Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Tây Du Ký - the journey to the west

38 trả lời, 242 lượt xem — Trang 2 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-12-21 05:19:17CaulacboTNPTVN>
Ngô Thừa Ân tự là Nhữ Trung, hiệu Xạ Dương Sơn Nhân (kẻ núi rừng bắn mặt trời), người huyện Sơn Dương, sau đổi là huyện Hoài An, tỉnh Giang Tô. Ông sinh vào khoảng triều Minh Hiếu tông, năm Hoằng Trị thứ 13 (tức 1500), tạ thế triều Minh Thần tông, năm Vạn Lịch thứ 10 (tức 1582), không con nối dõi.

Năm Gia Tĩnh thứ 23 (tức 1544), ông thi đỗ cống sinh, giữ chức huyện thừa ở huyện Trường Hưng, tỉnh Chiết Giang. Năm Long Khánh thứ 1 (1567), ông quay về Sơn Dương, miệt mài cùng thơ rượu. Ông thông minh, mẫn tiệp, đọc nhiều, học rộng, thơ văn nhã lệ (đẹp và nhã). Tác phẩm thất tán hầu hết.

Khưu Chính Võng có gom góp lại một số, gọi là Xạ Dương tồn cảo. Một tác phẩm khác được nhắc tới là Tần thiểu du phong. Nhưng nay chỉ còn sót lại duy nhất Tây du ký, được khen là một trong bốn đại kỳ thư đời Minh, xếp hạng theo thứ tự như sau: Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử truyện, Tây du ký, và Kim Bình Mai.

Trên đây là tiểu sử của Ngô Thừa Ân căn cứ theo Đàm Gia Định.

[Đàm Gia Định, Trung Quốc văn học gia đại từ điển, Thế giới thư cục ấn hành, quyển Hạ, tr. 1101, mục từ 4244.

Trong bài giới thiệu ở quyển Tây du ký do Nhạc lộc thư xã xuất bản, Trường Sa, Trung Quốc, 1984, Hà Mãn tử cho biết thêm hiện còn lưu giữ một trường thi của Ngô Thừa Ân, nhan đề Nhị lang sưu sơn đồ ca. Hà Mãn tử lại viết rằng vào năm 1981, huyện Hoài An tiến hành khai quật và khảo sát mộ của Ngô Thừa Ân tại huyện này. Trên quan tài có chữ Kinh phủ ký thiện, là chức quan cuối đời của ông. Tìm trong quan tài được một sọ người. Sau đó, Trung Quốc học viện về cổ nhân loại và động vật cổ có xương sống nghiên cứu và giám định, các nhà khoa học đã tái tạo một pho tượng bán thân của Ngô Thừa Ân. Cho đến nay, có lẽ đó là trường hợp duy nhất của một tác gia cổ điển Trung Quốc được khoa học tái tạo dung mạo. (Lê Anh Minh dịch, chú)]

Theo Vương Hồng Sển, tằng tổ và nội tổ của Ngô Thừa Ân hai đời liên tiếp làm học quan nhưng cha ông là nhà buôn nhỏ, chuyên bán chỉ màu và hàng thêu. Ngô Thừa Ân có viết Tiên phủ quân mộ chí minh, kể rằng cha ông rất chăm đọc sách. Còn Ngô Quốc Vinh khi viết lời bạt cho Xạ Dương tiên sinh tồn cảo (gồm bốn quyển) thì bảo thuở nhỏ Ngô Thừa Ân đã nổi tiếng văn hay. Trong Thiên Khải Hoài An phủ chí lại chép rằng Ngô Thừa Ân tánh cần mẫn, thông minh, học rộng, đọc nhiều, làm thơ nhanh, thanh nhã, lưu loát, thích hài kịch, viết nhiều tạp ký. Một tác phẩm thất truyền của họ Ngô là Vũ đỉnh chí.

Cũng theo Vương Hồng Sển, tuy Ngô Thừa Ân đa tài, nhưng lận đận đường cử nghiệp. Không rõ ông đậu tú tài năm nào, nhưng đậu tuế cống sinh (tương đương cử nhân) năm 1544, sau này hình như còn đi thi hai lần nữa, đều hỏng! Khoảng tuổi ngũ tuần, hoàn cảnh quẫn bách, Ngô Thừa Ân đến Nam Kinh viết văn bán chữ, rất nổi danh, được chép lại trong Sơn Dương chí dị. Năm 1566, sáu mươi sáu tuổi, ông lão họ Ngô giữ chức huyện thừa huyện Trường Hưng, được ít lâu thì chán cảnh quan trường, rũ áo về quê. Rồi lại được bổ làm chức ký thiện ở Kinh vương phủ, coi việc lễ lộc và đọc chiếu thơ của vương gia trong ba năm thì xin nghỉ [Vương Hồng Sển 1993: 239-241].

Cả hai nguồn tiểu sử trưng dẫn trên đây đều không cho biết Ngô Thừa Ân có phải là một chuyên gia về Lão học, Phật học hay chăng. Dù rằng Tây du ký nói nhiều đến tu đơn, luyện đạo, hành thiền. Hay ông quả thực là cư sĩ đạt đạo, nhưng khía cạnh đời sống tâm linh của ông đã không được thế nhân biết đến?

Thực vậy, tác giả Tây du nếu không là người đắm mình trong tư tưởng siêu thoát của Lão, Phật, nếu không lý hội được đạo thượng thừa vi diệu, thì chắc chắn không viết được những đoạn tưởng như giỡn chơi, mà ý chỉ thì sâu sắc thậm thâm. Ngoài những điều đã trình bày trong chín bài giải mã, cũng thử nêu thêm một ví dụ tiêu biểu nữa để thấy sức học uyên thâm của họ Ngô. Cuối Hồi thứ 17, kể việc thu phục con yêu tinh gấu đen. Truyện kể, theo mưu kế của Tề thiên, Quan âm Bồ tát đồng ý biến hóa ra một con yêu đội lốt đạo sĩ, hiệu Lăng hư tử. Bồ tát biến hóa thế nào? Tây du tả tuyệt khéo:

“Lúc ấy, Bồ tát mở lòng từ bi quảng đại, pháp lực vô biên, ức vạn hóa thân, lấy tâm hội ý, lấy ý hội thân, trong giây lát biến ngay thành Lăng hư tử.

“(...) Hành giả nhìn, nói: Tuyệt quá, tuyệt quá! Ngài là Bồ tát yêu tinh, hay yêu tinh Bồ tát đây?” [TDK I 1982: 154]

Chính vì nội dung Tây du ký ảo diệu cực kỳ, nên có sách lầm cho rằng tác giả Tây du ký không ai khác hơn một đại đạo sĩ tên là Khưu Xứ Cơ, tức Khưu Trường xuân, hay Trường xuân Chân nhân, thuộc phái Toàn chân của đạo Lão. [Về tiểu sử Khưu Xử Cơ, xem “Lý Chí Thường Trường xuân Chân nhân tây du ký”.]

Theo truyện Thất chơn nhơn quả, Hồi thứ 29, Khưu Trường xuân (Lão) và Bạch vân Thiền sư (Phật) sau những bất đồng, xung đột kịch liệt đã cùng nhau giảng hòa, dẹp hết mọi thị phi tranh đua hơn thiệt. Bấy giờ Khưu Trường xuân đem công phu tu luyện cửu cửu để làm tám mươi mốt nạn của Tam tạng, lại lấy chơn tánh, bổn tâm, tâm viên, ý mã, lục dục, thất tình... mà diễn thành các nhân vật Tây du, yêu tinh quỉ quái. Sau khi hoàn tất, bộ Tây du này được Khưu Chơn nhơn trao tặng Thiền sư Bạch vân.

Con gà tranh nhau tiếng gáy! Dứt đấu phép lại tới chuyện đấu văn chương nghĩa lý. Thiền sư thấy ông bạn đạo Tiên mà thuật chuyện đạo Phật quá tài, chẳng lẽ chịu lép, bèn đáp lễ, nên tuy khoác áo cửa Phật, mà vẫn đem quan điểm tu tiên của đạo Lão diễn bày thành truyện Phong thần, kể việc các thiên tiên và địa tiên (xiển giáo và triệt giáo), người vì thuận mệnh Trời theo phò Khương Tử Nha phạt Trụ, kẻ vì chống Thiên cơ dốc lòng ủng hộ Thái sư Văn Trọng đương cự lại vua Vũ. Truyện Phong thần tuy mượn sự tích vua Vũ đánh vua Trụ, nhưng thật ra là kể chuyện tu hành tạo tiên tác phật. Dĩ nhiên, sau khi viết xong Thiền sư liền đem tặng lại Chơn nhơn pho truyện này.

[Thất chơn nhơn quả, tác giả khuyết danh (?), bản dịch tiếng Việt của Lâm Xương Quang. Theo nghiên cứu của Huệ Nhẫn, Lâm Xương Quang tức là Lâm Đạo Nguơn, cũng gọi ông lão Tám, vì ông tu tới phẩm lão sư trong đạo Minh sư. Ông thuộc tông Hoằng tế, trụ tại Quan âm Phật đường (ấp Thâm Nhiên).

Lưu ý: Từ 24-4-1957, ấp Thâm Nhiên thuộc xã Thanh Phú Long, tổng Thanh Mục Hạ, quận Châu Thành, tỉnh Long An. Từ 04-4-1989, ấp và xã này thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Long An (LAD chú).]

Thất chơn nhơn quả giải thích sự ra đời của hai pho tiểu thuyết Tây du và Phong thần như lược bày trên đây không phải vô cớ. Giữa hai tiểu thuyết này có một số chi tiết trùng hợp ngẫu nhiên:

- Cả hai đều dựa vào một chút lịch sử Trung Quốc để hư cấu thành tiểu thuyết huyền môn. (Do đó, trộm nghĩ Tây du giải mã được thì biết đâu Phong thần mai kia cũng sẽ được giải mã.)

- Cả hai đều có đúng 100 hồi.

- Cả hai cùng xuất hiện vào đời nhà Minh. (Theo Thất chơn nhơn quả thì hai pho này có sớm hơn, nhằm vào đời Nguyên, triều Thuận Đế, trong khoảng năm 1333-1344! Dĩ nhiên, khi xét về tính chân xác của sử liệu, “thuyết” của Thất chơn nhơn quả không chấp nhận được.)

Theo từ điển Từ hải [Trung Hoa thư cục, Đài Loan, 1948, mục từ Phong thần truyện, tr. 433.], truyện Phong thần xuất hiện ở Trung Quốc vào đời Minh, tác giả khuyết danh. Nhưng ở Nhật, cùng thời đại nhà Minh, lại có một bản khắc Phong thần khác, dài 120 hồi, và ghi tác giả là Hứa Trọng Lâm.

Còn có lý do nào khác để khiến người ta lầm lẫn cho rằng tác giả Tây du ký là Khưu Trường xuân?

Sự lầm lẫn này rất lý thú vì trong lịch sử quả thực liên quan đến Khưu Trường xuân còn có một bản Tây du ký thứ hai.

Từ hải (mục từ Tây du ký, tr. 1224) chỉ cho biết vắn tắt, đời Nguyên có Lý Chí Thường soạn quyển Trường xuân Chân Nhân [tây] du ký, ghi chép hành trình sang phương Tây của đạo sĩ Khưu Xứ Cơ.

Giáo sư Liu Ts'un-Yan, viện sĩ của Viện hàn lâm Khoa học Nhân văn Úc (the Australian Academy of the Humanity) cũng đồng thời là khoa trưởng Khoa Hán ngữ của Viện Đại học Quốc gia Úc (Australian National University), có một bài khảo cứu rất công phu về công cuộc kết tập và giá trị lịch sử của Đạo tạng, với nhan đề The Compilation and historical value of the Tao-Tsang. [Đã in trong hiệp tuyển Essays on the sources for Chinese history (những người chủ biên: Donald Leslie, Colin Mackerras, Wang Gung Wu; NXB Canberra Australian National University Press, 1973, tr. 104-119).] Trong khảo cứu này (tr. 117), Giáo sư Lưu cho biết rằng một sử gia nổi tiếng đời Thanh là Tiền Đại Hân (1728-1804) đã có nghiên cứu về quyển Trường xuân Chân nhân tây du ký. Quyển du ký này được Arthur Waley dịch sang tiếng Anh với nhan đề The Travels of an alchemist (Hành trình của một nhà luyện đan), in ở London năm 1931. Trước đó, năm 1866, đã có Palladius lần đầu tiên dịch tác phẩm ấy sang tiếng Nga.

Cũng theo Giáo sư Lưu, năm 1795 Tiền Đại Hân phát hiện rằng quyển Trường xuân Chân nhân tây du ký là một quyển nằm trong bộ Đạo tạng, tàng trữ ở Huyền diệu quán, đất Tô Châu. Đây là câu chuyện về cuộc hành trình của Khưu Xứ Cơ vào năm 1222, đi về phương tây để gặp Thành cát Tư hãn trên rặng phía bắc của dãy núi Hindu Kush. [Dãy núi Hindu Kush dài 800 km, nằm ở đông bắc Afghanistan, là nhánh phía tây của dãy Himalayas.]

Liên quan đến quyển du ký trên đây còn có một tác phẩm khác của Cheng-siang Chen, nhan đề Trường xuân Chân nhân tây du ký đích địa lý học bình chú, in năm 1968, trong Research Report No 8., Geographical Research Centre, Graduate School, University of Hong Kong.

Về mối quan hệ giữa nhà chinh phục Mông Cổ và đạo sĩ Trung Quốc này, từ điển Từ hải cho biết Nguyên Thái tổ (Thiết Mộc Chân, Thành cát Tư hãn) vô cùng thân thiết Khưu Xứ Cơ, ban cho đạo sĩ nhiều ân huệ: chỗ ở của Khưu gọi là Trường xuân cung, sau này chính là Bạch vân quán nằm ở phía tây huyện Lịch Thành, tỉnh Sơn Đông.

Với đầy đủ các cứ liệu văn học và lịch sử như trên, đương nhiên có thể kết luận rằng “thuyết” của Thất chơn chơn quả về tác giả Tây du ký và Phong thần là không đúng với lịch sử.

Tây du ký do Ngô Thừa Ân viết vào đời Minh là tiểu thuyết huyền môn. Là tiểu thuyết nên nội dung hoàn toàn hư cấu.

Trường xuân Chân nhân tây du ký là do Lý Chí Thường soạn vào đời Nguyên, là du ký, không phải tiểu thuyết. Quyển này được giới đạo sĩ Trung Quốc liệt vào Đạo tạng, một kho tàng đồ sộ bao gồm kinh điển và tác phẩm của đạo Lão, gồm tổng cộng 5.485 quyển. [Đạo tạng, gồm 5.305 quyển, kết tập từ đời Minh, hoàn tất năm 1445; sau đó bổ sung thêm Tục đạo tạng, gồm 180 quyển, kết tập năm 1607. Vậy, tổng cộng có 5.485 quyển.]

Khưu Trường xuân là ai? Lý Chí Thường là ai? Mục đích gì mà Khưu Trường xuân phải vạn lý du hành để giáp mặt cùng Đại Hãn? Nội dung Trường xuân Chân nhân tây du ký là chi? Tài liệu này hiện nay không dễ kiếm! Do đó, nhân dịp nói chuyện tiểu thuyết Tây du ký (hư cấu) cũng nên biết thêm về bản Tây du ký phi hư cấu trong kho tàng văn học đạo Lão Trung Quốc (xem tiếp Phụ lục “Lý Chí Thường Trường xuân Chân nhân tây du ký”).

