Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

VĂN LANG DỊ SỬ.

3 trả lời, 2.311 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-02-02 05:42:44ĐạoCấy>
VĂN LANG DỊ SỬ.
Tác giả: NGUYỄN LANG.
AN TIÊM xuất bản lần thứ nhất – 1974.
 
 
 
 
 
 
LỜI NHÀ XUẤT BẢN.
 
 
DỊ SỬ là lịch sử thần dị, lạ thường, là thực tại mang tính chất thi ca và thần thoại, phản ảnh tâm hồn của những con người sống trong thiên nhiên và cuộc đời với một tấm lòng cởi mở, hòa hợp, những con người còn nghe hiểu được tiếng chim, tiếng suối, còn nói chuyện được với sóng biển và sao trời.
VĂN LANG ngày xưa cũng là VIỆT NAM ngày nay. Tuy là DỊ SỬ nhưng không khác mấy với lịch sử hiện đại. Cũng khung trời ấy, cũng những con người ấy, cũng những bài học ấy. Nguyễn Lang đưa chúng ta về thăm quê hương cũ, sáng đẹp nét nguyên sơ, để ta chứng kiến được chính lòng ta, nhận định được chính hoàn cảnh ta, nhìn lại được chính bản thân ta. Tiếng sóng gào thét bên triền núi Tản Viên hôm nay vẫn còn là hiện thực.
An Tiêm xin cám ơn Nguyễn Lang về lời nhắn nhủ, và xin gởi lòng theo từng trang của VĂN LANG DỊ SỬ để cùng được bay tới với các độc giả thân mến xa gần.
 
Thủ Đô Miền Nam, ngày Hạ Chí, năm Giáp Dần.
An Tiêm Kính Khải.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-04-14 06:52:53ĐạoCấy>
1.        DÒNG SÔNG NƯỚC NGỌT.
 
 
 
Thưở xưa, khi trời đất còn mịt mờ, chưa có ánh sáng, có một con chim lớn bay tới đậu trên mặt đất. Hai cánh của chim lớn như hai màn đêm, phủ trọn mặt đất. Trong một thời gian không biết mấy trăm triệu năm, chim Hồng Bàng nằm yên trong tư thế ấy. Rồi một lúc kia, chim đặt xuống trên đất hai chiếc trứng vĩ đại, và thong thả bay đi. Tiếng đập cánh của chim vun vút tạo thành gió, làm cho không gian rung chuyển.
Một vạn năm sau, có một ánh sáng chiếu ra từ chiếc trứng lớn. Đây là một chiếc trứng màu đỏ hồng. Ánh sáng càng ngày càng tỏ, soi sáng hàng vạn dặm chung quanh và xua đuổi những đám sương mù dày dặc bao vây đồi núi trong vùng.
Dần dần, chiếc trứng thứ hai cũng phát ra ánh sáng. Đây là một chiếc trứng màu ngà nhỏ hơn chiếc trứng thứ nhất. Ánh sáng do chiếc trứng này phát ra thì dịu dàng và êm mát hơn.
Chiếc trứng màu ngà nở trước chiếc trứng màu đỏ hồng. Trước hết chiếc trứng rụng động. Rồi những tiếng răng rắc vang lên trong không gian yên tĩnh. Vỏ trứng vỡ tan thành từng mảnh. Một con thiên nga lớn từ trong trứng bay ra, uyển chuyển, vượt lên, vượt lên cao. Ánh sáng của chim thiên nga trải xuống mặt đất, dịu dàng và hiền hậu.
Đột nhiên có tiếng nổ lớn như sấm sét: chiếc trứng màu đỏ hồng vừa mở. Ánh sáng rực trời, rực đất, chói chan, nóng bỏng. Một con quạ vàng sáng rực như lửa vỗ cánh bay lên, phát ra những tiếng kêu liên tiếp như sấm động. Quạ vàng không bay theo hướng chim thiên nga, lại bay về hướng ngược lại. Cả hai con chim vĩ đại tiếp tục đường bay của mình. Chim thiên nga vẫn uyển chuyển phát ra ánh sáng dịu dàng. Còn chim quạ vàng, suốt trên đường bay của nó, vẫn tiếp tục phát ra những tiếng kêu như sấm nổ. Đôi cánh lửa của nó, trong khi đập mạnh, làm loé ra những đốm lửa sáng ngời bay tản mác trong không gian. Những đốm lửa này lơ lửng trên trời cao, không tắt và long lanh như những hạt kim cương.
Mặt đất từ hàng triệu năm qua chịu cảnh lạnh lẽo u tịch. Ánh sáng đem lại sự ấm áp và vui tươi. Chiếc vỏ trứng vĩ đại của quạ vàng, sau khi chim nở, đã bốc cháy dữ dội, và cháy trong bảy năm mới tắt. Mặt đất, trên một diện tích mất vạn dặm, đã cháy xém theo chiếc vỏ trứng. Lửa cháy trong bảy năm, khiến đất đá trong vùng chảy tan thành cát mịn, và cả vùng biến thành sa mạc.
Ánh sáng và sức nóng sưởi ấm mặt đất, và làm bốc hơi từ biển cả, sông hồ. Những đám mây dịu dàng bắt đầu xuất hiện, che bớt ánh sáng chói chan. Từ mặt đất mùi thơm dìu dịu bốc lên. Hương của đất nồng nồng, say say và làm cho cả không gian ngây ngất.
Ánh sáng rọi tới từng trời thứ ba mươi sáu của Phạm Thiên. Một bầy tiên nữ vén mây nhìn xuống, thấy mặt đất hồng chói rạng hào quang, bỗng có ý định muốn bay xuống khám phá đất mới. Tiên nữ trẻ nhất và xinh nhất trong bọn đề nghị cả bầy biến thành chim Lạc. Cả bọn tức thời biến thành một bầy chim Lạc trắng như tuyết, vỗ cánh bay xà xuống trên mặt đất màu hồng.
