📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện tự sáng tác

Hoài của !

5 trả lời, 1.719 lượt xem — Trang 1 / 1
Nghiêm Lương Thành



HOÀI CỦA !
 
              Từ tháng chín đến giờ, không hiểu làm sao, người ở đâu ra mà đông thế. Dưới lòng đường, xe cộ chuyển động chậm chạp; thỉnh thoảng lại bị dồn ứ lại. Tôi ngồi bên một quán nước chè sát phía trong vỉa hè, vậy mà còn bị người đi kẻ lại, lắm khi, quệt cả ống quần vào lưng. Không biết hàm lượng phong trần trong chén nước chè đang uống của tôi là bao nhiêu nữa ?
            - Ối giời ơi !
            Tiếng hét của một phụ nữ nào đó, căng như xé vải, khiến tôi bất giác quay lại. Một thanh niên, đi chiếc xe đạp Trung Quốc, vai đeo một cái túi thổ cẩm có tua, miệng túi thò ra một cuộn giấy chừng khổ A3, dáng chừng là sinh viên một trường gần đấy, nhảy tót xuống xe, lo lắng:
- Chị có làm sao không ạ ?
- Đi như thế à ? Đồ nhà quê !
- Em xin lỗi chị !
            - Dởm !
            Hạ một tiếng, thị lừ mắt, hằm hằm dương bộ mặt kiên định đến rắn câng lên một góc độ không mấy thích hợp với hoàn cảnh. Một ông đang đợi xe buýt thấy vậy, ôn tồn bảo chị ta:
- Chị đi sai đường, chú ấy chỉ quệt nhẹ … mà người ta đã xin lỗi rồi !
- Tinh vi !
Thị nhận ra chân lý không cùng phe với mình, bèn gượng nguýt ông kia một cái, rồi nguẩy mông phắn nhẹm và không quên trình ra một lối khinh khỉnh: vừa đi vừa lấy tay phủi mạnh lên cái vạt áo mỏng đến tội nghiệp, hoàn toàn không phục vụ cho mục đích vệ sinh bởi … thực thế.
            Một chiếc xe buýt sơn màu vàng đỏ lao vào bến. Đám người hiếu kỳ vừa kịp xúm xít lại hóng sự liền tóe ra tan tác. Cửa xe bật mở. Trong đám người đang chen chúc nhau xuống xe, có một bà nạ dòng đang lễ mễ xách hai cái túi khá nặng. Một ông - có lẽ cùng độ tuổi - thấy vậy, nhã nhặn bảo: “Có nặng không ? Để tôi xách đỡ cho một đoạn”. Bà ta ngước nhìn vị mày râu, nghiên cứu, không nói gì và khinh khỉnh tạt vào bên quán nước chỗ tôi đang ngồi. Không hiểu sao, tôi cứ nhất quyết ấn định rằng bà ấy đang công tác trong ngành công an nhân dân. Đợi đến khi ông kia đã đi xa hẳn, bà mới nhấc hai chiếc túi lên, tiếp tục thực thi nốt đoạn hành trình còn lại (chắc là ngắn thôi) và miệng lẩm nhẩm một câu gì đó, nghe như là: “Chỉ được cái trí tưởng tượng … phong phú !”
            Lúc đó, dọc theo vỉa hè, một thiếu phụ trẻ, dáng vẻ mệt mỏi, đang dắt cái xe máy đi về phía tôi; lếch thếch theo sau là một bé gái chừng bốn tuổi, có vẻ là con cô ấy. Tôi trố mắt thán phục khuôn mặt xinh xắn, phảng phất chút kiêu hãnh và được trang điểm khá nền nã, khéo đến nỗi khó ai có thể nhận thấy. Thiếu phụ đi qua chỗ tôi ngồi, không khí xao động chút ít, phả nhẹ vào mũi các khách đang thưởng trà một mùi nước hoa thơm dịu. Riêng tôi, trong lòng, dường như tức thời nảy nở một cảm giác bối rối. Cô uể oải đẩy xe vào một hiệu chữa xe máy cạnh đấy.
- Anh chữa giúp chiếc xe.
Người chủ hiệu sửa xe máy mặt mũi nhầu nhĩ, tròng mắt vằn đỏ dưới lần mí hơi mọng, lệnh khệnh bước ra, hất hàm, cất giọng lè phè:
- Xe bị làm sao ?
- Em đạp mãi mà không nổ được.
Xem xét một lát, sau khi kết thúc một cái ngáp dài, anh ta gãi đầu:
- Cái “pan” này hiểm, làm lâu đấy !
- Có đến nửa tiếng không anh ?
- Trên dưới hai tiếng. Thợ chưa đạt tầm cao mới, phải mất nửa ngày là ít !
- Thế, tất cả  ... hết bao nhiêu tiền ạ ?
- Thiếu một ngàn đầy bốn mươi ngàn !
Thiếu phụ nhẩm tính. Cô lập cập mở ví, dáng như kiểm kê tài chính, rồi ngẩng đầu lên, nài nỉ:
- Em chỉ còn có ngần này. Sửa xong, em về lấy tiền quay lại trả anh nốt.
Người chủ hiệu cười nhạt, phẩy tay:
- Thôi, cô đi hiệu khác.
- Nhà em tận Nhổn cơ, trời lại sắp tối, nếu anh không sửa giúp thì mẹ con em không biết làm thế nào. Anh ơi, anh làm ơn làm phúc cho cháu bé !
Người chủ hiệu càng chán ngán:
- Cô ơi, tôi giúp cô thì ai giúp tôi đây ?
- Thế thì em để lại chiếc đồng hồ này. Sớm mai em quay lại chuộc.
Người chủ hiệu liếc nhìn chiếc đồng hồ trên tay thiếu phụ, cười nhạt:
- Đồng hồ thời này cái nào mà chả óng ánh, nhưng ba vạ lắm, ai mà biết được. Thôi nhé, cứ minh bạch là hơn.
Anh ta lững thững bước vào nhà, bỏ lại hai mẹ con người thiếu phụ mặt gần như mếu bên ngoài. Không biết làm thế nào, thiếu phụ quay xe ra, nói với con :
- Mẹ con mình chịu khó đi bộ, con nhé !
- Ứ đâu, con mỏi chân lắm rồi ! – Con bé phụng phịu ngồi thụp xuống.
Thiếu phụ không biết làm thế nào, đành dựng xe, đạp cần khởi động cầu may. Đạp mãi, đạp mãi … chợt có tiếng nổ đánh “pạch” nơi đầu ống xả. Mừng quá, cô lại đạp tiếp. Nhưng lần này thì vô vọng thật rồi. Đáp lại những nỗ lực mệt mỏi chỉ là những tiếng phình phịch yếu ớt, lạnh tanh. Thiếu phụ thở hổn hển, mặt tái nhợt, nhìn ra xung quanh, như muốn cầu cứu ai đó. Thực bụng, tôi cũng muốn giúp cô lắm, nhưng tôi dốt đặc, chẳng hiểu cóc khô gì về các thứ máy móc cơ công, điện tử.
Tia mắt của cô đang xoay về phía tôi. Để người thiếu phụ trẻ đẹp ấy không thể nhằm cái sự cầu cứu ấy vào tôi, để cái sỹ diện nam tử của mình vẫn được an ninh bền vững, tôi đành quay mặt, vờ nhìn sang phía bên kia đường. Nhưng cũng nhờ cái trò láu cá vặt học được trong môi trường công chức ấy, tôi lại phát hiện ra một anh bạn cũ vốn xấu máu, tóc mới điểm bạc qua loa, đang ngồi trên chiếc xe 81 cà tàng, máy vẫn nổ, một chân chống xuống đất, và đang chăm chú quan sát mẹ con người thiếu phụ. Biết quá rõ cái thói “kiến nghĩa tất vi” của bạn mình, tôi mừng rỡ, vỗ đùi đánh đét một cái, như tìm được một nước đi hay vào lúc cờ tàn cuộc, thầm reo lên: Cô nàng ơi, chuẩn bị nghênh tiếp “Bồ tát”!
Quả nhiên, “Bồ Tát” đã xuống xe và đi thẳng qua đường, về phía người thiếu phụ trẻ.
- Xe hỏng hả cô ?
Thiếu phụ nhìn “Bồ Tát”, không giấu diếm nỗi thất vọng:
- Vâng … đạp mãi mà không nổ.
- Để tôi xem.
Thiếu phụ, nét mặt bỗng trở nên lo lắng, nghi ngại luống cuống gạt cái chân chống xe lên:
- Thôi anh ạ …
Rồi, run run nắm chặt lấy tay lái, quay sang đứa bé, xao xác:
- Về thôi con ơi.
Con bé vẫn ngồi nguyên, mặt xị xuống, đôi vai bé nhỏ ngúng nguẩy:
- Ứ đâu, con mỏi chân lắm !
- Hư quá, con phải hiểu cho mẹ chứ !
Thiếu phụ giận dữ dậm chân, trong lúc vẫn kín đáo để mắt tới vị “Bồ tát”. Còn vị “Bồ tát” thì nhìn thiếu phụ, mỉm cười, rồi mở cốp xe của mình, lấy ra túi dụng cụ, thủng thẳng:
- Người thì xinh đẹp thế mà lại … nỡ khắt khe cả với con cái.
Câu nói của “Bồ tát” khiến cô ngẩn mặt. Rồi, sau đó, như hiểu ra điều gì, cô dựng xe lại, tránh sang một bên và kín đáo nở một nụ cười. Khổng Minh ngày xưa, chắc cũng đã cười với Chu du bằng kiểu tương tự. Còn “Bồ tát”, chẳng để ý gì, mở khoá điện, đạp thử. Vẫn thế: chỉ thấy những tiếng phịch phịch yếu mèm, chẳng hứa hẹn điều gì khá hơn. “Bồ tát” tháo buzi để thử: Vẫn đánh lửa tốt. “Bồ tát” đưa tuốc nơ vít vào trong lỗ lắp buzi, ấn nhẹ cần khởi động rồi à lên một tiếng khoan khoái. Thiếu phụ thấy vậy, mặt tươi hẳn lên, lân la đến ngồi xuống bên “Bồ tát”:
- Đàn ông giỏi giang như anh thật hiếm. Em thật ghen tỵ với vợ anh đấy.
“Bồ tát” cười nhạt và bắt đầu hí húi tháo nắp máy. Thiếu phụ vẫn ngồi bên, cầm tờ báo phe phẩy quạt cho “Bồ tát”. Hương mỹ phẩm từ thiếu phụ toả ra, thoang thoảng quấn lấy “Bồ tát”. Không hiểu “Bồ tát” có phải là người tinh tế không. Anh xoăy trục cam nhích đi một chút rồi lắp lại xích cam. Thiếu phụ lấy ra một cái mùi xoa trắng nõn, nhẹ nhàng thấm những giọt mồ hôi lấm tấm và mấy vết dầu dính trên trán “Bồ Tát”; mùi của chiếc mùi xoa chắc còn thơm hơn cả hương nước hoa từ thiếu phụ toả ra.
Xiết chặt chiếc vít cuối cùng trên nắp máy, “Bồ tát” mỉm cười, đứng dậy, đạp mạnh cần khởi động: Lập tức, tiếng máy reo lên ròn rã. Khuôn mặt thiếu phụ bừng sáng. Đứa bé gái nhảy cẫng lên, vui sướng: “Bác thợ ơi, bác giỏi quá !”. “Bồ tát” nói với thiếu phụ:
- Xích cam dão quá rồi. Có lẽ vì thế, khi xe bị sóc mạnh, dải xích bị nhẩy lệch mất một mắt so với nhông, làm sai tầm đánh lửa. Ngày mai, đến hiệu thay xích mới đi cho an toàn.
Thiếu phụ mỉm cười, không nói gì. Làn hương toát ra từ người nàng hình như có đượm hơn lúc trước. Lúc “Bồ tát” bế bé gái đặt lên xe, nàng nói một câu gì đó, nghe không rõ. Tiếng máy nổ vẫn tròn đều. Nàng ngồi lên xe, rồi quay lại, dịu dàng nói với con gái:
- Con chào ông đi !
Bé gái lễ phép vòng hai tay trước ngực, thỏ thẻ:
- Cháu chào ông ạ !
Thiếu phụ trẻ nhìn “ông”, khẽ gật đầu, rồi lạnh lùng liệng nhẹ chiếc khăn về phía cái rãnh nước bên đường rồi tăng ga, mất hút trong đám đông đang hối hả chạy xe trên đường. “Bồ tát” chậm rãi quay lại, nhận ra chiếc mùi xoa trắng lốp lem nhem mấy vết dầu đã ngấm sũng nước thải; anh lắc đầu, lẩm bẩm:
-         Hoài của !
 
