nhân và thế giới! Nó mang tính đời sống triết học, hoặc vũ trụ tính: Tồn tại và cát bụi...đời vừa thực lại vừa hư. Tuỳ theo tình cảnh khác nhau tác động mà vào thơ. Bởi thế thơ ẩn chứa một thế giới bên trong, càng đọc sâu càng thấy hay!
Anh Phạm Văn Chúc nhấn mạnh - Cõi thiền là một trong những phẩm chất nhân văn rất căn bản trong thơ PNT!
(xin mở ngoặc rằng: tôi vẫn đang dẫn lời anh PVC nói về Tập thơ Người Đàn Bà Trắng, chứ không phải tập thơ Rung Động Trái Tim)
Nói về tính thế giới quan của nhà thơ anh Chúc phân tích - Khi ta nhìn ra thế giới hôm qua, hôm nay & ngày mai...châu Á, châu Âu, Phi, Mỹ la tinh: những con người đang bị quyền lực, bom đạn chiến tranh chết chóc. Những người da đen đói khổ sống không bằng con vật... cuộc sống con người cứ như thế, như thế mãi biết bao giờ hết? Hiện thực giống như những vòi bạch tuộc, đổi vòi này thay vòi khác - Thực tế dội vào chẳng bao giờ hết bất công ngang trái, để trong bài "Đêm trung thu và đứa ăn mày" anh đã có đoạn viết:
Dưới gầm trời này có phải đã muôn năm như vậy:
- Kẻ cần cơm bên những đứa cần vàng
- Lũ cần tình thương sống lẫn giống bạo tàn...
Và gộp lại gọi chung là Nhân Thế!
Rồi trong một bài thơ đời rất điển hình của tác giả "Nỗi trăn trở người đi tìm vàng" - Anh Phạm Văn Chúc đã phân tích rất kĩ về bài này - Tuy nhiên bài thơ này lại được tác giả cho xuất bản lại trong tập RUNG ĐỘNG TRÁI TIM, lần in lại này tác giả cho xuất bản cả lời bình của chính tác giả...
(Tập thơ Người đàn bà trắng không có lời bình...)
Bởi thế tôi xin đăng nguyên cả bài thơ lẫn lời bình của tập RĐTT đó để ta tham khảo lại về sự sâu sắc của tình thơ:
Tôi sống âm thầm trong một đoàn người hỗn hợp
Rời quê qua bên kia biển sóng
Kẻ tìm vàng - Người vì cảnh nghèo đi
Đạo lý có hoá thừa đành giả dại làm ngơ
Đứa mách qué lại vân vi dễ sống.
Hạt muối xót tháng năm và lòng ai đắng?
Tôi nhận chìm tôi vào những lãng quên!...
Ai mang bán vàng mười giữa phiên chợ đông? (1)
Tôi tìm chắt những bụi vàng như anh lính lê-dương
lọc sàng từng đống rác...(2)
Dầu kẻ bán - Người tìm vàng có khác
Nhưng giá vàng tính cũng như nhau.
Nhìn cánh dơi đen xao xác trời chiều
Cứ để cho tất cả lãng quên!
Cây lý chiều xưa gió còn đưa lại
Bông đại ở quảng trường hương vẫn giăng tơ…
Chút thơm thảo: đoá phù du ngắn ngủi
Giả dại ở đời thường mà khôn lại trong mơ.
Rồi một ngày - Sẽ có một ngày qua
Những năm tháng không bẩn đấy,
cũng rộm vàng khói cột...
Nhưng tôi đã có một thỏi vàng, thứ vàng rất thật!
Đánh một đoá hồng vàng tôi trao đứa con thơ
Người vợ quê hương mỏi mắt đợi chờ
Một chút nữa với bạn bè thân hữu...
Và khi đó tóc tôi có ngả mầu chút xíu
Dù cho tất cả đã quên tôi !?...
Nước Đức 1989
(1) Mượn ý trong câu của một nhà thơ:" Còn ít vàng mười mang ra bán nốt!"
(2) Phỏng theo tích truyện Bông Hồng Vàng của nhà văn Nga Pau-Tốp-xki.