Nói thêm:

Theo [Vương Hồng Sển 1993: 234], đời nhà Minh còn có bản Tây du thứ ba, tác giả là Dương Chí Hòa. Họ Dương đem chuyện thỉnh kinh của Trần Huyền Trang đời Đường viết thành tiểu thuyết truyền kỳ, nhan đề Tây du ký truyện, “tuy bốn mươi mốt hồi, nhưng nội dung cũng gần đầy đủ bằng Tây du ký diễn nghĩa của Ngô Thừa Ân. (...)Văn chương của Tây du ký diễn nghĩa lưu loát, ý nghĩa lại thâm thúy, súc tích hơn, do đó tuy cùng một nội dung, nhưng Tây du ký diễn nghĩa lại được phổ biến rộng rãi, còn Tây du ký truyện thì ít được biết đến.”

Không hiểu Vương Hồng Sển căn cứ vào đâu đã cho rằng: “Chính Ngô Thừa Ân đã lấy tài liệu trong Tây du ký truyện của Dương Chí Hòa để viết thành bộ truyện của mình.” (tr. 234).
ĐẠO PHÁP - DÂN TỘC - THỜI ĐẠI
-------o0o-------
Câu lạc bộ thanh niên phật tử Việt Nam
Địa chỉ : Chùa Cót, 188 phố Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 0944828848 - 0989667590
Website: http://www.thanhnienphattu.net
Đăng nhập để trả lời
0

Lý Chí Thường Trường xuân Chân nhân tây du ký [trích dịch]

Lời dẫn của người dịch

Khưu Trường xuân tên thật là Khưu Xứ Cơ, tự là Thông Mật, hiệu là Trường xuân tử, quê ở Thê Hà, Đăng Châu (nay thuộc tỉnh Sơn Đông). Ông được Nguyên Thái tổ tức Thành cát Tư hãn (1162-1227) mời đến triều đình Mông Cổ, cách Trung Quốc vạn dặm về phía Tây.

Nguyên Thái tổ phái hai mươi chiến sĩ Mông Cổ đi mời, dẫn đường, hộ tống quốc khách. Khưu Chân nhân sang Tây Tạng, đem theo mười tám đệ tử. Nguyên Thế tổ hỏi về phép trị nước, Chân nhân bảo lấy kính Trời yêu dân (kính Thiên ái dân) làm gốc. Nguyên Thế tổ lại hỏi về thuật sống lâu (trường sinh cửu thị), Chân nhân đáp hãy giữ lòng trong sạch ít ham muốn (thanh tâm quả dục) làm căn bản.

Nguyên Thế tổ rất đẹp dạ, tặng Chân nhân danh hiệu Thần tiên, phong tước Đại tông sư, giao cho Chân nhân chủ trì Trường xuân cung, cai quản Đạo giáo cả nước, nhờ thế mà Toàn chân giáo cực thịnh.

Toàn chân giáo (cũng gọi Toàn chân đạo, Toàn chân phái) do Vương Trùng dương sáng lập vào đầu đời Kim (triều nhà Kim bắt đầu năm 1115). Toàn chân phái chủ trương Tam giáo hợp nhất, tính mệnh song tu, hoặc tu tính trước tu mệnh sau. Toàn chân phái chiếm lĩnh trọn phương bắc Trung Quốc, còn phương nam là giang sơn của phái Chính nhất (chuyên về phù lục).

Vương Trùng dương có bảy đại đệ tử được đời tôn là Bắc thất chân (bảy vị Chân nhân phương bắc), sau này họ lập thành bảy chi phái của Toàn chân giáo:

1. Mã Ngọc lập Ngộ tiên phái, chuyên về thanh tĩnh, lý luận thanh đàm và luyện nội đơn.

2. Đàm Xứ Đoan lập Nam vô phái, bảo thủ chủ trương của Vương Trùng dương.

3. Lưu Xứ Huyền lập Tùy sơn phái.

4. Khưu Xứ Cơ lập Long môn phái, có ảnh hưởng nhất so với sáu chi phái kia. [Long môn cũng là tên núi, thuộc Lưỡng Châu, Khưu Chân nhân hay ẩn cư ở núi này. Tác phẩm chủ yếu của ông là Đại đan chân chỉ, trình bày chỗ bí yếu của thuật luyện đan (ngồi thiền) là tính mệnh song tu (vừa tu tính vừa tu mệnh).]

5. Vương Xứ Nhất lập Du sơn phái.

6. Hác Đại Thông lập Hoa sơn phái.

7. Tôn Bất Nhị (trước khi xuất gia là vợ của Mã Ngọc) lập Thanh tịnh phái.

Cuộc đời tu hành của Bắc thất chân được tiểu thuyết hóa thành truyện Thất chơn nhơn quả. Sang nửa sau thế kỷ XX, vào những năm sáu mươi, nhà văn Kim Dung (Hong Kong) đưa tất cả bảy nhân vật này vào truyện chưởng với biệt hiệu Toàn chân Thất tử.

[Phần viết này (về Khưu Trường xuân và Toàn chân giáo) căn cứ theo [Hồng Phi Mô 1992: 25-30]. (Lê Anh Minh dịch)]

·

Trong số mười tám đệ tử theo Khưu Chân nhân sang Tây Tạng có Lý Chí Thường.

Lý là người ghi chép lại cuộc vạn lý tây du này. Năm 1219, từ phía bắc của Bắc Kinh, đoàn người đi về Mông Cổ, theo hướng tây nam băng qua Tashkent và Samarkand, rồi theo hướng nam đến Perwan (ngay phía bắc của Kabul), thuộc Afghanistan.

[Tashkent sau là thủ phủ của Uzbek (Nga), thuộc miền Trung Á. Nó nằm trên một gò ở gần chân dãy núi Thiên Sơn. Nơi đây cũng là một ốc đảo lớn nằm dọc theo con sông Chirchik, sản xuất nhiều trái cây và bông vải, được coi là một trong những miền sản xuất hàng hóa vải sợi lớn nhất châu Á.

Samarkand sau cũng là thành phố của Uzbek, ở trung nam nước Nga. Nó từng là một trạm chủ yếu trên con đường Tơ lụa thời cổ. Người Ả Rập chiếm nó năm 712, biến nơi đây thành một trung tâm văn hóa rất lớn của Hồi giáo. Thành cát Tư hãn chiếm đoạt lại thành phố này năm 1220, và đến năm 1365 nó trở thành kinh đô của vua Mông Cổ là Tamerlane (1336-1405), cũng viết là Tamburlaine, hay Timur. Từ năm 1868 nó thuộc về người Nga.

Kabul là thành phố quan trọng vì nó kiểm soát con đường mậu dịch phía đông bắc dẫn vào Pakistan. Do đó, trong lịch sử ba nghìn năm của nó, thành phố này thường xuyên bị ngoại xâm. Nó từng là kinh đô của đế quốc Mông Cổ (1504-1526), và trở thành thủ phủ của Afghanistan từ năm 1773. (LAD chú)]

Arthur Waley đã dịch tác phẩm của Lý Chí Thường ra tiếng Anh, nhan đề The travels of an alchemist, 1931.

Waley sinh năm 1889 tại London, là nhà thơ, dịch giả, và nhà Trung Quốc học. Học ở Cambridge, rồi ông lấy hai học vị tiến sĩ văn chương ở hai đại học Aberdeen và Oxford. Ông giữ chức phó quản thủ Phòng Ấn loát và Đồ họa của Viện Bảo tàng Anh và giảng dạy Đông phương học tại một học hiệu trực thuộc Viện Bảo tàng này (1912-1930). Năm 1952, ông được trao tặng một huân chương (the Order of Companion of the British Empire). Năm 1953, được Nữ hoàng Anh ban tặng Huy chương Thi ca (Medal for Poetry).

Ngoài bản dịch tác phẩm của Lý Chí Thường, Waley còn có các công trình nghiên cứu và dịch thuật quan trọng như sau:

- Thơ Trung Quốc (Chinese poems, 5 quyển), 1918.

- Nhập môn nghiên cứu hội họa Trung Quốc (An introduction to the study of Chinese painting), 1923.

- Đạo đức kinh (The Way and its power), 1935.

- Luận ngữ (The analects of Confucius), 1938.

- Ba con đường tư tưởng Trung Quốc cổ đại (Three ways of thought in ancient China), 1939.

- Nguyên thị vật ngữ (The tale of genji, 6 quyển, dịch tiểu thuyết Nhật), 1955.

- V.v...

Sau đây là một phần lớn văn bản của Trường xuân Chân nhân tây du ký, dựa theo bản tiếng Anh của Arthur Waley. Tuy nhiên, vì không có trọn vẹn bản tiếng Anh của Arthur Waley, tôi đã sử dụng phần trích đăng của Owen và Eleanor Lattimore, in trong hiệp tuyển Silks, spices and empire, nhà xuất bản Dell Publishing Co. Inc., New York 1971, các trang 57-61.

LAD

(1993-10.02.1995)

Trích dịch Lý Chí Thường Trường Xuân Chân nhân tây du ký

Ngày mùng 1 tháng Tư âm lịch (24-4-1219), chúng tôi đến nơi hạ trại của Khả hãn Tamuga. Lúc này tuyết bắt đầu tan, cỏ xanh phơn phớt một màu. Khi chúng tôi đến, một đám cưới đang được tổ chức trong trại. Các thủ lĩnh các bộ tộc quanh đấy năm trăm dặm cũng đến dự, mang theo nhiều lễ vật chúc mừng. Những chiếc xe đen và lều bạt xếp thành dãy dài, ắt hẳn chứa đến hàng ngàn tân khách.

Ngày mùng 7, Khưu Sư phụ hội kiến Khả hãn và ông ta hỏi Sư phụ về thuật trường sinh bất tử. Sư phụ đáp rằng chỉ có những ai ăn chay lạt và giữ gìn giới luật mới có thể luận bàn về thuật ấy. Cả hai thỏa thuận rằng ông ta sẽ được truyền thụ bí thuật vào ngày trăng tròn (rằm). Nhưng bấy giờ tuyết lại rơi nhiều và vấn đề bị bỏ qua. Hoặc có thể Khả hãn đổi ý, vì ông bảo sẽ chẳng đúng đạo lý nếu như ông hưởng trước cha mình (Đại hãn) bí thuật này trong lúc Đại hãn đã vất vả triệu thỉnh Chân nhân đến đây từ ngàn trùng cách trở. Tuy nhiên Khả hãn truyền lệnh cho A-li-hsien phải đưa Sư phụ trở lại sau khi cuộc triều kiến với Đại hãn đã chu tất.

Ở xứ sở này sáng lạnh, chiều tối nóng; có nhiều cây trổ hoa vàng. Dòng sông chảy về đông bắc. Hai bên bờ mọc nhiều thân liễu cao. Người Mông Cổ dùng cây liễu làm khung lều. Sau mười sáu ngày đường, chúng tôi đến một nơi mà dòng sông Kerulan uốn vòng về tây bắc, bao quanh mấy ngọn núi. Vì thế chúng không theo dòng sông đi đến tận nguồn, mà quày sang tây nam, đi theo lối ngựa trạm [Yi-ehr-li post road: con đường chuyển thư]. Những người Mông Cổ chúng tôi gặp nơi đây đều hân hoan khi thấy Sư phụ; họ bảo đã mong chờ Sư phụ từ năm ngoái...

Các đỉnh núi lớn giờ đây dần dần trông rõ hơn. Từ nơi này trở đi, khi chúng tôi đi về hướng tây, vẫn còn là vùng đồi núi và dân cư đông đúc. Dân chúng sống trên các cỗ xe đen và trong những mái lều trắng; họ đều là thợ săn và người chăn thú. Quần áo họ may bằng da thú, lông thú, lương thực là thịt và sữa cô đặc. Đàn ông thắt tóc thành hai bím, thòng phía sau tai. Phụ nữ có chồng đội nón làm bằng vỏ cây phong (birch), có cái cao khoảng sáu tấc. Thường họ phủ lên nón chiếc khăn len đen; nhà giàu dùng lụa đỏ. Đuôi nón giống con vịt, gọi là ku ku (...).

Ngày 27 tháng Tám (15.9.1219), chúng tôi đến chân núi Yin Shan. Một số người Uighurs ra gặp chúng tôi, và vậy là chúng tôi đã tới một thị trấn nhỏ. Viên quan địa phương đem biếu chúng tôi rượu bồ đào [rượu nho, rượu chát, rượu vang], trái cây ngon, bánh, củ hành, vải Ba Tư...

Đi tiếp về hướng tây là thành phố lớn Beshbalig. Các viên quan, quý tộc, dân chúng, hàng trăm nhà sư, đạo sĩ, đi ra mãi ngoài thành để đón thầy trò chúng tôi. Các nhà sư đều mặc áo nâu. Mũ áo của đạo sĩ không giống như ở Trung Quốc.

Ngày 18 tháng Mười Một (03-12-1219), sau khi vượt qua một con sông lớn, chúng tôi tới vùng ngoại vi phía bắc của thành Samarkand. Quan trấn thành là Ngài I-la, cùng các quan lại Mông Cổ và các viên chức sở tại, ra bên ngoài thành đón thầy trò chúng tôi. Họ mang theo rượu bồ đào và dựng rất nhiều lều. Đoàn xe chúng tôi nghỉ chân nơi đây...

Thành cất dọc theo những kênh đào. Vì mùa hè và thu không mưa, hai con sông được uốn dòng để chảy dọc theo từng đường phố, cung cấp nước dùng cho tất cả dân cư. Trước khi Khwarizm Shah thua trận, dân số nơi đây hơn một trăm ngàn hộ; nay chỉ còn lại một phần tư số này, trong đó một phần rất lớn là người Hui-ho [người Hồi hột]. Những người này hoàn toàn không biết làm đồng áng vườn tược, họ phải thuê người Hoa, Kitai và Tanguts. Việc hành chính ở đây cũng do nhiều người thuộc nhiều quốc tịch rất khác biệt nhau đảm nhiệm. Ở đâu cũng thấy thợ thủ công người Hoa. Trong thành phố có gò lớn cao độ ba chục thước, trên là cung điện mới của Khwarizm Shah...

Viên quan trấn thành cho dọn yến tiệc khoản đãi, và gởi biếu mười tấm gấm thêu vàng (gold brocade), nhưng Sư phụ không chịu tiếp nhận. Sau đó, viên quan này hàng tháng trợ cấp gạo, bột bắp, muối, dầu ăn, rau quả... Càng ngày ông càng tỏ ra cung kính hơn.

Khi thấy rằng Sư phụ uống rất ít, ông xin phép được ép khoảng năm mươi ký nho để làm rượu bồ đào mới cho Sư Phụ. Sư phụ đáp: “Tôi không cần rượu, nhưng hãy cho tôi năm mươi ký nho; tôi sẽ dùng nó để tiếp khách của tôi.” Số nho này giữ được trọn mùa đông. Chúng tôi còn thấy những con công và voi lớn được đưa về từ Ấn Độ, cách hàng ngàn dặm về hướng đông nam.

