Chương IV
BÀN TAY CỦA CHÚA
Vị thảm phán nói những lời cuối cùng với bồi thẩm đoàn:
- Thưa quý vị, vậy là tôi đã làm gần như xong phần việc của mình. Nhiệm vụ của các vị bây giờ là kiểm tra lại xem các chứng cứ có đủ để buộc tội bị cáo đã giết Vivien Barnaby. Các vị đã nghe các nhân chứng liên quan tới thời khắc vang lên tiếng súng nổ: không có sự mẫu thuẫn nào. Các vị cũng biết rằng bức thư Vivien Barnaby viết cho bị cáo là vào đúng buổi sáng xảy ra vụ án, ngày thứ sáu, 13 tháng chín, vì thế mà bên bị thậm chí không hề có cố gắng nào để phủ nhận sự việc. Các vị cũng biết rõ là từ khi bị bắt, lúc đầubị cáo không công nhận là đã đi đến Deering Hill ; sau đó, trước những chứng cứ của phía cảnh sát, anh ta mới chịu. Các vị cần có kết luận về sự thay đổi 180 độ ấy. Trong vụ việc này, toà không có những chứng cứ rõ ràng; các vị phải đưa ra phán xét của chính các vị dựa trên những dữ kiện về động cơ, phương tiện và hoàn cảnh của sự việc. Bên bị khẳng định có ai đó đã vào phòng hoà nhạc sau khi bị cáo ra khỏi đó và giết chết Vivien Barnaby bằng khẩu súng mà anh ta để lại vì một sự cẩu thả mà chúng ta không tưởng tượng nổi. Các vị đã được nghe bị cáo giải thích vì sao anh ta mất tới nửa tiếng đồng hồ để trở về nhà. Nếu các vị không tin vào bản tường thuật sự việc của anh ta và nếu các vị tin chắc bằng cả tâm hồn và ý chí của các vị rằng chính anh ta là người đã chĩa súng bắn vào đầu Vivien Barnaby với âm mưu giết chết người này thì các vị tuyên bố khép tội anh ta. Ngược lại, nếu các vị còn có những hoài nghi xác đáng, nhiệm vụ của các vị là xử cho anh ta trắng án. Bây giờ xin mời quý vị nghỉ để thảo luận.
Mất gần một tiếng đồng hồ, bồi thẩm đoàn đi đến bản án mà tất cả mọi người chờ đợi: “có tội”
Ông Satterthwaite rời toà sau khi bản án được tuyên bố, mày chau lại. Vốn dĩ ông không mấy quan tâm đến các vụ xử tội phạm như thế này. Nó mang tính hiếu kỳ, quá ư tế nhị để có thế tìm thấy cái gì đó hay ho trong những chi tiết vớ vẩn của một cái chết tầm thường. Nhưng vụ việc của Wyle thì không như vậy. Martin Wyle là người xứng đáng được gọi là "quý ngài", hơn thế nữa, anh ta đã từng có mối quen biết cá nhân với nạn nhân, người vợ trẻ của ngài George Barnaby.
Mải suy nghĩ, ông đã lên đến Holborn lúc nào, rồi bước vào những ngõ nghèo khổ nhất ngoắt nghéo nhất dẫn tới Soho. Có một nhà hàng nhỏ nằm trong những con phố ấy, được những người thuộc tầng lớp thượng lưu như Satterthwaite biết tiếng. Hẳn nhiên, giá cả ở đây đắt cắt cổ và chỉ đành cho giới khách sành ăn đến từ các cung điện buồn tẻ. Khung cảnh yên ả và hơi tối. Không có một phím nhạc jazz nào len vào được tới đây hòng khuấy động không gian êm đềm đó. Người phục vụ làm vệc trong yên ắng tranh tối tranh sáng, đi qua đi lại với những chiếc khay đĩa bằng bạ, trang trọng như thể họ đang tham gia một nghi lễ thiêng liêng nào đó. Quán có tên gọi là Arlecchino.
Vẫn đang chìm đắm trong suy nghĩ, ông Satterthwaite bước vào quán, đi về phía chiếc bàn quen thuộc nằm ở một góc khuất nơi cuối phòng. Do cảnh trí lờ mờ tối, mãi tới khi đến nơi, người đàn ông mới thấy bàn đã có người ngồi., một người đàn ông cao gầy, tóc hung. Bóng tối che khuất khuôn mặt, nhưng ánh sáng hắt lên từ một tấm kính màu khiến cho bộ quần áo kín đáo của ông ta trở nên sặc sỡ, như bộ cánh của anh hề trong triều đình.
Ông Satterthwaite đang định quay đi, bỗng người khách lạ từ từ thay đổi tư thế. Và ông nhận ra người quen.
- Chúa ơi! – Satterthwaite kêu lên ( ông già vốn thích cách biểu đạt cổ) – Đây là ngài Quinn đây mà!
Ông đã gặp Quinn ba lần và lần nào cũng để lại trong ông những ấn tưọng sâu sắc. Một con người kỳ lạ, cái ông Quinn ấy, ông ấy luôn luôn sẵn lòng chỉ cho bạn thấy nét mới hoàn toàn của sự việc mà bạn tưởng như đã biết rõ từ lâu.
Ông Satterthwaite rùng mình dễ chịu vì phấn khích. Ông biết lắm, trong cuộc đời này, ông tự giới hạn mình trong vai trò một khán giả; nhưng có đôi khi, được tiếp xúc với Quinn, ông lại ảo ảnh rằng mình là diễn viên, lại còn là diễn viên chính nữa.
Nụ cười làm khuôn mặt khô gầy của ông sáng lên.
- Thật ngạc nhiên quá! – Ông nói - Thật lòng là tôi ngạc nhiên lắm! Ông có thấy phiền, nếu tôi ngồi cùng không?
- Rất hân hạnh ! – Quinn nói – Ông thấy đấy, tôi còn chưa bắt đầu cơ mà.
Người quản lý từ trong bóng tối bước ra, đầy vẻ tôn kính – Satterthwaite gọi đồ theo thực đơn, đúng với cung cách một quý ông của những lâu đài quý phái. Viên quản lý rút lui với nụ cười tán thưởng kín đáo và anh bồi trẻ bắt đầu công việc của mình. Satterthwaite quay lại với Quinn.
- Tôi đến từ Old Bailey – Ông nói – Câu chuyện thật là buồn.
- Anh ta đã bị kết tội rồi à ? – Quinn hỏi ?
- Vâng, bồi thẩm đoàn chỉ mất có nửa giờ để kết án.
Quinn nghiên đầu :
- Dựa trên các chứng cớ thì không thể tránh được kết cục đó.
- Nhưng mà …
Ông Sartterthwaire ngập ngừng. Quinn tiếp tục :
- Tuy nhiên, ông đứng về phía bị cáo chứ gì ? Có phải ông dịnh nói vậy không ?
Vâng, có lẽ thế. Martin Wylde là một chàng trai tốt bụng. Tôi không thể hiểu nổi làm sao mà anh ta lại có thể gây ra tội ác như vậy. Nhưng phải thừa nhận rằng trong thời đại này, dù xét ở phương diện nào đi nữa, có một số thanh niên tự biến mình thành kẻ sát nhân bỉ ổi máu lạnh.
Quá nhiều nữa là đằng khác – Quinn thủng thẳng nói, thoáng ngạc nhiên.
- Quá nhiều, đối với Martin Wylde. Ngay từ đầu, người ta đã có ý gán tội cho anh ta, hơn nữa còn thêm thắt vào câu chuyện, kiểu tội ác do người đàn ông tìm cách vứt bỏ một người phụ nữ để cưới một người khác.
- Nếu người tin vào các phỏng đoán … Ngài Satterthwaite nói giọng hoài nghi
- À!- Quinn trở nên sôi nổi- Tôi sợ là mình không biết hết tất cả những phỏng đoán kia.
Ông Satterthwaite bỗng nhiên thấy mình lấy lại được sự tự tin. Một thứ tình cảm giống như sức mạnh tràn ngập trong ông, thôi thúc ông vào vai kịch.
- Tôi xin giải thích ngay đây. Ông cũng biết là tôi có quen gia đình Barnaby. Tôi hiểu rất rõ các tình tiết của sự việc. Qua tôi, ông sẽ biết cái gì là mặt trái của sự việc, sẽ nhìn nhận sự việc từ bản thân bên trong đó.
Quinn nghiêng người về phía trước:
- Nếu như có ai có thể chỉ cho tôi rõ thì đó chính là ngài Satterthwaite- Ông ta thì thầm và không quên mỉm cười khích lệ.
Satterthwaite níu cả hai tay vào bàn, cảm thấy mình trở nên lớn lao, hoan hỉ, bơi đi trongmột trạng thái lạc ý thức. Lúc này ông là một nghệ sỹ, giản dị và tự nhiên như vốn dĩ là như thế, một nghệ sỹ với phương tiện để biểu đạt nghệ thuật là ngôn từ.
Ông mô tả một cách ngắn gọn chân dung cư dân ở Deering Hill. Ngài George Barbany đã giàm béo phì, rất tự hào về gia sản của mình, suốt đời lo lắng vì mọi thứ nhỏ nhặt. Ông ta lên giây đám đồng hồ quả lắc của mình vào các chiều thứ sáu, tính toán các khoản chi dùng trong nhà vào các buổi sáng thứ ba, và tối tối tự mình đi kiểm tra xem cửa ra vào đã cài chốt kỹ càng chưa. Một người cẩn trọng.
Satterthwaite chuyển sang giới thiệu về bà Barnaby, Lời lẽ có vẻ dễ nghe hơn những vẫn rất tỉ mỉ. ông mới chỉ gặp bà có một lần duy nhất nhưng đọng lại trong ông ấn tượng rõ nét và dai dẳng. Một con người sống động, nổi loạn, vẫn còn trẻ lắm. Một “bé gái” bị mắt bẫy: đó là hình ảnh ông Satterthwaite mô tả về Barnaby phu nhân.
- Cô ấy ghét ông ta, ông có hiểu không? Cô ấy lấy ông ta nhưng không hề biết mình làm gì. Kết quả là…
Theo Satterthwaite thì đó là một phụ nữ đang tuyệt vọng, không còn tin vào bản thân cũng như vào sắc đẹp của mình nữa, mà không biết làm sao để thoát ra. Không có chút tài sản riêng, cô sống phụ thuộc hoàn toàn vào ông chồng già. Và cô ta rất ham sống. Ông Satterthwaite đặc biệt nhấn mạnh vào điểm này. Đó là sự pha trộn của tính nổi loạn, niềm ham sống mãnh liệt.
