📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Khoa Học Phổ Thông

Nano

20 trả lời, 1.526 lượt xem — Trang 1 / 1
Cái gì đây

Thuyết trình về công nghệ nano thực sự là việc khó làm vì cần phải trình bày vật thể ở dạng phân tử.

Năm qua, Bảo tàng khoa học London đã thử làm chuyện này để giới thiệu những thành tựu khoa học cho đến nay.

Các thể vật chất nano thể hiện nhiều thuộc tính khác nhau trong quang học và điện tử, phụ thuộc vào kết cấu hạt nhân.

 
 
Vật chất cụ thể

Trong cái lọ nhỏ này chỉ có 5 gram vật chất nano, nhưng mà nếu chia ra thì mỗi người trên trái đất sẽ được khoảng 3 triệu hạt.

Các vật liệu nano dùng trong các loại quần áo khiến nhiều người lo ngại vì người ta không biết các hợp chất mới sẽ phản ứng như thế nào với cơ thể người.

Tuy nhiên, hiện các vật thể nano đã hiện diện sẵn trong môi trường sống hàng ngày, ví dụ như khí thải diesel.
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
 
 
Bền chắc

Kỹ thuật nano cho phép phủ vật chất bằng các loại hợp chất siêu bền.

Ví dụ như các đinh vít dùng để nỗi xương sẽ được tráng một lớp kim cương nano dày khoảng một phần ngàn mili-mét.

Cơ thể sẽ không phản ứng mạnh với loại đinh ốc mới này vì kim cương chẳng qua là cạc-bon cho nên có thành phần giống như chất hữu cơ trong cơ thể.

 
Vải sạch

Một trong những ứng dụng có thể phát triển nhanh chóng của ngành nano là thị trường quần áo, vải vóc.

Nếu sợi vải được phủ một lớp hợp chất nano thì các loại dung dịch khi đổ vào sẽ tự động rơi xuống mà không thấm được vào trong.

Các loại quần áo đặc biệt này sẽ rất hữu dụng trong ngành quân sự và y khoa.

 
Đăng nhập để trả lời
0
Màn hình mới

Nhiều người đang thay màn hình quang bằng màn hình tinh thể lỏng, nhưng tương lai có thể quí vị sẽ lại tiếp tục thay bằng các loại màn hình hữu cơ.

Thay vì bóng diod vô cơ bây giờ sẽ là các bóng hữu cơ PLED, tương phản tốt hơn, và có thể dán lên bất kỳ một bề mặt nào.

Nó là một lớp plastic mỏng vài nano ép giữa hai lớp kim loại mòng, và phát sáng khi có dòng điện chạy qua.

 
Bóng siêu bền

Các loại vợt tennis hiện nay dễ gãy vì các vết nối giữa sợi cạc bon, nhưng trong tương lai sẽ được gia cố bằng các tinh thể SiO2 ở dạng nano.

Banh tennis được phủ thêm hợp chất nano sẽ giữ được không khí bên trong lâu hơn bình thường.
 
 
Pin mặt trời

Loại pin Tandem của hãng Hydrogen Solar dùng ánh sáng mặt trời để tách nước ra thành các phân tử Hydro và Oxy.

Trên bề mặt của pin là các tinh thể nano của kim loại, thu nhận năng lượng mặt trời, và biến khoảng 8% nguồn năng lượng này thành Hydro nguyên chất.

Tất nhiên Hydro luôn là nguồn năng lượng sạch tuyệt vời để sử dụng.
 
Đăng nhập để trả lời
0
Nano
 
 
Nanô (viết tắt n) là một tiền tố được viết liền trước một đơn vị đo lường quốc tế để chỉ đơn vị nhỏ gấp 109 hay 1.000.000.000 lần.

1 nanômét = 1 mét / 1.000.000.000 = 10-9 mét
Độ lớn này được công nhận từ năm 1960. Theo tiếng Hy Lạp, nano nghĩa là chú lùn
 
http://vi.wikipedia.org/wiki/Nan%C3%B4
Đăng nhập để trả lời
0
tiền tố

 
Trong hệ đo lường quốc tế, khi muốn viết một đơn vị đo lớn gấp 10x, với x nằm trong khoảng từ -24 đến 24, lần một đơn vị đo nào đó, có thể viết liền trước một trong các chữ trong danh sách dưới đây.
Ví dụ, nếu muốn viết đơn vị bằng 1000 mét, sử dụng chữ kilô để viết kilômét, hoặc dùng chữ viết tắt k để viết km.
 
 
 
Trong tin học
 
Một số chữ viết liền trước được sử dụng theo nghĩa hơi khác với các đơn vị đo lượng thông tin ví dụ như byte hoặc bit trong tin học. Vì này, International Electrotechnical Commission (IEC) làm một bộ tiền tố nhị phân mới vào năm 1998, có tên theo âm tiết đầu tiên của tiền tố thập phân và "bi". Ký hiệu là ký hiệu thường cộng với chữ "i".
 
 
http://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BB%81n_t%E1%BB%91_SI
 
 
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-01-11 16:28:20HongYen>
 Nano
03 Tháng 1 2008 - Cập nhật 16h39 GMT


Con đường đi tới Nano
Bài giảng danh dự của BBC năm 2005 do Lord Broers thực hiện đặt điểm nhấn kỹ thuật lên công nghệ nano và các vấn đề tương lai.

 



Trong ngành hóa học, đại diện đầu tiên tiến vào ngành công nghệ nano là đồng vị C60 cho phép chế tạo các cấu trúc nano hình ống
Giới khoa học coi phát minh ra máy quét hạt dùng hiệu ứng đường hầm STM là chìa khóa mở cửa cho ngành công nghệ nano
 
Ngành công nghệ mới đặt ra nhiều vấn đề đạo đức hiện chưa có câu trả lời thỏa đáng trong lúc các bên vẫn đang tranh cãi
 [/align]
 
[/align]
Đăng nhập để trả lời
0




Vấn đề đạo đức với công nghệ nano[/align] [/align]







[/align]

Công nghệ nano
Năm 2004 ETC Group xuất bản một báo cáo về nanotechnology, mà họ gọi là Atomtech, cáo buộc công nghệ mới này cho phép ngành công nghiệp độc quyền, lắp ráp ở mức nguyên tử, lấn át tất cả mọi vấn đề khác. [/align] [/align]Trong tương lai, các dây chuyền sản xuất hàng loạt với sản phẩm là vật chất nano cùng với các máy móc ở dạng nano có khả năng tự nhân bản sẽ tạo ra một mối nguy hiểm không thể lường trước được.
 
Ở nước Anh, thái tử Charles đã đặt câu hỏi cho Hội khoa học hoàng gia nghiên cứu các mối nguy hại có thể xảy ra, bên cạnh các lợi ích mà ngành công nghệ mới này đem lại.
 
Jim Thomas từ ETC nói "các phát kiến mới đã thay đổi cách người ta suy nghĩ trong công nghệ, trong vấn đề sở hữu trên thế giới."
 
Một số quan ngại xuất phát từ chuyện là trong thế giới nano các định luật thông thường sẽ bị thay bằng các định luật mới.
Nếu trong thế giới bình thường người ta áp dụng ngành vật lý bình thường, thì trong thế giới nano lại là nguyên lý quantum.
Hiệu ứng quantum chỉ xảy ra khi các hạt vật chất đạt đến mức siêu nhỏ.
 
Nhiều lúc các hiệu ứng đó khiến người ta phải sửng sốt.
 
Ví dụ như là màu sắc của một vật thể sẽ phụ thuộc vào kích cỡ của vật thể.
 
Một vật thể nano cũng sẽ có nhiều thuộc tính hơn bình thường, và những độc chất có thể phải được xác định bằng phương pháp khác hơn là thông thường.
 
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/indepth/story/2006/01/060119_nanoethic.shtml
Đăng nhập để trả lời
0




Độc tố của hợp chất nano[/align]19 Tháng 1 2006 - Cập nhật 16h18 GMT[/align] [/align]







[/align]

Nhiều sản phẩm nano đã xuất hiện trên thị trường
Hiện ngành nghiên cứu độc tính của các hợp chất nano vẫn còn rất non trẻ, thế nhưng người ta đã phát hiện thấy rằng bản thân con người đã phải sống trong môi trường đó từ khá lâu rồi. [/align] [/align]Ở Pittsburgh, Allen Robinson có công trình nghiên cứu các ảnh hưởng lên sức khỏe từ các hợp chất trong môi trường.
 
Anh cùng đồng nghiệp đang chuyển dần xuống các hợp chất nano, và phát hiện thấy là con người đang phải hít thở các loại hợp chất này mỗi ngày, từ đám khí thải công nghiệp hay khói bụi trên đường.
 
"Khi nghiên cứu khối khí này, dù trong phòng thí nghịêm sạch, nhưng quí vị sẽ nhận thấy rất nhiều thể vật chất khác nhau, kể cả các thể vật chất nano nữa."
 
"Có khoảng 5% các loại hợp chất thuộc loại nhỏ, nói chung bất cứ nơi nào chúng ta đang đứng và hít thở đều có khá nhiều các loại hợp chất khác nhau bay trong không khí."
 
Trong phòng thí nghiệm khá sạch, nhưng vẫn có khoảng trên 1.000 đơn vị vật chất, còn ngoài trời con số có thể lên đến vài chục ngàn đơn vị vật chất bé li ti.
 
"Ở Hoa Kỳ người ta bắt đầu quan ngại đến các loại hợp chất này." - Allen Robinson giải thích về hai qui định của Hoa Kỳ. - "Một mức tên là PM10 là dành cho các loại vật thể bé hơn 10mico-mét, còn mức kia PM2.5 dành cho các loại bật thể bé hơn 2.5 micro."
Và câu hỏi là con người sẽ phản ứng như thế nào khi hít chúng vào.
 
David Warheit là chuyên gia trong ngành hô hấp, nghiên cứu các chứng bệnh do khí thải gây ra, hiện đang tập trung vào ảnh hưởng từ các sợi cac-bon lên phổi của chuột.
 