Cuối tháng nhuận (12-02-1222), toán thám sát trở về, Liu Wên báo cáo với Sư phụ rằng con thứ nhì của Khả hãn (Chagatai) đã đem binh đi trước, sửa thuyền và chữa cầu. Bọn thổ phỉ đã bị quét sạch. Ho-la, Pa-hai và những người khác đã đến doanh trại của ông hoàng này thông báo rằng Sư phụ mong muốn gặp Đại hãn. Ông đáp rằng Đại hãn đã đi về hướng đông nam rặng Đại Tuyết sơn. Nhưng tuyết phủ dày ải quan đến hơn trăm dặm không thể nào qua được. Tuy nhiên hoàng tử nói rõ rằng ông hạ trại ngay trên đường đến chỗ Đại hãn và mời Sư phụ nán lại cùng ông, chờ đến khi nào có thể qua núi.

[Đại Tuyết sơn (Hindu Kush): Rặng núi chủ yếu ở đông bắc Afghanistan. Nó là nhánh phía tây của rặng Hy mã lạp sơn, trải dài tám trăm cây số (năm trăm dặm Anh) hướng về phía tây nam từ rặng núi lớn Pamirs trên đất Nga và gồm luôn rặng Koh i Baba ở Afghanistan. Đỉnh núi cao nhất là Tirich Mir (7.692 thước; tức 25.236 bộ Anh), nằm ở Chitral trên lãnh thổ Pakistan. (LAD chú)]

Từ đây chúng tôi đi về hướng đông nam, và đến chiều tối thì dừng chân gần một kênh đào cũ. Hai bên bờ mọc một loại cây giống như lau sậy nhưng không có ở Trung Quốc. Những cây to còn xanh qua suốt mùa đông. Chúng tôi bẻ lấy mấy cây làm gậy. Một số thì chúng tôi dùng để chống càng xe đêm ấy, và chúng cứng đến độ chẳng hề gãy. Những cây nhỏ rụng lá mùa đông và tươi lại vào mùa xuân. Đi thêm về phía nam giữa các ngọn đồi, có loại tre lớn đặc ruột. Quân lính dùng loại này làm cán giáo, cán lao. Chúng tôi còn thấy những con rắn mối dài cả chín tấc, da xanh đen.

Ngày 29 tháng Ba (11-5-1222), Sư phụ sáng tác một bài thơ. Thêm bốn ngày đường nữa chúng tôi đến trại của Đại hãn. Ngài phái một quan đại thần là Ho-la-po-te đến đón chúng tôi... Khi chỗ ở cho Sư phụ đã được sắp xếp xong, Sư phụ lập tức đến triều kiến Đại hãn. Ngài tỏ lòng cảm kích nói: “Các vua khác triệu khanh đến mà khanh đều từ tạ. Nay khanh lại vượt vạn dặm đến với trẫm. Đây là đại hạnh của trẫm.”

Sư phụ đáp: “Kẻ ẩn tu nơi thâm sơn cùng cốc như hạ thần đến với thánh thượng là ý trời vậy.” Đại hãn đẹp dạ, mời Sư phụ an tọa và sai dọn tiệc. Rồi ngài hỏi: “Từ phương xa đến đây, khanh đem thuốc trường sinh gì cho trẫm?” Sư phụ đáp: “Thần có thuật trường sinh chứ không có thuốc trường sinh.” Đại hãn hài lòng vì sự thành thực của Sư phụ, và sai dựng hai lều cho Sư phụ cùng các môn đệ, nằm ở phía bên đông lều của Đại hãn...

Thời tiết càng nóng hơn và Đại hãn di chuyển lên một điểm cao trên dãy Tuyết sơn để tránh nóng. Sư phụ cùng đi theo. Đại hãn ấn định ngày 14 tháng Tư (24-6-1222) sẽ hỏi Đạo. Điều này được các quan Chinkai, Liu Wên, và A-Li-hsien cùng ba quan hầu cận Ngài ghi chép. Nhưng ngay khi đến kỳ hẹn, lại được tin bọn thổ phỉ làm loạn. Đại hãn quyết định thân chinh tiễu trừ, và hoãn lại cuộc hẹn đến ngày mùng 1 tháng Mười (05-11-1222). Sư phụ xin phép được trở về nơi ở cũ trong thành. Đại hãn nói: “Vậy thì khanh sẽ kiệt sức vì đi trọn quãng đường trở lại đây.” Sư phụ nói chỉ là chuyện hành trình hai mươi ngày mà thôi, và khi Đại hãn phản đối rằng chẳng có ai hộ vệ cho Sư phụ thì Sư phụ đề nghị nhờ quan Yang-A-kou...

Chúng tôi vượt qua ngọn núi lớn nơi có “cổng đá”, những trụ đá ở đây trông giống như hai chân nến lớn. Nằm vắt ngang lên trụ là một phiến đá lớn, trông từa tựa chiếc cầu. Dòng suối bên dưới chảy xiết, và đoàn kỵ mã chúng tôi khi thúc bầy lừa chở nặng hành lý vượt suối đã mất hết mấy con lừa chết đuối. Hai bên bờ là xác các thú vật khác cũng đã chết tương tự như vậy. Nơi này là cửa ải, mà trước đây không lâu quân binh đã quyết liệt giao phong để chiếm cứ. Khi chúng tôi ra khỏi hẻm núi, Sư phụ sáng tác hai bài thơ.

Khi Sư phụ đến trại của Khả hãn, cỏ cây vào cuối tháng Ba xanh mượt, khắp nơi cây cối rộ hoa, ngựa và cừu đều béo khỏe. Nhưng khi nhận được phép của Khả hãn để lên đường, trời cuối tháng Tư, chẳng còn lấy một ngọn cỏ cọng rau. Trước cảnh tiêu sơ này, Sư phụ cảm tác một loạt mấy bài thơ.

ĐẠO PHÁP - DÂN TỘC - THỜI ĐẠI
-------o0o-------
Câu lạc bộ thanh niên phật tử Việt Nam
Địa chỉ : Chùa Cót, 188 phố Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 0944828848 - 0989667590
Website: http://www.thanhnienphattu.net
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-12-21 05:22:17CaulacboTNPTVN>
Thỉnh thoảng cũng không tránh khỏi có người nghĩ rằng: “Trong Tây du ký, Ngô Thừa Ân đã mạnh mẽ bài bác, nhạo báng đạo Lão, đã biến hình thành đạo tu tiên, dưới nhiều hình thức, từ nhẹ nhàng đến sống sượng, thô bạo để đề cao Phật giáo...” [Lý Việt Dũng, báo Người lao động cuối tuần, số 127, ngày 09-7-1993, tr. 19.]

Đạo Lão có nhiều trường phái, trong đó không tránh khỏi những biến tướng rơi vào chỗ mất chân truyền hay tông chỉ vô vi thanh tịnh của đạo Lão. Trong Tây du ký, Ngô Thừa Ân nếu có bài bác, chính là bài bác cạnh khía mê tín dị đoan, câu chấp hình danh sắc tướng của các đạo sĩ.

Ngô Thừa Ân thực ra rất tôn trọng và hiểu đúng chân truyền nội đơn (tịnh hay thiền) của Lão giáo [Phương Tây có khi dịch là alchemy (Anh), alchimie (Pháp)]. Theo đó, đạo giải thoát phải thực hành từ chính trong thân hành giả, ngoài thân không có đạo giải thoát. Đạo Lão dùng thuật ngữ nội dược (internal elixir) để ám chỉ lý này. Nếu lầm lẫn tưởng rằng có thể bào chế ngoại dược (external elixir) để làm thuốc trường sinh bất tử là rơi vào bàng môn tả đạo.[ Xem lại Phụ lục 3: Lý Chí Thường Trường xuân Chân nhân Tây du ký. Khi Thành cát Tư hãn hỏi Khưu Trường xuân: “Từ phương xa đến đây, khanh đem thuốc trường sinh gì cho trẫm?” Chân nhân đáp: “Thần có thuật trường sinh chứ không có thuốc trường sinh.” Thuốc trường sinh chỉ là ảo tưởng về ngoại dược. Thuật trường sinh là phương pháp tu thiền, tịnh luyện (nội dược). Câu trả lời của Khưu Chân nhân rất sâu sắc.]

Thử nêu thí dụ tiêu biểu, Hồi thứ 44 và 45 kể việc Ngộ không, Bát giới, Sa tăng vào quán Tam thanh, dẹp hết các cốt tượng trên bệ thờ đi; và khi các đạo sĩ mê muội quỳ lạy xin “kim đơn” để được trường sinh bất tử, ba anh em bèn hội ý chớp nhoáng và hào phóng ban cho ngay mấy bình... nước tiểu! [TDK V 1988: 101-110]

Nếu vịn vào sự việc này rồi đề quyết Ngô Thừa Ân báng bổ đạo Lão thì chẳng khác nào mượn cớ Thiền sư Đan Hà Thiên Nhiên (738-824) đời Đường chẻ tượng Phật nơi chùa Huê lâm, đất Trường An, để kết án Thiền sư hủy báng Phật, phạm tội đại ác nghịch.

Cũng vậy, nếu chấp cứng vô mặt chữ truyện Tây du, thì khi đọc Hồi thứ 16, tới đoạn các sư chùa Quan âm dở trò ma giáo, tự đốt chùa mình vì mong cướp đoạt cà sa báu của Đường tăng [TDK II 1982: 112-134], hay khi đọc Hồi thứ 23, thấy Bát giới tuyên bố với Tề thiên một câu xanh rờn rằng: “Người ta thường nói: Hòa thượng là con ma háo sắc.” [TDK III 1988: 61] thì biết đâu chừng thiên hạ cũng dám chụp mũ Ngô Thừa Ân là bài Phật tôn Lão lắm chứ?!

Cho nên khi đã thấu đáo chỗ nghịch thường này ở truyện Tây du thì cũng tức khắc sẽ hiểu vì sao trong lúc triết gia Đức Friederich Wilhelm Nietzsche (1844(1900) bị chụp mũ là chống Chúa (anti-Christ), chống Ki tô giáo (anti-Christianity), thì một triết gia Đức khác là Karl Theodor Jaspers (1883-1969) vốn một lòng sùng tín Chúa lại quả quyết rằng chỉ có những ai đọc Nietzsche hời hợt ở bề ngoài (only superficial readers) mới dám bảo rằng Nietzche bài xích Chúa.[“I want to show how much of a Christian he is, this ‘Anti-Chirst’ Nietzsche. (...) Only superficial readers blinded by his aggressive extremism can see in him nothing but hostility to all things Christian.” Karl Jaspers, Nietzsche and Christianity, translated by E. B. Ashton, Henry Regnery Co., Gateway Edition, 1963, p. viii.]

Trong Tây du ký, thường thường cứ mở đầu một hồi lại dẫn hai câu thơ đậm nét khẩu quyết hành thiền của đạo Lão. Chẳng hạn:

Ngoại đạo mê chân tính,

Nguyên thần giúp bản tâm.

Hồi thứ 35, [TDK IV 1988: 107].

Trẻ thơ hỏi mẹ tà hay chính,

Kim, mộc thăm dò rõ thực hư.

Hồi thứ 38, [TDK IV 1988: 177].

Trẻ thơ bỡn cợt lòng thiền rối,

Vượn cắp đao về mộc mẫu trơ.

Hồi thứ 40, [TDK IV 1988: 224].

Yêu ma lừa bản tính,

Nhất thể bái chân như.

Hồi thứ 77, [TDK VIII 1988: 152].

Ngoài ra vẫn có nhiều bài thơ dài mô tả thuật luyện đan (thiền) của đạo Lão. Thí dụ tiêu biểu là chín câu thơ trích trong bài thơ dài ở Hồi thứ 22 như sau:

Nhân thử tài đắc ngộ chân nhân

Dẫn khai Đại đạo kim quang lượng

Tiên tương anh nhi, xá nữ thu

Hậu bả mộc mẫu, kim công phóng

Minh đường thận thủy nhập hoa trì

Trùng lâu can hỏa đầu tâm tạng

Tam thiên công mãn bái thiên nhan

Chí tâm triều lễ Minh hoa hướng

Ngọc hoàng Đại đế tiện gia thăng.

Lê Anh Minh phiên âm, theo bản chữ Hán [TDK 1987: 161].

Bản dịch tiếng Việt còn lại tám câu như sau:

Thế rồi gặp được vị chân nhân,

Đạo lớn truyền cho sáng cõi lòng.

Trước thu anh nhi và xá nữ,

Sau thả mộc mẫu với kim công.

Nước thận từ mi về đầu lưỡi,

Lửa gan từ thận xuống tâm nang.

Ba nghìn công trọn lòng theo lễ,

Lên điện Minh hoa lạy Ngọc hoàng.

[TDK III 1988: 33]

Bài thơ này không thể hiểu theo mặt chữ. Anh nhi, xá lợi, mộc mẫu, kim công, minh đường (mi gian: chỗ giữa hai mi mắt), thận thủy (nước thận), hoa trì, trùng lâu, can hỏa (lửa gan), v.v... đều là thuật ngữ thiền đạo Lão mà những ai đã đọc Thượng thanh Huỳnh đình nội cảnh đều gặp đi gặp lại trong ba mươi sáu chương kinh. Đây là một trong những bài thơ loại “khẩu quyết” luyện kim đơn của đạo gia.

Câu “Nước thận từ mi về đầu lưỡi" chính là dạy uốn cong đầu lưỡi để tạo ra tân dịch (nước miếng) lúc hành thiền.[Xem lại chiếc cầu vồng trên bến Lăng vân trong bài Nẻo về bên ấy.]

Ngô Thừa Ân rõ ràng rất tôn trọng đạo Lão, coi Lão là chánh pháp ngang hàng với Nho, Phật. Tây du ký kể rằng tại chùa Lôi âm, khi trao kinh Phật cho Đường tăng, Phật tổ Như lai dặn dò: “Cái thử nội hữu thành tiên liễu đạo chi ảo diệu.” Nghĩa là: Trong đó có phép mầu đắc đạo thành tiên. (Lê Anh Minh phiên âm, theo bản chữ Hán [TDK 1987: 752].)

Vì cho Nho, Thích, Lão đồng đẳng, xếp chung một bảng giá trị, nên khi trao kinh cho Đường tăng thì Phật tổ cũng dạy: “Tuy vi ngã môn chi quy giám, thực nãi Tam giáo chi nguyên lưu.” Có nghĩa rằng: Tuy là giới luật của cửa Phật nhưng cũng là nguồn dòng của Tam giáo.( Lê Anh Minh phiên âm, theo bản chữ Hán [TDK 1987: 752].)

Quả thực bao hàm trong Tây du ký là dòng tư tưởng Tam giáo đồng tông hay đồng nguyên. Ngô Thừa Ân và Tây du ký bất hủ là do nhiều yếu tố, nhưng thiết tưởng phần lớn cũng vì tác giả truyện Tây du đã có tư tưởng rất trong sáng, đã siêu vượt lên mọi xu hướng độc tôn về triết giáo.
ĐẠO PHÁP - DÂN TỘC - THỜI ĐẠI
-------o0o-------
Câu lạc bộ thanh niên phật tử Việt Nam
Địa chỉ : Chùa Cót, 188 phố Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 0944828848 - 0989667590
Website: http://www.thanhnienphattu.net
Đăng nhập để trả lời
0

Để tượng trưng cho những bản năng rất vật dục và tầm thường nơi con người, Bát giới được cách điệu hóa thành một nhân vật nửa người nửa thú. Cái phần may mắn thuộc về người thì lại quá dung tục: bụng phệ, quần áo xốc xếch trễ tràng, hay nói dối, khéo biết nịnh, lười biếng, ham ngủ, thích đùn việc cho kẻ khác mà lỡ khi không thối thác được, phải đành cáng đáng đảm đương thì chàng bèn vênh váo, ra mặt ta đây.

