📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Chim Ó Biển 🔒

37 trả lời, 10.734 lượt xem — Trang 2 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-18 21:30:03ct.ly>
Chương 21

Tử thần đón chào ngươi

Chàng rời khỏi sự hiện diện của cô thiếu nữ với trái tim ngập tràn cay đắng, để lại một sự ân hận sâu sắc trong nàng. Cảm giác về sự bất công cuối cùng với chàng cướp biển đã xâm chiếm nàng đến mức nó trở thành thước đo để nàng nhìn nhận lại những bất công trước đây chàng đã phải chịu đựng vì nàng. Cũng có thể tâm trí đang xúc động của cô gái đã làm sai lệch đi sự thực, phóng đại nó lên cho tới khi dường như nàng cảm thấy mọi thống khổ và lận đận liên quan tới câu truyện này đều là kết quả từ tội lỗi thiếu niềm tin của nàng mà ra.

Và bởi mọi sự hối lỗi chân thành đều dẫn tới khao khát cháy bỏng muốn chuộc tội, với cô thiếu nữ cũng không phải là ngoại lệ. Nếu chàng không bỏ đi đột ngột như vậy, rất có thể chàng đã được chứng khiến nàng quỳ xuống xin chàng tha thứ cho những bất công mà nàng đã gây ra cho chàng, thú nhận sự bất xứng và thấp hèn của nàng. Thế nhưng vì cơn bất bình rất phải lẽ đã khiến chàng bỏ đi, cô thiếu nữ chỉ còn biết ngồi nghĩ đến những lời nói cô sẽ dùng để cầu xin sự tha thứ khi chàng quay lại.

Thế nhưng giờ lại giờ trôi qua, và vẫn không có bóng dáng chàng cướp biển. Và rồi, nàng chợt rùng mình choáng váng trước ý nghĩ rằng có lẽ chẳng bao lâu nữa chiếc tàu của Sir John Killigrew sẽ tới tấn công. Trong tâm trạng khổ sở hiện tại, nàng khó mà cảm thấy vui mừng trước ý nghĩ đó. Nàng chợt nhận ra lúc này nàng chỉ bận tâm đến hậu quả sẽ tới với Sir Oliver. Liệu có giao chiến không, liệu chàng có ngã xuống không trong lúc giao tranh, hoặc dưới tay những người Anh, hoặc dưới tay đám hải tặc mà chàng đã phản bội vì nàng, có thể chàng sẽ ngã xuống mà không nghe nàng thú tội, không nói lời tha thứ mà tâm hồn nàng đang khao khát đến thế ?

Vào khoảng nửa đêm, khi không chịu nổi sự ám ảnh lâu hơn được nữa, nàng trở dậy và khẽ bước tới lối ra. Nàng thận trọng khẽ vén tấm rèm che lên, và đúng lúc định bước ra ngoài, nàng đụng phải một thân người nằm ngang qua ngưỡng cửa. Nàng bật lùi lại, suýt kêu lên thành tiếng ; rồi cúi xuống nhìn, và nhờ vào những tia sáng lờ mờ của những ngọn đèn treo trên cột buồm chính và boong đuôi, nàng nhận ra đó là Sir Oliver, và chàng đang ngủ. Nàng không hề để ý đến hai gã Nubia đang đứng im như tượng đứng gác. Cô thiếu nữ cúi xuống bên cạnh chàng cướp biển, rồi từ tốn và rất khẽ khàng quỳ xuống bên cạnh chàng. Đôi mắt cô đẫm lệ - những giọt nước mắt trào ra từ sự ngỡ ngàng và cảm kích trước một sự trung thành đến vậy. Cô không biết chàng đã ngủ như vậy tối hôm trước. Nhưng chỉ cần nàng bắt gặp chàng ở đây lúc này là đủ. Nàng xúc động sâu sắc khi thấy người đàn ông nàng đã luôn nghi ngờ và hiểu lầm ngay cả trong giấc ngủ cũng vẫn dùng thân mình như lá chắn để che chở bảo vệ cho nàng.

Cô thiếu nữ bật nức nở, và nghe thấy động, chàng cướp biển, luôn cảnh giác ngay cả trong giấc ngủ, lập tức nhẹ nhàng ngồi bật dậy ; và thế là hai người nhìn thẳng vào mắt nhau, khuôn mặt diều hâu rám nắng của chàng nằm ngang với khuôn mặt trắng muốt của nàng.

« Có chuyện gì vậy ? » chàng thì thầm.

Cô thiếu nữ lập tức lùi lại, trở nên luống cuống trước câu hỏi. Rồi cô gái trấn tĩnh trở lại, và như mọi phụ nữ khác, tìm cách lảng tránh dấu diếm điều mà cô tới tìm kiếm khi mà cơ hội đã được trao cho cô – « Ngài có nghĩ, » cô gái thở không ra hơi, « rằng Lionel đã tới tàu của Sir John rồi không ? »

Chàng liếc nhanh về hướng chiếc divan dưới mái che nơi Basha đang ngủ. Tất cả vẫn im ắng. Hơn nữa, câu hỏi đã được hỏi bằng tiếng Anh. Chàng đứng dậy, đưa tay ra giúp cô gái đứng lên. Sau đó chàng ra hiệu cho nàng quay vào trong khoang, rồi cùng theo sau nàng vào trong.

« Lo lắng khiến em không ngủ được phải không ? » chàng nói, nửa hỏi, nửa khẳng định.

« Quả có thế, » nàng đáp.

« Không cần lo lắng, » chàng trấn an nàng. « Sir John hẳn sẽ không hành động cho tới khi đã khuya, để có thể chắc chắn khiến chúng ta bất ngờ. Tôi tin chắc rằng Lionel đã tới được chỗ ông ta. Quãng đuờng phải bơi cũng không quá xa. Quả thật, một khi đã qua chỗ ngoặt, cậu ta có thể lên bờ chạy tiếp cho tới khi đến sát chiếc tàu. Hiển nhiên là cậu ta đã tới nơi. »

Cô gái ngồi xuống, cái nhìn của cô lẩn tránh chàng ; nhưng ánh đèn chiếu lên mặt cô cho chàng thấy những vệt nước mắt còn mới.

« Khi Sir John tới sẽ có giao chiến chứ ? » nàng hỏi.

« Có lẽ vậy. Nhưng có gì thay đổi ? Chúng ta sẽ bị tóm chặt – như có kẻ đã nói hôm nay – trong một chiếc bẫy như chiếc bẫy Andrea Doria đã tóm Dragut tại Jerba, chỉ khác ở chỗ trong khi gã Dragut ma lanh đã tìm được đường thoát cho những chiếc galley của gã, ở đây không có đường nào thoát. Vậy hãy can đảm lên, giờ phút giải thoát cho em đã tới gần rồi. »

Chàng ngừng lại, và rồi với giọng nhẹ nhàng hơn, gần như khẩn thiết, « Lời cầu nguyện của tôi, » chàng nói thêm, « là sau này, trong một tương lai đầy hạnh phúc, vài tuần vừa trôi qua sẽ dần chỉ còn là một cơn ác mộng với em. »

Đổi lại lời cầu nguyện đó cô gái không có câu trả lời nào. Nàng ngồi trầm tư, trán hơi cau lại.

« Tôi ước gì việc này có thể thực hiện mà không cần giao chiến, » nàng nói, và thở dài buồn bã.

« Em không cần phải sợ, » chàng trấn an cô gái. « Tôi sẽ đề phòng cẩn thận cho em. Em sẽ ở lại trong này cho tới khi tất cả đã kết thúc và lối vào sẽ được bảo vệ bởi vài người mà tôi có thể tin cậy. »

« Ngài hiểu lầm tôi, » nàng trả lời, và vụt ngước lên nhìn chàng. « Chẳng lẽ ngài nghĩ tôi lo sợ cho mình sao ? » Nàng lại ngừng lại, rồi đột ngột hỏi, « Rồi ngài sẽ ra sao ? »


« Cảm ơn em vì đã nghĩ đến tôi, » chàng nghiêm nghị trả lời. « Hiển nhiên tôi sẽ nhận được những gì xứng đáng. Chỉ mong khi nó đến hãy đến thật nhanh. »

« A, không, không ! » nàng kêu lên. « Không phải như thế ! » Và bật dậy kinh hoàng.

« Còn gì khác nữa ? » chàng hỏi, và mỉm cười. « Liệu người ta có thể dành cho tôi kết cục nào khá hơn không ? »

« Ngài sẽ sống để trở về nước Anh, » câu nói của cô gái khiến chàng kinh ngạc. « Sự thật phải được sáng tỏ, và công lý được thực hiện cho ngài. »

Chàng nhìn nàng với cái nhìn chăm chú và tìm kiếm khiến nàng quay đi né tránh. Rồi chàng phá lên cười gằn.

« Chỉ có một thứ công lý duy nhất dành cho tôi ở nước Anh thôi, » chàng nói. « Đó là thứ công lý thực hiện bằng dây thừng. Hãy tin tôi, thưa tiểu thư, tôi đã quá tiếng tăm để có thể hy vọng khoan hồng. Tốt nhất là kết thúc ngay tại đây, ngay đêm nay. Hơn nữa, » chàng nói thêm, vẻ diễu cợt biến mất khỏi chàng, giọng nói của chàng trở nên u ám, « em hãy nghĩ tới hành động phản trắc của tôi lúc này với thuộc hạ của mình, những người, cho dù họ có là thế nào đi nữa, đã cùng tôi vào sinh ra tử hàng chục lần và ngay hôm nay thôi đã thể hiện sự yêu mến và trung thành dành cho tôi còn lớn hơn sự phục tùng dành cho Basha. Rất có thể tôi đã đẩy họ vào chỗ chết. Liệu tôi có thể sống mà còn danh dự không ? Họ có thể chỉ là những kẻ đê tiện khốn kiếp với em và người của em, nhưng với tôi họ là những con ó biển của tôi, chiến binh của tôi, những người bạn đồng hành trung thành can trường của tôi, và tôi tôi sẽ chỉ là một con chó bẩn thỉu nếu tôi sống sót cái chết mà tôi đã đẩy họ vào. »

Trong lúc cô gái lắng nghe và ý thức được từ những lời chàng nói một điều cho đến lúc đó cô vẫn chưa hề nhận ra, đôi mắt nàng bất thần mở to ghê sợ.

« Chẳng lẽ đó là cái giá phải trả cho tự do của tôi sao ? » nàng kinh hãi hỏi chàng.

« Tôi tin là không, » chàng đáp. « Tôi đã có một ý tưởng rất có thể sẽ giúp tránh được nó. »

« Và cứu cả tính mạng của ngài nữa ? » nàng hấp tấp hỏi.

« Tại sao lại phí công bận tâm đến một thứ vô dụng như thế ? Tính mạng của tôi coi như đã hết rồi. Nếu tôi quay về Algiers chắc chắn người ta sẽ treo cổ tôi lên. Asad sẽ lưu tâm đến việc này, và ngay cả những con ó biển của tôi cũng không thể cứu tôi khỏi số mệnh của mình. »

Cô gái lại gieo mình ngồi xuống divan, và ngồi đó vặn vẹo hai tay trong một cử chỉ tuyệt vọng.

« Tôi thấy rồi, » nàng nói. « Tôi thấy rồi. Tôi đã mang đến số phận này cho ngài. Khi ngài gửi Lionel đi báo tin ngài đã tự nguyện đánh đổi tính mạng của ngài để trả tôi về với người của mình. Ngài không có quyền làm thế mà không hỏi ý kiến tôi trước. Ngài không có quyền có rằng tôi sẽ chấp nhận một giải pháp như thế. Tôi sẽ không chấp nhận sự hy sinh này. Tôi không chấp nhận, Sir Oliver. »

« Quả thật, em không có sự lựa chọn, tạ ơn Chúa ! » chàng trả lời. « Nhưng em đã nhầm trong kết luận của mình. Chính tôi và chỉ mình tôi đã quàng số phận này lên cổ mình. Đó là kết quả của chính những hành động của tôi. Nó quay lại chống lại tôi như cái ác luôn quay lại rơi xuống đầu những kẻ gây ra cái ác. » Chàng nhún vai như để chấm dứt cuộc tranh luận. Rồi với một giọng khác hẳn, một giọng nhẹ nhàng, rụt rè, « có lẽ sẽ là quá nhiều khi hỏi, » chàng nói, « liệu em có thể tha thứ cho tôi những khổ ải tôi đã mang đến cho em không ? »

« Tôi nghĩ, » cô gái trả lời chàng, « chính tôi mới là người cần cầu xin sự tha thứ của ngài. »

« Của tôi ? »

« Vì sự thiếu lòng tin của tôi, nguồn gốc gây ra tất cả. Vì tôi đã quá sẵn lòng nghĩ xấu về ngài năm năm trước, vì đã đốt mà không đọc lá thư của ngài cũng như bằng chứng về sự vô tội của ngài đi cùng nó. »

Chàng mỉm cười trìu mến với nàng. « Tôi nghĩ rằng bản năng của em đã dẫn dắt em. Cho dù tôi đã không gây ra tội ác đã bị gán cho tôi, bản năng của em biết tôi là kẻ xấu xa ; và bản năng của em đã có lý, vì tôi là kẻ xấu xa – tôi hẳn là vậy. Đó là những lời em đã nói. Nhưng đừng nghĩ rằng tôi diễu cợt em bằng chúng. Tôi đã đi đến chỗ nhận ra sự đúng đắn của chúng. »

Nàng đưa hai tay về phía chàng. « Nếu ... nếu tôi nói rằng tôi đã nhận ra sự sai lầm của chúng ? »

« Tôi phải hiểu rằng đó là sự thương hại mà trái tim thánh thiện của em dành cho một kẻ trong bước đường cùng như tôi. Bản năng của em không hề sai lầm. »

« Có đấy ! Có đấy ! »

Nhưng chàng không để bị lay chuyển khỏi kết luận của mình. Chàng lắc đầu, khuôn mặt tối sầm. « Không người đàn ông nào không xấu xa lại có thể cư xử với em như tôi đã làm, cho dù bị khiêu khích đến thế nào. Lúc này tôi đã nhận ra rõ rằng – như những người đang sống những khoảnh khắc cuối cùng của đời mình nhận ra những thứ vẫn bị che phủ trước đó. »

« Ôi, tại sao ngài cứ luôn nhắc tới cái chết vậy ? » nàng kêu lên tuyệt vọng.

« Đâu có, » chàng trả lời, vụt quay trở lại với phong thái bình thường của mình. « Đó là cái chết luôn khăng khăng bám lấy tôi. Nhưng ít nhất tôi sẽ đi gặp nó mà không hề sợ hãi hay hối tiếc. Tôi đối mặt với nó như tất cả chúng ta đều phải đối mặt với điều không thể tránh khỏi – quà tặng trong tay số phận. Và tôi thật thanh thản - gần như vui vẻ - vì sự tha thứ của em. »

Cô thiếu nữ đột ngột đứng dậy, đến bên chàng. Nàng nắm lấy tay chàng, và đứng sát vào người chàng, ngước nhìn lên khuôn mặt chàng.

« Chúng mình cần tha thứ cho nhau, anh và em, Oliver, » nàng nói. « Và vì sự tha thứ xoá đi tất cả, hãy... hãy để những gì chắn giữa chúng mình trong năm năm qua được xoá đi. »

Chàng nín thở trong lúc nhìn xuống khuôn mặt trắng bệch, căng thẳng của nàng.

« Chẳng lẽ chúng mình không thể quay trở lại năm năm sao ? Chẳng lẽ chúng mình không thể quay trở về nơi chúng mình đã đứng ngày nào ở Godolphin Court sao ? »

Khuôn mặt vừa vụt sáng bừng lên của chàng dần dần trở lại tối sầm. Đôi mắt chàng u uất vì buồn bã và tuyệt vọng.

« Kẻ nào đã sai lầm cần chịu hậu quả sai lầm của mình- và cả những thế hệ tiếp sau anh ta cũng vậy. Không thể nào quay trở lại quá khứ được. Cánh cổng của nó đã bị khoá chặt với chúng ta. »

« Thế thì cứ để nó như vậy. Hãy cùng quay lưng lại với quá khứ đó, anh và em, và hãy cùng nhau làm lại từ đầu, và như thế bù đắp cho nhau những gì sự điên rồ của chúng ta đã khiến chúng ta mất đi trong những năm qua. »

Chàng đặt hai tay lên hai vai nàng, giữ nàng như vậy cách một tầm cánh tay, ngắm nhìn nàng với cái nhìn thật dịu dàng.

« Cô bé đáng yêu ! » chàng thì thầm, và thở dài nặng nề. « Chúa ơi ! Chúng ta đã có thể hạnh phúc biết bao nếu không có định mệnh trớ trêu đó... » Chàng vụt ngừng lại. Hai tay chàng rời khỏi vai cô gái buông rơi xuống hai bên sườn, chàng quay người đi, giọng nói và điệu bộ đầy bực bội. « Tôi đa cảm quá. Sự thương hại ngọt ngào của em đã làm tôi mềm lòng đến mức tôi đã gần như nói đến tình yêu ; và tôi biết làm gì với tình yêu ? Tình yêu thuộc về cuộc sống, tình yêu là cuộc sống ; trong khi tôi ... Tử thần đón chào ngươi ! »

« A, không, không ! » nàng lại níu lấy chàng bằng đôi tay run rẩy, đôi mắt lạc đi.

« Quá muộn rồi, » chàng trả lời cô gái. « Không cây cầu nào có thể bắc qua được vực thẳm tôi đã đào cho mình. Tôi cần đi xuống nó một cách vui vẻ như ý Chúa. »

« Vậy thì, » nàng kêu lên như mê sảng, « em sẽ xuống cùng anh. Cuối cùng, ít nhất chúng mình sẽ được ở bên nhau. »

« Lại là một cơn mê sảng đêm hè rồi ! » chàng phản đối, thế nhưng ngay cả giọng nói pha lẫn trách móc của chàng vẫn thật dịu dàng. Chàng vuốt ve mái tóc vàng óng đang ngả vào vai mình. « Làm thế sẽ giúp gì được cho tôi ? » chàng hỏi nàng. « Không lẽ em muốn làm hỏng nốt những giây phút cuối cùng của tôi sao - tước mất của cái chết sự oai hùng của nó ? Không, Rosamund, bằng cách tiếp tục sống em sẽ giúp được tôi nhiều hơn. Hãy trở về nước Anh, và hãy công bố rộng rãi sự thật về những gì em đã biết. Hãy nhận lấy trách nhiệm giúp tôi gột rửa danh dự của mình khỏi vết nhơ đã làm hoen ố nó, hãy công bố sự thật về hoàn cảnh đã đẩy tôi tới chỗ trở thành một kẻ bội giáo và một tên hải tặc. » Chàng buông nàng ra. « Yên nào ! Có chuyện gì vậy ? »

Từ bên ngoài một tiếng hét lớn bất thần vang lên, « Dậy ! Chuẩn bị chiến đấu ! Hola ! Balâk ! Balâk ! »

« Đã tới lúc rồi, » chàng nói, và đột ngột rời khỏi cô thiếu nữ lao tới cửa ra vào gạt phăng tấm rèm che sang một bên.


