📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện tự sáng tác

Ông Cò Loan

5 trả lời, 1.565 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-03-01 12:52:54Nghiêm Lương Thành>
Nghiêm Lương Thành



ÔNG CÒ LOAN
 
 
            Người làng gọi ông là Ông Cò Loan bởi người con đầu lòng của ông tên là Loan và người ấy là kẻ sẽ có trách nhiệm chống gậy trúc, đội vành rơm, mặc áo sô thắt dây chuối trong đám ma của ông sau này. Cũng chẳng hiểu tại sao ông lại đặt cho con trai cả của mình một cái tên nhiều nữ tính đến thế. Có thể do ông thích đẻ con gái đầu lòng chăng ? Có được con gái đầu lòng còn thiết thực hơn cả ruộng sâu, trâu nái. Đối với ông, việc đó là hoàn toàn có thể hy vọng được; còn ruộng sâu trâu nái chỉ là những chất liệu tinh thần dân gian, làm cho giấc mơ của mình sau một ngày làm lụng mệt mỏi thêm phần trữ tình bay bổng. Phần thân xác duy trì được là nhờ lúa ngô khoai sắn, phần hồn là chỗ dựa của phần thân xác và nó đứng vững được ở cõi nhân sinh là nhờ những giấc mơ. Bí bách càng nhiều thì mơ càng lắm. Khi tần xuất và cường độ của những giấc mơ đạt tới một ngưỡng nào đó thì tất sinh ra cách mạng. Cách mạng là tươi sáng. Loan phượng cũng tươi sáng, vì chúng thuộc giống tứ linh. Tứ linh là bốn giống sang quý. Từ xưa, những nhà quan thường lấy chúng đặt tên cho con cái; về sau, những nhà có của ăn của để cũng học theo: cho nó sang; và khi những làn gió dân chủ trong lành đã toả tràn khắp nơi, nó trở thành thứ hoàn toàn bình dân. Một lần, ông nói: “Mẹ cha nó chứ, của đáng tội, cái tên ấy nghe cũng bay bay đáo để”. Mà, biết đâu đấy, cái tên ấy, cũng có thể là một ước mơ cháy lòng của ông, những mong sao cho con cái thoát khỏi cái đói triền miên, cái thân phận nghèo hèn truyền kiếp của ông bà, cha mẹ nó. Tiếc một nỗi, phần thân xác của ông tuy có một chỗ dựa huy hoàng là vậy mà thực tế những gì ông có được lại còi cọc đến chảy nước mắt.
            Ngày ấy, thời gian Mỹ ném bom miền Bắc, gia đình tôi phải đi tản cư theo Hợp tác xã thủ công nghiệp, nơi mẹ tôi có công ăn việc làm. Làng Phượng, cách thị xã không đầy năm cây số, là địa phương chúng tôi tản cư tới; một cái tên đầy ứ chất thơ, mặc dù có bói cả tháng, khắp làng, cũng không ra nổi lấy một gốc phượng. Vậy thì, phượng ở đây, chắc hẳn, là cái tên thuộc giống Tứ linh rồi. Làng Phượng nằm giữa con đường nội tỉnh và núi Dàn, một quả núi thấp nhỏ có đủ cả cây mọc trên đá, dây leo bụi rậm và tiếng chim kêu … , dấu chấm hết về phía tây của dãy núi đá vôi bắt đầu từ trong Vức, nổi tiếng với những ngọn núi Nấp, núi Nhồi cùng hòn vọng phu từ lâu đã phải đứng trơ trọi, càng ngày càng cô độc trên một triền đá đã gần như phẳng lỳ vì người ta đã và vẫn không ngừng nổ mìn lấy đá để nung vôi, tạc bia mộ và đem rải đường. Ôtô chạy trên con đường từ thị xã lên mạn ngược, khi qua khu vực này bao giờ cũng để lại phía sau chúng những cái đuôi dài cuồn cuộn, đặc quánh những bụi đá trộn với bột vôi, bột than, phải lúc lâu sau mới tan hết được. Sống ở vùng này, lỗ mũi và mi mắt của ai cũng có màu bàng bạc. 
            Ông Cò Loan là dân làng Phượng. Loan - Phượng chẳng phải là một cặp trời sinh đó sao ? Có phải vì thế, từ lúc được cha mẹ sinh ra, ông đã gắn bó với cái làng này; gắn bó đến nỗi, dẫu biết là đi khai hoang trên mạn ngược, đất đai thoải mái, cuộc sống có thể no đủ, mà sao ông không thể nào quyết một bề mà dứt đi cho được. Có thể, còn có một cái gì đấy hệ trọng hơn cả miếng ăn. Cũng có thể, trong người ông không có nhiều chất cách mạng mặc dù trước đây cũng có lúc ông đã từng là một chàng trai lực lưỡng hào hùng, đã từng say xưa hát vang “Nhà ta không cần lo, đời ta không cần thiết, ta quyết chí hy sinh …”, hoà vào đoàn người đang cháy khát tự do no ấm, gậy gộc trong tay, tiến thẳng vào nơi phủ huyện, phá tan cái chính quyền ọp ẹp mang bản chất áp bức, bóc lột, cấm đoán, sách nhiễu và coi dân như cỏ rác, lập nên một chính quyền mới chỉ chuyên tâm làm những việc có ích cho dân.
            Không hiểu sao, ngay từ lần gặp đầu tiên, tôi đã thấy rất có cảm tình với ông. Người đàn ông có đôi mắt đen ẩn phía dưới đôi mày rậm, nước da ngăm đen, khuôn mặt hơi gẫy, chân đi cà nhắc đó luôn nở một nụ cười hiền lành và rụt rè mỗi khi tôi chào ông. Ông đông con, đứa nào mặt mũi cũng lem nhem, quần áo vá chằng vá đụp. Bản thân ông cũng mặc quần áo vá; chỉ có điều, hai cái ống quần ta nhầu nhĩ của ông chưa một lần tôi thấy chúng được buông xuống một cách thảnh thơi. Tuổi ông cũng chỉ trạc tuổi bố tôi, nghĩa là khoảng ngót năm mươi, nhưng không hiểu sao, cả làng, ai cũng gọi là Ông Cò Loan. Tôi, chẳng nghĩ ngợi gì, cũng thuận miệng mà gọi theo như thế.
            Có lẽ ông cũng quý tôi. Ông luôn gọi tôi là chú, xưng tôi chứ không gọi là thằng, xưng tao như đối với những đứa trẻ cùng lứa khác. Tôi hỏi tại sao, ông bảo: “Vì chú là người có học” (Lúc ấy tôi đang học những lớp bảy - hệ mười năm - kia đấy !). Đối thoại của tôi với ông, thường, đại loại như thế này:
- Ông Cò Loan ơi, cho cháu một đẫn tre.
- Ờ, cái bụi ở cuối vườn ấy. Thích cây nào thì chú chặt cây ấy.
Hoặc:
- Ông Cò Loan ơi, bện giúp cháu một cái mũ rơm nhé.
- Ờ, tối nay tôi làm, sớm mai chú sang mà lấy.
Một lần đi ngang qua nhà ông, qua kẽ hàng rào cúc tần, thấy ông đang rỡ giong diềng ở góc vườn. Thoáng nhận ra tôi, ông vẫy vào, đưa cho mấy vầng củ còn nguyên cả đất ướt:
- Chú đem về luộc mà ăn.
            - Cháu cảm ơn ông, nhưng … cháu không lấy đâu.
            Tôi biết nhà ông rất khó khăn, thường phải ăn độn đủ thứ mà không mấy bữa được no. Tôi ngại, nhưng không biết từ chối thế nào cho nó dễ nghe hơn. Ông ngẩn mặt, vẻ không bằng lòng:
            - Bữa trước, thấy mẹ chú đi mua giong diềng, tôi hỏi, bà ấy bảo chú thích thứ này lắm mà … hay là chú khinh tôi nghèo ?
Tôi sợ quá, đành phải muối mặt mà cầm lấy.
            Nói đến ông Cò Loan là, dứt khoát, người ta liên tưởng đến ngay cái đói. Cái nồi hai phần cơm tám phần khoai hoặc giong ấy cũng không mấy khi giúp gia đình ông quên được cái đói. Thuở ấy, nhà tôi cũng ăn độn, nhưng có sổ gạo và ăn độn bằng bột mỳ của nước ngoài, nên cũng có phần sang hơn. Người đời, nếu có đói, thì thường là đói meo, đói ngấu nhưng nhà ông lại chơi khác kiểu: Đói luỹ kế !
            Túng thì phải tính, lối đời vốn vậy. Khi cái đói đã luỹ kế tới trạng thái tới hạn, ông cũng tính. Người làng ai cũng nói ông là người có tật hay ăn trộm. Mà ai cũng nói, thì “hẳn cũng phải vì sao đấy chứ” [1]. Vậy mà đối với tôi, cái việc vô đạo đức tày đình ấy, không hiểu sao, chẳng đọng lại chút ấn tượng gì nặng nề trong lòng. Mà, ngay cả cái làng này, kể cũng lạ, đã biết ông hay đi ăn trộm mà chẳng nhà nào có ý cảnh giác với ông; chẳng nhà ai dùng khoá; đi làm đồng, cửa nhà nào cửa cũng chỉ thấy khép hờ. Về chuyện cái tật ông đi cà nhắc, có mấy người kháo rằng một lần ông bị những người ở nơi mất trộm bắt được, họ mới điên tiết cắt phăng đi của ông một gót chân bên phải để cho mà nhớ, mà chừa hẳn. Tôi không tin, tôi bức xúc chạy thẳng đến nhà cụ đồ già (trước đây cụ dạy chữ nho trong xã) hỏi cho ra nhẽ. Nghe tôi nói xong, cụ rụi ngay cái đóm đang cháy dở vào khe cái điếu bát, nét mặt nghiêm sắt lại, tay chống xuống bàn, chòm râu bạc khẽ rung rung:
            - Tầm bậy ! Thậm tầm bậy ! Hơn chục năm trước, nhà bác ấy đi đập đá thuê cho xí nghiệp vôi đá trong núi Nhồi, lỡ bị đá lăn đè phải chân nên mới thành tật vậy đó !
            - Người ta còn nói ông ấy ăn trộm đã thành nghề nữa cụ ạ.
            - Nghề … thì chưa hẳn - giọng cụ dịu xuống - Nhưng ông ấy cũng chỉ trộm của nhà nước với hợp tác xã thôi … mà cũng chỉ ở vùng khác, tận nơi nảo nơi nào không biết nữa. Cháu tính, có ai đi làm công điểm cho hợp tác xã mà tận lực ? Lúa má ngoài đồng năm nào nom cũng loe hoe; năng suất làm sao cao được, thành thử thóc chia theo mùa vụ cũng chẳng được là bao, nhà lại đông con. Muốn trồng trọt thêm cái gì cho các con thêm cái mà ăn thì không có đất. Muốn vào núi làm đá như trước cũng chẳng được, chân cẳng ông ấy như thế thì ai người ta thuê. Họp hành thì ai ai cũng đua nhau phát biểu bao la ngút ngát, nhưng mà … có ai quan tâm đến hoàn cảnh ông ấy đâu ! Chậc, biết làm thế nào hở cháu ! … Ờ - Đôi mắt cụ đồ bỗng sáng lên - cứ loanh quanh thế mà rồi cũng góp được thằng Loan vào bộ đội đi nam rồi đấy !
            Ngày ấy, tôi học buổi sáng, buổi chiều về nhà vẫn nhận làm thêm thùng đựng nước mắm, thùng đựng sứa cho xí nghiệp nước mắm Hưng Hải; loại thùng ghép bởi những thanh gỗ tạp rồi chít các đường ghép cho kín lại bằng thứ nhựa lấy từ cây sơn trên rừng, nên cũng có đồng ra đồng vào. Tôi hay sang nhà ông bảo mấy đứa nhỏ học bài. Thỉnh thoảng lại đem sang cả lọ mực Cửu Long hoặc ít tập giấy viết măm hào hai (tôi cậy cục nhờ người quen mua cho ở công ty bách hoá tỉnh), nói dối là được thưởng, không dùng hết. Lần nào Ông Cò Loan cũng lặng im, rồi sau đó bảo mấy đứa: “Chúng bay cố mà học được như chú ấy, rồi ra đời chúng bay mới no được. Giống tao thì đếch ra gì !”. 
            Chao ơi, có mỗi một chữ no thôi mà sao nó lại nặng đến thế. Không nhẽ tư tưởng “Dĩ thực vi thiên” của người Trung Hoa cổ đại nhập khẩu sang ta cả ngàn năm nay vẫn còn đất sống ?
 
