📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Sinh Tồn Nơi Hoang Dã.

27 trả lời, 6.681 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2004-12-01 03:49:13NuHiepDeThuong>
ĐỐI DIỆN


Ngoài những nhà phiêu lưu mạo hiểm, những chiến binh, những người khai phá... ít ai trong chúng ta lại nghĩ rằng ; sẽ có một ngày nào đó, mình phải đối diện với sự sinh tồn của chính mình chỉ với bằng bàn tay và khối óc, torng khi chung quanh là thiên nhiên bao la bí hiểm, bệnh tật, đói khát, chết chóc.... Thế mà, có người ngày hôm qua còn đang ở trong biệt thự tiện nghi, xe cộ đưa đón, kẻ hầu người hạ, thì hôm nay : rừng rậm hoang vu, đầm lầy bí hiểm, sa mạc khô cằn, hoang đảo cô đơn...
Có người vì nhiệm vụ, có người vì sơ ý để thất lạc, có người vì tai nạn, mà cũng có người lập dị muốn sống cụôc sống hoang sơ, từ chối tiện nghi của nền văn minh hiện đại ... Tất cả họ đều phải đối diện với một thiên nhiên khốc liệt, mà phần đông trong số họ thường phải bó tay (dù đôi khi họ được trang bị khá đầy đủ) chỉ vì họ chưa được học tập và huấn luyện chu đáo. Có một số ít người do may mắn, nhưng cũng không ít người do khả năng, sức lực, ý chí, sự hiểu biết về mưu sinh thoát hiểm… mà đã sống sót sau những tai nạn. Báo chí và các phương tiện truyền thống đã nói rất nhiều về những trường hợp điển hình đó.
Chúng tôi xin trích một đoạn trong táp chí THẾ GIỚI MỚI về cuộc hội thảo “VĂN HOÁ NGOÀI TRỜI” được tổ chức tại Nhật Bản :
“ Chúng ta lo đuổi theo văn minh vật chất, lo chú ý đến kinh tế mà coi nhẹ giáo dục con người, các nhà trường hiện nay nặng về phát triển trí tuệ chứ không phát triển đức tính. Với lớp trẻ, mọi thứ đều có những phát minh khoa học cung cấp cho : ăn uống, nhà ở, tiêu dùng, sinh hoạt ... tất cả đều sẵn sàng đến mức con người không phải làm gì và không biết làm gì nữa. Ở Nhật Bản đã tổ chức một cuộc thí nghiệm : Tập trung một số thanh thiếu niên, cho sống với nhau trên một hòn đảo, tự túc lấy một vài tuần ... Người ta thấy rằng : Các em không biết nấu cơm, không dựng được nhà ở, không thể trèo núi, băng suối ...” (TGM số 221 – 1997)

Như vậy, cho dù được trang bị đầy đủ mà không được học tập huấn luyện chu đáo, thì chúng ta cũng dễ bị lúng túng và thụ động trước thiên nhiên. Chúng ta nên nhớ rằng : Thiên nhiên rất tàn nhẫn nhưng cũng rất hào phóng. Lấy đi tất cả nhưng cũng cho lại tất cả. Chỉ có điều : Chúng ta phải biết cách nhận.
Trong tập sách nầy, chúng tôi sẽ cùng các bạn tìm hiểu và thực hành nhưng điều cần phải biết, những việc cần phải làm, để khi cần, chúng ta có thể SINH TỒN NƠI HOANG DÃ mà đôi khi chỉ với một con dao hay một cái rìu trong tay. Các bạn đừng nghĩ rằng : việc đó quá xa vời, ngoài tầm tay của các bạn. Không ! Chỉ cần sau khi đọc cúôn sách nầy, các bạn hãy tìm cách thực tập và cộng với một quyết tâm cao, mọi việc sẽ trở nên dễ dàng, và biết đâu, sẽ có lúc bạn tự hào về những khả năng và sự hiểu biết của mình .
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2004-12-01 03:52:03NuHiepDeThuong>
Chuẩn bị vào nơi hoang dã


- Các bạn là những người đang chuẩn bị cho một cuộc thám hiểm, khám phá những vùng đất hoang vu xa lạ.

- Các bạn đang chuẩn bị cho một chuyến du lịch sinh thái ở một vùng mà bạn biết rất mơ hồ.

- Các bạn sắp sửa phải dấn thân vào rừng sâu núi thẳm vì nhiệm vụ được giao phó.

- Các bạn đã chán ngấy cuộc sống ồn ào náo nhiệt của thành phố, chán các tiện nghi của nền văn minh cơ khí... muốn tìm sự tỉnh lặng thanh thản giữa thiên nhiên.

- Các bạn muốn làm một Robinson Crusoe thời nay.

Hoặc vì một lý do nào đó, các bạn sắp phải sống một thời gian dài ở những vùng thiên nhiên hoang dã, vắng bóng người.
Để cho công việc được hoàn thành một cách tốt đẹp và bản thân các bạn được an toàn, các bạn buộc phải qua một quá trình học tập, và rèn luyện một cách cẩn thận. Vì đây không phải là một chuyến du lịch với túi tiền đầy ắp. Không kẻ đưa người đón. Không có cổ bàn dọn sẵn. Không có phòng ốc tiện nghi... Mà trái lại, có thể đầy dẫy gian lao nguy hiểm, nhọc nhằn, vất vả, bệnh tật, đói khát, sức cùng lực kiệt.... đang chờ đón các bạn. Ở đó, các bạn chỉ có thể trông cậy vào chính bản thân của mình. Vì vậy, các bạn phải trang bị cho mình một số kỹ năng và kiến thức cần thiết. Những kỹ năng nầy, không phải chỉ đọc ở sách vở hay học bằng lý thuyết suông, mà phải thực hành nhiều lần, nhất là trong những dịp cắm trại, thám du, khảo sát, dã ngọai... ngắn ngày. Các bạn cũng cần phải rèn luyện sức khoẻ, chuẩn bị tinh thần và nghị lực, sẵn sàng đương đầu với mọi thử thách.

Dĩ nhiên là khi các bạn đã được chuẩn bị tốt, thì khả năng tồn tại nơi hoang dã của các bạn được an toàn và bảo đảm hơn rất nhiều so với những người đột nhiên bị ném vào những nơi xa lạ mà chưa hề có khái niệm gì về “mưu sinh thoát hiểm” ...
Tuy nhiên, điều quan trọng nhất vẫn là tinh thần của các bạn, nếu các bạn không bình tĩnh tự tin, không có nghị lực và quyết tâm cao, không có máu phiêu lưu và đam mê thiên nhiên... thì mọi sở học của các bạn cũng vô ích.
Những kỹ năng và kiến thức quan trọng mà các bạn cần phải học tập và thực hành là :

- Kiến thức về thiên nhiên, khí hậu, thời tiết, môi trường, động thực vật...
- Các phương pháp tìm phương hướng
- Đọc và sử dụng bản đồ và địa bàn
- Kỹ thuật di chuyển vượt chướng ngại
- Kỹ thuật lều trại và các cách làm chòi trú ẩn bằng vật liệu thiên nhiên.
- Thủ công, nghề rừng.
- Kỹ thuật săn bắn đánh bắt, mưu sinh thoát hiểm
- Biết bảo vệ sức khoẻ và phòng chống các bệnh thông thường
- Cứu thương và cấp cứu

CÓ SỨC KHOẺ

Không một nhà thám hiểm, khai phá hay một chiến binh nào mà có thể hoàn thành công việc của mình với một sức khoẻ èo uột. Vì nơi hoang dã là một môi trường rất khắc nghiệt, đầy dẫy lam sơn chướng khí, rừng thiêng nước độc, sông sâu vực thẳm, cây độc thú dữ, thực phẩm thiếu thốn, thuốc men hiếm hoi, tiện nghi nghèo nàn, hoang vắng cô đơn...
Các bạn còn phải tiêu hao rất nhiều năng lương do mang trên vai hành trang nặng nề, sử dụng đôi chân để vượt những chặng đường dài mà không dễ đi chút nào, phải leo núi, băng sông, vượt lầy, cắt rừng ... Một người có thể lực trung bình thì cũng khó mà đảm đương nổi.
Ngoài sức khoẻ ra, các bạn cũng cần phải có một tinh thần kiên định vững vàng, đam mê khám phá, yêu mến thiên nhiên, không ngại gian khổ... Biết bao nhiêu người đã bỏ cuộc chỉ vì thiếu tính kiên nhẫn, lòng đam mê và không vượt qua được những gian khó, cho dù họ có sức khoẻ rất tốt. Các bạn hãy nhớ rằng, thực tế không đẹp như một bức tranh phong cảnh hay như một bài thơ trữ tình đâu.

KIẾN THIẾT VỀ THIÊN NHIÊN

Là một vấn đề rất quan trọng đối với những người chuẩn bị tiến hành các cuộc phiêu lưu mạo hiểm. Nếu không am hiểu về thiên nhiên, các bạn sẽ gặp vô vàn khó khăn trong việc sinh tồn nơi hoang dã.

Về lý thuyết : Các bạn nên đọc và nghiên cứu thật nhiều qua sách báo, phim ảnh... để tích luỹ kiến thức về môi trường sinh thái, về động thực vật, về thời tiết, khí hậu, trăng sao, thuỷ triều ...

Về thực hành : Các bạn nên tham gia nhiều cuộc khảo sát, thám du, chinh phục, cắm trại... để cho quen việc tiếp xúc với thiên nhiên càng nhiều càng tốt.

Nếu không có kiến thức về thiên nhiên, các bạn có thể hoảng loạn trước những con vật xù xì gớm ghiếc nhưng vô hại và mất cảnh giác trước những con côn trùng nhỏ bé hoặc những con vật có màu sắc sặc sỡ đáng yêu nhưng lại rất nguy hiểm.
Các bạn cũng cần phải biết phân biệt được những cây, hoa, lá, rễ, củ... có thể làm thực phẩm hay thuốc chữa bệnh hoặc mang nhiều độc tố chết người. Biết tiên đoán thời tiết để khỏi bị động trước mọi hiện tượng của thiên nhiên.

Tóm lại : Có kiến thức rộng về thiên nhiên bạn mới mong có thể tồn tại giữa thiên nhiên hoang dã.


TỔ CHỨC & LẬP KẾ HOẠCH

Khác với những cuộc cắm trại hoặc những lần xuất du dã ngoại thông thường. Trong các cuộc phiêu lưu mạo hiểm, các bạn không thể đi “tiền trạm” trước, mà chỉ biết vùng đất đó qua bản đồ hoặc một số hình ảnh , tư liệu ... cho nên rất khó mà đoán biết những gì sẽ chờ đón chúng ta ở đó.
Chương trình hoạt động cũng khác với chương trình cắm trại thông thường. Chúng ta không thể sắp đặt những kế hoạch cụ thể mà chỉ có thể thiết kế một cách tổng quát rồi tuỳ cơ ứng biến.
Chọn đồng hành : Nếu bạn là người tổ chức (và là trưởng đoàn) thì chỉ nên chọn bạn đồng hành là những người trưởng thành, có kinh nghiệm và kiến thức, biết nhiều kỹ năng chuyên môn, đã từng tham dự nhiều chuyến xuất du, cắm trại ... Những kẻ “mặt trắng” thiếu kinh nghiệm sẽ là một gánh nặng cho cả toán. (Chỉ nên để họ tham dự những chuyến xuất du ngắn ngày.)
Những thành viên trong đoàn, ngoài sự thông cảm, thương yêu,k đoàn kết với nhau, còn phải cùng chung một quan điểm, mục đích, có chung một sự đam mê khám phá, tìm hiểu thiên nhiên...
Chương trình và lộ trình của các bạn phải được thông báo cho người thân và những người có trách nhiệm biết, để họ có thể biết đường tìm kiếm các bạn, nếu đến hẹn mà các bạn chưa về.

TRANG BỊ

Trang bị tốt và đầy đủ là yếu tố quan trọng để tổ chức một cuộc sống nơi hoang dã được tiện nghi, an toàn và thành công.
Trang bị cho những cuộc phiêu lưu mạo hiểm cũng khác với những cuộc cắm trại, vì chúng ta sẽ mang theo nhiều lương khô, thuốc men, dụng cụ cấp cứu, bản đồ địa bàn, dụng cụ phát tín hiệu cấp cứu, máy truyền tin... tuỳ theo mục đích hoặc địa thế, chúng ta có thể trang bị thêm : phao vượt sông, dụng cụ leo núi... và một vật không thể thiếu đó là “túi mưu sinh” (Survival Kit), là một túi nhỏ, trong đó đựng những vật dụng thiết yếu nhất để có thể sinh tồn nơi hoang dã (xin xem bảng liệt kê vật dụng).
Nhưng các bạn hãy lưu ý : Với thể lực và đôi chân của các bạn, cộng với đoạn đường dài mà các bạn cần phải vượt qua, các bạn không thể cõng trên lưng toàn bộ “tài sản” của mình (cho dù bạn rất muốn) mà chỉ có thể tuyển chọn những vật dụng cần thiết nhất cho phù hợp với cuộc hành trình mà thôi. Cho nên người được trang bị tốt là : người có thể tận dụng tối đa mọi chức năng của một số vật liệu, dụng cụ ít ỏi bằng kiến thức và tài tháo vát của mình. (thí dụ : chỉ với chiếc gậy đi đường, các bạn có thể biến nó thành : thước đo, vũ khí tự vệ và tấn công, cột lều, cần bẫy, sào dò độ sâu của dòng sông, cầu vượt khe, cán cuốc, xẻng, cáng cứu thương...) Do đó, hành trang của người phiêu lưu mạo hiểm tuy gọn nhẹ, nhưng đầy đủ.
Nếu bạn là một Hướng Đạo Sinh, đã từng đi trại nhiều lần, thì việc lựa chọn vật dụng để mang theo không khó khăn lắm, cho dù cắm trại và phiêu lưu mạo hiểm có khác nhau.

Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2004-12-01 04:20:15NuHiepDeThuong>
VẬT DỤNG MANG THEO

Danh mục các vật dụng dưới đây chỉ để gợi ý cho các bạn chọn lựa mà thôi, chúng ta không thể nào đủ sức để cõng theo tất cả được (trừ khi các bạn thám hiểm bằng cơ giới). Khi chọn lựa, các bạn phải tuỳ theo nhu cầu, mục đích, nhiệm vụ, địa thế, khí hậu... mà chọn những vật dụng thích hợp và cần thiết để mang theo. Có một số vật dụng hơi khó tìm kiếm trên thị trường, thường chỉ để trang bị cho những người có công tác đặc biệt .

NHỮNG VẬT DỤNG CẦN THIẾT

- Ba lô
- Sổ sách, giấy viết, nhật ký hành trình...
- Bản đồ, và địa bàn
- Thiết bị định vị toàn cầu GPS
- Đồng hồ
- Ống dòm
- Máy chụp hình & phim
- Máy thu thanh (radio)
- Điện thoại di động (nếu vùng có phủ sóng)
- Đèn pin & pin & bóng đèn dự phòng
- Đèn bão, đèn cầy
- Dao săn (hoặc dao rừng, dao mưu sinh...)
- Dao bỏ túi (đa chức năng)
- Rìu, rựa, cúôc, xẻng, cưa ...
- Dây đủ cỡ
- Thuốc thoa chống muỗi
- Nhang đuổi muỗi
- Bình lọc nước loại nhỏ (mini filter)
- Tài liệu, sách hướng dẫn (cẩm nang)

Y PHỤC

Tuỳ theo thời tiết, khí hậu, thời gian hoạt động ... để mang theo quần áo sinh hoạt và dự phòng.
- Áo quần sinh hoạt & nón nhẹ
- Áo quần chống lạnh & nón lông
- Áo mưa hay poncho
- Áo quần ngủ
- Áo quần lót
- Áo quần tắm
- Áo khoác
- Giầy vớ
- Dép gúôc
- Găng tay

ĐỒ DÙNG CÁ NHÂN


- Khăn tay, khăn tắm
- Kem & bàn chải đánh răng
- Xà phòng giặt & bàn chải giặt
- Xà phòng tắm
- Dao cạo
- Gương, lược
- Kiếng mát
- Giấy vệ sinh
- Hộp may vá (đựng kim, chỉ, nút, kéo, lưỡi lam...)

DỤNG CỤ NẤU NƯỚNG & ĂN UỐNG

- Nồi, soong, chảo, ấm nấu nước...
- Dao, thớt
- Đồ khui hộp
- Tô, chén, dĩa, ly, gà mên ...
- Vá, mũông đũa...
- Bình đựng nước & ca uống nước & bao bình đựng nước
- Gàu, xô xách nước, can đựng nước
- Rổ, rá...
- Quẹt gaz ( hay diêm không thấm nước)
- Lò dầu hay bếp gaz nhỏ (mini) & dầu hay gaz dự phòng

THỰC PHẨM

- Gạo, nếp, bắp, đậu, bột...
- Gia vị (muối, tiêu, đường, bột ngọt, hành, tỏi, dầu ăn...)
- Thức uống (trà, cà phê, bột trái cây...)
- Thức ăn tươi (thịt, cá, trứng, rau, quả...)
- Thức ăn khô (tôm khô, cá khô, mì, lạp xưởng...)
- Thức ăn đóng hộp

DỤNG CỤ CẮM TRẠI – NGHỈ NGƠI

- Lều, bạt, poncho...
- Cọc, dây, gậy, dùi cui...
- Tấm lót
- Võng
- Túi ngủ, nệm hơi
- Mùng, mền, mùng trùm đầu

DỤNG CỤ CẦU CỨU

- Máy truyền tin
- Hoả pháo
- Trái khói
- Kính phản chiếu
- Pa-nô, vải màu, cờ...
- Còi báo hiệu
- Đèn hiệu

DỤNG CỤ LEO NÚI

- Nón bảo hộ (helmet)
- Búa bám đá (rock hammer)
- Bao giắt búa (hammer holster)
- Nêm cắm, nêm đóng (pitons)
- Nêm chèn, nêm giắt (chocks & nuts)
- Khoen bầu dục biners (carabiners / snaplink)
- Giầy leo núi (Kletterschuhe/mountaineering shoes)
- Đai (swami belt)
- Dây (rope)

TÚI MƯU SINH

- Aspirin, vitamins
- Quẹt gaz hay diêm không thấm nước
- Băng dán cá nhân
- Dao nhíp, lữơi lam
- Đèn pin nhỏ (mini)
- Kính phản chiếu hay miếng kim loại bóng
- Dây cước, dây dù, lưỡi câu đủ cỡ
- Cưa dây
- Thuốc viên lọc nước
- Súp viên – muối tiêu hay muối xả ớt
- Còi cấp cứu
- Địa bàn nhỏ (mini)

TÚI CỨU THƯƠNG

- 1 chai Betadi (polyvidone iodee)
- 1 cahi oxy già
- 1 chai thuốc đỏ
- 1 chai cồn
- 1 chai dầu gió
- 1 cahi Amoniaque
- Bột Sulfamid hay bột Penicilline
- Kéo, kẹp, kềm...
- Ống tiêm & kim tiêm
- Thuốc chống sốt, giảm đau (Panadol, Cetamol, Aspirin...)
- Thuốc đau bụng, tiêu chảy (Ganidan, Parregorique...)
- Thúôc chống sốt rét (Chloroquine, Fansidar...)
- Thuốc kháng sinh (Ampicilline, Tetracyline...)
- Túi chữa rắn cắn (Snake bite Kit)
- Rựơu hội, viên hội (chữa rắn cắn)
- Băng vải, băng thun, băng tam giác...
- Băng keo, băng dán cá nhân
- Bông gòn thấm nước – gạc (gaze), compresse

GHI NHỚ :

TÚI CỨU THƯƠNG phải được giữ gìn cẩn thận, treo lên cao. Các loại thuốc phải được dán nhãn, ghi rõ tên thuốc, chủ trị, cách dùng... và phải bổ sung đầu đủ sau mỗi lần dùng.
Riêng về TÚI MƯU SINH, các bạn không nên đem ra sử dụng thường (trừ trường hợp bất đắc dĩ), để khỏi bị hao hụt, thất thoát. Vì nếu không, đến khi các bạn thật cần thì lại không có hoặc không đủ.
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
THẤT LẠC TRONG RỪNG

Có thể do mãi mê công việc khảo cứu hay truy đuổi theo dấu vết của con mồi mà bạn thất lạc giữa rừng sâu. Hoặc bạn đi chậm chân rồi tụt hậu sau đoàn lữ hành và bị mất dấu mà không ai biết. Hay đang đi cắm trại, thám hiểm mà bị lũ cuốn trôi dạt vào một nơi hoang vu, mất hết hành lý. Cũng có thể bạn lo trốn chạy, đào thoát khỏi tay kẻ địch hay “thú dữ” đang truy đuổi, mà rơi vào một nơi hoàn toàn xa lạ... vân vân...

Có hai trường hợp thất lạc :
1. Thất lạc không ai biết, không người tìm kiếm
2. Thất lạc có người biết và sẽ tổ chức tìm kiếm


THẤT LẠC KHÔNG NGƯỜI TÌM KIẾM

Trường hợp vì một lý do nào đó mà các bạn bị thất lạc, nhưng không có ai biết để tổ chức những cuộc tìm kiếm, và vì các bạn không chuẩn bị cho những vật dụng cần thiết (hoặc nếu có thì cũng không đầy đủ), cho nên các bạn phải đặt mục tiêu hàng đầu là thoát ra khỏi vùng nguy hiểm càng sớm càng tốt, các bạn phải tìm cho bằng được con đường ngắn nhất đưa các bạn tới khu dân cư hay vùng an toàn gần nhất. Vì vậy, mọi sức lực, khả năng và trí tuệ của các bạn đều phải tập trung vào việc tìm đường thoát nạn. Nếu sau hai ba ngày mà chưa thoát ra được, các bạn sẽ hoang mang lo sợ, mất tự chủ, dẫn đến tình trạng suy sụp từ thể xác đến tinh thần, đây là điều tối kỵ nhất đối với một người bị thất lạc.
Trong cơn hoảng loạn, các bạn sẽ không còn bình tĩnh để cân nhắc suy xét, nên dễ đưa đến việc đi lòng vòng quanh quẩn trong khu rừng, có khi sau một hồi loanh quanh, các bạn lại quay trở về vị trí lúc ban đầu, mà trong dân gian thường gọi là bị “ma dắt”. (Hiện tượng nầy được các nhà khoa học giải thích như sau : Hai bước chân chúng ta không đều nhau, một bước ngắn, một bước dài. Khi đi trên đường, chúng ta tự động chỉnh hướng theo con đường. Còn trong rừng, do đi theo bản năng nên có khuynh hướng đi theo vòng tròn).
Ở đây, chúng tôi không đặt vấn đề đúng hay sai, mà chỉ nhắc cho các bạn lưu ý, đây là một hiện tượng có thật và rất phổ biến. Khi gặp phải trường hợp như thế nầy, các bạn sẽ hoang mang lo sợ, thất vọng, mất hết tinh thần và ý chí phấn đấu... Đây là một điều rất tai hại, nó còn nguy hiểm hơn cả đói khát và bệnh tật. Khi mà bản năng sinh tồn và nghị lực của các bạn không còn, thì tử thần đang chờ sẵn.
Vì vậy, để thoát nhanh ra khỏi vùng xa lạ, các bạn cần phải thật bình tĩnh để tìm cho được hướng ra, vì thường trong các trường hợp nầy, các bạn không cách xa khu dân cư là bao nhiêu.

ĐỊNH HƯỚNG – TÌM ĐƯỜNG

Cho dù các bạn có địa bàn trong tay thì cũng vô ích nếu như các bạn không biết chúng ta phải đi về hướng nào (trong trường hợp nầy, địa bàn chỉ hữu ích khi chúng ta biết khu dân cư ở hướng nào hoặc các bạn có bản đồ cả khu vực mà chúng ta đang đứng và các bạn cũng phải biết mình đang ở vị trí nào trên bản đồ).
Bây giờ coi như chúng ta không có bản đồ hay địa bàn gì cả, thì làm thế nào để chúng ta vẫn có thể tìm được hướng cần phải đi. Hướng đó là con đường ngắn nhất dẫn đến khu dân cư gần nhất .

Để làm được điều đó, các bạn có nhiều cách :
Trước tiên, các bạn chọn một điểm cao nhất trong khu vực như : cây cao, đỉnh đồi, gộp đá... để leo lên đó mà quan sát (Điều nầy cũng rất khó thực hiện nếu như các bạn ở trong một cánh rừng già bằng phẳng, vì khi leo lên cao, các bạn sẽ không trông thấy gì ngoài những ngọn cây trùng trùng điệp điệp).
Khi trèo cây, để được an toàn, các bạn phải trèo sát vào thân cây, đặt bàn chân sát vào nách của cành cây, tay bám vào những cành chắc chắn, cơ thể của các bạn lúc nào cũng ở trên 3 điểm chịu lực (1 chân và 2 tay hay 1 tay và 2 chân).
Nếu ban ngày, các bạn có thể thấy một vài đặc điểm của khu dân cư như : ngọn tháp, cao ốc, đồng ruộng, nhà cửa, khói ...
Nếu ban đêm, các bạn có thể thấy ánh lửa, đèn điện... Những nơi có phố thị, dù ở thật xa, thì ban đêm ánh sáng cũng hắt lên bầu trời một vùng như hào quang.
Nếu khu dân cư ở gần, khi rừng yên ắng, các bạn có thể lắng nghe văng vẳng những tiếng động lớn như còi xe, còi tàu...
Khi đã định hướng được rồi, các bạn chỉ cần có quyết tâm cao và một vài kỹ năng chuyên môn, là bạn có thể thoát nạn.
Thế nhưng nếu chúng ta không thể thấy hay không thể nghe gì thì phải làm sao ?
Các bạn hãy cố tìm cho ra một con suối hay một con sông và đi xuôi theo hướng nước chảy về phía hạ lưu. Tuy không dễ dàng gì vì sông suối không bao giờ chảy theo đường thẳng nên lộ trình di chuyển bao giờ cũng dài hơn rất nhiều. Hơn nữa, hai bên bờ sông suối cây cối thường rất rậm rạp, rất khó di chuyển. Có thể nói; đây là con đường an toàn chứ không phải là con đường ngắn nhất.
Nếu gặp con súôi cạn, thì các bạn có thể đi theo lòng suối, vừa dễ di chuyển, vừa có hy vọng gặp suối lớn hay sông (và nhiều cơ may tìm thấy nước trong các mạch nước hay những vũng nhỏ). Khi đã đến sông, nếu có thể, các bạn nên đóng bè để thả trôi theo dòng sông (Xin xem phần ĐÓNG BÈ).
Để tìm ra sông hoặc suối, các bạn có thể trèo lên một điểm cao để quan sát, nếu thấy nơi nào có hàng cây xanh chạy dài (nhất là vào mùa khô, thì hy vọng nơi đó có suối hay sông). Hoặc các bạn di chuyển đổ xuống theo triền dốc của sườn núi hay sườn đồi. Ở cúôi dốc, thường có khe hoặc suối nhỏ. Nếu theo dòng chảy, các bạn sẽ gặp sông suối lớn hơn.
Chúng ta di chuyển men theo suối hay suối là do tất cả mọi con suối đều đổ ra sông, mà dọc hai bên sông thường có những khu dân cư hay làng chài hoặc có thể gặp thuyền của ngư dân, của người đi rừng... các bạn sẽ có cơ may được cứu thoát.
Trong lúc đang di chuyển, nếu gặp một con đường mòn thì vận may của các bạn sẽ được nhân lên. Tuy nhiên, các bạn cũng cần xem xét đó là đường mòn cũ hay mới, do người hay thú rừng tạo nên, đường mòn dẫn vào rừng sâu hay đưa ra khu dân cư (Các bạn phán đoán bằng cách quan sát những nhánh rẽ của con đường, nếu đi sâu vào rừng thì thường có hình chữ V thuận, ngược lại, nếu dẫn ra khu dân cư thì nó có hình chữ V nghịch. Nếu không phán đoán được, các bạn di chuyển cho đến khi gặp một con suối cắt ngang qua đường mòn thì có thể trụ lại chờ người đi qua. Vì ở đây, chúng ta có nước uống và cũng có thể để tìm thấy thức ăn ven suối. Nhưng nếu các bạn cảm thấy mình còn đủ khả năng thì sau khi nghỉ ngơi và chuẩn bị đầy đủ nước uống mang theo, chúng ta sẽ lên đường đi tiếp, hãy tin rằng; nơi có người ở không còn xa lắm đâu. Kiên nhẫn lên, các bạn sẽ được cứu thoát.


THẤT LẠC CÓ NGƯỜI TÌM KIẾM

Trước khi vào nơi hoang dã, bạn đã báo tin cho ai đó, nhưng đến ngày hẹn mà các bạn không về... Bạn rời khỏi nhóm, đi đâu đó rồi bị lạc... Bạn được giao đi làm nhiệm vụ ở một nơi xa lạ rồi mất tích... và những trường hợp tương tự như trên, thì người ta sẽ tổ chức những đội cứu hộ đi tìm kiếm các bạn. Nhưng còn bạn ? Bạn phải hành động như thế nào ??
Tất nhiên bạn...sẽ bị một cú “sốc” khi biết mình bị lạc. Nhưng bạn hãy bình tĩnh và thư dãn, vì mọi việc không đến nỗi tồi tệ như bạn tưởng đâu.
Hãy cố gắng nhớ lại những kỹ thuật và kỹ năng về mưu sinh thoát hiểm mà các bạn đã học (hay đã đọc đâu đó) rồi đem ra áp dụng, những kết quả của các bài học nầy (cho dù rất nhỏ) sẽ giúp bạn tự tin hơn, tạo cho các bạn thêm nghị lực để phấn đấu, vượt qua mọi trở ngại để tồn tại.

Trong khi chờ người đến cứu, các bạn hãy làm theo những lời khuyên sau đây :

- Ở YÊN TẠI CHỖ, nếu các bạn không tìm được đường ra và chắc chắn mọi người sẽ páht hiện ra được sự mất tích của các bạn và sẽ tổ chức tìm kiếm. Điều nầy rất cần thiết cho các bạn, vì nó hạn chế sự tiêu hao sức lực, năng lương ... trong khi các bạn đang thiếu thốn thực phẩm và có thể bị tổn thương.
- TÌM HIỂU MÔI TRƯỜNG CHUNG QUANH, để có thể phát hiện nguồn nước, thực phẩm, chỗ trú ẩn, củi...
- DỰNG LÊN MỘT CHỖ TRÚ ẨN tiện nghi thoải mái, sẽ làm cho các bạn an tâm, thư dãn, bớt căng thẳng, lo sợ...
- TẠO RA CÁC DẤU DỄ NHẬN THẤY để cho những người đi tìm kiếm các bạn (hoặc phi cơ bay ngang qua) dễ dàng nhận ra nơi ở của các bạn như : Đốt lửa (ở nơi trống trải), căng những tấm vải màu, quần áo, nón mũ... lên cao hoặc nơi dễ thấy.
- GÂY RA NHỮNG TIẾNG ĐỘNG LỚN như : thổi còi, gõ vào những thân cây rỗng, đốt tre để nguyên cây (sẽ gây ra những tiếng nổ lớn), bắn súng (nếu có)
- GIỮ LỬA CHÁY LUÔN LUÔN nếu nguồn củi hay nhiên liệu cho phép, để làm tín hiệu, xua đuổi thú dữ, thu dãn tinh thần ... (nhưng phải đề phòng cháy rừng)
- KIÊN NHẪN VÀ THẬN TRỌNG. Đừng nóng nảy vội vàng cố sức tìm đường thoát ra, vì có thể làm cho các bạn lạc càng ngày càng xa hơn, gây thêm khó khăn cho những người đi tìm kiếm các bạn.
- HÃY AN TÂM vì cơ thể của các bạn có thể chịu đựng sự thiếu nước trong 3 ngày và thiếu thực phẩm trong 3 tùân. Điều các bạn cần phải làm là ở yên tại chỗ, người ta sẽ tìm thấy các bạn.


THẤT LẠC MỘT NHÓM

Nếu là một nhóm đã có tổ chức sẵn thì không nói làm gì, còn nếu không thì phải chọn một ngừơi lanh lợi, tháo vát ... để bầu làm “Toán trưởng” , và các thành viên trong nhóm phải tuyệt đối tuân phục người nầy. Nhiệm vụ của Toán Trưởng là :
- Phân công cụ thể cho từng người một, tận dụng mọi khả năng, kỹ năng, sở trường của họ.
- Không để một thành viên nào trong nhóm suy sụp tinh thần, gây hoang mang cho cả nhóm (Toán Trưởng dù có bị dao động cũng không để lộ ra ngoài)
- Toán Trưởng có thể tham khảo ý kiến của tất cả mọi thành viên, nhưng chính mình phải tự quyết định.
- Giải quyết linh động và hợp lý những vấn đề thường xuất hiện trong toán như : mệt nhọc, đói khát, bệnh tật... và những va chạm, cãi cọ, gây chia rẽ ...
- Tạo nên một bầu không khí lạc quan, phấn chấn, một tinh thần đoàn kết yêu thương giúp đỡ lẫn nhau. An ủi động viên những người bị suy sụp tinh thần . Đó là sức mạnh và sinh lực giúp nhóm tồn tại để thoát ra khỏi nơi nguy hiểm.


ĐỀ PHÒNG THẤT LẠC

Để đề phòng không bị thất lạc ở trong rừng sâu, nơi hoang dã, các bạn nên làm theo những lời khuyên sau đây :

TRƯỚC KHI VÀO RỪNG HAY NƠI HOANG DÃ :
- Thông báo cho người thân (hay giới chức có thẩm quyền) biết các bạn sẽ đi đâu ? Làm gì ? Lộ trình dự kiến ? ... và khi nào thì các bạn về?
- Rèn luyện thể lực, nhất là đôi chân của các bạn, để có thể vượt qua những chặng đường dài 20 – 30 km một ngày.
- Tập thành thói quen mang theo trong người những vật dụng cần thiết như : dao xếp (đa năng), bật lửa, địa bàn... nhất là những người thường xuyên đi rừng.
- Không nên rời “TÚI MƯU SINH” khi đi rừng.
- Học tập và rèn luyện khả năng sử dụng tối đa mọi trang bị, thông thạo về các kỹ năng mưu sinh thoát hiểm, biết các phương pháp sử dụng bản đồ và địa bàn, có kiến thức về thiên nhiên, có thể phân biệt và lý giải được các dấu vết, tiếng động, mùi vị, đặc tính của các vật thể và sự việc chung quanh.
- Biết cách xử lý các trường hợp sơ cứu khẩn cấp và chữa trị bệnh tật.


KHI VÀO RỪNG

Có bản đồ :
- Cứ mỗi 20 – 30 phút, kiểm tra lại điểm đứng của các bạn trên bản đồ, so sánh xem có phù hợp với cảnh quang thực tế chung quanh hay không ?
- Theo dõi và so sánh hướng gió và hướng di chuyển của các bạn, nếu thấy gió bị lệch hướng so với lúc ban đầu, hãy kiểm tra lại hướng di chuyển.
- Chọn một điểm chuẩn để đi tới, như vậy, cho dù các bạn có đi vòng vèo, cũng không bị lệch hướng (Xin xem phần DI CHUYỂN & VƯỢT CHƯỚNG NGẠI)
- Ghi nhớ thời gian và tốc độ di chuyển của các bạn, để ước tính đoạn đường đã vượt qua.
- Đánh dấu trên bản đồ những điểm đặc biệt dễ nhận thấy (nhưng không có in trên bản đồ) như : cây đại thụ, gộp đá, dị hình, gò mối, hang đá, túp lều thợ rừng, mạch nước...


KHÔNG CÓ BẢN ĐỒ

- Để lại dấu vết dễ nhận thấy làm tín hiệu trên đường đi của các bạn như : vạt một nhát dao vào thân cây, bẽ gãy những cành cây, cột túm những bụi cỏ cao, sắp xếp đá hay cành cây theo một quy ước, cột vải vụn lên các cây nhỏ... Những dấu hiệu nầy phải dễ dàng phân biệt được với những dấu vết do thú vật hay thiên nhiên tạo ra.
- Phác thảo một sơ đồ, ghi chép những điểm đặc biệt của địa thế, những điểm chủân của địa hình, các cảnh quang đặc biệt, đánh dấu những lần đổi hướng.
- Theo dõi và ghi nhớ hướng gió, hướng mặt trời, mặt trăng lặn mọc, quan sát các chòm sao....


ÓC TƯỞNG TƯỢNG – SỰ ỨNG BIẾN

Óc tưởng tượng và sự linh động ứng biến cũng có thể cải thiện được phần nào tình thế. Nó làm cho các bạn tăng thêm nhuệ khí và nâng đỡ tinh thần của các bạn.
Hãy luôn luôn ghi nhớ : mục đích của chúng ta là sự sống còn, vậy hãy tự nâng đỡ minh bay bỗng bằng những “giấc mơ đẹp”, bằng những “dự án lớn” cho tương lai. Chính những điều nầy sẽ tạo cho các bạn sức mạnh để vượt qua hoàn cảnh hiện tại.
Giữ gìn sức khoẻ và sinh lực : Nếu lúc nầy mà đau ốm hay bị thương thích gì, thì vận may của các bạn trong việc mưu sinh thoát hiểm sẽ giảm đi rất nhiều.
Đói khát, lạnh lẽo, hoang mang... làm giảm bớt sự hiệu quả của sức chịu đựng. Đó cũng là nguyên nhân làm cho các bạn hoa mắt, mệt mỏi, chán nản, bất cẩn, thấy những ảo ảnh, hành động như người mất trí... Tuy nhiên, khi thấy những hiện tượng như thế, các bạn hãy an tâm, đó chỉ là hậu quả của cơ thể quá mệt mỏi, không có gì nguy hiểm, chỉ cần bình tâm nghỉ ngơi là hết.
Sự ứng biến còn bao gồm vịêc các bạn có thể ăn được cả côn trùng, động vật và những thức ăn hiếm hoi lạ lẫm khác mà các bạn có thể tìm thấy trong rừng.
Khi cô độc trong rừng sâu, nếu các bạn không biết để cho đầu óc bay bỗng, không biết ứng biến, thì rừng sâu sẽ nhấn chìm các bạn.
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2004-12-02 23:31:24NuHiepDeThuong>
TAI NẠN


Ngày nay, việc di chuyển từ nơi nầy sang nơi khác, từ đất nước nầy sang đất nước khác, không còn là một chuyện quá xa vời nữa. Biên giới quốc gia hình như chỉ còn tồn tại trên bản đồ, trái đất như thu nhỏ lại dưới đôi cánh của những chiếc máy bay siêu thanh, những con tàu siêu tốc.... Con người đi lại trên những phương tiện giao thông nhiều hơn, vì vậy mà tai nạn xảy ra nhiều hơn.

Ngoài những tai nạn thảm khốc đáng tiếc, còn có những tai nạn mà đáng lý ra không thể dẫn đến cái chết, nếu như trong số nạn nhân còn sống sót, có một vài người biết một ít kỹ năng để sinh tồn nơi hoang dã, hoặc tìm cách làm cho những toán cứu hộ dễ dàng phát hiện ra họ sớm hơn.

