📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Ngày cuối năm

3 trả lời, 788 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2004-11-23 17:16:07ct.ly>
Ngày cuối năm


Trời đã bắt đầu lạnh cắt da cắt thịt. Buổi chiều muộn lại thấy một lớp băng mòn phủ trên hè phố, cống rãnh. Cứ chỗ nào có nước thì sẽ có một lớp băng xám mỏng manh và rất dễ vỡ như thế, tạo thành những tiếng loạt soạt trên khắp lối đi. Quê lau hai bàn tay dính đầy máu vào chiếc tạp dề treo ở tấm bảng gỗ rồi mặc áo khoác, quấn khăn, đội nón bước ra ngoài, sau khi dặn Othenlo nhớ khoá cửa trước khi về. Trông Quê lúc này giống một con gấu to xám to béo và xù xì với khuôn mặt hiền lành của một đứa con nít. Quê rẽ qua toa lét ngắm mình trong gương một chút và cố gắng nhét mớ tóc quăn chỉ trực xổ tung ra vào lại trong mũ dại. Một con bé tóc hung mặc jupe ngắn đi tất len màu đen suýt đâm sầm vào Quê. Nó cau mặt, chui tọt vào một góc, rút thuốc ra châm lửa rồi khạc nhổ ầm ĩ như ở chỗ không người. Nhìn nó, Quê lại nhớ hồi mới vô trường, cô cũng học đòi như thế cho ra vẻ dân nghệ sĩ của thành Paris hoa lệ. Nhưng chỉ được vài ngày thì thấy chán, thấy cuộc sống vẫn tiếp tục vô vị nhạt nhẽo lại tốn tiền quá nên thôi.

Hành lang từ phòng học dẫn ra sân chính đã bắt đầu thắp đèn, những cái đèn tròn xoay lắp trên đầu những tượng thần bằng thạch cao gắn lơ lửng trên các hốc tường. Mỗi lần đi qua đây, Quê không khỏi cảm thương cho kiếp đội đèn của các vị thần. Sự cam chịu và sầu não đông cứng trong những cơ bắp cuồn cuộn và đường nét thanh tú trên khuôn mặt họ. Sự sầu não đó trong những ngày mưa ướt át và ảm đạm lan sang cả Quê. Cô thường đến trường với bộ mặt dàu dàu và bị bọn bạn chọc quê với cái tên "Chổi ướt".

Ở ngoài cổng Quê gặp nhóm sinh viên nam lớp trên ăn mặc lôi thôi lếch thếch, tóc tai dài thậm thượt và phun khói thuốc lá như những đầu tàu. Một thằng trông thấy Quê liền huýt một tiếng sáo chói tai. Hắn nhào tới và làm như vô tình phả một luồng khói khét lẹt vào mặt Quê: "Ê, Chổi ướt, về sớm thế? Tối nay đi với bọn anh không? Có party ở nhà thằng Charles…". Cả bọn quây lấy Quê chọc ghẹo, tuồng như cô vừa từ trên trời rớt xuống với mặt xanh nanh vàng quái dị. Nhưng như thế này dễ chịu hơn, Quê nghĩ thầm. Chứ hôm đầu vô trường, bọn sinh viên chỉ nhìn Quê bằng con mắt lạnh lẽo có phần khinh miệt. Chúng không tin một đứa con gái châu Á da vàng mũi tẹt lại có quyền đặt chân lên mảnh đất thánh vốn chỉ dành riêng cho chúng. Điều này nhiều lần làm Quê suýt mất bình tĩnh. Cho đến một ngày bức tranh của Quê được treo trang trọng trong phòng triển lãm của trường, bọn chúng mới kiêng dè Quê một chút. Bây giờ Quê đã có thể ngước đôi mắt mí lót đen láy của mình lên, nhìn thẳng vào chúng và cười nụ cười của Đức Mẹ: "Xin lỗi, tối nay tôi bận rồi". Cô quay lưng vội vã bỏ đi. Hai ống tay dài thõng thượt xuống tận đầu gối. Cái túi bằng vải nỉ đeo trước bụng có lẽ nặng lắm nên cả người cô cứ chúi về trước, nom khổ sở hết sức.

Tan sở lúc sáu giờ chiều, Tam mới sực nhớ hôm nay là thứ sáu. Theo lịch, chiều thứ sáu Tam không phải nấu cơm mà sẽ ghé qua quận Mười Ba, vào quán Hoà để dùng một tô phở nóng, một tô xí quách và hay ly rượu nếp than. Trời rét cắt da cắt thịt. Băng vỡ lạo xạo dưới giầy Tam. Chỉ cần nghĩ đến tô phở và những cái xí quách to tướng bám đầy thịt vớt ra từ thùng nước lèo. Tam đã thấy nóng ra cả mặt. Tam nhìn đồng hồ, chí ít thì cũng phải một tiếng nữa Tam mới có mặt ở đó.

Trong toa tàu điện ngầm vẫn còn thưa khách nên Tam chọn ngay được một chỗ ngồi. Nhưng đến trạm Les Halls thì người đã ngồi đầy trên các ghế và đứng chen chúc ở bất kỳ chỗ nào còn trống trên sàn toa. Tam nới cổ áo để cho dễ thở hơn. Anh muốn ngủ một chút nhưng tiếng ồn cứ âm ỉ bên tai khiến anh không tài nào chợp mắt được. Anh lấy tờ báo ra giả vờ đọc kỳ thực là để quan sát những gương mặt đang bao quanh lấy anh lúc này đây. Bọn họ đều ra vẻ thờ ơ với thế giới xung quanh để toan tính một chuyện riêng nào đó của mình trong cái nhăn trán, nhíu mày đầy suy ngẫm. Nhưng chỉ cần anh chuyển động người một chút là nguời đàn ông béo ị đội mũ nồi đỏ ngồi trước mặt anh sẽ nhìn anh để dò xét và cho hai tay vào túi quần để giữ chặt cái bóp tiền ngay lập tức. Hoặc bà già khô đét như một con cá khô có mái tóc giả màu tím ngồi sát cạnh Tam sẽ thu tay ôm chặt cái túi da căng phồng vào trong lòng. Tam cười khẩy, tôi thừa biết các người nghĩ gì rồi. Vì màu da vàng của tôi, vì đôi mắt một mí màu đen và vì cái mũi tẹt của tôi mà các người mới sợ hãi đến thế phải không? Đừng có vơ đũa cả nắm như thế. Thốt nhiên Tam thấy quá chừng là buồn bã. Mình không thể trách họ được, vì dạo gần đây có rất nhiều vụ trộm cướp trên các chuyến tàu điện ngầm do dân châu Á và Ả Rập gây ra. Những tin tức loại này đăng nhan nhản trên khắp các báo.

Tam xuống sớm một trạm. Anh nghĩ mình nên đi bộ để lát nữa ăn ngon hơn. Chân Tam vẫn đạp băng lạo xạo. Người Tam nóng dần lên. Chỗ ghế đá trong công viên nhỏ, dưới một cây phong trơ trụi, một ông già trùm tấm mền rách đang ngồi chơi violon. Những bản nhạc run rẩy vì những ngón tay già nua run rẩy. Trong chiếc mũ dạ để trước mặt, lá vàng nhiều hơn tiền xu người ta bố thí cho ông. Khung cảnh này làm Tam nhớ đến công viên Luxembourg một ngày mùa thu chín ủng và mọng nước, có ông già ngồi gõ hết bản nhạc này sang bản nhạc khác trên chiếc piano cũ mèm. Lâu lắm rồi Tam không ghé qua công viên kể từ khi chia tay Nathalie. Người ta chỉ đến đó khi có đôi có cặp. Và rất có thể sau đợt nóng hổi tháng bảy vừa rồi, ông già chơi piano, cũng như rất nhiều ông già bà cả khác, đã vĩnh viễn không còn ra đó nữa. Tam lắc đầu thật mạnh, tưởng như để làm văng hết kỷ niệm ra ngoài cho nhẹ nhõm bớt. Quái quỷ, Tam cáu kỉnh nghĩ, hôm nay là ngày gì mà mình uỷ mị thế. Thật không đúng là mình chút nào.

Hai người gặp nhau ở cầu đường. Đúng ra là Quê nhận ra Tam trước. Cái dáng lêu đêu, hai vai suôn đuột và mái tóc hoe chĩa ngược cứng như một bụi cỏ khô của anh không thể lẫn vào đâu được. Quê bỏ bao tay vẫy anh bằng những ngón tay nhỏ xíu có những móng đỏ hồng. Cô cười, hai mắt tít lại:
- Chào anh, Anh khoẻ không?
- Cảm ơn em, anh vẫn thường. Công việc của em ra sao?
- Cảm ơn anh, vẫn vậy thôi.
- Chà, năm nay rét nhỉ. Chỗ em người ta đã bật máy sưởi chưa?
- Dạ chưa. Năm ngoái cuối tháng một họ mới bật kia.

Đó là những câu hỏi xã giao thông thường họ vẫn nói với nhau mỗi khi gặp mặt. Mỗi tuần gặp nhau một lần vào chiều thứ sáu, những câu hỏi khô khan đó không bao giờ thừa vì một tuần có thể xảy ra biết bao chuyện cho sức khoẻ, công việc, tình cảm…
- Em phải cẩn thận đó. Thời tiết này dễ bị bệnh.
- Dà…

Họ bước vào quán. Không khí ấm sực mùi hành trần, mùi bánh phở trụng và mùi nước lèo. Ông chủ Trần hồ hởi chạy ra: "A, anh Tam. Đến hẹn lại lên đấy à" rồi quay sang Quê, mặt cau lại: "Sao cô đến muộn thế?". Quê ấp úng: "Cháu kẹt bài ở trường". Ông Trần giục: "Nhanh chân lên, khách đang đợi kìa. Buổi nào cũng kẹt thế thì còn làm ăn cái gì nữa". Quê tất tởi đi vô trong thay tạp dề, vừa đi vừa nghĩ, gớm cái ông Trần này, có khách nào đâu mà bảo có khách đang đợi. Chỉ muốn làm khó cho mình thì có.