*
 
            Về phương diện thân xác, có lẽ, đói và rét là hai cái khổ nhất của con người. Mùa đông làm ra cái rét. Cái đói cũng sinh ra cái rét. Rét mướt vì rách rưới thì có thể kiếm lửa mà sưởi, nhưng rét run vì cái đói thì chỉ có ngũ cốc mới làm cho dịu được. Lửa đem hơi ấm từ bên ngoài tới, ngũ cốc toả nhiệt từ bên trong ra. Lửa làm ấm theo diện tích, ngũ cốc thì làm ấm theo thể tích; thậm chí, còn làm ấm cả những thứ không thể đo lường được bằng các đại lượng vật lý cổ điển. Ngũ cốc tốt tươi hay vàng úa đều bởi ở đôi bàn tay, hoạt động của đôi bàn tay lại được lập trình bởi cái đầu. Cái đầu tối tăm thì dẫu cái tay có chăm chỉ, khéo léo đến mấy cũng vứt. Ông Cò Loan hay mơ; vậy ông là kẻ lãng mạn. Điều ông mơ tưởng đến nhiều nhất là những bữa no nê; vậy, trong ba mươi sáu thứ lãng mạn, ông mang tư tưởng và chính kiến của phái lãng mạn ẩm thực cổ điển.
            Mùa đông năm ấy, không hiểu sao, rét tệ rét hại. Vậy mà sớm nào tôi cũng đều đặn thức dậy lúc bốn rưỡi sáng để có thể kịp vượt bảy tám cây số đường đồng cho kịp giờ học. Có hôm mưa phùn gió bấc, đường trơn lầy lội, giá rét căm căm, tấm áo mưa đã bị rách đôi chỗ không ngăn nổi những giọt nước buốt cóng đang bắt đầu theo nếp buộc chảy vào trong cổ, đi qua mấy bãi tha ma mà thấy ớn đến tận sống lưng. Sau này, thấy con cái hay ỷ vào tiện nghi, tôi thường kể lại những cái khó cái khổ ngày ấy để giáo dục tinh thần hạt tiện và vượt khó cho chúng. Lần nào chúng cũng cười ngặt ngẽo: “Bố ơi, sao lúc nào bố cũng nói chuyện cổ tích thế ?!”. Sau nhiều lần truyền thuyết một cách “teno” mà vẫn chẳng thành công, tôi mới dần ngờ ngợ nhận ra một điều: Đấy là do hoàn cảnh. Con người ta thực ra có tính thích nghi rất cao. Giả thử, các con tôi cũng được đặt vào hoàn cảnh ấy, chắc hẳn chúng cũng sẽ vượt qua; biết đâu chúng còn xuất sắc hơn cả bố chúng. Vậy thì có gì đáng tự hào chứ ! Và tôi bèn thôi, không tiếp tục “nói chuyện cổ tích” nữa. Nói nữa, đâm ra, sẽ đi ngược lại tư tưởng “độc thiện kỳ thân”, sẽ mắc lỗi huyênh hoang gậm nhấm quá khứ, tự mình đề cao mình, lấp liếm những cái kém cỏi của mình bằng những việc mà các con tôi, trong hoàn cảnh đó, cũng tự nhiên vượt qua được; thậm chí, còn vượt đẹp ! Hơn nữa, thực ra, có một điều ít nhiều trí trá: Tôi đã lờ tịt đi, không đưa vào “chuyện cổ tích” với hy vọng các con tôi sẽ không bao giờ biết được, rằng cái sự gọi là “kiên cường vượt khó” ấy thực ra là do tôi tự đày đoạ bản thân, đày đoạ cả mẹ tôi sáng nào cũng phải phấp phỏng canh chừng thời gian để gọi tôi dậy sớm và sau đó, lọ mọ trong ánh đèn dầu madút đỏ quạch, mù mịt khói muội, nấu cho con cái gì đấy để yên trí rằng “thằng bé” đã được ấm bụng trước khi cắp sách ra khỏi cửa, trong khi tôi có thể dễ dàng xin học ở một trường hoàn toàn gần nhà, làm một điều giản dị như tất cả những đứa trẻ khác lúc bấy giờ đã làm. Cũng chỉ bởi tại tôi thích khác người, thích oai (Học ở trường tỉnh kia đấy !); cái oai vay mượn, chắp vá, không có trong danh mục vốn tự có.
            Trời càng rét, càng thấy cái bụng nhanh đói tợn. Hôm ấy, mới khoảng mười giờ sáng, ngồi trong lớp học đã thấy đói cồn cào. Tan học, tôi hối hả đi thẳng về nhà, chứ không la cà ngó nghiêng, bắn chim bắn sáo như mọi ngày. Vào nhà, quẳng sách vở xuống phản, tôi xà ngay vào mâm cơm mẹ để phần, mở lồng bàn ra … Trời, không thể tin được: Một đĩa nhỏ thịt bò xào ! Một thứ vô cùng xa xỉ lúc bấy giờ, đã lâu lắm tôi mới được trông thấy. Thời ấy, mổ bò có nghĩa là phá hoại sức kéo nông nghiệp, đương nhiên là mang tội phá hoại sản xuất; tội này to lắm và, nếu muốn, người ta có thể dễ dàng quy về những ý nghĩa chính trị nào đó. Mà chính trị, người Trung Hoa bảo, là thống soái lắm vậy.
- Ai cho nhà mình Thịt bò đấy mẹ ? – Vừa nhồm nhoàm, tôi vừa hỏi.
- Mẹ nhờ bác Trang gái mua hộ đấy – Mẹ cười - À, bố vừa gửi về cho con đôi dép nhựa Tiền Phong. Nhất anh đấy !
Mấy tuần sau, mẹ tôi nhận được một cái giấy gọi của công an huyện. Thì ra cái giấy đó liên quan đến món thịt bò tôi được ăn: Đấy là thịt của con bò mà Ông Cò Loan đã bắt trộm ở xã trên, làm thịt, chỉ lấy phần mông đem bán (Thảo nào mà ngon thế !); còn toàn bộ, đem chôn xuống đất, phi tang. Liền sau đó, người ta đưa ông ra toà. Mẹ tôi và những người mua thịt bò đều nhận được giấy triệu tập ra toà để làm chứng. Toà kết án Ông Cò Loan bị đi tù. Nơi thụ án không phải là trại giam Cầu Gạch, nơi gần chỗ chúng tôi tản cư. Do tình hình chiến tranh, lúc ấy, trại đã được sơ tán lên một huyện trên mạn ngược.
Ông cò Loan đi tù rồi, tôi thấy buồn; nhiều lúc ngơ ngơ ngẩn ngẩn, buồn cười lắm. Như kẻ nghiền thuốc lào bị người khác giấu mất cái điếu cày, lúc ấy tôi mới nhận ra ông đã thực sự trở thành một mảng không nhỏ trong đời sống tinh thần của mình từ lúc nào không biết. Đi tù, dù đối với người chưa từng lịch duyệt, cũng biết là khổ lắm. Khổ nhất là mất quyền công dân. Cũng may, Ông Cò Loan của tôi là người chưa bao giờ đọc sách báo, ông chỉ mải lo kiếm cái ăn nuôi con.
Thì vẫn biết có tội là phải đi tù, nhưng cứ nghĩ đến việc ông ấy đang bị nhốt trong nhà giam là tôi cứ thấy lòng dạ nao núng, không yên. Vậy là, kỳ nghỉ hè năm ấy, tôi quyết định lên trại giam thăm ông. Trái ngược hoàn toàn với những gì tôi mường tượng về hoàn cảnh trong tù của ông, dù trong lòng rất quý ông, tôi cũng không thể tưởng tượng ra rằng Ông Cò Loan của tôi lúc ấy đang ăn ở, sinh hoạt chung với đơn vị quản giáo ! Nghĩa là: Ông chỉ bị nhốt về mặt lý thuyết; và hơn thế nhiều lần: Ông đang làm chức tổ phó tổ cấp dưỡng của trại !
Mừng vui quýnh quáng … sau một hồi loay hoay, hết nhấc ghế lên lại đặt ghế xuống, hết nhấc chén lên lại đặt ấm xuống, mãi ông mới rót được cho tôi chén nước rồi hỏi đủ thứ chuyện ở làng. Có điều, vẫn chẳng giống ai, ông không hỏi những câu kiểu như: Người làng nghĩ về tôi ra sao khi tôi phải vào tù ?
Trước khi chia tay, tôi bẽn lẽn đưa cho ông hai chục bạc, bảo là để thỉnh thoảng ông mua thuốc lào. Ông gãi đầu, cười như kẻ biết mình bất nhã:
- Tôi thực là không thiếu thốn gì, tôi không lấy của chú đâu. Vụ vừa rồi, tôi vỡ đất, trồng được mấy vạt sắn đấy. Khi nào về dưới ấy, nhờ chú mang giúp một tải sắn về khô cho chúng nó. Lúc nào rỗi rãi, chú sang bảo ban chúng nó học hành là cũng kể như kiếp này tôi có phúc rồi.
- Bao giờ ông được ra tù ?
            - Nghe các cán bộ nói tôi cải tạo tốt nên sẽ được giảm án - Ông ngừng lời, nét mặt trùng xuống, ánh mắt thoáng buồn - Có dễ … chỉ nửa năm nữa là về hẳn.
Nửa năm sau. Một chiếc xe hàng dừng lại ở bãi Voi Đá Ngựa Đá ngoài làng. Người “lơ” xe vừa càu nhàu vừa hỳ hục dỡ xuống gần một chục cái bao tải căng phồng cho một hành khách có dáng đi cà nhắc. Ông Cò Loan đã trở về làng thật !
Vài người xì xầm, nghi ngờ: “Chẳng biết nhà tù có làm cho chừa được cái tính ấy không ?!”. Hoặc: “Bây giờ thì các hợp tác xã lại phải tăng cường trị an thôi !” ...
Tôi mừng lắm. Ông làm thịt hai con gà, sai con mời tôi sang uống rượu. Được mươi hôm, ông bảo tôi:
-         Ngày mai tôi đi, ở nhà, lũ trẻ ấy mà, vẫn nhờ chú đấy.
-         Ông đi đâu ? – Tôi ngạc nhiên.
-         Lên trại.
-         Hết án rồi cơ mà ?
-         Ừ, hết rồi.
-         Sao ông lại lên ?
-         Chậc, tôi xin ở lại.
-         Thật thế á ?
-         Thật mà !
-         Nhưng mà tại sao chứ ?
-         Ờ … ở trên ấy … lại tốt. Cả cha, cả con đều …đỡ khổ.
Tôi há hốc mồm: Thật quái gở, người ta mong ra tù sớm còn chẳng được, đằng này đã được ra rồi còn xin ở lại … Hay có thể đấy chỉ là cách giải thích, chứ thật ra … rõ là ông chưa mãn hạn tù. Ông được về thăm nhà chẳng qua là nhờ cán bộ quản giáo có ý ưu ái riêng thôi. Trong lòng thấy buồn, tôi không cật vấn gì thêm nữa.
Sáng hôm sau, là chủ nhật, tôi lấy xe đạp đèo ông ra bến xe để ông lên trại.
 
