📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Khoa Học Huyền Bí

Đời Người - Nhàn Cư Đạo Sĩ

0 trả lời, 447 lượt xem — Trang 1 / 1
ĐỜI NGƯỜI
 
Tác giả: NHÀN CƯ ĐẠO SĨ
 
 
THAY LỜI TỰA
 
Từ buổi ban sơ, khi Thượng-Đế giáng linh tạo dựng giống người, tánh con người vốn thiện. Cư trần sanh nhiễm, xác thân mê luyến điều huyển ảo, tập tánh gian tham, chất chứa cho nhiều của cải vật-chất, những mong truyền-kế hưởng thụ lâu dài. Trường tranh-đấu thiệt hơn dục sanh ra ác tánh.
Thần trí phải tách mình ra khỏi vòng huyển-ảo của xác thân trì níu thì mới mong trở về cội-nguồn Thiêng-Liêng nguyên-thủy. Phép tách mình ra khỏi xác phàm phải nhờ đến quyền CHÍ LINH trợ lực mới có đủ ánh sáng tâm-linh giác-ngộ. Cái sống của Thần hướng về chổ CHÍ LINH tối-diệu sẻ kéo theo TINH, KHÍ hiệp mầu mà hườn Pháp Thân linh-hiển. Ấy vậy, TÂM là chủ. TÂM sanh TÁNH, còn vật tùy hình. Hể Phàm Tâm ắt sanh Tục Tánh, Thánh Tâm thì Thiên Tánh. Lành thăng, dử đọa. Đôi đường tự tạo. THIÊN ĐỊA vốn vô tư. Đời người là thế.
 
Nhàn Cư Đạo Sĩ cẩn bút.
NGÔI CHÍ TÔN
Khi Trời Đất chưa phân định, không gian hiện có đây chỉ là HƯ VÔ CHI KHÍ. Gọi là KHÍ HƯ VÔ vì cái thể của nó trống không, đối với mắt phàm của con người. Kỳ thật trong cái KHÔNG ấy vẩn có chứa đựng một nguồn sống tiên khởi, chưa biến hình, gọi là ĐẤNG TỰ-HỬU, nghĩa là tự nó có như vậy. Không có cái gì trước nó để sanh ra nó. Trong Hư Vô đã có sẳn nguồn sống nên nói rằng trong KHÔNG mà CÓ. Con người gọi tên nguồn sống ấy bằng nhiều danh hiệu khác nhau, với lòng tôn-kính, nên luôn luôn có kèm theo tiếng ĐỨC hay ĐẤNG, chẳng hạn ĐỨC CHÚA TRỜI, ĐẤNG CHÍ TÔN, ĐẤNG TẠO-HÓA, ĐỨC NGỌC HOÀNG THƯỢNG-ĐẾ, ĐẤNG ALLAH, ĐẤNG JEHOVAH v.v.....
Nguồn sống đầu tiên ấy đầy khắp trong Vũ-Trụ bao la, linh-diệu, sáng-suốt tột cùng. Khi nguồn sống ấy bắt đầu thức-động, cái thể của Vũ-Trụ biến hình, tạo ra sự khác biệt giửa hai trạng-thái. Một trạng-thái có thức-động đối nghịch với trạng-thái im lìm mờ-mịt trước đó. Cơ sanh-hóa đã bắt đầu. Từ khi ấy mới có ý-thức thời gian sau trước, qua lại. Cái thể gốc của Vũ-trụ, mờ mờ mịt mịt, đã biến hình thành hai trạng-thái đối nghịch đầu tiên, gọi là THÁI-CỰC phân LƯỠNG NGHI: một ÂM, một DƯƠNG. Khích động thuộc Dương, im lìm tĩnh lặng thuộc Âm. Nói rằng Khí Hư Vô sanh ra có một THẦY, nghĩa là trong cái Không Không của Hư Vô đã có sẳn một nguồn sống đầu tiên, gọi là THẦY. Ngôi của THẦY là THÁI-CỰC, nghĩa là nguồn sống ấy ngự-trị cùng khắp trong không gian. Ngôi là chổ ngự, vị-trí. Đó là lời nói bóng diễn-tả ý nghĩa đơn sơ về nguồn gốc bản-thể của Vũ-Trụ, thường được xử-dụng trong Đạo-Giáo, còn hiện-tượng diễn-biến trong quá khứ đã xảy ra như thế nào một cách rỏ rệt trên dòng thời gian vô định để hình thành được Vũ-Trụ như ngày nay trong tri-thức của con nguời hảy còn là lời nói phỏng. Vậy thì, ĐỨC CHÍ TÔN, hay tiếng THẦY trong CAO ĐÀI GIÁO, là nguồn sống đầu tiên trong Vũ-Trụ. Từ nguồn gốc ấy biến sanh ra muôn loài vạn-vật, trong đó có Con Người. Từ chổ KHÔNG KHÔNG, tự mình biết làm ra CÓ, KHÍ HƯ VÔ ấy thật linh-hiển, đầy quyền phép nên gọi là CHÍ LINH, thêm tiếng ĐẤNG vào là để tỏ lòng tôn-kính. ĐẤNG CHÍ LINH là TRỜI vậy.
 
 
NGÔI PHẬT MẪU
 
Từ khi Vũ-Trụ được phân-định thành hai thể trạng đối nghịch: ĐỘNG và TĨNH, Cơ Sanh-Hóa bắt đầu và nối tiếp không ngừng nghĩ trên dòng thời gian. LƯỠNG NGHI sanh ra TỨ TƯỢNG. Tứ Tượng biến BÁT QUÁI. Bát quái biến-hóa vô cùng, mới tạo ra CÀN KHÔN THẾ GIỚI, là những giai-đoạn biến hình kế tiếp của nguồn sống đầu tiên từ trong Hư Vô Chi Khí.
Sự chuyển biến ngày càng phức-hợp, phân-định ranh-giới rỏ rệt giửa hình vật thể và khoảng Trống Không, làm cho Không Gian  có hình tướng.
Khí Thanh bay lên làm Trời, Khí Trược giáng xuống liên-kết làm Đất. Tất cả mọi hiện-tượng sanh-hóa, nghĩa là biến-thân của nguồn sống đầu tiên đều phát-xuất từ Nguyên-Lý Lưỡng Nghi tác-động với nhau mà sinh ra. Cái linh-diệu sáng-suốt củ Hư Vô Chi Khí, tự  mình biết thức-động, gọi là ÁNH LINH QUANG của CHÍ TÔN, chiếu-giám trên âm quang mà làm hóa sanh hình chất. ÂM QUANG là khí chất hổn-độn sơ-khai khi CHÍ TÔN chưa tạo-hóa. Lằn Âm Khí ấy là DIÊU-TRÌ CUNG, chứa để tinh vi vạn-vật, tỉ như  cái âm quang của phụ-nữ có trứng cho loài người.
Khi CHÍ TÔN đem dương quang ấm áp mà làm cho hoá sanh thì cái khoảng âm quang phải thối cầm làm TINH ĐẨU, là Cơ Quan sanh-hóa Vạn Linh. Vậy Lưỡng Nghi là pháp sanh-hóa đầu tiên của Vũ-Trụ, là MẸ SANH, là nguồn gốc của các Pháp. Tất cả mọi nguyên-lý, qui luật vận-hành của Vũ-Trụ trong tất cả mọi hiện-tượng lớn nhỏ đều thuộc về Pháp, và PHẬT MẪU là PHÁP, là biến thân của CHÍ TÔN. Sự sống trong Càn Khôn Thế Giới là một thực-thể vẹn toàn, nhìn ở mặt cái gốc tự-hửu gọi danh là CHÍ TÔN, nhìn ở mặt nguyên-lý vận-hành gọi danh là PHẬT MẪU. Nên cũng nói rằng CHÍ TÔN là PHẬT, PHẬT MẪU là PHÁP, Càn Khôn Thế-giới là TĂNG.
 
