📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

VĂN TRUYỆN SƯU TẦM ...

9 trả lời, 1.408 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-01-31 07:20:45Chân Trời Tím>
Nếu muốn ly hôn, hãy bế em ra khỏi cuộc đời anh!
[/align]
[/align]
 
Vào ngày cưới của tôi, tôi đã ôm vợ trên đôi tay của mình. Xe đưa dâu dừng tại trước tổ uyên ương của chúng tôi. Đám bạn thân của tôi nhất quyết bắt tôi phải đưa nàng ra khỏi xe trên đôi tay của mình.

Do vậy, tôi đã bế nàng vào nhà. Lúc đó, nàng là một cô dâu tròn trĩnh và e thẹn, còn tôi là một chú rể rất sung sức và tràn trề hạnh phúc.

Nhưng đó là cảnh của mười năm trước. Những chuỗi ngày sau đó cũng giản dị như một cốc nước tinh khiết: chúng tôi có con, tôi bước vào thương trường và cố gắng kiếm thật nhiều tiền. Khi của cải trong gia đình chúng tôi mỗi lúc một nhiều hơn cũng là lúc tình cảm giữa hai chúng tôi suy giảm dần.

Vợ tôi là một công chức nhà nước. Mỗi sáng chúng tôi cùng ra khỏi nhà với nhau và hầu như về nhà cùng một lúc. Con chúng tôi thì học tại một trường nội trú. Cuộc sống hôn nhân của chúng tôi nhìn bề ngoài hạnh phúc đến nỗi nhiều người phải ganh tị. Nhưng thật ra cuộc sống yên ấm đó gần như bị xáo trộn bởi những đổi thay không ngờ...

Dew đã bước vào cuộc đời tôi.

Đó là một ngày đầy nắng. Tôi đứng trước một ban công rộng lớn. Dew ôm vòng sau lưng tôi. Con tim tôi, một lần nữa, lại đắm chìm trong dòng suối yêu đương cùng nàng. Đây là căn hộ tôi mua cho cô ấy.

Dew nói: “Anh là mẫu đàn ông có sức cuốn hút với đàn bà nhiều nhất”. Câu nói của Dew đột nhiên nhắc tôi nhớ đến vợ mình. Hồi chúng tôi mới cưới, nàng nói: "Mẫu đàn ông như anh, khi thành đạt sẽ rất quyến rũ với phụ nữ". Nghĩ đến lời nói đó của vợ mình, tôi thoáng do dự. Tôi hiểu mình đang phản bội lại nàng. Nhưng tôi đã không thể cưỡng lại chính mình.

Kéo tay Dew sang một bên, tôi nói: “Em đi mua mấy món đồ nội thất nhé? Anh có vài việc phải làm ở công ty”. Hiển nhiên là nàng thất vọng rồi bởi vì tôi đã hứa sẽ cùng đi với nàng. Ngay lúc ấy, ý nghĩ phải ly hôn xuất hiện trong tâm trí tôi mặc dù trước đây ly hôn là một điều tưởng chừng không thể.

Nhưng tôi nhận ra khó mà mở lời với vợ về chuyện này. Cho dù tôi có đề cập nó một cách nhẹ nhàng đến đâu chăng nữa, cô ấy chắc chắn sẽ bị tổn thương sâu sắc.

Công bằng mà nói, cô ấy là một người vợ tốt. Tối nào, cô ấy cũng bận rộn chuẩn bị bữa ăn tối, trong khi tôi ngồi phía trước màn ảnh TV. Bữa ăn tối thường xong sớm. Sau đó, chúng tôi cùng xem TV. Không thì, tôi lại thơ thẩn bên máy tính, mường tượng thân thể của Dew. Đó là cách tôi thư giãn.

Một ngày nọ, tôi nửa đùa nửa thật nói với vợ tôi, “Giả dụ chúng ta phải ly hôn, em sẽ làm gì?”. Cô ấy nhìn chằm chặp tôi phải đến vài giây mà không nói lời nào. Hiển nhiên cô ấy tin rằng ly hôn là một cái gì rất xa vời với cô ấy. Tôi không hình dung được vợ tôi sẽ phản ứng thế nào một khi biết rằng tôi đang nói nghiêm túc về chuyện đó.

Luc vợ tôi bước vào phòng làm việc của tôi ở công ty thì Dew cũng vừa bước ra. Hầu như tất cả nhân viên ở văn phòng tôi đều nhìn vợ tôi với ánh mắt ra chiều thông cảm và cố giấu giếm chút gì đó khi nói chuyện với nàng. Vợ tôi dường như có nghe phong phanh vài lời bóng gió. Cô ấy chỉ mỉm cười dịu dàng với đám nhân viên, nhưng tôi đọc được nỗi đau trong đôi mắt ấy.

Một lần nữa, Dew lại nói với tôi: "Ninh, anh ly dị cô ấy đi? Rồi chúng mình sẽ cùng chung sống với nhau”. Tôi gật đầu. Tôi biết mình không thể chần chừ thêm được nữa.

Khi vợ tôi dọn ra bàn chiếc dĩa cuối cùng, tôi nắm lấy tay cô áy. “Anh có điều này muốn nói với em”, tôi nói. Cô ấy ngồi xuống, lặng lẽ ăn.

Tôi lại nhìn thấy nỗi đau trong đôi mắt nàng. Đột nhiên, tôi không biết phải mở miệng như thế nào. Nhưng tôi phải nói cho cô ấy biết những gì tôi đang suy nghĩ thôi. “Anh muốn ly hôn”. Cuối cùng thì tôi cũng đặt vấn đề hết sức nặng nề này một cách thật nhẹ nhàng.

Cô ấy tỏ ra không khó chịu lắm với lời tôi nói mà chỉ hỏi nhỏ “Tại sao?”. “Anh nói thật đấy”, tôi tránh trả lời câu hỏi của cô ấy. Cái gọi là câu trả lời của tôi đã khiến cô ta giận dữ. Cô ấy ném đôi đũa đi và hét vào mặt tôi “Anh không phải là đàn ông!”.

Đêm đó, chúng tôi không nói chuyện với nhau. Cô ấy khóc lóc. Tôi hiểu cô ấy muốn biết chuyện gì đã xảy ra với cuộc hôn nhân của chúng tôi. Nhưng tôi khó đưa ra được câu trả lời thỏa đáng bởi vì trái tim tôi đã nghiêng về Dew.

Trong tâm trạng tội lỗi tột cùng, tôi thảo đơn ly hôn ghi rõ cô ấy sẽ sở hữu căn nhà, chiếc xe hơi và 30% cổ phần trong công ty tôi. Nhìn lướt qua tờ đơn, cô ấy xé nó ra từng mảnh. Tôi cảm thấy tim mình đau nhói. Người phụ nữ chung sống với tôi suốt mười năm nay bỗng trở nên xa lạ chỉ trong một ngày. Nhưng, tôi không thể rút lại những lời đã nói.

Cuối cùng, điều tôi mong đợi đã đến. Cô ấy òa khóc trước mặt tôi. Tiếng khóc của cô ấy thực sự là liều thuốc an thần cho tôi. Ý định ly hôn dằn vặt tôi suốt nhiều tuần qua giờ đây dường như càng trở nên rõ rệt và mạnh mẽ.

Trời khuya, tôi về nhà sau tiệc chiêu đãi khách hàng. Tôi nhìn thấy vợ tôi đang cắm cúi viết tại bàn làm việc. Tôi nhanh chóng chìm vào giấc ngủ. Nửa đêm, tỉnh giấc, tôi thấy cô ấy vẫn ngồi viết. Tôi trở mình và ngủ tiếp.

Vợ tôi đưa ra điều kiện ly hôn: Cô ấy không cần bất cứ thứ gì của tôi, nhưng tôi phải cho cô ấy thời gian một tháng trước khi chính thức ly hôn; và trong thời gian
một tháng đó, chúng tôi phải sống với nhau một cuộc sống bình thường. Lý do chỉ đơn giản vì: tháng sau con trai của chúng tôi sẽ kết thúc kỳ nghỉ hè và cô ấy không muốn nó phải chứng kiến cuộc hôn nhân của chúng tôi đổ vỡ.

Cô ấy đưa cho tôi thư thỏa thuận cô ấy soạn sẵn và hỏi: “Anh còn nhớ em đã vào phòng cô dâu trong ngày cưới như thế nào không?”.

Câu hỏi này chợt làm sống tại trong tôi tất cả những kỷ niệm tuyệt vời ngày ấy. Tôi gật đầu và nói: “Anh còn nhớ”.

“Lúc đó, anh đã bế em trên đôi tay của anh”, cô ấy tiếp tục, “do vậy, em có một yêu cầu là anh phải bế em ra vào ngày chúng ta ly hôn. Từ giờ đến hết tháng này, anh phải bế em từ giường ngủ đến cửa nhà mình vào mỗi sáng”. Tôi mỉm cười đồng ý. Tôi biết cô ấy đang nhớ lại những chuỗi ngày ngọt ngào hạnh phúc và muốn cuộc hôn nhân của mình kết thúc lãng mạn.

 
Tôi kể cho Dew nghe về điều kiện ly hôn của vợ mình. Cô ấy cười to và cho rằng đó là một yêu cầu ngu xuẩn. “Cho dù cô ta có đưa ra mánh khóe gì chăng nữa, thì vẫn phải đối mặt với kết cục ly hôn mà thôi”, cô ấy nói một cách khinh bỉ. Lời nói đó của Dew ít nhiều khiến tôi cảm thấy khó chịu.

Vợ tôi và tôi đã không đụng chạm gì về thể xác kể từ khi tôi có ý định ly hôn. Chúng tôi đối xử với nhau như hai người xa lạ. Vì vậy ngày đầu tiên tôi bế cô ấy, cả hai chúng tôi tỏ ra khá lóng ngóng, vụng về. Đứa con trai vỗ tay theo sau chúng tôi: “Cha đang ôm mẹ trên tay”. Lời nói của con trẻ làm tim tôi đau nhói. Từ phòng ngủ đến phòng khách, sau đó mới đến cửa ra vào, tôi đã đi bộ trên mười mét với cô ấy trên tay. Cô ấy nhắm mắt và nói nhẹ nhàng, "Chúng ta sẽ bắt đầu từ hôm nay đừng nói gì cho con hay”. Tôi gật đầu và cảm thấy chút gì đổ vỡ. Tôi đặt cô ấy xuống ở cửa ra vào. Cô ấy đứng đó chờ xe buýt, còn tôi lái xe đến công ty.

Vào ngày thứ hai, chúng tôi “diễn” dễ dàng hơn. Cô ấy dựa vào ngực tôi. Chúng tôi quá gần nhau đến nỗi tôi có thể ngửi được mùi hương từ áo khoác của nàng. Tôi nhận ra rằng đã lâu lắm rồi tôi không nhìn kỹ người phụ nữ thân yêu của mình. Tôi nhận ra vợ tôi không còn trẻ nữa. Đã xuất hiện một vài nếp nhăn trên gương mặt của nàng.

Ngày thứ ba, cô ấy thì thầm vào tai tôi: "Vườn ngoài kia đang bị xói mòn đấy. Anh cẩn thận khi đi qua đó nghe".

Ngày thứ tư khi tôi nâng cô ấy lên, tôi có cảm giác chúng tôi vẫn còn là một đôi uyên ương khăng khít và tôi đang ôm người yêu trong vòng tay âu yếm của mình. Những tơ tưởng về Dew trở nên mờ nhạt dần.

Đến ngày thứ năm và thứ sáu, cô ấy tiếp tục dặn dò tôi vài thứ, nào là cô ấy để chiếc áo sơ mi vừa ủi ở đâu, nào là tôi phải cẩn thận hơn trong lúc nấu nướng. Tôi đã gật đầu. Cảm giác thân thiết, gần gũi lại trở nên mạnh mẽ nhiều hơn.
Nhưng tôi không nói với Dew về điều này. Tôi cảm thấy bế cô ấy dễ dàng hơn. Có lẽ mỗi ngày đều luyện tập như vậy đã làm tôi mạnh mẽ hơn. Tôi nói với cô ấy: “Có vẻ bế em không còn khó nữa”.

Vợ tôi đang chọn váy đi làm. Tôi thì đứng đợi để bế cô ấy. Cô ấy loay hoay một lúc nhưng vẫn không tìm ra chiếc váy nào vừa vặn cả. Rồi, cô ấy thở dài, “Mấy cái váy của em đều bị rộng ra cả rồi”. Tôi mỉm cười. Nhưng đột nhiên tôi hiểu rằng thì ra cô ấy đã ốm đi nên tôi mới bế cô ấy dễ dàng, chứ không phải vì tôi mạnh khỏe hơn trước. Tôi biết vợ mình đã chôn giấu tất cả niềm cay đắng trong tim. Tôi lại cảm thấy đau đớn. Theo phản xạ tự nhiên, tôi đưa tay chạm vào đầu cô ấy.

Đúng lúc đó, thằng con chúng tôi chạy đến "Cha à, đến giờ bế mẹ ra rồi" - nó nói. Đối với nó, hình như nhìn thấy cha bế mẹ ra đã là một phần tất yếu trong cuộc sống của nó rồi. Vợ tôi ra hiệu cho nó lại gần và ôm nó thật chặt. Tôi quay mặt đi vì sợ rằng mình sẽ thay đổi quyết định vào phút chót.

Tôi ôm cô ấy trong vòng tay, bước từ phòng ngủ qua phòng khách, qua hành lang. Tay cô ấy vòng qua cổ tôi một cách nhẹ nhàng và tự nhiên. Tôi ôm cô ấy thật chặt, tưởng tượng như chúng tôi đang trở về ngày tân hôn. Nhưng tôi thật sự buồn vì vợ tôi đã gầy hơn xưa rất nhiều.

Vào ngày cuối cùng, tôi thấy khó có thể cất bước khi ôm cô ấy trong vòng tay. Con trai chúng tôi đã lên trường. Vợ tôi bảo: “Thực ra, em mong anh sẽ ôm em trong tay đến khi nào chúng ta già". Tôi ôm cô ấy thật chặt và nói: "Cả em và anh đã không nhận ra rằng cuộc sống của chúng mình từ lâu đã thiếu vắng quá nhiều những thân mật, gần gũi".

Tôi phóng ra khỏi xe thật nhanh mà không cần khóa cả cửa xe. Tôi sợ bất cứ sự chậm trễ nào của mình sẽ khiến tôi đổi ý. Tôi bước lên tàu. Dew ra mở cửa. Tôi nói với cô ấy: “Xin lỗi, Dew, anh không thể ly hôn. Anh nói thật đấy”.

Cô ấy kinh ngạc nhìn tôi. Sau đó, Dew sờ trán tôi. “Anh không bị sốt chứ”, cô ấy hỏi. Tôi gỡ tay cô ấy ra. “Dew, anh xin lỗi”, tôi nói. “Anh chỉ có thể xin lỗi em. Anh sẽ không ly dị. Cuộc sống hôn nhân của anh có lẽ tẻ nhạt vì cô ấy và anh không nhận ra giá trị của những điều bé nhỏ trong cuộc sống lứa đôi, chứ không phải bởi vì anh và cô ấy không còn yêu nhau nữa. Bây giờ, anh hiểu rằng bởi anh đưa cô ấy về nhà, bởi cô ấy đã sinh cho anh một đứa con, nên anh phải giữ cô ấy đến suốt đời. Vì vậy anh phải nói xin lỗi với em”.

Dew như choàng tỉnh. Cô ta cho tôi một cái tát như trời giáng rồi đóng sầm cửa lại và khóc nức nở. Tôi xuống cầu thang và lái xe đến thẳng công ty.

Khi đi ngang tiệm hoa bên đường, tôi đặt một lẵng hoa mà vợ tôi yêu thích. Cô bán hàng hỏi tôi muốn viết lời chúc gì vào tấm thiệp. Tôi mỉm cười và viết “Anh sẽ bế em ra, vào mỗi sáng cho đến khi chúng ta già”.

 
[:o][:o][:o]

Mai Hạnh dịch .
(Sưu Tầm)
Chân Trời Tím .


 
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
             TÌNH YÊU KHÔNG THỂ ĐỦ !
                     (HIYAWU)
 
Mùa đông năm 1999, anh và cô quen nhau khi du lịch châu Âu... Nửa tháng sau, họ về Đài Loan... họ hoàn toàn không hề liên lạc lại... Cô sinh nhật mười chín tuổi, hôm đó bất ngờ có một lời nhắn trong hòm thư thoại. Đầu kia của hòm thư thoại truyền tới giọng một chàng trai, một giọng hơi ngượng nghịu hát bài Happy Birthday... Sau cùng chỉ vài câu ngắn ngủn, chúc mừng em sinh nhật hạnh phúc...

Một tháng sau đó, cuộc sống của anh và em đan vào nhau. Cô đi làm thêm, thường phải chạy sô lên Đài Bắc, và anh tất nhiên trở thành sứ giả hộ tống nàng. Họ thường trò chuyện rất lâu trên điện thoại về tất cả mọi điều. Cho dù nhà anh ở Đài Bắc, cô thì học ở Đài Nam... Cho dù anh thích ở nhà xem tivi, cô lại khoái đi chơi khắp chốn... Cho dù anh học tại chức ban đêm, cô là sinh viên chính quy học buổi sáng... Cho dù giữa họ là 4.5 tuổi...

Một lần, cô xong công việc ở Đài Bắc, tự đi xe bus về Đài Nam... Về chỗ gửi xe ở Đài Nam, đã hai giờ sáng... Và anh vì lo cho an toàn của cô, dặn đi dặn lại, về đến nhà nhớ gọi cho anh một cú điện nhé.

Cô bấm điện thoại, phát hiện người con trai đầu dây có gì khang khác, cô hỏi anh, có gì vậy... Anh chỉ điềm đạm nói... "Nhà anh, bạn anh đều nói sao chưa yêu em..." - "Rồi sao...? Anh nói sao...?" - "Anh thấy mình ở Đài Bắc, em lại ở Đài Nam... cách xa nhau quá... không thể được...".

"...Ôi... thế thì... đừng yêu a...!"

Hai người ở hai đầu dây bắt đầu trở nên im lặng... đột nhiên anh nói...

"Nếu giả dụ như là anh yêu em, thì liệu có làm phiền em không..?"

Thực ra lòng cô vui vô cùng, cô chưa bao giờ hy vọng cả hai có thể phải lòng, có thể yêu, thành người yêu của nhau... Vì cả hai cách nhau hai đầu nam bắc, khoảng cách là một thứ khó vượt qua được...

Cô thường không thích để anh bị bố mẹ cằn nhằn tiền điện thoại quá cao, nên cô quyết định nửa tháng một lần vẫy xe lên Đài Bắc... cô không để anh tốn quá nhiều tiền, cô không muốn để anh có gánh nặng...

Cứ thế, sáng thứ bảy ngồi bốn năm tiếng xe bus lên phía Bắc... để hai người gặp nhau một lần... rồi tối chủ nhật lại tự ngồi xe về Đài Nam, cứ như thế một năm ròng...

Anh thương cô quá.

Cô thích đi chơi công viên, anh thường lái xe đưa cô đi chơi xa như Lục Phúc, Kiếm Hồ Sơn, Làng văn hoá Cửu Tộc... Cô thích xem phim, mỗi lần cô lên Đài Bắc, anh thường dẫn cô đến cụm rạp Warner Music xem phim... Cô thích dạo phố, chỉ cần cô thích gì, thiếu gì, anh chắc chắn sẽ dắt cô đi mua tặng... Cô chưa đi vòng quanh Đài Loan lần nào, anh chỉ vì câu nói đó, mùa hè lái xe đưa cô đi du lịch quanh đảo, đi mãi đi mãi chưa một lần than mỏi...

Có một nửa đêm, cô hơi mệt, anh sợ hãi lo lắng, chạy đi hiệu thuốc nhưng không mua được thuốc, liền bỏ hai trăm tệ đi taxi, chỉ để tìm mua 80 tệ Panadon giảm đau cho cô...

Có một mùa Valentine, anh mua một con gấu bông to thật là to, để sau cốp xe ô tô, khi cô vừa xuống xe đi mua thứ gì đó, anh mang gấu ra ôm sẵn, khi cô quay lại xe giật mình vui sướng...

Vào buổi tối cuối cùng của năm 1999, cô vội vã theo chuyến xe lên Đài Bắc, hy vọng có thể cùng người yêu đón giao thừa của Thiên niên kỷ mới, 23:56... cô mới đến Đài Bắc, anh ôm cô hôn nồng nhiệt trong tiếng vỗ tay reo hò và pháo hoa tưng bừng của toà Thị chính thành phố Đài Bắc, đẹp đẽ, rực rỡ...

Họ rất ít cãi nhau...

Nhưng cha anh không thích cô...

Ông cho rằng người con gái thiếu dạy dỗ kia, cứ dăm bữa nửa tháng lại đi tìm trai kia, thì...

Nhưng ông không nghĩ đến chuyện người thiếu nữ kia luôn phải tự bỏ tiền để lên Đài Bắc, rồi lại mệt nhọc cô đơn quay về Đài Nam... Ông cũng không nghĩ rằng con trai mình đã 24 tuổi rồi, mà ông chưa bao giờ cho phép con trai tự lái xe đi Đài Nam hoặc Tân Trúc gặp cô gái... Ông cũng không nghĩ rằng, cô không một người thân ở Đài Bắc, và cũng không nhiều tiền để ở khách sạn... Ông không nghĩ rằng, ngoài việc cô gái đi lên Đài Bắc, thì anh và cô hầu như không hề có cách nào khác để gặp nhau...

Cha anh là giám đốc của một tập đoàn máy tính, ông ở công ty rất có uy quyền, ông chưa bao giờ cho ai cãi lại mình.

Nên khi ông có thành kiến với cô gái, anh đứng ra bênh, thì người bị chửi mắng lại là cô... Nên khi anh đành phải trốn xuống Tân Trúc tìm cô, thì cô là người bị chửi mắng... Và khi em trai anh ngủ dậy không gấp chăn, người bị mắng cũng vẫn là cô...

Sinh nhật cô hai mươi, anh dẫn cô đi Làng văn hoá Cửu Tộc... Đường về Đài Bắc bị kẹt xe, quá nửa đêm cả hai mới về đến nhà anh, bố anh nổi giận, ông bắt đầu giận dữ. Cô không dám nói gì, vì anh không muốn cô bị lôi vào chuyện nhà anh...

Nhưng cô vẫn bị bố anh mắng...

"Cô là con gái, phải có liêm xỉ, vì sao cứ đến nhà người khác ở?".

"Không phải tôi đã ngầm tỏ ý mời cô đi hay sao? Vì sao cô cứ đến nhà tôi?".

"Mỗi gia đình đều có cách sống riêng, cô cứ đến đây mãi, phá hỏng nếp sinh hoạt nhà tôi".

Sinh nhật cô không có ai hát bài Happy Birthday, chiếc bánh sinh nhật Sô cô la đưa vào sọt rác, làm tiệc cho bọn kiến...

Cô không đi đến nhà anh nữa...

Cô chỉ nói với anh một câu: "Người yêu có thể thay, cha thì chỉ có một".

Anh biết, anh không bảo vệ cho cô được, tình yêu ấy kết thúc lúc yêu nhau tròn một năm.

Cô khóc vào hỏi anh lý do, anh đưa ra sáu lý do: "Anh không yêu em nữa; Em quá tuỳ tiện; Bố mẹ anh không thích em; Anh sắp đi Mỹ học; Anh đã yêu người khác; Cá tính chúng ta quá khác nhau".

Sau đó thì cô không còn khóc nữa. 
 
[:o][:o][:o]

 
(Sưu Tầm)
Chân Trời Tím
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
      Ngụy Biện $ Tình yêu....
                
                    MÁC -SUN- MAN
 
         Từ lâu tôi đã muốn chiếm được Po-lie-xpai. Xin nói rõ thêm rằng lòng mong muốn này của tôi, về thực chất, không thuộc phạm trù tình cảm. Dĩ nhiên, Po-li là một cô gái làm mọi người xúc động, nhưng tôi không phải loại người để trái tim chi phối cái đầu. Tôi muốn có Po-li vì một lý do được cân nhắc kỹ càng, hoàn toàn có tính chất lý trí.

Tôi đang học năm thứ nhất trường Luật. Vài năm nữa, tôi sẽ ra trường hành nghề. Tôi biết rất rõ tầm quan trọng của kiểu người vợ khả dĩ đem lại thành công rực rỡ cho một luật sư. Những luật sư ăn nên làm ra mà tôi đã quan sát, hầu như không trừ một ai, đều có vợ là những phụ nữ đẹp, duyên dáng, thông minh. Po-li hoàn toàn đáp ứng điều đó, trừ một phương diện.

Cô ta đẹp, cái đó đã hẳn. Tuy cô chưa có kích thước của một "hoa hậu", nhưng tôi tin chắc là thời gian sẽ bổ sung vào những thiếu sót đó. Cô ta đã có sẵn những tiền đề rồi.

Cô ta rất duyên dáng, đó cũng là một điều chắc chắn. Tôi muốn nói là vẻ người cô ta rất hấp dẫn, dáng vóc thanh mảnh, phong thái, tự nhiên, cử chỉ tỏ rõ là con nhà nề nếp loại nhất. Cung cách cư xử ăn uống của cô thật là không chê vào đâu được.

Nhưng cô ta không thông minh. Nói thật tình, cô ta còn có vẻ đi theo hướng ngược lại. Nhưng tôi tin rằng dưới sự hướng dẫn của tôi, cô sẽ trở nên thông minh. Dẫu sao thì cũng đáng công thử xem thế nào. Xét cho cùng, làm cho một cô gái đẹp ngu đần trở thành thông minh còn dễ hơn là làm cho một cô gái thông minh nhưng xấu trở thành đẹp.

Cuộc hẹn gặp đầu tiên của tôi với Po-li có tính chất một cuộc điều tra. Tôi muốn tìm hiểu xem tôi sẽ phải làm gì để nâng trí tuệ của cô ta lên tới cái mức cần thiết. Trước hết tôi đưa Po-li đi ăn.

- Trời, bữa ăn ngon tuyệt - Po-li nói sau khi chúng tôi rời khỏi hiệu ăn.

Rồi tôi đưa cô đi xem chiếu bóng.

- Trời, phim hay tuyệt - Po-li nói sau khi chúng tôi rời khỏi rạp.

Sau đó tôi tiễn cô về nhà.

- Trời, hôm nay đi chơi tuyệt quá! - Po-li nói sau khi tạm biệt tôi, chúc tôi ngủ ngon.

Tôi trở về nhà, lòng nặng trĩu. Tôi đã đánh giá quá thấp khối lượng công việc tôi đã phải làm. Cô gái thiếu hiểu biết một cách khủng khiếp! Mà chỉ cung cấp hiểu biết cho cô ta thôi cũng không đủ. Trước hết mọi chuyện, phải dạy cho cô ta biết suy nghĩ. Chuyện này có vẻ là một nhiệm vụ không phải nhỏ. Và thoạt đầu, tôi đã có ý buông cô ta cho Pi-ti Be-lô, một anh chàng vẫn ve vãn cô. Nhưng rồi tôi lại nghĩ đến khuôn mặt, thân hình đẹp đẽ, hấp dẫn của cô, cái cách cô bước vào một căn phòng và cái lối cô cầm dao, cầm dĩa, thế là tôi quyết định sẽ cố gắng một phen.

Tôi đi vào công việc này một cách có kế hoạch, có hệ thống, như trong mọi việc tôi làm. Trước hết tôi dạy cô về lô-gíc. Tôi học Luật và đang học môn Lô-gic, cho nên nắm rất vững vấn đề. Lần gặp sau tôi bảo Po-li :

- Này em, tối nay chúng ta đi chơi nói chuyện.

- Ô, tuyệt quá! - Po-li đáp.

Chúng tôi tới công viên, ngồi dưới một gốc cây sồi cổ thụ và cô nhìn tôi, vẻ chờ đợi :

- Chúng ta nói chuyện gì bây giờ, hở anh ?

- Nói chuyện về lô-gíc.

Po-li suy nghĩ một lát rồi quyết định là cô ta thích vấn đề đó:

- Tuyệt!

Tôi hắng giọng:

- Lô-gíc là khoa học về tư duy. Trước khi biết cách suy nghĩ đúng đắn, trước hết chúng ta phải học cách nhận ra những cái ngụy biện thông thường của lô-gíc. Tối nay chúng ta nói về vấn đề đó.

- Tuyệt! - Po-li vỗ tay ra vẻ rất thích thú.

Tôi chớp mắt nhưng vẫn dũng cảm tiếp tục:

- Trước hết, chúng ta hãy nghiên cứu cái ngụy biện gọi là "phép đơn giản hóa".