Thật là một cuộc khám phá diệu kỳ. Trước hết bầy chim trắng bay qua đại dương xanh biếc. Thấy bóng mình rợp trên mặt biển, bầy chim tưởng rằng đại dương có ý trêu ghẹo; có ngờ đâu chỉ là hình bóng của chính mình tạo ra do ánh ấm của quạ vàng chiếu xuống. Ánh sáng sao mà ấm áp dễ chịu lạ thường. Bầy chim say sưa lướt cánh trên những núi đồi màu hồng, và cuối cùng sà xuống đậu trên một cánh đồi đất mịn. Con chim đầu đàn vừa đặt chân chạm mặt đất đã nghiêng cánh biến thành một nàng tiên nữ. Lập tức cả bầy chim đều nhất loạt hiện hình tiên nữ. Trên mặt đất chưa bao giờ có sự hân hoan tươi vui đến thế. Các cô cười nói, nắm tay nhau đi dạo trên mặt đất, hoặc sắp hàng với nhau chạy trên dốc đồi thoai thoải. Đất dưới chân họ mềm dịu như bông. Một lát sau, bầy tiên nhữ quy tụ lại một nơi. Các cô cùng nhảy múa. Lần đầu tiên trên mặt đất được biểu diễn những vũ khúc tuyệt vời chỉ thấy ở từng trời thứ ba mươi sáu. Nàng tiên trẻ nhất và đẹp nhất bỗng ngừng nhảy múa: cô quỳ hai chân xuống đất, hai tay vốc một nắm đất đưa lên nhìn. Đất sao mà thơm ngạt ngào. Các cô khác cũng ngừng nhảy múa và cũng vốc đất đưa lên nhìn ngắm. Bỗng một cô la lớn:
- Cơ! Âu Cơ! Đừng làm thế!
Mọi người quay lại nhìn cô tiên nữ trẻ nhất và đẹp nhất có tên là Âu Cơ. Cô này thấy hương đất ngạt ngào quá đã đưa đất lên miệng nếm. Khi người chị nhận thấy và kêu lên, thì đã trễ quá rồi. Âu Cơ đã nếm và ăn hết một nắm đất nhỏ thơm ngon ấy. Người tiên nữ có vẻ là chị ấy, đưa tay vạch các bạn tiên ra và chạy tới, cầm lấy tay nàng Âu Cơ trẻ tuổi:
- Em dại dột quá. Cõi của chúng ta là cõi Sắc, không phải cõi Dục. Chị sợ em đã phạm vào một lỗi lầm không thể nào chuộc lại được.
Nghe nói vậy tất cả các tiên nữ đều để rơi nắm đất hồng và phủi sạch những bàn tay xinh đẹp của họ.. Rồi cả bầy tiên xúm quanh Âu Cơ.
- Bây giờ làm thế nào? - Một cô hỏi.
- Thì lên trên ấy đừng nói cho một ai hay biết. -  Một cô khác trả lời.
Nhưng ánh sáng trên mặt đất bỗng mờ nhạt hẳn đi. Bầy tiên giật mình. Quạ vàng trên đình núi xa sắp sửa bay khuất sau núi. Ánh sáng rồi sẽ bay mất theo quạ vàng.
- Chúng ta phải trở về trước khi quạ vàng xuống khuất sau núi - Một nàng tiên nói như vậy, và nghiêng mình biến thành chim Lạc.
Cả bầy tiên còn lại cũng bắt chước theo, tất cả đều nghiêng mình biến thành những con chim trắng muốt, vỗ cánh bay lên. Những cánh chim vỗ nhanh trên trời cao, như những bàn tay vẫy về mặt đất nuối tiếc.
Ánh sáng tắt hẳn, vì quạ vàng đã bay khuất. Nhưng chẳng bao lâu – trên không - chim thiên nga đã bay về. Ánh sáng của thiên nga dọi xuống, mát rượi và dịu dàng, thay cho ánh sáng chói lọi và đôi khi gay gắt của quạ vàng lúc trước. Ngày đầu tiên của mặt đất đã đi qua, dài khoảng bảy năm. Bây giờ là bắt đầu đêm đầu tiên trên mặt đất. Một đêm dịu hiền, có ánh sáng êm mát của thiên nga chiếu xuống.
Dưới ánh sáng ấy, một con chim Lạc bay bơ vơ. Con chim này đã không thể cùng bay lên trời với bạn. Con chim này đã ở lại vì hồi chiều khi bay lên tới mây thì hai cánh trĩu nặng, chim không thể nào bay lên cao hơn nữa. Nàng Âu Cơ xinh đẹp, vì nếm phải hương vị đất mới, đã đánh mất thần túc. Nàng phải bay trở về mặt đất. Nàng ở lại trên mặt đất trong đêm đầu tiên, bơ vơ như chưa bao giờ từng bơ vơ. Hiện hình tiên nữ, nàng ngồi gục đầu trên một tảng đá và khóc.
Nước mắt nàng chảy thành một dòng sông dài.
Trong đêm, con sông nước mắt tìm ra tới biển, hoà vào nước biển. Dưới biển sâu, có loài thủy tộc bỗng nếm phải những dòng nước mới này. Những dòng nước có hương vị đất mới ngọt ngào và thơm tho. Hàng vạn loài cá, tôm, sò, ốc truyền nhau tin lạ. Hoàng tử con của Long vương, vì đang đi chơi và không ở trong cung điện thủy phủ nên nhận được tin ấy rất sớm. Chàng hoá thân thành một con cá nhỏ, ngược theo một dòng nước ngọt để mong tìm ra nguồn gốc của nó. Chàng bơi rất nhanh và khi tìm được đến cửa một dòng sông thì đêm đầu tiên của mặt đất cũng đã chấm dứt – dù rằng cái đêm sầu khổ nhất của nàng Âu Cơ dài tới bảy năm.