Các ống nano có thể kết dính với nhau thành các khối lớn và ngăn đường hít thở, thí nghiệm của Warheit đưa các sợi này vào trong phổi, qua dung dịch nước.
 
"Ghi nhận đầu tiên là có 50% chuuột thí nghiệm bị tử vong ngay sau lần thử đầu tiên, tức là trong vòng 12 giờ đồng hồ."
"Thực tình ra khi nói về chuyện chuột thí nghiệm bị chết chúng tôi cũng không hứng thú gì cho lắm."
"Thế nhưng chúng tôi đã ngay lập tức theo đuổi vấn đề này, nghiên cứu trong quá trình 1-2 ngày tiếp theo."
"Vấn đề không phải là độc tính theo cách hiểu thông thường, mà là do các hoạt chất nano kết dính với nhau làm nghẽn đường thở." - chuyên gia Warheit nói.
 
Chuyện này nghe đúng đáng sợ, nhưng người ta vẫn chưa biết trong thực tế mọi chuyện sẽ phản ứng ra sao vì thí nghiệm này đưa các ống nano bằng đường không bình thường.
 
Giới khoa học và các nhà hoạt động môi trường vẫn đang tiếp tục tranh cãi quanh độ an toàn của các phòng thí nghiệm và xưởng sản xuất vật liệu nano.
 
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/indepth/story/2006/01/060119_nano_toxic.shtml

 
 
Đăng nhập để trả lời
0
19 Tháng 1 2006 - Cập nhật 15h49 GMT
 





Phân tử nano đổi màu[/align] [/align]







[/align]

Công nghệ nano cho phép chế tạo màu sắc bền vững
Phân tử ở kích thước nano có khả năng thay đổi màu sắc tùy thuộc vào hình dạng và kết cấu.[/align] [/align]Với những nhà hóa học như George Whitesides từ đại học Harvard thì đây là vấn đề vô cùng lý thú cho nghiên cứu và ứng dụng.
 
"Các vật thể nhỏ trong hiệu ứng quantum sẽ được coi là các vật thể rất lớn."
 
"Chẳng hạn quí vị tạo ra một phân tử nano từ hai chất đơn giản là Cadmium và Silinum, hợp chất đó sẽ chiếu sáng và tạo ra màu sắc trông thấy được."
 
Điều lạ kỳ là với cùng một hợp chất đó, nhưng tùy thuộc vào kích thước, thay từ một vài nano thành vài chục nano, quí vị sẽ tạo được đủ mọi loại màu sắc khác nhau, từ đỏ sẫm tới tím sáng.
 
"Người ta có thể tạo ra đủ mọi loại màu sắc có trong bản màu. Điều này rất thú vị, và cũng rất quan trọng." - ông Whitesides nói.
"Nó thú vị, vì biểu diễn nguyên lý là chuyển động của các hạt điện tử trong phân tử bị ảnh hưởng do kích thước của phân tử đó."
"Quí vị có thể tưởng tượng như là trong một căn phòng chật hẹp chúng ta sẽ cảm thấy chật chội, còn trong một căn phòng rộng rãi thì sẽ cảm thấy thoải mái hơn."
 
"Thật kỳ quái nhưng đúng là các hạt điện tử cũng có cảm giác giống như vậy."
Trong thể tích nhỏ các hạt điện tử sẽ phát ra tần số cao tức là mầu tím, còn với thể tích rộng sẽ tạo ra mầu đỏ sẫm tức là mầu của tần số thấp hơn.
 
"Bây giờ đến câu hỏi tại sao hiệu ứng này lại quan trọng. Hiện nay đa số các mầu sắc có được do nhuộm các hạt phân tử hữu cơ." - chuyên gia Whitesides giải thích.
 
"Vấn đề làm người ta bực mình là dưới tác động bên ngoài như ánh sáng, chúng có thể phai đi, quần áo bị phai màu theo thời gian."
"Chính vì vậy người ta đã nghiên cứu rất nhiều để giữ cho màu sắc ổn định, bây giờ người ta có thể sử dụng phân tử Cadmium pha với Silinium."
 
"Ứng dụng hiệu ứng quantum quí vị sẽ tạo ra được đúng màu sắc mình muốn và không chỉ thế, chúng còn ổn định theo thời gian nữa."
 
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/indepth/story/2006/01/060119_nano_colour.shtml

 
Đăng nhập để trả lời
0
19 Tháng 1 2006 - Cập nhật 16h27 GMT
Người máy hạt bụi
 
Giới nghiên cứu công nghệ cho rằng trong tương lai người ta sẽ làm được các bộ máy tính nhỏ gấp hàng chục ngàn lần hiện nay, ứng dụng công nghệ nano.[/align] [/align]Tiểu thuyết khoa học giả tưởng có tên Prey của Michael Crichton cho nhân vật Jack Forman trải qua những giờ phút hãi hùng khi nhìn thấy một nhà máy nano.
 
"Nhà máy tí hon không giống như các dây chuyền sản xuất điện tử hiện đại của hôm nay, không cần hệ thống chân không, không cần hệ thống làm lạnh, cũng chả cần phải có máy sinh từ trường, chỉ trần trụi với kính và thép."
 
Xmos Factory sản xuất ra những con robot chỉ bé như hạt bụi, các robot này sau đó tự sinh sôi nảy nở, tiến hóa, đến một lúc thì chúng phát điên...
Khi không phát điên thì chắc chắn các robot đó sẽ làm được những chuyện mà giới khoa học ngành hôm nay đang cố gắng đạt được, như Seth Goldstein từ Carnegie Mellon University.
 
"Nếu máy tính trong tương lai chỉ to bằng một hạt bụi, có thể liên kết được với hệ thống phát sóng, nguồn điện, có thể tự di chuyển, khi đó có thể lập trình để các máy tính này hợp thành một vậy thể 3 chiều."
 
"Với công nghệ đó quí vị sẽ tạo được các vật thể nhân tạo, không chỉ nằm yên mà có thể di chuyển được, ứng dụng vào teleconference chẳng hạn, tức là hình thức họp mặt nhưng hai người nhìn nhau qua màn hình."
"Bây giờ có hệ thống này thì quí vị sẽ gặp được phiên bản của người kia, có thể bắt tay với phiên bản của họ, nhìn xem các diễn biến trên nét mặt khi đang nói chuyện."
 
Kỹ thuật mới nào cũng thường kéo theo cả những tác hại xấu bên cạnh các ứng dụng có lợi, và rõ ràng là nanotechnology cũng không phải là ngoại lệ.
 
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/indepth/story/2006/01/060119_nano_robot.shtml[/align]
Đăng nhập để trả lời
0




Ống cạc bon nano[/align] [/align]







[/align]

Ảnh chụp ống cạc-bon nano của SPL
Năm 1996 có một giải Nobel hóa học dành cho nghiên cứu về nanotechnology, cho nhóm phát hiện thấy đồng vị C60 của cạc-bon, có cấu trúc như quả bóng, là chất đầu tiên trong gia đình của các loại phân tử có kết cấu tròn. [/align] [/align]Nếu quí vị lật những tờ báo chuyên ngành về nanotechnology chắc chắn tuần nào cũng thấy cả chục bài viết giới thiệu về tính chất và khả năng sử dụng của các loại phân tử hình tròn khác nhau, cũng như một họ phân tử khá gần gũi với nó được gọi là ống carbon nano.
 
Ông Jim Heath hồi năm 1985 đã tham gia trong nhóm nghiên cứu C60, giờ làm việc tại Viện kỹ thuật California ở Pasadena kể lại.
 
"Nếu quí vị nhìn vào ngành công nghệ nano, thì sẽ thấy nó được hợp thành từ 3 điểm nổi bật nằm cạnh nhau, mà điểm nổi bật nhất theo tôi là phát hiện ra đồng vị C60."
 
"khi hạ kích thước nhìn xuống dưới mức nano thì quí vị sẽ thấy mở ra trước mắt mình một thế giới hoàn toàn khác, thấy ccác loại đồng vị cac-bon khác nhau với những hình dạng khác nhau, loại hình quả bóng, loại ống, vân vân."
 
Khi đó ông Jim Heath là nghiên cứu sinh, và giờ mỗi khi nhớ lại cái cảm giác lần đầu tiên nhìn thấy C60 vẫn thấy dễ chịu, dù 5 năm tiếp theo phải xoay sở rất khó khăn trong nghiên cứu.
Họ phải nghiên cứu với cả trăm phân tử, phải chứng minh lý thuyết, nhưng kết quả cho thấy C60 thực sự là một vật chất tuyệt vời.
"Bây giờ người ta bắt đầu hiểu được thực chất của những cái có thể gọi là máy móc hóa học, những cơ chế vận hành các phản ứng hóa học, người ta có thể hiểu được hoạt động của protein." - Jim Heath giải thích.
 
"Nhờ có C60 mà người ta có được bằng chứng, có được điểm nối kết các lĩnh vực khác nhau, tạo ra được các vật chất mới, sẽ bắt đầu nhìn bằng kích thước nhỏ hơn."
 
Và các sản phẩm mới bắt đầu ra đời; năm 2005 viện Bách khoa Rensselare ở New York giới thiệu trên tạp chí Nature Materials một chổi quét kích thước 30nano, với nhiều hi vọng ứng dụng trong y khoa.

 
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/indepth/story/2006/01/060118_carbontube.shtml

 
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
Thứ Hai, 10/07/2006, 17:14 (GMT+7)

TS Nguyễn Chánh Khê và sản phẩm carbon nanotube siêu lợi nhuận
 







Tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê
 
Tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê
cùng các cộng sự thuộc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển khu Công nghệ cao TP.HCM vừa cho ra đời “đứa con” khoa học hứa hẹn sẽ mang về siêu lợi nhuận cho đất nước: Carbon nanotube đầu tiên của VN được sáng chế hoàn toàn bằng nguyên liệu và công nghệ trong nước.
 