(hết chương 21)

Đã mang vào Thư viện đến chương 21 rồi

Thân ái
Trop de schtroumpfs schtroumpfent le schtroumpf
(Schtroumpf-lunette)
0
Chương 22

Nộp mình

Trên lối đi dọc thân tàu giữa hai dãy nô lệ vang lên tiếng bước chân vội vã. Ali, người đã thay thế Larocque trên đỉnh đồi, bất thần lao lên boong đuôi hét lớn.

« Thuyền trưởng ! Thuyền trưởng ! Chúa công ! Dậy mau, nếu không chúng ta nguy mất ! »

Suốt dọc thân tàu vang lên tiếng lục đục ồn ào của đám cướp biển đang trở dậy. Một giọng cấp báo hoảng hốt vang lên đâu đó phía boong mũi. Rồi đám đông nhốn nháo dạt sang hai bên, đích thân Asad xuất hiện với Marzak bám theo sau.

Từ phía mũi tàu Biskaine và Othmani cũng hối hả chạy lại, cũng như Vigitello và Jasper – gã cải đạo mới nhất - từ giữa thân tàu cùng một đám cướp biển đang hốt hoảng.

« Giờ lại có chuyện gì nữa đây ? » Basha hỏi.

Ali vừa báo tin vừa hổn hển thở không ra hơi. « Chiếc galleon đã nhổ neo. Nó đang rời khỏi vịnh. »

Asad nắm chặt lấy chòm râu hầm hừ. « Chẳng lẽ sự có mặt của chúng ta tại đây đã bị chúng phát hiện ? »

« Nếu không tại sao nó lại đột ngột nhổ neo vào giữa đêm khuya như vậy ? » Biskaine nói.

« Nếu không thì tại sao, quả vậy ? » Asad lặp lại, rồi quay người về phía Oliver đang đứng trước ngưỡng cửa vào khoang đuôi. « Ngươi nghĩ sao, Sakh el Bahr ? » đức ông hỏi chàng cướp biển.

Sakh el Bahr bước lại gần, nhún vai. « Có gì để nói đây ? Cần phải làm gì đây ? » chàng hỏi. « Chúng ta chỉ có thể đợi. Nếu sự có mặt của chúng ta bại lộ thì quả là chúng ta đã gọn gàng trong bẫy, và tối nay sẽ là màn kết với tất cả chúng ta. »

Giọng nói của chàng lạnh như băng, gần như khinh khỉnh, và trong khi nó khiến không ít kẻ lắng nghe lo lắng thì nó làm Marzak phát hoảng.

« Cầu cho xương cốt mi mục ruỗng ra, đồ tiên tri độc miệng ! » cậu thiếu niên gào lên, và đã định thêm nữa nhưng Sakh el Bahr đã cắt lời cậu ta.

« Cái gì đã được tiền định đã được tiền định ! » chàng đáp lại lớn tiếng với vẻ chê trách.

« Quả vậy, quả vậy, » Asad đồng ý, bám lấy sự an ủi mê tín, « nếu chúng ta được dành cho người làm vườn, người làm vườn sẽ trảy chúng ta. ».

Ít cuồng tín và thực tế hơn là lời khuyên của Biskaine.

« Tốt nhất nên hành động theo giả thiết rằng chúng ta đã bị phát hiện, và lập tức ra khơi trong khi vẫn còn chưa muộn. »

« Nhưng làm thế sẽ khiến điều mới chỉ là nghi ngờ trở nên chắc chắn, » Marzak chen vào, run sợ hơn lúc nào hết. « Làm thế có nghĩa là chạy đi đón nguy hiểm. »

« Không phải thế ! » Asad lớn tiếng đầy tin tưởng. « Tạ ơn Allah đã cho chúng ta một đêm lặng gió. Hầu như không có lấy một làn gió nhẹ. Chúng ta có thể chèo được mười dặm trong lúc chúng chỉ có thể đi được một dặm bằng buồm. »

Một tràng lầm rầm tán thưởng lan rộng trong đám sĩ quan và thuỷ thủ.

« Chỉ cần chúng ta thoát được an toàn qua đoạn thắt cổ chai và chúng sẽ không bao giờ bắt kịp được chúng ta, » Biskaine lên tiếng.

« Nhưng đại bác của chúng thì có thể, » Sakh el Bahr bình thản góp ý để làm nguội bớt sự tự tin của đám cướp bỉên. Đầu óc linh hoạt của chàng cũng đã nhìn ra một cơ hội như vậy để thoát khỏi cạm bẫy, nhưng chàng đã hy vọng nó không hiển nhiên đến thế với những kẻ khác.


« Đó là sự mạo hiểm chúng ta cần chấp nhận, » Asad đáp. « Chúng ta cần đặt niềm tin vào bóng tối. Chùng chình ở đây sẽ là chờ đợi sự huỷ diệt chắc chắn. » Đức ông ra lệnh cho đám sĩ quan. « Ali, tập hợp những kẻ cầm lái lại. Khẩn trương lên ! Vigitello, hãy dùng chiếc roi của ngươi đánh thức bọn nô lệ dậy. » Sau đó, trong lúc tiếng còi hiệu của gã quản vang lên và những chiếc roi của đám thủ hạ của gã rít không khí quất xuống lưng đám nô lệ vẫn còn chưa tỉnh ngủ lẫn với những tiếng động khác vang lên từ khắp chiếc tàu, Basha lại quay về phía Biskaine. « Ngươi hãy đi lên mũi tàu, » đức ông ra lệnh, « và chỉ huy người của ta. Lệnh cho chúng sửa soạn vũ khí sẵn sàng cho trường hợp kẻ địch áp mạn. Đi ngay ! » Biskaine cúi chào và chạy đi. Giữa những tiếng động ồn ào của cuộc chuẩn bị, tiếng Asad vang lên sang sảng.

« Lính bắn nỏ,lên cột buồm ! Pháo thủ tới các khẩu súng ! Sửa soạn sẵn sàng ! Tắt hết ánh sáng ! »

Chỉ lát sau ngọn đèn đêm trên boong đuôi đã được dập tắt, ngay cả ngọn đèn đặt trong khoang đuôi cũng bị một sĩ quan của Basha chạy vào dập đi. Chỉ ngọn đèn treo ở cột buồm được chừa lại phòng khi khẩn cấp ; nhưng nó được hạ xuống đặt trên mặt boong và che lại.


Thế là chiếc galeasse chìm vào bóng đêm tối đen như mực. Rồi sau đó, khi mắt người đã dần dần làm quen với bóng tối, màn đêm trở nên lờ mờ. Một lần nữa người ta lại có thể nhận ra hình dáng của người và vật trong buổi tối mùa hè.

Sau lúc hỗn loạn ban đầu, đám cướp biển chiếm lĩnh vị trí của mình với sự yên lặng và bình tĩnh đáng kinh ngạc. Không kẻ nào nghĩ đến việc trách cứ Basha và Sakh el Bahr vì đã trì hoãn cho tới tận giây phút cận kề hiểm nguy này mới làm theo biện pháp mà tất cả bọn chúng đã yêu cầu thực hiện ngay khi chúng nghe nói tới sự có mặt gần đó của chiếc tàu thù địch. Xếp thành hàng ba, chúng đứng theo đội hình chiến đấu dọc hai bên mạn từ mũi tới đuôi ; ở hàng đầu là lính bắn nỏ, phía sau là bọn lính cận chiến, vũ khí tuốt trần lóe sáng trong màn đêm. Chúng đứng chen đầy hai bên mạn và trèo lên trên giằng ngang của cột buồm. Trên boong đuôi, ba gã pháo thủ đứng cạnh mỗi khẩu pháo nhỏ trong số hai khẩu đặt ở đó, khuôn mặt của chúng hơi sáng lên dưới ánh sáng của những chiếc bùi nhùi đã được thắp.


Asad đứng phía trước đám tuỳ tùng, ra những mệnh lệnh ngắn gọn bằng giọng nghiêm nghị, và Sakh el Bahr, đứng sau lưng đức ông, tựa người vào vách gỗ của khoang đuôi với Rosamund ở sát bên, quan sát thấy rằng Basha đã cẩn trọng tránh không trao một trọng trách nào cho chàng trong cuộc chuẩn bị.

Những gã thuỷ thủ cầm lái đã chèo vào vị trí, và những mái chèo dùng lái tàu kêu lên cọt kẹt. Một mệnh lệnh ngắn của Asad vang lên, và cả đám nô lệ đồng loạt cử động, cúi người về phía trước để nâng mái chèo lên. Một lát sau, rồi một mệnh lệnh nữa vang lên, tiếng roi quất vang lên khô khốc trong màn đêm dọc thân tàu, và chiếc trông giữ nhịp bắt đầu vang lên đều đều. Đám nô lệ ngả người lại sau, và trong tiếng mái chèo đập nước, chiếc galeasse to lớn tiến lên phía trước hướng về phía lối ra thắt cổ chai.

Đám quản đi đi lại lại dọc lối đi giữa thân tàu, vung roi quất không thương tiếc để thúc giục đám nô lệ dồn hết sức lực. Chiếc tàu lao nhanh dần. Lối ra có vẻ mỗi lúc một rộng hơn khi họ tiến lại gần. Phía ngoài trải rộng mặt biển tối sẫm bình yên lặng sóng.

Rosamund căng thẳng đến mức hầu như nín thở. Cô thiếu nữ đặt một tay lên vai Sakh el Bahr.

« Liệu chúng ta có bỏ xa họ không ? » nàng thì thẩm hỏi với giọng run rẩy.

« Tôi cầu mong là không, » chàng trả lời. « Nhưng đó chính là điều tôi e ngại. Hãy nhìn xem ! » chàng kêu lên, đưa tay ra chỉ.

Họ đã vượt qua mũi doi đất. Họ đã ra khỏi vũng biển, và bất thình lình hai người nhìn thấy hình dáng tối sẫm của chiếc galleon, nổi lên với chừng vài chục đốm sáng rải rác, về phía mạn trái của họ.

« Nhanh nữa ! » Asad quát lớn. « Hãy chèo vì mạng sống của chúng mày, đồ lợn tà đạo ! Hãy quất không thương tiếc xuống chúng ! Bắt đám chó đó gập người xuống mà chèo, và bọn Anh sẽ không bao giờ bắt kịp chúng ta ! »

Những ngọn roi rít lên quật xuống ở dưới thân tàu, được đáp lại bằng những tràng rên rỉ của đám nô lệ bị hành hạ, những người này vốn đã dốc đến chút sức lực cuối cùng trong cố gắng tàn khốc khiến họ xa dần khỏi cơ hội được giải thoát và lấy lại tự do. Chiếc trống giữ nhịp vang lên mỗi lúc một gấp hơn, và cũng gấp gáp hơn là tiếng mái chèo đập nước và nhịp thở hổn hển đau đớn của những kẻ chèo thuyền.

« Giữ nhịp ! Giữ nhịp ! » Asad quát lên tàn nhẫn. “Hãy cứ để chúng cháy phổi – dù sao thì cũng chỉ là những lá phổi tà đạo - chỉ cần chúng giữ vững nhịp chèo hiện tại trong một giờ nữa.”

“Chúng ta đang bứt ra xa!” Marzak reo lên mừng rỡ. “Tạ ơn Allah!”

Quả đúng như vậy. Ánh sáng hắt lại từ chiếc galleon mờ dần. Cho dù đã giương hết buồm, nó vẫn có vẻ như đứng im lìm vì gió lúc đó quá yếu. Và trong lúc chiếc galleon chững lại, chiếc galeasse vùn vụt lao đi với tốc độ chưa từng có kể từ khi Sakh el Bahr chỉ huy nó, vì Sakh el Bahr chưa bao giờ quay lưng lại phía kẻ thù cho dù có mạnh đến đâu.

Bất thần một tiếng quát lớn ra lệnh dừng lại vọng tới từ phía chiếc galleon. Asad phá lên cười, và trong bóng tối ông ta giơ nắm đấm về phía đối phương mà nguyền rủa nhân danh Allah và đấng tiên tri. Thế rồi, để trả lời cho tràng nguyền rủa của đức ông, mạn chiếc galleon loé lửa; màn đêm yên tĩnh bị xé toang bởi tiếng đại bác gầm vang, và một vật gì đó đập nước ngay trước mũi chiếc tàu Hồi giáo làm vọt lên một cột nước.

Lo sợ, Rosamund nép sát hơn vào Sakh el Bahr. Nhưng Asad lại phá lên cười.

“Không cần phải e ngại tài thiện xạ của chúng,” ông ta lớn tiếng. “Chúng không thể thấy chúng ta. Ánh sáng của chính chúng sẽ làm chúng loá mắt. Tiếp tục chèo! chèo!”

“Ông ta có lý,” Sakh el Bahr nói. “Nhưng sự thật là vì họ không dám bắn chìm chúng ta vì họ biết em đang ở trên tàu.”

Cô thiếu nữ nhìn ra phía biển, và nhận thấy ánh sáng của chiếc tàu bạn bè mỗi lúc một xa dần về phía đuôi tàu.

“Chúng ta đang bỏ xa họ,” cô kêu lên khổ sở. “Giờ thì họ không thể đuổi kịp chúng ta nữa.”

Chính Sakh el Bahr cũng e sợ điều này. Hơn thế nữa. Chàng biết rõ trừ khi có phép lạ nào đó khiến gió đột ngột thổi mạnh, kết quả sẽ như cô thiếu nữ vừa nói. Và từ tình thế tuyệt vọng chợt nảy ra một quyết định - một quyết định cũng tuyệt vọng như chính hoàn cảnh đã làm nảy sinh ra nó.

“Có một cơ hội,” chàng nói với cô gái. “Nhưng đó sẽ là đặt cược cái sống và cái chết vào một lần gieo xúc xắc.”


“Vậy hãy nắm lấy nó,” nàng trả lời lập tức. “Cho dù vận may có chống lại chúng ta, chúng ta cũng sẽ không phải là kẻ thua thiệt.”


“Em đã sẵn sàng đón nhận mọi chuyện rồi chứ?” chàng hỏi lại nàng.

“Chẳng phải em đã nói là đêm nay em sẵn sàng theo anh xuống vực thẳm sao? Đừng phí thời gian vào lời nói nữa!”

“Sẽ như vậy,” chàng nghiêm nghị nói, bước đi một bước rồi dừng lại. “Tốt nhất em nên đi theo tôi,” chàng nói.

Cô thiếu nữ ngoan ngoãn đi theo, và một số kẻ có mặt trố mắt ra nhìn hai người đi dọc xuống thân tàu, thế nhưng không kẻ nào cản trở cô gái. Lúc này chúng đã có quá đủ chuyện để bận tâm.

Chàng cướp biển mở ra một con đường cho cô thiếu nữ theo sau, vượt qua đám cai đứng trên đám nô lệ đang tàn nhẫn vung roi thúc giục, và cứ như thế dẫn cô đến giữa thân tàu. Tới đây chàng cầm lấy chiếc đèn đã bị che lại vẫn còn thắp sáng, và vừa nhìn thấy ánh đèn loé sáng lên, Asad gầm lên ra lệnh dập tắt nó đi lập tức. Nhưng Sakh el Bahr chẳng hề đoái hoài gì đến mệnh lệnh này. Chàng bước tới bên cột buồm chính, nơi các thùng thuốc súng đã được xếp. Một thùng đã được mở sẵn phòng khi đám pháo thủ cần đến. Nắp thùng chưa lật ra đậy hờ phía trên. Sakh el Bahr hất chiếc nắp ra; sau đó chàng nhấc lồng đèn lên, và hạ ngọn lửa trần xuống ngay sát thùng thuốc súng.

Một tiếng la hoảng bật lên từ những kẻ đã theo dõi hành động của chàng. Nhưng át đi tất cả là một giọng nghiêm trang lạnh lùng ra lệnh:

“Dừng chèo ngay!”

Chiếc trống giữ nhịp im bặt, nhưng đám nô lệ theo đà vẫn chèo thêm một nhịp nữa.

“Dừng chèo!” chàng cướp biển lại ra lệnh lần nữa. “Asad!” chàng gọi. “Lệnh cho chúng dừng lại, nếu không tôi sẽ gửi ngài lập tức đi gặp Shaitan.” Và chàng hạ ngọn đèn xuống cho tới khi nó nằm ngang miệng thùng thuốc súng đã mở toang.

Lập tức các mái chèo dừng lại. Nô lệ, cướp biển, các sĩ quan, và cả chính Asad cùng sững người bất động, tất cả chăm chăm nhìn vào khuôn mặt lạnh lùng được chiếu sáng bởi ngọn đèn, lúc này đang đe doạ huỷ diệt tất cả bọn họ. Một vài kẻ hẳn cũng thoáng nghĩ tới việc lao vào chàng; nhưng nỗi sợ hãi đã giữ chân chúng lại, e ngại rằng chỉ cần một cử động về phía chàng cướp biển có thể đẩy nhanh hơn vụ nổ sẽ gửi tất cả chúng sang thế giới bên kia.

Cuối cùng Asad nói với chàng cướp biển, giọng ông ta run lên vì căm tức.

“Cầu Allah quật chết mi đi! Mi bị quỷ ám rồi chăng?”

Marzak, đứng bên cạnh cha, đặt một mũi tên lên chiếc nỏ cậu ta vừa vớ lấy. “Tại sao tất cả các người cứ đứng đực ra mà nhìn như thế?” cậu ta hét lớn. “Chém chết hắn đi!” Vừa nói cậu này vừa giương nỏ lên. Nhưng người cha cản ông con trai lại, biết quá rõ kết quả tất yếu sẽ theo sau.

“Nếu có ai bước một bước lại gần tôi, chiếc đèn này sẽ rơi thẳng vào thùng thuốc súng,” Sakh el Bahr nghiêm giọng. “Còn nếu ngươi bắn ta như ngươi định làm, Marzak, kết quả cũng sẽ tương tự. Hãy biết điều, trừ khi các người nóng lòng muốn thấy thiên đường của đấng tiên tri đến vậy.”

“Sakh el Bahr!” Asad hét lớn, và từ căm giận giọng đức ông chuyển sang đấu dịu. Đức ông đưa tay làm ra vẻ cầu khẩn về phía viên thuyền trưởng mà số phận ông ta đã thầm kết án. “Sakh el Bahr, ta van ngươi hãy vì bánh mì và muối chúng ta đã cùng chia sẻ mà trở lại tỉnh táo, hỡi con trai của ta.”

“Tôi hoàn toàn tỉnh táo,” câu trả lời vang lên, “và chính vì thế tôi không có tâm trí nào chấp nhận số phận dành cho tôi tại Algiers – cũng để tưởng nhớ chính thứ bánh mì và muối đó. Tôi không có hứng thú quay về cùng ngài để bị treo cổ hay bị xích vào mái chèo lần nữa.”

“Nếu ta thề với ngươi rằng sẽ không có gì tương tự xảy ra thì sao?”

“Thì ông sẽ nuốt lời sau đó. Tôi không tin ông nữa, Asad. Vì ông đã tự chứng minh mình là một gã ngốc, và trong cả đời mình tôi chưa bao giờ tìm thấy gì hay ho ở một gã ngốc và không bao giờ tin chúng - trừ có một lần, và hắn ta đã phản bội tôi. Hôm qua tôi đã cầu khẩn ông, chỉ cho ông thấy con đường khôn ngoan nhất nên theo, và cho ông cơ hội. Chỉ với một hy sinh nho nhỏ ông đã có thể có tôi trong tay và treo cổ tôi theo hứng thú. Tôi đã đề nghị trao chính mạng sống của mình cho ông, và bất chấp ông hiểu điều đó, ông đã không hiểu được rằng chính tôi cũng ý thức được nó.” Chàng bật cười. “Hãy xem xem ông là một gã ngốc đáng thương hại ra sao? Sự tham lam của ông đã huỷ diệt chính ông. Hai bàn tay của ông muốn vơ lấy nhiều hơn chúng có thể giữ được.Giờ hãy mở mắt ra nhìn hậu quả. Nó đang tới cùng chiếc galleon đang áp sát lại từ từ nhưng mỗi lúc một gần kia.”