*
Bẵng đi hai năm. Một hôm, có việc đang đi ngoài đường, tôi nhận ra một người mặc bộ đại cán bốn túi, dắt chiếc xe đạp Thống Nhất sơn xanh mới coóng, phía sau đèo hai cái tải to, dừng xe bên vệ đường đang cười với tôi. Quái thật, mình có quen không nhỉ ? ... Ôi trời, tôi quýnh lên:
- Ông Cò Loan ! Ông Cò loan thật à ? … Oách quá ! Cả xe đạp nữa !
Ông cười ngượng ngịu:
      - Bây giờ tôi cũng được biên chế nhà nước rồi, thành cán bộ quản giáo của nhà nước rồi, thoát ly [2] rồi - Ông vỗ nhẹ tay lên ghi đông xe - Trại mới ưu tiên phân phối cho tôi đấy. Trưa nay, chú sang nhà uống chén rượu, mừng cho tôi nhé !
 
                                                                                                             17/04/2007
Đánh máy: Thiện Văn
[1] Thơ Nguyễn Cảnh Mão.
[2]  Đi thoát ly, theo lối nói ở nông thôn thời những năm 60, 70, là trở thành người trong biên chế Nhà nước, được hưởng một số ưu đãi vật chất nhất định mà người ngoài biên chế nhà nước không được.
Đăng nhập để trả lời
0
Nghiêm Lương Thành