- Ôi, anh nói đi - Po-li giục tôi, hai hàng lông mi chớp chớp, chờ đợi.

- Phép đó trỏ một lý lẽ dựa trên một sự-khái quát hóa không đúng. Thí dụ: tập thể dục là tốt. Do đó ai ai cũng phải tập thể dục.

- Đồng ý! Em đồng ý đấy. - Po-li hăm hở - ý em muốn nói là tập thể dục rất tuyệt, nó làm cho cơ thể cân đối, đẹp ra và vân vân...

Tôi nhẹ nhàng bảo:

- Po-li, lý lẽ đó là ngụy biện. "Tập thể dục là tốt" là một khái quát hóa không đúng. Chẳng hạn, nếu ta đau tim, thì tập thể dục là không tốt, mà còn là có hại. Nhiều người được bác sĩ dặn là không được tập. Cho nên ta phải xác định cho đúng sự khái quát hóa đó: phải nói là "tập thể dục, thường là tốt" hay là "tập thể dục là tốt đối với nhiều người". Nếu không ta sẽ phạm phải cái lối ngụy biện "đơn giản hóa". Em rõ chưa nào?

- Chưa. - Po-li thú thật - Nhưng hay lắm! Anh nói nữa đi!

- Em đừng giật tay áo anh như thế. - Tôi bảo, rồi nói tiếp - Rồi đến lối ngụy biện gọi là "Khái quát hóa vội vã". Em hãy nghe cho kỹ: Anh không nói được tiếng Pháp, em không nói được tiếng Pháp. Pi-ti Be-lô không nói được tiếng Pháp. Do đó anh phải kết luận rằng ở trường đại học Mi-nê-xô-ta này, chẳng ai nói được tiếng Pháp cả.

- Thật à? - Po-li ngạc nhiên hỏi - Không ai nói được à?

Tôi cố gắng che giấu nỗi thất vọng, bực dọc:

- Po-li, đấy là một ngụy biện. Khái quát hóa quá vội vã. Có quá ít thí dụ để đảm bảo cho một kết luận như vậy.

Po-li hối hả giục:

- Anh còn biết những ngụy biện gì nữa không? Thật là tuyệt, có lẽ còn tuyệt hơn cả khiêu vũ nữa chứ!

Tôi cố gạt đi nỗi thất vọng đang dâng lên trong lòng. Tôi đang làm một việc uổng công với cô gái này, có lẽ chẳng đi đến đâu cả. Nhưng được cái là tôi kiên nhẫn nên vẫn tiếp tục:

- Rồi đến lối ngụy biện "Nhân quả sai". Em nghe đây : chúng ta đừng nên rủ Bin đi chơi nông thôn. Mỗi lần rủ anh ta đi là trời lại mưa.

Po-li thốt lên :

- Đúng thế đấy! Em biết có một người như vậy. Một cô gái, tên là Ơ-la Bếc-cơ, không sai một lần nào. Cứ có cô ta đi cùng là y như rằng trời mưa...

Tôi hơi gắt :

- Po-li, đó là ngụy biện. Ơ-la Bếc-cơ không làm ra mưa. Cô ta chẳng liên quan gì đến trời mưa hết. Em đã phạm vào ngụy biện nếu em trách cứ Ơ-la Bếc-cơ về chuyện trời mưa.

Po-li tiu nghỉu hứa :

- Vâng, em sẽ không bao giờ làm thế nữa. Anh giận em đấy à ?

Tôi thở dài :

- Không, Po-li, anh không giận em.

- Thế anh nói nữa về ngụy biện đi!

- Ta hãy xem xét lối "tiền đề mâu thuẫn"

- Vâng, vâng, anh nói đi. - Po-li nói, ánh mắt sáng lên vì sung sướng.

Tôi hơi cau mày, nhưng đã trót đâm lao ...

- Đây là một thí dụ : Nếu Chúa làm được mọi việc, vậy thì liệu Chúa có thể làm ra được một tảng đá mà Chúa không thể nhấc lên nổi không ?

- Tất nhiên là được rồi còn gì nữa. - Po-li đáp ngay.

- Nhưng em không thấy là nếu Chúa có thể làm được bất cứ việc gì, thì Chúa có thể nhấc nổi hòn đá chứ ?

- Ừ nhỉ. - Po-li có vẻ suy nghĩ - Thế thì có lẽ là Chúa không làm được hòn đá đó.

- Nhưng Chúa làm được mọi chuyện cơ mà ! - Tôi nhắc.

Po-li gãi gãi cái đầu xinh đẹp nhưng trống rỗng của cô, cuối cùng cô thú nhận :

- Em chẳng biết thế nào nữa.

- Dĩ nhiên là em biết làm sao được. Vì khi tiền đề của một lý lẽ mâu thuẫn với nhau thì không thể có lý lẽ được nữa. Nếu như có một sức mạnh không gì cưỡng nổi thì không thể có một vật gì không thể lay chuyển được. Nhưng nếu có một vật không thể lay chuyển được thì tất nhiên là không thể có một sức mạnh không gì cưỡng nổi. Rõ chưa ?

- Anh nói cho em nghe rõ thêm nữa đi. - Po-li hăng hái nói.

Tôi nhìn đồng hồ :

- Có lẽ tối nay nên dừng lại ở đây thì hơn. Bây giờ anh đưa em về, em sẽ ôn lại tất cả những cái đã học. Tối mai chúng ta sẽ tiếp tục học bài mới.

Tôi đưa Po-li về ký túc xá của cô. Cô cho tôi biết là cuộc đi chơi trò chuyện tối đó thật là tuyệt. "Cực kỳ đấy!" - Cô nói. Còn tôi thì buồn rầu trở về chỗ tôi ở. Có vẻ dự định của tôi sẽ thất bại mất thôi. Cô gái rõ ràng là có cái đầu không hiểu nỗi lô-gíc.

Nhưng rồi tôi lại nghĩ lại. Tôi đã phí mất một buổi tối. Mất một buổi nữa cũng chẳng sao. Biết đâu đấy. Có thể đâu đó trong cái trí óc tắt ngấm của cô ta vẫn còn âm ỉ vài cục than hồng, biết đâu tôi chẳng làm cho chúng bùng cháy lên. Đành rằng chẳng có nhiều nhặn hi vọng gì, nhưng tôi quyết định thử thêm một lần nữa.

Tối hôm sau, ngồi dưới gốc cây sồi, tôi bảo :

- Ngụy biện mà tối nay chúng ta đề cập đến là "Dùng thương hại làm mủi lòng".

Po-li run lên vì thích thú.

- Em hãy nghe cho kỹ nhé. Một người đi xin việc. Khi ông chủ hỏi khả năng chuyên môn của anh ta thì anh ta trả lời là anh ta có một vợ và sáu con, vợ thì què quặt không làm được gì, con cái thì chẳng có gì ăn, không có áo mặc, chân không có giày, nhà thì không có giường, không có than mà mùa đông lại sắp tới ...

Môt giọt nước mắt lăn trên gò má hồng của Po-li. Cô sụt sịt :

- Ôi, thật là thảm quá !

- Đúng, thật là thảm. - Tôi đồng ý - Nhưng đó không phải là một lý lẽ. Người kia đã không trả lời vào câu hỏi của chủ về khả năng chuyên môn của anh ta mà lại đi kêu gọi lòng thương của chủ. Anh ta đã phạm vào ngụy biện "Dùng thương hại làm mủi lòng". Em hiểu chưa ?

Cô ấp úng :

- Anh có khăn mùi xoa đấy không ?

Tôi đưa mùi xoa cho cô và cố nén tiếng hét đang ứ lên cổ trong khi cô ta lau nước mắt. Tôi cố kiềm chế giọng nói của mình cho bình thường :

- Bây giờ ta bàn đến "Loại suy sai". Đây là một thí dụ : Sinh viên phải được phép nhìn vào sách giáo khoa trong khi thi. Xét cho cùng thì các nhà phẫu thuật trong khi mổ, có máy X-quang hướng dẫn, luật sư khi cãi trước tòa, có giấy tờ, văn bản trong tay, thợ mộc dựng nhà có bản thiết kế hướng dẫn... Vậy thì tại sao sinh viên lại không được phép xem sách khi thi ?

Po-li hăng hái nói :

- Ồ, đúng là một ý cực kỳ hay mà nhiều năm nay em chưa từng nghe thấy.

Tôi nói sẵng :

- Po-li. Lý lẽ đó hoàn toàn sai. Bác sĩ, luật sư, thợ mộc, ... không phải là đang thi để xem họ đã học được những gì, khác với anh sinh viên. Hoàn cảnh họ hoàn toàn khác, không thể loại suy được.

- Em vẫn cho đó là một ý cực kỳ ... - Po-li nói.

- Cực kỳ... con khỉ - tôi lầm bầm, nhưng tôi vẫn ngoan cường tiếp tục - Sau đây ta xét đến ngụy biện "Giả thuyết trái với thực tế".

- Nghe có vẻ hay đấy nhỉ - Po-li nói.

- Em nghe đây : Nếu bà Quy-ri không tình cờ để quên một phim ảnh trong ngăn kéo cùng với một mẩu quặng Ra-đi-um thì ngày nay thế giới chẳng biết gì về Ra-đi-um hết.

- Đúng - Po-li gật gật - Anh có xem phim không ? Chà, thật là mê li ! Tài tử Oanh-tơ Pít-giơn thật là hết ý!...

- Em có thể quên cái nhà ông Pít-giơn đó đi một lát được đấy - Tôi lạnh lùng nói - Anh muốn chỉ ra rằng lời tuyên bố đó là một ngụy biện. Có thể bà Quy-ri sẽ tìm ra Ra-đi-um một ngày nào sau đó. Có thể một người khác sẽ tìm ra. Không thể bắt đầu bằng một giả thuyết không thật rồi từ đó rút ra những kết luận có cơ sở được.

- Đáng lẽ ra họ phải để Oanh-tơ Pít-giơn đóng nhiều phim hơn mới phải. - Po-li nói - Em chẳng được xem thêm phim nào có anh ta nữa.

Tôi quyết định thử một lần cuối cùng. Chỉ một lần nữa thôi. Máu thịt con người chịu đựng cũng có giới hạn.

- Ngụy biện tiếp theo được gọi là "Bỏ thuốc độc vào giếng".

- Ồ, kỳ lạ nhỉ ? - Po-li trố mắt.

- Hai người tranh luận với nhau. Người thứ nhất đứng dậy nói "Đối phương của tôi là một tay nói dối có tiếng. Các ngài không thể tin được một lời nào của anh ta đâu." ... Po-li, bây giờ em nghĩ đi. Nghĩ cho kỹ. Sai ở đâu?

Tôi chăm chú nhìn cô ta trong lúc cô nhíu tít cặp lông mày mượt mà, cong vút. Bỗng một ánh thông minh lóe lên - ánh đầu tiên tôi thấy - trong mắt cô. Cô công phẫn nói:

- Thế là không công bằng. Hoàn toàn không công bằng. Người thứ nhất bảo người thứ hai là một kẻ nói dối ngay cả trước khi người thứ hai mở miệng thì người này còn có hi vọng gì nữa?...

- Đúng ! - Tôi phấn khởi kêu to - Đúng một trăm phần trăm ! Người thứ nhất đã "bỏ thuốc độc vào giếng" trước khi mọi người uống nước giếng. Anh ta đã hãm hại đối phương trước khi người này bắt đầu... Po-li, anh rất tự hào về em...

- Ồ! - Cô lẩm bẩm, mặt đỏ lên vì sung sướng.

- Em thân mến, em thấy không, có gì là khó đâu ? Chỉ cần em tập trung suy nghĩ thôi... Suy nghĩ - nghiên cứu, đánh giá. Bây giờ ta ôn lại tất cả những gì ta học nhé !

- Anh cứ hỏi đi. - Po-li khẽ vung bàn tay, bình tĩnh nói.

Phấn khởi vì thấy Po-li cũng không phải là ngu đần gì, tôi kiên nhẫn nhắc lại tất cả những điều tôi đã giảng giải. Tôi nêu lên nhiều thí dụ, chỉ ra những chỗ sai, ra sức phân tích không biết mệt, cứ như là đào hầm vậy... Tôi không biết lúc nào thì ra tới ánh sáng mà liệu có ra được tới ánh sáng không đây. Nhưng tôi kiên trì đào, bới, cuốc, cào... Và cuối cùng tôi đã thành công, tôi đã thấy hé ra một ánh sáng. Rồi ánh sáng đó lớn dần và mặt trời lùa vào, mọi thứ đều sáng rực.

Mất năm tối cả thảy, nhưng thật là bõ công. Tôi đã biến Po-li thành một người tinh thông lô-gíc. Tôi đã dạy cho cô biết suy nghĩ. Công việc của tôi đã xong. Cuối cùng cô đã xứng đáng với tôi. Đúng là một người vợ thích hợp cho tôi, xứng đáng với nhà cao cửa rộng tôi sẽ có sau này, một người mẹ thích hợp với những đứa con thông minh, xinh đẹp của tôi...

Đừng nghĩ rằng tôi không yêu Po-li. Trái lại. Cũng như Píc-ma-li-ôn yêu tượng người phụ nữ hoàn hảo mà ông đã tạc ra, tôi yêu người con gái mà tôi đã đào tạo nên. Tôi quyết định ngỏ cho cô ta biết tình cảm của tôi vào buổi gặp sắp tới. Đã đến lúc phải biến chất mối quan hệ giữa chúng tôi, từ tính chất kinh viện sang tính chất lãng mạn.

- Po-li - tôi nói, khi chúng tôi ngồi dưới cây sồi - Tối nay, chúng ta sẽ không nói đến những ngụy biện nữa.

- Ồ! - Cô nói, có vẻ thất vọng.

- Em thân yêu - Tôi hạ cố mỉm cười với cô - Chúng ta đã ngồi với nhau năm tối rồi. Năm tối rất tốt đẹp. Rõ ràng là chúng ta rất hợp với nhau.

- "Khái quát hóa vội vã" - Po-li nhắc lại - Làm sao anh có thể nói được là chúng ta rất hợp nhau trên cơ sở có năm cuộc gặp gỡ thôi?

Tôi tặc lưỡi, thú vị. Cô bé học thuộc bài quá.

- Em ạ. - Tôi vuốt ve bàn tay cô một cách khoan dung - Năm lần gặp nhau là quá đủ rồi. Xét cho cùng, em chẳng cần ăn hết một cái bánh ga-tô mới biết là bánh ngon chứ?

- "Loại suy sai" - Po-li nói ngay - Em không phải là một cái bánh ga-tô, em là một cô gái.

Tôi tặc lưỡi, lần này kém phần thú vị hơn lần trước. Có lẽ cô bé học bài thuộc quá mức cần thiết. Tôi quyết định đổi chiến thuật. Rõ ràng phương pháp tốt nhất là tỏ tình một cách đơn giản, mạnh mẽ, trực tiếp. Tôi ngừng một lát trong khi khối óc đồ sộ của tôi lựa chọn những lời lẽ thích đáng. Rồi tôi bắt đầu:

- Po-li, anh yêu em. Em là tất cả vũ trụ đối với anh, là mặt trăng, là những ngôi sao, những chòm tinh tú trong không gian. Em thân yêu, em hãy nói là em sẽ sống suốt đời với anh vì nếu không thì cuộc đời đối với anh sẽ không còn ý nghĩa gì nữa. Anh sẽ khô héo, tàn tạ, anh sẽ không ăn, không ngủ, đi lang thang trên mặt đất này như một bóng ma âu sầu, thui thủi...

Tôi khoanh tay lại, chắc là phải "ăn tiền" rồi.

- "Dùng thương hại làm mủi lòng". - Po-li nói.

Tôi nghiến răng ken két. Tôi không phải là Píc-ma-li-ôn, tôi là Phrăn-ken-xten và con quỷ đang bóp cổ tôi. Tôi cuống cuồng đẩy lùi làn sóng hoảng hốt đang tràn lên trong lòng. - Bằng bất cứ giá nào, tôi phải bình tĩnh - Tôi gượng cười:

- Ồ, Po-li, em thuộc bài về ngụy biện quá nhỉ?

- Đúng thế! - Po-li gật mạnh đầu.

- Thế ai dạy em?

- Anh chứ ai nữa?

- Đúng. Vậy là em cũng nợ anh một cái gì đó, phải không em? Nếu không có anh, em chẳng bao giờ biết về ngụy biện.

- "Giả thuyết trái với thực tế". - Po-li lại nói ngay.

Tôi quệt mồ hôi trán.

- Po-li, - Giọng tôi khàn khàn - Em không nên hiểu những cái đó máy móc quá! Anh muốn nói đó chỉ là những chuyện ở trường học thôi. Em cũng biết đấy, chuyện sách vở ấy mà, nào có ăn nhằm gì với đời sống thật đâu!

- Lại "đơn giản hóa" rồi. - Po-li vừa nói vừa vui vẻ trỏ vào mặt tôi.

Tôi không nhịn được nữa, vùng đứng lên, rống như một con bò:

- Thế em có bằng lòng lấy anh không thì bảo?

- Không. - Cô đáp.

- Tại sao?

- Vì chiều hôm nay em đã hứa hôn với Pi-ti Be-lô rồi mà!
 
       (Sưu Tầm)
    Chân Trời Tím.
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-02-04 07:42:49Chân Trời Tím>
                                        ĐÊM TRĂNG.
                                                              (Thế Lữ )
Đường quanh co ở giữa hai bên rừng núi phần nhiều là hẹp và xấu lắm; chúng tôi phải cho ngựa dẫn hàng một tiến lên.

ở Pa Khá, chỗ nghỉ sau cùng tới đây, từ 12 giờ trưa đến bây giờ gần 6 giờ chiều, mà chỉ đi được chừng ba mươi cây số. Hồi ấy vào trung tuần tháng hai. Trời về tiết xuân, nhưng gặp được lúc ấy cũng ấm áp dễ chịu.

Chúng tôi dừng ngựa lại trước một cái nhà lều rộng lớn, làm trên một khoảng đất san phẳng, lấn vào khu rừng phía tay trái độ bốn năm sào. Lều dựng theo lối ta, mái lợp tranh, ba phía vách bằng phên nứa hãy còn xanh tươi: cửa cũng bằng phên, nhưng đan chưa xong, còn đặt nằm dưới đất. Chỗ này dựng lên để cho những người đi xa nghỉ chân và nhân thể cho bọn người Thổ săn bắn ở vùng này làm nơi tạm trú. Cái lều cao, rộng hơn nhà ta ở nhiều lắm, nhưng trống hơn không có bầy biện gì. ở mặt đất giữa lều, chỉ thấy một đống củi gỗ rấm, một tia khói đưa lên thong thả, với năm ba chiếc ghế thấp vứt bỏ chung quanh. áp theo cả chiều dài bức vách trong cùng và bức vách phía trái còn có một thứ tầng cũng đan bằng nứa, rộng ngót một thước tây, cao lên tới ngực, buộc vào những cột chống là mấy khúc cây nhỏ mới đẵn về. Thấy có hai người Thổ đang thõng chân nằm ngủ ở trên, tôi đoán đó là một thứ chõng hay một thứ giường phên mới ứng chế.

Gởi người buộc ngựa rồi, chúng tôi vào lều giở bánh tây, cơm nắm, lạp xường và giò chả ra ăn với nhau. Trong lều không có đèn, chúng tôi ngồi quây lấy đống củi bấy giờ đã thổi cháy to lên cho sáng. Những chuyện Mán Thổ núi rừng tất nhiên được dịp đem ra nói. Người thì khoe những cảnh lạ, những điều kỳ quái ghê sợ mà mình đã trải qua; người thì thuật những phen thập tử nhất sinh ở chốn ma thiêng nước độc; nhưng đậm đà nhất là những chuyện trăng gió đường rừng, những chuyện hát đúm ở các chợ phiên. Mỗi người đều có một chuyện "tìm hoa" trong làng để nhắc lại.

Nhân đó một người bạn kể cho tôi nghe những bước phiêu lưu của một người đàn ông mà thỉnh thoảng tôi được gặp trong cái thì giờ đứng uống bát nước ở một hàng quán. Ông này là người Kinh, nhưng nét mặt với tiếng nói thì y như người Thổ; vóc dáng trông đẫy đà lực lưỡng, bao giờ cũng mặc một bộ quần áo bằng vải ka-ki. Ông ta rất táo tợn; trong bọn đi rừng đến cả người Thổ cũng phục ông ta là người thạo và xông pha nhất. Họ gọi ông ta là ông Ba-đi-ghệt - nhưng cái sính đi ghệt ông ta đã bỏ, chỉ còn lưu lại cái tên hiệu thôi. Ông Ba chẳng ở lâu được một chỗ bao giờ; gặp việc gì ở đâu cũng đi nhận làm ngay, thấy cái gì cũng buôn: gỗ, vải vóc, thuốc phiện lậu, xương hùm, nấm hương, nhung hươu, đủ mọi thứ. Có một điều ai cũng chú ý nhất mà ông vẫn đem khoe với bất kỳ người nào muốn nghe chuyện, là đến đâu, ở đâu ông ta cũng tìm được một người con gái để kết duyên hờ với mình. ở với nhau được ít ngày rồi một hôm, người con gái Thổ thấy ông ta đi không bao giờ trở về nữa. Tôi chưa ngồi nói chuyện với ông Ba-đi-ghệt bao giờ nên không biết rõ tâm địa của người đàn ông ấy. Nhưng tôi xem ra thì không mấy người ưa. Họ bảo rằng ông ta bạo dạn thì không ai hơn, nhưng mà giảo quyệt nham hiểm cũng không ai bằng nữa.

Ăn uống xong, tôi để các bạn ngồi đó, giải áo khoác lên chiếc chõng bên cạnh một cái cửa sổ mắt cáo rồi nhảy lên ngả lưng. Tôi duỗi thẳng chân ra nằm, vươn vai mà thở một hơi thực dài đuổi hết những cái mệt nhọc nặng nề từ trước. Không gì khoái chá bằng được nghỉ ngơi sau một cuộc trèo non lội suối đường trường.

Hai người Thổ vẫn ngủ say, tiếng ngáy rờn rợn. Các bạn đi đường thì bàn nhau vào ngủ trong làng, nhân tiện để tìm mấy đóa hoa rừng. Hôm ấy có cuộc hát thi, vì gặp ngày làng mở hội.Tôi lẳng lặng nhắm mắt không trả lời ai hết, vì tôi không muốn theo họ và để phí mất lúc khoan khoái dễ chịu bấy giờ. Tâm hồn tôi thấy bâng khuâng như nằm ở trên mây, trí tưởng chập chờn... rồi giấc ngủ dịu dàng dần tới.

Tôi mở mắt ra thì trăng xuyên qua khung cửa sổ mắt cáo đã đặt trên mình tôi những mảng sáng vuông nhỏ. Bấy giờ có lẽ đã nửa đêm, hai người Thổ không còn ngủ gần tôi, mà các bạn người Kinh cũng đi cả.

Tôi không muốn ngồi dậy, cứ để nguyên giầy mà nằm yên đó, hai mắt lim dim.

Nhưng tôi không buồn ngủ thêm nữa.

Trong mình thấy tỉnh táo vui lắm. Huyết mạch lưu thông như hơi gió thổi; tôi tưởng chừng có thứ thuốc tiên trong thân thể, khiến cho người tôi bỗng chốc thành khinh khoái như bay...

Tôi lắng tai nghe. Một dải suối róc rách ở gần, tiếng sóng như thủy tinh gieo vào trong thứ giọng rù rì rối tăm của những côn trùng dưới cỏ. Sau lều thì khu rừng cây yên lặng như ngủ kỹ, nhưng ở trong đưa những tiếng bí mật, khiến cho mình cảm thấy được cái sinh hoạt của nó trong lúc đêm khuya. Một con hươu đang ngớ ngẩn nhìn cái lều vắng không. Những tiếng rất nhẹ của con sóc chạy trên cành; những tiếng lá cựa dưới mình một con vật đang nằm, một tiếng vỗ cánh nặng nề của con chim lớn. Từng trận gió thổi qua, một loạt lá rơi dào dạt, rồi tất cả lại im lặng như ngóng đợi, như nín hơi. Xa xa, rõ thực xa, giọng thác ào ào, để ý thì mỗi lúc thấy một gần thêm, rồi lại xa dần, rồi lại như biến đi mất. Có khi nghe như tiếng muôn nghìn người ồn ào đưa từ đâu đâu tới; phảng phất trong trí não tôi hình dung ra những cảnh chợ búa xe pháo ở chốn thị thành.

Tôi cứ nằm đó nghe hoài. Nghe càng lâu muôn tiếng càng hỗn độn. Sau cùng thành một thứ giọng rì rào mờ ám mỗi khắc một nhạt dần. Thần trí lại chịu một sức thôi miên ma túy đưa lại đâu từ chốn bồng lai. Văng vẳng trên không, chỉ còn những tiếng nhạc gần rồi lại xa, với những hơi sáo rất nhỏ, rất trong, và cao tít.

Bỗng đâu, một cơn gió lạnh thổi qua làm tôi hơi rùng mình. Tôi thở dài rồi mở hé mắt; trên lông mi những phấn bụi ánh sáng đang nhảy nhót rập rờn. Tôi lại thấy như không phải nằm đó một mình... Hình như có ai đứng bên tôi. Mà "ai" đó hình như là một người thiếu nữ. Tôi chắc đó chỉ là hình ảnh của sự mơ màng thôi, nên cứ lặng yên, bỗng thấy một bàn tay, một bàn tay bé nhỏ dịu dàng, êm ái để lên vai tôi:

- Đêm trăng sáng đẹp như thế này mà không đi nghe hát một lúc chơi, lại nằm đây ngủ!...

Câu nói tiếng Thổ, giọng dẻo dang trong trẻo nghe rất hay. Chưa nhìn cũng chắc người đứng đó là đẹp lắm. Tay người thiếu nữ lại lay tôi lần nữa.

Tôi mở hẳn mắt nhìn cô ta nhoẻn miệng cười:

- Đi dậy đi anh. Dậy đi chơi một tý!

Cô ta đứng trước cái cửa sổ vách liếp và ngoảnh mặt ra phía rừng. Người vào trạc mười chín, hai mươi, hai mắt tinh anh, đẹp lạ thường, đôi má đầy, mơn mởn đào non, nhỏ và mướt.

- Trời ơi! Con gái Thổ mà có người nhan sắc đến thế này ư? Tôi mơ hay tỉnh?

Tôi nghĩ bụng thế, rồi ngồi dậy, thì ra tỉnh chứ không phải mơ. Tôi hỏi cô ta:

- Cô em ở đâu đến?

- Tôi ở trong làng (Cô vừa nói vừa lấy bàn tay lau miệng).

- Làng cô xa không?

- Không xa lắm.

- Cô em có đi với ai nữa không?

- Không.

Tôi bối rối quá, vì cô ta bỗng dưng có vẻ thẹn. Tôi ngẩn người ra, không biết hỏi thêm câu gì. Tôi nhìn cô ta một lúc lâu, cô ta ngẩng lên nhìn tôi rồi trông đi chỗ khác.

Giá tôi đừng nín lặng, hỏi chuyện nữa đi mới phải. Nhưng biết hỏi gì? Những phút đối diện yên lặng ấy sao mà dài và khó chịu đến thế!

Tôi ngượng nghịu quá chừng. Xin thú thực rằng xưa nay tôi nói đùa với các chị con gái Thổ đã nhiều, nhưng tôi đều coi thường, không để ý gì đến ai hết. Cũng nhiều cô kháu lắm, song không ai có thể gọi là đẹp, đẹp trong trẻo và say đắm như cô này.

Tôi nghĩ mãi, mà chẳng có câu nào cho hợp lúc cả; mãi sau mới hỏi lên được:

- Cô em ở đâu đến?

Thì lại là câu mình đã hỏi rồi.

Cô con gái nhìn tôi hơi ngạc nhiên, song cũng đáp:

- Tôi ở trong làng.

- Gần không?

- Không xa lắm.

- Nhưng cô em đi đâu thế?

Cô Thổ đã hết thẹn, tươi cười nét mặt và nhanh nhẹn trả lời:

- Tôi đi chơi. Tôi đến đây thấy có ngựa buộc ở ngoài kia, tôi vào, không có ai, chỉ có anh ngủ... Tôi vào rủ anh đi nói chuyện chơi.

Rồi cô cười, mà cười quá chừng: tiếng giòn và đầy đặn. Tôi cũng cười góp nhưng nghĩ thầm:

- Quái lạ, chả nhẽ người này lẳng lơ đến nỗi đi tìm một người đàn ông ngủ một mình để nói chuyện với, hay sao?