PHÂN TÁNH GIÁNG SANH
Khai Thiên Địa vốn Thầy, sanh Tiên, Phật cũng Thầy. Thầy đã nói: Một Chơn-Thần mà biến-hóa Càn-Khôn Thế-Giới và cả Nhơn-loại. Một Chơn-Thần của Thầy mà sanh-hóa ra chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần và toàn cả nhơn-loại trong Càn-Khôn Thế-Giới. Khi chi hửu sanh cũng do bởi Chơn Linh Thầy mà ra. Hể có sống ắt có Thầy. Thầy là Cha sự sống. Vì vậy mà lòng háo-sanh của Thầy không cùng tận.
Nói khác đi, một thực-thể Hư Vô Chi Khí nhìn từ các mặt nguồn gốc của sự sống đầu tiên trong Vũ-Trụ gọi là THẦY, CHÍ TÔN.
Phép biến thân của CHÍ TÔN để hóa-sanh gọi là PHẬT MẪU.
Sự linh-hiển của Chí Tôn tự mình biết sáng-tạo từ KHÔNG ra CÓ gọi là CHƠN LINH của THẦY.
Khí chất hổn-độn sơ-khai khi chưa tạo-hóa gọi là CHƠN THẦN của THẦY.
Đó là tiếng nói của con người mượn tạm để diễn-tả mặt này, mặt kia của sự sống Vũ-Trụ, vốn là môït thực-thể vẹn toàn bao gồm từ  Tinh Vân Đẩu Tú đến con Vi-Trùng bé nhỏ trong không gian hay Hạt Điện-Tử  trong cơ-cấu vật-chất.
Vạn-vật đồng nhứt thể, vì xét từ nguyên do sản-xuất mọi thứ Hậu Thiên đều từ Hư Vô Chi Khí mà biến-hóa ra, cho nên thể gốc của nó vẩn là một.
Chủng sanh giai hửu Phật tánh, vì chúng sanh do bởi Chơn Linh Thầy mà ra, nghĩa là trong sự sống của chúng sanh có cái Linh của Thầy. Cái Linh ấy cũng gọi là Phật tánh, cũng đồng một gốc mà ra. Ấy là phép Phân Tánh Giáng Sanh của THƯỢNG ĐẾ để tạo dựng muôn loài vạn-vật.  Con người là tạo-vật sản-xuất từ nguồn-gốc ấy nên có đồng bản-thể và cấu-tạo của một Tiểu Vũ-trụ.
Ba phần chánh cấu-tạo nên một con người là: CHƠN LINH, CHƠN THẦN và XÁC THÂN.
Linh hồn con Người:
 
 
CHƠN LINH
 
Mỗi con người đều có một Chơn Linh. Chơn Linh ấy là một phần nhỏ của Khối Chơn Linh Thượng-Đế, một điểm sáng nhỏ trong  Khối Đại Linh Quang của Vũ-Trụ, một Tiểu Hồn trong Đại Hồn của Vũ-Trụ. Chơn Linh ấy, còn được gọi là Linh Hồn hay Lương Tâm, có nhiệm-vụ gìn giử sanh mạng con người, phán-xét từ lời nói, tư-tưởng, hành-động, thưởng phạt, dạy dổ cho nên Hiền, nên Thánh. Chơn Linh không hình ảnh, nhưng vẩn có như nguồn sống đầu tiên của Vũ-Trụ Tự-Hửu vậy. Chơn Linh ấy vốn là một phần nhỏ của Khối Đại Linh Quang Vũ-Trụ nên thông công được với Đức Chí-Tôn và các Đấng Trọn Lành, các Linh Hồn đã thoát xác. Nơi xác phàm Con Người, Chơn Linh hiện-thực trong yếu-tố THẦN của Tam-Bửu: TINH, KHÍ, THẦN.
Thần là sự sáng-suốt, khôn ngoan, linh-hiển. Thần in lìm, phẳng lặng. Khi hoạt-động, Thần tạo ra nơi con Người cái THỨC là biết, qua ý nghĩ, tư-tưởng. Sự hiện-thực ấy chẳng khác nào như gió thổi làm ngọn cây lay động. Nhìn ngọn cây lay động mà biết là có gió, chớ nào ai thấy gió bao giờ. Nhìn trí khôn của con người hiện ra trong sinh-hoạt thường nhật mà biết cái gốc của nó là Chơn Linh vẩn hằng hửu. Tóm lại từ Thượng-Đế đến con người là một mạch sống qua nhiều trạm biến thiên, càng đến gần thân xác, càng mất dần tính trọn lành, thánh-thiện, và vương mang thêm những nét phàm-tục. Bởi vậy sự khôn ngoan của cái trí con nguời có thể rất nên quỉ-quyệt, dù nguồn gốc sâu xa của nó vẩn là Khối Đại Linh Quang của Vũ-Trụ. Ấy là bước đọa trần của những linh-hồn đắm tục, luân-hồi triền miên từ thân xác này qua thân xác khác mà không trở về cựu vị được. Con đường phản bổn huờn-nguyên là con đường hướng sự sống của con người về Cội Nguồn Thiêng Liêng của nó là Chí Linh. Tất cả giải-pháp chủ trương để giải-quyết cuộc đời của các Vị Giáo-Chủ xưa nay đều đặt trên nền-tảng ấy, cho dù có khác nhau ở mặt này hay mặt kia là do nơi tâm-lý của nhơn sanh, tùy thời, tùy chổ phải biến thiên cho dể nạp dụng mà thôi.
 
 
CHƠN THẦN
 
Chơn Thần là nhị xác thân, là xác thân thiêng-liêng. Khi còn ở nơi xác phàm thì khó xuất riêng ra đặng vì bị xác phàm kéo níu. Cái Chơn Thần ấy của các Thánh, Tiên, Phật là huyền-diệu vô cùng, bất tiêu, bất diệt. Bậc chơn tu, khi còn mang xác phàm nơi mình, nhưng đắc Đạo, có thể xuất ra trước buổi chết mà vân-du thiêng ngoại. Cái xác thiêng liêng ấy do nơi TINH, KHÍ, THẦN mà luyện thành:
- Nó nhẹ nhàng hơn không khí
- Khi nơi xác phàm xuất ra thì lấy hình ảnh của xác phàm như khuôn in rập
- Nó thuộc về bán hửu hình vì có thể thấy đặng mà cũng có thể không thấy đặng
- Nó có khả-năng tụ và tan được, hiện ra hình ảnh rồi biến mất
-Nó là khí chất lồng trong xác phàm con người, từ trong ngũ tạng, lục phủ, xương tủy đến ngoài da
- Trung tâm nó là Óc.
- Nơi cửa xuất nhập của nó là MÕ ÁC
Ấy là một khối sinh-lực điển quang, nơi xuất-phát mọi tình-cảm và xúc-cảm của con người, chịu sự điều khiển của Chơn Linh và nghiệp quả của xác phàm gây ra. Vị-trí của nó là kẻ trung-gian giửa Chơn Linh và Xác Phàm.
Chơn Linh hay Linh Hồn con người là sự sáng-suốt linh-diệu, không hình ảnh.
Chơn Thần là Xác Thân Thiêng Liêng, bán hửu-hình, có hình ảnh giống y xác phàm. Chơn Thần hiện ra trong yếu-tố  Khí của Tam Bửu.
Chết là hiện-tượng Chơn Thần và Chơn Linh  rời khỏi xác thân vĩnh-viễn. Trong ngôn-ngữ dân gian, người ta vẩn quen gọi lẫn lộn giữa Chơn Linh và Chơn Thần và thường hay gồm chung hai phần này làm một. Chẳng hạn nói:”Chơn Linh người chết hiện về, hay Linh Hồn người chết hiện về” có nghĩa  là phần Chơn Thần đã thoát xác , có Linh Hồn hay Chơn Linh ngự-trị bên trong, hiện ra hình ảnh, hoặc tạo ra tiếng động, hay di-chuyển đồ đạt, để chứng tỏ sự hiện-diện của họ. Những tiếng khác như Vong Linh, Vong Hồn, Chơn Hồn, Hồn Ma, có cùng ý-nghĩa để chỉ tất cả những gì đã cấu-tạo nên con người còn lại trong cỏi vô hình sau khi thân xác chết.
Đặc biệt trong câu Kinh:”Kêu Chơn Hồn vịnh níu Chơn Linh”, có sự phân-biệt về từ-ngữ giửa Chơn Hồn và Chơn Linh. Ý nghĩa tương tự như lời khuyên đối với người sống, đang đứng trước một việc khó khăn trong cuộc đời, rằng bạn hãy hành-động theo lương-tâm của mình, đừng theo dục-vọng nhứt thời. Trong cảnh giới thiêng-liêng, Chơn Thần hãy hướng sự sống của mình theo Ánh Sáng Chơn Linh, đừng nhớ chuyện trần-tục nữa. Thực ra, sau khi thân xác chết, còn lại một thực-thể sống, có hai tên gọi: CHƠN THẦN và CHƠN LINH, là vì được nhìn từ hai mặt, Khối Điển Quang và cái Linh của Thượng-đế ngự-trị nơi đó. Kêu Chơn Hồn vịn níu Chơn Linh là kêu gọi giục thúc Khối Điển Quang sống theo cái Linh của Thượng-Đế.
 