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=140848
 
Trong chiếc áo thun rộng, quần ka ki, giày thể thao và không hề mang... kính cận, TS Nguyễn Chánh Khê, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển khu Công nghệ cao TP.HCM, không giống dáng vẻ của một nhà khoa học đã từng có những phát minh, sáng chế mang tầm cỡ thế giới trên lĩnh vực khoa học công nghệ mà tôi hình dung trước đó. Trẻ hơn so với tuổi, đầy nhiệt huyết và đam mê, ông là một trong số những Việt kiều hồi hương đang sống và cống hiến hết mình cho đất nước.
 
Người làm nên vật liệu trung tâm thế kỷ “Made in Vietnam”
 
“Tôi đã có những thành công được ghi nhận trên lĩnh vực khoa học công nghệ ở nước ngoài, đã đến lúc tôi phải về nước để góp phần làm cho đất nước tôi giàu mạnh”. Với suy nghĩ này, năm 2002, TS Nguyễn Chánh Khê đã quyết định về định cư tại VN, bỏ lại phía sau những lời mời hấp dẫn từ các trung tâm nghiên cứu và các công ty lớn hàng đầu về công nghệ tại Nhật Bản và Mỹ.
 
Than nano “lỏng” là một trong những phát minh có tiếng vang lớn của nhà khoa học Việt kiều này sau khi ông về nước và giữ cương vị Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Khu Công nghệ cao TP.HCM. Sản phẩm được ứng dụng vào việc sản xuất mực đen và mực màu “made in Vietnam” cho máy in phun và laser với giá thành rẻ hơn rất nhiều so với mực in nhập ngoại.
 






Hình chụp carbon nanotube bằng kính hiển vi điện tử (FE-SEM) do TS Nguyễn Chánh Khê và các cộng sự chế tạo tại Phòng Nghiên cứu Công nghệ nano, thuộc Trung tâm R&D, Khu Công nghệ cao TP.HCMÔng cho tôi xem những tấm ảnh in phun bằng loại mực in sản xuất từ than nano “lỏng” với hình ảnh cực kỳ rõ nét, màu sắc chân thật không khác những tấm ảnh in phun từ các loại mực nhập từ nước ngoài. Than nano “lỏng” còn được dùng để chế tạo vật liệu che (masking) trong quy trình chế tạo vi xử lý và pin nhiên liệu còn được gọi là pin thay xăng. Loại pin nhiên liệu không tạo ra ôxít carbon này có thể thay thế các loại xăng dùng cho động cơ, không gây ô nhiễm môi trường, tạo ra năng lượng sạch khi sử dụng.
 
 
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=140849
 
 
Niềm hãnh diện nhất của TS Nguyễn Chánh Khê chính là “đứa con” mang tên carbon nanotube đầu tiên của VN, hoàn toàn bằng nguyên liệu và công nghệ trong nước, được chế tạo thành công tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Khu Công nghệ cao TP.HCM ngày 1-6 vừa qua. Với tính chất nhẹ, cứng, siêu bền, siêu dẫn điện, chất này còn được ứng dụng để làm vỏ phi thuyền bay vào vũ trụ và rất có ích đối với y học, vật liệu điện tử...
 
Trên thế giới, carbon nanotube được coi là vật liệu trung tâm của thế kỷ và được bán với giá rất đắt, khoảng 1.000 USD/gram. Sau khi hoàn thành việc đăng ký quyền sở hữu trí tuệ và tung ra thị trường trong thời gian tới, chất liệu carbon nanotube của TS Nguyễn Chánh Khê được dự báo là sẽ mang lại siêu lợi nhuận dù giá rẻ hơn rất nhiều so với thế giới.
 
Những công trình đột phá của TS Nguyễn Chánh Khê được nhiều tổ chức khoa học thế giới biết đến và công nhận. Hiệp hội khoa học hàng đầu về công nghệ nano trên thế giới của Mỹ là NSTI (Nano Science and Technology Institute) Nanotech 2006 tại Boston, Hoa Kỳ từ ngày 7 đến 11- 5-2006 đã dành nhiều trang sách trong Vol 1, để công bố thành tựu của ông về việc ứng dụng than nano “lỏng” vào màng dẫn proton ứng dụng cho pin nhiên liệu. Đây là điều đáng tự hào của ngành công nghệ cao còn khiêm tốn và nhiều khó khăn của VN.
 
Trăn trở với “tầm” công nghệ cao của đất nước
 
TS Nguyễn Chánh Khê đã quyết định mãi mãi gắn bó với đất nước chỉ vì một lý do đơn giản nhưng trên tất cả: “Tôi yêu quê hương tôi”. Là một Việt kiều sống nhiều năm ở nước ngoài, ông hiểu hơn ai hết cảm giác muốn được về với đất mẹ, với nguồn cội dù ông biết ở đó, điều kiện làm việc, nghiên cứu không thể bằng thung lũng Silicon (Mỹ) hay Dai Nippon Ink (Nhật Bản) nơi ông từng cống hiến.
 
Và quả thật, về nước, Nguyễn Chánh Khê đã gặp không ít khó khăn và trở ngại. “Hai phòng thí nghiệm được duyệt bởi ngân sách Nhà nước từ tháng 9-2004 đến nay vẫn chưa thực hiện xong” - ông nói để minh chứng cho hệ thống quản lý hành chính chưa thông thoáng và còn nhiều thủ tục rườm rà, cần phải thay đổi. Đặc biệt, trình độ của chuyên gia trẻ trong nước còn nhiều chênh lệch, kỹ năng không vững, thiếu kinh nghiệm và phong cách làm việc không năng động, chuyên nghiệp.
 
Bên cạnh đó hạ tầng cơ sở chưa đầy đủ, hóa chất và vật tư cần thiết cho nghiên cứu vật liệu công nghệ cao còn thiếu thốn. Thậm chí, ông phải thường xuyên bỏ tiền túi để đầu tư cho việc nghiên cứu những công trình mang tầm thế giới của chính mình. Nhưng ông đã vượt qua tất cả với tâm trạng phấn chấn vì “góp được công sức mình cho đất nước là vui rồi”.
 
Điều trăn trở của Nguyễn Chánh Khê đó là còn ít Việt kiều, đặc biệt là Việt kiều trẻ trở về Việt Nam cống hiến cho đất nước. “Tôi mong anh chị em Việt kiều trở về tham gia xây dựng đất nước tại thời điểm này. Nếu cao tuổi thì không còn sức lực đóng góp cho quê hương mình để rồi mãi hối tiếc, nhưng cũng đừng trở về quá sớm khi chưa có kinh nghiệm và thực tiễn tại nước ngoài” - TS Khê bày tỏ.
 
Đối với thế hệ trẻ trong nước, điều mong mỏi luôn canh cánh trong lòng vị tiến sĩ Việt kiều này là làm sao VN có nền giáo dục tốt để các em học tập và có hứng thú với khoa học một cách vô tư, đồng thời khuyến khích các em đầu tư tìm tòi thông tin mới từ các nền khoa học tiên tiến trên thế giới. “Không có lý do gì mà VN không thể có những đột phá vĩ đại ngang tầm Nhật Bản và Mỹ” - TS Nguyễn Chánh Khê tin tưởng.





TS Nguyễn Chánh Khê, sinh năm 1952, tại Đà Nẵng.
Năm 1971 du học tại Nhật Bản, học Trường Đại học Công nghiệp Tokyo và lấy bằng tiến sĩ về vật liệu và khoa học xử lý thông tin.
Từng làm việc tại Dai Nippon Ink (Nhật Bản), hãng Eastman Kodak, Hewlett - Parkard (Mỹ)...
Đoạt nhiều giải thưởng sáng chế và hàng chục phát minh của ông được công nhận tại Nhật Bản, Mỹ. Nhiều sáng chế được các công ty về công nghệ hàng đầu trên thế giới như Sanyo, Ricoh, Intel, Motorola, Kodak... áp dụng để sản xuất máy photocoppy xách tay, máy in, máy vi tính...
Năm 2002 về nước và giữ cương vị Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Khu Công nghệ cao TP.HCM. 

Theo Người lao động
 
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=149822&amp;ChannelID=17
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
18 Tháng 1 2006 - Cập nhật 15h35 GMT
 





Ứng dụng công nghệ Nano trong tương lai[/align] [/align]





Jo Twist
Biên tập viên ban khoa học BBC News Online
 [/align]


 [/align]




[/align]


Công nghệ sẽ làm cuộc sống thay đổi rất nhiều trong tương lai.[/align] [/align]1. Màn hình máy tính có thể được thay bằng loại đi-ốt hữu cơ OLED, viết tắt của Organis Light Emitting Diode.
2. Cửa sổ có thể được trang bị các lớp màng chuyển từ năng lượng ánh sáng thành điện thế Photovoltaic.
3. Người ta cũng có thể phủ kính bằng các lớp màng lọc để tránh cho người trong nhà khỏi các loại tia có hại như tia cực tím.
4. Quần áo làm bằng hợp chất mới sẽ chống được các vết dơ bẩn và kiểm soát nhiệt độ cơ thể.
5. Một số chất liệu trên quần áo thông minh sẽ giúp đo luôn nhịp tim và hơi thở.
6. Các chất liệu làm bàn ghế sẽ nhẹ hơn nhưng rất bền chắc.
7. Khớp xương chậu được làm bằng vật liệu tương thích với sinh học.
8. Sơn nano chống xâm thực.
9. Kính tự điều chỉnh được ánh sáng và nhiệt độ.
10. Vật liệu nano cho phép sản xuất các thẻ nhớ gọn nhẹ hơn.
11. Ống cạc-bon nano ứng dụng trong pin nhiên liệu sẽ là nguồn năng lượng mới cho máy móc và xe cộ.
12. Hệ thống nghe phụ trợ cho người điếc cũng làm được bằng hợp chất nano.
 
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/indepth/story/2006/01/060118_nanofuture.shtml

 
Đăng nhập để trả lời
0




18 Tháng 1 2006 - Cập nhật 11h35 GMT[/align] [/align]Thảm nano[/align] [/align]







[/align]

Ở thể nano cùng một hợp chất có thể có nhiều thuộc tính trái ngược nhau
Ứng dụng của các ống cạc-bon nano rất đa dạng, nếu có sản phẩm phủ hợp chất nano để chống nước bám dính thì lại có sản phẩm khác phủ hợp chất nano để tạo bề mặt kết dính vĩnh cửu.[/align] [/align]Sản phẩm của viện MIT do chuyên gia Ken Lau giới thiệu có lắp các ống cạc-bon theo chiều thẳng đứng, và khi rót nước vào thì nước không bám được vào mà chảy đi hết.
 