Tam chọn một cái bàn kê sát cửa sổ. Quê cũng vừa bước ra, cổ đeo tạp dề trắng, mái tóc quăn vấn cao trông rất dữ tính, hỏi: "Anh vẫn dùng như cũ chớ?" Rồi không đợi Tam trả lời, cô biến vào bếp rất nhanh. Chẳng cứ gì cô, mà ngay cả ông chủ Trần cũng rất rành tính anh. Hôm nay ông bê nguyên cả chai Mai Quế Lộ tới và ngồi xuống bàn cùng Tam. Tam ngó quanh, hỏi: "Hôm nay rảnh dữ hả ông Trần? Chiều thứ sáu mà cũng vắng thế này sao?" Ông Trần gọi với vào trong: "Nhớ làm tô xí quách đặc biệt cho cậu Tam nghe mày", rồi nhướng mắt ngó Tam: "Cha, cậu cả này, ở Tây lâu quá riết thành Tây rồi hả? Hôm nay ngày gì cậu đoán thử coi?". "Ngày gì ông Trần?" Tam thờ ơ hỏi. "Cậu cứ đoán thử đi". Tam nhún vai, im lặng có vẻ không thích trò đánh đố này lắm. Ông Trần bật cười ha hả: "Tôi biết ngay mà, bọn trẻ các cậu chỉ có nhớ mấy cô đầm tóc vàng chân dài thôi. Hôm nay là Ba mươi, Ba mươi Tết, cậu hiểu chưa". "Thì sao?" Tam dửng dưng hỏi.

Khái niệm về Tết ta đối với Tam là một cái gì đó quá đỗi mơ hồ. Gia đình Tam sang Pháp khi Tam còn bé xíu. Những ngày Tết ta gói gọn trong một tô miến, tô măng hoặc một miếng bánh chưng bé bằng vuông bàn tay hấp vội bằng lo vi sóng. Sau khi cha mẹ mất vì tai nạn, bánh chưng hay măng cũng không còn có mặt trong nhà Tam nữa. Anh ăn đồ Tây riết vì nhanh và tiện, chỉ dành mỗi tối thứ sáu để xuống tiệm ông Trần làm tô phở cho đỡ thèm. Tết ta hay Tết tây gì cũng thế, ngủ dậy buổi sáng là thấy mình đã gìa đi một tuổi. Có sung sướng gì. Nghe anh nói thế, ông Trần nhăn nhó: "Tôi gìa rụng răng còn chưa nói gì nữa là cậu. Ô là là, các cậu bây giờ mất gốc hết. Nhưng mấy đứa con tôi thì không đâu à nghe. Khuya nay tôi bắt chúng phải tụ tập đông đủ ở nhà. Bận gì cũng phải bỏ. Cứ tính theo mười hai giờ khuya của mình mà cúng tổ tiên thôi. Chà chà, đêm ba mươi mà…".

Quê bê phở cho Tam. Cô ngó má anh đã bắt đầu ửng đỏ. Mớ cỏ khô trên đầu có vẻ như đang từ từ ngả xuống. Trông anh ta cũng bảnh đó chứ, dù có hơi khô khan một chút.
- Của anh đây.
- Cảm ơn em - Tam ngẩng lên nhìn Quê. Có lẽ anh đã hơi quá chén, vì hôm nay anh thấy Quê đẹp và dịu dàng lạ thường.
"Quê này, hôm nay tiệm nghỉ sớm. Ngày kia cháu hãy đi làm lại nhé" - Ông Trần bảo Quê. Cô ngạc nhiên hỏi: "Sao vậy bác? Mai thứ bảy là ngày đông nhất trong tuần mà". Ông Trần nhướng nhướng mắt nhìn Tam tuồng như bảo, đó cậu thấy chưa, tôi nói cấm có sai bao giờ. Tam bảo:
- Hôm nay là Ba mươi Tết ta, cả em cũng không biết sao?

Quê xịu mắt, không nói gì. Cô lẳng lặng kê ghế ra ngồi ngó qua cửa kính. Tam và ông Trần đang bàn cãi chuyện gì ghê lắm, nhưng cô không để ý. Những bông tuyết nhỏ xíu đậu vào cửa kiếng rồi chảy tan thành nước. Lòng Quê rười rượi buồn. Cô tự trách mình sao mà đuểnh đoảng. Cả năm có một ngày duy nhất mà cũng quên. Hẳn cha mẹ và em trai cô đã mong ngóng điện thoại của cô ghê lắm. Hai năm trước, năm nào Quê cũng canh đúng giao thừa Việt Nam để gọi điện về. Vài ba tháng cô lại gọi về nhưng đêm giao thừa, dường như mọi thứ trở nên thiêng liêng hơn, nên chỉ mới nghe giọng Quê, mẹ cô đã khóc nức nở. Quê tủi thân, cũng nức nở khóc. Hai mẹ con khóc tu tu qua điện thoại, đến khi đầu dây báo tít tít vì thẻ điện thoại hết tiền mới thôi.

Mải suy nghĩ, Quê không để ý đến Tam đang nhìn mình chăm chăm. Vừa ăn vừa nghe ông Trần nói chuyện, Tam vừa nghĩ, cô bé Quê lạ thật. Chẳng nhẽ câu nói của mình làm cô ta giận sao. Trông cô ta kìa, mũi cứ nhăn lại, miệng trề ra như sắp khóc vậy. Mình có lỗi gì đâu cơ chứ. Con gái Việt Nam đến là lạ. Cứ thẳng tính như con gái Tây có hay hơn không. Tam băn khoăn mãi cho đến khi ông Trần bảo đóng cửa tiệm và Quê đột nhiên bảo:
- Anh Tam rảnh không, tối nay mình lang thang chút đi.
Hai người lặng đi bên nhau một đoạn đường dài. Băng vỡ dưới chân lạo xạo. Gió thổi rít qua tai. Tới cột điện thoại, Quê bảo Tam đợi một chút để cô gọi về nhà. Nhà ở Việt Nam kìa. Tam đợi lâu lắm, lối đâu chừng mười lăm phút mới thấy Quê bước ra, mũi đỏ rựng lên và mắt nhoe nhoét nước. Tam hỏi:
- Ba mẹ em khỏe chứ?
- Em không biết.
- Ở nhà ăn Tết vui không?
- Em không biết.
- Có đi đâu chơi xa không?
- Em không biết.
- Sao cái gì em cũng không biết hết vậy - Tam kinh ngạc kêu lên - Em vừa nói chuyện với họ mà.
- Nhưng em không biết - Quê chớp đôi mắt mọng nước nhìn Tam - Hai mẹ con đều khóc nên có nói được gì đâu.

Đấy, đấy, lại sụt sịt muốn khóc rồi. Tam ghét nhất là thấy người ta khóc. Mẹ bảo Tam từ lúc đẻ ra cho đến lớn, không bao giờ khóc. Đau hay không vừa ý thì chỉ gào lên chứ cấm không có giọt nước mắt nào rơi ra. Ngày ba mẹ mất cũng vậy. Tam không khóc được, chỉ thấy đau rát ở mắt và ngực. Nhưng với Quê, tự nhiên Tam thấy thương cô quá. Cảm giác muốn được bao dung, che chở cho cô khiến cổ họng Tam đau thắt lại. Tam choàng qua vai cô, âu yếm bảo:
- Nhớ nhà à? Rồi sẽ quen thôi.

Anh định bảo rồi cũng sẽ quen như anh quen sống một cuộc sống không có gia đình vậy. Nhưng lại sợ cô nghĩ ngợi gì nên thôi.
- Giao thừa nhà em vui lắm. Bốn bà con thắp nhang bàn thờ rồi nổ sâm panh, cắt dưa hấu. Năm nào dưa hấu đỏ là năm đó tốt lành - Quê có vẻ vui trở lại - Mà mẹ em khéo lựa dưa, nên năm nào cũng bổ đúng trái dưa ngon.
- Thế còn đốt pháo thì sao?
- Xưa rồi anh ơi. Cái trò đó giờ đâu còn nữa.
- À… vậy cũng mất vui nhỉ?
- Cũng có hơi buồn một chút. Nhưng bù lại người ta cho bắn pháo bông. Bắn tới mười lăm phút lận - Quê hoan hỉ như cô sắp sửa được trông thấy pháo bông bắn lên trời vậy - sau giao thừa cả nhà đi chùa hái lộc.
- Lộc là gì?
- Ờ, anh không biết thiệt sao? Ờ, mà tại anh rời Việt Nam sớm quá, không biết là phải. Lộc là… ừm…

Tiếng Quê bị át đi trong gió.
- … Ở đây rét quá, cây cối chẳng có tí lộc nào để mà hái, anh nhỉ?

Vì không nghe rõ lời giải thích của Quê nên Tam chỉ ậm ừ, chỉ sợ là mình trả lời lại làm cô cười thêm một trận. Quê líu ríu kể chuyện này sang chuyện kia, làm Tam cuốn theo câu chuyện cũng thấy vui lây. Tam lan man nghĩ , mình thật thiệt thòi. Có những điều tốt đẹp nhường kia mà sao không bao giờ mình có được. Ký ức chỉ là những chuyện đau lòng. Còn những ngày đang sống sao khó khăn vất vả. Đến ngay cả bọn Tây cũng chê mình là khô khan. Ước gì mình có được một chút niềm vui từ Quê, hẳn mình sẽ sống khác đi nhiều.
Quê bỗng dưng đột ngột dừng lại hỏi:
- Anh này, thế đêm giao thừa anh làm gì.
- Có lẽ là đi làm, nếu không phải ngày cuối tuần.
- Thế ba mẹ anh có làm lễ cúng tổ tiên không? Giao thừa như đêm Noel bên Tây, mọi người đều phải tụ họp về nhà. Gia đình anh không vậy sao?
- Họ mất rồi - Tam trả lời, giọng khô khan.
- Em xin lỗi - Quê nói khẽ. Cô chủ động cầm tay Tam, bàn tay to ráp và lạnh.
Cái chạm bất ngờ ấy làm Tam kinh ngạc. Chưa bao giờ anh nghĩ sẽ có lúc mình và Quê gần gũi đến mức này.