ĐÈN ĐỎ
 
 
Hôm ấy là đám cưới con gái của một người bạn học từ thuở trẻ ranh với tôi. Đấy là một trong những ngày vui đáng nhớ. Đám cưới đặc biệt đông vui, náo nhiệt. Tôi được gặp lại người thày và nhiều bạn học cũ, được thấy nụ cười ấm áp tươi nở không dứt trên môi người bạn gái - bà ngoại tương lai, được chứng kiến niềm hạnh phúc ngát ngời toả ra từ nụ cười bẽn lẽn, trong vắt và ngượng ngập trên khuôn mặt tươi dịu của cháu gái - cô dâu xinh xắn.
Tiệc tan. Níu kéo. Hẹn hò.
Rồi chia tay. Tôi nhận nhiệm vụ đưa thày tôi về nhà.
Tôi lái xe khá cẩn thận bởi ngồi sau tôi là một cụ già, một người thày, hơn nữa lại là thày của tôi.
"Đèn đỏ đấy !” - Ngồi đằng sau, thầy khẽ nhắc. Tôi giảm tốc độ và cẩn thận cho xe dừng lại trước vạch người đi bộ.
Đèn xanh. Chúng tôi từ từ tăng ga, đi tiếp.
"Đèn vàng rồi, không kịp đâu, dừng lại thôi !" - Người già vốn cẩn thận, thầy vỗ nhẹ vào vai tôi. Kể ra, nếu đi cố vẫn được nhưng tôi vẫn cho xe dừng lại. "Đứa cháu ngoại hẹn hôm nay đến chơi với tôi lúc hai giờ. Anh cố gắng đưa tôi về nhà trước giờ ấy nhá". "Thưa, thầy cứ yên tâm, ưu điểm của cơ giới là tốc độ mà". "Phải !"
"Lại đèn đỏ đấy !" - Thầy đập vào vai tôi. Cụ đã có vẻ hơi sốt ruột. Hình như cụ có xem đồng hồ. Chiếc Suzuki 125 đỗ bên cạnh bỗng rồ máy, nóng nảy vụt lao về phía trước, rẽ phải và mất tăm trong giây lát. "Thời buổi bây giờ mâu thuẫn thật !". "Thưa, thày bảo sao ạ?". "Là tôi nói: Thiên hạ ngày càng thích dùng xe phân khối lớn, nhưng cứ mấy trăm mét lại có đèn đỏ ! ".
"Lại đèn đỏ nữa đấy !" - Thày đập mạnh vào vai tôi ... và niềm vui hiếm hoi của tôi có được từ đám cưới cô cháu gái cứ vơi dần mỗi khi tới một ngã tư.
......
Ngày nào chả thấy đèn đỏ, thứ tín hiệu giao thông quá bình thường và quen thuộc đối với bất cứ thị dân nào, nhưng không hiểu sao, hôm nay lại gây ấn tượng với tôi đến thế. Đèn đỏ, đèn đỏ, … đỏ ... đỏ ! Hai tiếng đó cứ ong ong hoài trong cái đầu thần kinh vốn đã có vấn đề của tôi.
Mà sao lại đỏ ?
Chẳng cứ gì tín hiệu giao thông mới dùng đèn đỏ. Cứ nội trong cái ô tô, cũng thấy có khối thứ đèn đỏ rồi. Đèn đỏ phía sau xe sáng lên ban đêm là để nhắc người đi sau: Chú ý, phía trước có xe ! Đèn phanh màu đỏ, sáng lên mỗi khi người điều khiển xe đạp chân phanh, là để cảnh báo kẻ đi sau: Thận trọng kẻo đâm phải đuôi của tôi ! Khi nhiên liệu hết sắp hết, đèn đỏ ở đồng hồ nhiên liệu bật sáng nhắc nhở: Phải bổ sung nhiên liệu ngay, nếu bạn không muốn khốn khổ ! Khi dầu phanh hao thiếu, không đủ áp lực cho hệ thống phanh hoạt động, đèn báo dầu phanh tức thì bật sáng đỏ, dữ dội cảnh báo: Vô cùng nguy hiểm, lập tức tìm cách dừng xe lại. Kim đồng hồ tốc độ chỉ vào vùng đỏ, lưu ý: Thần chết đang tủm tỉm cười đấy !
Các nút bấm, cần điều khiển các nguyên công có thể gây nguy hiểm trên các thiết bị, máy móc bao giờ cũng có màu đỏ: Thận trọng !
Trên nhãn bao bì các độc dược thường in một vạch đỏ: Coi chừng !
Nhà thổ, ở một số nước châu Âu, luôn treo đèn đỏ trước cửa: Không khuyến khích !
Tài khoản của bạn khi bị hết tiền: Ngân hàng "báo đỏ" !
Trong sân bóng, có cầu thủ bị truất quyền thi đấu: Trọng tài giơ thẻ đỏ.
Khi bạn uống rượu quá khả năng: mặt đỏ. Lúc bạn tức giận: mặt đỏ. Bạn sốt cao: mặt đỏ. Thời kỳ ai đó không may sắp phát bệnh trọng: mặt đỏ. Nguy cơ cháy rừng cao: kiểm lâm báo đỏ. ở Tây Ban Nha, mắt giống bò tót thường đỏ ngầu, long lên sòng sọc mỗi khi trông thấy mảnh vải đỏ trên tay người đấu sỹ.
Mặt trời chuyển từ sáng trắng sang màu đỏ là thời khắc của hoàng hôn thơ mộng, báo hiệu ngày đang chuyển sang đêm. Đêm là khoảng thời gian không có ánh dương, là ngày của ma tà, là âm bản trong nghệ thuật nhiếp ảnh, là dụng thời của ác mộng ... Cách đây vài chục năm, trong thanh niên có câu bông đùa "màu đỏ chứng tỏ nhà quê", rồi, không hiểu sao, sau đó lại bảo "màu đỏ chứng tỏ nhà giàu".
Đỏ là tượng sắc của hoả. Hoả khiến kim mềm oặt, thậm chí chuyển sang thể vô định hình không thể lường trước. Hoả thiêu rụi mộc. Hoả làm kiệt thuỷ. Hoả khiến thổ bị tê liệt, không còn khả năng nuôi dưỡng mạng sống.
Không ít chúng sinh rũ người buồn bã vì nhận ra con cháu mình té ra là hạng hiền lành, quen thói nhường nhịn; họ bảo như thế sẽ không tranh đấu được với đời, cầm chắc cái thua thiệt và do đó: khổ. Nhưng Đời là ai ? Chẳng biết, chỉ thấy quanh ta toàn là những người đồng bào. Thế thì, với họ, có lẽ, hẳn đời phải là cái gì đó tàn khốc lắm !
Trong đời sống, thường nghe câu nói "Kém miếng không chịu được !". Cũng bởi tại cái nếp nghĩ ấy đã đâm chồi nẩy lộc, toả bóng xùm xoà, tràn sang cả các lĩnh vực phi thực phẩm mà người ta quyết không nhường nhịn nhau, dù là trên đường, dù chỉ nửa bánh xe, và thường khoái trá cười cợt bỉ ố cái nết xấu hổ, không dám vượt đèn đỏ ở các ngã tư của người khác. Cũng có người cho rằng đó là kết quả của một thời kỳ dài người khôn của khó, thiếu thốn triền miên, giành giật quyết liệt, tranh khôn tranh giỏi, nên dù học vấn không đến nỗi thấp mà văn hoá rốt cục vẫn bị còi cọc đến thê thảm. Và thế là chen lấn, lộn xộn, va quệt, "ný nuận" sau va quệt giữa đường ... đã tạo thêm công ăn việc làm cho các nhà thương, cho cảnh sát giao thông và tạo nên nạn thường xuyên kẹt xe đến phát rồ phát dại ở các nút giao thông tràn ngập ánh sáng văn hiến.
Hoá nên:
Hệ thống đèn đỏ đặt ở các nút giao thông trọng điểm là cần thiết.
Bạ chỗ nào cũng đặt hệ thống đèn đỏ là thiếu lành mạnh.
Mâu thuẫn giữa tốc độ và hệ thống đèn đỏ là một thực tế.
Nhưng ai có thể làm cho đường phố bớt đèn đỏ, hoá giải được mâu thuẫn đó, hầu giúp cho dân ta thoả chí tốc độ ?
Tháng 3 năm 2006
Đánh máy: Thiện Văn
Đăng nhập để trả lời
0
Nghiêm Lương Thành



NGỌC THỰC
 
 
            - Nhà ta có bảy khẩu tất cả ! - Con bé chống đũa xuống mâm, nhìn cả nhà, dõng dạc tuyên bố.
            - Bốn chứ ! - Hắn bỏ miếng bánh trưng rán vào bát, nhìn đứa con gái nhỏ qua mục kỉnh, ngạc nhiên chữa lại.
Con bé thủng thẳng xoè bàn tay trái ra, bấm đốt liệt kê:
            - Bố là một, mẹ là hai, anh Thảo là ba, con là bốn, con Vàng là năm, với ...  hai con mèo là bảy !
            - Vậy ư ? - Hắn trố mắt, nhìn sang phía vợ, chờ đợi một ý kiến.
- Chuyện trẻ con ấy mà ! - Vợ gã mỉm cười, cái cười bao dung của một mái mẹ khi có mấy chú gà con vàng ươm, lũn tũn, ngốc nghếch nhảy cả lên lưng mẹ bới loạn lên tìm mồi.
- Bố mẹ không thấy à, trong phim ấy - Thằng anh có vẻ hơi bất mãn vì câu nói của mẹ, bênh con em - người ta còn có cả bệnh viện với mỹ viện cho cả chó mèo ! Trong siêu thị Đông Tây, con còn thấy có cả một khu bán thức ăn và đồ chơi cho pets đấy.
- Pet là con gì ?
- Tiếng Anh ấy mà ... - Con em nhanh nhảu giải thích - Là những con vật nuôi trong nhà, được chủ cưng chiều ấy mẹ ạ. Ví dụ như chó, mèo, chim, cá ... Bây giờ thì có cả lợn nữa.
- Khiếp, của nỡm, ai lại ở chung với cả lợn bao giờ ! - Vợ hắn nhăn mặt, phẩy tay.
- Kiến thức cũng không xoàng - Hắn véo vào má con bé âu yếm diễu cợt rồi quay sang thằng anh - Thức ăn của pets trông nó thế nào ?
- Con cũng không biết. Người ta đóng hộp kín mít, đẹp như đồ hộp Hạ Long ấy.
- Còn đồ chơi ... là những gì ? - Vợ hắn tò mò.
- Những khúc xương, những con chuột, những quả bóng nhỏ ... làm bằng thứ nhựa gì ấy, tha hồ gặm mà chẳng bị sứt mẻ tẹo nào - Con em gái nhí nháu chêm vào.
- Dởm ! - Vợ hắn đã có vẻ bức xúc - Dư dả thì đem tiền ấy mà đi làm phúc. Bao người bị lụt lội, bị mưa bão đầy ra kia kìa ... !  Về thôn quê mà xem, nhà trẻ hốc hoác trống trơn, có cái gì cho trẻ con chơi đâu !
Vợ hắn bỏ bát, đứng dậy đi vào buồng, đóng sầm cửa lại. Nhận thấy sự việc có vẻ nghiêm trọng, hai đứa hãi quá, lơ láo nhìn nhau rồi ngồi im thin thít. Hắn trấn an: "Không có vấn đề gì đâu, chậc ... tính mẹ vẫn thế, các con ăn tiếp cho xong đi". Nhìn hai đứa rón rén gắp thức ăn, lặng lẽ lùa cơm ... hắn phì cười: "Đây là vấn đề nhậy cảm và tế nhị trong nhà ta. Từ rày, các con phải tinh ý, tránh, không nói về đề tài này nữa mới được !".
Quả có thế. Tuần trước, thằng anh lấy ruốc thịt trộn cơm cho chó mèo đã bị mẹ nó mắng cho một trận: "Mẹ cấm ! Từ rày không được lấy ruốc cho chó mèo ăn nữa. Không phải là mẹ tiếc ... Ngày trước, Bố mẹ thì chả nói làm gì, nhưng Ông bà ... quanh năm cũng chỉ những rau với rau ... có ruốc thịt đâu ra mà ăn - thị ngừng lại, nghẹn ngào - các con làm như vậy, mẹ thấy không phải tý nào ... !". Chà ! Rất có đạo, rất có lý mà cũng rất có tình - gã ngậm ngùi - nhưng vợ gã phải cái cố chấp quá. Cuộc sống ngày càng tiến lên, cơ chế ngày càng cởi mở. Vậy thì cũng phải mở cả lọ ruốc thịt ra cho cả chó mèo nữa chứ ! Tội nghiệp cho chúng. Nào có phải chúng ăn không của ta: chúng trông nhà, đuổi chuột không chê vào đâu được, lại làm cho các con ta vui thích nữa.
Hai đứa con hắn, tuy là kính sợ mẹ, nhưng cái điều "không phải" ấy thì chúng không sao hiểu được. Còn hắn thì hắn hiểu. Bởi vợ chồng hắn đã từng sống qua nửa đời người trong cảnh thiếu đói, so dụi. Nhà hắn vốn đông anh em. Đến bữa ăn nghe cứ rào rào như tằm ăn rỗi. Hắn là đứa ăn chậm nhất nhà nên thường bị đói. Vì thế, mẹ hắn đã nghĩ ra cách xới riêng cho hắn ra một cái bát to cùng với thức ăn để hắn tha hồ ăn chậm mà không bị thiệt thòi.
Hồi còn học trong trường chuyên nghiệp, cái đói luỹ kế triền miên đã từng, không dưới một lần, khiến hắn chỉ ước ao được đánh một bữa cơm đến căng rốn, thức ăn là gì không quan trọng. Cũng may, ngày ấy hắn gặp được mẹ sắp trẻ bây giờ và tình trạng cấp dưỡng của hắn lập tức được cải thiện rõ rệt. Bây giờ, tuy là đầu óc có thoáng hơn vợ, nhưng nhiều lúc nhìn đồ ăn thừa thãi trên mâm, hắn vẫn không sao quên được cái thời nhìn thức gì cũng thèm khát ấy và thường bất giác buông ra một cái thở dài ảo não.
Thằng anh đã ăn xong, đi vào toilet đánh răng. Còn con em ý tứ ngồi lại cho bố vui, cũng là để chờ bưng cho bố chén nước và dọn dẹp khi bố ăn xong. Hắn cảm thấy no, bèn buông đũa. Thấy còn lại một ít bánh chưng rán, hắn bảo con gái: "Con đem cho chó mèo". Con bé cười: "Chúng không ăn đâu bố ạ". "Bậy nào, chó mèo thì cho gì mà chẳng ăn?". Nói rồi hắn đứng dậy, cầm lấy cái đĩa bánh, toan đem trút vào cái bát để ở góc nhà. Nhưng con bé đã kịp túm lấy tay áo ngăn lại, dí dỏm: "Phải thử phản ứng trước khi chính thức tiêm thuốc cho bệnh nhân bố ạ !". Nói, rồi nó gắp một miếng nhỏ và gọi lũ chó mèo. Hai con mèo chạy xấn lại, nhưng chỉ ngửi ngửi rồi thũng thẵng bỏ đi. Gã lắc đầu. Con Vàng đã quen nhường cho mèo ăn trước, bấy giờ mới tiến lại, nó cũng đưa mũi ngửi ngửi, liếm thử, chóp chép rồi, cũng như bọn mèo, chả đoái hoài gì đến miếng bánh rán vàng ươm đang nằm chỏng trơ trong bát, quay mình thủng thẳng bước ra phía cửa, từ từ nằm xuống và tiếp tục lơ đãng dõi theo mấy con bướm vàng đang chấp chới ngoài sân. 
Hắn sững người. Giống chó bây giờ cũng khác xưa rồi ! Có một cảm giác gì đó, không rõ rệt, đang dâng lên trong hắn: Một chút thất vọng, một chút tủi hổ, và, có cái gì đấy, mơ hồ, na ná như sự xúc phạm ... nhưng không hoàn toàn như vậy !
-  Bố ơi, bố làm sao thế ? - Con bé hoảng sợ túm lấy tay bố.
- Những thức nuôi sống con người, ngày xưa các cụ gọi là Ngọc thực ! - Không hiểu hắn nói với con gái hay đang lẩm bẩm với chính mình - Bỏ đi thì sẽ phải tội. Thôi, để bố !
Rồi gã ngồi xuống, kéo chiếc đĩa bánh trưng rán vàng ươm thơm ngậy về phía mình, gắp một miếng bỏ vào miệng và bắt đầu nhai … chậm chạp, trệu trạo, ai oán nhưng đầy ý chí.
 