- Còn Martin Wylde- Ông Satterthwaite tiếp tục- Tôi chưa gặp bao giờ nhưng đã nghe nói về anh ta: làm nông nghiệp, sống cách Deering Hill khoảng một nghìn năm trăm mét. Mà quý bà Barnaby lại quan tâm đến nông nghiệp, hay ít ra là cũng có ý định như vậy. Theo thiển ý của tôi, thì đấy mới chỉ là hoàn cảnh thôi. Quý bà còn phải gặp được cơ hội chào hỏi có một không hai rồi bám lấy anh ta một cách tuyệt vọng, như một đứa trẻ con.Tóm lại nguồn cơn sự việc là vậy. Ta biết được diễn tiến tiếp theo nhờ vào bức thư được đọc ở toà. Wylde gìn giữ tất cả các bức thư mà Barnaby phu nhân viết cho anh. Ngược lại, cô ta không giữ bức thư nào của người tình cả. Nhưng nội dung các bức thư của quý bà chứng tỏ rằng Wylde bắt đầu chán mệnh phụ phu nhân rồi. Hơn thế, anh ta cũng nhận ra điều đó, và đi lại với một cô gái trẻ khác cũng sống trong làng Deering Hill- con gái vị bác sỹ. Có khi ông đã gặp cô ta ở phiên toà đấy. Mà không, ông đã bảo ông không ở toà mà. Vậy thì tôi phải kể cho ông nghe về cô ta. Đó là một cô gái tóc vàng, dịu dàng, có lẽ không được thông minh cho lắm. Một người rất trầm tĩnh. Và trung thực. Đáng quý nhất là đức tính trung thực.
Satterthwaite nhìn đối phương, chờ đợi một cử chỉ khích lệ. Quinn mỉm cười vẻ tán đồng. Ông nói tiếp:
- Chắc ông biết nội dung của bức thư cuối cùng mà bà Barnaby viết sáng ngày 13 tháng chín. Hoặc giả ông không được nghe đọc trong phiên xét xử thì ông đã đọc được trên các báo. Một bức thư với lời lẽ trách cứ đầy tuyệt vọng, phẫn nộ và đe doạ. Cuối thư cô van xin Martin Wylde hãy đến Deering Hill vào mười tám giờ cùng ngày. “Em sẽ mở cửa phụ để không ai biết là anh đến. Em đợi anh trong phòng hoà nhạc.”
Satterthwaite dừng một lúc trước khi tiếp tục:
- Như ông cũng biết, khi bị bắt, Martin Wylde đã chối là không đi đến nhà bà Barnaby tối hôm đó. Anh ta khai rằng mang súng đi là để đi săn trong rừng. Nhưng trước những chứng cứ mà cảnh sát đưa ra, lời khai của anh ta không còn giá trị nữa. Thực ra người ta đã lấy được dấu vân tay của anh ta, ông còn nhớ chứ?- trên cánh cửa và ở một trong hai ly cốc tai tìm thấy trên bàn trong phòng hoà nhạc. Vậy là anh ta đổi lại lời khai rằng: anh ta có đến gặp bà Barnaby, họ đã cãi nhau kịch liệt nhưng cuối cùng anh ta cũng khiến quý bà bình tĩnh trở lại. Anh ta thề là đã để khẩu súng của mình ở bên ngoài, dựa nó vào tường, ngay cạnh cửa, khi tạm biệt bà Barnaby, khoảng sau mười tám giờ mười lăm một chút, bà vẫn còn sống và hoàn toàn khoẻ mạnh. Ngay sau đó anh ta quay trở về tới trang trại lúc mười tám giờ bốn mươi lăm. Mà anh ta chỉ phải đi có một nghìn năm trăm mét, như tôi đã kể với ông khi trước, nghĩa là anh ta không thể mất tới nửa tiếng đồng hồ. Còn về khẩu súng, anh ta khai là đã quên nó. Tất cả những điều đó thật khó nghe cho lọt tai…Tuy nhiên…
- Tuy nhiên sao?- Quinn hỏi.
- Theo tôi, không thể như thế được. Việc luật sư của toà không dựa vào lời chứng này là một sai lầm. Ông cũng biết, tôi rất hiểu đám thanh niên ở tuổi này, và tôi có thẻ nói với ông rằng những cảnh tượng như thế này làm họ rất rối trí, nhất là những anh chàng như Martin Wylde, hiền nhưng cục tính. Còn với đám đàn bà, sau trận cãi cọ dữ dội như vậy, rất có thể họ lại cảm thấy dễ chịu hơn và lấy lại được tinh thần. Cái đó được gọi là van an toàn, Nó làm giảm căng thẳng thần kinh. Nhưng tôi thì hình dung rất rõ một Martin Wylde đang dao động, chán chường và bất hạnh, đi lang thang mà quên hẳn đi mất khẩu súng anh ta đã dựng ở chân tường.
Ông Satterthwaite im lặng một lúc rồi tiếp:
- Dù sao thì điều đó cũng không còn mấy quan trọng nữa vì sau đấy mọi sự đã quá rõ ràng. Chính xác là tiếng súng vang lên lúc mười tám giờ hai mươi phút. Tất cả gia nhân đều nghe thấy: bà nấu bếp, chị phụ bếp, ông bếp trưởng, người ở gái, chị phục vụ riêng của Barnaby phu nhân. Họ nằm rũ trên thành ghế phô tơi. Tên sát nhân đã bỏ lại khẩu súng ngay cạnh đó, như thể nó không hề rời xa đích bắn của mình. Ít nhất là có hai viên đạn đã găm vào não.
Satterthwaite ngừng lại. Quinn hỏi với giọng dửng dưng:
- Chắc hẳn đám gia nhân đã đứng ra làm chứng?
- Vâng. Ông bếp trưởng đến hiện trường trước những người khác vài giây, song tất cả các lời khai đều giống nhau.
- Như thế có nghĩ là tất cả đều làm nhân chứng?- Quinn phác một cử chỉ rất có vẻ suy nghĩ- Không có ngoại lệ nào sao?
- Tới giờ tôi mới nhớ, người ở gái chỉ ra trình toà trong quá trình điều tra. Từ sau đó, hình như cô ta đi Canada thì phải.
- Tôi biết- Quinn nói.
Im lặng bao trùm. Có sự bất ổn nào đó làm xáo động không khí trong nhà hàng nhỏ bé này. Bất chợt ông Satterthwaite cảm thấy phải giữ thế đề phòng.
- Điều gì ngăn cản cô ta đi tới đó?- ông đột ngột hỏi.
- Điều gì đã buộc cô ta phải đi tới đó mới đúng, ông có nhầm lẫn không? –Quinn nhún vai hỏi lại.
Thật là kỳ, câu hỏi trái ngược hẳn với ý của ông Satterthwaite. Ông muốn tránh khéo ý ấy và muốn trở lại chuyện gia đình kia.
- Không có mấy điều khả nghi quanh cái chết. Thật ra, có vẻ như đám gia nhân biết rất ít các sự việc đã xảy ra. Không một ai ở trong nhà để chứng kiến tận mắt. Câu chuyện đã diễn ra khá lâu trước khi có một người trong bọn họ nghĩ ra là phải gọi điện cho cảnh sát, mà khi định gọi thì họ mới phát hiện ra điện thoại không dùng được nữa.
- Ra vậy! Điện thoại không dùng được nữa?
- Không.
Ông Satterthwaite bỗng tin rằng các sự kiện này có tầm quan trọng cốt yếu. Bằng một giọng chậm rãi, ông nói tiếp:
- Tất nhiên, có lẽ kẻ nào đó đã suy nghĩ cân nhắc để đặt nó ngoài tầm tay. Nhưng như thế cũng đâu để làm gì: cái chết đền gần như tức thì.
Quinn không nói gì. Ông Satterthwaite lại cho rằng lời giải thích của mình không được thuyết phục.
- Không có ai ngoài Wylde bị nghi ngờ. Theo nhu bị cáo xác nhận, anh ta ra khỏi toà nhà đúng ba phút sau khi súng nổ. Hơn nữa, còn ai khác có thể nổ súng ở đây nữa? Ngài George đang chơi bài bên hàng xóm. Ông ta ra khỏi nhà lúc mười tám giờ ba mươi và rời khỏi đó đúng lúc một gia nhân chạy tới báo cho ông hay tin dữ. Không nghi ngờ gì về điểm này được. Henry Thompson, viên thư ký của ngài George ngày hôm đó đang ở Luân Đôn và có cuộc gặp công vụ vào lúc tội ác xảy ra. Còn Sylvia Dale có chứng cớ ngoại phạm hoàn hảo, chứng tỏ không liên quan gì tới cái chết của bà Barnaby vì cô đang ở ga Deering Vale, đưa bạn lên chuyến tàu lúc mười tám giờ mười lăm. Còn lại chỉ có đám gia nhân. Không một ai trong số bọn họ có lý do để gây ra chuyện đó. Vả lại, tất cả bọn họ chạy tới nơi xảy ra án mạng gần như cùng một lúc. Không, thủ phạm chỉ có thể là Martin Wylde.
Nhưng nghe giọng thì biết là ông không thoả mãn với kết luận kia.
Họ dùng bữa trong yên lặng. Quinn Không phải người thích ba hoa hàu hước, còn Satterthwaite đã nói tất cả những gì ông cần nói. Sự yên lặng nghe chừng khó thở vì càng lúc ông Satterthwaite càng thấy không hài lòng trước thái độ trung lập của Quinn.
Đột nhiên, ông Satterthwaite dằn mạnh dao dĩa của mình xuống bàn.
- Nếu như chàng trai trẻ hoàn toàn vô tội thì sao?Ông nói- Vậy mà anh ta sẽ bị treo cổ!
Ông có vẻ rung động với ý nghĩ này. Quinn vẫn không nói gì.
- Thâm tâm thì tôi không…
Ông ngừng lại. Đáng ra phải nói hết câu thì ông lại hỏi một ý chẳng ăn nhập gì với câu chuyện từ nãy tới giờ:
- Có gì không bình thường trong việc người đàn bà đi Canada không?
Quinn ngẩng đầu lên, chẳng nói chẳng rằng.
- Tôi thậm chí không biết là cô ta ở vùng nào ở Canada- Satterthwaite nói tiếp với giọng gắt gỏng.
- Làm sao mà ông biết được điều đó?- Đối phương bắt đầu lên tiếng.
- À, là tôi nghĩ vậy. Chắc là ông bếp trưởng có biết việc này. Hoặc là viên thư ký Thompson.
- À, là tôi nghĩ vậy. Chắc là ông bếp trưởng có biết việc này. Hoặc là viên thư ký Thompson.
Satterthwaite lại im lặng. Khi ông lên tiếng, giọng ông nghe như năn nỉ:
- Thật sự thì những chuyện này không liên quan gì đến tôi…
- Vấn đề ở chỗ là chàng trai kia sẽ bị treo cổ trong ba tuần nữa.
- Phải rồi, nếu nói như vậy…vâng, đúng thế. Tôi hiểu điều ông định nói. Cái sống, cái chết. Rồi cả cô gái tội nghiệp kia nữa. Không phải tôi thiếu thiện chí nhưng thực ra thì có giúp ích được gì đâu? Tất cả chuyện này không phải là lố lăng sao? Thậm chí nếu tôi tìm được cô ta ở đâu… có khi tôi phải đích thân đi đến tận nơi!
Ông Satterthwaite có vẻ rất phiền lòng.
- Và tôi đang có ý định đi Riviera vào tuần sau- ông nói giọng đầy thương cảm.
Ánh mắt ông hướng về Mr Quinn, dường như van vỉ: “Làm ơn đừng nói là tôi nên đi”
- Chưa bao giờ ông đến Canada à?
- Chưa bao giờ.
- Đất nước này có nhiều điều rất thú vị.