Khi hoàng tử con của Long vương, ngoi đầu lên mặt nước thì quạ vàng đã bay trở lại trên hư không. Chưa bao giờ chàng thấy mặt biển đẹp như vậy. Màu xanh trên mặt biển thắm thiết hơn màu bích ngọc của cung điện phụ hoàng dưới đáy biển. Từng đợt sóng xô nhau tung toé, bọt trắng như tuyết. Chàng nhảy lên, cao khỏi mặt biển, vào hẳn trong không khí. Không khí sao mà mềm nhẹ, trong trẻo và bao la quá. Bầu trời cũng xanh như nước biển. Xa xa thấp thoáng đất liền và núi đồi. Tất cả giống hệt như dưới biển, chỉ là thế giới trên đất có vẻ rộng rãi hơn, nhẹ nhàng hơn và trong suốt hơn.
Hoàng tử nhảy lên bờ cát và hiện thành một chàng trai tuấn tú, mắt sáng như sao, trán rộng, chân dài. Chàng dạo chơi trên bờ biển. Biết bao nhiêu cảnh đẹp làm chàng chú ý. Những ngọn núi cao chớn chở, những ghềnh đá nối nhau soi mình xuống đại dương. Chàng rời bờ biển đi sâu vào lục địa, ngắm nhìn con sông nước chảy trong veo, thứ nước ngọt thơm lần đầu loài thủy tộc được nếm. Chàng men theo bờ dòng sông, đi ngược lên tìm suối nước. Càng đi chàng càng thấy đẹp. Hai bẹn bờ sông rêu lên xanh mướt. Chàng thấy những bờ cỏ xanh rờn, thỉnh thoảng có điểm những bông hoa nhỏ màu vàng, màu tím. Chưa bao giờ chàng thấy một sự mầu nhiệm như vậy. Dưới đáy biển tuy cũng có thảo mộc lả lướt, và nhiều loài hoa cỏ thơm tho, nhiều loại san hô kỳ lạ, nhưng chưa bao giờ chàng thấy những tấm thảm xanh điểm những bông hoa đủ màu đủ sắc như vậy. Chàng chắc hẳn đây là phép lạ của dòng sông nước ngọt, bởi vì phía trên kia không có ngọn đồi nào cũng như trái núi nào có được màu xanh kỳ diệu như ở ven sông.
Đây là ngày thứ hai trên mặt đất.
Hoàng tử bỗng thấy đàn bướm nhỏ xuất hiện trên bờ cỏ xanh non. Những con bướm sặc sỡ như những cánh hoa, và nếu chúng không bay, có lẽ chàng đã tưởng đó là những cánh hoa. Dưới thủy cung chàng chưa bao giờ thấy một loài sinh vật mỏng manh như thế. Những con bướm nhẹ nhàng như khí trời, chở đầy ánh nắng trên đôi cánh và cứ quanh quẩn bên các bông hoa. Có lẽ chúng tưởng các bông hoa kia cũng là đồng loại của chúng.
Hoàng tử bắt đầu leo lên một trái núi, bởi vì chàng thấy dòng sông đã từ núi chảy xuống. Nước bây giờ róc rách kêu, mơn man từng tảng đá giữa lòng suối. Và những đám rêu xanh bao quanh nhiều tảng đá; hai bên bờ suối, cỏ non và những bụi cây cũng đã thấy xuất hiện. Bỗng Hoàng tử ngạc nhiên dừng lại. Một cảnh tượng chưa từng có đang xảy ra trước mặt chàng.
Trên một tảng đá lớn phủ đầy rêu xanh, một thiếu nữ đang gục đầu nằm khóc. Thiếu nữ không có xiêm y, thân hình nàng xinh đẹp như chưa có một sinh vật nào dưới thuỷ cung đã từng xinh đẹp. Nàng như một chiếc hoa mới nở. Cánh tay của nàng kê dưới trán; tóc nàng dài xanh buông xoã xuống suối, suối tóc xuôi theo dòng nước cuộn. Đó là Âu Cơ, người tiên nữ vì nếm phải đất thơm tho nên mất thần túc và phải ở lại hạ giới. Nàng đã khóc từ đầu hôm ngày hôm qua cho đến sáng hôm nay, nghĩa là trong khoảng thời gian mười mấy năm trời.
Hoàng tử không tiến thêm bước nữa. Chàng đứng nhìn một lát, rồi đọc một bài thơ để thức nàng dậy:
Nắng reo trên đất mới.
Trời xanh như nước xanh.
Theo sông dài tìm tới.
Thấy bướm hồng lượn quanh.
Người đã từ đâu lại.
Vì sao khóc một mình?
Thức nàng dậy? Không phải, vì tiên nữ không ngủ. Nàng đang gục đầu trên cánh tay và khóc và chỉ ngửng đầu lên nhìn khi nghe tiếng nói của Hoàng tử thủy cung. Nàng chớp mắt nhìn người con trai cao lớn. Nàng ngồi dậy và lau nước mắt bằng mớ tóc. Nàng trả lời Hoàng tử, mắt nàng nhìn thẳng vào mắt chàng.
Quạ vàng soi sáng.
Đất mới thơm lừng.
Một bầy chim Lạc.
Lưng trời xuống thăm.
Nếm nhầm đất mới.
Mất đi thần thông.
Bơ vơ cảnh lạ.
Khóc thành dòng sông.