Tháng 10 năm 2007
Đánh máy: Thiện Văn

 
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
Nghiêm Lương Thành



HÚT THUỐC LÁ
 
Thuốc lá là kẻ trung nghĩa tự đốt chết mình.
Giả Bình Ao
 
Hồi còn là một học trò lớp tám (hệ mười năm), một cậu bạn lớp trên đưa cho tôi điếu thuốc lá hắn đang hút, nháy mắt, bảo:
- Làm một tý !
Phần tò mò, phần thấy ngồ ngộ, tôi bèn đón lấy điếu thuốc, đưa lên môi.
- Không phải thế ! - Hắn cười, giằng lấy điếu thuốc, hướng dẫn - Bước một: Phải hút cho khói vào đầy mồm; Bước hai: Hé môi, rít sâu cho khói thuốc chui vào phổi. Rồi sau đó sẽ thấy điều hay ho xảy ra.
Tôi làm theo và, trong khoảnh khắc, thấy mặt đất nghiêng đi. Lúc mở mắt ra, đã thấy mình đang nằm trên đống rơm. May mà lúc ấy chúng tôi đang ngồi, nếu không, cái đầu của tôi chắc đã có chuyện. Tiếp theo đó là cái cảm giác cay xè sặc sụa, chẳng có gì là hay ho, thú vị cả. Mấy năm sau, khi đã là một thanh niên mới nhớn, vào học một trường chuyên nghiệp, đua đòi chúng bạn, tập uống nước chè, phì phèo thuốc lá. Cũng chẳng hại gì - lúc bấy giờ tôi nghĩ như vậy - mà lại rất ra dáng người lớn, oai phong thầm lặng. Rồi cho đến một buổi trưa, tôi trằn trọc không sao ngủ được, ra ra vào vào mãi mà không sao lý giải nổi, chỉ thấy tâm thần ngẩn ngơ, chống chếnh khó tả. Bực mình, tôi đi mua mấy điếu thuốc, hút một điếu và lại vào nằm tiếp. Thật lạ, giấc ngủ đã kéo đến, vừa nhanh, vừa nhẹ nhõm, vừa êm ái. Lúc tỉnh dậy, tôi đã hiểu: Mình nghiện thuốc lá rồi !
Với những người thời nay như tôi thì việc nghiện hút thuốc là hoàn toàn dễ hiểu: Đua đòi, lập oai và, quá mù ra mưa, trở thành những kẻ nghiện thuốc lá. Còn những tiên nhân của chúng ta thì sao ? Trước họ đã có ai hút mà bắt chước, mà đua đòi ? Vả lại, cái vị cay xè, cái mùi hôi khó tả ấy, dù có vô tình đốt lá, khói bay vào mũi vào họng thì liệu có ai thích thú, say mê được không, có tìm cách để hít lại cái thứ khói cay xè đó không ? Điều đó thật khó hiểu. Một số nhà thông thái đồ rằng người Maia cổ được “Người trời” dạy cho cách làm lịch. Thế thì, có thể, “Người trời” cũng rất say mê hút thuốc lá ?
Đến thế kỷ hai mươi, hút thuốc đã trở thành một thói quen sinh hoạt đại chúng, một yếu tố vật chất luôn hiện diện trong các lễ nghi giao tiếp, thấy có cả ở hạng thường dân lấm lem lẫn sắp cung đình bóng mượt. Xa xưa thì không rõ lắm, nhưng gần đây, thuốc lá đã được ghi nhận như một người bạn đồng hành thuỷ chung trên suốt chặng đường đấu tranh cho lý tưởng giải phóng con người đầy gian khổ, hiểm nguy của các ông Mác và Lênin.
Cách đây hơn ba chục năm, các nhà khoa học đã sáng chế ra cách nuôi trẻ sơ sinh bằng sữa hộp và cho ăn theo giờ. Sau đó họ còn phát hiện ra các đặc tính dinh dưỡng quý báu phi thường của hạt ngô đỏ và hạt mít. Xem ra, làm kiếp gia súc, gia cầm ngày nay cũng chưa hẳn đã là khổ; hiệu năng răn đe của thuyết luân hồi có khả năng bị suy giảm ! Gần đây, các khoa học gia đã khuyến cáo cho toàn thể nhân loại rằng hút thuốc lá có hại cho sức khoẻ. Cũng có một số người tò mò muốn hiểu cặn kẽ cơ chế gây bệnh của khói thuốc lá, nhưng hình như vấn đề này vẫn chưa nghiên cứu xong. Người Pháp cho rằng khói thuốc lá có tác dụng kích hoạt khả năng tư duy của bộ não; Lại một tờ báo loan tin: hút thuốc lá có khả năng làm giảm nguy cơ mắc bệnh Pac-kinh-sơn và viêm tế bào thần kinh; lại cũng có kẻ kháo rằng: trong số những người nhiễm Sarc chưa thấy có vị nào nghiện thuốc lá.
Một lần, thấy một đồng nghiệp nữ đang phì phèo một điếu thuốc lá trên môi, mới ngạc nhiên hỏi:
- Chị hút nghịch hay là thật ?
Chị bật cười khanh khách:
- Thật !
- Chị quá hiểu là hút thuốc lá rất có hại ?
-  Vì hiểu nên tôi mới quyết định hút.
- Chị lại đùa !
- Nghe nói hút thuốc thụ động - tức là ngửi phải khói thuốc lá của người khác - còn bị hại hơn cả người hút. Trong cơ quan mình có nhiều người hút thuốc, nên để hạn chế tác hại tôi mới quyết định chuyển từ thể bị động sang thể chủ động (!)
Thật ... không biết thế nào mà lần ! 
 
*
 
Hiện nay, các nhà nước của tất cả các quốc gia đều nhất loạt cấm quảng cáo các sản phẩm thuốc lá trên các phương tiện thông tin đại chúng và buộc các hãng thuốc lá phải in dòng chữ cảnh báo người hút: Smoking can damage your health ! Hút thuốc lá có hại cho sức khoẻ của bạn !
Người đời vẫn bảo "Hậu sinh khả uý". Ngày xưa thế nào không rõ, còn thời nay, cái lớp trẻ mới lớn thật khó chịu, lúc nào cũng trình bày ra rặt cái lối "trứng khôn hơn vịt"; ví dụ, họ bảo: Nước Mỹ cứ tự vỗ ngực là quốc gia tiến bộ nhất, luôn chăm lo sức khoẻ cho các công dân của mình mà sao không cấm chỉ, ngay lập tức, các hành vi sản xuất và lưu thông sản phẩm thuốc lá trong nước ? Hoặc: Nước Mỹ làm cho người dân giảm hút thuốc bằng cách tăng thuế đánh vào các sản phẩm thuốc lá nhưng lại tính toán sao cho không bị thất thu ngân sách từ những sản phẩm loại này ! Thật nực cười, nhưng cũng cần thông cảm, rồi năm tháng cùng những thực tế sẽ làm lớp trẻ dần hiểu ra: Trí trá và thô bạo luôn là bản chất của các nhà nước tư nhân !
Mặc dầu nước Mỹ và các nước phát triển khác cấm các công dân hút thuốc lá ở nơi công cộng, thuốc lá bị hắt hủi; mặc dầu những người tiến bộ tẩy chay khói thuốc lá nhưng lại chấp nhận những làn bụi đủ loại sunphua, sunphit, nitrát, phờlorua ... , phong trần phơi phới, thả hồn lãng mạn trong những giọt mưa thu đầy ắp chất văn vần và lẫn đủ loại a xít của nền công nghiệp đương đại ! Thuốc lá làm héo mòn lá phổi của những người nghiện thuốc thái quá. Còn chính phủ Hợp chủng quốc lại vận hành bộ máy giàu chất nhân văn của mình bằng một phần không nhỏ tài lực thu từ các loại thuế mà người hút phải chịu cho từng bao thuốc. Khiếm khuyết của những nhà thống kê Hoa Kỳ là chưa bao giờ tính xem hàng năm những người hút thuốc đã tạo ra bao nhiêu việc làm cho nông dân, cho công nhân và những người thuộc hệ thống phân phối loại thuốc này; có bao nhiêu công dân cao quý, bao nhiêu tài năng đã được nuôi dưỡng bằng những đồng tiền có được từ trong quá trình lao động sản xuất thuốc lá ? Đã có ai tính thử: Trong khi hoàn thành bộ Tư Bản, ông Carl Marx đã đốt hết bao nhiêu hộp xì-gà ? Và để ra những đòn chiến lược, quyết định đánh bại hoàn toàn đội quân phát-xít hùng mạnh và tàn bạo của Hítle, ông Georgi Zhukov đã đốt hết bao nhiêu gói thuốc lá trong những đêm trường thức trắng giữa nước Nga mênh mông tuyết phủ ?
Chưa thấy chính phủ nào nói: Nghiện thuốc lá là quốc nạn. Nhưng thấy có rất nhiều biển báo ở những nơi văn minh công cộng: No smoking ! – Cũng phải: Là người ta lo cho sức khoẻ của nhân dân đấy.
Nhiều chính phủ châu Á bảo: Tham nhũng là quốc nạn. Nhưng tại các văn phòng công vụ chưa hề trông thấy lấy một cái biển báo: No corruption ! – Mà cũng phải, treo những cái biển như thế, khác nào bọn phản động bôi nhọ nhân sinh !
 