Quinn ngả người trên ghế, châm thuốc hút. Đợi hết hơi thuốc, ông thong thả nói:
- Thưa ngài Satterthwaite, ngài là một người giàu có, tôi biết chứ. Không phải tỷ phú nhưng ngài có thể cho phép mình làm gì đó, rất tuỳ hứng, mà không cần để ý đến chi phí cho việc đó. Cho tới bây giờ, ngià hài lòng với vị trí của một người đứng ngoài lề những thảm kịch và nỗi đau của con người. Đã bao giờ ngài có ý muốn được là người trong cuộc, được đóng một vai trò nào đấy trong tấn bi kịch đó? Có khi nào ngài tự tưởng tượng ra, dù trong nửa phút thôi, ngài nắm trong tay sự sống và cái chết? Ngài sẽ phán xử số phận của người khác như thế nào?
Satterthwaite cúi người về phía trước. Ông lại cảm nhận được nhiệt tình sôi sục đã xâm chiếm con người mình:
- Ý ông là liệu tôi có đi khắp mọi nơi ở Canada không ấy à?
Quinn mỉm cười nhẹ nhàng đáp lời:
- Ồ , chính là ông tự nêu ý đó đấy chứ đâu phải tôi.
- Ông không nên tránh né như vậy- Satterthwaite phản đối- Mỗi khi tôi gặp ông trên con đường mình đi…
Satterthwaite dừng lại.
- Thì sao kia?- Quinn khuyến khích.
- Ông có điều gì đó thật đặc biệt mà tôi không hiểu, mà có khi không bao giờ tôi có thể hiểu nổi. Lần cuối cùng tôi gặp ông…
- …Một buổi tối ở Saint- Jean.
Ông Satterthwaite rùng mình, như thể những gì mà người đàn ông trước mặt vừa thốt ra kia chứa đựng một dấu hiệu nào đó mà ông không hiểu rõ.
- Có đúng là buổi tối ở Saint-Jean không?- Ông hỏi đầy bối rối.
- Đúng. Nhưng đã qua rồi. Và không có gì đáng nói chứ?
Satterthwaite cảm thấy rõ ràng những điều ẩn ý sau lời nói kia như đang trượt trên ngón tay mình. Ông trả lời với giọng trang trọng:
- Nếu ông nói vậy…Khi từ Canada về…(ông ngừng lời, vẻ lúng túng), tôi…tôi rất mong được gặp lại ông.
- Nhưng mà tôi không có địa chỉ cố định- Quinn nói giọng đầy tiếc rẻ- Tuy nhiên, tôi thường xuyên tới đây. Nếu ông cũng là khách quen ở đây thì chúng ta sẽ sớm gặp lại nhau nơi này thôi.
Rồi họ thân ái chia tay nhau.
Đầy phấn khích, ông Satterthwaite vội vã đến văn phòng hãng Cook để hỏi ngày khởi hành các chuyến tàu đi Canada. Rồi gọi điện cho Deering Hill. Trả lời ông là giọng nhũ nhặn tôn kính của ông bếp trưởng.
- Tôi xin tự giới thiệu, tôi là Satterthwaite… làm việc cho một văn phòng luật sư. Tôi muốn hỏi một vài thông tin về một cô hầu trẻ làm việc chỗ các ông chưa lâu.
- Thưa ngài, có phải là Louisa không? Louisa Bullard?
- Đúng cô gái ấy đấy- Satterthwaite nói- Rất cảm ơn ông cho biết thông tin.
- Tôi rất tiếc thưa ông, cô ấy không còn ở trong nước nữa mà đã đi Canada cách đây sáu tháng rồi.
- Ông làm ơn cho tôi xin địa chỉ của cô ấy ở bên đó?
Nhưng ông bếp trưởng không biết, ông chỉ nghe loáng thoáng đó là một làng ở miền núi, tên kiểu Ê-cốt. Phải rồi, Banff. Tất nhiên là đám gia nhân trong nhà cũng rất muốn biết tin tức về cô nhưng Louisa không hề viết thư cũng chẳng để lại địa chỉ.
Satterthwaite cảm ơn rồi gác máy. Ông không hề nhụt chí; thấy rõ cảm giác phiêu lưu tràn ngập tâm tưởng. Ông sẽ đi Banff, sẽ kết thúc cuộc hành trình khi tìm ra Louisa Bullard, nếu cô ta ở đó.
Satterthwaite rất hài lòng, chuyến đi sẽ mang đến cho ông đôi điều ngạc nhiên. Đã bao năm nay ông không đi chuyến nào dài ngày như vậy. La Riviera, Le Touquet, Deauville và Ecosse: những địa danh mới quen thuộc làm sao. Giờ đây, tinh thần của chuyến vượt biển còn là nắm giữ một nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Nếu những người đồng hành mà biết được mục đích của cuộc kiếm tìm, chắc chắn họ sẽ cho điều đó là ngớ ngẩn hết chỗ nói. Hẳn nhiên rồi, vì họ đâu có biết “Ngài Quinn”.
Khi tới Banff, các kế hoạch của ông không gặp phải bất kỳ trở ngại nào. Louisa Bullard làm việc ở Đại khách sạn trong vùng. Mười hai giờ sau khi đến nơi, Satterthwaite đã gặp được cô gái.
Đó là một phụ nữ chừng ba nhăm tuổi, vẻ bạc nhược dù dáng vóc rất cao lớn. Mái tóc màu hạt dẻ xoăn tít, đôi mắt cũng màu hạt dẻ nhìn thẳng. Theo ông, cô ta có vẻ hơi khờ khạo nhưng hoàn toàn có thể tin tưởng được.
Louisa Bullard tin lời ông ngay khi ông nói mình có nhiệm vụ thu thập thông tin đầy đủ về bi kịch ở Deering Hill. Cô nói:
- Tôi đã đọc được trên báo thấy Martin Wylde bị kết tội. Thật không hay chút nào!
Cô ta không có vẻ gì là ngạc nhiên về thảm kịch xảy ra.
- Một chàng trai dễ thương nhưng lại có một kết cục buồn. Tôi không định nói xấu người đã chết nhưng anh ta chỉ muốn chống lại việc quý bà dắt mũi anh ta thôi. Bà thì lại không muốn buông tha cho anh ta. Kết cục, cả hai đều đã bị trừng phạt. Khi tôi còn bé, có một bài khoá treo trên tường trong phòng tôi viết: “ Không được nhạo cười thượng đế”. Đấy là chân lý đấy! Tôi đã biết chắc là thể nào cũng xảy ra chuyện, mà đúng thế thật.
- Cô biết gì về chuyện này?
- Lúc đó tôi đang thay quần áo trong phòng mình, lơ đãng nhìn qua cửa sổ. Một con tàu chạy ngang qua, rồi- ông có tin hay không thì tuỳ- làn khói trắng thoát ra từ ống khói đầu tàu có hình một bàn tay khổng lồ. Một bàn tay màu trắng in hình trên nền trời đỏ rực. Những ngón tay quắp lại như muốn nắm lấy vật gì đó. Tôi không khỏi liên tưởng mà tự nhủ: “Đây là dấu hiệu của bất hạnh sẽ đến…”. Và thực sự thì đúng lúc ấy tôi nghe thấy tiếng súng nổ. Vừa nghĩ “thôi, thế là xong” tôi vừa chạy vội xuống dưới nhà, gặp Carrie và những người khác ở đại sảnh. Bước vào phòng nhạc, chúng tôi thấy bà ấy ở đó, đầu đầy máu…Thật là kinh khủng. Tôi vội vàng đi báo cho ngài George nhưng ông ấy hình như không để ý gì đến cảnh tượng đã diễn ra. Ngày hôm ấy là ngày của bất hạnh. Tôi cảm nhận được rõ rệt điều đó ngay từ lúc sáng. Cũng không quá ư kì lạ vì hôm đó là thứ sáu ngày 13…
Ông Satterthwaite kiên nhẫn lắng nghe cô Louisa vẫn đang tiếp tục nói với giọng đều đều. Mất khá nhiều lần nhắc nhở. đặt nhiều câu hỏi cụ thể về vụ án, ông hướng thẳng cô ta vào chủ đề chính của vấn đề. Cuối cùng ông phải tự nhận là mình đã bị khuất phục. Louisa Bullard đã kể cho ông nghe tất cả những gì cô ta biết, lời kể của cô ta rất rõ ràng, cụ thể.
Tuy thế, ông cũng phát hiện ra một điểm quan trọng: công việc mới mà cô đang làm là do ông Thompson, thư ký của ngài George giới thiệu. Cô đã đồng ý đi làm vì được trả lương rất cao, cho dù buộc phải rời Anh quốc đi xa thật xa. Có một ông Denman nào đó đã chuẩn bị tất cả những việc cần thiết, đồng thời dặn cô không được viết thư cho bất kỳ gia nhân nào ở Anh, nếu không muốn “có rắc rối với phòng xuất nhập cảnh”. Lưu ý là cô Louisa đã đồng ý mà không hỏi một câu nào.
Mức lương mà cô Louisa có nói quá cao đến độ ông Satterthwaite thấy thật sự sửng sốt. Sau một hồi lưỡng lự, ông quyết định đi gặp ngài Denman nổi tiếng kia.
Không có gì khó khăn lắm để lấy tin tức từ ông Denman. Ông này tình cờ gặp Henry Thompson ở Luân Đôn và có được ông ta giúp cho ít việc. Vào tháng chín, ông thư ký kia viết thư cho ông giải thích rằng ông chủ của mình muốn cô Louisa Bullard xuất ngoại vì những lý do cá nhân. Liệu ngài Denman có thể giúp sắp xếp cho cô ta công việc nào đó không? Kèm theo bức thư là một khoản tiền đủ để trả thêm vào mức lương mà ông đã đề xuất.
- Tôi nghĩ câu chuyện khá rối rắm- Ngài Denman vừa nói vừa uể oải ngả người trên ghế- Cô ta có vẻ tốt tính.
Về phần mình. Satterthwaite lại không thấy đây là câu chuyện dây cà dây muống mà ông đóan chắc Louisa Bullard không phải là đồ chơi nhất thời của ngài George Barnaby. Nhưng vì lý do gì mà phải rời xa cô? Ai là người đã bày ra chuyện này? Chính là ngài George, nhưng thông qua Thompson? Hay anh thư ký kia đã lợi dụng danh nghĩa của ông chủ?
Satterthwaite trở về, trong lòng cứ lấn cấn mãi, lại thêm cảm giác thất vọng và thất bại, vì chuyến đi không mang lại điều gì. Ngay hôm sau, ông tìm đến quán L’ Arlencchino. Hơn cả mong đợi, ông nhận ra gương mặt thân quen của Quinn nơi cuối phòng, nụ cười cởi mở, sáng rỡ.
- Vậy đấy! Giờ thì ông có thể huênh hoang vì đã xỏ mũi được tôi rồi đấy. Satterthwaite vừa nói vừa với tay quết bơ, làm tôi đuổi theo những cái vớ vẩn.
Quinn nhướng đôi lông mày:
- Sao lại là tôi? Chính ông đề xướng ý tưởng đó chứ?
- Đâu cần biết ai là người khơi mào, nhưng tóm lại chuyến đi là công cốc. Louisa Bullard chẳng biết gì mà nói.
Rồi ông Satterthwaite kể lại chi tiết cuộc chuyện trò với cô hầu gái và với ông Denman. Quinn lặng yên nghe.
- Nói gì thì nói, cũng không hẳn là không có manh mối gì. Người ta hẳn phải nghĩ nát óc trước khi chịu cách xa Louisa Bullard. Nhưng vì sao kia? Tôi nghĩ mãi vẫn không ra.