Bát giới rất ham ăn, ăn nhiều chừng nào cũng được, ăn theo kiểu thực bất tri kỳ vị (không biết mùi mẽ món ăn ra sao). Chuyện xảy ra ở quán Ngũ trang, núi Vạn thọ, là một trong những trường hợp tiêu biểu. Ở Hồi thứ 24, sau khi Tề thiên chia phần cho ba anh em mỗi người một quả nhân sâm, thì Bát giới “vừa cầm lấy quả, đã phồng mồm trợn mắt, đút tỏm vào miệng, nhai ngốn ngấu nuốt ực xuống bụng...” Rồi chàng hỏi: “Các anh ăn gì đấy? (...) Mùi vị ra sao?” Chàng thú nhận: “...em ăn vội quá (...) chẳng biết mùi vị ra sao cả, chẳng biết nó có hột hay không nữa...” [TDK III 1988: 90].

Bát giới còn có tánh... ẩu, ăn nói bạt mạng. Ở Hồi thứ 19, khi đã nhận Đường tăng làm thầy, trước phút lên đường thỉnh kinh, trước cái giờ bắt đầu thực hiện sứ mạng thiêng liêng cao cả, Bát giới vẫn rán... gỡ gạc: “Thưa sư phụ, con đã nhận giới hạnh của bồ tát (...) ở nhà bố vợ ăn chay giữ giới, không bao giờ ăn mặn, nay gặp sư phụ con xin phá giới một bữa.” [TDK II 1982: 186].

Hay như Hồi thứ 23, khi mấy thầy trò tá túc qua đêm tại nhà bà góa họ Giả có ba cô con gái nheo nhẻo chưa chồng, muốn kén mấy thầy trò làm rể, ứng cử viên Bát giới mau mắn tìm cách loại bỏ ngay “đối thủ số một” là chính sư phụ mình. Trước mặt bà mẹ góa, Bát giới nói: “Thưa mẹ, mẹ hãy thuyết phục các em đừng có quá kén chọn như thế. Như thầy Đường tăng của con, tuấn tú đẹp trai thật, mà không dùng được việc gì đâu.”

Bà mẹ nghe vậy, cẩn thận khuyên Bát giới nếu muốn cưới vợ thì phải thương lượng với sư phụ, chàng ta gạt phắt: “Không cần phải thương lượng. Ông ấy có phải bố đẻ con đâu. Muốn hay không là do con tất.”

Vì chỉ có một ứng cử viên mà lại đến những ba nàng con gái, bà mẹ góa than thở: “Gả đứa lớn thì sợ đứa thứ hai tị. Gả đứa thứ hai thì sợ đứa út tị. Muốn gả em út cho con lại sợ đứa lớn tị...” Bát Giới sốt sắng đề nghị: “Nếu sợ các em tranh nhau, thì mẹ gả tất ba em cho con là xong, đỡ phải cãi nhau ầm ĩ, làm rối gia đạo. (...) Giá mà thêm mấy cô nữa, con rể mẹ cũng sẵn sàng thu nhận. Thuở nhỏ, con đã học được phép nhẫn nại, có bao nhiêu vợ con cũng có cách ăn ở được vừa lòng.” Và đến khi bà mẹ bảo rằng các con bà không chịu lấy Bát giới làm chồng, anh chàng ứng xử thật mau mắn: “Mẹ ạ, các em không chịu lấy con, hay là mẹ lấy con vậy.” [TDK III 1988: 62-68].

Tóm lại, đối với chuyện hưởng lạc thú trần tục, Bát giới vốn giàu sáng kiến, nhanh trí không ai bằng.

Là nhân vật nửa người nửa thú, vì cái đầu heo mà Bát giới mang họ Trư. Trư là heo; chữ Hán viết trư với bộ thỉ, và thỉ cũng là heo. Ba lần heo cả thảy! Cái đầu vốn được coi là nơi chỉ huy mọi tư duy của con người. Tất cả những vận động tư duy của họ Trư thông qua cái đầu heo như vậy đố làm sao khỏi mang “dấu ấn” của... heo!

Thế thì trăm cám đổ đầu heo. Lý lịch trích ngang của Bát giới cho thấy chàng mới vào đời đã có... tiền án, tiền sự rồi. Thuở còn làm Thiên bồng Nguyên soái cai quản sông Trời (Thiên hà), một lần dự tiệc chiêu đãi tại cung Diêu trì, quan anh lỡ vui quá chén, say xỉn, nhè đi lạc vô cung Quảng hàn, dở trò bốc hốt cô Hằng Nga. Đội tuần tra nhà Trời (tức là Củ soát Linh quan) bèn bắt giữ và truy tố quan ra tòa về tội quấy rối tình dục. Thượng đế đề nghị mức án cao nhất là tử hình (chém đầu).

Rủi ro cho quan là Thiên đình không có... án treo. Thành thử, dù Thái bạch Kim tinh hết sức vận động mà cũng chỉ có thể xin giảm án xuống mức thấp nhất là đánh hai ngàn gậy và đày biệt xứ (bắt hạ trần). Bát giới do nghiệp lực dẫn dắt, không dè sanh nhằm đúng... ổ heo!

Gắn cho Bát giới chiếc đầu heo, phải chăng Ngô Thừa Ân đã cố tình buộc anh chàng vào những rắc rối tính dục? Nếu Sigmund Freud (1856-1939) có dịp phân tích, biết đâu sẽ thêm được vài phát kiến bổ sung cho lý thuyết về tính dục của ông. Trong truyện Tây du ít ra có hai đoạn tiêu biểu.

Một, ở Hồi thứ 23, đoạn kể bà góa họ Giả kén rể. Để giúp Bát giới chọn một trong ba cô con gái làm vợ, bà gợi ý: “Ba đứa con gái ta khéo tay lắm, đứa nào cũng có móc một chiếc áo lót bằng sợi gấm trân châu, con mặc vừa áo của đứa nào, thì mẹ gả đứa ấy cho.” Bát giới khoái chí, liền nhanh nhảu: “Mẹ mang ngay cả ba chiếc áo ra đây để con mặc thử, con mặc vừa tất là con sẽ lấy tất đấy.”

Người đàn bà quay vào trong nhà, rồi chỉ mang ra một chiếc đưa cho Bát giới. Anh chàng cởi phăng chiếc áo gấm xanh đang mặc ra, giật lấy chiếc áo lót con gái, mặc ngay vào người... [TDK III 1988: 69].

Hai, ở Hồi thứ 72, đoạn kể Bát giới trêu ghẹo bảy con yêu nữ nõn nà ở suối Trạc cấu. Khi tận mắt chứng kiến bảy cô ả đang... “trăm phần trăm” ngâm mình dưới suối, trông thật tươi mát, thì Bát giới mừng rơn, cười nói: “Các nữ bồ tát đang tắm đấy à? Cho hòa thượng tôi tắm cùng được không?”

Nói là làm. Cựu Thiên bồng Nguyên soái nhà ta ỷ mình thạo nghề sông nước, liền “cởi tuột chiếc áo dài bằng gấm thêu, rồi nhảy tòm xuống nước (...) biến thành một con cá trê, (...) cứ nhanh như cắt luồn quanh kẽ đùi mấy nữ quái.” [TDK VIII 1988: 45-46].

Nói theo ngôn ngữ tính dục của Sigmund Freud, việc khoái mặc áo lót đàn bà con gái cho thấy Bát giới có triệu chứng bị bệnh fetishism; còn việc hòa thượng ta cắc cớ biến làm cá trê cứ nhè kẽ đùi con gái người ta mà quậy tưng chứng tỏ anh chàng bị cái gọi là libido chi phối.



Bà goá họ Giả kén rể

Có lẽ hiểu rõ ẩn ức tận đáy lòng Trư Ngộ năng không ai khác hơn là chính... Bát giới. Cho nên, ở Hồi thứ 23, tuy làm đệ tử cửa Phật mà anh chàng cũng chẳng nề hà gì khi thú thật với Tề thiên rằng: “Người ta thường nói: Hòa thượng là con ma háo sắc.” [TDK III 1988: 61].

Đúng là phát ngôn có “khẩu khí”!

Kết thúc cuộc thỉnh kinh, Đường tăng và Tề thiên đều thành phật. Sa tăng thành kim thân la hán cũng oai chán. Đến đỗi con ngựa kia cũng lột xác hóa rồng thiêng, mỹ hiệu là Bát bộ Thiên long. Lận đận duy một mình anh Bát giới!

Kết thúc cuộc thỉnh kinh, ở Hồi thứ 100, khi Phật tổ xét thành tích thi đua khen thưởng cá nhân tiên tiến, xuất sắc, họ Trư bị phê: “Tính ương vẫn còn, sắc tình chưa hết”. Rồi xét vì năng khiếu “ăn khoẻ, tính lười, dạ dày to lắm” [TDK X, 1988: 208] của Trư, Như lai phong cho chàng làm Tịnh đàn Sứ giả với chức năng đặc nhiệm là có đủ thẩm quyền để... ăn uống được đồ cúng tế của khắp cả thiên hạ.

Nếu coi cuộc thỉnh kinh của năm thầy trò Đường tăng là sự vận động tiến hóa của mỗi con người để hoàn hảo hóa bản thân, để đạt tới cứu cánh toàn chân, toàn thiện, toàn mỹ, thì sự thất bại của Bát giới phải chăng là bi kịch của kiếp người? Phải chăng cái bản năng vật dục, cái chất trư-bát-giới tiềm tàng trong mỗi con người hóa ra lại rất khó đối trị?

Nếu có thể hiểu được như vậy, thì phải chăng trong cuộc tranh đấu gian khó, quyết liệt mà vinh quang nhất của mỗi người để trở thành một con Người chính danh với chữ N viết hoa trân trọng, chung quy lại sự thành bại vẫn là tùy thuộc ở kết quả hoán cải được bản năng trư-bát-giới trong chính mình?

Phải chăng cái chất trư trong con người có xu hướng kéo tụt con người xuống tận cùng mọi nấc thang giá trị đạo đức, nhưng chính sự chế ngự thành công cái chất trư đó lại sẽ đưa con người tiến lên được nấc thang cao tột của giá trị con Người?



ĐẠO PHÁP - DÂN TỘC - THỜI ĐẠI
-------o0o-------
Câu lạc bộ thanh niên phật tử Việt Nam
Địa chỉ : Chùa Cót, 188 phố Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 0944828848 - 0989667590
Website: http://www.thanhnienphattu.net
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-12-21 05:44:16CaulacboTNPTVN>
Ngoài tác phẩm của Ngô Thừa Ân, đời nhà Minh còn có bộ Tây du ký truyện của Dương Chí Hòa, gồm bốn mươi mốt hồi. Nhưng trước Dương Chí Hòa và Ngô Thừa Ân, câu chuyện tây du thỉnh kinh của sư Huyền Trang đời Đường đã từng được thần kỳ hóa, truyền khẩu trong dân gian, dựng thành tuồng hát...

Lỗ Tấn cho biết xưa đã có sách Đại Đường Tam tạng thủ kinh thi thoại với nhân vật Hầu Hành giả [Tề thiên]; tạp kịch đời Minh có Đường Tam tạng tây thiên thủ kinh, cũng gọi tên là Tây du ký, trong đó lại bỏ bớt nhân vật Tôn Ngộ không. Theo Lỗ Tấn, “ban đầu không có những chuyện kỳ lạ đặt bày, thế mà về sau các tiểu thuyết nói đến chuyện tinh quái khá nhiều. (...) Từ cuối Đường cho đến Tống, Nguyên cứ dần dần diễn thành chuyện thần dị...” [Lỗ Tấn 1996: 203].

Như thế, trong thực tế ở Trung Quốc từ xưa đã có nhiều dị bản về truyện Tây du, tuy nhiên nhiều người vẫn thuộc với các tình tiết trong bản Tây du ký diễn nghĩa của Ngô Thừa Ân, vì tác phẩm này được phổ biến nhất. Khi đối chiếu tiểu thuyết (bộ Tây du ký mười tập [TDK I-X 1982-1988]) với lịch sử cho thấy nhiều điểm gần trùng hợp, rất thú vị. Cuộc đời (thân thế) và sự nghiệp (cuộc thỉnh kinh) Đường tăng (Đường Tam tạng Pháp sư Huyền Trang) trong Tây du ký của Ngô Thừa Ân hoàn toàn là hư cấu.

[Khi đối chiếu, tạm dùng từ ngữ theo sử để chỉ nguồn tài liệu về Huyền Trang tổng hợp từ bốn tác giả sau:

(1) Đoàn Trung Còn, Phật học từ điển. Sài Gòn: Phật học Tòng thơ xb, 1963, mục từ Huyền Trang;

(2) Nguyễn Hiến Lê, Ý chí sắt đá (bài “Huyền Trang và công cuộc thỉnh kinh vô tiền khoáng hậu của nhân loại”). Sài Gòn: Nxb Thanh tân, 1971;

(3) Thích Minh Châu, Huyền Trang, nhà chiêm bái và học giả. Trường Cao cấp Phật học Việt Nam xb, 1989;

(4) Võ Đình Cường, Đường Tam tạng thỉnh kinh. Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam xb, 1992;

(5) Vương Hồng Sển, Thú xem truyện Tàu (bài “Con ngựa già của Thầy Đường Tam tạng”; và bài “Lược khảo về Tây du ký và Đại Đường Tây Vực ký”). Nxb Tp..., 1993.]

1. Thân thế Đường tăng

A. Theo sử, Đường tăng pháp hiệu Huyền Trang, tên thật Trần Vĩ. Ông cố là Trần Khâm, làm quan chức Đông chinh Tướng quân, tước Nam dương Khai quốc Quận công đời Bắc Ngụy. Ông nội là Trần Khương, làm quan Quốc tử Bác sĩ đời Bắc Tề. Cha là Trần Huệ (cũng đọc Tuệ), làm quan huyện Giang Lăng, từ quan trong niên hiệu Đại Nghiệp đời Tùy Dạng đế (605-616). Trần Huệ sinh được bốn trai, con thứ hai là Trần Tố, làm hòa thượng, hiệu Trường Tiệp, trụ trì chùa Tịnh độ, thành Lạc Dương. Trần Vĩ là út, sinh năm 596 (hay 602?), đời Tùy Văn đế, tại huyện Câu Thị, Lộ Châu (thuộc tỉnh Hà Nam sau này).