Chúng tôi không bao giờ mong cho các bạn phải bị lâm vào trong những tình cảnh như thế, nhưng nếu lỡ... thì ít ra cũng biết cách bảo vệ cho mình và những người đồng hành.

Những tai nạn giao thông quốc tế hay liên lục địa đôi khi đặt chúng ta vào những tình thế vô cùng nan giải như : Rơi vào một vùng có thời tiết và khí hậu khác hẳn với môi trường quen thuộc mà chúng ta đang sống (như người Việt Nam mà bị rơi vào sa mạc hay một nơi đầy băng tuyết), hay rơi vào một hoang đảo không có bóng người... Trong những tình huống như thế, nếu các bạn biết được một số kỹ năng, kỹ thuật về mưu sinh, thì có thể vừa giúp mình vừa giúp những người đồng cảnh ngộ, hạn chế mọi rủi ro, để có thể tồn tại trong thời gian chờ người đến cứu.

TAI NẠN MÁY BAY

Ngày nay, máy bay là một phương tiện giao thông an toàn và phổ biến, tỉ lệ tai nạn rất nhỏ so với giao thông đường bộ. Tuy vậy, khi xảy ra tai nạn thì thường rất thảm khốc, số lượng người chết nhiều do sự va chạm mạnh hoặc do các toán cứu hộ không tìm ra địa điểm xảy ra tai nạn sớm. Những tai nạn máy bay lại thường xảy ra trên những vùng hoang vu hay giữa biển khơi, nên số nạn nhân bị tử vong sau tai nạn do đói khát, bệnh tật... cũng rất nhiều. Để hạn chế phần nào những thiệt hại trên, các bạn phải biết :

AN TOÀN KHI ĐI MÁY BAY

Khi đi máy bay, các bạn cần có một số hiểu biết cơ bản để được an toàn, thoải mái và dễ chịu.
- Chọn chỗ ngồi phần nửa thân trước của máy bay, gần cửa ra vào hay cửa thoát hiểm (Emergency Exit)
- Không nên ăn no và uống rượu khi đi máy bay
- Nên uống nhiều nước trên đường bay
- Nếu bay đường dài, nên cố gắng ngủ thật nhiều để điều chỉnh cơ năng sinh lý.
- Nên mặc quần áo thoáng rộng.
- Khi máy bay thay đổi độ cao, lỗ tai sẽ cảm thấy căng trương (ù tai) do thay đổi áp suất không khí, các bạn hít một hơi sâu rồi ngậm miệng, bịt mũi thở ra thật mạnh hoặc hắt hơi thì sẽ khỏi.
- Nếu bị nghẹt mũi, viêm xoang, cảm sốt, nhức răng ... thì không nên đi máy bay.


ĐỀ PHÒNG VÀ XỬ TRÍ TAI NẠN MÁY BAY

Thông thường thì tai nạn máy bay xảy ra khi cất cánh và hạ cánh. Tuy nhiên cũng không ít máy bay gặp sự cố trên đường bay. Cho nên khi lên máy bay, các bạn đừng quá chủ quan mà bỏ qua những lời dặn dò của các tiếp viên hàng không. Nên lấy bản hướng dẫn cách ứng xử khi gặp các trường hợp khẩn cấp ở trong túi lưng ghế trước ra xem, để biết phải làm như thế nào ? Các bạn cũng cần phải biết những điều sau :

- Hiểu biết tính năng và cách sử dụng các thiết bị cứu sinh
- Biết vị trí các cửa thoát hiểm (Emergency Exit) trên máy bay và cách mở ra
- Ghi nhớ vị trí của các cửa ở gần chỗ mình ngồi nhất và cho dù trong màn khói dầy đặc, cũng có thể tìm thấy để mở ra
- Khi có dấu hiệu của sự cố, nhân viên phục vụ sẽ cảnh báo. Tuyệt đối tuân theo lời hướng dẫn của họ, không được tự tiện làm theo ý mình, không được hoảng loạn, mất bình tĩnh... sẽ làm cho sự việc càng xấu thêm.
- Khi được báo có thể xảy ra tai nạn, cần ngay lập tức cởi mắt kính, gỡ răng giả, lấy các vật cứng, nhọn ở trong túi ra để tránh tụ gây thương tích. Thắt đai an toàn và ngồi theo tư thế được hướng dẫn (khom người kẹp đầu giữa hai đầu gối, hai tay đan vào nhau và ôm lấy đầu).
- Khi xảy ra tai nạn, trong khoang máy bay thường có khói dầy đặc. Các bạn nên dùng khăn (thấm nước càng tốt) che bịt mũi và miệng. Di chuyển bằng cách ngồi xổm hay khom người.
- Nếu tai nạn xảy ra khi vừa cất cánh hay hạ cánh (có nghĩa là máy bay còn ở trên mặt đất) thì mới được mở cửa máy bay. Các loại máy bay chở hành khách thường có thang cứu sinh thổi khí tự phồng lên khi mở cửa máy bay, các bạn khoanh tay trước ngực nhảy vào thang, trượt xuống đất.
- Nhanh chóng rời xa máy bay (đừng tiếc nuối hành lý) vì lúc nầy, máy bay có thể bị cháy, nổ bất cứ lúc nào.
- Nếu xảy ra tai nạn trên đường bay (trong khi đang bay) thì khoan mở cửa mà hãy chú ý : Nhiều máy bay có trang bị dù và phao cứu sinh. Các bạn hãy lắng nghe thật kỹ những người phục vụ hướng dẫn cách sử dụng, nhanh chóng mang dù hoặc phao vào người, giúp những người khác đang lúng túng, mang cho đúng cách (lưu ý giúp đỡ trẻ em, phụ nữ và những người già). Khi mọi người mang xong thì mới mở cửa và rời khoang máy bay. Tuỳ theo loại dù, có loại với dù mồi cầm tay hay phải giựt để bung dù, hoặc có loại tự động bung dù khi vừa rơi vào khoảng không, tùy cách mà các tiếp viên hàng không đã hướng dẫn.

Vì có thể các bạn là người chưa bao giờ học nhảy dù cho nên không biết cách điều khiển dù. Vì vậy, các bạn cần nắm rõ một số điều cơ bản để tiếp đất được an toàn. Còn để điều khiển dù bay theo ý muốn, các bạn cần theo một khoá huấn luyện cẩn thận. Khi dù chuẩn bị tiếp đất, các bạn phải :

- Co chân lại, hai chân sát vào nhau, bàn chân bằng nhau.
- Kéo dây đai dù chùng lại (như mình đang kéo xà đơn)
- Khi bàn chân vừa chạm đất thì buông đai dù ra và đứng thẳng lên (nếu bị té thì nương theo đà té, lăn tròn rồi đứng dậy)
- Nhanh chóng tháo dù ra khỏi người, đề phòng gió mạnh thổi kéo dù và lôi luôn bạn theo.
- Nếu thấy mình sắp rơi vào tàn cây thì co chân lên, cúi đầu sát ngực, hai tay ôm đầu, dùng hai cánh tay che mặt đề phòng cành cây đâm vào mắt.
- Nếu thấy mình sắp rơi xuống nước (ao hồ, sông, biển...) thì hãy thổi phao phồng lên (nếu là phao thổi) hay giựt chốt bình khí nén (nếu là phao khí nén)
- Sau khi tiếp đất an toàn, các bạn hãy tìm cách liên lạc với những hành khách khác, tập trung lại chờ cứu viện. Lúc nầy là lúc bạn cần phát huy khả năng lãnh đạo và mưu sinh thoát hiểm của mình.


RỜI PHI CƠ KHẨN CẤP

Do một sự may mắn tình cờ nào đó mà bạn (và một số đồng hành) vẫn còn sống sót sau khi máy bay bụôc phải đáp khẩn cấp (hay bị rơi) xuống một vùng đất hoàn toàn xa lạ. Trước tiên, các bạn phải bình tình, thoát nhanh ra khỏi máy bay, đến một khoảng cách an toàn, đề phòng máy bay bị cháy nổ.
Ở đây chúng tôi xin mở ngoặc : Khi rời máy bay, các bạn không nên chen lấn, hoảng loạn; vì như thế thì sẽ gây thêm thương vong mà vẫn không cải thiện được tình hình, có khi còn làm cho nó xấu hơn. Chúng ta nên tuân theo sự hướng dẫn của các tiếp viên hoặc nhân viên phi hành, cố gắng mang theo tất cả những người bị thương.
Sau khi đã ổn định, và cảm thấy không còn nguy hiểm thì các bạn mới quay lại máy bay để lấy hành lý, thu lượm thực phẩm và những vật dụng cần thiết (phi cơ thường được trang bị rất đa dạng), tìm kiếm các TÚI CỨU THƯƠNG (First Aid Kit), TÚI MƯU SINH (Survival Kit), TÚI KHẨN CẤP (Emergency Kit), MÁY TRUYỀN TIN (Radio)...
Dùng các phương pháp như đã hứơng dẫn trong phần THẤT LẠC để quan sát, nhận định tình hình, tìm đường và định hướng. Nếu thấy chúng ta đang ở gần một khu dân cư, thì tốt nhất là nên cử một vài người khoẻ mạnh, tháo vát... đi đến đó để kêu gọi sự trợ giúp ...
Nhưng nếu chung quanh ta là một vùng hoang vu vô tận thì sao ?.. Các bạn hãy yên tâm, vì thông thường thì sau những tai nạn như thế nầy, chính quyền sở tại và các tổ chức khác sẽ phái những đội cứu hộ đi tìm kiếm. Vì vậy, các bạn và những người đồng hnàh không nên rời quá xa địa điểm xảy ra tai nạn (trừ trường hợp bất khả kháng), vì đây là một mục tiêu dễ nhận thấy bằng mắt thường từ phi cơ cứu hộ. Hơn nữa, những phần còn lại của máy bay (thân, cánh...) là một nơi trú ẩn tránh mưa nắng rất an toàn và tiện lợi (nhưng phải chắc chắn là không còn sự nguy hiểm cháy, nổ nào.)
Trong trường hợp các bạn bị rơi xúông biển thì xin xem phần TRÔI DẠT TRÊN BIỂN


TỔ CHỨC SINH HOẠT

Vì không biết bao lâu thì những người cứu hộ mới đến, nên các bạn phải chuẩn bị tinh thần để đối phó, vì có khi hàng tùân, thậm chí hàng tháng người ta mới có thể tìm ra các bạn, cho nên các bạn phải biết cách tổ chức để ổn định tạm thời cuộc sống.
Nếu là một nhóm, thì cũng như trong phần THẤT LẠC, các bạn phải bầu chọn một Toán Trưởng để điều hành mọi sinh hoạt của nhóm, ngoài những sinh hoạt thường lệ như đã đề cập phần trước, các bạn còn có những công việc như : Chăm sóc người bị thương. Chôn cất người chết (nếu có). Tìm kiếm lương thực và nước uống... Và nhất là phải chuẩn bị những vật liệu để làm tín hiệu liên lạc với phi cơ cứu hộ như : các chất tạo khói, lửa, ánh sáng (cỏ khô, củi, đèn pin...), các vật phản chiếu ánh sáng mặt trời (gương soi, kim loại bóng...), các pa-nô, vải hay giấy màu thật nổi so với địa thế chung quanh, máy truyền tin, hoả pháo, khói màu...

Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
NHDT ui! Nếu bạn dùng Unikey thì nhớ chọn bảng mã là Unicode nhé. Vì nếu dùng Composite Unicode thì khi dùng các web browser khác để xem , hoặc trên Win 98, thì chữ và dấu sẽ bị dịch chuyển rất xấu.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2004-12-02 23:44:56NuHiepDeThuong>
Chào Thái Nhi,

Nếu bạn dùng Unikey thì nhớ chọn bảng mã là Unicode nhé. Vì nếu dùng Composite Unicode thì khi dùng các web browser khác để xem , hoặc trên Win 98, thì chữ và dấu sẽ bị dịch chuyển rất xấu.


Mèn ơi ! Có vụ nầy nữa huh?[:o][&amp;:][&amp;o]

NH thiệt tình hông có để ý... Vậy thì... Cảm ơn TN nhắc nhở, để NH xem lại bảng Unikey rồi sửa lại há. [:D]

Mà TN ơiiiii ! NH gõ cho màu mè đẹp quá chừng chừng... Sao lúc khiêng vào thư viện nó mất màu dzị? Hay là tại TN hổng thích màu mè, chỉ thích trắng đen thôi?! [8|][&amp;o]
[8D][:D][:D][:D]
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2004-12-03 07:54:59Thái Nhi>
[:D] NHDT thông cảm cho nhé! Vì mỗi ngày mình chỉ online được chút xíu hè, tranh thủ thêm hình và bỏ vào, nên không thêm được "màu sắc". NHDTthêm dùm cho nhé. Vậy càng đẹp!
Đây là lỗi của Unicode tổ hợp (Unicode Compound)


[image]local://upfiles/2034/BC71B684027A4D409086536145094214.jpg[/image]
📎 untitled
Đăng nhập để trả lời
0
NHDT có thể dùng ngay công cụ chuyện mã của Thư quán để chỉnh lại.
Và đây là bản đã chuyển sang dùng Unicode dựng sẵn (Unicode Pre-Compound)


[image]local://upfiles/2034/14CD5084FCE44A58A315B6AF4A40A78F.jpg[/image]
📎 untitled1
Đăng nhập để trả lời
0
Thái Nhi uiiiiiiiii ! NH đã chỉnh lại bảng gõ Unikey và đã chọn Unicode để gõ phần kế tiếp.

NH sẽ đăng vào đây phần kế tiếp. Mong rằng lần nầy, TN chỉ cần copy và paste lại trong thư viện thôi, không phải chuyển mã lung tung... mất công quá há. Xin lỗi TN nha, tại NH hổng biết... nên làm TN phải mất công chuyển đổi...[sm=praying.gif]

Cảm ơn TN đã chỉ giúp.[sm=----.gif][sm=----.gif][sm=----.gif][sm=----------------.gif][sm=----------------.gif]
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2004-12-04 04:39:26NuHiepDeThuong>
SA MẠC

Sa mạc chiếm 20% bề mặt trái đất. Đó là một vùng khô khan cằn cỗi, không phù hợp với cuộc sống bình thường của chúng ta do quá khan hiếm nước. Trong sa mạc, nhiệt độ biến động rất lớn, có nơi lên đến 58°C như ở sa mạc Mexico, có nơi lại lạnh đến – 45°C như ở sa mạc Gobi thuộc Châu Á. Ở vùng sa mạc Sinai, nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêm có thể đến 39°C.
Rất ít loại động thực vật có thể thích nghi với môi trường khắc nghiệt nầy, nơi mà hàng năm, lượng mưa rơi xuống chỉ từ 0 đến 25cm. Sa mạc có thể chia làm 3 loại :
1. Sa mạc núi
2. Sa mạc cao nguyên đá
3. Sa mạc cát hay cồn cát


SINH TỒN TRONG SA MẠC

CON NGƯỜI VÀ SA MẠC

Để có thể thích nghi và tồn tại lâu dài ở sa mạc, chúng ta cần phải biết phải làm những gì và cần phải có những trang thiết bị hay dụng cụ nào? Nên nhớ rằng, các bộ lạc sa mạc và nền văn hoá của họ từng tồn tại rất lâu trong những tình huống khó khăn và khắc nghiệt nhất là nhờ họ đã thích nghi được với môi trường nầy.
Sa mạc dễ dàng làm cho chúng ta choáng ngộp đưa đến suy kiệt thể chất và tinh thần. Nếu các bạn không biết tự rèn luyện cơ thể và có một ý chí phấn đấu cao, không biết cách sinh hoạt trong sa mạc (với những chi tiết nhỏ nhặt) thì khó lòng mà tồn tại trong sa mạc.
Nếu không ở trong tình trạng khẩn cấp, cần phải di chuyển ngay, thì các bạn cần tạo cho mình một chỗ trú ẩn có tiện nghi càng nhiều càng tốt. Đừng hoạt động nhiều trong 2 tùân đầu để cho cơ thể của chúng ta thích ứng dần với cái nóng của sa mạc. Thời gian đầu, những công việc nặng nhọc, các bạn nên làm vào những lúc trời mát mẻ, sau đó tăng dần thời gian. Tuy nhiên, công việc và sự nghỉ ngơi phải xen lẫn nhau.
Trong sa mạc, chỗ trú ẩn hay nơi tạm nghỉ thì thiếu thốn vì cây cối rất ít hoặc không có, điều nầy có thể gây ra hội chứng sa mạc : sự sỡ hãi khoảng không. Nhưng các bạn cũng đừng quá lo lắng, hội chứng nầy sẽ biến mất khi các bạn đã quen dần với cuộc sống nơi đây.


LÀM QUEN VỚI KHÍ HẬU

Để có thế sống sót khi lạc vào sa mạc, trước tiên các bạn phải tập làm quen dần dần với khí hậu trong sa mạc. Những ngày đầu, các bạn không nên hoạt động hay chỉ hoạt động trong một thời gian rất ngắn, vào lúc sáng sớm hay chiều tối, sau đó tăng dần giờ hoạt động lên, thời gian còn lại phải kiếm chỗ trú ẩn.
Trong bảng kế hoạch làm quen với khí hậu sa mạc của quân đội Hoa Kỳ sau đây sẽ cho chúng ta thấy số giờ làm việc trong các ngày đầu, để có thể (trong một thời gian ngắn nhất) nhanh chóng thích ứng được với khí hậu sa mạc.


HÌNH


TIA NẮNG, SỨC NÓNG, GIÓ VÀ CÁT

Trong sa mạc, cơ thể của chúng ta chịu ảnh hưởng trực tiếp từ 4 nguồn sức nóng sau :
A- Trực tiếp từ mặt trời
B- Gió mang cát nóng
C- Đá toả nhiệt
D- Sức nóng phản hồi từ mặt đất.

• Tia nắng của mặt trời dù trực tiếp hay phản chiếu đều có thể gây mỏi mắt, và tổn thương thị giác.
• Những chỗ da không được che chở đủ, sẽ bị phỏng nắng. Vì vậy không nên phơi nắng quá 5 phút trong những ngày đầu. Ngay cả những ngày u ám thì cũng nguy hiểm như những ngày nắng.
• Gió và cát sa mạc có thể làm bỏng rát, da và môi sẽ bị nứt nẻ nếu không được bảo vệ. Mắt các bạn có thể bị rát và viêm kết mạc do những hạt bụi li ti bay vào. Nếu có thể, các bạn nên dùng thuốc bôi da và môi, đeo kính bảo vệ mắt, khi phải phô mình ra dưới những điều kiện thời tiết khắc nghiệt nầy.
• Bão cát là chuyện thường xuyên xảy ra trong sa mạc. Những cơn gió cực mạnh thổi bắn tung những hạt cát lên gây đau rát khi chạm vào những nơi da không được che chở. Khi có bão cát, các bạn không được rời khỏi nhóm hay nơi trú ẩn mà không có một sợi dây (nối mình với nhóm hay nơi trú ẩn) để giữ liên lạc. Phải mặc áo quần đầy đủ, che miệng mũi và bảo vệ mắt.
• Trong sa mạc cũng có những cơn lốc được hình thành do các luồng không khí đối lưu trên mặt đất. Cát và những mãnh vụn sẽ bị thổi bay lên trong không khí có thể cao hàng chục mét. Nhưng thường thì hiện tượng nầy chỉ kéo dài trong vài phút.


TRANG PHỤC TRONG SA MẠC

Y Phục :

Mục đích chính yếu của quần áo trong sa mạc là che chở cơ thể, tránh tia nắng mặt trời, sức nóng, côn trùng, bò sát và điều tiết sự ra mồ hôi... Các bạn hãy học cách ăn mặc của các cư dân trong sa mạc như sau :
- Che toàn bộ cơ thể
- Mặc nhiều lớp quần áo nhẹ, mỏng, màu nhạt, làm bằng các nguyên liệu tự nhiên thoáng nhẹ như cotton... và nên nới lỏng cho vừa vặn.
- Dùng một khăn quàng bằng len to bản quấn lỏng quanh cổ để che nắng và ngăn không cho gió thổi cát vào trong cổ áo. Khăn nầy còn dùng để che mặt khi có bão cát và giữ ấm cổ trong những đêm lạnh giá.
Các bạn nên giặt quần áo khi có điều kiện, nếu không, hãy phơi ra ngoài nắng để diệt khủân và nấm.

Giầy dép :

Là vật dụng rất quan trọng trong sa mạc, nó che chở cho bàn chân cảu chúng ta không bị phỏng dộp vì tia nắng và sức nóng của mặt đất. Giầy cao cổ còn giúp chúng ta tránh được rắn, bò cạp và một số côn trùng, bò sát... cắn đốt.
Sử dụng giầy dép trong sa mạc, các bạn nên lưu ý những điểm sau :
- Nên dùng giầy cao cổ, nếu không có thì hãy quấn thêm mảnh vải làm xà cạp để ngăn cát vào giầy và giảm sức nóng toả ra từ cát.
- Nên dùng vớ dầy để giảm sức nóng.
- Nên bụôc dây giầy thật kỹ để tránh cát vào trong giầy.
- Trước khi mang giầy trở lại, luôn luôn kiểm tra xem có côn trùng hay rắn rết gì ở trong không.
- Nếu không có giầy dép, các bạn nên tự tạo cho mình những đôi giầy dép bằng những vật liệu có sẵn. Bên đây là những mẫu vớ và giầy dép tự tạo cấp thời.

Nón, Mũ :

Để bảo vệ đầu, mắt và khuôn mặt dưới cái nắng và nóng ở sa mạc, chúgn ta cần có một cái nón thích hợp. Chiếc nón cối (kiểu của thực dân) là có vẻ thích hợp hơn cả, bởi chúng nhẹ và có vành để che chở mặt và cổ, nó còn có một khoảng trống ở giữa đầu và nó giúp không khí thông thoáng. Nón được làm bằng các chất liệu xốp, nhẹ, ngăn cản được sức nóng.
Chúng ta cũng có thể dùng kiểu nón của quân đội viễn chinh Pháp với lớp bảo vệ cổ. Hoặc dùng khăn trùm đầu dưới một mũ lưỡi trai hay dùng áo thun chữ T chế tạo thành khăn trùm đầu.

HÌNH


Kính bảo vệ

Để bảo vệ mắt dưới ánh nắng và sự phản chiếu chói chang của sa mạc cũng như không để cho cát vào mắt làm trầy xướt chúng, nếu không có kính râm, các bạn có thể che mặt bằng một cái “mạng” chế tạo từ áo thun hay vải mỏng.
Các bạn cũng có thể làm một kính bảo vệ mắt có khe hẹp theo kiểu của người Eskimo như hình bên. Khe hẹp nầy giúp các bạn có thể nhìn thấy nhưng lại làm giảm bớt tia phản chiếu cũng như gió cát vào mắt. Kiếng nầy có thể làm từ vỏ cây, giấy dầy, vải dầy, da thụôc, plastic....


NƯỚC TRONG SA MẠC

Lúc nào các bạn cũng phải nhớ rằng, toàn bộ sự sống trên sa mạc đều tuỳ thuộc vào nước, nó là nhu cầu số một, cho nên các bạn phải biết tìm kiếm, bảo quản và sử dụng làm sao cho có lợi nhất.

Tìm kiếm nước

Trong sa mạc không có sông suối vĩnh cữu, nếu có (như ở sa mạc Colorado) thì cũng do được nuôi dưỡng từ bên ngoài sa mạc. Nước có trong ốc đảo hay ở giếng đào là do từ “ tầng ngậm nước”, mà có thể được bắt nguồn từ cách đó hàng trăm dặm và cũng có thể do những cơn mưa cách đây hàng ngàn năm. Nếu tìm ra được những nơi nầy, các bạn là người “trúng số” . Ngoài ra, các bạn còn có thể tìm thấy nước ở những nơi như :
- Những nơi có cỏ hay lau sậy mọc
- Chỗ có đất ẩm ướt
- Chỗ trũng thấp
- Tầng sâu lòng sông cạn khô
- Cạnh các chuồng gia súc bỏ phế
- Khu vực có nhiều dấu chân thú cày xới
Những cây sau đây cũng báo cho chúng ta biết sự hiện diện của nước trong vùng :
- Cây chà là : cho biết có nước ở độ sâu khoảng 1 mét dưới mặt đất.
- Cỏ mặn : cho biết nước có trong vòng 2 mét.
- Cây bông và cây liễu : cho biết nước có trong vòng 3 – 4 mét.
- Cây xương rồng và các cây có dạng tương tự : không liên quan đến vùng có nước, bởi vì bản thân chúng tự giữ nước, hình thái bên ngoài của nó (có khái sâu hay không) cho biết lượng trong cơ thể của nó. Đây là cây mà chúng ta có thể sử dụng trực tiếp. (Xin xem chương NƯỚC)


Bảo quản và sử dụng nước :- Chúng ta cần ít nhất là 4 -5 lít nứớc mỗi ngày
- Nước uống phải chứa trong những bình, can... riêng biệt, để không nhầm lẫn. Phải bảo đảm an toàn, không bị rỉ chảy và phải để nơi thoáng mát.
- Trên lộ trình, phải có đủ nước từ điểm lấy nước nầy cho đến địa điểm lấy nước kế tiếp. Nếu sắp hết nước mà không tìm thấy nước ở phía trước, phải quay lại điểm cũ ngay.
- Đi tìm nước ngay trước khi nước dự trữ của các bạn cạn kiệt.
- Các bạn nên uống từng ngụm một và uống nhiều lần trong ngày.
- Để bảo tồn lượng nước trong cơ thể, các bạn không nên đi lại hay làm việc trong khi trời nóng mà chỉ nên hoạt động vào sáng sớm, chiều tối hay những đêm trăng.


CHỖ TRÚ ẨN TRONG SA MẠC

Trong sa mạc, sau nước, chỗ trú ẩn là yếu tố rất quan trọng để có thể tồn tại, nó giúp cho chúng ta tránh những cái nóng như thiêu đốt, những luồng gió hừng hực lửa làm khô kiệt con người, những cơn bão cát tối trời và đau rát như kim châm...
- Nếu bị tai nạn máy bay hay xe bị hỏng máy giữa sa mạc thì nên lưu lại trong thùng xe, hay dưới thân xe, thân cánh máy bay, đây là nơi trú ẩn rất tốt và dễ được các toán cứu hộ tìm thấy.
- Nếu có lều bạt thì khá đơn giản để dựng lên một chỗ trú ẩn, che nắng gió.
- Phủ cát lên người cũng giúp cho các bạn tránh được sức nóng và làm giảm sự mất nước qua da.
- Ở những vùng sa mạc cát, các bạn đào một lỗ cạn, dài (hay tìm một lỗ có sẵn). Che phủ lên 2 lớp cách nhau bằng vải bạt, vải dù... hay các vật liệu khác như cây, ván, gỗ... Dàn các mép lại cho kỹ và nếu có thể thì nên phủ thêm một lớp cát.


HÌNH


- Ở những vùng sa mạc núi hay sa mạc cao nguyên đá, các bạn chất đá lên thành một khung hình móng ngựa rồi đậy lại bằng vải bạt.
- Sử dụng các thành phần của thiên nhiên sẵn có để núp mát hay tránh gió như : cây cối, bụi rậm, đống đá, hang động, sườn đồi, vách đứng, bờ sông cạn...nhất là khi gặp bão cát.


ĐỘNG VẬT TRONG SA MẠC

Tuy hơi hiếm hoi, nhưng không phải không có. Động vật trong sa mạc đã tự điều chỉnh sinh học để thích nghi với môi trường, chúng trở nên nhỏ bé hơn và thường hoạt động về đêm để tránh cái nắng gay gắt giữa ban ngày. Động vật cũng là nguồn thực phẩm quan trọng trong việc mưu sinh ở sa mạc.
(Xin xem phần SĂN BẮN ĐÁNH BẮT)

Động vật sa mạc gồm một số loài thú, chim, bò sát, côn trùng, động vật không xương sống...
Các loài rắn, bò cạp, nhện... ở sa mạc thường rất độc, các bạn phải rất cẩn thận, nhất là trước khi mang giầy, mặc quần áo, hay đi lại làm việc vào ban đêm.


HÌNH



SINH TỒN TRONG SA MẠC

Tóm lại : Để sinh tồn trong sa mạc, các bạn phải nắm chắc những chìa khoá sau đây :
- Nước là nhu cầu số một của sự sinh tồn. Hãy lấy tối đa nước mà các bạn có thể, cho dù phải bỏ lại vài món đồ mà các bạn có.
- Chỉ đi lại vào sáng sớm hay chiều tối. Vào những lúc nóng trong ngày, phải tìm nơi trú ẩn. Tránh đổ nhiều mồ hôi.
- Chỉ di chuyển trong các tình huống sau : 1). Biết chắc sẽ đến nơi có dân cư hay khu vực an toàn. 2). Chắc chắn không ai đến cứu (nhưng cũng phải đi ban đêm).
- Cố gắng tìm cho được một con đường thường có người qua lại, một nơi có nước hoặc một khu vực có dân cư.
- Sử dụng con đường nào ít tốn sức nhất. Không đi tắt băng ngang qua các đụn cát, cát lún hoặc địa hình lỗi lõm. Nên đi theo dấu vết đừơng mòn, các chỏm của đụn cát hay vùng thấp giữa những đụn cát.
- Những con suối sa mạc thường dẫn đến những hồ tạm đầy nước muối, các bạn phải cẩn thận, không nên đi theo.
- Đi bộ trong sa mạc, cần chú ý đến những vùng cát trôi và cát lún.
- Khi thiếu thực phẩm, cần săn bắn đánh bắt, cũng chỉ nên làm vào ban đêm, vừa có nhiều thú, vừa ít hao tổn sức lực và đổ nhiều mồ hôi.
- Áo quần phải đầy đủ để có thể che chở cho các bạn tránh được tia nắng trực tiếp của mặt trời, giảm tối đa việc ra mồ hôi ban ngày, và cũng giúp các bạn chịu được cái lạnh khắc nghiệt của ban đêm.
- Nếu không có kiếng mát, hãy tạo một kính có khe hẹp để bảo vệ đôi mắt của các bạn.
- Phải chăm sóc kỹ lưỡng đôi chân của các bạn, phải mang giầy khi đi lại trên sa mạc, nhất là vào lúc trời nóng. Nếu không, chân của các bạn sẽ bị phỏng.
- Khi bão cát sắp đến, nếu phải trú ẩn phía khuất gió sau những đụn cát, chúng ta có thể bị mất phương hướng do sa mạc thay đổi hình dạng sau mỗi cơn bão. Do đó, trước khi vào trú ẩn, nên xác định phương hướng bằng cách sắp một hàng đá hoặc một cây gậy, sợi dây hay áo quần...
- Không di chuyển trong bão cát. Nếu không có gì che chắn, hãy che mặt lại, đưa lưng về hướng gió... bão cát sẽ không chôn vùi các bạn.
- Các bản đồ sa mạc thường thiếu chính xác. Các bạn chỉ có thể xác định điểm đứng khi có những điểm chuẩn của địa hình.
- Trong không gian bao la của sa mạc, sự ước lượng về khoảng cách của các bạn thường lớn hơn thật gấp 3 lần.
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2004-12-10 03:43:51NuHiepDeThuong>
BĂNG TUYẾT

Mặc dù các bạn đang ở một đất nước không có băng tuyết, có chăng chỉ thấy qua báo chí, phim ảnh... Nhưng xin các bạn đừng vì thế mà bỏ qua chương nầy, có thể biết đâu vì một hoàn cảnh nào đó, các bạn lại rơi đúng vào vùng băng tuyết, nơi có những điều kiện và luật lệ sinh tồn rất khắc nghiệt mà nếu thiếu sự hiểu biết, kinh nghiệm và chuẩn bị.... chắc chắn các bạn không thể tồn tại, vì mọi sinh hoạt ở những nơi nầy, xa lạ và khác hẳn mọi sinh hoạt thường nhật của chúng ta.

DI CHUYỂN TRÊN BĂNG

Không ai có thể cho rằng : di chuyển trên băng thì an toàn, dù ngay cả khi trời rất lạnh, tưởng chừng như băng đóng rất cứng. Vì có thể dưới lớp băng là một dòng sông đang cuồn cuộn chảy, làm cho lớp băng tan dần phía dưới và trở nên nguy hiểm, cho dù trên bề mặt của nó không có một tí biểu hiện gì.
Kiểm tra độ dầy mỏng của băng (bằng cách chọc thủng một lỗ hay dùng đá lớn ném lên mặt băng) cũng có thể giúp cho chúng ta ước đoán được khả năng chịu đựng của băng và xử trí cho thích hợp. Nếu bề dầy của băng :
- Mỏng hơn 5cm thì rất nguy hiểm
- Khoảng 10cm – thích hợp cho việc câu cá và trượt băng
- Khoảng 20cm – thích hợp cho xe trượt băng
- Từ 20 – 30cm – thích hợp cho xe di chuyển trên mọi địa hình và cả xe hơi.
Nhưng những con số trên đây chỉ là tương đối, vì còn tuỳ thụôc vào loại băng tuyết, quá trình hình thành, tan rã, tái hình thành... bao nhiêu lần
- Khi di chuyển trên băng, các bạn nên cầm nằm ngang một cây sào dài. Cây sào nầy sẽ là điểm tựa của các bạn nếu trường hợp băng bị vỡ, làm cho các bạn rơi xuống nước, nó còn được dùng chọc thủng lớp băng để kiểm tra độ dầy, độ cứng...
- Nếu di chuyển một nhóm, các bạn nên đi hàng một, giữ khoảng cách xa nhau và nên nối với nhau bằng một sợi dây để có thể hổ trợ cho nhau. Không nên đi trên băng một mình.
- Vào mùa xuân, khi băng bắt đầu tan, đây là thời điểm rất nguy hiểm, bởi vì nó rất dễ vỡ.
- Có một loại băng xốp gọi là “candle ice”, vô cùng nguy hiểm, vì loại băng nầy trông rất rắn chắc nhưng thật ra rất dễ vỡ, chúng như nước đá.


DI CHUYỂN TRÊN TUYẾT

Muốn đi lại trên tuyết dễ dàng, các bạn phải có một loại giầy đặc biệt để đi trên tuyết (Snowshoe). Ở đây chúng tôi không có tham vọng hướng dẫn cho các bạn môn trượt tuyết bằng ván trượt, vì nó đòi hỏi một sự luyện tập cẩn thận. Chúng tôi chỉ đề cập đến những điều cần thiết trong việc di chuyển ở những vùng băng tuyết.

CÁC LOẠI GIẦY ĐI TUYẾT :

Mỗi loại giầy đi tuyết đều có những tính chất khác nhau về
- Đặc tính chuyển động
- Cách sử dụng
- Đường ngấn ngập trong tuyết
- Sức chịu nặng
- Độ thăng bằng

Thường thì người ta sử dụng 4 loại giầy đi tuyết sau đây :
1. Kiểu chân gấu (Bearpaw):
Có hình dáng giống như một cái chân gấu, ngắn và gọn nên vận động dễ dàng. Thường được dùng để đi trên đường mòn.
2. Kiểu Maine:
Thường đường dùng trong quân đội. Nó khá dài và rộng nên bất tiện khi bước đi và xoay trở ở những nơi chật hẹp. Bù lại, nó có sức nổi trên tuyết rất tốt, có thể mang vác nặng.
3. Kiểu Michigan :
Giống như kiểu Maine, nhưng kích thước lớn hơn nên sức nổi trên tuyết tốt hơn.
4. Kiểu Alasaka:
Là loại lớn nhất, dùng trong các vùng rộng và thoáng, vùng tuyết xốp, mềm. Nhưng lại khó khăn khi sử dụng đối với những người có kích thước nhỏ bé.

HÌNH

CHẾ TẠO GIẦY ĐI TUYẾT

Trong trường hợp khẩn cấp mà các bạn lại không có các loại giầy đi tuyết được làm sẵn, tuỳ theo điều kiện, các bạn hãy chế tạo một đôi theo những cách dưới đây :
1. Bằng nhánh cây :
Chặt một số cành cây thông, cây thường xuân (Evergreen) có đủ cành lá, cột lại với nhau. Dùng dây buộc vào chân các bạn, gốc hướng về phía trước.
2. Bằng cành cây tươi :
Dùng cành cây còn tươi, trẩy hết cành lá, hơ lửa để khi uốn không bị gãy. Các bạn uốn cong theo hình bên, cột thêm vài cây ngang rồi dùng các loại dây mà các bạn có (dây da, dây vải, dây dù…) để đan căng khung.
3. Bằng cành cây kiểu Canada :
Để làm một chiếc giầy đi tuyết kiểu canada, các bạn hãy :
- Chọn 6 cành cây dài bằng chiều cao của các bạn. Phần gốc có đường kính cỡ 2cm, phần ngọn cỡ 0.8cm.
- Cắt thêm 6 đoạn cây dài khoảng 25cm, đường kính 2 cm
- Bụôc gốc của 6 cây dài vào một cây ngắn, cắt bỏ những phần thừa
- Bụôc 3 cây ngắn ở khoảng giữa của giầy đi tuyết (nơi đặt bàn chân)
- Buộc 2 cây ngắn nơi đặt gót chân
- Buộc túm các đầu cây lại với nhau
Như thế là các bạn đã có một loại giầy đi tuyết kiểu Canada. Để sử dụng, các bạn buộc giầy vào chân bằng các loại dây chắc chắn theo cách trong hình.

HÌNH

Kích cỡ giầy đi tuyết

Kích cỡ của giầy đi tuyết còn tuỳ thuộc vào loại tuyết, sức nặng của cơ thể bạn và hành lý các bạn mang theo. Lý tưởng là một đôi giầy gọn nhẹ, nhưng nếu tuyết mềm và dầy thì các bạn phải có những đôi giầy dài từ 1,5 – 2 mét và rộng khoảng 30cm.

DI CHUYỂN VỚI GIẦY ĐI TUYẾT

Cách bước : khi đi trên mặt tuyết mềm, các bạn hãy bước tới một cách vững chãi, cho giầy ngập vào trong tuyết và nghiêng người lắc nhẹ để tạo nền chắc chắn trước khi rút chân kia lên để bước tiếp theo.
Đi xuống dốc : Hãy chắc chắn là các mối dây buộc ở chân không lỏng hoặc tuột. Nếu không, bàn chân của các bạn sẽ bị trượt trên những thanh ngang và đổ nhào về phía trước.
Hãy nghiêng cứu địa hình tổng thể của ngọn đồi để tìm một con đường đi xuống tốt nhất. Nếu quá dốc, các bạn nên đi xuống theo kiểu zíc zắc. Nếu tuyết đủ chắc, các bạn có thể đặt một chân trước một chân sau và ngồi trên giầy để trượt xuống.
Đi lên dốc: Dùng gậy để trợ giúp chúng ta khi leo lên những đoạn dốc. Gậy cũng rất hữu ích khi các bạn phải di chuyển qua những vùng tuyết dầy hoặc qua những rừng cây.