Tháng 8 năm 2006
 
Đánh máy: Thiện Văn

 
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
Nghiêm Lương Thành



NHẪN
 
 
            Từ khoảng những năm cuối của thập kỷ tám mươi thuộc thế kỷ trước, lác đác, đây đó, thấy người ta lại nói đến chữ Nhẫn. Cho đến đầu thế kỷ này, chữ đó đột nhiên được dùng rộ lên. Trong các gia đình, nó nằm ở bài giáo huấn của cha với các con; trong giao lưu xã hội, trên quan hệ bằng hữu, tri âm, nó là chữ đầu lưỡi. Điều đó đã diễn ra trên nhiều cung bậc, trong những trạng thái từ nghiêm trang cho đến bình dân khề khà, trà dư tửu hậu. Chữ này, nhiều khi, đã trở thành một thứ thời ngôn, một thứ bệ móng tỳ vịn để không ít người lý biện, chứng tỏ với bằng hữu, với xã hội rằng ta là kẻ đã trải đời, đầy mình kinh nghiệm và luôn biết mình phải làm gì. Những người lịch lãm, thấu hiểu chẳng bao giờ làm như thế.
            Lại thấy, bây giờ, không hiểu sao, người ta lại quan tâm đến thư pháp, người ta quay trở lại cái thú - vẫn được coi là tao nhã - là treo tranh chữ trong nhà, đặc biệt trong những phòng khách. Về việc này, giới kinh doanh nhậy bén đã kịp thời nhận ra cơ hội của mình và, lập tức, tràn ngập trong các cửa hiệu có liên quan đến vật dụng trang trí nội thất là các bức tranh chữ lồng kính rực rỡ, đủ kiểu, đủ cỡ: Phúc, Lộc, Thọ, Khang, Ninh ... Tâm và Nhẫn. Người ta mua về trưng chúng lên tường, ngắm chúng, chơi chúng, ngẫm về chúng và thầm cầu mong cho gia đình mình sẽ được dồi dào phúc-lộc-thọ-khang-ninh. Điều này hoàn toàn bình thường và tự nhiên. Bởi năm chữ đó là tổng kết của đại chúng về tiêu chuẩn hạnh phúc cho con người.
            Lẽ thường, thiếu cái gì thì ao ước cái đó. Đi lễ chùa, phần đông, đều cầu xin phúc-lộc-thọ-khang-ninh; thảng hoặc mới có người xin đức nhẫn. Hỏi mấy người viết sớ ở cổng các đền chùa, họ bảo: Hầu như chưa gặp ai xin chữ tâm cho chính mình. Có thể, ai cũng yên trí rằng mình là người tốt, luôn sống bằng cái tâm; rằng họ nói nhiều đến cái tâm chẳng qua là thấy buồn cho thiên hạ ngày nay sống quá vô tình và thủ phạm của cái sự này đích thị là lề lối kinh tế thị trường vậy.
            Thế thì Nhẫn là gì ? Tại sao nói đến nó thì nhiều mà xin lại ít ? Phải chăng, cái đó, vốn đã sẵn có và dư thừa trong con người ta ?
            Về nghĩa của chữ Nhẫn, Từ điển Tiếng Việt, ấn hành năm 2004, của Viện Ngôn ngữ học chua rằng: Nhịn, dằn lòng xuống. Và ví dụ minh hoạ kèm theo là: Nếu không nhẫn thì sinh chuyện to. A ! Vậy, nhẫn là một thái độ cần có để tránh những điều rủi ro nào đó từ thực tiễn khách quan; rằng có một sức ép bất ưng, trái lẽ thường và bất khả kháng đang đè nén xuống đương sự. Và có thể thấy: Nhẫn là một trạng thái hoàn toàn thiếu hồn nhiên, phải vận dụng lý trí để chấp nhận hoàn cảnh, nhằm bảo toàn và duy trì một tâm thế nào đó.
 
*
 
            Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, ở giai đoạn cuối của các triều đại, chữ nhẫn luôn được các nhà nước khuyến khích. Lúc ấy, nhẫn tức là biết mà không làm, thấy đạo lý suy vi mà ngoảnh mặt làm ngơ. Điều này, như một liều thuốc bổ, kéo dài tuổi thọ cho một triều đại suy tàn, làm hài lòng hệ thống cai trị miệng luôn nói lời “dân vi quý” mà chính sách đưa ra chỉ nhằm nhiễu nhương, vơ vét tài lực của quốc dân vốn đã suy kiệt vì phiền hà và áp chế.
            Biết mà không làm, thấy đạo lý suy vi mà ngoảnh mặt làm ngơ là làm sao ? Thời ấy, các sỹ phu - một bộ phận ưu tú của xã hội - cho rằng họ đang sống trong thời “kẻ tiểu nhân đang thịnh dần, đấng quân tử lui mà tránh nó” [1], đó là thời của quẻ Độn. Kẻ thức thời nên thuận theo mà hành xử vậy. Thế thì, trong lịch sử, Cao Bá Quát, Trương Công Định, Phan Đình Phùng, Nguyễn Thái Học, Trần Phú … là những người thuộc loại nào đây ? Có một điều hiển nhiên là: Bất cứ pho sách quý nào thành tựu được cũng đều dựa trên nền tảng của những con chữ bình thường và giản dị.
 