Từng lời nói như ngấm vào óc Asad khiến ông ta vỡ lẽ một cách muộn mằn. Ông ta vung tay lên trong cơn căm tức và tuyệt vọng. Thuỷ thủ đoàn đứng im lặng ngỡ ngàng, không dám động đậy chân tay, e ngại sẽ đẩy nhanh hơn giờ phút tận số của mình.

“Hãy nói giá của ngươi,” cuối cùng Basha lên tiếng, “và ta xin thề có chòm râu của đấng tiên tri nó sẽ được trả cho ngươi.”

“Ta đã ra giá hôm qua, nhưng nó đã bị từ chối. Ta đã đề nghị giao nộp sự tự do và mạng sống của mình nếu cần thiết để đổi lấy tự do cho một người khác.”

Nếu chàng cướp bỉên quay lại nhìn sau lưng mình, hẳn chàng sẽ thấy đôi mắt Rosamund vụt sáng lên, khuôn ngực cô thở gấp, những dấu hiệu sẽ cho chàng thấy rõ những gì chàng vừa nói không có gì bí ẩn mà ngược lại cô thiếu nữ đã hiểu.

“Ta sẽ làm cho ngươi giàu có và được trọng vọng, Sakh el Bahr,” Asad gấp gáp nói tiếp. “Ngươi sẽ như con trai của ta. Chức Basha cũng sẽ thuộc về ngươi khi ta nhắm mắt xuôi tay, và cho tới khi đó tất cả sẽ kính trọng ngươi như chính ta vậy.”

“Ta không phải để bán, hỡi Asad hùng mạnh. Ta chưa bao giờ là vậy. Ông đã quyết khép ta vào chỗ chết. Ông có thể làm vậy lúc này, với điều kiện uống chung cùng một cốc với tôi. Những gì được tiền định đã được tiền định. Chúng ta đã cùng nhau đánh chìm nhiều tàu địch trước đây, Asad. Đến lượt mình chúng ta sẽ cùng nhau chìm xuống biển như ông muốn. »

« Cầu cho ngươi muôn đời bị thiêu đốt trong hoả ngục, đồ tim đen bội phản ! » Asad nguyền rủa chàng, cơn giận đã phá bung mọi sự kiềm chế của ông ta.

Thế rồi, trước sự thừa nhận thất bại của Basha, một tràng cầu khẩn kêu gọi chợt bật ra từ thuỷ thủ đoàn. Những con ó biển của Sakh el Bahr kêu gọi chàng hãy nhớ lại tình cảm và sự trung thành chúng dành cho chàng, và hỏi chàng liệu chàng có thể đáp lại bằng cách đẩy chúng đến chỗ bị huỷ diệt hay không.

« Hãy tin vào ta ! » chàng trả lời chúng. « Ta chưa bao giờ dẫn các người tới gì khác ngoài chiến thắng. Hãy tin chắc rằng lúc này ta sẽ không dẫn các người tới thất bại – trong lần cuối cùng chúng ta sát cánh bên nhau. »

« Nhưng chiếc galleon đã bắt kịp chúng ta rồi ! » Vigitello kêu lên. Và quả đúng vậy, chậm chạp tiến lại gần theo làn gió nhẹ, thành mạn cao của chiếc galleon hiện lên sừng sững phía trên chúng, mũi chiếc tàu hướng tới chặn đầu mũi chiếc galeasse. Chỉ một khoảnh khắc sau nó đã áp mạn bọn cướp, với tiếng va chạm rầm rầm và tiếng hô đắc thắng của các thuỷ thủ Anh đứng dọc mạn tàu, những chiếc móc sắt được tung xuống bám lấy mũi, sườn và đuôi chiếc tàu hải tặc. Những chiếc móc vừa được giữ chặt lại là một làn sóng người mặc áo giáp ào ạt tràn sang chiếc galeasse, và đến lúc này ngay cả nỗi sợ gây ra bởi chiếc đèn đang ghé sát thùng thuốc súng cũng không thể ngăn cản được bọn cướp biển đón tiếp những kẻ lao sang áp mạn với sự nồng nhiệt chúng luôn dành cho quân tà giáo. Trong chớp mắt cuộc chiến bùng lên dữ dội trên boong mũi, cảnh tượng địa ngục của bãi chiến trường được soi sáng bởi ánh sáng lờ mờ hắt sang từ chiếc Én Bạc. Trong số những người đầu tiên lao sang chiếc tàu cướp biển có Lionel và Sir John Killigrew. Trong số những kẻ đầu tiên lao tới đón chặn họ có Jasper Leigh, lão này đã đâm suốt thanh kiếm của mình qua người Lionel ngay khi chân gã vừa kịp đặt xuống mặt boong, thậm chí trước khi trận đánh thực sự bắt đầu.

Chừng một tá người khác ngã xuống ở mỗi phía trước khi tiếng hô lớn của Sakh el Bahr khiến cuộc chiến dừng lại, trước khi lệnh cho mọi người dừng tay để nghe chàng nói được tuân theo.

« Dừng lại ! » chàng ra lệnh cho những con ó biển của mình bằng lingua franca. « Lùi lại, để chuyện này cho ta. Ta sẽ giải thoát các người khỏi kẻ địch này. » Rồi bằng tiếng Anh chàng quay sang kêu gọi những người đồng hương của mình dừng tay. « Sir John Killigrew ! » chàng cao giọng gọi. « Dừng tay cho đến khi đã nghe tôi nói hết! Gọi người của ngài trở lại, không để thêm người nào sang mạn nữa! Dừng lại cho đến khi đã nghe tôi nói hết, sau đó hãy làm như ngài muốn.”

Sir John, nhận ra chàng đang đứng bên Rosamund cạnh cột buồm chính, lập tức đi tới kết luận không thể tránh khỏi là chàng định đe doạ tính mạng cô gái, thậm chí sát hại cô nếu người của ông tiếp tục tiến lên, liền lao tới phía trước thủ hạ của mình để ngăn họ lại.

Thế ra trận đánh kết thúc cũng đột ngột như khi nó bắt đầu.

“Mi có gì để nói đây, đồ chó bội giáo?” Sir John hỏi.

“Điều này. Sir John, trừ khi ngài ra lệnh cho người của mình quay lại tàu của ngài, và thề sẽ không tiếp tục đuổi theo nữa, tôi sẽ lôi ngài xuống địa ngục với chúng tôi lập tức. Tôi sẽ vứt chiếc đèn này vào thuốc súng, chúng tôi chìm và các ngài cũng sẽ chìm theo, bị giữ chặt bởi những móc bám của chính các ngài. Làm theo lời tôi và ngài sẽ có tất cả những gì ngài tới tìm trên chiếc tàu này. Tiểu thư Rosamund sẽ được trao trả lại cho ngài.”

Sir John nhìn chằm chằm vào chàng cướp bỉên hồi lâu, cân nhắc. Rồi ...

“Cho dù không chuẩn bị thương lượng với mi,” ông tuyên bố, “nhưng ta sẽ chấp nhận những điều kiện mi đưa ra, nhưng chỉ khi ta thực sự nhận được tất cả những gì ta tới đây tìm kiếm. Trên boong chiếc tàu này có một con chó bội giáo đê tiện mà ta bị ràng buộc bởi lời thề của một hiệp sĩ rằng ta sẽ bắt sống và treo cổ y. Cả y cũng phải được giao nộp cho ta. Tên y là Oliver Tressilian.”

Câu trả lời vang lên lập tức không chút chần chừ -- “Cả hắn tôi cũng sẽ trao lại cho ngài với điều kiện ngài thề rằng sau đó ngài sẽ rút lui và không gây hại gì thêm cho chúng tôi nữa.”

Rosamund nín thở níu chặt lấy cánh tay Sakh el Bahr, cánh tay đang giữ ngọn đèn.

“Cẩn thận đấy, quý tiểu thư,” chàng nghiêm giọng nói với nàng,” nếu không em sẽ huỷ diệt tất cả chúng ta đấy.”

“Thà thế còn hơn!” cô thiếu nữ đáp.

Thế rồi Sir John hứa với chàng rằng một khi Rosamund được trao trả và chính chàng chịu nộp mình, ông sẽ rút lui không gây thêm tổn hại gì cho bọn cướp biển nữa.

Sakh el Bahr quay lại phía bọn cướp biển đang chờ đợi, và thuật lại vắn tắt cho chúng điều kiện chàng đã điều đình.

Chàng yêu cầu Asad thề rằng những điều kiện đó sẽ được tôn trọng, và sẽ không có thêm đổ máu xảy ra từ phía ông ta, và Asad trả lời chàng, thể hiện hết sự căm tức của ông ta trước sự phản bội của chàng cướp biển.

“Vì hắn ta đã muốn có mi để treo cổ mi lên, hắn ta cứ việc bắt mi và giúp chúng ta đỡ phải ra tay, vì sự phản bội của ngươi cũng xứng đáng bị trừng phạt tương tự từ phía chúng ta.”

“Vậy thì tôi đầu hàng,” chàng thông báo với Sir John, và vứt chiếc đèn qua mạn tàu.

Chỉ có một giọng nói cất lên bảo vệ chàng, và đó là giọng nói của Rosamund. Nhưng giọng nói yếu ớt đó cũng nhanh chóng im lặng, bị khuất phục bởi sự kiệt sức. Cú sốc cuối cùng thêm vào tất cả những thứ cô gái phải chịu đựng trong vài ngày trước đó đã lấy đi toàn bộ sức lực của nàng. Gần như ngất đi, nàng khuỵu xuống đổ người về phía Sakh el Bahr trong khi Sir John và vài người tiến lại đỡ lấy nàng và trói người tù binh lại.

Đám cướp biển im lặng đứng nhìn; lòng trung thành với người thuyền trưởng oai hùng mà chúng đáng ra sẵn sàng đổ đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ đã bị sụp đổ bởi hành động phản bội của chàng khiến chiếc tàu Anh đuổi kịp chúng. Thế nhưng khi chúng nhìn thấy chàng bị trói lại và kéo lên boong chiếc Én Bạc, bất thần một phản ứng bùng lên trong hàng ngũ của chúng. Những thanh scimitar vung lên cùng những tiếng hò hét đe doạ. Nếu chàng đã phản bội chúng, ít nhất chàng đã cố gắng để chúng không bị thiệt hại bởi sự phản bội đó. Và đó là hành động xứng đáng với Sakh el Bahr mà chúng đã biết và yêu mến; xứng đáng đến mức tình cảm và lòng trung thành của chúng vụt trở lại trọn vẹn như trước.

Nhưng giọng nói của Asad đã vang lên nhắc cho chúng nhớ những gì chàng cướp biển đã hứa vì chúng, và vì chỉ giọng nói của Asad có thể sẽ không đủ để dập đi ngọn lửa phản kháng vừa bùng lên, vọng xuống tai bọn cướp biển là giọng nói của Sakh el Bahr lần cuối cùng ra lệnh cho chúng.

“Hãy nhớ và tôn trọng các điều kiện ta đã điều đình vì các người! Mektub! Mong Allah che chở và phù trợ cho các người!”

Trả lời chàng là một tràng than vãn, và cùng với những tiếng than vãn vọng tới tai chàng để cam đoan với chàng rằng chàng sẽ không ra đi mà không được nuối tiếc, Sakh el Bahr bị lôi đi để chuẩn bị cho đoạn kết của chàng.

Dây của các móc bám được cắt đứt, và chiếc galleon từ từ lùi dần vào bóng tối, để chiếc galley ở lại, thay thế các nô lệ bị tổn thương trong cuộc giao tranh rồi quay mũi về hướng Algiers, huỷ bỏ cuộc tập kích chiếc tàu Tây Ban Nha.

Dưới mái che trên boong đuôi, lúc này Asad ngồi như một người vừa bừng tỉnh khỏi một cơn ác mộng. Ông ôm lấy đầu và khóc than một người đã như đứa con trai với ông, người đó đức ông đã để mất bởi chính sự điên rồ của mình. Ông ta nguyền rủa tất cả đàn bà trên đời, nguyền rủa số phận; nhưng những lời nguyền rủa cay độc nhất ông dành cho chính bản thân mình.

Trong ánh bình minh, bọn cướp quẳng các tử thi xuống biển và lau rửa boong tàu, chúng không hề nhận ra đã có một kẻ trong bọn mất tích, một việc hẳn sẽ chứng tỏ viên thuyền trưởng người Anh, hoặc thủ hạ của ông ta, đã không tuân thủ chính xác điều khoản của thoả thuận.

Bọn cướp biển buồn rầu trở về Algiers- Chúng than vãn không phải vì tiếc chiếc tàu chở vàng Tây Ban Nha thế là được bình yên vô sự, mà than tiếc người thuyền trưởng cừ khôi nhất đã từng vung thanh scimitar lên phụng sự Hồi giáo. Câu chuyện về hoàn cảnh đã khiến chàng bị bắt không bao giờ được kể rõ; không ai dám kể lại nó tường tận, vì không có ai tham gia vào sự kiện này sau đó lại không cảm thấy hổ thẹn về nó, cho dù hoàn toàn rõ ràng là chính Sakh el Bahr đã tự chuốc lấy số phận đó cho chàng. Nhưng ít nhất, người ta cũng hiểu rằng chàng không ngã xuống trong trận chiến, và từ đó có thể đoán ra là chàng vẫn còn sống. Từ sự suy đoán đó đã hình thành một thứ huyền thoại nói rằng chàng sẽ một ngày kia quay trở lại; và nửa thế kỷ sau, những tù binh được chuộc trở về đã kể lại rằng ở Algiers cho tới tận lúc đó, ngày trở về của Sakh el Bahr vẫn được tin tưởng trông chờ bởi tất cả các tín đồ Hồi giáo ngoan đạo.




Trop de schtroumpfs schtroumpfent le schtroumpf
(Schtroumpf-lunette)
0
Chương 23



Sakh el Bahr bị giam lại trong một khoang tối om nằm ở phía mũi chiếc Én Bạc để đợi đến khi trời sáng và sử dụng khoảng thời gian này để chuẩn bị cho linh hồn của mình. Không một lời nói nào được trao đổi giữa chàng và Sir John kể từ lúc chàng tự nguyện nộp mình. Với hai khuỷu tay bị trói giật ra sau lưng, chàng bị kéo lên chiếc tàu Anh, và trên mặt boong chiếc tàu này chàng đã đứng đối diện trong chốc lát với một người quen cũ - người thuật chuyện của chúng ta, Lord Henry Goad. Tôi có thể mường tượng ra vẻ nghiêm trang lạnh lùng trên khuôn mặt ngài trung uý của nữ hoàng, với đôi mắt tối sầm khi dừng lại trên người kẻ bội giáo. Tôi được biết - từ chính ngòi bút của Lord Henry - rằng họ đã không nói với nhau lời nào trong khoảnh khắc ngắn ngủi đó, trước khi Sakh el Bahr bị những người áp giải chàng hối hả lôi đi và tống giam vào xó tối đầy mùi ẩm mốc hiện tại.

Suốt một giờ liền chàng nằm yên ở chỗ chàng bị đẩy ngã xuống, tin rằng chàng chỉ có một mình ; và thời gian cũng như địa điểm hẳn đã dẫn chàng tới những suy tưởng ít nhiều triết lý về hoàn cảnh hiện tại của bản thân mình. Tôi cho rằng chàng đã nhận ra sau khi suy xét đến tận cùng, rằng chàng cũng chẳng có gì nhiều để tự trách cứ mình. Nếu chàng đã gây ra tội lỗi thì chàng cũng đã chuộc tội đầy đủ. Khó có thể thực sự cho rằng chàng đã phản bội những thủ hạ Hồi giáo trung thành của mình, hoặc giả có đúng vậy đi chăng nữa, thì ít nhất chàng đã tự mình trả giá cho chính sự phản bội đó. Rosamund đã được an toàn, Lionel hẳn sẽ phải đối diện với công lý dành cho anh ta, còn về bản thân chàng, lúc này chẳng khác gì một người đã chết, con người chàng cũng chẳng đáng gì nhiều để bận tâm đến nữa. Chàng hẳn cũng cảm thấy một chút hài lòng từ ý nghĩ rằng chàng đã sử dụng mạng sống của mình một cách có ích nhất. Cuộc đời chàng đã trở nên vô nghĩa từ lâu. Đúng là nếu không có cuộc tập kích báo thù tai hại đó, chàng hẳn đã có thể tiếp tục tung hoành trong một thời gian dài nữa như một tên cướp biển, thậm chí có thể trèo cao tới địa vị tôn quý với chức Basha của Algier và trở thành một ông hoàng chư hầu của Sultan Thổ. Nhưng với một người vốn sinh ra là một quý tộc Thiên chúa giáo, đó chẳng phải là con đường xứng đáng để chấm dứt cuộc đời. Những gì xảy ra hiện tại là con đường hay hơn cả.

Một tiếng sột soạt khẽ vang lên trong bóng tối đặc quánh của căn nhà tù thu hút sự chú ý của chàng cướp biển. Một con chuột, chàng thầm nghĩ, và xoay xở ngồi dậy, đạp chân xuống sàn để dịch ra xa con vật ghê tởm. Thay vào đó, một giọng nói cất lên trong bóng tối dò hỏi.

« Ai đó ? »

Chàng cướp biển sững sờ trong khoảnh khắc, vì chàng vốn tin chắc chỉ có một mình.

« Ai vậy ? » vẫn giọng nói nọ lặp lại, rồi bực bội nói thêm : « Đây là chỗ âm ty địa ngục nào vậy ? Tôi đang ở đâu đây ? »

Và lúc này chàng đã nhận ra giọng nói của Jasper Leigh, và tự hỏi không biết làm thế nào mà kẻ cuối cùng chàng chiêu mộ cho hàng ngũ tín đồ của Mohammed lại có mặt tại đây chia sẻ cùng một nhà ngục với chàng.

« Ngươi đang nằm trong khoang mũi chiếc Én Bạc ; mặc dù làm thế nào mà ngươi có mặt tại đây thì ta không thể trả lời được. »

« Ngươi là ai ? » giọng nói cất lên hỏi.