Lưu ý :
• Không được di chuyển khi sắp có một cơn bão tố kéo tới. Khi đó, cảnh quang chỉ còn là một màu trắng, làm cho chúng ta mất phương hướng .
• Khi thời tiết trong trẻo, các bạn thường ước lượng sai khoảng cách, điều nầy có thể làm cho các bạn đi quá xa, làm cơ thể mệt mỏi, không kịp trở về trước khi đêm xuống.


SỬ DỤNG RÌU LEO BĂNG

Rìu leo băng là một công cụ hổ trợ đắc lực cho các bạn khi cần di chuyển trên những đoạn dốc đóng băng, nhưng nó cũng rất nguy hiểm nếu như các bạn không sử dụng đúng cách.

HÌNH

Xuống dốc :

Khi các bạn trượt xuống dốc, hãy dùng rìu leo băng như một cái phanh hay bánh lái. Khi trượt, cong các ngón chân lên, sức nặng của cơ thể nằm ở giữa hai bàn chân, thân hình cong về phía trước. Hai tay chịu cho đầu nhọn cán rìu cắm vào băng. Để dừng lại, các bạn nên trượt ngang vào bờ dốc của sườn đồi. Không nên trượt xuống một vùng mà các bạn không thể tìm thấy nơi dừng chân, vì như thế, các bạn có thể bị lao xuống vực.
Để dừng lại một cú ngã hay trượt :
Khi các bạn bị ngã hay trượt xuống một triền dốc .
- Hãy cặp cán rìu vào nách dọc theo hông và cày lưỡi rìu vào trong băng để làm cho tốc độ trượt bị chậm lại, khi đó các bạn có thể kiểm soát được cú trượt của mình.
- Nếu các bạn có mang theo dây cá nhân, hãy kết hợp giữa dây và rìu như một cái neo để để chặn một cú trượt hay một cú ngã.

Các dụng cụ khác :
Ngoài dây và rìu trượt băng, người ta còn dùng những dụng cụ hổ trợ khác trong việc đi lại trên băng như :
- Khoan băng
- Đế giầy đinh bám băng
- Cọc đóng trên tuyết
- Piton đóng trên băng


NEO TRÊN BĂNG

Đây là một điểm chịu lực để cho chúng ta cột một đầu dây hay quàng một sợi dây vào, giúp cho chúng ta có thể lên xuống trên một đoạn băng dốc.
Nếu không có cọc hay piton, các bạn có thể dùng rìu leo băng thay thế để làm tạm một cọc neo như hình bên.
Muốn neo trên băng bằng piton, các bạn phải dùng khoan và piton để thiết lập một điểm neo bằng cách :
- Cắt một vết lõm nằm ngang trên sường băng. Dẹp bỏ tất cả những băng vỡ. Sửa lại cạnh gò bằng cho tròn.
- Dùng khoan dùi lỗ để cắm một piton theo hướng thẳng đứng cho ngập đến khoen, dây trì kéo phải cùng góc cắm của piton.


HÌNH


Nếu thấy piton có vẻ yếu, hãy nhổ lên và chọn vị trí mới. Để tăng thêm sự an toàn, các bạn nên đóng thêm một cọc thứ hai, giữ cho cọc thứ nhất không trồi lên.
Cọc sau khi đóng xong, thời gian để có thể sử dụng an toàn thì rất ngắn, vì chúng bị nung nóng bởi mặt trởi ở phần cọc bị lộ ra làm cho phần băng tiếp xúc dần dần mềm đi, và dễ bị bể, và dễ tuột.
Muốn tái sử dụng nhiều lần, hãy phủ chúng bằng những mảnh băng vụn và kiểm tra thường xuyên.

NHỮNG VẬT DỤNG CẦN THIẾT KHÁC

Giầy mùa đông

Là một loại giầy di chuyển được trên băng tuyết, giữ được hơi ấm, mềm mại, và không thấm nước. Nó còn có thể tháo cởi dễ dàng, vì ban đêm chúng ta phải cởi ra cho thoáng và ráo mồ hôi.
Để giữ được hơi ấm cho bàn chân, chúng ta nên mang 2 lớp vớ (tất) được làm bằng nỉ hay lông cừu. Giữa 2 lớp vớ nên có thêm một lớp đệm bằng cỏ mịn hoặc rêu khô xé nhỏ đế hút hơi ẩm. Điều nầy rất cần thiết để giữ ấm đôi chân của các bạn.

HÌNH

Găng tay

Bàn tay là nơi dễ mất nhiệt nhất, nếu các bạn không bảo vệ, sẽ bị cóng và nếu bị nặng sẽ phải đoạn chi hay tháo khớp.
Các bạn nên sử dụng găng tay dạng cò súng (có thêm một ngón tay trỏ rời ra). Loại nầy khá tiện lợi, bởi vì các bạn có thể buộc dây, sử dụng súng, máy quay phim, chụp hình, cột giầy và thực hiện các công việc thông thường khác mà không cần phải tháo găng ra.

Áo khoác

Ngoài những áo chống lạnh thông thường, chúng ta còn cần một áo khoác. Những người Eskimo dùng một tấm da lớn và rộng để làm áo khoác, khi cần thiết, có thể biến nó thành lều trú ẩn. Sau giầy mùa đông và găng tay thì áo khoác là một thứ không thể thiếu trong trang phục ở vùng giá rét. Áo khoác phải đủ rộng để có thể che phủ toàn bộ quần áo chúng ta đang mặc và cho phép lưu giữ hơi ấm cơ thể.
Túi ngủ
Ở những vùng băng tuyết, các bạn khó mà ngủ được nếu như không có một cái túi ngủ (sleeping bag) đúng tiêu chủân. Nhưng nếu các bạn không có những túi ngủ thông thường, các bạn có thể dùng vải dù hay những mảnh vải từ quần áo… để may một cái túi ngủ hai lớp, ở giữa độn rêu hay cỏ khô.


HÌNH


NHỮNG NGUY HIỂM KHI DI CHUYỂN TRÊN BĂNG TUYẾT

Những nguy hiểm khi đi lại, sinh hoạt trên băng tuyết thì rất nhiều, chủ yếu như : khe nứt, thác băng, băng vỡ, tuyết lỡ… chúng ta phải biết cách dự đoán để phòng tránh cũng như khi cần thì biết cách thoát thân.

KHE NỨT

Khi sông băng chảy trên một địa hình bất thường (bờ dốc, vực sâu….), khe nứt có thể xuất hiện ở phần cuối dốc của sông băng. Những khe nứt nầy bị tuyết che phủ (có khi là một lớp rất mỏng) làm cho sự đi lại trên băng rất nguy hiểm, (vì có những khe nứt có thể sâu đến 50 mét). Vào mùa đông, do tuyết phủ và tầm nhìn hạn chế, nên rất khó nhận ra chúng. Vào cuối mùa hè, những khe nứt ở vào thời kỳ rộng nhất nhưng được che phủ bởi một mảng băng mỏng (như một cái cầu). Do đó, nguy hiểm càng tăng lên nhiều lần .


HÌNH


THÁC BĂNG

Nếu sông băng trôi qua một vực thẳm cao hay một dốc đứng, thì băng sẽ gãy và tạo thành một thác băng. Những thác băng này là một trong những trở ngại chính cho việc di chuyển an toàn trên băng. Những vụ tuyết lở cũng thường xảy ra trong các khu vực tiếp giáp với thác băng.
Thời điểm tương đối an toàn nhất để vượt qua những thác băng là vào buổi sáng sớm, trước khi mặt trời mọc.

RƠI XUỐNG HỐ BĂNG

Khi các bạn di chuyển trên một lớp băng mỏng hoặc bên dưới có một dòng chảy làm băng mỏng dần, thì có thể gây ra vết nứt vỡ băng, làm cho bạn rơi xuống nước.
Chỉ sau khi rơi xuống nước một vài phút, hịên tượng giảm nhiệt cơ thể sẽ xảy ra. Đây là một điều vô cùng nguy hiểm, cho nên các bạn phải cố gắng thoát ra khỏi nơi đó thật nhanh.
Khi bị rơi xuống băng, trước tiên, các bạn phải xác định được hướng có băng cứng (dùng cùi chỏ hay nắm tay đập mạnh xuống băng) khi phát hiện ra được lớp băng có thể chịu đựng được sức nặng của các bạn thì để hai tay trên mặt băng, cố gắng trườn lên mặt băng. Khi đã ở trên mặt băng thì khoan vội đứng dậy mà hãy trườn, bò, lăn … để trọng lượng cơ thể của các bạn phân bổ rộng trên mặt băng và không sụp xuống băng một lần nữa. Khi thấy đã đến vùng băng rắn chắc đủ để chịu đựng được sức nặng của cơ thể thì mới đứng lên và di chuyển nhanh vào bờ. Cố gắng làm cho cơ thể nóng lên và khô ráo càng nhanh càng tốt.
Muốn làm quần áo khô, các bạn hãy lăn tròn trên tuyết. Sức nặng của chính cơ thể các bạn sẽ ép nước ra khỏi quần áo và tuyết sẽ hấp thu lượng nước đó. Tuy nhiên số nước còn lại sẽ đóng băng thành một lớp vỏ bọc cứng quanh thân làm tăng trọng lượng và gây khó chịu cho các bạn. Quần áo của các bạn sẽ mất đi khả năng cách nhiệt. Nên thay quần áo và sưởi ấm càng nhanh càng tốt. Nếu không, các bạn sẽ gặp nguy hiểm vì cơ thể bị giảm nhiệt trầm trọng.


CỨU NGƯỜI RƠI XUỐNG HỐ BĂNG

Khi trong nhóm có một người rơi xuống hố băng, đừng vội chạy lại để kéo lên, vì sóng chấn động đã làm rạn nứt lớp băng quanh đó, rất dễ làm cho người đến cứu cũng lọt vào hố băng. Các bạn nên :
- Nằm dài xuống thành một hàng, cầm tay chân nhau cho thật chặt, người đầu hàng vung cho nạn nhân một vật để họ cầm nắm như : áo quần, chăn mền, dây, sào… rồi từ từ kéo họ lên.
- Nếu thấy băng khá rắn chắc hay gần bờ, thì người thứ nhất cố gắng trườn lên để tiếp cận nạn nhân, người thứ hai nắm cổ tay người thứ nhất…. Khi áp sát nạn nhân thì nắm tay họ để kéo lên.
- Các bạn cũng có thể đẩy về phía nạn nhân một cành cây hay một sào dài.
- Nếu có một cái thang nhẹ thì thật lý tưởng, khi nạn nhân đã bám được vào thang thì bảo họ nằm lên để các bạn kéo vào.
- Nếu các bạn có dây và nạn nhân còn tỉnh táo, thì các bạn làm nhanh một nút ghế đơn ở đầu dây để ném cho họ. Nếu nạn nhân đã hôn mê, người cấp cứ cần nhanh chóng bụôc một đầu dây vào người mình, đầu dây kia nhờ người khác cầm hay cột vào một điểm chịu chắc chắn, rồi bò tới kéo nạn nhân ra khỏi hố băng, đưa đến nơi an toàn.


TÉ NGÃ XUỐNG DỐC

Việc té ngã bất ngờ khi di chuyển trên băng hay trên sường dốc có phủ tuếyt là chuyện thường xảy ra.
- Nếu đi một nhóm có buộc chung một sợi dây thì người rơi té có thể được những thành viên trong nhóm trì kéo để giữ lại.
- Nếu di chuyển mà không có dây bụôc, khi bị té ngã, hãy sử dụng rìu như một cái phanh. Nếu các bạn đang mang giầy có đinh, các bạn nên dang chân ra và co đầu gối lại để cho những cái đinh bám vào tuyết.


BỊ PHỎNG BỞI TIA NẮNG

Tia nắng phản chiếu từ băng tuyết, nước và đá, có thể đủ sức làm phỏng da các bạn, gây khó chịu. Sự phỏng nầy vẫn có thể xảy ra ngay cả trong những ngày bầu trời đầy mây. Vì vậy, các bạn cần che kín cơ thể, những phần lộ ra thì phải bôi kem chống nắng. Nếu không, vết phỏng sẽ dẫn đến sốt và phải cần vài ngày để hồi phục.


TUYẾT LÀM CHÓI MẮT

Khi ánh nắng mặt trời chiếu trên một vùng tuyết trắng rộng lớn, sẽ tạo nên ánh sáng phản chiếu đến nhức mắt. Điều nầy thường xảy ra sau một trận tuyết rơi hoặc ngay cả khi mặt trời bị khuất sau màng sương hay hơi nước mỏng. Triệu chứng của chói tuyết là các bạn cảm giác như bụi vào mắt, nhức mắt, chảy nước mắt, nhức đầu và chịu không nổi ánh sáng. Muốn đề phòng, các bạn nên đeo kính râm (hay kính khe hẹp tự chế) khi đi trên tuyết.


TUYẾT LỞ

Tuyết lở không là tai nạn mà là một thảm hoạ. Trong thời Thế Chiến II, một trận tuyết lở đã chôn vùi 40.000 quân nhân ở vùng Tyrol, trong trận chiến giữa Áo và Ý. Và còn biết bao nhiêu đoàn thám hiểm, biết bao nhiêu đoàn lữ hành … bị chôn vùi dưới những trận tuyết lở. Cho nên, việc dự đoán chính xác một trận tuyết lở là rất cần thiết.


DỰ ĐOÁN MỘT TRẬN TUYẾT LỞ

Để dự đoán một trận tuyết lở, chúng ta không nên chỉ dựa vào một yếu tố đơn giản mà phải kết hợp bởi nhiều yếu tố. Một người có kinh nghiệm, có thể nhận ra tình trạng nguy hiểm trong từng trường hợp, do đó họ có thể tránh xa khỏi vùng có tuyết lở.
Mọi trận tuyết lở đều có một nguyên nhân “kích hoạt”. Thường thì có 4 nguyên nhân “kích hoạt” sau :
- Sự quá tải
- Vết cắt, vết nứt
- Nhiệt độ
- Sự chấn động

Sự quá tải : Đây có lẽ là nguyên nhân chính trong những trận tuyết lở. Những đống tuyết mới được hình thành dần dần và có kết cấu chặt chẽ, cho đến khi tự nó bị phá vỡ bởi sức nặng của chính nó và bắt đầu trượt đi.
Vết nứt : Điều nầy xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau
- Bị cắt bởi những đế giầy trượt tuyết
- Bị cây cối, vách đá… cắt ngang làm mất sự kết dính
- Sự chuyển dịch của lớp tuyết bên dưới

Nhiệt độ : Nhiệt độ gia tăng làm yếu đi sự kết dính của tuyết, làm tăng thêm độ giòn cũng như sức căng của một mảng băng.
Chấn động : Yếu tố nầy có liên quan đến sự nứt rạn, nhưng có tính chất khác biệt, không giống như những tác động tương tự. Vì ở đây, tuyết có thể nứt một vết dài và lở là có thể do tiếng sấm, tiếng la lớn có âm thanh cao, động đất hoặc những chấn động xuyên qua mặt đất, các vụ nổ hoặc sóng phản hồi từ các vụ nổ, sự di chuyển của các xe cơ giới hạng nặng…


PHẢN ỨNG KHI BỊ TUYẾT LỞ

- Vất bỏ tất cả vật nặng trên người như ba lô, giầy trượt…
- Rời xa tuyến đường tuyết lở bằng cách chạy dạt ngang sang hai bên hay chạy lên cao (không nên chạy xuống núi, vì tuyết lở có thể đạt tới vận tốc 50km/giờ, các bạn không thể nào thoát được).
- Nếu không chạy kịp thì cố gắng bám chặt bất cứ vật gì kiên cố ở dốc núi như : gốc cây lớn, mỏm đá…
- Nếu thấy bị cuốn theo dòng tuyết, lập tức vùi đầu vào trong cổ áo để tránh băng tuyết lọt vào đường hô hấp gây ngạt thở. Hai tay ôm lấy đầu để tạo thành một khoảng không gian hô hấp lớn nhất.
- Nếu bị tuyết dồn xuống vách núi, cần cố gắng ngoi lên trên bề mặt của lớp tuyết. Sử dụng động tác như bơi để ngoi lên, hai tay đở đá và cản tuyết trượt xuống.
- Khi thấy tốc độ của tuyết lở giảm xuống, thì cần nhanh chóng cố gắng tìm cách phá tuyết mà ra, nếu không, khi tuyết vụn trượt xuống và dừng lại sẽ nhanh chóng bị đông cứng.
- Để cho nước bọt trong miệng từ từ chảy ra coi xem vị trí cơ thể của chúng ta có lộn ngược hay nghiêng lệch gì không. Nếu nước bọt chảy ngược vào miệng thì chứng tỏ cơ thể chúng ta đang đảo ngược. Cố gắng xác định vị trí chính xác của cơ thể để phá tuyết mà ra.
- Nếu không chui ra khỏi đống tuyết được thì không nên cửa động nhiều để tiết kiệm năng lượng của cơ thể. Tranh thủ ép tuyết ra chung quanh để tạo một không gian hô hấp trong khi chờ cứu viện.



CỨU THOÁT NẠN NHÂN BỊ TUYẾT LỞ

Khi một người bị tuyết lở chôn vùi, chúng ta phải tổ chức việc cấp cứu càng nhanh thì hy vọng sống sót của họ càng lớn. Nhiều trường hợp được ghi nhận là nạn nhân có thể sống sót sau 72 giờ bị chôn vùi trong tuyết. Tuy nhiên, thông thường thì nạn nhân chết ngay lập tức vì va chạm, hoặc chết trong thời gian ngắn vì giảm nhiệt, vì choáng, vì nghẹt thở… trung bình chỉ tồn tại trong một giờ đồng hồ.
Nếu có một dấu vết gì của nạn nhân trong khu vực, hãy lập tức bắt đầu tìm kiếm thăm dò ở quanh đó. Nếu không thấy, chúng ta thăm dò ở những vị trí có khả năng nạn nhân bị cản lại như cây cối, tảng đá hoặc phía dưới những chỗ đó. Những mép của đường trượt hay những điểm đặc biệt cũng được xem xét kỹ. Xác nạn nhân cũng có thể văng lên trên bề mặt hay bên cạnh của đường trượt.
Những nạn nhân được cứu sống trong những vụ tuyết lở, phải được di chuyển bằng phương diện nhanh nhất, dưới sự chăm sóc đặc biệt của nhân viên y tế.


HÌNH


TÌM PHƯƠNG HƯỚNG

Trong các vùng băng tuyết ở Bắc Bán Cầu, nếu không có địa bàn trong tay, các bạn có thể tìm ra hướng Nam dễ dàng nhờ những “ống khói tiên”. Đó là những bàn băng hình thành trên bề mặt lớp băng với một tảng đá. Tảng đá đó bảo vệ cho lớp băng phía dưới không tan chảy và khối đá sẽ dần dần nhô cao lên như một ống khói.
Ống khói nầy sẽ chỉ cho chúng ta hướng Nam, vì bức xạ chéo của mặt trời làm tan băng ở hướng nầy nhiều hơn cho nên “ống khói” có khuynh hướng chồm về hướng Nam.
Nếu chúng ta ở vùng Nam Bán Cầu thì ngược lại.


SINH TỒN TRONG VÙNG BĂNG GIÁ
Phần lớn những người gặp nạn ở vùng băng tuyết hay giá lạnh thường do sự giảm nhiệt của cơ thể làm thương tổn cục bộ dẫn đến sự tê cóng, làm cho mọi hoạt động để sinh tồn gặp nhiều khó khăn, sau cùng là gây tử vong.
Vậy : điều quan trọng và bức thiết nhất để sinh tồn trong vùng băng tuyết hoặc lạnh giá là phải giữ ấm cơ thể.
- Đốt lửa để sưởi ấm là biện pháp quan trọng nhất trong vùng băng giá, vì vậy phải biết cách gìn giữ và bảo quản lửa (Xin xem phần LỬA)
- Quần áo chống lạnh nên rộng thoáng. Khi đã mặc quần áo chống lạnh rồi, thì không nên hoạt động mạnh, vì nếu ra mồ hôi nhiều mà không thoát được khiến cho bên trong quá ẩm, làm giảm khả năng chống lạnh. Nếu cần làm việc nặng thì cởi quần áo dầy ra.
- Quần áo, găng tay, tất, giầy, mũ… giữ được khô ráo cũng là một điều tối quan trọng.
- Tạo một chỗ trú ẩn an toàn và tiện nghi (Xin xem phần CHỖ TRÚ ẨN)
- Nếu không có túi ngủ thì cho dù chỗ trú ẩn có nhóm lửa cũng không nên ngủ nằm để tránh bị tê cóng.
- Khi cần hong khô y phục bên lửa thì phải cởi ra, không nên vừa mặc vừa hong khô, vì sẽ làm cho chúng bị ẩm ướt do đổ mồ hôi.
- Không nên mặc nhiều quần áo khi ngủ bằng túi ngủ, vì sẽ đổ mồ hôi nhiều làm túi ngủ ẩm ướt, vừa khó ngủ vừa dễ bị bệnh khi ra khỏi túi.
- Túi ngủ không nên để trực tiếp trên mặt tuyết mà nên lót một lớp cành lá cây hay nệm khí.
- Sau mỗi lần sử dụng, nên làm thoát khí ấm ở trong túi ra, để khi trời giá lạnh sẽ không bị nhưng tụ thành hơi nước.
- Nếu có nhiều người ở chung mà không có túi ngủ, thì mỗi người nên thay phiên nhau chợp mắt ngủ, người thức tỉnh phải duy trì và bảo quản ngọn lửa, đồng thời thỉnh thoảng nên gọi tỉnh người khád để tránh mê thiếp đi do quá lạnh.
- Nếu thấy có triệu chứng da bị lạnh, rùng mình, bước đi không vững, phát âm khó khăn… lập tức tìm ngay một nơi ấm áp để trú ẩn. Đốt lửa để sưởi ấm, uống nước nóng, ăn những thức ăn ngọt có năng lượng cao (như kẹo, bánh, sô-cô-la…) ủ ấm, mặc thêm quần áo.
- Nếu thấy xuất hiện ở mặt và tay những đốm màu trắng, cho thấy có khả năng bị tổn thương do lạnh. Hãy chà xát hay hơ nóng những chỗ đó.
- Không nên dùng tuyết để chà xát vùng bị tổn thương, vì như thế sẽ làm tăng nhanh sự tảnh nhiệt, lan rộng phạm vi tổn thương. Nếu được thì nên ngâm trong nước ấm khoảng 43°C. Những bạn đồng hành có thể giúp nạn nhân bằng cách ủ những nơi thương tổn dưới nách hay ngực của mình.
- Trong môi trường băng giá, không nên uống rượu hay xoa bóp cơ thể để chống lạnh, vì như thế sẽ làm dãn nở những mao mạch gần da, tăng huyết dịch, bị tản nhiệt nhanh, nhiệt độ cơ thể sẽ hạ xuống gây nên tê cóng.
- Nếu thấy có người bạn đồng hành nào có những triệu chứng bất thường như : nói lảm nhảm, mắt lạc thần, hành động kỳ lạ... lập tức tiến hành cấp cứu ngay. Chủ yếu là sưởi ấm cơ thể, ủ ấm, cho uống nước nóng, ăn thức ăn có năng lượng cao, vận động cơ thể. Nếu để trễ thì vô cùng nguy hiểm.
- Nếu có điều kiện, các bạn nên ăn vặt thường xuyên, nhất là những món ăn có năng lượng cao. Thiếu thốn thực phẩm ở vùng băng giá thì nguy hiểm gấp nhiều lần thiếu thốn thực phẩm ở rừng núi hay sa mạc. Vì đói sẽ dẫn đến tình trạng tê cóng.
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
ĐẦM LẦY

Dấu hiệu để báo cho các bạn biết vùng lầy lún hoặc cát lún là sự hiện diện của những mạch nước trào từ từ ở dưới đất lên. Những mạch nước nầy giữ cát, bùn và các tạp chất lơ lửng một lớp (có khi) rất mỏng. Chúng ta thường gặp những nơi như thế nầy ở vùng đầm lầy nhiệt đới (có khi rộng hàng ngàn hecta). Đất ở đầm lầy xốp, mềm, đi đứng khó khăn, ở đó còn có những chỗ có sức lún khủng khiếp, nếu người hay động vật lọt vào mà không biết cách tự cứu, có thể bịt dìm chết. Ngoài ra, sự nguy hiểm còn do khí hậu ở đầm lầy rất ẩm ướt, lạnh giá, đủ sức làm cho người ta chết cóng. Đây là một khu vực rất tồi tệ, nếu chúng ta bị lạc vào một vùng như thế nầy thì thật là tai hoạ.
Trường hợp các bạn bụôc phải di chuyển băng qua đầm lầy, thì xin các bạn lưu ý những điểm sau :
- Cầm theo gậy nhẹ, dài, vừa dò đường vừa làm vật cản để bám víu khi bị sa lầy.
- Đi men theo vùng đất có cây cối, đặt chân lên những bụi cỏ, nếu dẫm mạnh mà thấy mặt đất rung rinh thì đừng bước tới mà đi vòng để tránh.
- Những nơi có mặt đất bằng phẳng, không cây cỏ, có màu xanh đen hay đóng rêu thì thường là vũng lầy. Hãy cẩn thận .
- Tuyệt đối không di chuyển trong đầm lầy vào ban đêm, hay khi mưa gió, sương mù, tuyết đổ… Những lúc nầy nên tìm chỗ trú ẩn khô ráo, kín gió, chờ cho đến lúc thuận tiện.
- Không nên cởi ba lô, áo mưa…. Khi di chuyển trong đầm lầy. Nếu bị lún, những vật nầy sẽ tăng thêm lực cản như những cái phao.
- Nếu có bạn đồng hành, tốt nhất nên dùng dây cột lại với nhau để có thể cứu viện cho nhau.
- Vì phải tránh những vũng lầy và chướng ngại, cho nên các bạn rất dễ bị mất phương hướng. Phải kiểm tra bằng địa bàn thường xuyên. Nếu không có địa bàn, phải chọn một điểm chuẩn dễ trông thấy để làm đích mà đi tới.
- Nước đầm lầy tuy nhiều, nhưng phần lớn là không uống được. Chúng ta nên thu thập nước mưa hay nước ở các dòng chảy mạnh.
- Cố gắng giữ quần áo khô ráo, vì ban đêm ở vùng đầm lầy thường rất lạnh, dễ bị thương tổn do rét cóng.
- Nếu phải trụ lại ở vùng đầm lầy, các bạn nên tạo những con đường đi lại bằng cách lót ván, thân cây, cành cây, cỏ khô… hoặc đánh dấu những nơi có thể đi lại được.
Nói chung, đầm lầy là một nơi tồi tệ khi các bạn cần di chuyển hay sinh sống. Nếu có thể được, các bạn nên đi vòng để tránh.

SA LẦY

Nếu phát hiện hai chân các bạn đang bị lún dần thì không được vội vàng rút chân hoặc vùng vẫy, vì càng vùng vẫy thì càng bị lún nhanh hơn và cũng mau chóng tiêu hao sức lực hơn. Các bạn hãy bình tĩnh sử dụng một trong hai phương pháp sau :

Phương pháp 1
Nhanh chóng và nhẹ nhàng ngã người ra phía sau, nằm ngửa mặt hướng lên trên. Đồng thời giang rộng hai tay để tăng diện tích tiếp xúc với mặt lầy. Nếu có gậy dò đường thì lót nằm ngang ở dưới cơ thể.
Sau khi đã nằm xuống thì nhẹ nhàng rút chân lên, dùng tư thế như bơi ngửa chậm rãi di chuyển về phía đất cứng vừa mới đi qua. Vói tay lên đầu, nếu có gốc cây, gốc cỏ… thì nắm lấy để mượn lực mà kéo người tới.
Cẩn thận từng động tác một, chầm chậm để cho bùn và cát có đủ thời gian lấp đầy những chỗ trống do tứ chi hay cơ thể rút đi.


HÌNH

Phương pháp 2
Dang tay ra, nằm sấp xuống, bụng và ngực ép sát trên bùn, lót gậy dò đường xuống dưới ngực. Tìm cách rút một chân lên, co lại, dùng toàn bộ cẳng chân đó tì lên mặt lầy rồi từ từ rút chân kia lên. Khi đã rút được hai chân lên rồi, thì từ từ trườn tới như rắn hay như tư thế bơi sấp. Phân bố trọng lượng cơ thể cho đều.


HÌNH


• Nếu có người đồng hành bị sa lầy, thì không nên vội vàng liều lĩnh lao tới cứu, mà bảo người đó nằm ngửa, bất động. Sau đó, cẩn thận thăm dò từng bước chân. Chỉ khi nào biết chắc là đất dưới chân mình có thể chịu đựng được thì mới tiến tới gần nạn nhân, ném dây hay đưa gậy cho họ nắm lấy, rồi cùng với sự hổ trợ của chúng ta, đưa nạn nhân đến chỗ an toàn.
• Nếu chân dưới đất của các bạn không được rắn chắc, thì các bạn cần nằm sát xuống để tăng diện tích tiếp xúc trước khi ném dây hay đưa gậy cho họ.
• Nếu gần đó có cây cối thì dùng một đầu dây cột vào gốc cây, đầu dây kia ném cho nạn nhân hay cột vào người của chúng ta trước khi đi cứu nạn nhân.

Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
VƯỢT SÔNG – SUỐI

Trên lộ trình mà các bạn đang di chuyển, nếu có con sông hay suối lớn cắt ngang, phải lội qua. Trước hết, các bạn hãy thẩm định tình hình và quyết định xem có cần phải vượt qua hay không ? Nếu cần thì phải chọn phương pháp vượt sông nào an toàn nhất ?
Có ba trường hợp khi vượt sông – suối :
- Sông suối cạn, có thể lội bộ vượt qua được.
- Sông suối sâu, phải bơi hay sử dụng phao, bè để vượt.
- Làm cầu để vượt qua.


LỘI BỘ QUA SÔNG

Chuẩn bị :
- Chọn lựa vị trí hợp lý để vượt sông : Những nơi sông suối quanh co thì nước chảy chậm hơn ở những đoạn thẳng, nhưng coi chừng có những xoáy ngầm.
- Thăm dò độ chảy xiết của dòng sông, những chỗ cạn thường rộng và dễ vượt hơn những chỗ hẹp và sâu.
- Khi hai dòng sông suối gặp nhau, chúng ta nên vượt ở phần trên của giao điểm, tuy phải vượt hai lần, nhưng ở đó thường thì nước cạn và chảy yếu hơn.
- Khảo sát đáy sông, suối, nếu có bùn nhiều thì không nên mang giầy, vì các bạn có thể bị dính giầy dưới bùn. Nếu là đá sỏi thì nên mang giầy để hạn chế trơn trợt, gây thương tích, trầy xước…
- Lưu ý đến tốc độ khác nhau của dòng chảy khi gặp các chướng ngại vật, những chỗ có nước xoáy vòng tròn.
- Tìm kiếm những điểm có thể bám víu khi cần.


TỐC ĐỘ KHÁC NHAU CỦA DÒNG CHẢY KHI GẶP CHƯỚNG NGẠI VẬT

HÌNH

- Nếu gặp dòng sông chảy siết và sâu thì các bạn nên đi ngược lên vùng thượng nguồn, tốt nhất là nơi phân nhánh của dòng sông.
- Coi chừng những thân cây, súc gỗ, hoặc những vật lạ trôi theo dòng nước.
- Không nên vượt sông ở những đoạn có vách đá, nhiều cây trôi, nước chảy siết, trơn trợt…
- Những chỗ nước xoáy nhẹ và cạn thì có thể làm điểm tạm dừng để nghỉ, nhưng nếu xoáy mạnh và sâu thì trở nên nguy hiểm, có thể lật chìm thuyền bè và nhấn chìm các bạn.
- Lưu ý đến những cơn mưa thình lình ở trong vùng hay những cơn giông bão ở những ngọn núi cao gần đó, nó có thể tạo nên những cơn lũ quét bất ngờ, rất nguy hiểm.
Vượt sông suối một mình :
- Chọn một khúc sông rộng, cạn, ít bùn, không lún, nước trong, trống trải.
- Nếu nước sông đục, mang theo phù sa, rác rến, lục bình trôi nổi…. Các bạn dùng một gậy dài để thăm dò phía trước mặt. Di chuyển chầm chậm, đưa gậy nhè nhẹ để thăm dò nhưng không tì người lên gậy.
- Nếu có hành lý thì đeo cao trên hai vai cho cân bằng (không khoác một bên vai vì dễ mất thăng bằng) và không bị ướt, nhưng không nên buộc chặt vào người, vì khi cần, có thể nhanh chóng tháo bỏ.

Vượt sông tập thể

Dùng dây :

- Nếu sông không quá rộng và dây đủ dài thì cử một người khoẻ nhất, biết bơi lội, không mang theo hành lý, cầm dây đi nương theo dòng chảy mà qua bên kia bờ, rồi cột chặt đầu dây vào một gốc cây hay gộp đá.
- Sau khi đã cột xong thì những người còn lại bên nầy kéo căng dây rồi cột vào một thân cây hay gộp đá. Như thế là các bạn đã có một chỗ bám an toàn để vượt sông.
- Người cuối cùng, tháo dây, cột vào người để cả toán cùng kéo anh ta sang.
- Nếu dây không đủ dài thì cả nhóm đi theo hàng một, dây bụôc vào hông, gậy cầm tay. Người khoẻ mạnh đi đầu hay tiếp ứng phía sau.
- Di chuyển chầm chậm từng người một, người nầy bước thì những người khác trụ lại, không nên cất bước cùng một lúc, đề phòng nếu có một người bị té ngã thì những người khác không bị lôi theo.

Kết vòng tròn :

Phương pháp nầy có thể sử dụng ở những nơi nước chảy khá mạnh, và phải có từ 3 người trở lên, nhưng cũng đừng quá đông.
Đứng thành vòng tròn, dang tay bám vào vai nhau. Người khoẻ nhất đứng chịu đầu trên của dòng chảy. Khi di chuyển, nên lê chân sát lòng sông, đừng giở chân lên cao, dòng nước cuốn sẽ làm cho các bạn mất thăng bằng. Nhược điểm của phương pháp nầy là nếu có một người bị trượt té, có thể kéo theo một hai người, làm hỏng kết cấu của đội hình.

Dùng sào dài :

Tìm một cây sào đường kính vừa tay cầm, chiều dài đủ cho mọi người có thể cùng bám vào. Phương pháp nầy để dùng cho những nơi có dòng nước chảy mạnh. Khi di chuyển, người mạnh nhất đứng cuối cây sào, phía dưới dòng chảy. Tất cả mọi người vừa chống lại sức mạnh của dòng chảy vừa đi ngang sang bờ bên kia.

HÌNH


BƠI SANG SÔNG

Nếu các bạn gặp sông sâu, không thể lội bộ qua sông được, nhưng nếu biết bơi, các bạn có thể bơi sang. Tuy nhiên trước khi bơi, các bạn cần lưu ý :
- Những con sông rộng, có lưu lượng nước lớn và chảy mạnh thì rất nguy hiểm, không nên bơi qua.
- Chiều rộng con sông thường rộng lớn hơn chiều rộng do các bạn ước lượng bằng mắt.
- Ngoại trừ các bạn là vận động viên bơi lội hay là ngư dân, bằng không thì khả năng bơi lội của các bạn thường “dỏm” hơn bạn tưởng.
- Nếu thời tiết lạnh, đừng vượt sông vào sáng sớm và khi cơ thể của các bạn chưa được làm nóng.
- Khi nhiệt độ nước xuống quá thấp (dưới 15°C) cũng không nên qua sông, cho dù các bạn là người bơi giỏi cũng sẽ nhanh chóng bị tê cóng.
- Nên cởi quần áo, giầy vớ ra, bỏ vào túi vải hay túi nhựa túm lại rồi cột hay đội lên đầu.
- Khi bơi, các bạn nên nương theo dòng nước để đỡ hao tốn sức lực.
- Nếu có những người đồng hành không biết bơi hay bơi dở, thì người bơi giỏi căng dây qua sông để họ bám vào mà qua sông, nhưng lúc họ qua cũng cần có một người bơi giỏi ở bên cạnh để dìu đỡ và hộ tống, làm cho họ an tâm.


VƯỢT SÔNG BẰNG PHAO


Để vượt sông một cách an toàn, ít tốn sức, các bạn nên tự tạo cho mình những chiếc phao. Tuỳ theo điều kiện và vật dụng cho phép, các bạn có thể làm những chiếc phao đơn giản sau đây:
Phao bằng quần
Dùng quần có vải dầy càng tốt, cột túm cả hai ống lại, cài khuy, nhúng nước cho vải nở ra. Cầm hai bên cạp quần, vung qua đầu từ phía sau tới đập mạnh xuống nước.


HÌNH


Dùng thân cây:

Tìm những thân cây khô (hay tươi) có độ nổi tốt như tre, chuối, gòn, thông... thả xuống nước rồi các bạn bám một bên để bơi qua.

HÌNH

Dùng vải nhựa và cây cỏ :

Nếu có một túi nhựa, một tấm nylon hay vải không thấm nước, thì các bạn lấy lục bình (bèo) ngắt bỏ rể, cỏ khô, lá khô, cành cây (điên điển...), cho vào túi hay cột túm lại, biến thành một phao nổi khá tốt để vượt sông.

HÌNH

Dùng dây và gỗ :

Chặt hai khúc cây khoảng hơn 1 mét (lựa loại cây có độ nổi tốt). Dùng dây cột lại với nhau, chừa một khoảng cách cỡ 40 – 50 cm. Các bạn đã có một chiếc phao thả nổi rất tốt.

HÌNH

Dùng thùng gỗ nhẹ hay can rỗng

- Nếu có một thùng gỗ nhẹ hay can rỗng, thì các bạn ôm cứng phía trước ngực và bơi bằng hai chân.
- Nếu có từ hai hay nhiều thùng thì các bạn kết lại làm bè hay phao.

Dùng poncho và hành lý :

Nếu các bạn có một tấm poncho hay vải không thấm nước, các bạn làm một phao vượt sông có thể chở được cả một số lượng hành lý khá nặng. Tiến hành bốn bước theo minh hoạ dưới đây :

HÌNH


VƯỢT SÔNG BẰNG BÈ

Khi cần chuyên chở nhiều, nhiều lần, nhiều người, nhiều hành lý.... Hoặc các bạn muốn thả trôi theo dòng sông ... Nếu có thời gian và dụng cụ thì các bạn nên đóng một chiếc bè chắc chắn. Tuy đây là một phương tiện vận tải thô sơ nhưng khá an toàn và tiện lợi.
Để đóng một chiếc bè, trước tiên các bạn phải chọn một số cây có tính chất nổi thật tốt như tre, bương, gòn, thông... có kích thước tương đương với nhau và cùng một loại. Dùng dây có sẵn hoặc dây rừng, cộng với sự khéo tay và tài linh động tháo vát của các bạn để ghép chúng lại với nhau theo như những cách dưới đây :

HÌNH

Đưa bè sang sông theo nhịp quả lắc :

Khi các bạn cần qua lại nhiều lần trên một khúc sông thì hãy chọn một khúc ngoặc của con sông có dòng nước chảy mạnh. Cột bè chênh góc vào một gốc cây (như hình minh hoạ). Điều chỉnh dây cột bè cho đến khi nhờ vào sức nước, bè tự động đưa qua đưa lại từ bờ nầy sang bờ kia mà các bạn không cần đến sức chèo chống.