*
 
            Những người cách mạng thì ngược lại, họ chưa bao giờ chấp nhận chữ Nhẫn. Họ đã rất có lý khi cho rằng Nhẫn là một tâm thế hoàn toàn tiêu cực, thủ tiêu đấu tranh; rằng vận động là cái gốc để thế giới tồn tại và phát triển; ổn định chỉ là trạng thái tạm thời; vận động là thuộc tính của tự nhiên; không ngừng đấu tranh là cách để đạt được sự liên tục tiến bộ. Chính vì nhận thức sâu sắc đạo lý ấy, tháng 4 năm 1921, trong tạp chí La Revue Communiste No 14, Nguyễn Ái Quốc đã thấy rõ và viết: “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông dương đang giấu một cái gì sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến. Bộ phận ưu tú có nhiệm vụ thúc đẩy cho thời cơ ấy mau đến”.
            “Không có cái gì có thể ở  mãi” [2], sau thời “Độn” sẽ đến thời Đại Tráng.
 
 
Tháng 12 năm 2007
 
 Đánh máy: Thiện Văn


[1] Kinh Dịch - Quẻ Độn - Bản dịch của Ngô Tất Tố.
[/align] [2] Kinh dịch và hệ nhị phân – Hoàng Tuấn.
[/align] [/align]
Đăng nhập để trả lời
0
Nghiêm Lương Thành



MÙA XUÂN
 
 Kinh kỳ bụi lắm xuân không đến
                                  Nguyễn Bính
           
Thế là tôi chính thức trở thành người thành phố; một thành phố đồng bằng hẳn hoi, đứng đầu tất cả các thành phố trong nước luôn ! Nói như thế, có nghĩa trước đây tôi là dân nhà quê, thậm chí còn dưới cả nhà quê. Thật đấy: Dân mạn ngược, ngược đến dựng đứng lên ấy chứ. Nhưng loay hoay thế nào mà lại hoá ra người thành phố ? Đơn giản: Một chàng trai Hà Nội thương tôi, tôi cũng thương người ấy, cả hai chúng tôi đều không biết làm khách, thế thì cưới chứ còn gì nữa ?!
Đám cưới tổ chức trước ngày tôi nhận bằng tốt nghiệp nửa tháng. Các bạn gái học cùng lớp, những đứa cũng xuất thân tỉnh lẻ như tôi, đứa này bảo: Tôi là đứa may mắn, tốt số; đứa khác cự lại: Số má cái gì, nó vừa xinh vừa tươi, có mà gạt đi không hết, lấy đâu chả được tấm chồng nghiêm chỉnh. Tôi không nói gì, chỉ mỉm cười thầm cảm ơn trời đã giúp tôi lấy được người tôi yêu và thoát được hẳn cái xứ quê mùa đìu hiu heo hút ấy.
Chồng tôi tên là Nhã - Đặng Tuấn Nhã - Kiến trúc sư chuyên ngành Quy hoạch đô thị, không có gì đặc biệt ngoài khuôn mặt sáng và đôi mắt trong. Có điều, không hiểu do bản tính hay đã nhiễm thói quen “vĩ mô” của nghề nghiệp, trong sinh hoạt, giao tiếp, rất ít khi những cái vụn vặt lọt vào mắt anh; điều này rất tốt, nhưng lắm lúc cũng thấy buồn, bởi dù sao tôi cũng là phụ nữ. Chúng tôi quen nhau trong một buổi sinh nhật tại nhà cô bạn học cùng lớp. Lúc ấy, tôi đang là sinh viên năm áp chót của Trường luật. Thế rồi cái gì đến thì đến. Trong quan hệ giữa chúng tôi, mọi sự diễn ra một cách tuần tự, đơn giản như cây mọc lên từ đất. Bọn con gái cùng lớp dí dủm nhận xét về Nhã: Một trai phố thông minh, thật thà, ngờ nghệch và thuỷ chung. Có lẽ đúng.
Cái thời điểm thiêng liêng nhất trong quan hệ giữa chúng tôi đã xảy ra như sau: Vào một tối thứ bảy, anh đạp xe đến ký túc xá sinh viên đón tôi đi xem phim. Khi đến trước cửa rạp, anh bảo trời oi quá (thực ra hôm ấy có gió nam), hay là về nhà lên sân thượng hóng mát. Tôi thì thế nào cũng được, kể cả ngay lúc ấy phải đi đến sa mạc Gôbi, miễn là có anh ở bên. Về đến nhà, anh bảo tôi lên sân thượng trước chờ anh. Lát sau, thấy lễ mễ bưng lên một cái khay gỗ, lại còn ngoằng thêm cái phích nước. Nhìn kỹ trong khay, ngoài bộ ấm chén còn có mấy củ khoai nướng nữa. Tôi bóc cho anh và bóc tiếp một củ cho mình. Khoai anh nướng thơm thật. Tôi ăn theo lối quê tôi, nghĩa là thích thì cắn miếng rõ to. Thấy anh cứ ngồi im, mân mê củ khoai, tôi nhồm nhoàm giục: “Anh ăn đi, nghĩ ngợi gì thế ?”. Ai dè, anh bảo: “Không nghĩ, mà đang ước”. Tôi bật cười, nhớ đến một câu chuyện vừa đọc, ngước nhìn lên đám trăng sao ngổn ngang đầy trời: “Anh đang ước gì ?”. Câu hỏi của tôi không ngờ làm mặt anh thộn ra, trông thật khổ não: “Ước … ước lấy được em làm vợ !”. Tôi bật cười, trong miệng vẫn chưa hết khoai: “Tưởng gì, em cũng ước giống anh !”. Thế là, ngay lập tức, anh kéo tay tôi, đùng đùng dắt xuống dưới nhà, tiến thẳng đến chỗ bố mẹ đang ngồi xem tivi, vẻ mặt vô cùng nghiêm trọng:
-         Bố mẹ ơi, cho chúng con lấy nhau !
Cả hai ông bà cùng ngớ ra. Lát sau, bà rơm rớm:
-         Tôi sẽ kỷ luật anh chị đấy. Gan thế ! Sao để mãi đến hôm nay mới nói ?
-         Thế thì tốt rồi … tốt rồi …
Ông tiếp lời rồi lại im bặt, lập cập gỡ cặp kính từ mắt và lấy vạt áo loay hoay lau đôi mắt kính vốn chẳng có tý gợn bụi nào. Hồi lâu, ông nói tiếp:
- Thuý lo tập trung làm luận văn cho tốt; có điều gì khúc mắc mà liên quan đến chuyên môn của bố mẹ thì cứ hỏi. Còn Nhã lo thu xếp nhà cửa cho chỉn chu là vừa, cuối năm chúng ta sẽ đón dâu !
-  Sang năm chúng ta sẽ đón cháu nội ! -  Bà chắp hai bàn tay lại, đôi mắt xa xăm như một người có đạo đang mơ về một cõi cực lạc, nở nhẹ một nụ cười hạnh phúc pha chút hóm hỉnh.
Thật … chẳng có gì là lãng mạn như tôi vẫn tưởng tượng. Nhưng bấy nhiêu cũng đủ làm cho tôi thấy trong người nó cứ bồng bà bồng bềnh thế nào ấy. Và suốt đêm đó, tôi luôn trong tâm trạng xôn xao uể oải, không sao chợp được mắt.
 