Nhóm nghiên cứu nghĩ tới việc dùng chất liệu này để làm kính xe ô-tô.
 
"Khi đó xe chạy trong mưa mà vẫn không bị bám nước trên bề mặt, khỏi cần dùng thiết bị gạt nước như thông thường."
 
"Chất liệu này cũng giống như một chiếc thảm trong nhà hay thảm cỏ ngoài vườn, với các sợi nano cắp trên bề mặt, khi phân tử nước rơi vào đây thì sẽ không chạm được vào bề mặt mà chỉ chạm vào các đầu kim của sợi nano, như thế sẽ không có chỗ để bám vào và chỉ còn cách trôi đi thôi." - Ken Lau giải thích.
 
Khá thú vị là cùng công nghệ nanotechnology người ta lại làm được những chuyện ngược lại với nhau.
 
Nếu Ken Lau chế tạo ra bề mặt chống dính bằng kỹ thuật nano thì Metin Sitti cũng với công nghệ này lại chế tạo ra bề mặt dính vĩnh cửu, có thể dùng đi dùng lại nhiều lần.
"Thằn lằn có thể bò ngược trên trần nhà, có thể bò trên các bề mặt phẳng lỳ như trên tường, trên thân cây."
"Khi nghiên cứu kỹ các chân của nó quí vị sẽ nhìn thấy các sợi ly ti giống như sợi tóc, nhưng có kích thước nhỏ hơn tóc cả ngàn lần, nhờ các sợi đó mà thằn lằn có thể dính trên bất kỳ mặt phẳng nào." - Metin Sitti giải thích.
Anh dùng một tấm nhựa polimer, tạo ra các tấm sợi nhân tạo, giống như là các sợi ở chân thằn lằn.
"NASA đã đề nghị chúng tôi sản xuất loại vật liệu này để dùng trên tàu không gian để các nhà du hành vũ trụ có thể tự dính mình vào thành tàu".
"Họ sẽ dễ dàng bước đi bằng việc bám vào tường giống như trong phim Spiderman chứ không cần phải bay lơ lửng trong không khí."
 
 - Sitte mô tả các ứng dụng trong tương lai.
 
 
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/indepth/story/2006/01/060118_nano_layer.shtml

 
 
Đăng nhập để trả lời
0




11 Tháng 4 2006 - Cập nhật 11h11 GMT[/align]Vi khuẩn làm keo[/align] [/align]







[/align]

Không phải loài vi khuẩn nào cũng có hại
Các nhà nghiên cứu ở Mỹ mới sáng chế ra được loại keo dính thuộc loại tốt nhất trên thế giới. [/align] [/align]Nếu so với các loại keo dính thương mại hiện đang phổ biến thì keo này bám chắc hơn gấp hai lần rưỡi.
 
Một điểm đặc biệt nữa là chất keo được làm từ một loài vi khuẩn sống dưới nước.
 
 
Các loài vi khuẩn không phải lúc nào cũng có hại.
 
Trong trường hợp này chúng được dùng làm keo dán.
 
Nhóm chuyên gia từ đại học Indiana đã nghiên cứu loài vi khuẩn có tên khoa học là Caulobacter crescentus từ nhiều năm nay.
 
Phát hiện của họ thật bất ngờ, như tiến sĩ Yves Brun giải thích:
 
"Thực là tuyệt vời. Quí vị cứ tưởng tượng là nếu chỉ cần quét một lớp keo dính rộng bằng đúng bề mặt ngón tay của quí vị, tức là mỗi bề khoảng 1 cen-ti-mét, thì nếu ngón tay chịu nổi quí vị có thể treo vào đó chừng 800kg."
Vi khuẩn này sống dưới nước, kể cả nước biển lẫn nước sông nước hồ.
Chúng bám vào các tảng đá và quí vị cứ tưởng tượng ra xem lực bám phải mạnh đến như thế nào mới chống lại được sóng biển hay thác nước.
 
Vấn đề là chỉ cần tách chất bám dính ra khỏi các loài vi khuẩn đó.
 
Thêm một điểm nữa là các loại chất kết dính công nghiệp thường biến chất trong môi trường ẩm ướt còn ở đây loài keo này thậm chí còn không sợ cả nước biển.
 
Có thể vá lỗ thủng cho tàu ngay ngoài khơi.
 
Tính ra thì cơ thể người cũng rất nhiều nước và muối cho nên loại keo mới có thể được ứng dụng vào giải phẫu.
Tuy nhiên, trước mắt đó chỉ mới là những viễn kiến tương lai mà thôi.
 
Để loại keo mới được đem vào ứng dụng người ta còn phải nghiên cứu công nghệ và việc này sẽ mất khá nhiều thời gian.
 
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/indepth/story/2006/04/060411_glue_bacteria.shtml
Đăng nhập để trả lời
0










19 Tháng 1 2006 - Cập nhật 15h58 GMT
 





Dược phẩm nano[/align] [/align]







[/align]

Dược phẩm nano không nhất thiết chỉ đơn giản là hóa chấ
Một số nhà nghiên cứu đang tập trung vào ứng dụng y khoa cho vật chất nano. [/align] [/align]Câu hỏi được đặt ra là các dạng chất mới này có an toàn khi đưa vào cơ thể không.
 
Hiện tại người ta có những qui định thế nào là chất độc, thế nhưng các qui định đó chưa lường tới khả năng là khi các hoạt chất xuống đến mức bé như nano thì mọi lý tính và hóa tính đều thay đổi.
 
Jim Thomas từ tổ chức ETC cho rằng "khi đó người ta không thể nói biết chắc chắn các vật thể nhỏ đó phản ứng như thế nào."
 
Hiện nay người ta biết các loại hóa chất thuốc phản ứng như thế nào trong môi trường mặc định, và dùng thuốc như vậy là an toàn.
 
"Thế nhưng khi xuống đến mức vài trăm nano-mét các hoạt tính có thể thay đổi, tùy vào kích thước hay hình dạng chẳng hạn, các vật thể đó sẽ có tính chất khác nhau." - Chuyên gia Thomas nói.
 
"Chẳng hạn như Ô-xít Titanium khi đó sẽ không có một hay hai tính chất cố định, khi xuống đến mức nano thì quí vị sẽ có cả một chuỗ̉i tính chất nối tiếp nhau, như thế mọi chuyện sẽ phức tạp hơn rất nhiều."
Hiện ngành nghiên cứu độc tính của các hợp chất nano vẫn còn rất non trẻ.
 
Thế nhưng một số nghiên cứu phát hiện thấy rằng bản thân con người đã phải sống trong môi trường có nhiều hợp chất nano từ khá lâu rồi.
 
 
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/indepth/story/2006/01/060119_nano_medicine.shtml
 [/align]
 



TRANG NGOÀI BBC[/align][/align]Nhóm ETC[/align]BBC không chịu trách nhiệm về nội dung các trang bên ngoài.[/align][/align]
TIN MỚI NHẤT[/align]Bầu cử tổng thống Mỹ[/align](none)[/align](none)[/align](none)[/align] [/align][/align]

 
 
Đăng nhập để trả lời
0
19 Tháng 1 2006 - Cập nhật 16h27 GMT
 
Người máy hạt bụi
 
Giới nghiên cứu công nghệ cho rằng trong tương lai người ta sẽ làm được các bộ máy tính nhỏ gấp hàng chục ngàn lần hiện nay, ứng dụng công nghệ nano.[/align] [/align]Tiểu thuyết khoa học giả tưởng có tên Prey của Michael Crichton cho nhân vật Jack Forman trải qua những giờ phút hãi hùng khi nhìn thấy một nhà máy nano.
 
"Nhà máy tí hon không giống như các dây chuyền sản xuất điện tử hiện đại của hôm nay, không cần hệ thống chân không, không cần hệ thống làm lạnh, cũng chả cần phải có máy sinh từ trường, chỉ trần trụi với kính và thép."
 
Xmos Factory sản xuất ra những con robot chỉ bé như hạt bụi, các robot này sau đó tự sinh sôi nảy nở, tiến hóa, đến một lúc thì chúng phát điên...
Khi không phát điên thì chắc chắn các robot đó sẽ làm được những chuyện mà giới khoa học ngành hôm nay đang cố gắng đạt được, như Seth Goldstein từ Carnegie Mellon University.
 
"Nếu máy tính trong tương lai chỉ to bằng một hạt bụi, có thể liên kết được với hệ thống phát sóng, nguồn điện, có thể tự di chuyển, khi đó có thể lập trình để các máy tính này hợp thành một vậy thể 3 chiều."
 
"Với công nghệ đó quí vị sẽ tạo được các vật thể nhân tạo, không chỉ nằm yên mà có thể di chuyển được, ứng dụng vào teleconference chẳng hạn, tức là hình thức họp mặt nhưng hai người nhìn nhau qua màn hình."
 
"Bây giờ có hệ thống này thì quí vị sẽ gặp được phiên bản của người kia, có thể bắt tay với phiên bản của họ, nhìn xem các diễn biến trên nét mặt khi đang nói chuyện."
 
Kỹ thuật mới nào cũng thường kéo theo cả những tác hại xấu bên cạnh các ứng dụng có lợi, và rõ ràng là nanotechnology cũng không phải là ngoại lệ.
 
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/indepth/story/2006/01/060119_nano_robot.shtml
Đăng nhập để trả lời
0
Những thiên tài của thế kỷ 21
 
Ngày nay, mỗi phát hiện là một bước tiến. Nhưng kể cả khi nó nổi tiếng, thì nó cũng chỉ là một viên gạch trên bức tường cao. Những thiên tài như Einstein làm hơi khác: họ lấy ra từ bức tường cũ vài viên gạch, quan sát kỹ rồi xây dựng tòa nhà mới.
 
