📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Hiệu Đính Truyện

Sửa chính tả cho các truyện ngắn Sherlock Holmes

52 trả lời, 39.131 lượt xem — Trang 2 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-07-08 14:25:38Thái Nhi>
NGƯỜI KHÁCH HÀNG NỔI TIẾNG

Holmes và tôi đều thích tắm hơi. Trên lầu của cao ốc tại đại lộ Northumberland có một cái góc tách biệt chứa tràng kỷ song đôi, chúng tôi choán 2 ghế này vào ngày 3-9-1902.
Tôi hỏi Holmes ở đây có gì vui không. Ðể trả lời, anh thò cánh tay dài ra khỏi các tấm drap để lấy một cái bì thư trong áo choàng treo gần đó.
- Cái này là của một người gây rối. Tuy nhiên, cũng có thể đây là một vấn đề sống chết. Tôi chả biết gì, ngoài nội dung của nó.
Bức thư được gửi từ câu lạc bộ Carlton. Nội dung bức thư như sau:
“Ngài James Damery được giới thiệu và sẽ tới nhà ông Sherlock Holmes vào lúc 4 giờ chiều mai. Ngài James muốn tham khảo ý kiến ông Holmes về một vấn đề rất tế nhị và quan trọng. Do đó ngài hy vọng ông Holmes cố gắng thu xếp để được rảnh rỗi và xác nhận sự đồng ý qua điện thoại tại câu lạc bộ Carlton”.
- Ðương nhiên là tôi đã đồng ý tiếp đón ông ta. Anh có biết gì về cái ông Damery này không?
- Tên ông ta là chìa khóa vạn năng để bước vào xã hội thượng lưu.
- Tôi thì biết nhiều hơn một chút. Ông ta nổi tiếng về cái tài thu xếp những việc tế nhị mà báo chí không đề cập. Anh còn nhờ ông ấy đã thu xếp cho ngài George Lewis trong vụ Hammerford Will không? Là một người hào hoa phong nhã và có thiên khiếu về ngoại giao, ông ta cũng thực sự cần chúng ta.
- Chúng ta?
- Ðúng thế, nếu anh đồng ý.
- Tôi rất hân hạnh.
- Vậy đúng 4 giờ nhé.
Lúc đó tôi ngụ tại một căn hộ ở phố Hoàng hậu Anne, nhưng tôi tới phố Baker sớm hơn giờ hẹn.
Ngài đại tá James Damery tỏ ra rất đúng giờ. Ðó là một người to béo, lương thiện, hơi đua đòi một chút, khuôn mặt cá nhẵn, có giọng nói dễ nghe. Ðôi mắt sáng tỏa rộng sự trung thực, đức tính hòa nhã lộ rõ trên đôi môi tươi cười. Cái mũ màu lợt, áo vét đen ngòm. Tất cả các chi tiết của y phục, từ hột trân châu trên cà-vạt cho đến đôi ghệt màu xanh tím bên trên đôi giày bóng loáng đã minh họa tính tỉ mỉ trong cách ăn mặc. Căn phòng nhỏ hẹp có vẻ bị đè bẹp khi nhà đại quý tộc bước vào.
- Ðương nhiên tôi cũng muốn gặp cả bác sĩ Watson. - ông vừa nói vừa cúi đầu lễ độ - Sự hợp tác của ông ấy cực kỳ hữu ích, bởi vì lần này, thưa ông Holmes, chúng tôi phải đương đầu với một kẻ nguy hiểm nhất Âu châu.
- Tôi đã gặp nhiều đối thủ từng được gán cái danh hiệu “cao thủ”. - Holmes trả lời và cười. - Mời ngài dùng thuốc! Vậy ngài cho phép tôi nhé. Ðối thủ của ngài có nguy hiểm hơn cả cố giáo sư Moriarty hoặc hơn cả đại tá Sebastian Moran không?
- Ông đã nghe nói đến nam tước Gruner?
- Tên sát nhân người Áo?
Đại tá Damery tháo bao tay và cười to:
- Ông là bậc kỳ tài. Như vậy là ông đã biết thành tích của y?
- Nghề nghiệp bắt tôi phải theo dõi kỹ các vụ án tại lục địa. Tôi tin chắc rằng hắn đã giết vợ trong cái gọi là “Tai nạn tại đèo Splugen”. Tôi cũng biết hắn hiện ở Anh và chẳng chóng thì chầy hắn cũng tạo ra việc làm cho tôi. Nhưng nam tước Gruner đã giở trò gì mới? Tôi đoán là không phải cái thảm kịch xưa diễn lại.
- Không đâu, chuyện không nghiêm trọng hơn. Trừng trị kẻ gây tội ác là quan trọng, nhưng ngăn ngừa một tội ác lại càng quan trọng hơn. Thật là khủng khiếp, thưa ông Holmes! Khi chứng kiến sự chuẩn bị một biến cố ghê tởm, một tình huống bẩn thỉu, thấy trước kết quả tai hại mà ta không làm gì được để ngăn ngừa. Có ai lọt vào một cảnh ngộ đau đớn như thế chưa?
- Chuyện hiếm có!
- Vậy là ông cảm thông với người khách hàng mà tôi làm đại diện.
- Tôi không ngờ ông chỉ là người trung gian. Vậy ai là đương sự chính?
- Tôi khẩn khoản xin ông đừng hỏi thêm. Tên ông ấy cần được giữ bí mật. Tất nhiên ông sẽ được thù lao trọng hậu.
- Tôi rất tiếc! - Holmes nói - Thưa ngài, tôi sợ rằng tôi phải từ chối đề nghị của ngài.
Người khách vô cùng bối rối. Gương mặt tối sầm vì thất vọng.
- Ông Holmes! Ông đặt tôi vào một hoàn cảnh khó xử. Nhưng tôi đoán chắc rằng ông sẽ hãnh diện mà đảm nhiệm công việc, nếu tôi cung cấp đầy đủ chi tiết của nội vụ. Nhưng vì tôi đã hứa là tôi sẽ không để lộ tên nhân vật. Và vì vậy, tôi chỉ xin trình bày tất cả những gì tôi được phép tiết lộ.
- Nếu ông muốn! Nhưng ông nên nhớ, tôi không hứa hẹn gì cả.
- Ðồng ý! Chắc ông đã nghe nói về tướng quân De Merville?
- Tướng quân De Merville nổi tiếng của Khyber? Tôi có nghe danh.
- Ông ấy có một cô gái tên là Violet De Merville, trẻ đẹp vẹn toàn. Chính cô gái ngây thơ này cần được đưa ra khỏi nanh vuốt của loài quỷ dữ.
- Vậy là nam tước Gruner hốt hồn cô bé rồi?
- Hắn đẹp trai, có giọng nói đường mật, dáng vẻ tiểu thuyết và kỳ dị của hắn làm mê hoặc cô bé. Người ta đồn hắn đã chinh phục không biết bao nhiêu cô gái.
- Nhưng làm thế nào hắn lại quen được với cô gái ấy.
- Họ gặp nhau trong một chuyến đi chơi bằng tàu trên biển Ðịa Trung Hải. Ngài nam tước của chúng ta đã bám sát và cuối cùng chinh phục được con chim non. Cô ta mê mệt hắn. Ngoài hắn ra, cô ta chả thiết đến cái gì khác. Mọi phương cách đã được thử để chừa bệnh, nhưng vô ích. Tóm lại, cô ta dự trù lấy hắn vào tháng tới. Cô ta đã trưởng thành và cô ta có ý chí sắt đá. Vậy ta làm sao ngăn cản chuyện này?
- Cô ta có biết những chuyện hắn làm hồi còn ở Áo không?
- Hắn có kể cho cô nghe những điều tai tiếng trong quá khứ của hắn, nhưng luôn luôn trong chiều hướng của một vị thánh tử đạo. Cô ta chỉ nghe có một chiều.
- Tiếc thay, vì vô ý, ông đã tiết lộ danh tính của vị khách hàng của ông. Ðó là tướng De Merville.
Người khách nhỏm mạnh trên ghế.
- Tôi không phủ nhận, nhưng chuyện buồn này đã làm tướng quân mất hẳn tinh thần. Gân cốt cứng cáp tại trận địa đã rêu rã, ông đã trở thành một người bất lực trước thằng người Áo này. Tôi là bạn tri kỷ của ông ấy. Tôi xem cô bé đó như là con tôi ngay từ hồi nó còn mặc váy ngắn. Tôi thấy không có lý do để cho Scotland Yard can thiệp vào. Chính tướng quân gợi ý tôi tới tìm ông với điều kiện là ông ta không xuất đầu lộ diện trong nội vụ.
Gương mặt Holmes sáng rực với một nụ cười tinh nghịch:
- Tôi cam kết với ông điều đó. Tôi sẵn sàng ra tay. Nhưng làm sao tiếp xúc với ông, khi cần?
- Luôn luôn có thể tìm ra tôi qua trung gian của câu lại bộ Carlton. Trong trường hợp khẩn cấp, đây là số điện thoại riêng của tôi: XX.31.
Holmes ghi chép, vẫn ngồi yên và cười ranh mãnh. Cuốn sổ tay vẫn còn để mở trên đầu gối.
- Ðịa chỉ hiện tại của gã nam tước, xin ông vui lòng ghi cho. Biệt thự Vernon, gần Kingston. Nhà lớn lắm. Hắn ta phất trong mấy cú đầu cơ tài chính gần đây. Do đó bội phần nguy hiểm.
- Hiện hắn ở tại London?
- Vâng.
- Ngoài nhưng điều vừa mới nói, ông có thể cho thêm những thông tin dồi dào hơn về anh chàng này không?
- Hắn mê ngựa, mê gái. Hắn sưu tập sách và tranh. Hắn lại có ý thức thẩm mỹ cao nên hắn rất có uy tín về việc đánh giá các đồ sứ Trung Hoa và có viết một cuốn sách về nghệ thuật này.
- Một bộ óc phức tạp! - Holmes nói - Tất cả các tội phạm lừng lẫy đều có bộ óc phức tạp. Ngài có thể thông báo với khách hàng của ngài rằng tôi đích thân chăm lo vụ này. Tôi tin rằng chúng ta sẽ tìm ra cách giải quyết.
Sau khi khách ra về, Holmes chìm đắm trong suy tư làm như không biết có sự hiện diện của tôi. Cuối cùng anh trở về với thực tại.
- Watson này, anh đoán được gì nào?
- Tôi đoán anh sẽ đi gặp cô bé đó ngay.
- Ông tướng còn không làm cô bé động lòng thì tôi, một người xa lạ, sẽ làm được gì. Tuy nhiên, nếu mọi phương cách đều thất bại thì tôi sẽ tính sau. Còn bây giờ, ta phải bắt đầu dưới một góc cạnh khác. Có thể Shinwell Johnson sẽ giúp được tôi.
Cho tới nay, tôi chưa có dịp nêu tên Shinwell Johnson bởi vì tôi chưa nói đến các vụ án bị phanh phui trong giai đoạn cuối của cuộc đời Holmes. Vào các năm đầu của thế kỷ này, Johnson trở thành một phụ tá có tài năng. Trước đó, Johnson bị để ý dưới dạng một thằng ác ôn nguy hiểm, bị nằm nhà đá hai năm tại Parkhurst. Sau đó anh ta ăn năn, hối cải và liên minh với Holmes. Anh ta trở thành tay trong (1), được gài trong bọn côn đồ khét tiếng của London. Johnson cung cấp cho Holmes những tin tức đôi khi có tính quyết định. Nếu anh ta làm mật báo cho cảnh sát, thì sẽ bị lột mặt nạ ngay. Nhưng vì anh ta hợp tác trong những vụ việc mà kết quả sau cùng không phải là việc truy tố ra tòa nên các bạn cũ của anh ta không hề hay biết. Nhờ hào quang hai năm khổ sai, Johnson lọt vào tất cả các hộp đêm, các sòng bài với cái bộ óc phong phú cũng như năng khiếu quan sát, Johnson trở thành một mật báo viên lý tưởng.
Khó mà theo dõi tất cả các xoay xở của Holmes, bởi vì về phần tôi, tôi cũng có những nhiệm vụ nghề nghiệp phải chu toàn. Anh ấy hẹn sẽ gặp tôi tại Simpson. Tại đây, ngồi trước một bàn nhỏ gần cửa sổ, anh báo cho tôi vài tin tức đồng thời quan sát làn sóng người đi đường trong khu náo nhiệt Strand.
- Johnson đã đi săn mồi. - Holmes nói với tôi - Có thể y sẽ mang về vài cái rác rưởi móc từ những xó xỉnh tối tăm nhất của xã hội đen. Chính trong cái mớ rác rưởi đó, chúng ta sẽ sục sạo và khám phá ra các bí mật của đối tượng.
- Cô bé đã không nhìn nhận những sự việc đã có, thì cái phát hiện mới mẻ của anh sẽ có tác dụng gì?