« Ta vốn được biết tới tại Barbary dưới tên Sakh el Bahr. »

« Sir Oliver ! »

« Ta cũng cho rằng giờ đây đó sẽ là cái tên người ta dùng để gọi ta. Có lẽ sẽ hay hơn nếu ta bị chôn vùi dưới biển sâu, nếu không hẳn các quý ông Thiên chúa giáo sẽ thấy thật lôi thôi khi phải chọn ghi gì lên bia mộ của ta. Nhưng lão - tại sao lão lại có mặt ở đây ? Ta đã thoả thuận với Sir John là không ai bị xâm hại, và ta không nghĩ Sir John lại nuốt lời hứa. »

« Về việc này thì tôi không biết gì cả, vì thậm chí tôi còn không biết mình đang ở xó xỉnh nào cho tới khi ngài cho tôi biết. Tôi bị nện bất tỉnh trong cuộc loạn đả ; sau khi tôi đã đâm suốt thanh kiếm của mình qua người chú em bảnh trai của ngài. Đó là tất cả những gì tôi còn nhớ. »

Sir Oliver nín thở. « Lão nói gì ? Lão đã giết Lionel ? »

« Tôi tin là thế, » câu trả lời vang lên bình thản. « Ít nhất tôi đã cắm ngập hai tấc sắt vào người cậu ta – trong lúc giao tranh khi những người Anh đầu tiên lao sang chiếc galeasse ; cậu Lionel có mặt ở hàng đầu – nơi cuối cùng tôi hy vọng có thể tìm thấy cậu ta. »

Một khoảng im lặng nặng nề tiếp theo sau. Cuối cùng Sir Oliver khẽ lên tiếng.

« Hẳn là lão đã cho cậu ta đúng thứ cậu ta tìm kiếm. Lão có lý, Leigh ; hàng đầu cuả một trận đánh là nơi cuối cùng có thể tìm thấy cậu ta, trừ khi cậu ta cố ý có mặt tại đó tìm kiếm cái chết trên đầu lưỡi kiếm để trốn tránh sợi thừng. Tốt nhất là vậy, không nghi ngờ gì nữa. Thế là hơn cả ! Chúa giúp cậu ta an nghỉ ! »

« Ngài tin vào Chúa ư ? » lão thuyền trưởng tội lỗi hỏi với giọng lo lắng.

«Hiển nhiên đó là lý do khiến người ta bắt lão, » Sir Oliver nói tiếp, như thể tự nói với chính mình. « Không hề biết gì về tội lỗi của cậu ta, coi anh chàng như một vị thánh, một người tử vì đạo, họ đã quyết định trút sự trả thù lên lão vì cậu ta, và bắt lão nhốt vào đây vì mục đích này. » Chàng thở dài. « Được, được, quý ngài Leigh, ta chẳng nghi ngờ gì rằng một kẻ du đãng như lão đã chuẩn bị sẵn sàng cái cổ của mình cho sợi thừng trong suốt cuộc đời ; vì thế chuyện này sẽ chẳng làm lão ngạc nhiên. »

Lão thuyền trưởng cựa quậy bất an, và than thở. « Chúa ơi, cái đầu tôi đau quá ! » lão phàn nàn.

« Họ sẽ có một phương thuốc hiệu nghiệm để chữa trị cho lão, » Sir Oliver an ủi lão. « Và lão sẽ được lơ lửng bên cạnh một người bạn đồng hành cao quý hơn lão xứng đáng nhiều, vì chính ta cũng sẽ bị treo cổ vào buổi sáng. Lão cũng xứng đáng với nó y như ta vậy, quý ngài Leigh. Thế nhưng ta thấy thương hại cho lão – thương hại cho lão phải chịu một số phận mà ta không hề có ý định đẩy lão vào. »

Quý ngài Leigh thở dốc ra, rồi im bặt hồi lâu.

Rồi lão lặp lại câu hỏi cũ.

« Ngài có tin vào Chúa không, Sir Oliver ? »

« Không có Thượng đế nào khác ngoài Người, và Mohammed là đấng tiên tri của Người, » là câu trả lời, và nghe giọng nói của chàng, lão Leigh không rõ liệu chàng có đang diễu cợt hay không.

« Đó là đức tin của bọn tà giáo, » lão kêu lên hoảng sợ và kinh tởm.

« Cái này thì không, đó là một đức tin mà người ta sống vì nó. Họ sống đúng như họ cầu nguyện, nghĩa là nhiều hơn những gì có thể nói về bất cứ người Thiên chúa nào tôi từng biết. »

« Làm sao ngài có thể nói vậy ngay cả khi đã cận kề cái chết ? » Leigh kêu lên phản đối.

« Quả thực, » Sir Oliver nói, « nó chứa đựng nhiều sự thật hơn những thứ khác. »

« Vậy là ngài không tin vào Chúa ? »

« Ngược lại, tôi tin. »

« Nhưng không phải vào Chúa thực ? » gã thuyền trưởng căn vặn.

« Không có Chúa nào khác ngoài Chúa thực – có quan trọng gì cách người ta gọi Người. »

« Vì ngài đã tin, chẳng lẽ ngài không sợ sao ? »

« Sợ cái gì ? »

« Địa ngục, sự trừng phạt, và ngọn lửa vĩnh cửu, » lão thuyền trưởng rống lên, bày tỏ hết sự kinh hãi của chính lão.

« Tôi chỉ hoàn tất định mệnh mà trong hiểu biết vô biên của mình Người đã vạch ra cho tôi, » Sir Oliver trả lời. « Cuộc đời tôi đã như Người tiền định, vì không gì có thể tồn tại hay xảy ra trừ khi theo ý chí của Người. Liệu tôi có phải sợ sự trừng phạt vì đã như Chúa tạo nên hay không ? »

« Đó là đức tin Hồi giáo tà đạo ! » Leigh phản đối.

« Đó là thứ đức tin đem lại an ủi, » Sir Oliver nói, « và hẳn nó sẽ an ủi những kẻ tội lỗi như lão. »

Nhưng quý ngài Leigh từ chối được an ủi theo kiểu này. « Ôi ! » lão than vãn khổ sở. “Tôi ước gì tôi không tin vào Chúa!”

“Việc lão không tin chẳng thể xoá bỏ Người đi cũng như nỗi sợ của lão không thể tạo nên Người,” Sir Oliver trả lời. “Nhưng vì tâm trạng của lão đã như vậy, chẳng phải tốt hơn lão nên cầu nguyện sao?”

“Ngài sẽ cầu nguyện với tôi chứ?” lão đạo tặc rụt rè hỏi trong nỗi sợ hãi cho số phận vĩnh hằng của lão.

“Ta sẽ làm hơn thế,” Sir Oliver cuối cùng lên tiếng. “Ta sẽ khẩn cầu cho lão - với Sir John Killigrew, để tính mạng lão không bị đe doạ.”

“Hiển nhiên là ông ta không đời nào nghe lời ngài đâu!” lão Leigh nín thở hồi hộp đáp.

“Ông ta sẽ nghe. Điều này liên quan đến danh dự của ông ta. Điều kiện nộp mình của ta có nói rõ rằng không ai khác có mặt trên chiếc galeasse bị làm tổn thương.”

“Nhưng tôi đã giết cậu Lionel!”

“Đúng thế - nhưng trong cuộc loạn đả trước khi ta ra điều kiện. Sir John đã hứa với ta, và Sir John sẽ phải giữ lời khi ta chỉ cho ông ta thấy danh dự của chính ông ta đòi hỏi như vậy.”

Một gánh nặng lớn được nhấc khỏi tâm trí lão thuyền trưởng – bóng ma đe doạ của cái chết đã lơ lửng trên đầu lão. Cùng với nó, cùng cần e rằng phần lớn sự sốt sắng muốn ăn năn hối lỗi của lão cũng đã biến mất theo. Ít nhất lão không đả động gì thêm đến đày đoạ, cũng chẳng nghĩ ngợi gì thêm về quan điểm và niềm tin của Sir Oliver về thế giới bên kia nữa. Rất có thể lão đã lý luận rằng đức tin của Sir Oliver là chuyện của Sir Oliver, và nếu nó có sai lầm đi chăng nữa thì lão cũng chẳng phải kẻ đủ tư cách để chấn chỉnh. Còn về phần lão, việc cứu rỗi linh hồn có thể hoãn đến một ngày khác, khi sự cần thiết lại trở nên cấp bách.

Nghĩ đến đây, lão nằm xuống và định cố gắng làm một giấc, cho dù chẳng dễ dàng gì với cái đầu đang đau như búa bổ. Trằn trọc mãi, không tìm được giấc ngủ, lão đã lại định mở mồm gợi chuyện lần nữa; thế nhưng lần này hơi thở đều đều của người bạn tù cảnh cáo lão rằng Sir Oliver đã ngủ thiếp đi trong khoảng im lặng trước đó.

Việc này khiến lão kinh ngạc choáng váng. Lão hoàn toàn không thể hiểu nổi bằng cách nào một người đã sống một cuộc đời như của Sir Oliver, đã làm một kẻ bội giáo và một tên tà đạo, lại có thể bình thản ngủ ngon lành như thế hoàn toàn ý thức được rằng anh ta sẽ bị treo cổ khi trời sáng. Sự trở về mới mẻ với đức tin Thiên chúa giáo giục giã lão dựng chàng dậy, thúc giục chàng hãy tận dụng chút thời gian ngắn ngủi còn lại để làm lành với Chúa. Mặt khác, sự cảm thông của con người lại khuyên lão tốt nhất hãy để chàng được yên. Lão thấy xúc động sâu sắc khi nghĩ tới việc trong một hoàn cảnh như lúc này Sir Oliver vẫn còn tâm trí để nghĩ đến lão và số phận của lão cũng như quyết định can thiệp để cứu lão khỏi sợi thừng. Lão càng xúc động hơn khi nhìn lại mình, khi nghĩ tới phần mà lão phải chịu trách nhiệm về những gì đã xảy đến với Sir Oliver. Ngẫm nghĩ tới cảnh xử sự cao thượng của chàng, một chút gì đó cao cả cũng sống dậy trong lão, và lão bắt đầu tự hỏi làm cách nào đến lượt mình lão có thể giúp đỡ Sir Oliver bằng cách thú nhận một cách thành thật những điều lão biết về những hoàn cảnh đã xô đẩy Sir Oliver đến chỗ trở thành một người như hiện tại. Quyết định này khiến lão phấn chấn hẳn lên, và cũng lạ là lão lại càng phấn chấn hơn khi chợt nghĩ có lẽ lão sẽ gây nguy hiểm cho chính cái cổ của mình khi làm theo những gì lão đã quyết định.

Và thế là trong suốt buổi tối dài như vô tận đó lão ngồi, xoa nắn cái đầu đang đau nhức, và cảm thấy nhẹ nhõm hẳn bởi điều đầu tiên lão định làm trong đời cho một mục đích gì đó thực sự tốt đẹp. Thế nhưng xem ra số phận luôn có hứng thú làm thất bại mọi toan tính của lão. Vì khi người ta đến điệu Sir Oliver đi vào lúc rạng sáng, không ai để ý gì tới đề nghị của Jasper Leigh xin được đưa tới gặp Sir John.

“Chúng ta không nhận được lệnh nào liên quan tới mi cả,” một thuỷ thủ đáp ngắn gọn.

“Có thể là không,” Leigh đính chính, “vì Sir John khó mà biết được những gì tôi có thể cho đức ông biết. Tôi nói rồi đấy, hãy đưa tôi đến gặp đức ông, để ngài được nghe từ tôi một số sự thật trước khi quá muộn.”

“Ở yên đó,” tay thuỷ thủ quát lão, và quật lão một đòn nặng vào giữa mặt, khiến lão khuỵu xuống ngã gục vào một góc khoang. “Rồi cũng sớm đến lượt mi thôi. Lúc này chúng ta cần xử trí gã tà giáo này.”

“Không gì lão nói có thể thay đổi được tình hình đâu,” Sir Oliver bình thản an ủi lão. “Nhưng ta cảm ơn lão về ý nghĩ đã cho thấy lão là bạn của ta. Hai tay ta đang bị trói, Jasper. Nếu không ta đã xin phép được bắt tay lão. Vĩnh biệt!”

Sir Oliver bị điệu ra ánh sáng ban ngày chói chang, gần như khiến chàng loá mắt sau thời gian dài bị giam trong bóng tối. Chàng đoán rằng người ta hẳn đang điệu chàng tới khoang tàu nơi màn hài kịch ngắn ngủi của một phiên toà sẽ diễn ra. Nhưng vừa đến giữa thân tàu họ bị chặn lại bởi một sĩ quan, anh này ra lệnh cho họ đứng đợi ở đó.

Sir Oliver ngồi xuống một cuộn dây thừng, người lính áp giải bên cạnh, tâm điểm thu hút sự tò mò tìm hiểu của những người thuỷ thủ cục mịch. Họ chen nhau đứng chật boong mũi và cửa khoang nhìn chăm chú vào gã cướp biển lừng danh đã có thời là một nhà quý tộc người Cornwall trước khi trở thành một tên cải đạo Hồi giáo và nỗi kinh hoàng cho Thiên chúa giáo.

Nói một cách thành thực, khó mà nhận ra nổi nhà quý tộc Cornwall ngày nào trong chàng lúc này, khi chàng ngồi đó, vẫn mặc trên mình chiếc áo caftan dát bạc bên ngoài chiếc áo dài vạt màu trắng, một chiếc turban cùng chất liệu đội bên ngoài chiếc mũ trụ chỏm nhọn như mũi kích. Chàng uể oải duỗi dài đôi chân rám nắng rắn rỏi để trần từ đầu gối tới mắt cá, với vẻ bình thản lãnh đạm của một kẻ bàng quan với số phận hiện rõ trên khuôn mặt diều hâu màu đồng hun với đôi mắt sáng sắc lạnh và chòm râu dài đen nhánh; và những thuỷ thủ đã tụ tập nhau lại ở đó để chế diễu nguyền rủa chàng trở nên ngỡ ngàng im lặng trước sự thản nhiên kiêu hãnh trong thái độ của chàng trước cái chết đã gần kề.

Nếu sự trì hoãn làm chàng bứt rứt, chàng không hề để lộ nó ra ngoài. Nếu đôi mắt sắc sảo của chàng chốc chốc lại đảo đi một chút , thì đó là vì một mục đích nhất định. Chàng tìm kiếm Rosamund, hy vọng được ngắm nhìn nàng một lần cuối cùng trước khi người ta đưa chàng tới chuyến đi cuối cùng vào cõi vĩnh hằng.

Thế nhưng chàng không thể tìm thấy Rosamund. Lúc này cô thiếu nữ đang ở trong khoang tàu. Cô gái đã ở đó từ suốt một giờ qua, và sự trì hoãn hiện tại cũng là vì cô.

Trop de schtroumpfs schtroumpfent le schtroumpf
(Schtroumpf-lunette)
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-12-01 23:30:35ct.ly>
Chương 24

Những vị quan toà


Vì không có người phụ nữ nào có mặt trên tàu để họ có thể uỷ thác nàng, Lord Henry, Sir John, và thầy Tobias, bác sĩ giải phẫu của con tàu, đã thay nhau chăm sóc Rosamund tốt nhất có thể được khi cô gái kiệt sức và gần như mê sảng được đưa lên boong tàu Én Bạc.

Thầy Tobias đã giúp cô hồi tỉnh bằng những phương thuốc thô sơ mà ông có trong tay, rồi đặt cô gái nằm một cách tiện nghi nhất có thể được trên một chiếc đệm trong khoang tàu rộng ở phía đuôi, ông cho rằng cô gái cần được để yên để cô có thể nghỉ ngơi như tình trạng hiện tại của cô đòi hỏi một cách cấp thiết. Ông đã ra lệnh cho Lord Henry và Sir John ra ngoài, còn bản thân ông xuống dưới hầm tàu để chăm sóc cho một ca còn khẩn cấp hơn – đó là Lionel Tressilian, người đã được khiêng bất tỉnh từ chiếc galeasse về cùng với bốn thuỷ thủ bị thương khác của chiếc Én Bạc.

Vào lúc rạng sáng Sir John xuống dưới hầm tàu, hỏi thăm tình hình người bạn bị thương của ông. Ông tìm thấy người bác sĩ đang quỳ xuống bên cạnh Lionel.

Khi ông bước vào, thầy Tobias quay sang bên, rửa tay trong một chiếc chậu kim loại đặt trên sàn, rồi đứng lên lau tay bằng một chiếc khăn vải.

« Tôi không thể làm gì hơn, Sir John, » ông thì thầm với giọng buồn bã. « Cậu ta đang ra đi. »

« Chết, ngài muốn nói vậy ư ? » Sir John kêu lên, giọng như nấc lên.

Viên bác sĩ ném chiếc khăn sang bên, từ tốn kéo hai tay áo đang xắn lên xuống. « Gần như đã chết rồi, » ông trả lời. « Điều kỳ diệu là ở chỗ sự sống vẫn còn le lói trong một thân thể với một vết thương như vậy. Cậu ta bị chảy máu bên trong, và mạch yếu đi không ngừng. Sẽ tiếp tục như vậy cho tới khi cậu ta qua đời. Ngài có thể coi cậu ấy như đã chết rồi, Sir John. » Ông dừng lại. « Một kết cục an lành, không đau đớn, » ông nói thêm, rồi thở dài cảm thông, khuôn mặt hơi tái cạo nhẵn nhụi trở nên nghiêm trang, vì những cảnh như thế này đã trở thành bình thường trong cuộc đời ông. « Về bốn người còn lại, » ông nói tiếp, « Blair đã chết ; ba người kia đều có thể bình phục. »

Nhưng Sir John không để tâm nhiều đến số phận những người khác. Sự đau đớn phiền muộn trước tình cảnh tuyệt vọng của người bạn đã xoá nhoà đi mọi bận tâm khác trong lúc này.

« Và cậu ấy sẽ không bao giờ tỉnh lại ? » ông gặng hỏi, cho dù gần như đã biết trước câu trả lời.

« Như tôi đã nói với ngài, ngài có thể coi cậu ấy như đã chết rồi, Sir John. Năng lực của tôi không thể làm gì hơn giúp cậu ấy. »

Sir John cúi gằm xuống, khuôn mặt ông buồn bã và nghiêm nghị. « Ngay cả công lý của tôi cũng vậy, » ông cay đắng nói thêm. « Cho dù nó trả thù cho cậu ấy, nhưng nó không thể trả lại cho tôi người bạn. » Ông nhìn người bác sĩ. « Báo thù, ngài thấy đấy, là sự diễu cợt rỗng tuếch nhất trong tất cả những trò hề tạo nên cuộc đời. »

« Trách nhiệm của ngài, Sir John, » người bác sĩ trả lời, « là công lý, chứ không phải là báo thù. »

« Chỉ là một cách nói khéo, nếu nói cho cùng. » Ông bước tới bên Lionel, nhìn xuống khuôn mặt khôi ngô trắng trẻo trên đó bóng đen của cái chết đang chầm chậm phủ dần lên. « Giá như cậu ấy có thể làm chứng trước công lý ! Giá như chúng ta có được bằng chứng từ chính lời nói của cậu ấy, để tôi không bao giờ bị đòi hỏi phải biện minh cho việc treo cổ Oliver Tressilian. »

« Hiển nhiên, thưa ngài, » người bác sĩ đánh bạo lên tiếng, « sẽ không bao giờ có câu hỏi nào như vậy. Lời chứng của tiểu thư Rosamund thôi cũng đã quá đủ rồi, nếu thực sự phải cần nhiều bằng chứng đến vậy. »

« Phải ! Sự báng bổ của hắn chống lại Chúa và con người đã quá rõ ràng để có ai đó có thể vặn hỏi quyền của tôi được xử trí hắn ngay lập tức. »

Có tiếng gõ cửa và người hầu của Sir John bước vào thông báo rằng tiểu thư Rosamund đang xin gặp ông gấp.