Họ ngồi xuống một ghế đá trên đại lộ Champs Elysées. Mặt Quê kề sát mặt Tam. Ánh đèn màu từ các quán cà phê soi rõ khuôn mặt tròn nhỏ nhắn và đôi mắt trong veo của Quê. Tam nghe tiếng Quê thì thầm: "Cảm ơn anh. Chúc một năm mới hạnh phúc" và cảm giác một cái hôn nhẹ phảng phất qua má. Một nụ hôn ẩm ướt còn thơm mùi phở làm Tam xúc động quá. Tam muốn hỏi cô cảm ơn anh về cái gì và thật lòng Tam cũng muốn nói cảm ơn cô, nhưng cổ họng nghẹn lại. Lần đầu tiên trong những năm tháng sống không gia đình trên đất khách quê người, Tam thấy mình thật sự muốn khóc./.

Nguyễn Thị Châu Giang






Đăng nhập để trả lời
0
Những ngày hạnh phúc

Cô gái trẻ lần đầu tiên có người con trai rủ đi hái lộc giao thừa; người mẹ ngồi ngắm đàn con đi làm ăn xa trở về quây quần quanh mâm cỗ ngày Tết; những người thân yêu trong gia đình sau nhiều năm xa cách, được nghe giọng nói, tiếng cười của nhau... Đó là những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi, bình dị mà cũng vô cùng thiêng liêng, cảm động khi Tết đến xuân về.

Nhà nghèo, lại đông con nên Tết đến thật đơn giản. Một vài cái bông vạn thọ cắm trên bàn, bánh chưng nhỏ bằng bàn tay và một nồi thịt hột vịt muối kho tàu ăn trọn ba ngày Tết. Nhưng thật sự vui và đầm ấm. Nhất là vào đêm giao thừa, ba tôi treo trên cây ổi trước nhà một phong pháo dài độ hai gang tay, đợi đến mười hai giờ sẽ cho hai anh em sinh đôi Thiên Tam, Thiên Tứ cầm nhang đốt. Đó là một việc làm rất đơn giản nhưng đã làm hai anh hồi hộp suốt từ buổi trưa. Khi viên pháo cuối cùng đã nổ tan xác, chúng tôi vào nhà và ngồi quây quanh bàn theo thứ tự. Đầu tiên là chị hai Thiên Khuê, đến hai anh Thiên Tam, Thiên Tứ, đến tôi - Thiên Tuệ - và sau cùng là cậu út Thiên Vi đang ngủ gà ngủ gật trong lòng mẹ. Ba tôi móc túi rút ra những phong bao mầu đỏ phát cho từng đứa, vừa cười vừa bảo: "Năm mới, các con thêm một tuổi phải ngoan và giúp mẹ nhiều hơn nữa nhé". Chúng tôi sướng lắm vì có được bao lì xì mầu đỏ, nên ba bảo gì cũng cứ dạ rân lên. Để ngay lập tức qua ngày hôm sau, hai anh Thiên Tam, Thiên Tứ u đầu sứt trán vì trèo cây và chị Thiên Khuê với tôi đi chơi với bọn bạn tối mịt mới về. Mọi việc trong nhà đều do một tay mẹ xoay xỏa.

Thông thường khoảng một giờ sáng chúng tôi mới bắt đầu lên giường ngủ. Tôi và chị Khuê ngủ chung trên chiếc giường nhỏ, nằm hơi chếch với cửa buồng. Tôi nằm ngoài nên có lần thức dậy sau giấc ngủ dài vẫn thấy ba ngồi cặm cụi bên bàn viết. Đó giống như là một thói quen của ông sau đêm giao thừa, ngồi viết những chữ loằng ngoằng bằng mực Tàu trên giấy đỏ hoặc vẽ những con thú biểu trưng cho năm mới trên giấy lụa bồi để sáng mồng một treo lên bàn thờ. Cái hình ảnh đó tươi đẹp đến nỗi rất nhiều năm sau, nhắm mắt lại tôi vẫn thấy nó còn mới mẻ như mới xảy ra ngày hôm qua. Mùi hương từ những bông vạn thọ và nhang trầm phảng phất, ánh đèn vàng và những tờ giấy mầu đỏ bay phơ phất dưới cánh quạt trần...

Tất cả những điều đó bây giờ đã thành kỷ niệm. Đã có một cuộc sống mới tràn vào ngôi nhà bé nhỏ này, thay đổi những điều tưởng chừng như đã trở thành vĩnh cửu.

Ngôi nhà ẩm mốc có những cánh cửa sổ sơn xanh bỗng trở nên rộng thênh thang khi chỉ còn lại mình tôi và mẹ. Ba mất năm tôi lên mười lăm tuổi. Đó là khoảng thời gian dài nhất trong đời người. Nó làm tóc mẹ bạc trắng chỉ sau một đêm nhưng đã làm chúng tôi trưởng thành lên rất nhiều.

Chị hai Thiên Khuê lấy chồng Việt kiều, sống xa quê hương vậy mà đã tròn bảy năm. Bảy năm đó chưa một lần nào chị về thăm lại nhà, ngoài những lá thư tràn ngập niềm vui và những gói quà đóng trong những hộp các tông đến từ San José. Hai anh Thiên Tam, Thiên Tứ đi làm ăn xa, thi thoảng lắm mới có tin về nhà bằng những mảnh giấy nhàu nhỏ còn dính mùi dầu nhớt. Nghe đâu họ mở một tiệm làm sắt, nhưng cũng không cạnh tranh nổi với các cửa tiệm lớn và tân tiến, nên khách đến đặt hàng thưa thớt. Trong nhà chỉ còn lại duy nhất em trai Thiên Vi học lên đại học. Mẹ tôi lo đóng tiền cho em bằng cách bán những mớ quà chị Khuê gửi về. Cứ độ khoảng ba thùng các tông là lo đủ cho em nửa năm học phí.

Thỉnh thoảng mẹ lại vuốt tóc tôi an ủi: "Con gái út ít tội nghiệp của mẹ, chỉ có con là còn ở với mẹ. Mai này cái nhà này là dành cho con. Con có lấy chồng ở đâu thì cũng về đây mà ở, để còn lo khói hương cho ông bà tổ tiên nghen con". Tôi biết tôi sẽ vâng lời mẹ, vì tôi là một đứa con gái ngoan và hiền, nhưng tận trong sâu thẳm lòng mình, tôi vẫn mơ hồ cảm thấy một nỗi buồn. Ngày ngày, sau khi dọn dẹp nhà cửa, quét dọn vườn tược xong, tôi lại trèo lên một cành ổi cao nhất, vâm váp nhất nhìn ra đường lộ. Đó là lúc tôi thấy rõ nỗi buồn của tôi nhất.

Mùa Tết lại về. Năm sau là năm Thân, là năm tuổi của tôi. Mẹ bảo, tuổi Thân thì mặc tuổi Thân, sinh phải giờ Dần thì vẫn làm quan. Tôi tuổi Thân, sinh giờ Dần, chắc chắn sẽ sướng. Nhưng sướng thế nào mẹ không nói được. Mẹ chỉ dặn, sang năm tôi phải cẩn trọng trong mọi việc. Năm tuổi, những điều không tốt hay vận vào mình. Giao thừa, mẹ sẽ cho tôi một cái bùa đeo tay để thoát khỏi mọi điều xui rủi. Với mẹ, tôi lúc nào cũng như một đứa bé gái còn rất ngây thơ.

Anh Phiên chạy xe đạp ngang qua nhà tôi, bấm chuông kính coong. Tôi chạy ra bảo: "Anh Phiên, đi chơi với bồ à? Vô nhà em uống nước chơi". Anh Phiên luống cuống dừng xe lại, mặt mũi đỏ bừng lên nom đến tội. Anh Phiên là bạn của hai anh Thiên Tam, Thiên Tứ. Anh làm việc cho phòng văn hóa thông tin xã. Một vài lần anh có đưa cho tôi xem những bài thơ của anh đăng trên báo. Đó là những bài thơ tình khá cảm động. Nhưng không hiểu sao nhân vật con trai xưng tôi đó luôn luôn bị thất tình. Hỏi thì anh ngượng nghịu bảo, mình sao thì thơ nó làm vậy.

À, vậy là anh hay bị thất tình. Tôi không hiểu người như anh làm sao thất tình được. Kiểu người như anh, bọn con gái choai choai như tôi chạy theo hà rầm. Anh cao một mét bảy mươi, người lúc nào cũng đứng thẳng tắp, lúc nào cũng mặc quần tây áo sơ mi bảnh tỏng, tóc lúc nào cũng chẻ ngôi giữa để lộ vầng trán phẳng và rộng và lúc nào cũng hiền lành. Mỗi lần tôi giận dỗi hay chọc tức gì anh là mặt anh lại đỏ lên, luống cuống không nói ra lời. Từ ngày hai anh Thiên Tam, Thiên Tứ đi làm ăn xa, anh cũng năng lại nhà tôi hơn. Nhưng bẵng đi một dạo, anh không lui tới nữa. Gặp tôi ngoài đường chỉ chào hỏi qua loa, mặt đỏ lựng lên rồi nhấn pê-đan đạp mải miết.

Chúng tôi bắc ghế ngồi ngoài sân, dưới những cành ổi đang nhú ra những quả non xanh biếc. Không khí thơm mùi đất ẩm và mùi gỗ mục. Anh Phiên hít một hơi thật sâu bảo:
- Ổi nhà mình năm nay được mùa ghê nhỉ?
- Dà. Đợi chín chắc cũng bán được ít tiền anh ạ.
- Thế nhà mình đã ngắt lá mai chưa?
- Dạ chưa. Em đang đợi Thiên Vi về, ngắt vẫn còn kịp. Chứ em bắc ghế, cũng chỉ với tới cành thấp nhất thôi.
- Ờ, tại nó cao quá mà.- Anh cười khẽ - Nếu Thiên Vi về không kịp, em cứ nhắn anh qua, anh ngắt giùm cho. Đừng ngại.