- Không nghĩ ra ư?- Quinn hỏi giọng thẽ thọt lấy lòng khiến ông Satterthwaite đỏ cả mặt.
- Không lẽ ông cho là tôi không khéo hỏi? nhưng xin bảo đảm là tôi đã khiến cô ta kể đi kể lại câu chuyện. Làm sao có thể đổ lỗi cho tôi nếu không có được những thông tin cần thiết.
- Thế ông có chắc là ta không tìm được manh mối gì không?- Quinn hỏi.
Bị bất ngờ, Satterthwaite đưa mắt nhìn Quinn, bắt gặp ánh nhìn buồn bã và đầy giễu cợt đã thân thuộc với ông lắm lắm. Ông lắc đầu, rồi mải đuổi theo bao ý nghĩ.
Quinnn tiếp chuyện, giọng khác hẳn:
- Một ngày gần thôi, ông sẽ hoạ lên bức tranh hoàn hảo về các nhân vật trong câu chuyện này. Mới có vài từ nhưng hình ảnh của họ hiện lên sắc nét như thể một bức điêu khắc. Cũng theo cách ấy, ông mô tả lại ngôi nhà tôi nghe xem nào. Không ai để ý đến nó cả.
Ông Satterthwaite được khích lệ.
- Deering Hill…? Một ngôi nhà như chúng ta vẫn thấy, tường gạch đỏ lô nhô cửa sổ. Trông qua thấy vẻ bình thường nhưng bên trong rất tiện nghi. Ngôi nhà không lớn lắm, chừng độ một hecta đất. Những ngôi nhà quanh cái sân golf cho mấy người giàu đều giống nhau. Nhà được bài trí như khách sạn: các phòng toát lên vẻ sang trọng nhờ các bồn tắm, lavabo- nước nóng lạnh, những bộ chân nến mạ vàng. Dù tiện nghi thật đất nhưng phỏng có giá trị gì vì ngôi nhà toạ trốn điền thôn. Mà Luân Đôn lại chỉ cách đó có ba mươi cây số.
Quinn chăm chú lắng nghe.
- Đường sắt không đựoc thuận tiện lắm phải không?
- Sai rồi- Satterthwaite bắt vào ngay- Hè năm ngoái tôi có về đây nhgỉ nên biết chứ, đi từ Luân Đôn về rất dễ dàng. Giờ nào cũng có tàu khởi hành từ Waterloo, từ sáng đến hai mươi hai giờ bốn mươi tám phút.
- Đi bao lâu thì đến Deering Hill?
- Bốn mươi phút.
- Đúng rồi, lẽ ra tôi phải nhớ tới điều này chứ- Quinn ra ý ngắt lời- Trong một buổi tối đáng nhớ ấy, cô Dale đã đi với một cô bạn lên chuyến tàu lúc mười tám giờ hai mươi tám phút đúng không?
Ông Satterthwaite vẫn lặng yên. Bất chợt ông nhớ tới khúc mắc chưa có lời đáp của mình. Cuối cùng ông lên tiếng:
- Vừa rồi, khi hỏi tôi có chắc là ta không lấy được tin không hẳn là ông có ý gì chứ?
Câu hỏi rất chỉn chu và khó nhưng Quinn không nao núng:
- Tôi tự hỏi , không biết ông có phải người cầu toàn không thôi. Không lẽ ông không thấy việc Louisa Bullard phải rời xa nước Anh đã được cân nhắc rất kỹ? Hẳn phải có lý do rồi. Mà lý do phải bộc lộ trong những câu chuyện cô ấy kể với ông.
- Phải rồi, cô ta dã nói gì? – Ông Satterthwaite suy luận- Nếu là nhân chứng trước toà, cô ta nói gì đây?
- Có thể là cô ta sẽ kể lại những gì nhìn thấy.
- Mà cô ấy thấy gì?
- Một dấu hiệu trên trời.
Ông Satterthwaite nhìn Quinn sững sờ.
- Ông nghĩ đến cả điều phi lý ấy? Rằng đó là bàn tay của Chúa trời?
- Dựa vào những điều chúng ta biết, đó có thể là bàn tay của Chúa lắm chứ.
Sự tò mò của ông Satterthwaite rõ ràng là bị kích thích ghê gớm trước cách nói nghiêm trang của ông bạn. Ông phản đối:
- Thật vô lý! Chính cô ta đã nói đó là khói tàu kia mà.
- Con tàu này đi Luân Đôn hay từ Luân Đôn tới? – Quinn thì thào.
- Giờ nào cũng có tàu đi Luân Đôn, lúc kim dài đồng hồ chỉ số mười. Vậy đương nhiên đó phải là tàu từ Luân Đôn đến, chuyến tàu mười tám giờ hai mươi tám phút…Không đúng, như vậy cũng không hợp lý vì cô hầu gái khẳng định là nghe thấy tiếng súng ngay sau đó, mà ta đều biết súng nổ lúc mười tám giờ hai mươi phút. Chắc chắn là con tàu không thể đến sớm mười phút được.
- Có thể lắm chứ, ông chẳng nói đây là miền quê còn gì?- Quinn thuyết phục.
Ông Satterthwaite nhìn thẳng vào Quinn, giọng trùng xuống:
- Có thể đó là tàu chở hàng, nhưng nếu thế thì…
- Thì việc đưa Louisa Bullard đi Canada không có ích lợi gì cả- Quinn nói tiếp vào- Đồng ý.
Ông Satterthwaite đăm đăm nhìn Quinn, chậm rãi nói từng tiếng rõ ràng:
- Chuyến tàu lúc mười tám giờ hai mươi tám phút… Nhưng, nếu súng nổ vào lúc đó, tại sao tất cả đều khẳng định tiếng nổ vang lên trước đó?
- Đương nhiên là đồng hồ bị chậm.
- Tất cả sao?- ông Satterthwaite kêu lên đầy nghi hoặc- ông muốn nói có sự trùng hợp!
- Tôi không nghĩ đó là sự trùng hợp- Quinn chữa lại- Tôi nghĩ đến vụ giết người đã xảy ra vào một ngày thứ sáu.
- Thế thì sao?
- Chính ông đã nói là ngài George lên giây đồng hồ vào mỗi chiều thứ sáu- Quinn giải thích.
Sững sờ trước phát hiện soi sáng trí não mình, ông Satterthwaite thì thầm, gần như nín thở:
- Ông ta đã chỉnh đồng hồ chậm mười phút…rồi đi chơi bài. Có thể ông ta đã xem bức thư mà cô vợ vừa viết cho Martin Wylde sáng hôm đó…Phỉa rồi, chắn chắn là ông ta đã xem. Ông ta rời chiếu bạc lúc mười tám giờ ba mươi phút, lấy đi khẩu súng mà Martin dựa vào tường gần cửa; sau đó quay về nhà giết vợ từ phía sau, rồi trở ra, quẳng khẩu súng vào bụi rậm chỗ mà sau này người ta tìm thấy vật chứng, khi gia nhân chạy sang hàng xóm để báo tin, anh ta có thẻ tin là ngià George vừa rời khỏi đó. Nhưng …người ta giải thích ra sao về sự cố điện thoại? À mà tôi hiểu rồi: Ông ta cắt điện thoại để không ai gọi cho cảnh sát được và cảnh sát thừa sức ghi lại giờ gọi điện. Bây giờ sự vụ sẽ đổ lên đâu Wylde. Anh chàng ra khỏi nhà lúc mười tám giờ hai lăm phút, mà không, lúc mười tám giờ hai lăm phút, rảo bước từ tốn, đến nhà ngài George lúc mười tám giờ bốn mươi nhăm. Đúng thế, mọi việc rõ ràng. Còn duy nhất một sự đe doạ là Louisa và những chuyện mê tín của cô ấy. Ai đó có thể nghĩ ra chuyến tàu và thế là âm mưu hoàn hảo của ngài George bị lật tẩy.
- Rất hùng biện- Quinn bình luận.
Satterthwaite quay lai, ngượng ngịu.
- Sự việc là vậy, nhưng bây giờ làm sao để giải quyết đây?
- Nên chăng chúng ta đi gặp Sylvia Dale- Quinn nói.
- Nhưng tôi đã nói với anh rồi đấy- Satterthwaite bĩu môi ngờ vực- Tôi thấy cô ấy không mấy thông minh.
- Nhưng ngược lại- Ông bố và mấy ông anh của cô ấy luôn sẵn lòng.
- Đúng thế, ông Satterthwaite đồng tình.
Lát sau, ông kể lại toàn bộ câu chuyện cho cô gái trẻ nghe. Cô chăm chú nghe, không hỏi câu nào, khi ông ngừng kể, cô ngẩng đầu lên.
- Tôi cần một xe taxi. Ngay lập tức.
- Cháu định làm gì vậy?
- Cháu đi tùm ông George Barnaby.
- Không được đâu. Cách đó không hay đâu. Nghe bác này…
Ông rảo bước theo cô can ngăn nhưng cô không nghe. Cô để ông lên xe cùng mình nhưng giả điếc trước mọi lời lẽ của ông. Vào trong thành phố, cô để ông đợi trong xe còn mình vào văn phòng ông George.
Nửa giờ sau cô trở ra, mệt mỏi. Vẻ sáng rỡ biến mất thay vào đó là nét xanh xao nhu bông hoa không cắm nước. Ông Satterthwaite ân cần đón cô.
- Cháu đã làm đúng- Vừa ngả người ra ghế cô vừa thì thầm, mắt khép nhẹ.
- Cháu bảo sao cơ?- Ông kêu lên ngạc nhiên- Cháu đã làm gì, nói gì thế?
Cô gái hơi nhổm dậy.
- Cháu bảo là Louisa Bullard đã tới đồn cảnh sát khai báo rồi, cảnh sát đã tìm được những nhân chứng nhìn thấy ông ấy vào nhà sau mười tám giờ ba mươi phút và trở ra sau đó một lát; là mọi chuyện hỏng rồi. Tới lúc đó, ông ta suy sụp. Cháu bảo vẫn còn thời gian để trốn, rằng cảnh sát sẽ không tới đây trước một giờ. Và nếu ông ta viết bản tự thú tội giết chết Vivien, cháu sẽ không làm gì. ngược lại nếu ông ta từ chối, chúa sẽ loan báo sự thật cho tất cả mọi người trong toà nhà này biết. Ông ta hoảng loạn đến mức không còn biết phải làm gì nữa, ký vào bản nhận tội mà không buồn xem lại.
Cô đưa cho ông tờ giấy.
- Bác cầm lấy đi. Bác biết phải làm sao để trả tự do cho Martin mà.
- Đây đúng là chữ ký của ông ta- Ông Satterthwaite kêu lên sửng sốt.
- Bác vẫn biết ông ta là người hơi đần mà- Thoáng chút suy nghĩ cô nói thêm- mà cháu cũng thế. Nhờ vậy mà cháu hiểu được phản ứng của những kẻ ngu ngốc. Con người là vậy, khi hoảng hốt thì làm những điều không được phép để rồi sau đó ăn năn.
Cô rùng mình. Ông Satterthwaite nắm lấy tay cô.
- Cháu phải lấy lại sức đã. Vừa may đã đến L’Arlecchino, đây là một quán ăn ưa thích của bác, cháu đã bao giờ đến nơi này chưa?
Cô gái lắc đầu.