 
TINH, KHÍ, THẦN
 
Đầy khắp trong Vũ-Trụ bao la, không có nơi nào không có sự sống, dầu đó là hiện-tượng hóa-thạch, sâu dưới lòng đất, phải mất nhiều năm mới thành hình được một viên sỏi, hay là sự tử sanh ngắn ngủi của những loài vi-khuẩn, cực-kỳ bé nhỏ, phải dùng đến kính hiển-vi phóng-đại mới thấy được, hay là sự vận-hành của tinh-đẩu thật diễm-lệ, biết tuân theo trật-tự của quỉ-đạo trong không-gian. Nếu nhìn về phương-diện một khoảng không gian nhỏ bé, ước chừng một mét khối, nơi đó thân con người đang chiếm ngụ thì con nguời là một tổng-thể của ba phần lồng vào nhau trong khoảng không gian ấy:
                        -một xác thân phàm tục là thân thể
                        -một xác thân thiêng-liêng là Chơn Thần
                        -một sự sáng linh-hiển là Chơn Linh
Nếu nhìn từ phương-diện yếu-tố gì cấu-tạo nên con người thì con người là một tổng-thể gồm có:
                        -một khối thể đặc và lỏng, gồm thịt, xương, da, lông, tóc, máu huyết, gọi là TINH
                        -một khối sinh-lực, làm tay chân biết cử-động, đi đứng, nói năng được, gọi là KHÍ
                        -một sự sáng-suốt khôn ngoan của trí-não, biết sáng-tạo, cải-biến môi-trường để gìn-giử mạng sống, gọi là THẦN
Ấy vậy, thân là TINH, lực là KHÍ, trí là THẦN. Nói rỏ ra, sanh-lực làm cho thân-thể con nguời sống là một khối điển-lực, nghĩa là tác-động của trí-não.
                        THẦN là gốc, vô hình, vô ảnh
                        TRÍ là ngọn, biểu hiện của THẦN
Trí hoạt-động hiện ra điển-lực. Điển-lực làm thân thể cử-động, nghĩa là sống. Vì vậy TAM BỬU của con người có thể diễn-tả như sau:
                        TINH là Thân thể
                        KHÍ là điển-lực, nghĩa là trí-lự
                        THẦN là Linh Hồn
Ba món báu ấy hòa-hợp cùng nhau thì thuận với Lý Thiên-Nhiên. Sụ phát-triển của con người được điều-hòa về cả ba phương-diện: thể-chất, tình-cảm và trí-tuệ.
 
 
THIÊN NHÃN 
 
Biểu-tượng thờ-phượng trong Đạo Cao-Đài là THIÊN NHÃN. Ý-nghĩa tóm-tắt trong lời dạy của ĐỨC CHÍ-TÔN như sau:


NHÃN THỊ CHỦ TÂM
LƯỠNG QUANG CHỦ TỂ
QUANG THỊ THẦN
THẦN THỊ THIÊN
THIÊN GIẢ NGÃ GIẢ

Mỗi con người đều có một Chơn Linh theo gìn giử chơn mạng sanh-tồn. Người đời thường gọi lộn Lương Tâm cũng là đó. Tâm của con người vốn không hình ảnh, nhưng qua ánh mắt , người ta có thể đoán biết được tâm-trạng của kẻ ấy ra sao. Những điều sâu kín trong tinh-thần có thể che dấu, ngụy-trang được bằng những cử chỉ, lời nói không thật, nhưng ánh mắt là biểu-lộ nội-tâm, không sao che dấu được. Vì vậy mới nói rằng: “ NHÃN THỊ CHỦ TÂM”.
Hai lằn yến sáng, tức là thị-giác của hai con mắt, là chính, vì nó giúp cho tinh-thần con người thấy, biết được thế-giới ngoại-cảnh: “ LƯỠNG QUANG CHỦ TỂ”.
Và cái thấy, tức sự sáng ấy gọi là THẦN, “QUANG THỊ THẦN”.  Thần là TRỜI. TRỜI là TA vậy. THẦN THỊ THIÊN, THIÊN GIẢ NGÃ GIẢ. Vì vậy có thể kết luận rằng:
 
 
                                                              Thờ Thiên Nhãn là thờ Trời vậy
 
Ý-nghĩa thứ hai: THẦN CƯ TẠI NHÃN. Tóm tắt trong lời dạy của Đức Chí-Tôn có liên-quan đến việc công phu luyện đạo: “Thần là khiếm-khuyết của Cơ Mầu-Nhiệm từ ngày Đạo bị bế. Thầy cho Thần hiệp Tinh, Khí đặng hiệp đủ Tam-Bửu là Cơ Mầu-Nhiệm siêu-phàm nhập Thánh. Thầy đến đặng huờn nguyên Chơn Thần cho các con Đắc Đạo. Con hiểu Thần Cư tại Nhãn. Bố trí cho chư đạo hửu con rỏ. Nguồn cội Phật Tiên do yếu-nhiệm là tại đó”.
 
 
LUYỆN KỸ
 
Ai đã vào vòng sanh tử, mang lấy mảnh thi-hài nầy, thọ bẩm tinh cha huyết mẹ, đều phải chịu món nợ của Tổ Phụ lưu-truyền, phải ăn mới sống, phải mặc mới lành thì chưa dễ gì thoát khỏi quyền vật dục  của xác thân đòi hỏi. Mãnh thi-hài nầy nhờ tinh cha huyết mẹ nên hình thì trí-lự khôn ngoan cũng phải do nơi quyền Thiêng-Liêng khai mở. Cái phép Tu Hành là phải làm cho Thân Tâm hòa nhịp cùng nhau đặng phát-triển một cách điều-hòa 3 yếu-tố: TINH, KHÍ, THẦN, gọi là Luyện Kỹ.
Phương Luyện Kỹ đặng vào con đường thứ ba Đại Đạo là một phương-pháp sống tích-cực. Mục-đích sau cùng là để mở cửa BÁT QUÁI ĐÀI tại thế. Chơn Thần đủ quyền năng xuất-ngoại xác thân, tương-liên cùng các Đấng Trọn Lành mà đoạt Cơ Giải-Thoát. Con đường ấy buộc kẻ tu hành phải biết:

-         làm giảm tiêu nghiệp-chướng tiền-khiên của mình bằng công-nghiệp phụng-sự Vạn Linh
-         giử gìn giới-luật một cách nghiêm nhặt đối với bản thân để tránh gây thêm nghiệp-chướng tân tạo
-         lại còn phải biết bảo-thủ Khối Tinh,Khí cho cường-lực thanh bai, an-tịnh để đem Ánh sáng Chí Linh rọi soi Phàm ngã, dẩn dắt về Nguồn Cội Thiêng Liêng là Trời vậy