- Biết đâu, Watson. Tâm trí của người đàn bà là những bài toán khó hiểu. Một tội giết người có thể được bỏ qua, nhưng một vi phạm vặt vãnh có thể làm đau nhói con tim. Nam tước Gruner có nói với tôi...
- Hắn có nói chuyện với anh?
- À, tôi chưa thông báo các dự định của tôi cho anh. Thì đây, tôi thích cận chiến. Tôi thích mặt đối mặt với đối thủ để tận mắt nhìn rõ, xem “cái cốt” của hắn là con gì. Sau khi giao việc cho Johnson, tôi đã kêu một chiếc xe ngựa, đến Kingston và phải nói rằng vị nam tước rất khả ái.
- Hắn nhận ra anh?
- Trước đó, tôi đã đưa ra danh thiếp. Ðó là một đối thủ tuyệt hảo, lạnh như băng, nới năng ngọt lịm, nhưng nọc độc thì như nọc rắn hổ mang. Theo tôi, hắn thực sự thuộc giai tầng quý tộc và tội ác. Hắn lịch sự mời bạn uống trà nhưng sẵn sàng bỏ thuốc độc hại bạn. Vâng, tôi khoái nghiên cứu nam tước Adelbert Gruner.
- Anh nói hắn rất dễ thương!
- Dễ thương như mèo, dễ thương mà giết người như ngóe. Cái cách hắn đón tiếp tôi làm tỏ lộ bản chất của hắn.
“Tôi cũng đoán rằng thế nào tôi cũng gặp ông, ông Holmes à”, hắn nói với tôi, “Có thể tướng quân De Merville đã thuê ông để ngăn cản đám cưới giữa tôi với con gái ông ta, Violet?
Tôi đáp:
“Vâng!”
“Thưa ông”, hắn nói tiếp với tôi, “Ông chỉ làm tổn hại cái danh tiếng khá xứng đáng của ông. Ông không thể nào thành công trong vụ này. Ông lao mình vào một việc vô bổ, lại nguy hiểm. Ông cho phép tôi mạnh mẽ khuyên ông nên rút lui tức khắc?”.
“Lạ chưa?”, tôi đáp, “Ðó lại chính là lời tôi dự định khuyên ông. Tôi kính trọng cái khối óc của ông, thưa nam tước, và mấy phút sơ giao cũng chưa làm sút giảm sự kính trọng đó. Chúng ta hãy nói chuyện giữa người lớn với nhau. Không ai muốn lùi về quá khứ và gây phiền hà cho ông. Quá khứ là quá khứ? Ông hiện đang bơi trong một khúc sông trong lành. Nếu ông ngoan cố tiến hành đám cưới, ông sẽ đụng chạm tới một số người có quyền thế. Họ sẽ ra tay phá ông cho tới khi ông bị đuổi khỏi nước Anh này. Ông khôn thì nên để yên cho cô bé. Ông đâu có được thoải mái khi mà một vài giai đoạn trong quá khứ của ông được tiết lộ cho cô ta?”.
Vị nam tước có vài sợi lông thẩm mỹ lòi dưới mũi như ăng-ten của một côn trùng. Chúng lay động vì khoái trá khi ông ta nghe tôi nói và ông ta cười nhẹ rồi trả lời.
“Xin tha thứ cho sự hả hê của tôi, ông Holmes. Tuy nhiên làm sao không cười khi thấy ông đánh bài mà không cầm bài, không một lá bài, thưa ông Holmes? Ông tuyệt đối không có một lá bài, nói chi đến nước bài?”
“Ông tin như vậy à?”
“Theo tôi biết là như vậy. Ông cho phép tôi giảng giải đầy đủ. Bài tôi tốt đến nỗi tôi có thể bày ra giữa bàn. Tôi có cái may mắn là chinh phục trọn vẹn tình yêu của cô bé. Cô ta yêu tôi, mặc dù tôi đã cho cô biết tất cả các giai đoạn rủi ro trong quá khứ của tôi. Tôi cũng có dặn cô ta rằng vài kẻ mưu mô, vài kẻ nguy hiểm sẽ tới gặp và kể cho cô ta nghe các chuyện đó. Tôi đã cảnh giác cô ta và chỉ cách cho cô ta tiếp đón bọn đó. Ông có nghe đến cái hiệu quả sau thôi miên không, thưa ông Holmes! Ông sẽ thấy nó một cách cụ thể. Tôi chắc chắn cô ta không từ chối tiếp ông đâu. Cô ta nuông chiều tất cả ý muốn của cha ngoại trừ một chi tiết nhỏ.”
Watson à, sau đó tôi kiếu từ với tất cả sự bình tĩnh và lạnh lùng. Nhưng khi vừa nắm lấy hột xoài mở cửa, tôi bị chận lại:
“Nhân tiện nói luôn, thưa ông Holmes, ông có quen ông Le Brun, thám tử người Pháp không?”
“Có!”
“Ông có biết việc gì đã xảy ra cho ông ấy không?”
“Hình như ông ta bị vài thằng du đãng (2) ở Montmartre đánh đòn và bị tật suốt đời”.
“Ðúng. Một trùng hợp lạ lùng, ông áy xen vào công chuyện của tôi cách đó một tuần! Ðừng xen vào chuyện của tôi, thưa ông Holmes, sẽ xui xẻo cho ông. Lời khuyên chót của tôi. Ông đi đường ông, tôi đi đường tôi, chúc một đêm an lành!”
Thế nào! Anh nắm được câu chuyện chứ, Watson?
- Tay hầu tước này có vẻ nguy hiểm!
- Cực kỳ nguy hiểm. Tôi từng biết rõ nhiều tên khoác lác, nhưng thằng này thuộc loại ít nói.
- Anh có bị bắt buộc phải bận tâm về hắn đâu. Hắn lấy cô bé đó thì có sao đâu?
- Vì chắc chắn hắn đã giết chết người vợ sau cùng, nên ta cần phải ngăn cản cuộc hôn nhân mới này. Mặt khác, phải làm theo lệnh của khách hàng. Nhưng thôi, đừng có thảo luận điều này. Khi uống cà phê xong, anh đi theo tôi, bởi vì Shinwell sẽ đến báo cáo công việc.
Shinwell Johnson đã đến phố Baker khi chúng tôi tới nơi. Ðó là một tên khổng lồ, mặt hơi đỏ và thô, đôi mắt cực kỳ linh hoạt là dấu hiệu độc nhất của bộ óc xảo quyệt. Chắc chắn anh ta đã lặn ngụp trong giai tầng cặn bã. Thật thế, cạnh anh ta, trên ghế dài còn có một cô gái trẻ trung mảnh khảnh, tóc đỏ hoe, khuôn mặt thê lương, tái mét, bị tội lỗi và ưu phiền tàn phá đến nỗi người ta mường tượng được những năm tháng khủng khiếp mà nàng đã trải qua.
- Tôi xin giới thiệu cô Kitty Winter, - Shinwell Johnson nói và lay động bàn tay béo phị. - Những gì cô ấy biết... Cô ấy sẽ tự động nói ra. Tôi chộp được cô ấy, thưa ông Holmes, không đầy một giờ sau khi nhận được giấy của ông.
- Tìm tôi không khó - Cô gái nói - Ai cũng có thể tìm ra tôi tại địa ngục của London. Chúng tôi là những bạn tâm giao. Nhưng mà, quỷ thần ơi, còn một thằng nữa, thằng này lẽ ra phải ở một tầng địa ngục tệ hơn, nếu có công lý trên cõi trần này. Ðó là cái thằng mà ông đang bận tâm, thưa ông Holmes.
Holmes cười:
- Tôi xin dự phần vào nguyện ước của cô, cô Winter?
- Nếu tôi có thể giúp ông tống nó đến cái nơi mà nó phải ở theo luật, thì tôi rất sẵn sàng.
Người khách nữ nói một cách hăng hái. Sự hận thù cao độ thoáng qua trên các đường nét căng thẳng và trong đôi mắt rực sáng.
- Ông khỏi phải bận tâm về quá khứ của tôi, thưa ông Holmes. Quá khứ của tôi chẳng có gì hay ho. Tôi chỉ là con chuột nhắt trong nanh vuốt của con mèo Gruner. Chờ khi tôi có thể kéo nó... - cô vung hai bàn tay một cách điên dại -... kéo nó xuống tới một cái hố, nơi mà nó đã đạp quá nhiều người xuống.
- Cô biết chuyện gì rồi?
- Shinwell Béo Ú đã nói với tôi. Thằng điếm hiện chạy theo một con nghe đáng thương và lần này thì hắn muốn cưới cô ta làm vợ. Phần ông, ông chắc đã biết quá nhiều về con quỷ này!
- Cô bé mất trí rồi. Cô ấy yêu nó như điên như dại. Cô ấy đã được cho hay, nhưng cô ấy không chịu nghe tí gì.
- Ðược cho hay về vụ ám sát?
- Vâng...
- Chúa ơi! Con bé cừ thật! Ông không nhét bằng chứng vào cặp mắt ngu đần của nó?
- Cô có chịu giúp chúng tôi soi sáng cô ta không?
- Còn gì nữa. Tôi chưa phải là bằng chứng bằng xương bằng thịt sao? Tôi sẽ kể cho cô ta nghe cái cách tôi bị hắn đối xử.
- Cô sẽ nói?
- Sao lại không?
- Nên thử làm coi! Thằng khốn đó đã thú nhận phần lớn các tội lỗi của nó và cô ta đã tha thứ cho nó rồi. Tôi không tin rằng cô ta chịu trở lại vấn đề.
- Tôi sẽ chứng minh rằng nó chưa thú hết tội - Cô Winternói lớn tiếng. - Tôi có biết sơ qua về hai hoặc ba cái án mạng chưa bị phanh phui. Hắn nói với cái giọng êm như nhung, rồi thản nhiên nhìn tôi và tiết lộ: Nó chết được một tháng rồi. Hắn không nói nhiều, và tôi cũng không chú ý lắm. Vì yêu hắn, bất cứ cái gì hắn làm, tôi cũng thích thú, y hệt như con bé ngu đần đáng thương kia. Chỉ có một chuyện làm cho tôi kinh hoảng. Quỷ thần ơi! Hắn có một cuốn sách đóng bằng da nâu, có ổ khóa đóng kín và có huy hiệu của hắn trên bìa. Hình như đêm đó hắn say, nếu không thì hắn đâu có cho tôi xem?
- Sách gì?
- Hắn sưu tập đàn bà. Hắn hãnh diện về bộ sưu tập đàn bà của hắn như người ta hãnh diện về những bộ sưu tập tiền xưa hoặc các loại tem. Hắn ghi đầy đủ trong sách đó những hình chụp lén, tên họ, và biết bao chi tiết khác. Ðủ hết! Một cuốn sách mà không một người đàn ông nào, ngay cả giới cặn bã cũng không nhẫn tâm làm thế! Nhưng gã Adelbert Gruner đó đã viết: “Các linh hồn mà tôi đã hủy diệt”. Nhưng thôi, tôi không bình luận nữa, bởi lẽ cuốn sách đó không ích gì cho ông. Còn nếu nó hữu dụng thì làm sao lấy nó được?
- Nó ở đâu?
- Làm sao mà biết, bởi vì tôi đã tuyệt giao với hắn hơn một năm rồi. Khi còn sống chung, thì tôi biết nó được giấu ở đâu. Về nhiều phương diện, hắn giống một con mèo, hắn có cái tính sạch sẽ và chính xác của mèo. Do đó, có thể quyển ấy ở trong tủ đồ gỗ. Chỗ trong văn phòng riêng của hắn.
- Tôi đã vào đó rồi! - Holmes đáp.
- Ủa, rồi hả? Vậy ông đâu phải là tay mơ. Có lẽ hắn đang gặp phải một tay kỳ phùng địch thủ rồi. Văn phòng mà ông vào có cái tủ buýt phê lớn chứa đồ sứ Trung Hoa đặt giữa hai cửa sổ sau cái bàn, có cái cửa đi qua văn phòng riêng, nơi hắn cất giấy tờ và một ngàn lẻ một thứ khác.
- Ông ta không sợ ăn trộm à?
- Adelbert đâu phải đồ thỏ đế. Ðương nhiên hắn dư sức bảo vệ mạng sống và tài sản của hắn. Ban đêm thì có cả một hệ thống chuông báo động. Mặt khác trong nhà hắn có cái thứ gì đáng giá để quyến rũ bọn ăn trộm đâu? Ngoại trừ mớ đồ sứ Trung Hoa.
- Ðồ vô giá trị! - Shinwell Johnson mạnh mẽ nói lớn - Không một thằng cha, con mẹ chợ trời nào chịu mua một món đồ của nó.
- Ðồng ý! - Holmes nói - Nào cô Winter, đề nghị cô quay lại chiều mai lúc 5 giờ. Ðể tôi suy nghĩ về đề nghị đi gặp cô gái của cô. Tôi sẽ xem xét coi có thể thu xếp một cuộc hẹn được không. Tôi thành thực cám ơn sự cộng tác của cô. Có lẽ tôi khỏi cần phải nhắc lại rằng người khách hàng của tôi rất hào phóng.