Tôi nhìn người thiếu nữ một lần nữa: Không! Cô ta chỉ có vẻ đẹp đẽ, trong sạch và rất đáng yêu quý thôi. Đôi mày đưa cong lên ở dưới cái trán bịt khăn chàm, có một vẻ kín đáo ý nhị, tôi ưa quá. Tôi lại hỏi cô:

- Thế cô em vào đã lâu chưa?

- Vào lâu rồi. Tôi xem anh ngủ mãi.

- Tôi không ngủ, mà sao tôi không biết?

- Anh ngủ đấy mà!

Cô vừa thong thả nói lại vừa cười. Cô cười sao xinh thế! Con người nhan sắc mà có duyên thay!

- Này cô em...

Cô bé nhìn tôi. Nhưng tôi không tiện hỏi câu ấy. Miệng cô vẫn hé nở, để lộ ra một nét trắng nhỏ của đầu hàng răng trên. Cô lại ưỡn ẹo dựa cái thân mềm mại vào chân tôi, làm cho tôi gợn cả người lên và không nghĩ đến những cái vẩn vơ như trước nữa. Tôi mỉm cười và liều để tay lên vai cô ta. Người con gái nói luôn:

- Anh nhé, anh đi chơi nói chuyện với tôi nhé. Tôi... tôi đến rủ anh đi chơi...

- Cô thích đi chơi với tôi à?

- Thích. Mà thế nào cũng đi nhé?

- ở đây nói chuyện cũng được chớ sao?

Nói rồi, tôi liền xốc nách bế cô ngồi lên với tôi, và lấy áo phủ khoác cho tấm thân xinh bé ấy. Cô ta có ý không bằng lòng, bỏ áo của tôi xuống và ngồi nhích ra một chút. Cô mặc một chiếc áo chàm mới, lúc ấy trông thẫm đen: áo cài một bên nách, hở cổ, thân ngắn, tay rộng, thắt ở ngang lưng; chiếc váy cộc cũng bằng vải chàm và cũng mới. Cái đen tối dưới lều trong trẻo dịu dàng; chúng tôi hình như ở dưới bóng rợp của một thứ "nắng trăng". Cửa trước lều không đóng, lại thêm có ba cái cửa sổ mắt cáo ở vách trong nên chúng tôi trông được tỏ mặt nhau và cả những gói hành lý để ở một góc.

Lúc ấy hai tay cô gái thu lại để chồng lên một đùi. Chân cô buông thõng và hơi đưa đẩy, nét mặt cô có vẻ buồn bực làm cho tôi lo ngại.

Tôi lấy tay nhẹ nâng lấy cằm người thiếu nữ rồi kéo lại cho trông tôi:

- Cô em không muốn ngồi với tôi sao?

Cô sẽ mỉm cười:

- Sao không muốn? Không thì tôi "lại với anh" làm gì?

- Thế cô muốn nói chuyện với tôi lắm sao?

Cô Thổ lại cười:

- ừ, muốn!

Tôi đánh liều hỏi một câu nữa:

- Thế cô em yêu tôi chứ?

- Anh bảo cái gì hả?

Tôi ghé vào tai cô nói:

- Em... có yêu tôi không?

Cô vơ vẩn trả lời:

- Không biết.

Rồi lại vơ vẩn nhìn tôi.

Bấy giờ, tấm lòng xuân phơi phới của tuổi hai mươi lăm bị khích động mà sôi nổi trong người tôi, khiến cho tôi quên cả chủ định từ trước. Tôi liền ôm lấy cô bé, ôm bằng cả một tấm lòng chứa chan yêu dấu và bảo cô rằng:

- Sao lại "không biết" hở em? Em đến đây với tôi như một người trong giấc mơ màng, tôi có biết em là ai đâu; nhưng tôi yêu em ngay, mà sao em cứ lững lờ không để cho tôi biết bụng em thế?

Tôi còn nói nhiều câu rất ngọt ngào, nhiều lời rất hay, mà cái vốn tiếng Thổ của tôi có thể cho nói được.

Hơi nóng trong người cô thiếu nữ như thấm vào người tôi, vào tận trong huyết mạch; tôi mơn trớn cô ấy như một con chim bé nhỏ mà người ta nâng lên để vào trái tim mình...

Bỗng nhiên, cô đẩy khẽ tôi ra, ngồi thẳng lên, buộc lại cái khăn chàm; rồi tụt đứng xuống đất. Tôi nhìn cô ra ý hỏi duyên cớ, thì cô cau đôi mày lại, bảo tôi:

- Tôi không bằng lòng thế ! Tôi lại rủ anh đi đằng này với tôi kia mà.

Tôi cũng đứng xuống đất, giữ lấy hai vai cô, rồi nhìn vào cái mặt lạnh lùng của cô mà nói:

- Trời ơi! Em biết không! Trong lúc đêm khuya canh vắng em đến đây, em gọi tôi, em làm cho tôi vui sướng vô cùng; em là con gái, mà em lại xinh đẹp dường này! Thế thì em bảo tôi không yêu mến em sao được?

Cô Thổ nhìn tôi:

- Nhưng anh đi đằng này với tôi đã.

Tiếng cô nói gọn, nhất quyết; tôi hơi sinh nghi. Nhưng cô mỉm cười ngay; cô lại kéo lấy tay tôi nói một cách nũng nịu:

- Đi chơi một lúc thì sao? Anh nhé, đi chơi với tôi một lúc nhé, anh bằng lòng đi!

- Mà đi đâu bây giờ?

- Chơi bên rừng... trên bờ thác, xem nước chảy. Đêm trăng đẹp, đẹp quá, không đi cũng hoài...

Tôi nói:

- Không sợ hổ à?

Cô ta cười mấy tiếng khẽ:

- Sợ hổ! Đây không có hổ - hay có cũng ít khi lắm. Vả lại có trăng kia mà. Anh nằm đây còn không sợ thì đi chơi có sợ gì? Anh à, anh đi với tôi nhé!

Bên rừng tối trên thác sâu, ở những nơi phong cảnh đêm khuya hoang dại này phải đâu là nơi để khách đa tình đến cùng nhau than thở? Người con gái Thổ chắc cũng chả ưa gì những chốn ấy cho lắm, thế mà cứ thiết tha nài tôi đi cho được, hẳn cũng có duyên cớ gì đây? Mà duyên cớ gì? Trông cái mặt nhan sắc dịu hiền thế kia, tôi không thể cho cô ta là một người có lòng bí hiểm được.

Tôi ngẫm nghĩ một lát, rồi quyết thử "đi chơi" với cô ấy xem sao.

Tôi lấy cái áo phủ khoác lên vai, thắt lại cái thắt lưng da ở áo ngoài rồi đi lấy mũ đội.

Cô ấy trông theo tôi từng cách cử chỉ một: lúc thấy tôi thu gọn lại cái đống dây thừng to nằm cuộn tròn trong một góc lều, để lấy một cái gậy ở dưới thì cô Thổ liền chạy lại hỏi ngay:

- ồ! Anh có những dây tốt nhỉ! Để làm gì thế?

- Để qua cầu.

- Sao lại để qua cầu?

- Cầu nhỏ ở ven núi trên này chật chưỡng lắm. Giá không có cuộn dây này thì tôi rơi xuống núi mấy lần rồi.

Cô Thổ cười:

- Thế mà tôi đi không việc gì đấy!

Chúng tôi đã ra tới cửa; cô Thổ toan dắt tôi theo một lối tắt đi về bên rừng. Bỗng cô đứng yên, mắt nhìn vào mắt tôi, rồi chạy vào trong lều, đến bên cuộn dây chão. Tôi hỏi:

- Cô làm gì thế?

- Anh à, đem cái này đi!

Cô vừa nói vừa lôi cuộn dây ra. Tôi hỏi lại:

- Đi chơi kia mà?

- Cứ đem đi, anh ạ.

Tức khắc, tôi không nói một lời nào, đi vào bỏ gậy và mũ áo ra, rồi toan trèo lên cái "giường" phên nằm, nhất định không đi đâu nữa. Cô ta liền chạy lại bên tôi níu lấy tay tôi năn nỉ:

- Anh đi với tôi một tí, đi với tôi một tí thôi mà.

- Không! Đi làm gì thì cô phải nói rõ cho tôi biết đã.

- Rồi anh biết mà!

- Nói ngay bây giờ kia!

Người thiếu nữ ra chiều thất vọng vô cùng:

- Không... anh đi, anh đi với tôi một tí thôi, rồi anh thấy cái này hay lắm.

Cô ta vừa nói vừa cầm cái mũ và dìu tôi ra cửa, cuộn dây chão đeo nặng một cánh tay.

Tôi không còn hiểu gì trong cái cử chỉ lạ lùng của người con gái nữa. Miệng cười của cô ta cũng không còn duyên gì hết; tôi thấy bực mình lắm; nhưng tôi cứ theo.

Ra đến ngoài thì thấy mặt trăng đã chếch về tây. Đám rừng âm u với dãy núi trập trùng tắm trong một bầu ánh sáng rõ ràng và lạnh lẽo. Tiếng ve sang sảng kêu ran như đã kêu từ mấy thế kỷ; bóng trăng theo đó mà rung trên ngọn cỏ, bụi cây.

Chúng tôi xuống một con đường dốc nhỏ đi vào nách rừng. Cô Thổ trước còn cười nói đon đả để tôi vui lòng; đến sau, thấy tôi đã nhất định đi theo, thì cô chỉ rảo chân bước. Người thiếu nữ ấy cũng đủ nhan sắc và dịu dàng để tôi quên được cái lo ngại; và cái trường hợp cũng đủ ly kỳ để gợi tính tò mò và lòng mạo hiểm của tôi.

Xuống hết đường dốc này lại trèo lên một khu rừng nhỏ nữa. Chúng tôi đi qua một đám cây rất rậm chỉ lác đác được ít mảnh sáng trăng. Rồi cây cối mỗi lúc một thưa dần, lối đi mỗi lúc một rõ. Tôi đi rừng đã quen, và chỗ này cũng không khó đi lắm, nên tôi chỉ để mắt trông những bóng lá đi lần lần trên má và trên vai người thiếu nữ, với hai ống chân trăng trắng thoăn thoắt ở trong đám tối mập mờ. Có một lần tôi đi sát lưng cô ta, để tay lên vai mà giữ cô lại. Cô ngoảnh đầu cười gượng. Tôi hỏi:

- Cô định dẫn tôi đi đâu?

- Đi đằng này, mà!

- Làm gì? Hả!?

Mặt cô bỗng ra vẻ thương khó. Cô ta muốn cười nhưng không được, chỉ quay đầu đi, rồi vừa nói vừa thở dài:

- Anh đi một lúc nữa rồi anh biết. Anh, anh! Đi, đi!

Xuống một đường dốc.

Rồi lên một đường dốc nữa.

Chỗ này trèo rất khó nhọc, lại không có lối như trước, chỉ có người thiếu nữ đi quen nên đã lên được xa. Tôi phải bảo cô ấy quăng một đầu dây xuống cho tôi và lên trước, buộc đầu kia vào một gốc cây để tôi bám leo lên cho dễ. Qua một lớp cây rậm và um tối thì đường đã dốc xuống; đi một lát nữa thì đã thấy lối rõ và dễ đi. Tôi nghe thấy tiếng ào ào ở đâu từ lúc nẫy; bây giờ nghe càng gần thêm.

- Có phải gần đây có một cái thác không?

Tôi hỏi người thiếu nữ thế. Cô ta đáp:

- Phải. Gần đến nơi rồi.

- Đến nơi? Thế ra đi đến đấy à?

- Phải.

- Nhưng đến làm gì mới được chứ?

- Anh cứ đi rồi biết mà!

Tôi nghĩ bụng chưa bao giờ gặp cảnh ngộ nào lạ kỳ hơn. Thực vậy. Mà cho cả về sau này cũng thế, trong suốt cuộc đời phiêu linh của tôi, tôi không hề gặp đêm nào như cái đêm hôm ấy cả.

Tôi tự hỏi xem cái kết cuả cuộc "đi chơi" này rồi sẽ ra sao. Nhưng không tìm được câu trả lời, thì tôi cứ ra chân bước.

Tôi có ý xem xét những chỗ vừa đi qua, thì phần nhiều đường lối giống nhau không thể phân biệt và nhớ được rõ. Phải là người ở lâu và quen đây lắm mới thuộc được những đường tắt này.

Chúng tôi đang đi ở trong bóng những cây lá chen nhau, bỗng đến ngay một nơi quang quẻ rộng rãi toàn ánh trăng sáng. Tôi nhíp mắt lại vì hơi chói, trông ra thì núi non nhấp nhô, tỏ mờ trước mắt; khuôn trăng tròn vẹn, kê ngay trên một đỉnh núi, bình tĩnh như có ý đợi chờ.

Tiếng thác nghe thấy từ lâu, bấy giờ đang rộn rã cuồn cuộn ở phía dưới chân. Nhưng tôi chưa trông thấy nước: nguồn thác sâu lắm, mà chỗ ấy thì cao. Một con đường nhỏ chạy qua mặt tôi, dẫn đến một cái cầu ghép bằng thân cây như tôi thường gặp. Cầu này thay một chỗ đất sụt làm lở một quãng đường ven núi đất và cắt đứt mất lối đến Hoàng Su Phì: Bấy giờ tôi đã nhận ra rằng cô con gái dẫn tôi đi toàn nẻo tắt và hà tiện được tới ba phần tư đường. Vì từ chỗ lều tranh đến đây, đi khỏi một quãng đường thấp rồi lên những đường leo lưng chừng núi, còn phải qua một khúc cầu nữa.

Chúng tôi tiến lên chừng hai chục bước thì đến bên cầu. Cầu hẹp và dài, chỉ có mươi khúc cây đâm ngang cắm sâu vào núi để nâng đỡ. Cô Thổ nhẹ nhàng đi ra tới giữa rồi ngoảnh lại đợi tôi đi theo. Tôi trông xuống, thấy dưới sâu lắm, và rải rác có những tảng đá lớn; nước thác chảy như xiết, ầm ầm từ một nẻo khuất giữa hai chân núi, vòng khúc rắn xông ra. Tôi còn ngập ngừng một hồi chưa dám đi lên vội. Sau đánh bạo tiến lên được ba bước. Một khúc gỗ cựa mình một cái làm tôi sởn cả gai ốc, đã tưởng cái cầu gẫy nhưng không việc gì.

Tôi phải hết dè giữ mới lại dám bước lên, dò đi như người "leo cầu vồng" vậy. Dưới chân, nước vẫn gầm như chuyển đá, mà bên trái thì cái núi dốc như tường xiêu, lại ở quá tầm tay không thể nào vịn được.

Dò được nửa cầu rồi. Càng thấy ghê sợ thêm. Liệu chừng không thể qua được khỏi cầu mà không ngã, tôi phải lấy cuộn dây định tìm quăng lên một cái chạc cây nào trên lưng núi, rút chung đôi lại rồi víu lấy mà sang.

Bỗng người con gái Thổ giữ lấy tay tôi nói:

- Thôi! Không phải đi nữa.

Tôi vừa ngật ngưỡng vừa nhìn cô ta, lấy làm kinh dị. Cô Thổ điềm nhiên nhắc lại:

- Thôi, không phải đi nữa: Đến nơi rồi!

- Sao? Đến nơi?

- Phải.

- ồ quái lạ! Quái lạ! Quái lạ! - tôi nghĩ bụng thế - người con gái này thực kỳ quái, nó định trêu mình đây hay sao?

Tôi nhìn mặt người con gái để dò xét ý tứ, nhưng cô ta không nhìn tôi và có ý quay mặt đi. Tôi vừa bực mình vừa lo ngại, quát khẽ lên một câu:

- Làm sao lại thế này!

Cô ta không trả lời. ánh trăng chiếu vào sắc da người con gái, lúc ấy xanh bệch như da người chết. Nét mặt sắt lại như lo sợ hay tức giận, miệng mím vào một cách đặc biệt, rồi bỗng nói rất nhanh:

- ở dưới cầu này có một người ngã xuống chết!

Tôi còn chưa hiểu, hỏi lại, thì cô ta nói luôn:

- Người ấy là một người đàn ông cùng đi với tôi, rồi lỡ chân rơi xuống đây chết.

- Cùng "đi chơi" với cô à?

- ừ.

- Thế làm sao, nói mau! Sao cô lại gọi tôi đến?

Cô Thổ nói:

- Tôi nhờ anh đem nó lên đây cho tôi.

- Nhờ tôi? Sao lại nhờ tôi. Nhờ tôi mà được à?

Cô ta điềm tĩnh không đáp câu hỏi của tôi, nhưng trỏ xuống dưới gầm cầu mà bảo:

- Kia kìa, nó ngã xuống mắc vào cành cây ở lưng chừng núi kia kìa.

Tôi chú mắt trông, chỉ thấy nước thác chảy xuống từng bực, bọt sùi lên trắng như tuyết ở chung quanh những tảng đá cuội lù đen.

- Đâu nào?

- ở cái cây kia mà. Kia kìa, chỉ có một cây thôi, mà nó ở lưng chừng núi.

Tôi quỳ gối, đầu cúi về phía trong mà trông xuống thì quả thấy ngang núi đâm ra một cây nhỏ, rễ ăn chặt vào, có lẽ sâu lắm, nên đất lở đến tận chỗ ấy mà cây vẫn vững nguyên. Mình cây cong cong ở chân rồi đâm vát lên trời, cành lá xòe ra gần che mất một nửa mình người bị nạn. Lúc ấy tôi chỉ trông thấy có một cái vai dốc xuống mắc vào gốc cây.

- Các người đi xem hát hội ở làng xa hết cả (người con gái nói). Tôi đi tìm chỉ thấy có anh, tôi mới định nhờ anh lấy nó lên hộ tôi.

- ừ thế làm sao không nói thực ngay để cho tôi... (tôi nghĩ đến những cử chỉ của tôi trong lều) để cho tôi tưởng cô đến rủ tôi đi chơi thực?

Cô gái mỉm cười một cách nhạt nhẽo:

- Tôi sợ anh không đến, tôi phải nói thế...

Thấy tôi có dáng nổi giận, cô vội nói thêm:

- Mà rồi tôi cũng về với anh kia mà!

Tôi vừa lườm vừa nhại:

- Hừ ! Về - với - anh!

Cô Thổ lại hết lời nói với tôi những câu rất ngọt ngào và thiết tha; mặt thì nhợt nhạt, mắt thì long lanh mà miệng vẫn gượng cười: giọng nói khác đi, hình như cô ta cố nén sự cảm động.

Tôi không nỡ từ chối giúp đỡ cô ta. Nhưng tôi không giấu cái bực mình, vừa tìm cách xuống đến cái cây vừa gắt.

Chỗ sườn núi lở, dốc như bức vách nghiêng, mà trừ cái cây giữ lấy người chết cách chúng tôi khá xa, thì chả còn bấu víu vào đâu được nữa; người bị nạn chắc hẳn ngã về phía trong, nên mới tình cờ mắc vào gốc cây đó, chứ nếu ngã phía ngoài hay ngã nhích ra chút nữa thì không còn mình xác nào. Tôi giở cuộn dây ra, nằm úp mình trên cầu rồi ròng dây xuống ướm thử. Cái dây dài được hơn hai chục thước mà thả đến chỗ ấy cũng không thừa được bao. Tôi thử tìm cách buộc vòng, câu lấy người chết lên, nhưng vướng nhiều cành nên không làm thế được. Tôi lại phải kéo dây lên thắt hơn một chục nút để cho dễ bám. Trong khi ấy người con gái lẳng lặng ngồi bên cạnh tôi mà xem.

Nước thác vẫn réo ào ào, làm tăng cái vẻ to tát của chốn núi vực cao sâu ở dưới bóng một vành trăng ngàn năm lặng lẽ.

Tôi nhìn cô Thổ thì cô ta nhìn lại, tôi cau mày mắng:

- Buộc đi chứ, ngồi đấy à?

- Buộc gì?

- Thì thắt nút đi chứ!

Cô ta lôi một phần dây lúng túng thắt được một nút rồi hỏi:

- Anh làm những nút này làm gì thế?

Tôi không thèm đáp. Rồi thấy cô ta cứ dang tay kéo dây mãi chưa thắt được vòng nào thêm, tôi tức mình giật về, không khiến nữa.

Nút thắt xong tôi buộc rất chắc chắn một đầu dây vào ba thân gỗ về phía núi; bỏ mũ ra; bảo cô Thổ giữ lấy mối buộc chắc chắn để tôi leo xuống. Chân tôi đạp vào đất núi làm cho cát bụi ở đấy theo gió bay cả vào mắt mũi tôi. Tôi vừa buông một tay để dụi thì "sựt" một tiếng ở đầu dây. Tôi lạnh cả người vội quát:

- Cái gì thế, cái gì thế?

- Không hề gì. Cái mối đây nó thắt chặt lại đấy mà.

- Phải cẩn thận, nghe không! Phải nằm xuống mà giữ!

Cô Thổ trên cầu nằm áp người xuống, hai tay nắm lấy phần đầu dây.

Xuống đến nơi, tôi bẻ mấy cành lá đi cho quang, và để chân lên một cái chạc dún thử mấy cái. Cây này là một giống ổi rừng, thân già quánh và to. Lúc đứng trên cầu tôi tưởng là một thứ cây dai và mềm vì thấy nó nhỏ lắm, nên định buộc cuộn dây vào người, ôm lấy cái xác mà bảo cô Thổ kéo lên. Như thế thì khó nhọc vô cùng, chưa chắc người con gái Thổ đã kéo nổi.

Nhưng bấy giờ tôi lại tính cách khác. Người chết là một người đàn ông to lớn mặc quần áo tây vàng; hai chân dạng ra, áp với núi và đâm ngược lên trời, mình úp vào trong nên tôi không thấy mặt. Hắn bị mắc vai bên phải vào ngay gốc cây và hình như bị nát cả cổ và có lẽ gẫy xương dầm vai; nhưng máu chỉ đẫm ra ngoài áo có một ít. Một cánh tay nắm lại chọc vào núi, còn tay kia bị đè ở dưới mình. Tôi ngồi quắp lấy một cành to, tròng lọng dây vào hai chân người kia rồi lựa cho lách xuống đến tận thắt lưng.

Mặt trăng lúc ấy mới lọt một phần xuống sau đỉnh núi trước mặt. Tôi trông thấy bóng cây với bóng người tôi in lên cái thây chết. Những cành lá theo gió và theo cách cử động của tôi mà lung lay một cách bình yên.

Xem cách ăn mặc của người chết thì tôi đoán là một người Thổ "văn minh" giầu có, hoặc một người Kinh buôn bán ở đường rừng.

Tôi bám dây tụt xuống, để một chân lên mình người chết và ghì cho cái tròng ở lưng hắn thắt vào rõ chặt rồi đạp chân kia vào núi, tôi đu người tôi sang một bên. Vai cái xác liền rời ra cùng với một loại đất vụn rời xuống: Người chết đã nằm ngang ra dưới đầu dây. Cổ hắn treo về một bên và hơi ngật ra đằng sau; tóc bộn bề và ướt đẫm, da xám như mầu đá mài.

Tôi lại ngồi lên một cành cây nắm lấy vai hắn dìu lại xem cho rõ mặt. Nhưng tôi kêu lên một tiếng kinh dị: ồ lạ này!

Người bị nạn nào phải ai đâu? Chính là ông Ba-đi-ghệt!

Phải, ông Ba-đi-ghệt, cái người mạo hiểm táo tợn chúng tôi vẫn biết tiếng, mà tôi mới gặp được hơn nửa tháng, trong một làng ở gần Pa Khá. Ông này đi trước chúng tôi đã lâu kia mà, sao bây giờ lại vẫn ở đây, rồi lại chết thảm hại thế này? Mà sao người con gái Thổ kia lại...

Tôi thoáng nghĩ đến một điều làm cho tôi căm tức.

- à thì ra (tôi lẩm bẩm nói thế) thì ra họ trăng gió với nhau đã lâu, hôm nay đi chơi trên cầu này rồi một người rơi xuống chết, rồi nó tìm mình đến, nó dụ mình đến để mình gỡ xác tình nhân nó lên!

Hai con mắt ông Ba mở lim dim như ngủ gà, như xem cái tức giận trong lòng tôi. Trên cái mặt đầy những máu, máu đọng đen thẫm lại một bên, hai môi dầy trên lún phún một hàng râu; miệng thì nhăn một cái cười kinh khiếp.

Tôi liền buông tay ra bám dây leo lên cầu. Người con gái hỏi, nhưng tôi lặng thinh. Lên tới nơi tôi nhìn nó một cách rất khinh bỉ.

Nó hỏi nữa:

- Sao? Anh? Xong rồi chứ?

Tôi cười gằn:

- Xong. Chị cứ việc kéo tình nhân chị lên!

Nó chỉ trông tôi một cái nhanh, không nói gì, chống tay ngồi lên rồi mắm môi kéo.

Nhưng cái xác nặng lắm, nó ngã hẳn người ra mới lên được một chút, rồi lại để tụt xuống ngay. Tôi thấy nó làm ngứa mắt liền vuốt tóc lại bên kéo đỡ. Không đầy năm phút cái xác đã lên nằm trên cầu.

Tôi toan cuốn xong cái dây thừng rồi mới hỏi xem người con gái định xử trí ra sao, thì bỗng thấy nó cười nhạt một tiếng nghe lạnh đến xương tủy. Tôi ngẩng lên nhìn.

Bấy giờ cô thiếu nữ dịu dàng ở trong lều không còn đó nữa. Tôi chỉ thấy một người con gái kỳ dị, đang nghiến răng mà lẩm bẩm ở trước mặt tôi. Nó vẫn xốc nách người chết để ngồi rũ dưới chân, trông thẳng vào mặt tôi nhếch mép một cái, rồi nói:

- Anh tưởng nó là tình nhân tôi hả? Không! Nó là kẻ thù của tôi. Tại sao? Nó giết mất anh Cẩm của tôi.

Anh Cẩm là người sắp lấy tôi, mà nó giết đi, rồi quẳng xuống đây cho mất xác.

Nói đoạn nó chỉ tay xuống những từng nước trắng xóa ở dưới. Tiếng thác chảy như dữ dội thêm. Nhưng cái trường hợp ấy làm tôi quên cả ghê rợn.

Người con gái lại nói - phải nghe giọng nó nói mới thấy được cái cảm giác của tôi lúc bấy giờ.

- Nó nhiều tiền, nó muốn lấy tôi, nó đến dụ tôi, tôi bằng lòng ngay; nhưng tôi bằng lòng ở với nó để lừa giết nó. Tôi rủ nó đến đây chơi, nó không nghi ngờ, tôi liền chém cho nó một nhát. Anh trông đây này!

Tôi trông.

ở sau gáy ông Ba quả có một nhát dao bổ thực sâu, nhưng chỗ ấy máu đọng lại thâm xì nên lúc nãy tôi không để ý.

- Tôi chém nó (lời người con gái) để cho nó cũng chết ở dưới cầu này, để chồng tôi... (giọng nói ngày một thêm đầy, gần như nghẹn ngào) để cho chồng tôi trông thấy được hả dạ... Nhưng mà nó không rơi xuống thác, nó lại vướng vào cây. Tôi muốn cho nó rơi xuống đến tận dưới thác kia, tôi mới gọi anh đến. Bây giờ anh đứng mà xem.

Trước cái dáng điệu kia, cái giọng nói kia, tôi không biết trả lời ra sao cả. Tôi cũng không biết xử trí thế nào nữa; tôi đứng ngẩn ra nhìn.

Trông con mắt lóng lánh của người con gái, cùng với cái mặt đanh thép kia, tôi tưởng như thấy cái khí chất rừng núi, cái tâm hồn Thổ Mán hiện ra.

Tôi vẫn ngẩn ra nhìn.

Người con gái lại cười nhạt mà láy lại câu lúc nãy:

- Bây giờ anh đứng mà xem.

Nói xong, nó đứng dạng hai chân ra, cái mép váy đằng trước căng thẳng bởi hai ống chân hơi thô và trắng. Một tay nó xốc ông Ba đứng dậy, một tay nữa nâng ở ngang lưng. Tôi toan dò bước đến gần thì đã thấy người con gái dướn mình văng cái thây chết xuống. Rồi, không biết vì quá đà hay cố ý, cả người con gái cũng văng theo...

Mặt trăng kia đã kín đáo ẩn mình sau đỉnh núi; hai cái thân người trên cao rơi xuống một tiếng gớm ghê trong những tiếng thác đổ ầm ầm không bao giờ ngớt.