Vào những năm cuối cùng của thập niên 80 thế kỉ XX, các đoàn người xuất khẩu (xk) lao động ồ ạt đổ ra nước ngoài. Bối cảnh trong nước khá hỗn độn, nền kinh tế xã hội sa sút, đời sống dân tình, nhất là nhiều vùng quê rơi vào cảnh nghèo khổ đáng báo động. Thế giới thì đảo loạn, ngả nghiêng. Dẫn đến tình trạng ít năm sau (sang thập niên 90) : Nước Nga Xô Viết tan vỡ và xẩy ra nội chiến. Phe phái đánh lộn lẫn nhau, hàng loạt nước XHCN ở Đông Âu bị sụp đổ. Sương mù chủ nghĩa bao phủ bầu trời... Như ở trong bài thơ Trở Về tác giả đã viết:
Đông Âu gió giật xiêu Thành Mác
Bốn bể chân trời lạc khói sương...
Bấy giờ nhà thơ còn là một cán bộ ngoại thương quốc tế - Được sự điều động, biệt phái từ trong nước ra nước ngoài làm công tác quản lý một số đơn vị xuất khẩu lao động kia. Thực cảnh đó là đám dân dã, hạ tầng của xã hội... đi tha phương kiếm sống, cùng những kẻ tham vọng làm giầu … xô bồ ập vào trong anh. Những trăn trở tình cảm riêng chung trước một thực tế đầy phức tạp ấy, để một đêm nào đó - bài thơ Nỗi Trăn Trở Người Đi Tìm Vàng (NTTNĐTV) đã ra đời:
Tôi sống âm thầm trong một đoàn người hỗn hợp
Rời quê qua bên kia biển sóng
Kẻ tìm vàng - Người vì cảnh nghèo đi
Tác giả vẽ lên một bức tranh được khai thác cả bề diện lẫn bề sâu. Những lớp người này phần lớn đều thuộc con em những gia đình nghèo khổ, tình cảm quê hương gắn bó cũng rất tha thiết. Lòng họ nhiều khi thổn thức. Song những cảnh tượng diễn ra nơi đất khách quê người cũng rất kinh khủng, đến mức đạo lý sống tưởng chừng như không còn chỗ để dung thân. Như những đoàn quân ô hợp trong cảnh bèo dạt mây trôi... nhiều nơi, nhiều chỗ tranh giành xô xéo, thậm chí dối lừa nhau làm ăn không kém gì cảnh chợ giời. Đạo đức bị tha hoá. Ít nhất về mặt tinh thần, nó đã thuộc vào hàng là những lớp người tận cùng đáy xã hội rồi:
Đạo lý có hoá thừa đành giả dại làm ngơ
Đứa mách qué lại vân vi dễ sống!...
Tạo thành một mảng xã hội của những người Việt Nam xa xứ. Ở đây anh đã phải lặng lẽ, trăn trở sống, lòng xa xót không yên:
Hạt muối xót tháng năm và lòng ai đắng ?
Tôi nhận chìm tôi vào những lãng quên!
Sử dụng những cụm từ như "giả dại", "làm ngơ" ,"mách qué","vân vi"... vẫn giữ được phong cách của dòng thơ trữ tình chính thống, bản sắc thêm đậm đà chất văn học dân gian. Đoạn thơ đầu ta thấy hiện lên toàn bộ hình ảnh nhà thơ tự truyện : Giữa cái cảnh chợ giời nơi đất khách quê người, Người đã phải hoá mình thành giả dại, ngây ngô, khi cười cợt, khi như một thứ trò người...để mà sống, nén mình nuốt cái "đạo lý có hoá thừa" kia đi, tâm hồn và lương tri Người vò xé.
Tiếng thơ từ trong trái tim đau bật ra mặn đắng hơn cả dòng nước mắt. Người tự nhận chìm mình như là không tồn tại, để lãng quên. Đó là sự mở đầu đầy bi hài của cuộc sống trong NTTNĐTV này! Ta hãy nghe xem cái giá phải trả của những kẻ đi xk laođộng đó như thế nào:
Ai mang bán vàng mười giữa phiên chợ đông? (1)
Tôi tìm chắt những bụi vàng như anh lính lê-dương
lọc sàng từng đống rác...(2)
Dầu kẻ bán - Người tìm vàng có khác
Nhưng giá vàng tính cũng như nhau.
Câu (1) - Sử dụng ý thơ của một nhà thơ :" Còn ít vàng mười mang ra bán nốt" !