Nghe anh nói thế tôi liền nhớ lại những lần gặp nhau ngoài đường, anh cứ vội vội vàng vàng lủi đi làm tôi tức quá. Tôi nói hờn:
- Nhưng anh bận lắm mà. Đến chào hỏi em anh còn không có thời giờ chớ nói chi đến chuyện ngắt lá mai.
Anh Phiên ấp úng gì đó trong miệng rồi đánh trống lảng:
- Tết này anh chị em về chơi không?
- Chắc là không. Em đâu có nhận được tin gì của họ. Vậy đó, mấy người đó đã đi là đi mút chỉ luôn, chẳng vương vấn gia đình chút nào đâu anh ơi. - Lạ nhỉ, họ đâu phải người bạc nghĩa vậy đâu. Chắc là do hoàn cảnh khó khăn.
- Anh Thiên Tam, Thiên Tứ em không nói. Chớ chị Hai bên đó chắc chắn là sướng rồi.
- Ồi, mình bên này đâu biết bên kia họ sướng khổ sao hả em.

Chúng tôi ngồi một lát thì anh Phiên có việc phải đi. Ra đến cổng, tôi thấy mặt anh lại đỏ lên nên biết chắc anh đang có gì khó nói đây. Tôi gặng:
- Còn gì nữa không anh?
- Thiên Tuệ nè, cúng giao thừa xong em làm gì?
- Như mọi năm thôi. Em sẽ vẽ một con khỉ để sớm mồng một treo lên bàn thờ. Rồi đi ngủ.
- Anh muốn rủ em đi chùa hái lộc. Em đi được không?

Tôi vừa bất ngờ vừa sung sướng. Lần đầu tiên có một người con trai rủ tôi đi hái lộc vào đêm ba mươi. Chỉ có những đôi lứa yêu nhau mới dắt nhau đi hái lộc đầu năm như vậy. Hay anh ấy... Tôi không dám nghĩ tiếp nên chỉ bảo:
- Dạ, để em xin phép mẹ.

Anh Phiên đi rồi mà tôi vẫn thấy bồi hồi. Thốt nhiên tôi nghĩ, anh Phiên chỉ tội nghiệp tôi. Anh đang thay vai trò của anh Thiên Tam, Thiên Tứ chăm sóc đứa em gái nhỏ đáng thương. Chắc trước khi đi, hai anh đã dặn dò anh Phiên làm thế. Nhiều mùa Tết qua, năm nay anh ấy mới sực nhớ đến nghĩa vụ của mình. Ý nghĩ này làm tôi thấy bình tĩnh hơn. Nhưng nỗi trống trải và cái buồn vô cớ lại ùa vào lòng.

Ngày hai tám Tết, tôi và mẹ ngồi gói bánh chưng. Tôi ngồi lau lá dong còn mẹ xát đỗ, vo nếp. Mấy năm gần đây gia đình tôi đã có của ăn của để nhờ những gói hàng của chị Khuê gửi về, nên Tết nào mẹ cũng gói rất nhiều bánh chưng, làm mứt, gói giò thủ. Mẹ bảo để nhỡ anh chị tôi có về thì còn có cái mà ăn. Nhưng mấy mùa Tết qua nào có ai về đâu. Vậy mà Tết này mẹ vẫn gói nhiều bánh chưng mặc lưng mẹ đau từ suốt mấy bữa qua. Kiểu này chỉ có Thiên Vi là lời nhất. Sau Tết nó lại có thực phẩm để gồng gánh lên ký túc xá.

Tôi gò lưng lau hết lá này đến lá khác, cho đến khi mẹ bảo "Được rồi con" tôi mới dừng lại. Tôi phụ mẹ đổ nếp vô khuôn. Phần bỏ nhân và cột lạt mẹ không cho tôi đụng vào. Mẹ bảo, khâu cuối này quan trọng nhất. Gói lỏng tay bánh sẽ nhão mà chặt tay quá bánh sẽ nứt. Coi cách mẹ chăm chút từng chiếc bánh, tôi biết mẹ trông ngóng anh chị về lắm.

Buổi chiều bánh đã gói xong xếp đầy trên hai cái nong. Anh Phiên ghé qua nhà tôi, từ ngoài cổng đã nghe tiếng sên xe lạch cạch. Hôm nay anh bận áo thun cổ tròn, quần jean xanh nom rất lạ. Ngó anh phải trẻ ra chừng mấy tuổi. Bắt gặp ánh mắt ngạc nhiên của tôi, mặt anh Phiên lại đỏ lựng. Anh hỏi:
- Bác có nhà không Tuệ?
- Ở trỏng đó.- Tôi hơi thất vọng vì thấy anh chỉ nhắc đến mẹ.

Trời đã hơi nhập nhoạng tối nên tôi phải bật đèn. Mẹ nhắc: "Lấy nước mời anh đi con". Anh Phiên xua tay: "Dạ thôi khỏi bác, con tới thăm bác chút thôi. Con có chút quà biếu bác". Anh đặt lên bàn hai gói trà sen bọc giấy đỏ rất đẹp: "Đêm giao thừa bác nhớ pha chén trà mời bác trai giùm con nghe bác". Mẹ mủm mỉm cười: "Cái thằng này chu đáo ghê. Ai có phước mới nhận được con làm rể đó Phiên". Mẹ đặt cặp trà lên bàn thờ rồi quay sang hỏi anh: "Đã có đám nào chưa con?". Tim tôi bỗng nhiên thót lên một cái. Hai bàn tay vặn vẹo vào nhau lúc nào không biết. Tôi chỉ cảm thấy dễ thở lại khi nghe anh nói: "Dạ chưa bác. Con vầy ai mà ham bác ơi".

Tôi đưa anh ra cổng. Bóng tối len lỏi trên những tàn cây đẫm nước. Cơn mưa trái mùa hồi trưa đã gột rửa sạch sẽ những bụi bẩn bám trên lá lâu ngày. Không khí mát rười rượi. Anh Phiên ngồi lên xe đạp, bảo:
- Nhớ nghen Tuệ.
- Nhớ gì kia?- Tôi ngơ ngác.
Sau giao thừa anh qua đón em đi chùa.
Chưa kịp đợi tôi trả lời, anh đã phóng xe chạy mất.

Chúng tôi đợi đến mười hai giờ kém năm phút thì thấy thất vọng quá. Vậy là cả năm nay nữa, chị Thiên Khuê, hai anh Thiên Tam, Thiên Tứ cũng không về. Mẹ ngồi bần thần bên cửa, cố nén tiếng thở dài. Tôi biết mẹ buồn lắm nhưng mẹ không dám giận, dám trách. Thiên Tam, Thiên Tứ là con trai, một bước đi không vấn vương quay đầu trở lại mới mong làm việc lớn. Còn chị Khuê, đâu phải chị không nhớ tới chúng tôi. Chị vẫn gửi quà về đều đặn và chúng tôi đã sống trên những gói hàng đó hằng bao năm trời. Hẳn phải có một lý do nào đó mới khiến chị không về thăm chúng tôi.

Giao thừa lại lặng lẽ trôi qua. Mẹ và Thiên Vi đã đi ngủ. Mùi nhang trầm bay phảng phất. Tôi lấy giấy mầu, bút mực Tàu ra vẽ. Mẹ thường bảo trong mấy chị em, tôi vậy mà lại giống ba nhất. Giống dáng người, nét mặt đến tính cách. Có cái gì đó hoài cổ ở trong tôi. Như lúc này đây, trong ánh đèn vàng mơ hồ và tịch mịch, khi tôi làm tiếp công việc của ba để lại, tôi thấy nhớ người da diết. Những ký ức tuổi thơ lại trở về. Tôi lại hỏi mình, nếu tôi cũng đang ở bên trời Tây như chị, tôi có còn sự lưu luyến như thế này không?

Con khỉ vừa vẽ xong thì có tiếng gõ cửa. Tôi mới sực nhớ khuya nay có hẹn với anh Phiên. Tôi vừa thò đầu ra thì anh Phiên hỏi:
- Đi được không Tuệ?
- Dạ được chớ. Anh đợi em chút, em sắp lại giấy mầu đã.

Nhưng kỳ thực là tôi chạy vô soi gương. Tôi lấy thêm chút dầu dừa quết lên tóc cho mượt. Lần đầu tiên trong đời tôi vụng về thoa một chút son lên môi.

Anh nhấn bàn đạp. Chiếc xe lắc lư rồi từ từ bon trên đường làng. Tiếng gió thổi vun vút qua tai. Anh quay lại dặn:
- Em cẩn thận coi chừng té. Bám anh chắc vào.

Tôi dạ khẽ rồi đưa tay túm chặt áo anh. Thỉnh thoảng gặp phải đoạn đường xấu, xe nẩy tưng tưng làm tay tôi chạm phải hông của anh. Người tôi gai lên. Tim đập dồn dập. Xung quanh tôi vang lên những tiếng cười nói âm i. Những ông bà già, những cặp tình nhân cũng đi hái lộc đầu xuân, cầu ước gia đình thuận hòa yên ấm, cháu con đề huề và đôi lứa sẽ bên nhau bền lâu. Còn tôi, tôi sẽ ước gì đây?

Đến nơi, chùa đã đông nghẹt người. Chắc chắn không lọt được vào trong sân, mà có khi cũng chẳng còn lộc non nào để hái. Chúng tôi đứng trù trừ một lúc thì anh Phiên nản:
- Thôi vậy. Mình không hái lộc ở chùa được thì ra chỗ khác hái vậy.
Chúng tôi chở nhau về. Ngang qua hàng khuynh diệp, anh Phiên bảo:
- Mình xuống đây hái chút lộc chơi.

Đêm không trăng nhưng vẫn có một thứ ánh sáng mờ ảo và thơm ngát lan tỏa khắp nơi. Chân chúng tôi đạp lên cỏ lụp thụp. Chúng tôi ngồi nghỉ bên một đống rơm khô và im lặng rất lâu. Cuối cùng anh Phiên hỏi, vẻ rất khó khăn:
- Chị Thiên Khuê dạo này sao rồi Tuệ?
- Chị ấy vẫn vui, khỏe. Đã có hai nhóc rồi đó anh.
- À. Chị ấy có hạnh phúc không?
- Em không biết. Nhưng chắc là có, vì thơ chị gửi về lúc nào cũng vui. Chỉ hỏi thăm anh nữa đó.