(Đánh máy từ tập truyện ngắn Vàng và Máu )

Chân Trời Tím.
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-02-04 07:57:47Chân Trời Tím>
             ĐIỀU TỐT LÀNH NHO NHỎ !
                                           (Raymond Carver)
 
Chiều thứ bảy, chị đánh xe đến hiệu bánh tại trung tâm thương nghiệp. Sau khi xem hình mẫu các loại bánh trong một cái kẹp hồ sơ, chị đặt làm một chiếc bánh sôcôla, loại mà con chị thích. Chị chọn chiếc bánh có đắp hình con tàu vũ trụ trên bệ phóng, dưới bầu trời lác đác sao trắng và một hành tinh đắp bằng kem đỏ ở góc bên kia. Tên cháu bé, Scotty, sẽ đắp bằng kem màu xanh ở ngay dưới hành tinh ấy. Người làm bánh, trạc tuổi trung niên, có cái cổ to bè, chỉ lắng nghe, không nói gì khi chị bảo: thứ hai tới cháu tròn tám tuổi. Người làm bánh đeo tạp dề trắng trông như thể chiếc áo bờ lu. Sợi dây đeo vòng ra sau lưng ở dưới cánh tay rồi được kéo buộc chặt ra phía trước, dưới cái bụng phệ. Trong khi nghe chị nói, ông chùi chùi tay vào tạp dề, nhìn mấy tấm hình mẫu, để mặc chị dặn dò thoải mái. Ông vừa đến xưởng và sẽ ở lại đó suốt đêm để nướng bánh, ông chẳng việc gì phải vội.

Chị nói tên mình là Ann Weiss, và đọc số điện thoại cho người làm bánh. Chiếc bánh sẽ được lấy ra khỏi lò vào sáng thứ hai; từ khi đó đến chiều, hãy còn nhiều thời gian để chuẩn bị tiệc cho chú bé. Người làm bánh chẳng vồn vã lắm. Giữa họ không có sự đồng cảm, chỉ nói với nhau vài lời nhằm trao đổi những thông tin cần thiết. Ông làm chị khó chịu; chị thích không khí ấy. Trong khi ông cầm cây bút chì, cúi người trên quầy, chị quan sát nét mặt thô vụng của ông và thầm hỏi không biết trong đời liệu ông có còn biết gì khác ngoài việc nướng bánh. Chị ba mươi tuổi, đã làm mẹ, và dường như với chị, bất cứ ai, nhất là vào độ tuổi của người làm bánh này - trạc tuổi bố chị - hẳn đã có nhiều chú nhóc, và bọn nhóc hẳn từng trải qua những phút giây hạnh phúc đặc biệt trước những chiếc bánh và những lần sinh nhật. Chúng hẳn luôn có cùng tâm trạng ấy, chị nghĩ. Nhưng ông ta lành lạnh với chị - không thô lỗ mà chỉ dửng dưng. Chị từ bỏ ý định bắt chuyện với ông ta. Chị nhìn sâu vào sau xưởng bánh và thấy một chiếc bàn gỗ thô, dài, có nhiều chiếc khay nhôm chất đống ở một đầu; bên cạnh bàn là chiếc thùng sắt đầy ắp những cái khuôn rỗng. Có một cái lò khổng lồ. Radio đang chơi một giai điệu của miền quê phía Tây.

Người làm bánh ghi các thông tin lên tấm thẻ đặt hàng đặc biệt rồi đóng chiếc kẹp đựng hình mẫu bánh. Ông nhìn chị nói: “Sáng thứ hai”. Chị cám ơn rồi lái xe về.

Sáng thứ hai, đứa trẻ sinh nhật cùng một chú nhóc nữa đi đến trường. Chúng chuyền tay nhau túi khoai tây rán. Cậu bé sinh nhật đang cố đoán xem bạn sẽ tặng món quà gì cho mình nhân dịp sinh nhật vào chiều hôm ấy. Không để ý, cậu bé sinh nhật bước ra khỏi lề đường tại chỗ hai con phố giao nhau và ngay lập tức bị một chiếc ô tô húc ngã. Cậu ngã nghiêng người, đầu nằm trong rãnh nước còn chân thò ra ngoài đường. Mắt cậu nhắm nghiền, nhưng chân vẫn đạp đạp như thể đang cố vượt lên một vật nào đó. Bạn cậu thả rơi túi khoai tây và khóc. Chiếc xe chạy thêm khoảng ba mươi mét rồi dừng lại giữa đường. Từ ghế tài xế, một người đàn ông nhìn lại. Ông ta đợi cho đến khi cậu bé lảo đảo đứng lên. Cậu bé hơi loạng choạng. Trông cậu hơi đờ đẫn, nhưng không sao. Người lái xe sang số rồi lái đi.

Cậu bé sinh nhật không khóc, nhưng cũng không mở miệng. Cậu không trả lời khi đứa bạn hỏi cậu có hề gì không khi bị xe tông. Cậu đi về nhà, còn bạn tiếp tục đến trường. Nhưng khi cậu bé sinh nhật về đến nhà và đang kể cho mẹ nghe chuyện bị xe húc - chị ngồi cạnh con trên ghế sofa, giữ tay con trong lòng và hỏi, “Scotty cưng, con có chắc mình chẳng hề gì không?” rồi nghĩ dầu sao mình cũng nên gọi bác sĩ – thì bất thình lình, cậu duỗi người trên ghế, mắt nhắm chặt và rũ người ra. Lúc không thể lay gọi con tỉnh lại, chị chạy đến bên điện thoại gọi tới văn phòng của chồng. Howard bảo chị bình tĩnh, bình tĩnh; rồi anh gọi xe cứu thương đón con, còn mình thì đến thẳng bệnh viện.

Dĩ nhiên, tiệc sinh nhật bị hủy bỏ. Cậu bé nằm viện do bị chấn động nhẹ và phải chịu đựng cú sốc. Cậu nôn, phổi sung dịch, phải hút chiều hôm ấy. Bây giờ, dường như cậu đang chìm vào giấc ngủ thật sâu - đấy không phải là trạng thái hôn mê, không phải hôn mê, bác sĩ Francis nhấn mạnh, khi ông thấy nỗi lo sợ trong mắt cha mẹ đứa trẻ. Mười một giờ đêm hôm đó, lúc cậu bé dường như đang nằm nghỉ dễ chịu sau nhiều lần chụp X quang và những xét nghiệm khác, chỉ cần chờ cậu thức giấc hồi tỉnh, Howard rời bệnh viện. Anh cùng Ann đã ở bệnh viện với con suốt cả chiều hôm ấy, anh sẽ về nhà một lát để tắm và thay quần áo. “Một tiếng nữa anh quay lại”, anh nói. Chị gật đầu. “Anh về đi”, chị đáp. “Em sẽ ở đây”. Anh hôn lên trán chị, hai người nắm tay nhau. Chị ngồi xuống chiếc ghế đặt cạnh giường, nhìn cậu bé. Chị đợi con tỉnh lại và bình yên. Khi ấy chị bắt đầu cảm thấy dễ chịu. Rời bệnh viện, Howard đánh xe về nhà. Anh lái rất nhanh trên những con đường tối đen, ẩm ướt, rồi giật mình giảm tốc độ. Mãi đến giờ, cuộc sống của anh bình lặng trôi, kể cả các ước nguyện - trường đại học, hôn nhân, thêm nhiều năm ở trường đại học để kiếm mảnh bằng kinh doanh cao hơn, thành viên cấp dưới của một công ty đầu tư. Làm cha. Anh hạnh phúc và từ bấy đến nay, anh may mắn – anh biết điều đó. Ba mẹ anh vẫn còn sống, các anh chị đều ổn định, bạn bè thời đại học đã đi làm và đã khẳng định được chỗ đứng. Cho đến nay, những bất hạnh chưa chạm đến anh; thế lực ấy, anh biết, nó vẫn tồn tại và có thể bám riết hoặc đánh gục bất kỳ ai nếu vận may đã rời bỏ y, nếu mọi thứ đột nhiên không còn nguyên trật tự như trước. Anh giảm tốc độ và đỗ xe lại. Chân trái của anh bắt đầu run. Anh ngồi trong xe một lát, cố xoay xở với tình huống thực tại bằng một cách hợp lý. Scotty bị xe tông và đang nằm viện, song con sẽ chẳng hề gì. Howard nhắm mắt rồi đưa tay vuốt mặt. Anh ra khỏi xe, bước lên phía cửa trước. Trong nhà, chó đang sủa. Điện thoại vẫn tiếp tục reo khi anh mở cửa và lần mò bật điện. Anh không nên rời bệnh viện, lẽ ra anh không nên. “Xúi quẩy thật!” anh nói. Anh nhấc ống nghe rồi nói, “Anh vừa mới về đến cửa thôi!”

“Có cái bánh ở đây, chưa thấy ai đến nhận”, giọng ở đầu dây đáp.

“Ông bảo gì kia?” Howard hỏi.

“Một chiếc bánh”, giọng ấy trả lời. “Chiếc bánh mười sáu đô la”.

Howard áp chặt ống nghe vào tai, cố hiểu. “Tôi chẳng biết bánh trái nào hết”, anh nói. “Lạy Chúa, ông đang nói gì vậy?”

“Đừng trêu tôi nữa”, giọng ấy đáp.

Howard cúp máy. Anh vào bếp, rót một ít whisky. Anh gọi đến bệnh viện. Nhưng tình trạng cậu bé vẫn như cũ, cậu đang ngủ và chẳng có gì tiến triển. Trong khi đợi nước chảy đầy bồn tắm, Howard bôi xà phòng cạo râu. Nhưng ngay khi anh vừa duỗi người trong bồn, nhắm mắt thì chuông điện thoại lại reo. Anh nhổm người dậy, chộp khăn tắm chạy vội vào nhà, lẩm bẩm: “Ngốc thật, ngốc thật”, vì mình đã rời bệnh viện. Song khi nhấc ống nghe và hét: “Hello!”, anh không nhận được tín hiệu. Người gọi đã dập máy.

Quá nửa đêm một chút, anh trở lại bệnh viện. Ann vẫn ngồi trên chiếc ghế cạnh giường. Chị ngước nhìn Howard rồi nhìn lại cậu bé. Mắt cậu vẫn nhắm, đầu vẫn quấn băng. Hơi thở cậu nhẹ và đều đặn. Trên chiếc giá ở đầu giường, chai glucose đang nối ống dẫn xuống cánh tay cậu bé.

“Con sao rồi?” Howard nói. “Sao lại thế này?” anh chỉ tay vào chai glucose và ống dẫn.

“Bác sĩ Francis yêu cầu”, chị nói. “Cần chất dinh dưỡng để giữ cho cơ thể khỏi suy sụp. Sao con lại không tỉnh dậy hả Howard? Em chẳng hiểu liệu con có khỏe không”.

Howard đặt tay lên phía sau đầu chị. Anh luồn mấy ngón tay vào mái tóc. “Con sẽ khỏe. Lát nữa nó sẽ tỉnh. Bác sĩ Francis biết rõ điều ấy”.

Lát sau, anh nói: “Có lẽ em nên về nhà nghỉ một lát. Anh sẽ ở lại đây. Có điều chớ có bực mình với cái gã cứ gọi điện thoại dai dẳng. Đừng bận tâm tới gã”. “Ai gọi vậy?” chị hỏi.

“Anh không rõ, chắc là thằng cha nào đó chẳng có việc gì để làm ngoài việc ngồi bấm máy lung tung. Thôi, em về đi”.

Chị lắc đầu. “Không”, chị nói. “Em khỏe”.

“Nào”, anh bảo. “Về nghỉ một lát rồi sáng mai đến thay anh. Chẳng có gì hệ trọng đâu. Bác sĩ Francis nói gì nhỉ? Ông ấy đã bảo Scotty sẽ bình phục. Chúng mình đừng nên quá lo lắng. Bây giờ con đang ngủ, thế thôi”.

Một cô y tá mở cửa. Cô gật đầu chào khi bước đến cạnh giường. Cô nâng cánh tay trái cậu bé ra khỏi chăn, đặt đầu mấy ngón tay lên tìm mạch ở cổ tay cậu bé rồi nhìn đồng hồ. Lát sau, cô đặt cánh tay vào lại trong chăn, đi về phía chân giường, viết gì đó lên tấm bảng đính vào giường.

“Cháu ra sao?” Anh hỏi. Bàn tay Howard đè nặng lên vai chị. Chị cảm nhận được mấy ngón tay đang bấu xuống.

“Cháu ổn định”, cô y tá đáp. Rồi cô nói, “Bác sĩ sẽ lại đến ngay đấy. Ông ấy vừa mới đến và sẽ đi khám một lượt ngay bây giờ”.

“Tôi đang bảo cô ấy nên về nhà nghỉ một chốc”, Howard nói. “Sau khi bác sĩ đến khám”.

“Chị có thể về”, cô y tá nói. “Tôi nghĩ nếu hai anh chị cảm thấy mệt thì cứ về nhà nghỉ, không sao đâu”. Cô y tá người Bắc Âu, tóc vàng hoe. Cách phát âm của cô vẫn mang chất thổ ngữ.

“Chúng tôi sẽ chờ lời kết luận của bác sĩ”, Ann nói. “Tôi muốn trao đổi đôi điều với ông ấy. Tôi không an tâm khi con cứ ngủ mãi như thế này. Tôi không tin đấy là dấu hiệu tốt.”. Chị đưa tay che mặt rồi gục đầu xuống một lát. Howard nắm chặt vai chị, bàn tay lần lên cổ, mấy ngón tay bóp nhẹ những múi cơ ở đó.

”Vài phút nữa bác sĩ Francis sẽ đến đây”, cô y tá nói rồi ra khỏi phòng. Howard chăm chú nhìn con trai, một lát lồng ngực nhỏ lặng lẽ nhô lên, xẹp xuống dưới tấm chăn. Đây là lần đầu tiên, kể từ giây phút kinh hoàng sau khi Ann gọi đến văn phòng, anh thấy nỗi lo sợ thực sự bắt đầu ngấm vào từng đốt xương. Anh lắc đầu. Scotty bình yên, nhưng thay vì ngủ ở nhà, trên giường của mình, con ngủ trên giường bệnh viện, băng quấn quanh đầu, ống truyền đạm đính vào cánh tay. Nhưng những vật ấy, bây giờ, đang giúp nó bình phục.

Bác sĩ Francis bước vào, bắt tay Howard mặc dù chỉ vài giờ trước đó họ đã gặp nhau. Ann rời ghế đứng lên. “Chào bác sĩ”.

“Chào Ann”, ông vừa nói vừa gật đầu. “Chúng tôi chỉ xem qua cháu ra sao”, bác sĩ nói.

Ông đến bên giường bắt mạch cậu bé. Ông lần lượt vạch hai mí mắt lên nhìn. Howard và Ann đứng cạnh bác sĩ quan sát. Tiếp đó ông lật tấm chăn, dùng ống nghe theo dõi nhịp tim và nghe phổi. Ông ấn mấy ngón tay lên vài nơi trên bụng cậu bé. Lúc khám xong, ông đi đến cuối giường, đọc tấm bảng. Ông đánh dấu thời gian, viết nguệch ngoạc mấy chữ lên bảng rồi nhìn Howard và Ann.

“Thưa bác sĩ, cháu có sao không?” Howard nói. “Chính xác thì cháu đang gặp mối hiểm nguy gì?”

“Tại sao cháu không tỉnh lại?” Ann nói.

Bác sĩ là người đẹp trai, vai rộng, khuôn mặt sạm nắng. Ông mặc bộ đồ màu xanh ba mảnh, đeo cà vạt kẻ sọc và cài khuy măng sét. Mái tóc bạc chải rẽ ngôi, trông ông như thể vừa bước ra khỏi phòng hòa nhạc. “Cháu ổn định”, bác sĩ nói. “Chớ lo, cháu sẽ khá hơn, tôi nghĩ thế. Dẫu sao thì cháu vẫn ổn định. Nhưng tôi muốn cháu thức dậy. Cháu nên thức dậy nhanh”. Bác sĩ lại nhìn cậu bé. “Vài giờ nữa, khi mấy mẩu xét nghiệm bổ sung có kết quả, chúng ta sẽ khẳng định rõ thêm. Nhưng cháu sẽ bình phục, hãy tin tôi, ngoại trừ một vết rạn ở sọ ngay đường chân tóc. Sọ cháu bị rạn”.

“Ồ không”, Ann nói.

“Và hơi bị chấn động, như tôi đã thông báo trước. Dĩ nhiên, anh chị biết cháu bị sốc”, bác sĩ nói. “Thỉnh thoảng triệu chứng này xảy ra với nhiều ca sốc. Ngủ ấy mà”.

“Nhưng cháu đã vượt qua giai đoạn hiểm nghèo chưa?” Howard nói. “Trước ông bảo cháu không bị hôn mê. Vậy thì ông sẽ không gọi triệu chứng này là hôn mê có phải không, thưa bác sĩ?” Howard đợi. Anh nhìn bác sĩ.

“Không, tôi không muốn gọi trạng thái ấy là hôn mê”, bác sĩ đáp rồi liếc cậu bé thêm lần nữa. “Cháu chỉ rơi vào giấc ngủ rất sâu. Đấy là cách để cơ thể tự phục hồi. Cháu đã qua giai đoạn hiểm nghèo, tôi có thể khẳng định điều đó, đúng vậy. Nhưng chúng ta sẽ biết chính xác hơn khi cháu thức dậy và kết quả xét nghiệm bổ sung được đưa đến”, bác sĩ nói.

“Đấy là một kiểu hôn mê”, Ann nói.

“Chưa thể khẳng định như thế, cháu chưa bị hôn mê”, bác sĩ nói. “Tôi không muốn nghĩ đó là hiện tượng hôn mê. Dẫu sao cũng chưa thể kết luận. Cháu bị sốc. Trong nhiều trường hợp sốc, kiểu phản ứng như thế là rất thường. Đấy là kiểu phản ứng nhất thời của sự chấn thương cơ thể. Hôn mê. Hừm... hôn mê là hiện tượng bất tỉnh nặng, kéo dài; đôi lúc diễn ra trong vài ngày, thậm chí có khi nhiều tuần lễ. Scotty không thuộc diện đó, chúng tôi có thể nói như thế. Tôi chắc là sáng mai cháu sẽ đỡ hơn. Tôi đánh cuộc thế. Chúng ta sẽ biết chắc hơn khi cháu tỉnh, ngay bây giờ thôi, không lâu nữa đâu. Dĩ nhiên, anh chị có thể làm theo ý mình, ở lại đây hay về nhà một lát. Nếu anh chị muốn thì có thể an tâm rời bệnh viện một lát. Nhưng tôi biết, chuyện ấy đâu có dễ”. Bác sĩ lại nhìn cậu bé, quan sát kỹ rồi quay sang nói với Ann, “Chị đừng sợ, bà mẹ trẻ ạ. Hãy tin ở tôi, bọn tôi đang cố làm hết sức những gì phải làm. Vấn đề chỉ còn là phải đợi thêm lát nữa”. Ông gật đầu chào chị, bắt tay Howard lần nữa rồi rời phòng.

Ann đặt tay lên trán con. “Dẫu sao nó cũng không bị sốt”, chị nói. Rồi lại nói, “Lạy Chúa, nhưng sao con lại lạnh thế, anh Howard ơi? Họ có biết trước thân nhiệt của con như thế này không? Sờ trán con này”.

Howard chạm vào thái dương của con. Hơi thở của anh chậm lại. “Anh nghĩ người ta đã dự đoán thân nhiệt của con bây giờ là thế”, anh nói. “Con bị sốc, em nhớ chứ? Bác sĩ đã bảo thế. Ông ấy vừa mới ở đây. Nếu Scotty ở trong tình trạng tồi tệ thì ông ấy hẳn đã cho chúng ta biết”.

Anh đứng đấy thêm một lúc, cắn cắn môi, rồi lại ghế, ngồi xuống.

Howard ngồi vào chiếc ghế cạnh ghế chị. Hai người nhìn nhau. Anh muốn nói đôi điều nữa để trấn an chị, nhưng bản thân anh cũng lo lắng. Anh cầm tay chị đặt vào lòng mình, anh thấy bình tâm hơn khi tay chị để ở đó. Anh nâng bàn tay chị lên và bóp chặt. Sau đó anh giữ trong tay mình. Họ cứ ngồi trong tư thế ấy, lặng lẽ quan sát con. Thỉnh thoảng anh bóp mạnh tay chị. Cuối cùng, anh thả ra.

“Em đang cầu nguyện”, chị nói.

Anh gật đầu.

Chị bảo, “Em dường như không nhớ cách cầu nguyện, nhưng rồi mọi thứ sống lại trong em. Tất cả những gì em làm là nhắm mắt và thầm nhủ, “Lạy Chúa, xin Người ban phước cho chúng con - Người hãy cứu Scotty”, rồi sau đó những lời thành tâm cứ tiếp tục tuôn ra. Điều định nói có sẵn ngay trong đầu. Có lẽ anh cũng nên cầu nguyện”, chị nói với anh.

“Anh đã cầu rồi”, anh nói. “Cầu vào chiều nay – đúng hơn là chiều qua – sau lúc em gọi và lúc anh đang trên đường đến bệnh viện. Anh vẫn đang cầu nguyện”, anh nói.

“Làm thế là tốt”, chị nói. Bởi đây là lần đầu tiên, chị cảm nhận sự hòa hợp giữa hai người trước thảm họa của gia đình. Chị giật mình khi ý thức được rằng, mãi cho đến bây giờ, tai ương ấy chỉ đổ lên đầu chị và Scotty. Chị không để Howard vướng vào mặc dù anh luôn ở đấy và sẵn sàng chia sẻ. Chị cảm thấy hạnh phúc khi làm vợ anh.

Cô y tá lại bước vào bắt mạch cậu bé lần nữa rồi kiểm tra độ dịch chảy ra từ cái chai treo đầu giường.

Trong vòng một tiếng đồng hồ, một bác sĩ nữa đi vào. Ông tự giới thiệu tên mình là Parsons, chuyên khoa X quang. Bộ ria mép của ông rậm. Ông đi đôi giày đế phẳng, vận sơ mi Western và quần jean.

“Chúng tôi sẽ đưa cháu xuống dưới chụp thêm phim”, ông bảo họ. “Chúng tôi cần chụp thêm vài mẩu nữa, kể cả phải chụp cắt lớp”.

“Cái gì?” Ann hỏi. “Chụp cắt lớp à?” Chị đứng giữa bác sĩ và cái giường. “Tôi tưởng các ông đã chụp X quang cẩn thận rồi”.

“Tôi e rằng cần phải chụp thêm”, ông nói. “Cứ cẩn thận thì hơn. Chúng tôi chỉ chụp thêm phim và chụp cắt lớp não cho cháu”.

“Lạy Chúa”, Ann nói.

“Trong các ca giống thế này, đấy chỉ là những thao tác nghiệp vụ hoàn toàn bình thường”, bác sĩ ấy nói. “Chúng tôi cần tìm rõ nguyên nhân tại sao cháu vẫn chưa hồi tỉnh. Chẳng hề gì đâu, chỉ là thao tác nghiệp vụ thôi. Vài phút nữa, cháu sẽ được đưa xuống”, bác sĩ nói.

Lát sau, hai nhân viên bệnh viện đẩy chiếc xe chuyên dụng vào. Hai người mặc đồng phục trắng, nước da sẫm màu và tóc đen; trong khi tháo ống truyền dịch khỏi tay và chuyển cậu bé sang xe, họ trao đổi vài câu bằng tiếng nước ngoài. Rồi họ đẩy cậu bé ra khỏi phòng. Howard và Ann cùng bước vào thang máy với họ. Ann nhìn con. Chị nhắm mắt khi thang máy bắt đầu hạ xuống. Hai nhân viên đứng hai đầu xe không chuyện trò, duy chỉ một lần, một người bình luận gì đó bằng ngôn ngữ của riêng họ, người kia chậm rãi gật đầu.

Muộn sáng hôm đó, lúc mặt trời bắt đầu chiếu qua cửa sổ phòng đợi bên ngoài buồng chụp X quang, họ đưa cậu bé ra và chuyển lên phòng. Howard và Ann lại bước vào thang máy với con, và một lần nữa họ về chỗ của mình bên cạnh giường.

Hai vợ chồng đợi suốt cả ngày, nhưng cậu bé vẫn chưa tỉnh. Đôi khi, họ thay phiên nhau xuống quầy uống cà phê nhưng lúc ấy, dường như bất thình lình sực nhớ và cảm thấy có lỗi, họ rời bàn, vội quay về phòng. Chiều ấy, bác sĩ Francis lại ghé vào khám rồi rời phòng sau khi bảo họ bây giờ cháu đang phục hồi và sẽ tỉnh lại bất cứ lúc nào. Thỉnh thoảng mấy cô y tá, không phải những cô hôm trước, vào phòng. Sau đó, người phụ nữ trẻ ở phòng xét nghiệm gõ cửa bước vào. Cô mặc quần dài trắng, áo bờ lu trắng, tay bưng chiếc khay nhỏ đựng vài dụng cụ; cô đặt xuống trên bệ cạnh giường. Chẳng nói chẳng rằng, cô trích máu từ cánh tay cậu bé. Howard nhắm mắt khi người đàn bà tìm ra đúng điểm thích hợp trên cánh tay và ấn mũi kim vào.

“Thế này là thế nào?”, Ann nói với người phụ nữ.

“Theo yêu cầu của bác sĩ”, người phụ nữ đáp. “Tôi chỉ làm những gì họ bảo. Họ bảo lấy máu. Tôi lấy. Dẫu sao thì có gì hại cho cháu đâu?” cô nói. “Cháu thật dễ thương”.

“Cháu bị xe húc”, Howard nói. “Húc rồi bỏ chạy”.

Người phụ nữ trẻ lắc đầu rồi lại nhìn cậu bé. Lát sau, cô mang khay ra khỏi phòng.

“Sao con vẫn chưa tỉnh hở Howard?” Ann nói. “Em muốn có câu trả lời của bác sĩ”.

Howard không trả lời. Anh lại ngồi xuống ghế, chân gác lên nhau. Anh xoa xoa mặt. Anh nhìn con rồi ngả hẳn lưng ra ghế, nhắm mắt, chìm vào giấc ngủ.

Ann bước đến cửa sổ, nhìn ra bãi đỗ xe. Trời tối, những chiếc xe bật đèn khi vào ra bãi đỗ. Chị đứng cạnh cửa sổ, tay bấu vào bậu cửa, tận đáy lòng chị cảm nhận thấy bây giờ hai người đang gặp rắc rối, một thảm họa lớn. Chị sợ, răng bắt đầu đánh cầm cập, chị phải cắn chặt hàm mới thôi. Chị thấy một chiếc xe lớn dừng lại trước cổng bệnh viện, một người phụ nữ vận áo khoác dài bước vào xe. Chị thầm ước giá mà mình là người phụ nữ ấy hoặc là một ai khác, bất kỳ ai, để chị có thể lánh xa nơi này, đến chốn nào đó, để có thể thấy Scotty đợi mình khi chị bước ra khỏi xe, để nghe được tiếng gọi mẹ và để có thể ôm con trong vòng tay.

Lát sau, Howard thức giấc. Anh lại nhìn con, rồi rời ghế, vươn vai đi đến đứng cạnh chị bên cửa sổ. Cả hai hướng mắt về bãi đỗ xe. Họ không nói. Nhưng dường như họ có thể thấu hiểu được nỗi lòng của nhau, như thể nỗi lo lắng đã khiến họ phô đúng bản chất của mình.

Cửa mở, bác sĩ Francis vào. Lần này, ông đã thay đồ và đeo cà vạt khác. Mái tóc bạc được chải rẽ ngôi, trông ông như thể vừa cạo râu xong. Ông bước thẳng đến giường và khám cậu bé. “Đáng lẽ giờ này cháu đã tỉnh lại. Triệu chứng này không tốt đây”, ông nói. “Nhưng tôi có thể bảo đảm với anh chị rằng tất cả chúng tôi đều cho là cháu đã qua cơn nguy kịch. Nhưng chúng tôi sẽ yên tâm hơn nếu cháu thức giấc. Chẳng có lý do gì để cháu không hồi tỉnh, hoàn toàn không. Ngay bây giờ đây. Ồ, khi cháu tỉnh, anh chị có thể thấy cháu bị choáng váng, ấy là do đau đầu. Nhưng tất cả các dấu hiệu cho thấy cháu vô sự. Mọi dấu hiệu đều bình thường”.

“Vậy thì đấy có phải là hôn mê không?” Ann nói.

Bác sĩ xoa tay lên gò má mịn của mình. “Chúng tôi sẽ gọi tên triệu chứng như thế khi thời gian hồi tỉnh của cháu kéo dài. Nhưng chắc anh chị đã lả rồi. Thật gay go. Tôi biết việc này thật gay go”, ông nói. “Ra ngoài một lát để ăn chút gì đi, anh chị sẽ bớt căng thẳng. Nếu ra ngoài mà anh chị thấy dễ chịu hơn, tôi sẽ cử một y tá lên đây trông nom. Đi ăn cái gì đó đi”.