Rồi Âu Cơ kể cho Hoàng tử nghe từng chi tiết cuộc khám phá táo bạo của bầy tiên nữ, từ lúc chị em vén mây nhìn xuống, cho đến khi nàng không bay lên khỏi tầng mây thấp nhất và phải ở lại mặt đất. Hoàng tử ngồi xuống một tảng đá bên cạnh và kể cho nàng nghe đời sống dưới thủy cung, nơi phụ vương chàng ngự trị, và duyên cớ chàng tìm tới được nơi đây. Chàng kể giọng ấm áp và dịu dàng; mỗi khi nhắc tới ánh sáng, quạ vàng, không gian xanh biếc và núi đồi thơm ngát, mắt chàng lại sáng lên. Hai người cùng nhìn lên trời xanh, cùng nhìn ra đất đỏ và cùng cúi xuống quan sát những cỏ cây rong rêu mọc trong lòng và bên bờ suối. Hoàng tử cố an ủi tiên nữ, chàng nói rằng có thể các chị em nàng sẽ xuống thăm nàng hôm nay hoặc ngày mai, rằng thế nào các tiên nữ cũng tìm được cách đưa nàng lên thượng giới. Hai người nói chuyện rất lâu, và Âu Cơ lây cái vui của hoàng tử thủy cung, đã nói cười trở lại như tai hoạ của nàng chưa bao giờ từng xảy tới. Họ nắm tay đi bên bờ suối, tìm xuống đồng bằng. Bỗng hoàng tử nhận thấy rằng dòng sông đã gần cạn. Hai bên bờ, dưới gót chân họ, cỏ hoa đã héo úa, đàn bướm đã biến mất. Đi một chặng nữa, họ nhận thấy cỏ dưới chân mình đã khô cháy. Trên đầu họ, quạ vàng ném xuống những tia nắng nóng bỏng. Bóng của hai người rút ngắn lại; ngày đã trưa.
- Mặt đất chỉ xanh và đẹp khi được tưới bằng nước mắt nàng. Trên bờ biển ta không thấy có cây cối và cỏ hoa như hai bên dòng sông này. Như vậy chắc chắn là nước biển không làm cho cỏ cây trên đất xanh tốt. Để ta dùng ít nước còn lại dưới dòng kia để làm mưa.
Âu Cơ không biết làm mưa là gì, toan hỏi, thì người trai trẻ đã đi xuống gần lạch nước nhỏ còn chảy mong manh giữa lòng cát trắng. Chàng vốn nước trong tay và uống ba lần. Khi trở lên chàng nói:
- Chúng ta hãy ngồi xuống đây. Ta sẽ làm cho mặt đất tẩm ướt thứ nước dịu ngọt và kỳ diệu này. Nàng hãy yên lặng và đừng nói lên một lời nào trước khi có mưa. Hãy nhìn trên mặt biển, và nếu thấy gì lạ đừng có nên lấy làm kinh quái. Nếu nàng là giống tiên, thì ta giống rồng, không nên vì sự khác biệt mà khiếp đảm.
Nói xong từ triền đồi thoai thoải chàng chạy nhanh xuống bờ biển. Từ đồi cao, nàng trông thấy chàng chắp tay lại như một búp sen và chao mình một cái, biến mất vào trong biển cả.
Một lát sau, Âu Cơ thấy mây khói hiện ra trên mặt biển cuồn cuộn. Cuồn cuộn, từng đám mây bay lên trời cao, không ngớt. Đây là những đám mây màu xám, không phải là những đám mây trắng tinh có sẵn trên những tầng trời cao. Phút chốc mây đen đã che kín trời xanh. Ánh sáng của quạ vàng chiếu xuống chỉ còn mờ nhạt đủ để nàng trông thấy cảnh vật. Bỗng có tiếng ầm ầm dưới biển cả. Một con rồng lớn, dài hàng mấy mươi dặm, sắc vàng chói, từ biển cả tung mình bay lên trên không gian. Thân hình rồng uốn lượn uyển chuyển và kỳ diệu. Phút chốc rồng đã bay khuất trong mây.
Đột nhiên có tiếng sấm nổ vang động. Một tia chớp loé lên trên bầu trời đen kịt. Âu Cơ nghe tiếng rào rào bốn phía. Nàng hoảng hốt đứng dậy, nhìn, nhưng không thấy gì lạ. Bỗng nhiên nàng có cảm giác lạ trên da thịt mình, một cảm giác ướt, mịn, mát mẻ và dễ chịu. Nước rơi trên người nàng muôn ngàn giọt. Hoàng tử long cung đã làm mưa. Hoàng tử long cung đã làm ra mưa.
Tiếng mưa rơi đều đều và êm êm như tiếng hát. Tiếng mưa vỗ về, an ủi như giọng nói ấm áp và chậm rãi của người trai trẻ ban nãy đã cùng nàng ngồi bên bờ suối nói chuyện. Nàng đưa hai tay lên đón những giọt mưa mát rượi. Nàng đưa đầu, đưa tóc, đưa vai và đưa thân thể ra đón những giọt mưa mát rượi. Bỗng nàng nhận ra rằng dưới chân nàng cỏ non đã mọc trở lại. Nhìn xuống dòng sông nàng thấy nước đã ngập đầy. Mưa như thế không biết trong bao lâu. Đến khi hầu hết những đám mây đã tan, ánh nắng đã chan hoà đây đó trên mặt đất, thì rồng vàng còn ẩn trên đám mây nhìn xuống mặt đất.
Đây đó, có rất nhiều dòng sông đã được khơi thành. Không những hai bên bờ các con sông cỏ xanh mọc lên tươi tốt, mà khắp nơi trên núi đồi, dưới đồng bằng, cây cỏ đã mọc lên xanh um. Những bông hoa tím, vàng, hồng trắng hiện khắp nơi. Mặt đất đã đẹp lên một cách diệu kỳ. Và kìa, xuôi theo những nét đẹp uyển chuyển của những dòng sông có hình tượng của Âu Cơ nằm duỗi chân dài bên bờ đại dương, xoã tóc lên một vùng núi đồi, hình dáng nàng nổi bật trên màu xanh của một vùng cỏ cây xanh tốt, mát và tươi đẹp như đất mới. Âu Cơ xinh đẹp, đầy đặn và đầy sinh lực như lòng đất.