Không thấy anh trả lời. Tôi quay sang, thấy anh đang nghĩ gì lung lắm. Đột nhiên anh đứng phắt dậy, bảo:
- Mình về thôi Tuệ.
Tôi líu ríu đi theo anh. Mùi lá khuynh diệp làm tôi khó chịu quá, nên mắt và mũi cứ cay xè.

Tới cổng nhà, chúng tôi chia tay nhau mà không nói với nhau câu nào. Tôi nán lại thêm một chút, hy vọng anh sẽ quay lại, nói một điều gì đó với tôi, như chúc mừng tôi năm mới hạnh phúc chẳng hạn. Tôi đợi luống chừng mươi phút thì anh quay lại thật. Anh luống cuống xuống xe, luống cuống cầm tay tôi, giọng bỗng khàn đi:
- Tuệ, anh muốn nói là anh...

Tôi gật gật đầu. Tôi biết mặt anh giờ chắc phải đỏ hơn cả gấc chín nên chẳng cần anh nói hết tôi vẫn hiểu. Tôi gật gật đầu, siết nhẹ tay anh. Đêm đó, phải hơn bốn giờ sáng tôi mới ngủ được. Một giấc ngủ thật êm đềm.

Tôi thức dậy vì nắng rọi thẳng vô mặt và vì những tiếng ồn ã ngoài phòng khách. Vừa thấy tôi lấp ló ở cửa buồng, Thiên Vi đã hét toáng lên:
- Chị Năm, coi ai về nè?

Chỉ nghe nó hỏi vậy là tôi đã biết liền. Tôi chạy ào ra, sững sờ. Ngồi quây quanh mẹ có hai anh Thiên Tam, Thiên Tứ, lại có cả chị Thiên Khuê nữa. Tôi lắc mạnh đầu, không tin ở mắt mình. Cho đến khi anh Thiên Tam lại gần, vỗ đầu tôi bồm bộp như hồi tôi còn con nít và bảo: "Cha, con bé này giờ ra dáng quá ta" tôi mới tin tất cả những điều này là sự thực.

Chị Khuê đang dụi đầu vô vai mẹ, nghe tiếng tôi vội ngẩng lên. Chị lại gần, đưa tay sửa cổ áo và vuốt lại tóc tôi cho thẳng thớm. Những cử chỉ âu yếm đó vẫn hệt như ngày xưa, khi chị thay mẹ chăm sóc cho tôi. Khuôn mặt, dáng người chị có đẫy lên nhưng vẫn thanh tao nhẹ nhõm. Chỉ có đôi tay là khác. Những đầu ngón tay nhăn nhúm, đỏ hồng như bị lột da. Thấy tôi ngó chăm chăm vào chúng, chị rụt tay lại, cười: "Bên đó đang lạnh lắm. Chị bị dị ứng thời tiết" (Về sau tôi mới biết bên đó chị đi làm móng tay, ngâm nước từ sáng sớm đến tối mịt bất kể trời nóng hay lạnh. Thuốc và nước đã hủy hoại da tay chị). Anh Thiên Tứ cũng đứng dậy hỏi: "Lớn bằng vầy rồi, lúc nào mới cho anh chị ăn kẹo đây? Không thích con trai ở đây thì anh giới thiệu cho một cậu ở thành phố, ga-lăng khỏi chê" và cười ầm ĩ khi thấy tôi đỏ mặt. Anh lúc nào cũng thế, chỉ thích chọc tôi cho đến khi tôi phát khóc mới thôi.

Tôi hỏi: "Sao hay vậy, bộ anh chị có hẹn sao mà về nhà cùng lúc vậy? Sao không báo cho tụi này một tiếng?". Chị Khuê cười: "Thiên Tam, Thiên Tứ muốn gây bất ngờ cho cả nhà. Chị định về từ hôm hai chín Tết kìa, nhưng trễ máy bay. Chị hẹn gặp Thiên Tam, Thiên Tứ rồi mấy chị em kéo về một lúc luôn". Mẹ mê mải nhìn các anh chị, miệng lẩm bẩm liên hồi: "Cha bây, làm mẹ đứng cả tim. Làm mẹ đứng cả tim...".

Lâu lắm rồi tôi mới thấy mẹ có một ngày vui như thế. Mẹ như trẻ ra, mắt môi rạng rỡ. Mẹ bảo các con cứ nói chuyện với nhau, để mẹ đi làm bếp. Nhưng tay mẹ cứ run lập cập vì mừng quá, đụng vào đâu đổ đấy. Tôi và chị Thiên Khuê xuống bếp, thấy nước mắt mẹ chảy ròng ròng. Chị Khuê ôm choàng lấy mẹ, cũng thút thít khóc. Lúc mẹ mang thức ăn lên phòng khách, chỉ còn lại tôi, chị bảo: "Tội nghiệp mẹ, nhưng bên đó kinh tế của chị cũng khó khăn lắm em ạ. Anh rể thất nghiệp, một mình chị xoay xỏa nuôi gia đình. Chị không thể về hàng năm được. Em giấu, đừng cho mẹ biết nhé". Tôi lặng nhìn khuôn mặt thân yêu của chị. Lúc này tôi mới biết chị không còn trẻ nữa. Những vết chân chim đã chạy lăn tăn dưới mắt chị.

Cơm dọn xong, hai anh Thiên Tam, Thiên Tứ ở đâu chạy về. Anh rủ cả anh Phiên tới chơi. Vừa bước vô nhà, có lẽ không được báo trước nên vừa nhìn thấy chị Khuê, anh Phiên đứng sững lại. Mặt anh không đỏ mà tái đi. Tôi thấy rất rõ cái nhìn thảng thốt của anh hướng về phía chị. Chị Khuê tuồng như không biết, đon đả chào: "A, cậu Phiên. Lâu quá rồi không gặp, coi bộ cậu chững chạc ra nhiều. Cậu đã cưới vợ chưa?". Anh Phiên ngượng nghịu đáp: "Dạ chưa. Chị Khuê về lần này lâu không? Sao không dẫn anh và hai cháu về chơi?". "Ôi, ảnh bận lắm cậu ơi. Còn sắp nhỏ, chúng bận học...". Anh Thiên Tam kéo ghế mời ngồi nhưng anh Phiên từ chối. Anh viện lý do trưa nay nhà có khách phải về tiếp. Tôi đưa anh ra cổng, còn nghe tiếng anh Thiên Tứ thắc mắc: "Cái thằng lạ. Vừa bảo trưa nay rảnh có thể ngồi nhậu với bọn mình đến tận chiều. Giờ lại có khách là sao?".

Chúng tôi đi qua vườn. Tiếng một con chim kêu lảnh lót đâu đó sau những tán ổi rậm rạp. Tôi muốn hỏi anh đã có chuyện gì xảy ra thế nhưng cổ họng nghẹn lại. Anh Phiên bảo: "Chị ấy chẳng thay đổi gì cả". Tôi cũng bảo, giọng chua chát: "Dạ, chị ấy vẫn xinh đẹp như xưa". Anh quay sang nhìn tôi, nắm tay tôi và dịu dàng lau giọt nước mắt vừa từ mắt tôi rơi xuống, bảo khẽ: "Nhưng mọi chuyện đã là quá khứ rồi, Tuệ ạ".

Khi tôi quay trở lại, mọi người đã ngồi vào bàn. Chị hai Thiên Khuê, hai anh em sinh đôi Thiên Tam, Thiên Tứ, một ghế trống dành cho tôi rồi đến em út Thiên Vi. Tất cả mọi điều diễn ra giống hệt như ngày xưa. Chỉ còn thiếu vắng mình ba. Nhưng thật ra không phải thế. Ba vẫn ở bên chúng tôi, hằng ngày hằng giờ. Như phút giây này đây, sau làn khói nhang nghi ngút, người đang nhìn chúng tôi mỉm cười. Một nụ cười đẹp nhất, ấm áp nhất mà tôi có được trên cõi đời này.

Nguyễn Thị Châu Giang







Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2004-11-23 17:18:11ct.ly>
Ba mẫu truyện ngắn này đã được mang vào thư viện



Ngày xưa

Bấy giờ tôi vẫn chưa biết tên thật và nhà cửa lão. Ngày nào cũng tầm trưa, tiếng rao của lão lại dạo ngang qua nhà:
"Ai... Nhôm nát giấy vụn bán đi.
Ai... Nhôm nát giấy vụn bán đi"...

Vẫn giờ ấy. Giọng điệu ấy. Như một câu hỏi bâng quơ, lại có phần hờ hững.

Tiếng rao của ông lão làm cả dãy nhà tầng 1 khu chung cư này phải chú ý. Nhiều cánh cửa sổ vội mở ra. Tiếng rao đi qua, người ta lại xầm xì bàn tán. Nhiều người quả quyết đã từng nghe cái giọng nói như thế, quen thuộc lắm, mà chưa ai nhớ được rạch ròi.

Chỉ lạ, lão rất kén hàng. Vỏ hộp sữa, vỏ lon bia không mua, bảo chỉ có mười phần trăm nhôm nguyên chất. Đã là đồng nát mà còn chọn nguyên chất, kể cũng lạ. Là rao thế cho thuận miệng, lão giải thích. Nhưng xem ra không phải. Chừng như lão mượn cớ để đi tìm cái gì đó. Cả dãy nhà này ít thấy ai bán được thứ gì cho lão. Người ta chờ lão đi qua cốt để nghe cái giọng rao đặc biệt ấy thôi.

Chính tôi cũng phải bật cười khi nghe cái tiếng rao lạ tai như thế. Không phải tiếng rao của đàn bà, con gái đi mua đồng nát ta thường gặp. Cũng chả phải tiếng rao của loại thanh niên láu tôm láu cá đi mua nồi cơm điện và máy bơm nước hỏng với giá bèo bọt. Tiếng rao của ông lão không to tát, chỉ như một câu hỏi khẽ vọng vào nhà. Không có vẻ là chuyện mua bán. Tưởng như lão vừa đi vừa nói to lên cái câu gì đó rất vô nghĩa mà chính lão cũng chả bận tâm.
Người lớn bắt chước trẻ con, gọi lão là "ông đồng nát".