Công thức của Einstein đã đem đến cho nhân loại bom nguyên tử và hệ thống định vị toàn cầu, nhưng bản thân nhà thiên tài chỉ tạo ra công thức, đem sáng kiến vào thế giới và mở rộng tầm nhìn. Tấm gương của Einstein đưa ra những chỉ dẫn làm cách nào để con người trở thành thiên tài. Quan trọng nhất, là phải có một nhà lý thuyết với tầm nhìn xa - cũng giống như Charles Darwin, cha đẻ của thuyết tiến hóa, nhà thiên tài vĩ đại của thế kỷ 19. Darwin đã làm một chuyến du hành nghiên cứu vòng quanh thế giới, sau đó về sống ở miền nam nước Anh và phát triển suy tưởng của ông về thành sự hình thành của các loài. Những khối tư tưởng của Einstein và Darwin đã làm thay đổi tư tưởng toàn cầu.
 
Từ "bức tường hiểu biết", những thiên tài như Einstein lấy ra một vài viên gạch, quan sát kỹ bản thiết kế rồi bắt tay vào xây dựng một tòa nhà mới. Khi những thiên tài đã đặt nền móng thì ngày càng có nhiều thợ xây đến và cùng xây căn nhà mới. Khoa học bước sang một hướng mới. Thiên tài của nhân loại đưa ra những viễn cảnh. Họ hiểu biết chuyên môn và tiếp xúc thoải mái với đồng nghiệp. Nhưng đáng chú ý là họ không thuộc vào "dòng chảy chính". Phần lớn họ chưa đầy 30 tuổi và thậm chí còn thích thú khi đi ngược lại với những quan điểm đã được thiết lập.
 
http://www.thuvienkhoahoc.com/tusach/Nh%E1%BB%AFng_thi%C3%AAn_t%C3%A0i_c%E1%BB%A7a_th%E1%BA%BF_k%E1%BB%B7_21
 
Đăng nhập để trả lời
0
Eric Drexler - người sáng lập của thế giới nano

 [/align]Nano nghĩa là gì? Máy nano được cấu tạo từ những bộ phận chỉ lớn khoảng vài nano mét (nm). 1nm = 10-9 mét. Trên khoảng cách vô cùng nhỏ bé này chứa vừa đủ bốn nguyên tử. Giả sử mỗi con cá chỉ lớn 1nm thì tất cả cá trong đại dương có thể cùng bơi trong một giọt nước.
 
Eric Drexler sinh năm 1955 ở California và học ở Học viện kỹ thuật Massachusetts, Mỹ. Năm 1986 ông cùng vợ Christine Peterson thành lập viện Foresight và cống hiến những sáng kiến về nano.
 
Eric Drexler là phiên bản của một thiên tài viễn ảnh. Từ lâu ông không còn nghiên cứu trong phòng thí nghiệm nữa. Thay vào đó, ông đã tạo nên một ngành hoàn toàn mới của khoa học. Trong những năm đầu của thập kỷ 80, Drexler đã cho đăng nhiều đề tài trên những tạp chí chuyên môn và năm 1986 là cuốn sách phổ biến rộng rãi "Engines of Creation“ (Máy sáng tạo).
Đó là giờ khai sinh của ngành công nghệ nano. Ngày nay "nano" là một từ phổ biến, nhưng lúc Drexler bắt đầu nói về nó thì thế giới nano hãy còn là một vệt trắng trên bản đồ tri thức.
 
Ý tưởng của ông nghe có vẻ như hoàn toàn không tưởng: “Chúng ta sẽ sử dụng nguyên tử và phân tử như là Bits và Bytes trong máy vi tính. Người ta sẽ có thể lắp ráp những nguyên tử một cách tin tưởng và nhanh thành những kiểu mẫu mới. Chế tạo máy từ những nguyên tử đơn chiếc? Trong thập kỷ 80 thì điều đó giống như là sự thật về đĩa bay.
 
Tham vọng của Drexler còn đi xa hơn: Ông mơ đến những chiếc máy phân tử như là máy vạn năng, được gọi là Assembler: đó là những chiếc máy nano, có thể chế tạo được bất cứ vật gì và tái tạo chính chúng.
 
Assembler có thể được lắp vào những chiếc máy giống như máy in. "Những hộp mực in" kiểu mới sẽ cung cấp cho "máy in" những nguyên tử của từng nguyên tố. Và như vậy, sẽ không có giới hạn đối với Assembler. Người ta có thể ra lệnh cho chúng sản xuất điện thoại di động theo bản thiết kế mới, chúng có thể chế tạo một chiếc xe hơi hay là cả một con bò....
 
Sau khi Drexler đưa vào thế giới những ý tưởng của mình, ngày càng có nhiều nhà nhiên cứu tham gia vào chuyên ngành mới của công nghệ nano. Năm 1986, gần như cùng lúc với quyển sách của Drexler, nhà vật lý người Đức Gerd Binning đã phát minh kính hiển vi lực nguyên tử, không những có thể "nhìn thấy" từng nguyên tử mà còn chuyển động được cả chúng nữa. Nhờ đó đã tạo ra được bước đi đầu tiên vào thế giới nano. Ngày nay "nano" đã khắc vào cuộc sống hàng ngày của chúng taCông nghệ này ẩn trong những ổ cứng của máy vi tính và kem chống nắng.
 
Chỉ có Assembler là vẫn chưa biết khi nào mới có. Tối thiểu thì những động cơ thích hợp đã có, được chế tạo bởi nhà công nghệ sinh học Carlo Montemagno. Trong cái máy của ông, những phân tử protein làm chuyển động một cánh quạt tí hon bằng Nickel. Một sáng chế mà nếu không có tấm gương của Drexler thì Montemagno có lẽ không bao giờ thực hiện được.
 
Tất nhiên, không phải tất cả các viễn ảnh đều thực hiện được. Ai làm việc với các nguyên tử đều đụng phải các lực vô hình trong thế giới khổng lồ của chúng ta. Và vì thiên nhiên vẫn thường tạo ra nhiều vấn đề rắc rối trong tế bào cơ thể, nên bước tiếp theo của công nghệ nano sẽ phải là hòa nhập với công nghệ sinh học. Drexler nhìn xa rằng "trong 30 năm nữa, công nghệ sinh học sẽ tạo ra những bước tiến khổng lồ. Bằng sự phối hợp với kỹ thuật nano, sẽ có thể điều trị bệnh trong từng tế bào. Tuổi thọ của chúng ta sẽ tăng không lường được“.
 
http://www.thuvienkhoahoc.com/tusach/Nh%E1%BB%AFng_thi%C3%AAn_t%C3%A0i_c%E1%BB%A7a_th%E1%BA%BF_k%E1%BB%B7_21
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-02-28 06:10:12HongYen>
Chế tạo và ứng dụng hạt nanô từ tính trong sinh học
 
Báo cáo tại Hội nghị Vật lý toàn quốc lần thứ 6, 2005
 
Tóm tắt
Bài này trình bày tổng quan về các phương pháp chế tạo của hạt nanô và ứng dụng trong y sinh học. Hạt nanô từ tính có thể được chế tạo theo hai nguyên tắc: vật liệu khối được nghiền nhỏ đến kích thước nanô và hình thành hạt nanô từ các nguyên tử. Phương pháp thứ nhất gồm các phương pháp nghiền và biến dạng như nghiền hành tinh, nghiền rung. Phương pháp thứ hai được phân thành hai loại là phương pháp vật lý (phún xạ, bốc bay,...) và phương pháp hóa học (phương pháp kết tủa từ dung dịch, hình thành từ pha khí). Các ứng dụng của hạt nanô từ được chia làm hai loại: ứng dụng ngoài cơ thể (phân tách tế bào) và trong cơ thể (dẫn thuốc, nung nóng cục bộ và tăng độ tương phản trong ảnh cộng hưởng từ hạt nhân). Một số nghiên cứu đang được triển khai tại ĐHQGHN kết hợp với ĐHQGHCM cũng được trình bày.

Mở đầu
Công nghệ nanô đang thay làm thay đổi cuộc sống của chúng ta nhờ vào khả năng can thiệp của con người tại kích thước nanô mét, tại đó, vật liệu nanô thể hiện rất nhiều tính chất đặc biệt và lý thú [1]. Một nhánh quan trọng của công nghệ nanô, đó là lý sinh học nanô, trong đó, vật liệu nanô được sử dụng để chẩn đoán và điều trị bệnh. Lý sinh học nanô đã và đang được nghiên cứu rất mạnh mẽ nhờ vào khả năng ứng dụng rất linh hoạt và hiệu quả của vật liệu nanô [2]. Trong bài này, chúng tôi xin trình bày tổng quan một số phương pháp chế tạo vật liệu và nghiên cứu điển hình trong đó có sử dụng các hạt nanô từ tính. Các hạt nanô từ tính có kích thước tương ứng với kích thước của các phân tử nhỏ (1-10 nm) hoặc kích thước của các vi rút (10-100 nm). Chính vì thế mà hạt nanô có thể thâm nhập vào hầu hết các cơ quan trong cơ thể và giúp cho chúng ta có thể thao tác ở qui mô phân tử và tế bào [3]. Từ trường không có hại đối với con người nên các hạt nanô từ tính được quan tâm sử dụng rất nhiều vào mục đích chẩn đoán và chữa bệnh.