"vàng mười"ở đây chính là thứ vàng của lương tâm. Nghèo cực quá thì đến cả tâm hồn cũng phải mang mà bán cho quỉ sứ! Nền tảng xã hội quá thấp thì cá nhân làm sao có thể giữ cho mình trong sạch được? Huống hồ quan hệ cuộc đời còn có cả gia đình và những người thân . Sự mâu thuẫn trong thực tế giữa xã hội và con người ấy, đã đưa đẩy biết bao thân phận phải đánh đổi đi " một chút lương tâm"... Nếu nhà thơ kia có lúc còn phải mang cả "một ít vàng mười" còn sót lại trong mình... ra phiên chợ người mà bán - Thì hẳn cái thứ vàng kiếm được của đám người lao động, tha phương ở nước ngoài giá đổi còn chua chát hơn nhiều! Còn câu:
Tôi tìm chắt những bụi vàng như anh lính lê-dương
lọc sàng từng đống rác...
Phỏng theo tích truyện Bông Hồng Vàng của nhà văn Nga Pau-Tốp-xki: Có người lính lê-dương làm cận vệ cho một viên tướng Pháp. Trong chuyến sang chiến trường Đông Dương viên tướng ấy mang theo một cô con gái nhỏ. Trước khi bị tử trận, viên tướng còn kịp dặn lại người lính cận vệ của mình: Hãy mang cô con gái của ông về trao lại cho mẹ nó ở Pa Ri! Trên đường về Pháp lênh đênh qua đại dương, bé gái ngây thơ cứ thầm ao ước có một Bông Hồng Vàng!... “ Bông hồng vàng “ chính là biểu tượng cho ước mơ hạnh phúc của cuộc đời bé gái! Những tháng năm sau đó, cuộc sống cực khổ đã xô đẩy anh lính trở thành một người quét rác nghèo hèn, sống trong một túp lều xiêu vẹo dưới gầm cầu của ngoại ô Pa Ri! Ngày ngày khi quét qua các cửa hiệu kim hoàn, người quét rác lại chắt vét lấy những nắm cấn rác có dính chút bụi vàng mang về nơi mình ở. Năm này qua năm khác, dần dà anh ta cũng tích được một ít vàng đủ để nhờ người thợ kim hoàn làm cho cô bé gái một bông hồng vàng nhỏ. Cô bé ấy giờ đã trở thành một thiếu nữ xinh đẹp ở Pa Ri! Trớ trêu, bông hồng vàng chưa kịp gửi đi cho cô gái, thì người quét rác đã chết trong đói nghèo và tủi nhục. Xác anh nằm trên một manh chiếu mục, đầu vẫn gối lên bông hồng vàng nhỏ, sau đó bị người thợ kim hoàn đến lấy đi mất… không đến được tay cô gái.
Vậy là - Thứ vàng mười lương tâm mà nhà thơ kia đã phải mang ra chợ người để bán, cũng như vàng của kẻ quét rác lăn lộn kiếm từ trong rác bẩn cuộc đời, với loại vàng mà đám người lao động làm thuê ở nước ngoài kiếm được:
Dầu kẻ bán - Người tìm vàng có khác
Nhưng giá vàng tính cũng như nhau.
Nó đã phải đổi bằng cả phẩm giá, tủi cực, nhục nhã trong cuộc đời. Nếu lấy giá cả thị trường mua bán ra để tính ( vàng nào cùng loại mà giá chả như nhau? ) - Đem cả ba thứ vàng đó đặt lên chiếc bàn giá của lương tri: thì chúng đều phải trả cái giá đổi như nhau mà thôi! Câu thơ vừa hay với cách đem so sánh với giá chợ giời, lại vừa sâu sắc xót xa. Nó phục lại để điển hình cho một hiện thực xã hội đầy mâu thuẫn, nền đạo lý bị sa hoá, dung lượng thơ có sức chứa tính thời đại rất lớn. Đây là 4 câu thơ hay nhất bài - Như lời một nhà bình thơ đã nhận xét: Nó có thể đạt đến những câu thơ trở thành kinh điển!
Nhìn cánh dơi đen xao xác trời chiều
Cứ để cho tất cả lãng quên!