Ông Satterthwaite ra đáu bảo lái xe đỗ lại. Họ bước vào quán. Lòng chứa chan hi vọng. ông đưa cô tới chiếc bàn nơi cuối phòng nhưng không có ai ngồi đó cả.
Sylvia Dale nhận thấy vẻ thất vọng của ông. Cô hỏi:
- Bác sao thế?
- Không sao. À mà có. Ít nhiều bác cũng mong gặp một người bạn. Nhưng không sao. Có thể một hôm nào đó, bác sẽ gặp lại anh ta…
Chương V
ĐÊM Ở MONTE - CARLO
Ông Satterthwaite đang tận hưởng ánh nắng mặt trời ở Monte-Carlo. Năm nào cũng vậy, cứ đến ngày chủ nhật thứ hai của tháng giêng là ông tạm biệt nước Anh sang Bờ biển Ngà. Ông đúng hẹn như con chim én báo hiệu mùa xuân sang, Đến tháng tư, ông về nước,ở lại Luân Đôn cả tháng năm và tháng sáu, bao giờ cũng nhớ tới Ascot. Sau khi tham dự trận đấu giữa Eton- Harow, ông thăm thú bè bạn ở nông thôn rồi đi tĩnh dưỡng ở Deauville hay Touquet. Tháng chín và tháng mười, phần lớn thời gian dành để đi săn trước khi trở về Luân Đôn và ở lại đó cho đến hết năm. Ông quen tất cả mọi người ở những nơi ông đến, và đương nhiên họ cũng biết ông cả.
Sáng hôm nay, ông thấy trong người không được thoải mái. Khu vườn trông ra mặt biển mênh mông xanh ngắt vẫn lấp lánh như mọi ngày nhưng con người khiến cảnh tượng xấu đi, vì ông thấy họ thật khó coi và thô kệch. Thì vẫn có những kẻ ham vui không cưỡng lại được sự quyến rũ của tấm thảm xanh dương ấy, họ góp phần tôn thêm giá trị của bức tranh. Nhưng vẫn còn thiếu, là thiếu cái hồn, những gì mà người ta gọi là tinh tuý trong bức tranh quen thuộc kia.
Ông Satterthwaite ưu tư lẩm bẩm. “Ta bắt gặp đủ mọi loại người ở đây, có bao nhiêu người trong số kia chưa từng dám tưởng tượng có một ngày họ tới được nơi này? Còn mình ngày một già đi…Đám trẻ đang phất lên giờ đổ xô về Thuỵ Sỹ.”
Đi đâu rồi những ngài nam tước, bá tước thanh lịch, những đại công tước và các bậc thân vương quyền quý? Tính đến ngày hôm nay, vị thân vương duy nhất mà ông còn được gặp là một con người coi thang máy trong một khách sạn tầm tầm. Còn các “quý bà” xinh đẹp và giàu có nay ra sao? Các bà vẫn ở trên đời nhưng còn ít lắm.
Ông Satterthwaite là một kẻ gàn dở đang quan sát cái mà người ta vẫn gọi là cuộc đời, nhưng lại thích nhìn nhận sự việc theo chiều sâu sắc màu. Sự buồn chán choán lấy ông. Các giá trị đổi thay…mà ông thì già mất rồi, không đủ sức theo kịp trào lưu.
Ông đắm chìm trong suy tưởng. Và nhận ra bà bá tước Czarnova đang đi tới. Đã bao năm nay năm nào ông cũng gặp bà ở Monte- Carlo. Lần đầu tiên, bà là phu nhân một đại công tước. Lần sau là phu nhân một bá tước người Áo. Lần kế tiếp bà kết bạn với những người Do Thái: Những người đàn ông có cái mũi khoằm, nước da vàng bủng và các món đồ trang sức quái dị. Từ một hai năm nay người ta lại thấy bà đi với đám thanh niên, chủ yếu là các cậu choai choai.
Sáng hôm nay, bà khoắc tay một chàng trai còn rất trẻ đi dạo. Ông Satterthwaite còn biết anh ta, trông cảnh ấy thì trong lòng thấy không đành. Franklin Rugge là một người Mỹ đặc sệt phong cách vùng Trung Đông. Cởi mở, ít học nhưng dễ thương, ở anh ta là sự pha trộn kỳ lạ giữa một thiên tính minh mẫn và chất duy tâm. Anh ta đến Monte-Carlo cùn một đám thanh niên nam nữ, lần đầu tiên đến châu Âu nhưng họ chẳng ngại ngần lớn tiếng phê phán hay ngợi khen.
Nhìn chung, đám thanh niên với mấy người Anh ở cùng khách sạn không ưa gì nhau. Nhương Satterthwaite thì khác, ông đã đi đây đó nhiều, ông nhìn họ với nhiều thiện cảm, yêu mến sự thẳng thắn và mạnh mẽ của họ, dù đôi khi ông cũng không chịu nổi những câu nói cẩu thả sai cú pháp của những người trẻ này.
Theo ông, bà bá tước Czarnova và anh chàng Franklin chẳng hợp nhau tí nào.
Ông lịch sự ngả mũ chào họ khi họ tới gần, bà bá tước nghiêng đầu duyên dáng chào đáp lại. Bà ấy cao dong dỏng, gọn gàng. Tóc đen, mắt đen, cứ như thể chưa bao giờ tạo hóa vẽ lên đôi mày, đôi mi đen diệu kỳ đến vậy. Làn da mịn màng với lớp kem thoa không một khiếm khuyết. Ấy, không còn lạ gì phụ nữ nhưng ông Satterthwaite cũng thầm phục nghệ thuật trang điểm của bà bá tước. Hơn bao giờ hết, những vầng thối thanh tao nhấn thêm nét đẹp của đôi mắt. Cánh môi tô son màu đỏ đậm huyền bí, không phô sắc đỏ sẫm hay rói tươi. Phục sức đen trắng của bà hôm nay rất ấn tượng, thêm chiếc dù xinh xinh rực đỏ tôn da.
Franklin có vẻ hạnh phúc và hài lòng.
"Một chàng ngốc cứ tự phỉnh phờ mình", ông Satterthwaite nhủ thầm, "mà dù gì thì cũng là chuyện người đời, ta quan tâm mà chi. Thời trẻ ta cũng vậy thôi, để bây giờ mới hiểu được đôi điều."
Nhưng cứ có một cô gái sinh đẹp trong đám người Mỹ kia không thích gì câu chuyện giữa Franklin Rudge với bà bá tước.
Khi quay về ông Satterthwaite gặp cô trên lối đi, đứng ngay trước ông. Cô diện bộ cánh rất vừa vặn, sơ mi bằng mút-xơ-lin trắng, đôi giày hợp thời trang, tay cầm quyển sách hướng dẫn. Có không ít thiếu nữa Mỹ khi tới Paris ăn vận theo kiểu nữ hoàng Saba; nhưng Elizabeth Martin không ở trong số ấy. Cô hấp thụ văn hóa châu Âu thật sự nghiêm tức, và tìm cách ứng dụng ngay. Say mê nghệ thuật và văn hóa, cô rất biết cách sử dụng tiền cho niềm đam mê ấy.
Nhưng ông Satterthwaite chưa bao giờ nhĩ rằng cô gái được dạy dỗ hay có khả năng để cảm thụ nghệ thuật. Cô ta còn trẻ quá.
- Chào ông Satterthwaite - Elizabeth chào - Ông có gặp Franklin... À, anh Rudge không?
- Cậu ta vừa mới đi qua đây mấy phút.
- Chắc là đi với bà bạn bá tước phải không ông - Cô hỏi giọng khô khan.
- Ừ...với bà bá tước - Cuối cùng ông thừa nhân.
- Bà bá tước này làm tôi mất hứng - Cô bỗng cất giọng lảnh lót - Franklin như phát cuồng vì bà ta, mà vì cái gì đâu cơ chứ!
- Bà ấy là một thương gia khá dễ chịu - Ông e dè.
- Ông quen bà ấy à?
- Chút ít thôi.
- Franklin làm tôi thấy không yên lòng. Thường thì đám con trai có định hướng tốt. Chưa bao giờ tôi nghĩ anh ấy chạy theo người đang bà có nhan sắc mê hoặc kia. Anh ấy thậm chí chẳng buồn cho vào đầu cái gì, còn nổi khùng khi người khác khuyên giải. Bà ấy có phải là bà bá tước thật sự không ạ?
- Tôi cũng không rõ lắm. Nhưng chắc là thế.
- Rõ là câu trả lời kiểu Anh- Elizabeth thốt lên - Nếu ở Sargon Spring chỗ chúng thôi, bà ấy sẽ có một vai hề xiếc ấn tượng.
Satterthwaite không phản đối cô gái, nhưng nhắc cô rằng họ đang ở công quốc Monaco. Ở đây, bà bá tước trang phục khéo hơn cô Martin nhiều.
Họ im lặng. Rồi Elizabeth đi về phía sòng bạc. Ông ngồi xuống một chiếc ghế đá. Lát sau, Frankin quay trở lại. Anh ra rất phấn khởi.
- Ông không biết là tôi vui tới cỡ nào đâu - Anh ta hồ hởi - Thế mới gọi là sống chứ,...một cuộc sống làm thay đổi cả người Mỹ chúng tôi.
Ông già quay lại, khuôn mặt đăm chiêu.
- Cuộc đời ở đâu cũng na ná như nhau cả - Ông nói giọng uể oải - Có điều cái toa-lét thì mỗi nơi có khác đi một ít.
Franklin tròn mắt nhìn ông.
- Ông bảo sao cơ?
- Không có gì cả. Là vì anh còn cả một chặng đường rất dài phải vượt qua. Xin lỗi anh nhé, những ông già ở tuổi tô cứ hay có thói quen lên lớp người khác.
Rudge phá lên cười, phô hàm răng đẹp hoàn hảo.
- Ồ, không sao. Thật ra, tôi vô cùng thất vọng khi đến casino. Tôi nghĩ nó khá hơn kia, một không gian hừng hực. Nhưng nó buồn tẻ và bẩn thỉu quá.
- Với những kẻ đắm chìm trong trò chơi này, đó là cả chuyện sống hay chết nhưng nó lại chẳng có gì ấn tượng. Sách vở thì vẫn hay ho chứ không như đời thực.
Chàng thanh niên lắcđầu đồng tính.
- Hẳn ông là người có tiếng tăm trong giới thượng lưu? - Anh rụt rè hỏi, rất thật thà, dễ làm người khác phải phật ý vì câu hỏi - Ý tôi là ông làm bạn với các nam tước, bá tước?
- Quả cũng có. Và tôi kêt bạn cả với người Do Thái, người Bồ Đào Nha, người Hy Lạp, người Ac-hen-ti-na.
- Ồ!
- Đơn giản vì tôi trưởng thành trong xã hội Anh mà.
Frankli Rudge tư lự.
- Vậy chắc ông biết bà bá tước Czarnova? - Franklin hỏi.
- Chút ít thôi - Ông trả lời y như đã nới với Elizabeth.
- Tôi thấy bà ấy rất quyến rũ. Ngày nay người ta tin rằng chế độ quý tộc châu Âu đã hêt thời hưng thịnh, đang suy tàn...Có thế điều đó đúng đối với cánh đàn ông thôi chứ không đúng với phụ nữ. Không biết ông có nhận thấy bà bá tước là một người hết sức tinh tế không? Rằng đi với bà ấy người ta có thế tin tưởng rằng mình được sống những giờ phút tốt đẹp nhất? Từ khối óc, vẻ duyên dáng, sự thông minh, văn hóa mà bà ấy được thẩm thấu, tất cả toát lên tần tính của một quý bà cao sang!