- Không - Cô gái la to - Tôi không đến đây vì tiền. Lôi được thằng khốn đó xuống bùn là tôi hả dạ! Nhét nó sâu xuống bùn và chân tôi đạp lên để giẫm nát cái mặt đáng nguyền rủa của nó! Tôi không muốn cái gì khác. Tôi sẽ gặp ông vào ngày mai và bất cứ lúc nào. Béo Ú biết cách kiếm ra tôi.
Phải tới chiều hôm sau, tôi mới gặp Holmes tại quán ăn quen thuộc ở Strand. Anh nhún vai khi được hỏi xem cuộc hội ngộ có kết quả không? Holmes kể lại:
- Tướng quân điện thoại cho hay rằng mọi sự đã chuẩn bị xong. Cô Winter rất đúng hẹn, leo lên xe ngựa đi chung với tôi. Xe cho chúng tôi xuống lúc 5 giờ 30 tại tư dinh đồ sộ của ông tướng. Một người hầu mặt đồng phục đưa chúng tôi vào phòng khách lớn. Cô bé đang ngồi đợi. Cô ta mặt tái xanh, nghiêm trang, sắt đá và lạnh lùng như tuyết. Tôi không biết cách mô tả cô bé, Watson à? Có thể trước khi câu chuyện kết thúc, anh sẽ gặp cô ta, chừng đó anh sẽ sử dụng năng khiếu văn sĩ của anh.
Cô bé đẹp, cái đẹp thanh thoát. Trong các kiệt tác của những nhà danh họa Trung Cổ, tôi gặp những khuôn mặt giống khuôn mặt của cô ta. Làm thế nào một con thú dữ có thể đặt vuốt của nó trên một con người như thế! Chuyện đó khó hiểu đối với tôi. Anh biết rằng những cái khác cực thì hút lẫn nhau, người thiên về tâm linh bị cuốn hút bởi người ác thú tánh. Ðương nhiên là cô ta biết lý do của cuộc thăm viếng của chúng tôi.
Sự có mặt của cô Winter làm cho cô bé ngạc nhiên một phút. Tuy vậy, cô ta vẫn chỉ hai ghế bành với vẻ mặt của một bà trưởng tu viện tiếp nhận hai người cùi trước đây đi ăn mày.
Cô ta nói giọng như vang dội ư một tảng băng.
“Thưa ông, tôi có được nghe nhiều về danh tiếng của ông, thưa ông Holmes. Ông tới đây, theo tôi hiểu, là để vu khống vị hôn phu của tôi, Adelbert. Chỉ vì chiều theo ý cha tôi mà tôi tiếp ông, và tôi xin báo cho ông biết trước rằng không một lời nào của ông sẽ có ảnh hưởng đến các quyết định của tôi”.
Cô ta làm tôi đau nhói. Ngay lúc đó, tôi coi cô ta như con gái của tôi. Tôi hăng say biện giải, mô tả cho cô ta các tình huống địa ngục của một người đàn bà chỉ biết rõ tim người đàn ông sau khi đã lấy nhau, một người đàn bà phải chịu sự nhơ khổ của đôi bàn tay đẫm máu và đôi môi tanh tưởi. Tất cả các lời nói của tôi không thể đem lại một phút xúc động trên cái nhìn xa xăm của cô ta.
Tôi nhớ lại những gì thằng ác ôn nói về cái tác động sau thôi miên. Quả vậy, ta có thể tưởng tượng rằng cô bé đang sống bên trên trái đất trong một sự mê sảng.
“Tôi đã nhẫn nại nghe ông nói, thưa ông Holmes. Hiệu quả của lời ông là đúng như hiệu quả mà tôi đã cho ông biết trước. Tôi biết rằng chồng chưa cưới của tôi đã trải qua rất nhiều cơn giông tố của những phê phán rất bất công. Ông là người cuối cùng trong một loạt người vu khống. Có thể ông có mỹ ý với tôi, mặc dù tôi biết ông là người làm việc có thù lao, ông có thể bảo vệ quyền lợi của nam tước cũng như quyền lợi các kẻ thù của nam tước. Nhưng đó là quyền tự do của ông.
Phần tôi, tôi muốn ông hiểu dứt khoát rằng, tôi yêu anh ấy, anh ấy cũng yêu tôi, còn dư luận đối với tôi thì chỉ như chó sủa lỗ không. Nếu bản chất quý phái của anh ấy đôi khi có sai sót, thì có thể Chúa đã thu xếp để tôi đến nâng anh ấy lên vai vế cũ.”
Quay qua phía cô Winter, cô ta nói thêm.
“Tôi không hiểu tại sao có sự hiện diện của thiếu phụ trẻ tuổi này?”.
Tôi sắp trả lời thì con bé bụi đời xen vào như cơn lốc. Anh hãy tưởng tượng cảnh lửa gặp băng, mặt đối mặt.
“Tôi sẽ nói với cô, tôi là ai?”, Winter nhảy dựng khỏi ghế và la lớn, miệng méo xẹo vì điên tiết. “Tôi là tình nhân cuối cùng của thằng đó. Tôi là một trong một trăm người đàn bà bị thằng đó cám dỗ, mê hoặc, tàn phá cuộc đời rồi liệng vào đống rác. Ðống rác, đối với cô có thể là nấm mồ, có lẻ lại hay hơn. Tôi nhắc lại, đồ ngu như chó, lấy nó, cô sẽ tiêu tùng! Hoặc nó đập nát tim cô hoặc nó vặn cổ cô? kết quả sẽ là cái chết chắc chắn.
Hôm nay, không phải vì thương cô mà tôi nói. Cô sống hay cô chết mặc xác cô. Chính vì muốn phục thù rứa hận. Không nên nhìn tôi một cách miệt thị như thế, người đẹp ơi! Bởi vì người đẹp có thể sa sút một cách tệ hại hơn, không lâu lắm đâu”.
“Tôi không muốn phải nói những chuyện như thế này. Tôi lặp lại một lần chót rằng tôi biết ba giai đoạn của cuộc đời của vị hôn phu của tôi. Trong đó anh ấy đã vướng phải thành phần đa mưu và tôi vững tin rằng anh ấy thành thật hối cải những sai trái cũ.” ”Ba giai đoạn”, người nữ đồng hành của tôi thét to, “Ðồ ngu! Ðồ ngu cực kỳ!”
“Ông Holmes, tôi yêu cầu ông chấm dứt cuộc nói chuyện này. Tôi vâng lệnh bố tôi mà tiếp ông, chứ tôi đâu bị bắt buộc phải nghe các lời nói mê sảng của người này”.
Cô Winter chửi thề như bắp rang, nhào ra phía trước, nếu tôi không nắm được cổ tay cô, thì cô Winter đã chụp tóc cô bé. Tôi kéo cô ta ra hướng cửa và nhanh nhẹn đẩy cô ta lên xe ngựa, tránh được một sự tụ tập của những người hiếu kỳ. Về phần tôi, tuy tỉnh táo hơn, nhưng tôi cũng muốn phát điên khi vấp phải một thái độ cao ngạo của người phụ nữ đang cố cứu mạng. Vậy là tôi đã báo cáo tình hình đầy đủ rồi đó. Ðương nhiên, tôi phải mở ra một hướng đi khác. Tôi vẫn phải giữ nên lạc với anh, anh Watson! Có phần chắc là tôi dành cho anh một vai trong vở kịch tới. Tôi đoán biết màn tới do họ chủ động đó”.
Holmes đã đoán đúng đòn thù của họ giáng trả. Ðúng ra là của thằng điếm đó. Tôi điếng người khi đọc tin nhỏ trên một tờ nhật báo. Sự việc xảy ra giữa đại khách sạn Grand Hotel và nhà ga Charing Cross. Một tờ báo buổi chiều in hàng tít rất lớn bằng chữ đen trên nền vàng: “Sherlock Holmes bị mưu sát”.
Tôi đứng như phỗng đá một lúc lâu. Sau đó hình như tôi giật tờ báo từ tay người bán, và không trả tiền báo rồi tức tối chui vào trước cửa một tiệm thuốc tây để đọc:
“Chúng tôi đau đớn hay tin ông Sherlock Holmes là nạn nhân của một cuộc mưu sát. Hiện tại mọi dự đoán về tình trạng sức khỏe của ông là quá sớm. Biến cố xảy ra khoảng 12 giờ tại phố Regent, gần quán cà phê Royal. Hai người dùng gậy đập tới tấp trên thân và đầu ông Holmes. Các bác sĩ cho rằng đây là trường hợp nghiêm trọng. Ông được chở vào nhà thương Charing Cross nhưng ông nằng nặc đòi chở về nhà tại phố Baker.
Những kẻ tấn công ăn mặc rất đàng hoàng. Họ thoát thân bằng cách chạy vào quán cà phê Royal rồi đi ra bằng cửa sau và tan biến trên đường phố đông người. Ðương nhiên họ thuộc giai tầng tội ác đã biết bao lần bị khốn khổ bởi tài năng của ông Sherlock Holmes”.
Tôi nhảy lên một xe ngựa, bảo chạy tới phố Baker. Tại cửa có xe của ngài Leslie Oakshott đang chờ. Khi vào hành lang, tôi gặp nhà giải phẫu nổi tiếng này.
- Bệnh không có gì nguy kịch - Bác sĩ Leslie Oakshott nói với tôi - Rách da đầu hai chỗ, trầy trụa tứ tung. Phải vá nhiều. Tôi có chích morphine, cần để ông ấy nghỉ ngơi, nhưng ông có thể vào gặp vài phút.
Tôi hối hả bước vào căn phòng tối om. Holmes gọi tôi. Bức sáo được kéo xuống ba phần tư nhưng có một tia sáng mặt trời lọt vào, nhờ đó tôi thấy rõ có vết máu thoát ra lớp băng trắng trên đầu Holmes. Tôi ngồi gần anh, lắc đầu.
- Không gì đâu, Watson! Ðừng giữ cái bộ mặt đưa ma đó - Holmes nói với giọng yếu ớt - Không nặng như người ta nói đâu!
- Thật là may!
- Tôi đánh gậy cũng không tệ, như anh biết, tôi đỡ được nhiều cú. Chúng có 2 người, tôi thua là do cái người thứ hai này.
- Ðương nhiên là do gã nam tước khốn nạn đó giựt dây. Nếu anh cho phép, tôi sẽ xé xác nó ngay?
- Ta không thể làm gì trước khi cảnh sát thộp cổ mấy tên đồng phạm của nó. Chúng chuẩn bị kế hoạch chuồn hay lắm. Hãy chờ một lúc. Tôi có kế hoạch mới. Việc thứ nhất phải làm là tung tin rằng bệnh trạng của tôi là rất nguy kịch. May mắn lắm thì sống thêm một tuần. Hãy phao tin rằng tôi đã nói sảng nói điên.
- Còn ngài Leslie Oakshott?
- Ồ, khỏi lo, ông ấy phịa còn dữ hơn nữa. Tôi lo chuyện đó cho.
- Còn gì nữa không.
- Còn chứ! Báo Shinwell Johnson, bảo hắn đem cất giấu con bé bụi đời vào nơi an toàn. Bọn chúng sẽ làm thịt con bé. Khẩn trương lên, ngay đêm nay nhé!
- Tôi đi ngay. Còn gì nữa không?
- Ðể cái tẩu và bao thuốc trên bàn giùm. Tốt lắm! Mỗi sáng anh tới đây, chúng ta sẽ hoạch định kế hoạch hành động.
Ngay đêm đó tôi thu xếp với Johnson để gởi cô Winter qua vùng ngoại ô, chờ tới lúc sóng lặng gió yên.
Trong suốt sáu ngày, công chúng lầm tưởng Holmes đang thoi thóp, chờ chết. Các bản thông báo sức khỏe rất là bi quan, còn báo chí thì công bố những tin tức ảm đạm. Trong khi đó Holmes bình phục nhanh chóng.
Ngày thứ bảy, người ta tháo chỉ các chỗ may. Cũng tối hôm đó họ loan một tin mà tôi phải thông báo ngay cho Holmes. Trong đám hành khách trên con tàu rời Liverpool vào sáng thứ sáu, có tên của nam tước Adelbert Gruner. Hắn có những việc tài chính quan trọng phải giải quyết tại Hoa Kỳ trước ngày kết hôn đang gần kê. Sau khi nghe tin này, nét mặt Holmes tái mét.
- Thứ sáu. Holmes la lớn - Vậy chỉ còn có ba ngày thôi. Thằng ác ôn này muốn chạy trốn. Không được đâu, Watson? Tôi muốn anh làm một cái di để giúp tôi.
- Thì tôi tới đây là để giúp anh.
- Vậy anh dành 24 giờ tới để nghiên cứu kỹ lưỡng các đồ sứ Trung Hoa.