Hôm được về sớm chuẩn bị đi miền Nam, tôi bắt gặp "ông đồng nát" ngay cửa nhà mình. Ông lão tóc bạc phơ ngồi cạnh cái xe đạp "Phượng hoàng" cũ, tróc sơn nham nhở, dựng sát cổng. Cái túi bạt lép kẹp treo một bên poóc-ba-ga. Quyển tạp chí cũ giấy đã ố vàng, trải trên đầu gối. Ông lão mê mải đọc. Trẻ con xúm xít bâu quanh. Thằng Sơn nhà tôi đứng sau lưng vòng cả hai tay qua vai ông, chắc thuộc diện ưu tiên. Khách "nhí" hơn ngồi xếp vòng tròn. Một đứa lịch sự ngồi trên đôi dép lê, còn tất cả ngồi bệt xuống thềm xi-măng lắng nghe chăm chú. Không biết "ông đồng nát" đọc cái gì mà chúng nghe chăm chú thế. Lúc thì cau mày, lúc lại cười rộ lên.

Sợ làm tắt mất cảm hứng của họ, tôi nán lại chờ, nhân thể cũng muốn lại gần nghe xem ông đang đọc những gì. Nhưng ông lão phát hiện ra ngay, đứng dậy, bối rối như người mắc lỗi. Ông gấp cuốn sách, vội vã dắt chiếc xe đạp cũ kĩ bước đi. áo lông Đức cũ khoác hờ, cái mũ lông kiểu Hồng quân Nga thời chiến tranh vệ quốc, xoè hai mảnh che bên tai. Ông quay lại vẫy tay chào 1ũ trẻ rồi cắm cúi đạp xe đi.
***
Vào thành phố Hồ Chí Minh, tôi bù đầu với công việc. Quan trọng nhất là lo tổng duyệt cho đám cưới út Huệ thì việc này lại trục trặc.
Cuối tuần hai chị em mới được ngồi lại với nhau... Huệ vẫn thế, còm nhom, chả thay đổi so với khi ở Hà Nội. Mỗi mình nó đến. Thành lại bận việc đột xuất nhưng tôi ngờ rằng hai đứa giận dỗi nhau. Không thấy Huệ đả động đến chuyện cưới. Nói một câu xanh rờn "phải chờ người ta sáng tạo xong đã". Rồi nói chuyện "dưa lê" đủ thứ, toàn chuyện nhớ Hà Nội ngày xưa, những lần theo mẹ đi lễ trên Phủ Tây Hồ được bồi dưỡng tô bún ốc, về nhà vẫn xuýt xoa cay rát cả môi.
Ba tôi nhắn vào chỉ vì chuyện của hai đứa, mà bọn nó thì đủng đỉnh.
Huệ sợ tôi chưa hiểu, nói nghiêm chỉnh:
- Anh Thành đang làm dở bộ phim thay cho luận văn tốt nghiệp. Anh ấy muốn bảo vệ xong xuôi thì lúc đó tổ chức đám cưới trước Tết là hay nhất. Chỉ khổ nỗi...
- Thế còn mắc ở khúc nào?
Em gái tôi được thể nói nhấm nhẳng:
- Đi suốt ngày, mò xuống cả An Giang, Cần Thơ nữa, "đa tốn" lắm, làm gì còn tiền mà cưới với xin. Thế mà vẫn kêu chưa đủ tài liệu, chị bảo có chết không? Đã thế em cho hoãn vô thời hạn luôn...
Tôi an ủi:
- Phải thông cảm với nó. Năm năm "hợp đồng" rồi, bây giờ cái phim này của nó là bài thi công chức đấy. Làm không ra gì thì lại công toi. Mấy lần mừng hụt rồi còn gì nữa!
Nó ngồi im, giở thói nhè hồi trước. Muốn gỡ rối cho cậu em rể tương lai, tôi hỏi:
- Thế lần này cậu ấy làm phim gì mà vất vả thế? Chị thấy Thành làm nghề mấy năm nay rồi, tay nghề của nó đâu có xoàng...
Huệ như bị chạm nọc, xả liền một tràng:
- Đấy, bực mình nhất là chỗ đó. Đang yên lành, mỗi tháng một cuộn băng quảng cáo, kiếm vài triệu ngon ơ. Giờ húc đầu vào dự thi. Đã thế còn chơi hẳn thể loại mới, phim không lời bình. Lại toàn chuyện người ngày xưa... Chưa cưới mà đã bướng lắm rồi. Lấy người cùng cơ quan kẹt thế đấy chị ơi. Lát nữa Thành đến, chị khuyên bảo giúp em với.
Thấy cần phải thuật lại câu chuyện ba kể sáng nay, tôi nói:
- Dân ngoại đạo, chị giúp sao được. Hơn nữa, chị đã "búc" vé rồi, sẽ bay chuyến chiều mai. Em đừng riết róng Thành, tội nó. Chị chưa biết mặt, nhưng mà ba đã chịu nó là quá ổn rồi. Ba khen phim "Ơi ngày xưa" của cậu ấy là một ý tưởng tốt đẹp Vì nó nhắc tới những người bình thường, không chức tước danh hiệu gì mà rất đáng nhớ trong một thời gian khó của đất nước. Cơ quan chỉ cho hai triệu, còn thì tiền túi, kể cũng kẹt thật. Em cố vay mượn phụ giúp cho Thành. Chị mới gửi vào tài khoản của ba được năm triệu để 1o đám cưới cho em, giờ nói ba rút về đỡ cho nó chút đỉnh.
Huệ vẫn thói ương ngạnh, lầu bầu:
- Cả chị cũng thế nốt. Có làm phim đâu mà biết. Phải tính đầu ra, phải làm phim kiểu Hàn quốc mới mong có lãi. Đằng này phim kiểu gì mà chả có cốt truyện. Hôm đem duyệt, mới xem nháp đã bị đổ. Đấy, chị tưởng nói chuyện ngày xưa mà dễ hả, vẫn kèn cựa nhau như thường. Làm lại đến mấy lượt rồi đấy bà chị ạ.
***
... Năn nỉ mãi, ba tôi cũng xuôi, đồng ý ra Bắc ăn Tết. Đám cưới Huệ phải hoãn đến sang năm. Bộ phim Thành làm đã duyệt xong, được khen kịch bản tốt, hình vững, nhưng vẫn phải quay bổ sung trường đoạn cuối.

Bố con thằng Sơn nghe tin ông ngoại ra Hà Nội, reo ầm lên trong máy "di động". Bố xách nước lau nhà, thằng Sơn nhận phần thu dọn sách báo cũ bán cho "ông đồng nát". Lúc gọi được taxi ra sân bay thì thằng bé lại dở chứng không đi. Lí do nghe rất dễ thương "con tình nguyện ở nhà để dọn nốt căn phòng cũ của ông bà ngoại".

Nhưng sự thể lại không hẳn thế. Về tới nhà mới biết nó có ý đồ hẳn hoi. Nhà cửa vẫn ngổn ngang, chỉ mới tống được đống giấy báo cũ.

Trên bàn phòng khách lại có cái bì thư, ngoài đề dòng chữ viết nghiêng rất đẹp: "Chúc mừng năm mới". Vội nhìn nhanh khắp nhà, đồ đạc không suy xuyển. Thằng bé hớn hở khoe:
- Mẹ tưởng đấy là tiền bán giấy báo cũ chắc? Của đâu mà sộp thế. Tiền "ông đồng nát" thưởng cho con đấy ạ.
- Tiền nào? Sao lại được thưởng? - Nghe thế, ba tôi cũng từ trên gác vội bước xuống. Thằng nhỏ đứng chắn dưới chân cầu thang kể lể một hồi:
- "Ông đồng nát" ấy thu mua cả băng cát sét cũ, giá lại cao hơn giấy báo cũ, thế mới "chất" chứ. Con thấy trên phòng cũ của ông bà ngoại vô khối băng cát sét cũ để mốc trắng cả. Chỉ một cuộn băng là có hộp hẳn hoi, gói trong khăn mùi soa cẩn thận. Bên trong có cái hoa nhài khô quắt queo. Con phải bắc ghế lên với mãi mới lấy được.
Ba tôi hỏi dồn:
- Thế cháu đã lấy đúng cuộn băng ấy ư?
- Vâng ạ. Mới đọc mấy chữ ngoài vỏ hộp, ông ấy đã mừng quýnh, giữ chặt như sợ cháu đòi lại. Cái chữ "Câu hát tìm nhau" có đúng ông ngoại viết ngày xưa không ạ? "Ông đồng nát" ngắm nghía mãi cuộn băng, soi lên soi xuống rồi ngồi mãi trên cái ghế kia kìa. Khi thấy cháu khoe cả nhà lên sân bay đón ông ngoại tối mới về thì ông ấy xin tờ giấy trắng rồi ngồi viết gì ấy. Xong lại giở tiền ra đếm. Ông ấy chọn toàn tờ "năm chục" mới để tất trong phong bì kia kia.
Tôi vội vàng bóc cái bì thư :
"Thưa quý gia đình.
Chỗ giấy báo cũ cháu bé tự cân lên được bảy lạng. Tính dôi lên thành 1.500 đồng, tôi đã trả đủ. Chỉ có cuốn băng cát-sét cũ cháu lấy xuống để bán, lẽ ra phải đợi người lớn về mới dám mua. Nhưng xin quý gia đình thông cảm, đây lại chính là câu chuyện hồi trẻ tôi đã đọc cho rất nhiều người nghe. Tôi mừng muốn khóc luôn.
Nhờ cơ may này mà tôi được gặp lại ngày xưa của mình. Thật phúc đức quá.
Thế là tôi đã toại nguyện.
Vô cùng biết ơn và xin được tha lỗi.
Có chút tiền mừng tuổi cháu bé, không dám có ý gì khác. Vì tôi biết chẳng ai mua được ngày xưa...
Kính thư - Lê-Phớt".
Ba tôi ngồi phịch xuống xa lông, mặt tái nhợt. Giọng ông trở nên nặng nhọc:
- Không chừng chính là Lê-Phúc hồi xưa rồi. Cái tên hiệu người đó hồi ba còn trẻ đã rất quen tên biết tiếng. Gặp hôm cha đó đọc truyện thì nghe "đã" lắm. Chả cứ ba má đang công tác ngoài Bắc, mà đi đâu cũng thấy người ta khen cái giọng đọc khác lạ của cha ấy. Sao giờ lại kí tên Lê-Phớt, nghe lạ hoắc vậy? Mà Lê-Phúc ngày xưa là thế. Không lẽ bây giờ?...
Rồi quay sang tôi, ba giảng giải:
- Cuộn băng ấy là chút kỷ miệm còn lại Ba quí nhất. Trước hết vì đó là kỷ vật của mẹ các con. Hồi con làm nghiên cứu sinh bên Đức, mẹ ốm đau suốt. Mấy năm cuối thuốc thang chạy chữa, mẹ được an ủi là nhờ có cái đài cát-sét luôn ở bên cạnh. Cứ tới giờ "Đọc truyện đêm khuya" là mẹ đòi cả nhà tắt đèn cho mẹ nghe. Một hôm nghe cái truyện "Câu hát tìm nhau" mẹ khóc thôi là khóc. Câu chuyện thì ba đã xem trong tạp chí "Văn nghệ Quân đội", ý tứ hay lắm. Sau này nghe nói có dựng thành phim. Nhưng hồi đó nghe Lê-Phúc đọc mà thấy lạnh sương sống luôn. Đã thế mẹ con lại đòi thu vào băng. Bố lỡ lời nói chọc tức: "Chắc thằng cha đó có cái giọng phù thủy hay sao mà cái truyện nào hắn đọc là y như rằng bà đòi thu băng". Từ bữa đó, mẹ con gói cất cuốn băng luôn...
Tôi cũng như Huệ, không thích những chuyện cũ ngày xưa:
- Chuyện người già buồn thế ba giữ lại làm gì cho mệt.
Ba tôi thở dài:
- Đã hứa ăn tết xong sẽ đem cuốn băng ấy vào cho thằng Thành để nó thêm được chút gì nữa của ngày xưa. Nó đang muốn bổ sung cái trường đoạn cuối mà. Giờ thì lỡ cả rồi...
Nghe ba nói tôi cũng phân vân. Sao có người lại viết sai tên mình. Mà sao cứ phải đi tìm lại ngày xưa, khi hiện tại có quá nhiều việc phải làm...
Sáng hôm sau, thấp thỏm chờ. Thằng Sơn cũng chưa thấy về. Cô Thuỷ hàng xóm mách: "Hôm nay rét quá, bọn chúng chuyển chỗ chơi, đang túm tụm bên dãy nhà Đ. ấy".
Tôi đi vòng sang. "Lão đồng nát" đang ngồi đấy. Những đứa trẻ xúm quanh.