Vật liệu từ tính
Bất cứ vật liệu nào đều có sự hưởng ứng với từ trường ngoài (H), thể hiện bằng độ từ hóa (từ độ - M). Tỷ số c = M/H được gọi là độ cảm từ. Tùy thuộc vào giá trị, độ cảm từ có thể phân ra làm các loại vật liệu từ khác nhau. Vật liệu có c &lt; 0 (~-10-6) được gọi là vật liệu nghịch từ. Vật liệu có c &gt; 0 (~10-6) được gọi là vật liệu thuận từ. Vật liệu có c &gt; 0 với giá trị rất lớn có thể là vật liệu sắt từ, ferri từ [4]. Ở đây, vật liệu từ tính ngụ ý là vật liệu sắt từ, ferri từ hoặc siêu thuận từ (sẽ nói đến sau đây). Ngoài độ cảm từ, một số thống số khác cũng rất quan trọng trong việc xác định tính chất của vật liệu, ví dụ như: từ độ bão hòa (từ độ đạt cực đại tại từ trường lớn), từ dư (từ độ còn dư sau khi ngừng tác động của từ trường ngoài), lực kháng từ (từ trường ngoài cần thiết để một hệ, sau khi đạt trạng thái bão hòa từ, bị khử từ). Nếu kích thước của hạt giảm đến một giá trị nào đó (thông thường từ vài cho đến vài chục nanô mét), phụ thuộc vào từng vật liệu cụ thể, tính sắt từ và ferri từ biến mất, chuyển động nhiệt sẽ thắng thế và làm cho vật liệu trở thành vật liệu siêu thuận từ.
 
Đối với vật liệu siêu thuận từ, từ dư và lực kháng từ bằng không. Điều đó có nghĩa là, khi ngừng tác động của từ trường ngoài, vật liệu sẽ không còn từ tính nữa, đây là một đặc điểm rất quan trọng khi dùng vật liệu này cho các ứng dụng y sinh học. Hạt nanô từ tính dùng trong y sinh học cần phải thỏa mãn ba điều kiện sau: tính đồng nhất của các hạt cao, từ độ bão hòa lớn và vật liệu có tính tương hợp sinh học (không có độc tính) [2]. Tính đống nhất về kích thước và tính chất liên quan nhiều đến phương pháp chế tạo còn từ độ bão hòa và tính tương hợp sinh học liên quan đến bản chất của vật liệu. Trong tự nhiên, sắt (Fe) là vật liệu có từ độ bão hòa lớn nhất tại nhiệt độ phòng, sắt không độc đối với cơ thể người và tính ổn định khi làm việc trong môi trường không khí nên các vật liệu như ô-xít sắt được nghiên cứu rất nhiều để làm hạt nanô từ tính. Hạt nanô từ tính dùng trong y sinh học thường ở dạng chất lỏng từ (CLT), hay còn gọi là nước từ. Một CLT gồm ba thành phần: hạt nanô từ tính, chất hoạt hóa bề mặt (CHHBM), và dung môi. Hạt nanô từ tính là thành phần duy nhất quyết định đến tính chất từ của CLT. CHHBM có tác dụng làm cho hạt nanô phân tán trong dung môi, tránh các hạt kết tụ lại với nhau ngay cả khi có mặt của từ trường ngoài. CHHBM còn có tác dụng “che phủ” hạt nanô khỏi sự phát hiện của hệ thống bảo vệ cơ thể và tạo các mối liên kết hóa học với các phân tử khác. Dung môi là chất lỏng mang toàn bộ hệ [5].

Chế tạo hạt nanô từ tính
Hạt nanô từ tính có thể được chế tạo theo hai nguyên tắc: vật liệu khối được nghiền nhỏ đến kích thước nanô (top-down) và hình thành hạt nanô từ các nguyên tử (bottom-up). Phương pháp thứ nhất gồm các phương pháp nghiền và biến dạng như nghiền hành tinh, nghiền rung. Phương pháp thứ hai được phân thành hai loại là phương pháp vật lý (phún xạ, bốc bay,... [6]) và phương pháp hóa học (phương pháp kết tủa từ dung dịch và kết tủa từ khí hơi,...) [3]. Phần dưới đây chỉ trình bày sơ lược những phương pháp phổ biến nhất.

3.1. Phương pháp nghiền
Phương pháp nghiền được phát triển từ rất sớm để chế tạo CLT dùng cho các ứng dụng vật lý như truyền động từ môi trường không khí vào buồng chân không, làm chất dẫn nhiệt trong các loa công suất cao,... Trong những nghiên cứu đầu tiên về CLT, vật liệu từ tính ô-xít sắt Fe3O4, được nghiền cùng với CHHBM (a-xít Oleic) và dung môi (dầu, hexane). CHHBM giúp cho quá trình nghiền được dễ dàng và đồng thời tránh các hạt kết tụ với nhau. Sau khi nghiền, sản phẩm phải trải qua một quá trình phân tách hạt rất phức tạp để có được các hạt tương đối đồng nhất. Phương pháp nghiền có ưu điểm là đơn giản và chế tạo được vật liệu với khối lượng lớn. Việc thay đổi CHHBM và dung môi không ảnh hưởng nhiều đến quá trình chế tạo. Nhược điểm của phương pháp này là tính đồng nhất của các hạt nanô không cao vì khó có thể khống chế quá trình hình thành hạt nanô. CLT chế tạo bằng phương pháp này thường được dùng cho các ứng dụng vật lý [5].

3.2. Phương pháp hóa học
Phương pháp hóa học để chế tạo các hạt nanô từ cũng được phát triển từ lâu. Phương pháp hóa học có thể tạo ra các hạt nanô với độ đồng nhất khá cao, rất thích hợp cho phần lớn các ứng dụng sinh học. Nguyên tắc tạo hạt nanô bằng phương pháp hóa học là kết tủa từ một dung dịch đồng nhất dưới các điều kiện nhất định hoặc phát triển hạt từ thể hơi khi một hóa chất ban đầu bị phân rã [3].

Trong phương pháp kết tủa từ dung dịch, khi nồng độ của chất đạt đến một trạng thái bão hòa tới hạn, trong dung dịch sẽ xuất hiện đột ngột những mầm kết tụ. Các mầm kết tụ đó sẽ phát triển thông qua quá trình khuyếch tán của vật chất từ dung dịch lên bề mặt của các mầm cho đến khi mầm trở thành hạt nanô. Để thu được hạt có độ đồng nhất cao, người ta cần phân tách hai giai đoạn hình thành mầm và phát triển mầm. Trong quá trình phát triển mầm, cần hạn chế sự hình thành của những mầm mới. Các phương pháp sau đây là những phương pháp kết tủa từ dung dịch: đồng kết tủa, nhũ tương, polyol, phân ly nhiệt... Phương pháp đồng kết tủa là một trong những phương pháp thường được dùng để tạo các hạt ô-xít sắt. Hydroxide sắt bị ô-xi hóa một phần bằng một chất ô-xi hóa khác hoặc tạo hạt từ Fe+2 và Fe+3 trong dung môi nước. Kích thước hạt (4-15 nm) và điện tích bề mặt được điều khiển bằng độ pH và ion trong dung dịch. Nhũ tương (microemulsion) cũng là một phương pháp được dùng khá phổ biến để tạo hạt nanô. Các hạt dung dịch nước bị bẫy bởi các phân tử CHHBM trong dầu (các mixen).
 
Do sự giới hạn về không gian của các phân tử CHHBM, sự hình thành, phát triển các hạt nanô bị hạn chế và tạo nên các hạt nanô rất đồng nhất. Kích thước hạt có thể từ 4-12 nm với độ sai khác khoảng 0.2-0.3 nm [7]. Cũng bằng phương pháp này, người ta có thể chế tạo hạt ô-xít sắt bao phủ bởi một lớp vàng để tránh ô-xi hóa và tăng tính tương hợp sinh học. Polyol là phương pháp thường dùng để tạo các hạt nanô kim loại như Ru, Pd, Au, Co, Ni, Fe,... Các hạt nanô kim loại được hình thành trực tiếp từ dung dịch muối kim loại có chứa polyol. Polyol có tác dụng như một dung môi hoặc trong một số trường hợp như một chất khử ion kim loại. Dung dịch được điều khiển nhiệt độ để làm tăng giảm động học của quá trình kết tủa thu được các hạt có hình dạng và kích thước rất xác định. Một phương pháp khác nữa là phân ly nhiệt. Sự phân ly của các hợp chất chứa sắt với sự có mặt của một CHHBM ở nhiệt độ cao cải thiện đáng kể chất lượng của các hạt nanô.

Trong phương pháp tạo hạt từ thể hơi, sự nhiệt phân bụi hơi chất lỏng và laser là những kĩ thuật rất tốt để tạo ra trực tiếp và liên tục các hạt nanô từ tính. Sự khác biệt giữa nhiệt phân bụi hơi chất lỏng và laser ở trạng thái cuối cùng của vật liệu. Ở phương pháp nhiệt phân bụi hơi, hạt nanô thường kết tụ thành từng đám còn ở phương pháp nhiệt phân laser thì không. Nguyên tắc của phương pháp nhiệt phân bụi hơi là chất rắn được hình thành khi chất lỏng dung dịch được phun vào một chuỗi các bình phản ứng, ở đó, quá trình chất lỏng bốc bay, chất rắn ngưng tụ, quá trình làm khô và nhiệt phân xảy ra ở mỗi hạt chất lỏng. Kết quả thu được là chất rắn xốp. Phương pháp nhiệt phân laser sử dụng laser CO2 để khởi động và duy trì phản ứng hóa học. Khi áp suất và năng lượng laser vượt quá ngưỡng nhất định, quá trình hình thành hạt nanô sẽ xảy ra. Kết quả là các hạt nanô có kích thước rất nhỏ, độ đồng nhất cao và không bị kết tụ.

Ứng dụng của hạt nanô từ tính
Các ứng dụng của hạt nanô từ được chia làm hai loại: ứng dụng ngoài cơ thể và trong cơ thể. Chúng tôi chỉ trình bày một số ứng dụng tiêu biểu trong rất nhiều ứng dụng đã và đang được nghiên cứu. Phân tách và chọn lọc tế bào là ứng dụng ngoài cơ thể nhằm tách những tế bào cần nghiên cứu ra khỏi các tế bào khác. Các ứng dụng trong cơ thể gồm: dẫn thuốc, nung nóng cục bộ và tăng độ tương phản trong ảnh cộng hưởng từ [2, 7].