“Tôi không nuốt nổi bất kỳ thứ gì”, Ann nói.

“Dĩ nhiên, hãy làm những gì chị muốn”, bác sĩ nói. “Dẫu sao, tôi muốn nói với anh chị rằng mọi dấu hiệu đều tốt, các xét nghiệm bình thường, không có biểu hiện nào đáng ngại; ngay lúc cháu tỉnh, cháu sẽ bình phục nhanh”.

“Cám ơn bác sĩ”, Howard nói. Anh lại bắt tay bác sĩ. Bác sĩ vỗ vai Howard rồi đi ra.

“Anh nghĩ một trong hai ta nên về, dọn dẹp nhà cửa”, Howard nói. “Và phải cho Slug ăn”.

“Hãy nhờ hàng xóm”, Ann nói. “Gọi gia đình Morgan. Ai cũng có thể cho con chó ăn nếu anh nhờ”.

“Thôi được”, Howard đáp. Lát sau, anh nói: “Em này, tại sao không phải là em? Sao em không về nhà, dọn dẹp rồi trở lại? Em sẽ bớt lo lắng. Anh ở lại đây với con. Nghiêm túc đấy”, anh nói. “Chúng mình cần giữ gìn sức khỏe, bởi lẽ rất có thể còn phải ở lại đây ngay cả sau khi con đã tỉnh”.

“Sao không tự anh về?” chị nói. “Cho Slug ăn. Mình ăn”.

“Anh về rồi”, anh đáp. “Chính xác anh đi hết một tiếng mười lăm phút. Em hãy về nhà một tiếng để tắm giặt. Rồi quay lại”.

Chị cố nghĩ về việc ấy, nhưng cơ thể chị quá mỏi mệt. Chị nhắm mắt, cố nghĩ về việc đó một lần nữa. Lát sau, chị nói, “Có thể em sẽ về nhà vài phút. Nếu em không ngồi đây theo dõi từng giây từng phút, có thể con sẽ hồi tỉnh và khỏe mạnh. Anh hiểu chứ? Có thể con sẽ tỉnh lại nếu không có em ở đây. Em sẽ về nhà tắm, thay quần áo. Em sẽ cho Slug ăn. Rồi quay lại”.

“Anh sẽ ở đây”, anh nói. “Em về nhà đi, cưng. Anh sẽ để ý mọi thứ ở đây”. Mắt anh sưng húp và đỏ ngầu, như thể đã uống khá nhiều rượu. Áo quần anh nhăn nhúm. Râu anh mọc dài trở lại. Chị đưa tay sờ mặt anh rồi rụt về. Chị hiểu anh muốn có khoảnh khắc ngồi một mình, không phải chuyện trò hoặc giãi bày nỗi âu lo. Chị cầm chiếc ví trên bệ, anh giúp chị mặc áo khoác.

“Em đi không lâu đâu”, chị nói.

“Em hãy nghỉ ở nhà một lát”, anh nói. “Ăn món gì đó. Tắm. Sau khi tắm xong, hãy nghỉ một lát. Em sẽ thấy dễ chịu. Rồi hẵng quay lại”, anh nói. “Chúng mình không nên lo lắng. Em đã nghe những gì bác sĩ Francis nói rồi mà”.

Chị khoác áo đứng chần chừ vài giây, nhớ lại thật chính xác lời bác sĩ, mường tượng lại sắc thái, ẩn ý qua từng lời bác sĩ nói. Chị cố nhớ xem vẻ mặt của bác sĩ có thay đổi không khi ông cúi xuống khám con. Chị nhớ cách ông động viên họ lúc ông vạch mí mắt và lắng nghe nhịp thở của con.

Chị tiến về phía cửa, quay đầu nhìn lại. Chị nhìn con rồi lại nhìn người cha. Howard gật đầu. Chị ra khỏi phòng và kéo cánh cửa khép lại sau lưng.

Chị đi qua buồng y tá, đến cuối hành lang, tìm thang máy. Cuối hành lang, chị rẽ phải, bước vào phòng đợi nhỏ nơi có gia đình người da đen ngồi trên mấy chiếc ghế đan bằng liễu gai. Một người đàn ông đứng tuổi, mặc bộ đồ kaki, cái mũ bóng chày kéo sụp xuống đầu. Một phụ nữ to lớn, mặc đồ và đi dép trong nhà, ngồi co mình trên ghế. Một thiếu nữ vận quần jean, tóc tết thành nhiều bím nhỏ, nằm duỗi người trên ghế, chân gác chéo mắt cá lên nhau, phì phèo điếu thuốc. Cả gia đình ngước nhìn lúc Ann bước vào phòng. Cái bàn nhỏ ngổn ngang những mảnh giấy bọc bánh hamburger và cốc Styrofoam.

“Franklin!”, người đàn bà to lớn nhổm người dậy hỏi. “Có tin gì về Franklin không?” mắt bà ta mở to. “Thưa cô, cho tôi biết có tin gì về Franklin vậy?” bà ta nói. Bà ta cố ngồi dậy trên ghế, song người đàn ông đã nắm cánh tay bà.

“Bình tĩnh, bình tĩnh nào, Evelyn”, ông ta nói.

“Xin lỗi”, Ann nói, “Tôi đang đi tìm thang máy. Con trai tôi nằm viện và bây giờ tôi chẳng thể nào tìm thấy thang máy”.

“Thang máy ở đằng kia, rẽ trái”, người đàn ông chỉ tay nói.

Cô gái rít điếu thuốc và nhìn Ann. Mắt cô nheo khít lại, đôi môi dày chầm chậm mở ra khi cô nhả khói. Người đàn bà da đen ngoẹo đầu lên vai, không nhìn Ann, chẳng buồn lưu ý đến cô nữa.

“Con trai tôi bị xe tông”, Ann kể với người đàn ông. Dường như bản thân chị cần ngỏ lời giải thích. “Cháu bị chấn thương, sọ chớm nứt, nhưng cháu sẽ bình phục. Bây giờ cháu đang chìm trong cơn sốc, song có lẽ đấy cũng là một kiểu hôn mê. Chuyện ấy làm chúng tôi lo lắm, triệu chứng hôn mê ấy. Tôi ra ngoài một lát, chồng tôi ở lại với cháu. Có thể trong lúc tôi vắng mặt, cháu sẽ hồi tỉnh”.

“Tình trạng ấy tồi tệ quá”, ông ta vừa nói vừa dịch người trên ghế. Ông ta lắc đầu, nhìn xuống bàn rồi ngước nhìn Ann. Chị vẫn đứng đó. Ông nói: “Franklin nhà tôi đang trên bàn mổ. Có ai đó đã chém nó. Cố giết nó. Có một trận ẩu đả và nó có mặt tại đó. Tại bữa tiệc đó. Người ta kể nó chỉ đứng nhìn thôi. Không gây gổ với ai cả. Nhưng thời buổi này, điều đó chẳng có nghĩa lý gì. Giờ thì nó đang trên bàn mổ. Chúng tôi chỉ biết hy vọng và cầu nguyện, chúng tôi còn có thể làm gì hơn”, ông ta nhìn chị chằm chằm.

Ann nhìn cô gái, cô ta vẫn đang quan sát chị, rồi nhìn người đàn bà lớn tuổi, ngoẹo đầu, mắt bây giờ đã nhắm. Ann thấy đôi môi mấp máy không thành tiếng. Chị muốn hỏi đấy là lời gì. Chị muốn chuyện trò thêm nữa với những kẻ cùng cảnh ngộ này. Chị lo sợ, họ cũng lo sợ. Họ có cùng một nỗi lo. Hẳn chị rất muốn kể đôi điều nữa về tai nạn, kể với họ chuyện về Scotty, rằng tai họa ập đến vào ngày sinh nhật của cậu bé, vào thứ hai, mà đến giờ cháu vẫn chưa tỉnh lại. Nhưng chị không biết phải bắt đầu ra sao. Chị đứng nhìn họ, lặng im.

Chị bước ra hành lang, theo hướng người đàn ông chỉ và tìm thấy thang máy. Chị dừng một phút trước cánh cửa khép kín, tự vấn xem hành động mình đang làm có đúng không. Lát sau, chị đưa tay bấm nút.

Chị lái xe vào lối rẽ vào nhà rồi tắt máy. Chị nhắm mắt, gục đầu xuống tay lái một lát. Chị nghe những tiếng tíc, tíc của động cơ khi máy bắt đầu nguội. Rồi chị ra khỏi xe. Chị nghe tiếng chó sủa trong nhà. Chị đi vào cửa trước, không khóa. Chị bước vào, bật đèn và đun nước pha trà. Chị mở túi thức ăn của chó rồi cho Slug ăn ở hiên sau. Con chó đang đói, ăn ngấu nghiến. Nó cứ chạy vào bếp để biết chắc là chị sẽ ở lại. Lúc chị bưng tách trà ngồi vào ghế sofa, chuông điện thoại reo.

“Thưa, tôi nghe!” chị nói. “A lô!”

“Thưa bà Weiss”, giọng đàn ông nói. Bấy giờ đã năm giờ sáng, chị cảm thấy mình nghe được tiếng máy móc hoặc âm thanh của dụng cụ gì đó vọng vào tai nghe điện thoại.

“Vâng, vâng! Chuyện gì vậy?” chị hỏi. “Tôi đây. Tôi là bà Weiss đây. Chuyện gì vậy, làm ơn nói đi”. Chị nghe tiếng gì đó vọng vào điện thoại, rồi giục, “Làm ơn làm phước cho biết có phải chuyện về Scotty không?”

“Scotty”, giọng đàn ông nói. “Đúng, Scotty. Chuyện liên quan đến Scotty, đúng đấy. Bà quên bẵng Scotty rồi chăng?” người đàn ông nói rồi cúp máy. Chị quay số bệnh viện, nhờ nối lên tầng ba. Chị đề nghị cô y tá trực điện thoại cho biết tình hình con mình. Sau đó chị xin nói chuyện với chồng. Chị bảo, đây là trường hợp khẩn cấp.

Chị đợi, mấy ngón tay xoắn xoắn sợi dây điện thoại. Chị nhắm mắt, nghe bụng cồn cào. Chắc mình phải nấu món gì đó để ăn. Slug đi từ hiên vào, nằm xuống gần chân chị, vẫy vẫy đuôi. Chị kéo tai nó khi nó liếm tay chị. Howard ở đầu dây.

“Có ai đó vừa gọi đến đây”, chị nói. Chị xoắn dây điện thoại. “Hắn bảo đấy là chuyện của Scotty”, chị khóc.

“Scotty vẫn bình thường”, Howard đáp. “Anh muốn nói là con vẫn đang ngủ. Không có gì thay đổi. Từ lúc em đi, có người ghé qua hai lần. Một cô y tá hay bác sĩ gì đó. Con không sao cả”.

“Gã ấy gọi, hắn bảo đấy là chuyện về Scotty”, chị nói với anh.

“Cưng ơi, em nghỉ đi một lát. Em cần nghỉ ngơi. Thằng cha ấy hẳn vẫn là kẻ đã gọi cho anh. Quên hắn đi. Nghỉ xong hẵng quay lại đây. Rồi có lẽ chúng mình sẽ ăn sáng”.

“Ăn sáng ư”, chị nói. “Em chẳng muốn ăn tí nào”.

“Em hiểu ý anh chứ”, anh nói. "Nước trái cây, hoặc món gì đó. Anh không biết. Ann, anh chưa chắc chắn gì cả. Lạy Chúa, anh cũng không đói. Ann, giờ thì chưa thể nói. Anh đang đứng cạnh bàn đây. Tám giờ sáng nay, bác sĩ Francis sẽ đến khám lại. Lúc ấy ông mới có thể cho ta biết đôi điều, đôi điều rõ hơn. Một trong các y tá bảo anh thế. Cô ta cũng không biết gì thêm. Ann? Cưng à, lúc ấy may ta chúng ta mới rõ hơn. Tám giờ. Hãy đến đây trước tám giờ. Từ giờ tới đó, anh sẽ ở đây, Scotty bình thường, tình trạng vẫn như cũ”, anh nói thêm.

“Em đang uống trà thì điện thoại reo”, chị nói. “Hắn bảo chuyện có liên quan đến Scotty. Có nhiều âm thanh khác vọng vào điện thoại. Anh có nghe thấy những âm thanh ấy trong cú gọi cho anh không, Howard?”

“Anh không nhớ”, anh đáp. “Có thể đấy là gã đi chiếc xe ấy, hắn có thể là người mắc bệnh tâm thần và bằng cách nào đó đã tìm ra số điện thoại của Scotty. Nhưng anh đang ngồi bên con. Cứ làm những gì em muốn. Đi tắm rồi trở lại vào khoảng bảy giờ, chúng ta sẽ cùng nói chuyện với bác sĩ lúc ông ấy đến. Sẽ tốt đẹp cả thôi mà, cưng. Anh ở đây, có nhiều y tá, bác sĩ bên cạnh. Họ bảo cơ thể của con ổn định”.

“Em sợ đến chết đi được”, Ann nói.

Chị vặn nước, cởi đồ bước vào bồn. Chị tắm và nhanh chóng lau khô mình, không gội đầu, mặc đồ lót sạch, quần len và áo len tay dài. Chị vào phòng khách. Con chó ngồi nhìn chị, đuôi nó vẫy vẫy đập mạnh xuống sàn hai lần. Trời vừa hửng sáng, chị ra xe.

Chị lái đến bến đỗ của bệnh viện và tìm thấy một chỗ trống ngay phía cửa trước. Chị rơi vào cảm giác mơ hồ rằng mình cũng chịu trách nhiệm trước tai nạn của con. Chị để tâm trí hướng về gia đình người da đen. Chị nhớ tên Franklin và cái bàn ngổn ngang giấy gói hamburger, cô thiếu nữ vừa rít thuốc vừa chăm chú nhìn chị. “Đừng sinh con”, chị đối thoại với hình bóng thiếu nữ lúc chị đi vào cửa trước bệnh viện. “Vì Chúa, đừng”.

Chị đi thang máy lên tầng ba cùng với hai y tá đi làm nhiệm vụ. Sáng thứ tư, bảy giờ kém mấy phút. Khi cửa thang máy mở ở tầng ba, có mẩu giấy viết tên bác sĩ Madison. Chị ra sau hai cô y tá. Họ rẽ lối khác và tiếp tục cuộc thoại bị gián đoạn khi chị bước vào thang máy. Chị đi theo hành lang về phía phòng đợi nhỏ nơi gia đình da đen đã ngồi đợi. Họ không còn ở đó, nhưng mấy chiếc ghế nằm rải rác trong tư thế như thể những người ngồi đó vội đứng lên mới vài phút trước. Mặt bàn vẫn đầy những chiếc cốc và giấy bọc ấy. Gạt tàn đầy mẩu thuốc lá hút dở.

Chị dừng lại ở phòng trực của y tá. Một cô y tá đang đứng sau bàn, vừa chải tóc vừa ngáp.

“Chị cho tôi hỏi về ca phẫu thuật của anh chàng da đen tối qua”, Ann nói. “Tên là Franklin. Cả gia đình ngồi trong phòng đợi. Tôi muốn biết tình trạng của cậu ta ra sao?”

Cô y tá ngồi ở phía sau bàn nhìn danh sách trước mặt mình. Điện thoại reo, cô nhấc tay nghe nhưng mắt vẫn nhìn Ann.

“Bệnh nhân ấy mất rồi”, từ sau bàn, cô y tá nói. Cô nhìn chị, tay vẫn cầm lược. “Chị là thân nhân hay là bạn của gia đình?”

“Tôi gặp gia đình ấy tối qua”, Ann đáp. “Con trai tôi nằm viện. Tôi nghĩ cháu bị sốc. Chúng tôi không biết chắc nguyên nhân triệu chứng ấy. Tôi chỉ muốn biết tin về Franklin, thế thôi. Cám ơn chị”. Chị bước xuôi hành lang. Cửa thang máy cùng màu với bức tường mở ra, một người đàn ông hói đầu, gầy gò vận quần trắng, giày trắng đẩy chiếc xe kéo ra khỏi thang máy. Tối qua, chị không lưu ý tới mấy cánh cửa ấy. Người đàn ông đẩy xe vào hành lang và dừng trước cửa phòng gần thang máy, xem bảng đính tên. Rồi ông ta cúi xuống, kéo một cái khay ra khỏi xe, gõ nhẹ lên cửa rồi bước vào phòng. Khi vượt qua chiếc xe, chị ngửi thấy mùi thức ăn ấm, chẳng dễ chịu tí nào. Chị vội vã bước, không nhìn mấy cô y tá, đẩy cửa vào phòng con.

Howard chắp tay sau lưng đứng cạnh cửa sổ. Anh quay lại khi chị bước vào. “Con thế nào rồi?” chị nói. Chị đến bên giường, thả ví xuống sàn cạnh chiếc bệ. Chị cảm thấy như mình đã đi quá lâu. Chị sờ mặt con. “Sao hở anh?”

“Bác sĩ Francis vừa ở đây”, Howard nói. Chị nhìn kỹ thấy hình như vai anh hơi gồ lên.

“Em cứ nghĩ tám giờ ông ấy mới đến”, chị nói nhanh.

“Có một bác sĩ nữa đi cùng ông ấy. Bác sĩ thần kinh”.

“Bác sĩ chuyên khoa thần kinh”, chị nói.

Howard gật đầu. Vai anh đang rụt lại, chị thấy. “Họ nói những gì vậy anh? Làm ơn nói em nghe, họ bảo gì? Chuyện gì vậy?”

“Họ bảo sẽ đưa con xuống kiểm tra thêm. Họ nghĩ cần phải tiến hành phẫu thuật. Em à, họ sẽ mổ. Họ không thể tìm ra nguyên nhân bất tỉnh của con. Nó không phải là một cú sốc hay sự chấn thương đơn thuần. Bây giờ họ đã rõ điều đó. Họ nghĩ chính vết rạn bên trong sọ đã gây nên những thương tổn bên trong. Thế nên họ sẽ mổ. Anh cố gọi cho em, nhưng lúc ấy hẳn em đã rời khỏi nhà”.

“Ôi, lạy Chúa”, chị nói. “Ôi, làm ơn, Howard, làm ơn”, chị nói, nắm chặt cánh tay anh.

“Nhìn kìa!” Howard nói. “Scotty! Ann, nhìn kìa”. Anh quay mặt chị về phía giường.

Cậu bé đã mở mắt rồi nhắm lại. Bây giờ cậu lại mở mắt. Đôi mắt nhìn thẳng về phía trước hồi lâu, rồi từ từ di chuyển cho đến khi gặp Howard và Ann, rồi lại nhìn đi nơi khác.

“Scotty”, mẹ cậu đến bên giường gọi.

“Nào, Scotty”, ba cậu nói. “Nào, con”.

Họ cúi người trên giường. Howard cầm tay con, nắn nắn rồi vuốt ve. Ann cúi xuống đứa trẻ và tới tấp hôn lên trán con. Chị giữ hai má con. “Scotty, cục cưng của mẹ, ba và mẹ đây”, chị nói. “Scotty?”

Cậu bé nhìn họ nhưng không biểu lộ bất kỳ dấu hiệu nhận biết nào. Sau đó miệng cậu há ra, mắt nhắm nghiền lại, cậu rít lên cho đến lúc không khí không còn trong phổi. Lát sau, mặt cậu dường như giãn và mềm ra. Đôi môi hé mở khi hơi thở cuối cùng thoát khỏi cổ họng và từ từ ra ngoài qua hàm răng nghiến chặt.
° ° °

Các bác sĩ gọi đấy là triệu chứng tắc ngầm và bảo nó chỉ chiếm tỉ lệ một phần triệu. Nếu tiến hành phẫu thuật ngay sau khi được phát hiện thì họ có thể cứu sống cậu bé. Nhưng đâu phải dễ. Bởi làm sao họ chẩn đoán ra được một khi những tấm phim chụp X quang và các mẫu xét nghiệm chẳng cho thấy điều gì.

Bác sĩ Francis run run nói: “Tôi không thể bày tỏ cho anh chị hiểu hết nỗi lòng mình. Tôi rất buồn nhưng không thể diễn đạt hết với anh chị được”, ông nói khi đưa họ đến phòng bác sĩ. Một bác sĩ đang ngồi gác
° ° °
chân lên lưng một chiếc ghế khác, xem chương trình tivi buổi sáng sớm. Ông ta mặc bộ đồ xanh của bác sĩ, quần dài màu xanh lụng thụng, áo bờ lu xanh, đội mũ xanh. Ông nhìn Howard và Ann rồi nhìn bác sĩ Francis. Ông bỏ chân xuống, tắt tivi rồi ra khỏi phòng. Bác sĩ Francis dắt Ann đến ghế sofa, ngồi xuống cạnh chị, an ủi bằng giọng trầm trầm. Có lúc, ông nghiêng người ôm vai chị. Chị có thể cảm thấy ngực ông nâng lên, hạ xuống đều đặn trên vai mình. Chị thẫn thờ mở mắt, để ông giữ vai mình. Howard đi vào buồng tắm, nhưng anh không khép cửa. Sau một hồi nức nở, anh vặn vòi, rửa mặt. Sau đó, anh bước ra ngồi vào chiếc bàn nhỏ đặt điện thoại. Anh nhìn nó như thể đang quyết định nên làm việc gì trước. Anh gọi mấy cú. Rồi bác sĩ Francis dùng máy.

“Bây giờ tôi có thể làm gì cho anh chị?” ông hỏi.

Howard lắc đầu. Ann nhìn chằm chằm vào ông như thể chẳng hiểu lời ông nói. Bác sĩ đưa họ đến cửa trước của bệnh viện. Mọi người tấp nập ra vào. Lúc ấy đã mười một giờ trưa. Ann biết chân của mình rất lóng ngóng, miễn cưỡng. Chị nghĩ, dường như bác sĩ Francis đang buộc họ rời đi, thay vì họ nên ở lại. Chị nhìn ra bãi đỗ xe, nhìn quanh rồi nhìn về mặt tiền của bệnh viện. Chị lắc đầu. “Không, không”, chị nói. “Tôi không thể để con ở lại đó, không”. Chị nghe lòng mình thì thầm điều ấy, rồi nghĩ, thật không phải bởi đấy những từ ngữ được dùng trên tivi nơi người ta bị choáng bởi bạo lực hay những cái chết bất thình lình. Chị muốn nói lên lời của trái tim mình. “Không”, chị thốt, và vì lý do gì đó, ký ức về người đàn bà da đen ngoẹo đầu lên vai chợt về với chị, “Không”, chị thốt lên lần nữa.

“Tôi sẽ nói chuyện với anh chị vào chiều nay”, bác sĩ bảo Howard. “Vẫn còn vài việc phải tiến hành để làm sáng tỏ những nghi vấn của chúng tôi. Chúng cần được giải thích”.

“Mổ tử thi”, Howard nói.

Bác sĩ Francis gật đầu.

“Tôi hiểu”, Howard nói. Rồi anh thốt lên, “Ôi, lạy Chúa, không, tôi không hiểu, thưa bác sĩ. Tôi không thể, tôi không thể. Tôi không thể nào hiểu nổi”.

Bác sĩ Francis choàng tay lên vai Howard. “Tôi rất buồn. Chúa chứng giám nỗi buồn của tôi”. Ông buông vai Howard rồi đưa tay ra. Howard nhìn bàn tay rồi nắm lấy. Bác sĩ Francis vòng tay ôm Ann lần nữa. Trong ông trào dâng những tình cảm xót xa chân thành nhất mà Ann không hiểu. Chị gục đầu lên vai ông, mắt vẫn mở. Chị cứ nhìn bệnh viện. Khi hai người đánh xe khỏi bãi đỗ, chị cứ ngoái đầu nhìn lại bệnh viện.


Đến nhà, chị đút tay vào túi áo khoác, ngồi trên ghế sofa. Howard khép cánh cửa dẫn đến phòng con. Anh pha cà phê rồi đi lấy cái hộp rỗng. Anh định nhặt cất mấy món đồ chơi của con đang nằm lăn lóc trong phòng khách. Nhưng anh lại ngồi xuống ghế sofa, bên cạnh chị, cúi người về phía trước, đút tay giữa hai đầu gối, cái hộp bị đẩy sang bên cạnh. Anh òa khóc. Chị kéo đầu anh vào lòng, vỗ vỗ lên vai. “Con mất rồi”, chị nói. Chị vẫn vỗ đều lên vai anh. Chị nghe ấm đun cà phê xì xì hơi trên bếp qua tiếng nức nở của anh. “Nào, nào”, chị dịu dàng nói. “Howard, con không còn nữa. Con đã mất và bây giờ chúng mình phải quen với nỗi trống vắng ấy. Nỗi cô đơn”.

Một lúc sau, Howard đứng dậy, cầm hộp bước đi thẫn thờ quanh phòng, nhưng không để gì vào hộp mà chỉ xếp vài thứ trên sàn ngay đầu ghế sofa. Chị vẫn ngồi, tay để yên trong túi áo khoác. Howard đặt cái hộp xuống, mang cà phê vào phòng khách. Sau đó, Ann gọi cho họ hàng. Mỗi lần gọi, nhận được trả lời, Ann chỉ thốt lên đôi lời rồi khóc. Sau đó, bằng giọng bình tĩnh, chị giải thích chuyện gì đã xảy ra và nói với họ cách thu xếp của mình. Howard mang cái hộp ra gara. Nhìn thấy chiếc xe đạp của con, anh để rơi cái hộp, ngồi xuống bên cạnh rồi lóng ngóng ôm chầm chiếc xe vào lòng. Anh giữ chặt, cái pedal cao su đâm vào ngực. Anh quay bánh xe.

Sau cuộc nói chuyện với bà chị, Ann bỏ ống điện thoại xuống. Chị đang tìm số khác để gọi thì chuông điện thoại reo. Chị nhấc máy ngay tiếng chuông đầu tiên đổ.

“A lô!”, chị nói và nghe âm thanh vo vo nào đó vọng vào điện thoại. “A lô!” chị chào. “Lạy Chúa”, chị nói. “Ai đấy? Ông cần gì?”

“Scotty của bà, tôi sẵn sàng trao nó cho bà”, giọng người đàn ông nói. “Bà quên nó rồi sao?”

“Đồ con hoang ác độc!” chị thét vào điện thoại. “Sao mày lại làm thế hở thằng chó đẻ bẩn thỉu?”

“Scotty”, người đàn ông nói, “Bà đã quên chuyện Scotty rồi chăng?” rồi cụp máy.

Howard nghe tiếng thét bèn chạy vào thấy chị ôm đầu gục trên bàn khóc. Anh cầm ống nghe, không còn tín hiệu.
° ° °


Rất lâu sau đó, độ trước nửa đêm, sau khi họ dọn dẹp nhiều thứ, điện thoại lại reo.

“Anh nghe đi”, chị nói. “Howard, hắn đấy. Em biết”. Họ đang ngồi cạnh chiếc bàn trong bếp, cà phê trước mặt. Howard rót một ly whisky nhỏ đặt cạnh cốc cà phê. Anh nhấc máy khi chuông đổ lần thứ ba.

“A lô”, anh nói. “Ai đấy? A lô! A lô!” Đường dây bị cắt. “Hắn cúp máy”, Howard nói. “Đồ khốn nạn”.

“Hắn đấy”, Ann đáp. “Thằng con hoang ấy”. Em muốn giết hắn”, chị nói. “Em muốn bắn rồi xem hắn gục xuống”.

“Lạy Chúa, Ann”, anh nói.

“Anh có nghe thấy âm thanh gì không?” chị nói. “Trong máy ấy? Một tiếng động, tiếng máy móc hay thứ gì đó kêu vo vo?”

“Không, rõ ràng không có những âm thanh ấy”, anh nói. “Không có thời gian. Anh nhớ có tiếng nhạc radio. Đúng, có tiếng radio, anh chỉ có thể nói thế thôi. Lạy Chúa, chẳng biết chuyện gì sắp xảy ra nữa đây”.

Chị lắc đầu. “Giá mà em có thể nhận ra hắn”. Lúc ấy, chị sực nhớ. Chị biết hắn. Scotty, chiếc bánh, số điện thoại. Chị đẩy ghế ra xa bàn, đứng dậy. “Đưa em đến trung tâm thương mại, anh Howard”, chị nói.

“Em bảo gì vậy?”

“Đến trung tâm thương mại. Em biết người gọi điện. Em biết đấy là hắn. Gã nướng bánh, Howard ạ, gã làm bánh chó đẻ. Em đặt hắn làm chiếc bánh sinh nhật cho Scotty. Hắn là người gọi điện. Hắn có số điện thoại và liên tục gọi chúng ta. Quấy rầy chúng ta vì chiếc bánh đó. Gã làm bánh. Đồ con hoang”.