B. Theo [TDK I 1982: 206-227], bà nội Đường tăng họ Trương; ông ngoại là Thừa tướng Ân Khai Sơn; cha là Trần Ngạc, tự Quang Nhị, người đất Hải Châu, đỗ trạng nguyên đời vua Đường Thái tông năm 627, được bổ làm tri phủ Giang Châu; mẹ là Ôn Kiều (hiệu Mãn Đường Kiều). Trần Ngạc bị tên cướp Lưu Hồng giết trên sông Hồng để đoạt vợ đang có mang. Đường tăng là con đầu lòng, mới sinh ra tại phủ Giang Châu, bị mẹ thả sông, trôi tấp vào chùa Kim sơn, được Hòa thượng Pháp Minh nuôi dưỡng, đặt tên Giang Lưu.

2. Họ Trần xuất gia

A. Theo sử, năm 608, 13 tuổi, Trần Vĩ xuất gia, ở chùa Tịnh độ với Hòa thượng Trường Tiệp (Trần Tố, anh hai).

B. Theo [TDK II 1982: 32], Giang Lưu được Hòa thượng Pháp Minh nuôi dưỡng ở chùa Kim sơn, 13 tuổi đã là sư Huyền Trang, khi lên kinh đô Tràng An, được Đường Thái tông chọn làm pháp sư chủ đàn cầu siêu tại chùa Hóa sinh (Hồi thứ 12).

Như vậy, hồi này hoàn toàn mâu thuẫn với Hồi thứ 9: Hòa thượng Pháp Minh chùa Kim sơn nuôi dưỡng Giang Lưu từ khi mới sinh. Năm 18 tuổi Giang Lưu mới về Tràng An, trả được thù cha, rồi vào chùa Hồng phúc ở kinh thành tu tiếp.

3. Nguyên nhân đi thỉnh kinh

A. Theo sử, năm 618 (23 tuổi), vì tránh loạn ở thành Lạc Dương, Đường tăng và anh về Tràng An, ở chùa Trang nghiêm. Cả hai lại vào Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên, học hỏi với các cao tăng trong năm năm.

Năm 623 (28 tuổi), dù anh không chấp thuận cho đi xa, ông cũng lén theo thuyền buôn xuôi dòng Trường Giang tới Kinh Châu (thuộc tỉnh Hồ Bắc sau này), rồi chu du cầu học khắp các tỉnh phía bắc Trung Quốc. Càng đi nhiều, học hỏi nhiều, lại càng hoang mang vì những kiến giải khác nhau của các sư, các tông phái, ông muốn sang Ấn Độ khảo cứu đạo Phật tận gốc.

Năm 626 (31 tuổi), gặp một cao tăng Ấn Độ từ chùa Na lan đà theo đường biển sang Trung Quốc, ông càng nung chí sang Ấn học Phật. Nhưng khi ông dâng biểu xin qua Ấn, triều đình không cho phép.

Năm 629 (34 tuổi), ông lên đường đi về phương tây (thừa cơ hội vua Đường Thái tông, vì mưa đá mất mùa, cho dân đói ở kinh thành được tự do di tản mưu sinh).

Hành trình thỉnh kinh của ông gồm bốn giai đoạn như sau:

(1) Từ thành Tràng An tới ải Ngọc Môn Quan, là hết địa phận Trung Quốc, rồi đi vào sa mạc Gobi;

(2) Từ sa mạc Gobi đi qua các nước nhỏ ở Trung Á, vượt dãy núi Hy mã lạp sơn tới biên giới Ấn Độ;

(3) Từ nước Ca Tất Thi, [Kapisa, thuộc lãnh thổ Afghanistan sau này] chu du Ấn Độ, và tu học tại chùa Na lan đà (Narandha);

(4) Rời Ấn Độ về Trung Quốc, nhưng không theo đường cũ.

B. Theo [TDK II 1982: 45], vâng lời Bồ tát Quan âm dạy, Đường tăng đi sang chùa Lôi âm, nước Thiên Trúc, thỉnh kinh đại thừa về cầu siêu cho các âm hồn.

4. Hai người hộ tống Đường tăng

A. Theo sử, cùng với một nhà sư, Đường tăng rời thành Tràng An [nay là thành phố Tây An, thủ phủ tỉnh Thiểm Tây]. Tới Tần Châu, ở một đêm; rồi cùng một người đi Lan Châu, ở một đêm; rồi theo một người chăn ngựa đi Lương Châu. Ở Lương Châu một tháng mới trốn được ra khỏi thành. Bị quan trấn thủ cho truy bắt, nhưng ông được một nhà sư cho hai học trò dẫn đường, ngày ẩn núp tối mới dám đi [có sách cho là ông đi tiếp qua Cam Châu, Tú Châu]. Đến được Qua Châu, hai nhà sư dẫn đường quay về. [Tần Châu, Lan Châu, Lương Châu, và Qua Châu đều thuộc tỉnh Cam Túc ngày nay. Lan Châu là thủ phủ của tỉnh, nằm ở trung bắc Trung Quốc, dân đa số theo đạo Hồi.]

B. Theo [TDK II 1982: 45;51-57], khi rời thành Tràng An, Đường tăng được vua Đường Thái tông cho ngựa và hai người theo hộ tống. Họ đến Củng Châu, rồi sang Hà Châu được quan trấn thủ đón tiếp đàng hoàng. Nghỉ một đêm, sáng sớm hôm sau họ vượt biên giới, hai người hộ tống bị ba con yêu cọp, gấu, trâu ăn thịt.

(Hai ông sư bán đồ nhi phế -- bỏ về nửa chừng -- trong sử đã được TDK hư cấu thành hai người hộ tống bị yêu tinh ăn thịt.)

5. Con ngựa của Đường tăng

A. Theo sử, tại Qua Châu, Đường tăng được quan thứ sử chỉ đường: đi tiếp 50 dặm (khoảng 30 cây số) sẽ tới ải Ngọc Môn Quan, rồi tới năm phong hỏa đài, mỗi đài cách nhau chừng 100 dặm (khoảng 60 cây số), rồi tới nước Y Ngô [Uigur hay Uighur, nay thuộc khu tự trị Tân Cương].

[Phong hỏa đài: đài truyền tin bằng cách hun khói (phong) lúc ban ngày hay đốt lửa (hỏa) lúc ban đêm để báo hiệu mỗi khi có giặc tới xâm phạm biên cương. Đài kế đó trông thấy cũng báo tin như vậy cho ải kế tiếp, cứ thế truyền tin lần lần cho tới ải Ngọc Môn Quan.]

Ở Qua Châu con ngựa ngã bệnh chết; ông được một trai tráng xin theo làm đệ tử, nên mua hai con ngựa. Hôm sau đệ tử dẫn tới một ông lão dắt theo một con ngựa hồng, già và gầy. Ông lão xin đổi ngựa với Đường tăng, vì ngựa ông lão đã quen thuộc đường đi sang nước Y Ngô. Đường tăng đồng ý. Hai thầy trò đi gần đến ải Ngọc Môn Quan thì đệ tử xin trở về Qua Châu. Đêm trước, ông suýt bị y đâm lén.

B. Theo [TDK II 1982: 93-104], Đường tăng đến khe Ưng Sầu, núi Xà Bàn, con ngựa do vua Đường tặng ông bị rồng tinh ăn thịt. Rồng này nguyên là thái tử thứ ba, con Tây hải Long vương Ngao Nhuận. Bồ tát Quan âm bắt rồng phải hóa thành con ngựa bạch (coi như đền mạng). Lúc ngựa được dẫn tới, Đường tăng ngạc nhiên thấy con ngựa này có vẻ béo hơn con trước.

6. Đường tăng bị cái nóng thiêu đốt

A. Theo sử, sau khi chia tay tên học trò bất hảo, một mình với con ngựa hồng già, ốm, Đường tăng vào sa mạc. Tới phong hỏa đài thứ nhất, ông suýt trúng tên của lính canh. Quan trấn thủ không thể thuyết phục ông bỏ ý định tây du đã chỉ đường tắt đi tới phong hỏa đài thứ tư. Ông lại suýt trúng tên của lính canh ở phong hỏa đài thứ tư. Quan trấn thủ chỉ đường cho ông đi tránh phong hỏa đài thứ năm để tới sa mạc Gobi (nằm ở phía bắc Trung Quốc, nam Mông Cổ, rộng 1.295.000 cây số vuông).

Sau một ngày đường chừng trăm dặm, ông lạc lối trong sa mạc Gobi, lại còn tuột tay làm đổ hết nước dự trữ. Ông quay ngựa trở lại phong hỏa đài thứ tư lấy nước, đi chừng mười dặm bỗng hồi tâm nhớ lời phát nguyện: “Nếu chưa đến được Tây Trúc thì dù chết cũng không quay trở lại phương đông.” Thế là quành ngựa lại để tiếp tục đi về phương tây, người và ngựa khát khô trên cát bỏng.

Sang ngày thứ năm, ông và ngựa ngã quỵ, mê man. Đến nửa đêm, như có phép lạ, trận gió mát lạnh từ đâu thổi tới, con ngựa đứng lên hý vang, ông chợt mở mắt ra, gượng leo lên lưng ngựa. Rán đi thêm vài dặm, ông gặp bãi cỏ xanh mướt bên dòng suối trong veo, thế là người và ngựa thoát nạn chết khô. Ông cho ngựa đi thêm hai ngày nữa, mới ra khỏi sa mạc Gobi; tổng cộng đi hết tám ngày, vượt qua 800 dặm (khoảng 480 cây số).

B. Theo [TDK VI 1988: 193-194; 212-213], Đường tăng phải chịu cái nóng như thiêu đốt khi qua vùng Hỏa Diệm Sơn chắn đường sang phương tây thỉnh kinh, lửa bốc ngùn ngụt 800 dặm (con số này rất giống với sử), chung quanh không một ngọn cỏ, bốn mùa nóng bức. Bát giới đề nghị hãy chọn phương đông, phương nam, hay phương bắc không có lửa mà đi. Đường tăng không nghe, vì chỉ đi về hướng tây mới lấy được kinh Phật.

Như vậy, vùng Hỏa Diệm Sơn (800 dặm) được hư cấu từ sa mạc Gobi (cũng rộng 800 dặm). Việc Đường tăng không chịu đổi hướng đi như lời Bát giới đề nghị cũng giống với sử nữa, đó là khi Đường tăng không chịu quay trở lại đường cũ lúc bị lạc trong sa mạc Gobi.

7. Đường tăng là ngự đệ

A. Theo sử, tới nước Y Ngô [Uigur (Uighur), thuộc khu tự trị Tân Cương ngày nay], Đường tăng ở lại mười ngày trong một chùa cổ có ba nhà sư Trung Quốc. Vua Khúc Văn Thái nước Cao Xương [Quoco, thuộc khu tự trị Tân Cương ngày nay] sai sứ qua mời ông sang. Đi hết sáu ngày ông tới kinh thành nước Cao Xương. Bị vua nài ép giữ ở lại, ông tuyệt thực bốn ngày phản kháng, sức khoẻ gần nguy kịch. Vua tạ lỗi, xin kết nghĩa anh em, và xin ông lưu lại một tháng giảng kinh.

Trước ngày rời nước Cao Xương, ông được vua cho theo hộ tống gồm: bốn sa di, hai mươi lăm người lực lưỡng, một viên quan lớn tháp tùng để mang thư giới thiệu ngự đệ với vua nước Đột Quyết (Turkistan?); ngoài ra còn có hai mươi bốn lá thư khác gởi cho vua các nước ngự đệ sẽ đi ngang qua để nhờ yểm trợ. Buổi lên đường, vua quan, dân chúng tiễn ông đến tận cửa thành. Vua cầm tay ông, mắt đẫm lệ, bịn rịn mãi.

B. Theo [TDK II 1982: 47-49], cảm động vì Đường tăng quên mình đi sang phương tây gian lao, nguy hiểm, vua Đường Thái tông đến chùa Hóa sinh trong thành Tràng An xin kết nghĩa anh em với ông.

Ngày lên đường, ông được vua quan tiễn chân ra tận cửa thành. Vua ban tặng ngự đệ một bình bát bằng vàng, một con ngựa trắng, hai người hộ tống, ban hiệu là Tam tạng, và quan trọng nhất là cấp cho tờ điệp văn thông hành để khi Đường tăng qua các nước lân cận hay chư hầu nhà Đường sẽ được vua các nước ấy giúp đỡ.

Vậy, theo TDK, Đường tăng ra đi có đủ passport công vụ kèm quốc thư để xin visa nhập cảnh các nước khác; còn theo sử thì Đường tăng thuộc dạng vượt biên trái phép và bị truy nã. Vua Khúc Văn Thái trong sử lại được hư cấu thành Đường Thái tông trong TDK.

8. Các lần gặp cướp

A. Theo sử, ít nhất có bốn lần Đường tăng gặp cướp:

(1) Dọc đường từ nước Cao Xương sang nước A Kỳ Ni [Agni, thuộc khu tự trị Tân Cương ngày nay], bị một toán cướp chận lại.

(2) Từ nước Na Yết La Bát (Nagarahara), trước khi tới nước Kiền Đà La [Gandhara, thuộc Pakistan sau này], ông nhờ một ông lão dẫn đi chiêm bái một hang động có Phật tích [có sách nói động này ở thành phố Nhiên Đăng (Dipankara)], dọc đường bị năm tên cướp chận lại nhưng ông cảm hóa được họ.

(Chuyện này gần giống Hồi thứ 14, Đường tăng ra khỏi nhà cụ già họ Trần bị sáu tên cướp chận đường.)

(3) Tới nước Ca Thấp Di La [Kashmir, thuộc Pakistan sau này], ông được nhà vua cho hai mươi người đi theo sang Ấn Độ để giúp ghi chép. Trên đường đi về miền trung Ấn Độ, ông bị chừng năm mươi tên cướp tấn công [có sách nói việc này xảy ra ở một khu rừng, sau khi ông rời thành phố Na La Tăng Ha (Narasimba)].

(4) Trên đường về nước, từ nước Tăng Ha Bổ La (Simhapura) trước lúc tới nước Đản Xoa Thỉ La (Takshasila), ông lại gặp một toán cướp.

B. Theo TDK, Đường tăng có bốn lần gặp cướp:

(1) Sau khi tá túc một đêm ở nhà cụ già họ Trần, sáng sớm lên đường, ông bị sáu tên cướp chận lại [TDK II 1982: 79-81];

(2-3) Hai lần gặp cùng một bọn cướp hơn ba mươi tên [TDK VI 1988: 126, 144];

(4) Mấy thầy trò ra khỏi nhà viên ngoại họ Khấu, gặp bọn cướp chừng ba mươi tên [TDK X 1988: 133].

9. Các yêu quái ăn thịt người

A. Theo sử, chẳng thấy chép rằng Đường tăng đã bị bọn ăn thịt người bắt. Nhưng đáng lưu ý sự kiện này: Khi ông tới nước Kiệt Nhược Cúc Đồ [Kayakubja, bang Uttar Pradesh sau này], ở lại ba tháng, rồi xuôi sông Hằng, tiếp tục chu du về phía đông. Thuyền đi được chừng 100 dặm thì gặp mười ghe cướp chận lại; ông bị bắt đem về sào huyệt [có sách nói ông đi cùng tám mươi người; việc xảy ra ở vùng A Đà Mục Khư (Ayamukha)].

Bọn cưóp đặt ông lên bàn thờ, chuẩn bị nghi thức hạ sát để tế sống nữ thần Durga. Ông biết mình sắp chết, vô phương kêu cứu. Tuyệt vọng, ông khép hai mắt, tập trung tư tưởng, dốc tâm cầu nguyện chư phật. Như có phép lạ, cuồng phong bỗng nổi lên dữ dội, quét đổ mọi thứ trên bàn thờ; bọn cướp sợ hãi phải thả ông ra.