- Thật vậy sao?
- Trời dất! Vậy chứ ông không biết bà ấy xuất thân từ gia đình như thế nào sao?
- Tôi không biết. Thật ra, tôi vừa nói rồi tôi chỉ biết bà ấy một chút xíu.
- Bà ấy sinh ra trong gia đình Radzynski - Franklin giải thích - Một gia đình được tôn kính lâu đời vào bậc nhất Hung ga ri. Cuộc đời của bà ấy thật khác thường. Ông có để ý thấy chiếc vòng ngọc trai thật dài bà ấy đeo không?
Ông Satterthwaite gật đầu.
- Đó là quà tặng của quốc vương Bosnia để cảm ơn bà ấy đã bí mật cung cấp các tài liệu quan trọng.
- Tôi cũng có nghe nói chiếc vòng là quà tặng của quốc vương Bosnia.
Sự thực, giai thoại này là bí mật của quý bà Polichinelle, vì người ta kể rằng, hồi cách mạng, bà từng là bạn rất thân của ông vua này.
- Mà chưa hết đâu! - Rudge nói tieeos - Bà ấy... Phục trí tưởng tượng phong phú của bà bá tước Czarnova. Chẳng có gì đáng nói về người "phụ nữ nhợt nhạt" kia cả , theo như cách nói của Elizabeth, Còn chàng trai trẻ, ngây thơ mộng ảo thì đang huyên thuyên trước mắt ông. Không, bà bá tước chỉ dựa vào mê cung những truyện ngoại giao. Bà ta có kẻ thù, bao kẻ gièm pha...và gì nữa chứ? Anh chàng kia tưởng là mình đã bước vào thế giới xưa với nhân vật chính là bà bá tước: Vẻ cách xa, quý tốc, là bạn của các hoàng tử, các đại diện toàn quyền, cá tính như những nhân vật trong tiểu thuyết.
Rất tin tưởng, Franklin kết luận:
- Bà ấy đã phải đương đầu với rất nhiều âm mưu. Và kỳ lạ đến khó tin là bà ấy chưa bao giờ có một người bạn gái thật sự. Phụ nữ chỉ có thái độ thù ghét bà ấy thôi.
- Tôi không nghi ngờ gì chuyện đó cả.
- Ông có thấy chuyện này kỳ cục không?
- Không, không lạ lắm - Ông Satterthwaite thận trọng nói - Đấy là bản tính của đàn bà, anh cũng biết đấy. Can thiệp vào chuyện của họ chỉ có mất thời gian. Tốt nhất hãy để họ tự định liệu theo kiểu của họ.
- Tôi không đồng ý với quan điểm của ông. Sự độc ác của đàn bà với nhau trong thế giới ngày nay là một thảm họa. Ông có biết Elizabeth Martin không? Chúng tôi vẫn thường tranh luận với nhau, trên lý thuyết, cô ấy hoàn toàn đồng ý với tôi. Tuy còn ít tuổi nhưng suy nghĩ của cô ấy rất mạch lạc. Có điều, nếu đem áp dụng những ý tưởng của cô ấy vào thực tế, nó không khá gì hơn những người khác. Cô ấy không thích bà bá tước, dù là cô ấy chưa hề biết bà, mà cô ấy không buồn nghe tôi nói dù tôi đãcố giải thích. Như vậy không hay, ông Satterthwaite ạ. Tôi tin ở nền dân chủ... Thế mà dân chủ là gì chứ, nếu không là sự bình đẳng giữa con người với nhau và một vài...một vài tình cảm chị em quyến luyến giữa phụ nữ với nhau?
Chỉ có sự im lặng chứng tỏ tính nghiêm trọng của câu chuyện. Satterthwaite cố hình dung cảnh huống nào có thể tạo nên sợi dây tình cảm "chị em" giữa bà bá tước và Elizabeth Martin nhưng ông chịu.
Ngược lại - Rudge tiếp tục - Bà bá tước tỏ vẻ rất ngưỡng mộ Elizabeth, bà ấy thấy Elizabeth rất duyên dáng. Theo ông sự việc như vậy là sao?
- Như vậy có nghĩa là bà bá tước có thừa kinh nghiệm chứ không như cô Martin - Satterthwaite trả lời.
Franklin Rudge đột nhiên thay đổi chiến thuật:
- Ông có biết bà ấy bao nhiêu tuổi không? Tôi nói hai mươi chín tuổi nhưng bà ấy thú nhận là đã ba mươi lăm. Chắc bà ấy chưa đến chừng ấy tuổi ông nhỉ?
Về phần mình, Satterthwaite đoán bà ta chừng bốn mươi lăm đến bốn mươi chín tuổi, nhưng ông làm bộ cau mày, thì thaamfl:
- Tôi xin khuyến cáo anh rằng đừng tin những gì người ta kể với anhở Monte-Carlo.
Satterthwaite thừa hiểu tranh cãi với Franklin Rudge là chuyện phù phiếm. Chàng trai đang cảm thấy mình là người hiệp nghĩa đến độ sẵn sàng khẳng định mọi việc mà không cần có đủ căn cứ.
- Bà bá tước đây rồi - Anh ta đứng dậy.
Craznova tiến lại gần hai người, dáng đi nhẹ nhang uể oải, rất hợp với bà ta. Cả ba ngồi xuống ghế băng. Bà bá tước làm duyên với Satterthewaite nhưng với vẻ rấ kiêu ngạo. Bà ta cứ khủng khỉnh hỏi đáp bằng những lời khách sáo, nhưng không quên đặt mình ở thế cao hơn người khác.
Vẫn là mưu mẽo cũ rích. Một lúc sau, Franklin lịch sự rút lui để bà bá tước và Satterthwaite ngồi với nhau.
Bà bá tước ngồi vẽ hình lên mặt đất bằng mũi ô, hỏi Satterthwaite bằng giọng nghiêm trang, kín đáo mà không kém phần khêu gợi:
- Ông thấy chàng trai tố người Mỹ này đáng mến đấy chứ?
- Đó là một chàng trai tốt - Satterthwaite trả lời -Một mẫu người vô hại.
- Tôi thấy anh ta thật đáng mến, vâng - Bà bá tước nói với vẻ tự lự - Tôi đã kể anh ta nghe nhiều chuyện của đời tôi.
- Vậy sao?
- Có những chuyện mà tôi chưa nói cho ai bao giờ. Cuộc đời tôi có quá nhiều chuyện ko tin nổi.
Ông Satterthwaite thừa tinh khôn để hiểu ẩn sau nhưng lời kia. Những gì mà bà ấy kể cho Franklin có thể là sự thật, cũng có thế không có thật, tất nhiên, khó mà tin là nó lại diễn ra trên đời này. Song cũng lại chẳng có gì đảm bảo đó là "chuyện bịa".
Satterthwaite im lặng. Bà bá tước vẫn ngồi mơ màng ngắm biển.
Thốt nhiên, dưới mắt ông, bà ta lại hiện dáng vẻ của một ngày mới, lạ thường, không còn là người đàn bà cau có lắm điều mà là một phụ nữ có khả nâng làm được mọi việc, đang tuyệt vọng, đang phải chiến đấu bằng tất cả sức lực. Ông trộm nhìn Craznova. Chiếc dù đã khép lại. Ông nhận thấy những nếp nhăn nơi khóe mắt, các mạch máu hằn ở thái dương.
Cảm giác ấy ngày càng rõ đến mức ông thấy như chắc chắn rằng bà bá tước là một phụ nữ có khả nawmg làm được mọi việc và đang bị giày vò ám ảnh. Bà ta sẽ không khoan nhượng, không thương xót bất kỳ người nào xen vào chuyện của bà với Franklin. Nhưng ông lại cảm thấy có điều gì khác nữa trong chuyện này. Dù sao bà bá tước cũng không thiếu tiền. Lúc nào cũng lịch sự, lại mang trên mình những đồ trang sức xa hoa. Tình cảm thực của bà ta chắc chắn được che giấu rất kỹ. Thê thì sao chứ? Hay là tình yêu? Ông hiểu là phụ nữ ở độ tuổi của bà bá tước hay cặp với các chàng trai trẻ hơn rất nhiều. Có lẽ đây là một điển hình. Nói gì thì nói, trong tất cả chuyện này có cái gì đó không bình thường.
Khô ngồi trực diện như thế này, ông hiểu bà bá tước bất chấp ông nghĩ gì, làm gì, rằng bà ta đã quyết định chọn ông là kẻ thù đáng gờm nhất. Ông đoán là bà ta định qua Franklin Redgu khiến ông nói xâu về mình. Satterthwaite cười thầm trong bụng: Không phải dạy cho con khỉ già nhăn nhó. Ông biết khi nào thì sự tử tế thoát ra thành ngôn ngữ.
Tối hôm ấy, Satterthwaite xem bà bá tước thua bạc ở Cercle Privé.
Bà ta mải miết chơi nhưng cái cào của người hồ lỳ cứ gạt tiền đi mất. Bà ta chấp nhận thua bạc bằng vẻ nghiêm trang của một phụ nữ lọc lõi đã có đủ lượng máy lạnh khắc kỷ. Có đôi lần, bà ta chơi số chẵn, đạt tối đa vào ô đỏ, thắng được khoảng mười hai con ở giữa nhưng chẳng mấy chốc lại thua hết; cuối cùng bà bá tước đặt cửa sáu lần liên tiếp vào con lẻ, nhưng toàn thua. Vậy là bà nhún vai đầy kiểu cách rời chiếu bạc.
.
Hôm nay Craznova mặc một chiếc váy màu hoàng yến, trông rực rỡ hơn thường ngày. Bà ta đeo chiếc vòng cổ của quốc vương Bosnia tặng, đôi khuyên tai bằng ngọc trai. Satterthwaite nghe thấy hai người đàn ông ngồi gần bàn tán. Một người nói:
- Craznova trông có vẻ tự mãn nhỉ?
Người kia là một ông Do Thái bé nhỏ, nhìn theo bà bá tước vẻ tò mò:
- Kia là chiếc vòng ngọc trai do quốc vướng Bosnia tặng đấy à? Trông nó có vẻ là lạ.
Và ông ta phì cười ẩn ý.
Satterthwaite không nghe thấy gì nữa vì khi ngoái cổ nhìn ông vui mừng nhận ra ông bạn cũ:
- Ông Quinn thân mến! - Satterthwaite thân mật bắt tay ban. Đây đúng là nơi tận cùng tôi đợi gặp ông.
Một nụ cười làm sáng bừng khuôn mặt ưu tư cố hữu của Quinn.
- Chẳng có gì đáng ngạc nhiên hết - Quinn nói - Giờ là mùa lễ hội Carnaval, mà tôi lại hay đến đây vào dịp này.
- Thật à? Nói gì thì nói tôi rất vui được gặp lại ông. Ông có muốn vào phòng khác ngồi không? Tôi thấy ở đây nóng quá.
- Ở ngoài sẽ thoáng hơn, ông bạndđồng ý không? Chúng ta sẽ đi dạo một vòng trong vườn.
Hai người đang ông hít thở thật sâu làn không khí nhẹ nhõm mát mẻ.