*
 
Nghĩ, thì cứ tưởng mình là phát minh lắm, tiến bộ lắm, uyên thâm bí hiểm lắm, nhưng chịu khó nghĩ cho đến kỳ cùng hết nhẽ thì ta lại chợt nhận ra mình vẫn ở trong dòng chảy của cái đạo lý muôn thuở: Thái quá bất cập lợi. Rèn luyện thân thể với cường độ quá cao thì có khả năng bị tàn tật. Hút thuốc lá nhiều quá thì ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ. Dùng quá nhiều sâm nhung quế phụ, gan rồng tuỷ phượng thì ngọc thể tất sinh chuyện. Nhưng một lượng nọc rắn, nọc ong, thuốc phiện thích hợp sẽ trị được nhiều ác bệnh, khiến cho thể chất khang kiện, tinh thần phấn chấn, tấm lòng rộng mở, hăm hở làm điều thiện không biết chán. Cũng bởi vậy, có người uống rượu thì được gọi là tiên, có người uống rượu lại bị coi là lợn. Lợn là gì ? Lợn là con heo ăn bèo nấu với bã rượu.                                                           
 

                                               Tháng 10 năm 2005
Đánh máy: Thiện Văn

 
 
Đăng nhập để trả lời
0
Nghiêm Lương Thành



ĐỘN
 
 
Ngày trước, đúng ra là cách đây chưa lâu, vào những cữ giáp hạt, lúa của vụ này mới ngậm sữa, thóc của vụ trước đã hao cạn, nếu cứ đổ gạo vào nồi theo tiết tấu và cao độ như hồi đầu vụ gặt thì các nông gia có nguy cơ đứt bữa dài dài. Mà không ăn thì đến hèn như mẻ cũng phiền, huống hồ con người, là hoa của đất, dễ bị tổn thương, lại nội hàm một cái dạ dày có dung lượng không thua kém gì cái ấm tích sứt vòi đựng mẻ, đặt gần ba ông đầu rau lấp lánh tình yêu cổ tích trong những căn bếp sập xệ thoảng mùi phân lợn phân gà. Vì vậy để duy trì bữa ăn cho đủ no, người ta lấy khoai, sắn, ngô ... cho thêm vào, theo những tỷ lệ vô cùng tự do, nấu lẫn với gạo và gọi là cơm độn. Những nhà nghèo khó, sống trong “đời thường”, hầu như quanh năm, đều ăn theo kiểu như thế. Lúc thiên tai mất mùa, khi chiến tranh hoạ hại, thời xã hội úa tàn, người khôn của khó, người ta cũng không kén cái độn nữa; Ôi dào ... củ ráy, củ mài, củ chuối, củ nâu,... hoặc rau dại cỏ mềm gì gì cũng được, quý hồ có chút sinh chất, không chết người và đánh lừa được cái dạ dày suốt ngày nhèo nhẽo khiếu nại là được. So với dân Trung quốc thời Đại nhảy vọt [1] - phải bóc đến cả vỏ cây mà ăn, người chết đói như dịch; đến nỗi thời gian về sau không ai buồn khóc nữa - vẫn còn sang chán ! Tuy thế, dù sao, đây cũng là lối ăn bất đắc dĩ, không được gia đình nào niềm nở tiếp nhận.
Nếu thiếu áo ấm, thì lấy những cái áo cũ đã rách, thậm chí rách như tổ đỉa, độn thêm vào bên trong cho đủ ấm. Tắt đèn thì không phân biệt được nhà ngói nhà tranh, nhà một trăm tầng không chắc đã bằng nhà một tầng; ở nhà một tầng tuy không được cái oai phong của kẻ hưởng thụ thành quả kỹ nghệ hiện đại nhưng không phải cấn cá khôn nguôi về chất lượng xây dựng, không phải nơm nớp về nỗi hoả hoạn, động đất và khủng bố. Khi đi đêm, tuyệt nhiên, không có ai mặc áo gấm, vì để làm gì ? Chỉ tổ chóng cũ, phí đi. Mặc nhuế mặc nhoá cho có là được. Mà lỡ có gặp phải bố nào cầm đèn đi đêm rọi phải thì cũng không bị mang tiếng là kẻ loã thể dở hơi, thô lỗ, mông muội. Đi đêm chỉ cốt trong người nhiều tiền, chứ không coi trọng mỹ học.
Nông thôn Việt Nam có kinh nghiệm "Chó treo mèo đậy". Các bà các cô đặt cái niêu thức ăn vào một cái quang mây nhỏ, kéo cái vòng, cũng bằng mây, ôm trọn cả bốn gióng quang mà thít chặt xuống, rồi treo lên cái móc tre gai lơ lửng giữa không gian nhà bếp, khiến chó ta cứ loanh quanh ra vào, ấm ức ngước nhìn, loay hoay bất lực, bật tru đến ai oán. Như thế gọi là nhất cử lưỡng tiện: Vừa an toàn cho thức ăn, lại tận dụng được không gian nhà bếp. Ở Thủ đô, khi con cái đến tuổi trưởng thành, cha mẹ không có tiền hoặc không có đất làm nhà, bèn phỏng theo mô hình chiếc quang treo đó mà sáng kiến ra cấu trúc gác xép; nghĩa là vẫn trong cái không gian và diện tích đã bị giới hạn nghiêm ngặt ấy, chỉ phải bỏ ra có ít tiền mà diện tích lại được tăng lên đến gấp rưỡi, thậm chí còn hơn, giải quyết một cách không tồi chỗ học hành, nghỉ ngơi, chỗ yêu nhau say đắm cho các thành viên gia đình. Giải pháp này có thể gọi là ở độn chăng ? Một vài gã thị dân rách chuyện, chẳng hiểu gì về bộ môn Kiến trúc học đại cương, còn đồ rằng, ngoài ba trăm năm nữa, có thể các nhà khảo cổ học sẽ đặt tên cho thời đại chúng ta là Nền văn minh gác xép ! Nhưng tại sao lại bảo là "không gian và diện tích đã bị giới hạn nghiêm ngặt" ? Quả có thế, đất không sinh ra đất, đất sinh ra người, người cũng sinh ra người; Hơn nữa, người là giống hiếu sinh, có khả năng nhanh chóng làm cho "phố phường chật hẹp" lại một cách tương đối. Do đó mới có tình trạng người khôn đất khó, tấc không gian là tấc bạc, tấc đất là tấc vàng. Dù vô tình hay hữu ý, nếu ai đó phạm phải không gian hoặc đất của ai đó thì, dẫu là anh em ruột ... Ôi, không dám nói nữa, tàn khốc lắm ! Gần đây, thiên hạ rỉ tai nhau: Kẻ khôn ngoan, thức thời thì nên hướng cho con cái thi vào các ngành đại học mà trong tên của chúng có chữ chính: Địa chính, Hành chính, Tài chính và … vân vân chính.
            Chừng khoảng bốn mươi, năm mươi năm về trước, hầu hết phụ nữ nước ta đều vấn tóc. Những người tóc chưa đủ dày thường làm thêm một vật bằng vải có hình thù như con lươn to để thêm vào khoanh tóc, vấn trên đầu cho dễ coi. Vật đó có tên là cái độn tóc. Bây giờ không ai vấn tóc như thế nữa, người ta bèn học theo châu Âu lối Phidê tóc xù để cứu nguy cho những cái đầu tóc thưa. Cùng thời ấy, giống như thói quen hút thuốc lào ở liền ông, thói quen ăn giầu ở liền bà cũng là một cái sinh thú; chẳng rõ có phải là hành vi văn hoá không, nhưng cầm chắc là vừa sát trùng, sạch miệng, chắc răng vừa làm đẹp cho xóm làng bằng những cặp môi hồng đậm đà hiền thắm. Chẳng có bà nào, cô nào phải áy náy vì cái nỗi đôi môi của mình kém tươi so với làn môi của các tiểu thư "Đại gia khuê tú"; "Tiểu gia" mà vẫn "bích ngọc" mới là ngoan!
            Đói quá thì đương nhiên là khổ. Nhưng no quá cũng chẳng sung sướng gì. Trong đời người, ít nhất một lần, ai cũng bị chót dại vì ngon miệng quá, vui quá mà ăn đến căng cả rốn, đến khó chịu; khó chịu đến mức phải "nằm khoèo". Nhưng khi "thấy giục trống chèo" cũng phải cố "bế bụng" mà háo hức "đi xem". Tại sao vậy ? Tích chèo thì đủ loại buồn vui, nhưng dù có là tích buồn, trong đó vẫn có những đoạn vui; cười đến vỡ bụng, vui đến xả láng. Đấy là những đoạn ra trò của các vai hề nghêu ngao ngố ngá... chữ nghĩa đầy mình, nội dung nhiều khi không hề ăn nhập gì với tích diễn. Té ra, từ ngày xửa ngày xưa, cái sự nghe nhìn cũng đã có độn rồi !
            Vậy thì độn, xét theo một nghĩa nào đó, là dùng thứ này (phụ) thêm vào thứ kia (chính) để làm cho lượng tăng lên, nhằm đáp ứng một nhu cầu còn thiếu hụt nào đó. Tất nhiên, cái sự tăng lên về lượng này cũng không thể thoát khỏi vòng kiểm soát của luật lượng đổi chất đổi trong bộ môn triết học trừu tượng, thâm thuý và đầy bất trắc. Đây là sáng kiến tất yếu nảy sinh ra từ thực tế khách quan và chủ quan, nguyên nhân gây nên những thiếu hụt trong cuộc tồn sinh: ăn, mặc, ở ... và làm đẹp. Giải quyết những thiếu hụt về ăn, mặc, ở chỉ đơn giản là để tiếp tục tồn tại và phát triển. Giải quyết những thiếu hụt về cái đẹp là để cổ vũ đức tự tin cho chúng sinh, tỏ tình tôn trọng đối với thiên nhiên và những người đồng bào. Những việc làm đó đều được coi là thuộc về hoạt động nhân văn căn bản. Thoạt đầu chỉ là để giải quyết những cái thiếu hụt một cách lương năng, lâu dần, nó phát triển thành một khoa học hẳn hoi và ngày nay đã trở thành bộ môn Độn học, đang lầm lũi sánh vai, dàn hàng ngang cùng với các bộ môn Triết học, Y học, Thực vật học, Chủ nghĩa học, Kinh tế học, Văn học, Nghệ thuật học, Mỹ học, Tâm lý học, Chiến tranh học, Hải dương học, Vũ trụ học, Khủng bố học,... cùng ra quân, tiến thẳng vào thế kỷ hai mươi mốt tràn đầy ánh sáng huy hoàng. Nếu Triết học đã làm được nghiệp Đế thì thực ra Độn học đã đồ được nghiệp Bá. Sao lại không ? Thì đây, nó đang chi phối một lô xích xông những Ẩm thực học, Thời trang học, Trang điểm học, Giáo dục học,... và Nghe nhìn học. Chí của Độn học thực không nhỏ, không dừng ở nghiệp bá và, dường như, nghiệp đế đã thành tựu được của Triết học đang bị đe doạ khá nghiêm trọng.
            Nhạc trưởng Độn học, một gã tâm tính năng động, chưa chịu ngồi không bao giờ,  một khi đã cất cây đũa lên thì những âm thanh dào dạt, những hợp âm chắc nịch liền cất lên, thi nhau chát chao bay bổng. Dàn nhạc này, cũng là điều lạ, một khi đã được vận hành thì dường như khó có thể dừng lại được nữa.
            Bộ môn ẩm thực học cận đại và hiện đại ra đời nhờ sự kết hợp của các ngành Nông - lâm - ngư học và Kỹ nghệ hoá thực phẩm. Nhờ có các loại ánh sáng rọi vào, trên cơ sở vẫn bám sát cương lĩnh là tăng về lượng để bù vào những thiếu hụt, bộ môn này đã có những bước tiến dài theo tiến trình phát triển không gì ngăn cản nổi của lịch sử. Giờ đây, người ta không ăn độn một cách cơ học, thô thiển như trước nữa. Thay vì nghiền khoai tây (luộc) thành bột, trộn với lòng trứng, đánh đều để chế ra món trứng rán, người ta lại nghĩ ra cách làm cho quả trứng to lên, nhiều lên ngay trong chính bụng con gia cầm. Tất nhiên, những quả trứng này không thể hội đủ các phẩm chất theo thiết kế ban đầu của ông Tạo, nhưng lại chan chứa chất nhân văn. Trời sinh voi, còn bình dân thì nương theo trời mà loay hoay sinh cỏ. Bình dân cũng gọi là thảo dân. Thảo dân dốt nát, chém to kho mặn, không biết đường dùng voi làm nguyên liệu để nấu nước xáo.
            Thời trang học và trang điểm học có vẻ gần nhau hơn. Chúng giống nhau ở chỗ đều phụng sự cái đẹp cho con người. Lấy sự làm đẹp để tôn vinh cái đẹp. Lấy sự làm đẹp để che dấu, nâng đỡ cái khiếm khuyết, cái chưa đẹp. Thời trang lấy sự phô diễn các đường nét tự nhiên của thân thể con người làm tôn chỉ mục đích. Những người được trời phú cho một thân hình đẹp đẽ, ngày nay đang có xu hướng dùng ít vải trên người. Số còn lại, nếu chưa bằng lòng với thành phẩm của mười hai Bà mụ dành cho mình, phải dùng thêm nhiều vải, nhiều mút xốp, nhiều xilicôn ... để bổ sung, khoả lấp hoặc ỡm ờ tạo nên cái kích thước cần có ở những vị trí chẳng ai muốn phô ra trước bàn dân thiên hạ. Nếu dùng ngôn ngữ đại số để diễn đạt thì kiểu này có lượng độn mang trị số dương. Ngược lại, nếu kích thước hình học tại một số vùng nào đó lại ở trên mức cần thiết thì đã có Mỹ viện hỗ trợ bằng dao kéo hoặc các bài tập Erôbích trên nền các loại nhạc nhịp hai, chủ về phô diễn các phách đầu ô nhịp bằng bộ gõ; lượng độn của kiểu này mang trị số âm. Nhiều cụ già, sinh ra từ nửa đầu thế kỷ trước, lỡ có vô tình nom thấy thì liền lắc đầu xua tay, nhăn mặt quở trách: "Phải gió nhà chúng mày !"
Trang điểm học lại lấy sự mô phỏng cái đẹp tự nhiên làm lý tưởng. Cái đẹp cũng rất biện chứng, thời nào có cái đẹp của thời đó, nhiều khi hoàn toàn độc lập với cái đẹp của môn Nhân tướng học. Quý cô cần có nước da trắng hay nước da nâu giòn ? Hãy đến cửa hàng mỹ phẩm để mua kem mua phấn và nhận được tờ hướng dẫn sử dụng. Năng lực tuỳ hứng đã được chắp thêm cánh. Hôm nay lông mày là lá liễu thì, nếu thích, ngày mai sẽ là tia sét ... Hôm qua là mắt lá răm thì, nếu hứng lên, hôm nay chuyển sang bồ câu và, nếu cần, thêm tý phớt đen ở my trên cho thêm phần nội tâm suy tư sâu lắng. Các giống vật trong thiên nhiên, khi đến tuổi thành thục, đều có những biểu hiện đặc biệt: Giống gà thì mào dựng lên đỏ tươi, toàn thân lông óng ả ... Giống bốn chân cũng vậy, thân hình trở nên gọn ghẽ, chắc khoẻ, nhanh nhẹn; lông cũng trở nên óng mượt, cơ thể toát ra một thứ mùi đặc biệt ... tất cả những cái đó là những dấu hiệu khiến cho trống mái, đực cái say mê lẫn nhau. Còn con người ? Vào thời kỳ này, nước da bắt đầu sáng rỡ, cái nhìn bắt đầu ánh lên những tia long lanh khác lạ mà trước đó chưa hề có; Các cô gái thì làn môi trở nên đậm đà, và đôi má cũng trở nên ửng hồng tươi thắm. Tất cả những cái đó là do thiên nhiên ban tặng và loài người đã dịch thứ ngôn ngữ của tự nhiên đó sang ngôn ngữ của mình thành những tính từ: Mê hồn, xinh đẹp, duyên dáng, ... hoặc thẳng thắn hơn là quyến rũ, gợi tình hoặc tệ một chút là lẳng lơ, lúng liếng ... còn các nhà sinh học thì gọi đó là những tín hiệu sinh học ngoại mạo của giai đoạn sinh sản. Và cái say mê, sự ham muốn mơ hồ bột phát khi nhận được những tín hiệu ngoại mạo đó được đặt tên là sự phải lòng, là tình yêu ... Và môn trang điểm học, vốn chúa sáng suốt, đã chủ động chế ra bộ mỹ phẩm và các thứ khác đại loại như vậy, để đầu tư trực tiếp lên mặt mũi, cơ thể, cố gắng phỏng chép lại những dấu hiệu đặc biệt, không phải lúc nào cũng có đó, để khơi dậy - Thực ra là đánh lừa (thường khá ngoạn mục) - sự say mê của nhau. Tuy vậy, cũng có lắm bà lắm cô, chỉ vì quá nóng lòng "làm đẹp cho xã hội", quên phắt, không "đọc kỹ hướng dẫn trước khi dùng", đến nỗi làm cho người quen không nhận ra họ nữa mà nổi da gà, rùng mình lảng tránh. Đã từng có chuyện một chàng rể, là chính một người bạn của tôi, lúc trao hoa cho cô dâu bỗng hốt hoảng cho rằng mình đã bất cẩn, vào nhầm nhà !
     Trời sinh ra hương sắc cho hoa là để quyến ong gọi bướm. Không thấy hương, thấy sắc, ong bướm nhất định không đến. Thiên nhiên mà như vậy, cũng có phần cứng nhắc. Có lần, trong quán cà phê, vô tình nghe được hai gã thanh niên nói chuyện với nhau: "Dở hơi à ! Trông mày ngời ngời như thế, sao lại đi yêu cái con dở hơi như thế ?". Anh chàng bị hỏi cười hề hề, phô ra hai cái răng cửa cái dài cái ngắn, rồi bí hiểm thì thào: "Nó dở hơi nhưng bố nó "đẹp giai" !". Rõ ràng là cái anh chàng răng cửa không đều và cái cô có "ông bô" "đẹp giai" kia tuyệt đối không hề dở hơi; kẻ dở hơi ở đây, nực cười thay, lại chính là cái người đưa ra câu hỏi có phần tinh tướng kia. 
 