« Cô bé hẳn là nóng lòng muốn biết tin của cậu ta, » Sir John kết luận, và ông rên rỉ. « Chúa ơi ! Tôi biết nói với nó ra sao đây ? Làm nó suy sụp vào đúng lúc được giải thoát bởi một tin như thế ! Có bao giờ sự diễu cợt lại tàn ác đến thế chăng ? » ông quay người, nặng nề đi về phía cửa. Rồi dừng lại. « Ngài sẽ ở bên cậu ấy đến phút cuối cùng chứ ? » ông nhìn người bác sĩ dò hỏi.

Thầy Tobias cúi đầu. « Tất nhiên, Sir John. » Và ông nói thêm, « sẽ cũng không lâu đâu. »

Sir John nhìn về phía Lionel lần nữa - một cái nhìn tiễn biệt. « Chúa giúp cậu ấy được an nghỉ ! » ông nói đầy đau đớn, rồi đi ra ngoài.

Mặt trời mới vừa mọc trong một vầng sáng màu vàng nhạt, chiếu sáng trên mặt biển gợn sóng do cơn gió vừa nổi lên mà lúc này tất cả buồm của chiếc tàu đều đã được giương hết lên để đón lấy. Về phía mạn phải nổi lên một dải lờ mờ, đó là bờ biển Tây Ban Nha.

Khuôn mặt dài của Sir John trở nên nghiêm trang trĩu nặng khi ông bước vào khoang tàu nơi Rosamund đang đợi ông. Ông cúi chào nàng với vẻ lịch thiệp nghiêm nghi, bỏ mũ đặt xuống một chiếc ghế. Năm năm vừa qua đã làm xuất hiện vài sợi bạc trong mái tóc dày đen của ông và đặc biệt ở hai bên thái dương mái tóc đã ngả màu xám, làm cho ông có vẻ già đi nhiều cùng những nếp nhăn hằn sâu trên trán.

Ông bước lại gần cô gái trong khi cô đứng dậy đón chào ông. « Rosamund, cháu yêu quý ! » ông dịu giọng nói, và nắm lấy hai tay nàng. Ông nhìn vào khuôn mặt tái nhợt đang xao động của cô gái với đôi mắt buồn rầu.

« Cháu đã nghỉ ngơi chu đáo chưa, cô bé ? »

« Nghỉ ngơi ? » nàng lặp lại với vẻ ngạc nhiên không hiểu được tại sao đức ông lại có thể nghĩ đến chuyện đó vào lúc này.

« Cô bé con tội nghiệp, cô bé tội nghiệp ! » ông nói khẽ, và như một người mẹ cũng sẽ làm, ông kéo nàng lại gần, vuốt nhẹ lên mái tóc vàng sẫm. « Chúng ta đang giương hết buồm quay về Anh. Can đảm lên, và... »

Nhưng cô gái đã bật chen ngang cắt lời ông, vùng ra khỏi ông trong khi nói, và trái tim đức ông đau nhói khi ông nghĩ tới điều ông cho rằng cô sắp hỏi.

« Cháu nghe thấy một thuỷ thủ vừa nói với một người khác là ngài định treo cổ Sir Oliver Tressilian ngay lập tức – ngay sáng nay. »

Đức ông hoàn toàn hiểu lầm cô. « Hãy yên tâm, » ông nói. « Công lý của ta sẽ nhanh chóng, sự báo thù của ta chắc chắn. Thanh giằng buồm đã được chằng sẵn sợi thừng sẽ đưa y vào sự trừng phạt vĩnh cửu. »

Cô thiếu nữ nín thở, đưa một tay áp lên ngực như muốn làm dịu cơn choáng váng.

« Và viện cớ nào, » nàng hỏi ông với vẻ thách thức, đứng đối mặt với ông, « mà ngài định làm điều đó ? »

« Viện cớ nào ? » đức ông ngỡ ngàng. Ông mở to mắt ra, trán cau lại, bất ngờ trước câu hỏi và giọng nói của cô gái. « Viện cớ nào ? » ông lặp lại, gần như ngớ ngẩn trong lúc sững sờ. Rồi ông nhìn cô thiếu nữ chăm chú hơn, và đôi mắt đang dại đi của cô dần dần cho ngài sự lý giải cho điều mới đầu có vẻ không thể nào hiểu nổi.

« Ta thấy rồi ! » ông nói với giọng đầy thương hại, vì ông đã đi tới kết luận là thần trí cô gái tội nghiệp đã bị chấn động sau những sự kiện kinh hoàng cô vừa phải trải qua. « Cháu cần nghỉ ngơi, » ông dịu dàng nói, « đừng suy nghĩ gì về những chuyện như thế nữa. Hãy để chúng cho ta giải quyết, và hãy yên tâm là ta sẽ trả thù cho cháu xứng đáng. »

« Sir John, cháu nghĩ là ngài hiểu lầm cháu rồi. Cháu không cần ngài báo thù cho cháu. Cháu vừa hỏi ngài là vì cớ gì ngài định làm điều đó, và ngài vẫn chưa trả lời cháu. »

Càng kinh ngạc hơn, đức ông tiếp tục nhìn nàng chằm chặp. Vậy là ông đã lầm. Cô gái vẫn rất tỉnh táo và hoàn toàn làm chủ bản thân. Thế nhưng thay vì những câu quan tâm hỏi thăm Lionel mà ông vẫn e ngại lại là câu hỏi đáng kinh ngạc chấn vấn ông về lý do khiến ông treo cổ người tù binh.

« Có cần ta phải nói ra cho cháu – hơn bất cứ ai khác - về những tội lỗi tên khốn kiếp này đã gây ra không ? » ông hỏi, nói ra lời câu hỏi ông cũng đang tự đặt ra cho mình.

« Ngài cần cho cháu biết, » cô gái trả lời, « lấy quyền nào ngài tự cho mình được làm quan toà và đao phủ của ông ta ; và lấy quyền nào ngài đẩy ông ta tới cái chết một cách không minh bạch như vậy, không hề xét xử. » Thái độ của cô gái nghiêm trọng như thể cô đang điều tra với tẩt cả quyền hành của một thẩm phán.

« Nhưng cháu, » đức ông lúng túng trong sự ngạc nhiên ngày càng tăng, « cháu, Rosamund, người mà hắn ta đã xúc phạm nặng nề nhất, hiển nhiên cháu phải là người cuối cùng hỏi ta câu đó ! Sao chứ, ta có ý định xét xử hắn ta theo cách người ta xét xử trên biển những tên du đãng bị bắt như Oliver Tressilian vậy. Nếu cháu thương hại hắn - điều mà có Chúa chứng giám ta khó lòng hiểu nổi – hãy hiểu rằng đó là sự khoan hồng lớn nhất hắn có thể trông đợi. »

« Ngài nói cùng một lúc về khoan hồng và trả thù, Sir John. » Cô thiếu nữ trở nên bình thản, sự xáo động của cô đã lắng dịu, thay vào đó là một thái độ nghiêm nghị thách thức.

Đức ông khoát tay sốt ruột. « Mang hắn về Anh sẽ có lợi lộc gì ? » ông hỏi. « Ở đó hắn chắc chắn sẽ phải ra toà, và kết quả đã có thể thấy trước. Đó chỉ là hành hạ hắn ta một cách không cần thiết. »

« Kết quả có thể không quá hiển nhiên như ngài nghĩ đâu, » cô gái đáp. « Và một phiên toà là quyền của ông ta. »

Sir John quay một vòng trong khoang, đầu óc ông rối bời. Thật không thể tưởng tượng nổi là đức ông phải đứng đây biện minh về một việc như thế này, mà không phải ai khác mà lại chính là Rosamund, thế nhưng cô gái đã buộc ông phải làm vậy bất chấp những lý lẽ thông thường.

« Nếu hắn đòi hỏi, chúng ta sẽ không từ chối, » cuối cùng ông nói, nghĩ rằng tốt nhất là chiều ý cô gái. « Chúng ta sẽ đưa hắn về Anh nếu hắn ta yêu cầu, và để hắn được xét xử tại đó. Nhưng Oliver Tressilian hẳn cũng ý thức được những gì sẽ được dành cho hắn ta khi yêu cầu như vậy. » Đức ông bước qua trước mặt nàng, đưa tay về phía cô gái. « Lại đây, Rosamund yêu quý ! Cháu đang đau khổ, cháu... »

« Cháu quả thực đang đau khổ, Sir John, » cô gái trả lời, và nắm lấy tay đức ông. « Ôi, hãy rủ lòng thương ! » nàng kêu lên, vụt trở nên van nài khẩn khoản. « Cháu cầu xin ngài hãy có lòng thương ! »

« Lòng thương nào ta có thể cho cháu, cô bé ? Cháu chỉ cần nói ra... »

« Không phải dành cho cháu, mà cháu cầu xin ngài hãy rủ lòng thương hại anh ấy. »

« Anh ấy ? » đức ông kêu lên, cau mặt.

« Cho Oliver Tressilian. »

Đức ông buông rơi tay cô gái và lùi ra xa. « Có Chúa làm chứng ! » ông kêu lên. «Cháu cầu xin lòng thương hại cho Oliver Tressilian, cho gã bội giáo đó, cho con quỷ hiện hình đó ? Ôi, cháu điên mất rồi !» ông gầm lên. « Điên rồi ! » và ông quay lưng đi, hai tay dang rộng.

« Cháu yêu anh ấy, » cô gái nói ngắn gọn.

Câu trả lời làm đức ông đứng sững lại. Choáng váng, đức ông chỉ biết đứng sững nhìn nàng chằm chặp, mồm há hốc.

« Cháu yêu hắn ! » cuối cùng đức ông vừa nói vừa thở hắt ra. « Cháu yêu hắn !Cháu yêu một tên hải tặc, một tên bội giáo, kẻ đã bắt cóc cháu và Lionel, kẻ đã sát hại anh trai cháu ! »

« Không phải anh ấy. » Nàng phản đối một cách dữ dội. « Cháu đã biết được sự thật về chuyện đó. »

« Từ miệng hắn ta, đúng không ? » Sir John nói, và ông không đừng được bĩu môi khinh bỉ. « Và cháu tin hắn ? »

« Nếu không tin cháu đã không thành hôn với anh ấy. »

« Thành hôn với hắn ta ? » Sự kinh hoàng bất thần bùng lên xoá đi sự ngỡ ngàng của đức ông. Chẳng lẽ không có giới hạn nào cho sự thú nhận không thể nào ngờ nổi này ? Liệu nó đã đến đỉnh điểm hay chưa, ông tự hỏi, hay vẫn còn nhiều nữa ? « Cháu thành hôn với gã đê tiện khốn kiếp đó ? » ông hỏi, giọng vô hồn.

« Cháu đã làm thế - tại Algiers vào buổi tối khi chúng cháu cập bến. » Đức ông đứng như trời trồng nhìn cô gái trong khoảng thời gian đủ lâu để người ta có thể đếm đến mười hai, rồi đột ngột bùng nổ. « Đủ rồi ! » ông gầm lên, đấm một nắm tay siết chặt đang run lên lên trần thấp của khoang tàu. «Đủ lắm rồi, có Chúa làm chứng cho ta. Nếu không có lý do nào khác để treo cổ hắn lên, chỉ riêng chuyện này cũng quá đủ rồi. Cháu có thể tin rằng ta sẽ chấm dứt đám cưới quái gở này trong vòng một giờ nữa. »

« Ôi, nếu ngài chịu nghe cháu nói ! » cô gái van nài.

« Nghe cháu ? » Đức ông dừng lại bên cạnh cửa mà ông đã bước tới với những bước chân bực bội, định đứng đó ra lệnh điệu Oliver Tressilian đến trước mặt ông, nói cho gã biết số phận dành cho gã và thực hiện nó lập tức. « Nghe cháu ? » ông lặp lại, giận dữ và khinh miệt run lên trong giọng nói. « Ta đã nghe quá đủ rồi ! »

Đó là tính cách của nhà Killigrew, Lord Henry Goade cam đoan với chúng ta, rồi dừng lại ở đây hồi lâu cho một trong những đoạn kể lể tràng giang đại hải về lịch sử của những gia đình tình cờ có một thành viên dính dáng đến hồi ký của đức ông. « Họ, » đức ông viết, « luôn là những người nóng tính, bồng bột, khá trung thực và cao thượng chừng nào cần làm theo quyết đoán của họ, thế nhưng bị hạn chế bởi sự thiếu sắc sảo trong chính những phán quyết này. »

Sir John, trong vụ lôi thôi trước đây với nhà Tressilian cũng như trong lúc này, hiển nhiên có vẻ minh hoạ cho lời chỉ trích của đức ông. Có đến hàng chục câu hỏi mà một người sắc sảo hẳn không thể không hỏi, thế nhưng không có câu hỏi nào trong đó có vẻ hiện ra trong đầu ngài hiệp sĩ của Arwenack. Nếu có điều gì đó giữ chân ngài lại ngưỡng cửa, ngăn trở ngài thực hiện tức khắc điều ông đã quyết định, hiển nhiên đó là sự tò mò mỉa mai muốn biết Rosamund còn những gì rồ dại trong đầu sắp nói ra nữa.

« Người đàn ông này đã đau khổ nhiều, » cô gái nói với đức ông, không hề bối rối trước tiếng cười gằn mỉa mai của ông khi nghe thấy câu nói này. « Chỉ Chúa mới biết anh ấy đã bị giày vò đến thế nào về thể xác và linh hồn vì những tội lỗi anh ấy không hề gây ra. Phần lớn những đau khổ này do cháu đem tới cho anh ấy. Ngày hôm nay cháu biết anh ấy không ám hại Peter. Cháu biết, nếu không vì một hành động thiếu cao thượng của cháu, anh ấy đã ở vào vị thế có thể chứng minh điều đó một cách không thể chối cãi mà không cần ai giúp đỡ. Cháu biết ông ấy đã bị bắt cóc, bị mang đi trước khi anh ấy kịp thanh minh cho mình khỏi lời buộc tội, và hậu quả là không còn cuộc sống nào khác dành cho anh ấy ngoài trở thành một kẻ bội giáo như anh ấy đã chọn. Tội lỗi chính thuộc về cháu. Và cháu cần chuộc tội. Hãy tha anh ấy vì cháu ! Nếu ngài yêu cháu... »

Nhưng đức ông đã nghe quá đủ. Khuôn mặt của ông đỏ tía lên.

« Không một lời nào nữa ! » đức ông quát vào mặt cô gái. « Chính vì ta yêu quý cháu – yêu quý và thương hại cháu từ tận trái tim ta – mà ta sẽ không nghe nữa. Xem ra không những ta phải cứu cháu khỏi tay tên khốn kiếp đó, mà cả khỏi chính cháu nữa. Nếu không ta sẽ không hoàn thành trách nhiệm với cháu, không phải với người cha đã quá cố và người anh trai bị ám hại của cháu. Sau này, cháu sẽ cảm ơn ta, Rosamund. » Và đức ông lại quay đi.

« Cảm ơn ngài ? » cô thiếu nữ kêu thét lên. « Cháu sẽ nguyền rủa ngài. Suốt đời cháu cháu sẽ căm ghét khinh bỉ ngài, sẽ nhìn ngài một cách ghê tởm như nhìn một kẻ sát nhân nếu ngài làm điều đó. Ngài điên rồi ! Ngài không thấy sao ? Ngài điên rồi ! »

Đức ông bật lùi lại. Là một người có địa vị và quyền lực, nhanh nhạy, can đảm và khá nóng tính – và xem ra có vẻ cực kỳ may mắn nữa – trong suốt đời mình chưa bao giờ đức ông bị phán xét một cách phũ phàng và thẳng tuột như thế. Hiển nhiên cô thiếu nữ không phải là người đầu tiên coi ông là một gã điên, nhưng rõ ràng cô là người đầu tiên dám gọi ông như vậy thẳng vào mặt ; và nếu như với quan điểm chúng rất có thể đánh giá này sẽ cho thấy sự tỉnh táo hoàn toàn của cô gái, với đức ông nó chỉ như một bằng chứng nữa cho thấy tâm thần của nàng đang trong lúc bất bình thường.

« Khỉ thật ! » đức ông nói, vừa bực tức vừa thương hại, « cháu điên mất rồi, hoàn toàn điên mất rồi ! Đầu óc cháu đang rối loạn, phán đoán của cháu hoàn toàn méo mó. Con quỷ hiện hình này lại trở thành nạn nhận tội nghiệp còn những người khác biết thành quỷ dữ ; và ta thì trở thành một tên sát nhân trong mắt cháu - một tên sát nhân và một gã khùng. Thề có chúa ! Thôi được ! Sau này khi cháu đã được nghỉ ngơi, khi cháu đã hoàn toàn bình phục, ta cầu mong rằng mọi thứ sẽ trở lại đúng chỗ của nó. »

Ông quay đi, vẫn còn kích động vì bất bình, và cũng chỉ vừa kịp để ý để không bị đập phải bởi cánh cửa vừa mở tung từ phía ngoài.

Lord Henry Goade, như đức ông thuật lại, mặc toàn màu đen, với sợi dây chuyền vàng chức vụ đeo trên khuôn ngực rộng, đứng trên ngưỡng cửa, thân hình của ngài hiện lên nổi bật trong vầng ánh sáng mặt trời buổi sáng sau lưng ngài. Khuôn mặt vốn hiền lành của đức ông hẳn phải trở nên cực kỳ nghiêm trọng cho hợp với bộ đồ ngài đang mặc, nhưng vẻ nghiêm trọng có vẻ gì đó giãn bớt ra khi cái nhìn của ngài hướng tới Rosamund đang đứng bên cạnh bàn.

« Tôi đã rất vui mừng, » đức ông viết, « khi thấy cô gái bình phục nhanh chóng như vậy, và có vẻ gần như trở lại bình thường, và tôi đã nói lên sự hài lòng của mình. »

« Tốt nhất quý tiểu thư đây nên quay về giường nghỉ, » Sir John càu nhàu, khuôn mặt của ngài vẫn đỏ phừng phừng. « Tiểu thư đây vẫn còn chưa bình tĩnh lại. »

« Sir John nhầm, thưa đức ông,” cô gái bình thản cam đoan, « tôi hoàn toàn không hề đau yếu như quý ngài đây nhận thấy. »

« Tôi rất lấy làm mừng, thưa quý tiểu thư, » đức ông nói, và tôi hình dung ra đôi mắt dò hỏi của ngài đưa từ người này sang người kia, và nhận thấy bằng chứng hùng hồn về tâm trạng của Sir John, băn khoăn tự hỏi không biết chuyện gì đã xảy ra. « Rất có thể, » đức ông nghiêm nghị nói tiếp, « chúng tôi sẽ cần tới lời chứng của tiểu thư trong phiên toà nghiêm trọng sắp tới. » Ngài quay sang Sir John. « Tôi đã ra lệnh đưa tù nhân tới xét xử. Như thế có đòi hỏi tiểu thư nhiều quá không, tiểu thư Rosamund ? »

« Không đâu, thưa đức ông, » cô gái lập tức trả lời. « Tôi sẵn sàng. » Và ngả đầu về phía sau như một người sẵn sàng chịu đựng thử thách.

« Không, không, » Sir John chen vào, nóng nảy phản đối. « Đừng có nghe cô ta, Harry. Cô ta...”

Cô thiếu nữ ngắt lời ông, “ vì lời buộc tội chính chống lại tù nhân có liên quan đến ... đến cách hành xử của ông ta với tôi, hiển nhiên đây là một phiên toà tôi cần làm chứng.”