Đến lượt tôi bị hút hồn vào cái giọng đọc của lão. Lão chăm chú đọc, không còn biết đến xung quanh. Lắc lư như lên đồng, không phải là đọc nữa, Lão đang gọi hồn vía con chữ về nhập thế. Bàn tay trái có một ngón hơi co quắp, giơ lên hạ xuống đánh nhịp, như ướm thử giai điệu cho một lời ca. Lũ trẻ không biết giá rét, vẫn xúm đông, vây chặt xung quanh. Nét mặt đứa nào cũng nghiêm trang như người lớn. Tôi khẽ lách vào, nghe lão run run đọc mấy lời cuối: "Tiếng hát cứ chơi vơi,... chơi vơi...".
Quay về kể chưa hết, ba đã kêu lên: "Đúng cái câu cuối truyện ấy rồi" và giục chạy ra mời "Lão đồng nát" vào nhà.
Nhưng ngoài ấy vắng tanh. Bọn trẻ đã tản đi đâu hết. Chỉ nghe gió lạnh từ sông ào ạt. Xa kia có bóng người bé nhỏ đang đẩy xe đạp đi ngược bờ sông. Tôi gắng sức gọi rõ to:
- Ông "đồng nát" ơi,... Ông "đồng nát" ơi.
Người dưới bờ sông kia vẫn lầm lũi bước. Bất chợt như ai xui khiến, tôi khum hai bàn tay, gắng hết sức gọi to lên lần nữa:
- Bác Lê-Phúc ơi... Bác Lê-Phúc ơi...
Người kia chợt đứng sững lại nghe ngóng. Đúng ông Lê-Phúc thật rồi.
Ông già đứng như chôn chân giữa bãi vắng. Tôi luống cuống chạy theo bờ sông. Ông vẫn không hay biết, không quay lại. Ông mê mải nhìn ra mặt sông chỉ còn mảnh nắng cuối ngày đang chới với. Rồi ông lại dắt xe, lầm lũi bước trong ánh chiều chạng vạng.
Từ nơi ông, gió thổi về tiếng rao khàn đục, mờ đến nhạt nhoà:
- Ai nhôm nát giấy vụn b..án... đi ? Ai nhôm nát giấy vụn b..án...đi!..../.

Hạ Chí Anh






Đăng nhập để trả lời
0
Ngọc lan


Tiếng xe ngựa lọc cọc chở hàng bông từ xóm trong ra chợ quận đánh thức Lan dậy. Lan hé mắt nhìn ra ngoài cửa sổ. Trời tối nhờ nhờ, nhánh trứng cá vẫn còn cụp lá. Sớm chán. Lan quắp cái gối ôm, co người như con tôm luộc, nhắm mắt định ngủ tiếp nhưng mãi không ngủ lại được. Thật tiếc, lúc nãy Lan đã mơ thấy chuyện gì vui lắm. Hôm nay là chủ nhật, không phải đến trường. Ngày đi học thì mặc đồng hồ reng, mặc mẹ gọi năm lần, bẩy lượt, mắt vẫn mở không lên. Ngày nghỉ không ai kêu cũng dậy. Có tiếng lục đục dưới nhà, chắc là mẹ. Mẹ luôn là người dậy sớm nhất. Tiếng máy may khua lên lạch xạch nhè nhẹ, Lan giở chiếu lên nhìn xuống khe gác, chỉ thấy một phần lưng và cái búi tóc tròn của mẹ rung rung theo nhịp đạp chân. Sắp tết, quần áo nhiều quá, một mình mẹ phải thức khuya dậy sớm. Lan ngồi bật đậy, đi rón rén xuống nhà. Nghe tiếng chân, mẹ hỏi: Đói bụng ngủ không được hả? Lan đứng tựa vào người mẹ: Có cái nào dễ dễ, con may phụ. Đưa cho Lan một xấp quần đùi bằng vải đen, mẹ bảo: May kỹ một chút. Đường đáy nhớ đạp hai lượt cho chắc. Vừa làm, Lan vừa thắc mắc: Nhà toàn đàn ông hay sao mà may một lúc cả chục cái quần xả lỏn hả mẹ? Mẹ ừ ào: Của thằng Thuấn lò bánh mì bên đường kia chứ ai. Thuấn, anh con trai to lớn dềnh dàng vẫn cười với Lan mỗi ngày đấy ư? Chiếc răng khểnh nơi khoé miệng làm cho nụ cười của Thuấn rất dễ thương và Lan cứ phải cười đáp lại, dù chẳng chơi với nhau bao giờ. Thuấn học khá giỏi, trên Lan một lớp, nổi trội trong đám học sinh trường Chí Thiện vì hay tranh luận và vặn vẹo thầy giáo. Tụi bạn thì thầm: Hình như hắn là người của "bên kia". Hắn hay nói về lý tưởng, mục đích chính nghĩa, đấu tranh gì gì đó với thầy Lâm dạy sử. Nhà Thuấn ở mãi tận trong bưng, Thuấn ra chợ quận làm công cho lò bánh mì để đi học. Lan chm chút từng đường kim, mối chỉ, cố gợi chuyện để được nghe mẹ nói về Thuấn: Người trong quê họ thích màu đen quá mẹ nhỉ? Mẹ trả lời cụt ngủn: Màu đen dơ không nhìn thấy. Buổi sáng, Thuấn sang lấy quần, Lan chọc ghẹo: ở nhà anh, chắc có cả tiểu đội con trai phải không? Thuấn vui vẻ gật đầu: Một tiểu đội rưỡi. Trước khi ra về, Thuấn để trên bàn máy may, nơi Lan ngồi một con trâu bằng đất sét. Con trâu có cái bụng tròn o, đôi sừng cong vút, xinh xắn: Cho Lan, Lan nhìn sững con trâu và nói với theo khi Thuấn đã quay đi: Anh làm đó hả?

Không khí trong trường thật khác lạ khi Lan đến. Thầy Hiệu trưởng cùng ông giám thị đị dọc theo hành lang, nhìn soi mói vào các lớp học. Thục Điền nói nhỏ: Truyền đơn. Đâu? Bị tịch thu hết rồi. Lan tò mò muốn biết người ta viết gì trong ấy. Thục Điền tròn mắt: Thì tao cũng đã được đọc đâu. Ai mà gan quá trời. Bị bắt là tù liền. Tự dưng Lan nghĩ đến Thuấn và tim phát đập ình ình. Lời thầy giảng lọt từ tai nọ sang tai kia rồi bay luôn ra ngoài cửa sổ, Lan không thể nào tập trung được. Kẻng vừa đánh hết giờ là Lan phóng liền ra cửa, đưa mắt rảo khắp sân trường tìm Thuấn. Không thấy. Xuống nhà xe. Không nốt. Lan vòng ra bờ kênh bên hông trường. Kia rồi! Thuấn đang ngồi vắt vẻo trên chạc ba cây trâm với mấy ông bạn quý. Cả bọn cười nói ồn ào, ném lia những chùm trâm xuống cho mấy chị gái dưới đất. Miệng mồm ai cũng tím ngắt. Lan thở phào nhẹ nhõm và lặng lẽ rút lui. Tại sao mình lo cho Thuấn? Lan không hiểu và cũng không muốn hiểu.