HÌNH


An toàn khi thả bè trôi sông

Nếu các bạn muốn làm một chuyến du hành dài bằng cách thả bè trôi dọc theo dòng sông thì trước tiên, bạn hãy trèo lên cây cao hay một đỉnh đồi, phóng tầm mắt thật xa để nhìn bao quát về phía hạ lưu. Điều nầy rất cần thiết, vì nó sẽ cho chúng ta một cái nhìn tổng thể về cảnh quang, nơi chúng ta sẽ đến.
- Nên làm một cái bánh lái để dễ điều khiển bè. Mang theo một cây sào hay một mái chèo để chèo chống, tránh cho bè va đập, vào các chướng ngại, doi đất, đá ngầm...
- Lắng nghe những âm thanh được truyền đến từ nước, nó có thể cảnh báo cho các bạn biết sự hiện diện của thác, ghềnh hay vật cản... nhờ tiếng nước đổ.
- Nếu thấy có đường chân trời cắt ngang dòng sông, lập tức tấp bè vào bờ ngay, vì có thể đó là một thác nước cao, dễ dàng đánh vỡ hay nhấn chìm bè của các bạn.

HÌNH

- Khi bè sắp trôi đến những nơi có ngầm, ghềnh, thác nhỏ, vùng nước xoáy hỗn loạn, hãy leo lên bờ rồi giong bè từ từ bằng dây, để nhỡ bè có va vào đá, bị cuốn vào vùng xoáy hay rơi vào ghềnh... các bạn cũng vẫn có thể giữ được an toàn cho bè.
- Hành lý trên bè nên cho vào bao không thấm nước rồi buột chặt vào bè, hoặc cột vào một mảnh gỗ nhẹ, nổi, để nhỡ nếu có rơi khỏi bè, các bạn vẫn có thể tìm thấy dễ dàng.
- Lưu ý những dợn sóng lạ, vì nó có thể ẩn dấu những tảng đá ngầm, dễ dàng làm lật túp bè của các bạn.

HÌNH


VƯỢT SÔNG, SUỐI BẰNG CẦU

Thật ra thì chỉ khi nào các bạn dự tính ở lại lâu trong khu vực thì mới làm cầu, bằng không thì các bạn tìm những cây cầu tự nhiên do những thân cây ngã đổ ngang suối (trong rừng rậm nhiệt đới rất nhiều) để vượt suối.
Để dựng một chiếc cầu, các bạn cần biết một số yếu tố cần thiết như :
- Chiều rộng con suối
- Độ sâu và lưu lượng của dòng nước
- Thực trạng đáy của dòng suối
- Thực trạng hai bên bờ …
Thường thì các bạn chỉ cần làm một cầu khỉ, đơn giản bằng cách chọn một cây mọc nghiêng ven suối, có độ dài vừa đủ với chiều ngang của con suối, trẩy hết những cành làm vướng víu. Thế là các bạn đã có một chiếc cầu tiện lợi.
Các bạn cũng có thể thiết kế một cầu dây chữ V để vượt qua những hẻm núi, vực sâu… rất tiện lợi. Loại cầu nầy được kết hợp bởi từ 3 – 5 sợi dây to, chắc chắn, căng theo hình chữ V, cố định với nhau bằng những sợi dây nhỏ hơn. Sợi dây lớn nhất nằm ở giữa, thấp hơn các sợi kia, dùng để đi. Các sợi kia căng cao hơn, làm tay vịn và thành cầu.

HÌNH
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
VƯỢT ĐỒI NÚI


LÊN DỐC

Khi lên dốc, các bạn phải sử dụng sức nhiều, nên rất dễ bị mệt, vì vậy, các bạn cần lưu ý những điều sau :
- Chọn một đôi giầy tốt, vừa chân, có độ bám cao, sẽ giúp các bạn đắc lực khi leo núi.
- Giữ cho hơi thở điều hoà, nếu thở nhanh hay hổn hển có nghĩa là các bạn đã đi quá sức, hãy tạm nghỉ chừng 5 – 10 phút (không nên nghỉ lâu, vì bắp thịt sẽ bị lạnh và giãn cơ, gây đau nhức do bị phản ứng).
- Nếu dốc núi hơi lài, thì với một cây gậy chống, các bạn cứ thong thả mà đi lên. Mỗi lần đặt chân lên một cục đá, nên ướm thử độ bám cũng như độ kết cấu của nó.
- Nếu dốc hơi đứng thì các bạn men theo triền để đi lên theo hình chữ Z, cộng với sự hỗ trợ của hai tay bám vào các mô đá, cành cây, khe đá, thân cây…
- Nếu dốc quá đứng hay vách đá bụôc phải dùng dây, thì cử một hay hai người hỗ trợ (Belayer) là những người khoẻ mạnh, leo núi giỏi, trang bị gọn nhẹ leo lên trước, cột dây neo vào một điểm chịu chắc chắn. Những người nầy có nhiệm vụ thâu dần sợi dây theo từng bứơc leo của các bạn, giữ chặt dây khi các bạn bị trượt té, cảnh báo những nguy hiểm có thể xảy ra.
- Những người còn lại, từng người một, sẽ dùng đầu dây làm thành một nút ghế đơn (hay ghế kép, nếu là dây đôi), quàng vào ngang ngực. Dùng hai tay để bám víu, hai chân tìm điểm tựa để làm bàn đạp, rồi cùng với sự giúp sức của người hỗ trợ, các bạn sẽ leo lên. (Xin xem phần LEO VÁCH ĐÁ)
- Người sau cùng, trước khi leo lên, phải kiểm tra lại tất cả hành lý và dụng cụ mang theo còn sót, cột lại cho các bạn của mình kéo hết lên trước, rồi mình mới leo lên.

HÌNH



XUỐNG DỐC

Khác với lúc leo lên, xuống núi tuy ít mệt hơn, nhưng lại nguy hiểm không kém, hơn nữa, lúc nầy chân cẳng của các bạn đã rã rời, sau khi leo qua những quãng dốc dài. Khi xuống núi, các bạn cần phải cẩn thận, không nên đi quá nhanh (cho dù trọng lượng của cơ thể và hành lý như đẩy các bạn chạy về phía trước), vì các bạn rất dễ bị vấp té, lăn lông lốc xuống dưới.
Khi xuống dốc, khom người và rùn đầu gối lại, giữ cho ba lô ổn định, và cân đối trên lưng của các bạn, trọng tâm của ba lô nằm phía trước chân đế, chịu cả bàn chân xuống mặt đất. Nếu đi thẳng người, trọng tâm balô sẽ nằm phía sau chân đế, dễ bị trượt té.

HÌNH

Nếu dốc khá đứng, thì các bạn xoay người lại đối diện với vách núi, sử dụng luôn cả hai tay để bám chịu mà leo xuống. Khi leo xuống, lúc nào cơ thể các bạn cũng phải chịu trên 3 điểm tựa, một tay với hai chân hay một chân với hai tay. Sử dụng tay hay chân còn lại để tìm điểm tựa thấp hơn. Khi đặt tay hay chân vào điểm tựa mới, phải ướm thử sức chịu đựng trước khi tì cả sức nặng của mình lên đó.

TUỘT DÂY XUỐNG NÚI

Nếu gặp vách núi dựng đứng, thì các bạn nên dùng dây để tuột xuống, vừa nhanh chóng vừa an toàn và tiện lợi. Có nhiều cách tuột dây xuống núi, sau đây là những cách đơn giản và dễ thực hiện hơn cả :
Cách thứ nhất :
Các bạn chỉ cần có một sợi dây đủ chắc chắn mà không cần thêm phụ tùng nào cả. Hãy thực hiện theo từng bước sau :
- Choàng dây qua một gốc cây hay một gộp đá chắc chắn làm điểm neo chịu, rồi chập đôi dây lại.
- Luồn dây qua háng (từ trước ra sau)
- Vòng qua hông trái (nếu thuận tay mặt, hoặc ngược lại)
- Vắt chéo lên vai phải, vòng ra sau lưng
- Lòn trong nách trái rồi nắm giữ dây lại bằng tay trái.


HÌNH


- Tay mặt (là tay điều khiển) nắm lấy dây phía trước mặt để giữ thăng bằng. Nghiêng người gần thẳng góc với vách núi.
- Tay trái (là tay phanh) thả từng đoạn dây ngắn, vừa thả vừa đi chậm chậm xuống theo vách núi.
- Khi mọi người xuống hết, rút một đầu dây để thu hồi sợi dây.

Cách thứ hai :
Cách nầy đòi hỏi các bạn phải có một số dụng cụ cần thiết như :
- Một cuộn dây dài và chắc
- Mỗi người một sợi dây ngắn chừng 3 mét, một đôi găng tay dầy, một khoen bầu dục (carabiner)

THỰC HIỆN

Trước tiên, các bạn dùng đoạn dây 3 mét thắt một cái đai theo cách hướng dẫn sau :
1- Gập đôi sợi dây lại, đặt chỗ gập cố định bên hông trái (nếu thuận tay mặt, hay ngược lại). (Trong hình minh hoạ thì đặt bên mặt)
2- Vòng dây qua người làm một vòng khoá trước bụng
3- Lòn xuống dưới háng rồi kéo lên hai bên hông

HÌNH

4- Quấn hai đầu dây một vòng vào hai bên hông.
5- Vòng hai đầu dây qua hông trái (nếu thuận tay mặt…) và cột lại bằng nút dẹt. Móc khoen bầu dục vào.

• Cột cố định đầu sợi dây dùng để tuột vào gốc cây hay một điểm thật chắc chắn.
• Làm một vòng khuy tròng vào khoen bầu dục.
• Tay trái (là tay hướng dẫn) nắm lỏng sợi dây phía trước mặt để giữ thăng bằng.
• Tay phải (là tay phanh) giữ phần dây thòng xuống, vắt qua hông phải. Tay nầy dùng để điều chỉnh tốc độ.
• Muốn tuột xuống, các bạn nới lỏng dây ở tay phải ra. Muốn dừng lại, các bạn nắm chặt dây ở tay phải lại, đồng thời áp sát dây vào mông (tay trái luôn luôn nắm lỏng dây)
• Nếu người của các bạn không chạm vào vách đá (treo tòn ten) thì các bạn có thể tuột một đoạn thật dài (nhưng phải coi chừng găng tay chịu không nổi).

HÌNH
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
LEO VÁCH ĐÁ

Đây là một chướng ngại rất nguy hiểm và khó vượt qua, nếu các bạn gặp phải trên lộ trình di chuyển. Trừ phi các bạn là vận động viên leo núi, hoặc đã được huấn luyện cẩn thận, và trang bị đầy đủ, thì mới nên cố gắng để vượt, bằng không thì nên đi vòng tìm một con đường khác. Vì ngay cả những nhà leo núi chuyên nghiệp cũng không ít người đã phải đánh đổi mạng sống của mình, hay bị mang thương tật suốt đời, khi cần chinh phục những vách đá cheo leo.
Để có thể leo lên những vách đá, trước tiên, các bạn cần phải luyện tập cẩn thận từ những vách đá thấp, dễ leo, dần dần lên cao, và tăng mức độ khó hơn. Có hai cách leo vách đá :
1. Leo tay không.
2. Leo có trang bị đầy đủ.

LEO TAY KHÔNG

Khi leo vách đá bằng tay không, điều cần thiết là các bạn phải có một thể lực dẽo dai, một tinh thần cương nghị… Và quan trọng nhất là các bạn phải biết cách giữ thăng bằng cơ thể. Đây là một môn luyện tập kết hợp giữa sự thăng bằng của người đi dây và sự thận trọng của người tháo gỡ mìn bẫy.
Dưới đây là những điều cơ bản của kỹ thuật leo vách đá
• Biết nghiên cứu địa hình tổng thể để chọn một lộ trình tốt nhất
• Tay chân của các bạn lúc nào cũng phải có 3 điểm tiếp xúc với vách đá (2 tay một chân hoặc 2 chân một tay).
• Khi leo bằng tay không thì không nên mang găng tay, nhưng khi leo với dây thừng thì phải mang để tránh phồng dộp tay.
• Trọng lượng cơ thể nằm ở trung tâm của bàn chân. Bàn chân chịu toàn bộ sức nặng của cơ thể, tay giữ thăng bằng .
• Đế giầy tiếp xúc với vách đá càng nhiều càng tốt. Không nên chỉ bám ở đầu mũi giầy hay cạnh của giầy.

HÌNH

• Khi tạm nghỉ, giữ vị trí làm sao cho nơi bám của bàn tay nằm ngang với ngực. Vì với tư thế nầy, các bạn dễ giữ cho cơ thể thăng bằng theo ý muốn, trong khi tay được nghỉ ngơi tối đa.
• Không nên nằm sát tạo sự tiếp xúc tối đa vào vách đá (vì ở tư thế nầy, các bạn rất dễ bị trượt té), mà nên giữ cho trọng lực và trọng lượng nằm giữa hai bàn chân của các bạn.
• Di chuyển chậm chạp, nhịp nhàng, cân nhắc, thư giãn …
• Vạch sẵn trên lộ trình những bước dự kiến tiếp theo, và cố di chuyển theo những bước đó.
• Tận dụng các điểm bám cho bàn tay, các điểm tựa cho bàn chân có sẵn trong tự nhiên.
• Tránh chồm, vượt những khoảng cách xa mà kết thúc với tư thế xoải tay chân như chim.

HÌNH

• Khi leo lên hoặc xuống một vách núi hẹp, giếng, hang động nhỏ… các bạn phải biết cách sử dụng mông, lưng, chân, tay, vai, đầu gối…


HÌNH


NHỮNG ĐIỀU CẦN GHI NHỚ :

• Bên sự an toàn mong manh, các bạn không nên liều lĩnh vượt quá giới hạn khả năng của mình.
• Phải dùng các loại dây chuyên dụng, đúng cỡ, đúng cách.
• Không ôm nhau trên vách đá
• Ướm thử các gò đá trước khi đặt toàn bộ trọng lượng lên.
• Đừng gỡ những gò đá đã có sự liên kết
• Không nên sử dụng đầu gối, cùi chỏ, mông … (trừ phi các bạn leo trong khe núi hẹp…)
• Không nên leo đơn độc một mình.
• Không nhảy phóng, chụp bám bất thình lình.
• Tránh những nơi đá có rêu phủ, ẩm ướt
• Lau chùi đế giầy cho sạch trước khi leo.
• Không sử dụng cây cỏ làm điểm bám tay chân.
• Không đu mình bằng dây leo, cành cây, bụi cỏ…
• Không đeo găng tay khi leo bám.
• Tháo các trang sức, đồng hồ, nhẫn … trước khi leo.

LEO KHI CÓ TRANG BỊ

Khi leo vách đá có trang bị thì tuy có chậm chạp và lỉnh kỉnh hơn, nhưng lại an toàn hơn.
Về kỹ thuật thì cơ bản giống như leo bằng tay không, nhưng chúng ta còn phải biết cách sử dụng dây, piton (nêm đóng), chock (nêm giắt, nêm chèn), búa leo núi…

PITON (nêm đóng)
Piton là một dụng cụ dùng để đóng vào những kẽ nứt của đá, để quàng dây leo núi vào, làm tăng thêm sự an toàn cho người leo núi. Có nhiều loại piton như : Vertical, Horizontal, Angle, Wafer… Mỗi loại dành cho một vị trí và địa thế khác nhau.

HÌNH

Khi được đóng cắm trong một vị trí thích hợp, piton có thể chịu một lực trì kéo hơn 100 cân Anh (45kg) đối với piton Wafer, và 2000 cân Anh (900kg) đối với piton Angle…
Piton có lợi thế hơn chock (nêm chèn) là có thể xoay trở đủ mọi hướng và dễ tìm ra vị trí để đóng. Người ta thường kết hợp piton với khoen bầu dục carabiner (snaplink) để tiện lợi trong việc sử dụng.
Khi chọn những vị trí thích hợp để đóng piton, các bạn phải tìm hiểu về tính chất của đá. Lắng nghe âm thanh dội lại từ đá, khi dùng búa để gõ thử. Nếu âm thanh cao và trong là đá tốt, có thể đóng piton. Nếu âm thanh trầm và đục là đá mềm, dễ vỡ, không nên đóng. Ngoài ra, các bạn cần phải biết chọn đúng địa thế và đặt đúng vị trí thích hợp của từng loại piton thì mới hiệu quả.

HÌNH

Nhổ piton :
Các bạn có thể nhổ piton để thu hồi, bằng cách dùng búa leo núi đánh tới đánh lui cho đến khi piton lỏng thì lấy dây đai của búa làm một nút thòng lọng để nhổ ra.
Ghi nhớ : Không sử dụng loại piton đã dùng rồi (second hand) hoặc đã bị xeo nạy, uốn lại, có tì vết… rất nguy hiểm cho người leo núi.

Búa đóng piton (piton hammer)
Búa đóng piton là loại búa leo núi chuyên dụng, dùng để :
- Đóng và nhổ piton
- Thử tính chất của đá
- Tạo khe nứt ở đá
- Gõ sạch những mảng dơ (Không dùng để móc, bám…)

Chock (Nêm chèn)
Đây cũng là một dụng cụ có công dụng như piton, dùng để hỗ trợ cho các vận động viên leo núi. Nhưng thay vì đóng vào kẽ đá như piton, thì chock lại giắt chèn vào những khe đá thích hợp (khe hình chữ V hoặc khe trong lớn ngoài nhỏ…) Có nhiều loại chock như : Hexagoanl, Wired Stoppers, Cammed Chock… mỗi loại lại có nhiều kích cỡ khác nhau.
Ưu điểm của chock là dễ giắt chèn, dễ tháo gỡ để thu hồi, an toàn. Nhưng có nhược điểm là khó tìm ra khe thích hợp.

HÌNH

Tóm lại : Tuy vách đá là một chướng ngại nguy hiểm và khó vượt, nhưng nếu các bạn đã huấn luyện và trang bị đầy đủ thì vẫn khắc phục được.
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
TÌM PHƯƠNG HƯỚNG

Để thoát ra khỏi một vùng xa lạ hoang vu, để đến đúng điểm đã định trước…. các bạn nhất thiết phải tìm ra phương hướng.
Trong thực tế, có nhiều người vì không định hướng được, nên đã đi quanh quẩn mãi trong một vùng, và đôi khi trớ trêu thay, lại quay về đúng nơi khởi điểm.

CÁC PHƯƠNG HƯỚNG

Nhìn vào hoa gió dưới đây chúng ta thấy có 4 hướng chính là :

HÌNH

1. Đông hay East viết tắt E.
2. Tây hay West viết tắt W.
3. Nam hay South viết tắt S.
4. Bắc hay North viết tắt N.

(Người ta còn dùng HOA BÁCH HỢP để chỉ hướng Bắc thay cho chữ N).

Bốn hướng phụ là :

1. Đông Bắc – Viết tắt là NE.
2. Đông Nam – Viết tắt là SE.
3. Tây Bắc – Viết tắt là NW.
4. Tây Nam – Viết tắt là SW.

Ngoài ra chúng ta còn có 8 hướng bàng là :

1. Bắc Đông Bắc (NNE)
2. Đông Đông Bắc (ENE)
3. Đông Đông Nam (ESE)
4. Nam Đông Nam (SSE)
5. Nam Tây Nam (SSW)
6. Tây Tây Nam (SWW)
7. Tây Tây Bắc (WSW)
8. Bắc Tây Bắc (NNW).

Như vậy, chúng ta có 4 hướng chính – 4 hướng phụ và 8 hướng bàng ( và 16 hướng phụ thật nhỏ ).


CÁC CÁCH TÌM PHƯƠNG HƯỚNG.

Có nhiều cách để tìm phương hướng. Sau đây là những cách thông thường, dễ sử dụng.
1. Bằng mặt trời :
Đây là cách giản dị nhất mà ai cũng biết, nhất là ở những vùng nhiệt đới, nắng nhiều.
Buổi sáng, mặt trời mọc ở hướng Đông và buổi chiều lặn ở hướng Tây. Nếu các bạn đứng dang thẳng hai tay, tay mặt chỉ hướng Đông, tay trái chỉ hướng Tây, thì trước mắt là hướng Bắc, sau lưng là hướng Nam.
Nhưng các bạn cần lưu ý là buổi trưa, mặt trời hơi chếch về hướng Nam. Như thế thì khoảng 9 – 10 giờ sáng, mặt trời ở hướng Đông Nam. Khoảng 15 – 16 giờ chiều thì ở hướng Tây Nam.

2. Bằng đồng hồ và mặt trời :
a) Bắc bán cầu :
Dùng một que nhỏ (cỡ cây tăm), cắm thẳng góc với mặt đất, que sẽ cho ta một cái bóng. Ta đặt đồng hồ sao cho bóng của cây tăm trùng lên kim chỉ giờ.
Đường phân giác của góc hợp bởi kim chỉ giờ và số 12 cho ta hướng Nam, như vậy đối diện là hướng Bắc.

b) Nam bán cầu :
Các bạn xoay đồng hồ sao cho bóng que trùng lên trên số 12. Đường phân giác của góc hợp bởi số 12 và kim chỉ giờ sẽ cho ta hướng Bắc. Như vậy, hướng đối diện là hướng Nam.

3. Bằng gậy và mặt trời.
Phương pháp 1 :
Còn gọi là phương pháp Owendoff. Dùng một cây gậy thẳng dài khoảng 90 cm, cắm thẳng góc với mặt đất. Ta ghi dấu đầu bóng của gậy, lần thứ nhất gọi là điểm A.
Sau đó khoảng 15 phút, bóng gậy sẽ di chuyển qua chỗ khác, ta lại đánh dấu bóng của đầu gậy thứ hai, gọi là điểm B. Nối điểm A và B lại, ta có một đường thẳng chỉ hướng Đông Tây (điểm A chỉ hướng Tây, còn điểm B chỉ hướng Đông). Và dĩ nhiên hướng Nam Bắc thì thẳng góc với hướng Đông Tây.

Phương pháp 2 :

Phương pháp nầy lâu hơn phương pháp 1 chừng vài giờ nhưng khá chính xác.
- Dùng một cây gậy thẳng dài khoảng một mét, cắm thẳng góc với mặt đất, trước giữa trưa.

HÌNH
- Vẽ một cung của vòng tròn từ điểm A với tâm của gốc cây gậy.
- Giữa trưa, bóng gậy sẽ ngắn lại, nhưng quá trưa, bóng gậy sẽ chạm lại vòng tròn, ta đánh dấu điểm đó gọi là điểm B.
- Chia đường AB ra làm hai phần đều nhau. Kẻ đường thẳng từ chân gậy đi qua giữa đoạn AB, sẽ cho ta hướng Bắc.

4. Bằng sao.
Ban đêm các bạn có thể dùng sao để định hướng. Có nhiều sao và chòm sao để tìm phương hướng, nhưng dễ nhất là những chòm sao sau đây :
a) Sao Bắc Đẩu :
Muốn tìm sao Bắc Đẩu, trước hết, các bạn hãy tìm cho được chòm Đại Hùng Tinh.


HÌNH

Chòm Đại Hùng tinh giống như cái muỗng lớn, gồm 7 ngôi sao, các bạn lấy 2 ngôi sao đầu của cái muỗng, kéo dài một đoạn thẳng tưởng tưởng bằng 5 lần khoảng cách của 2 ngôi sao đó, các bạn sẽ gặp một ngôi sao sáng lấp lánh, dễ nhận thấy, đó là sao Bắc Đẩu.
Cũng có thể tìm thấy sao Bắc Đẩu từ chòm Tiểu Hùng tinh. Chòm nầy cũng có 7 ngôi sao, nhưng nhỏ hơn Đại Hùng tinh. Ngôi sao chót của cái đuôi Tiểu Hùng tinh là sao Bắc Đẩu.

b) Sao Liệp Hộ (Orion)
Còn gọi là sao Cày, sao Ba, Thần Săn, Chiến Sĩ ….
Chòm Liệp Hộ có hình dáng một người mang kiếm ngang thắt lưng (thắt lưng là 3 ngôi sao sáng xếp thành hàng ngang, còn 3 ngôi sao hơi mờ là thanh kiếm).

Nếu các bạn vạch một đường thẳng tưởng tượng từ thanh kiếm đi qua ngôi sao Capella (sao Thiên Dương) là hướng tới Bắc Cực.

HÌNH

Chòm sao nầy rất dễ nhận diện dưới bầu trời Việt Nam từ chập tối tháng 11 năm nầy cho đến tháng 5 năm sau.
c) Chòm Nam Thập (Thánh Giá).
Còn gọi là Nam Tào, Thập Tự Phương Nam. Gồm 4 ngôi sao xếp thành hình chữ Tậhp. Sao Tam Thập ở khoảng giữa chòm sao Nhân Mã và Thiên Thuyền, là những ngôi sao sáng và rõ, cho nên chòm Nam Tậhp rất dễ nhận diện.
Ở Nam Cực, không có ngôi sao nào nằm ngay điểm Cực Nam như sao Bắc Đẩu ở Cực Bắc, cho nên người ta chỉ dựa vào những chòm sao xoay quanh điểm Cực Nam để định hướng, mà sao Nam Thập là chòm sao dễ nhận thấy nhất.

HÌNH

Ta gọi đường chéo dài của sao Nam Thập là đoạn AB. Các bạn kéo đoạn AB đó dài ra 4 lần rưỡi, định một điểm tưởng tượng. Điểm tưởng tượng đó cho ta hướng Nam địa dư. Ở Việt Nam, chúng ta chỉ có thể thấy sao Nam Thập từ chập tối trong khoảng tháng 5 đến tháng 7 hàng năm.

5. Bằng mặt trăng.
- Trăng Thượng Tuần : (từ mùng 1 đến mùng 10 âm lịch). Nhưng chỉ thấy rõ trăng từ mùng 4 âm lịch. Trăng khuyết, hai đầu nhọn quay về hướng đông.
- Trăng Trung Tuần : (từ 20 đến 29 – 30 âm lịch). Nhưng hết thấy rõ trăng từ 25 âm lịch. Trăng khuyết, hai đầu nhọn quay về hướng Tây.
Ngoài ra, các bạn có thể vạch một đường thẳng tưởng tượng đi qua hai đầu nhọn của mặt trăng thẳng xuống đất, điểm tiếp xúc đó là hướng Nam.

HÌNH

6. Bằng gió.
Việt Nam chúng ta nằm trong vùng “Châu Á gió mùa” với hai loại gió chính. Gió mùa Đông Bắc và Gió mùa Tây Nam.
- Gió mùa Đông Bắc hoạt động kéo dài từ tháng 10 năm nầy cho đến tháng 4 năm sau, thổi từ Đông Bắc đến Tây Nam.
- Gió mùa Tây Nam kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm, thổi từ Tây Nam đến Đông Bắc.
Muốn biết gió thổi hướng nào, các bạn nhìn các ngọn cây, ngọn cỏ, lá cờ…
- Cầm ít cát bụi, giấy vụn… thả xuống xem gió cuốn đi hướng nào.
- Lau sạch một ngón tay, ngậm vào miệng chừng 10 giây, lấy ra đưa lên cao, nếu ngón tay lạnh phía nào là gió thổi từ phía đó.

7- Bằng rêu mốc.
Gặp thời tiết xấu, không nhìn rõ mặt trời, trăng, sao… và không có địa bàn, các bạn có thể phỏng định phương hướng bằng cách nhìn vào thân cây. Phía nào ẩm ướt nhiều là hướng Bắc (vì mặt trời không đi qua hướng nầy). Từ đó các bạn suy ra các hướng khác.


SỬ DỤNG ĐỊA BÀN.

Cách tìm phương hướng dễ dàng chính xác và nhanh chóng nhất là dùng địa bàn.
Có nhiều loại địa bàn lớn nhỏ, đơn giản, tinh vi, khác nhau, nhưng tựu trung có thể phân ra làm hai loại : Loại kim di động và loại số di động.

LOẠI KIM DI ĐỘNG.

Loại nầy có một kim từ tính di động, kim nầy xoay trên một trục và luôn luôn chỉ hướng Bắc Nam. Loại nầy cũng có hai loại.
1. Loại nắp chết, có ghi độ hoặc không ghi độ.
2. Loại có nắp xoay bằng tay được, trên vòng xoay đó có chia 360° có thể có khe nhắm, có mũi tên chỉ hướng cần tìm hay “trục di chuyển”.

HÌNH

CÁCH SỬ DỤNG ĐỊA BÀN CÓ KIM DI ĐỘNG

HÌNH

Phương pháp sử dụng địa bàn kết hợp với bản đồ
- Định vị bản đồ
- Đặt địa bàn theo lộ trình di chuyển trên bản đồ (H1)
- Xoay mặt tròn địa bàn sao cho chữ N nằm ngay đầu đỏ của kim từ tính (H2).
- Cầm địa bàn trên tay, xoay người và cả địa bàn làm sao cho đầu đỏ của kim từ tính nằm ngay chữ N (North = Bắc)
- Giữa nguyên vị trí, nhắm theo mũi tên chỉ hướng di chuyển để xác định mục tiêu sẽ đến (H3).
Tìm một hướng đã biết số độ.
- Cầm địa bàn thăng bằng trên bàn tay, đưa trước mặt.
- Vặn số độ đã biết nằm ngay mũi tên làm “trục di chuyển”.
- Xoay người sao cho đầu kim màu đỏ nằm ngay chữ N (Bắc), tức là song song với những vạch định hướng.
- Nhìn theo hướng “trục di chuyển” để tìm mục tiêu.
Xác định số độ của hướng.
- Cầm địa bàn thăng bằng trên tay đưa trước mặt.
- Xoay trục di chuyển về hướng cần xác định.
- Vặn nắp địa bàn sao cho chữ N nằm ngay trên đầu đỏ của kim di động từ tính.
- Ghi nhận số độ hiện ra ngay trên “trục di chuyển”.

LOẠI ĐỊA BÀN MẶT TRÒN DI ĐỘNG

Tiêu biểu cho loại nầy là “địa bàn quân sự”. Là một dụng cụ rất tinh vi, chính xác và dễ sử dụng. Gồm có những thành phần sau đây :
1. Khoen đồng : Dùng để luồn ngón cái, giữ địa bàn khi nhắm hướng và khoá nắp địa bàn.
2. Nắp địa bàn: Có một khe hình chữ nhật, giữa có một sợi dây nhỏ gọi là “chỉ nhắm hướng”, để nhắm ban ngày. Hai đầu chỉ nhắm hướng có hai chấm lân tinh dùng để nhắm ban đêm. Nắp được gắn với thân địa bàn bằng một bản lề.
3. Mặt địa bàn : Gồm có hai mặt kính –
- Mặt thứ nhất : xoay tròn được, và có 120 nấc (mỗi nấc bằng 3 độ). Trên mặt kính có một vạch và một chấm lân tinh hợp với nhau thành một góc 45 độ, góc là trục của địa bàn.
- Mặt thứ hai : Cố định, có một vạch đen chuẩn hướng về nắp địa bàn.
4. Mặt kính khắc số di động : Được gắn vào một thanh nam châm và xoay quanh một trục. Trên đó, có hai mặt số.
- Vòng ngoài : Màu đen, chỉ ly giác. Có 6400 ly giác.
- Vòng tròn : Màu đỏ, chỉ độ. Có 360 độ.
Trên mặt kính di động nầy có những chữ E (East = Đông), W (West = Tây). Và một tam giác lân tinh chỉ về hướng Bắc hay 6400 ly giác hoặc 360 độ.
5. Bộ phận nhắm : Gồm có khe nhắm và kính phóng đại.
6. Thước đo : Nằm ngoài cạnh trái của địa bàn khi mở ra, sử dụng cho những bản đồ có tỷ là 1/2500.
Loại mắt tròn di động

HÌNH

Cách sử dụng địa bàn quân sự .
- Mở và ấn khoen đồng xuống phía dưới.
- Mở nắp và bẻ thẳng góc với mặt địa bàn.
- Mở bộ phận ngắm xiên 45 độ so với mặt địa bàn.
- Luồn ngón cái tay phải qua khoen đồng.
- Ngón tay trỏ phải ôm quanh thân địa bàn, ba ngón còn lại đỡ thân địa bàn.
- Tay trái ôm và nâng bàn tay phải, hai cùi chỏ ngang vai.
- Đưa địa bàn sát vào mắt, lấy đường ngắm.

HÌNH

Muốn tìm số độ hay ly giác của một hướng.
Đưa địa bàn lên nhắm một đường thẳng tưởng tượng xuất phát từ khe nhắm qua chỉ nhắm và hướng thẳng đến mục tiêu. Liếc mắt nhìn qua kính phóng đại và đọc số độ hay ly giác nằm dưới vạch chuẩn đen.

Múôn tìm hướng tương ứng với số độ hay ly giác đã biết.
Các bạn chỉnh địa bàn theo số độ hoặc ly giác đã được cho, làm sao cho số độ hoặc ly giác đó nằm dưới vạch chuẩn đen. Giữ như thế rồi đưa lên mắt, vừa lấy đường ngắm vừa kiểm tra số độ và ly giác.
Kéo một đường thẳng tưởng tượng từ khe nhắm qua chỉ nhắm xem có vật gì để làm mục tiêu hay không . Nếu có, các bạn ghi nhận điểm móc đó. Nếu không có hoặc quá xa, khó xác định, các bạn tìm những mục tiêu phụ gần đó.
Ngoài việc tìm phương hướng, địa bàn còn có nhiều công dụng khác như :
- Thay thế thước đo góc.
- Định hướng bản đồ.
- Đo độ cách giác giữa hai điểm ngoài địa thế và trên bản đồ.
- Kẻ phương giác ô vuông trên bản đồ.
- Bẻ góc khi di chuyển.
- Đi theo một hướng ban ngày.
- Đi theo một hướng ban đêm.
- Làm mật hiệu…
- ………………

THIẾT BỊ ĐỊNH VỊ TOÀN CẦU GPS (GLOBAL POSITIONING SYSTEMS)

Ngày nay, người ta đã tung ra thị trường các loại thiết bị định vị toàn cầu bằng tinh thể lỏng rất gọn, nhẹ. Giúp cho các nhà thám hiểm, phiêu lưu, khai phá, du lịch… biết được vị trí chính xác của mình trên hành tinh nầy qua vệ tinh. Nếu có thiết bị nầy, chúng ta khó mà bị thất lạc, dù trong rừng rậm, giữa đại dương hay trên sa mạc.

Sử dụng thiết bị SILVA GPS COMPASS
Trước khi rời khỏi nơi đậu xe, bạn bấm vào thiết bị, ghi nhớ chỗ đậu xe là “MY CAR” . Sau đó, các bạn cứ việc lên đường. Vào chiều tối, khi các bạn dừng chân cắm trại, hãy nhập vào bộ nhớ của GPS vị trí đất trại là “LOCATION 1” . Ngày hôm sau, các bạn rời đất trại và tiếp tục chuyến dã ngoại. Buổi chiều, các bạn muốn quay về lại đất trại – các bạn bấm hiển thị lên màn hình “LOCATION 1” và xê dịch thiết bị cho đến khi màn hình hiển thị hướng đi về “Vị Trí 1”. Cứ đi theo hướng đó, các bạn sẽ về đất trại. Ngày kế tiếp, các bạn muốn quay về xe của mình, các bạn bấm “MY CAR”. GPS sẽ hướng dẫn các bạn phương giác đi thẳng về xe của mình.

HÌNH

Thiết bị SILVA GPS COMPASS có thể ghi nhớ 79 vị trí. Ngoài ra, thiết bị còn sử dụng cho nhiều chức năng khác.

GIỮ HƯỚNG ĐI

Sau khi đã nhận được hướng mà chúng ta cần phải di chuyển, thì các bạn phải biết cách giữ đúng hướng đi để khỏi bị lệch.

Khi không có địa bàn
Nếu không biết phương pháp thì cứ mỗi một đoạn, các bạn lại phải mất công leo lên cao để kiểm tra lại, nếu không thì sẽ bị lạc. Vì vậy, các bạn cần tìm một vật chuẩn hay một hướng chuẩn để đi đến.
- Nếu vật chuẩn to lớn hay dễ nhìn thấy (như đỉnh núi, cây to giữa khoảng trống…) thì khá dễ dàng, các bạn chỉ cần nhắm vào đó mà đi tới.
- So sánh góc của hướng gió với hướng di chuyển, giữ làm sao để không bị lệch (lưu ý khi trời trở gió)
- Nếu là ban đêm, cố gắng tìm cho được sao Bắc Đẩu hay sao Nam Tào để làm điểm chủân, và luôn luôn giữ đúng góc giữa điểm chuẩn và hướng di chuyển.
- Nếu ở trong rừng, các bạn nhắm một đường thẳng tưởng tượng xuyên qua một số vật chuẩn dễ nhận thấy (gốc cây, gộp đá, gò mối… ). Chúng ta tạm gọi vật chuẩn gần chúng ta nhất là điểm 1, tiếp theo là điểm 2… chúng ta đi thẳng tới điểm 1, và từ điểm 1 chúng ta nhắm một đường thẳng tiếp theo đi qua điểm 2, (bây giờ nó là điểm 1) đến một vật chuẩn khác… và cứ tiếp tục như thế, chúng ta giữ được hướng đi.

Khi có địa bàn
Nếu đã biết được hướng cần phải đi, các bạn dùng địa bàn để gióng hướng và lựa một điểm chuẩn nào dễ nhận thấy nhất trên hướng đi để làm đích đến. Sau khi tới nơi, các bạn lại dùng địa bàn để nhắm một điểm tiếp theo. Làm như thế, cho dù chúng ta có đi vòng vèo để tránh chướng ngại trong rừng, thì chúng ta vẫn giữ đúng hướng đi.

HÌNH

BẺ GÓC TRONG KHI DI CHUYỂN

Trên đường di chuyển theo hướng đã định sẵn, nếu gặp những chướng ngại vật lớn (đầm lầy, ngọn đồi, khúc quanh con sông…) mà các bạn không thể hay không muốn vượt qua, mà vẫn giữ đúng hướng đi, các bạn có thể dùng phương pháp bẻ góc và đếm bước để giữ hướng đi. Khi bẻ góc, tuỳ theo chướng ngại, các bạn có thể bẻ góc vuông hay bẻ góc tam giác vuông cân, và phải đếm bước để tính khoảng cách.