Holmes không giải thích thêm. Tôi cũng không đặt một câu hỏi nào. Mấy năm sống với anh tập cho tôi thói quen răm rắp vâng lời. Nhưng khi đã rời phòng của anh, đi dọc đường Baker, tôi không biết làm sao chấp hành mệnh lệnh. Cuối cùng tôi đi đến thư viện ở quảng trường St. James, trình bày dự định của tôi cho người bạn thân tên là Lomax, phó quản thủ thư viện và quay về nhà với một cuốn sách đồ sộ kẹp ở nách. Suốt đêm, suốt sáng hôm sau, tôi học được cả ngàn chuyện và nhồi nhét vào đầu cả ngàn cái tên. Ðầu óc nặng trĩu dưới gánh nặng của tài liệu này. Chiều hôm sau tôi đến nhà Holmes. Anh đang ngồi trên chiếc ghế bành, đầu quấn băng.
- Nếu tin theo các báo chí thì anh đang hấp hối?
- Ðấy chính là điều tôi muốn phổ biến rộng rãi, còn anh đã học bài kỹ chưa?
- Ít ra tôi có thể hiểu một số điều.
- Hoan nghênh! Anh thấy đủ sức tranh luận một cách khôn ngoan về đề tài đó chưa?
- Dư sức.
- Vậy, vui lòng lấy giúp tôi cái hộp trên lò sưởi?
Holmes mở nắp, để lộ ra một đồ vật nhỏ được gói kỹ trong miếng lụa Ðông phương.
- Phải cầm cho cẩn thận. Ðây là dĩa sứ đá trứng đời nhà Minh. Cho tới nay chưa có ai làm hay hơn. Có đủ bộ. Hình như không có bộ thứ hai, ngoài bộ ở Hoàng cung Bắc Kinh. Nhìn đồ vật này, một người sành điệu sướng phát điên.
- Tôi phải làm gì?
Holmes đưa cho tôi một danh thiếp trên đó có in hàng chữ “Bác sĩ Hin Barton, 369 phố Half Moon”.
- Ðêm nay anh mang tên này và đến nhà nam tước Gruner. Tôi biết vài thói quen của hắn.
Lúc 8 giờ 30 có thể hắn rảnh. Anh hãy gởi danh thiếp báo trước. Anh nói với hắn rằng anh mang tới một mẫu của bộ sứ đời nhà Minh, hiếm có. Anh đóng vai bác sĩ thì dễ thôi, nhưng anh cần đóng vai người sưu tập nhiều hơn. Bộ đồ sứ này tình cờ lọt vào tay anh, anh có nghe đồn nó thích đồ sứ, và anh sẵn sàng bán với giá cao.
- Bao nhiêu?
- Câu hỏi khôn ngoan đó. Anh sẽ bị lộ diện mau chóng nếu không biết giá cả của món hàng. Mẫu này do tướng quân của chúng ta mang lại. Anh không nói ngoa khi khẳng định là không có cái thứ hai trên thế giới này.
- Tôi có thể đề nghị bộ đồ sứ được đánh giá bởi một chuyên viên?
- Anh tuyệt hảo hôm nay. Vì tế nhị, anh không định giá mà đề nghị mời chuyên viên.
- Nhưng chắc gì nó tiếp tôi?
- Tiếp chứ! Hắn là một tay chơi đồ cổ, anh quên rồi sao? Hãy ngồi xuống, tôi đọc cho anh chép! Khỏi cần xin hồi ám, chỉ báo sẽ đến và cho biết lý do.
Ngay đêm đó, với cái đá quý giá trên tay và tấm danh thiếp mang tên bác sĩ Hill Barton trong túi, tôi lao mình vào một cuộc phiêu lưu.
Ngồi nhà và khoảnh đất chung quanh cho thấy rằng nam tước Gruner giàu sụ, đúng như ngài James đã nói. Những con đường dài uốn khúc giữa các bồn hoa lạ đưa tới một cái sân vuông rải sỏi, có dựng nhiều bức tượng. Cơ ngơi này được sắp đặt bởi một ông vua vàng của Nam Mỹ vào thời cực kỳ phát đạt.
Một quản gia ăn mặc nghiêm chỉnh mở cửa cho tôi, rồi giao cho một gia nhân mặc toàn đồ nhung sang trọng. Cuối cùng nam tước tiếp tôi.
Hắn ta đứng gần cái tủ cao, đặt giữa hai cửa sổ, chứa một phần bộ sưu tập đồ sứ Trung Hoa. Khi tôi vào, ông quay mặt về hướng tôi, tay cầm một lọ nhỏ màu náu.
- Mời bác sĩ ngồi! Tôi đang ngắm nghía các báu vật của tôi và tự hỏi không biết có thể thực sự thêm vào đó một cái nữa không? Cái mẫu nhỏ đời Ðường này thuộc thế kỷ thứ VII có thể làm ông thích. Tôi chắc chắn ông chưa bao giờ thấy một sự khéo tay nào và một sự pha trộn màu nào hài hòa hơn. Ông có mang theo cái đĩa đời Minh đấy chứ?
Tôi mở gói một cách cẩn thận và đưa cái đĩa ra. Hắn liền ngồi vào bàn, kéo cái đèn lại gần và quay đá qua lại, xem xét mọi khía cạnh. Trong lúc đó, ánh sáng màu vàng chiếu sáng khuôn mặt hắn cho phép tôi ngắm hắn một cách thoải mái.
Hắn thực sự đẹp trai, chiều cao trung bình nhưng dáng người thanh nhã, mềm mại. Khuôn mặt sạm nắng, vẻ Ðông phương, đôi mắt to đen nhánh, mơ màng, có sức cuốn hút đàn bà một cách dễ dàng. Tóc và râu màu đen, râu kẽm, ngắn, mảnh mai, chải chuốt. Giọng nói hấp dẫn, điệu bộ sang trọng. Tôi đoán hắn chỉ ngoài 30, nhưng thực ra, như sau này mới biết, hắn đã 42 rồi.
- Rất đẹp! Rất là đẹp! - Hắn khen luôn miệng. - Ông có một bộ sáu cái? Có một điều là tôi chưa bao giờ nghe nói về cái bộ đĩa tuyệt trần này. Tôi biết tại Anh quốc có một bộ có thể sánh với bộ này. Nhưng chắc chắn họ không bán. Thưa bác sĩ Hill Barton, bác sĩ vui lòng tha thứ cho sự tò mò của tôi và cho tôi biết do đâu bác sĩ có được bộ này?
- Ông thích nó thật à? - Tôi hỏi với một vẻ bình thản. - Tôi đã biết nó là thứ thiệt. Về trị giá của nó, tôi đành phó thác cho sự định giá của một chuyên gia.
- Rất là bí hiểm! - Hắn thì thầm, với đôi mắt đen lấp lánh một tia sáng ngờ vực. - Khi muốn mua những đồ vật có giá trị lớn như thế này, ai cũng muốn phăng cho tới ngọn ngành. Cái đĩa đẹp, quý, là điều không ai chối cãi. Tôi không mảy may ngờ vực. Nhưng tôi phải cân nhắc nhiều điều... Bác sĩ không có quyền bán nó.
- Tôi bảo đảm!
- Thế thì tôi phải xét lại giá trị của lời bảo đảm này.
- Các ngân hàng của tôi sẽ trả lời cho ông về uy tín của tôi.
- Ðược thôi! Dù vậy việc buôn bán này có hơi dị thường!
- Ông mua hay không, tùy ông! - Tôi nói với vẻ cực kỳ bất cần - Tôi tới ông trước tiên, tại vì tôi được biết ông là người sành sỏi, chứ việc buôn bán này đâu có khó gì?
- Ai nói với ông rằng tôi là người sành sỏi?
- Tôi biết ông có viết một cuốn sách về đề tài này.
- Ông đọc rồi?
- Chưa!
- Chúa ơi! Càng lúc tôi càng rồi trí hơn. Ông là người sành sỏi kiêm nhà sưu tập. Ông có một đồ vật giá trị lớn trong bộ sưu tập, thế mà ông không chịu khó đọc cuốn sách độc nhất giúp ông tìm hiểu ý nghĩa và giá trị của cái đồ vật này. Ông giải thích điều đó như thế nào?
- Tôi rất bận. Tôi là thầy thuốc. Tôi có khách hàng phải phục vụ.
- Ðó không phải là lời giải đáp! Nếu ham chơi đồ cổ, người ta luôn dành thời gian cho nó bằng mọi cách. Trong thư, ông có nói ông là người sành sỏi.
- Ðúng vậy!
- Vậy tôi hỏi ông vài câu để kiểm nghiệm. Tôi buộc lòng phải nói với bác sĩ rằng cái màn buôn bán này mỗi lúc mỗi lù mù. Nào, ông biết gì về nhà Bắc Ngụy và vị trí của họ trong lịch sử đồ gốm?
Tôi nhảy dựng khỏi cái ghế bành và giả đò nổi giận:
- Ðiều này không còn dung thứ được nữa. ông à? - Tôi la lớn - Tôi tới đây vì dành ưu tiên cho ông, chứ không phải để bị hạch hỏi. Kiến thức của tôi về đồ sứ có thể thua sút ông, nhưng tôi từ chối trả lời những câu hỏi được đặt ra một cách xấc xược!
Hắn nhìn tôi đăm đăm, cái tính thơ mộng trong đôi mắt của hắn đã biến mất. Rồi đột ngột, đôi mắt này rực lửa. Tôi thấy sự ngời sáng của bộ răng trắng của hắn giữa cặp môi tàn nhẫn.
- Anh chơi trò gì? Anh tới đây để dò xét tôi, anh mưu toan gạ gẫm tôi. Hình như Holmes đã gần chết và y sai anh đến đây canh chừng tôi. Anh vào đây dễ dàng, nhưng anh sẽ thấy ra khỏi đây rất khó.
Hắn nhảy dựng lên, tôi lùi lại, chuẩn bị đối phó. Có lẽ lúc đầu hắn có nghi ngờ, qua cuộc thẩm vấn, hắn thấy rõ hơn. Hắn thọc tay vào hộc tủ, lục lạo túi. Thình lình một tiếng động vang lên làm hắn dừng lại để nghe.
- À! s- Hắn la lên rồi chạy vào căn phòng phía sau lưng. Tôi chạy ra đến cửa. Cửa sổ của căn phòng thứ hai ngó ra vườn bị mở toang hoác. Bên cạnh cửa sổ này, Sherlock Holmes xuất hiện như một con quỷ, sau đó, Holmes nhảy ra ngoài. Tôi nghe tiếng chân anh giẫm lên các nhánh nguyệt quế ngoài vườn. Chủ nhà nhảy theo, miệng gào thét như con cọp dữ.
Và lúc đó chỉ trong một giây, tôi thấy rõ một cánh tay đàn bà ló ra khỏi các cành nguyệt quế. Thình lình gã nam tước la thất thanh. Tiếng la rợn người. Hắn lấy hai bàn tay bụm mặt vừa gào vừa chạy vào phòng, đụng đầu vào tường, ngã sụm xuống thảm, cuộn tròn, quằn quại, rên la vang dội trong căn nhà mênh mông.
- Cho tôi nước! Cho tôi nước! - Hắn la liên tục.
Tôi vớ lấy bình nước trên bàn, hối hả chạy tới. Cùng lúc viên quản gia và nhiều người bồi phòng khác cũng chạy tới. Tôi còn nhớ rằng một người trong bọn ngất xỉu khi nhìn thấy gương mặt của hắn bị tàn phá một cách dữ dội. Acid đang ngậm nhấm khuôn mặt hắn, đang chảy thành giọt xuống tai và xuống cằm. Một con mắt đã trắng đục, con kia thì đỏ và sưng lên. Cái diện mạo mà ban nãy tôi tấm tắc khen thầm thì giờ đây nó giống như một bức tranh đẹp bị nhòe, tèm nhem, trông rất gớm ghiếc!
Một cách ngắn gọn, tôi trình bày những gì đã xảy ra. Vài người bồi phòng nhảy qua cửa sổ, lục lọi ngoài vườn nhưng trời tối đen và mưa bắt đầu rơi.
- Chính là Kitty Winter. Ồ, con quỷ cái đó sẽ phải đền tội! Ðúng, nó sẽ phải đền tội. ôi! Ðau quá, không thể nào chịu nổi! - nam tước Gruner la vang.
Tôi rửa mặt hắn bằng dầu, áp bông gòn vào da cháy rồi chích cho hắn một mũi thuốc giảm đau. Hắn bấu vào tay tôi, như thể tôi có quyền năng đem lại sự sống cho đôi mắt đang nhìn tôi chòng chọc.
Có thể tôi đã khóc trước cái đại họa này, nếu tôi quên được cái lòng lang dạ thú của hắn. Chính cái dã tâm của hắn là nguồn gốc của mối đại họa hôm nay. Tôi ghê tởm khi cảm thấy đang bị hắn bấu víu để cầu cứu... Bác sĩ chuyên môn của gia đình hắn đã đến, tôi được nhẹ nhõm. Tất nhiên một thanh tra cảnh sát không thể chậm chân. Tôi trình cái danh thiếp thật của tôi cho cảnh sát, mọi người đều biết tôi y như biết Sherlock Holmes. Rồi tôi rời cái nhà xui xẻo này. Không đầy một giờ sau, tôi đã về tới phố Baker. Holmes đang ngồi trong ghế bành quen thuộc, lắng tai nghe một cách kinh hoàng. Tôi mô tả sự thay đổi hình dạng của nam tước.