Mổi mổi đều có bí-quyết ẩn-tàng bên trong. Phải gia công tìm hiểu, học hỏi không ngừng thì trí-lự khôn ngoan mới bừng sáng. Điểm giác-tánh từng ngày, từng ngày thâu nhập Phép Huyền-Vi của Tạo-Hóa cho đến một ngày kia ĐẠI TỪ-PHỤ định cho mảnh thân phàm này đủ tánh linh, đủ đức-hạnh của một vị Bồ-Tát hay Tiên-Gia Thánh-Vị thì cái công tu hành của một kiếp sanh mới không phí uổng.
Ai là người hiểu biết Luật Pháp của Trời, một mảy lông qua chẳng lọt, thì chưa dễ gì nông nã đoạt Vị Thần Thánh Tiên Phật bằng phương-pháp mờ-mị, yếm-thế, bi-quan, chẳng làm mà mong có hưởng. Đời hay Đạo chẳng qua là hai mặt trái phải của bàn tay, là sự sống. Sống theo quyền vật dục hay sống theo ánh linh-tâm cũng nằm trong Cơ Tạo vay trả, trả vay. Trường khảo-thí nếu không có giám-khảo thì lấy ai định mặt anh-hùng sỉ-tử. Cái khó của kẻ tu hành là phải có công-nghiệp phụng-sự chúng sanh mới bôi xóa được oan-gia trái-chủ. Chừng ấy cái công luyện Đạo, tham-thiền chẳng bao nhiêu cũng tìm ra ánh-sáng. Giác-ngộ, giác-ngộ duy có Đức CHÍ-TÔN mới ban cho chúng ta tánh linh ấy mà thôi.
Từ chốn quan-trường lặn lội cùng đời, lo ăn lo sống, một mảnh phàm thân của Phạm công Tắc, cũng vợ cũng con, đã lần dò theo Ánh Chí Linh dìu dẩn, bước vào cửa Đạo, trải thân ra mảnh áo tơi, che mưa đở nắng cho đời nguy nan. Ngài đã làm nên sự nghiệp, lại nghiền-ngẩm chân-lý ẩn-tàng trong Phép Tu Thiền của các bậc Thánh trước, Hiền xưa, sang định lại cho phù hạp với tâm-lý nhân sanh, chỉ rành trên văn-tự lưu-truyền hậu-thế cho khỏi điều mộng-mị dị-đoan của cái trí đầy huyền-ảo, vẻ-vời che khuất Chân-Lý Đức Chí-Tôn.
Ấy vậy, trong cửa Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ, duy có lấy chủ-thuyết nhân-nghĩa của Khổng Thánh lưu-truyền mà đối-đải cùng nhau cho vẹn bề NHƠN ĐẠO. Còn việc luyện Tam-Bửu cho Tinh hoá Khí, Khí hoá Thần, Thần huờn HƯ là chuyện của Tiên-gia sùng tín, Cửa Đạo vẩn nạp dụng và phổ-truyền trong tín-hửu.
Vẩn thấy người đời hay bày bố ra những chuyện mơ-hồ, hư hư thiệt thiệt, sản-xuất từ trí-não của mình, thần vọng-tưởng, gọi là ấn-chứng công phu, khuyến-dụ nhơn sanh phế bỏ thực-trạng xác phàm đói no, ấm lạnh của muôn vạn ức sanh linh đang phiền-não thì vẩn là phương-pháp mơ-màng, vẻ màu không tưởng. Thực-tế củađời người là phải ăn mới sống, phải học mới hay, phải tìm mới hiểu. Cái hay khéo của đời do trí-thức tinh-thần nhân-loại truyền lại cũng đủ chứng chắc rằng nhân-loại đang bước đi từng bước cả xác lẩn hồn trong Cơ Tấn-Hóa.
Hại thay những điều mê-tín dị-đoan lại từ cửa Đạo-giáo mà sản-xuất ra thì trách sao cho khỏi tội tình cùng Đại Từ-Phụ. Nắm cho cùng triết-lý, Đạo là Con Đường Ánh Sáng dẩn dắt sanh linh mà mình không đủ sáng thì con mong mỏi đưa đón được ai. Ảnh Lương Tâm kia duy có TU mà có chớ nào phải ngồi mơ-màng mà được.
Phép Thiền buộc phải có công-đức mới xua đuổi được lằn tư-tưởng huyền-ảo. Khí lóng trong, không chút gợn đục của THẤT TÌNH, trí-não mới quang-minh, gọi là LINH TÂM chiếu-diệu.  Cái bóng của Đức Cao-Đài là Tòa Ngự  của Thiên-Lương, là Thần Quang rạng-rở, Khí thể tinh-anh, là sự hòa-nhập vào Khối Thánh-Chất  của Đại Từ-Phụ mà khai đường dẩn nẻo cho chúng sanh tiến bước. Với Bóng ấy mới gọi là Thiền, bằng chẳng vậy nó chỉ là cái dáng vẻ bên ngoài, thiếu hẳn Nội-Tâm Chơn-Pháp.
Kẻ tu hành phải có đủ công-nghiệp, dầu âm-thầm hay hiển-lộ, đủ đức-hạnh, chí chánh, chí chơn, đủ lòng từ-ái như sóng cả bao-dung thì Thiền ấy mới thật là Thiền.
Một Hộ-Pháp trong cửa Đạo Cao-Đài, xuất thân từ một tín-đồ Thiên Chúa Giáo, nương bóng Từ Bi, bỏ Tục tìm Thánh, suốt 34 năm dư, hoạt-bát trong trường phổ-độ, không có lúc nào không nghiền-ngẩm suy-tư về chuyện TỨ KHỔ của con cái Đức Chí-Tôn, tìm đủ phương cách để giải-khổ cho họ, vay trở, trở vay cho phù-hợp với thế tình, biến-thiên từng lúc từng hồi. Công-nghiệp ấy đủ chứng chắc rằng Ngài đã hoà-vọng yêu thương ngập tràn trong sanh chúng, đem ánh sáng Chí Linh dẩn đường về Thánh cho biết bao con chiên lạc lối.
Dung nạp triết-lý cổ-kim đạo-giáo, Ngài đã để lại trên giấy trắng những lời căn dặn đơn sơ, nhưng sâu sắc về một phương LUYỆN KỸ để đoạt VỊ mình ngay khi còn sống. lời căn dặn ấy áp-dụng cho tất cả mọi người từ khi biết bỏ dử về lành: “ Hể Phàm Tâm Tục Tánh lắng động đến đâu thì Ánh Sáng Tâm Linh rọi soi đến đó”. Đó là một công-áng Thiền đổi mới danh xưng, lấy tiếng Cao-Đài thay hình TAM-GIÁO, trụ cả khối đức-tin vào một quyền-năng duy-nhứt là CHÍ-TÔN, PHẬT MẪU, lấy HIẾU-HẠNH
phụng thờ làm phương giao-cảm cho thần-trí hoát-thông cùng đạo-pháp, phá vở ngục tù thân xác mà sống đời niên niên vĩnh-phúc. Phương-pháp ấy còn lưu-truyền bằng những giòng chử sau đây:
                        -Phương Luyện Kỹ đặng vào con đường thứ ba Đại-Đạo phải biết thân thích cùng cả nhân, vật tức là tìm nguyên do của Vạn Linh cùng Chí Linh. Phải ân-hậu và khoan-hồng. Phải thanh nhàn, đừng vị-kỹ. Phải bình tỉnh, nghĩa là đừng chịu ảnh-hưởng của họa phước buồn vui. Tập tánh Không Không đừng nghĩ. Vui cũng vui, buồn cũng buồn, nhưng đừng để mặc buồn vui thấm vào Chơn Tánh. Phải độ-lượng khoan-dung, tha thứ. Phải vui vẻ, điều-hòa, tự-chủ và quyết-đoán. Giử Lương Tâm làm căn-bản, hiếu-hạnh với CHÍ-TÔN  và PHẬT-MẪU.
                        -Phương-pháp trị Tâm, vì Tâm là hình-ảnh thiên-lương. Đức tin và khôn ngoan là kho chí-bửu, ngoài ra là của bỏ, là đồ vô giá. Ai đã cố oán kẻ thù của mình thì khó giử thanh tâm cho công chánh đặng. Ai chẳng oán hận mới thắng kẻ thù nghịch của mình. Sự cừu-hận là khối thảm-khổ đệ nhứt của nhơn sanh, nên người hiền thì không biết đến hay là từ bỏ thù hận, oán ghét. Thắng đặng trí nộ mình thì không chọc ai giận dử. Lấy THIỆN mà trừ ÁC, lấy NHƠN-NGHĨA trừ BẠO TÀN. Lấy LÒNG QUẢNG ĐẠI đặng mở tâm lý hẹp hòi. Lấy CHÁNH trừ TÀ, ấy là đường THƯƠNG HUỆ KIẾM.
                        -Luyện Thân, luyện Trí. Ẩm thực tinh-khiết, tư-tưởng tinh-khiết, tín-ngưởng mạnh mẻ nơi CHÍ-TÔN, PHẬT MẪU, thương yêu vô tận, ấy là chìa khoá mở cửa Bát Quái Đài tại thế nầy.
Chú-thích cuối trang ở đoạn nói về thực-tế của đời nguời phải ăn mới sống. Chú-thích: “Trừ những Bậc Cao Tăng có đời sống siêu-phàm không thuộc phạm-vi bài khảo-cứu này”.
THĂNG HOA
Chơn Thần hay nhị xác thân là xác thân thiêng-liêng của con người, do nơi Tinh, Khí, Thần luyện thành. Chơn Thần ấy của bậc chơn tu đắc đạo thật huyền-diệu vô cùng, bất tiêu, bất diệt. Thuật rèn luyện cho Tinh, Khí, Thần hiệp nhứt có thể tóm tắt như sau:
                        -THÂN THỂ cho mạnh-mẻ tinh-vi, đừng để sa-đọa vào LỤC DỤC thì thuận cùng trí-lự khôn ngoan
                        -KHÍ-LỰC cho cường-thịnh, thanh bai, đừng để đến đổi mê-muội bởi THẤT TÌNH thì trí-lự khôn ngoan thuận theo lương-tâm mà nảy nở.
                        -LƯƠNG-TÂM phải định-tỉnh từ-hòa, đừng để đến đổi mờ ám bởi tội tình thì thuận với LÒNG TRỜI, hiển-linh tại thế, đặng đoạt phép huyền-vi. (Trích bài diễn-văn của Đức Hộ-Pháp, Pháp Chánh-Truyền Cứu-Giải, ấn bản năm 1955.)
Nói rỏ ra, thân thể con người phải ăn uống, hít thở khí trời, vận-động đặng thu nhập sinh-lực từ môi-trường sống tạo thành khí-lực của mình. Ấy là một khối năng-lượng luân-chuyển hóa-sanh, có thu nhập và đào-thải một cách tự-nhiên trong nội thân con người. Phải biết gìn-giử khối năng-lượng ấy, đừng để tiêu hao một cách thái quá vì lối sống sa-đọa của thân xác, đắm-đuối trong Lục Dục thì thân xác mới lớn mạnh được. Hình thể con người có lớn mạnh thì khí-lực mới cường-thạnh. Lực của một đứa bé sơ sanh chỉ nâng nổi một bình sửa đưa lên miệng, nhưng khi nó trưởng-thành, lực của một thanh-niên có thể khuân nổi một tảng đá.