“Quả là vậy,” Lord Henry đồng ý, hơi ngỡ ngàng, như đức ông thú nhận, “luôn luôn với điều kiện là việc này không vượt quá sức chịu đựng và cảm xúc của tiểu thư quá nhiều. Chúng tôi có thể tiến hành không cần tới lời chứng của tiểu thư.”

“Về việc này, thưa đức ông, tôi cam đoan là ngài đã nhầm,” nàng trả lời. “Ngài không thể bỏ qua lời chứng của tôi được.”

“Thế cũng được,” Sir John cau có nói, và ngài quay về phía bàn, chuẩn bị chỗ ngồi cho mình.

Đôi mắt xanh của Lord Henry tiếp tục nhìn Rosamund với vẻ dò hỏi, đồng thời đưa tay lên mân mê bộ râu ngắn màu xám của ngài với vẻ nghĩ ngợi. Rồi đức ông quay về phía cửa. “Vào đây, thưa các ngài,” ông nói, “và ra lệnh mang tù nhân tới.”

Tiếng bước chân vang lên trên boong tàu, và ba trong số sĩ quan của Sir John xuất hiện để hoàn tất toà án sẽ xét xử tay cướp biển bội giáo, một phán quyết mà bản án có thể đoán được trước.


Đãmang vào thư viện đến chương 24
Trop de schtroumpfs schtroumpfent le schtroumpf
(Schtroumpf-lunette)
0
Chương 25

Luật sư

Ghế được kê dọc sau một chiếc bàn lớn bằng gỗ sồi màu nâu, và các sĩ quan ngồi xuống, quay mặt ra phía cánh cửa đang mở và khung cửa sổ mở ra phía hành lang đuôi tàu. Ngồi ở giữa là Lord Henry Goade với tư cách sĩ quan của nữ hoàng, và đó cũng là lý do khiến sợi dây chức tước của ông xuất hiện công khai. Đức ông sẽ chủ toạ phiên toà ngắn gọn này. Bên phía phải đức ông là Sir John Killigrew, cạnh ông này là một sĩ quan có tên Youldon. Hai sĩ quan khác, mà tên không còn lưu lại, ngồi bên trái đức ông.

Một chiếc ghế được đặt sẵn dành cho Rosamund tại đầu phải chiếc bàn và ở phía bên kia đầu bàn, như vậy nàng được tách rời ra khỏi băng ghế quan toà. Nàng đang ngồi ở đó, chống tay lên mặt bàn bóng lộn, khuôn mặt tựa lên hai bàn tay hơi nắm lại, đôi mắt nhìn chăm chú về phía năm quý ông cấu thành chủ toạ phiên toà.

Tiếng bước chân vọng vào, và bóng người đổ về phía trước qua ngưỡng cửa. Từ phía thân tàu vọng lại tiếng người rì rầm và tiếng cười. Sau đó Sir Oliver xuất hiện trên ngưỡng cửa được gác bởi hai lính thuỷ kiếm tuốt trần.

Chàng ngừng lại chốc lát bên ngưỡng cả, đôi mắt chàng hơi nhướng lên như thế chàng vừa phải chịu một cú sốc khi cái nhìn của chàng dừng lại ở Rosamund. Sau đó dưới sự áp giải của hai người lính chàng bước vào, hai khuỷu tay chàng vẫn bị trói giật ra sau lưng, và bước lên phía trước hai người lính.

Chàng dửng dưng cúi chào các quan toà, khuôn mặt hoàn toàn bình thản.

« Một buổi sáng tốt lành, thưa các ngài, » chàng nói.

Năm người nhìn chàng trong im lặng, nhưng cái nhìn của Lord Henry, khi nhìn đến trang phục Hồi giáo trên người chàng cướp biển, hiện lên sự khinh bỉ mà ông kể lại cho chúng ta hay đang đầy tràn trái tim ngài lúc đó.

« Ngài hẳn cũng ý thức được, thưa ngài, » Sir John nói sau một hồi im lặng, « về mục đích khiến ngài được đưa tới đây. »

« Khó lòng nói vậy được, » người tù nói. « Nhưng tôi chẳng hề ngạc nhiên mục đích sẽ khiến tôi được đưa khỏi đây. Tuy nhiên, » chàng tiếp tục nói, bình thản và châm chọc, « tôi có thể đoán từ thái độ quan toà của các ngài trò hề các ngài sắp diễn. Quả thực nếu điều này có thể giúp các ngài giải khuây, tôi sẽ chẳng gây khó dễ cho các ngài. Tôi sẽ theo dõi tấn trò đó với điều kiện các ngài hãy miễn cho tiểu thư Rosamund sự mệt mỏi và những nỗi đau gây ra bởi cái sắp xảy ra. »

« Bản thân tiểu thư Rosamund muốn có mặt, » Sir John nói, cau mặt.

« Có lẽ, » Sir Oliver nói, « tiểu thư không ý thức được... »

« Tôi đã nói đầy đủ cho quý tiểu thư rồi, » Sir John cắt ngang, gây như phát bẳn.

Người tù nhìn nàng như thể ngạc nhiên, đôi lông mày nhíu lại. Rồi chàng nhún vai quay lại phía các quan toà của mình.

« Trong trường hợp này, » chàng nói, « không có gì để nói nữa. Nhưng trước khi các ngài bắt đầu, có một việc khác tôi muốn làm rõ. »

« Điều kiện để tôi nộp mình là tất cả những người khác được tự do ra đi. Ngài hẳn còn nhớ, Sir Joh, là ngài đã lấy danh dự hiệp sĩ ra hứa với tôi điều này. Thế nhưng tôi đã tìm thấy trên con tàu này một người đã ở cùng tôi trên chiếc galeasse - một người trước đây là một thuỷ thủ người Anh, tên Jasper Leigh, người này đã bị bắt giữ làm tù binh. »

« Hắn ta đã giết quý ông Lionel Tressilian, » Sir John lạnh lùng đáp.

« Có thể vậy, Sir John. Nhưng cú đánh đã được tung ra trước khi tôi điều đình với ngài, và ngài không thể vi phạm thoả thuận và không gây tổn hại đến danh dự của ngài.”

“Ngài mà cũng nói về danh dự ư, thưa ngài?” Lord Henry nói.

“Về danh dự của Sir John, thưa ngài,” người tù nói, với vẻ khúm núm diễu cợt.

“Ngài có mặt ở đâu, thưa ngài, để bị phán xử,” Sir John nhắc nhở chàng cướp biển.

“Tôi cũng cho là vậy. Đó là một đặc quyền mà để có được ngài đã đồng ý trả một giá nhất định, và đến lúc này xem ra ngài đang phạm tội giữ lại một phần thanh toán. Tôi nói là xem ra có vẻ vậy. Vì tôi chỉ có thể nghĩ rằng vụ bắt người kia đã xảy ra do nhầm lẫn, và chỉ cần tôi lưu ý ngài tới việc gã Leigh bị bắt là đủ.”

Sir John cúi xuống nhìn chiếc bàn. Không nghi ngờ gì nữa, danh dự buộc ngài phải thả Leigh, cho dù gã đã làm gì đi nữa; và, quả thực, việc lão ta bị bắt đã được thực hiện mà Sir John không biết, ngài chỉ được thông báo sau đó.

“Tôi biết làm gì với gã ta đây?” ngài bực bội lẩm bẩm.

“Cái đó dành cho ngài lựa chọn, Sir John. Nhưng tôi có thể nói những gì ngài không thể làm với hắn. Ngài không thế giữ hắn làm tù nhân, hay giải hắn về Anh hay làm hắn bị tổn thương cho dù bằng cách nào đi nữa. Vì việc hắn bị bắt chỉ là sai lầm, như tôi hiểu, ngài cần phải sửa lại sai lầm đó bằng cách tốt nhất có thể. Tôi hài lòng là ngài sẽ làm vậy, và không cần nói thêm gì nữa. Sẵn sàng phục vụ quý vị, thưa các ngài,” chàng nói thêm để ám chỉ rằng chàng hoàn toàn sẵn sàng để họ xét xử, và chàng đứng chờ đợi.

Sau đó có một khoảng lặng trong chốc lát, sau đó Lord Henry, khuôn mặt nghiêm trang, cái nhìn lạnh lùng thù địch, cất tiếng nói với người tù.

“Chúng tôi đưa ngài tới đây để có cơ hội đưa ra bất cứ lý do nào khiến chúng tôi không thể treo cổ ngài ngay lập tức như quyền của chúng tôi.”

Sir Oliver nhìn đức ông với vẻ ngạc nhiên gần như thú vị. “Quả thật!” cuối cùng chàng lên tiếng. “Tôi chưa bao giờ có thói quen phí lời vô ích.”

“Tôi nghi là ngài đã không hiểu đúng tôi, thưa ngài,” đức ông đáp lại, giọng nhẹ nhàng êm ái như đúng tư cách thẩm phán của ngài. “Nếu ngài yêu cầu một phiên toà chính thức, chúng tôi sẽ áp giải ngài về Anh để ngài được xét xử như vậy.”

“Nhưng để ngài không ảo tưởng,” Sir John chen vào nóng nảy, “hãy để tôi cho ngài hay vì những tội ác mà ngài phải trả giá đã xảy ra trong phạm vi quyền hạn của Lord Henry, phiên toà của ngài sẽ diễn ra ở Cornwall, nơi Lord Henry có hân hạnh là đại diện của nữ hoàng sẽ là người chấp pháp.”

“Nữ hoàng quả là đáng được chúc mừng,” Sir Oliver nói chua chát;

“Sẽ như ngài chọn, thưa ngài,” Sir John tiếp tục, “liệu ngài sẽ bị treo cổ trên biển hay trên đất liền.”

“Phản đối duy nhất của tôi là bị treo cổ trong không khí. Nhưng có vẻ các ngài không để ý tới,” câu trả lời bỡn cợt vang lên.

Lord Henry cúi người về phía trước. “Hãy để tôi nhắc nhở ngài vì lợi ích của mình hãy tỏ ra nghiêm chỉnh,” đức ông chấn chỉnh phạm nhân.

“Tôi thừa nhận cơ hội quả là hiếm có, thưa đức ông. Bởi nếu các ngài ngồi đây để xét tội cướp biển của tôi, tôi không thể mong ước có được một thẩm phán nào giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực này, cho dù trên biển hay trên đất liền, hơn Sir John Killigrew.”

“Tôi lấy làm hân hạnh được xứng đáng với sự đánh giá cao của ngài,” Sir John cấm cẳn trả lời. “Tội cướp biển,” ngài nói thêm, “mới chỉ là một trong những tội ngài sẽ bị xét xử.”

Sir Oliver nhướng mày lên, chăm chú nhìn dãy quan toà mặt mày nghiêm nghị trước mặt mình.

“Vậy thì có Chúa chứng dám, các khoản buộc tội khác của các ngài cần phải cực kỳ xác đáng - nếu không, giả sử rằng quả thực có chút công lý nào trong cách xử án của các ngài, e là các ngài sẽ phải thất vọng nếu muốn nhìn thấy tôi đu đưa trên không đấy. Xin các ngài hãy chuyển sang phán xử các tội khác đi. Tôi xin thừa nhận là các ngài trở nên thú vị hơn tôi đã trông đợi nhiều.”

“Ngài phủ nhận tội cướp biển ư?” Lord Henry hỏi.

“Phủ nhận ư? Không. Nhưng tôi phủ nhận quyền xét xử của các ngài về tội trạng này, hoặc quyền đó của bất cứ toà án Anh nào khác, vì tôi đã không tiến hành bất cứ hành động cướp biển nào trong lãnh hải nước Anh.”

Lord Henry thừa nhận là câu trả lời này làm ngài ngớ ra im bặt, vì ngài không hề lường đến nó. Thế nhưng lý lẽ được phạm nhân đưa ra là một sự thật hiển nhiên đến mức khó mà hiểu nổi tại sao đức ông lại có thể bỏ qua được. Tôi e rằng bất chấp chức trách thừa hành pháp luật của mình, thận trọng tư pháp chẳng phải là điểm mạnh của đức ông. Nhưng Sir John, có thể do ít sâu sắc hơn hay ít hiểu biết hơn, lập tức lên tiếng căn vặn.

“Chẳng phải ngài đã không tới Arwenack và dùng vũ lực bắt đi từ đó...”

“Ấy, không, ấy, không,” chàng cướp biển ngắt lời ngài với vẻ thú vị. “Quay lại trường học đi, Sir John, để học rằng bắt cóc không phải là cướp biển.”

“Nếu ngài thích thì cứ việc gọi là bắt cóc cũng được,” Sir John chấp nhận.

“Không phải nếu tôi muốn, Sir John. Chúng ta gọi sự việc bằng đúng tên của nó, nếu ngài vui lòng.”

“Ngài lý sự lắm, thưa ngài. Nhưng chúng ta sẽ sửa chữa chuyện này ngay thôi,” và Sir John đấm mạnh tay xuống bàn, khuôn mặt ông hơi ửng đỏ lên vì bực tức.(Lord Henry đã cảm thấy đáng tiếc một cách rất có lý trước màn cáu bẳn này đúng vào hoàn cảnh lúc đó). “Ngài không thể vờ vĩnh không biết rằng,” Sir John tiếp tục, “bắt cóc có thể bị trừng phạt bằng án tử hình trong luật pháp Anh.” Ông quay sang những người đồng nhiệm của mình. “Vậy, thưa các ngài, với sự ưng thuận của các ngài, chúng ta sẽ không nói gì về cướp biển nữa.”

“Quả thực,” Lord Henry nhẹ giọng lên tiếng, “về mặt pháp lý chúng ta không thể.” Và đức ông xếp lời buộc tội này sang một bên. “Phạm nhân đã có lý trong lời kháng nghị của ông ta. Chúng ta không có quyền xét xử tội trạng này, vì ông ta đã không thực hiện hành động cướp biển nào trong lãnh hải Anh, cũng như – trong phạm vi hiểu biết của chúng ta - chống lại bất cứ chiếc tàu nào mang cờ Anh.”

Rosamund bứt rứt ngồi không yên. Cô gái chậm chạp thu hai tay khỏi mặt bàn, khoanh hai tay lại tựa lên cạnh bàn. Tựa vào đó, cúi người về phía trước, nàng lắng nghe phiên toà với đội mắt sáng lên , đôi má hơi hồng như lấy lại được sự sống sau lời thừa nhận của Lord Henry - một lời thừa nhận đã làm nhẹ đi khá nhiều những lời buộc tội chống lại người tù.

Sir Oliver, liếc nhìn trộm về phía cô gái, cũng nhận ra sự thay đổi này và lấy làm lạ, cũng như chàng đã sẵn ngạc nhiên về thái độ của nàng. Một cách vô ích, chàng tìm cách đoán thái độ của cô gái với chàng vào lúc này, khi nàng đã lại được an toàn trong vòng tay của những người bảo trợ và bạn bè.

Nhưng Sir John, chỉ quan tâm tới bản án cần phải tuyên, giận dữ lên tiếng.

“Thế cũng được,” ông bực bội chấp nhận. “Chúng ta sẽ xét xử hắn về tội bắt cóc và giết người. Ngươi có gì để nói không?”

“Không gì có sức nặng với ngài,” Sir Oliver trả lời. Và thái độ tương đối dửng dưng của chàng vụt trở nên nóng nảy: “Giờ hãy chấm hết màn hài kịch tư pháp này đi thôi,” chàng lớn tiếng. “Treo cổ tôi lên cho rảnh chuyện, hay bắt tôi đi trên ván. Muốn chơi trò cướp biển thì cứ việc, vì các ngài cũng chẳng lạ lẫm gì trò này. Nhưng nhân danh Chúa đừng bôi nhọ công lý của nữ hoàng bằng cách bày trò tập làm thẩm phán nữa.”

Sir John đứng bật dậy, mặt đỏ bừng. “Bây giờ, thề có Chúa, đồ du đãng trâng tráo...”

Nhưng Lord Henry đã ngăn ông lại, đặt tay lên vai ông buộc ông phải ngồi xuống trở lại. Đích thân đức ông lên tiếng nói với người tù.

“Thưa ngài, lời lẽ của ngài thật không xứng đáng với một người mà cho dù đã phạm phải tội ác gì đi nữa, cũng vẫn có tiếng là một người lính can trường quả cảm. Tội trạng của ngài đã quá rõ ràng - đặc biệt tội ác đã buộc ngài phải bỏ trốn khỏi nước Anh ra nhập bọn hải tặc, và hành động ngài đã làm khi xuất hiện trở lại tại Arwenack, hành động khiến ngài bị buộc tội bắt cóc người – nên hình phạt dành cho ngài tại một toà án Anh là điều đã rõ ràng không còn gì nghi ngờ nữa. Tuy vậy, như tôi đã nói, ngài có quyền đòi hỏi một phiên toà.”

“Thế nhưng,” đức ông nói thêm, và giọng ông lúc này đã hạ xuống và rất chân thành, “nếu tôi là bạn của ngài, Sir Oliver, tôi sẽ khuyên ngài nên chọn hình thức ngắn gọn của biển cả.”

“Thưa các ngài,” Sir Oliver trả lời, “quyền được treo cổ tôi của các ngài tôi đã không tranh cãi, và cũng chẳng muốn làm vậy. Tôi không còn gì để nói nữa.”

“Nhưng tôi còn.”

Bằng những lời này, cuối cùng Rosamund cũng lên tiếng và làm cả phiên toà sửng sốt trước lời tuyên bố cứng cỏi, rõ ràng của mình. Tất cả cùng quay lại nhìn cô gái khi nàng đứng dậy, đứng thẳng người ở đầu bàn.

“Rosamund!” Sir John kêu lên, đến lượt mình cũng đứng bật dậy. “Ta mong cháu...”

Cô gái phẩy tay khiến ông đành im lặng bằng một cử chỉ đầy kiêu hãnh, gần như khinh miệt.

“Vì Sir Oliver bị buộc tội về vụ bắt cóc,” nàng nói, “và tôi là người các ngài nói đã bị bắt cóc, có lẽ sẽ tốt hơn nếu trước khi đi xa hơn về lời luận tội này các ngài vui lòng nghe những gì sau này tôi sẽ nói trước một toà án tại Anh.”

Sir John nhún vai, ngồi xuống. Ông đã nhận ra rằng cô gái sẽ thực hiện bằng được ý định của nàng; cũng như ông biết trước rằng kết quả duy nhất là làm họ mất thì giờ và chậm lại giờ tận số của kẻ bị kết án.

Lord Henry quay về phía cô gái, thái độ đầy trân trọng. “Vì phạm nhân đã không phủ nhận tội trạng, và vì ông ta đã sáng suốt không yêu cầu được đưa ra toà, chúng tôi sẽ không làm phiền đến cô, thưa tiểu thư Rosamund. Và tiểu thư cũng sẽ không bị yêu cầu phải nói gì sau này trước một toà án Anh.”

“Đến đây thì ngài lầm, thưa đức ông,” cô thiếu nữ trả lời với giọng chừng mực. “Tôi sẽ được triệu ra toà để nói vài điều khi tôi kiện tất cả các ngài về tội giết người trên biển, như tôi sẽ làm nếu các ngài vẫn khăng khăng thực hiện ý định hiện tại.”