B. Theo TDK, đủ loại yêu tinh già, trẻ, đực, cái, thậm chí có cả yêu “nhí” Hồng hài nhi, luôn luôn tìm trăm phương nghìn kế bắt sống Đường tăng ăn thịt. Chúng đều tin rằng Đường tăng là chân tu nhiều kiếp, ăn một miếng thịt của ông, sẽ thành trường sinh bất tử.

10. Kỳ thị tín ngưỡng

A. Theo sử, có những xung đột như sau:

(1) Đường tăng đến A Kỳ Ni (Agni) ở lại một đêm rồi sang nước Khuất Chi [Kucha, thuộc khu tự trị Tân Cương ngày nay]. Vì ông khước từ tiệc mặn do vua nước Khuất Chi đãi, nên phải tranh luận về giáo lý tiểu thừa và đại thừa với Quốc sư Mộc Xoa Cúc Đa (Mokshagupta) vốn đã học Phật giáo tiểu thừa ở Ấn Độ hai mươi năm. Sau sáu mươi ngày, khi rời đi, ông được vua cho người theo phục dịch, cung cấp ngựa và lạc đà.

(Cũng giống TDK ở Hồi thứ 44: tranh tài với Quốc sư nước Xa Trì.)

(2) Tới nước Táp Mạc Kiến [Samarkand, nay là thành phố của Uzbek thuộc Nga], Đường tăng bị những người theo Bái hỏa giáo (thờ lửa) cầm đuốc rượt đuổi. Vua nước này không ủng hộ đạo Phật, tiếp ông lạnh nhạt. Sau khi thuyết pháp cảm hóa được vua, ông lưu lại và chấn chỉnh các chùa Phật ở kinh thành.

(Cũng giống TDK ở Hồi thứ 84: cạo đầu cho vua quan nước Diệt Pháp quy y.)

(3) Tại Ấn Độ, Đại sư Giới Hiền (Silabhadra), chủ chùa Na lan đà đã 106 tuổi, giao cho Đường tăng thuyết nhiều bộ kinh quan trọng. Ông trở thành người phát ngôn chính thức về giáo lý đại thừa của chùa. Nhiều học giả do khác quan điểm giáo lý đã tranh biện với Đường tăng:

( Một thầy tu Bà la môn viết bốn mươi điều biện luận dán ở chùa Na lan đà, thách thức ai bác được, ông ta sẽ dâng cái đầu. Đường tăng mời sư Giới Hiền làm chứng cuộc tranh biện. Ông thắng, nhưng tha mạng kẻ thua.

(Cũng giống TDK ở Hồi thứ 44: tranh tài với Quốc sư nước Xa Trì, ai thua bị chém đầu.)

(Bát Nhã Cúc Đa (Prajnagupta), đại sư phái tiểu thừa, viết “Phá đại thừa luận” công kích giáo lý đại thừa. Đường tăng viết “Phá ác kiến luận” trình sư Giới Hiền rồi công bố để bác lại Bát Nhã Cúc Đa.)

B. Theo TDK, những xung đột do khác tín ngưỡng kể trên được hư cấu như sau:

(1) Ở nước Xa Trì, thầy trò Đường tăng chống lại ba anh em đạo sĩ yêu tinh đang đàn áp đạo Phật. Đó là yêu cọp (Quốc sư Hổ lực), yêu nai (Lộc lực), yêu dê (Dương lực).

– Đường tăng đấu phép cầu mưa với Hổ lực, ai thua bị chém đầu; cùng Hổ lực thi ngồi thiền; cùng Lộc lực thi đoán tên món đồ dấu kín trong rương.

– Tề thiên đấu phép: cùng Hổ lực thi chém đầu mọc lại đầu khác; cùng Lộc lực thi mổ bụng moi gan; cùng Dương lực thi tắm trong vạc dầu sôi. [TDK V 1988: 116, 131, 134, 143, 146, 148]

(2) Đánh nhau với yêu đạo sĩ là quốc trượng nước Tỳ Kheo. [TDK VIII 1988: 190]

(3) Vua nước Diệt Pháp có lời thề phải giết 10.000 nhà sư. Tề thiên hóa phép cạo đầu cả triều đình; hoàng gia và bá quan quy y theo đạo Phật, đổi tên nước là Khâm Pháp. [TDK IX 1988: 74, 101]

11. Về chùa Lôi âm

A. Theo sử, Đường tăng tới nước Ma Kiệt Đà (Magadha), tu học ở chùa Na lan đà. Chùa này lớn nhất Ấn Độ, rộng gần như một thành phố, đã có mặt hơn 700 năm trước khi Đường tăng đặt chân đến. Chùa Na lan đà được coi là đại học cổ nhất, chứa khoảng 150 bộ kinh của đạo Phật, Bà la môn, sách về các lãnh vực khác; lúc nào cũng có khoảng 10.000 sư tăng tu học. Nghe tin ông đến, chủ chùa là Đại sư Giới Hiền cử khoảng 200 nhà sư và chừng 1.000 phật tử đi đón. Đường tăng ở chùa năm năm.

B. Theo TDK, Đường tăng đến chùa Lôi âm, được đón tiếp rất trọng thể: Phật tổ cho 8 bồ tát, 4 kim cang, 500 la hán, 3.000 yết đế, 11 đại diệu, 18 già lam, tất cả đứng xếp thành hai hàng trong chánh điện chào mừng. [TDK X 1988: 164]

(Tổ chức đón long trọng y như khi Đại sư Giới Hiền tiếp Đường tăng. Nói khác đi, TDK mượn chùa Na lan đà hư cấu thành chùa Lôi âm; còn Đại sư Giới Hiền thì hư cấu thành Phật tổ.)

12. Về việc kinh bị chìm xuống sông

A. Theo sử, Đường tăng lên đường trở về Trung Quốc năm 643 (48 tuổi), sau mười mấy năm du học ở Ấn Độ [có sách chép 10, 13 hay 15 năm]. Ông dùng voi, lạc đà, ngựa chở 657 bộ kinh và nhiều thứ khác về nước.

Dọc đường (đầu năm 644), qua nước Đản Xoa Thỉ La [Takshasila, nay là tỉnh Punjab, nước Pakistan], ông cỡi voi vượt sông Tín Độ [Indus, dài khoảng 3.060 km là sông chánh của Pakistan, phát nguyên gần núi Kailas ở Tây Tạng (Tibet) và đổ vào biển Ả Rập ở đông nam Karachi]. Những người khác và hành lý đi thuyền. Thuyền ra giữa sông bỗng cuồng phong (theo [TDK X 1988: 186], khi thầy trò vớt kinh lên bờ thì ma quỷ nổi cuồng phong để cướp kinh, Tề Thiên phải dùng hết oai thần mới giữ lại được) nổi lên làm lật chìm, bị mất 50 bộ kinh. Sau này, qua nước Vu Điền [Khotan, thuộc khu tự trị Tân Cương], được vua nước này lưu lại bảy tháng thuyết pháp, Đường tăng cho người qua các nước khác tìm chép bổ sung số kinh bị mất.

Có sách nói lúc nghe tin thuyền chìm, vua nước Ca Tất Thí (Kapisa) đến thăm, rước Đường tăng về kinh thành ở năm mươi ngày, trong thời gian đó Đường tăng cho người qua nước Ô Trưởng Na (Udyana) chép lại chỗ kinh trôi mất. Sau này khi về đến nước Kustana, lưu lại bảy ngày, ông cho người đi tới nước Khuất Chi (Kucha) và Kashgar để bổ sung thêm chỗ kinh bị mất.

B. Theo [TDK X 1988: 185], thầy trò Đường tăng và hành lý, kinh kệ được con rùa trắng chở từ bờ tây sang bờ đông sông Thông Thiên. Rùa bơi chừng nửa ngày, trời đã chiều, gần đến bờ bên kia thì rùa giận Đường tăng không giữ lời hứa với nó, đã quên hỏi Phật tổ giải đáp cho rùa một thắc mắc, nên rùa hất luôn cả đoàn người ngựa, hành lý xuống sông. Kinh bị ướt, vớt lên phơi khô thì hư mất mấy trang chót.

13. Bài văn của vua Đường Thái tông

A. Theo sử, giữa năm 648, Đường tăng dịch xong chín bộ kinh, lấy tên là Tân phiên kinh luận. Vua Đường Thái tông tuy già yếu, nhưng muốn kỷ niệm cuộc tây du thỉnh kinh vô tiền khoáng hậu nên đích thân viết 781 chữ làm một bài tựa cho bản dịch ấy, và nhan đề là Đại Đường Tam tạng thánh giáo. Viết xong, vua cho một quan học sĩ đọc trước mặt các quan trong một buổi lâm triều.

B. Theo [TDK X 1988: 201-204], Đường tăng về đến kinh thành; Vua Đường Thái tông mãi nghĩ tới công lao của người em kết nghĩa không gì đền đáp được, mất ngủ. Sáng hôm sau giữa triều, vua ứng khẩu đọc cho quan trung thư chép bài Thái giáo tự tạ ơn ngự đệ.

14. Kết quả cuộc thỉnh kinh
THEO SỬ
THEO TDK

– Đường tăng rời Tràng An năm 629.
– Đường tăng rời Tràng An năm 639. [TDK I 1982: 51]

– Xa xứ 16-17 năm.
– Xa xứ 14 năm. [TDK X 1988: 199]

– Mất hai năm mới về tới Tràng An.
– Cỡi mây bay về chưa tới một ngày. [TDK X 1988: 193]

– Tới Tràng An đầu xuân năm 645, lúc 50 tuổi.
– Tới Tràng An năm 653, ngoài 30 tuổi. [TDK X 1988: 199]

– Cả đi và về vượt qua 50.000 dặm đường bộ, chừng 30.000 km). Có sách cho là 8.333 dặm Anh, khoảng 10.000 km.
– Lúc đi vượt qua 108.000 dặm; khi về không tính đường bay (đằng vân). [TDK X 1988]

– Thường nói đại khái là đã qua 128 hay 138 nước lớn nhỏ. (Mỗi nước lớn khoảng một tỉnh của Trung Quốc hay một bang của Ấn Độ ngày nay. Chỉ riêng [Thích Minh Châu 1989: 108-113] kể tên các nước đủ nhất.)
– Không tổng kết đã qua bao nhiêu nước, chỉ kể tên 8 nước. [TDK X 1988: 199]

– Dùng 20 ngựa chở về nhiều tượng Phật, 150 hột xá lợi, 657 bộ kinh và luận của nhiều phái đại thừa, đựng trong 520 hộp.
– Chở về 35 bộ kinh, 5.048 quyển. [TDK X 1988: 176]

– Về Trung Quốc dịch kinh 18 năm, được 75 bộ, gồm 1.335 quyển. (Nữ đạo diễn Trung Quốc, Dương Khiết, làm phim TDK tập thứ 25, đã cho Đường tăng thỉnh kinh chữ Hán, chắc bà nghĩ là chùa Lôi âm đã... dịch sẵn rồi!)
– Về Trung Quốc khỏi dịch kinh, thầy trò cùng thăng thiên. [TDK X 1988]
So Tây du ký với sử, sự trùng khớp như dẫn trên rất thú vị; nó cho thấy kỳ tài có một không hai của Ngô Thừa Ân. Nếu viết tiểu sử Huyền Trang một cách chân phương như sử gia, có lẽ số người ham đọc chẳng là bao. Nhưng với ngòi bút của Ngô Thừa Ân, cuộc đời Huyền Trang trở thành hấp dẫn, thần bí, ly kỳ và lôi cuốn hàng bao triệu người trong liên tiếp mấy trăm năm. Ngô Thừa Ân nhờ Huyền Trang mà bất hủ. Huyền Trang nhờ Ngô Thừa Ân mà đã rực rỡ càng mãi rực rỡ huy hoàng.

Nguyễn Hiến Lê có lý lắm khi viết rằng: “Thử hỏi, trong lịch sử nhân loại có vị danh nhân thứ hai nào như ông [Huyền Trang] không? Nội một việc dân tộc Trung Hoa thần kỳ hóa cuộc đi thỉnh kinh của ông, truyền miệng cho nhau, sau chép lại thành một bộ tiểu thuyết – tức bộ Tây du ký – cũng là một cái vinh dự mà từ xưa đến nay chưa ai được nhận nữa!” [Nguyễn Hiến Lê 1971: 5].
ĐẠO PHÁP - DÂN TỘC - THỜI ĐẠI
-------o0o-------
Câu lạc bộ thanh niên phật tử Việt Nam
Địa chỉ : Chùa Cót, 188 phố Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 0944828848 - 0989667590
Website: http://www.thanhnienphattu.net
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-12-21 05:59:00CaulacboTNPTVN>
Toàn bộ các nhân vật, sự kiện trong Tây du ký của Ngô Thừa Ân đều là hư cấu mà Hầu vương là nhân vật hư cấu rất độc đáo.

Đối chiếu tỉ mỉ giữa lịch sử và tiểu thuyết có thể thấy TDK mô phỏng sự tích đức Phật Thích ca (PTC) và sự tích đức Lục tổ Huệ Năng chép trong Phẩm thứ Nhất (Hành do) của Pháp bảo đàn kinh [PBĐK] để hư cấu thành sự tích Hầu vương.

1. Giác ngộ lẽ vô thường

A. Theo PTC, Thái tử Cồ Đàm sẽ kế vị vua cha Tịnh Phạn để làm vua, nhưng sau khi đi qua bốn cửa thành, Thái tử giác ngộ lẽ tứ khổ (sanh, lão, bệnh, tử), đã quyết tâm từ bỏ ngai vàng, xa rời vợ trẻ con thơ, đang đêm lẻn ra khỏi hoàng cung, du phương tìm đạo giải thoát.

B. Theo [TDK I 1982: 35], Hầu vương ở núi Hoa quả, động Thủy liêm, ngồi trên ngai vua, đang hưởng thụ sung sướng, chợt giác ngộ lẽ sống chết vô thường, liền phát tâm bồ đề, lìa bỏ ngôi vua, vượt biển tìm đạo tu thành phật tiên để giải thoát luân hồi sinh tử.

2. Nhân duyên trò tìm được thầy

A. Theo PBĐK, đức Lục tổ Huệ Năng họ Lư (638-713), thuở nhỏ sớm mồ côi cha, nhà nghèo, mẹ con bán củi sống qua ngày. Một hôm Huệ Năng đem củi giao cho khách hàng xong, vừa trở gót ra về bỗng nghe có người tụng kinh Kim cang đến câu Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm (Không nên trụ vào đâu mà sinh ra tâm của mình). Huệ Năng hỏi người ấy học kinh này từ đâu, thì được chỉ dẫn đến chùa Đông thiền, do đức Ngũ tổ Hoằng Nhẫn trụ trì.

B. Theo [TDK I 1982: 41-43], Hầu vương trên đường tìm đạo, một hôm qua rừng chợt nghe một người kiếm củi hát:

Gặp nhau Phật đạo phép mầu,

Bình tâm tĩnh tọa tụng câu Huỳnh đình...