- Thật là dễ chịu - Satterthwaite nói.
- Đúng thế. Bây giờ ta có thể nói chuyện thoải mái. Chắc chắn là ông có nhiều chuyện để kể cho tôi.
- Phải rồi.
Satterthwaite vồn vã kể lại câu chuyện bức xúc của mình. Như mọi khi, ông rất tự hào về năng khiếu kể chuyện của mình. Bà bá tước, chàng trai trẻ Frankline, cô Elizabeth cố chấp. Ông Quinn mỉm cười khi Satterthwaite kết thúc câu chuyện:
- Ông thực sự đã thay đổi kể từ khi chúng ta gặp nhau lần đầu tiên.
- Về mặt nào thế?
- Giờ đây ông đã dự phần vào những bi kịch của cuộc đời, ông muốn góp thêm phần mình muốn đám nhận một vai trong vở kịch ấy, chứ không muốn dửng dưng là một khán giả khó tính như trước nữa.
- Đúng vậy Satterthwaite thừa nhân - Nhưng tôi chỉ biết hành động, mà mọi việc lại rất lung bung. Có lẽ...(ông ngập ngừng). Có thể ông sẽ đồng ý giúp tôi?
- Nhất trí. Chúng ta sẽ xem có thể làm gì được.
Ông Satterthwaite thấy vững lòng.
Hôm sau, ông giới thiệu Franklin Rudge và Elizabeth Martin với ông bạn Harley Quinn. Ông hài lòng khi thấy họ nói chuyện rất hợp nhau. Không ai nhắc đến bà bá tước nhưng trong bữa ăn, ông nhận được tin rất đáng chú ý.
- Mirabelle sẽ đến Monte-Carlo tối nay - Ông nói với Quinn
- Mirabelle là cô diễn viên kịch mà dân Paris rất yên mến đó hả?
- Vâng. Mọi người đều biết co ta là người tính mới đây nhất của quốc vương Bosnoa. Có vẻ qôốc vương đã phủ đầy trang sức cho cô ta. Người ta nói đây là người đàn bà đỏng đảnh, ngồn cuồng nhất Paris.
- Cuộc gặp mặt tối nay giữa cô ta với bà bá tước Czarnova hẳn sẽ rất hay ho đây.
- Tôi cũng nghĩ hệt như ông.
*
Cao ráo và mảnh mai, Mirabelle có mái tóc nhuộm hoe vàng hoàn hảo, làn da trắng điểm trên nền váy nhạt màu hoa cà, cánh môi tô son màu cam. Ở cô ta toát lên vẻ lịch thiệp đến kinh ngạc, Chiếc váy của cô ta gợi nhắc đến chú chim thiên đường được cách điệu, những chiếc vòng bằng đá quý nuột trên tấm lưng trần. Chiếc xuyến nặng những hạt kim cương vương nơi mắt cá chân trai.
Việc Mirabelle đến gây xôn xao hết tháy mọi khách chơi ở Casino.
- Bà bá tước của ông khó lòng mà hơn được cô diễn viên này - Quinn ghé vào tai Satterthwaite thì thầm.
Satterthwaite đồng ý. Ông nóng lòng được thấy bà bá tước phục sức ra sao.
Bà này đến muộn, và tiếng xì xầm lan ra trong cử tọa khi bà ta vô tình thắng trên bàn cò quay ở giữa phòng.
Bà bận đồ trắng: Một chiếc váy giản dị bằng vải nhiễu ma-rốc, vẻ trong trắng, cổ và tay để trần, một màu trắng sáng tỏa. Bà không mang một thứ trang sức nào.
- Rõ khéo quá - Satterthwaite bình luận vẻ hiểu biết - Bà ta đã không hạ thấp giá trị của mình trước đối thủ mà còn giành phần ưu thế.
Ông Satterthwaite đi lại phía bàn cò quay. Sau khi ngồi không một lúc, ông đặt tiền. Có lúc thằng nhưng chủ yếu là ông thua.
Có một seri rất đẹp ở con mười hai cuối cùng. Các số ba mươi mốt và ba mươi tư sổ liên tiếp. Tiền đặt chui cả xuống ngăn của tấm thảm xanh.
Nụ cười nở trên môi, Satterthwaite liều đặt nốt lần cuối cùng trong tối nay vào con năm mức tối đa.
Đến lượt mình, bà bá tước nghiêng mình đặt tối đa cho con sáu.
- Xin mời, xin mơi! - Người hồ lỳ nói giọng khô khan.
Con lắc quay tròn, tiếng vù vù vui tai. Ông Satterthwaite nhủ thầm: "Lần quay này có một ý nghĩa khác nhau đối với mỗi người. Tột đỉnh hy vọng và tuyệt vọng, chán nản, một trò giải trí đơn thuần, cuộc sống và cái chết..."
Clic!
Người hồ lỳ cúi xuống nhìn.
- Số năm, ô đỏ, số lẻ và khuyết.
Satterthwaite đã thắng!.
Người hồ lỳ gạt hết tiền thắng về chỗ của ông. Anh ta với tay ra để lấy tiền. Bà bá tước cũng đưa tay với tiền. Người hồ lỳ hết nhìn Satterthwaite lại nhìn sang bà bá tước.
- Là của bà - Đột nhiên anh ra nói.
Bà bá tước thu tiền. Satterthwaite lui lại. Không nao núng bà bá tước nhìn thẳng vào mắt ông và ông nhìn đáp lại. Có hai ba người đứng xem bảo anh hồ ly nhầm nhưng anh ta lắc đầu vẻ sốt ruột. Anh ta đã quyết định và ván bài kết thúc. Anh ta hô lên khô khan:
- Xin mời quý ông quý bà
Satterthwaite trở lại với ông Quinn. Dù không bắt tận tay day tận mắt nhưng trò này rất dối trá. Quinn lắng nghe và thấy động lòng.
- Buồn thật - Quinn nói - Nhưng sự đời vẫn vậy...à này, lát nữa ta sẽ gặp anh bạn Frankline Rudge nhé. Tôi sẽ tổ chức một bữa tối nho nhỏ.
Ba người đang ông gặp nhau lúc nửa đêm. Quinn giải thích kế hoạch của ông.
- Chúng ta sẽ gọi đây là "bữa tối gặp gỡ". Ta chọn một điểm gặp mặt, rồi ai đi đường nấy, sau đó quay trở lại. Nhưng phải hứa danh dự là sẽ mời người đầu tiên mà mình gặp đến dự cùng đấy nhé!
Franklin thấy ý kiến hay hay
- Thế nếu người ta từ chối thì sao?
- Thì phải biết cách thuyết phục.
- Hay đấy. Thế sẽ gặp nhau ở đâu?
- Ở một nơi khá phóng túng. Ở đó khác hàng hơi kỳ dị nên không dễ bị sốc. Nhà hàng Le Caveau nhé.
Quinn chỉ mọi người hết địa điểm của nhà hàng, rồi mỗi người một ngả.
Ông Satterthwaite may mắn gặp cô Elizabeth Martin, mời cô vồn vã. Khi đến nơi người ta đưa họ vào một căn hầm có chiếc bàn ăn thắp sáng bằng nến sáp nổi bật theo kiểu cổ xưa.
- Chúng ra đến sớm nhất - Satterthwaite nói - A, Franklin kia rồi...
Ông ngừng lại ngay. Chàng trai người Mỹ đi với bà bá tước. Một thoáng ngưng đọng trong hầm. Elizabeth không tỏ ra dễ thương như mọi người hy vọng. Còn bà bá tước vẫn giữ vẻ trang nghiêm khi thấy sự có mặt của những người khác.
Quinn là người đến sau cuối, cùng đi với một người đàn ông tóc nâu, rất lịch thiệp, mà Satterthwaite có cảm giác đã gặp người này ở đâu đó rồi. Và ông nhận ra người đó là người hồ ly hồi hôm đã hô nhầm kết quả trên bàn cò quay.
- Cho phép tôi được giới thiệu ông Pierre Vaucher với quý vị.
Ông khách nhỏ tỏ ra bối rối. Rất tự nhiên Quinn tiếp tục giới thiệu các thực khác với nhau. Lát sau, người phục vụ mang bữa tối lên. Một bữa tối rất ngon và rượu vang hảo hạng. Không khí có vẻ căng thẳng. Bà bá tước cũng như Elizabeth vẫn im lặng. Còn Franklin bông trở nên ba hoa, kể cả mới giai thoại mà chẳng mấy ai hưởng ứng. Trong khi đó, kín đáo và khéo léo, Quinn rót rượu vào cốc.
- Tôi xin kể cho mọi người nghe câu chuyện về một người đang ông thành đạt trong cuộc sống - Franklin Rudge mở đầu với giọng trang trọng. Đây là một câu chuyện có thực.
Luật cấm rượu rất nghiêm ở trong nước dường như không có giá trị với Franklin lúc này.
Anh ra kể lại một câu chuyện kỳ lạ, hơi dài dòng, đúng kiểu của những câu chuyện có thật, nhưng còn xa mới thành một huyền thoại.
Ngay khi Franklin vừa ngừng lời, Pierre Vaucher, ngồi đối diện anh ta, đã có vẻ tỉnh táo ra, Anh này cũng uống kha khá. Cúi mình, anh ta mở lời:
- Tôi cũng sẽ kể cho các ông các bà nghe một chuyện. Nhưng là nói về một người không thành đạt. Chuyện về một người quen với sự sa sút chứ không phải thành công. Cũng như câu chuyện của anh vừa rồi, chuyện xác thực đấy.
- Vậy mời ông - Quinn lịch sự nói
Pierre Vaucher dựa lưng vào thành ghế và bắt đầu câu chuyện.
- Chuyện bắt đầu từ Pari. Có một người thự kim hoàn nhỏ bé. Anh ta còn trẻ, vô tư và tay nghề rất giỏi. Cuộc đời mở ra cho anh ta một tương lai sáng lạn. Người ta đã định liệu cho anh ta một đám kết hôn môn đăng hộ đối: Một cô vợ không xấu lắm, của hồi môn rất tương hợp... Nhưng có ai tin chuyện gì xảy ra với anh ta không? Một sáng ngày, anh gặp một cô gái trẻ, một thiếu nữ nghèo tội nghiệp. Cô ấy đẹp? Phải, có lẽ thế, nếu không phải là cô ấy đang lả đi vì đói. Dù sao thì với cách nhìn của một thanh niên, cô ấy thật tuyệt diệu và anh ta không cưỡng lại được lòng mình. Cô ấy đang tuyệt vọng tìm việc làm, và là một người có phẩm hạnh...đó là theo lời cô ấy nói vậy. Tôi không biết - mà tôi vẫn thường mù tịt về những chuyện như vây - không biết đó có phải là sự thật không.
Giọng bà bá tước vang lên trong cảnh tranh tối tranh sáng:
- Sao lại không thật chứ? Có bao nhiêu người ở cùng cảnh ngộ như vậy.
- Nhưng chuyện lại không bình thường chút nào khi người thanh niên kia tin cô ấy và cưới cô làm vợ. Đúng là điên. Sự phản đối của gia đình, thân thế của cô gái...anh ta không cần quan tâm. Anh ta đã cưới cô gái trẻ ấy, mà tôi xin gọi là Jeanne. Trong suy nghĩ của anh ta, đó là một hành động nghĩ hiệp. Anh ta nói vậy với Jeanne và cho rằng cô phải rất biết ơn anh. Không phải anh đã hy sinh rất nhiều cho cô ấy sao?