- Có vay thì phải trả. Vay sao, trả vậy! - Nói xong Holmes với tay lấy cuốn sách nâu để trên bàn. Ðây là cuốn sách mà con bé bụi đời đã nói với chúng ta. Nếu cô bé khăng khăng không hủy bỏ sự đính hôn thì ta chịu thua thôi. Nhưng cô ta sẽ hủy bỏ cuộc đính hôn! Bắt buộc thôi, bất cứ người phụ nữ nào có lòng tự trọng, cũng đều phải khuất phục lẽ phải.
- Cuốn sổ tình?
- Cuốn sổ tình dục thì đúng hơn. Ngay khi con bé Winter cho biết, tôi hiểu ngay đó là một vũ khí lợi hại. Tôi lặng yên, không phát biểu gì vì sợ con bé không giữ miệng được. Tuy nhiên tôi suy đi tính lại mãi. Tiếp đến tôi bị tấn công, đó là cơ hội để làm cho nam tước lầm tưởng mà không đề phòng gì về phía tôi. Mọi việc trôi qua êm đẹp. Tôi tưởng đây mình còn phải chờ lâu. Không ngờ hắn dự định đi Mỹ. Tôi phải khẩn trương vì hắn sẽ không chịu để cuốn sổ này tại đây. Rất khó mà ăn trộm ban đêm, bởi vì hắn có một hệ thống báo động. Nhưng cướp đoạt vào ban ngày thì được, với điều kiện phải làm sao cho tâm trí của hắn bị chi phối. Ðó chính là lý do tại sao anh và cái dĩa phải nhập cuộc.
Khổ nỗi tôi phải biết chính xác cuốn sách nằm ở đâu. Mặt khác, tôi không có nhiều thời gian, bởi vì kiến thức của anh về đồ sứ Trung Hoa không có bao nhiêu. Ðó là lý do tôi cho mời con bé bụi đời vào phút chót. Có Chúa mới đoán được con bé giấu vật gì trong áo choàng của nó! Tôi lầm tưởng nó chỉ đến vì công việc của tôi, đâu có dè nó còn nghĩ tới chuyện riêng tư của nó.
- Thằng ác ôn biết chính anh sai tôi đi!
- Tôi cũng khá lo. Nhưng anh đã cầm cự đủ thời gian để tôi chộp được cuốn sách! Kìa! Ngài James ngài tới, tôi mừng hết lớn.
Ngài James thích thú nghe kể lại tất các biến cố.
- Một kỳ công! Ðại kỳ công – Ông la to - Nếu thương tích của hắn tệ hại như bác sĩ Watson mô tả thì cái kế hoạch phá đám cưới sẽ thành công, đâu cần tới cuốn sách bẩn thỉu này?
Holmes lắc đầu:
- Phụ nữ như cô De Merville không xử sự bình thường như chúng ta dự đoán. Cô ta càng thương hắn bội phần, dưới các đường nét ghê tởm ở mặt của người tử vì đạo. Không đâu, chính cái mặt đạo đức của hắn cần được tiêu hủy chứ không phải cái mặt thể chất. Cuốn sách này sẽ làm cho cô ta bừng tỉnh. Tôi không thấy có giải pháp thứ hai. Ðây chính là chữ viết của tên khốn nạn đó. Cô ta không thể phủ nhận.
Ngài James mang cuốn sách về, cùng với cái dĩa quý giá. Tôi cũng cáo từ. Chiếc xe ngựa đang chờ, ông ấy nhảy lên, ra lệnh ngắn gọn cho người xà ích phóng xe nhanh. Dù ông ta cố lấy vạt áo choàng che phủ huy hiệu trên cửa xe, tôi cũng có đủ thời gian để nhận dạng cái huy hiệu đó.
Tôi há hốc mồm, quay vào và đến phòng của Holmes.
- Tôi đã phát hiện khách hàng của mình là ai! - Tôi la lớn, hãnh diện vì cái tin tức mới của tôi - Nè, Holmes! Đó là…
- Ðó là một người bạn trung thực và nghĩa khí! - Holmes chận ngang bằng cách khoát tay làm dấu.
Ba ngày sau, nhật báo The Morning Post loan báo rằng cuộc hôn nhân giữa nam tước Adelbert Gruner và cô Violet De Merville bị hủy bỏ. Số báo đó cũng tường thuật vụ cô Kitty Winter ra tòa vì tội tạt acid. Nàng được hưởng trường hợp giảm kinh nên bản án không nặng lắm. Sherlock Holmes thì suýt bị truy tố vì tội trộm. Nhưng khi mục tiêu là tốt, và khách hàng là một thế gia vọng tộc, luật pháp của Anh quốc cũng co giãn và có nhân tính. Holmes khỏi ngồi vào ghế bị cáo.

---
(1) Nguyên văn: nark
(2) Nguyên văn: những gã Apache
📎 Nguoi khac..oi tieng
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-07-08 14:26:42Thái Nhi>
VIÊN ÐÁ CỦA MAZARIN

Bác sĩ Watson sung sướng vô cùng khi một lần nữa được quay trở về căn hộ trên gác ở phố Baker, nơi xuất phát của biết bao cuộc phiêu lưu kỳ thú. Ông nhìn các bản đồ phác họa trên tường, cái bàn loang lổ vì acid, và ngổn ngang những hóa chất để thí nghiệm, cái bao vĩ cầm dựng ở một góc, cái xô than vẫn được dùng để đựng cái ống vố và thuốc lá. Cuối cùng ông nhìn thấy khuôn mặt tươi cười của Billy, chú hầu nhỏ sâu sắc và tế nhị người đã giúp khỏa lấp cái hố sâu đơn côi và cô quạnh của nhà thám tử đại tài.
- Không có thay đổi gì nhiều lắm hả Billy? Cả cháu cũng không có thay đổi, tôi hy vọng ông ấy cũng thế.
Billy ái ngại nhìn về hướng phòng ngủ đóng kín.
- Có lẽ ông ấy đang ngủ.
Ðã 7 giờ tối và cái ngày hè hôm đó rất đẹp. Bác sĩ Watson khá quen với thời khóa biểu bất thường của người bạn cố tri, nên không hề ngạc nhiên chút nào.
- Nghĩa là ông ấy đang theo dõi một vụ nào đó?
- Ðúng vậy, thưa ông. Một vụ mà ông ấy phải dốc toàn tâm toàn trí. Cháu lo cho sức khỏe của ông ấy lắm. Ông ấy tái mét, gầy đi, bỏ ăn. “Chừng nào ông mới thấy đói, hả ông Holmes?”, bà Hudson thường hỏi thế. “Bảy giờ rưỡi ngày mốt”, ông ấy trả lời như vậy. Bác sĩ thừa biết là ông ấy lo lắng tới mức nào một khi lo vào một vụ.
- Biết!
- Ông ấy đang bám theo ai đó. Hôm qua ông ấy ra đi người ta lầm tưởng là một công nhân đi kiếm việc làm. Hôm nay ông ấy giả làm đàn bà, ông ấy ngụy trang hay lắm. Mới đầu tôi còn bị lầm, nhưng bây giờ thì quen rồi.
Billy cười nhoẻn, tay chỉ về cây dù to tướng dựa vào cái ghế dài.
- Ðể ngụy trang làm một bà lão đó.
- Thuộc loại chuyện gì?
Billy hạ giọng như thể sắp sửa tiết lộ một bí mật lớn của quốc gia.
- Cháu xin kể, thưa ông, nhưng phải tuyệt đối giữ miệng. Ðó là vụ Viên kim cương của Hoàng gia.
- Vụ trộm kim cương trị giá khoảng 100.000 bảng Anh?
- Ðúng thế, thưa ông. Phải kiếm cho ra, ông biết không? Ông thủ tướng và ông bộ trưởng nội vụ đều đến ngồi tại ghế dài này. Ông Holmes tiếp họ rất lịch sự, trấn an họ và hứa sẽ cố gắng tối đa. Có cả huân tước Cantlemere…
- Thế à?
- Ðúng thế, thưa ông. Ông có biết ông này không? Một mẫu người sắt đá, nếu cháu được phép nói thực lòng. Cháu khoái ông thủ tướng nhất, ông bộ trưởng cũng thế. Cháu có cảm giác đó là những người cần mẫn, lễ độ. Còn ngài huân tước, cháu không thể chịu đựng được! Ông Holmes cũng cùng một quan điểm với cháu, ông ạ. Hầu tước không tin tài của ông Holmes, chống đối việc sử dụng ông Holmes, và còn cầu mong ông Holmes thất bại.
- Ông Holmes biết không?
- Ông Holmes luôn luôn biết tất cả những gì cần phải biết...
- Vậy thì chúng ta hy vọng ông Holmes sẽ thắng và huân tước Cantlemere sẽ thất bại. Này Billy, cái màn căng ở cửa sổ để làm gì?
- Ông Holmes mới móc nó cách đây ba ngày và có để một cái ngồ ngộ ở đàng sau.
Billy tiến tới, kéo cái màn ngăn cách căn phòng với cửa sổ.
Bác sĩ Watson không thể đè nén một tiếng la vì ngạc nhiên. Một mẫu tượng lớn như thật của Sherlock Holmes, mặc áo ngủ, mặt hướng ra cửa sổ, nhìn xuống như thể đang đọc một cuốn sách vô hình.
Billy gỡ cái đầu ra, rồi giơ cao lên.
- Ông Holmes luôn luôn cho đổi góc độ để có vẻ sống động. Chỉ khi nào bức sáo kéo xuống, cháu mới dám sờ tới nó. Khi bức sáo kéo lên, đứng bên kia đường, ông sẽ nhìn thấy rõ ông Holmes!
- Có lần chúng tôi cũng đã sử dụng cái màn này.
- Với cháu thì đây là lần đầu! - Billy nói, tay kéo bức sáo để ngó ra đường - Phía bên kia đường có người rình. Cháu thấy rõ một người tại cửa sổ, ông nhìn thử xem.
Bác sĩ Watson mới vừa bước tới thì cánh cửa phòng mở, cho thấy cái dáng vóc lêu nghêu của Holmes. Khuôn mặt bơ phờ, nhưng bước đi vẫn nhanh nhẹn như thường ngày.
Holmes bước tới của sổ, kéo bức sáo xuống.
- Ðủ rồi Billy! Nguy hiểm đấy! Sao hả Watson? Gặp anh tại căn hộ thân ái này là thích thú vô cùng. Anh tới đúng lúc đấy!
- Hình như vậy!
- Cháu có thể lui, Billy... Tôi lo cho thằng bé quá, Watson à. Ðâu có thể để cho nó chịu nguy hiểm
- Nguy hiểm gì?
- Chết bất đắc kỳ tử! Tôi đang đợi đêm nay.
- Ðợi cái gì?
- Bị ám sát!
- Thật sao?
- Tuy nhiên, trong khi chờ chết, ta phải hưởng một chút tiện nghi phải không. Rượu chưa bị cấm. Cái ống quẹt và hộp xì gà vẫn nằm tại vị trí cũ. Anh hãy ngồi trên ghế bành để tôi nhìn anh thêm một lần nữa. Tôi hy vọng anh chưa tập xong cái thói quen ghét cái tẩu và cái mùi thuốc khen khét của tôi. Mấy bữa rày, nhờ nó mà khỏi ăn cơm.
- Tại sao lại không ăn?
- Năng lực sẽ bén nhọn hơn nếu ta ăn chay.
- Nhưng còn cái hiểm họa?
- À. Trong trường hợp mà sự đe dọa trở thành hiện thực, anh hãy nhớ lấy tên và địa chỉ của kẻ sát nhân đem nộp cho Scotland Yard. Tôi xin chúc lành cho anh! Hắn là bá tước Negretto Sylvius. Chép cái tên đi, Watson, chép đi! 136 Moorside Gardens N.W. Xong chưa?
Khuôn mặt của bác sĩ Watson đầy lo âu.
- Cho tôi tham gia với. Tôi rảnh hoàn toàn trong 48 giờ.
- Ðạo đức của anh chưa tiến, Watson ạ. Ngoài các tật xấu khác, nay anh có thêm tật nói dối. Rõ ràng anh có dáng vẻ của một bác sĩ rất bận rộn.
- Không đến nỗi thế đâu. Nhưng anh không thể nhờ cảnh sát bắt hắn sao?
- Ðược chứ !
- Thế thì tại sao không nhờ cho rồi?
- Tại vì hiện tôi chưa biết viên kim cương nằm tại đâu.
- Billy có nói với tôi về viên kim cương trên vương miện.