Nhưng nhà thơ không chỉ dừng ở đấy - Vì dù với lý do gì? Nếu trước mắt họ chỉ biết có vàng! Vàng!...Thì đám người lao động kia cũng chẳng khác bao so với những kẻ hám lợi đi đào mỏ vàng. Không đâu! Thông qua sự trăn trở bản thân, tác giả đã khai thác rất sâu vào nỗi lòng tâm linh của họ, đưa tính nhân bản cùng giá trị hiện thực thơ lên đến tột cùng:
Cây lý chiều xưa gió còn đưa lại
Bông đại ở quảng trường hương vẫn giăng tơ
Chút thơm thảo: đoá phù du ngắn ngủi
Giả dại ở đời thường mà khôn lại trong mơ...
Sự khao khát những chiều hương lý trong kỉ niệm, nhớ đến những bông đại nơi quảng trường quê hương - Nỗi đau và tình thương yêu giằng xé trong lòng họ (những con người lao động), càng thấy sự phũ phàng thực tế mà những kẻ đi tìm vàng đã phải chịu đựng. Kịch tính biết bao khi chính những con người lao động ấy lại phải sống với nhau như hài kịch:
Giả dại ở đời thường mà khôn lại trong mơ...
Câu thơ điệp trở lại hai lần để nhấn mạnh, thật là một màn bi hài của xã hội và cuộc đời. Bài thơ tuy là tự sự bản thân, nhưng đã trở thành đại diện cho một lớp dân sinh đông đảo nhất xã hội. Cuối cùng tác giả lý giải về mục đích mà những nỗi đời trớ trêu ấy đã phải chịu đựng:
Nhưng tôi đã có một thỏi vàng, thứ vàng rất thật!
Đánh một đoá hồng vàng tôi trao đứa con thơ
Người vợ quê hương mỏi mắt đợi chờ
Một chút nữa với bạn bè thân hữu...
Vậy nếu khi nhà thơ của NTTNĐTV này có phải tự chất vấn về mình:
Những năm tháng không bẩn đấy, cũng rộm vàng khói cột…
Thì cũng giống như cảnh nhà thơ kia đã viết:
Còn ít vàng mười mang ra bán nốt!
Làm sao ta có thể lên án được họ (những kẻ đi tìm vàng)?... Vì chính họ đã phải đổi cả một phần nhân cách cần thiết chỉ vì lương tri. Bởi những việc làm của họ xuất phát từ lương tri của lương tri!
Khi NTTNĐTV được in lần đầu trong tập thơ Có Một Khoảng Trời (NXB Hà Nội 1990) - Trong lời giới thiệu của nhà thơ HHL đã nhận xét:
"...xa nước là một nỗi luôn ám ảnh người thơ nghĩ về số phận của những con người rời bỏ quê hương, gia đình và rời bỏ nhiều thứ khác trong những năm tháng của đời mình để đi kiếm sống. Bao nhiêu vật vã tưởng chừng như chính họ - Con người trong cuộc đi này khó có thể vượt qua nổi!...Nhiều bài thơ trong tập Có Một Khoảng Trời bộc lộ rõ cái khả năng không yên ấy. Tình thi NTTNĐTV để rồi chính họ đã đánh mất bao nhiêu điều thường tình nhất... Những hình ảnh , cảnh tượng diễn ra kinh khủng những nơi của người đi kiếm sống ấy. Đọc bài thơ nào tôi cũng thấy Thái hiện lên khá điển hình, những xúc động nhiều suy tưởng. Vấn đề thơ Thái đặt ra mang được cái tầm có ý khái quát cao, và nhiều câu thơ về số phận mỗi con người hiện nay? "
- (trích trong lời giới thiệu tập thơ).
Chỉ với hơn hai mươi câu thơ: NTTNĐTV phục lại không khác gì một pho tiểu thuyết! Một Tấn Đời!...Như lời một nhà phê bình khác đã nói: Bài thơ còn có khả năng trở thành một di sản văn học. Không phải chỉ vì sự hoàn bích độc lập của nó, mà còn vì ý nghĩa sâu sắc, giá trị nhân văn và tính điển hình xã hội... ở trong một giai đoạn có nhiều biến động thời đại phức tạp xẩy ra trên thế giới!
nhanvan




[/align]










[size=+1][/size]