*

Họ đánh xe đến trung tâm thương mại. Bầu trời quang đãng, sao lặn dần. Trời lạnh, họ bật điều hòa nhiệt trong xe. Hai người đỗ xe trước hiệu bánh. Tất cả các cửa hiệu đều đóng cửa, nhưng vẫn còn mấy chiếc xe đậu đằng cuối bãi trước rạp chiếu bóng. Cửa sổ hiệu bánh tối om, nhưng khi nhìn qua lớp kính họ có thể thấy ánh sáng của căn phòng phía sau và thỉnh thoảng, một người đàn ông to lớn vận tạp dề đi lại trong luồng sáng ấy. Nhìn qua kính, chị thấy mấy chiếc bánh bày bán và vài cái bàn nhỏ có ghế. Chị gõ cửa, đập mạnh vào tấm kính. Nhưng dẫu cho người đàn ông nghe thấy, ông ta cũng chẳng buồn để ý. Ông không nhìn về phía họ.

Hai người lại vòng ra sau hiệu bánh rồi đỗ lại. Họ ra khỏi xe. Có ánh sáng hắt qua cửa sổ, song cửa sổ quá cao nên họ không thể nhìn vào bên trong. Tấm biển gắn trên cửa sau với dòng chữ: Hiệu bánh Pantry, đáp ứng mọi yêu cầu.

Chị nghe văng vẳng tiếng radio từ bên trong và tiếng gì kêu cái cách, như thể nắp lò được đóng xuống. Chị gõ cửa và đợi. Rồi chị lại gõ, lần này to hơn. Radio được vặn nhỏ, và bây giờ có tiếng gì kẹt kẹt, một âm thanh khác, tiếng khay được kéo ra và đóng lại.

Ai đó vặn khóa rồi mở cửa. Người làm bánh đứng trong luồng sáng, chằm chằm nhìn họ. “Tôi đang bận công việc”, ông ta nói. “Anh chị cần gì vào giờ này? Đã nửa đêm rồi. Hai người đã say hay có điều gì muốn nói?”

Chị bước vào luồng sáng chiếu qua cánh cửa để ngỏ. Ông ta hấp háy mi mắt nặng trịch khi nhận ra chị. “Bà đấy ư?” ông ta nói.

“Tôi đây”, chị nói. “Mẹ của Scotty. Còn đây là ba của Scotty. Chúng tôi muốn vào nhà”.

Người làm bánh nói: “Bây giờ tôi đang bận. Tôi phải làm việc”.

Nhưng chị đã bước vào trong cửa. Howard đi theo chị. Người làm bánh lùi lại. “Trong này có mùi bánh. Phải mùi bánh không, Howard?”

“Các người cần gì?” người làm bánh nói. “Hẳn các người muốn lấy chiếc bánh của mình? Chắc thế rồi, các người quyết định lấy bánh. Bà đã đặt tôi làm chiếc bánh, có phải không?”

“Mày là thằng làm bánh khốn nạn”, chị nói. “Anh Howard, chính thằng này gọi điện quấy chúng ta”. Chị siết chặt nắm đấm, trừng mắt hung tợn nhìn ông ta. Tựa như có ngọn lửa đang hừng hực cháy trong lòng, cơn giận đã khiến chị dũng mãnh hơn bản thân, mạnh hơn cả hai người đàn ông đang đứng đó.

“Đợi đã”, người làm bánh nói. "Bà muốn lấy chiếc bánh đã đặt ba ngày trước sao? Phải không? Tôi không muốn tranh cãi, thưa bà. Đấy, nó đấy, đã bốc mùi. Tôi sẽ trao nó cho bà với một nửa giá đã định. Không. Bà cần nó hả? Bà có thể lấy. Bây giờ nó chẳng còn giá trị với tôi, với bất kỳ ai. Tôi đã mất thời gian và tiền để làm. Nếu bà lấy nó, tốt; còn nếu bà không muốn nhận; cũng chẳng sao. Tôi phải trở lại với công việc đây”. Ông ta nhìn họ, lưỡi rà rà dưới hàm răng.

“Nhiều bánh quá”, chị nói. Chị biết mình đã bình tĩnh, đã kiềm chế được nỗi bức xúc trong lòng. Chị bình tĩnh.

“Bà xem, tôi phải làm mười sáu tiếng một ngày tại nơi này để kiếm sống”, người làm bánh nói. Ông chùi tay vào tạp dề. “Tôi làm việc ngày đêm ở đây, cố giải quyết cho xong công việc”. Liếc nhìn qua mặt Ann, ông ta lùi lại và nói, “Đừng bao giờ gây rối”. Ông bước đến quầy, cầm cái ống lăn bột bằng tay phải rồi gõ gõ vào lòng bàn tay kia. “Bà có lấy bánh không? Tôi còn phải làm việc. Người nướng bánh làm việc vào ban đêm”, ông nhắc lại. Mắt lão ta ti hí, ti tiện, chị nghĩ, gần như lọt thỏm trong các túi thịt chùng trên mặt. Cổ lão nung núc.

“Tôi biết người sản xuất bánh làm việc vào ban đêm”, Ann nói. “Bọn họ cũng gọi điện vào ban đêm nữa. Phải không thằng con hoang”, chị nói.

Người làm bánh vẫn đập đập cái ống lăn bột vào lòng bàn tay. Ông liếc nhìn Howard. “Cẩn thận, cẩn thận”, ông nói với Howard.

“Con trai tôi chết rồi”, chị nói lạnh lùng, đều đều. “Nó bị xe tông sáng thứ hai vừa rồi. Chúng tôi chăm sóc cho đến lúc nó chết. Nhưng, dĩ nhiên, ông không biết chuyện đó, đúng không? Người làm bánh không thể biết mọi chuyện – có phải không, thưa ngài bán bánh? Nhưng, nó đã chết. Đã chết. Đồ ác độc!” Cũng thình lình như lúc đến, cơn giận đột nhiên tan biến, trong chị bỗng trỗi lên cảm giác khác: sự choáng váng của cơn buồn nôn. Chị gục đầu lên chiếc bàn gỗ bám đầy bột, úp mặt vào tay rồi khóc, đôi vai giật giật theo tiếng nấc. “Thật xấu xa”, chị thốt lên. “Ác độc, xấu xa”.

Howard đặt tay lên eo lưng chị và nhìn người làm bánh. “Ông thật đáng xấu hổ”, anh nói. “Thật xấu hổ”.

Người làm bánh đặt cái ống lăn xuống quầy, tháo tạp dề quẳng lên quầy. Ông nhìn hai vợ chồng rồi chậm rãi lắc đầu. Ông kéo cái ghế dưới bàn viết để giấy tờ, hóa đơn, chiếc máy tính và cuốn danh bạ điện thoại. “Ngồi xuống đi”, ông nói. “Để tôi tìm cho anh chiếc khác”, ông nói với Howard. “Nào, mời ngồi”. Người bán bánh đi ra phía trước cửa hiệu mang vào hai chiếc ghế sắt nhỏ. “Ngồi xuống đi, anh chị”.

Ann chùi nước mắt nhìn người làm bánh. “Tôi muốn giết ông”, chị nói. “Tôi muốn ông chết đi”.

Người làm bánh chùi sạch khoảng bàn trước mặt họ. Ông gạt chiếc máy tính cùng cuốn sổ và tập hóa đơn sang một bên. Ông quẳng cuốn danh bạ điện thoại xuống sàn. Nó rơi mạnh. Howard và Ann ngồi xuống rồi kéo ghế đến gần bàn. Người làm bánh cũng ngồi xuống.

“Cho phép tôi bày tỏ lời xin lỗi”, người làm bánh nói, chống khuỷu tay lên bàn. “Chỉ có Chúa mới chứng giám được lòng ân hận của tôi. Làm ơn nghe tôi. Tôi chỉ là một lão nướng bánh. Tôi không bảo mình là một ai khác. Có thể, một dạo, đã nhiều năm về trước, tôi là loại người khác. Tôi không chắc mình đã quên thật chưa. Nhưng nếu tôi là kiểu người ấy thì tôi đã không còn tồn tại. Giờ đây, tôi chỉ là người làm bánh, tôi hiểu, việc làm vừa rồi của tôi khó mà tha thứ được. Nhưng tôi rất ân hận. Tôi có lỗi với con anh chị và thực sự ân hận về hành động của mình trước nỗi đau này”, người làm bánh nói. Ông xòe bàn tay ra bàn, rồi lật ngửa lòng bàn tay lên. “Bản thân tôi không có con, như thế tôi chỉ có thể hình dung những mất mát mà anh chị đang chịu đựng. Tất cả những gì tôi có thể nói với anh chị bây giờ là: tôi có lỗi. Hãy tha thứ cho tôi, nếu có thể”, ông nói. “Tôi không phải là hạng người ác độc, không phải đâu. Không đến nỗi xấu xa như chị gọi trên điện thoại. Anh chị phải hiểu cho rằng làm sao tôi có thể biết để cư xử cho đúng mực. Thế đấy. Làm ơn”, ông nói, “cho phép tôi hỏi tận đáy lòng mình, anh chị đã thông cảm và có thể tha thứ cho tôi chưa?”

Trong xưởng rất nóng. Howard đứng dậy cởi áo khoác. Anh giúp Ann cởi áo khoác của chị. Người làm bánh nhìn họ một lát, gật gật đầu và đứng dậy. Ông đến bên lò, tắt vài công tắc. Ông tìm cốc rót cà phê từ chiếc ấm điện. Ông đặt hộp kem và một chén đường lên bàn.

“Anh chị cần phải ăn vài miếng”, người làm bánh nói. “Tôi hy vọng anh chị sẽ dùng mấy chiếc bánh nóng của tôi. Hai người phải ăn để sống. Ăn là điều tốt lành nho nhỏ trong những lúc như thế này”, ông nói.

Ông mang cho họ những chiếc bánh quế nóng vừa lấy ra khỏi lò, bụi bánh hãy còn bám. Ông lấy bơ và dao ăn đặt lên bàn. Sau đó, người làm bánh ngồi vào bàn với họ. Ông đợi. Ông chờ cho đến khi mỗi người cầm một cái bánh trên đĩa đưa lên miệng ăn. “Ăn món gì đó sẽ dễ chịu”, ông nói trong lúc xem hai người ăn. “Còn nhiều đó. Ăn thêm nữa đi. Cứ ăn thỏa thích. Ở đây có đủ các loại bánh trên thế giới”.

Họ ăn bánh và uống cà phê. Bỗng nhiên Ann thấy đói bụng, thấy mấy chiếc bánh ấm và ngọt ngào. Chị ăn ba chiếc, người làm bánh hài lòng. Rồi ông mở miệng nói. Họ chăm chú lắng nghe. Mặc dù mệt mỏi và đau khổ, họ vẫn lắng nghe lời người làm bánh phải buộc lòng nói. Họ gật gật đầu khi ông bắt đầu đề cập đến nỗi cô đơn, sự hoài nghi và những giới hạn đã đến với ông trong những năm tháng ở độ tuổi trung niên này. Ông kể cho hai vợ chồng nghe về cuộc sống không con cái của mình. Tháng ngày cứ lặp đi lặp lại với những lò bánh hết đầy ắp rồi lại trống rỗng. Những buổi tiệc, những lễ kỷ niệm ông từng phục vụ. Bột bánh bám đầy tay. Tên của những cặp vợ chồng đính trên bánh. Phải đến hàng trăm tên, không, bây giờ đã là hàng ngàn. Sinh nhật. Hãy hình dung các ngọn nến đang cháy. Công việc của ông rất thiết yếu. Ông là người làm bánh. Ông hạnh phúc vì mình không phải là người bán hoa. Cung cấp thức ăn cho mọi người thì có giá trị hơn. Bất cứ lúc nào, mùi bánh cũng thơm hơn mùi hoa.


“Ngửi cái này xem”, người làm bánh vừa bẻ đôi ổ bánh mì đen vừa nói. “Đây là loại bánh mì đặc nhưng giàu chất dinh dưỡng”. Họ ngửi, rồi ông bảo hai người nếm thử. Chiếc bánh có mùi mật đường, hăng hăng. Họ nghe ông nói. Họ ăn những gì mình muốn. Họ nhai nuốt chiếc bánh mì đen. Dưới ánh đèn huỳnh quang, không gian tựa như ban ngày. Họ nói chuyện mãi tới rạng sáng, lúc những tia nắng yếu ớt xuyên qua cửa sổ, mà không nghĩ đến chuyện chia tay.
 
  LÊ HUY BẮC dịch.
Chân Trời Tím.
 
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
          Căn Nhà Bỏ Hoang !
                    Jean Fougere
 
"Anh thấy đấy - nàng vui vẻ nói - đi xem xét việc làm ăn mà đưa em theo cũng có lý. Em mang lại cái hên cho anh, từ lúc khởi hành đến giờ chưa hề bị một trục trặc gì".

Khởi từ Normandie nơi họ đã gặp nhiều người bán hàng trong vùng cho hãng, hai người dừng lại ở Chartres, ăn trưa ở Grand Monarque và bây giờ lái xe thẳng theo hướng nam, trực chỉ Châteaudun.

Nhưng câu nói lạc quan mà người vợ trẻ bảo chồng hình như đã làm thay đổi hẳn diễn tiến công việc. Chiếc xe đang khó khăn leo lên cái dốc khá dài, lúc người vợ nhận xét vậy bỗng chạy chậm lại hẳn. Động cơ hực lên vài tiếng rồi dừng. Họ còn đi được thêm hai chục mét trước khi nép xe vào vệ đường.

"Này, anh chồng nói - từ rày về sau thì coi chừng cái miệng mồm đấy". Rồi anh nhìn vợ bằng vẻ mệt mỏi chán nản trông khôi hài đến nỗi cô vợ phá ra cười. Sự vui tươi của người vợ khiến anh chồng cũng phải cười theo. Tình thế có vẻ khôi hài hơn là nghiêm trọng. Dẫu sao anh cũng thử sửa chiếc xe thật nhanh bằng cách mở nắp máy lên. Sau khi rị mọ vài ba thứ anh kêu lên: "Đề máy đi". Người vợ làm theo nhưng không kết quả. Anh chồng lại bắt đầu rờ rẫm, lại kêu nổ máy để đi đến kết luận rằng xăng không được bơm lên và anh chẳng thiết mở tung mớ đồ lạc xoong này, cần phải tìm thợ máy ở xa, phía dưới. Người vợ đứng lên, nhẹ nhàng ngoái đầu lại phía sau, hướng người chồng đã chỉ, nhận ra ngôi làng cách khoảng bảy tám trăm mét mà họ vừa vượt qua không để ý.

Được thôi, nàng sẽ ở lại đây nhưng xin anh đừng để nàng đợi buồn nẫu ra hàng giờ. Nàng quay đầu lại lần nữa để nhìn người chồng đi xa dần. Đầu trần, anh đi giữa lộ những bước dài đăm chiêu bằng cái dáng hay lắc lư vai quen thuộc làm nàng cảm động, chiếc áo khoác thể thao mở tung phập phồng. Nàng quyết định phải bình thản chờ đợi mọi sự diễn tiến.

Mui xe mở ra khiến nàng có thể quan sát được khung cảnh, khắp nơi là những cánh đồng vàng, vì là người thành thị nên nàng không thể phân loại được đất này trồng gì, vả lại mùa xuân cũng chưa cho phép trồng trọt nhiều thứ được. Tuy nhiên nàng cũng nhìn thấy từ xa một nhóm cây nhỏ phủ đầy hoa trắng hay hồng gì đó. Gần chiếc xe, bên vệ đường có một cái nhà tồi tàn với vẻ ngoài không có gì đáng chú ý như bị bỏ hoang.

Người đàn bà trẻ tuổi duỗi chân chìm sâu hơn vào trong ghế như muốn tìm thế nằm thuận lợi cho giấc ngủ. Nàng ngả đầu ra sau để tựa lên lưng ghế, nhưng chiếc mũ, một loại mũ bằng da để đi xa, sạch sẽ và không trang hoàng, lại làm nàng bị cấn. Nhanh nhẹn lột mũ ra, nàng ném nó qua vai vào băng ghế sau. Thế là nàng có thể buông thả gáy mình và cảm thấy qua mái tóc nắng đã đủ thì giờ làm nệm ghế nóng lên. Mơ hồ, bất động, phơi hoàn toàn trong ánh sáng, nàng để mặc cho sức nóng lấn chiếm làn da, thâm nhập vào mình như một thứ đồng cảm với thiên nhiên bao quanh, với khoảng trời bao la mắt nàng ngước nhìn đang âm ấm ve vuốt mặt đất.

Vậy là phải có một sự cố buồn nản mới ép nàng biết đến bầu trời. Chiều sâu khác thường của không trung được nhấn mạnh thêm bởi những đám mây nhỏ hiếm hoi bay uể oải giống như những cây táo hay lê gì đó sủi bọt tăm cũng đang bồng bềnh trên vườn quả xa xa.

Người vợ nghe từ sau lưng tiếng động cơ. Một chiếc xe dáng vẻ đặc biệt vượt qua xe nàng và dừng lại một cách khó hiểu cách nàng vài mét. Khi thấy Georges và người thợ mặc đồ xanh bước xuống, nàng mới nhớ ra rằng hai vợ chồng đã bị hỏng xe và tự hỏi không biết mình có ngủ thiếp đi không. Giọng nói to của người chồng đưa nàng về thực tại trọn vẹn: “Em thấy tụi này cũng đến nhanh đấy chứ!”. Cùng lúc đó anh thợ máy mỉm cười với người đàn bà xinh đẹp mà anh vừa đến để giúp qua khỏi cơn rắc rối. Nàng nhỏm dậy và kéo nhanh chiếc váy che đầu gối.

Hai người đàn ông im lặng đắm mình xem xét động cơ. Rồi họ nói chuyện máy móc, rút ra nhiều dụng cụ từ bộ quần áo thợ máy đặt vào chỗ trũng vè bánh xe như những vật chứng tích trước tòa án và lần lượt thử từng cái mà không đạt kết quả cụ thể nào. Có thể bộ phận bơm xăng đã bị hư, phải thay cái đĩa nhỏ. Kết luận như vậy, người thợ máy muốn kéo xe về chỗ xưởng sửa chữa. Mở cuộn dây cáp bằng thép ra để cột vào phía trước chiếc xe hỏng, anh ta bảo người chồng rằng chỉ cần thắng nhè nhẹ lúc xuống dốc một lúc, sau đó chiếc xe sẽ tự trôi một mình. Trong khi anh ta đang chuẩn bị, Georges nhảy qua hố lại gần căn nhà bỏ hoang để đọc hàng chữ trên tấm bảng đá gắn vào tường. Khi trở lại ngồi vào tay lái, anh lơ đãng nói rằng trước kia ở đây đã từng có một trận đánh.

Một lát sau khi họ đã sửa soạn để trở lại làng và việc móc xe đã tiến hành trôi chảy, người chồng nói: “Cái anh chàng này có vẻ không được sáng dạ lắm, không biết có sửa được không. Dẫu sao anh cũng có cảm tưởng rằng chúng mình sẽ phải kiên nhẫn dừng ở đây một lúc lâu trong cái làng vớ vẩn này” – “Miễn là cơn đau cổ họng của thằng Rico con mình không trầm trọng lắm...” - nàng thầm thì, dù việc cơn đau chẳng liên quan gì đến vụ hỏng xe. Nàng cũng không phải loại người dễ mất hồn. Tuy nhiên khi có việc gì xảy ra trái với dự tính, nàng lại nghĩ ngay đến con cái.

Để xe vào gara rồi hai vợ chồng quyết định vào quán cà phê đợi. Những dãy nhà trải dài hai bên con lộ không hợp thành một làng. Trông giống như thị trấn nhỏ ở xa Chartres hơn, với những mái nhà thấp, rải rác đó đây một cửa kính nhợt nhạt không màu sắc bán đồ tạp hóa vùng quê. Hai đứa trẻ chạy đuổi bắt nhau. Có tiếng đập đều đặn trên kim loại trong xưởng kế cận. Hai người bước vào quán cà phê gần nhất. Lúc ấy đã là giờ nghỉ ngơi. Quán vắng tanh. Một con mèo đang ngủ trên quầy. Khắc sau ông chủ mới xuất hiện, lê bước chân như nỗi tiếc nuối. Hai người gọi bất cứ thức uống gì để lấy cớ cho sự hiện diện trong quán.

Trong khi ông chủ đưa nước ra, người vợ móc hộp phấn trong túi, loáng thoáng trang điểm lại. Hơi đau đớn, nàng tê dại người đi như có ai trùm lấy mình trong lớp bông dày và những tiếng động chỉ vang vọng đến yếu ớt. Có thể là nỗi mệt mỏi vì chuyến du hành. Hay đúng hơn, sự dừng lại đột ngột giữa đường đã làm nảy sinh ra hai nàng Hélène, một bị bọc trong bông đến nỗi không đủ can đảm đến nếm ly nước trước mặt, và một nhẹ nhàng sống động, đủ nhẹ nhõm để nói những câu như: “Tôi khỏe mạnh và có ba đứa con xinh xắn, một người chồng tốt bụng có địa vị vững chắc...” và đẩy sự giễu cợt đến độ lang thang đến đây trên con lộ chan hòa ánh nắng.

Nhưng cả hai nàng Hélène đều hòa tan và nhập làm một quá nhanh bởi giọng nói lớn của Georges, to đến nỗi nàng phải vặn bớt chiếc máy thu thanh ông chủ vặn lên từ lúc nãy. Ông chủ thanh thản trả lời tất cả mọi câu hỏi, người chồng quan tâm đến đủ mọi thứ. Không những anh chỉ muốn biết về dân số, nguồn lợi của khu vực, công việc làm ăn mà sự tò mò của anh còn lan đến cả cái lọc cà phê chứa được bao nhiêu, con mèo đực hay cái. Anh muốn kiểm chứng tất cả những điều bàn đến. Mối cảm tình với quán làm anh xoay quanh bàn bia tìm kiếm những thứ đồ vật mới anh có thể rờ mó, thích thú hồi lâu với máy đánh bạc bằng những đồng xu.

Tuy vậy anh cũng không xao lãng vợ, đến bên nàng nhiều lần để hỏi sao có vẻ xa vắng thế, mệt không. Nàng bảo rằng bóng tối và mùi cà phê làm nàng khó chịu, muốn lên đường sớm. Anh quyết định đi xem chiếc xe đã sửa tới đâu rồi và nhanh chóng trở lại, mặt tươi tắn, thông báo sắp xong rồi và họ có thể đến gara. Người chồng lạc quan quá sớm bởi họ phải đợi thêm nửa giờ mới đi được.

“Anh chàng này tính tiền cũng đúng lắm không đắt đâu” - anh nói khi rồ máy, chiếc xe vượt nhanh chóng những dãy nhà, tức thời đã lên dốc và nàng tưởng nó sẽ cũng chẳng khó khăn gì khi leo qua. Nhưng tới nửa chừng, ngay cái chỗ họ bị chết máy lần đầu trước căn nhà bỏ hoang, động cơ yếu rồi dừng lại. Georges giận dữ. Cái gã thợ máy này là một tên đần độn anh đã nhận ra ngay từ cái nhìn đầu tiên, ngu xuẩn và không đủ khả năng. Hắn đã mất một tiếng để sửa cái bơm xăng để rồi kết quả lại về nguyên trạng. Trước hết hắn đã lầm. Không phải bộ phận bơm xăng. Bất cứ người thợ rành nghề nào cũng phải thấy ngay chuyện đó. Xe chết máy vì chỗ khác, nhưng ở đâu? Anh chồng lại đi xuống dốc. Sau khi trút cơn giận vào thợ máy, anh lại đổ bực bội lên chiếc xe anh đang cau có nhìn. Nó có cái gì ở trong bụng, cái của khỉ này? Cúi nhìn dưới nắp máy xe lần nữa anh cũng chẳng tìm được giải pháp nào thỏa đáng. Đây chỉ là chiếc xe bán phế thải, thế thôi, nó ẩn chứa cái tật nào đó khiến không thể lên dốc được, cứ như thế này lần nữa thì chỉ cho nó một mồi lửa hay ném nó vào gốc cây.

Anh chồng đứng lên cạnh vợ và cô nàng tự hỏi không biết anh ta có tìm cách hướng nỗi bất bình về mình không? Nhưng quả thật là một người chồng tốt bụng, bởi với chút giận dữ còn lại, anh chỉ tự trách mình. Anh đã dại dột mua chiếc xe này trong khi mọi người đều ngăn cản. Đúng là một kẻ điên rồ không thể chịu đựng nổi khi anh cứng đầu nhất định đòi mua với lý do đó là chiếc xe mui trần và màu lá cây làm anh ưng ý. Thật ngu si... Tới đây lời tự thú dừng lại hẳn, rối tinh lên và cũng không chắc làm được, anh đã thành công khi cho máy nổ.

“Phải trở lại chỗ sửa thôi”- anh buồn bã nói. Người vợ mở cánh cửa xe. “Em sẽ đi dạo đợi anh, lúc trở lại anh sẽ bốc em lên”. Anh chồng gật đầu và nổ máy khó khăn để đổi hướng xe chạy sang đường đất nhỏ kế bên. Sau đó nhìn chồng rời xa, chiếc xe rung lên kỳ quặc với những tiếng nổ như pháo ngày càng to dưới dốc, nàng tự hỏi không biết anh có đi được đến tận làng hay không.

Vụ chết máy xe này cũng không làm nàng ngạc nhiên lắm, dù không thể giải thích tại sao. Chiếc xe đã mang theo cả cái túi và mũ của nàng. Cũng chẳng sao, nàng cũng chẳng cần thứ gì, cảm thấy thoải mái trên con lộ, mái tóc và đôi bàn tay hoàn toàn được tự do, chiếc khăn tay ở túi trên của áo ngoài có mùi giống như hương của đồng nội kia.

Sau một lúc do dự trước không gian bao la, nàng bước vài bước và ngồi xuống triền dốc. Đáng lẽ nàng có thể đi xa hơn nữa, tận dụng kỳ xả hơi ngắn do vụ chết máy xe để làm cuộc dạo chơi thực thụ và dấn sâu vào đồng quê. Rồi tưởng tượng bộ mặt của Georges khi không tìm thấy nàng ngay. Nhưng nàng không muốn làm anh buồn chút nào. Được ngồi lại trên triền dốc cũng là nghỉ ngơi vậy.

Nàng không cần sử dụng sức lực mới biết mình đầy đủ sức khỏe. Cũng như mới đây khi nằm duỗi dài dưới nắng ở trong xe, nàng đã được ban phát nồng hậu một nỗi ngây dại hạnh phúc. Thật là một ngày tuyệt diệu, một trong những ngày đẹp nhất của nàng. Nền cỏ dưới chân hơi ẩm ướt và mơn trớn dễ chịu. Nàng nhổ từ một túm cây mọc kề bên và giữ trong bàn tay những bông hoa trắng nàng không biết tên, tầm thường và vẫn đẹp như tất cả loài hoa. Tầm mắt còn mất hút trong bầu trời rồi thu lại đặt trên những đóa hoa, nàng nghĩ về mình, về con người mà nàng biết rằng đẹp dù với lòng khiêm cung cũng cao.

Chưa bao giờ nàng cảm thấy gần gũi như thế với cái thế giới bao la này, nơi những cánh đồng cho nàng nghe tiếng rì rào. Đó không phải là một thế giới bất trắc. Bằng sự uy nghi sang cả, thế giới ấy cho nàng hiểu sự nhỏ bé của mình.

Nhưng nàng không phải là cái gì thừa thãi, nàng không làm xáo trộn một trật tự nào cả. Trái lại thật là may mắn khi sự tình cờ đã bắt họ dừng lại chốn này, nơi làm nàng ngỡ ngàng trong mối tương quan với bầu trời, bình nguyên và những đóa hoa đang cầm trên tay.

Tất cả những gì trong tầm nhìn dưới ánh nắng ve vuốt đều đã được tạo ra để gây niềm tin tưởng. Nàng ngồi bất động một hồi lâu với ý nghĩ mông lung nhẹ như những gợn mây trắng, như những chùm hoa táo xa xăm kia, và với nỗi bất an nghĩ đến con cái ở nhà.

Khi nghe tiếng xe leo dốc, nàng đứng dậy để nhìn thấy nó đi lên. Và nàng đến gần căn nhà bỏ hoang, đọc dòng chữ khắc trên bảng đá: “Thiếu úy Robert Fontant đã hi sinh tại đây để giải phóng thị trấn Chartres”.