Rồng vàng bay xuống và hiện thành người con trai tuấn tú, tay cầm một bông sen trắng. Chàng thao thức muốn gặp lại người con gái mà chàng đã đem lòng yêu từ phút đầu mới gặp.
Còn Âu Cơ, nàng cũng thao thức hồi hộp đợi chờ phút trở về của chàng hoàng tử thủy cung hùng dũng và xinh đẹp, có giọng nói như nắng sớm sưởi ấm lòng nàng.
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-04-19 06:45:10ĐạoCấy>
2. TRĂM TRỨNG.
 
 
Lạc Long ngồi xuống một ghềnh đá cao, nhìn xuống biển. Chàng thấy một đoàn ngư dân đang kéo lưới trên bãi cát. Thân hình của họ rám nắng, khoẻ mạnh và xinh đẹp. Nghe lời chàng, họ vẽ hình Giao Long trên người, để mỗi khi lặn xuống nước, các loài thủy quái biết họ có thân tộc với loài rồng mà không làm hại. Thật không có gì đẹp bằng một buổi sáng bên bờ đại dương. Chân trời màu xanh lam nối tiếp với mặt biển màu xanh thẫm. Mặt trời đã lên một con sào. Ánh sáng rực rỡ đổ xuống mặt biển những vũng hào quang đỏ thắm chói lọi. Vài ngư dân đang hạ thủy một con thuyền đánh cá, loài người quả thật là thông minh và quả cảm. Sự thông minh này họ thừa hưởng được của bên mẹ, vốn là dòng dõi tiên nữ. Sự quả cảm kia, họ đã thừa hưởng ở bên cha, vốn là dòng dõi loài rồng. Dòng dõi của chàng.
Hoàng tử Long cung được mọi người trong vương quốc Âu Lạc gọi là Lạc Long. Không biết theo năm tháng dưới thủy cung thì chàng đã vắng mặt dưới đó bao nhiêu lâu rồi, chàng chỉ biết rằng kể từ khi cùng với tiên nữ Âu Cơ kết hợp, bảy nghìn năm đã đi qua trên mặt đất. Âu Cơ vẫn còn xinh đẹp như hồi nào vì nàng là tiên nữ, không chịu luật già chết như các sinh vật sinh trưởng trên mặt đất. Nhưng trong bảy ngàn năm qua, loài người đã sinh sôi nảy nở và trở nên đông đảo.
Trong buổi đầu của đời sống văn minh loài người. Âu Cơ và chàng đã có mặt để dạy dỗ và che chở. Vương quốc này đã đông đảo. Nhiều thế hệ người đã lớn lên và mất đi, nhưng dân chúng vẫn tiếp tục suy tôn tiên nữ Âu Cơ là nữ chúa và lấy hình chim Lạc của nàng là biểu tượng giống nòi. Tất cả đều lấy chữ Lạc làm họ. Chính chàng, chàng cũng được dân chúng gọi là Lạc Long. Những lúc thân mật họ gọi chàng là Bố.
Bảy nghìn năm. Đối với đời sống dưới thủy cung, có lẽ thời gian đó chỉ dài chừng năm bảy tháng, nhưng ở trên mặt đất xinh đẹp này, bao nhiêu biến chuyển và tiến bộ đã xảy ra trong khoảng thời gian đó. Chàng hồi tưởng lại ngày đầu tiên bước chân lên mặt đất, theo dòng sông nước ngọt tìm tới Âu Cơ. Chàng nhớ tới trận mưa đầu tiên mà chàng đã làm rơi trên mặt đất bao la. Nước mắt của tiên nữ Âu Cơ là nguồn sống của cỏ cây và mọi sinh vật khác trên mặt đất. Đó là một chất nước ngọt ngào, uống vào mát gan mát ruột. Có nhiều khi chàng nghĩ Âu Cơ chính là mặt đất tươi mát xanh rờn, chứa trong lòng nàng bao nhiêu ngọn suối ngọt không bao giờ khô cạn.
Cuộc gặp gỡ giữa chàng và Âu Cơ là một cuộc gặp gỡ mầu nhiệm. Âu Cơ là sự xinh đẹp, Âu Cơ là nguồn sống, Âu Cơ là mặt đất đầy sinh lực mầu nhiệm. Từ lúc hai người gặp nhau, chàng thấy tình yêu xuất hiện. Ăn ở với nhau không lâu, thì nàng hạ sinh một bọc trứng.
Chàng nghĩ nếu cả hai người đều cùng chung là loài rồng thì chắc hẳn trứng rồng lại nở con rồng. Nhưng đây chắc không phải vậy. Đây là một cuộc phối hợp giữa rồng và tiên nữ. Cuộc phối hợp này sẽ đi đến kết quả nào, chàng đã phải chờ đợi nhiều ngày mới biết được.
Họ ở với nhau trong một cái động ở trên một ngọn núi gọi là núi Long Trang. Để đàn con sau này được hấp thụ tinh hoa của đất trời, họ đem bọc trứng ra để ở ngoài đồng cỏ xanh mát.