Bẻ góc vuông

Quy luật :
- Muốn rẽ phải một góc vuông, lấy trị số hướng đang đi cộng với 90°. Nếu trị số hướng đi lớn hơn 270° thì trừ đi 270°.
- Muốn rẽ trái một góc vuơng, lấy trị số hướng đang đi trừ với 90°. Nếu trị số hướng đi nhỏ hơn 90° thì cộng với 270°.
Thí dụ :
Chúng ta đang đi về hướng 30° thì gặp một ngọn đồi :
- Lần thứ nhất, chúng ta rẽ phải một góc vuông : 30° + 90° = 120°. Di chuyển theo hướng mới nầy (120°), chúng ta đếm được 900 bước đôi (ta gọi đoạn nầy là AB).
- Lần thứ hai, chúng ta rẽ trái một góc vuông : Áp dụng theo quy tắc, ta có hướng đang đi là 120° - 90° = 30°. Di chuyển theo hướng nầy cho đến khi qua khỏi chướng ngại vật (ta gọi đoạn nầy là BC).
- Lần thứ ba, chúng ta rẽ trái một góc vuông : Áp dụng quy tắc ta co hướng đang đi là 30° (nhỏ hơn 90°) như vậy : 30° + 270° = 300°. Di chuyển theo hướng nầy, chúng ta đếm trả lại 900 bước đôi, (ta gọi đoạn nầy là CD. Như thế AB = CD).
- Lần thứ tư, chúng ta rẽ phải một góc vuông : Áp dụng quy tắc ta có hướng đang đi là 300° (lớn hơn 270°) như vậy : 300° - 270° = 30°. Như vậy là chúng ta đã trở lại hướng đi ban đầu.

HÌNH

Rẽ góc tam giác vuông cân
Người ta thường sử dụng công thức: rẽ góc lần đầu 45°, góc lần thứ hai 90°, và trở lại hướng ban đầu.
Quy tắc rẽ 45°:
- Rẽ trái : Lấy trị số hướng đi trừ cho 45°. Nếu trị số hướng đi nhỏ hơn 45° thì cộng với 315°.
- Rẽ phải : Lấy trị số hướng đi cộng cho 45°. Nếu trị số lớn hơn 315° thì trừ với 315°.
Thí dụ :
Chúng ta đang đi về hướng 90°, thì gặp một cái hồ.
- Lần thứ nhất : rẽ trái 45°. Ta có : 90° - 45° = 45°. Chúng ta đếm bước và đi theo hướng nầy cho đến khi qua khỏi chướng ngại.
- Lần thứ hai : rẽ phải 90°. Ta có 45° + 90° = 135°. Chúng ta đếm bước trả lại bằng số bước mà chúng ta đã rẽ lần thứ nhất.
- Lần thứ ba chúng ta tự động quay về hướng cũ = 90°.

HÌNH

PHƯƠNG GIÁC THOÁI

Phương giác thoái (hay phương giác nghịch) là phương giác ngược chiều với phương giác tiến. Nói một cách khác là hai phương giác trên cách nhau một nửa vòng tròn (tức 3200 ly giác hay 180°). Do đó, chúng ta có hệ thức sau :
- Phương giác tiến + 3200 ly giác = phương giác thoái
- Phương giác tiến + 180° = phương giác thoái
Lưu ý :
- Nếu phương giác tiến nhỏ hơn 3200 ly giác hay 180°, thì chúng ta cộng thêm 3200 ly giác hay 180°.
- Nếu phương giác tiến lớn hơn 3200 ly giác hay 180°, thì chúng ta trừ đi 3200 ly giác hay 180°.
Thí dụ:
- Phương giác tiến là 4600 ly giác.
- Phương giác thoái sẽ là : 4600 – 3200 = 1400 ly giác
- Phương giác tiến là 80°
- Phương giác thoái sẽ là : 80° + 180°= 260° .
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-01-14 03:56:05NuHiepDeThuong>
ĐỌC VÀ SỬ DỤNG BẢN ĐỒ


Bản đồ là một bức hoạ theo tỷ lệ. Phản ảnh đầy đủ của một phần mặt đất, trên đó ghi rõ những đặc điểm thiên nhiên và nhân tạo như : Núi, rừng, sông, rạch, đường xá, đô thị , xóm làng, chùa chiền, nhà thờ... bằng những ước hiệu quốc tế, có hình thể và màu sắc khác nhau.

ƯỚC HIỆU ĐỊA HÌNH

Các cảnh vật ngoài địa thế như sông, suối, phố xá, nhà ở, đường sắt, đường bộ ... Đều được ghi lại trên bản đồ không phải bằng những hình ảnh mà bằng ước hiệu. Ước hiệu không vẽ theo tỷ lệ, nhưng tôn trọng chiều hướng và vị trí.
Tất cả bản đồ quân sự đều có bản ghi chú ước hiệu ở phía dưới, nếu sử dụng nhiều, chúng ta sẽ quen.

HÌNH

Có 5 loại ước hiệu :
1. Đường giao thông : Đường sắt, đường nhựa, đường đất, đường mòn.
2. Thuỷ lộ : Sông , suối, mương, kênh ....
3. Thảo mộc : Rừng rậm, rừng thưa, đồn điền ...
4. Kiến trúc : Nhà cửa, phố xá, làng mạc, thành luỹ, tàn tích, phi trường…
5. Linh tinh : Địa giới, vòng cao độ…

MÀU SẮC CỦA ƯỚC HIỆU

1. Màu đỏ : Chỉ xa lộ, đường nhựa, phố thị…
2. Màu xanh lam : Chỉ dòng nước hay những gì thuộc về nước (sông, suối, biển…)
3. Màu xanh lục - (đậm hay nhạt) : Chỉ thảo mộc, cánh rừng.
4. Màu đen : Chỉ làng mạc, nhà cửa, công trình kiến trúc.
5. Màu nâu : Chỉ vòng cao độ, thế đất …

TỶ LỆ XÍCH

Tỷ lệ bản đồ là tỷ số giữa khoảng cách hai điểm đo được trên bản đồ so với khoảng cách thực sự ở ngoài địa thế.

Tỷ lệ = Khoảng cách 2 điểm trên bản đồ
Khoảng cách 2 điểm ngoài địa thế

Thí dụ : Một đoạn đường từ A đến B dài 500 mét. Các bạn chỉ vẽ trên bản đồ dài 20mm. Vậy các bạn đã vẽ con đường AB theo tỷ lệ là 20/500.000 hay là 1/25.000.
Có hai loại tỷ lệ : Tỷ lệ số và Tỷ lệ hoạ.
1. Tỷ lệ số : Là tỷ lệ được viết bằng phân số, tử số luôn luôn là số một (1) và mẫu số là số chẳn.
Thí dụ : 1/50.000
Tỷ lệ 1/50.000 có nghĩa là một ly (mm) trên bản đồ thì bằng 50.000 ly (mm) ở ngoài địa thế.
- Tính khoảng cách trên bản đồ.
Ta gọi :
T = Tỷ lệ của bản đồ
K = Khoảng cách ngoài địa thế
K = Khoảng cách trên bản đồ
Chúng ta có công thức :
K = K/T

Thí dụ : Chúng ta biết khoảng cách (K) ở ngoài địa thế là 3.500 mét ( tức 3.500.000mm). Nếu dùng bản đồ tỷ lệ 1/25.000 ta có :

K = 350.000mm = 140mm. Vậy k = 140mm
T = 25.000


Như vậy : muốn tìm khoảng cách (k) trên bản đồ, chúng ta lấy khoảng cách (K) ngoài địa thế, chia cho tỷ lệ bản đồ (T).

- Tính khoảng cách ngoài địa thế :

Chúng ta dùng công thức :

K = k x T

Thí dụ : Chúng ta biết khoảng cách trên bản đồ là 140mm. Nếu dùng bản đồ tỷ lệ 1/25.000 chúng ta có :

(k) = 140mm x (T) = 25.000 =&gt; (K) = 3.500.000 mm.

Vậy K = 3.500.000 mm hay 3.500 mét.

Như vậy : Muốn tìm khoảng cách (K) ngoài địa thế, ta lấy khoảng cách (k) trên bản đồ nhân với tỷ lệ (T).


TỶ LỆ HOẠ.

Tỷ lệ hoạ là một hình vẽ giống như cái thước, in sẵn trên bản đồ, giúp ta suy ra khoảng cách trên bản đồ thành khoảng cách ngoài địa thế, mà không cần áp dụng công thức tỷ lệ số.


HÌNH


Khi sử dụng, chúng ta lấy số không (0) làm chuẩn, bên phải thước, chúng ta thấy ghi 1000m, 2000m… Có nghĩa là một khoảng cách như thế trên bản đồ thì bằng 1000 hoặc 2000 mét ở ngoài địa thế. Bên trái có ghi 1000m chia làm 10 phần, như vậy mỗi phần tương ứng với 100m ngoài địa thế.


CÁC HƯỚNG BẮC

Có 3 hướng Bắc :

1. Hướng Bắc Từ
2. Hướng Bắc Địa Dư
3. Hướng Bắc Ô vuông


1. Hướng Bắc Từ (Magnetic North)

Là hướng Bắc của kim nam châm địa bàn. Kim địa bàn thì nằm theo trục từ trường Bắc Nam của trái đất mà không nằm theo kinh tuyến của địa dư.
Đỉnh Bắc Từ (Magnetic North = MaN) cũng không nằm trên đỉnh điểm của Bắc Địa Dư (tức trục trái đất), mà nằm trên vùng đảo Bathurst, phía Bắc Canada. Hướng Bắc Từ có thể thay đổi từ 30° Tây ở Alaska đến 50 ° Đông ở Greenland. Nhưng nó không chênh lệch trên Đồng Giác Tuyến (Agonic Line), vì đỉnh điểm của Bắc Từ và đỉnh điểm của Bắc Địa Dư đều nằm trên tuyến nầy.

HÌNH


SỰ CHÊNH LỆCH CỦA BẮC TỪ VÀ BẮC ĐỊA DƯ


HÌNH


Hướng Bắc Từ thay đổi theo thời gian. Trên bản đồ, hướng Bắc nầy được tượng trưng bằng một đường thẳng, đầu có mũi tên 1 ngạnh.

2. Hướng Bắc Địa Dư (True North)

Là hướng Bắc của trái đất, xác định bởi những kinh tuyến Nam Bắc Cực. Hướng Bắc Địa Dư được tượng trưng bằng một đường thẳng, trên có hình sao 5 cánh.

3. Hướng Bắc Ô Vuông (Grid North)

Còn gọi là Hướng Bắc bản đồ, vì nó chỉ có trên bản đồ, theo phép chiếu U.T.M. (Universal Transverse Mercator). Hướng Bắc Ô Vuông được xác định bởi các trục Tung Độ của lưới ô vuông trong bản đồ. Hướng Bắc nầy được tượng trưng bằng một đường thẳng, phía trên có hai mẫu tự GN hay Y.


ĐỘ TỪ THIÊN.

Độ Từ Thiên là sự xê dịch của hướng Bắc Từ. Hướng Bắc Từ xê dịch hàng năm trong giới hạn 23°30’ Đông và 23°30’ Tây. Sự chuyển dịch nầy rất chậm, mỗi năm chỉ có 2 phút (2’). Cho nên để tròn một chu kỳ chuyển dịch, phải mất từ 7 đến 8 thế kỷ.

Nếu Hướng Bắc Từ nằm ở bên phải của Hướng Bắc Ô Vuông ta gọi nó là « Tiểu Độ Từ Thiên Đông » .

Nếu Hướng Bắc Từ nằm ở bên trái của Hướng Bắc Ô Vuông, ta gọi nó là « Tiểu Độ Từ Thiên Tây. »


Cách tính Tiểu Độ Từ Thiên .

Muốn tính Tiểu Độ Từ Thiên, chúng ta phải có 3 yếu tố.

1. Năm in bản đồ và năm sử dụng.
2. Trị số Độ Từ Thiên, năm in.
3. Độ Từ Thiên dịch sang Đông hay Tây.

Thí dụ :
1. Năm in bản đồ 1955 – Năm sử dụng 1955.
2. Trị số Từ Thiên năm in = 1° Đông.
3. Tiểu Độ Từ Thiên dịch sang Đông.

Vậy số năm chênh lệch giữa năm in và năm sử dụng là :

1995 – 1955 = 40 năm.

Trị số Độ Thiên Từ của 40 năm là :

40’ x 2’ (là độ xê dịch của 1 năm ) = 80’ hay 1°20’.

Vậy : Tiểu Độ Từ Thiên của năm 1995 là :

1° + 1°20’ - 2°20’ Đông.

Công dụng : Tiểu Độ Từ Thiên được sử dụng để tính toạ độ cho thật chính xác.


HỆ THỐNG CHIẾU TRÊN BẢN ĐỒ

Trái đất là một hình cầu, nhưng để vẽ bản đồ, người ta phải chiếu những hình thể của trái đất vào một hình trụ và hình nón, theo một phương pháp nhất định, để khi trải ra, sẽ có những mặt phẳng.

Có hai phương pháp chiếu thông dụng.
1. Phương pháp chiếu U.T.M. (Universal Transverse Mercator).
Phép chiếu U.T.M. được áp dụng cho những vùng từ 80° Bắc vĩ tuyến cho đến 80° Nam vĩ tuyến.

Trái đất được chiếu lên hình ống có trục thẳng đứng song song với trục trái đất. Sự bất lợi của phương pháp nầy là sự lớn dần về phía hai cực.
Thí dụ : Trên một bản đồ UTM. Vùng đất Greenland trông có vẻ lớn hơn Nam Mỹ, trong khi thật sự, vùng Nam Mỹ lớn hơn vùng Greenland gấp chính lần.

HÌNH

HỆ THỐNG Ô VUÔNG U.T.M.

Từ vĩ độ 80° Nam đến 80° Bắc, trái đất được chia thành 60 múi (theo chiều dọc) và 20 dãi (theo chiều ngang).
a) Múi : Múi rộng 6° hay 666km, theo kinh độ, được đánh số từ 1 đến 60, bắt đầu từ kinh tuyến 180° đi về Đông.
b) Dãi : Dãi rộng 8° hay 888km, vĩ độ, được đặt tên bằng một mẫu tự theo thứ tự từ Nam đến Bắc, bắt đầu từ C đến X (bỏ các mẫu tự A, B, I, O, Y.)
Múi và Dãi cắt nhau thành những vùng lưới ô vuông mang tên bằng số và mẫu tự.
- Số là tên của múi.
- Mẫu tự là tên của dãi.
Thí dụ : Nước Việt Nam nằm trong những lưới ô vuông mang chữ số : 47Q – 48R – 48Q – 49Q – 48P – 49P.

HÌNH

Trong hình bên, các bạn thấy Sài Gòn nằm ở lưới 48P – Huế là 48Q – Phan Thiết 49P…
Mỗi ô vuông của hình bên có chiều ngang là 6° hay 666km, chiều dọc là 8° hay 888km.

Ô VUÔNG CẠNH 100 CÂY SỐ (KM).

Mỗi vùng lưới ô vuông (múi và dãi) lại được chia thành nhiều ô vuông, mỗi cạnh 100 cây số.
Chiều ngang và chiều dọc của các ô vuông nầy được mang tên bằng một mẫu tự.
Mỗi ô vuông 100 cây số cạnh, đều mang hai mẫu tự, một mẫu tự chiều dọc, và một mẫu tự chiều ngang. Khi viết, các bạn viết chiều dọc (nằm bên trái) trước, chiều ngang (nằm phía dưới) sau.
Thí dụ :

HÌNH (bảng vuông)

Ô VUÔNG CẠNH 1 CÂY SỐ (KM)

Là ô vuông nhỏ nhất trong các bản đồ có tỷ lệ 1/12.500. 1/25.000 – 1/50.000 – 1/100.000. Được tạo nên bởi những đường thẳng song song với kinh tuyến và vĩ tuyến. Đây cũng là những trục « Tung độ » và « Hoành độ » mà chúng ta dùng để tìm toạ độ chính xác trên bảng đồ.

TOẠ ĐỘ

Toạ độ là một điểm trên bản đồ, được định vị bởi một dãy số của Tung độ và Hoành độ mà điểm đó trực thuộc.
Muốn tìm một toạ độ (X) trên bản đồ. Chúng ta chia trục Tung độ và Hoành độ (của ô vuông cạnh 1 cây số, trong đó có toạ độ muốn tìm) mỗi trục làm 10 phần bằng nhau.
1. Ta đọc chỉ số của đường Tung độ nằm bên trái của điểm toạ độ muốn tìm.
2. Tính xem điểm toạ độ chiếm bao nhiêu phần 10 của ô vuông, tính từ trái qua phải.
Thí dụ : Đường Tung độ mang số 63, và điểm toạ độ muốn tìm chiếm 7/10 ô vuông. Ta đọc 673. Đây là chòm số đầu.

HÌNH

3. Tiếp theo ta đọc chỉ số của đường Hoành độ nằm phía dưới của điểm toạ độ muốn tìm.
4. Tính xem điểm toạ độ chiếm bao nhiêu phần 10 của ô vuông, tính từ dưới lên.
Thí dụ : Đường Hoành độ mang số 25 và điểm toạ độ muốn tìm chiếm 4/10 của ô vuông. Ta đọc là 254. Đây là chòm số sau.
Như vậy : Toạ độ X trên bản đồ là 637.254.
Ghi chú : Lúc nào chúng ta cũng phải đọc chỉ số của Tung độ trước và chỉ số của trục Hoành độ sau.

Toạ độ UTM đầy đủ.

Toạ độ 6 số trên, chỉ cho chúng ta biết vị trí của nó trên một ô vuông. Muốn có một toạ độ đầy đủ để cho chúng ta biết vị trí đó nằm ở đâu trên trái đất, chúng ta phải có những yếu tố sau :
1. Ký hiệu vùng lưới ô vuông (múi và dãi) tđ : 48P…
2. Ký hiệu ô vuông 100 cây số cạnh. Tđ : YS – CP…
3. Chỉ số Tung độ và Hoành độ của ô vuông 1 cây số.
4. Chỉ số phần 10 của toạ độ trong ô vuông 1 cây số.

Thí dụ : Một toạ độ đầy đủ
48P – YS – 637.254.

Toạ độ UTM đơn giản

Toạ độ UTM đơn giản là toạ độ gồm có :
1. Ký hiệu của ô vuông 100 cây số cạnh.
2. Chỉ số Tung độ và Hoành độ của ô vuông 1 cây số.
3. Chỉ số của phần 10 toạ độ nằm trong ô vuông 1 cây số.

Thí dụ : YS. 637254.

Ghi chú :
Trên bản đồ người ta có ghi rõ ký hiệu của vùng lưới ô vuông (múi và dãi), ký hiệu của ô vuông 100 cây số, kèm theo lời chỉ dẫn cách viết toạ độ UTM đầy đủ.

CÁC HÌNH THỨC TOẠ ĐỘ

Có 4 loại toạ độ.
1. Loại 4 số (toạ độ Ki-lô-mét = 1000 mét)
2. Loại 6 số (toạ độ có khoảng cách 100 mét)
3. Loại 8 số (toạ độ có khoảng cách 10 mét)
4. Loại 10 số (toạ độ có khoảng cách 1 mét)

Loại số 4 thì quá tổng quát, không chính xác, nên người ta thường dùng loại 6 số như đã đề cập ở trên. Còn loại 8 số hoặc 10 số rất ít chính xác, thì người ta cần dùng đến thước « chỉ định điểm » .

THƯỚC CHỈ ĐỊNH ĐIỂM

Là một cái thước hình chữ L ngược, trên đó có ghi số đo củea 4 loại tỷ lệ 1/150.000 – 1/100.000 – 1/50.000 và 1/25.000 để sử dụng tương ứng với loại bản đồ mà chúng ta có. Muốn sử dụng thước « chỉ định điểm » , trước hết, chúng ta tìm ô vuông có chứa toạ độ muốn tìm.
- Đặt thước « chỉ định điểm » để cạnh dưới của thước trùng lên trục Hoành độ dưới cửa ô vuông.

HÌNH

- Xê dịch thước « chỉ định điểm » theo cạnh dưới của đường Hoành độ cho đến khi điểm toạ độ nằm ngay trên cạnh thẳng đứng của thước thì ngừng lại.
- Đọc chỉ số ta thấy trên thước định điểm.
Thước « chỉ định điểm » cho chúng ta toạ độ chính xác đến từng mét (tức toạ độ 10 số).

VÒNG CÀO ĐỘ

Cao độ của một điểm là chiều cao của điểm đó so với mực nước biển trung bình (giữa thuỷ triều lên và thuỷ triều xuống)
Vòng cao độ là đường vẽ trên bản đồ nối liền những điểm có độ cao bằng nhau, trên vòng đó, người ta ghi những con số chỉ độ cao mà nó mang.

Các vòng cao độ :
Có 4 loại vòng cao độ.
1. Vòng cao độ chính : Được in đậm nét và thường có mang những số ghi độ cao chính.
2. Vòng cao độ phụ : Là những vòng được vẽ giữa hai vòng cao độ chính, nét nhỏ hơn, thường không mang số.
3. Vòng cao độ bổ túc : Là những vòng cao độ được vẽ bằng những nét gián đoạn, để chỉ những độ cao chưa được xác định chính xác.
4. Vòng cao độ trũng : Có những gạch ngắn hình răng lược và được đánh số nhỏ dần từ ngoài vào trong. Đây là những thế đất trũng như hố, miệng núi lửa…

NHỮNG ĐƯỜNG BIỂU HIỆN VỀ VÒNG CAO ĐỘ


HÌNH


TƯƠNG QUAN GIỮA ĐỊA THẾ VÀ VÒNG CAO ĐỘ


HÌNH

ĐỒI : Nếu đồi có độ dốc đều nhau thì khoảng cách vòng cao độ cũng đều nhau.


HÌNH


VÁCH ĐỨNG : Nếu địa thế là một vách đứng thì chúng ta thấy những vòng cao độ chồng khít lên nhau.


HÌNH


VÙNG TRŨNG - (BỒN ĐỊA) : Nếu là một vùng đất trũng (người ta còn goị là « bồn địa » ), thì những vòng cao độ có hình răng lược.


HÌNH



ĐỊNH HƯỚNG BẢN ĐỒ

Định hướng bảnđồ là làm thế nào để đặt trùng các phương hướng trên bản đồ với các phương hướng ở ngoài địa thế.
Có nhiều cách định hướng bản đồ.
1. Bằng địa bàn thường :
Đặt địa bàn lên bản đồ. Xoay bản đồ sao cho kim địa bàn nằm song song với trục Tung độ của bản đồ.
2. Bằng địa bàn quân sự :
Đặt cạnh trái của địa bàn (phần có thước đo) lên trùng với trục Tung độ của bản đồ và giữ cho địa bàn không xê dịch. Xoay bản đồ cho đến khi kim từ tính (có hình tam giác ở đầu) song song với hướng Bắc từ ghi chú trên bản đồ.

HÌNH

3. Bằng chi tiết địa thế :
Đây là trường hợp các bạn không có bản đồ trong tay. Căn cứ vào hướng của những chi tiết ngoài địa thế như con đường, dòng sông, đồi núi, công trình kiến trúc… hoặc các hướng mặt trời, trăng sao….để xác định phương hướng mà đặt bản đồ cho ph2u hợp với chi tiết trên đó.
Thí dụ : Chúng ta có vị trí là 1 là đỉnh một ngọn đòi. Vị trí 2 là chân của một ngọn núi. Các bạn xoay bản đồ làm sao cho hướng chi tiết trên bản đồ trùng hướng với chi tiết ngoài địa thế.


HÌNH


XÁC ĐỊNH ĐIỂM ĐỨNG

Là làm thế nào để biết chúng ta đang đứng ở đâu trên bản đồ. Hay là xác định một điểm trên bản đồ tương ứng với một điểm ngoài địa thế.
Có nhiều phương pháp để xác định điểm đứng nhưng những phương pháp sau đây là đơn giản và dễ dàng.

1. Đứng tại điểm chuẩn của địa thế :
Tìm và đứng ngay vào một điểm chuẩn đặc biệt của địa hình mà các bạn có thể tìm thấy dễ dàng trên bản đồ như : ngã ba đường, cầu, đỉnh chùa … tức là đã xác nhận được điểm đứng của mình.


HÌNH


2. Phương pháp ước lượng khoảng cách

Tìm một điểm chuẩn đặc biệt ngoài địa thế mà có thể tìm thấy trên bản đồ (như Hình 1). Ước lượng xem khoảng cách từ điểm chuẩn đó cách ta là bao nhiêu. Tính tỷ lệ, ta có điểm đứng trên bản đồ.


HÌNH


3. Phương pháp cắt đoạn con đường
Bạn đứng trên một con đường và cố gắng tìm một điểm chuẩn dễ nhận thấy ngoài địa thế cũng như trong bản đồ. Dùng địa bàn đo phương giác từ chỗ bạn đứng đến điểm chuẩn đó. Sau khi đã định hướng bản đồ, bạn kéo một đường thẳng theo phương giác đó, cắt ngang điểm chuẩn và con đường. Giao điểm của con đường và phương giác đó là điểm đứng của bạn.


HÌNH


4. Phương pháp giao phóng.
Dùng phương pháp nầy, các bạn phải căn cứ ít nhất vào hai điểm chuẩn của địa thế, các bạn lần lượt làm theo tiến trình sau.
- Định hướng bản đồ
- Dùng địa bàn đo phương giác từng điểm chuẩn của địa thế.
- Đặt địa bàn lên bản đồ, xoay địa bàn đúng phương giác vừa tìm thấy.
- Vẽ một đường thẳng theo phương giác đó, cắt ngang điểm chuẩn thứ nhất.
- Làm như thế với điểm chuẩn thứ hai.
- Hai phương giác đó sẽ cắt nhau tại một điểm trên bản đồ, giao điểm đó là đìểm đứng của bạn.

Ghi chú :
Muốn chính xác hơn, các bạn tìm một điểm chuẩn thứ ba, nếu phương giác của điểm chuẩn nầy đi qua giao điểm của hai phương giác trên là chính xác. Nếu tạo thành một tam giác mỗi cạnh không quá 2mm, thì trung tâm của tam giác đó là điểm đứng.


HÌNH


CHẾ TẠO MỘT ĐỊA BÀN

Khi các bạn ở những nơi xa lạ mà trong tay không có địa bàn, nếu có một ít vật dụng trong tay, các bạn có thể chế tạo một cái địa bàn đơn giản như sau.
Trước tiên, các bạn cần tạo ra một cái kim hay một miếng thép mang từ tính (xin lưu ý : phải là thép thì mới nhiễm từ tính, còn sắt hay các kim loại khác thì không nhiễm từ).

Để làm kim hay miếng thép nhiễm từ, các bạn làm theo một trong những phương pháp sau :
a. Chọn một cái kim hay một miếng thép có hình thù thích hợp rồi dùng một thỏi nam châm chà sát theo một chiều (không chà tới chà lui) một lúc sau, cái kim hay miếng thép đó sẽ nhiễm từ tính. Nếu không có nam châm, các bạn có thể dùng cái tua-vít (tourne-vis), dao bỏ túi đa năng… những vật dụng nầy thường mang sẵn một từ tính nhẹ.
b. Lấy một sợi dây điện (còn vỏ cách điện) cuộn thành một cái lò xo chung quanh một cái kim cho gọn và đều. Túôt vỏ hai đầu dây, và nối với hai đầu một cục pin trong vòng vài phút, kim sẽ mang từ tính.
c. Dùng một lưỡi lam cũ hay một miếng thép mỏng rồi cẩn thận chà xát một chiều trên bàn tay hay trên tóc, lưỡi lam hay miếng thép sẽ nhiễm từ tính nhẹ.
Khi các bạn đã có một cái kim hay miếng thép mang từ tính rồi, thì mọi việc sẽ trở nên đơn giản hơn.
- Các bạn gắn cái kim đã nhiễm từ tính vào một vật nổi nhỏ như : miếng bấc, lá khô, gỗ nhẹ… rồi thả nổi trên mặt nước. Hai đầu kim sẽ tự động xoay về hướng Nam Bắc.
- Các bạn có thể thả nổi một cái kim nhiễm từ tính đã dính dầu (bằng cách cọ vào sống mũi hay chà lên tóc) rồi thả một cách nhẹ nhàng lên mặt nước, kim sẽ tự nổi mà không cần vật đỡ.


HÌNH


- Treo lơ lửng miếng thép hay lưỡi lam cũ đã nhiễm từ trên một sợi tơ tằm, tơ nhện hay các loại dây không bị vặn xoắn (vì sẽ làm cho vật bị treo quay vòng vòng). Sau một hồi chao đảo lắc lư, miếng thép sẽ ổn định và cho chúng ta hướng Nam Bắc. (Nếu trời có gió, các bạn có thể thả miếng thép vào trong một cái chai, ly hay một vật che chắn nào).


HÌNH
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
NƯỚC

Nước là nhu cầu số một và cũng là chìa khoá của sự sống và sự mưu sinh ở nơi hoang dã. Cơ thể của chúng ta chứa 75% nước, nhưng cũng rất dễ mất nước qua hệ bài tiết, cho nên chúng ta phải kịp thời bổ sung số lượng nước đã mất, nếu không cơ thể sẽ suy kiệt nước, và nguy đến tính mạng. Người ta có thể nhịnh đói hàng tuần nhưng không thể nhịn khác vài ngày…
Khi cần di chuyển để tìm đường thoát thân, chúng ta càng phải biết dè sẻn nước uống, dù khát đến đâu thì cũng chỉ nên nhấp từng ngụm nhỏ cho đỡ khát mà không nên tu ừng ực, vì trước mắt, chưa chắc chúng ta đã tìm thấy nước. Hơn nữa, khi đang mệt, uống nước nhiều sẽ lã người, có thể dẫn đến ngất xỉu.
Trong cuộc sống nơi hoang dã, việc tìm ra nước là một vấn đề cấp bách, khẩn thiết và sinh tử, cho nên các bạn bằng mọi cách, phải kiếm cho ra nguồn nước.


TÌM NGUỒN NƯỚC & MẠCH NƯỚC


Ngoài những nơi mà chúng ta có thể tìm thấy nước dễ dàng như : Sông, suối, ao, hồ, mương, lạch, giếng, mạch nước… Chúng ta còn có thể tìm thấy nước ở những nơi như :
- Dọc theo bờ biển hoặc bờ hồ nước mặn, các bạn đào một lỗ ở nơi vùng đất trũng, cách bờ khoảng 30 mét. Hoặc sau một đụn cát đầu tiên, nếu thấy nơi đó có cỏ mọc hay đất ẩm ướt, hy vọng có nước ngọt hay nước có thể uống được.

HÌNH

Đào lỗ ở những vùng nầy, các bạn nên chú ý : Khi đến lớp cát ẩm, các bạn phải ngưng đào để cho nước rỉ ra từ từ, không nên đào sâu nữa, vì sẽ gặp nước mặn.
- Đi lần theo những con sông, suối khô cạn, tìm dưới những lớp đá chồng chất ở những khúc quanh của lòng sông hoặc bờ sông. Hay đào những hố nhỏ nơi có cát ẩm ướt. Vì ở đây có thể ẩn chứa những mạch nước.

HÌNH

- Đi ngược về nguồn sống, suối cạn, ở đó có thể còn những mạch nước rỉ hay đất ẩm chứa nước.
- Đào lỗ ở vùng trũng thấp, giữa những đồi cát, nơi có cỏ xanh hoặc đất ẩm.

HÌNH

- Các bạn cũng có thể tìm thấy những vũng nhỏ chứa nước ở các khe mương, sau các tảng đá lớn, dưới chân các vách núi … Những vũng nầy không thấm xuống đất, vì nó nằm trên một lớp đá hay đất sét nhão. Cũng ít bị bốc hơi vì được che khuất ánh nắng mặt trời.

HÌNH

- Đào một lỗ nhỏ ở khu vực sình lầy hay đá ẩm ướt, sâu khoảng từ 3 – 6cm, chỗ đất mềm. Nước sẽ từ từ rỉ ra trong hố. Nước nầy có thể lọc để dùng.
Nếu chỉ có cát ướt hay bùn nhão thì các bạn dùng một miếng vải sạch hay áo sạch, bỏ vào trong đó, túm lại rồi vặn xoắn mạnh, nước sẽ chảy ra.

HÌNH

Nước « sản xuất » theo kiểu nầy thường không được trong sạch, cần phải lọc và khử trùng trước khi sử dụng.


HÌNH

- Các bạn còn có thể tìm thấy nước mưa đọng lại từ trong các hốc cây đại thụ, hoặc trong các lóng tre bị mắt kiến (tre bị kiến đục mắt). Nếu lắc mà nghe tiếng óc ách, thì khía phía dưới từng lóng tre để hứng nước. Ta thường gặp ở những cây tre bánh tẻ (không quá già hoặc quá non) cũng chứa nước.

NGƯNG TỤ HƠI NƯỚC :

Phương pháp thứ nhất :
Đào một cái hố hình phểu, đường kính khoảng một mét, sâu cũng khoảng một mét, ở những khu vực ẩm ướt. Đặt ở dưới đáy hố một vật dụng đựng nước (ton, tô, chén…) rồi phủ lên trên miệng hố một tấm nylon sạch và trong súôt, dằn đất, đá cho kín chung quanh mép, ở giữa bỏ một cục đá làm cho tấm nylon thụng xuống ngay ở miệng vật chứa nước. Sức nóng của mặt trời làm cho đất ẩm bốc hơi, đọng lại dưới tấm nylon, chảy dài xuống và nhỏ vào vật chứa nước để dưới đáy hố.

HÌNH

Các bạn có thể áp dụng phương pháp nầy ở những vùng hoang mạc khô cằn, nhưng trước đó, các bạn phải lót một số thân cây mọng nước đã được chặt nhỏ (như xương rồng, sống đời…)

HÌNH

Hoặc những cành lá còn xanh tươi xuống đáy hố để tạo ẩm. Nếu có thể thì dùng một ống nylon hay ống trúc thông mắt, để cắm một đầu vào vật đựng nước, một đầu ra khỏi miệng hố, khi cần thì có thể hút nước qua ống mà không phải mở tấm đậy lên.
Nước được « sản xuất » theo kiểu nầy rất tinh khiết.

Phương pháp thứ hai :

HÌNH

Các bạn tìm một bụi cây thấp, thật nhiều lá xanh. Đào một cái hố chứa nước nhỏ gần gốc cây, chỗ thấp nhất. Lót một tấm nylon xuống lỗ và chung quanh gốc cây với một độ nghiêng tập trung vào hố.
Trùm một tấm nylon khác trong suốt và sạch, lên bụi cây, dằn kín.
Dưới ánh mặt trời, lá cây sẽ bốc hơi, ngưng tụ dưới bề mặt tấm nylon, rồi chảy về phía hố tích luỹ. Nước nầy cũng tinh khiết, có thể dùng ngay.


LẤY NƯỚC TỪ SƯƠNG MÙ

Đây là một phương pháp lấy nước mới nhất do các kỹ sư của Canada và Chili phối hợp nghiên cứu. Họ đặt ở sa mạc Atacama phía Bắc Chili, 75 mảnh lưới bằng Polystyrene, mỗi mảnh rộng 12m X 4m. Những mắc lưới đó đã thu những giọt nhỏ của sương mù góp lại thành những giọt nước. Nó chảy tự nhiên vào một cái máng ở dưới những mảnh lưới, rồi theo những ống dẫn, đổ vào bể chứa. Mỗi mét vuông lưới thu được trung bình từ 3 đến 4 lít nước một ngày ( ? ), đủ để cung cấp cho một làng chài trong vùng Chungungo.
Những đề án tương tự cũng đang được thực hiện trong vùng núi khô cằn ở Pérou, Equateur, Kenya, Ấn Độ, Yémen và Philippine. (Science et Vie. 1/94)


QUAN SÁT & THEO DÕI CÁC ĐỘNG VẬT

Ở trong sa mạc hay những vùng khô cằn, quan sát và theo dõi các động vật, côn trùng là phương pháp giúp chúng ta có thể phát hiện ra những nơi có nước.
- Côn trùng rất phụ thuộc vào nước, chúng chỉ sống ở những nơi mà nước chỉ ở trong tầm bay của chúng (nhất là loài ong). Các bạn hãy theo dõi và quan sát kỹ hướng bay của chúng.
- Các động vật thường đi tìm nước uống vào buổi sáng sớm và lúc chiều tối. Theo dõi tìm kiếm các lối mòn của chúng, vì có khi những con đường mòn nầy chúng đã sử dụng từ rất nhiều năm, dẫn đến những nơi có nước.
- Chim cu rừng thường hay có thói quen đậu trên các cành cây, lùm bụi, ở những nơi gần nước vào mỗi buổi chiều.
- Chim chóc thường bay đến và bay đi từ nơi có nước, ở nơi có nước, chúng bay vòng vòng hoặc tập hợp lại thành đàn lớn.
- Theo dấu chân của bầy voi rừng, chắc chắn sẽ dẫn các bạn đến khu vực có nguồn nước.
Những con chim săn mồi thường sử dụng máu của con mồi như là một loại chất lỏng, nên ít dùng đến nước.
Người Bédouins ở sa mạc Sahara cho rằng : Những con chim bay đến nơi có nước thì bay thấp và bay thẳng, còn những con chim bay từ chỗ có nước về, thì bay nặng nề, đập cánh mạnh mẽ (tiếng vỗ cánh kêu lớn) và thường xuyên đậu lại để nghỉ ngơi.

CHƯNG CẤT NƯỚC

Phương pháp nầy dành cho những người đã có chuẩn bị hay những người tìm được dụng cụ thích hợp. Ở trong những vùng nước mặn, nước bẩn, nước nhiễm phiền …
Nếu các bạn có chuẩn bị sẵn bằng những dụng cụ chưng cất có bán trên thị trường thì rất tốt. Bằng không, nếu kiếm được một số dụng cụ và vật liệu, các bạn có thể tự chế các bình chưng cất nước theo những mẫu đơn giản sau :

HÌNH

Phương pháp chưng cất nầy dựa theo nguyên lý hơi nước nóng gặp lạnh sẽ đông lại thành nước, cho nên các bạn phải giữ cho phần làm lạnh lúc nào cũng phải « lạnh » .

LỌC VÀ KHỬ TRÙNG NƯỚC

Dù có khát đến đâu, các bạn cũng đừng uống nước dơ bẩn hay nước tiểu. Các chất cặn bã ngay trong nước tiểu hay vi khuẩn trong nước dơ thừa sức đốn ngã bạn bằng các bệnh tả, lỵ, thương hàn…
Nếu muốn có nước sạch để sử dụng, các bạn phải biết cách lọc và khử trùng nước đơn giản.

LỌC NƯỚC

HÌNH

1. Bình lọc nước :
Để chuẩn bị chu đáo cho một chuyến thám hiểm dài ngày, các bạn nên mua những bình lọc và bơm lọc mini dành cho các nhà thể thao, du lịch thám hiểm… rất gọn nhẹ.
Với loại bình lọc nầy, người ta có thể lọc sạch nước bằng phương pháp cơ học đơn giản. Không dùng bất cứ hoá chất nào. Bộ màng lọc nầy có thể ngăn chận tất cả chất bẩn và nấm đọc từ các nguồn nước trong thiên nhiên.
Bộ lọc nầy có thể sử dụng trên 1000 lần, mỗi lần lọc một lít nước.