Bây giờ chiếc xe đã dừng lại trước mặt nàng, Georges ra dấu: “Lần này anh tin là xong thôi”- anh reo lên vui vẻ. Trước khi đến bên chồng, mặt ưu tư, nàng nhìn lại tấm bảng đá và ngó kỹ quang cảnh có cái tháp nhọn vươn thẳng từ xa trên bầu trời trong vắt.

Câu nói thốt lên trên môi làm nàng ngạc nhiên bởi giọng xa lạ của nó: “Robert - nàng thầm thì dịu dàng - tại sao anh lại giữ chúng tôi lại?”. Tất cả đều thanh tĩnh và chan hòa trong nắng. Một cơn gió nhẹ ẩm ướt làm run khẽ mặt cỏ trên triền dốc, chỉ đủ để nâng niu những hạt nhỏ mang mầm sống bay đi.

“Em có định ở lại đây không đấy?”- Georges đùa cợt hỏi, anh nhấn ga vài lần làm máy nổ ầm lên để kiểm tra xem tất cả đã hoàn thiện chưa. Nàng vội vã lên xe và chiếc xe vọt đi
“Cái dốc khỉ gió - người chồng nói- anh đã tưởng không bao giờ qua được. Phải dùng máy bơm hơi để thổi sạch ống dẫn xăng, có lẽ những vụn sắt bẩn đã chui vào. Đó là lý do tại sao máy chết hai lần cùng một chỗ, ở một độ nghiêng nào đó xăng không lên được nữa. Mình cũng sắp đến Châteaudun thôi”.

Nàng không có câu gì để trả lời. Khi hai người lên đến đỉnh dốc, nàng quay lại nhưng họ đã đổ nhanh sang triền dốc bên kia trước khi nàng có thể nhìn lại căn nhà tồi tàn.

Im lặng một lúc lâu nàng nói:

- Anh có nhớ chàng trai mà em đã kể với anh lúc mình mới bắt đầu quen nhau... Hồi ấy em tự hỏi không biết anh ấy đã ra sao rồi.

- Ai cơ? - người chồng lơ đãng hỏi

- Anh không nhớ à?

- Hồi đó anh đã ghen vì vụ ấy. Dẫu sao cũng chỉ là một chuyện ngây thơ, mối tình đầu năm em mười sáu tuổi.

Để nói được câu cuối nàng phải hơi ép giọng gượng cười. Người chồng quay lại và thấy vợ cảm động.

- Anh nhớ lại rồi. Rồi sao nữa?

- Tấm bảng đá em mới xem chỗ đó là của anh ấy.

Nguyễn Thuyên dịch.
Chân Trời Tím.
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
                       CHIẾC LÁ CUỐI CÙNG !
                                       O.Henry
Trong một quận nhỏ phia đông Washington, các con đường chạy ngoằn nghoèo một cách điên dại, cắt quãng thành những dải nhỏ gọi là “vùng”. Những “vùng” này lọt thỏm trong những góc và đường cong lạ kì. Một con đương cắt ngang với chính nó một, hai lần. Một hoạ sĩ đã có lần khám phá là con đường có thể có giá. Ví dụ như khi một nhân viên thu ngân cầm hoá đơn của mầu vẽ, giấy và vải, sau khi đi dọc theo đường này bỗng thấy mình đã đi vòng lại chỗ cũ mà không hề thu được một xu nào cả!
Thế nên đám hoạ sĩ chẳng bao lâu đã kéo đến phường Greenwich, săn lùng phòng cho thuê có cửa sổ thông ra hướng bắc, góc mái kiểu thế kỷ 18, gác lửng kiểu Hà Lan, và giá thuê lại rẻ. Sau đấy họ mang vào vài lọ hợp kim thiếc, một hai cái chảo nấu ăn dã chiến, và thế là một “quần cư” thành hình.
Hai cô Sue và Johnsy cùng thuê chung một căn phòng đơn giản ở tầng trên cùng của một toà nhà ba tầng lụp xụp. “Johnsy” thực ra là tên thân mật của California. Họ đã gặp nhau tại một hiệu ăn trên đường Số Tám, và khám phá ra là họ có những sở thích tương đồng về nghệ thuật, rau diếp xoắn trộn dấm, và thời trang với tay áo giám mục. Thế là họ cùng thuê chung một căn phòng.
Đấy là vào Tháng 5 . Vào tháng 11, có một kẻ ngoại nhập mang theo giá lạnh nhưng vô hình, mà các bác sĩ gọi là Viêm Phổi, rình rập trong “quần cư”, móng vuốt giá băng quệt vào đây đó. Tên giặc đã ngang nhiên hoành hành khu phía đông, hạ gục nhiều nạn nhân, nhưng hắn chỉ mới đặt chân chầm chậm qua các lối ngõ như bàn cờ của mấy “vùng” nhỏ hẹp phủ đầy rêu.
Bạn sẽ không xem Thần Viêm Phổi như một quân tử già đầy hào hiệp. Người con gái nhỏ vốn đã mất máu vì những trận gió ở Califỏnia thì lẽ ra không đáng cho một kẻ bất tài già nua bận tâm đến. Nhưng hắn đã tấn công Johnsy. Thế là cô nằm bẹp, không mấy cử động, trên chiếc giường sắt, xuyên qua khung cửa sổ kiểu Hà Lan nhìn ra bức tường trơ trụi của căn nhà gạch kế bên.
Một buổi sáng, vị bác sĩ đầy bận rộn mời Sue ra hành lang. Ông đang vẩy cái nhiệt kế thăm bệnh để mực thuỷ ngân trong đó hạ xuống.
- Cơ may khởi bệnh của cô ấy áng chừng chỉ một phần mười. Và cơ may này là tuỳ vào việc cô ấy có ý chí muốn sống hay không. Với cách con bệnh chỉ ngóng chờ công ty mai táng đến thì sách thuốc nào cũng vô dụng. Cô bạn nhỏ của cô đã bị ám ảnh là cô ấy sẽ không qua khỏi. Cô ấy có ý định gì không?
- Chị ấy... chị ấy muốn có ngày nào đó vẽ tranh phong cảnh vịnh Naples.
- Vẽ tranh à? Thật là điên rồ! Cô ấy có bận tâm nặng nề về việc gì không, chẳng hạn về một người đàn ông nào đó?
Cô Sue khịt mũi:
- Một người đàn ông à? Một người đàn ông thì có thể... mà không, bác sĩ ạ, không có chuyện như thế.
Vị bác sĩ nói:
- Thế thì là do cô ấy quá yếu rồi. Tôi sẽ cố làm mọi cách mà khoa học cho phép. Nhưng mỗi khi con bệnh của tôi bắt đầu nhẩm tính số lượng xe trong chuyến đưa đám của họ thì xem như hiệu lực của thuốc men chỉ còn một nửa. Nếu cô có cách khiến cho cô ấy hỏi han cô về thời trang mua đông thì tôi có thể đoán chắc cơ may là một phần năm, thay vì là một phần mười.
Sau khi vị bác sĩ đi khỏi, Sue đi vào phòng vẽ và khóc cho đến khi cái khăn giấy Nhật tơi tả thành bột giấy. Rồi cô đường bệ đi vào phòng của Johnsy với cái giá vẽ, miệng huýt sáo một điệu dân ca Mỹ rộn ràng.
Johnsy vẫn nằm bẹp, xem chừng không động đậy chút nào dưới tấm vải giường, mặt hướng về cái cửa sổ. Sue ngưng huýt sáo, nghĩ là bạn mình đang ngủ. Cô sắp xếp giá vẽ và bắt đầu dùng viết và mực để vẽ hình minh hoạ cho một truyện để đăng trong một tạp chí. Trong khi các hoạ sĩ trẻ tuổi phải dọn đường cho Hội Hoạ bằng cách vẽ tranh cho truyện ấy để dọn đường cho Văn Chương. Khi Sue đang phác hoạ cái quần bảnh bao và gọng kinh một tròng của một anh hùng (một tay cao bồi bang Idaho), cô nghe một tiếng nho nhỏ, lặp lại vài lần.
Cô đi vội đến bên mép giường. Johnsy đang mở mắt, nhìn ra cửa sổ, và đang đếm, đếm ngược: “mười hai”, và ít lâu sau: “mười một”, và sau đấy “mười”, rồi “chín”, rồi “tám” và “bảy” gần như liền nhau.
Sue nhìn chăm chú bên ngoài cửa sổ. Có gì ở ngoài đấy đâu mà đếm? Chỉ có một khoảng sân trống buồn nản, và bức tường trơ trụi của một căn nhà gạch xa hơn chừng mười thước. Một dây thường xuân thật già cỗi, gốc vặn vẹo mục nát, leo đến giữa bức tường gạch. Ngọn gió thu lạnh đã làm rơi rụng đám lá, phơi bầy các nhánh gần như trơ trụi bám vào mấy mảng gạch vụn vỡ. Sue hỏi?
- Cái gì vậy hở bồ?
Johnsy nói, gần như thì thầm:
- Sáu. Bây giờ rơi nhanh quá. Ba ngày trước còn gần cả trăm, đếm muốn nhức đầu. Nhưng giờ thì dễ rồi. Thêm chiếc nữa. Giờ chỉ còn lại năm.
- Năm cái gì, noi cho Sue của bồ nghe nào!
- Năm chiếc lá. Trên cây thường Xuân. Khi chiếc lá cuối cùng rụng thì mình cũng sẽ ra đi. Minh đã biết như thế ba ngày nay rồi. Bác sĩ không nói cho bạn biết à.
Sue càu nhàu, với giọng khinh miệt cao quý.
- Ô hay! Minh chưa bao giờ nghe có chuyện điên khùng như vậy. Mấy cái lá thường Xuân thì có liên hệ gì đến việc bồ khỏi bệnh đâu nào? Và bồ vẫn thích cái cây này, cô nàng hư đốn ơi! Đừng có ngốc nghếch. Sáng nay ông bác sĩ nới với mình là cơ may của bồ khỏi bệnh hẳn... xem ông ấy nói gì nào... ông ấy nói cơ may chính xácd là mười trong một! Đấy cũng bằng với cơ may chúng mình có ơ New York để đáp tầu điện hay đi qua một toà nhà mới. Bây giờ ăn một tí cháo, rồi mua ít tượu vang poóc-tô cho cô bé đang bệnh, và thịt lợn cho chính tác giả ăn.
Johnsy vẫn dán mắt ra ngoài cửa sổ:
- Không cần phải mua rượu vang. Thêm một chiếc nữa. Không, mình không muốn ăn cháo. Thế là còn có bốn. Mình muốn xem chiếc lá cuối cùng trước khi trời tối. Khi ấy mình cũng sẽ ra đi.
Sue nghiêng mình trên cô:
- Johnsy ơi, bồ có thể hứa nhắm mắt lại và không nhìn ra ngoài cửa sổ khi mình làm việc được không? Ngày mai mình phải đi giao mấy bức vẽ. Minh cần ánh sáng, nếu không mình phải kéo rèm xuống.
Johnsy hỏi, giọng lạnh tanh:
- Bạn có thể vẽ trong phòng kia được không?
- Mình muốn ở kề bên bồ. Hơn nữa, mình không muốn bồ cứ nhìn mãi mấy chiếc lá thường Xuân vô duyên đó.
- Cho mình biết khi nào bạn làm xong, vì mình muốn xem chiếc lá cuối cùng rụng xuống. Mình chán chờ đợi rồi. Mình chán suy nghĩ. Mình muốn buông xuôi tất cả, và thả người trôi xuống, xuống nữa, như là một trong mấy chiếc lá mệt mỏi kia.
Johnsy nhắm mắt lại, mặt tái nhợt, năm yên như la một cái tượng bị sập đổ.
- Ráng ngủ đi. Mình muốn kêu ông Behrman lên để ngồi mẫu cho mình vẽ một ông thợ mỏ già cô độc. Mình chỉ đi một phút. Đừng cựa quậy cho đến khi mình trở lại.
Ông già Behrman là một hoạ sĩ sống ở tầng trệt bên dưới phòng của họ. Ông đã quá sáu mươi, và có một chòm râu rậm như ông Moses hiện thân trên bức điêu khắc của Michael Angelo. Behrman là cả một sự thất bại trong nghệ thuật. Trong bốn mươi năm ông vung vẩy chiếc cọ mà không hề chạm gần đến vạt áo của Người Tình. Ông luôn luôn muốn vẽ nên một kiệt tác, nhưng chưa bao giờ bắt đầu. Trong vài năm nay ông không vẽ được gì ngoại trừ thỉnh thoảng ít nét quấy quá cho giới thương mại và quảng cáo. Ông kiếm tiền chút đỉnh bằng việc ngồi làm mẫu cho các hoạ sĩ trẻ trong quần cư khi họ không muốn trả theo giá của người mẫu chuyên nghiệp. Ông uống rượu gin lu bù, và vẫn nói đến kiệt tác sắp đến của ông. Còn lại thì Behrnam là một ông già nhỏ thó nhưng dữ tợn, hay chửi như té tát người nào tỏ ra yếu đuối, và xem mình như là con chó giữ nhà để bảo vệ cho hai hoạ sĩ trẻ sống ở tấng trên.
Sue tìm gặp behrman khi ông nồng nặc mùi rượu dâu trong căn phòng nhỏ tối tù mù. Trong một góc là cái giá vẽ với khung vải trống trơn, suốtt hai mươi lăm năm vẫn chờ đợi đường nét đầu tiên của một kiệt tác. Cô nói cho ông nghe về chuyện hão huyền của Johnsy, về việc cô nàng – quả thật nhẹ tênh và mỏng manh như một chiếc lá - sẽ trôi đi khi sự bám víu của cô vào trần thế vốn đã yếu sẽ yếu thêm.
Ông già Behrman, với cặp mắt đỏ sòng sọc, lớn tiếng kinh thường và chế diễu cho những điều tưởng tượng ngốc nghếch:
- Khốn khổ! ở đời sao lại có người ngu xuẩn muốn chết vì mấy cái lá rụng từ một dây leo vô duyên như vậy? Tao chưa bao giờ nghe có chuyện này. Không tao sẽ không ngòi làm mẫu cho một đứa ẩn cưa ngu ngốc như mày. Tại sao mày lại để ý tưởng khùng điên đấy đi vào đầu của nó? Ôi dào, cái con nhỏ Johnsy khốn khổ!
- Chị ấy đang yếu lắm, và cơn sốt làm cho đầu óc chị ấy trở nên bệnh hoạn đầy những mơ tưởng kỳ quái. Được rồi, nếu ông không muốn ngồi làm mẫu cho tôi cũng được. Nhưng tôi nghĩ ông là một ông già xấu tính – già vô tích sự.
Ông Behrman tru tréo lên:
- Mày đúng là đàn bà! Ai bảo tao không muốn ngồi làm mẫu? Đi lên đi. Tao sẽ đến. Cả nửa giờ đồng hồ rồi tao đã nói là tao sẵn sàng ngồi. Trời ơi! Đây không phải là chỗ cô Johnsy có thể năm bẹp dưỡng bệnh được. Một ngày nào đấy tao sẽ vẽ nên một kiệt tác, và bọn mình sẽ rời đi nơi khác. Trời ơi! Đúng là phải như thế.
Johnst đang ngủ khi họ lên. Sue buông cái rèm cửa xuống, ra dấu bảo Behrman đi vào phòng kia. Trong đấy, xuyên qua khung cửa sổ họ nhìn dây thường
Xuân với nỗi lo sợ. Rồi họ nhìn nhau một lúc, không nói lời nào. Một cơn mưa giá lạnh đang ập xuống dai dẳng, pha cùng với tuyết. Trong chiếc áo xanh cũ kỹ, Behrman ngồi làm mẫu, giả làm một thợ mỏ ẩn cư, ngồi trên một cái ấm lật ngược giả làm một tảng đá.
Khi Sue thức giấc vào buổi sáng sau giấc ngủ kéo dài một giờ, cô thấy Johnsy đang vô hòn nhìn cái rèm màu sậm đã buông xuống. Johnsy thì thào:
- Kéo rèm lên. Mình muốn nhìn.
Sue mệt mỏi làm theo bạn.
- Nhưng xem kìa! Sau trận mưa vùi dập và những cơn gió xoáy dữ tợn suốt một đêm dài, vẫn còn một chiếc lá thường Xuân dựa trên bức tường gạch. Đấy là chiếc lá cuối cùng. Vẫn còn có mầu xanh thẫm gần cuống, nhưng với phần rìa te tua pha mầu vàng của sự tàn tạ, chiếc lá vẫn dũng cảm bám vào cái cành cao dăm bảy mét cách mặt đất.
Johnsy nói:
- Đấy là chiếc lá cuối cùng. Mình nghĩ chắc chắn nó đã rụng đêm qua. Mình nghe tiếng gió. Nó sẽ rụng hôm nay, và mình sẽ chết cùng lúc với nó.
Sue nghiêng khuôn mặt tóp của cô kề cận cái gối:
- Cưng ơi là cưng! Nếu cưng không nghĩ đến chính bản thân cưng thì nên nghĩ đến mình đây. Mình sẽ làm được gì chứ?
Nhưng Johnsy không trả lời. Nỗi cô đơn cùng cực nhất trên thế gian là một linh hồn chuẩn bị tiếp tục cuộc hành trình bí ẩn, xa thẳm. Điều mộng tưởng dường như đã ảm ảnh cô mạnh mẽ hơn khi những dây nối buộc cô với tình bạn và với trần thế đã bị lơi lỏng.
Ngày dần trôi, và dù qua khoảng không xám xịt, họ vẫn thấy chiếc lá đơn độc bảm vào cuống của nó, dựa vào bức tường. Và rồi, khi màn đêm buông xuống, gió bắc lại thổi, trong khi mưa vẫn đập vào các cửa sổ, chảy ồng ộc xuống theo rìa mái nhà kiểu Hà Lan.
Khi đã có đủ ánh sáng buổi tinh sương, Johnsy, con người vô cảm, lại ra lệnh kéo cái rèm xuống.
Chiếc lá thường Xuôn vẫn còn đấy.
Johnsy nằm một hồi lâu nhìn nó. Và rồi cô gọi Sue, đang quậy nồi cháo ga trên cái bếp ga. Cô nói:
- Minh là đứa hư, Sue à. Có cái gì đó đã khiến chiếc lá vẫn ở đấy để cho thấy mình quả là độc ác. Muốn chết là một cái tội. Bây giờ bồ có thể mang cho mình chút cháo, và ít sữa pha chút rượu vang póc-tô, và... không, mang trước cho mình cái gương soi cầm tay, rồi chèn ít cái gối quanh mình, rồi mình sẽ ngồi lên để xem bồ nấu nướng.
Một giờ sau, cô nói:
- Sue à, một ngày nào đấy mình sẽ vẽ cảnh vịnh Naples.
Ông bác sĩ đến vào buổi xế chiều, và khi ông trở ra Sue có cớ để đi ra ngoài hành lanh. Ông nắm lấy bàn tay gầy, run rẩy của Sue đặt trong tay ông.
- Cơ may ngang bằng. Với công chăm sóc tận tuỵ của cô, cô sẽ thắng. Và giờ tôi phải đến thăm một ca khác ở tầng dưới. Người bệnh là Behrman – tôi nghĩ chừng đâu là một hoạ sĩ. Cũng viêm phổi. Ông ta già cả, yếu đuối, cơn bệnh lại là cấp tính. Không có hi vọng gì, nhưng tôi sẽ đưa ông đến bệnh viện để được thoải mái hơn.
Ngày kế, ông bác sĩ bảo Sue:
- Cô ấy qua khỏi cơn nguy rồi. Cô đã thắng. Bây giờ chỉ cần dinh dưỡng và chăm sóc – chỉ có thế thôi.
Buổi chiều ấy, khi Johsy đang đan một cái khăn quàng len mầu lam thật đậm và xem vẻ rất vô dụng, Sue đến bên giường cô, đặt cánh tay quanh cô và cũng quanh mấy cái gối.
- Mình có chuyện này nói cho bồ biết, cái con chuột trắng ơi. Ông Behrman qua đời hôm nay ở bệnh viện vì chứng viêm phổi. Ông ấy nhuốm bệnh chỉ trong có hai ngày. Người gác dan tìm thấy ông sáng ngày đầu tiên trong căn phòng tầng dưới, thất thủ với cân đau đớn. Đôi giầy và quần áo ông ấy bị ướt cả, lạnh như nước đá. Họ không thể hiểu nổi ông đã đi đâu trong một đêm kinh hoàng như thế. Và rồi họ tìm thấy cái đèn bão, vẫn cháy, và một cái thang đã bị rời khỏi nơi cất giữ, vài cây cọ tơi tả, và nghiên mầu mới ít mầu xanh và vàng, bồ nhìn ra ngoài cửa sổ xem, nhìn chiếc lá thường Xuân cuối cùng trên bức tường đấy. Bồ có đặt nghi vấn tại sao nó không bao giờ bay lất phất khi có gió thổi không? Cưng ơi, đó là kiệt tác của ông Behrman đấy - ông đã vẽ nó đúng vào đêm chiếc lá cuối cùng rơi rụng.
 
Chân Trời Tím.
 
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
              



Anh yêu em khác.....mọi người !

 

                     ( Yi Ming )
 
Em bảo anh: “Xe đạp của em hỏng rồi, em phải đi bộ nửa tiếng đồng hồ mới đến nhà ga”. Em cứ tưởng là anh sẽ tỏ ra quan tâm và nói: Sao em không đi taxi? Em có mệt không? Thế nhưng anh lại bảo: Dù sao thì đường cũng gần thôi, và em cũng có dịp để giảm béo.

Em bực mình, cảm thấy anh chẳng yêu em, chẳng quan tâm em. Hôm sau khi ngủ dậy, em thấy trên bàn có chiếc chìa khóa xe đạp của anh và thức ăn bữa sáng thịnh soạn anh đã chuẩn bị sẵn cho em. Bấy giờ em mới phát hiện: Thì ra anh yêu em, chỉ có điều anh chẳng nói gì cả - đây là cách yêu của anh, khác với mọi người.

Em bảo anh: “Em muốn đi thăm Osaka và Hà Lan để thưởng thức biển hoa tươi ở đấy”. Em cứ tưởng anh sẽ tỏ ra quan tâm và nói: Em muốn đi đâu cơ? Nào, chúng mình lên kế hoạch nhé. Dù là anh nói vài câu đãi bôi cũng được. Thế nhưng anh lại bảo: Thật vô vị, bỏ ra một núi tiền đi thăm những nơi chán ngấy ấy để làm gì nhỉ? Em tức lắm, cảm thấy anh không yêu em, không hiểu em. Về sau em thấy các tạp chí du lịch trong nhà mình dù là du lịch trong nước hay ngoài nước, cứ trang nào có giới thiệu về thưởng thức hoa, góc cuối trang ấy đều có vết gấp, trên trang ấy đều có ghi chú của anh. Lúc ấy em mới phát hiện thì ra anh vẫn yêu em, chỉ có điều anh chẳng nói gì - đây là cách yêu của anh, khác với mọi người.

Em bảo anh: “Tóc em rụng nhiều quá, thế mà bác sĩ bảo chẳng sao cả. Em thật sợ có ngày em sẽ trở thành một con hói”. Em cứ đinh ninh là anh sẽ an ủi em và nói: Tóc em trông vẫn còn khá nhiều đấy chứ. Nhưng anh lại bảo: Thế đấy, bây giờ mới biết tóc em rụng lung tung khắp nơi, sàn nhà chỗ nào cũng thấy tóc em, bẩn ơi là bẩn. Em thấy đau nhói trong lòng, nghĩ rằng anh chẳng yêu em, chẳng để ý đến em. Về sau, em thấy trên sàn nhà càng ngày càng có ít tóc rụng của mình, em nghĩ là mình hết rụng tóc rồi, vì thế cũng chẳng lo lắng chuyện em sẽ trở thành một con hói nữa. Thế nhưng mấy hôm anh đi công tác vắng, em mới thấy trên sàn nhà có nhiều tóc hơn, trong thùng rác cũng thấy có một đống tóc bọc giấy báo. Bấy giờ em mới phát hiện, thì ra anh vẫn yêu em, chỉ có điều anh chẳng nói gì - đây là cách yêu của anh, khác với mọi người.

Em bảo anh: “Hôm nay em đi chơi với mấy đứa bạn, tối nay về muộn đấy”. Cứ tưởng anh sẽ quan tâm hỏi em: Đi chơi với ai thế? Đi đường cẩn thận nhé, nhớ gọi điện về nhà, hoặc về sớm một chút... đại loại những câu như vậy. Thế nhưng anh lại bảo: Tùy em, chỉ cần em vui là tốt rồi. Em rất bực mình, cảm thấy anh chẳng yêu em, chẳng quan tâm em. Đêm hôm ấy em giận dỗi 3 giờ sáng mới về, lúc vào nhà em trông thấy nét mặt buồn ngủ bơ phờ của anh. Bấy giờ em mới phát hiện là anh vẫn yêu em, chỉ có điều anh chẳng nói gì - đây là cách yêu của anh, khác với mọi người.

Em bảo anh: “Đây là cái áo khoác em chọn cho anh, mua từ hồi đổi mùa năm ngoái, cất trong tủ đã một năm. Bây giờ mùa đông mới sắp đến, em tặng anh sự ấm áp này”. Cứ tưởng anh sẽ xúc động trả lời: Cảm ơn em yêu của anh. Đây là sự ấm áp trong một mùa và cũng là kỷ niệm khó quên trong suốt đời anh. Thế nhưng anh lại nói: Chắc là em mua trong dịp các cửa hàng đại hạ giá chứ gì? Em bực mình lắm, cảm thấy anh chẳng yêu em, chẳng hiểu em. Về sau khi đến cuối tháng 5, hết rét, mùa xuân bắt đầu trở về, em vẫn thường xuyên trông thấy anh mặc cái em gọi là áo khoác tình yêu, anh cho là áo hạ giá ấy. Em nghĩ đi nghĩ lại, đếm đi đếm lại mới kinh ngạc nhận thấy là hầu như ngày nào anh cũng mặc cái áo ấy đi làm. Bấy giờ em mới phát hiện ra là anh vẫn yêu em, chỉ có điều anh chẳng nói gì - đây là cách yêu của anh, khác với mọi người.

Em bảo anh: “Em thích ăn món mì nguội của nhà hàng ở góc phố bên kia”. Mới đầu em cứ tưởng là anh sẽ nói với em: Thế thì ngày mai chúng mình cùng đi ăn nhé! Thế nhưng anh lại bảo: Suốt ngày chỉ nghĩ chuyện ăn uống, sao em chẳng nghĩ xem hồi này mình có béo ra không. Em xót xa trong lòng, cảm thấy anh chẳng yêu em, chẳng quan tâm em. Về sau em thấy anh hay mua nhiều loại tương vừng, tương lạc, lọ này hộp nọ, pha hết bát tương này đến bát tương khác cho em ăn. Bấy giờ em mới phát hiện, thì ra anh vẫn yêu em, chỉ có điều anh chẳng nói gì - đây là cách yêu của anh, khác với mọi người.

Em bảo anh: “Em thật mừng là đã lấy anh, anh đúng là người chồng tốt nhất”. Cứ tưởng anh sẽ vui vẻ đáp: Anh cũng thấy em là người vợ tốt nhất. Thế nhưng anh lại bảo: Lấy nhau rồi chứ nếu chưa lấy thì em sẽ nghĩ thế nào nhỉ? Em tức lắm, cảm thấy anh chẳng yêu em, chẳng hiểu em. Về sau em vô tình phát hiện thấy tối nào anh cũng lấy giấy vệ sinh lau chùi tấm ảnh cưới của chúng mình để ở đầu giường, lau xong rồi ngẩn người ra mỉm cười ngắm tấm ảnh ấy khá lâu. Bấy giờ em mới phát hiện thì ra anh vẫn yêu em, chỉ có điều anh chẳng nói gì - đây là cách yêu của anh, khác với mọi người.

Em nghĩ cuối cùng em đã hiểu ra, dưới vẻ ngoài không quan tâm của anh có một trái tim khó diễn tả bằng lời nói, một trái tim yêu em. Thì ra anh vẫn yêu em, chỉ có điều anh chẳng nói gì - đây là cách yêu của anh, khác với mọi người.