Trong chín năm, ngày nào hai người cũng đi ra ngoài động thăm bọc trứng. Họ ngồi trên cỏ mướt, dưới ánh thiên nga, hoặc trong nắng ấm dưới bóng quạ vàng, lắng nghe tiếng cỏ cây, lắng nghe tiếng gió rì rào mầu nhiệm. Ngôn ngữ của họ phần lớn được làm bằng sự yên lặng, nhưng sự thông cảm giữa hai người luôn luôn được thiết lập dễ dàng. Chàng có thể đọc ý nàng khi nhìn vào hai mắt đẹp. Và những bàn tay chàng, khi đưa lên để diễn tả bằng hình tượng, đã là một ngôn ngữ nhiệm mầu, như hình tượng rồng vàng uốn khúc trên không trung. Một buổi sáng kia, gió hoà nhạc trong cây. Khi hai người ra tới đồng cỏ thì bọc trứng đã nở lớn như một ngọn đồi. Bọc trứng nở ra: một trăm chiếc trứng trắng như tuyết nằm trên cỏ xanh. Khi nắng lên ấm, những chiếc trứng bắt đầu nở. Từ mỗi chiếc trứng, một hài nhi bụ bẫm sinh ra.
Hai người ngạc nhiên và vui mừng hết sức. Họ tới ẵm từng chú bé và cô bé hồng hào xinh đẹp trên tay. Một trăm đứa bé mà đứa nào cũng đưa hai tay về phía hai người. Lạc Long và Âu Cơ đưa các con về động, dùng các loại cỏ cây mềm dịu như tơ để làm nôi cho các con và chăm sóc từng đứa. Tinh hoa của đất trời mầu nhiệm quá, sinh lực của tiên và rồng phong phú quá, bầy trẻ thơ không cần bú mớm mà đứa nào cũng lớn mau như cỏ hoa ngoài đồng nội.
Âu Cơ để gần hết ngày giờ ra săn sóc một trăm đứa bé xinh xắn của nàng. Nâng niu từng đứa trong hai tay, nàng ngắm nghía không chán kết quả của tình yêu. Nàng thấy được làm Mẹ là một diễm phúc lớn. Nàng yêu mặt đất, yêu cỏ cây, yêu sự sống mới. Thỉnh thoảng nàng vẫn nghĩ đến chị em tiên nữ của nàng, nhưng nỗi mong nhớ không còn mãnh liệt như trước. Các tiên nữ chưa bao giờ trở lại, có lẽ họ đã không được quyền trở lại trên mặt đất. Nàng nhớ chị em, nhưng nàng chấp nhận sự sống trên mặt đất, xem mặt đất là quê hương của nàng.
Lạc Long không nghĩ đến chuyện trở về thuỷ phủ. Chàng trở lại trên mặt đất, xây cuộc sống êm đềm bên Âu Cơ. Bọn trẻ đã lớn, thân hình cũng như trí tuệ phát triển một cách mau chóng lạ thường. Chàng dạy các con biết nói. Chàng phối hợp tiếng nói của trời Phạm thiên, và tiếng của nước Long hải để làm thành ngôn ngữ dạy cho các con. Chàng dạy các con gọi mình là Bố. Và cũng như ngón tay lớn trong một bàn tay được gọi là ngón cái. Hoàng tử dạy các con gọi Âu Cơ bằng một tên gọi rất đẹp: Cái. Các con gái của nàng thường gọi một cách nũng nịu: “  Cái ơi, cho con lên đồi hái hoa, Cái nhé ”.
Cùng với Âu Cơ, hoàng tử dùng ngôn ngữ mới đặt tên cho những sự vật trên mặt đất và những sự vật đã sinh trưởng trong rừng sâu hoặc dưới đồng nội. Họ gọi những vùng cây cao mọc chi chít sát nhau là rừng. Họ gọi những đống đất đá vĩ đại ngất trời là núi. Họ gọi quạ vàng là mặt trời, thiên nga là mặt trăng. Họ cũng lấy tên các hiện tượng thiên nhiên và các loài hoa chim để đặt tên cho một trăm đứa con của họ: núi, nước, rừng, trăng, mai lê, đào, lý….Một trăm đứa con, nhưng hai người vẫn nhớ tên từng đứa.
Khi các con đã lớn, họ dạy cho các con biết vào rừng hái quả, biết đẽo gọt các dụng cụ bằng đá để săn bắt trong rừng, biết đan những chiếc lưới thô sơ để bắt tôm cá trong sông. Chàng nhớ lại một đêm lạnh lẽo kia, Âu Cơ nằm mộng thấy một thần nhân sáng ngời, trên tay cầm một con quạ vàng toé tung những lửa. Lửa cháy làm nàng cảm thấy ấm áp. Thần xưng là A Nhi. Thần chỉ vào những dụng cụ bằng đá và nói:
- Khi nào lạnh lẽo các người có thể gọi ta. Ta là con của mặt trời được gởi xuống giúp các ngươi. Ta ở trong những tảng đá này.
Thức dậy, Âu Cơ đã kể cho chàng nghe giấc mộng. Cả hai người đến lật những dụng cụ bằng đá lên xem nhưng không thấy gì. Chợt nhớ ra rằng, trong khi đẽo gọt những dụng cụ này, chàng và các con trai đã làm loé ra những tia sáng giống hệt như nàng đã thấy trong mộng. Âu Cơ bèn nhắc chàng. Hoàng tử đập những tảng đá vào nhau toé lửa. Họ dùng bùi nhùi để bắt lửa. từ đó họ có lửa để nấu nướng và sưởi ấm.