 
*
 
Ở Việt Nam, mỗi khi đến các đám hiếu, thường nghe thấy con cháu của người xấu số khóc: "Ới ông ơi, sao ông nỡ bỏ chúng con mà đi nhanh thế, chẳng cho chúng con lấy một ngày để hầu hạ, cúc cung báo hiếu. Bây giờ ông về theo tiên tổ, chẳng bao giờ chúng con còn được bưng cơm rót nước cho ông nữa ...". Còn ở Trung Quốc, về chuyện này, Giả Bình Ao chép lại một câu khóc như sau: "Nói một tiếng chết là ông chết, bạn bè thân thích không ai biết, bạn bè thân thích biết thì người chết đã đi qua cầu Nại Hà ... từ đó âm dương hai đường cách biệt. Chủ nghĩa xã hội tốt như thế này, tại sao ông lại chết sớm ?!"
Là những ngành kinh tế, đầu đội nhiệm vụ chính trị, chân đứng trong vĩ mô xã hội, ngành nào chẳng muốn được là mũi nhọn ? Muốn người ta biết đến thì phải có cái gì đấy, nếu không suất sắc thì, chí ít, cũng phải gây được ấn tượng. Vậy là, tất cả các con đường đều dẫn đến cơ quan thông tin đại chúng. Ở nước ta, cơ quan thông tin đại chúng là của Nhà Nước. Nhà nước là của dân. Dân là hậu duệ của Dân, là người nuôi nấng dạy dỗ nên những anh hùng ghi trong sách lịch sử và cũng là người sử dụng thành thạo liềm, búa, bút giấy và roi mây.
Là người, đứng trong trời đất, ai chẳng muốn được mọi người xung quanh biết đến mình ?  Một số cá nhân, tư chất thì phổ thông, lao động rèn luyện tu dưỡng thì ngại nên tài năng và kết quả chưa đến, nhưng khát vọng nổi bật lại cháy bỏng quá, đâm sinh ra bí bách, bèn sáng kiến ra lối chơi "quả" độn, chọn phương pháp "âm thanh học": hét váng lên, hoặc dùng thuật "tốc dị học": làm những điều hết sức kỳ quặc trước đám đông. Về chuyện này, những người điềm đạm, nhiều văn hoá, say mê nhu đạo, chỉ dùng thuật “marketing” nhỏ nhẹ mà thôi.
Tay này cầm cái ống điếu, tay kia cầm cái đóm đang cháy, mấy chú lính binh nhì vui vẻ trẻ trung cười toét miệng, tự giễu cái thấp nghèo của mình: "Hút điếu thuốc lào nâng cao sỹ diện". Mấy gã cạo giấy công sở, vừa mới hết tuổi thanh niên, cái khoanh bụng còn xơi mới bị lùm lùm, lại muốn thể hiện cái sự "phát phúc phì nhiêu" [2] của hạng đại gia cát tường để giải quyết khâu oai hình học, bèn bố trí cái vòng thắt lưng lỏng toẹt trễ xuống phía dưới rốn. Con ta không giống ta thì ta phải tìm cách giống nó, vẫn hãnh diện chẳng kém ai mà thiên hạ lại hết đường nghị luận. Ngành giáo dục học thì lấy các tạp kỹ giải bài tập, tạo ra cái khó khăn của sự thi cử mà làm dáng, khiến đám học trò cùng bố mẹ chúng phải khiếp đến vãn cả vía. Còn đã là bác sỹ thì, ngoài các kiến thức y học ra, điều kiện tối cần là chữ viết không được đẹp đẽ, càng không đẹp càng hoàn hảo, càng hoàn hảo càng bí hiểm. Bí hiểm là cây đũa thần thành tựu ra sự cao quý. Còn đám chân đất mắt toét, nếu không luận ra được, đoán xằng tên thuốc thì đó là tại cái phúc nhà chúng nó đã bị bạc phếch tự bao giờ. Một số nhà nhạc, phát hiện ra các nốt nhạc của mình chưa đủ công lực để có thể dìu ca từ bay lượn được, bèn viện đến cường độ âm thanh nhớn, cường độ ánh sáng cao để làm cho khán giả "phê", phê đến mỹ mãn và chương trình biểu diễn nghệ thuật đã luôn thành công tốt đẹp ! "Phê" là gì ? Là trạng thái chúng sinh thoát tục, là hình thức "lấy mỡ nó rán nó", dùng cái tục để thoát tục. Miếng ăn tuy cũng có lúc là miếng nhục, nhưng lại luôn luôn là cơ sở hạ tầng của triết học. Vì vậy, thoát tục là đỉnh cao của nghệ thuật cao siêu, là trạng thái thăng hoa của các loại tư tưởng có cánh.
 