Thân là TINH. Nếu bịnh hoạn, tật nguyền thì lực là KHÍ phải giảm-suy yếu-đuối. Thân cho vẹn toàn, đầy đủ hình chất trong ngoài to lớn thì Khí sẻ cường-thịnh. Vậy TINH là nền-tảng để KHÍ phát-triển. Ấy là phép biến-hóa tự nhiên trong nội thân con người. Tùng theo khuôn luật tự nhiên này của Đấng Hóa Công đã an-bài, người tu phải biết gia công gìn giử khối sinh-lực của mình bằng phương-pháp dưỡng-sinh đặc-biệt gọi là KHẮC KỸ TU THÂN, hay TU TÂM DƯỠNG TÁNH, THIỀN, TỊNH, LUYỆN ĐẠO.
Tuy khác nhau ở danh gọi và hình-thức sinh-họat, nhưng có cùng tác-dụng là làm cho TINH hoá KHÍ. Chẳng những gìn-giử khối sinh-lực cho cường-thịnh mà còn phải biết làm thay đổi tánh chất của nó trở nên thanh bai, nghĩa là điều-chỉnh tầng-số rung động của điển-lực con người theo chìu hướng chế-ngự
các rung động của Khí NỘ, Ố, AI, DỤC và kích-thích các rung động của Khí ÁI, HỈ, LẠC. Nếu để cho khối điện-lực rung động nhiều, thường xuyên theo nhóm NỘ, Ố, AI  DỤC thì khí bị ô-trược. Và ngược lại, rung động nhiều, thường xuyên theo nhóm ÁI, HỈ, LẠC thì Khí sẻ thanh.
Biểu-hiện của Khí Trược là đời sống tình-cảm thấp hèn, vị-kỹ.
Biểu-hiện của Khí Thanh là đời sống tình-cảm cao-thượng, vị-tha.
Việc điều-chỉnh tầng-số rung động của điển-lực con người rất khó vì nó có liên-hệ trực-tiếp đến nghiệp quả tiền-khiên. Khi đi đầu kiếp để chọn một hình hài mới, linh hồn phải mang theo khối nghiệp-chướng tiền-khiên của mình như một bản án, gọi là ĐỊNH MỆNH. Luật công-bình thiêng-liêng buộc Chơn Linh phải lựa chọn nơi đầu kiếp và tác-động theo sự an-bài của Luật Nhân Quả để có Chơn Thần hay là Khí thể của bào thai được cấu-tạo từ căn-bản có những ưu khuyết điểm sẻ hiện lên sau này thành những đặc tính bẩm-sinh của đứa bé, hoặc tốt, hoặc xấu, về cả ba phương-diện.
TINH hóa KHÍ là một tiến-trình thăng-hoa tự nhiên trong sự biến-chuyển nguồn năng-lượng của thức ăn, nước uống và khí trời do cơ-thể thu nhập được từ môi-trường sống. Nguồn năng-lượng ấy luân-chuyển điều-hòa trong nội thân sẻ tạo cho con người một sức khỏe tốt, nghĩa là khí-lực được cường-thạnh.
Giử gìn GIỚI LUẬT của kẻ tu hành, dù tu theo pháp môn nào đi nữa cũng có cùng tác-dụng là làm giảm-thiểu tối đa, tránh tiêu hao sinh-lực của mình vào những chuyện không cần-thiết. Những cơn loạn-động của Thất Tình, Lục Dục đưa đến tình trạng mất sinh-lực một cách hoang phí, làm mờ ám lương-tri, lương-năng con người là việc tối kỵ của người tu. Khi đã tự đặt mình trong trong nguyên-tắc sống: tăng thu nhập, giảm tiêu hao sanh-lực thì phần tồn động sanh-lực sẻ dựng lên là lẻ tự nhiên.
Luyện Tánh cho thuần đạo-đức, hiền-lương, chế-ngự các tình thấp kém, nuôi-dưỡng các tình cao-thượng sẻ làm cho Khí Thanh. Khi cơ-thể được nuôi-dưỡng bằng khối thanh khí luân-chuyển điều-hòa thì ngũ quan con người sẻ sống theo thiên-lý, THẦN TRÍ được an-tỉnh, sáng-suốt. Vậy khí-lực cường-thịnh, thanh bai là nền tảng để Thần Trí phát-triển. Ấy là phép KHÍ hóa THẦN xãy ra một cách tự nhiên trong sự sống của bất kỳ con người nào.
Những kẻ mà thân xác đầy dẫy những thói hư tật xấu của dục vọng thấp hèn, tình cảm loạn động thường xuyên thì tư-tưởng của họ chẳng bao giờ thanh-cao được, nghĩa là thiếu hẳn Ánh Sáng Tâm Linh trong kiếp sống.
Phép tu hành đúng theo Chơn-Pháp của ĐỨC CHÍ TÔN là phải rèn luyện cho khí thanh, nghĩa là tầng số rung động của Khối Điển Quang con người thay đổi dần dần tương-ứng với rung động của điển quang Thần Thánh trong Trời Đất thì Luật Đồng Thanh Tương Ứng, Đồng Khí Tương Cầu sẻ đưa đến trạng-thái giao-cảm tinh-thần giửa người sống và thế-giới thần-linh.
Thức ăn vào tì vị biến thành khí huyết. Khí huyết luân-chuyển điều-hòa làm cho trí-não hoạt-động sâu-sắc. Con người trở nên khôn ngoan sáng-suốt, đó là chuyện thường tình của kiếp người.
Nhưng rèn luyện cho Khí thể tinh-anh, ngũ quan cảm-ứng được với những làn sóng rung động của thế-giới Thần Thánh thanh cao là bước đầu chuyển-hóa Thần Khí thuận theo Lương Tâm mà nảy nở. Đây là giai-đoạn rất khó khăn vì vấn-đề điển-quang trong không gian và trong nội tâm con người rất phức-tạp, trừu-tượng, tế-chi, mầu-nhiệm.
Ngũ khí thanh diệt trừ quả kiếp
Linh quang đầy đặng tiếp Hồng Ân
Xác tại thế đã lên Thần
Ba mươi sáu cỏi đặng gần Linh-Thiêng
là nguyên-lý của hiện-tượng thăng-hoa, Khí hóa Thần. Thuật làm gia-tốc hiện-tượng thăng-hoa này rất nguy-hiểm nếu cơ-thể chưa hội đủ những điều-kiện cần-thiết.
Nếu công đức chưa đầy đủ, khí còn ô-trược mà lại dục-tốc ép mình luyện tập sẻ dễ dàng rơi vào tình-trạng Thiên-Đình đánh tản THẦN , không cho hiệp cùng TINH, KHÍ là những cơn khủng hoảng, xáo trộn tinh-thần, có hại cho sức khỏe và tính mệnh. Những trở-lực ấy do nơi tiền-khiên nghiệp-chướùng của mình chưa được giải-trừ đúng mức, nghĩa là ác nghiệp còn động trong CHƠN THẦN dưới dạng tìm ẩn, khí thể chưa đủ thanh. Những rung động của Khí NỘ, Ố, AI, DỤC tuy có được chế-ngự, nhưng chưa lắng động nhiều, nên khi gặp những chuyện trái ngangtrong cuộc đời, nó sẻ bủng lên một cách dử-dội vì bị dồn nén bấy lâu nay có dịp tung hoành như một hồi-lực. Âu đó cũng là phép công-bình thiêng-liêng của ĐẤNG HÓA CÔNG. Nếu chưa xứng mặt THẦN THÁNH thì đừng làm ra vẻ.
Dẫu biết rằng bước đường TU càng lên cao càng gay trở, phép thăng-hoa Khí Thanh nuôi-dưỡng THẦN an theo thời gian sẻ làm cho THẦN TRÍ định-tĩnh từ-hòa. Khi tư-tưởng đã quen hướng về chổ thanh-cao thánh-thiện, mức độ giao-cảm tinh-thần giửa Người và Thần Thánh càng thêm mật-thiết. Cánh cửa của Thế-Giới Vô Hình sẻ mở hoát ra đi dần đến chổ TRỜI NGƯỜI HIỆP NHỨT. Sự sống con người lúc bấy giờ thuận với Lòng Trời hiển-linh tại thế. Bước đường ấy chẳng phải do ước muốn mà được. Trái lại, vẩn phải do nơi công-đức sáng chói phi-thường nghĩa là sức sống tâm-linh phải mãnh-liệt mới thu hút được sự trợ thần cao độ của các CHÂN SƯ. Và nhờ đó, CHƠN THẦN dần dần trở nên linh-hiển, xuất nhập xác thân dễ dàng, tương liên cùng thế-giới THẦN, THÁNH. THẦN đã trở về cỏi HƯ LINH được nên gọi là HUỜN HƯ.
CHƠN THẦN  đã hoà-nhập được vào trong Khối Ánh Sáng Tâm-Linh của Thần Thánh, vẩn phải tiếp tục phụng-sự vạn-linh để thúc-giục Cơ Tấn-Hoá của Nhân-Loại với phương-tiện xác phàm đã được rèn luyện tinh-tấn và tiềm-năng của Điển-Lực Chơn Thần làm bửu-pháp. Cơ Sanh-Hóa trong Càn Khôn  Vũ-Trụ tiếp nối không ngừng nghĩ.
Con đường PHẢN BỔN HUỜN NGUYÊN: TINH hóa KHÍ, KHÍ hoá THẦN, THẦN huởn HƯ, cũng tiếp nối không ngừng nghĩ. Sự sinh-hoạt của Linh-Hồn ngày càng đến những cỏi giới thanh cao trừu-tượng. Tóm lại, phép Vô-Vi phải có Hửu-Hình làm nền tảng. Nền có tốt thì thượng tầng mới vững.
ĐỨC CHÍ-TÔN dạy phải có một thân phàm tinh-khiết mới xuất CHƠN THẦN tinh-khiết. Nó phải có bổn nguyên chí Thánh, chí Tiên, chí Phật, mới xuất Thánh Tiên Phật đặng.
Và do đó, chúng ta hiểu rằng những ai nông nã đi trên con đường huyền-linh nếu còn để thân phàm ô-uế, Chơn Thần có bổn nguyên không chí Thánh, thì những sinh-hoạt thượng tầng vẩn còn đầy huyển-ảo, nghĩa là kiếp đọa trần vẩn còn chưa mãn.
 