4.1. Phân tách và chọn lọc tế bào
Trong y sinh học, người ta thường xuyên phải tách một loại thực thể sinh học nào đó ra khỏi môi trường của chúng để làm tăng nồng độ khi phân tích hoặc cho các mục đích khác. Phân tách tế bào sử dụng các hạt nanô từ tính là một trong những phương pháp thường được sử dụng. Quá trình phân tách được chia làm hai giai đoạn: đánh dấu thực thế sinh học cần nghiên cứu; và tách các thực thể được đánh dấu ra khỏi môi trường bằng từ trường.

Việc đánh dấu được thực hiện thông qua các hạt nanô từ tính. Hạt nanô thường dùng là hạt ô-xít sắt. Các hạt này được bao phủ bởi một loại hóa chất có tính tương hợp sinh học như là dextran, polyvinyl alcohol (PVA),... Hóa chất bao phủ không những có thể tạo liên kết với một vị trí nào đó trên bề mặt tế bào hoặc phân tử mà còn giúp cho các hạt nanô phân tán tốt trong dung môi, tăng tính ổn định của chất lỏng từ. Giống như trong hệ miễn dịch, vị trí liên kết đặc biệt trên bề mặt tế bào sẽ được các kháng thể hoặc các phân tử khác như các hoóc-môn, a-xít folic tìm thấy. Các kháng thể sẽ liên kết với các kháng nguyên. Đây là cách rất hiệu quả và chính xác để đánh dấu tế bào. Các hạt từ tính được bao phủ bởi các chất hoạt hóa tương tự các phân tử trong hệ miễn dịch đã có thể tạo ra các liên kết với các tế bào hồng cầu, tế bào ung thư phổi, vi khuẩn, tế bào ung thư đường tiết niệu và thể golgi [7]. Đối với các tế bào lớn, kích thước của các hạt từ tính đôi lúc cũng cần phải lớn, có thể đạt kích thước vài trăm nanô mét.

Quá trình phân tách được thực hiện nhờ một gradient từ trường ngoài. Từ trường ngoài tạo một lực hút các hạt từ tính có mang các tế bào được đánh dấu. Các tế bào không được đánh dấu sẽ không được giữ lại và thoát ra ngoài. Lực tác động lên hạt từ tính được cho bởi phương trình sau:

F = 6 pi n R Dn
Trong đó n là độ nhớt của môi trường xung quanh tế bào (nước), R là bán kính của hạt từ tính, Dn là sự khác biệt về vận tốc giữa tế bào và nước.
Sơ đồ phân tách tế bào đơn giản nhất được trình bày ở hình 1. Hỗn hợp tế bào và chất đánh dấu (hạt từ tính bao phủ bởi một lớp CHHBM) được trộn với nhau để các lên kết hóa học giữa chất đánh dấu và tế bào xảy ra. Sử dụng một từ trường ngoài là một thanh nam châm vĩnh cửu để tạo ra một gradient từ trường giữ các hạt tế bào được đánh dấu lại.

4.2. Dẫn truyền thuốc
Một trong những nhược điểm quan trọng nhất của hóa trị liệu đó là tính không đặc hiệu. Khi vào trong cơ thể, thuốc chữa bệnh sẽ phân bố không tập trung nên các tế bào mạnh khỏe bị ảnh hưởng do tác dụng phụ của thuốc. Chính vì thế việc dùng các hạt từ tính như là hạt mang thuốc đến vị trí cần thiết trên cơ thể (thông thường dùng điều trị các khối u ung thư) đã được nghiên cứu từ những năm 1970 [], những ứng dụng này được gọi là dẫn truyền thuốc bằng hạt từ tính. Có hai lợi ích cơ bản là: (i) thu hẹp phạm vi phân bố của các thuốc trong cơ thể nên làm giảm tác dụng phụ của thuốc; và (ii) giảm lượng thuốc điều trị.

Hạt nanô từ tính có tính tương hợp sinh học được gắn kết với thuốc điều trị. Lúc này hạt nanô có tác dụng như một hạt mang. Thông thường hệ thuốc/hạt tạo ra một chất lỏng từ và đi vào cơ thể thông qua hệ tuần hoàn. Khi các hạt đi vào mạch máu, người ta dùng một gradient từ trường ngoài rất mạnh để tập trung các hạt vào một vị trí nào đó trên cơ thể. Một khi hệ thuốc/hạt được tập trung tại vị trí cần thiết thì quá trình nhả thuốc có thể diễn ra thông qua cơ chế hoạt động của các enzym hoặc các tính chất sinh lý học do các tế bào ung thư gây ra như độ pH, quá trình khuyếch tán hoặc sự thay đổi của nhiệt độ. Quá trình vật lý diễn ra trong việc dẫn truyền thuốc cũng tương tự như trong phân tách tế bào. Gradient từ trường có tác dụng tập trung hệ thuốc/hạt. Hiệu quả của việc dẫn truyền thuốc phụ thuộc vào cường độ từ trường, gradient từ trường, thể tích và tính chất từ của hạt nanô. Các chất mang (chất lỏng từ) thường đi vào các tĩnh mạnh hoặc động mạch nên các thông số thủy lực như thông lượng máu, nồng độ chất lỏng từ, thời gian tuần hoàn đóng vai trò quan trọng như các thống số sinh lý học như khoảng cách từ vị trí của thuốc đến nguồn từ trường, mức độ liên kết thuốc/hạt, và thể tích của khối u. Các hạt có kích thước micrô mét (tạo thành từ những hạt siêu thuận từ có kích thước nhỏ hơn) hoạt động hiệu quả hơn trong hệ thống tuần hoàn đặc biệt là ở các mạch máu lớn và các động mạch. Nguồn từ trường thường là nam châm NdFeB có thể tạo ra một từ trường khoảng 0,2 T và gradient từ trường khoảng 8 T/m với động mạch đùi và khoảng 100 T/m với động mạch cổ. Điều này cho thấy quá trình dẫn thuốc bằng hạt nanô từ tính có hiệu quả ở những vùng máu chảy chậm và gần nguồn từ trường. Tuy nhiên, khi các hạt nanô chuyển động ở gần thành mạch máu thì chuyển động của chúng không tuân theo định luật Stoke nên với một gradient từ trường nhỏ hơn quá trình dẫn thuốc vẫn có tác dụng.

Các hạt nanô từ tính thường dùng là ô-xít sắt (magnetite Fe3O4, maghemite a-Fe2O3) bao phủ xung quanh bởi một hợp chất cao phân tử có tính tương hợp sinh học như PVA, detran hoặc silica. Chất bao phủ có tác dụng chức năng hóa bề mặt để có thể liên kết với các phân tử khác như nhóm chức carboxyl, biotin,... Nghiên cứu dẫn truyền thuốc đã được thử nghiệm rất thành công trên động vật, đặc biệt nhất là dùng để điều trị u não. Việc dẫn truyền thuốc đến các u não rất khó khăn vì thuốc cần phải vượt qua hàng rào băng cách giữa não và máu, nhờ có trợ giúp của hạt nanô từ có kích thước 10-20 nm, việc dẫn truyền thuốc có hiệu quả hơn rất nhiều. Việc áp dụng phương pháp này đối với người tuy đã có một số thành công, nhưng còn rất khiêm tốn.

4.3. Tăng thân nhiệt cục bộ
Phương pháp tăng thân nhiệt cục bộ các tế bào ung thư mà không ảnh hưởng đến các tế bào bình thường là một trong những ứng dụng quan trọng khác của hạt nanô từ tính. Nguyên tắc hoạt động là các hạt nanô từ tính có kích thước từ 20-100 nm được phân tán trong các mô mong muốn sau đó tác dụng một từ trường xoay chiều bên ngoài đủ lớn về cường độ và tần số để làm cho các hạt nanô hưởng ứng mà tạo ra nhiệt nung nóng những vùng xung quanh. Nhiệt độ khoảng 42 °C trong khoảng 30 phút có thể đủ để giết chết các tế bào ung thư. Nghiên cứu về kĩ thuật tăng thân nhiệt cục bộ được phát triển từ rất lâu và có rất nhiều công trình đề cập đến kĩ thuật này nhưng chưa có công bố nào thành công trên người. Khó khăn chủ yếu đó là việc dẫn truyền lượng hạt nanô phù hợp để tạo ra đủ nhiệt lượng khi có sự có mặt của từ trường ngoài mạnh trong phạm vi điều trị cho phép. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nung nóng cục bộ là lưu lượng máu và phân bố của các mô.
 
Thực nghiệm và tính toán cho biết tỉ số phát nhiệt vào khoảng 100 mW/cm3 là đủ trong hầu hết các trường hợp thực nghiệm. Tần số và biên độ của từ trường thường dùng dao động trong khoảng f = 0,05-1,2 MHz, H &lt; 0,02 T. Mật độ hạt nanô cần thiết vào khoảng 5-10 mg/cm3. Vật liệu dùng để làm hạt nanô thường là magnetite và maghemite và có thể có tính sắt từ hoặc siêu thuận từ. Phần lớn các thí nghiệm được tiến hành với hạt siêu thuận từ. Vì vậy, ở đây chúng tôi chỉ giải thích cơ chế vật lý cho hạt siêu thuận từ. Với hạt siêu thuận từ, khi áp dụng một từ trường xoay chiều thì hạt sẽ hưởng ứng dưới tác dụng của từ trường đó. Sự hưởng ứng được thể hiện bằng chuyển động quay vật lý và quay mô men từ của hạt. Hai quá trình quay này được đặc trưng bới hai thông số là thời gian hồi phục Brown ( ) và thời gian hồi phục Néel ( ). Lượng nhiệt thoát ra được cho bởi phương trình sau:

P = m0 pi f c H2
trong đó m0 là từ thẩm của môi trường, f là tần số từ trường xoay chiều, c là thành phần lệch pha của độ cảm từ phức (độ hấp thụ), H là cường độ từ trường. Nếu chuyển động của hạt nanô từ tính lệch pha so với từ trường thì một phần năng lượng từ chuyển thành nội năng của hệ. Một chất lỏng từ được đặc trưng bởi tốc độ hấp thụ. Với chất lỏng từ tốt giá trị này có thể đạt giá trị 45 W/g tại từ trường cỡ 0,01 T [7].