2. Tự chế hệ thống lọc nước :
Ở những nơi hoang dã, các bạn không có đủ vật liệu để chế những hệ thống lọc nước hoàn hảo, nhưng các ban cũng có thể lọc nước với những hệ thống đơn giản như sau :
- Dùng một ống lon đục nhiều lỗ ở đáy (hay một filter cà-phê), đổ cát vào làm bình lọc.

HÌNH

- Dùng một lóng tre hay một đoạn thân cây rỗng, một đầu nhét cỏ, hay một nùi vải (hoặc cả vải lẫn cỏ), đổ cát vào để làm bình lọc nước.
- Các bạn cũng có thể dùng ba mảnh vải để làm thành giàn lọc nước như hình trên. Hai mảnh trên các bạn đựng cát, mảnh dưới cùng, nếu có thể thì đựng than.


KHỬ TRÙNG NƯỚC


Sau khi lọc xong, các bạn cần phải khử trùng nước trước khi uống . Có nhiều phương pháp khử trùng, nhưng các bạn chỉ chọn những phương pháp khả thi với những gì mà các bạn có trong tay.
- Đun sôi : Đây là phương pháp dễ dàng và hiệu quả nhất, chỉ cần đun sôi nước chừng 5 – 10 phút là có thể triệt tiêu mọi vi khuẩn.
- Dùng thuốc lọc nước (drinking water tablets) : Là loại thuốc có bán trên thị trường, ở các nhà thuốc Tây. Tuy nhiên, bạn chỉ có nó khi bạn đã được chuẩn bị từ trước. Bỏ thuốc vào trong nước (theo sự hướng dẫn trong toa thuốc) lắc đều, chừng vài phút sau thì uống được.
- Nếu không nồi, xoong để đun sôi, các bạn đào một lỗ ở dưới đất, lót một tấm plastic dầy hay một tấm da thú, đóng cọc dằn chung quanh, đổ nước vào.

HÌNH

Đốt một đống sỏi thật nóng, rồi gắp bỏ từ từ vào, cho đến khi nước sôi lên, bỏ vào thêm vài cục than hồng đang cháy để khử mùi.


NƯỚC TỪ THỰC VẬT

Khi không kiếm được nguồn nước tự nhiên như sông, suối, đầm lầy… hay mạch nước, các bạn có thể tìm kiếm nguồn nước từ thực vật. Nhưng dĩ nhiên là không phải cây nào cũng cho chúng ta nước, hay là nước cây nào cũng uống được, cho nên các bạn phải cẩn thận, chỉ sử dụng những cây mà mình đã biết khá rõ.

Dây leo

Hầu như tất cả các loại dây leo trong thiên nhiên đều chứa nước, nhất là các loại dây leo thân mềm. Tuy nhiên trước khi sử dụng, các bạn cũng phải biết rõ tính chất loại dây leo đó.
Để lấy nước, các bạn chặt xiên mũi mác ở phần gốc, gần mặt đất. Kê bình chứa vào để hứng nước. Sau đó với lên, hoặc leo lên một đoạn, chặt mở miệng một vết sâu hơn phân nửa dây leo, nước sẽ từ từ chảy vào bình.
Các bạn cũng có thể chặt đứt hẳn một đoạn dây leo dài khoảng 1 mét (chặc gốc trước ngọn sau). Cầm dựng thẳng lên, kê phần gốc vào miệng, nước sẽ chảy từ từ xuống. Khi hết nước, các bạn chặt một đoạn khác.

HÌNH
Các loại nước ở dây leo có những mùi vị khác nhau, có khi gây ngứa cổ, cần phải nếm thử, nhưng hầu hết là tinh khiết.

Cây chuối

Là một loại cây mọc hoang và được trồng rất nhiều ở những vùng nhiệt đới để lấy trái ăn. Người ta còn dùng là để gói đồ, thân (bẹ) xẻ nhỏ phơi khô để làm dây cột.
Muốn có nước, các bạn chặt ngang thân chuối, cách mặt đất chừng 1 gang tay (20cm). Khoét một lỗ hình chén ở giữa, sâu xuống cho đến phần gốc (củ). Chừa bẹ chung quanh vừa đủ dầy để giữ nước. Khoảng một giờ thì nước trào lên, các bạn múc đổ vào bình chứa nước, và cứ tiếp tục như thế cho đến khi kiệt nước.
Mỗi gốc chuối làm như thế, có thể cho ta nước từ 4 – 5 ngày.

HÌNH

Cây dừa

Được trồng và mọc hoang ở nhiều nơi trong những vùng nhiệt đới, gần bờ biển hay các hải đảo…
Nếu chúng ta đi lạc vào một vùng có cây dừa, thì sự sống của chúng ta khá an toàn. Vì từ cây dừa, nó sẽ cho chúng ta những sản phẩm như :
- Nước dừa : Chứa rất nhiều axit amin, axit hữu cơ… là một loại nước giải khát hảo hạng.
- Cùi dừa : Có chứa 65% chất béo, 20% gluxit, 8% protit, 4% nước. Là một loại thực phẩm rất tốt.
- Gáo dừa : Dùng làm đồ đựng thay tô, chén, gáo múc nước… và làm chất đốt.
- Lá dừa : Dùng để lợp nhà, làm vách chắn, chất đốt…
- Gân lá dừa : Bện hay bó lại để làm chổi, làm tăn xỉa răng, đan rổ rá…
- Xơ dừa : Bện dây thừng, làm thảm chùi chân, chất đốt…
- Đọt non dừa : (Củ hủ) Là một loại thực phẩm cao cấp, có thể ăn sống, luộc, xào, nấu….
- Thân cây dừa : Dùng làm cột nhà, làm cầu, thủ công và các tiện nghi khác.

Trường hợp gặp cây dừa mới ra hoa, mà chúng ta thì rất cần nước. Hãy níu cuống hoa cho cong xuống (có thể dùng dây để trì giữ lại), và cắt chỗ giáp cuống với buồng hoa. Dùng bao nylon chụp lại để hứng nước. (Đừng để không khí tiếp xúc nhiều với vết cắt, nếu không, thì cứ 12 giờ lại phải cắt thêm một lát mỏng, vì váng đã đóng bít các lỗ hỗng dẫn nước.)
Với cách nầy, mỗi cây dừa sẽ cho các bạn 1 lít nước trong một ngày đêm.

Cây thốt nốt

Được trồng nhiều ở những vùng cực Nam Việt Nam, Campuchia, Ấn Độ và một số nước trong vùng nhiệt đới.
Cây thốt nốt được trồng chủ yếu để lấy nước làm nguyên liệu chế biến thành đường và rượu.
Để lấy được nước, người ta cắt một đoạn ở đầu cuống hoa, rồi buộc bao nylon hay ống dẫn nối với bình chứa.

HÌNH

Nếu cắt vào chiều tối và để suốt đêm, các bạn sẽ có khoảng một lít nước có vị ngọt và thơm.
Quả thốt nốt non ăn mát như thạch. Quả già có màu vàng, thơm như mít, nếu giã ra, đem lọc, sẽ cho chúng ta một thứ bột làm bánh ăn rất ngon.

Cây báng

Còn gọi là cây Bụng Báng, là những cây có dạng tương tự như : cây Đoác, cây Kapác, cây Xế, cây Rui, cây Đủng Đỉnh (Đùng Đình)… đều có công dụng giống nhau .
Là những cây mọc hoang, thường được thấy nhiều ở các tỉnh mìên Trung và Bắc Việt Nam, và một số nước trong vùng nhiệt đới.
Những cây nầy co thể cho ta nước lấy từ ngọn, tinh bột từ thân cây, đọt non có thể luộc hay nấu canh như các loại rau cải…
Muốn lấy nước, người ta chặt lưu thân (không đứt hẳn) cho cây ngã xuống theo triền núi (làm sao cho phần gốc nằm cao hơn phần ngọn). Bóc hết lá trên ngọn cho đến đọt. Đẻo vạt phần đọt non làm thành máng dần. Trùm bao nylon hay kê đồ để hứng. Trung bình một ngày, một cây có thể cho chúng ta từ 4 – 5 líet nước. Khi lượng nước giảm, các bạn vạt thêm vào khoảng 1 cm, nước sẽ chảy tiếp.

HÌNH

Các bạn lưu ý : Khi chặt cây Đùng Đình (người Bắc gọi là cây Móc), nếu bị vướng vào buồng trái của nó thì rất ngứa phải rất cẩn thận.
Một cây Kapác cao từ 12 – 15 mét, sẽ liên tục cho chúng ta từ 150 – 170 lít nước trong vòng 40 ngày.
Ruột của thân cây đem giã, lọc, sẽ cho chúng ta một loại bột để làm bánh.

Cây dừa nước

Là loại cây thân bẹ thấp, lá như lá dừa, mọc thẳng đứng vươn lên cao. Cây thường mọc ở những vùng đầm lầy ngập mặn, phù sa, nhiễm phèn, ven sông rạch có thuỷ triều lên xuống…
Cây dừa nước mọc rất nhiều ở đồng bằng Nam Bộ, có nơi phát triển thành rừng tự nhiên.
Cây dừa nước cũng cho trái, mỗi buồng dừa có khoảng vài chục trái, kết với nhau thành buồng có dạng khối tròn. Trái dừa nước có cùi dầy, màu trắng đục, có vị hơi ngọt và rất béo, có thể ăn tươi, nấu chè…

HÌNH

Lá dừa dùng để lợp nhà với hai kiểu lợp : Lá chằm và lá xé, làm chỗ trú mưa nắng rất tốt.
Bập dừa nước dùng để chẻ lạt, gọi là lạt dừa. Nó còn là loại phao nổi tự nhiên dùng để vượt sông.
Nhưng quan trọng nhất là nhựa dừa, được dùng để uống và chế biến thành đường, cồn, rượu, dấm, nước giải khát, bánh kẹo…
Muốn lấy nước thì chúng ta cũng dùng các phương pháp như đối với cây dừa và cây thốt nốt : Cắt đầu cuống hoa còn non, buộc bao nylon hay ống dẫn để hứng nước.

Cây xương rồng

Ở những vùng đất khô cằn hay hoang mạc, người ta thường gặp những cây xương rồng khổng lồ Saguaro (không thấy ở Việt Nam) thân cây chứa rất nhiều nước.
Để lấy nước, người ta lựa những cây thấp, mọng nước (khiá căng, không lõm sâu), cắt ngang thân cây, rồi dùng gậy hay tay quậy một lúc ở trong ruột cây, nó sẽ cho chúng ta một chất nhờn tựa như thạch, có thể ăn để đỡ khát.

HÌNH

NƯỚC TRONG VÙNG BĂNG TUYẾT

Ở trong những vùng băng tuyết, các bạn có thể lấy nước ở những dòng suối chảy nhanh không kịp đóng băng. Nhưng nếu sông, suối, hồ… đã đóng băng rồi, các bạn tìm những chỗ có tuyết phủ (vì có thể băng ở đây mỏng hơn chỗ khác), dùng rìu băng hay khoan đục thủng một lỗ. Khi đục, nhớ cột dụng cụ vào đầu một sợi dây, đầu kia neo vào đâu đó trên băng, để nếu băng vỡ bất ngờ, các bạn không xẩy tay tuột mất dụng cụ. Ban đêm, để cho lỗ thủng không đóng băng trở lại, các bạn đậy trên lỗ một miếng vải rồi phủ tuyết lên.
Nấu chảy băng tuyết trên lửa cũng là một các tạo ra nước. Các bạn bỏ băng tuyết vào nồi (băng cứng cho nước nhiều hơn tuyết xốp) và nấu trên lửa.
Một cách khác để lấy nước là bỏ băng tuyết vào một cái bao vải sạch, đoạn treo lên cạnh một ngọn lửa. Đặt một cái chậu phía dưới để hứng nước. Sức nóng của ngọn lửa sẽ làm cho tuyết tan ra chảy xuống chậu, và cũng sức nóng đó, giữ cho nước trong chậu không đóng băng.
Vào những ngày trời nắng, các bạn lấy một tấm nylon lớn, màu đen, đem trải phủ ở sườn đồi. Rải tuyết lên phân nửa phía trên tấm nhựa, tuyết sẽ tan chảy xuống phần dưới tấm nhựa. Các bạn chỉ việc lấy đồ hứng.

HÌNH

ĐỒ ĐỰNG NƯỚC

Để chứa nước hay đi lấy nước, các bạn phải có một số vật dụng dùng để chứa nước như : can nhựa, thùng, gàu, bình đựng nước…
Nhưng nếu không có, các bạn phải biết tận dụng vật liệu thiên nhiên sẵn có để chế tạo thành những đồ đựng nước như những hình gợi ý dưới đây.

HÌNH
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
LỬA


Từ ngàn xưa, khi tổ tiên chúng ta còn sống trong hang động, đã biết dùng lửa. Có lẽ họ đã biết dùng lửa rất lâu (do tình cờ) trước khi biết làm ra lửa.
Ngày nay, chúng ta quá quen với các tiện nghi văn minh đến độ... đôi khi chúng ta quên đi sự quan trọng của lửa, có thể là do chúng ta làm ra lửa một cách dễ dàng bằng diêm, bật lửa, điện...
Nhưng nếu các bạn đi vào rừng hay bị lạc vào nơi hoang dã, các bạn sẽ thấy : Lửa là một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống của con người. Là một nguồn năng lượng rất quan trọng trong việc mưu sinh để tồn tại nơi hoang dã :

- Lửa cung cấp ánh sáng và hơi ấm, giúp chúng ta tự tin và thư giãn tinh thần.
- Lửa làm cho chúng ta có cảm giác được che chở trước các thú dữ lẫn trong bóng tối.
- Lửa giúp chúng ta nấu nướng thức ăn, sấy khô các thực phẩm cần tồn trữ.
- Lửa hong khô các y phục và đồ dùng ẩm ướt, giúp chúng ta không bị nhiễm lạnh.
- Lửa được dùng đun sôi để khử trùng và làm tinh khiết nước.
- Lửa và khói có thể dùng để làm tín hiệu.
- Lửa dùng để đốt một đầu cây, tạo thành mũi nhọn để làm vũ khí.
- Lửa có thể thay cưa rìu trong việc cắt cây để dựng nhà, làm nơi trú ẩn.
- Lửa và khói có thể xua đuổi một số động vật, côn trùng, muỗi mòng... khỏi nơi chúng ta đang trú ẩn.
- Lửa và khói dùng hun ong bay ra khỏi tổ để chúng ta lấy mật và nhộng.
- Lửa còn dùng để xua đuổi muông thú ra khỏi nơi ẩn núp để rồi bị rơi vào bẫy hay bị đón bắt.
- Một khúc cây đang cháy có thể dùng làm vũ khí để chống trả hay xua đuổi mãnh thú.
- Lửa dùng để soi chim cá và các động vật khác, làm cho chúng bị chói mắt để chúng ta dễ dàng tiếp cận.

Nếu khi nào cần, mà các bạn có thể làm ra được lửa, thì khả năng sinh tồn nơi hoang dã của các bạn được bảo đảm hơn.
Lửa là yếu tố quan trọng nhất ở nơi trú ẩn. Nếu không có lửa, các bạn sẽ chìm trong bóng tối lạnh lẽo. Như vậy, tình hình sẽ càng xấu đi rất nhiều. Cho nên các bạn phải biết nhiều phương pháp lấy lửa khác nhau, để có thể áp dụng với những vật liệu mà chúng ta có thể tìm thấy tại chỗ.


BÙI NHÙI HAY CHẤT DẪN LỬA

Trước khi muốn làm ra lửa, các bạn phải chuẩn bị một số bùi nhùi hay vật dẫn lửa. Đây là những vật tơi, xốp, khô, dễ bắt lửa, dễ cháy.

HÌNH

Nếu gặp thời tiết tốt và khô ráo thì chúng ta dễ dàng tìm thấy những vật liệu để dẫn lửa như : cành cây khô, lá khô, cỏ khô, hoa khô, tre khô, trái gòn khô, dương xỉ, rêu hay địa y khơ, vỏ cây khô, trái thông khô, lông chim, tổ chim, phân khô của súc vật...
Nếu gặp thời tiết xấu, ẩm ướt, các bạn cố tìm cho được những loại cây có tinh dầu như : thông, tùng, song tử diệp ... Dùng dao hay rìu bửa bỏ lớp vỏ ấm ướt bên ngoài, rồi vạc thật nhỏ như dăm bào... Các bạn cũng có thể tìm thấy các vật dẫn lửa dưới các tảng đá, trong những bọng cây, hay dưới các lớp lá khô....
Nếu không tìm được các chất dẫn lửa thiên nhiên, các bạn có thể dùng giấp vụn, vải xé nhỏ, băng gạc và bông gòn trong túi cứu thương, bông gòn trong áo bông, mỡ động vật, kem nhóm lửa, xăng dầu (nếu có )....


CÁC CÁCH TẠO RA LỬA

Các cách thông thường

Dĩ nhiên tốt nhất là chúng ta có một hộp diêm không thấm nước, một quẹt gas gọn gàng tiện lợi, hoặc những vật dụng đánh lửa có bán trên thị trường như : Đá đánh lửa (Flint Fire Starter), Đá Ma-Nhê (Mangesium Fire Starter).

HÌNH


Dùng thấu kính

Đây cũng là một phương pháp khá dễ dàng. Các bạn dùng thấu kính hội tụ từ các vật dùng như : kính lúp, ống dòm, máy ảnh, kính cận hay kính lão cao độ, đít chai tròn...
Các bạn đưa thấu kính lên, đặt thẳng góc với mặt trời, đoạn xê dịch sao cho điểm sáng hội tụ gom lại thành một chấm nhỏ nhất, chiếu thẳng vào mớ bùi nhùi dễ cháy. Vài giây sau khói sẽ bốc lên, chờ khi thấy có điểm lửa, các bạn cầm bùi nhùi lên thổi nhè nhẹ, lửa sẽ bùng lên. (Nếu các bạn có vài hạt thuốc súng hay phân dơi thì chỉ vài giây sau lửa sẽ bùng lên ngay)

Lưu ý : Thổi lửa từ bùi nhùi đang cháy ngún để cho ngọn lửa cháy bùng lên là cả một kinh nghiệm. Không thể thổi quá mạnh hay quá yếu mà thổi nhè nhẹ, khi thấy khói càng lên nhiều thì càng tăng cường độ, và cho thêm bùi nhùi vào, cho đến khi lửa cháy bùng lên.

Dùng pin hay bình điện (Accu)

Nối hay đầu dây điện vào hai cực âm dương rồi đánh vào nhau. Nếu cường độ điện đủ mạnh, và bùi nhùi dễ bắt lửa (có tẩm xăng dầu càng tốt), thì sau vài lần đánh, lửa sẽ bùng cháy (các bạn cần đánh nhanh liên tiếp).


HÌNH


Lấy lửa bằng khoan cần cung

Đây là một trong những phương pháp lấy lửa cổ đại nhất, rất hiệu quả nhưng mất khá nhiều thời gian, các bạn cần phải thật kiên trì cũng như phải nắm vững kỹ thuật thao tác.
- Trước tiên, các bạn dùng một cành cây hơi dẻo để làm một cần cung dài khoảng 60 – 80 cm. Dây cung được làm bằng các loại dây bền chắc như dây da, dây dù, dây gai se lại... theo hình dưới đây .


HÌNH


HÌNH


CƯA TẠO LỬA

Các bạn dùng tre hay nứa chẻ làm đôi, một nửa cố định làm bàn ma sát, nửa kia dùng làm cưa. Lật úp bàn ma sát xuống vắt ngang một khe nhỏ để cố định vết cưa. Độn bùi nhùi vào dưới vết cắt. Đặt thanh tre vào khe và kiên nhẫn cưa, lúc đầu cưa chầm chậm, khi thấy bắt đầu bốc khói, thì tăng dần nhịp độ cho đến khi thấy có lửa thì cho thêm bùi nhùi vào và thổi cho lửa bùng lên.


HÌNH


KÉO DÂY TẠO LỬA

Lấy một thân cây tròn chẻ làm đôi, và chêm cho hở ra. Nhết một nắm bùi nhùi vào trong kẽ. Lấy một sợi dây dẻo, bền, chắc (tốt nhất là dây mây) vòng qua nắm bùi nhùi đó. Hay tay cầm hai đầu dây kéo lên kéo xuống đều đều cho đến khi thấy bùi nhùi bốc khói thì kéo nhanh dần. Lúc bùi nhùi bén lửa thì cầm thổi cho lửa bùng lên.


GIỮ GÌN VÀ BẢO QUẢN LỬA

Nếu có diêm, bật lửa hay các dụng cụ đánh lửa khác, thì chúng ta không cần phải giữ lửa. Nhưng nếu không có thì chúng ta phải biết một vài cách bảo quản cho lửa không tắt, vì như các bạn đã biết một lần làm ra lửa cũng chẳng dễ dàng gì.
Trường hợp các bạn ở một chỗ thì rất dễ. Chỉ cần đưa những gốc cây khô, lớn, vào đống lửa, giữ cho cháy suốt ngày đêm. Nếu các bạn muốn đi vắng một vài ngày mà khi quay về, lửa vẫn còn cháy, các bạn chỉ cần sắp những gốc cây dài thành một hàng, đặt gối lên nhau, rồi đốt phía trên gió.


HÌNH


- Lấy một đoạn dây thừng khô (loại thừng được bện bằng xơ dừa), đốt một đầu dây cho cháy lên rồi thổi tắt, chỉ để lửa cháy ngún. Tuỳ theo độ dài của sợi dây, các bạn có thể giữ được lửa từ vài giờ cho tối vài ngày. Khi cần, chúng ta đưa đầu lửa vào bùi nhùi và thổi cho lửa bùng lên.
- Dùng một miếng vải cuộn tròn lại, và se cho thật chặt. Lấy dây cột lại từng khúc (như cột bánh tét), và sử dụng như một đoạn dây thừng.
- Lấy vỏ cây khô, xơ của nách là dừa, cọ, đùng đình... khô, bó lại chung quanh một cây củi khô, loại gỗ tốt. Bên ngoài bao bằng lá tươi của các loại cây như : buông dừa, kè... Dùng các loại dây rừng tươi bó lại cho thật chặt. Đốt một đầu cho cháy ngún, các bạn có thể giữ được lửa khá lâu.
- Dùng rơm hay cỏ khô... bện theo hình con rít hay quấn lại cho thật chặt (có nơi gọi là con cúi), đốt một đầu cho cháy ngún (nếu lửa cháy bùng lên thì phải thổi tắt ngay). Tuỳ theo các bạn bện dài hay ngắn mà chúng có thể giữ được lửa lâu hay mau.
- Lấy lon đồ hộp, gáo dừa, vỏ cây tươi, bọng cây... đổ tro nóng vào. Lựa loại than chắc, nặng, đang cháy hồng, bỏ vào và phủ lên trên một lớp tro mỏng hay địa y khô. Khi di chuyển thì dùng dây treo để mang theo. Cách nầy có thể giữ lửa được khoảng một buổi (từ sáng đến trưa, hay từ trưa đến tối).


KỸ THUẬT ĐỐT THAN

Than là một loại nguyên liệu khá nhẹ, cháy nóng, lâu tàn, không khói, dễ tồn trữ và bảo quản... Thích hợp cho những nơi trú ẩn kín đáo hay trong hang động. Nhưng để có than ở nơi hoang dã, các bạn phải nắm bắt được những kỹ thuật cơ bản về đốt than.

1.Thiết kế vỏ lò :
Tìm một địa thế tương đối bằng phẳng, đào sâu xuống độ 1 mét, rộng từ 1 – 2 mét (vuông hay tròn cũng được) . Khoét rãnh thông hơi chung quanh nền lò và đặt ống thông khói.

2. Nạp củi :
Chọn những loại cây cho than chắc như : Cầy, Ngành Ngạnh, Thị, Da đá... Cắt ra từng khúc bằng chiều cao của lò (1 mét), sắp đứng sát vào nhau trong lò. Bên trên, sắp các cành cây nhỏ rồi lấy đá đậy lên cho thật kín. Đắp lên trên một lớp đất sét hay đất thịt đầy khoảng 20cm.

HÌNH

3. Đốt lò :
Các bạn đào thêm một cái hố khác, cách lò khoảng 40 cm, rộng khoảng 60 – 70 cm (đủ cho một người ngồi xoay trở), sâu 1 mét (bằng chiều sâu của lò). Từ cái hố nầy, các bạn đục một lỗ thông qua lò, gọi là “lỗ chụm”, lỗ nầy rộng khoảng 30cm.
Cho củi khô vào lỗ chụm, rồi đốt cho tới khi khói từ các lỗ thông nhạt bớt, và hơi nóng toả lên, gọi là “phát hoả” (khoảng 48 giờ). Sau đó, các bạn bít lỗ chụm lại và theo dõi hơi khói từ ống khói (nếu khói không lên thì phải đốt lại) cho tới khi thấy khói đóng nhựa đen và khô.
Để dễ theo dõi, các bạn gác ngang trên ống khói một miếng cây rộng khoảng 2 cm. Khi thấy miếng cây đóng khói theo yêu cầu là được.
Thông thường thì đốt khoảng từ 8 đến 10 ngày là than chín. Khi đó, các bạn bịt kín tất cả các lỗ thông khói lại. Để khoảng 7 ngày than nguội thì khui ra.


ĐỐT THAN ĐƠN GIẢN

Các bạn còn có thể làm ra than bằng phương pháp đơn giản như sau :
- Đào một hố sâu từ 80 – 1 mét, rộng khoảng 1 – 1,50 mét.
- Bỏ củi khô xuống đốt cho cháy bùng lên
- Xếp củi tươi lên trên đống lửa, đợi cho lửa bắt cháy xém đống củi tươi đó.
- Lấp dần đất lại cho đến khi thật kín
- Để yên khoảng 5 ngày thì khui ra.
Than đốt cách nầy không chín đều cho nên khi đun nấu có một số còn cháy thành lửa ngọn, hoặc bị khói. Vì vậy, bằng kinh nghiệm của mình, các bạn nên chọn những phần than đúng tiêu chuẩn để riêng ra, dành đốt những khi cần.


HÌNH



THẮP SÁNG & SƯỞI ẤM

Khi ở nơi hoang dã, các bạn không có những vật dụng cần thiết để thắp sáng như : đèn cầy, đèn bão, đèn pin... thì các bạn có thể đốt lên một đống lửa. Tuy nhiên, có những nơi mà các bạn không thể bê nguyên cả một đống củi vào chỗ trú ẩn để vừa thắp sáng vừa sưởi ấm được như : hang động, vòm băng igloo, nơi trú ẩn chật chội... Vì khói có thể làm bạn ngộp thở, gây cháy nổ (nếu gặp phân dơi)... Vậy các bạn hãy sử dụng một trong những phương thức sau đây để có thể vừa thắp sáng, vừa sưởi ấm và cũng có thể vừa làm nóng thức ăn.

Xăng đặc : Là những hợp chất được chế tạo theo công nghiệp, thành từng miếng nhỏ, trắng hay ngà. Dành riêng cho quân đội, những nhà thám hiểm, những người đi dã ngoại... Khi đốt thì toả sức nóng nhưng không tạo khói. Tuy nhiên, “xăng đặc” không có ánh sáng nên không thể thay thế cho đèn được. Ngoài ra, khi đốt nơi kín đáo chật hẹp, có thể toả ra hơi độc. Cần cẩn thận.
Các bạn chỉ có xăng đặc khi đã được chuẩn bị trước.


Bếp mini
Nếu các bạn có sáp (lấy từ các tổ ong), dầu thực vật, mỡ động vật … và một ít hộp thiếc, thì các bạn có thể chế tạo thành những bếp mini khá đơn giản như sau :
Cách thứ nhất :
- Dùng một lon thiếc có nắp đậy. Đục 4 lỗ trên nắp lon. Xâu 4 tim đèn vào những lỗ đó.
- Lấy dầu thực vật hay mỡ động vật hoặc nấu sáp cho chảy ra đổ vào lon. Đậy nắp lại.
- Cắt 2 miếng thiếc như hình bên để làm kiềng đỡ. Khi sử dụng thì ráp chồng lên nhau, khi không cần thì tháo ra xếp gọn.

Cách thứ hai :
Lấy 4 – 5 tờ nhật báo hay vải cuộn tròn rồi cột chặc lại. Cắt từng đoạn ngắn (vừa bỏ vào lon). Nấu đèn cầy hay dầu, mỡ đổ vào như trên.


HÌNH

Lưu ý : Khi nấu loại bếp nầy nên bỏ vào một lon nước lớn hơn để làm nguội.

Bếp Koolik của người Eskimos.
Vật dụng : Hộp đựng chất lỏng, một mãnh vải, một miếng thiếc, mỡ động vật hay dầu thực vật.


HÌNH


Đèn thợ rừng
Dùng một mảnh vỏ sò, nghêu, vỏ lon đồ hộp, miếng gáo dừa, dĩa sành… Đựng một ít dầu ăn hay mỡ động vật. Lấy vải hay bông gòn làm tim đèn. Kẹp tim đèn ở giữa hai cục đá không cho tuột xuống. Đốt lên, các bạn sẽ có một ngọn đèn tuy hơi mờ nhưng cũng cung cấp được phần nào ánh sáng.

Đèn mù u
Các bạn có thể lấy nhân của trái mù u già, (là một cây mọc hoang và cũng được trồng khắp nơi trong nước ta). Ép lấy dầu để thắp đèn. Hoặc thái mỏng rồi xâu vào một cái que, khi đốt sẽ cháy như đuốc và khá lâu.

Đuốc bu-lô
Lột một miếng vỏ mỏng (lớp trong) của cây bu-lô (Birch), cuốn nhỏ lại theo chiều dọc của thớ vỏ cây, giắt vào một cái kẹp (như hình minh hoạ), rồi đốt lên một đầu, cứ mỗi một mét, đuốc sẽ cháy từ 15 đến 20 phút.

Đốt đèn cây khi gió lớn
Nếu các bạn có đèn cầy, muốn đốt lên mà không sợ bị gió thổi tắt, xin hãy làm theo những mẫu minh hoạ dưới đây :


HÌNH

Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-02-02 03:11:10NuHiepDeThuong>
THỰC PHẨM

Sau nước, thực phẩm là một nhu cầu tối cần thiết của con người, nếu thiếu thực phẩm, chúng ta sẽ suy kiệt sinh lực và sức chịu đựng, tinh thần hoang mang mơ hồ, không còn ý chí, nghị lực để phấn đấu… sinh mạng sẽ bị đe doạ.
Nhưng để tìm kiếm được thực phẩm từ thiên nhiên hoang dã, các bạn phải là người có kinh nghiệm. Tuy thiên nhiên thật hào phóng, nhưng cũng rất khắc nghiệt. Bên cạnh những thực vật, động vật có thể nuôi sống được con người, thì cũng có những cây trái và sinh vật có thể giết chết con người trong nháy mắt. Đã vậy, sự khác biệt giữa “lành” và “độc”, lại không sai biệt nhau là bao nhiêu, nhất là ở trong các loài thực vật. Thí dụ : Cây “Chè vằng” ăn được lại rất giống cây “Lá ngón” cực độc, chỉ cần ăn vài lá là vô phương cứu chữa. Hoặc giữa cây khoai môn và cây môn nước, một loại thì ăn rất ngon, còn một loại ăn vào thì ngứa như cào cổ. Những cây nầy, chỉ có người kinh nghiệm mới phân biệt được.

HÌNH

Nói như thế không có nghĩa là bạn khoanh tay nhịn đói chờ chết, chúng tôi chỉ muốn nói là các bạn hãy thận trọng, nên ăn những gì mà các bạn biết rõ, cả về tính chất lẫn cách chế biến (chẳng hạn như củ nần, củ nâu, thì phải ngâm nước và luộc nhiều lần. Củ nưa phỉa luộc với vôi. Măng tre thì phải luộc hay nấu, không thể nướng hay ăn sống được…. )
Về động vật, tuy ít có con mang chất độc trong thịt, nhưng nếu các bạn không biết cách làm và chế biến, thì cũng có thể trúng độc. Nhiều người đã chết do ăn Cóc và cá Nóc làm không kỹ. Các bạn không nên ăn những lòng, ruột, trứng.. của các loại cá và động vật mình không biết rõ, và cũng đừng đụng tới những sinh vật và côn trùng hay nấm có màu sắc sặc sỡ, vì đó là lời cảnh cáo của thiên nhiên.
Để tìm thực phẩm từ trong thiên nhiên, chúng ta có 2 nguồn chính : từ THỰC VẬT và từ ĐỘNG VẬT.


THỰC PHẨM TỪ THỰC VẬT.

Đây là một nguồn thực phẩm phong phú và đa dạng, dễ tìm kiếm, rất thích hợp cho những trường hợp phải di chuyển. Tuy nhiên, cũng rất dễ bị ngộ độc, các bạn phải cẩn thận.
Thường thì cây, trái, củ, hạt, mầm… nào mà chim, thú (nhất là khỉ) mà ăn được thì chúng ta cũng có thể ăn được. Nhưng đó không phải là công thức, vì một số loài chim có thể ăn những trái độc (Mã tiền, Mặt quỷ…) mà nếu các bạn ăn vô thì chắc chắn “ngủm” .
Nếu nghi ngờ thì các bạn có thể thử bằng những cách sau đây :
- Ngắt một đọt cây, cuống lá, mà thấy nhựa trắng như sữa thì đừng ăn.
- Nhai thử, thấy có vị đắng, cay, hay buồn nôn, thì đừng ăn.
- Nấu lên trong 15 – 20 phút, bỏ vào miệng ngậm một lúc, nếu thấy không có phản ứng gì thì từ từ ăn thêm, nhưng đừng quá nhiều, cho đến khi hoàn toàn tin tưởng.
Trong sự hạn chế của một chương sách cũng như về khả năng, chúng tôi không thể trình bày được hết tất cả các loại cây trái có thể dùng làm thực phẩm. Chúng tôi cũng không đề cập đến các loại cây đã được thuần hoá từ lâu và được trồng khắp nơi như : lúa, bắp, đậu, mè… khoai lang, khoai tây, khoai mì… cam, quýt, xoài, ổi, mít, mận… mà chúng tôi thiên về những cây mọc hoang, hoặc đang được thuần hoá. Nhất là ở Việt Nam và các nước lân cận.


NHỮNG CÂY HOANG DÃ DÙNG LÀM THỰC PHẨM


KHOAI MÀI – HOÀI SƠN – SƠN DƯỢC
Nơi mọc : Ở khắp vùng rừng núi nước ta.
Thân cây : Dây leo bò trên mặt đất
: Lá đơn, hình tim, mọc đối hay so le
Hoa : Hoa đực, hoa cái khác gốc
Quả : Củ con ở nách lá gọi là “thiên hoài” hay “dái củ mài”
Phần làm thực phẩm : Củ (có thể dài 1 mét)
Chế biến : Luộc hay nạo, giã để nấu canh
Mùi vị : Thơm, bùi.


SẮN DÂY – CÁT CĂN – CAM CÁT CĂN
Nơi mọc : Mọc hoang và được trồng khắp nơi
: Lá kép gồm 3 lá chét hình trứng
Hoa : Màu xanh, mọc thành chùm ở kẽ lá
Quả : Dài 9 – 10 cm, vàng nhạt, nhiều lông
Phần làm thực phẩm : Củ
Chế biến : Luộc, chế thành bột
Mùi vị : Bùi, ngọt


HOÀNG TINH – CỦ CÂY CƠM NẾP
Nơi mọc : Mọc hoang ở những nơi rừng ẩm
Thân cây : Cây loại cỏ sống lâu năm
: Hình mác, mọc vòng 4 – 5 lá một
Hoa : Mọc ở kẽ lá, rũ xuống, mỗi cuống mang 2 hoa hình ống, màu tím đỏ.
Quả : Quả mọng, khi chín có màu tím đen
Phần làm thực phẩm : Củ
Chế biến : Luộc hay giã làm bột


KHOAI NƯA – KHOAI NA
Nơi mọc : Mọc hoang ở những nơi ẩm ướt
Thân cây : Cây sống lâu năm
: Lá đơn, có cuống dài, màu xanh lục nâu, có đốm trắng, phiến lá khía nhiều và sâu
Hoa : Bông mo tận cùng bằng một phần bất thụ, hình trụ, màu tím (mo màu nâu sẩm)
Phần làm thực phẩm : Củ
Chế biến : Luộc với vôi cho hết ngứa


CỦ NÂU – KHOAI LENG
Nơi mọc : Mọc hoang tại các vùng rừng núi
Thân cây : Dây leo thân nhẵn, gốc nhiều gai
: Hình trứng hơi mác, mọc cách ở gốc, mọc đối ở ngọn
Hoa : Mọc thành bông
Phần làm thực phẩm : Củ
Chế biến : Luộc nhiều nước.


KHOAI MÔN – KHOAI SỌ
: Hình tim, có cuống dài, không ướt
Hoa : Bông màu trắng, hoa bất thụ vàng
Phần làm thực phẩm : Thân hoá củ
Chế biến : Luộc


CỦ CHUỐI – CHUỐI HOA
Nơi mọc : Mọc hoang, trồng làm cảnh, thích nơi ẩm.
Thân cây: Thân thảo, đa niên, cao khoảng 1m50.
: To, tròn hơi mác, mọc cách, màu lục, trơn láng
Hoa : Xếp thành chùm, có một cái mo chung
Quả : Quả nang có nhiều gai mềm như lông
Phần làm thực phẩm : Củ
Chế biến : Luộc – giã làm bột



CỦ NĂN – MÃ THẦY
Nơi mọc : Mọc hoang và được trồng ở nơi ngập nước.
Cây cỏ củ to, mọc ở dưới nước. Thân không có lá, tròn dài, gần như chia đốt, phía trong có nhiều vách ngang. Hoa tự chỉ gồm có một bông nhỏ màu vàng nâu ở ngọn, hoặc không có hoa.
Phần làm thực phẩm : Củ
Chế biến : Ăn sống, nấu với thịt, nấu chè



CỦ ẤU - ẤU NƯỚC – KỴ THỰC
Nơi mọc : Mọc hoang và được trồng ở các ao đầm
Thân cây : Thân ngắn, có lông
: Lá nổi có phao : ở cuống, hình quả trám
Hoa : Hoa trắng, mọc đơn độc hay ở kẽ lá
Quả : Thường gọi là “củ”, có hai sừng
Phần làm thực phẩm : Quả (củ)
Chế biến : Luộc hay giã bột làm bánh.