*
 
Trước đây, trở thành người cao quý là việc vô cùng khó khăn. Bây giờ thì khác rồi. Chỉ cần vào một nhà hàng sang trọng (chớ có vào nhầm thư viện), kéo ghế rầm rầm; khi mọi người cùng quay đầu nhìn ta, ta chỉ việc ngồi xuống, chống cùi tay ngả ngốn, liếc xéo gã chạy bàn, hất hàm ngoắc tay, véo von cao giọng: "Cho Heineken mới lại rau lang xào tỏi đi!". Nếu gã đó dám cả gan lằng nhằng "Thưa, quý khách gọi thêm món gì không ạ; nhà hàng có món nhất tuyệt Chân giò nhồi nấm tần bằng nước nhân sâm Cao Ly đấy ạ !" thì, chẳng cần biết Cao Ly ở đâu, nhất tuyệt là gì, chỉ cần quắc mắt lạnh lùng, cất giọng sang sảng, đập bàn kiên định: "Vớ vẩn, thịt thì bố ai mà nuốt nổi chứ !" là đã có thể trở thành quý nhân rồi.
Còn trong đội ngũ trùng điệp của giới quản lý "mậu dịch", có một (chỉ một thôi đấy nhá!) Hoành Tráng Điều Hành Gia đã nổi đoá trước đám bình dân như thế này: "Chúng bay hùa theo đám báo chí, bảo ông đây nàm quản ný mà chẳng học hành gì sất phỏng ?! Đợi đấy, noại bằng cấp gì thì chúng bay cho nà được ? Betsờnờ[3] hả ? Vậy ông đây chơi thẳng Đốctờ kịch đường tàu nuôn cho mà sáng mắt ra ! A ... chúng bay bảo bằng của ông nà bằng độn à ? ... Thì ông độn đấy ! Bằng của ông có chữ ký tươi, đóng dấu tươi hẳn hoi, có giỏi thì cứ việc hành hung kết quả thi hành công vụ của những cơ quan cấp bằng của Nhà lước ! Ha … Bảo vệ đâu, xử ný cái bọn quá trớn lày cho ông ! Cái nối ở đâu ra nại cứ đi tỵ ngược. Dối noạn ! Náo toét !"
Ngày xưa, những ông vua tốt thường tổ chức cứu tế cho dân chúng ở những vùng bị thiên tai hoạ hại. Những vị quan thực thi thiện ý của vua, không bỏ lỡ cơ hội trình diễn lòng trung quân, bèn sáng suốt bảo dân: "Đức kim thượng là thương con dân lắm, cái ân mưa móc của Ngài lúc nào cũng tưới nhuần khắp cả thiên hạ; thời xưa, chẳng có triều đại nào bì được. Đã là con dân, phải có cái nghĩa kính tín và ghi lòng tạc dạ muôn đời, muôn muôn đời!". Câu này rồi cũng đến tai ngài, nhưng ngài không nói gì, chỉ âm ỉ cười thầm. Sao lại cười ? Bởi ngài biết rõ hơn ai hết, những thứ để cứu tế đó là lấy từ những vùng dân cư mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt tươi mà đem đến san xẻ. Nếu không, dân chúng sẽ ngao ngán bực bội, không đóng thuế nữa, thậm chí, lại đùng đùng tuyển dụng kẻ quét chùa mới thì có mà ... mất ổn định. Nhưng cũng không thể trách ngài sao không nói thẳng ra rằng đấy là nhiệm vụ của ngài, rằng dân đặt ngài lên ngai vàng, nuôi ngài bằng tiền đóng thuế là để làm việc đó. Trách cứ như vậy là thiếu quan điểm duy vật lịch sử, là thô bạo đánh đồng hai hình thái xã hội Phong kiến và Kinh tế toàn cầu. Nếu có trách thì phải trách mấy vị "phụ mẫu" kia đã dùng cái thuật độn để hoá phép, làm cho nhiệm vụ biến phắt thành ân đức. Thực ra, sâu xa hơn, lỗi là ở phép cộng sinh quan trường, là tại dân trí thời phong kiến còn mông lung, người dân chưa hiểu mình đóng thuế cho nhà vua để làm gì và đinh ninh cho rằng cái mà mình nhận được trong cứu tế nhất định là ân sủng, là mưa móc của vua. Dù sao, đấy là ông vua tốt. Mà cũng tốt thật, bởi, thực tế, những ông vua thuộc loại này rất không ưa cái lối hành xử "Sống chết mặc bay" và chỉ hiểu chữ chính trị theo cái nghĩa thuần phác của nó: Phép trị dân ngay thẳng và có học vấn. Tuy vậy, ngay thẳng mà nói, những ông vua kiểu này không nhiều. Hôn quân thì chẳng nói làm gì, đối với những ông vua sáng, khi xây dựng đất nước: Vua và dân cùng làm; lúc có nạn giặc dã, ngoại xâm: Vua và dân cùng đánh giặc. Khi tan giặc: Vua xây cung điện, lăng tẩm tráng lệ để nhốt trái tim cô quả của mình, đúc đỉnh lớn đặt trước công điện biểu thị quyền uy tuyệt đối, bền vững muôn đời và ngày đêm canh cánh nhắc nhở người dân phải muôn năm nhớ ơn mình; còn người dân thì lủi thủi đem trái tim vàng của mình về nơi mái nhà gianh trong luỹ tre xanh chăm lo cày cấy và thỉnh thoảng lại tung hô đức kim thượng anh minh vạn vạn tuế. Tại sao vậy ? Rất đơn giản: Nhà nước phong kiến là nhà nước tư nhân.
 
*
 
Một lần, cách đây khoảng hơn chục năm, xem phim trên truyền hình thấy: Một đôi vợ chồng già cô quạnh, đang cùng nghe một bản nhạc cổ điển. Không khí ban đêm mượt như nhung, chiều sâu của giai điệu và ánh sáng huyền ảo của ngọn nến trong căn phòng của họ khiến người xem phim như cũng chìm theo vào cõi u hoài sâu lắng của trường đoạn. Đột nhiên một gói xà phòng to tổ bố vụt hiện trên màn hình, kèm theo đó là một giọng nam nhi phấn chấn ở cường độ cao: Đã có Ômô mới !!! - Tôi giật bắn mình, bàng hoàng tê dại ... và hàng tháng trời sau mà vẫn không sao quên nổi được cái cảm giác hãi hùng chưa bao giờ trải nghiệm ấy.
Gần đây, "Đuổi hình bắt chữ" - là một chương trình giải trí - với những câu đố bằng hình vẽ, đã lôi cuốn được rất nhiều khán giả của mọi lứa tuổi. Một tối thứ bảy, đến chơi nhà một người bạn, nhân có "Đuổi hình bắt chữ" tôi cũng ngồi xem luôn với cả nhà. Tất cả cùng tham gia, cùng căng đầu ra mà suy mà đoán, cùng phá lên cười vì những lời giải hóm hỉnh, ngộ nghĩnh và bất ngờ đến thú vị. Thế rồi: Chương trình quảng cáo ! ... các khuôn mặt thần ra như những thực khách khoẻ mạnh và háu đói đang ăn ngon miệng thì món ăn đã ... bị đem đi. Vợ bạn tôi khẽ khàng đứng dậy: “Hai anh em nói chuyện tiếp đi. Em xin lỗi một lát”. Nhìn chị đi vào trong nhà, tôi ngạc nhiên: “Bà ấy không xem nữa sao ?”. Bạn tôi nói nhỏ: “Đi tắm đấy ! Bà ấy có cái quý là luôn chủ động và vui vẻ”.
- Quảng cáo gì mà lâu thế ! - Bé gái con bạn tôi sốt ruột, buồn thiu thở dài đánh sượt, vẻ đầy bất mãn.
- Đã xem không phải trả tiền lại còn kêu ca ! - Cháu trai, là anh cháu gái, chững chạc giải thích và trấn an cô em. Cầm cái điều khiển lên, nó chuyển tạm sang kênh khác.
Mẹ hai đứa trẻ đi ra vừa lúc hết quảng cáo, chương trình vận hành trở lại. Quý đồng chí MC vẫn vô cùng hào hứng. Cũng may, MC không phải chứng kiến những điều xảy ra từ phía người xem. Nếu phải chứng kiến thì e rằng cái tâm hồn nghệ sỹ nhạy cảm, dễ bị tổn thương của anh không chắc còn đủ công lực để tiếp tục “em xi” hào hứng như trước nữa. Đồng ý là kinh doanh, cái lý không ai phủ nhận được, nhưng có còn cách nào khác không ? Trong trường hợp này, người làm truyền hình và khán giả, ai là người có văn hoá ? Câu hỏi này hoàn toàn không cần thiết, bởi, nghĩ cho đến hết nhẽ thực tiễn khách quan, cả hai bên, bên nào cũng có văn hoá của mình. Trong ẩm thực, người ta luôn quan tâm và rất hứng thú với các hoà vị. Khoa học ẩm thực và Nghệ thuật ẩm thực là quá trình không ngừng tạo ra các hoà vị mới.
Rau không đẻ ra sâu. Nhưng có rau thì có sâu. "Rau nào sâu ấy". Sâu tuy có ăn lá rau, nhưng mẹ nó, là con bướm (chính nó cũng sắp hoá thành bướm), lại giúp cho hoa của rau thụ phấn, tạo hạt giống cho những mùa sau. Có điều, nếu nhiều sâu quá e sẽ mất mùa, và do đó, cũng không loại trừ khả năng mất luôn cả giống !
Xét cho cùng, tinh thần của Độn học, về cơ bản, là đánh lừa.
Ông bố trỏ tay vào bát cà muối bảo đấy là trứng voi, làm cho thằng bé con, vốn lười ăn, ăn ngon lành đến no bụng là ông bố tốt.
Ông bố ngày nào cũng gọi cà muối là trứng voi là ông bố hư !
 
  10/2005 - 02/2008
Đánh máy: Thiện Văn
[1]  Những năm sáu mươi thế kỷ trước - Tạp văn Mạc Ngôn. Nxb Văn học. 2005
[/align] [2]  Chữ trong Hề theo Từ Thức.
[/align] [3] Bachelor: Cử nhân
[/align] [/align]
Đăng nhập để trả lời
0
 Nghiêm Lương Thành