4.4. Tăng độ tương phản cho ảnh cộng hưởng từ
Mặc dù mômen từ của một prôtôn rất nhỏ (1,5´10-3 ) nhưng trong cơ thể động vật có một lượng rất lớn prôtôn (hạt nhân nguyên tử hiđrô của phân tử nước, 6,6´10-19) nên có thể tạo ra một hiệu ứng có thể đo được. Nếu tác dụng một từ trường cố định có cường độ = 1 T cùng với một từ trường xoay chiều vuông góc với từ trường cố định và có tần số bằng tần số tuế sai Larmor của prôtôn thì sự hấp thụ cộng hưởng sẽ xảy ra. Với hạt nhân nguyên tử hiđrô 1H, tỉ số từ hồi chuyển Rad.s-1.T-1. Tần số tuế sai Larmor sẽ tương ứng với tần số sóng vô tuyến và có giá trị là 42,57 MHz. Khi chỉ có mặt của từ trường cố định, prôtôn sẽ tuế sai xung quanh hướng của từ trường. Khi từ trường xoay chiều được phát ra, mặc dù cường độ của từ trường này yếu hơn nhiều so với từ trường cố định nhưng vì tần số của nó đúng bằng tần số tuế sai nên mô mentừ của prôtôn sẽ hướng theo phương của từ trường xoay chiều, tức là vuông góc với từ trường cố định. Khi từ trường xoay chiều ngừng tác động, mô men từ sẽ trở lại phương của từ trường cố định (xem hình 2). Quá trình hồi phục phụ thuộc vào hai thông số, đó là, thời gian hồi phục dọc T1 và thời gian hồi phục ngang với phương từ trường cố định T2 cho bởi công thức:

mz = m[1-exp(-t/T1)]
mxy = m sin(wt+phi) exp(-t/T2)
t là thời gian và phi là hằng số pha. T1 đặc trưng cho sự mất mát nhiệt lượng ra môi trường xung quanh, T2 đặc trưng cho sự lệch pha của prôtôn với từ trường xoay chiều. Tuy nhiên sự lệch pha có thể do sự bất đồng nhất của từ trường nên giá trị T2 được thay thế bằng giá trị T2*:
1/T2* = 1/T2 + g DB/2

DB là sự biến thiên của từ trường cố định có thể do sự biến dạng địa phương của từ trường hoặc do sự thay đổi của độ cảm từ.

Các giá trị T1 và T2* có thể giảm đi khi có mặt của hạt nanô từ tính. Các hạt nanô siêu thuận từ tạo thành từ ô-xít sắt hoặc hợp chất chứa Gd thường được sử dụng như tác nhân làm tăng độ tương phản trong cộng hưởng từ. Sự có mặt của chúng làm nhiễu loạn từ trường địa phương nên làm thay đổi giá trị rất nhiều. Giá trị của cũng thay đổi nhưng ở mức độ yếu hơn. Dựa trên đặc tính của từng mô trong cơ thể, tùy loại mô mà độ hấp thụ hạt nanô mạnh hay yếu. Ví dụ, hạt nanô có kích thước 30 nm được bao phủ dextran có thể nhanh chóng đi vào gan và tì trong khi những cơ quan khác thì chậm hơn. Như vậy, mật độ hạt nanô ở các cơ quan là khác nhau, dẫn đến sự nhiễu loạn từ trường địa phương cũng khác nhau làm tăng độ tương phản trong ảnh cộng hưởng từ do thời gian hồi phục bị thay đổi khi đi từ mô này đến mô khác.

Một số nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, việc chế tạo các hạt nanô từ đã được thực hiện một vài năm trước đây bằng phương pháp hóa, phương pháp phún xạ,... Phương pháp cơ học (nghiền) cũng bắt đầu được chúng tôi thử nghiệm. Có điều đặc biệt là các nghiên cứu chế tạo hạt nanô từ đều tập trung định hướng vào các ứng dụng trong y-sinh học. Ngoài các ứng dụng để tách tế bào, dẫn thuốc, nung nóng cục bộ đã nêu ở trên, chúng tôi còn quan tâm đến việc chế tạo các hạt nanô từ mang các chất phát quang. Khi đi vào cơ thể, các hạt mang loại này sẽ khu trú tập trung tại các vùng bệnh. Kết hợp với kỹ thuật thu nhận tín hiệu phản xạ quang, dựa vào cường độ phản xạ ra bên ngoài chúng ta có thể đóan nhận được vị trí của các mầm bệnh và có các biện pháp điêù trị kịp thời. Đề tài đang được thực hiện trên cơ sở gợi ý của một số công ty khoa học. Để giải quyết bài toán này, ngoài việc nghiên cứu quá trình sinh hóa trong cơ thể, các phương pháp tăng hiệu quả dẫn truyền hạt nanô, còn phải tìm ra các vật liệu phát quang tốt có khả năng kết hợp với các hạt nanô từ.

Tài liệu tham khảo
  1. Pitkethly, M.J., Nanotoday, 7 (2004) 20.
  2. Leslie-Pelecky, D.L., V. Labhasetwar, and J. Kraus, R.H., Nanobiomagnetics, in Advanced Magnetic Nanostructures, D.J. Sellmyer and R.S. Skomski, Editors. 2005, Kluwer: New York.
  3. Tartaj, P., M.d.P. Morales, S. Veintemillas-Verdaguer, T. Gonzalez-Carreno, and C.J. Serna, J. Phys. D: Appl. Phys., 36 (2003) R182.
  4. Chikazumi, S., Physics of Ferromagnetism. Second ed, ed. J. Birman. 1997, Oxford: Clarendon Press.
  5. Rosensweig, R.E., Ferrohydrodynamics. 1985, Cambridge: Cambridge University Press.
  6. Hai, N.H., R. Lemoine, S. Remboldt, M. Strand, J.E. Shield, D. Schmitter, R.H. Kraus Jr., M. Espy, and D.L. Leslie-Pelecky, J. Magn. Magn. Mater., 293 (2005) 75.
  7. Pankhurst, Q.A., J. Connolly, S.K. Jones, and J. Dobson, J. Phys. D: Appl. Phys., 36 (2003) R167.


[/align]http://www.thuvienkhoahoc.com/tusach/Ch%E1%BA%BF_t%E1%BA%A1o_v%C3%A0_%E1%BB%A9ng_d%E1%BB%A5ng_h%E1%BA%A1t_nan%C3%B4_t%E1%BB%AB_t%C3%ADnh_trong_sinh_h%E1%BB%8Dc
[/align] 
[/align] 
[/align]
Đăng nhập để trả lời
0




19 Tháng 1 2006 - Cập nhật 16h18 GMT[/align]Độc tố của hợp chất nano[/align] [/align]







[/align]

Nhiều sản phẩm nano đã xuất hiện trên thị trường
Hiện ngành nghiên cứu độc tính của các hợp chất nano vẫn còn rất non trẻ, thế nhưng người ta đã phát hiện thấy rằng bản thân con người đã phải sống trong môi trường đó từ khá lâu rồi. [/align] [/align]Ở Pittsburgh, Allen Robinson có công trình nghiên cứu các ảnh hưởng lên sức khỏe từ các hợp chất trong môi trường.
 
Anh cùng đồng nghiệp đang chuyển dần xuống các hợp chất nano, và phát hiện thấy là con người đang phải hít  thở các loại hợp chất này mỗi ngày, từ đám khí thải công nghiệp hay khói bụi trên đường.
 
"Khi nghiên cứu khối khí này, dù trong phòng thí nghịêm sạch, nhưng quí vị sẽ nhận thấy rất nhiều thể vật chất khác nhau, kể cả các thể vật chất nano nữa."
 
"Có khoảng 5% các loại hợp chất thuộc loại nhỏ, nói chung bất cứ nơi nào chúng ta đang đứng và hít thở đều có khá nhiều các loại hợp chất khác nhau bay trong không khí."
 
Trong phòng thí nghiệm khá sạch, nhưng vẫn có khoảng trên 1.000 đơn vị vật chất, còn ngoài trời con số có thể lên đến vài chục ngàn đơn vị vật chất bé li ti.
 
"Ở Hoa Kỳ người ta bắt đầu quan ngại đến các loại hợp chất này." - Allen Robinson giải thích về hai qui định của Hoa Kỳ. - "Một mức tên là PM10 là dành cho các loại vật thể bé hơn 10mico-mét, còn mức kia PM2.5 dành cho các loại bật thể bé hơn 2.5 micro."
Và câu hỏi là con người sẽ phản ứng như thế nào khi hít chúng vào.
 
David Warheit là chuyên gia trong ngành hô hấp, nghiên cứu các chứng bệnh do khí thải gây ra, hiện đang tập trung vào ảnh hưởng từ các sợi cac-bon lên phổi của chuột.
 
Các ống nano có thể kết dính với nhau thành các khối lớn và ngăn đường hít thở, thí nghiệm của Warheit đưa các sợi này vào trong phổi, qua dung dịch nước.
 
"Ghi nhận đầu tiên là có 50% chuuột thí nghiệm bị tử vong ngay sau lần thử đầu tiên, tức là trong vòng 12 giờ đồng hồ."
"Thực tình ra khi nói về chuyện chuột thí nghiệm bị chết chúng tôi cũng không hứng thú gì cho lắm."
"Thế nhưng chúng tôi đã ngay lập tức theo đuổi vấn đề này, nghiên cứu trong quá trình 1-2 ngày tiếp theo."
"Vấn đề không phải là độc tính theo cách hiểu thông thường, mà là do các hoạt chất nano kết dính với nhau làm nghẽn đường thở." - chuyên gia Warheit nói.
 
Chuyện này nghe đúng đáng sợ, nhưng người ta vẫn chưa biết trong thực tế mọi chuyện sẽ phản ứng ra sao vì thí nghiệm này đưa các ống nano bằng đường không bình thường.
 
Giới khoa học và các nhà hoạt động môi trường vẫn đang tiếp tục tranh cãi quanh độ an toàn của các phòng thí nghiệm và xưởng sản xuất vật liệu nano.
 
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/indepth/story/2006/01/060119_nano_toxic.shtml
Đăng nhập để trả lời
0