TRẠCH TẢ - MÃ ĐỀ NƯỚC
Nơi mọc : Mọc hoang ở ao, đầm, ruộng nước
Thân cây : Thân rễ trắng, hình cầu hay hình con quay
: Hình thuôn hay hình tim, có cuống dài
Hoa : Màu trắng, cuống dài, thành tán
Quả : Là một đa bế quả
Phần làm thực phẩm : Thân củ
Chế biến : Luộc



SƠN VÉ
Nơi mọc : Mọc hoang từ Quảng Trị đến Nam Bộ
Thân : Đại mộc, cao 20m, nhánh non hình vuông
: Xoan thon, chót nhọn, gân phụ mảnh
Hoa : Đơn tính màu đồng chu
Trái : Tròn nhỏ, màu vàng lục có hột to 6 – 8 mm
Phần ăn được : Trái
Chế biến : Không


TRÔM – TRÔM HOE
Nơi mọc : Mọc hoang và thường được trồng để làm nọc tiêu hay trụ hàng rào (rất dễ trồng)
Thân : Đại mộc cao 6 – 9 mét
: Lá kép gồm 7 – 9 lá phụ không cuống, có lông hoe ở mặt dưới
Phần sử dụng : Nhựa cây tươi hay phơi khô
Chế biến : Ngâm nước cho nở ra và ăn như thạch.


BÁT
Nơi mọc : Mọc hoang (hay trồng) theo lùm bụi
Thân : Dây leo đa niên có vòi cuốn
: Hơi dầy, không lông
Hoa : Màu trắng, năm cánh, hơi giống hoa bìm bìm
Trái : Khi non màu anh vân trắng, khi chín màu đỏ
Phần sử dụng : Trái và lá
Chế biến : Ăn tươi, luộc hay nấu canh.


CHÙM NGÂY
Nơi mọc : Mọc hoang và được trồng ở Nam bộ
Thân : Thân mọc cao từ 4 – 9 mét có nhánh to.
: Kép 3 lần, màu xanh mốc, không lông
Hoa : Màu trắng, to, hình giống như hoa đậu
Trái : To dài đến 55cm, khô nở thành 3 mảnh
Phần sử dụng : Trái, lá và hột
Chế biến : Lá, trái non xào nấu như rau, hột ép dầu


GAN TIÊN THƠM – CHÂU THI
Nơi mọc : Mọc hoang ở các vùng núi cao Bắc Bộ
Thân : Tiểu mộc, cao 3m, nhánh nằm, không lông
: Phiến hình bầu dục, thon, không lông
Hoa : Chùm ở nách lá, màu trắng
Trái : Nang tròn, chứa nhiều hột
Phần sử dụng : Trái


GĂNG NÉO
Nơi mọc : Mọc hoang ở các rừng còi duyên hải, có trồng nhiều ở Côn Sơn.
Thân : Đại mộc, nhánh ngắn, vòng đều quanh thân
: Phiến dài bầu dục, không lông
Hoa : Chùm hoa màu trắng
Trái : Phì quả to 1,5cm, cơm vàng, hột dẹp láng
Phần sử dụng : Trái


SẾN MẬT
Nơi mọc : Mọc hoang ở Bắc bộ và được trồng ở Nam bộ, dọc theo sông Cửu Long
Thân : Đại mộc, cao khoảng 20m
: Phiền bầu dục, mặt dưới có gân lồi, lông nhung
Hoa : Chùm ở nách
Trái : Phì quả cao 3cm, có từ 1 – 3 hột
Phần sử dụng : Trái


DUNG CHÙM
Nơi mọc : Mọc hoang từ cao độ 1000 – 2000 mét.
Thân : Đại mộc nhỏ, cao khoảng 8m, vỏ nứt sâu
: To, phiến xoan bầu dục, mặt trên xanh đậm
Hoa : Chùm đơn, màu trắng hay vàng, thơm
Trái : Hình thoi, dài khoảng 1cm, không lông
Phần sử dụng : Trái và lá
Chế biến : Lá nấu uống như trà, trái ăn tươi



XAY
Nơi mọc : Khắp núi rừng từ Trung đến Nam bộ
Thân : Tiểu mộc, cao khoảng 5m, nhánh non có lông
: Hình muỗn dài, nhỏ, đầu tròn, không lông
Hoa : Hoa nhỏ, chùm ở nách lá, không lông
Trái : Tròn, từng chùm, khi chín màu đen mốc
Phần sử dụng : Trái và lá
Chế biến : Trái ăn tươi, lá nấu canh


MÓC CỘT
Nơi mọc : Rừng thưa ở độ cao 1000 – 2000 mét
Thân : Đại mộc, cao 8 – 12 m, nhánh có khi có gai
: Đáy tròn, chót có mũi ngắn, rụng theo mùa.
Hoa : Màu trắng, chùm tụ tán
Trái : Tròn, chót có thẹo của đài
Phần sử dụng : Trái


DUM LÁ HƯỜNG
Nơi mọc : Mọc hoang các vùng núi cao trên 1000m
Thân : Bụi, có lông mịn, có gai nhỏ.
: Lá kép do lá phụ mọc đối, mép có răng cưa
Hoa : Ở chót nhánh, cánh tròn, màu trắng, thơm
Trái : Tròn, to 2 cm
Phần sử dụng : Trái
Chế biến : Lá nấu như trà, trái ăn tươi


TU LÚI – NGẤY LÁ NHỎ
Nơi mọc : Mọc hoang bình nguyên đến cao nguyên
Thân : Bụi trườn, nhánh mảnh, có lông và gai cong
: Lá bẹ, lá phụ nhỏ, mặt trên không lông, mặt dưới đầy lông trắng
Hoa : Tản phòng ở ngọn, màu hường, dài đầy lông, có gai nhỏ
Trái : Hình bán cầu, màu đỏ, vị chua
Phần sử dụng : Trái


THIÊN TUẾ
Nơi mọc : Mọc hoang và còn được trồng làm kiểng
Thân : Cao 1 – 6 m
: Dài 0,5 – 2m, có thứ diệp từng cặp một
Hoa : Ít khi có hoa
Quả : Hình xoan, màu vàng hay đỏ (có độc)
Phần làm thực phẩm : Thân cây
Chế biến : Lấy lõi thân cây giã thành bột làm bánh hay chế biến các món khác.



DỦ DẺ
Nơi mọc : Mọc hoang ở rừng còi dựa biển
Thân : Cây nhỏ, đứng hay leo, nhánh mang lông
: Phiến lá dài, mặt dưới có lông màu nâu
Hoa : Màu vàng, 6 cánh, cô độc hay từng cặp
Quả : Phì quả nắn, từ 5 – 7 hột
Phần làm thực phẩm : Trái
Chế biến : Không



BỒ QUẢ ĐÁC – BỒ QUẢ HOE
Nơi mọc : Rừng còi, rừng thưa (Kontum, Đacto…)
Thân : Dây leo thẳng, có lông màu nâu hoe
: Dài 12 – 15 cm, có lông cứng vàng hoe
Hoa : Mọc đối diện với lá, to 3 – 4 cm, có lông
Trái : Phì quả có lông mịn, chứa 5 – 6 hột
Phần ăn được : Trái
Chế biến : Không


NẤM CƠM – XƯN XE – NGŨ VỊ TỬ NAM
Nơi mọc : Mọc hoang ở các vùng núi trung nguyên
Thân : Dây leo rất cao, nhánh non có phấn mịn
: Hình xoan bầu dục. Mặt trên láng, nâu đen
Hoa : Màu đỏ, cô độc, to 12 – 15 cm
Trái : Giống như một trái mãng cầu ta nhỏ
Phần ăn được : Trái
Chế biến : Không


KHOAI LANG (WILD POTATO)
Nơi mọc : Mọc hoang ở những vùng núi Nam Mỹ
Thân : Thẳng cao 30 – 80 cm, sống lâu năm
Lá : Kép xẻ lông chim, lá chét to nhỏ khác nhau
Hoa : Mọc thành sim, màu tím hay trắng
Quả : Mọng hình cầu, xanh nhạt hay tím nhạt
Phần làm thực phẩm : Củ
Chế biến : Luộc hay nướng

CỦ SÚNG
Nơi mọc : Mọc hoang ở những vùng ngập nước
Thân cây : Thân rễ phát triển thành củ
Lá : Tròn xẽ hình tim, cuống dài
Hoa : Nhiều cánh, màu hồng tím hay trắng
Phần làm thực phẩm : Củ và cuống hoa còn non
Chế biến : Củ - luộc. Cuống hoa : ăn sống, xào…

BỨA
Nơi mọc : Mọc hoang và được trồng ở miền Bắc
Thân : Cây gỗ cao 10 – 15 mét
Lá : Mọc đối, mép trơn, nhẵn bóng
Hoa : Màu vàng, hoa đực và lưỡng tính
Quả : Mọng hình cầu, ngoài vàng, trong hơi đỏ
Phần làm thực phẩm : Quả và lá
Chế biến : Ăn sống hoặc nấu canh chua.
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-02-04 02:29:58NuHiepDeThuong>
Thực phẩm (tiếp theo)



Ô MÔI – BỒ CẠP NƯỚC
Nơi mọc : Mọc hoang ở miền Nam nước ta
Thân : Cây gỗ cao 7 – 15 mét
: Kép lông chim từ 5 – 16 đôi, hình thuôn
Hoa : Mọc thành chùm, màu hồng tươi, thông
Quả : Hình trụ cứng, dài 20 – 60 cm, màu đen nhạt
Phần làm thực phẩm : Trái và hạt
Chế biến : Trái ăn tươi, hạt rang hay luộc.


MƠ – Ô MAI – HẠNH
Nơi mọc : Mọc hoang và được trồng ở miền Bắc
Thân : Loại cây nhỏ, cao 4 – 5 mét
: Mọc so le, bầu dục nhọn đầu, mép răng cưa
Hoa : Năm cánh, trắng hoặc hồng, mùi thơm
Quả : Quả hạch, hình cầu, màu vàng xanh, 1 hạt
Phần ăn được : Quả
Chế biến : Ăn tươi hay muối thành ô mai.



THỊ - THỊ MUỘN
Nơi mọc : Mọc hoang và được trồng khắp nơi
Thân : Gỗ cao từ 5 – 10 mét
: Mọc so le, hình trứng thuôn, phủ lông
Hoa : Đa tính, hợp thành sim, màu trắng, có lông
Quả : Tròn hơi đẹt, khi chín màu vàng, thơm gắt
Phần ăn được : Trái
Chế biến : Không,



DÂU TẰM - TẦM TANG
Nơi mọc : Được trồng và mọc honag (do trồng rồi bỏ)
Thân : Thường cao 2 – 3 mét, có thể cao 15 mét
: Mọc so le, hình bầu dục nhọn, mép răng cưa
Hoa : Đơn tính, mọc thành khối hình cầu, 4 lá dài
Trái : Trái kép, mọng nước, màu đỏ, sắc đen thẩm
Phần ăn được : Trái
Chế biến : Không.




SỔ - THIỀU BIÊU
Nơi mọc : Mọc hoang ở rừng núi, dọc bờ sông, suối
Thân : Cây gỗ to, cao 15 – 20 mét
: To, dài, hình bầu dục nhọn, mép khía răng cưa
Hoa : Hoa to, mọc đơn độc ở kẽ lá.
Trái : Hình cầu, do lá đài phát triển thành bản dầy
Phần ăn được : Trái
Chế biến : Không.




SIM – ĐƯƠNG LÊ – SƠN NHẬM
Nơi mọc : Mọc hoang ở các đồi trọc Trung, Nam bộ
Thân : Cây nhỏ, cao 1 – 2 mét
: Mọc đối, hình thuôn, phiến dầy, có lông mịn
Hoa : Hồng tím, đơn độc hoặc từng chùm 3 cái
Trái : Mọng , màu tím thẩm, hạt nhiều
Phần ăn được : Trái
Chế biến : Không.



SUNG
Nơi mọc : Mọc hoang và được trồng khắp nơi ở VN
Thân : Cây to, phân nhánh ngang
: Hình mũi giáo, có lông khi còn non
Hoa : Để hoa phát triển thành trái
Trái : Trái giả, mọc thành chùm trên thân cây
Phần ăn được : Trái và lá non
Chế biến : Ăn sống hoặc muối, lá có thể gói nem.




ĐÀI HÁI – MỠ LỢN – MƯỚP RỪNG
Nơi mọc : Mọc hoang trong rừng núi
Thân : Dây leo, thân nhẵn, có thể dài hơn 30 mét
: Hình tim, chia 3 – 5 thùy, rộng 15 – 25 cm
Hoa : Hoa đực mọc chùm, hoa cái đơn độc
Trái : Hình cầu, to, có 6 – 12 hạt lớn, hình trứng dẹt
Phần ăn được : Hạt
Chế biến : Ép dầu, nướng hay rang như đậu phộng.




MÂM XÔI – ĐÙM ĐŨM
Nơi mọc : Mọc hoang ở khắp núi rừng miền Bắc
Thân : Cây vừa, thân leo, có nhiều gai nhỏ
: Lá đơn, hình tim, chia 5 thuỳ, mặt có lông
Hoa : Hình chùm, 5 cánh, màu trắng, nhiều nhuỵ
Trái : Kép, hình mâm xôi, khi chín màu đỏ tươi
Phần ăn được : Trái
Chế biến : Không.




CHAY
Nơi mọc : Mọc hoang và được trồng nhiều nơi
Thân : Cây to, cao 10 – 15 mét
: Mọc so le, trên nhẵn, dưới có lông ở gân lá
Hoa : Hoa đực, hoa cái mọc trên cùng một cây
Trái : Khi chín màu vàng, mềm, cơm màu đỏ
Phần ăn được : Trái
Chế biến : Không.




NHÓT – LÓT
Nơi mọc : Mọc hoang, trồng ở các tỉnh miền Bắc
Thân : Cây vừa, cành mềm, có gai
: Hình bầu dục, mọc so le, mặt dưới trắng bạc
Hoa : Không tràng, có 4 lá dài
Trái : Hình bầu dục, khi chín đỏ tươi, có phủ lông
Phần ăn được : Trái
Chế biến : Ăn sống hoặc nấu canh.




CHUA CHÁT
Nơi mọc : Mọc hoang các tỉnh cực Bắc VN
Thân : Gỗ cao 10 – 15 mét, cây non có gai
: Hình bầu dục, mép khía răng cưa
Hoa : Họp thành tán, từ 3 – 5 hoa, cánh màu trắng
Trái : Tròn dẹt, khi chín màu vàng lục
Phần ăn được : Trái
Chế biến : Không.




TÁO MÈO
Nơi mọc : Mọc hoang ở các tỉnh cực Bắc VN
Thân : Cây lỡ, cao 5 – 6 mét, cây non cành có gai
: Đa dạng, non xẻ thuỳ, cây lớn bầu dục
Hoa : Họp thành chùm 1 – 3 hoa, cánh màu trắng
Trái : Hình cầu thuôn, khi chín màu vàng lục
Phần ăn được : Trái
Chế biến : Không.




GẮM – DÂY MẪU – DÂY SÓT
Nơi mọc : Mọc hoang tại các vùng rừng núi nước ta
Thân : Dây leo, dài 10 – 12 mét, rất nhiều mấu
: Mọc đối, hình trứng, thuôn dài, đầu nhọn
Hoa : Hình nón, thành chùm dài hay mọc vòng
Trái : Hình trứng, bóng, phủ một lớp như sáp
Phần ăn được : Trái
Chế biến : Không




SEN – LIÊN – QUÌ
Nơi mọc : Được trồng và mọc hoang ở các ao đầm
Thân : Hình trụ, mọc trong bùn, thường gọi là ngó
: Hình khiên, tròn, to, gân toả đều
Hoa : To, màu trắng hay đỏ hồng, nhiều cánh
Trái : Được gọi là hạt, nằm trong gương sen
Phần ăn được : Hạt, ngó sen, cuống hoa non
Chế biến : Ăn sống, xào nấu, muối chua, nấu chè.



TRỨNG CUỐC
Nơi mọc : Mọc hoang khắp rừng núi nước ta
Thân : Cây bại, có cành vươn dài
: Mọc so le, hình mác dài, mặt trên nhẵn bóng
Hoa : Nhỏ, màu trắng, mọc thành chùm ở kẽ lá
Trái : Hình trứng, xám có điểm những chấm trắng
Phần làm thực phẩm : Trái và lá
Chế biến : Trái ăn, lá nấu uống thay trà (chè)




DÂU RƯỢU – DÂU TIÊN – THANH MAI
Nơi mọc : Mọc hoang ở tỉnh miền Bắc và Trung
Thân : Cây thường cao 0,40 – 0,50 mét
: Thuôn dài, non có răng cưa rõ, già không rõ
Hoa : Hoa cái hình đuôi sóc, hoa đực gầy, thưa hoa
Trái : Hình cầu, gần giống trái dâu, chín màu đỏ tím
Phần ăn được : Trái
Chế biến : Phơi khô, ăn tươi, ủ thành rượu.




LƯỜI ƯƠI – BÀNG ĐẠI HẢI
Nơi mọc : Mọc hoang ở các tỉnh miền Nam nước ta
Thân : Cây to, cao 30 – 40 mét
: Đơn, nguyên hay xẽ thuỳ, mặt dưới nâu hay bạc
Hoa : Hoa nhỏ, không cuống, họp thành 3 – 5 chuỳ
Trái : Dạng lá, hình trứng, giống đèn treo
Phần ăn được : Trái
Chế biến : Ngâm trái vào nước cho nở ra, cho đường vào rồi ăn như thạch.




MUA BÀ – DÃ MẪU ĐƠN
Nơi mọc : Khắp các bãi hoang, đồi trọc, ven rừng…
Thân : Bụi, cao khoảng 1 mét, phủ lông
: Hình trứng nhọn, có 5 – 7 gân dọc, phủ lông
Hoa : Lớn, mọc chụm đầu cành, màu tím hoa cà
Trái : Hình chén, phần đầu hơi hẹp lại
Phần ăn được : Trái
Chế biến : Không




XỘP – VẢY ỐC – SUNG THẰN LẰN
Nơi mọc : Mọc hoang, được trồng làm cảnh khắp nơi
Thân : Cây leo nhờ rễ, bám vào vách đá, đại thụ…
: Đa dạng, mép nguyên, mặt lá nhám
Hoa : Hoa nhiều, đơn tính, đế hoa lõm
Trái : Trái giả, hình chén kín, khi chín màu vàng, đỏ
Phần ăn được : Trái
Chế biến : Không




DẺ - KHA THỤ TÀU
Nơi mọc : Các sườn núi cao dưới 700 mét
Thân : Cây gỗ cao khoảng 20 mét, vỏ màu tro xám
: Dạng mũi mác, mép trên có răng cưa
Hoa : Nhỏ, đơn tính, hoa đực trắng lục, hoa cái chứa một tổng bao xếp thành một bông ngắn
Trái : Quả hạch, hình trứng, màu vàng nâu, có lông
Phần ăn được : Hạt
Chế biến : Rang ăn hay nấu với thịt




DÂU NÚI – XÀ MỖI
Nơi mọc : Mọc hoang theo bờ suối, nơi ẩm, rừng núi
Thân : Cây thảo, mọc bò, sống lâu năm, rễ ngắn thô
: Kép lông chim, 3 lá chét, mép có răng cưa
Hoa : Màu vàng, mọc đơn độc, cuống dài, nhiều lá đài
Trái : Quả bế, nhăn nheo, bầu dục, chín màu hồng
Phần ăn được : Trái
Chế biến : Ăn tươi - ủ rượu- làm mứt




KIM ANH – THÍCH LÊ TỬ - ĐƯỜNG QUÁN TỬ
Nơi mọc : Mọc hoang ở các vùng cực Bắc nước ta
Thân : Mọc dựa thành bụi, nhiều gai như hoa hồng
: Kép lông chim, 3 lát chét, mọc so le, răng cưa
Hoa : Mọc riêng đầu cành, 5 cánh, màu trắng
Trái : Hình trứng, nhiều gai, khi chín màu vàng nâu
Phần ăn được : Trái (bỏ hạt, vì có độc)
Chế biến : Không





HỒ ĐÀO – ÓC CHÓ
Nơi mọc : Mọc hoang từ Đông Nam Châu Âu tới Nhật Bản, được trồng ở các tỉnh cực Bắc nước ta
Thân : Cây gỗ to, cao khoảng 20 mét
: Kép lông chim , có từ 7 – 9 lá chét, mùi hăng
Hoa : Đơn tính, hoa đực hình đuôi sóc.
Trái : Quả hạch, có vỏ nạc, chín nứt thành 3 – 4 mảnh
Phần ăn được : Nhân hạt
Chế biến : Ép dầu hoặc rang ăn.

Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
THỰC PHẨM (tiếp theo)



CÁC LOẠI CÂY NHƯ RAU CẢI


THỔ CAO LY SÂM
Còn gọi là giả nhân sâm, thổ nhân sâm. Mọc hoang và được trồng khắp nơi ở Việt Nam. Dùng lá, thân non, củ, để nấu canh.

MỒNG TƠI
Là một loại dây leo, có nguồn gốc ở các nước nhiệt đới. Mọc hoang hoặc được trồng theo hàng rào để lấy rau ăn. Dùng lá và thân cây non nấu canh, luộc…

RAU ĐẮNG
Mọc honag trong những nơi ẩm, ruộng bỏ hoang, lòng suối cạn. Dùng toàn thân, ăn sống hoặc nấu canh.

CẢI SƠN – CRESSON
Mọc hoang ở các xứ lạnh, được trồng ở các vùng cao nguyên Việt Nam. Dùng cả cây ăn sống, trộn dầu dấm hoặc nấu canh.

NGỔ - NGỔ TRÂU
Mọc hoang trong các ao hồ. Dùng thân cây ăn sống hoặc làm gia vị, nêm canh

DỪA NƯỚC
Là loại cây bò hay mọc nổi trên mặt nước, rễ bén ở các mấu, có phao nổi. Dùng toàn cây, ăn sống

RAU TÀU BAY
Là loại “cải trời”, mọc hoang ở những vùng rừng chồi, trảng trống, rừng tái sinh… Luộc hay xào nấu như các loại cải trồng.
BỤP DẤM
Là loại cỏ cao khoảng 1 mét, mọc ở các bãi đất hoang, thân có gai móc, hoa vàng, lá và đọt non nấu canh hay thay thế dấm.

DƯA NÚI
Dây leo hàng năm, thân nhám, mảnh. Trái xoan nhọn, lúc chín màu đỏ. Mọc ở đất hoang và lùm bụi. Trái non và lá dùng nấu canh. Rất đắng.

GẠC NAI
Là một loại cây thuỷ sinh, thân mềm, mọc khắp nơi trong nước, ở những vùng đất bùn lầy, đồng ruộng… Ở Nhật, người ta trồng để làm rau ăn.

CỨT QUẠLoại cỏ bò có thân mảnh. Mọc hoang ở các rừng tái sinh, đất hoang Cao Lạng đến Phú Quốc. Lá người ta thường dùng để câu cá Mè, vinh đọt và lá non nấu canh.

CÁP VÀNG
Cây thân mộc, cao khoảng 10 mét. Mọc hoang ở các vùng đất khô Nam, Trung Bộ, hoa màu vàng có vết cam. Người ta dùng lá và hoa để nấu canh.

CẢI ĐẤT TRÒN
Cây thân thảo, cao đến 60cm, ít nhánh. Rìa lá có răng không đều. Mọc hoang ở sân vườn và các vùng đất hoang trống trải. Lá dùng như rau cải.

HẢI CHÂU
Cỏ mập, nằm, có rễ ở mắt. Lá có phiến hình cái dầm, mập, dầy, không lông . Mọc hoang dựa ven biển. Lá ăn được, tuy nhiên, phải luo65c và xả nước thật kỹ.

DỀN GAI - DỀN CƠM
Dền gai có thể cao đến 1 mét, phân nhiều nhánh, không lông, thân có gai. Dền cơm thấp nhỏ hơn, thân không gai. Mọc ở vùng đất hoang, dựa lộ… lá và thân luộc hay nấu canh

CẢI ĐẤT ẨN
Cỏ hằng niên, cao đến 50cm. Lá nguyên hay có thuỳ hình đờn violon. Mọc hoang ở các rẫy ruộng, đất hoang, còn có khi trồng để lấy lá và hột ăn như rau cải

CỎ TAM KHÔI
Cỏ mập, mọc sà ở đất, lá cặp một lớn một nhỏ. Hoa màu hường nhạt hay trắng. Mọc hoang từ Bắc đến Nam. Lá ăn tươi hay nấu canh.

TINH THẢO
Là loại cỏ nằm, rồi đứng. Lá mỏng, to, đáy tròn, chót nhọn. Hoa tụ tán dễ thấy, màu xanh. Mọc hoang ở đồng cỏ, rừng thưa. Thân và lá non dùng ăn như rau.

MÃ ĐỀ - XA TIỀN
Mọc hoang và được trồng nhiều nơi trong nước, dùng toàn cây để nấu canh ăn cho mát, lợi tiểu

RAU SAM
Là một loại cỏ sống hàng năm, thân màu tím hay đỏ nhạt. Mọc hoang ở những vùng cát ẩm. Dùng toàn thân ăn sống hoặc nấu canh.

MÙI TÀU
Cây mọc hoang và được trồng khắp nơi trong nước. Lá ở gốc mọc thành hoa thị, thuôn dài, mép có răng cưa, hơi gai. Lá tươi dùng làm gia vị hay ăn sống

BÙ NGÓT
Cây nhỏ, nhẵn, có thể cao 1 – 2 mét. Mọc hoang và được trồng khắp nơi trong nước để lấy lá nấu canh.

LÁ MƠ
Còn gọi là mơ tam thể. Là một loại dây leo, lá mọc đối, có phủ lông. Mọc hoang và được trồng khắp nơi trong nước để lấy lá ăn.

DIẾP CÁ – GIẤP CÁ
Là một loại cỏ nhỏ, mọc hoang và được trồng khắp các vùng ẩm ướt. Hái toàn thân để ăn sống.

TAI CHUA
Là loại cây nhỏ, mọc hoang ở các khu rừng miền Bắc nước ta. Cây còn được trồng để lấy quả và lá ăn hay nấu canh.

RAU MÁ
Là một loại cỏ bò trên mặt đất. Mọc hoang và được trồng ở những vùng đất ẩm, thu hái toàn thân để ăn sống, nấu canh hay chế biến nước giải khát.

SA SÂM
Là loại cỏ sống lâu năm, rễ phình to thành củ, thân bò chia thành nhiều đốt, mỗi đốt mọc lên một cây con. Thường mọc hoang ở các bờ biển Việt Nam.

LÁ LỐT
Là loại cây thân mềm, nhỏ, mọc hoang và được trồng nhiều nơi trong nước để lấy lá ăn hoặc làm gia vị

CHÙM BAO
Còn gọi là dây Lạc Tiên. Là một loại dây leo, mọc hoang khắp nơi trong nước. Lá và đọt non dùng nấu canh. Trái ăn được.

SO ĐŨA
Cây thân gỗ, cao 8 – 10 mét . Mọc hoang và được trồng nhiều nơi ở miền Nam nước ta. Hoa, trái non, lá, có thể dùng để xào hoặc nấu canh.

CÀNG CUA
Cây cỏ sống hàng năm, mọc hoang ở những nơi ẩm mát. Thu hái toàn cây để ăn sống hay trộn dầu dấm.

ĐẬU SĂNG
Cây bụi, cao 1- 2 mét, mọc hoang và được trồng nhiều nơi trong nước. Trái non dùng để xào như đậu ván. Trái già rang để nấu nước uống hay nấu chè.

VỐI
Cây cao 3 – 6 mét, mọc hoang và được trồng khắp nơi trong nước để lấy lá và nụ phơi khô, hay ủ nấu nước uống.

KÈO NÈO
Mọc hoang ở các ao hồ, đầm lầy, thu hái lá dùng để ăn sống.

CHUA ME ĐẤT
Là một loại cỏ bò lan trên mặt đất. Mọc hoang khắp nơi trong nước, thu hái toàn thân để nấu canh, ăn sống.

CHÈ – TRÀNếu mọc hoang và không cắt xén, có thể cao đến 10 mét. Hái búp và lá non, vò rồi xao cho khô để nấu nước uống.

GHI CHÚ : Những cây dùng làm thực phẩm vừa kể trên đây còn cóthể dùng làm dược liệu để chữa một số bệnh. Các bạn cần nghiên cứu để kết hợp giữa thực phẩm và thuốc men.
Những cây hoang dã nhưng có thể dùng làm thực phẩm dưới đây, chúng tôi tham khảo từ tài liệu của BOY SCOUTS OF AMERICA (HƯỚNG ĐẠO SINH HOA KỲ), cho nên hầu hết thường mọc tại vùng Bắc Mỹ. Tuy nhiên, có một số cây cũng mọc ở Việt Nam và một số nước lân cận.



BLUEBERRY
Mọc hoang ở Mỹ, Canada, và cận Bắc cực. Quả mọng ăn sống, nấu chín, ướp lạnh hay phơi khô để dành.

CRANBERRY (MÂN VIỆT QUẤT)
Mọc hoang khắp Bắc Mỹ. Trái được hái sau đợt sương giá đầu tiên. Trái tươi hay khô đều có thể nấu với đường để làm sốt, mứt hay si-rô.

BEECH
Mọc ở các nơi ẩm ướt miền Nam và Đông Hoa Kỳ, Canada. Quả hạch kép, có thể ăn sống hay rang lên xay uống như cà phê. Vỏ trong phơi khô, xay bột làm bánh.

BIRCH (BU-LÔ)
Mọc ở những ôn đới Bắc Mỹ. Vỏ ngoài dùng làm thuyền, thùng đựng nước, lợp chòi trú ẩn… Vỏ trong có thể ăn sống, thái nhỏ nấu canh. Lá non nấu uống thay trà.

BUNCHBERRY
Mọc hoang ở Hoa Kỳ, Alaska và một vài nơi cận Bắc cực. Quả mọng có thể ăn sống hoặc nấu chín.

BUTTERNUT
Mọc ở miền Đông Hoa Kỳ và Canada. Quả hạch có nhiều chất béo, ăn được, nhựa thu hoạch để nấu làm si-rô.

MAY APPLE
Mọc hoang ở Canada và Bắc Mỹ. Trái ăn sống, ép lấy nước, làm mứt… Chú ý : thân, rễ, lá, có chất độc.

ROSE (HỒNG HOANG)
Mọc hoang ở Bắc Mỹ. Trái có thể ăn sống, hoa làm trà, hạt nghiền làm gia vị.

PAPAW
Cây lớn, mọc hoang ở Hoa Kỳ và Canada. Trái ăn rất ngon và là nguồn dinh dưỡng tốt.

PRICKLY PEAR
CACTUS (XƯƠNG RỒNG)
Thường mọc hoang khắp nơi trên thế giới, ở vùng đất cát và hoang mạc. Trái chín có màu đỏ ăn được, thân chứa nhiều nước, có thể sử dụng để sinh tồn.

RUM CHERRY
Cây mọc nhiều từ Canada đến Mexico. Trái có thể ăn sống, nấu chín hoặc chế biến thành rượu.

OAK ACORN (SỒI)
Là một trong những cây ăn trái chính của các cánh rừng ở Mỹ và Canada. Trái phải ngâm nước cho tới khi nước có màu vàng để khử đắng. Sấy khô chậm trên lửa rồi nghiền thành bột để làm bánh.

WILD STRAWBERRY (DÂU TÂY HOANG)
Mọc ở nhiều nơi trên thế giới. Quả mọng ăn sống hay nấu chín. Lá thay trà. Thân và cuống ăn sống.

SUNFLOWER (HƯỚNG DƯƠNG)
Mọc hoang và được trồng khắp nơi trên thế giới. Hạt dùng rang ăn hoặc ép dầu.

WILD PLUM (MẬN HOANG)
Mọc ở Bắc Mỹ và Canada. Trái có thể ăn sống, nấu chín, còn dùng để làm mứt và chế biến thành rượu.

WINTERGREEN
Mọc ở một số nơi, ở Bắc Mỹ và trên thế giới. Quả ăn sống, lá làm trà.

SERVICEBERRY
Mọc ở những vùng trống trải và ẩm ướt ở Bắc Mỹ. Quả mọng ăn sống, phơi khô hay nghiền thành bột để làm bánh.

WILD APPLE (TÁO HOANG)
Mọc hoang ở Bắc Mỹ và Canada. Trái có thể ăn sống hoặc nấu chín.

GROUND CHERRY (THÙ LÙ – BỒM BỘP)
Mọc hoang ở các nước vùng nhiệt đới. Quả chín khi màng bao ở ngoài mỏng như tờ giấy bóng. Quả mọng ăn sống hay làm mứt.

GRAPES (NHO HOANG)
Mọc hoang ở một số nước trên thế giới. Trái mọng kết thành chùm, ăn tươi hoặc phơi khô hay ủ thành rượu. Lá non có thể ăn tươi hoặc xào nấu.
Lưu ý : rễ có chất độc.

HORSERADISH
Mọc hoang ở Bắc Mỹ. Lá có thể luộc, bóp muối, trộn dầu dấm. Củ thái mỏng hoặc mài để nấu với thịt.

CHOKECHERRY
Mọc hoang ở Bắc Mỹ. Quả mọng ăn tươi, nấu chín hay ủ thành rượu.
Chú ý : Trong lá có chất độc

RED CURRANTS (NHO ĐỎ HOANG)
Mọc hoang ở Bắc Mỹ, còn tìm thấy ở những nơi có nước trong sa mạc. Quả mọng kết thành chùm, ăn sống, nấu chín hoặc ủ thành rượu.

KINNIKINIC
Mọc hoang ở Bắc Mỹ. Quả mọng có thể ăn sống hoặc nấu chín. Lá non thay trà. Lá già ủ phơi, hút như thuốc lá.

HICKORY
Rất giống cây Hồ Đào ở Việt Nam. Mọc hoang ở Bắc Mỹ. Quả hạch, có thể ăn sống, hạt rang hoặc ép dầu.

HACKBERRY
Mọc hoang ở Bắc Mỹ. Quả mọng, có thể ăn sống. Nhân của hạt cũng có thể ăn hoặc nghiền làm gia vị.

MOUNTAIN ASH
Cây mọc ở những vùng đất ẩm ở Hoa Kỳ và Canada. Quả mọng, có thể ăn sống, phơi khô, nghiền làm gia vị, làm mứt, chế biến thành rượu.

HAWTHORN (TÁO GAI)
Mọc hoang ở một số nước trên thế giới. Trái có màu đỏ hồng, vàng, đen hoặc hơi xanh. Có thể ăn tươi, phơi khô, nghiền bột làm bánh.

NEW JERSEY TEA
Mọc hoang ở Hoa Kỳ và Nam Canada. Lá non tươi hay phơi khô có thể nấu trà uống.

KENTUCKY COFFEE
Mọc hoang ở Bắc Mỹ. Hạt rang lên để ăn như đậu phụng, hoặc xay thành bột uống như cà-phê.

WILD RICE (LÚA HOANG)
Mọc hoang vùng ngập nước ở nhiều nơi trên thế giới. Hạt thu hoạch vào cuối mùa hè và chế biến như gạo.

PARTRIDGE BERRY
Mọc hoang trong các rừng lá kim dọc theo phía Đông bờ biển atlantic. Trái mọng, ở trên cây suốt mùa đông. Là thực phẩm quan trong trong mưu sinh vùng băng giá.

BLACKBERRY & RASPBERRY
Giống cây mâm xôi ở Việt Nam. Mọc hoang ở Bắc Mỹ, Canada và một số nứơc trên thế giới. Quả mọng, có thể ăn sống, nấu chín hay ủ rượu. Cành non có thể ăn sống sau khi đã lột vỏ.

WILLOW
Mọc hoang ở Bắc Mỹ, lá non ăn sống. Vỏ trong của cây có thể ăn sống, thái thành sợi để nấu hay nghiền thành bột

HAZELNUT
Mọc hoang ở Bắc Mỹ. Hạt có thể ăn sống hay chế món xà-lách.
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-02-07 23:57:25NuHiepDeThuong>
Thực phẩm (tiếp theo)


NẤM
Là một loại thực phẩm ngon và bổ dưỡng. Tuy nhiên, các bạn phải biết nhận dạng cho chính xác những loại nấm mình đã từng ăn hay thấy người khác ăn. Vì không có công thức hay dấu hiệu tuyệt đối nào giúp chúng ta phân biệt được nấm ăn được hay nấm độc. Vì thế, các bạn cần hiểu biết rõ từng loại nấm. Nếu nghi ngờ thì tốt hơn hết là đừng ăn, vì ngộ độc nấm có thể đưa đến cái chết.
Các phần của cây nấm :
Thông thường, các cây nấm có những phần sau : dù (hay mũ), khía hay các lỗ hổng nhỏ li ti, vành hay nhẫn (có khi không có), chân hay thân, loa hình chén (có khi không có), rễ.

HÌNH

NHẬN DẠNG CÁC LOẠI NẤM
Có hơn 10.000 loại nấm mọc trên thế giới, trong đó có nấm công nghiệp, nấm dược liệu, nấm thực phẩm, nấm độc…
Thông thường thì các loại nấm có kẻ khía dưới mũ, có vành hoặc không vành, gốc không có loa hình chén (bất cứ màu gì), đều có thể ăn được.

HÌNH

Khi đi lấy nấm, các bạn nên làm theo những lời khuyên sau :
- Nên đi với người có kinh nghiệm trong việc thu lượm nấm
- Ghi nhớ những nơi có môi trường thuận lợi mà nấm thường mọc, cùng với thời tiết khi nấm mọc. (Nấm chỉ mọc trong môi trường và thời tiết thích hợp ở một khoảng thời gian nhất định.)
- Nấm có thể mọc liên tiếp nhiều ngày ở cùng một địa điểm. Năm sau, vào đúng thời điểm, nấm có thể mọc lại chỗ cũ.
- Đừng bao giờ cắt ngang chân nấm, phải đào lên xem có bọc loa hình chén không.
- Đừng lấy những cây nấm nào mọc dưới đất mà phía dưới mũ có các bào tử li ti màu đỏ hồng.
- Đừng lấy những nấm khía có nhựa trắng đục như sữa.
- Đừng lấy nấm có đầu bóng láng, có màu sặc sỡ hay phát sáng (lân tinh) trong đêm tối.
Các loại nấm ăn được thường gặp ở các cánh rừng Việt Nam là : nấm mối, nấm tre, nấm tràm, nấm hương, mộc nhĩ… Và nấm thường trồng ở nông thôn là : nấm rơm, mộc nhĩ…

CÁC LOẠI NẤM ĐỘC

HÌNH

AMANITE PALLOIDE (NÓN TỬ THẦN)
Màu sắc : hơi xanh ô liu hoặc hơi vàng
Mũ : rộng từ 5 – 15 cm
Thân : màu nhạt hơn mũ
Khía : màu trắng, mịn
Thịt : trắng
Loa chén : lớn
Thường mọc nhiều trong các rừng rậm, rất độc.

HÌNH


AMANITE VIROSE (THIÊN THẦN HUỶ DIỆT)
Màu sắc : toàn bộ trắng tinh
Mũ : dạng hình nón, rộng từ 5 – 20cm
Khía : trắng
Loa chén : lớn
Mùi : hăng dịu
Mọc ở Đông Canada và Tây Bắc Thái Bình Dương, rất độc.