- Sự mở đầu thật dễ thương đối với cô gái trẻ - Bà bá tước xen lời với giọng nhạo báng.
- Anh ta yêu cô ấy, phải, nhưng ngay từ đầu, cô ấy đã tìm mọi cách để làm anh ta tức điện người. Tính tình thất thường, đồng bóng; khi thì cô ta lạnh lùng, khi thì cô ta đam mê cuồng nhiệt. Cuối cùng chàng trai cũng hiểu ra, chưa bao giờ cô ta yêu anh cả. Cô ta cưới anh chỉ vì cần được anh che chở lúc đó. Phát hiện ấy quả là đau đơn, đau ghê gớm nhưng anh cố gắng không để lộ ra. Anh tự lừa mình rằng anh xứng đáng được hưởng lòng biết ơn của Jeane, rằng cô càn nghe theo những mong muốn dù chỉ nhỏ bé của anh. Họ cãi nhau. Cô trách anh...trời ạ, sao cô ta lại không trách được chứ!
Chác các vị cũng đoán được sau đó thế nào rồi? Không khác được. Cô rời bỏ anh. Suốt hai năm trời anh giam mình trong cửa hàng, không một tin gì về Jeane. Anh chỉ có một người bạn duy nhất là rượu ngải đắng. Việc làm ăn cũng không được thuận lợi.
Vào một ngày đẹp trời, khi bước vào cửa hàng, anh thấy cô đã ngồi đó. Rất lịch sự. Nhẫn đeo đầy tay. Anh đứng như trời trồng nhìn cô. Trái tim như muốn vỡ ra. Anh muốn đánh cô thật đau, muốn ôm xiết cô trong tay, muốn ném cô xuống đất, giày xéo cô, bắt cô phủ phục dưới chân mình. Nhưng anh không làm gì hết. Anh cầm lấy cái banh và làm việc. "Thưa bà, bà muốn gì?". Rồi anh hỏi với giọng bình thường.
Phản ứng của anh khiến cô lúng túng. Cô không chờ một tình huống như vậy, các vị hieur chứ. "Pierre, cô nói, em đã quay về". Thế là anh ngưng đưa banh và nhìn cô. "Cô muốn tôi tha tứ cho cô sao? Anh hỏi. Cô cho là tôi lại đón nhận cô sao? Cô thật sự hối hận chứ?". Và cô ta thì thầm: "Anh có còn muốn có em không?". Ôi, cô ấy nói những tiếng đó mới dịu dàng làm sao!
Anh linh cảm thấy có điều gì đó không bình thường. Anh thèm vô cùng được ôm cô vào lòng. Nhung như vậy thật là ngớ ngẩn. Và anh làm điểu ngược lại.
Anh nới với cô: "Tôi là một con chiên, tôi cố gắng làm theo lời răn dạy của nhà thờ". Anh muốn cô ta nhục nhã, muốn cô phải quỳ gối trước anh.
Nhưng Jeanne hất đầu và phá lên cười. Tiếng cười đáng sợ. "Tôi đến để cười anh đấy. Anh nhìn bộ quần áo đẹp đẽ này, nhẫn xuyến này mà xem... Tôi muốn anh nhìn thấy tôi như thế này. Tôi đã nghĩ là tôi có thế khiến anh ôm tôi trong vòng tay, rồi sau đó...sau đó, tôi sẽ khạc nhổ vào mặt anh, nói cho anh biết tôi căm ghét anh nhường nào!".
Nói rồi cô ấy bước ra khỏi cửa hàng. Các vị có tin nổi một người đàn bà có thể đê hèn đến mức là quay lại chỉ để làm người đã cưu mang mình đau đớn?
- Không - Bà bá tước nói - Tôi không tin, chỉ có những kẻ ngu đần mới tin chuyện đó. Nhưng tất cả đám đàn ông đều mù lòa và ngu ngốc.
Không để ý đến lời bà bá tước, Pierre Vaucher tiếp tục:
- Sau đó, chàng thanh niên rơi vào tuyệt vọng khôn cùng. Anh ta uống càng ngày càng nhiều rượu. Vì nợ nần quá nhiều, anh ta phải bán cửa hàng đi, trở nên xơ xác, thất nghiệp. Rồi chiến tranh xảy đến. A, chiến tranh đến thật đúng lúc! Chiến tranh đã lôi anh ta ra khỏi bùn lầy, dạy cho anh ta không được sống như một con vật hoang dã nữa. CHiến tranh đã rèn rũa anh ta trở nên điềm đạm. Anh ra biết đến cái lạnh lẽo, sưc chịu đựng, sự sợ hãi trước cái chêt. Nhưng anh ta đã đi qua được chiến tranh, sống sót, và trở thành một con người khác.
Vào thời gian đó anh ta đến sống ở miền Nam. Vì phổi của anh ta không được khỏe, lại bị sức ép của đạn, người ta đã khuyên anh nên đến miền Nam tìm việc. Tôi không kể lể dài dòng đoạn này, chỉ cần biết, cuối cùng anh ra trở thành người hồ lỳ trong sòng bạc, anh ra đã gặp lại...người đàn bà đã nhấn chìm cuộc đời anh. Nếu như cô ta không nhận ra anh thì anh lại nhân ra cô ta ngay khi trông thấy. Có vẻ như cô ta giàu có, không thiếu thứ gì...nhưng những người hồ lỳ thường rất tinh nhạy. Một tối, cô ấy đặt tất cả tiền của vào chiếu bạc. Đừng hỏi tôi vì sao tôi biết, đó là sự thực. Người ta có thể cảm nhận được những điều như vậy, một linh cảm không thể nhầm lẫn được. Cô ta vẫn mậc những bộ quần áo đẹp, nhưng đó chỉ là cái vỏ mà thôi. Ao mà không biết lẽ ra cô ta đã mất hết. Còn đồ trang sức ư? Có phải tôi là thợ kim hoàn không nào? Đã từ lâu rồi, những trang sức quý đã biến mất cả. Những chiếc vòng ngọc trai của các vị hoàng đế đã bị bán đi, từng chiếc một, vì chỉ có đồ giả. Phải ăn, phải trả tiền khách sạn, đúng không nào? Tất nhiên có những người bảo trợ giàu có...nhưng họ quen các vị từ quá lâu rồi. "Mặc kệ! Họ tự nhủ, cô ta đã tròn năm mươi tuổi. Cho cô ta nắm gạo cũng chẳng mất gì".
Tring tranh tối tranh sáng chỗ bà bá tước ngồi, người ta nghe thấy một tiếng thở dài.
- Phải - Pierre Vaucher nói tiếp - Đó là thời khắc kỳ lạ. Tôi đã quan sát hai tối rồi. Cô ta liên tục thua, thua, thua... Rồi sự thật đến lúc phải phơi bày. Cô ta đặt tất cả tiền vào một số. Cạnh đó, một quý ông người Anh cũng đặt tối đa cho số kế liền. Con xúc xắc ròi... Và thế là hết, cô ta đã thua...
- Cô ta nhìn tôi. Phải làm gì đây? Tôi sẽ mất việc ở sòng bạc. Tôi đã đánh cắp tiền của quý ông cho cô ta. "Là của bà", tôi nói rồi chuyển tiền cho cô ta.
- A!
Bà bá tước bật đứng dậy và cúi người qua chiếc bàn, dốc ngược chiếc cốc ném xuống đất đánh xoảng.
- Tại sao? - Bà ta kêu lên - Đó chính là điều tôi muốn biết: tại sao anh lại làm điều đó.
Im lặng kéo dài, tưởng chừng không dứt. Mặt đối mặt, bà bá tước và người hồ lỳ nhìn nhau chằm chằm, như đang đấu tay đôi.
Pierre Vaucher nở nụ cười độc ác. Anh ta đưa tay lên và nói:
- Vì lòng trắc ẩn, thưa bà, cuộc đời vẫn còn những điều tương tự.
- A! - Bà bá tước thở dài, rơi phịch xuống ghế - Tôi biết mà.
Điềm đạm, tươi cười, bà ta nói thêm.
- Đó là một câu chuyện thú vị, thưa ông Vaucher. Cho phép tôi châm lửa cho ông.
Bà ta cuốn nhanh một mẩu giấy rồi châm vào ngọn nế. Pierre cúi về phía bà ta châm thuốc.
Rồi bà ta đứng dậy luôn.
- Bây giờ tôi phải đi đây. Không, tôi mong mọi người... Không cần phải đi kèm tôi đâu.
Trước khi mọi người kịp phản ứng, bà ta đã đi khỏi. Ông Satterthwaite định đi theo nhưng một tiếng chửi thề bằng tiếng Pháp kéo ông lại:
- Chết tiệt...
Pierre Vaucher cầm tờ giấy đã bị cháy mất một phần mà bà bá tước để lại trên bàn rồi giở nó ra.
- Chúa ơi! - anh ta thì thầm - Tờ năm mươi nghìn frăng. Các ông có hiểu không? Đó là chỗ tiền cô ấy thắng bạc tối nay... Tất cả của cái mà cô ấy có trên đời. Cô ấy lấy nó để châm thuốc cho tôi. Vò cô ấy quá tự trọng trước lòng thương hại. A, cô ấy vẫn luôn luôn tự trọng như một con công. Chỉ có cô ấy...mới tuyệt vời đến thế.
Pierre đứng bật dậy như tên bắn.Satterthwaite và Quinn cũng đứng lên. Người phục vụ đứng như trời trồng cạnh Franklin Rudge.
- Tính tiền, thưa ngài. - Anh ta rụt rè nói.
Ông Quinn rút ngay tiền ra trả.
- Anh cảm thấy hơi cô độc, Elizabeth ạ - Franklin nói - Thật đơn giản, những người nước ngoài này bỏ qua mình! Anh không hiểu được họ. Tất cả những chuyện này là thế nào? (Anh ta nhìn Elizabeth). Mà thôi, chỉ có một cô gái Mỹ một trăm phần trăm như em là có thật thôi.
Như một đứa trử, anh ta nói thêm với giọng than thở:
- Mấy người nước ngoài này thật kì quặc!
Hai người trẻ tuổi cảm ơn ông Quinn rồi cùng nhau đi về. Quinn lấy lại tiền lẻ và mỉm cười với ông Satterthwaite lúc này vanax chưa hết kinh ngạc vì diễn biến quá nhanh của câu chuyện.
- Vậy đấy - Ông già nói - Tất cả đã được sắp xếp hoàn hảo. Từ bây giờ hai cặp tình nhân của chúng ta sẽ được hạnh phúc.
- Ai cơ? - Quinn hỏi.
- Xin lỗi ông? - Satterthwaite lúng túng - À vâng... Lạy chúa, có thể ông có lý. Vâng...thế mà tôi không nghĩ ra, nhưng nếu ra tính đến cá tính của phụ nữ latinh...
Tuy vậy, ông vẫn tỏ vẻ hoài nghi.
Quinn mỉm cười. Không gian yên ắng, ánh đèn xuyên qua cửa kính phía sau ông chiếu lên vai áo măng tô nhiều màu, trông tựa một vầng hào quang lấp lánh...
Loved is nothing, to be loved is nothing, loved and to be loved is everything.
★
★
★
★
★
0