Hầu vương hỏi thăm bài hát này học từ đâu, được người kiếm củi chỉ đến động Tà nguyệt Tam tinh, núi Linh đài Phương thốn, do Tổ sư Tu Bồ Đề làm chủ.

Lưu ý: PBĐK và TDK đều nói đến củi, duyên khởi từ củi mà phăng ra con đường đến gặp thầy học đạo. Củi là chất đốt, dùng để đun nấu; vậy củi là ẩn ngữ nhắc đến luyện hỏa hầu, đốt lò bát quái, luyện đơn nấu thuốc, tức là ám chỉ việc tham thiền của nhà Phật hay tịnh luyện của đạo Lão.

3. Thầy hỏi mục đích đi tu của trò

A. Theo PBĐK, Huệ Năng đến gặp đức Ngũ tổ Hoằng Nhẫn. Tổ hỏi: “Muốn cầu vật chi?” Huệ Năng đáp: “Chỉ cầu làm phật chứ chẳng cầu vật chi khác.”

B. Theo [TDK I 1982: 51], Tổ sư Tu Bồ Đề hỏi Hầu vương: “Nay nhà ngươi muốn học đạo gì?” Rồi Tổ sư giới thiệu đủ các môn phép thuật, nhưng Hầu vương khăng khăng chỉ đòi học được phép trường sinh, tức là chỉ muốn tu thành tiên phật.

[“Trường sinh” hiểu theo dân gian là sống lâu dài, không chết. Hiểu theo đạo Cao đài, chỉ có tu cho thành bậc kim tiên hay phật mới thoát ra vòng luân hồi, không còn bị luật sinh tử chi phối, và đó mới thực là trường sinh.]

4. Buổi sơ kiến thầy trò nói đến tánh

A. Theo PBĐK, Khi Huệ Năng mới đến chùa, đức Ngũ tổ chê là người gốc phương nam quê mùa không thể làm phật. Huệ Năng cãi: “Người ta có phân biệt phương nam, phương bắc nhưng phật tánh không có nam, bắc.”

B. Theo [TDK I 1982: 47], Hầu vương chân ướt chân ráo đến động Tà nguyệt Tam tinh, ra mắt Tổ sư. Tổ hỏi tánh (họ) Hầu vương là gì, Hầu vương đáp rằng không có tánh (bản tính).

5. Phải công quả trước khi thọ pháp

A. Theo PBĐK, Huệ Năng ở lại chùa của đức Ngũ tổ, được giao chẻ củi, giã gạo. Sau khi làm công quả hơn tám tháng mới được Tổ truyền pháp.

B. Theo [TDK I 1982: 49], Hầu vương ở lại động Tà nguyệt Tam tinh, chăm lo quét dọn, làm vườn, gánh nước, kiếm củi, sau bảy năm công quả mới được Tổ truyền pháp. Vậy, cả Huệ Năng và Hầu vương trước khi thọ pháp thiền (công phu) đều phải trải qua một quá trình làm công quả.

[Theo Cao đài, điều kiện này là căn bản không thể thiếu được đối với các hành giả (người tu thiền), vì nếu không có công quả làm nền móng, giải trừ nghiệp (karma) thì quá trình thực hành công phu (hành thiền) sẽ gặp nhiều chướng ngại. Do đó, pháp môn tu của Cao đài ngày nay kết hợp công quả, công phu với công trình (luyện kỷ, tu thân cho nên đạo hạnh), gọi chung là tam công.]

6. Thầy sợ trò bị đồng môn ám hại

A. Theo PBĐK, đức Ngũ tổ Hoằng Nhẫn muốn tuyển người thừa kế y bát thiền tông; giao hẹn ai làm được kệ chứng tỏ đã thấy được tánh mới được chọn làm Lục tổ. Huệ Năng làm bài kệ:

Bồ đề bản vô thụ,

Minh kính diệc phi đài;

Bản lai vô nhất vật,

Hà xứ nhạ trần ai?

Nghĩa là:

Bồ đề vốn không cây,

Cũng chẳng đài gương tỏ;

Vốn không có vật gì,

Chỗ nào đóng bụi lọ?

Bài kệ làm cả chùa xôn xao, kinh ngạc. Đức Ngũ tổ sợ Huệ Năng bị kẻ khác ám hại để đoạt quyền kế vị, liền lấy giày chùi luôn bài kệ như ngầm tỏ ý rẻ rúng, và bảo với mọi người rằng Huệ Năng vẫn chưa thấy tánh (chưa đạt đạo).

Vốn khi Huệ Năng mới đến xin học đạo đã ứng đối lanh lợi, đức Ngũ tổ phòng xa có kẻ ghen tỵ ám hại, nên phải sớm tìm cách che chở. Một hôm Huệ Năng đang giã gạo ở sau chùa, Tổ đi đến bên cạnh, nói nhỏ: “Ta thấy ý kiến ngươi có thể dùng, nhưng e sợ có kẻ ác làm hại ngươi, cho nên chẳng nói với ngươi, ngươi có biết hay chăng?”

B. Theo [TDK I 1982: 65], Hầu vương hầu như đã học xong pháp thuật của Thầy. Một hôm, do tính hiếu thắng, Hầu vương biểu diễn thần thông khoe tài với đồng môn. Tổ sư nghe huyên náo, ra mắng: “Công phu ấy có thể đùa cợt trước mặt mọi người sao? Giả sử ngươi thấy người khác có, ắt phải cầu người ta. Người khác thấy ngươi có, ắt phải cầu ngươi. Nếu ngươi sợ tai vạ, ắt phải truyền cho người ta. Nếu không truyền sẽ bị hại, tính mệnh nhà ngươi khó mà giữ nổi.”

7. Thầy ra ám hiệu hẹn giờ để bí mật truyền riêng pháp môn

A. Theo PBĐK, một hôm khác, sau khi Huệ Năng trình ra bài kệ “Bồ đề bản vô thụ...”, Tổ đến chỗ Ngài đang giã gạo, hỏi bóng gió: “Gạo giã kỹ chưa?” [ngụ ý hỏi trình độ tu hành tới đâu rồi]. Huệ Năng lĩnh hội, cũng đáp bóng gió: “Gạo giã đã kỹ lắm rồi, chỉ còn thiếu cái sàng.” [ngụ ý nói tu đã tới nơi rồi, nhưng chưa có thầy giúp ấn chứng]. Tổ nghe xong, cầm gậy gõ vào cối ba cái rồi lẳng lặng quay đi. Huệ Năng hiểu ý, canh ba lẻn vào phòng Tổ. Ngũ tổ bí mật truyền trao y bát cho Huệ Năng làm Lục tổ.

B. Theo [TDK I 1982: 55] một hôm Tổ sư giới thiệu cho Hầu vương đủ các môn học mà Hầu vương đều nhất quyết không chịu, vì chẳng phải là môn để được sống lâu. Tổ sư làm mặt giận, cầm gậy gõ vào đầu Ngộ không ba cái, quay lưng đi thẳng vào trong, đóng cửa giữa lại. Ngộ không ngầm hiểu: Tổ sư ám chỉ canh ba, đi vào bên trong, lối cửa sau, ở chỗ kín ấy sư phụ sẽ truyền đạo cho.

8. Truyền pháp xong thầy buộc trò lập tức ra đi

A. Theo PBĐK, đức Ngũ tổ mật truyền y bát cho Huệ Năng làm Lục tổ xong, lại thúc hối bảo Ngài phải đi khỏi chùa lập tức: “Nhà ngươi nên đi mau, kẻo e người ta làm hại.” Huệ Năng hỏi: “Đi nẻo nào bây giờ?”

B. Theo [TDK I 1982: 66], sau khi Hầu vương học xong các phép thuật, Tổ sư thấy Hầu vương khoe tài biến hóa với đồng môn, bèn giả mặt giận, mượn cớ mắng nhiếc. Hầu vương cúi đầu xin tha tội, Tổ sư quyết liệt đuổi đi luôn: “Ta cũng không bắt tội nhà ngươi, nhưng nhà ngươi phải đi đi thôi.” Hầu vương ứa lệ, hỏi: “Tôn sư bảo con đi đâu?”

Lưu ý: Khi từ chỗ sư phụ ra đi, hai câu hỏi của hai đệ tử cũng gần giống nhau; Huệ Năng hỏi: “đi nẻo nào?” còn Hầu vương hỏi: “con đi đâu?”
Tám điểm tương đồng dẫn trên cho thấy Tây du ký của Ngô Thừa Ân đã dựa vào một phần lịch sử của đạo Phật ở Ấn Độ và lịch sử Thiền tông ở Trung Quốc để hư cấu thành sự tích Hầu vương. Đó là lấy thực (lịch sử) làm hư (tiểu thuyết). Nói khác đi, Hầu vương hoàn toàn không có thật.

theo:
giải mã truyện tây du ký - Lê Anh Dũng
dienanh.net
ĐẠO PHÁP - DÂN TỘC - THỜI ĐẠI
-------o0o-------
Câu lạc bộ thanh niên phật tử Việt Nam
Địa chỉ : Chùa Cót, 188 phố Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 0944828848 - 0989667590
Website: http://www.thanhnienphattu.net
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-12-21 06:18:27CaulacboTNPTVN>

Nơi phụ nữ nắm mọi quyền hành, không có khái niệm về vợ chồng, hôn nhân; trai gái đến với nhau vào lúc nửa đêm và trở về nhà khi bình minh đến, đó là nơi có tên vương quốc nữ nhi.


Hồ Lugu trên cao nguyên Minh Châu.

Đó cũng là địa danh “Tây Lương Nữ Quốc”, nơi Đường tăng đã một lần lạc bước dùng dằng trên đường sang Tây phương thỉnh kinh. Dưới đây câu chuyện của phóng viên Tuổi Trẻ ở vùng đất kỳ lạ đó.

Theo dấu Đường tăng
Tiểu thuyết về hành trình Tây du của bốn thầy trò Đường tăng là hư cấu, nhưng sự kiện sang Tây phương thỉnh kinh của Trần Huyền Trang - Đường Tam Tạng là có thật. Ông tên thật là Trần Vỹ, sinh năm thứ 16 đời nhà Đường (Đường Thái Tông). Hành trình sang Tây phương (Ấn Độ) thỉnh kinh của ông được sử sách Trung Hoa lưu lại qua bộ sử thi Đại Đường Tây vực ký do chính Đường tăng viết. Bộ sách cũng từng nhắc đến sự kiện Đường tăng lạc bước vào “Tây Lương Nữ Quốc”.

Nữ nhi quốc trong truyền thuyết Tây du ký được người Trung Quốc cho là khu vực sinh sống ngày nay của cư dân bộ tộc Moso nằm trong địa danh hồ Lugu - một vùng rừng núi heo hút trên cao nguyên Minh Châu, ở làng Vĩnh Ninh, huyện Ninh Lạng, phía tây bắc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Bộ tộc người Moso tự xưng là người Nạp Nhật, là hậu duệ của dân tộc Khương cổ đại.

Lạc Thủy Thôn ở nữ nhi quốc.

Theo “Nguyên sử địa lý chí” của người Trung Quốc, người Moso từ cao nguyên Himalaya đã di cư đến vùng hồ Lugu từ hơn 1.500 năm nay. Với người Moso, cho dù trong xã hội bộ lạc hay thị tộc thì từ trước đến nay họ đều theo chế độ mẫu hệ, mọi việc trong cộng đồng, gia đình đều do người phụ nữ nắm quyền. Người Moso được cai quản bởi một nữ vương và việc điều hành bên dưới đều do các nữ quan đảm nhiệm. Đàn ông chỉ là những chiếc bóng trong một thế giới nữ quyền tuyệt đối.

Truyền thuyết dân gian cho rằng phụ nữ trong bộ tộc Moso cực kỳ xinh đẹp và rất khỏe mạnh, đàn ông các bộ tộc khác lỡ bước lạc vào Nữ nhi quốc sẽ bị bắt làm nô lệ, đặc biệt là những trai tráng tràn trề sinh lực, ban ngày sẽ phải làm lụng cực nhọc và về đêm sẽ làm thú vui thể xác thâu đêm cho các đấng nữ nhi. Ai không tuân thủ sẽ bị những hình phạt vô cùng khắc nghiệt.

Những đứa trẻ sinh ra từ những cuộc tình qua đêm sẽ không bao giờ được nhận cha, và những phụ nữ nơi này được tự do ái ân hoan lạc với bất kỳ người đàn ông nào mình thích.

Chuyện kể rằng vào năm 1927, có một nhà khoa học người Mỹ tìm đến nghiên cứu vùng đất này và ông đã mất tích trong suốt gần 30 năm, đến khi người ta tìm thấy ông thì ông đã gần đất xa trời, bởi ông không thể thoát ra được thế giới của mỹ nhân và chấp nhận làm nô lệ tình ái trong suốt hơn một phần tư thế kỷ.

Tiên cảnh giữa trần gian
Chúng tôi lên đường tìm đến Nữ nhi quốc sau ba chặng bay dài từ TP.HCM sang Nam Ninh (thủ phủ tỉnh Quảng Tây) - Côn Minh (thủ phủ tỉnh Vân Nam) - Lệ Giang, sau đó chuyển sang chặng đường bộ dài 270km lên cao nguyên Minh Châu.

Hà sư phụ, người lái xe dân tộc Naxi (Nạp Tây), cho biết: "Đây là một trong những cung đường gian nan nhất vùng tây bắc tỉnh Vân Nam". Ngày trước muốn lên cao nguyên Minh Châu phải mất mười ngày đi bộ từ Lệ Giang. Từ năm 2006, chính phủ đầu tư đường lên hồ Lugu, nhưng do địa thế hiểm trở, phải vượt 18 con đèo cao ngất chìm đắm gần như quanh năm giữa mây mù nên trung bình phải mất bảy giờ nếu mọi chuyện xuôi chèo mát mái, anh cho biết. Có lẽ vì địa thế heo hút, hiểm trở, không có đường thông thương với thế giới bên ngoài nên Nữ nhi quốc vẫn là huyền thoại với nhiều người cho đến tận ngày nay.

Vừa rời khỏi thành cổ Lệ Giang, chúng tôi như lạc vào tiên cảnh khi uốn lượn liên tục qua những con đèo mà bên dưới là những áng mây trắng toát lững lờ trôi, thấp thoáng bên dưới vực sâu là con sông Kim Sa uốn mình theo những hẻm núi. Hà sư phụ cho chúng tôi biết đó chính là thượng nguồn của con sông nổi tiếng bậc nhất Trung Hoa lục địa: sông Dương Tử, đoạn chảy qua tỉnh Tứ Xuyên, và mang tên Trường Giang khi đến Thượng Hải để tìm đường ra biển lớn, nó bắt nguồn từ cao nguyên Minh Châu của bộ tộc Moso.

Cảnh vật hai bên đường như bức tranh thủy mặc, tạo cho lữ khách có cảm giác đang được trôi dần về chốn bồng lai. Ngay chính Hốt Tất Liệt với sự kiêu hãnh lạnh lùng của chiến binh Mông Cổ ngày xưa cũng phải xiêu lòng khi đặt chân đến đây vào thế kỷ 13 khi bình định Đại Lý. Và tên gọi làng của người Moso ven hồ Lugu là do chính Hốt Tất Liệt đặt ra khi phát hiện khung cảnh vô cùng nên thơ, hữu tình và cuộc sống của con người nơi này rất "tự đắc kỳ lạc" (mọi người đều vui thú cuộc sống thanh bình, nên thơ), ông ta đặt cho nơi này cái tên Vĩnh Ninh Hương - làng Vĩnh Ninh - mãi mãi yên bình.