 
KÝ-ỨC
 
Sự sống của Vũ-Trụ từ nguyên-thủy HƯ VÔ CHI KHÍ đi lần xuống các Cỏi Sắc Giới hiện ra trong 3 thể biến thân là: Sáng Tạo, Bảo Tồn và Hủy Diệt. Ba thể ấy nối tiếp nhau cũng như hình ảnh của làn sóng biển, hiện lên, chạy dài trên mặt nước rồi biến mất. Mặt nước đổi thay, nhưng khối nước trong lòng đại-dương trước sau cũng là nước. Vũ-Trụ là một Đại Thể có tánh linh, tự mình biết sáng tạo ra muôn loài vạn-vật, có sanh có tử, thay hình đổi dạng, biến-hóa không ngừng, nhưng trong bản thể, sự sống vẩn là một. Và Khối Đại Linh-Quang Vũ-Trụ vẩn chứa tất cả những hình ảnh diễn biến từ Tạo Thiên Lập Địa đến giờ. Đồng bản-thể với Vũ-Trụ, CHƠN LINH con người có đủ tánh linh, tồn-trử tất cả hình ảnh của những gì đã xảy ra trong những kiếp sống mà CHƠN LINH đã hoá thân. Khối tiền-khiên nghiệp-chướng của con người là tổng số những rung động điển-quang mà CHƠN THẦN đã phát ra khi biểu-lộ sự sống của Trí Não, Tình Cảm và Hoạt-Động thân xác qua nhiều lần Luân-Hồi Sanh-Tử. Nó tồn tại như một Ký-Ức và bị che mờ bởi sự Vô Minh của Thần Trí.
TU là làm sống lại ký-ức ấy đến độ đại quang-minh, đồng tính vớt Trời Đất, hoát-thông mọi việc. Quyền năng ấy trong Chơn Linh của THẦY gọi là Phục Linh Tánh Phật. Trong cuộc sống hiện tiền, Thần trí thường chú ý tới một số việc đang xảy ra, đã hay sắp xảy ra trong quá khứ hay trong tương lai gần. Những chuyện chi thuộc dĩ-vãng xa xôi, mờ nhạt dần rồi như mất hẳn trong ký-ức. Tương lai cũng vậy. Thường thì tiềm-năng sáng-tạo của Chơn Linh như bị giới-hạn nếu thời gian đi trước quá xa. Giử gìn cho khí-thể tinh-anh, lương-tâm định-tỉnh từ-hòa thì tánh linh sẻ phục-hưng. Đẩy lùi 2 chổ mắt ngút của ý-thức thời gian về quá khứ và tương lai, làm cho dĩ vãng sống lại trong lương-thức của con người, nhớ về cội nguồn thiêng-liêng tiền-kiếp, đồng thời làm thức-động mạnh mẻ đức tính sáng-tạo trong Chơn Thần, định hình tư-tưởng, thúc đẩy tương-lai kiếp sống biến hình theo Thánh-ý. Những làn sóng run động của tư-tưởng con người chồng-chất lên nhau trong ký-ức. Những sóng nào chiếm ưu-thế về cường-đo,ä và số lượng trổi lên trên, con người thấy như hiện tồn. Và ngược lại, những sóng nào yếu hơn, ít hơn, bị lu mờ che-khuất, con người thấy như mất. Còn hay mất trong ký-ức là do thế ưu-việt tương-đối của những làn sóng ấy. Sự thật chẳng có gì mất dấu trong Chơn Linh của con người dù phải qua bao lần tử sanh chuyển-kiếp.
Hãy quan-sát một vũng nước bùn. Khi bị khuấy động, lớp cặn bụi đào lộn trong khối nước làm cho nước bị vơ vẩn đục.  Để yên một thời gian, lớp cặn bụi lắn xuống, nước sẻ trong trở lại. Khối nước trong, nhưng trong bản thân nó, nằm sâu dưới đáy, những cặn bụi vẩn còn đó.
Hình ảnh nước đục ví như những lúc tinh-thần con người đắm tục.  Hình ảnh nước trong ví như những lúc tinh-thần con người hướng thiện. Khi con người làm điều thiện, làm nhiều và cao độ, biết tu tâm, sửa tánh thì những làn sóng tư-tưởng thanh cao chiếm ưu-thế. Nét thánh-thiện hiện ra sáng chói và do đó những gì xấu xa bị lu mờ đi, dường như quên hẳn, không còn. Ấy là Phép Tương Công Chiết Tội đặng định-vị quả-kiếp của mình trong Ánh Linh Quang của THƯỢNG-ĐẾ, chớ chẳng có gì mất đi cả. Và do đó, trước THƯỢNG-ĐẾ, con người cũng chẳng hề chối tội được bao giờ. Những lời nói bóng về ký-ức của Chơn Linh con người được mô-tả trong Thánh Ngôn như sau:
                        “Đấng Chơn Linh ấy vốn vô tư mà lại đặng phép giao-thông cùng Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật và các Đấng Trọn Lành nơi NGỌC HƯ CUNG. Nhứt nhứt điều lành và việc dử đều ghi chép không sai, đặng vào TÒA PHÁN XÉT, Bởi vậy nên, một mảy không qua, dử lành đều có cả”.
 