THẸN
 
 
Con gái, trước khi về nhà chồng, dù ít dù nhiều, cha mẹ thường chuẩn bị cho chút của hồi môn cùng những kiến thức ứng xử tối thiểu nào đó trong môi trường mới. Con trai, trước khi lấy vợ, bước vào cuộc sống tự lập, cũng được cha mẹ cho trước hoặc một cái nghề, hoặc một học vấn và một ít vốn. Cha mẹ sinh con, còn giời thì sinh tính. Bởi vậy, để con người có thể đứng được trong trời đất, từ khi mới được sinh ra, ông giời đã bình đẳng ban cho mỗi người tính thiện và tính thẹn ngang bằng nhau. Trong quá trình sử dụng quỹ tuổi thọ của mình, tuỳ theo từng người, những tính này có khi giữ được nguyên vẹn, có khi hao dần và thậm chí chẳng còn chút nào, nhưng cũng có khi lại còn nhiều hơn so với mức giời ban từ thuở "chi sơ". Người đời gọi kiểu thứ nhất là lương dân, kiểu thứ hai là tiện dân hay đạo tặc (tuỳ theo mức độ) và kiểu thứ ba là tiểu bồ tát. Nhà thờ và nhà chùa rất quan tâm đến kiểu thứ hai này.
Có ý kiến băn khoăn cho rằng người đời chỉ quan tâm và đánh giá cao tính thiện nên mới nói Nhân chi sơ tính bản thiện chứ, tuyệt nhiên, chưa thấy ai bảo Nhân chi sơ tính bản sỉ. Thực ra trong thiện đã có sỉ. Sỉ chính là một mặt luôn lấp lánh toả sáng trên viên ngọc Thiện. Vì vậy, không phải vô cớ, trong ngôn ngữ, nhóm từ vựng dùng để diễn đạt trạng thái tâm lý này không hề nghèo nếu như không muốn nói khá phong phú: Thẹn, thẹn thùng, thẹn thò, thèn thẹn, hổ, hổ ngươi, xấu hổ, ngượng, ngượng ngập, ngượng nghịu, ngường ngượng ... Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học ấn hành năm 2004 chua rằng: Thẹn là trạng thái tự cảm thấy mình có điều gì đó không nên, không phải hoặc không xứng đáng. Như vậy, Thẹn là trạng thái tâm lý của kẻ mang đức thiện.
Cái thẹn tự nhiên, hơn bất cứ đồ trang sức nào, là vẻ đẹp thiên bẩm của người con gái. Cái thẹn thiên bẩm làm cho người con gái trở nên duyên dáng đáng yêu, tạo nên sự cuốn hút say mê không sao cưỡng nổi đối với đám mày râu “khí phách nghiêng trời”. Cô nào không có được cái thẹn tự nhiên này thì, bằng sự láu cá, cũng có thể tạo ra được cái vẻ na ná như thế. Loại thẹn này có được là nhờ vào sự quan sát, trí suy xét, phân tích, tổng hợp, phảng phất bản sắc hàn lâm. Trong đời sống thường ngày, sự duy trì cái thẹn nhân tạo này không thể không có lúc sao nhãng. Và lúc ấy, đương nhiên, cái vẻ đáng yêu hàn lâm kia không còn nữa và, cũng đương nhiên, cái sự say mê khác giới mà nó quyến được liền bị đứt phựt, cũng tự nhiên như lúc nó đến, khó lòng mà nối lại được nữa.
Thẹn là một năng lực lương tri, đôi khi ta hay nhầm lẫn nó với tính rụt rè nhút nhát. Thường, ta vẫn nhìn nhận nó như là cái gì đấy, có vẻ nhỏ nhặt, tầm phào, lờ mờ, không hề có tính luật pháp, cũng chẳng mang tính tôn giáo ... nhưng, thực ra, lại có khả năng điều chỉnh và tiết chế hành vi, duy trì tâm thế có nhiều ánh sáng cho mỗi chúng sinh. Cái thẹn làm cho chàng trai trở nên cương cường trung chính, khiến bậc trí giả trở nên khiêm tốn quang minh. Ngày trước, nếu ai đó bị mắng: Đồ vô sỉ ! thì cũng hiểu là: Mày có còn là giống người nữa không ?!  Ở bậc trí giả, cái thẹn có tính tự giác sâu xa, bởi họ có năng lực tự thẹn với chính mình, với cái tôi tiềm ẩn trong sâu kín, không nói ra cũng chẳng ai biết. Cái thẹn cũng mang tính di truyền, được biểu hiện ra như là đặc tính của những danh gia, danh tộc trong lịch sử.
Với không ít người, Thẹn là cái gì đó "ngáng trở đời sống": Thẹn thì có mà đến cháo cũng chẳng có mà ăn, đến hết đời cũng chẳng có nổi cái bằng phổ thông trung học mà dán vào ngực ... !  Vì thế, số ít người tự nhiên vô tình mà đánh mất, số không ít người lại chủ động gạt bỏ để dễ bề tranh đấu trong cuộc tồn sinh nhân văn đa sắc và bất khả tiên liệu này. Vì vậy, dĩ nhiên, một cô gái làng chơi sành nghề, trước khi với khách, hoàn toàn có thể quay lại, chớp chớp làn mi cong vút ngây thơ, nói với một bạn nghề của mình: “Nhớ cất giùm mình quyển Mỹ học đi nhé !”. Diễn viên đóng phim đóng kịch đương nhiên là rất hiểu điều này vì nó là một trong nhiều yếu tố để tạo nên những trình thức cơ bản.
Người càng nhận thức được bản thân thì càng dễ thẹn và do đó càng có nhiều khả năng tránh được việc làm điều không phải. Có vẻ như, người mang tính thẹn cao khó lòng đứng vững được trong thiên hạ; muốn đứng được, loại người này buộc phải có tài năng xuất chúng. Đó là trường hợp của Nguyễn Trãi. Nhưng cuối cùng, cụ cũng lại khốn đốn bởi tay của những kẻ vốn thẹn thùng với cái thẹn. Thường, ta vẫn cho rằng bói toán là điều dị đoan xằng bậy. Thấy người ngay thẳng, thày phán một câu "Sẽ được bạn bè và người quen kính trọng nhưng cuộc sống cũng lận đận lắm" chẳng qua cũng là nương theo cái lý của đời sống mà nói, chứ, tuyệt nhiên, không hề bịa đặt theo ý riêng của mình.
Thẹn là một đức lớn trong trời đất, là nền tảng của cái thiện. Biết tự làm giàu đức thẹn cho mình là biểu hiện của một năng lực nhận thức đạo lý cao. Có lẽ bởi thế kẻ mạnh là người biết thẹn.
Kẻ vô sỉ càng có học vấn cao càng trí trá, ác hiểm. Người tâm sỉ càng có học vấn cao càng cầu thiện, càng quang minh chính đại. Kẻ vô sỉ không ưa và chưa bao giờ muốn chung đụng bầu trời với người tâm sỉ.
Kẻ vô sỉ tuyệt đối dị ứng với hai chữ vô sỉ. Vì vậy, ngày nay, một cách biện chứng, kỹ thuật thẹn cũng đang được đẩy lên một tầm cao mới. Trước tác Mặc áo cà sa và sài ráo cả “đậu phụ chùa” lẫn “đậu phụ làng" là đỉnh cao mặc định của kỹ thuật ấy.
 
 
Tháng 03 năm 2006
Đánh máy: Thiện Văn
Đăng nhập để trả lời
0
Nghiêm Lương Thành



CẢM ƠN ĐỒNG CHÍ !
 
 
            Trang là kẻ may mắn, vừa mới ra trường được có ba tháng đã xin được việc làm ngay. Khối anh chị học trước Trang có đến ba bốn năm, cho đến lúc ấy đã xin được việc làm đâu. Như người anh họ của Trang, xin được việc rồi, mấy tháng sau đã thấy bỏ. Hỏi tại sao thì bảo ở cái cơ quan đó, không có gì giống như anh vẫn nghĩ từ hồi trong nhà trường. "Không giống ở chỗ nào ?". "Nhiều người nói dối lắm; mà chả thấy ai ngượng cả. Thế mới tài chứ ! Anh thấy hai hãi thế nào ấy. Thôi … tốt nhất là gài số lùi và tìm hướng khác". Trang không tin; chắc là có vấn đề gì đấy, anh giấu Trang, không muốn nói ra.
            Cơ quan Trang xin được vào làm là một đơn vị hành chính sự nghiệp trực thuộc Bộ. Các bạn bè đều mừng cho Trang, đều cho Trang là kẻ quá may mắn và cái may mắn ấy có tầm cỡ tương đương với người trúng số. Cũng vì vậy mà Trang đã phải chi hết cả tháng lương đầu tiên để khao bọn chúng. Bọn chúng cùng cười và bảo: Thế là phải. Lộc bất khả hưởng tận mà !
            Trang về cơ quan vào đúng cái đận mưa bão, lụt lội xảy ra ở nhiều tỉnh miền nam. Xem tivi mà thấy cám cảnh. Hàng vạn người màn trời chiếu nước, nhiều người bị lũ cuốn mất xác, trẻ em không có chỗ học, đội cứu hộ phải đưa từng gói mỳ ăn liền đến từng nóc nhà ... Cứ nghĩ đến việc sao lại có nhiều người không may đến thế, trong lòng Trang lại thấy vô cùng buồn bã. Kỳ lĩnh lương ấy ở cơ quan, bà thủ quỹ bảo trừ mỗi người một ngày lương, tập trung lại gửi công đoàn Bộ để ủng hộ đồng bào bão lụt. Trang vui quá, hỏi: "Cô ơi, cháu ủng hộ thêm một ngày nữa có được không ?". Bà nhìn Trang trân trân, rồi cúi mặt xuống quyển sổ lương, thủng thẳng: "Được thôi. Khoản này chỉ có mức sàn, không có mức trần, chỉ lo cô không có sức !". Cả cơ quan, không có ai là người không ủng hộ. Trang xem tivi, cũng thấy ở một Bộ khác, có một thứ trưởng đã cùng với một đoàn tuỳ tùng, cất công đi tàu bay, xông pha lặn lội vào tận nơi, đem năm mươi triệu để thăm hỏi người dân.
            Cuối năm ấy, tổng kết công đoàn bộ phận, nghe Chủ tịch công đoàn đọc báo cáo, Trang mới biết công đoàn cơ quan từ đầu năm đã tham gia nhiều đợt ủng hộ kiểu như vậy. Lần nào cũng được công đoàn Bộ nhiệt liệt biểu dương thành tích. Riêng cuối năm lại còn được nhận một tấm bằng khen: Đơn vị xuất sắc trong phong trào “Lá lành đùm lá rách”. Các cá nhân, không sót một ai, cũng đều nhận được giấy khen và tiền thưởng. Trần Tự Tĩnh, một đồng nghiệp cùng phòng, cũng nhận được một tờ giấy khen và một chiếc phong bì. Cả cơ quan, ai cũng vui mừng, hồ hởi. Riêng Tĩnh, đôi mắt lúc nào trông cũng buồn buồn, thì không thấy có biểu hiện gì đặc biệt so với ngày thường. Vì mới về cơ quan được có hơn bốn tháng, Trang chưa có giấy khen, không có phong bì, nhưng vẫn thấy vui, vui quá là vui ! Trang vui vì Trang được gần những cái "đèn" sáng. Mà "gần đèn” thì, còn bàn gì nữa, sớm muộn rồi nhất định cũng sẽ "rạng"; biết đâu, còn rạng ngời nữa ấy chứ ! Trang nghĩ: Bố mẹ cô nhất định sẽ vui. Trang bỗng thấy yêu những người đồng nghiệp đầy thiện tâm của Trang quá. Trang thấy bồn chồn, cô muốn phấn đấu, cô muốn học theo họ, cô ước mình theo kịp họ. Nghĩ tới người anh họ không may của mình, Trang thấy có một cái gì đấy, đang dâng lên trong người: vừa cảm thông với anh, vừa cảm thấy xấu hổ vì mình may mắn hơn anh nhiều quá. Không hiểu tháng này anh ấy đã tìm được chỗ làm mới chưa ? Cầu cho anh cũng được may mắn như Trang !
            Có điều, trong cơ quan, nói thẳng ra, người Trang có ít cảm tình nhất chính là anh Tĩnh. Trong phòng, anh là người duy nhất luôn đi làm và về đúng giờ, tăm tắp như một cái đồng hồ. Đến là ngồi vào bàn, cắm cúi làm việc ngay và phần việc do anh đảm nhiệm chưa bao giờ thấy bị bê trễ. Tuy vậy, anh sống có vẻ lập dị, chẳng bao giờ cùng ngồi uống trà, tán dóc cởi mở với anh em. Mà, điều này ai chả biết, đã có tán dóc thì sớm muộn cũng phải đụng đến một ai đó; mà đã đụng đến thì tất sẽ có lời nghị luận, bình phẩm; những lúc ấy, thường thấy anh lẳng lặng, khẽ khàng đi ra ngoài. Và việc đó, thật tệ hại, thường làm mất hứng của mọi người. Nghe nói, mùa hè năm nào công đoàn cơ quan cũng tổ chức đi tham quan, nghỉ mát tập thể nhưng anh là người luôn vắng mặt. Anh bảo anh bận, không đi được và chỉ nhận tiền nghỉ mát theo tiêu chuẩn. Có lần, muốn cho anh phải tham gia, thư ký công đoàn ép: Ai không đi cũng không được nhận tiền. Câu nói ấy rốt cuộc cũng không đủ công lực để cuốn anh vào đời sống cộng đồng. Bốn tháng trời trôi qua mà Trang mới được thấy nhõn một nụ cười vui vẻ trên cái khuôn mặt khó đăm đăm, có nhiều nếp nhăn ấy. Đấy là lần một đồng nghiệp thông báo con anh ta đã trúng tuyển đại học. Tóm lại, không ai phát biểu thành lời, nhưng đều cho rằng sống như Tĩnh thì có khác nào một cái máy. Con người hiện đại muốn tồn tại được dứt khoát phải có tính cộng đồng. Trang cũng đồng ý như vậy.
 