- Đúng thế! Đó là viên đá Mazarin. Tôi đang thả mồi câu cá. Nhưng tôi lại không có viên đá.
- Và bá tước Sylvius là một trong những con cá đó?
- Ðúng thế! Đó là một con cá mập. Thằng kia là Sam Merton, biết đánh quyền Anh. Thằng Sam không tệ đâu, nhưng nó bị bá tước xỏ mũi. Nó chỉ là một con cá chốt ngu đần đang vẫy vùng trong lưới của tôi.
- Bá tước Sylvius hiện ở đâu?
- Suốt buổi sáng nay tôi đứng sát bên hắn. Anh có thấy tôi ngụy trang thành một bà lão chưa, Watson?
- Chưa bao giờ có bà lão nào quyến rũ như sáng nay. Hắn còn cầm dù giùm tôi trong một lúc. “Xin phép bà!”. Hắn nói với tôi, giọng pha Ý. Hắn có cái dịu dàng của miền Nam trong cử chỉ lúc hắn vui, nhưng khi buồn, hắn là hiện thân của quỷ sứ.
- Có thể xảy ra thảm kịch?
- Có lẽ! Tôi đã theo hắn tới cửa hiệu của lão Straubenzee. Tay này làm một cây súng hơi, tôi đoán thế. Và tôi có đủ cơ sở để nghĩ rằng cây súng đó hiện giờ đang đặt tại cửa sổ trước nhà. Anh đã thấy hình nộm của tôi rồi đó. Hình nộm có thể ăn đạn bất cứ lúc nào. Ủa! Có gì vậy Billy?
Billy mang vào một tấm danh thiếp đặt trên mâm.
Holmes vừa nhìn vừa nhướng mày và cười thích thú.
- Ðích thị là cái gã đó! Bất ngờ quá! Anh ta cầm cây củi ngay phía đang cháy, chì thật. Anh biết rằng hắn nổi tiếng là thợ săn mồi to? Anh ta định sẽ kết thúc đẹp đẽ bảng thành tích của mình, sau khi ghi được thêm tên tôi vào đó.
- Ta báo cho cảnh sát!
- Chưa cần! Anh nhìn kỹ ra ngoài cửa sổ xem có ai thơ thẩn phía đó không?
Watson dạn dĩ vén bức màn.
- Một thằng to con đứng gần cửa lớn.
- Sam Merton đó. Hắn trung thành nhưng ngu dại. Ông ta hiện ở đâu rồi, Billy?
- Tại phòng khách, thưa ông.
- Khi ta bấm chuông thì cháu mời ông ấy lên. Dù không thấy ta cũng cứ đưa vào.
- Vâng!
Watson đợi của lớn đóng rồi mới quay qua phía Holmes.
- Coi chừng, Holmes, có thể nó tới giết anh.
- Chuyện đó không làm tôi ngạc nhiên!
- Tôi xin được ở cạnh anh.
- Anh làm vướng tay, vướng chân tôi.
- Tôi không thể bỏ mặc anh được.
- Anh để tôi một mình mà anh vẫn có vai trò. Thằng cha này tới vì một lý do riêng của nó. Nhưng có thể nó sẽ ở lại vì lý do của tôi.
Holmes lấy sổ tay nguệch ngoạc vài dòng.
- Anh thuê xe ngựa chạy đến Scotland Yard, trao cái này cho Youghal, thuộc Ban truy nã đại hình rồi quay lại đây với cảnh sát. Màn bắt bá tước sẽ xảy ra sau đó!
- Ðược!
- Trước khi anh về tới, có lẽ tôi đã kiếm ra cục đá.
Anh vừa bấm chuông vừa nói:
- Chúng ta hãy đi vào phòng ngủ, phương án thứ hai đôi khi khá hữu ích. Ngoài ra tôi cũng muốn nhìn con cá mập của tôi trong khi nó không thấy tôi.
Vài phút sau Billy đưa bá tước Sylvius vào. Nhà đi săn, nhà thể thao và người hào hoa nổi tiếng to béo có nước da sạm nắng, với một bộ râu xum xuê màu đen bao bọc một cái miệng hung ác, môi mỏng, mũi dài và cong như mỏ chim ó. Khi cửa đóng lại sau lưng, ông ta quan sát căn phòng với một cái nhìn hung tợn, mắt đăm đăm nhìn mỗi món đồ gỗ như sợ một cái bẫy. Ông ta giựt mình khi thấy cái đầu lạnh lùng của một người đang ngồi trên ghế bành trước cửa sổ. Lúc đầu gương mặt chỉ thể hiện sự kinh ngạc, nhưng sau đó, một tia hy vọng đen tối chiếu sáng trên đôi mắt khát máu. Ông ta nhanh chóng nhìn quanh rồi rón rén, cây gậy nặng nề giơ lên nửa chừng. Ông ta tới gần cái vóc dáng bất động, co mình để lấy đà thì một tiếng nói lạnh lùng từ cửa phòng ngủ vọng tới.
- Ðừng đập nó, thưa bá tước!
Vị bá tước kinh ngạc. Hắn lại nâng cây gậy lên nhưng trước cái nhìn sắt thép và nụ cười chế nhạo, hắn thấy cần phải hạ tay xuống.
- Ðó là một công trình nghệ thuật nhỏ đẹp! - Holmes nói, vừa tiến tới hình nộm - Nhà vẽ kiểu áo quần Tavernier của nước Pháp nặn ra nó đó. Ông ấy cũng khéo tay trong việc nắn sáp như ông bạn Straubenzee của ngài khéo tay trong việc sản xuất súng hơi.
- Súng hơi? Ông muốn nói gì?
- Hãy để nón và gậy trên cái bàn tròn này. Cám ơn, xin vui lòng ngồi xuống, cởi súng lục luôn, được không? Cũng chả sao, nếu ngài muốn ngồi đè lên!... Ngài tới đúng lúc quá, tôi khát khao có được 5 phút riêng với ngài.
Gã bá tước làu bàu, chân mày sụ xuống, vẻ dọa nạt.
- Tôi cũng vậy, tôi muốn nói chuyện với ông. Tôi không phủ nhận rằng tôi có dự định hạ ông.
- Tôi cũng lờ mờ thấy rằng trong đầu ngài đang nung nấu một dự án loại đó. Không hiểu tại sao ngài lại dành cho tôi quá nhiều sự lưu tâm?
- Tại vì ông theo chúng tôi, tại vì ông sai người theo dõi tôi.
- Người của tôi, tôi thề là không có chuyện đó.
- Láo toét! Tôi bị theo dõi và tôi sai người theo dõi lại chúng nó. Ðó là một trò chơi có thể chỉ cần hai đối thủ.
- Thưa bá tước, ngài tiếp xúc thẳng với tôi có hay hơn không. Do nghề nghiệp tôi phải thân thiện phần nào với các tên ăn cướp trên thế giới. Còn ngài, thưa bá tước Sylvius, lui tới với bọn nó là coi không được.
- Ðúng vậy.
- Hoan nghênh! Tuy nhiên ngài lầm khi cho ai đó là nhân viên của tôi.
Gã cười lớn một cách miệt thị.
- Ðâu phải chỉ có một mình ông là người có tài quan sát sắc bén. Hôm qua là một người thất nghiệp già. Hôm nay là một bà lão, suốt ngày chúng bám tôi sát gót.
- Thật vậy sao? Ngài nói quá! Tới phiên ngài, ngài lại ca tụng cái trò ngụy trang vặt vãnh của tôi.
- Là ông? Chính là ông?
Holmes nhún vai.
- Trong góc kia là cái dù mà ngài có nhã ý xin cầm giùm...
- Nếu tôi biết, thì không bao giờ...
- Thì không bao giờ tôi trở về nhà được chứ gì. Tôi biết rõ mà! Tất cả chúng ta đều bỏ lỡ cơ hội, rồi sau đó lại hối tiếc. Nhờ ngài không nhận ra tôi mà chúng ta còn gặp nhau hôm nay.
Ðôi chân mày của gã bá tước sụp xuống một cách nặng nề hơn.
- Những lời ông nói chỉ làm cho không khí ngột ngạt thêm. Ông theo dõi tôi để làm gì vậy?
- Tôi cần tìm ra một viên kim cương màu vàng?
Hầu tước ngả lưng ra sau cười một cách gượng gạo.
- Tôi thề...
- Thật ra ngài biết tại sao tôi bám theo ngài. Hôm nay ngài đến đây là để dò xem tôi biết sự việc tới mức độ nào và nếu cần, ngài sẽ ra tay thủ tiêu tôi? Phải khách quan mà nói, ngài thủ tiêu tôi là điều tôi cần, bởi vì tôi đã biết hết, trừ một chi tiết nhỏ mà chính ngài sẽ tiết lộ.
- Thật ư?
- Phải.
Ðôi mắt của Holmes chĩa thẳng vào mắt gã bá tước, teo lại như hai mũi dùi bằng thép.
- Ngài quả là một miếng nước đá trong suốt. Tôi thấy rõ cho tới tận đáy lòng ngài.
- Như vậy ông biết viên kim cương đó ở đâu Holmes.
Gã vỗ tay rồi đưa một ngón tay mỉa mai.
- Vậy là ngài biết, như ngài vừa nhìn nhận.
- Tôi có nhìn nhận cái gì đâu?
- Nào, thưa bá tước Sylvius, ngài nên tỏ ra biết điều. Bằng không, ngài sẽ gặp nguy hiểm.
Gã bá tước nhìn lên trần nhà.
Holmes nhìn ông ta một cánh chăm chú như người đánh cờ đang chiếu bí đối thủ rồi mở ngăn kéo, lấy ra một cuốn sổ tay dày cộm.
- Ngài có biết tôi nắm ai trong cuốn sách này không?
- Không.
- Chính ngài.
- Tôi?
- Ðúng vậy! Trọn vẹn tiểu sử của ông trong này, không sót một điều gì?
- Cầu Chúa tha thứ! – gã bá tước la to - Sự nhẫn nại của tôi có giới hạn, thưa ông Holmes.
- Vâng, đầy đủ ở trong này, thưa bá tước. Các sự kiện có liên quan tới cái chết của bà lão Harold, người để lại cho ông lãnh địa Blymer mà sau đó ngài bán đi để nướng hết trong sòng bạc.
- Ông đang nằm mơ?
- Và nguyên cả cuộc đời của cô Minnie Warrender nữa!
- Ông chả làm được gì với những cái đó.
- Còn đây, câu chuyện hay hơn. Cuộc đánh cướp trên tàu hỏa sang trọng La Riviera vào ngày 13-2-1892. Và đây là cái chi phiếu giả mà ngài dùng rút tiền tại ngân hàng tín dụng Lyonnais cũng hồi năm 1892.
- Không, điểm này ông nói sai?
- Thì tôi đúng trong cái điểm khác. Nào, thưa bá tước, trong khi đánh bài, mà đối thủ nắm hết các lá lớn, thì ngài nên bỏ bài đi.
- Ðâu là cái mối liên quan giữa cuộc nói chuyện tầm phào này với viên kim cương?
- Từ từ, thưa bá tước. Tôi có một mớ tin tức có hại cho ngài đó, nhất là tôi có cả một hồ sơ hoàn chỉnh để tố cáo ngài và vệ sĩ của ngài trong vụ này.
- Thật sao?
- Tôi có lời khai của anh xà-ích chở ngài đi Whitehall, và của anh xà ích chở ngài từ đó về . Tôi có lời khai của người đại diện thương mại thấy ngài đứng gần tủ kiếng, tôi có luôn lời khai của ông Ikey Sanders, người không chịu cho ngài cầm cái đó. Ðủ chưa?
Các mạch máu trên trán của bá tước phồng to lên. Hai bàn tay sạm nắng, lông lá co thắt lại; ông ta muốn nói, nhưng chữ nghĩa đi đâu mất hết.
- Tôi đã đập bài xuống bàn rồi. Tôi còn thiếu một lá. Ðó là lá bài “viên kim cương”. Nó ở đâu?
- Ông sẽ không bao giờ biết!
- Ngài bá tước! Ngài hãy biết điều! Hãy nắm vững tình thế! Ngài sẽ ngồi nhà đá 25 năm. Sam Merton cũng thế! Ngài sẽ được gì trong 25 năm đó! Không được gì cả! Tuy nhiên, nếu ngài chịu hoàn trả thì tôi sẽ thỏa hiệp với tội ác. Chúng tôi không cần ngài lẫn Sam. Chúng tôi cần cục đá. Hãy trả nó lại cho chúng tôi thì ngài sẽ trở về nhà trong tự do và mãi mãi tự do, miễn là sống trong đàng hoàng.
- Nếu tôi từ chối thì sao?
- Thì sẽ rất tiếc!
Billy đã xuất hiện khi nghe chuông reo.
- Ngài bá tước, tôi đề nghị cho bạn thân của ngài tham dự vào cuộc nói chuyện này. Nói cho đúng, anh ta cũng đang bị lâm nguy. Nè Billy, ở trước cửa lớn có một anh chàng to con và xấu trai. Cháu mời anh ta lên đây.