Chàng dạy các con đốn cây làm những chiếc nhà sàn để ở. Trời rét, chàng bảo Âu Cơ đi tước vỏ cây, đập nát xe lại thành sợi và đan thành những tấm áo choàng. Các con gái của Âu Cơ đến giúp nàng, trong một thời gian không lâu, mọi người đều có áo mặc. Họ bứt cỏ ống, phơi khô, dệt thành chiếu để lót trên sàn nhà nằm cho ấm. Cá tôm chài lưới được và cầm thú săn bắt được, nếu ăn không hết thì họ dạy đem phơi khô. Nhưng công việc mà Âu Cơ ưa thích hơn cả là trồng lúa nếp. Họ lấy dụng cụ bằng đá đề cấy cầy, gieo hạt lúa nếp. Ở những khu đất thấp, họ mở đường mương để lấy nước tưới ruộng. Hoàng tử dạy con bỏ gạo nếp trong ống tre, lấy bùn trét lại và quăng vào đống lửa. Sau khi bùn đã cháy, chẻ ống tre ra, họ có cơm nếp rất thơm và rất ngon. Cứ như thế sự sống mầu nhiệm diễn ra trên mặt đất. Hàng ngàn năm đã đi qua. Thế hệ các con đã lớn, thế hệ các cháu ra đời. Rồi thế hệ các cháu đã lớn, chuẩn bị cho những thế hệ kế tiếp. Loài người tuy là con Rồng cháu Tiên, nhưng mỗi con người chỉ sống trên mặt đất khoảng vài trăm năm. Có những người tập phép trường sinh theo cha mẹ, cũng trở thành bất tử về sống thủy cung hoặc lên tiêu dao trên những cảnh nước non thanh tú không có dấu vết sinh diệt. Phần đông đều sống cuộc đời vài trăm năm trên trái đất và khi chết thì linh hồn đi về cõi âm, nơi đó thỉnh thoảng những người sống cũng được viếng thăm.
Những trẻ em khi lớn lên, được dựng vợ gả chồng. Mỗi khi có một cuộc gả cưới như thế, chú rể và cô dâu được các anh chị và xóm làng đem tặng rất nhiều cơm nếp. Nếu một gia đình nào muốn gả chồng cho con gái thì dùng muối để đến nhà trai làm lễ hỏi. Đến ngày cưới, chú rể được rước về nhà cô dâu và vĩnh viễn thuộc về gia đình này. Hai vợ chồng mới được ở một phòng riêng. Lễ hợp cẩn rất đơn giản; hai vợ chồng cùng ăn cơm nếp với nhau. Muối được dùng trong lễ hỏi tượng trưng cho sự mặn mà, cơm nếp ăn trong lễ hợp cẩn tượng trưng cho sự keo sơn bền chắc. Ở những đám cưới lớn, người ta còn đem tới tặng bánh làm bằng bột cây quang lang và cây xoa đồng. Tất cả những tập tục này, chàng nhớ, đều do Âu Cơ dạy bảo. Các cặp vợ chồng này không sinh ra những bọc trứng nữa. Họ sinh ra mỗi lần một hài nhi bé bỏng. Buổi đầu bà chúa Âu Cơ dạy họ lấy lá chuối tước lót cho bé nằm, và các cách thức nuôi dưỡng, bú mớm.
Trước kia, vì muối là một thứ hiếm. Âu Cơ dạy các con lấy rễ gừng làm muối. Sau này, chàng đã dạy các con phơi nước biển cho khô để làm muối. Nhờ có muối, họ làm được đủ thứ nắm và nước nắm để dành. Trong buổi đầu Âu Cơ cũng đã dạy cho các con những khúc múa và những bài hát. Bây giờ có những đêm trong vương quốc tổ chức những cuộc múa hát suốt đêm. Những đêm múa hát thường được tổ chức tưng bừng quanh đống lửa lớn. Nhạc khí đầu tiên được phát minh ra là trống, làm đơn sơ bằng gỗ và da thú vật. Những người tham dự, lớn hay bé, đều trang sức trên đầu bằng những chiếc lông chim trắng để tự nhận là giòng giống chim Lạc. Đệm theo tiếng trống tưng bừng là tiếng chày đá giã gạo đều đều. Từng cặp hai người, một trai một gái, cầm những chiếc chày dài bằng đá cao tới vai, phía trên có trang sức lông chim. Họ giã chày vào một cối đá, tiếng giã thình thịch theo nhịp của những người đang múa hát xung quanh đống lửa.
Những thế hệ sau đó đã khám phá ra chất đồng và thay thế những chiếc trống gỗ đơn sơ bằng những chiếc trống đồng, âm thanh vang như sấm động.
 
 
Tiếng hát của dân chài từ bãi biển vọng lên, làm Lạc Long chú ý nhìn xuống. Trong lưới hàng ngàn con cá bạc lấp loáng dưới ánh mặt trời. Ngư dân vừa đánh được một mẻ cá lớn. Bỗng nhiên Lạc Long thấy cánh tay phải rung động. Chàng giật mình. Đúng rồi, đây là dấu hiệu phụ vương chàng, vua của loài rồng từ thủy phủ gọi. Chàng biết đã tới thời hạn phải về thủy cung để lên ngôi Long vương. Phụ vương chàng đã đến lúc muốn ẩn cư tu luyện và muốn trao lại ngôi báu cho chàng. Đã lâu quá, chàng không về thăm thủy phủ. Lạc Long xao xuyến khi nghĩ đến lúc phải từ giã mặt đất để trở về dưới nước.
Có một bàn tay đặt nhẹ lên vai chàng. Lạc Long nhìn lên. Chàng thấy Âu Cơ đã đến và đứng tự bao giờ trên ghềnh đá. Nàng hỏi tay vẫn để trên vai Lạc Long:
- Chàng suy nghĩ gì vậy?
Lạc Long đứng dậy nắm tay nàng:
- Phụ Vương dưới thủy cung gọi ta về, ta phải đi ngay. Nàng ở lại bảo vệ các con. Ta về thủy cung chịu lễ truyền ngôi, rồi sẽ trở lên sớm.
- Chàng cho em cùng về được không?