*
 
Nhà chồng tôi, tức là nhà tôi, ở phố Hàng Gai, gần một cây đa cổ kính, xum xuê. Một nơi mà dân sành điệu vẫn bảo là Thăng Long đệ nhất phố, giá mỗi mét vuông lúc ý đã lên đến mấy chục lạng vàng. Ông nội chồng tôi đã mất; thời còn Pháp thuộc là kỹ sư hoả sa. Bố chồng tôi là chuyên viên kinh tế cao cấp của thành phố; mẹ chồng tôi là giáo viên ưu tú, giảng dạy môn Văn học dân gian ở một trường đại học. Nói tóm lại: Phố thì cổ, gia đình nhà chồng thì có truyền thống trọng chữ nghĩa, thanh sang, khiêm nhã; hàng xóm toàn là người bặt thiệp, nền nã và đáng kính. Tôi còn có thể mong gì hơn ?!
Bố mẹ chồng bảo tôi: Con vừa tốt nghiệp, cứ nghỉ ngơi một thời gian rồi hãy tính đến việc làm. Nhưng ở nhà được mươi hôm đã thấy buồn như trấu cắn, chân tay bứt rứt, đứng ngồi không yên. Tôi bèn lẳng lặng nộp đơn xin ứng tuyển vào phòng tư vấn thuộc Sở Tư pháp thành phố. Và thật may mắn: Tôi đã trúng tuyển và có một việc làm vừa ý.
Vợ chồng tôi được bố mẹ cho sử dụng toàn bộ tầng hai; trên đấy có một cái sân nhỏ. Trong sân, anh bày la liệt những chậu cây cảnh to tướng. Sáng nào cũng dậy sớm tưới tắm cho chúng. Chủ nhật nào cũng xới gốc, nhưng thật lạ, chả bao giờ thấy cắt xén tỉa tót cho đẹp.
Vào buổi tinh mơ một ngày cuối tuần, cả hai vẫn còn nằm trong chăn, bỗng có tiếng chim hót ở đâu đó vọng vào. Tôi thấy anh cựa mình, dỏng tai hồi lâu, rồi từ từ nhỏm dậy, ra khỏi giường, rón rén mở cửa đi ra sân và cứ thế đứng lặng, mặt ngây ra như nghê đá sân đình. Khi quay vào, vẫn chưa hết bần thần, anh bảo: “Đã lâu lắm mới được nghe tiếng chim hót. Chắc độ này chim lại về Cây đa rồi … nhưng nghe kỹ, thấy tiếng hót có gì đấy khang khác, không được tươi như của những con chim hồi còn nhỏ anh được nghe. Hay tại mình đã trở thành người lớn ?!”. Tôi thì chỉ thấy buồn cười, nghĩ bụng: Chim về thì về, hót thì hót, có gì khác, có gì quan trọng đâu. Tuy vậy, để chiều chồng, tôi cũng cố nở một nụ cười cảm thông. Thực ra, nụ cười kiểu này là do tôi học được từ năm thứ hai trong Trường luật. Ở quê tôi, cười là cái phát từ trong người ra, không ai phải cố gắng. 
Sau đó, hàng mấy tuần liền, trước khi đi ngủ, anh không đóng cửa nữa, bảo: “Để sớm mai nghe cho rõ, âm nhạc của trời đất đấy !”.
Cho đến một buổi sáng, cũng như những ngày khác, khi tiếng chim bắt đầu líu lô réo rắt tràn vào đầy buồng, anh bỗng vùng dậy, lao ra đóng ập cửa lại. Không khí trong phòng ắng xuống, chỉ còn nghe loi thoi những tiếng hót, bập bõm, lúc được lúc không. Tôi vô cùng nhạc nhiên:
-         Sao anh lại đóng cửa ? Chim đang hót mà.
-         Nghe nhạt lắm !
-   Có gì khác mọi hôm đâu ? - Tôi cố nhịn cười bởi tiếng hót vẫn “âm nhạc” như những hôm trước, chẳng có gì khác.
-   Chiều hôm qua đi làm về, để ý, anh mới biết đấy là tiếng hót của mấy con chim nhốt trong dãy lồng treo trên gác ba bên nhà bác Lành. Hỏi ra, mới biết bác ấy vừa mua được ở phố Tăng Bạt Hổ mấy tuần nay.
Trời ạ ! Chim nào chả là chim. Thì ra đức ông chồng của mình cũng rầy rà, ngộ nghĩnh quá thể.
Cưới nhau được ít lâu, một hôm anh bảo: “Hồi bố mẹ dưới này lên quê ăn hỏi, anh đang công tác biệt phái ở Hà Tiên, không về được đã đành, bây giờ có điều kiện, sang xuân chúng mình sẽ về trên ấy thăm cha mẹ”. Tôi cười, ậm ừ : “Vâng”. Trong lòng vừa vui vừa lo. Vui vì chồng tôi là chàng rể có hiếu; lo là vì gia đình tôi quê mùa, nhà cửa tuyềnh toàng, sơ sài, không có tiện nghi, nấu ăn không ngon không đẹp như ở thành phố … rồi anh cười cho, xấu hổ lắm. Nhưng đạo lý xưa nay vẫn thế, có gì lạ đâu. Vả lại, cũng không thể tìm cách trì hoãn, mãi mãi không đưa anh về được. Thế là, đúng mồng hai Tết, chúng tôi khăn gói lễ mễ ra bến xe ôtô.
 
*
 
Quê tôi ở Sơn La, một tỉnh miền núi phía Tây Bắc. Các cụ nhà tôi từ dưới xuôi lên định cư ở đấy đã mấy đời. Nhà tôi thuộc bản Hoa Đào, nhưng ở tương đối biệt lập, nên cách bản chính đến non nửa cây số, cách uỷ ban xã hơn bốn cây số. Mỗi khi xuống chợ huyện, phải đi từ tờ mờ đất, mua bán xong về ngay thì cũng phải quá nửa buổi chiều mới về đến nhà. Đất rộng, người thưa, bước chân ra khỏi cửa, chỉ nhìn thấy những núi cùng non, những rừng với rú. Những hôm trời mưa dầm, ngồi bên bếp lửa nghe tiếng giọt ranh rơi tí tách, tiếng vượn hú nai kêu trong thung vọng ra mà cứ thấy buồn đến nẫu cả người. Những khi chiều về, nắng đã tắt hẳn, không gian yên ắng, nghe tiễng mõ trâu lóc cóc, tiếng nước chảy lóc róc dưới con suối phía chân đồi, trong lòng bao giờ cũng dâng lên một cảm giác đìu hiu đến não nề. Xem phim, xem ảnh, được thấy cảnh phố xá hoa lệ, đường nhựa, hè xi măng, chỗ nào cũng sạch tinh tươm, không chút bùn đất cỏ rác, tôi đâm sinh ra ước ao: Giá nhà mình ở đấy !
Ngôi nhà sàn bằng gỗ của chúng tôi là do ông nội tôi dựng cất. Từ bé, thấy cha chẳng phải sửa sang gì lắm ngoài việc hai lần lợp lại cái mái bằng lá cọ. Phía góc sân trước, bên cạnh một tảng đá to, không ai trồng, tự nhiên mọc lên một gốc đào; cây đào ấy năm nào cũng nở rất nhiều hoa, bông to, cánh thắm hiếm thấy; cha tôi bảo là tại nó ở gần người. Chị em tôi chỉ cười, chứ không tin vì cha tôi đã học môn sinh vật bao giờ đâu. Ngôi nhà của chúng tôi lưng tựa vào sườn đồi, trông xuống một cái thung nhỏ trồng toàn lúa nước. Vượt qua thung là bắt đầu những cánh rừng xanh thẫm, cao thấp, trùng điệp mãi không thôi. Ngồi ở lan can nhà tôi - giống như ban công nhà thành phố, nhưng bằng gỗ và bao quanh gần như toàn bộ ngôi nhà - có thể nhìn thấy một con suối nhỏ chạy dọc theo chân đồi, lúc ẩn trong những lùm cây, lúc hiện ra ở những trảng đất bằng lẫn với những phiến đá cùng những viên cuội nhẵn lỳ có nhiều màu sắc. Không biết tự bao giờ, chỉ biết khi lớn lên, tôi đã thấy trên trảng đất dài này đã có đầy những gốc đào phai u bướu sần sùi, khắc khổ nhẫn nại ấy. Về mùa đông, lá đào rụng gần hết, trơ ra những thân cành khúc khuỷu, mốc thếch loang lổ như những cây đã chết khô tự bao giờ. Mùa xuân đến, cả giải đất màu xám sáng bỗng bừng lên một màu hồng dịu. Tôi đã quá quen với những cảnh vật ấy đến mức cảm thấy nhàm chán.
Chúng tôi phải cuốc bộ hơn chục cây số. Bao nhiêu thứ nhũng nhẵng những túi cùng gói anh đem buộc gọn thành hai bó to, khoác hết lên lưng. Tôi giành lấy một bó, anh không cho, cười bảo: “Để anh làm ngựa. Nếu em thích, ngồi luôn lên lưng để anh thồ một thể !”. Tôi là dân miền núi gốc, trên tay chỉ toòng teng một cái túi nhẹ, mới đi được non nửa đường mà mặt mũi đã đỏ bừng bừng, đôi tai đã bắt đầu muốn tham gia hô hấp. Còn anh, vừa đi vừa nghênh ngáo, có vẻ thích chí lắm. Nhiều lúc mải nghênh, không nhìn đường, vấp ngã dúi dụi, thâm tím cả đầu gối. Đến xẩm tối thì về đến nhà. Cha mẹ và em trai tôi mừng lắm. Không khí trong nhà rộn ràng như có đám hỷ. Bữa cơm tối có món cá kho, những con cá đủ loại chỉ bằng ngón tay, thằng Thuận mới bắt ở suối lúc chiều. Tôi cứ lo anh ăn không được, nhưng để ý thì thấy anh ăn ngon miệng lắm. Lạ thật ! - Tôi thầm nghĩ. Đến khuya, lúc lên giường, anh thì thầm:
- Này em, món cá kho lạ thật ! Khi nào về Hà Nội em lại làm giống thế nhé.
Tôi có cảm giác hơi tự ái, cảnh giác:
- Anh nói thật, hay đùa cho vui đấy ?
            - Đùa là thế nào ? - Mặt anh nghiêm lại -  Ăn món cá mẹ làm, anh phát hiện ra có vị tanh, nhưng … mộc mộc; phải rồi: tanh mộc ! Vị này rất lạ, anh chưa bao giờ được cảm nhận. Đấy mới là cái vị đúng của cá. Ở thành phố, không hiểu nấu nướng thế nào, người ta đã làm mất tiêu cái vị ấy. Mà … - Anh cười tinh quái - nếu em không làm được thì cứ nhận đi, rồi nói xin mẹ dạy cho.
            Lúc ấy, câu nói nửa thực nửa trêu chọc đó của anh không làm tôi tự ái nữa, mà trái lại, khiến đôi má của tôi cứ ửng lên, không sao hãm lại được.
Sáng hôm sau, sau bữa điểm tâm bằng sắn luộc chấm mật ong, anh đòi theo cha mẹ lên nương phụ giúp trỉa đỗ. Cha bảo chỉ còn có một đám nhỏ, quãng nửa buổi là xong, các con mới về, còn mệt, cứ ở nhà mà nghỉ. Trông ông anh rể như quả bóng xì hơi, thằng Thuận thấy không nỡ, bèn bảo: “Anh có muốn đi rừng không ? Hôm qua em vừa phát hiện được một bọng ong mật, to lắm !”. Được lời như cởi tấm lòng, “quả bóng” lại phồng lên, có phần căng hơn trước. Anh rủ tôi. Tôi không đi, lấy cớ hãy còn mệt. Chiều muộn, mới thấy hai anh em về, trên tay là cái can nhựa đựng mật, mặt mũi anh nào cũng lem nhem như hề.
- Sao hai anh em về muộn thế ? - Tôi thì thào hỏi Thuận.
- Thực ra có thể về kịp bữa trưa. Nhưng anh Nhã - nó liếc nhìn anh, rồi hạ giọng - như trẻ con ấy, buồn cười lắm, cứ nghênh nghênh ngáo ngáo như em xuống dưới tỉnh ấy. Thấy gì cũng hỏi, thấy gì cũng xem. May mà có mấy củ sắn luộc đem theo. Lúc qua thác Mai, có gì lạ đâu, thế mà anh ấy đứng lại nhìn mãi, nom thộn lắm. Giục mãi mới đi, hồi lâu vẫn còn tần ngần như ông Dung nghiện trong bản đi đường đánh rơi mất bầu rượu ấy. Về gần đến nhà, vẫn còn la cà, lẩn thẩn mãi ngoài vạt đào ngoài suối.
Ngừng một lát, như sực tỉnh, nó hỏi tôi:
- Hay là anh ấy bị làm sao … ?
Tôi cười, lấy ngón tay dúi cho nó một cái vào trán. Đêm hôm ấy, anh kéo tôi vào lòng, vuốt ve mái tóc hồi lâu, rồi như thể nói một mình:
- Vùng quê này đẹp lạ lùng. Chả trách … em xinh là phải !
- Dù sinh ra ở đâu thì em cũng xinh thế thôi ! - Tôi đùa lại, cố tình trêu chọc.
- Nói ẩu ! - Anh ngồi nhỏm dậy - Em thật … vô ơn với trời đất quá ! Thôi, anh bảo, ngày mai làm cái lễ tạ, kẻo rồi đất trời bất mãn, đòi lại hết cả cái xinh cái thắm thì thiệt hại cho anh quá !
            Ngày trở về Hà Nội, anh xin cha một cành đào ngoài suối. Thấy vậy, tôi ngăn lại:
- Cồng kềnh lắm, tha làm gì cho khổ. Đến rằm, ở dưới ấy, người ta lại bán đấy mà.
- Ối, những thứ đào ấy ? Cây thì uốn éo như rắn, cành thì trông có khác gì cái nơm, trông thấy đã muốn nổi cả gai ốc !
Tôi cười, không can nữa.
Về đến Hà Nội, câu đầu tiên anh nói với tôi là: “Mùa xuân sang năm chúng mình lại về quê nhé !”. Tôi lườm anh, mỉm cười gật đầu, nghĩ: Đúng là một đứa trẻ lớn !
 