Tiếng đại bác vọng ì ầm suốt đêm. Thỉnh thoảng những đốm hoả châu sáng loé lên trên nền trời đen kịt. Xe nhà binh chạy bạt mạng ngoài lộ. Cả nhà Lan đều ngủ chập chờn. Mẹ nói với bà nội: chắc là đánh nhau trong rừng. Má xuống hầm ngủ cho yên tĩnh. Bà nội cự: Ngột ngạt lắm. Mẹ thở dài lẩm bẩm: Biết bao giờ mới chấm dứt. Chiến tranh chỉ mang đến nỗi đau. Cha Lan đã mất trong cuộc chiến này. Từ ấy đến nay, mẹ luôn sống trong sự bất an, thắc thỏm. Đứa em trai của Lan sắp lớn... Lan nhìn qua song cửa sổ trên gác, xéo bên kia đường, lò bánh mì vẫn sáng đèn. Mùi bánh mì nướng thỉnh thoảng theo gió tạt sang, thơm ngào ngạt. Sang năm thi tú tài, nếu không đậu, Thuấn cũng sẽ bị vào lính, sẽ ra trận và biết đâu sẽ... Lan rùng mình không dám nghĩ tiếp. Có điều gì đó xôn xao trong lòng khi Lan nhớ đến nụ cười rng khểnh của Thuấn. Nụ cười ấy... Hình như Lan đã "nghiền" nó lắm rồi... Tiếng đại bác lại ầm ầm vang dội. Nhà cửa rung rinh. Lan ngước mắt lên trần nhà: Cầu trời cho sớm được bình yên!.

Đêm giao thừa súng nổ vang trời, một trái đạn rớt ngay vào cây trứng cá trước cửa nhà Lan, lá cành đổ ào ào, tơi tả. Lan phóng ba bước một từ trên gác xuống nhà trẹo cả chân. Mẹ con, bà cháu ôm nhau run lập cập dưới hầm. Bà nội liên tục niệm Phật, ấn đầu Dũng thằng cháu đích tôn xuống dưới mấy bọc quần áo dày cộp. Thằng nhóc chỉ chực nhảy chồm ra cửa hầm, nghểnh cổ ngó lên khoảng trống của cái giếng trời giữa nhà xem trái sáng. Mùi thuốc súng nồng nặc át mất mùi hương trầm trên bàn thờ cha mới mấy phút trước đây còn thoang thoảng. Những bước chân chạy thình thịch, tiếng lên đạn lách cách và tiếng gọi thầm thì ngoài hiên làm mấy người phụ nữ gần như nín thở. Chiến trường ngay trước cửa nhà mình. Trời ơi! Tiếng súng chợt im. Không khí đông cứng lại. Tiếng phành phạch của trực thng nghe rõ dần và chẳng mấy chốc tiếng nổ lại vang lên chát chúa. Bầu trời sáng loá lên dưới ánh hoả châu. Trên gác, ngay chỗ Lan ngủ lúc nãy, một lỗ trống bằng cái nia toang hoác trên mái ngói. Lan nhắm mắt, gọi lung tung trong đầu: cha ơi, cha ơi,đừng để con chết. Bà Nội khóc sụt sùi, mẹ dỗ bà như dỗ con nít: Má, má, không sao đâu mà. Không sao đâu...

Chiều mùng hai, tiếng súng thưa dần và chuyển hướng lên xóm trên. Bà nội than: Hết trầu,nhạt miệng quá.Thằng Dũng cuồng chân, được dịp đề nghị: Để con đi mua cho. Mẹ hốt hoảng, gắt bà: Má cố chịu một chút. Bà nội chép miệng, thẫn thờ ngồi bó gối trong góc hầm đến là tội. Không chịu nổi cảnh ấy, Lan nn nỉ mẹ: Im rồi. Con chạy cái vèo qua nhà Thục Điền là có trầu ngay. Lan mở cửa bếp, men theo mấy cây dừa xiêm cạnh chuồng heo, đi tắt vào vườn chuối. Lúc Lan dượm chân nhảy qua mương rau muống thì bất ngờ bị chặn lại bởi tiếng quát: Đứng im! Trước mặt Lan, một thanh niên trần trùng trục, quần đùi đen, mặt mũi đằng đằng sát khí, Lan xanh mặt: Ơ... Dưới mương, thêm một ông nữa trồi lên. Thuấn! Thuấn giơ tay, phân trần với "quần đùi": Ngọc Lan, con dì Tư thợ may trong xóm, bạn tao. Lan ngó chiếc quần trên người hắn, vớt vát: Cái quần anh đang mặc là tui may đó. Hắn ngoác miệng cười: Vậy hả, cám ơn nghen, Thuấn đẩy Lan ngược vô vườn chuối, nạt nộ: Đi đâu? Về nhà ngay. Đã hoàn hồn, Lan bắt đầu nổi nóng: Mắc cái gì la, tui đi mua trầu cho bà, bà hết trầu từ hôm tới giờ. Thuấn xuống giọng: Nguy hiểm lắm. Tui lạy Lan, về dùm tui. Lan vùng vằng: Sao anh đi được mà tui thì không? Đến lúc này, Lan mới nhận ra bên hông Thuấn giắt lùm xùm mấy nhánh là nguỵ trang: Anh là du kích hả? Thuấn nheo mắt cười, nắm lấy tay Lan. Nụ cười đẹp mê hồn. Lan ngẩn ngơ, quên cả việc đi mua trầu, quên luôn cuộc chiến còn lẩn khuất bên cạnh. Bàn tay mạnh mẽ của Thuấn bóp nhè nhẹ những ngón tay mảnh khảnh của Lan. Hai người im lặng bước bên nhau. Không ai muốn vội vã. Lá khô dưới chân kêu loạt soạt. Đến giữa vườn, Thuấn đột ngột quàng tay qua vai Lan. Chiến tranh dường như chưa bao giờ có. Thời gian dừng lại. Nắng chiều rực rỡ, lao xao... Chừng hoà bình, tui sẽ nói với Lan nghe chuyện này hay lắm. Lan dừng lại, nôn nóng: Còn lâu mới hoà bình, anh nói liền đi. Thuấn cúi xuống, nhìn vào mắt Lan: Lúc nào trong túi áo tui cũng có cái nầy nầy. Thuấn đưa nắm tay lên mũi Lan. Đố biết cái gì? Lan chun mũi hít một hơi dài. Mặt mày đỏ lựng: Hoa ngọc lan. Thuấn đứng sát vào người Lan, thở dồn dập. Trời đất bắt đầu quay mòng mòng, vườn chuối ngả nghiêng, trước mắt Lan chỉ có một màu xanh. Màu xanh bát ngát của lá và vườn hoa thoang thoảng. Giọng Thuấn dịu dàng: Lan đọc truyện "Quê người" của Tô Hoài chưa? Anh chàng Hời ném hoa ngọc lan vào cửa sổ nhà cô Ngây để gọi người yêu ra gặp. Dù thấy hay không thấy hoa rơi, cô Ngây vẫn biết có người yêu đang đứng bên ngoài đợi. Hương ngọc lan nồng nàn quá mà. Lan cúi gằm mặt xuống đất, cực kỳ bối rối. Nói đọc rồi thì ngượng mà chẳng lẽ nói chưa?... Một tiếng nổ xé tai vang lên thật gần, Thuấn kéo Lan chạy thục mạng về phía cuối vườn. Đến gần giếng nước nhà Lan, Thuấn hôn thật nhanh vào má cô gái: Vào nhà ngay nghe chưa. Không được đi lung tung nữa. Anh sẽ mang trầu đến. "Anh sẽ mang trầu đến". "Anh" chứ không "tui" nữa sao? Lan chui vào góc hầm nói với bà nội, mặt mày rặng rỡ: Sẽ có trầu nhưng bây giờ thì chưa.

Sáng mùng ba, vừa ngớt tiếng súng là Lan phóng ngay lên miệng hầm, rón rén mở cửa bếp. Hàng dừa xiêm xác xơ, chuối mẹ, chuối con gãy ngang, gãy dọc. Lan muốn khóc quá. Thuấn ơi, anh có làm sao không? Không một bóng người, Lan đứng bên thành giếng nhìn xuống mặt nước tròn xoe phản chiếu một mảng trời xanh biêng biếc, ước ao đến cháy lòng. Đừng bao giờ có chiến tranh nữa. Mắt Lan chợt dừng lại trên chiếc cọc treo gầu, một gói lá chuối khô xếp vuông ngay ngắn. Những lá trầu xanh và một búp ngọc lan mơn mởn. Tim Lan đập loạn nhịp. Thuấn đã đến! Ôi sao mình không gặp nhau thêm một lần... Lan đưa tay lên xoa má. Nụ hôn mới vừa hôm qua... Điều ấy là có thực phải không?

Chợ quận lại trở về cuộc sống thường nhật. Lính quốc gia đi nghễu nghệnh khắp các ngả đường, tay lm lm cò súng. Lò bánh mì mở cửa. Tiệm may mở cửa, chợ họp ngay trên những đống rác xà bần... Lan trở về lớp học. Trường Chí Thiện mất đi một phần ba sĩ số. Thục điền xoè tay đếm: Vắng Long, Thanh, Cẩm Tú, Hiển, Minh Thư, Quyên, Toàn... Lan buồn rầu đọc tiếp: Thuấn. Thục Điền vô tư: Thuấn, Hồng Liên... Cuối năm. Bà nội mất, mẹ đưa chị em Lan về Sài Gòn sống với ngoại. Không có tin tức gì của Thuấn.

Giải phóng, Lan vội vã về quê, nôn nao một niềm hy vọng. Bạn bè đứa mất, đứa còn, đứa đi, đứa ở. Thục Điền kể sôi nổi: Ông Long làm Trưởng ban quân quản; Quyên làm bí thư quận đoàn; Quế Anh, Hiển vượt biên; Thuấn mất tích từ sau Tết Mậu Thân, Minh Châu sinh con gái ngay ngày 30 tháng 4... Vườn chuối ngày xưa biến mất. Trên nền đất cũ giờ là một bến xe. Những chuyến xe ngang dọc đến từ mọi ngả đường, qua nhau vội vã... Mối tình đầu thơ dại, nụ cười răng khểnh, hoa ngọc lan, nụ hôn vội vàng trong khói lửa và lời hứa: chừng hoà bình tui sẽ nói với Lan... cũng đã qua đi. Nắng tháng năm oi nồng rát bỏng. Lan đứng lơ ngơ bên cây cột đèn đường, chờ chuyến xe của mình, cổ họng khát khô.

Quí Lê









Đăng nhập để trả lời
0