- Nếu ông ta từ chối thì sao, thưa ông.
- Báo cho anh ta hay là bá tước cần gặp. Anh ta sẽ lên ngay.
- Ông sẽ làm gì?
Gã bá tước hỏi khi Billy đi khuất.
- Bạn thân của tôi là bác sĩ Watson mới ra về. Tôi có khoe với ông ấy rằng trong lưới của tôi có một con cá mập và một con cá chốt. Giờ đây, tôi giở lưới. Tôi tóm cả hai con.
Gã bá tước ngồi thẳng lưng lên và đưa tay ra sau lưng. Holmes chĩa về hướng về y một đồ vật nổi cộm trong túi áo ngủ của mình.
- Ông sẽ không chết trên giường, ông Holmes!
- Tôi cũng thường đoán như vậy. Tuy nhiên có cần phải chết trên giường không? Chắc ông sẽ chết đứng, chứ không chết nằm đâu. Nhưng hãy chấm dứt các sự đoán mò bệnh hoạn này, tại sao không dứt khoát chọn lấy sự vui vẻ của hiện tại?
Một tia chớp của mắt thú dữ sáng lóe trong cái nhìn của tên tội phạm. Holmes chuẩn bị ứng phó với mọi tình huống. Ðối thủ có vẻ kiêng dè.
- Mân mê cây súng lục chả có ích gì!
Holmes nói một cách bình thản.
- Ngài thừa hiểu rằng ngài không thể bắn, dù tôi có dành cho ngài đủ thời gian. Súng lục là những dụng cụ dơ và ồn, thưa bá tước. Nên sử dụng súng hơi. Ủa, hình như có bước đi nhẹ của người bạn đáng nể? Chào ông Merton. Ðứng ngoài đường nãy giờ mỏi chân chưa?
Tên võ sĩ quyền Anh là một thanh niên cốt cách nặng nề, vẻ mặt thì vừa ngu vừa lì. Hắn đứng một cách vụng về ngoài cửa, trơ mắt ếch nhìn quanh. Thái độ của Holmes làm hắn ngạc nhiên. Hắn nhận thấy mang máng rằng thái độ đó không thân thiện nhưng không biết phải chống trả như thế nào. Hắn quay qua ông chủ của hắn.
- Việc gì thế, bá tước? Thằng cha này muốn gì?
Giọng nói của hắn nghiêm trọng và khàn khàn. Gã bá tước vươn vai, Holmes trả lời thay.
- Ðể tóm tắt tình hình, ông Merton, tôi có thể nói rằng mọi chuyện đã tới hồi kết cuộc.
Tên võ sĩ tiếp tục hỏi chủ mình.
- Thằng cha này nói đùa hả? Phần tôi, tôi không cười được đâu.
- Tôi ái ngại lắm! - Holmes nói - Tôi có thể đoán chắc rằng càng khuya, ông sẽ càng bớt vui. Bây giờ, nghe tôi đây, thưa bá tước Sylvius. Tôi rất bận, tôi không có thì giờ để hoang phí. Tôi đi vào phòng tôi. Tôi yêu cầu ngài xem đây như nhà ngài trong lúc tôi vắng mặt. Ngài có thể giải thích rõ tình hình cho bạn ngài nghe. Tôi sẽ chơi một bản nhạc bằng vĩ cầm. Năm phút nữa, tôi sẽ quay lại để lấy câu trả lời dứt khoát của ngài. Ngài hãy lựa chọn: hoặc ngài hoặc viên đá?
Holmes ôm cây vĩ cầm, rời khỏi phòng. Một lát sau các nốt nhạc rên rỉ đầu tiên của điệu nhạc u buồn nhất trỗi lên từ phòng bên.
- Chuyện gì vậy? - Merton hỏi với vẻ âu lo - Hắn biết cục đá?
- Hắn biết quá nhiều điều liên quan tới cục đá. Tao sợ rằng hắn biết hết rồi.
- Chúa ơi!
Khuôn mặt của tên võ sĩ Anh tái xanh.
- Ikey Sanders đã mách lẻo.
- Nếu có tố cáo chúng ta, tôi thề sẽ phanh thây nó.
- Ðiều đó chả ích gì cho chúng ta. Ðiều cần bây giờ là quyết định phải làm gì?
- Chờ một chút!
Gã võ sĩ nói, rồi nhìn một cách ngờ vực về phía cửa.
- Con chim lạc bầy mà lại ra lệnh này nọ. Hắn có nghe lén không.
- Làm sao vừa nghe vừa chơi vĩ cầm?
- Ðúng vậy. Có thể có người đằng sau bức màn. Phòng này sao có nhiều màn quá!
Nhìn qua nhìn lại, Merton thấy cái hình nộm tại cửa sổ. Hắn điếng người, không nói nên lời.
- Tuyệt! Ðó là bức tượng. – gã bá tước giải thích!
- Giả hả? Giống y như thật! Còn mớ màn này, dùng làm gì, thưa bá tước.
- Ồ, bỏ qua mấy cái màn đó đi, đừng phí thời giờ. Chúng ta không còn nhiều đâu. Hắn có thể tống mình vào tù, vì viên đá đó.
- Nếu Ikey Sanders tố cáo, thì ta có thể bị nguy.
- Tuy nhiên, hắn ta sẽ làm ngơ nếu chúng ta nói cho hắn biết viên đá hiện ở đâu.
- Sao? Trả lại ư? Từ bỏ 100.000 bảng Anh?
- Phải chọn lựa thôi.
Merton gãi đầu.
- Hắn ta chỉ có một mình. Ta chỉ cần vào phòng, thanh toán hắn là xong mọi chuyện. Còn gì mà sợ?
Gã bá tước ra dấu bảo đừng.
- Hắn ta có súng trong người. Vả chăng, giết hắn rồi làm sao trốn thoát. Hơn nữa, có thể hắn đã nộp đầy đủ bằng cớ về chúng ta cho cảnh sát rồi.
Một tiếng động mơ hồ ở phía cửa sổ. Hai người im lặng, ngóng tai, nhưng ở cửa sổ, hình nộm vẫn ngồi ở ghế bành, Merton nói:
- Cái tiếng đó ở ngoài đường. Giờ đây, là phần việc của ông, ông chủ. Ông có đầu óc, chắc sẽ tìm ra kế để chúng ta thoát chân. Nếu viên đá là vô dụng thì ông nói thẳng với hắn đi.
- Tao đã bịp những tay cừ hơn hắn ta nhiều! – gã bá tước nói. - Viên đá đang ở trong túi tao. Tao không chịu cái rủi ro giao nộp nó. Ngay đêm nay, nó có thể ra khỏi nước Anh và bị cắt thành 4 miếng tại Amsterdam trước ngày chủ nhật này. Hắn ta không biết gì về Van Seddar đâu.
- Vậy mà tôi tưởng Van Seddar sẽ ra đi vào tuần tới.
- Ðúng ra là thế! Nhưng theo tình hình mới, nó phải đi trên chuyến tàu tới. Hoặc mày, hoặc tao phải mang viên đá ra tới phố Lime gặp Van Seddar.
- Nhưng viên đá giả chưa làm xong mà?
- Cứ cầm đá thật mà đi vậy. Ta đâu còn thì giờ.
Lại một lần nữa, với cái năng khiếu ngửi thấy sự nguy hiểm, gã bá tước dừng lại, nhìn về hướng cửa sổ. Ðúng rồi, tiếng động hồi nãy phát sinh từ ngoài đường.
- Về phần gã Holmes - ông ấy nói tiếp - Tao sẽ gạt hắn một cánh dễ dàng. Hắn sẽ không làm cho chúng ta bị bắt đâu, nếu hắn còn hy vọng lấy lại được viên đá. Chúng ta sẽ hứa với hắn rằng hắn sẽ nhận được cục đá. Chúng ta cho hắn trật đường rầy. Ðến khi hắn hay biết thì cục đá đã qua tới Hà Lan và chúng ta đã cao bay xa chạy.
- Tuyệt vời! - Merton la lớn.
- Mày hãy lên đường về bảo thằng Hà Lan nhanh lên. Phần tao, tao sẽ đi gặp con đỉa đó, sẽ cầm chân nó bằng một màn xưng tội giả. Tao sẽ bịa với nó rằng viên đá hiện đang ở Liverpool. Trời ơi, âm nhạc trời đánh, nhức óc quá! Trong lúc nó lục lạo tại Liverpool, thì viên đá đã qua tới Hà Lan, còn chúng ta thì đang bềnh bồng trên biển cả. Lại đây! Ðây là viên đá.
- Tôi tự hỏi tại sao ông dám để nó trong túi mình?
- Vậy để ở đâu bây giờ? Nếu chúng ta đánh cắp nó tại Whitehall thì thằng khác cũng có thể đánh cắp nó tại nhà tao.
- Cho tôi xem nó một chút.
Gã bá tước nhìn người đồng phạm với vẻ hơi coi thường, và tỏ ý chê cái bàn tay bẩn thỉu, nói:
- Mày cho rằng tao sẽ giữ nó luôn sao? Hãy tới gần cửa sổ để nhìn thấy báu vật cho rõ ràng hơn. Ðưa ra ánh sáng đó, Sam à!
- Xin cám ơn hai bạn! - Chỉ nhảy một cái, Holmes rời khỏi ghế bành của hình nộm và giựt lấy cái báu vật ngàn vàng, một tay cầm nó, một tay chĩa súng lục.
Hai tên trộm đi thụt lùi, mặt cắt không còn chút máu. Trước khi chúng hoàn hồn, Holmes đã nhấn chuông.
- Hỡi các bạn, hãy tuyệt đối tránh bạo lực. Các bạn hãy quý trọng các đồ gỗ của tôi. Các bạn không có lối thoát đâu. Cảnh sát đang ở dưới nhà.
Quá ngạc nhiên, gã bá tước không còn giận dữ mà chỉ sợ hãi:
- Ông Holmes, ông tài giỏi thật!
- Sự ngạc nhiên của ngài là hoàn toàn hợp lý. Ngài đâu thể ngờ rằng trong phòng tôi còn có cái cửa thứ 2 trổ ra sau cái màn này. Khi tôi dời hình nộm đi, tôi sợ bị lộ quá chừng, nhưng vận may đã mỉm cười với tôi, và tôi có cơ hội nghe cuộc đối thoại đặc biệt của hai vị.
- Chúng tôi nhìn nhận là mình đã thua, thưa ông Holmes. Tôi cho rằng ông là quỷ hiện hình. – Gã bá tước nói tỏ dấu bị khuất phục.
- Không! Tôi chỉ là anh em của quỷ! - Holmes đáp với một nụ cười lễ độ.
Trí óc đần độn của Sam Merton bắt đầu hiểu ra. Có những bước đi nặng nề ở cầu thang, phá vỡ sự yên lặng.
- Kỳ tài! Nhưng còn tiếng đàn? Tôi còn nghe tiếng đàn mà? - Merton nói.
- Anh nghe đúng trăm phần trăm! - Holmes đáp - Tiếng vĩ cầm tiếp tục thánh thót. Máy quay đĩa hát là một phát minh kỳ diệu!
Cảnh sát xuất hiện, các tội phạm bị còng, bị đưa xuống xe ngựa chờ dưới đường. Bác sĩ Watson khen Holmes về cành nguyệt quế mới thêm vào cái vương miện của anh ta. Nhưng cuộc nói chuyện giữa hai người bị gián đoạn vì Billy đang mang danh thiếp vào.
- Huân tước Cantlemere, thưa ông.
- Ðưa ông ấy lên, Billy. Ðây là nhà quý tộc sáng giá, đại diện cho những quyền thế lớn. Ðó là một nhân vật tuyệt hảo, rất trung thực, nhưng “hơi xưa” một chút. Ta sẽ nịnh cụ ấy một chút rồi đùa cụ ấy chơi. Ông không biết chuyện gì vừa xảy ra đâu.
Cánh cửa mở, một người gầy gò bước vào, khuôn mặt khắc khổ, được tô điểm bằng bộ râu mép to và đen không tương xứng với đôi vai cong và cái thân hình mảnh khảnh. Holmes tiến tới và bắt lấy một bàn tay mềm nhũn.
- Kính chào huân tước Cantlemere. Thời tiết còn lạnh nhưng trong một căn hộ thì nhiệt độ không đến nỗi nào. Ðề nghị ngài cởi bỏ áo choàng.
- Cám ơn! Tôi thấy không cần thiết.
Holmes đặt một bàn tay trên cánh tay áo choàng.
- Xin ngài cho phép! Bạn tôi, bác sĩ Watson, sẽ trách rằng những thay đổi thời tiết như vầy là quái gở?
- Tôi cảm thấy được, ông Holmes à! Tôi không ở lâu đâu! Tôi đến xem cuộc điều tra của ông đến đâu rồi.
- Thưa ngài, rất là khó khăn.