*
 
            Một cái tết Nguyên đán đã qua đi thật vui vẻ. Sau tết, mọi người lại bắt tay vào công việc như bình thường. Khắp các đường phố, đâu đâu cũng thấy giăng đầy một lớp bụi nước li ti.  Mùa xuân vẫn tiếp tục làm các việc của nó. Con gái đi ra đường, má cô nào cũng hây hây đỏ, nom xinh xinh là; đôi má của Trang cũng thế. Đã lâu lắm mới được thấy lại những chú chim sâu xanh xanh nhảy lách chách, nghiêng nghiêng những cái mỏ xinh xinh, tìm sâu trong những cái búp cây xanh nõn nuột trên cây sấu già có cành mọc chìa vào gần cái cửa sổ phòng làm việc.
Vào một ngày đẹp trời, thư ký công đoàn triệu tập họp toàn cơ quan và thông báo: Năm nay, thay vì kỳ nghỉ mát mùa hè như mọi năm, công đoàn cơ quan sẽ đổi món, tổ chức du xuân đầu năm đến các địa điểm: Đền Hùng, Chùa Hương và Nhà thờ Phát Diệm. Ai tham gia được thì đăng ký với anh Hoan, ai không tham gia được thì cũng gặp anh để nhận tiền tiêu chuẩn.
Cuối giờ buổi sáng, khi đi ngang qua phòng anh Hoan, Trang nghe tiếng gọi. Ngoảnh lại, thấy anh Hoan vẫy tay, đưa cho một cái phong bì dán kín có in một hàng chữ ở góc trái trên cùng "Công đoàn viện quy hoạch": "Cô cầm giúp tiền tiêu chuẩn về cho cậu Tĩnh. Tệ thật, cái tay này, tuổi mới có ngoài năm mươi mà xem ra còn già quá cả mấy ông cụ về hưu có thâm niên, chẳng còn biết cái cuộc đời này nó tươi đẹp như thế nào nữa !".
Trang đưa cái phong bì tiền cho Tĩnh. Anh cầm lấy, mắt sáng lên, mồm cười rộng ngoác (Nụ cười thứ hai Trang được chứng kiến): Cảm ơn cô ! Thế thì tốt quá, tốt quá ! Trang thấy hơi bực mình và không khỏi có ý coi thường, nhưng cố giấu diếm bằng một nụ cười nhạt thếch và quay trở về bàn làm việc, nghĩ bụng: Đúng là cái loại chỉ biết có tiền !
Đầu giờ chiều, Trang và anh Tĩnh có việc phải xuống một công ty ở Giáp Bát. Để khỏi lạc nhau, chờ đợi mất thời gian, họ quyết định đi chung một chiếc xe máy. Xong việc, trên đường về cơ quan, Tĩnh dừng lại, trao xe cho Trang, bảo:
            - Cô về trước nhé, tôi có chút việc ghé vào chỗ người quen một lát. Xong việc, tôi đi xe buýt về cũng tiện.
            - Thế thì còn gì là tính đồng đội nữa ? Trang nói, phần bất mãn vì cái tính thiếu hoà đồng của anh, phần cảm thấy mình về trước thì vừa bất tiện, vừa không phải - Thôi, cùng đi thì cùng về. Nâng cao tính cộng đồng anh ạ.
            Tưởng nói thế thì xong nhưng Trang không ngờ mặt anh lại đỏ lên, lúng túng:
            - Thôi, việc riêng ấy mà. Cảm ơn, cô cứ về trước đi, có gì mà phải áy náy !
            Nói, rồi anh xoay lưng đi qua đường tàu hoả và tiến vào một con đường nhỏ rải nhựa, bề mặt từ lâu đã trở nên lồi lõm, khấp khểnh. Trang vẫn đứng, đang chưa biết mình phải làm gì thì anh quay lại. Thấy Trang vẫn đứng ngẩn mặt nhìn theo, khuôn mặt anh trở nên vừa thểu não vừa có phần hơi khó chịu. Anh nhăn mặt, hất hất bàn tay, ra hiệu cứ đi đi. Trang đâm sinh nghi: Có vẻ không được bình thường ! Hay anh chàng có bồ bịch gì ở khu này ? Cô quay xe, khởi động máy, rồi không hiểu sao, lại quay đầu nhìn lại. Thấy anh vẫn đứng nguyên, lại nhăn mặt. Trang lắc đầu chán nản, miễn cưỡng tăng ga cho xe chạy. Được mấy chục mét, quay đầu nhìn lại, đã không thấy anh đâu. Ái chà, thời buổi này ... ghê gớm thật. Nhất định phải tìm cho ra nhẽ ! Phát hiện ra có chỗ gửi xe phía trước một siêu thị, Trang đưa xe vào đấy và vẫy một cái xe ôm.
            Theo sự chỉ dẫn của Trang, anh xe ôm rẽ vào con đường đó. Không đầy nửa phút sau, Trang trông thấy anh vẫn lững thững đi bộ phía trước. Cô líu ríu vỗ nhẹ vào vai anh xe ôm:
- Đi chậm lại anh ơi. Bám sát cái người đi bộ mặc áo budông màu xám phía trước mặt kia kìa !
- A, tôi hiểu rồi ! ... Chồng cô đấy à ?
- ... Vâng - Trang hơi lúng túng.
- Thời buổi này, mấy ông bàn giấy là dửng mỡ lắm, tôi còn lạ gì ... kiếm chác được ít tiền, rồi sinh ra nhảm nhí !
Chợt Tĩnh dừng lại, rồi thấy anh rẽ vào một căn nhà có cái cánh cửa nửa mở nửa khép.
- À, thế thì thuận lợi rồi - Anh xe khẽ reo lên - Nhà tôi đối diện với cái nhà đó. Khi tôi dừng xe, cô phải bước nhanh vào nhà để tránh bị phát hiện.
Trang thực hiện đúng như lời của anh xe. Hai người vội khép cửa lại và mở hé tấm rèm che cửa sổ: Thấy Tĩnh đang đứng nói gì đấy với một người phụ nữ. Anh xe như nhận ra Tĩnh: "Ô, tưởng ai ! chứ anh này tôi thấy thỉnh thoảng vẫn đến". Rồi sau đó Tĩnh và người phụ nữ kia đi vào nhà trong. Trang há hốc mồm, cứ đứng dán mắt nhìn qua khe rèm. Hồi lâu, nhìn đồng hồ, đã gần ba mươi phút mà vẫn chưa thấy họ ra. Anh xe ôm, hết nhìn sang nhà đối diện lại nhìn sang phía Trang, không hiểu sao nét mặt trở nên rầu rầu như người có lỗi, nói với Trang như muốn tìm sự thông cảm:
- Anh chồng chị ta ốm nằm liệt giường đã hơn hai năm nay. Một nách ba đứa con đang còn học phổ thông. Không có việc làm. Khổ ! hôm nào chị ta cũng dậy từ ba giờ sáng, ra chợ Long Biên cất rau về bán ở cái chợ gần chỗ tôi đứng đón khách ấy. Thôi ... có gì thì cô cũng xuê xoa cho, cô ấy cũng là người quá vất vả !
Lúc ấy, lại thấy hai người đi ra. Tĩnh dừng lại, nói câu gì đó rồi rút trong túi ra một vật mong mỏng, trăng trắng đưa cho người phụ nữ. "Chắc là tiền đấy !" - Trang lẩm bẩm. Rồi bằng thứ tình cảm phẫn nộ trong sáng của một cô gái đoan chính chưa chồng, chưa từng biết mùi trần ai, Trang mở toang cánh cửa, bay qua đường, lao thẳng vào cái nhà có hai kẻ tội lỗi đó. Người phụ nữ thấy Trang đột ngột xộc vào thì thất thần, cái phong bì trên tay run rẩy rớt tẹt xuống đất.
- Sao cô lại ở đây. Đã bảo là tôi đi xe buýt cũng được mà. - Tĩnh gắt lên, ngay sau khi nhận ra Trang.
- Chào chị - Người phụ nữ, mặt vẫn tái nhợt, khẽ chào Trang, vẻ mặt như đang chờ đợi một điều chẳng lành.
Trang lạnh tanh, không thèm nói gì, quăng một cái nhìn ghê tởm về phía hai người.
- Ô, hay nhỉ ! - Tĩnh nói, giọng trách móc - Để tôi giới thiệu hai người: Đây là cô Trang, làm cùng phòng với tôi. Còn đây là Thuý, vợ anh Hải. Anh Hải trước đây là bạn lính, về sau là đồng nghiệp của tôi. Cách đây hơn hai năm, anh ấy cũng là người phòng mình đấy.
- Tĩnh ơi ! - Có tiếng gọi yếu ớt từ trong nhà vọng ra.
Trang cúi nhặt chiếc phong bì và nhận ra dòng chữ "Công đoàn viện quy hoạch". Theo hai người vào trong, cô thấy, trong góc nhà, một người đàn ông hốc hác, xám ngoét, nhỏ thó đang nằm trên một cái giường. Tĩnh ngồi xuỗng cạnh giường. Người đó khó nhọc đưa tay lên chào Trang, rồi cầm lấy tay Tĩnh: "Thằng gàn ! Lúc nào rảnh lại đến nhé. Buồn lắm mày ạ !". Sau đó, hai người không nói gì, cứ thế, nắm lấy tay nhau hồi lâu.
Lúc ra ngoài nhà, Trang đưa lại cho chị Thuý cái phong bì. Chị cầm lấy, giọng buồn buồn: "Nhờ anh Tĩnh với cô chuyển lời cảm ơn của gia đình tới công đoàn viện nhé".
Trang và Tĩnh bước ra khỏi nhà. Anh xe ôm đã ra đứng trước cửa từ bao giờ, nhìn “hai vợ chồng”, lo lắng. Trang tươi cười, giơ tay chào và quên béng là mình chưa trả tiền xe cho anh. Đi một quãng, nhìn lại, vẫn thấy anh chàng đang đứng nhìn theo: miệng há hốc, mắt tròn xoe.
Trên đường về, lúc xe chạy ngang hội trường Ba Đình, Trang hỏi anh Tĩnh:
- Công đoàn có biết hoàn cảnh nhà anh Hải không ?
- Không rõ - Tĩnh trả lời, giọng thờ ơ.
Im lặng lúc lâu, cho đến khi xe chạy tới đầu đường Thanh Niên, Trang lại nói:
- Anh ơi !
- Gì ?
- Em ... em muốn ... - Cô rụt rè.
- Muốn gì ?
- … làm Chủ tịch công đoàn !
Tĩnh cảm thấy tay lái hình như hơi lạng đi. Anh giảm ga, tạt vào lề đường, ngay trước cổng đền Trấn võ, ngoảnh lại nhìn Trang, nom chẳng khác một nhà nghiên cứu khoa nhân văn.
- Nói lại !
Trang nói nhỏ, nhưng rành rọt từng chữ:
- Em muốn làm Chủ - tịch - công - đoàn !
Tĩnh trố mắt, ngỡ ngàng ... Hồi lâu, khuôn mặt dần giãn ra, anh mỉm cười, hiền hậu chân thành:
- Cảm ơn đồng chí !
Hình như hai pho tượng mặt đỏ mắt quắc, mình vận võ phục, tay chống long đao đứng trước cửa đền cũng đang nhìn họ mỉm cười.
 Tháng 9 năm 2006



Đánh máy: Thiện Văn

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-02-28 12:06:22Ct.Ly>
Nghiêm Lương Thành



CÓ GÌ ĐỂ MỞ RỘNG TẦM MẮT ?
 