 
ĐẦU KIẾP -  HIỆN-TƯỢNG NHẬP THẦN
 
Trtên con đường trở về cựu vị nơi Cỏi Thiêng Liêng, sau khi rời khỏi thân xác, linh hồn thăng dần đến những cỏi giới thanh cao, trải qua nhiều sinh-hoạt đổi mới làm sống lại ký-ức và tùy theo quả kiếp, cho đến một ngày kia Linh Hồn được quyền-năng của NGỌC HƯ CUNG và CỰC LẠC THẾ-GIỚI làm cho tự mình biết được phải đi đầu kiếp. Vừa khi có ý-thức phải chuyển kiếp, như một tia chớp điển, Linh Hồn rơi vào một cỏi pháp-giới. Nơi đó thấy được trong linh-thức những hình ảnh sinh-hoạt rộn rịp của thế-giới loài người. Dừng lại và sống trong cỏi giới này một thời gian như để làm quen. Và trong hoạt-cảnh của toàn thế-giới loài người hiện ra mênh mông đại hải, linh hồn bổng nhiên như bị thôi thúc phải chú ý tới một điểm nào đó. Linh hồn sống lảng vảng với họ và đặc biệt chú ý đến một người đàn bà trong nhóm này. Rồi một ngày kia, khi tinh Cha, huyết Mẹ giao-phối nên hình bào thai, linh hồn càng bị thôi thúc  đến gần bên người Mẹ tương lai hơn là những người khác trong gia-đình. Cho đến giờ phút này, Linh Hồn cũng chỉ là một điểm sáng tâm-linh, còn khí-thể của bào thai vẩn là một phần khí-thể củaCha Mẹ.
Đến giai-đoạn lâm-bồn, vừa khi khối nhục-thể hài nhi lọt ra khỏi lòng Mẹ, lập tức Linh Hồn nhập thần vào trong hình hài mới này và quên hết mọi sinh-hoạt lãng vãng, biến hiện dễ dàng của giai đoạn trước không có hình xác. Linh Hồn quên đi như ngũ mê, chỉ còn lại một chút khôn ngoan, tự biết phản-ứng trên thân xác để sinh-tồn với môi-trường mới mà mình phải chấp nhận.
Từ đây, khởi sự một kiếp sống mới. Tất cả mọi hiện-tượng diễn biến qua các cỏi pháp-giới trên con đường đi đầu kiếp dường như Linh Hồn được phép lựa chọn nơi sắp đến của mình, nhưng kỳ thật mọi việc đều được an bài theo quả kiếp trong Quyền Năng Tối Thượng: “NHỨT TOÁN HỌA PHƯỚC LẬP PHÂN” của Đức THƯỢNG-ĐẾ.
 
 
NGUYÊN-KHÍ CỦA THAI BÀO
 
Chất liệu đầu tiên cấu-tạo nên hình nhục thể của bào thai là tinh-trùng của Cha và trứng của Mẹ. Ấy là một phần hình chất của thân thể Cha Mẹ và dĩ nhiên có cùng khí-thể của hai đấng ấy, thanh trược ở mức độ nào là do sự sống của hai cơ thể này quyết định. Khi tinh trùng rời khỏi thân Cha, nó mang nguyên-khí có nguồn gốc của người Cha hòa-nhập vào trong khối nguyên-khí của trứng có nguồn gốc của người Mẹ.
Hiện-tượng thụ-tinh là sự hòa nhập tuyệt-đỉnh của khí-huyết Mẹ Cha để tạo thành một con người mới sẻ có đủ 3 yếu-tố:   Tinh,  Khí,  Thần   khi bào thai rời khỏi mình Mẹ.
Vì vậy,khi nhập thần vào hài nhi, linh hồn đã vay mượn khối khí-huyết của Mẹ Cha và dĩ nhiên phải chịu mang khối nợ nần, oan-trái của Cha Mẹ, Ông Bà Tổ Phụ thuộc dòng họ ấy lưu-truyền qua nhiều thế-hệ. Khi đứa bé chào đời, có 2 giòng nghiệp-lực hội-tụ lại:
            a.- Một là từ khối tiền-khiên nghiệp-chướng của cá nhân  mà linh Hồn phải mang theo khi đi đầu kiếp
            b.- Hai là từ khối khí-huyết vay mượn của Mẹ Cha để làm hình thể của mình, tức là nghiệp-lực của gia-đình.
Kế tiếp đứa trẻ lớn lên, chịu sự giáo-dục của gia-đình, học đường, xã-hội, phong-tục, tạp-quán, nếp sống sinh-hoạt văn-hóa của một cộng-đồng dân-tộc nào đó. Tinh-thần của dân-tộc như một sức mạnh vô hình thẩm-nhập từ từ vào trong tinh-thần của đứa bé là giòng nghiệp-lực thứ ba tác-động trên đời sống của nó. Đây là nghiệp quả của chủng-tộc dù ít, dù nhiều vẩn phải gánh chịu.
Tóm lại, trong tiến-trình phát-triển cả hình chất lẫn tâm-linh để trưởng-thành, yếu-tố nguyên-khí của thai bào cũng giử một vai trò quan-trọng trong sự hình thành những điều mà người ta gọi là định-mệnh của con người.
Vì vậy, vấn-đề được đặt ra đối với bậc làm Cha Mẹ trong đạo-lý của Đức CHÍ TÔN truyền dạy vẩn là sự TU THÂN để khí-thể được thanh, và nhờ đó bào thai có được nguyên-khí tốt là một trong những yếu-tố cần-thiết cho sự tấn-hóa của con người theo chìu hướng thánh-thiện. Vai trò của người Mẹ vì vậy được ví như : “Bụng mang đầy quyền phép lắng đời” là do ở khía cạnh nầy.
 