Từ trên đỉnh đèo cao trong làn mưa như trút nước, hình bóng một ngôi làng cổ dần hiện ra, những mái ngói màu nâu sậm rêu phong của những ngôi nhà được xây dựng theo lối tam hợp viện, tứ hợp viện nằm nép mình ven một hồ nước rộng mênh mông tuyệt đẹp. Đỉnh Cách Mẫu Sơn sừng sững giữa mây ngàn ngay phía bên kia hồ, thấp thoáng sau những con đường lát đá, những rừng thông. Chúng tôi có cảm giác như đang sống giữa tiên cảnh chốn trần gian. Hà sư phụ nói: "Đây là Lugu phủ, giang sơn của vương quốc đàn bà!".
ĐẠO PHÁP - DÂN TỘC - THỜI ĐẠI
-------o0o-------
Câu lạc bộ thanh niên phật tử Việt Nam
Địa chỉ : Chùa Cót, 188 phố Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 0944828848 - 0989667590
Website: http://www.thanhnienphattu.net
Đăng nhập để trả lời
0
Những cuộc tình ở 'Tây lương Nữ quốc'

Các cô gái Moso trong điệu Giáp tha vũ chuẩn bị cho đêm “tẩu hôn”.

Với người Moso, cuộc tình đến vào lúc nửa đêm và ra đi khi ánh bình minh bắt đầu ló dạng. Người ta đồn rằng nam giới lạc bước đến đây được cưng như trứng mỏng và được tự do ân ái vì tình trạng nam thiếu nữ thừa. Và tập tục “tẩu hôn” là một phần cuộc sống của họ ngàn năm qua.

Chúng tôi đến Lạc Thủy Thôn nằm ven hồ Lugu mờ sương. Đây là một trong những thôn cổ xưa nhất của bộ tộc Moso, người Moso đến đây từ hơn 1.000 năm trước và vẫn giữ gần như nguyên vẹn tập tục cổ truyền xa xưa. Cả thôn có 500 người nhưng nam giới lại chưa tới 200 người.

Phụ nữ Moso được xem là tự do luyến ái sớm bậc nhất thiên hạ, con gái khi đến 13 tuổi đã được tổ chức một nghi thức gọi là lễ thành nhân, được mặc chiếc váy trắng muốt (biểu tượng cho sự trưởng thành) và được tạo lập cho một căn phòng riêng được gọi là hoa lầu để tự do tìm hiểu, ái ân bạn trai tại đây mà không gặp phải một sự cấm đoán nào trong gia tộc cũng như cộng đồng. Có lẽ vì thế mà người ta đồn thổi rằng nam giới lạc bước đến đây được cưng như trứng mỏng và được tự do ân ái vì tình trạng nam thiếu nữ thừa.

Hôm đến thăm nhà Thaxi Zouma, cô gái Moso mới 20 tuổi, cô đã không ngần ngại đưa chúng tôi lên thăm hoa lầu của cô trong ngôi nhà được cất theo lối tam hợp viện. Một gian phòng khang trang khá đẹp mà “trọng tâm” của nó là chiếc giường phủ màn hồng huyền ảo. Với người Moso, tình yêu đến rất tự nhiên và họ xem đó chính là hôn nhân thực tế. Ngay sau khi được làm lễ thành nhân - người con gái đương nhiên được “tẩu hôn”: nam không cưới, nữ không gả.

Sau những đêm hát đối, nhảy điệu Giáp tha vũ, trai gái phải lòng nhau, trao cho nhau tín vật là món nữ trang bằng bạc, chiếc khăn tay, một món thuốc “đông trùng, hạ thảo”, hay chỉ cần người nam cào nhẹ vào tay người nữ hai cái và nếu người nữ đáp lại cũng bằng một cái cào nhẹ thì xem như sự luyến ái “tẩu hôn” đã bắt đầu. Vào lúc nửa đêm, chàng trai lặng lẽ tìm đến dưới hoa lầu và ra ám hiệu, hoặc chỉ cần gọi khẽ: “Azhiu ơi, anh đã đến!”.

Thaxi Zouma đang giới thiệu hoa lầu của mình.

Do ngôn ngữ Moso không hề có tên gọi vợ chồng, do đó từ “azhiu” (bầu bạn) là từ ngữ trìu mến nhất trong quan hệ nam nữ, nàng sẽ mở cửa sổ cho chàng trai trèo vào hoa lầu để ân ái thâu đêm đến khi tới bình minh chàng trai phải rời khỏi hoa lầu trở về nhà mình, và nếu có gặp nhau ngoài đường thì vẫn xem như chưa từng có chuyện gì xảy ra.

Thaxi Zouma sống trong hoa lầu đã nhiều năm, trong phòng của cô có khá nhiều tín vật bằng bạc quí giá, và cả một hộp “đông trùng, hạ thảo” to đùng, nhưng cô chưa một lần “tẩu hôn”, bởi theo Thaxi: “Em chưa tìm được azhiu nào ưng ý, bởi tình yêu là tự do yêu thương mà không bị ràng buộc bởi dục vọng và hình thức - đó mới là tình yêu đích thực”. Ở tuổi 20, nhưng Thaxi nói về tình yêu như người từng trải. “Tẩu hôn” là một phần quan trọng của cuộc sống nơi thâm sơn cùng cốc này. Càng có nhiều kinh nghiệm ái ân thì cuộc tình mới gắn bó bền chặt.

Người con gái “tẩu hôn” không cần cho gia đình mình biết đó là ai, thậm chí đến khi có thai, sinh con cho dù không biết bố đứa bé là ai, nhưng trong gia đình đều vui vẻ chấp nhận. Một phụ nữ có quyền “tẩu hôn” với nhiều người đàn ông. Ông cụ Long Bu Jia Che đã 71 tuổi nhưng vẫn không hề biết cha mình là ai: “Mẹ tôi sinh ra tôi khi bà mới 19 tuổi. Khi sinh ra tôi, cả tổ mẫu lẫn ông cậu đều không hề quan tâm cha tôi là ai. Sau đó mẹ tôi lại “tẩu hôn” với nhiều người nữa và sinh ra hai đứa em gái, và chúng tôi vẫn coi nhau như anh em ruột thịt, rất hòa thuận”.

Tình yêu của người Moso đến nhanh và ra đi cũng rất nhanh như làn sương. Nếu tình cảm hai người không còn thì đường ai nấy đi, không hề có sự ghen tuông, hờn trách. Chỉ cần cô gái có bạn trai mới thì khi chàng trai cũ tìm đến dưới hoa lầu, cô gái nói vọng ra: “Anh đừng đến nữa, em đã có azhiu mới rồi!”, chàng trai sẽ tự động rút lui mà không hề oán giận cho dù hai người đã từng có những đứa con chung, những đứa con chỉ cần biết mẹ mà không cần biết cha chúng là ai.

Trời mưa như trút nước, cái lạnh miền sơn cước như cắt vào da thịt, nhưng chúng tôi vẫn háo hức theo Tiểu Trần - một chàng trai Moso hát hay múa giỏi đến tham dự đêm Giáp tha vũ - đêm hội truyền thống của người Moso. Đó là nơi nam nữ tìm hiểu nhau, trao cho nhau tín vật để chuẩn bị cho chuyện yêu đương vào lúc nửa đêm.

Ánh lửa bập bùng trong đêm, từng đoàn trai gái trong trang phục truyền thống đầy màu sắc của người Moso càng làm cho đêm hội thêm huyền ảo, lung linh. Điệu nhảy Giáp tha vũ gần như bất tận giữa đêm lạnh, từng ánh mắt, cái nắm tay như truyền hơi ấm cho nhau, lời bài hát “ma da mi” (anh yêu em) cứ cất cao, nồng nàn của bao đôi trai gái chuẩn bị bước vào cuộc hoan lạc như thuở hồng hoang. Vậy mà Tiểu Trần như cắt đứt sự hưng phấn đang dâng cao của chúng tôi khi nói: “Đến để cho biết phong tục tập quán của bộ tộc chúng tôi thôi. Các anh không thể có được một đêm “tẩu hôn” hoan lạc đích thực của người Moso!”.

Hóa ra suy tôn nhục cảm, trai gái có thể sống với nhau như vợ chồng từ ánh mắt đầu tiên, tình yêu là không độc chiếm; nhưng lẳng lơ, đa tình và loạn luân nằm trong 10 trọng tội của luật lệ Moso. Bộ tộc Moso được xem là hóa thạch sống của chế độ mẫu hệ từ thuở bình minh của loài người còn sót lại đến nay, nhưng bản năng cơ bản của con người không thể đến từ sự lợi dụng. Mọi biểu hiện gian dâm, đa tình “tẩu hôn” một lúc với nhiều cô gái còn nghiêm trọng hơn tội giết người.

Một người đàn ông lợi dụng sự tự do luyến ái để trong cùng một thời gian “tẩu hôn” với nhiều người đàn bà sẽ bị cả cộng đồng lên án, đuổi ra khỏi bộ tộc và đó sẽ là nỗi nhục truyền kiếp cho cả những thế hệ về sau. Chỉ có cái chết mới gột rửa hết nỗi ô nhục này.

Theo Tiểu Trần, từ rất lâu rồi trong cộng đồng Moso hầu như chưa nghe đến chuyện gian dâm, đa tình. Nhưng trước đây có một số chàng trai dân tộc Hán nghe nói xứ sở Moso tự do luyến ái và con gái Moso cực kỳ xinh đẹp và rất khỏe mạnh trong chuyện chăn gối nên đã tìm đến lợi dụng. Nhưng hầu như không một ai có thể tồn tại được nơi này và đều bị trục xuất ngay lập tức khỏi cộng đồng Moso theo luật của nữ vương ban ra từ ngàn đời nay.

Theo tư liệu trong “Một vương quốc vô phụ vô phu” của tiến sĩ Châu Hoa Sơn - giáo sư Trường đại học Hong Kong, người đã từng đến sinh sống và nghiên cứu người Moso trong năm 1998 tại làng Vĩnh Ninh (Ninh Lạng, Vân Nam, Trung Quốc), thể chế “tẩu hôn” Moso không hề có hôn lễ, đứa trẻ sinh ra không cần biết cha chúng và người mẹ nhiều lúc cũng không quan tâm cha đứa trẻ là ai.

Theo luật lệ Moso, họ được phép “tẩu hôn” cùng một thời gian với nhiều người đàn ông, nhưng khi sinh ra đứa trẻ nhất thiết phải được làm tiệc rượu đầy tháng, nếu không đó là sự nhục nhã cho cả dòng họ. Và người đàn bà sau “tẩu hôn” mà có thai và hạ sinh là điều tốt lành, thịnh vượng cho cả gia tộc. Người cậu (lão cửu cửu) trong gia đình sẽ đóng vai trò người cha nuôi nấng và chăm sóc đứa bé.
ĐẠO PHÁP - DÂN TỘC - THỜI ĐẠI
-------o0o-------
Câu lạc bộ thanh niên phật tử Việt Nam
Địa chỉ : Chùa Cót, 188 phố Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 0944828848 - 0989667590
Website: http://www.thanhnienphattu.net
Đăng nhập để trả lời
0
Là người đọc, chúng ta thường mắc tật say mê tình tiết, theo dõi biến chuyển nhỏ nhặt trong câu chuyện mà quên khuấy những gì tác giả muốn gởi gấm.
Thực vậy, mấy ai chịu suy gẫm đến cái bạc phận của khách hường nhan và cái đố kỵ của lão Trời già đối với kiếp má hồng mà chỉ khóc cười theo nỗi truân chuyên của nàng Kiều. Khi gập sách lại, đầu óc chúng ta vẫn còn ngổn ngang bao hình ảnh mụ Tú Bà, gã Sở Khanh, chàng Từ Hải v.v... Trong mớ hình ảnh hỗn độn ấy, tuyệt nhiên không có ý niệm gì về cái luật Trời cay nghiệt dành cho người đàn bà đẹp: Hồng nhan đa truân.
Tây Du Ký là một áng văn lừng danh trong văn học Trung Quốc. Giống như truyện Kiều của ta, nó gói ghém 1 triết lý sâu sắc ít người nhận ra. Nếu buổi trình diễn thời trang nhằm mục đích giới thiệu cho thị trường những mẫu mã y phục mới thì thường thường khán giả chỉ "ấn tượng" người mẫu, các tiết mục ca nhạc phụ diễn hơn là y phục, đó là vì người ta cố tình đặt nặng phần phụ diễn giúp vui hơn phần trình diễn y phục. Cũng như thế, Tề Thiên đại thánh với 72 phép thần thông, múa thiết bảng hỗn chiến với yêu ma, cảnh trí huy hoàng của thượng giới, đời sống riêng tư của các vị Thái Bạch Kim Tinh, Thái Thượng Lão Quân, Na Tra, Hồng Hài Nhi v.v... làm chúng ta quên khuấy mất ý chính.
Ý chính của Tây Du Ký là gì? Đây chính là cuộc phấn đấu của mỗi con người của chúng ta trên con đường tự giải thóat. Con người có 3 bản chất. Siêu Ngã (Super-ego) mà Tam Tạng biểu trưng, chính là hình ảnh của Lương Tâm hay cái Thiện. Ngã (ego) là cái ta yếu đuối dễ sa ngã nhưng luôn trực diện với dục vọng (Id).
Cái Dục vọng được tượng trưng bằng yêu ma được Ngô Thừa Ân quy về 3 thứ: ham mê quyền lực, tin vào sức mạnh như Tề Thiên Đại Thánh. Chỉ khi nào cái con khỉ cao ngạo muốn khuynh đảo đất trời kia "ngộ" được sức mạnh trần tục là "không" thì mới thành Phật.
Cái dục vọng thứ 2 là ham mê danh vọng. Danh vọng không chỉ địa vị xã hội mà còn là tửu sắc, hưởng lạc mà lười biếng. Đây là Trư Bát Giới, pháp danh Trư Ngộ Năng. Nhân vật này phạm mọi giới quy Phật Pháp, sống hòan tòan theo bản năng, nuông chiều bản thân mọi nết xấu của con người. Cũng như vậy, chỉ khi nào con người "ngộ" được chữ "năng" tức chuyên cần, mới có thể ngộ đạo.
Cái dục vọng cuối cùng tác giả Ngô Thừa Ân ám chỉ là cái "Tịnh" mà Sa Ngộ Tịnh tiêu biểu. Sẽ không bao giờ thành Phật khi tâm của ta còn bời bời sóng cả. "Ngộ" đuợc chữ "Tịnh", tìm được an bình trong tâm hồn, không còn uế trược trần gian khuấy động, mới có thể thành Phật.
Khi thỉnh được kinh, Tam Tạng thấy kinh không có chữ cũng vì lẽ ấy. Cả 4 thầy trò đã "ngộ" được đạo qua cái phấn đấu gian khổ diệt tất cả yêu ma trong con người của mình. Lẽ đạo ở chỗ sống đạo chứ không phải đi thỉnh đạo.
Ít người đọc Tây Du Ký mà hiểu được như vậy.
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»