“Rosamund!” Oliver kêu lên king ngạc - một tiếng kêu vui sướng hạnh phúc.

Cô thiếu nữ quay lại nhìn chàng, và mỉm cười - một nụ cười đầy động viên khích lệ và còn có cả thêm gì đó hơn thế, một nụ cười mà chàng cảm thấy để có được sợi thừng treo cổ đang đợi chàng cũng chỉ là một cái giá nhỏ nhoi không đáng kể. Rồi nàng quay lại phía các quan toà, lúc này đang ngỡ ngàng trước những lời buộc tội của cô gái.

“Vì anh ấy không thèm phủ nhận những lời buộc tội, tôi cần làm cho anh ấy,” nàng thông báo cho các quý ông hay. “Thưa các ngài, anh ấy không hề bắt cóc tôi như các ngài đã lầm tưởng. Tôi yêu Oliver Tressilian. Tôi đã đủ tuổi trưởng thành và có quyền làm chủ hành động của mình, và tôi đi theo anh ấy hoàn toàn tự nguyện tới Algiers, nơi tôi đã trở thành vợ anh ấy.”

Nếu nàng có ném một quả bom vào giữa họ có lẽ nàng cũng không làm cho các quan toà choáng váng hơn. Tất cả cùng ngả người về phía sau, và trố mắt ra nhìn cô gái với khuôn mặt ngơ ngẩn, lầm rầm những lời vô nghĩa.

“Vợ ... vợ hắn?” Lord Henry lúng búng. “Tiểu thư đã trở thành...”

Và Sir John nóng nảy chen vào. “Dối trá! Một lời dối trá để cứu cái cổ tên đê tiện đó!”

Rosamund cúi người về phía trước hướng về phía ngài, nụ cười của cô gần như trở thành một cái bĩu môi coi thường. “Trí óc ngài vẫn luôn lẫn lộn như thế, Sir John,” nàng nói. “Nếu không ngài đã chẳng cần được nhắc lại để ngài nhớ rằng tôi không có lý do nào để nói dối nhằm cứu anh ấy nếu anh ấy đã thực hiện hành động mà anh ấy bị cáo buộc.” Rồi nàng quay sang nhìn những người còn lại. “Tôi nghĩ, thưa các ngài, trong việc này lời nói của tôi sẽ có trọng lượng hơn của Sir John hay của bất cứ ai khác tại bất cứ toà án nào.”

“Quả đúng như vậy!” Lord Henry vẫn còn sững sờ xác nhận. “Đợi đã, Killigrew!” Và lần nữa đức ông lại ngăn Sir John đang nóng đầu lại. Ngài nhìn về phía Sir Oliver, người trên thực tế không hề ít sứng sốt hơn những người còn lại trước biến cố bất ngờ. “Ngài có gì để nói không, thưa ngài?” đức ông hỏi.

“Về việc đó?” chàng cướp biển gần như không nói được nên lời máy móc lặp lại. “Còn gì để nói đây?” chàng đánh trống lảng.

“Tất cả chỉ là dối trá,” Sir John lại hét lên. “Chúng ta đều là nhân chứng cho sự việc – ngài và tôi, Harry – và chúng ta đã thấy...”

“Ngài thấy,” Rosamund ngắt lời ngài. “Nhưng ngài không biết nó có nghĩa gì.”

Lời nói của cô gái làm các vị quan toà của chúng ta nín thinh một lần nữa. Họ như những người đứng trên sườn dốc, đang tìm mọi cách kiếm một chỗ đặt chân vững chãi hơn nhưng lại dẫm lên một dải đất khác cũng trơn tuột không kém. Rồi Sir John bĩu môi ra đòn phản công.

“Hiển nhiên là cô ta cũng sắp chuẩn bị thề là vị hôn phu của cô ta, quý ngài Lionel Tressilian, cũng đi cùng cô ta một cách tự nguyện trong cùng dịp đó.”

“Không,” cô gái trả lời. “Về phần Lionel Tressilian, hắn ta bị bắt mang đi để trả giá cho những tội lỗi của mình - những tội lỗi mà hắn ta đã trút lên đầu người anh trai lúc này đang có mặt tại đây, những tội lỗi mà các ngài sử dụng làm lời buộc tội chống lại anh ấy.”

“Tiểu thư muốn ám chỉ điều gì khi nói như vậy?” đức ông chủ toạ của phiên toà hỏi.

“Rằng việc cho rằng Sir Oliver sát hại anh trai tôi chỉ là bịa đặt; rằng kẻ sát nhân chính là Lionel Tressilian, kẻ, để tránh bị phát hiện và hoàn tất âm mưu của mình, đã thuê người bắt cóc Sir Oliver đem bán làm nô lệ.”

“Quá lắm rồi!” Sir John gầm lên. “Cô ta đang bỡn cợt chúng ta, cô ta biến trắng thành đen. Cô ta đã bị mê hoặc bởi tên du đãng quỷ quyệt kia, bởi tà thuật của bọn Moor...”

“Đợi đã!” Lord Henry vừa nói vửa giơ tay lên. “Cho phép tôi.” Ngài nghiêm nghị nhìn cô gái. “Đây ... đây là một lời chứng rất nghiêm trọng, thưa tiểu thư. Liệu tiểu thư có bằng chứng nào - bất cứ thứ gì mà tiểu thư coi là bằng chứng - về những gì tiểu thư vừa nói không?”

Nhưng Sir John không chịu để bị át giọng. “Đó chỉ là câu chuyện bịp mà tên khốn kiếp kia đã kể cho cô ta. Hắn ta đã mê hoặc cô ta, tôi khẳng định. Điều này rõ như ban ngày.”

Sir Oliver phá lên cười khi nghe tới đây. Thái độ của chàng ngày càng trở nên nhẹ nhõm vui vẻ, và đây là biểu hiện đầu tiên của sự thay đổi này. “Mê hoặc nàng? Ngài quả thực chẳng bao giờ thiếu lời buộc tội người khác cả. Đầu tiên là cướp biển, rồi bắt cóc và giết người, và giờ thì là ma thuật!”

“Xin các ngài yên lặng cho một lát!” Lord Henry lớn tiếng, và đức ông thừa nhận đến lúc này ngài cũng hơi nổi nóng. “Tiểu thư Rosamund, tiểu thư có thực nói nghiêm chỉnh với chúng tôi rằng chính Lionel Tressilian là người đã ám hại Peter Godolphin?”

“Nghiêm chỉnh?” nàng lặp lại, đôi môi thoáng một nụ cười coi thường. “Tôi không chỉ nói với đức ông như vậy, mà tôi xin thề trước Chúa ngay tại đây. Lionel chính là kẻ đã sát hại anh tôi và chính Lionel đã khiến mọi người tin rằng đó là tội ác của Sir Oliver. Người ta đã cho rằng Sir Oliver chạy trốn hậu quả vì e rằng có điều gì đó sẽ bị phát hiện chống lại ông ta, và chính tôi, tôi thật hổ thẹn phải thừa nhận, cũng đã tin vào dư luận này. Nhưng sau đó tôi đã khám phá ra sự thật...”

“Tiểu thư nói là sự thật ư?” Sir John nóng nảy chen vào với giọng khinh miệt. “Sự thật...”

Một lần nữa đức ông lại buộc phải can thiệp.

“Kiên nhẫn một chút nào, thưa ngài,” đức ông nói với ngài hiệp sĩ. “Sự thật cuối cùng thế nào cũng sáng tỏ, đừng e ngại, Killigrew.”

“Nhưng lúc này chúng ta đang phí thì giờ,” Sir John càu nhàu, và cau có giữ im lặng.

“Vậy là chúng tôi cần hiểu, thưa tiểu thư,” Lord Henry tiếp tục thẩm vấn, “rằng người tù này biến mất khỏi Penarrow không phải vì chạy trốn như đã được suy diễn, mà vì ông ta đã bị bắt cóc theo yêu cầu của người em trai?”

“Đó là sự thật, cũng như tôi đang đứng đây dưới sự dám sát của Người,” cô thiếu nữ trả lời với giọng nói đầy chân thành khiến hơn một người trong cử toạ đang lắng nghe bị thuyết phục. “Bằng hành động này, không những kẻ sát nhân giúp mình không bị phát giác, mà còn hoàn tất việc nắm lấy gia sản của nhà Tressilian. Sir Oliver theo dự định sẽ bị bán làm nô lệ cho bọn người Moor ở Barbary. Nhưng thay vào đó, chiếc tàu trên đó anh ấy bị nhốt đã rơi vào tay người Tây Ban Nha, và toà án đã đẩy anh ấy lên một chiếc galley. Khi chiếc galley này bị bọn cướp biển Hồi giáo chiếm, anh ấy đã lựa chọn con đường giải thoát duy nhất tồn tại. Anh ấy trở thành một tên cướp biển, một thủ lĩnh của bọn hải tặc, và sau đó...”

“Những việc còn lại mà ông ta làm chúng tôi đều rõ rồi,” Lord Henry ngắt lời nàng. “Và tôi cam đoan với tiểu thư là chúng không hề có sức nặng nào với chúng tôi hay với bất cứ toà án nào khác nếu những gì tiểu thư nói là đúng sự thật.”

“Tất cả đều đúng sự thật. Tôi xin thề, thưa đức ông,” cô gái lặp lại.

“Được,” ngài trả lời, gật đầu nghiêm nghị. “ Nhưng tiểu thư có thể chứng minh được không?”

“Tôi có thể đưa ra cho các ngài bằng chứng nào rõ ràng hơn việc tôi yêu anh ấy và đã thành hôn với anh ấy?”

“Ôi dào!” Sir John lên tiếng.

“Điều đó, thưa tiểu thư,” Lord Henry nói, thái độ hết sức nhẹ nhàng, “là bằng chứng cho thấy bản thân tiểu thư tin vào câu chuyện đáng kinh ngạc này. Nhưng không phải là bằng chứng rằng câu chuyện đó đúng sự thật. Tôi đoán,” ngài tiếp tục với giọng êm ái, “là tiểu thư đã được nghe chính Oliver Tressilian kể lại có đúng không?”

“Đúng vậy; nhưng trong sự có mặt của Lionel, và chính Lionel đã xác nhận – xác nhận đó là sự thật.”

“Cô dám nói thế ư?” Sir John hét lên, nhìn thẳng vào cô gái căm giận. “Chúa ơi! Cô dám nói thế ư?”

“Tôi dám và nói như vậy,” cô gái trả lời, và nhìn lại ông thách thức.

Lord Henry ngả người ra sau trên chiếc ghế của ngài, khẽ mân mê bộ râu ngắn màu xám, khuôn mặt ngài trở nên suy tư nghĩ ngợi. Có cái gì đó mà ngài không sao hiểu nổi. “Tiểu thư Rosamund,” ngài khẽ nói, “cho phép tôi nhắc tiểu thư hãy suy xét đến sự nghiêm trọng của những lời mình nói. Tiểu thư đang buộc tội một người không còn khả năng biện hộ cho mình; nếu những gì tiểu thư kể được xác nhận, đó sẽ là vết nhơ không thể xoá đi được trong ký ức về Lionel Tressilian. Xin cho phép tôi hỏi lại tiểu thư lần nữa, và xin cho phép tôi được nhắc nhở tiểu thư hãy trả lời một cách thành khẩn. Có đúng là Lionel đã xác nhận những gì mà tiểu thư nói người tù đã buộc tội cậu ấy không?”

“Một lần nữa tôi xin trân trọng thề rằng những gì tôi đã nói đều đúng sự thật; rằng Lionel Tressilian, trong sự có mặt của tôi, khi bị Sir Oliver cáo buộc về vụ sát hại anh trai tôi và bắt cóc chính anh trai mình, đã thừa nhận những tội lỗi đó. Liệu tôi có thể nói rõ ràng hơn thế được không, thưa các ngài?”

Lord Henry dang hai tay ra. “Sau việc này, Killigrew, tôi không nghĩ chúng ta có thể tiếp tục. Sir Oliver cần cùng chúng ta quay về Anh để được xét xử trước toà.”

Thế nhưng một người có mặt tại đó – chính viên sĩ quan tên Youldon – xem ra có vẻ sắc sảo hơn.

“Với sự ưng thuận của ngài, thưa đức ông,” ông này xen vào, và quay sang hỏi nhân chứng. “Vào thời điểm nào Sir Oliver đã buộc em trai mình thừa nhận tội trạng của cậu ta?”

Cô gái thành thật trả lời. “Tại nhà anh ấy ở Algiers vào buổi tối mà anh ấy...” Nàng bất chợt ngừng bặt, nhận ra chiếc bẫy đã được giăng ra chờ đón nàng. Và những người còn lại cũng nhận ra. Sir John tấn công ngay vào khe hở mà Youldon đã khéo léo vạch ra.

“Tiếp tục đi chứ, thưa tiểu thư,” ngài giục nàng. “Vào buổi tối mà hắn ta...”

“Vào buổi tối chúng tôi tới nơi,” nàng trả lời tuyệt vọng, khuôn mặt tái nhợt không còn chút huyết sắc.

“Và hiển nhiên,”Sir John nói chậm rãi, gần như châm chọc, “đó là dịp đầu tiên để tiểu thư lắng nghe lời giải thích về hành động của Sir Oliver?”

“Đúng thế,” cô thiếu nữ buộc phải xác nhận.

“Như vậy,” Sir John căn vặn, quyết không cho nàng có đường rút lui, “như vậy đến tận tối hôm đó tiểu thư tất nhiên vẫn tiếp tục tin rằng Sir Oliver là kẻ sát hại anh trai tiểu thư?”

Nàng cúi gằm xuống im bặt, nhận ra rằng sự thật nàng muốn bảo vệ sẽ không thể chiến thắng được ở đây, vì nàng đã chen vào nó một sự dối trá mà lúc này đã bị phơi bày ra ánh sáng.

“Trả lời tôi!” Sir John ra lệnh.

“Không cần trả lời nữa,” Lord Henry từ tốn nói, giọng nặng nề buồn bã, đôi mắt nhìn chằm chằm xuống mặt bàn. “Tất nhiên là chỉ có thể có một câu trả lời duy nhất. Tiểu thư Rosamund đã nói với chúng ta rằng ông ta không bắt cóc tiểu thư bằng sức mạnh; rằng tiểu thư đã tự nguyện đi theo ông ta và thành hôn với ông ta; và tiểu thư đã đưa hoàn cảnh đó ra làm bằng chứng cho sự tin tưởng của mình vào sự vô tội của phạm nhân. Thế nhưng lúc này rõ rằng là vào thời điểm tiểu thư rời khỏi Anh với ông ta, tiểu thư vẫn tin rằng ông ta là kẻ sát hại anh trai mình. Thế mà tiểu thư lại muốn chúng tôi tin ông ta không bắt cóc tiểu thư.” Đức ông lại dang hai tay ra lần nữa, hơi bĩu môi trong vẻ khinh thường đầy chán nản.

“Nhân danh Chúa, hãy kết thúc chuyện này đi thôi!” Sir John lên tiếng, đứng bật dậy.

“A, đợi đã!” cô gái kêu lên. “Tôi xin thề rằng tất cả những gì tôi đã nói với các ngài đều đúng - trừ việc bắt cóc. Tôi thừa nhận nó, nhưng tôi tha thứ cho hành động này khi nhìn lại những gì tôi đã được biết kể từ lúc đó.”

“Cô ta thừa nhận!” Sir John diễu cợt.

Nhưng cô gái vẫn tiếp tục không để ý đến ngài. “Biết những gì anh ấy đã phải chịu đựng vì sự nhẫn tâm của người khác, tôi vui vẻ nhận anh ấy làm chồng, hy vọng có thể bù đắp lại một phần những gì không phải tôi đã gây ra cho anh ấy trong quá khứ. Các ngài cần tin tôi. Vì nếu các ngài không tin, tôi xin hỏi các ngài chẳng lẽ hành động ngày hôm qua của anh ấy không đáng xét đến hay sao? Chẳng lẽ các ngài đã quên rằng nếu không nhờ anh ấy các ngài đã không thể biết được tôi đang ở đâu?”

Tất cả lại một lần nừa kinh ngạc nhìn nàng.

“Tiểu thư muốn nói đến chuyện gì vậy? Hắn ta đã làm gì có liên quan đến việc đó?”

“Các ngài còn phải hỏi sao? Chẳng lẽ các ngài khao khát muốn giết anh ấy đến mức vờ như không biết gì sao? Hiển nhiên các ngài phải biết chính anh ấy đã cử Lionel đến báo cho các ngài hay tôi đang ở đâu chứ?”

Lord Henry thuật lại cho chúng ta rằng lúc đó ông đã đập lòng bàn tay xuống bàn, thể hiện cơn giận mà ngài không thể kìm nén lâu hơn. “Thế này thì quá lắm!” đức ông quát lớn. “Cho tới lúc này tôi vẫn tin tiểu thư thành thật nhưng lầm lạc. Nhưng một lời dối trá trắng trợn như thế này thì quả đã vượt quá mọi giới hạn. Cô làm sao vậy, cô gái? Sao chứ, chính Lionel đã kể lại cho chúng tôi trong hoàn cảnh nào cậu ấy đã trốn thoát khỏi chiếc galeasse. Chính cậu ấy cho chúng tôi biết tên khốn kiếp kia đã ra lệnh đánh cậu ấy rồi quẳng xuống biển cho chết đuối ra sao.”

“A!” Sir Oliver gầm lên giữa hai hàm răng nghiến chặt. “Tôi nhận ra Lionel ở đây! Hiển nhiên là hắn sẽ dối trá đến cùng. Tôi đáng ra đã phải nghĩ đến chuyện này.”

Rosamund đã cùng đường, trong cơn căm giận nàng cúi người về phía trước đối mặt với Lord Henry và những người còn lại. “Hắn nói dối, đồ chó lật lọng hèn hạ!” nàng thét lên.

“Thưa quý bà,” Sir John đáp trả nàng, “quý bà đang nói về một người đang hấp hối.”

“Và còn hơn đáng nguyền rủa,” Sir Oliver nói thêm. “Thưa các ngài,” chàng hét lớn, “các ngài chẳng chứng minh được gì ngoài sự ngu xuẩn của các ngài khi dám buộc tội cô gái nhân hậu này là kẻ dối trá.”

“Thưa ngài, chúng tôi đã nghe đủ rồi,” Lord Henry cắt ngang.

“Có Chúa chứng dám, vậy ư!” chàng gầm lên, bất thần trở nên hung dữ. “Thế nhưng các ngài sẽ còn cần phải nghe thêm chút nữa. Sự thật sẽ sáng tỏ, chính ngài đã nói thế; và sự thật sẽ sáng tỏ vì quý tiểu thư đây đã muốn vậy.”