           
            Do tính chất của công việc, Trung có cái may mắn được đi nhiều nơi, đến tận các ngóc ngách của nhiều tỉnh; từ đồng bằng, duyên hải cho tới miền núi cao, lũng sâu.
            Lần ấy, Trung và một số đồng nghiệp được giao nhiệm vụ đi làm Báo cáo nghiên cứu khả thi cho một số tiểu dự án. Trong các tiểu dự án họ phải làm, có một số thuộc Phú Yên, một số thuộc Gia Lai. Công việc ở Phú Yên diễn ra khá thuận, nhưng ở Gia lai thì lại cả là một vấn đề. Khi đến xã Thắng Lợi thuộc huyện Ayun, một xã chỉ cách đường 19 khoảng 40 km, con đường được coi là tốt nhất của Miền nam trước năm 1975, họ phải mất khá nhiều thời gian mới làm cho người dân hiểu và tham gia vào các hoạt động của dự án; rằng tại sao phải quy hoạch sử dụng đất, phải giao đất cho dân bằng sổ đỏ; tại sao phải bảo vệ rừng, phải trồng thêm rừng; tại sao phải phát triển kinh tế gia đình, phải phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn … Cũng phải thôi: Người dân ở đây nói tiếng phổ thông còn chưa thạo, quanh năm chẳng biết sách báo là gì. Sinh kế chủ yếu phụ thuộc vào thiên nhiên và việc hái lượm trong rừng. Số ít những người khoẻ mạnh thì vào rừng, chọn những cây gỗ quý, hồn nhiên đốn hạ rồi xẻ ra thành từng hộp, đem bán cho cánh lái gỗ chui lủi với giá rẻ như bèo. Khi chuyện trò với người dân mới biết, thậm chí có một số cụ già chưa biết đường nhựa là gì bởi cả đời chưa bao giờ ra tới đó.
Đoàn công tác của Trung được uỷ ban xã bố trí cho ngủ tại trụ sở uỷ ban. Hôm đầu tiên, đoàn đi thực địa cả ngày, rà soát lại kết quả thống kê quỹ đất đai do Báo cáo tiền khả thi đưa ra. Lường trước phải chiều muộn mới về được, Trung bèn nhờ Đinh Dêch, chủ tịch xã, bố trí người nấu giúp cơm chiều và dặn nếu đoàn về muộn thì anh em trong uỷ ban cứ ăn trước, đừng chờ. Lương thực và thực phẩm đoàn có đem theo nên cũng không phiền gì lắm. Xẩm tối hôm ấy, sau một ngày leo rừng lội suối mỏi nhừ, về đến nơi thấy mọi người đang ăn. Một anh trong đoàn nhìn thức ăn trên mâm chẳng có gì thì kêu lên: “Sao các anh không ăn thịt gà ?”. Cậu cán bộ công an xã cười: “Không cần đâu, được ăn cơm không thế này là sướng rồi mà !”.
Câu nói đó khiến Trung giật mình, ái ngại. Cán bộ còn như vậy, dân thì sao ? Thế là, vào một buổi trưa, Trung quyết định rủ Đinh Dêch cùng đi vào buôn để xem bữa ăn của dân trong buôn như thế nào. Đa số các nhà khép cửa và có một cành cây để phía trước. Nghe Đinh Dêch giải thích, mới biết đấy là thông tin: Cả nhà đang đi rừng. Họ chỉ vào được hai nhà. Nhà thứ nhất, cả gia đình đang xúm quanh nồi cháo nấu với lá sắn (lá cây củ mì). Nhà thứ hai chỉ thấy có một cụ già. Hỏi: “Cụ ơi, cụ đã ăn gì chưa ?”. Đáp: “Ăn rồi”. “Cụ ăn gì ?”. Cụ già lấy tay trỏ vào cái gùi để bên cửa ra vào: “Ở trong nớ”. Nhìn vào bên trong gùi, thấy có mấy ngọn rau dài ngoẵng, những cái lá non còn chưa kịp lớn. Cầm lên, Trung nhận ra đấy là mấy ngọn Hà thủ ô. Thấy Trung tần ngần ngắm ngía mấy ngọn rau, cụ già nói tiếp: “Cái đấy đắng lắm, chúng mày không ăn được đâu ! Thằng Dinh Dêch nó biết đấy”. Lợi dụng lúc Đinh Dêch vừa đi ra ngoài, đang đà chuyện, Trung tranh thủ hỏi:
-         Dân các buôn có sợ Đinh Dêch không ?
-         Sao lại sợ ?
-         Nó là chủ tịch xã mà !
-         Không đâu. Nó đâu có làm gì mình, không ai sợ. Nó nói đúng thì làm theo thôi.
-         Nó có tốt với dân buôn không ?
            -   Tốt nhiều chớ. Dân các buôn đói, nó cũng đói. Dân các buôn no, nó cũng no. Nó là người của chúng tao mà.
Quả thực, Đinh Dêch là một chàng trai tháo vát, xốc vác trong tất cả những việc có thể giúp ích được cho dân các buôn. Và như vậy, trên thực tế, anh luôn phải nhận phần thiệt về mình. Dân các buôn ai cũng biết điều đó. Nhiều việc dân chưa thông, nhưng anh bảo thì họ vẫn làm, không cần nhận thức sâu sắc, quán triệt cao độ như dân dưới xuôi. Ở nơi heo hút lạc hậu ấy, người ta không hiểu “quan” là gì, cả chủ tịch, cả dân đều là những người thuần phác, giản dị: trong lòng có điều bực bội thì mặt mũi liền cau có, thấy buồn thì khóc, có điều vui vẻ thì cười hở cả chục cái răng, thấy người trong buôn gặp được điều tốt đẹp thì mừng vui hồ hởi, gặp điều phải thì gật, thấy điều quấy thì bứt rứt không ưng … Thời gian đó Trung đã trở thành người của các buôn; Đinh Dêch và Trung cũng trở thành đôi bạn thân thiết.
            So với Phú Yên, Đoàn mất đến gấp đôi thời gian để hoàn thành công việc. Các đồng nghiệp của Trung, chẳng cần phải bàn cãi, ai cũng quá hiểu một thực tế rằng đồng bằng và duyên hải là hai khu vực văn minh hơn miền núi. Lại thấy, từ nửa thế kỷ nay, vẫn có một khẩu hiệu “Đưa miền núi tiến kịp miền xuôi”, nên Trung, mặc nhiên, cũng nghĩ như vậy. Thế là đúng. Chỉ có kẻ dở hơi mới làm cái việc cãi lại thực tiễn khách quan !
 
*
 
            Không hiểu sao, khi đã lớn tuổi, vào những ngày nghỉ cuối tuần, nhóm bạn của Trung thường thích tụ tập, ngồi với nhau với nhau một tý, nhâm nhi chén rượu, tào lao vui vẻ đủ các chuyện trên giời dưới đất. Một lần, vào một chủ nhật giá buốt, không hiểu thế nào, cái sự tào lao ấy lại lạc vào địa hạt văn hoá. Thế là một cuộc tranh luận ngoại ý đã bùng phát hào hứng giữa những gã ngoại đạo, vốn đang công tác ở một số ngành thuần tuý kỹ thuật. Chỉ riêng cái định nghĩa văn hoá là gì, đã mỗi người một ý. Người bảo: Văn hoá là văn minh, kẻ nói: Văn hoá rộng hơn, nó bao hàm cả văn minh … Ai cũng có lý của mình, không có trọng tài, thành thử, cuối cùng cũng chẳng đi đến đâu. Duy có một điểm khiến cho tất cả thống nhất, đó là: Văn hoá, văn minh gì gì thì cũng tuân theo quy luật phát triển khách quan. Nghĩa là, theo thời gian, chúng không ngừng tiệm tiến tới cái chân, thiện và mỹ.
            Chưa thấy thoả mãn, Trung liền tìm những cuốn sách chuyên luận về văn hoá để đọc. Sau một hồi tra cứu, tìm hiểu, thấy phức tạp quá, không thể nhớ và hệ thống lại được. Lại thấy có một cuốn nói rằng các học giả, đông tây kim cổ, đã đưa ra có tới trên 150 định nghĩa về khái niệm văn hoá ! Thế thì gay rồi. Trung chán nản, gấp sách lại và trong đầu chỉ còn đọng lại được vài điều. Ví dụ: vào nửa cuối thế kỷ XIX, các nhà tư tưởng Đức đã hiểu văn minh là hoạt động gắn liền với việc cải thiện kết cấu xã hội; còn văn hoá là những nỗ lực nhằm hoàn thiện bên trong cá nhân con người.
            Một tuần lễ trôi qua, bất chợt nghĩ lại, Trung đỏ mặt rồi phì cười một mình: Đúng là rỗi hơi, rách chuyện !
 
*
 
            Sau đấy gần một năm, Trung có dịp trở lại công tác Gia lai. Trước khi xuống xã, anh đến làm việc với Ban quản lý dự án tỉnh. Khi hỏi thăm tình hình thực hiện đầu tư hiện trường ở xã Thắng Lợi. Ai cũng khen đấy là xã tốt; công việc triển khai chưa nhanh, nhưng làm đến đâu chắc đến đấy. Hỏi thăm đến chủ tịch xã, một cán bộ hiện trường ở tỉnh bảo: “Tay đó tốt lắm, không có hắn thì việc thực hiện đầu tư ở xã chưa biết sẽ ra sao. Mà này – anh nói như vừa chợt nhớ ra – tháng trước, bọn mình mở lớp tập huấn ở tỉnh về Quản lý và vận hành các công trình hạ tầng cơ sở nông thôn, Đinh Dêch cũng đi dự đấy !”
            Vào đến xã, nóng lòng gặp lại Đinh Dêch, Trung xộc ngay vào Văn phòng uỷ ban. Ngồi sau bàn của chủ tịch xã, anh nhận ra đấy là một cậu ở buôn trong.
-    Chào Đinh Kông – Họ vồn vã bắt tay nhau – Đinh Dêch có ở đây không ?
Nét mặt Kông đang hớn hở, thoắt cái, đã ỉu xìu xìu. Anh nói với Trung, giọng rầu rầu:
-         Dân bản không cho nó làm chủ tịch nữa rồi !
-         Bây giờ là ai ?
-         Tao.
-         Ai cử mày ?
-         Dân các buôn.
-         Lâu chưa ?
-         Chín ngày rồi.
-         Tại sao vậy ?
-         Đừng hỏi nữa, cái bụng tao nó buồn lắm, không có muốn nói.
            -    Nhưng … - Tôi cố dỗ dành - tao từ miền Bắc vào đây, mày phải nói thì tao mới nắm được công tác mà làm chứ ?
            -   Ừ, thì nói, nhưng lát nữa mày phải vào nhà uống rượu với nó đấy ! – Kông giao hẹn.
-         Nhất định rồi, nó là bạn tao mà.
            -   Hồi tháng trước Đinh Dêch đi tập huấn ở tỉnh. Người học ai cũng nhận được tiền tiêu vặt. Có tiền trong túi, mấy thằng bên huyện K’bang rủ nó đi hát Kara … gì ấy. Vừa hát vừa uống bia lạnh; có cả con gái đẹp ngồi bên cạnh. Nó thích quá. Lúc về xã, đem kể cho lũ thanh niên nghe. Không biết thế nào, dân các buôn biết được, rồi đùng đùng kéo đến uỷ ban, bảo nó không được làm chủ tịch xã nữa và còn phạt vạ nữa đấy.
-         Nhưng việc đó phải có quyết định của chủ tịch huyện chứ ?
-         Tao không biết cái ấy. Nhưng dân muốn thế, huyện phải theo dân thôi.
-         Mày có thích làm chủ tịch xã không ?
-         Thích ! Nhưng không dám thích đâu !
-         Sao lại thích mà không dám thích ?
            -   Thằng Dêch nó giỏi nhiều, làm được nhiều việc; tao không giỏi, làm việc thấy run lắm !
Kông mở ngăn kéo, lấy ra một tờ giấy đưa cho Trung: “Vừa nhận được chiều hôm qua đấy”. Nhìn kỹ, thì ra là cái Quyết định của huyện bổ nhiệm Đinh Kông làm chủ tịch xã thay cho Đinh Dêch. Thế rồi, quên cả chào Kông, tay vẫn cầm tờ Quyết định, Trung lao như bay về phía nhà Đinh Dêch, đầu óc nóng váng lên một câu hỏi: Rốt cuộc, thế nào là văn minh ?!
 
*
 
            Sau đợt công tác, trở về Hà Nội, Trung sốt ruột, gọi điện, hò đám bạn bè đi uống bia để trút cho nhẹ bớt cái bầu tâm sự lạ lùng ấy. Khi cả bọn đã tề tựu đủ mặt, Trung không chờ được, mới bứt rứt thổ lộ:
-         Này các ông, tôi mới đi Tây Nguyên ra, có chuyện này …
            -    Lại chuyện mấy ông bà chưa biết chữ chứ gì ? - Một người bạn thô bạo cắt ngang - Thôi, con lạy bố ! Nghe mãi rồi. Lạc hậu chết đi được. Có gì để mở rộng tầm mắt !
 
Tháng 9 năm 2006
Đánh máy: Thiện Văn
 
 
Những truyện của Nghiêm Lương Thành
đã mang vào thư viện
 
Chúc NLT luôn vui
 
Đăng nhập để trả lời
0