- Trời tròn, đất vuông, nước và lửa tương khắc. Nàng là giống tiên, ta là giống rồng. Tuy cuộc phối hợp của chúng ta rất đẹp đẽ trên mặt đất này, nhưng ta không thể lên thăm cõi trời Phạm thiên, cũng như nàng không thể xuống thăm thủy phủ. Ta ao ước được mời nàng xuống thăm cung điện dưới nước, chỉ tiếc là nàng không thể xuống được đấy thôi.
- Thiếp cũng biết điều đó. Nhưng sau này các con của chúng ta, loài người, có thể xuống thủy cung được không?
- Các con của chúng ta, tuy thuộc về giống tiên nhưng chúng cũng thuộc về giống rồng, vì vậy có thể xuống thăm thủy phủ. Tuy vậy nếu một trai một gái cùng đi sẽ dễ dàng, ít xung khắc hơn. Sau khi đã sắp xếp công việc dưới ấy xong xuôi, ta sẽ trở lên. Trong trường hợp cấp bách muốn gọi ta, nàng hãy cho hai đứa xuống thủy cung tìm. Người nào cầm trong tay vật này là có thể đi tới cung điện của ta, không sợ gì nguy hiểm.
Nói xong Lạc Long nhả ra trên tay một viên ngọc sáng ngời, trao cho Âu Cơ. Chàng nói tiếp:
- Phụ vương lại giục nữa rồi, ta phải đi ngay mới được.
Từ ghềnh đá chàng cầm tay Âu Cơ, đưa nàng xuống bãi cát trắng. Trời đã đứng bóng, ngư dân đã về xóm. Lạc Long ngước nhìn bầu trời bao la. Trời xanh quá. Trưa im lặng. Trong chiều sâu của không gian, chàng thấy bảy ngàn năm qua như một giấc mộng. Chàng cầm lấy tay Âu Cơ, nhìn nàng trong hai mắt một hồi lâu. Và bỗng chàng cúi xuống hôn trên hai má nàng, rồi nghiêng mình biến thành một con cá nhỏ, lội vào biển xanh. Âu Cơ đứng ngẩn ngơ một hồi. Bỗng nàng ngước mắt nhìn ra biển xanh và gọi lớn tên chàng:
- Nãga! Nãgarãja!
Nhưng Lạc Long đã đi. Chàng đã đi xa. Đáp lại lời gọi của nàng, chỉ có tiếng sóng biển mỗi lúc mỗi trở thành rào rạt.
 
Đăng nhập để trả lời
0
3. CHUYẾN ĐI ( I ).
 
 
Chưa bao giờ, từ khi Âu Cơ và Lạc Long dựng nước, mà trời lại nắng khô lâu ngày đến như thế. Có hơn sáu tháng rồi trời không mưa. Các dòng sông và các dòng suối đã hầu cạn. Cỏ trên đồng cháy vàng. Lúa nếp thiếu nước không mọc được nữa. Lúa còn non mà đâu đâu cũng thấy cây lúa úa vàng như rơm rạ. Nắng thiêu đốt đến nỗi đó đây đất nứt nẻ ra trông rất thảm thương. Dân chúng phải chạy vào rừng trốn nắng vào những buổi trưa nóng bức nhất.
Gió cũng ít thổi. Trời im phăng phắc. Có một cái gì đè nặng trên không khí, ai cũng thấy ấm ức.
Ẩn cư tận trên đỉnh núi từ ngày Lạc Long bỏ về thủy phủ, bà Âu Cơ cũng đã tìm về đồng bằng vì nghe tiếng kêu khóc của dân chúng. Thấy con cháu rên xiết vì nắng hạn, bà đau lòng. Bây giờ chỉ có một cách là cho người đi gọi Lạc Long. Hiện giờ chàng đã lên ngôi Long vương rồi; không biết vì sao mà lâu quá chàng chưa trở lại.
Là giòng giống tiên thuần túy bà không thể xuống Long cung được, nhưng con cháu bà vì cũng là giòng giống của rồng nên có thể đi xuống thủy phủ. Viên ngọc quí mà Long Quân đã trao cho bà trước khi từ giã, bà đang còn giữ. Bà trao lại cho một người trai trẻ tên là Lạc Hùng, và dạy chàng tình cách xuống Long cung cầu Long vương lên làm mưa cứu nạn. Hùng là người con trai can trường nhất và thông minh nhất của thôn Hạc Trắng. Thôn Hạc Trắng nổi tiếng là miền văn nhã của vương quốc. Ở đây có nhiều trai thanh gái lịch. Ở đây lại có một cây chiên đàn sống đã bốn nghìn năm cao tới ngàn tầm, ngọn cây thường lẫn vào mây trắng. Tàn lá rộng che phủ cả một vùng. Có rất nhiều chim hạc đậu và làm tổ trên cây. Bà chúa Âu Cơ mỗi lần từ núi cao về hay tới dưới gốc cây để gặp gỡ dân chúng.
Hùng được cả thôn yêu mến. Bà chúa đã giao cho chàng sứ mệnh xuống thủy cung, nhưng chàng chưa biết cách gì xuống được thủy phủ. Bà chúa cũng trao cho chàng viên ngọc và dặn dò chàng nên cùng đi xuống thủy phủ với một người con gái.
Lạc Hùng có quen biết một cô gái cùng tuổi. Nàng tên Mỵ. Theo chàng Mỵ là cô gái duyên dáng nhất trong thôn. Hùng nghĩ răằg đi với một cô gái như Mỵ xuống thủy phủ là một niềm vui; nàng thông minh và lanh trí, có thể giúp được chàng trong lúc đi đường. Nhưng đi với một cô gái, dù là cô gái mình yêu mến nhất, cũng là một gánh nặng. Nếu gặp những hiểm nguy bất trắc, sức lực của một thiếu nữ làm sao chống cự được với các loài thủy quái hiểm độc?
 
Đăng nhập để trả lời
0