Khuôn mặt chàng đỏ bừng, đôi mắt sáng long lên nhìn vào cử toạ như hai mũi kiếm, và cũng như hai mũi kiếm sắc nhọn, chúng đã gây hiệu quả. Chàng đã đứng trước mặt đám quan toà của mình với vẻ dửng dưng pha lẫn nhạo báng, chấp nhận để người ta treo cổ chàng và mong ước mọi chuyện chấm dứt càng nhanh càng tốt. Thế nhưng tất cả thái độ này là trước khi chàng ngờ rằng cuộc đời vẫn còn có gì đó dành cho chàng, khi mà chàng tin rằng chàng đã mất Rosamund mãi mãi. Đúng là chàng vẫn còn nhớ đến sự thân ái nàng dành cho chàng tối hôm trước trên chiếc galeasse, nhưng chàng đã cho rằng đó chỉ là do kết quả của hoàn cảnh lúc đó đem lại. Ngay cả khi ra trước phiên toà chàng cũng vẫn nghĩ như thế, cho đến khi chàng thấy sự quyết liệt và tuyệt vọng của nàng khi tranh đấu cho cuộc sống của chàng, cho đến khi chàng nghe thấy và cảm nhận được sự chân thành trong lời thú nhận của cô thiếu nữ rằng nàng yêu chàng, và kháo khát muốn bù đắp lại cho chàng những gì chàng đã phải chịu đựng trong quá khứ. Chúng đã thúc đẩy chàng, và nếu cần thêm sự thúc đẩy nào nữa, thì nó đã được trao cho chàng khi bọn họ kết án những lời nói của cô gái là dối trá, diễu cợt cười vào mặt nàng với cái mà họ cho là những lời nói dối của nàng. Phải chứng kiến cảnh tượng đó đã khiến chàng phẫn nộ bật dậy quyết tâm chống trả và sử dụng một vũ khí còn lại trong tay chàng - một sự tình cờ đầy may mắn, một Chúa trời công minh đã đặt nó vào tay chàng gần như ngoài sự dự định của chàng.

“Thưa các ngài, tôi khó mà biết được,” chàng nói, “liệu Sir John có phải đã được dẫn dắt bởi định mệnh hay không khi tối hôm qua, vi phạm thoả thuận đầu hàng của tôi, ông ta đã bắt một tù binh từ chiếc galeasse của tôi. Kẻ đó, như tôi đã nói, trước đây là một thuỷ thủ Anh có tên Jasper Leigh. Hắn ta rơi vào tay tôi vài tháng trước, và lựa chọn cùng con đường như tôi đã chọn trong hoàn cảnh tương tự để thoát cảnh nô lệ. Tôi đã rộng lượng khi cho phép hắn làm vậy, vì hắn chính là gã thuyền trưởng mà Lionel đã thuê bắt cóc tôi mang đi bán ở Barbary. Cùng tôi hắn cũng đã rơi vào tay người Tây Ban Nha. Hãy giải hắn tới đây, và xét hỏi hắn.”

Cả phiên toà im lặng nhìn chàng cướp biển, nhưng trên hơn một khuôn mặt chàng chỉ thấy biểu hiện của sự ngạc nhiên trước vẻ trơ tráo của chàng, như bọn họ cảm nhận.

Cuối cùng Lord Henry là người lên tiếng. “Thưa ngài, hiển nhiên đây là sự trùng hợp lạ lùng nhất, đáng ngờ vực nhất,” đức ông nói, và chẳng nghi ngờ gì ngài đang thầm diễu cợt. “Đúng là người đó có mặt trên chiếc tàu này, và bị bắt làm tù binh gần như một cách tình cờ...”

“Không hoàn toàn tình cờ, mặc dù rất gần như vậy. Hắn ta coi mình có món nợ cần đòi Lionel, vì cũng từ Lionel mà vận đen bắt đầu đeo đẳng hắn. Tối hôm qua, khi Lionel bất cẩn lao lên boong chiếc galeasse, Jasper Leigh đã nhận ra cơ hội thanh toán món nợ cũ và nắm lấy nó. Hậu quả là hắn đã bị bắt.”

“Ngay cả thế đi nữa, sự tình cờ này quả là phép màu nhiệm.”

“Phép màu nhiệm, thưa đức ông, đôi lúc cần xảy ra để sự thật được sáng tỏ,” Sir Oliver trả lời pha lẫn chút diễu cợt trước đây của chính đức ông. “Hãy giải hắn tới đây, và tra hỏi hắn. Hắn không hề biết gì về những việc vừa xảy ta; Sẽ thật điên rồ nếu cho rằng hắn được gà trước cho một tình huống mà không ai có thể dự đoán được. Vậy hãy cho giải hắn tới đây.”

Tiếng bước chân gấp gáp vọng lại từ bên ngoài nhưng lúc đó không ai để ý đến.

“Hiển nhiên,” Sir John nói, “chúng ta đã bị quấy quả quá đủ bởi những lời dối trá rồi!”

Cánh cửa bật mở, và thân hình xương xương mặc đồ đen của viên bác sĩ xuất hiện.

“Sir John!” ông ta hối hả gọi, lao vào không chút khách khí giữa phiên toà, cũng chẳng để ý đến sự không bằng lòng của Lord Henry. “Quý ngài Tressilian đã tỉnh lại. Cậu ấy muốn gặp ngài và anh trai cậu ấy. Khẩn trương lên, các ngài! Cậu ấy yếu đi nhanh lắm.”




Trop de schtroumpfs schtroumpfent le schtroumpf
(Schtroumpf-lunette)
0
Chương 26

Phán quyết

Tất cả mọi người vội vã lao theo sau viên bác sĩ xuống hầm tàu, Sir Oliver đi sau cùng giữa hai người lính áp giải chàng. Họ tập hợp quanh chiếc đệm nơi Lionel đang nằm, khuôn mặt xám ngắt, hơi thở khó nhọc, đôi mắt lạc thần đờ dại.

Sir John chạy tới bên cậu thanh niên, quỳ một gối xuống, vòng tay xung quanh thân hình kẻ hấp hối mà ông yêu quý, gượng nhẹ nâng cậu ta dậy tựa vào ngực ông.

« Lionel ! » ông kêu lên đau xót. Và như thể nghĩ rằng sự báo thù sẽ an ủi được người bạn trẻ của ông trong phút cuối cùng, ông nói thêm : « Chúng ta đã bắt được tên khốn kiếp rồi. »

Chậm chạp, khó nhọc, Lionel quay đầu sang bên phải, đôi mắt đã đờ đẫn của chàng thanh niên ngước nhìn qua vai Sir John tìm kiếm trong số những người đang vây quanh anh ta.

« Oliver ? » chàng thanh niên thì thầm hốt hoảng. « Oliver đâu rồi ? »

« Không cần phải bận lòng... » Sir John vưà bắt đầu nói, thì Lionel đã ngắt lời ông.

« Đợi đã ! » anh ta nói như ra lệnh bằng một giọng mạch lạc hơn. « Oliver vẫn an toàn chứ ? »

« Tôi đây, » Sir Oliver cất giọng trầm trầm, và những người đứng giữa chàng và người em trai dịch sang bên để khỏi che khuất chàng.

Lionel im lặng nhìn người anh hồi lâu, hơi nhổm dậy. Rồi chàng thanh niên ngả người trở lại tựa vào ngực Sir John.

« Chúa đã thật nhân từ với tôi, một kẻ tội lỗi, » anh ta nói, « vì Người đã cho tôi cơ hội chuộc tội, cho dù đã quá muộn. »

Rồi chàng thanh niên lại cố vật mình gượng dậy, chìa tay về phía Sir Oliver, và giọng nói của cậu ta cất lên khẩn khoản. « Oliver ! Anh trai tôi ! Hãy tha thứ ! »

Oliver bước tới, không bị ai cản trở, hai tay vẫn bị trói giật ra sau lưng, chàng đứng bên người em trai, cao đến mức chiếc turban đội trên đầu cọ cả vào trần. Khuôn mặt của chàng nghiêm nghị u ám.

« Ngươi muốn hỏi ta tha thứ về việc gì ? » chàng hỏi. Lionel gắng gượng định trả lời, rồi vật người xuống trong tay Sir John, thở hổn hển ; từ môi anh ta ứa ra một đám bọt đỏ màu máu.

« Nói ! Nhân danh Chúa, hãy nói đi ! » Rosamund thúc giục chàng thanh niên từ phía đối diện, giọng nói cô gái run rẩy vì lo ngại.

Lionel nhìn nàng, hơi mỉm cười. « Đừng sợ, » anh ta thì thầm, « tôi sẽ nói. Chúa đã để tôi sống đến lúc này vì việc đó. Hãy bỏ tay khỏi người tôi, Killigrew, tôi là ... là kẻ đáng kinh tởm nhất trong nhân loại. Chính...chính tôi đã giết Peter Godolphin. »

« Chúa ơi ! » Sir John rên rỉ, trong khi Lord Henry thở dài buồn bã và vỡ lẽ.

« A, nhưng đó không phải là tội lỗi của tôi, » Lionel tiếp tục. « Đó không phải là tội ác. Chúng tôi quyết đấu, và tôi đã giết anh ta để tự vệ - quyết đấu công bằng. Tội lỗi của tôi tới sau đó. Khi nghi ngờ rơi xuống Oliver, tôi đã nuôi dưỡng nó ... Oliver biết tôi là thủ phạm, và đã giữ im lặng để che chở cho tôi. Tôi sợ rằng sự thật sẽ vỡ lở... và ... và tôi ghen tỵ với anh ấy, và... và tôi đã thuê người bắt cóc anh ấy đem bán... »

Giọng nói nhỏ yếu của chàng thanh niên bặt dần rồi im bặt. Một cơn ho làm cả thân hình anh ta rung lên, đám bọt đỏ sấm trào ra miệng mỗi lúc một nhiều. Nhưng anh ta đã hồi lại, nằm run rẩy, các ngón tay bấu chặt lấy tấm chăn.

« Hãy nói cho họ biết, » Rosamund nói, cô gái trong nỗ lực tuyệt vọng nhằm dành giật cuộc sống cho Sir Oliver vẫn giữ đầu óc mình tỉnh táo và hướng tới những chi tiết quan trọng, « nói cho họ biết tên người anh đã thuê bắt cóc anh ấy. »

« Jasper Leigh, thuyền trưởng tàu Chim Én, » chàng thanh niên trả lời, đến đây cô gái ngước lên nhìn Lord Henry với vẻ chiến thắng, bất chấp khuôn mặt cô vẫn tái nhợt, đôi môi run rẩy.

Rồi nàng quay trở lại kẻ hấp hối, gần như tàn nhẫn trong quyết tâm bắt anh ta nói ra hết sự thật cần thiết trước khi im lặng mãi mãi.

« Hãy nói cho họ biết, » nàng thúc giục, « trong hoàn cảnh nào Sir Oliver đã gửi anh tới chiếc Én Bạc tối hôm qua. »

« Không, về việc này không cần phải căn vặn cậu ấy nữa, » Lord Henry can thiệp. « Cậu ấy đã nói đủ rồi. Xin Chúa tha thứ cho sự mù quáng của chúng ta, Killigrew ! »
Sir John im lặng cúi xuống bên Lionel.

« Có phải ngài đấy không, Sir John ? » người hấp hỏi thì thầm. « Sao vậy ? Ngài vẫn ở đây ư ? Ha ! » có vẻ như anh ta khẽ cười, rồi ngừng lại. « Tôi đi đây... » chàng thanh niên lẩm bẩm, và một lần nữa giọng nói của anh ta lại mạnh mẽ hơn, tuân theo lần cuối cùng ý trí đang lụi tắt dần. « Oliver ! Em đi đây ! Em ... em đã chuộc tội ... tất cả những gì em có thể. Đưa... đưa tay cho em ! » Rồi chàng thanh niên chới với giơ tay phải của mình ra.

« Anh đã làm thế rồi nếu anh không bị trói, » Oliver kêu lên xúc động. Rồi dùng hết sức mạnh lực sĩ của mình, chàng bất thần giật bung sợi thừng vẫn trói chặt chàng như thể đó chỉ là một sợi chỉ. Chàng nắm lấy bàn tay đang chìa lại của đứa em trai, và quỳ xuống bên cạnh cậu ta. « Lionel... Cậu bé ! » Chàng kêu lên. Như thể tất cả những gì xảy ra trong năm năm vừa qua đã bị xoá sạch không còn dấu vết. Mối căm thù cháy bỏng dành cho người em cùng cha khác mẹ, cảm giác bất công nung nấu, cơn khát báo thù, tất cả đều tắt ngấm, bị chôn vùi, bị lãng quên. Hơn thế, như thể chúng chưa từng bao giờ tồn tại. Lúc này, Lionel lại trở lại là đứa em trai khôi ngô, yếu đuối thân thiết mà chàng vẫn yêu mến, chăm lo và che chở, vì đứa em ấy khi cần chàng đã sẵn sàng hy sinh tiếng tăm của mình, hy sinh người con gái chàng yêu, và đặt chính cuộc sống của chàng vào nguy hiểm.

« Lionel, cậu bé ! » đó là tất cả những gì chàng có thể nói vào lúc đó. Rồi : « Cậu bé tội nghiệp ! Cậu bé tội nghiệp ! » chàng nói tiếp. « Sự cám dỗ đã quá mạnh với cậu. » và cúi xuống, chàng nắm lấy bàn tay trắng nhợt còn lại vẫn nằm trên đệm, và nắm chặt lấy cả hai bàn tay trong hai bàn tay mình.

Từ một trong các khung cửa, một tia nắng mặt trời chiếu xuống chạy dần lên phía khuôn mặt của người hấp hối. Nhưng ánh sáng đang bừng lên trên khuôn mặt ấy lại xuống phát từ đâu đó bên trong. Đến lượt mình, chàng thanh niên yếu ớt cố nắm lấy hai tay người anh.

« Oliver, Oliver ! » cậu ta thì thầm. « Không có ai như anh ! Em vẫn luôn biết anh cao thượng còn em thật thấp hèn. Liệu em đã nói đủ để đảm bảo an toàn cho anh chưa ? Hãy nói là anh ấy từ nay sẽ được an toàn, » chàng thanh niên van nài những người còn lại, « rằng không... »

« Anh của cậu sẽ an toàn,” Lord Henry trân trọng nói. « Tôi xin hứa danh dự. »

« Tốt rồi. Quá khứ đã thuộc về quá khứ. Tương lai đang nằm trong tay anh, Oliver. Chúa ban phước lành cho anh.” Chàng thanh niên có vẻ suy nhược đi, nhưng lại hồi lại một lần nữa. “Cữ bơi tối qua thật dài- đoạn đường dài nhất em đã từng bơi. Từ Penarrow đến Trefusis – cũng là một cữ bơi dài. Nhưng anh ở cạnh em, Oliver. Nếu em kiệt sức ... em luôn có thể trông đợi vào anh. Em vẫn còn ớn lạnh vì nó, vì trời lạnh ... lạnh ...” chàng thanh niên rùng mình, rồi nằm im.

Sir John nhẹ nhàng đặt người quá cố xuống đệm. Phía đối diện Rosamund quỳ xuống, hai tay ôm lấy mặt, bên cạnh Sir John Oliver vẫn tiếp tục quỳ, nắm trong hai bàn tay mình hai bàn tay đã giá lạnh của người em trai.

Tất cả cùng im lặng hồi lâu. Rồi Sir Oliver thở dài nặng nề xếp hai tay Lionel trên ngực, và chậm chạp, nặng nề đứng dậy.

Những người khác dường như chờ đợi dấu hiệu này. Như thể họ vẫn yên lặng chờ đợi vì tôn trọng Oliver. Lord Henry nhẹ nhàng đến bên Rosamund khẽ đặt tay lên vai nàng. Cô gái đứng dậy đi theo sau những người khác, Lord Henry theo sau nàng, và chỉ còn viên bác sĩ ở lại.

Ra ngoài, họ dừng lại dưới ánh mặt trời. Sir John đứng cúi gằm nhìn xuống sàn tàu. Gần như rụt rè - một thái độ chưa từng có ở nhà quý tộc can đảm này – ông nhìn sang Sir Oliver.

“Cậu ấy là bạn tôi,” ông buồn bã lên tiếng, và như thể để xin lỗi và thanh minh cho mình, “và ... và tôi đã bị lầm lẫn vì tình cảm dành cho cậu ấy.”

“Cậu ấy là em trai tôi, » Sir Oliver nghiêm trang trả lời. “Chúa giúp cậu ấy được an nghỉ!”

Sir John, với vẻ cả quyết, đứng thẳng người dậy trong tư thế sẵn sàng chuẩn bị đón nhận một cách đàng hoàng mọi sự trách cứ nếu có dành cho ngài.

“Ngài có thể rộng lượng tha thứ cho tôi được không, thưa ngài?” Ông hỏi, thái độ gần như thách thức.

Sir Oliver yên lặng chìa tay ra. Sir John gần như hồ hởi bắt tay chàng.

“Xem ra chúng ta sẽ lại là láng giềng,” ông nói, “mà tôi xin hứa danh dự sẽ cố gắng trở thành một người láng giềng thân thiện hơn trong quá khứ.”

“Vậy, thưa các ngài,” Sir Oliver nói, đưa mắt nhìn từ Sir John sang Lord Henry,” tôi có thể hiểu tôi không còn là tù nhân nữa.”

“Ngài không cần e ngại trở về Anh cùng chúng tôi, Sir Oliver,” đức ông trả lời. “Nữ hoàng sẽ được tường trình về trường hợp của ngài, và chúng ta có Jasper Leigh để chứng thực nếu cần thiết, và tôi sẽ đứng ra bảo lãnh cho việc khôi phục lại hoàn toàn địa vị cho ngài. Tôi mong ngài hãy coi tôi là bạn ngài, Sir Oliver.” Cả đức ông cũng đưa tay ra. Rồi ngài quay sang những người còn lại: “Đi thôi, thưa các ngài,” đức ông nói, “tôi nghĩ chúng ta đều có bổn phận đang chờ được thực hiện.”

Họ cùng quay đi, để Oliver và Rosamund lại bên nhau. Hai người nhìn nhau hồi lâu. Có quá nhiều để nói, để hỏi, để giãi bày, đến mức không ai biết nên bắt đầu từ đâu. Rồi Rosamund vụt lao tới chàng, hai tay dang rộng. “Ôi, anh yêu!” nàng nói, và suy cho cùng chỉ từng ấy thôi cũng đủ nói lên nhiều.

Vài thuỷ thủ sùng đạo, lúc đó có mặt trên boong mũi hoặc bên mạn tàu, đều cảm thấy ghê tởm khi chứng kiến cô tiểu thư của Godolphin Court lao vào vòng tay của gã đệ tử chân trần đầu đội turban đó của Mahound.



Hết

[:D][:D][:D]
Trop de schtroumpfs schtroumpfent le schtroumpf
(Schtroumpf-lunette)
0
[:D]Thế là sau hơn một năm câu dầm (kể từ ngày 9/11/2004), cuối cùng SH cũng hoàn tất được bản "xiên toạc" của "Chim Ó biển". Thắng được cái lười thâm căn cố đế của mình quả là chẳng dễ dàng gì. Chân thành xin lỗi các bạn đọc đã kiên nhẫn theo dõi câu chuyện về sự lần khân kéo dài ngoài mong muốn. Về chất lượng bản dịch, tất nhiên là thua xa nguyên tác, biết vậy nhưng lực bất tòng tay[:D]. SH rất vui khi câu chuyện có thể giúp các bạn có vài giây phút giải trí. Cảm ơn các bạn.
Trop de schtroumpfs schtroumpfent le schtroumpf
(Schtroumpf-lunette)
0
Đã mang vào thư viện
Toàn bộ " Chim Ó Biển (The Seahawk) của tác giả:Rafael Sabatini

Chúc nhà dịch giả luôn dzui và có thêm nội lực để..... dịch thêm truyện khác nữa nhé

Thân ái
0
«« « 1 2 » »»