AMANITE PANTHERE (DA BEO)

HÌNH

Màu sắc : hơi nâu với những đốm trắng, không thể rửa sạch
Mũ : rộng từ 5 – 10cm
Thân : to, dầy, màu trắng
Khía : trắng
Thịt : trắng
Thường mọc ở rừng rậm, rất độc, đừng lầm lẫn với nấm lépiote élevée.

AMANITE MUSCARE (NẤM BAY)

HÌNH

Màu sắc : mũ màu đỏ có những đốm trắng, những đốm nầy không bị trôi dưới các cơn mưa.
Mũ : rộng từ 7 – 25 cm
Vành : màu trắng, rũ xuống
Thân : màu trắng, có những mụt vàng ở dưới gốc
Khía : màu trắng
Nấm đôi khi có màu vàng nếu tìm thấy ở dưới những gốc cây thông.

AMANITE TUE MOUCHES

HÌNH

Màu sắc : màu đỏ, có những đốm trắng như nùi bông
Mũ : từ 7 – 10 cm
Thân : có vẩy, màu trắng, gốc tròn như củ hành
Khía : màu trắng, mịn
Thịt : màu trắng
Nấm mọc ở rừng thưa và rừng thạch thảo

ENTOLOME LIVID

HÌNH

Màu sắc : hung hung hoặc xám
Mũ : nhớt, rộng từ 8 – 15 cm
Thân : trắng, có khía, đôi khi có đốm hồng
Khía : lúc đầu vàng, sau chuyển thành hồng
Thịt : trắng
Mọc thành từng cụm trong các cánh rừng khô ráo.


AMANITE CITRINE
Màu sắc : màu vàng, có những nốt sần màu ngà
Mũ : mặt trên vòng cung, dưới hình dĩa, từ 5 – 10cm
Khía : trắng, mịn
Thân : cứng, màu trắng
Chén loa : màu trắng, có những nốt sần
Thịt : trắng
Mọc trong những rừng thoáng mát, những truông hoang dã, là một loại nấm nguy hiểm.

RUSSULE EMETIQUE
Màu sắc : đỏ hồng
Mũ : hơi lõm, rộng từ 4 – 10 cm
Khía : trắng, nghiêng xuôi xuống chân
Thân : dầy, trắng, phía dưới hơi hồng
Thịt : trắng, hơi hồng dưới lớp da ngoài
Hương vị : rất cay (có thể ăn một miếng nhỏ).
Là một loại nấm nguy hiểm. Mọc ở những khu rừng ẩm ướt. Có tính xổ mạnh.

LACTAIRE TOISONNE hay COLIQUES
Màu sắc : màu cam, càng vào tâm càng sẩm màu
Mũ : 5 – 10 cm, hơi lõm, bao phủ bằng 1 lớp lông tơ
Khía : hơi trắng hay hơi đỏ, nghiêng xuôi xuống chân
Thân : ngắn, dầy, màu trắng hồng.
Nhựa : màu trắng, rất chát.
Là một loại nấm nguy hiểm, mọc trên thảo nguyên.

BOLET SATAN
Màu sắc : trắng ngã xám
Mũ : từ 10 – 30 cm
Khía : không có khía mà thay thế là những lỗ nhỏ li ti
Thân : phình lớn ra, hơi trắng, điểm đốm đỏ với một lưới màu đỏ máu.
Thịt : thịt của mũ, xanh dần từ trong ra ngoài, thịt của thân đỏ dần từ ngoài vào trong.
Loại nấm nguy hiểm, mọc ở rừng thưa, bãi chăn nuôi.


***

Ở VIỆT NAM CÓ NHỮNG LOẠI NẤM ĐỘC NÀO ?

Việt Nam ở trong vùng nhiệt đới, có khí hậu nóng và ẩm cho nên có rất nhiều loại nấm : Nấm ăn được, nấm ăn không được và nấm độc. Nấm độc thì cực kỳ nguy hiểm, dù chỉ ăn một lượng rất ít, cũng có thể dẫn đến cái chết. Có nhiều loại nấm độc lại rất giống với nấm ăn được. Vì thế, khi thu hái nấm, các bạn phải rất cẩn thận theo như cách đã hướng dẫn phần trước.
Theo các nhà khoa học, ở Việt Nam nước ta có một số nấm độc sau đây :
- Nấm ruồi (Amanita muscaria = nấm bay) còn gọi là nấm đỏ, vì mũ nấm có màu đỏ hay cam.
- Nấm độc nâu (Amanita pantherina) mũ nấm màu nâu, ở đỉnh đầu có màu nâu đen hay màu giống da beo.
- Nấm độc tán trắng (Amanita verna) mũ nấm màu trắng, đôi khi có màu vàng bẩn ở giữa.
- Nấm độc hình nón (Amanita virosa = Thiên thần huỷ diệt)
- Nấm độc xanh đen (Amanita Phalloides = Nón tử thần) mũ nấm màu xanh ô-liu.
- Nấm phiến đốm bướm (Panacolus papilionaceus) thường mọc trên các bãi phân trâu bò mục.
- Nấm phiến đốm vân lưỡi (Panaceolus retirugis) cũng mọc trên những nơi có phân súc vật.
- Nấm vàng (Hypholoma fasciulare) thường mọc từng đám lớn trên cây mục.
- Nấm xốp gây nôn (Russula emetica) màu đỏ, mọc đơn độc trong rừng rậm ẩm ướt.
- Nấm xốp thối (Russula foetens) mọc trong rừng.

CÁC LOẠI NẤM ĂN ĐƯỢC

ORANGE VRAIE
Màu sắc : vàng hay đỏ bầm
Mũ : hình cung, rộng từ 10 – 15 cm
Khía : rộng, màu vàng rực rỡ
Thân : màu vàng
Chén loa : màu trắng
Thịt : màu trắng, hơi vàng dưới lớp da ngoài của mũ.
Mọc trong những cánh rừng có ánh mặt trời.

LEPIOTE ELEVEE hay COULEMELLE
Là loại nấm lớn nhất, có thể cao đến 30 cm.
Màu sắc : hơi xám hoặc hơi nâu, có vảy nâu
Mũ : 10 – 15 cm, lúc đầu hình trứng, sau nở ra như cái dù.
Khía : màu trắng
Thân : thon, gốc tròn như củ hành, hơi nâu
Không loa hình chén.
Mọc vào mùa thu trên các thảo nguyên, rừng thưa….

COPRIN CHEVELU
Màu sắc : màu trắng
Mũ : hình chuông, được bao phủ bằng nhiều vảy trắng
Khía : rất mịn, lúc đầu màu trắng, chuyển thành hồng, kế đến màu đen, rồi chảy thành từng giọt nước đen (chỉ nên ăn khi khía nấm còn màu trắng).
Thường mọc nhiều trên các thảo nguyên, lề đường và những vùng đất gò.

LACTAIRE DELICIEUX hay ROUGILLON
Màu sắc : màu cam, vành sậm màu, đôi khi có đốm lục .
Mũ : 5 – 15 cm, hơi lõm
Khía : nghiêng dần xuống chân, hơi đỏ, nếu bị dập thì chuyển sang màu hơi lục.
Nhựa : đỏ cam, trở thành lục dần khi gặp không khí
Thân : dầy, rỗng, hơi đỏ
Thịt : hơi trắng, trở thành cam rồi lục khi gặp không khí.
Mọc nhiều trong những cánh rừng thông.

TRICHOLOME DE LA ST. GEORGES
Là một loại nấm mập và lùn.
Màu sắc : trắng hơi vàng hoặc hơi xám
Mũ : hình nón
Khía : hơi khuyết gần gốc, màu trắng
Thân : khoẻ, màu trắng, không có bọc chén hoa
Thịt : màu trắng.
Nấm thường mọc vào mùa xuân.

BOLET CEPE DE BORDEAUX
Màu sắc : nâu sẫm hoặc hơi hung hung
Mũ : từ 8 – 20 cm, hình cung
Thân : phình ra ở dưới, màu nâu nhạt, có bao một cái lưới nhỏ, hơi trắng
Thịt : hơi trắng hay hơi vàng (đôi khi hơi đỏ)
Mọc nhiều trong các rừng sồi, và rừng cây lật, là một loại nấm ăn rất ngon.

HYDNE BOSSELE hay PIED DE MOUTON
Màu sắc : vàng nhạt hay màu cam hoặc hơi đỏ
Mũ : hình dáng không ổn định, lồi lõm, các mép so le
Khía : không có khía, mà thay thế bằng những sợi nhỏ, ngắn, dễ gãy, nghiêng dần xuống chân.
Thân : dầy, cùng màu với nón (mũ)
Thịt : trắng ngã vàng
Mọc ở những cánh rừng rậm lá, thường kéo dài thành một dãy lộn xộn.

CHANTERELLE COMESTIBLE
Màu sắc : màu lòng đỏ trứng hay màu kem
Mũ : từ 2 – 10 cm, ban đầu hình cung, sau biến thành hình phễu với mép viền hoa so le
Khía : được thay thế bằng các gân cùng màu với mũ, nghiêng dần xuống chân.
Thân : dầy, ngắn, liền với mũ
Thịt : trắng ngã vàng.
Loại nấm ngon, mọc trong các cánh rừng rậm lá.

CRATELLE CORNE D’ABONDANCE
Màu sắc : trong nâu, ngoài vàng cam, viền xám tro
Mũ : hình loa kèn, mang tính như sụn, mỏng
Mọc thành từng bụi, kéo thành dãy dài, trong những rừng cây trăn, rừng sối, rừng dẻ gai… rậm lá. Là một loại nấm thơm ngon nhưng rất dễ héo.

MORILLE COMESTIBLE
Là loại nấm hình dáng như đầu trọc hoặc hình nón, màu xám, nâu đen, đôi khi hơi vàng, rỗng, có lỗ hổng không đều đặn, chân rỗng, ngắn, có đường soi, hơi trắng.
Người ta tìm thấy trong các rừng rậm lá, sống bên cạnh gốc cây trăn, tần bì… Người ta cũng tìm thấy nó ở các cánh đồng cỏ nuôi gia súc, gần các bụi cây khuyển bá (vercoss).
Là loại nấm ngon, nó tự khô và tự bảo quản.

NẤM MÈO (MỘC NHĨ)
Mọc trên những cây, cành gỗ mục ở trong rừng hay ở đồng bằng, trên một số cây như sung, duối, hoè, dâu tằm, so đũa … Giống hình tai người, mặt ngoài màu nâu nhạt có lông mịn, mặt trong màu nâu sẫm, nhẵn. Có thể dùng tươi hay phơi khô để dành.

NẤM HƯƠNG
Là một loại nấm quý, mọc trong những rừng ẩm mát, độ ẩm cao, nhiệt độ thấp, ánh sáng khuếch tán, ở các vùng núi cao nước ta. Bào tử của nấm bay rất xa, bám vào các loại gỗ thích hợp như cây cơm, dẻ đỏ, dẻ sồi, sồi bộp, đỏ ngọn, re đỏ …
Nấm có hình dù, mặt trên mũ có màu nâu, phía dưới có khía. Nấm có mùi rất thơm, được thu hái trong mùa mưa phùn.




RONG TẢO

Nếu các bạn đang ở vùng ven bờ biển, vịnh, rào, hay cửa sông, cửa lạch, vùng nước lợ … thì rong tảo cũng là một nguồn thực phẩm bổ sung rất quan trọng. Có rất nhiều loại rong tảo, nhưng không phải loại nào cũng có thể dùng làm thực phẩm được. Dưới đây là những loại rong tảo có thể làm thực phẩm thường gặp :

RAU CÂU (THẠCH HOA THÁI – AGAR)

Có nhiều loại, thường mọc ven biển hay cửa sông, cửa lạch, vùng nước lợ, trên mặt đá ngầm ở độ sâu 3 – 10 mét, có thể thu hái vào mùa thu để chế biến thành thạch.
Sau khi thu hái về, người ta đập bỏ vỏ sò, vỏ ốc, đất cát bám vào, rồi rửa nước lạnh cho thật sạch, đem phơi nắng, phơi sương (ngày, đêm) cho thật trắng rồi đem cất để dành dùng.
Để chế biến rau câu thành thạch, các bạn nấu rau câu (đã phơi khô) với nước (1 kg rau câu dùng 66 – 60 kg nước)
Đun sôi từ 80 – 100° cho chất thạch hoà tan trong nước, đem lọc qua vải cho hết chất cặn bẩn. Để nguội, thạch sẽ đông lại là có thể ăn ngay hoặc để trong mát cho thạch khô hết nước rồi đóng gói đem cất để ăn dần.

TẢO NÂU (HẢI ĐỚI – KELP)

Là loại tảo dẹt, màu nâu, có thể tìm thấy dọc theo bờ biển Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. Tảo nâu bám vào đá bằng rễ móc, có một bộ phận gọi là « thân » , hình trụ, và có bộ phận gọi là « lá » , dẹt và dài.
Những miếng tảo nhỏ có thể ăn sống ngay sau khi thu nhặt, và rửa sạch hay phơi khô để tăng thêm hương vị.
Tảo khổng lồ (Gian Ribbon Kelp) có thể tìm thấy trên bờ biển sau những cơn bão (do sóng đánh dạt vào). Các bạn có thể thu nhặt, rửa sạch, cạo bỏ lớp vỏ, có thể ăn sống như dưa leo, nấu với cá, thịt, hay muối chua.

HỒNG TẢO (LAVER)

Hồng tảo có thể tìm thấy dọc theo ven biển hoặc trong các rạn san hô. Hồng tảo có hình một phiến lá, có thể ăn tươi hay phơi khô (trước khi phơi khô nên thái thành miếng nhỏ). Khi đã khô, cho vào trong hộp kín, để nơi thoáng mát, khô ráo.
Hồng tảo có thể nấu như súp với thịt hoặc cá, có chứa nhiều chất dinh dưỡng và muối khoáng.

TẢO IRISH (IRISH MOSS)

Được tìm thấy dọc theo ven biển phía Đông của Bắc Mỹ. Đây là một loại tảo làm thực phẩm phổ thông của dân đi biển Bắc Mỹ, Iceland, Ireland, Norway.
Để làm thực phẩm, các bạn chỉ cần rửa thật sạch với nước lạnh cho bớt muối rồi phơi khô.
Người ta ninh tảo với thịt hay cá cho đến khi thật mềm. Tảo Irish chứa rất nhiều chất béo, chất dinh dưỡng, calcium, phốt pho, sắt, sodium, potassium… có thể giúp làm ngưng tiêu chảy.

TẢO DULSE

Có thể tìm thấy ven bờ biển Thái Bình Dương và Đại Tây Dương ở Bắc Mỹ.
Tảo Dulse có thể ăn tươi hay phơi khô. Nếu trời không có nắng, các bạn có thể sấy khô từng phần trong chảo lớn, trên lửa ngọn, để có thêm thức ăn khô dự trữ.
Tảo Dulse có chứa nhiều dưỡng chất như calcium, chất béo, phốt pho, sắt, sodium, potassium.


THỰC PHẨM TỪ ĐỘNG VẬT

Thực phẩm, từ động vật tuy hơi khó tìm hơn từ thực vật, nhưng nó cho chúng ta nhiều năng lượng hơn. Ở những nơi hoang dã, các bạn phải tập ăn và ăn được những động vật mà bình thường các bạn không dám đụng tới như các loài côn trùng, bò sát, nhuyển thể, lưỡng cư …
- Các loài côn trùng như mối, dế, châu chấu, bù rầy, ve sầu… đều có thể nướng hay rang lên ăn rất ngon. Nhộng ong thì tuyệt vời, có thể luộc, rang, nướng hay ăn sống. Còn mật ong thì khỏi nói.
- Ếch , nhái, cóc, chàng hiu, sa giông… trụng nước sôi cạo nhớt hay lột da, bỏ lòng ruột… làm món gì ăn cũng được.
- Rắn, tắc kè, kỳ nhông, kỳ đà, kỳ tôm, cắc ké, rắn mối, thằn lằn… đều ăn được và rất ngon. Chế biến được rất nhiều món (riêng về rắn, kể cả loại nưa nhiều huyền thoại, nếu các bạn sợ bị độc thì cứ chặt từ đầu xuống khoảng một tấc và móc ruột bỏ. Chôn đầu xuống đất, đề phòng dẫm phải)
- Các loại nhuyển thể như : ốc sên, ốc ma, ốc lá, sên trắng… (ở trên cạn) và các loại nghêu, sò, phi, điệp, ốc… (ở dưới nước), đều ăn được, nhưng nên luộc hay nướng thật kỹ.
- Các loại trứng chim, trứng rùa và các loài bò sát khác, đều rất bổ dưỡng…
Nhưng chủ yếu vẫn là các loài thú, chim, cá… Các bạn sẽ có nhiều cơ hội tồn tại hơn nếu các bạn có thể phát hiện và có khả năng đánh bắt được các loài thú, chim, cá…


DẤU VẾT

Nhưng không phải ai cũng có thể phát hiện và lý giải được các dấu vết và lần ra nơi chúng trú ẩn hay ăn uống, nhất là khi các bạn lọt vào những vùng mà thú bị săn bắn quá nhiều như ở Việt Nam và một số nước trên thế giới. Loài chim thú ở đây đã trở nên khôn lanh, thận trọng và cảnh giác cao. Nếu chúng ta cứ thực hành theo sự hướng dẫn của sách vở, tài liệu… nhất là tài liệu nước ngoài (nơi mà các loài thú được bảo vệ và gần gũi với con người), thì có mà…đói.
Khi phát hiện ra một dấu vết của thú rừng, các bạn cần phải hiểu :
- Đây là dấu vết của con thú gì ? lớn hay nhỏ ? khả năng hiện có của chúng ta có thể đánh bắt (hay bắn hạ) được hay không ?
- Thường xuyên lui tới hay chỉ đi ngang qua ?
- Đơn độc hay đi thành bầy ?
- Và quan trọng nhất là dấu mới hay cũ ?

Sau đây là một vài dấu vết tiêu biểu của một số thú rừng :


HÌNH


Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
SĂN BẮN

SĂN BẮN BAN NGÀY

Nghệ thuật săn bắn ban ngày gồm có :
- Phán đoán
- Phát hiện
- Tiếp cận
- Bắn hạ

I.PHÁN ĐOÁN

Những người thợ săn có kinh nghiệm, không bao giờ họ đi hú hoạ, vừa tốn sức, vừa không chắc ăn. Trong khu rừng quen thuộc của họ, họ biết chỗ nào có loại chim thú nào. (Ngoài trừ các loại chim thú di cư, còn các loại chim thú địa phương thì ít khi rời quá xa địa bàn cư trú của mình). Họ còn biết những nơi chim thú thường lui tới để kiếm ăn, săn mồi, uống nước… Cho nên khi muốn săn loại thú nào, họ có thể đi thẳng đến khu vực đó.
Sau vài lần đi săn ở những vùng xa lạ, các bạn cần phải ghi nhớ những khu vực nầy. Có khi hôm nay các bạn bắn hụt một con thú ở khu vực nầy, ngày mai các bạn vẫn còn có thể gặp lại nó lảng vảng ở trong khu vực đó.
Có những loài thú đi ăn và về theo một lộ trình nhất định, tạo thành những con đường mòn như những cái hang dài ở dưới đám cỏ dầy đặc như : chồn đèn, chuột, nhím … Cũng có những loài rất cảnh giác, không bao giờ ăn cùng một địa điểm như : sơn dương, rái cá, bò tót… và một số thú lớn khác.

PHÁT HIỆN

Để phát hiện được con mồi, các bạn cần phải lý giải được những dấu vết do con thú để lại như : dấu chân, phân, lông, bùn sình dính trên thân cây, cỏ cây bị dập nát, đất bị đào xới, mùi hương đặc trưng… hoặc ngay chính tiếng kêu của nó. (Nếu không đi rừng nhiều, các bạn vẫn có thể phân biệt được tiếng kêu của nhiều loại thú khác nhau nhờ các bộ phim về động vật ).
Nếu con thú đang ở gần bạn, bạn có thể nghe được tiếng cành khô bị đạp gãy, tiếng lá cây, rể cây… bị cắn bứt, tiếng thở phì phò, tiếng lá khô xào xạc …
Nếu nghe tiếng chim te te đánh ở trảng cỏ hay rừng chồi, thì chắc chắn ở đó đang có một người hay thú đi qua (loài chim nầy không ở trong rừng rậm). Hoặc bầy chim đang ăn chợt vụt bay một cách hoảng hốt…

TIẾP CẬN

Để tiếp cận được với con mồi, các bạn phải biết cách đánh lừa, ẩn nấp và nguỵ trang. Có nghĩa là các bạn phải biết hoà mình vào với cảnh vật chung quanh, từ màu sắc cho đến mùi hương.
- Dùng đất sét, tro, than, nhọ nồi… bôi loang lỗ những chỗ da không có áo quần che phủ như hai bàn tay, hai chân, khuôn mặt …
- Áo quần phải đồng màu với cảnh vật thiên nhiên quanh ta.
- Không mang theo nón mũ hay khăn quàng có màu sắc sặc sỡ, hoặc các trang sức phản chiếu ánh sáng mặt trời (đồng hồ, mắt kính, dây chuyền…)
- Không mang theo những vật dụng dễ gây tiếng động như : chùm chìa khoá, bình đựng nước bằng nhôm, các vật dụng bằng kim loại….
- Không sử dụng dầu gió, nước hoa, các hoá chất có mùi… và cũng không nên hút thuốc.
- Di chuyển nhẹ nhàng bằng cách rùn chân đi lom khom, đặt mũi bàn chân xuống trước rồi mới từ từ để nhẹ gót chân xuống.
- Tiếp cận con mồi từ hướng dưới gió, làm cho mất mùi người bằng cách bôi bùn nhão lên mình.
- Cố gắng ẩn nấp sau các vật che chắn để cho con thú không phát hiện ra mình. (Ẩn nấp ở những điểm thấp thì khó bị phát hiện hơn ở những điểm cao, nhất là những điểm nổi lên nền trời.)

HÌNH

- Có thể giắt thêm lá cây trên người để tăng thêm phần hoà nhập, khó bị phát hiện.
Đối với các thợ săn chuyên môn, họ có thể tiếp cận một số loài chim thú bằng cách giả tiếng kêu của chúng bằng các loại “kèn”, hay dụng cụ hỗ trợ, hoặc bằng chính giọng của họ (nhưng lưu ý các bạn là phải giả cho thật giống, bằng không thì sẽ phản tác dụng.) Khi nghe tiếng kêu nầy, các loài chim thú tưởng là đồng loại, sẽ lần mò đến để bị rơi vào bẫy hay là tầm bắn.

HÌNH

BẮN HẠ
Những người chưa quen săn bắn, khi tiếp cận con mồi ở cự ly gần thì tim đập mạnh, run tay, bàn tay nhớp nháp mồ hôi… Các bạn hãy hít sâu vào rồi thở ra nhè nhẹ vài lần để cho bình tĩnh trở lại. Nếu không, thì cho dù các bạn có súng vẫn có thể bắn trượt chứ đừng nói tới cung, nỏ hay lao, mác…
Nếu có súng, với các con thú lớn, các bạn hãy bắn vào đầu, xương cổ, xương bả vai…
Nếu sử dụng cung nỏ với tên tẩm độc, (Xin xem phần TẨM ĐỘC) thì hãy bắn vào vùng gần tim.
Trường hợp thú bị thương bỏ chạy, các bạn hãy thận trọng bám theo vết máu, vì nếu là thú dữ, khi bị truy đuổi gắt, chúng sẽ ẩn nấp và bất thần quay lại tấn công chúng ta … Cho dù bạn đã thấy con thú nằm chết, cũng phải thận trọng, vì có thể chúng chỉ giả vờ, hoặc có phản xả sau cùng trước khi chết, cũng rất nguy hiểm (nhất là thú dữ). Hãy cẩn thận tiến tới từ từ trong tư thế “sắp sẵn”, dò thử bằng cách đứng từ xa ném đá vào chúng, hay lấy sào dài khều vào mõm, cho đến khi biết chắc chúng đã chết.
Săn ban ngày, ngoài việc lùng sục tìm kiếm, các bạn còn có thể phục kích ở những nơi chim thú thường qua lại, nhất là các điểm có dấu vết của chúng thường lui tới để uống nước. Rất dễ chủ động bắn hạ. Nhưng các bạn phải ẩn nấp dưới gió và nguỵ trang thật kỹ.

SĂN BẮN BAN ĐÊM
Là một lối săn rất hiệu quả, nhưng đòi hỏi các bạn phải thuộc đường và có đèn (tối thiểu là đèn pin cầm tay). Trong đêm tối, qua phản xạ của ánh đèn, đôi mắt của các loài thú sáng rực lên. Với kinh nghiệm dày dạn, những người thợ săn có thể phân biệt được đó là giống thú gì qua màu mắt phản chiếu, khoảng cách giữa đôi mắt, kích cỡ của mắt, và sự cử động, nhấp nháy… (thông thường thì các loài thú ăn cỏ, ánh mắt phản chiếu màu hồng. Loài thú ăn thịt thì ánh mặt phản chiếu màu xanh… nhưng đây cũng không phải là công thức.) Để hạ con thú, người ta sẽ bắn thẳng vào giữa đôi mắt đó. Nhưng tác xạ ban đêm là một kỹ thuật, phải qua quá trình luyện tập, và tích luỹ kinh nghiệm, chứ không dễ dàng như nhắm bắn ban ngày.
Nếu như không có đèn, các bạn chỉ có thể tìm chỗ ẩn nấp để phục kích ngay trước khi trời sụp tối. Tuyệt đối không nên đi lùng sục vào ban đêm, rất nguy hiểm.

VŨ KHÍ – CÔNG CỤ
Để săn bắn các loài thú, chúng ta cần phải có ít nhất là một trong những vũ khí hoặc công cụ sau đây :

Súng :
Là một loại vũ khí kỹ thuật cao, được sản xuất ở những nhà máy lớn. Súng có thể sát thương ở tầm xa (có loại trên 300m). Rất hiệu quả trong việc săn bắn. Nhưng không phải lúc nào chúng ta cũng có sẵn.

Cung – Nỏ (ná) :
a) Cung : Là một loại vũ khí dễ chế tạo, nhưng khá hiệu quả với việc săn bắn tầm xa (trong vòng 50m). Để săn chim và các loại thú nhỏ. Múôn săn thú lớn, các bạn phải biết cách tẩm độc đầu mũi tên (xin xem phần TẨM ĐỘC).
Để làm cung, trước tiên, các bạn chọn một thân cây hay cành cây thật dẽo, cứng, như cò ke, tre già, bời lời… để đẻo thành cánh cung hình hơi bán nguyệt, vừa tay cầm. Giữa lớn, hai đầu nhỏ dần. Ở mỗi đầu, có khắc lõm một chút để bụôc dây cung.
Dây cung là những sợi dây thật chắc, được làm từ dây dù, sợi của vỏ cây gai, vỏ cây da… xe lại, hay từ da thú đã được xử lý…
Dây cung chỉ căng lên khi nào cần sử dụng, để cho cánh cung không yếu vì bị căng liên tục.

HÌNH

Mũi tên
Mũi tên được làm từ những cây cứng và thẳng, dài từ 65 – 75 cm. Đầu chuốt nhọn và trui vào lửa cho thêm cứng. Để tăng thêm phần hiệu quả, người ta có thể gắn thêm ở đầu mũi tên những vật cứng và sắt nhọn bằng đồng, thép, sắt, xương, thuỷ tinh, mảnh đá…
Chuôi tên được cột bằng 3 lống ống của các loại chim lớn. Lông nầy được xé bỏ bên phần nhỏ, cắt gọn và dùng dây nhỏ, chắc, để cột, ghép, làm sao cho khi bắn không bị vướng vào cánh cung hay bàn tay xạ thủ . Hoặc được xếp bằng lá dừa, lá kè, lá buông…

HÌNH

Khi bắn, tay trái các bạn cầm cánh cung (nếu các bạn thuận tay phải). Dùng hai ngón tay (trỏ và giữa) của bàn tay phải, kẹp cuôi tên tra vào dây cung đưa ngang lên tầm nhắm. Vì mũi tên sẽ bay vòng cầu cho nên các bạn phải đưa mũi tên chếch lên phía trên tầm nhắm một chút.

b) Nỏ (ná) : Là vũ khí biến thể từ cây cung, nhưng được gắn vào một cái báng gọi là thân ná và có một chốt lẫy gọi là cò. Trên thân ná có khe để đặt cố định mũi tên.
Mũi tên của ná thì nhỏ và ngắn hơn tên của cung (khoảng 30 – 40cm) Chuôi được kẹp bằng lá buông, lá kè… và cũng có thể được tẩm thuốc độc.
Ná tuy không nhanh và linh động bằng cung, nhưng ná bắn chính xác hơn, nhất là đối với những người không chuyên nghiệp.

HÌNH

Ổng thổi (xì đồng) :
Làm bằng một ống kim loại, nhựa cứng hay một đoạn trúc đã được thông mắt một cách rất công phu, thật thẳng. Dài khoảng 60 – 120 cm. Có lỗ đường kính từ 8 – 12 mm.

HÌNH

Để sử dụng, người ta nhét vào đầu ống một mũi tên nhỏ có tẩm độc. Chuôi tên được cột bằng các loại lông mao rất mịn như lông thỏ, chồn, cáo… hoặc được quấn b8àng lá hay giấy hình loa kèn. Nếu làm đúng kỹ thuật, khi thổi mạnh, mũi tên sẽ bay đi rất nhanh và chính xác, có thể sát thương trong vòng 20m trở lại.

Lao ném tay :
Là một đoạn cây cứng, dài khoảng 1,2 – 2,5 m, vừa tay cầm và đủ nặng để có thể ném đi xa. Một đầu được đẽo cho thật nhọn, trui sơ trên lửa ngọn. Đầu nhọn nầy có thể thay thế bằng một con dao, mũi mác, cây sắt hay một đoạn xương được mài nhọn…

HÌNH

Muốn sử dụng lạo cho có hiệu quả, các bạn phải luyện tập để ném được xa, mạnh và trúng đích. Ngoài sức khoẻ, các bạn cũng phải lưu ý đến độ thăng bằng của lao, để khi ném, lao không bay vòng vèo trong không khí. Sử dụng lao cần phải tiếp cận thật gần với con mồi, rồi bất ngờ ném thật mạnh vào bả vai trước, con vật sẽ quỵ xuống, không chạy được. Các bạn hãy bồi thêm những ngọn lao khác (khi đi săn những thổ dân thường mang theo 3 – 4 ngọn lao).

Boomerang
Đây là loại vũ khí độc đáo của thổ dân Châu Úc, có hình cong, được uốn vênh như cánh quạt, làm bằng gỗ. Qua quá trình luyện tập kết hợp với trực giác, người ta thay đổi góc ném, lực ném và đường ném, để khi ném boomerang đi, nếu không trúng mục tiêu, thì boomerang sẽ quay trở về với người ném. Muốn ném cho hiệu quả, các bạn phải biết cách làm một boomerang, và phải tập ném rất lâu.

HÌNH

Bola
Người Eskimo dùng bola để săn chim đang bay và thú chạy. Bola được làm từ những sợi dây dài khoảng 1m, một đầu cột lại với nhau, một đầu cột túi cát nặng vừa tay.
Khi ném, họ cầm chỗ cột 3 sợi dây và quay trên đầu để lấy đà, rồi ném đón đầu chim đang bay hay thú đang chạy. Lực quán tính sẽ làm cho bola quấn vào cánh của chim hay là chân của thú.

HÌNH

Chỉa
Là một lạoi vũ khí dễ chế tạo và dễ sử dụng. Khá hiệu quả khi săn bắt cá, bò sát, thú nhỏ … cũng như khi tự vệ. Chỉa thường có ngạnh hay ngàm để giữ con vật bị đâm lại cho khỏi tuột. Các bạn có thể chế tạo đầu chỉa bằng sắt thép, gỗ cứng, xương… như hình dưới đây.

HÌNH

Các bạn cũng có thể dùng một khúc tre già, một đầu chẻ nhỏ cỡ bằng chiếc đũa, chúôt nhọn từng cây một. Dùng các mảnh trẻ hay gỗ nhỏ chêm cho loe ra, hơ sơ vào lửa ngọn, ta có một cái chỉa đa năng dùng để đâm cá, và các động vật nhỏ một cách dễ dàng mà không cần phải có tay nghề cao.

HÌNH


TẨM ĐỘC MŨI TÊN
Để săn các loại thú lớn, có sức khoẻ, chúng ta cần tẩm một số tên dành riêng. Công việc nầy cần phải làm thật cẩn thận, vì nó là con dao hai lưỡi.
Các chất độc để tẩm vào tên thường được lấy từ thực vật hay động vật hoặc chế biến từ các hoá chất…

CHẤT ĐỘC LẤY TỪ THỰC VẬT.
Người ta lấy nhựa của cây Nổ Tiển Tử (Antiris toxicaria Lesch) . Thuộc họ dâu tằm (Moraceae), còn gọi là cây Sui, để tẩm vào mũi tên.
Là một loại cây cao lớn (khoảng 30m), cây Sui mọc hoang nhiều ở rừng núi Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Ấn Độ, Indonêxia, Malaixia…
Người ta lấy nhựa bằng cách băm vỏ cây cho nhựa chảy ra. Những người đi lấy nhựa phải là người khoẻ mạnh, không bị các vết sây sát, trầy sướt… vì nếu để nhựa Sui dính vào những nơi đó có thể vong mạng.
Những con vật bị trúng tên tẩm nhựa Sui, gần như bị chết ngay tức thì, dù có chạy cũng không xa. Tuy nhiên, thịt các con vật nầy vẫn mềm mại và ăn được.

HÌNH

BÀI THUỐC TẨM TÊN ĐỘC CỦA NGƯỜI CHÂU RO
1. Sừng dê (Cồng cộng)
2. Mã tiền ( Củ chi)
3. Lá Két
4. Trái Giấy
5. Thuốc Rê (thuốc hút loại nặng)

Mỗi thứ một nắm, dùng nồi đất mới (không được dùng nồi kim loại) cho vào.
Nước nhất : Đổ nước lạnh vừa ngập, nấu trên lửa nhỏ cho đến khi còn 1/3, rót ra trong một thau bằng đất hay nhựa thật sạch.
Nước hai : Đổ nước lạnh vào lại nấu như nước nhất.
Nước thuốc : Hai nước trên đổ chung lại nấu cho đến khi hơi sền sệt là được (không được quá sệt, vì khi nguội sẽ bị đông cứng không sử dụng được). Nhúng đầu các mũi tên vào, lăn tròn rồi đem ra để nguội.
Khi trúng tên tẩm độc nầy, con mồi sẽ bỏ chạy một đoạn (xa gần tuỳ theo thú lớn hay nhỏ, mạnh hay yếu), nhưng chúng sẽ nhanh chóng kiệt sức, và phải dừng lại để ói mửa trước khi chết. Những người thợ săn lắng nghe tiếng ói mửa của con thú để phát hiện ra chúng. Loại thuốc nầy còn làm cho con thú dãy dụa rất mạnh trước khi chết (do tác dụng của mã tiền), cho nên dù con mồi có bị vướng ở trên cây cũng phải rơi xuống đất, giúp người thợ săn dễ dàng thu nhặt.

Ghi chú : Đây là một bài thuốc bí truyền của người Châu Ro, khi tiến hành pha chế, họ luôn luôn tuân thủ một số nghi thức thần bí như : Chỉ đi một mình, và không báo cho bất cứ một ai biết. Khi tìm thấy nguyên liệu, phải làm nghi thức trước khi thu hái. Nấu thuốc một mình trong rừng vắng, nếu bị ai bắt gặp mẽ thuốc đó coi như bỏ…

CHẤT ĐỘC CURARE :
Là một chất độc bí truyền, bắt nguồn từ một số dân tộc vùng Nam Mỹ (Amazon). Đặc điểm của curare là độ độc rất cao, nếu đi vào máu là chết ngay, nhưng gần như không độc khi ăn uống, cho nên thịt của con thú bị trúng tên vẫn có thể ăn được mà không sợ bị ngộ độc. Có nhiều cách để điều chế curare từ nhiều cây khác nhau.
Ở Việt Nam, chúng ta cũng có những cây có thể điều chế curare như cây Chondodendron tomentosum Ruiz Pav, thuộc họ Tiết Dê (Menis permaceae). Cây Strychnos Cartelnaci Weld thuộc họ Mã Tiền (Loganiaceae)…
Muốn chế curare, người ta cạo vỏ cây tươi của các cây trên, rồi dùng cối xay nhỏ, cho thêm nước vào khuấy đều, lọc, rồi cô trên lửa nhẹ trong nồi đất nung. Thỉnh thoảng, nếm thử xem đủ đắng chưa, curare càng đắng càng độc.
Những con thú trúng tên có tẩm curare ít khi chạy được quá 100m. Cho dù đó là sư tử, hổ hay gấu…

CHẤT ĐỘC LẤY TỪ ĐỘNG VẬT :
Có rất nhiều loại ếch độc trong các đầm lầy ở Nam Mỹ. Các tuyến chất độc nằm ở ngoài da có màu rất sặc sỡ của chúng. Loại chất độc nầy rất mạnh, thổ dân dùng để tẩm đầu các loại tên.
Người ta cũng sử dụng chất độc từ một số nọc rắn độc, tuy hiếm hoi nhưng khá hiệu quả, thường dùng trong chiến đấu.
Bộ tộc Calahari ở Nam Phi còn dùng ấu trùng cực độc của một loại bọ lá để bịt đầu tên.
Ngoài ra còn vô số chất độc bí truyền của các thổ dân và các dân tộc (kể cả các dân tộc ít người ở Việt Nam, mà người ta giữ rất bí mật công thức pha chế.)
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
Chào hiệp nữ,
Tôi muốn giúp hiệp nữ đánh máy một đoạn trong Sinh Tồn Nơi Hoang Dã. Những đoạn nào là chưa có người đánh, và có yêu cầu là phải đánh trong thời gian là bao lâu với số trang bao nhiêu không? Hãy cho tôi biết để nếu có thể được tôi sẽ đóng góp một vào việc xây dựng thư quán.
Rất vui được cộng tác với các bạn.
Huyền Băng
Đăng nhập để trả lời
0
Bạn Huyền Băng thân mến!
Bộ cẩm nang Sinh tồn nơi hoang dã đã được các Hiệp sĩ Thư quán đánh máy và gửi lên trọn bộ. Bạn có thể xem toàn bột cẩm nang này bên thư viện.
Vẫn còn rất nhiều tác phẩm đang chờ sự hợp tác của bạn
Đăng nhập để trả lời
0
Chào Huyền Băng

Nếu HB muốn phụ giúp các hiệp sĩ gõ tiếp truyện, thì có Sử Trung Quốc, đang gọ nữa chừng, nếu khg phiền, nhờ HB giúp gõ thêm, cho cuốn truyện này mau chống hoàn tất

Chúc Huyện Băng luôn vui nhé
Đăng nhập để trả lời
0