*
 
Mùa xuân sau đó, tôi sinh cháu đầu lòng, không về cùng anh được, chỉ lo anh buồn. Nhưng khi trở về, thấy anh hồ hởi kể bao nhiêu là chuyện, tôi thấy nỗi lo của mình là thừa, là vô duyên và trong lòng không khỏi gợn lên một thoáng buồn. Nhưng, nói cho công bằng, tôi cũng rầy rà chẳng kém gì anh: Tại sao lại ghen cả với mùa xuân quê mình chứ !
            Thực tình, nhờ có anh giảng giải, chỉ cho xem, tôi mới dần thấy được phần nào cái duyên dáng, cái huy hoàng đến kinh ngạc của thiên nhiên nơi tôi chôn rau cắt rốn. Và, theo thời gian cùng những cảm nhận khác nhau được anh truyền cho, trong tôi bấy giờ mới bắt đầu dần hình thành một tình cảm nào đó với mảnh đất nơi tôi đã sinh ra và lớn lên. Nhờ anh, tôi mới thấy được cái mỏng mảnh, tinh khiết của một cánh mai trắng; cảm nhận được tiếng hót của chim trong lồng khác với tiếng hót của chim trời thế nào; phân biệt được tiếng nước suối chảy trong mùa hè đùng đục tiếng thổ, trong mùa xuân thì trong vắt tiếng kim; cây mọc trong tự nhiên khác với cây trồng trong chậu ra sao…
Khi thằng chó cún của chúng tôi lên hai, đã tạm cứng cáp, cả nhà mới cùng nhau về quê được. Hôm ấy, anh xin phép cha mẹ đưa hai mẹ con vào trong thác Mai chơi một ngày. Cha tôi cười: “Ừ, nên lắm. Đi mà hưởng lấy cái phúc của trời đất, không thì uổng lắm các con ạ !”. Mẹ tôi cũng cười: “Ôi dào, ông chỉ vẽ ! Cháu tôi về được có mấy ngày, lại phải chờ đến tối mới lại được thấy nó !”. Cha quay sang, làm bộ nghiêm nét mặt: “Cái bà này … đến là tham ! Cháu là cháu của một mình bà chắc ?”
Thế là, lưng khoác ba lô, vai công kênh thằng bé, anh đi trước, môi chụm lại, huýt sáo vang rừng một điệu valse: … mơ ước, một mùa xuân yên vui lại đến, sẽ thấy những bông hoa đẹp xinh … Thằng bé, ngồi ngất ngưởng trên vai bố, cười tít cả mắt; còn tôi lật đật theo sau hai bố con, lẵng nhẵng xách theo cái túi đựng mo cơm nắm và bầu nước uống.
Chúng tôi chọn một vạt cỏ xanh có những gốc mai trắng bên thác làm chỗ nghỉ. Nhưng cuộc đi chơi hôm đó đã không thành công bởi thằng bé, không hiểu thế nào, bị một con bọ cạp đốt vào mu bàn chân, buốt quá, khóc lả cả người. Chúng tôi cuống cuồng garô lại và đưa nó về nhà. Mẹ tôi quýnh lên, cứ ôm riết lấy cháu. Cha tôi vội đi lấy lá thuốc, giã vắt lấy nước cho uống, phần bã đắp vào vết cắn. Lúc sau thấy nó đã nín hẳn và ngủ lịm đi, trán vẫn nóng hâm hấp. Đêm ấy, cả nhà thức trắng.
Ngày hôm sau, thằng bé hết sốt, xà vào lòng bà đòi bà luộc sắn cho. Cha cười, bảo: “Ổn rồi. May mà con bò cạp này còn nhỏ”. Chồng tôi thở phào; cả buổi sáng cứ ra ra vào vào, phần thì xót thằng bé, phần chân tay buồn bã không biết làm gì. Sợ anh buồn chán, tôi bảo: “Tảng đá bên cây đào ở góc sân trông chướng quá; hay là chúng mình xuống tìm cách bẩy đi, lấy chỗ cho cây đào nó thở ?”. Anh cười, đi lấy cái xà beng dựng ở dưới sân. Hai vợ chồng hỳ hụi mãi, rồi tảng đá to cũng bắt đầu long chân, nhúc nhích. Sau cú hích cuối cùng, tảng đá bật nghiêng, để lộ ra một con rắn lục đang nằm khoanh tròn bên dưới. Anh chau mày, ghê tởm, quẳng cái xà beng sang bên, vớ lấy cái cành khô gần đấy, vụt chết ngay con rắn, miệng lẩm bẩm: “Cũng may, cứ để nó ở đây, không chừng mẹ lại gặp phải !”.
Mấy hôm sau, anh chỉ quanh quẩn ở nhà, chỉ ra ngoài khi có việc và không thấy nghênh ngáo như mọi khi mà, đúng cách thức của một người thận trọng, đầu thường cúi xuống nhìn đường và các bụi cây hai bên, dường như để quan sát và đề phòng cái gì đó. 
Trông anh buồn và trầm hẳn. Anh ngồi lặng lẽ bên cửa sổ, cặp mắt dõi về khoảng rừng xa xa phía trước, phảng phất một tâm trạng hoang mang, oán trách và pha chút ghê tởm. Trong sâu thẳm của cái tâm hồn tinh tế ấy, dường như có một cái gì đấy đang rạn nứt, đổ vỡ ghê gớm. Tôi nhìn anh mà trong lòng không khỏi trào lên một nỗi xót xa thương cảm.
 
*
 
Những năm sau sau đó, chúng tôi vẫn giữ lệ, vẫn đều đặn về thăm cha mẹ và em, nhưng anh bảo cũng không phải câu nệ, nhất thiết phải về đúng vào tiết xuân. Điều này đã khiến tôi rất buồn.
Một lần, cậu Thuận viết thư xuống, trong thư có đoạn kể: Cây đào ở góc sân chẳng hiểu làm sao độ này không được tươi tốt như trước nữa; màu hoa cũng không được thắm như dạo chưa dọn tảng đá.
Nhiều năm sau, khi con chúng tôi đã là một thanh niên vạm vỡ, tôi mới ngộ ra: Nếu đứng trước một buổi sớm mùa xuân, hãy cố gắng cảm nhận toàn bộ cái hoà sắc, hoà thanh rực rỡ và tràn đầy sinh khí của nó; đừng bao giờ tỷ mỷ quá, bởi - thật bất hạnh - ta sẽ nhận ra trong cái không gian lộng lẫy và huy hoàng ấy có lẫn cả bò cạp, rắn lục cùng ruồi nhặng ... Và mùa xuân sẽ biến mất, khó có thể trở lại trong tâm hồn ta nữa.
      Tháng 10 năm 2006
 
Đánh máy: Thiện Văn
Đăng nhập để trả lời
0
Chào tác giả: Nghiêm Lương Thành
 
Những truyện ngắn của Nghiêm Lương Thành
 
Đã được mang vào thư viện
 
Thành thật cảm ơn và chúc tác giả Nghiêm Lương Thành luôn vui
 
Thân ái
Đăng nhập để trả lời
0