 
THÁNH THỂ THIÊNG LIÊNG
 
“Ôi! THẦY sanh các con thì phải yêu trọng các con chẳng cùng. Mà THẦY cho các con đến thế-giới này với một thánh-thể thiêng-liêng, y như hình ảnh của THẦY. Không ăn mà sống, không mặc mà lành, các con lại không chịu. Nghe điều cám dổ, mê luyến hồng trần, Ăn cho phải bị đọa, dâm cho phải bị đày, nên chịu nạn áo cơm, dục quyền cầu lợi”.
Trên đây là lời quở trách của ĐẠI TỪ PHỤ, Đấng TẠO-HÓA đã chiết chơn-linh mình gởi vào những hình-hài nhục-thể để tạo giống người đầu tiên, có đủ xác hồn tinh khôn hơn vạn-vật, gọi là NGUYÊN NHÂN. Một số những linh hồn này vì mê luyến hồng trần sau kiếp sống mang xác phàm, thoát xác nhưng không trở về cựu-vị được, phải luân-hồi chuyển-kiếp triền-miên. Cho đến nay, khi mở TAM KỲ PHỔ-ĐỘ, ĐẠI TỪ PHỤ  dùng huyền-diệu cơ bút, mượn tiếng nói của loài người quở trách như vậy để thức-tỉnh linh hồn của những bậc Nguyên Nhân ấy. Từ giống người nguyên-thủy này, có nam, có nữ, giao-phối với nhau, sản sinh những hình-thể con người ngày càng gia-tăng qua nhiều thế-hệ nối tiếp, gọi là HÓA NHÂN khi họ đón nhận những linh-hồn tấn-hóa cao trong hàng thú-vật hồn nhập vào mang xác người và trở thành người.
Quả kiếp luân-hồi thay đổi, từ  nơi vật-chất mà ra thảo-mộc, từ thảo-mộc đến thú cầm, loài người phải chịu chuyển kiếp ngàn năm, muôn muôn lần mới đến địa-vị nhân-phẩm (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển). Bởi linh-hồn con người là một phần nhỏ của Khối Đại-Hồn của Vũ-Trụ (là Chơn Linh của THẦY), nên Đại Từ Phụ mới nói rằng:
“ THẦY cho các con đến thế-giới nầy với một Thánh-Thể thiêng-liêng, y như hình ảnh của THẦY”.
Thánh Thể thiêng-liêng ấy là Linh-Hồn ngự nơi phàm thể xương thịt, khí-huyết, là khối vật-chất biến hình ra làm thân xác con người.
 
 
CHƠN LINH NHẬP THỂ
 
Khi nhập thần vào hài nhi, linh hồn đã ngự nơi phàm thể con người rồi. Thánh Thể thiêng-liêng ấy giờ đây bị lằn trược-khí của Chơn Thần bao phủ, che mờ đi. Sụ linh-diệu sáng-suốt chỉ còn đủ để biết điều-khiển các phản-ứng thân xác, làm cho toàn thể các cơ-phận hài nhi hoạt-động.
Hình hài nhục-thể của hài nhi là một khối tinh-khí vay mượn của Mẹ Cha. Khi còn trong bụng Mẹ thì nưông nhờ nơi Thần của Mẹ mà khôn lớn. Khi Chơn Linh nhập thần được vào khối tinh-khí ấy, sự sống của hài nhi trở nên độc lập với mình Mẹ, nghĩa là hài nhi có thể sống được dù Mẹ chết. Trái lại, nếu vì lý do nào đó, hiện-tượng nhập thần không xãy ra được, khối tinh-khí vừa lọt khỏi lòng Mẹ phải chết tức khắc.
ĐỨC CHÍ-TÔN dạy: “Nơi thân phàm các con, mỗi đứa THẦY đều cho một Chơn Linh gìn giử cái Chơn Mạng sanh tồn”.
Trong tiến-trình phát-triển để trưởng-thành, sự khôn ngoan sáng-suốt linh-diệu của Chơn Linh sẻ hiển lộ từ từ, nhịp nhàng với sự phát-triển hình chất. Đến tuổi đi học, người ta cho đứa bé cầu khẩn Đấng Chơn Linh nhập thể, đủ thông-minh học lể, học văn, như là một phương-pháp thúc-giục sự hiển-lộ của chức-năng giáo-hóa của Chơn Linh đối với Chơn Thần và Thân Xác.
ĐỨC CHÍ-TÔN dạy: “Chơn Linh ấy tánh thánh nơi mình đã chẳng phải gìn giử các con mà thôi, mà còn dạy dổ các con”.
Bởi quan-niệm rằng tinh-thần của đứa bé như là một vùng bản ngã còn tối tâm, nên khi sự sáng của Chơn linh hiển lộ, người ta có cảm-tưởng ánh-sáng tâm-linh ấy là cái gì cao-quí, khác với bản ngã tối tăm của nó, từ bên ngoài, bên trên, tràn vào nên mới gọi là NHẬP THỂ. Đây chỉ là vấn-đề ngôn-ngữ con người dùng để diễn-tả một hiện-tượng siêu-hình. Thực ra, Chơn Linh đã hiện-hửu nơi xác phàm từ khi nhập thần vào hài nhi. Khi trưởng thành, nếu con người sống đời sống tu hành đúng theo chơn-pháp, tánh thánh của Chơn Linh ngày càng hiển lộ, nghĩa là hiện-tượng nhập thể được trọn vẹn.
Vậy Chơn Linh Nhập Thể là một tiến-trình tấn-hóa tự-nhiên trong sự sốn của con người. Trong giáo-pháp Cao-Đài, học sinh sử-dụng lời xin nhập học, cầu khẩn Đấng Chơn Linh nhập thể  để đủ thông-minh học Lễ, học Văn, là để thúc-giục sự tấn-hóa của mình cho được nhanh chóng và trọn vẹn cả xác lẩn hồn theo chìu hướng thánh-thiện.
 
 
BÁT HỒN VẬN-CHUYỂN
 
THẦY đã nói: “Khi chi hửu sanh, cũng do bởi Chơn Linh THẦY mà ra”, tức nhiên trong những hình hài dị-biệt của 4 đẳng-cấp chúng sanh thảy đều có tánh linh của THẦY chiết ra ngự trị nơi đó. Các chơn linh ấy phải chịu luân-hồi chuyển-kiếp nhiều lần mới tấn-hóa, từ vật-chất đến thảo-mộc, thú cầm, nhơn-loại. Bốn đẳng-cấp này thuộc về hửu-hình tướng. Đến địa-vị nhân-phẩm rồi còn phải chuyển kiếp tu hành nữa mới đạt phẩm-vị Thần, Thánh, Tiên, Phật.
“Có THẦY mới có các con. Có các con rồi mới có Chư THẦN, THÁNH, TIÊN, PHẬT”.
Từ trong Hư-Vô Chi-Khí, Chơn Linh THẦY đã phân tánh giáng sanh, ngự vào hình thể vật-chất một tánh linh, gọi là Vật-chất Hồn. Vật-chất Hồn chuyển kiếp, tấn hóa dần dần lên đến Phật Hồn, trở về cùng Bản-thể của Vũ-Trụ. Một vòng luân-chuyển qua 8 đẳng-cấp như vậy gọi là Bát Hồn Vận-chuyển.


Thiên Cung xuất vạn linh tùng pháp
Hiệp âm dương hửu hạp biến sanh
Càn Khôn sản xuất hửu hình
Bát Hồn vận-chuyển hóa thành chúng sinh.

Và cả thảy vạn linh sanh chúng duy biết tùng pháp mà sáng-tạo, sinh-tồn, tấn-hóa. Pháp là những nguyên-lý, qui-luật vận-hành trong Vũ-trụ. Pháp tạo ra con người, chớ con người không tạo ra Pháp. Con người chỉ khám phá ra những nguyên-lý trong sự sống của thiên-nhiên đã có sẳn.
Con người không phải là tác-giả của những nguyên-lý ấy. Con người là Tiểu Vũ-Trụ, có đủ quyền-năng sáng-tạo dựa vào những nguyên-lý của thiên-nhiên đã khám phá được, cải-biến môi-trường sống để sinh-tồn và phát-triển.
Con người là tạo-vật hậu thiên trong vòng hửu sanh, hửu tử có nguồn gốc từ Đấng CHÍ LINH là TRỜI, và do nguyên-lý âm dương hửu hạp biến sanh là PHẬT MẪU. Hay nói cách khác, ĐỨC CHÍ-TÔN  và PHẬT MẪU đã sanh ra loài người vậy.
 
 
Hết.
(Người gởi: Minh Tâm)
 
 
Sưu tầm :www.thienlybuutoa.org   
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0