Có người nói, khi bạn ra đời thì đã có một mối nhân duyên thiên định sinh ra dành riêng cho bạn. Song biển người mênh mông, thế giới rộng bao la, đời người đau khổ mà ngắn ngủi, làm thế nào mới có thể tìm được mối nhân duyên thiên định dành riêng cho mình ấy? Làm cách nào để có thể tìm được người bạn đời hoàn mỹ đó? Con người hiện đại chẳng bao giờ có thể cố chờ đến cùng mối nhân duyên trời cho ấy, chẳng thể dùng tuổi thanh xuân chóng tàn lụi và tâm trạng lo lắng để nín thở chờ đợi, và thế là anh (chị) thường rất miễn cưỡng chấp nhận chị (anh) theo gió mà bay đến với mình, nhưng sau đó lại luôn luôn so sánh người ấy với người bạn đời hoàn mỹ để rồi thất vọng hết lần này đến lần khác. Họ không biết rằng, thực ra hiểu được cách quý trọng con người ở bên mình và mình đã sở hữu - đấy mới là niềm hạnh phúc lớn nhất, tình yêu chân thật nhất.

Nếu có một tình cảm bền vững lâu dài và một tình cảm vẻ ngoài hào nhoáng nhưng lại chóng phai tàn thì bạn muốn lựa chọn tình cảm nào? Thế gian này có vô vàn đàn ông xuất sắc và đàn bà xinh đẹp, song tình cảm thật sự thuộc về bạn lại chỉ có một mà thôi. Dù thế nào đi nữa cũng chớ có vì ánh mắt của người khác mà thay lòng đổi dạ, bỏ mất tình yêu chân thành. Nhất thiết không được sống trong ánh mắt của kẻ khác mà đánh mất chính mình. Cũng mãi mãi đừng có tham lam quá. Tình yêu không phải là giấc mơ, như một truyện hài kể: Nếu ai đó cho rằng trên thế gian này có tình yêu mười phân vẹn mười thì người ấy chẳng phải là nhà thơ thì cũng là kẻ ngớ ngẩn. Cho nên chúng ta hãy để tâm gìn giữ, chăm sóc tình yêu bình thường không có gì là ghê gớm của mình.

Các nhà triết học nói: Tình yêu tức là khi bạn biết người ấy không phải là người bạn sùng bái, hơn nữa rõ ràng còn có các khiếm khuyết này nọ, nhưng bạn vẫn cứ chọn người ấy, không vì các khiếm khuyết đó mà chối bỏ toàn bộ con người ấy. Đúng thế, không có một người yêu nào mười phân vẹn mười cả, cũng không có tình cảm nào không có chút tì vết, đó chính là người yêu và tình yêu đích thực. Đến bao giờ ta mới có thể bình tâm suy ngẫm về những lời nói ấy, nghĩ một chút về sự nực cười và ngây thơ của ta năm nào cố công theo đuổi một người tình hoàn mỹ?

Nếu có một người mà trong mắt bạn, người ấy không có khiếm khuyết gì hết, bạn kính sợ người đó nhưng lại khát khao muốn được gần gũi người đó, tình cảm ấy không gọi là “tình yêu” mà gọi là “sùng bái”. Khi đã sùng bái thì phải tạo ra một thần tượng, giống như loại tô-tem, một thứ không máu không thịt. Tình yêu không cần thứ đó. Tình yêu là cái rành rành trước mắt có thể lấy tay chạm vào, dùng con tim để lĩnh hội.

Yêu là khi biết rõ ràng người ấy ăn mặc luộm thuộm mà bạn vẫn bằng lòng cùng người đó xuất hiện trước đám đông; là khi bạn coi khinh nghề buôn bán mà người ấy lại vẫn cứ là một tiểu thương đáng yêu của bạn; là khi bạn vốn có tính quá ưa sạch sẽ mà lại cam chịu rửa hộp cơm nhầy nhụa mỡ hoặc giặt đôi giày thể thao hôi hám của người ấy.

“Anh (em) không phải là người xuất sắc nhất, nhưng em (anh) chỉ yêu một mình anh (em) mà thôi!”. Khi đọc câu ấy, ta có cảm giác như mường tượng thấy một đôi bạn đời từng trải qua muôn vàn sóng gió của cuộc sống đang nắm tay nhau thong thả dạo bước dưới ánh nắng ấm áp, nét mặt tràn trề hạnh phúc ôn lại quãng đời đã qua. Chuyện cũ đã xa rồi mà kỷ niệm xưa vẫn còn đấy mãi mãi...

Người dịch: Nguyễn Hải Hoàng.
 
Đánh máy: Chân Trời Tím.
 
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
                         BÊN BỜ NƯỚC.
                              Robert Bloch
 





Gã bước vào quán ăn. Tấm cửa kiếng dơ dáy đóng lại sau lưng gã. Có rất đông khách hàng ngồi quanh một cái quầy dài. Gã đi qua và ngồi xuống phía trong cùng. Gã chăm chú nhìn ba cô phục vụ, hai cô khá xinh, còn cô kia trông quá sồ sề.

- Thưa ông, ông cần gì ạ?

Gã lơ đãng:

- Một côca côla.

Khi cô phục vụ mang nước đến, gã kéo tấm thực đơn và không thèm nhìn cô, gã hỏi:

- Cô có biết cô Hélène Krauss làm việc ở đây không?

- Tôi là Hélène đây.

Gã ngẩng lên. Ồ, không thể được. Cái cô sồ sề này mà là người vợ tuyệt đẹp của Mike sao? Người vợ mà đêm nào trong xà lim, Mike cũng thường nhắc đến với bao ngưỡng mộ. Gã nhìn kỹ cô nàng. Đó là một người đàn bà tóc hung đỏ, gương mặt láng mỡ rất vô duyên, thân hình đồ sộ, dễ đến gần 70 kí. Cô mang cặp kiếng cận dày cộm, sau lớp kiếng, đôi mắt xanh của cô đẫm nước đang nhìn thẳng vào mặt gã một cách lãnh đạm.

- Tôi tìm cô Hélène Krauss, ngày trước sống ở Norton Center. Cô ấy đã kết hôn với một người tên Mike.

- Chính là tôi. Anh quan hệ thế nào với Mike?

- Tôi mang tin chồng chị đến.

- Mike? Anh ấy chết rồi.

- Tôi biết. Tôi đã có mặt cạnh Mike trong giờ hấp hối. Tên tôi là Rusty Connos, chúng tôi đã sống chung xà lim gần hai năm.

Giọng người đàn bà thấp xuống:

- Có chuyện gì thế?

- Tôi không thể nói tại đây. Mấy giờ chị hết ca?

- Bảy rưỡi.

- Tốt, tôi sẽ chờ chị trước cửa.

Gã đứng dậy, bước thẳng, chán nản không muốn nói thêm lần nào nữa. Trước khi bước chân đến đây, gã cứ nghĩ hoài đến người vợ góa xinh đẹp của Mike. Theo lời hắn miêu tả thì đó là một người đàn bà rất quyến rũ và gợi cảm. Hy vọng nhiều, đến giờ thấy mặt con nỡm, gã cảm thấy mình bị lừa. Đúng là thằng Mike có mắt không tròng.

Làn gió mát buổi chiều mơn man trên người làm gã bớt bực tức. Xét cho cùng thì Mike cũng có lý. Suốt hai năm trong tù không ai thăm viếng, chỉ một mình Hélène lui tới, thì cô ta trở thành người trong mộng của hắn là điều đương nhiên. Thôi đừng thèm trách ai cả, vấn đề chính là tìm cho được chỗ giấu 56.000 đô la.

Họ gặp nhau trên chiếc ghế đá trong công viên, khi trời tối hẳn. Không ai thấy họ cả và họ cũng không trông rõ mặt nhau. Gã đưa cho cô điếu xì gà.

- Cảm ơn anh, tôi không hút thuốc.

- Đúng, Mike đã nói với tôi là chị không biết hút thuốc, anh ta đã nói rất nhiều về chị.

- Hình như trong thư gởi về, ảnh cũng thường nhắc đến anh.

Rusty vào đề ngay:

- Tôi không tin là một người lương thiện như Mike lại giết bạn mình để đoạt số tiền phát lương.

- Tôi van anh, đừng nhắc đến chuyện này nữa.

- Tôi hiểu tình cảm của chị, Hélène.

Rusty cố gắng gọi tên Hélène thật êm dịu, rụt rè cầm tay cô. Gã rùng mình khi nhận ra bàn tay mềm và mập như một miếng thịt nóng. Hélène hơi xúc động:

- Trước hôm Pete mất tích, một vài người đã thấy Mike đưa Pete đi trong chiếc xe của ảnh. Hình như Pete làm mất chìa khóa xe nên nhờ Mike hộ tống đến nhà máy để phát lương. Sau đó, Pete đi đâu thì có trời mà biết, tôi thề rằng Mike đã ở bên tôi suốt buổi xế trưa hôm đó. Nhưng cảnh sát không muốn thừa nhận lời khai của tôi nên ảnh bị kêu án mười năm.

- Mới có hai năm, Mike đã chết. Tội nghiệp, trước khi chết, ảnh nhắc đến Pete, đến số tiền, đến chị... Hình như ảnh lỡ tay làm chết Pete... và trời ạ, ảnh đã không kịp nói với tôi chỗ cất giấu số tiền.

Gã rít một hơi thuốc:

- Mike có nói gì với chị không?

Hélène lắc đầu. Gã nhìn sát vào mặt cô:

- Chị sẽ làm gì khi tìm thấy số tiền đó?

- Tôi sẽ nói với bọn cảnh sát rằng, chồng tôi không bị sưng phổi gì cả, họ đã giết ảnh, làm cho tôi góa bụa. Số tiền đó là của tôi.

- Của chúng ta - Rusty nói.

Người đàn bà ấn những ngón tay vào lòng bàn tay của người đàn ông:

- Ảnh đã nói với anh chỗ giấu tiền phải không?

- Ảnh có nói nhưng không rõ ràng lắm. Tôi nghĩ rằng, phải đến gặp chị để cùng nhau tìm cho được chỗ giấu tiền. Nơi đây, tôi là người lạ, dễ làm cho cảnh sát nghi ngờ. Nếu có chị giúp đỡ, chúng ta sẽ thành công nhanh hơn. 56.000 đô la là một gia tài lớn, chúng ta cùng chia nhau.

- Đây là một áp phe chăng?

Rusty búng đầu tàn thuốc, mắt lấp lánh:

- Không phải đâu, Hélène. Đây là vấn đề tình cảm - Gã tiếp tục bằng giọng ngắt quảng - Có thể... tôi hơi bị sốc... hai năm trong tù, hai năm không có đàn bà. Chị nghĩ sao, với một người đàn ông đầy sinh lực như tôi...?

- Tôi cũng đã trải qua hai năm như anh.

Gã quàng tay qua người cô ta, siết chặt vào lòng. Môi họ tìm nhau.

- Em có phòng riêng chứ!

- Vâng, Rusty.

Họ cùng đứng lên, dìu nhau đi về cuối đường. Những mẩu tàn thuốc rơi vãi trên nền cát, nhấp nháy...


***


Gã bật hộp quẹt mồi điếu thuốc, cố ngăn cảm giác lộn mửa đang dâng lên. Thật là chán ngấy khi phải ân ái với một đống thịt sồ sề. Nhưng phải chịu đựng. Phải chịu đựng thôi. Cho tới bây giờ, mọi việc đang diễn ra tốt đẹp. Trở thành bạn thân với Mike trong tù, gã đã lần dò được sự liên hệ của hắn ta và vợ, gã mang máng biết rằng Mike đã giết người và đang cất giấu một số tiền lớn. Giờ thì Mike đã chết vì bệnh sưng phổi, nhưng gã dại gì nói cho Hélène biết điều đó, gã đã đổ thừa cho cảnh sát để gây lòng căm thù nơi Hélène. Có như vậy, cô ta mới nhiệt tình cộng tác với gã. Cho nên, sau khi ra tù, gã đã thuê xe đến ngay Haisesville, vì theo lời Mike, Hélène đang làm việc trong một tiệm rượu tại đây.

Giai đoạn đầu của kế hoạch, gã đã thực hiện xong. Nhưng qua phần hai thì chắc là gã phải thay đổi: Đó là dự định sống chung với người vợ góa của Mike sau khi lấy được số tiền. Gã nhăn nhó trong bóng tối khi Hélène quàng tay qua cổ gã và tựa tấm thân nái xề nhão nhẹt vào phiến ngực trần rắn chắc của gã, kèm theo tiếng thở hồng hộc như bị hen suyễn. Thật tởm. Không, không thể tiếp tục như thế này mãi được.

- Anh yêu, anh đã dậy rồi hở?

Trời ạ, nghe hai tiếng "anh yêu", gã nổi cả gai ốc.

- Anh ơi.

Gã dụi điếu thuốc vào góc tường:

- Em cần nói bây giờ phải không?

- Chắc chắn là vậy.

- Anh nghĩ rằng, tốt hơn hết là chúng ta nên hoạch định chương trình rõ ràng.

- Anh thật có lý, con búp bê của em.

Gã gỡ tay Hélène ra, ngồi dậy:

- Trước khi chết, Mike đã nói với anh rằng, không ai tìm thấy số tiền ấy đâu, vì Pete đã luôn luôn giữ nó bên mình.

- Chừng đó thôi à?

- Em muốn gì hơn nữa? Thật rõ ràng như nước chảy trên đá. Tiền đã được chôn cùng thi thể Pete Taylor.

Gã cảm thấy hơi thở của Hélène phả lên gáy gã:

- Em biết ở đó có đất và cả nước nữa. Nhưng từ hai năm nay, cảnh sát đã đào xới khắp nơi, trong vựa thóc, trại bỏ hoang, vét cả hồ nước... nhưng không tìm ra Pete.

Rusty trầm ngâm một lát:

- Pete và chồng em là bạn thân phải không?

- Vâng.

- Họ thường nhậu nhẹt, chơi bài cùng nhau chứ?

- Không, họ chỉ đi săn hoặc đi câu cùng nhau. Pete có một cái nhà nhỏ gần hồ.

- Gần Norton Center?

- Như em đã nói với anh là người ta đã đào xới khắp chung quanh đó rồi.

- Cả nơi để thuyền à?

- Pete không có thuyền. Thường họ mượn thuyền của người láng giềng để đi câu - Hélène thở dài - Từ hai năm nay, em cũng đã thử tìm mà không thấy.

- Em hãy nhớ lại xem, có gì lạ xảy ra trong ngày Pete bị giết không?

- Tất cả đều là ngẫu nhiên thôi. Nhưng người ta đã buộc tội Mike đã phá xe của Pete khiến hắn phải nhờ Mike đưa đi giùm. Khi Mike trở lại một mình và Pete biến mất cùng với số tiền, họ đã bắt giam Mike.

- Khi Mike trở lại, anh ta nói gì với em?

- Ảnh không có thời gian. Vì hai phút sau đó, xe cảnh sát đến dẫn anh ta đi.

- Trên người anh ta, có gì lạ không?

- Bàn tay của ảnh rất dơ và dính máu, ảnh lầm bầm nguyền rủa loài chuột cống. Trước toà án, ảnh nói ảnh bị một mảnh gương cứa đứt tay, nên máu dính vào xe. Nhưng khi phân tích, máu đó lại cùng nhóm với Pete. Đó chính là lý do Mike lãnh án.

- Rất tốt. Mike đã nhắc đến những con chuột cống, có thể là anh bị chuột cắn khi chôn giấu thi hài. Nếu cảnh sát biết được điều này, họ sẽ tìm đến những nơi có nhiều chuột... cho nên anh ta phải nói dối là đã bị đứt tay.

- Nhưng điều đó sẽ dẫn anh đi đến đâu? Anh có thể đào xới hết tất cả những chỗ có chuột chung quanh Norton Center ư?

Rusty đánh tách ngón tay:

- Em đã nói rằng, khi Mike và Pete đi câu, họ thường mượn thuyền hàng xóm. Vậy thì người hàng xóm đó có nhà để thuyền chứ?

- Họ để trong nhà kho.

- Cảnh sát đã lục ở đó chưa?

- Em không biết.

- Có thể cảnh sát đã bỏ sót một vài chỗ. Nhà kho ấy giờ còn dùng được nữa không?

- Người láng giềng đã đi xa rồi. Bây giờ, nhà kho đó bỏ trống, kể cả căn nhà của Pete vì hắn không có vợ con gì cả.

- Rất hy vọng tìm thấy số tiền ở đó. Tối mai chúng ta bắt đầu nhé.

Hélène lại ngã vào lòng gã. Gã vuốt ve bộ ngực nhão của cô, cố gắng nghĩ đến số tiền sắp tìm thấy để khỏi lợm giọng. Thế nào cũng phải tống cổ cô ả này đi thôi.


***


Họ đi đến hồ bằng một con đường cát, vòng quanh Norton Center. Đêm cuối năm, quang cảnh hồ tối tăm hoang vắng.

- Tắt đèn pha đi em.

- Yên chí. Ở đây chả có ma nào đâu.

Họ cho xe vào phía sau căn nhà nhỏ của Pete. Căn nhà bỏ hoang đã lâu, trống huơ trống hoác.

- Ở đây có lẽ không có gì đâu. Chúng ta ra chỗ nhà kho để thuyền đi.

Nhà kho đứng sừng sững sau một cái đập nhỏ, trước hồ. Không khí ẩm ướt, đầy bóng tối và bùn lầy. Hélène đi trước, Rusty đi sau với ý nghĩ nhặt một viên đá đập thẳng vào sọ cô. Không, nên chờ dịp khác tốt hơn, phải tìm cho ra số tiền đã.

Cánh cửa nhà kho đóng im ỉm với một ổ khóa to tướng đã mục rỉ. Rusty dùng một cục đá nạy ra dễ dàng.

- Chúng ta vào đi.

Họ giật mình dội lại khi thấy hàng trăm đốm đỏ di động trên nền nhà. Mắt của lũ chuột. Chúng đang chạy trốn luồng ánh sáng từ cây đèn bấm trên tay Rusty. Gã thì thầm:

- Lũ chuột đã đến đây. Giả thuyết cúa chúng ta rất đúng.

Tia đèn lia trên nền xi măng, nơi đây, đất đá đã bị cào xới.

- Em đã nói với anh rồi, họ đã lùng sục khắp hết.

Rusty rọi đèn lên trần nhà. Trần làm bằng giấy tráng dầu, cách biệt với mái.

- Em không lưu ý gì cả ư?

- Gì cơ?

- Mái nhà quá cao so với trần nhà.

- ...

- Có thể... có một chỗ trên ấy. Hãy lắng nghe xem.

Cả hai im bặt. Trong sự yên lặng, họ nghe như có tiếng mưa rơi đập trên mái. Ồ không, không phải mưa và tiếng động cũng không phát ra từ trên mái. Đó là tiếng khua của những bàn chân nhỏ chạy giữa trần và mái nhà. Lũ chuột. Chúng vẫn còn đông đảo ở đó.

- Đưa cho anh cái thang.

Hélène tìm thấy cái móc sắt, cô đưa cho Rusty khi gã tìm nơi tựa cái thang vào tường. Gã chọc thủng tấm giấy tráng dầu và đu người lên trần nhà dễ dàng. Lũ chuột đã chạy trốn hết trong các kẽ nứt. Gã bật đèn bấm. Khỏi cần nhìn xa. Chiếc hộp bằng kim loại đen ở ngay trong tầm mắt gã, bên cạnh có một vật thể lờ mờ. Rusty biết đó là Pete. Chỉ có thể là Pete chứ không ai vào đây được, dù lũ chuột đã biến hắn thành bộ xương khô khốc, không một rẻo vải, một mảnh thịt nào còn sót lại. Gã ngửi thấy mùi tiền bốc lên chế ngự hẳn bầu không khí hôi hám tù hãm đang bao quanh gã. Lòng gã rộn lên. Một cuộc sống huy hoàng đang chờ đợi gã, nhà lầu, xe hơi, làn da mềm mại của những người đàn bà đẹp sắp quỳ xuống bên chân gã...

- Anh có thấy gì không? Hélène hỏi.

- Hãy giữ lấy cái thang, anh xuống đây.

Gã đưa cho cô gái cái móc và cây đèn nhưng giữ chiếc hộp kim loại lại. Thời gian hành động đã đến. Nhưng gã chưa kịp xác định vị trí của đỉnh đầu Hélène thì chân gã như bị hụt hẫng. Gã té nhào xuống đất, đầu va vào một cạnh sắc, gã ngất đi.

Khi tỉnh dậy, gã cảm thấy đau ở cổ tay và mắt cá chân vì bị dây thừng siết chặt. Gã mở miệng và tiếng kêu tắt nghẹn trong cổ họng: Hélène đã tọng vào miệng gã một cái khăn mùi xoa.

Dưới ánh đèn, gương mặt Hélène trở nên lạ lẫm, cô không còn đeo mắt kiếng nữa và trở nên nhanh nhẹn khác thường. Cô cúi xuống nhặt chiếc hộp kim loại ôm vào lòng, giọng cô the thé:

- Tôi không cần dàn cảnh nữa. Anh đã bắt đầu hiểu chưa! Mike đã giết Pete vì ghen tuông mà thôi. Anh chưa kịp chỉ chỗ giấu tiền cho tôi thì bị bắt. Trong nhà tù, ảnh càng không thể tiết lộ chuyện này nên đành bảo tôi hãy chờ ảnh về hoặc một người nào đó sẽ đến. - Cô cười khẽ - Tại sao tôi lại hại anh? Xin lỗi nhé, tôi chỉ tự vệ thôi vì anh định giết tôi, đúng không nào? - Giọng cô trở nên dịu dàng - Tôi thông cảm sức chịu đựng của một tù nhân, nhưng trong hai năm qua tôi cũng như đang bị tù. Bị tù vì lớp mỡ bao bọc quanh thân, vì mái tóc hung gớm ghiếc, vì cặp kiếng cận không cần thiết... Để làm gì ư? Tôi cố tạo như thế vì một người đàn bà xấu xí sẽ không còn bị ai dòm ngó. Bây giờ thì tôi sẽ ra đi. Với số tiền này, tôi sẽ vào mỹ viện làm mất 20 ký thịt dư, sẽ nhuộm lại tóc... và trở thành Hélène Krauss tuyệt vời của những ngày tháng cũ. Cuộc sống tươi đẹp đang mỉm cười với tôi.

Rusty ú ớ.

- Đừng lo ngại, không ai tìm thấy chúng ta đâu. Tôi sẽ khóa cửa để anh được yên tĩnh cùng bầy chuột. Giữa chúng ta không có hợp đồng nào cả. Thật rõ ràng như nước chảy trên đá. Giọng Hélène vọng lại từ cửa.

Hélène quay lưng về phía Rusty. Trong một giây, gã cong người bật dậy, tống hai chân bị trói về phía trước, Hélène ngã lăn ra. Điên cuồng, Rusty dộng tiếp vào mặt cô. Ngọn đèn rơi vỡ tắt ngấm, gã vẫn không ngừng đạp vào nơi phát ra tiếng rên la... Rồi tất cả chìm vào yên lặng.

Gã lắng tai nghe một hơi thở dù chỉ thoảng qua, nhưng không hề có. Gã lăn về phía trước, bàn tay chạm phải một thi thể cứng đờ, nóng và nhầy nhụa. Gã rùng mình, lùi trở lại. Bóng tối trở nên dày đặc.

Gã cọ mạnh đôi tay vào một vật cứng vừa chạm vào lưng gã. Cườm tay gã tuôn máu nhưng sợi dây vẫn giữ chặt. Tuyệt vọng, gã húc đầu vào cánh cửa đóng kín, gã muốn đẩy Hélène về một bên để được ra ngoài. Nhưng vô ích. Thân hình cô ta quá nặng nề thô kệch, ôi quỷ tha ma bắt tất cả đi cho rồi.

Chiếc khăn mùi xoa vẫn đè mạnh cổ họng gã. Gã muốn hét to lên rằng, Hélène ơi, hãy tránh ra để gã đi, rằng cả hai đứa đang bị cầm tù đấy và tiền bạc bây giờ không còn quan trọng nữa. Đây chỉ là sự hiểu lầm mà thôi, gã không bao giờ làm điều xấu cho cô và cho bất cứ một ai. Đơn giản là gã muốn thoát khỏi nơi này.

Gã cảm thấy đau nhói ở đầu ngón chân cái. Lũ chuột đã đến.
 
Sưu Tầm : Chân Trời Tím.



Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
                     BỨC TƯỜNG !
                         TheMouse
 
Hai người đàn ông, cùng bị bệnh nặng, được xếp nằm chung một phòng trong bệnh viện. Một người được phép ngồi dậy trên giường một giờ mỗi ngày để xả những chất dãi từ trong phổi ra. Giường của ông ấy nằm kế cái cửa cửa sổ duy nhất trong phòng. Còn người đàn ông phía bên kia, trái lại, cứ phải nằm suốt ngày trên lưng.

Họ thường tâm tình với nhau hàng giờ. Hai người kể cho nhau nghe về vợ con, nhà cửa, việc làm, thời đi lính, và cả những nơi họ đã từng đi nghỉ mát. Cứ mỗi buổi trưa, khi người đàn ông nằm kế cửa sổ ngồi dậy, ông ấy lại tiêu khiển bằng cách mô tả cho người đàn ông bên kia tất cả những gì ông quan sát dược từ cánh cửa sổ con.

Người đàn ông bên kia cảm thấy cuộc đời rộng mở và vui vẻ hẳn lên trong những giờ phút ấy. Thế giới bên ngoài kia có biết bao nhiêu là biến động và sắc màu. Cánh cửa sổ này trông ra một cái hồ thật dễ thương, người đàn ông phía bên cửa sổ bảo thế. Những chú vịt và những con thiên nga vui đùa với nhau trên mặt nước tựa như trẻ con đang đẩy lướt đi những chiếc tàu đồ chơi của chúng vậy. Bên những đóa hoa rực rỡ như sắc cầu vồng, những người tình đang tay trong tay. Xa xa, đường chân trời ẩn hiện qua rặng cây già...

Những lúc người đàn ông phía bên cửa sổ diễn tả một cách chi tiết cảnh vật bên ngoài như vậy, người đàn ông phía bên kia lại khép đôi mắt lại và hình dung về tất cả hình ảnh đẹp đẽ ấy. Buổi trưa nọ, người đàn ông phía bên cửa sổ bảo rằng có một đoàn diễu hành đang đi qua. Mặc dù không nghe được tiếng kèn trống bên ngoài, người đàn ông phía bên kia cũng tưởng tượng được cảnh ban nhạc đang trình diễn qua lời kể cẩn thận từ người đàn ông bên cửa sổ.

Đột nhiên, một ý nghĩ lạ lùng nảy ra trong đầu ông: tại sao người đàn ông phía bên cửa sổ được diễm phúc nhìn hết mọi sự mà ta lại chẳng thấy được gì? Thật là không công bằng. Thoạt đầu ông cảm thấy ý nghĩ của mình thật kỳ cục. Nhưng ngày này qua ngày khác, ông cứ tiếp tục không nhìn thấy được gì bên ngoài cả. Sự ghen tị cứ ngấm ngầm mãi trong tâm trí ông và khiến ông trở nên chua chát. Ông bắt đầu trằn trọc không ngủ. Ông phải tìm cách nằm kế bên cái cửa sổ ấy mới được. Cái ý nghĩ đó chiếm ngự cả đầu óc ông.

Một đêm tối nọ, khi ông đang dõi mắt nhìn lên trần nhà thì người đàn ông phía bên cửa sổ trở ho mạnh. Đờm dãi trong phổi làm ông ấy bị nghẹt thở. Ông chăm chú nhìn người đàn ông phía bên cửa sổ với tay cố tìm cái nút cầu cứu trong ánh đèn lờ mờ. Nghe ngóng từ phía bên này, ông không hề cử động, không hề nhấn cái nút cầu cứu riêng của mình để kêu người y tá tới. Chỉ chừng năm phút sau, tiếng thở, tiếng ho khản từ phía bên kia ngưng hẳn. Tất cả chìm vào một sự im lặng chết người.

Sáng hôm sau khi cô y tá đem nước rửa mặt đến cho hai người, cô buồn rầu nhận ra người đàn ông phía bên cửa sổ đã chết và gọi người đến đưa xác ông ấy đi... Sự việc diễn ra nhẹ nhàng và êm thấm.

Ngay sau khi mọi chuyện đã đâu vào đó, ông yêu cầu bệnh viện cho ông đến nằm cạnh cánh cửa sổ. Cô y tá vui vẻ đáp ứng nguyện vọng của ông và sau khi chăm sóc cho ông xong cô để ông nằm lại một mình. Chậm rãi và đau đớn, ông cố vươn vai dậy bằng một bên khuỷu tay để nhìn cho được cảnh vật bên ngoài kia. Cuối cùng, ông đã có thể hưởng thụ tất cả niềm vui sướng dành cho ông. Ông rán hết sức, cố quay đầu nhìn ra cánh cửa sổ bên cạnh giường.

Bên kia cánh cửa sổ chỉ là một bức tường tro trọi.

Người dịch : Khuyết danh
Đánh máy: Chân Trời Tím.
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0