- Tôi đã biết trước rằng ông sẽ nói là rất khó khăn. - Một nụ cười chế nhạo hé lộ trong lời nói và thái độ của nhà quí tộc già. - Cuối cùng mỗi một chúng ta sẽ phát hiện ra các hạn chế của bản thân mình, thưa ông Holmes. Tuy nhiên, sự mở mắt của ông cũng chữa lành một sự tự mãn.
- Ðúng vậy, thưa ngài! Tôi rất ân hận.
- Tôi đã thấy trước rồi mà !
Holmes mỉm cười - nụ cười tinh nghịch:
- Tuy nhiên có một điểm đặc biệt mà tôi hy vọng được ngài giúp đỡ?
- Mãi tới bây giờ ông mới nói, tôi e là hơi trễ đó. Tôi đã ngỡ rằng phương pháp làm việc của ông sẽ giúp giải quyết tất cả. Nhưng thôi, dù sao tôi cũng sẵn sàng giúp ông.
- Thưa huân tước, chúng ta có thể lập hồ sơ về bọn trộm.
- Khi nào ta bắt được chúng kìa!
- Ðúng vậy, nhưng mà vấn đề là làm sao còng kẻ tàng trữ đồ gian?
- Có quá chủ quan và quá sớm không.
- Phải lập hồ sơ mới được. Theo ngài, phải làm sao để truy tố kẻ tàng trữ?
- Trường hợp họ bị bắt quả tang đang giữ viên đá!
- Ðiều đó, theo ngài, là đủ để bắt nhốt kẻ tàng trữ chứ gì?
- Ðương nhiên!
Holmes vốn ít cười lớn tiếng, nhưng lần này thì cười hô hố.
- Nếu thế thì, kính thưa ngài, tôi cảm thấy đau lòng phải nhờ cảnh sát bắt ngài.
Huân tước nổi trận lôi đình.
- Ông suồng sã quá lố đó, ông Holmes. Trong 50 năm nay, tôi chưa hề gặp một sự bỡn cợt nào tương tự. Tôi đang rối đầu vì quốc gia đại sự; tôi không thích và cũng không có thời giờ để đùa cợt một cách xuẩn ngốc như vậy. Tôi cần nhắc lại cho ông biết rằng không bao giờ tôi tin vào khả năng của ông. Luôn luôn tôi chủ trương phải giao việc này cho cảnh sát công. Trân trọng cáo từ ông!
Holmes nhanh nhẩu nhảy ra, chân lại ở cửa.
- Xin chờ một chút, thưa ngài! Sự ra đi với viên đá Mazarin là một tội ác tầy đình so với tội chỉ tàng trữ trong một thời gian ngắn.
- Ðã quá mức chịu đựng của tôi rồi đó. Hãy để cho tôi đi qua!
- Ngài hãy thọc tay vào túi áo choàng của ngài xem!
- Ông muốn nói gì?
- Ngài cứ làm như vậy đi!
Nhà quý tộc bỗng điếng người, mắt nhấp nháy hên hồi, cà lăm cà cặp. Viên đá to màu vàng đang nằm trong tay run rẩy của ông.
- Chúa ơi! Cái gì đây, ông Holmes?
- Quá đột ngột, quá chấn động, phải không, thưa huân tước. Xin ngài tha lỗi, tôi đã quá lố, khi bỏ cục đá vào túi ngài ngay từ đầu cuộc nói chuyện.
Ông huân tước già nhìn đăm đăm vào khuôn mặt rạng rỡ của Holmes.
- Thưa ông Holmes, tôi rất kinh ngạc. Quả thật là viên đá Mazarin! Chúng tôi mang ơn ông vô cùng. Ông đùa dai và thất kính, nhưng mà ông đã nhìn nhận. Phần tôi, tôi xin rút lại tất cả những gì đã nói về biệt tài siêu việt của ông. Nhưng...
- Sau này tôi sẽ nói các chi tiết, thưa huân tước. Tôi tin chắc rằng cái thú vị mà ngài tìm thấy trong việc tường thuật cái kết quả vui vẻ về viên đá trong hoàng gia sẽ bù đắp cái thất kính vừa rồi của tôi. Billy, hãy đưa ngài huân tước xuống và báo cho bà Hudson hay rằng tôi rất hạnh phúc nếu được bà cho thầy trò ta một bữa ăn tối thịnh soạn.
📎 Marazin
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-07-08 14:28:30Thái Nhi>
NGƯỜI BÁN SƠN VỀ HƯU
Lữ_khách hiệu đính


- Anh có thấy ông ấy không.
- Ông lão mới ra đấy à?
- Phải.
- Ông ta là thân chủ của anh?
- Scotland Yard giới thiệu qua. Cảnh sát cảm thấy không thể làm gì hơn.
- Chuyện của ông ta thế nào?
Holmes lấy trên bàn một tấm danh thiếp bẩn.
- Josiah Amberley. Cổ đông của công ty Brickfall & Amberley, sản xuất hàng mỹ nghệ. Chúng ta thấy tên công ty này nhan nhản trên các hộp sơn. Sau khi đã dành dụm được kha khá, ông ta rũ áo về vườn; lúc đó ông ta 61 tuổi, mua được ngôi nhà tại phố Lewisham. Tương lai có vẻ khá bảo đảm.
- Thế là tốt quá rồi!
Holmes đọc vài lời ghi nguệch ngoạc sau một phong thơ.
- Ông ta về hưu năm 1896! Ðến năm 1897 ông lấy bà vợ, nhỏ hơn ông 20 tuổi. Bà ấy khá xinh, nếu bức ảnh này đáng tin cậy. Có tiền, có vợ đẹp lại thêm hoàn cảnh thong thả, thật là một lộ trình thênh thang trước mặt. Nhưng chỉ không đầy hai năm sau, ông lão trở thành một kẻ khốn khổ, tàn tệ nhất trong đám khốn nạn dưới ánh sáng mặt trời này.
- Chuyện gì đã xảy ra?
- Một thằng bạn bất nghĩa và một con vợ bất trung. Amberley có một cái ghiền nhất trên đời: đánh cờ. Gần nhà có một bác sĩ trẻ tuổi, tên Ray Ernest cũng mê cờ. Thế rồi, qua lại thường ngày, mối thân tình nẩy nở giữa ông bác sĩ và bà Amberley. Tuần trước, đôi gian phu dâm phụ đã cao bay xa chạy. Ðau đớn là chúng ôm theo cái két tiền dành dụm của ông lão. Chúng ta có thể tìm ra người phụ nữ ấy và lấy lại số tiền hay không?
- Anh sẽ làm gì?
- Anh Watson, bây giờ, chính anh sẽ làm. Anh đã biết tôi đang bận vụ hai ông mục sư, đâu có thời giờ đến Lewisham. Anh sẽ đến đó với tư cách là người đại diện của tôi.
- Thôi được! Dẫu gì thì hiện tại tôi cũng rảnh rỗi
Thế là tôi đến Lewisham trong một chuyến đi nhẹ nhàng. Nhưng tôi không ngờ, không đầy một tuần, vụ án này gây một chấn động lớn trên toàn nước Anh.
Khi tôi trở lại phố Baker thì đã quá khuya. Holmes còn ngồi trên ghế bành, mắt lim dim nhìn khói thuốc nhởn nhơ bay lên trần nhà. Có lúc tôi tưởng Holmes đã ngủ trong lúc tôi báo cáo nếu tôi không ngừng để lấy hơi, hoặc lúc lời tường thuật thiếu một vài chi tiết chính xác: bấy giờ mắt Holmes mở to, sáng quắc nhìn tôi.
- Ông Josiah Amberley đặt tên cho căn nhà của ông ta là “Haven(1)”. Người ta có thể nói rằng ông lão là một quý tộc khánh kiệt về sống chung đụng với giai tầng hạ lưu. Giữa khu đặc biệt này với những đường phố đơn điệu, những nhà gạch khiêm nhường lại trồi lên một ốc đảo của lối kiến trúc cổ, đầy đủ tiện nghi hiện đại: đó là một ngôi nhà cổ kính, bao bọc bởi một bức tường rêu...
- Cắt bỏ khúc văn chương lãng mạn đó đi, Watson! - Holmes nghiêm giọng ngắt lời - Tôi cần biết đơn giản: tường gạch, cao...
- Vâng. Tôi không bao giờ biết đó là “Haven” nếu không dò hỏi một người lang thang ngoài đường. Tôi phải để ý đến thằng cha này vì người cao, da nâu, có râu ngạnh trê, thái độ nghênh ngang và có vẻ lính lắm. Hắn nhìn tôi một cách tò mò khi trả lời tôi. Vừa qua cổng, tôi đã thấy ông Amberley từ nhà bước ra. Hồi sáng, tôi chỉ mới thoáng thấy ông ta thôi, bây giờ gặp lại, mới nhận rõ ông ta là một con người bất bình thường.
- Ðương nhiên, tôi đã biết rồi! - Holmes nói - Nhưng cảm tưởng cá nhân của anh cũng cần cho tôi.
- Ông ta ưu tư cùng cực, nhưng không bệ rạc như ta tưởng: hai vai vẫn lực lưỡng như một người khổng lồ, tuy dáng đi có vẻ nghiêng ngả.
- Chiếc giày trái bị nhăn, chiếc giày phải còn bóng.
- Tôi không để ý đến điểm này.
- Chân giả mà! Nhưng thôi, tiếp tục đi Watson.
- Tôi lưu ý đặc biệt đến các lọn tóc bạc bẩn thỉu dưới chiếc mũ rơm và đặc biệt đến diện mạo của ông ta, những nét lõm sâu, sắc mặt dừ tợn.
- Hay lắm, Watson! Ông lão đã nói gì với anh?
- Ông ta kể lể nỗi lòng khi cùng tôi đi dạo ngoài vườn. Chưa bao giờ tôi gặp một khu vườn lôi thôi như thế. Cỏ mọc tứ tung, hoa dại tự do phát triển. Tôi tự hỏi một người đàn bà đàng hoàng làm sao chịu đựng nổi cảnh này. Ông lão hình như đã ý thức được điều này và muốn sửa chữa, ở cửa chính có một lọ sơn to tổ bố và ông đang cầm cọ sơn các nẹp gỗ. Ông ta đưa tôi vào phòng khách mới dọn dẹp và chúng tôi hàn huyên rất lâu.
“Tôi đâu dám hy vọng rằng.. một người như tôi thì làm sao được ông Sherlock Holmes đích thân giúp”, ông ta nói.
“Nhưng ông phải hiểu rằng, đối với Sherlock Holmes, tiền bạc không thành vấn đề”, tôi đáp.
“Tất nhiên, ông Sherlock Holmes chỉ làm việc vì tính nghệ thuật. Nhưng ông ta cũng sẽ tìm thấy trong vụ này một điều gì đó để nghiên cứu. Thưa bác sĩ Watson, đó là một sự bội bạc cùng cực! Tôi có bao giờ từ chối điều gì với cô ấy? Có người đàn bà nào được nuông chiều đến thế. Còn thằng bác sĩ trẻ tuổi. Nó đáng tuổi con tôi. Thế mà, họ đối xử với tôi như thế đấy! Bác sĩ ơi! Cuộc đời này quá tàn nhẫn”.
Ông ta lải nhải như vậy suốt một giờ. Theo tôi, ông ta không nghi ngờ gì về tình yêu vụng trộm của bà vợ.
Hôm đó, muốn lấy lòng vợ, ông lão mua hai vé thượng hạng tại rạp Haymarker. Vào phút chót, bà ta viện cớ nhức đầu, không đi được, ông phải đi một mình, ông ta có cho tôi xem cái vé chưa xé.
- Hay lắm! - Holmes đáp - Hãy nói tiếp đi! Hấp dẫn đấy! Anh có xem cái vé không? Có ghi số ghế không?
- Có chứ! - Tôi đáp với chút hãnh diện - Ðó là số 31, trùng với số thứ tự của tôi trong danh sách học sinh thời trung học nên rất dễ nhớ.
- Hoan hô, Watson. Như vậy số ghế kia là 30 hay 32.
- Ðúng thế! - Tôi đáp một cách mỉa mai - Vào dãy B.
- Ngoài ra, ông ta còn nói gì khác không?
- Ông ta có cho tôi xem cái căn phòng kiên cố của ông. Thực vậy, nó kiên cố như một ngân hàng, các cửa lớn, cửa sổ đều bằng sắt. Nhưng bà ta dùng chìa khóa giả cuỗm khoảng 7.000 bảng tiền mặt và chứng khoán.
- Chứng khoán? Họ lấy để làm gì?
- Ông ta hy vọng là chúng sẽ vô dụng vì ông đã báo cho cảnh sát, ông ta đi xem hát về khoảng 1 giờ đêm. Cửa lớn, cửa nhỏ đều mở toang hoang, bọn trộm thì biệt tăm.
Holmes suy ngẫm vài phút.
- Anh nói ông ta đang sơn! Sơn gì vậy?
- Sơn lại hành lang và đã sơn xong cửa lớn cùng các nẹp cửa của văn phòng kiên cố đó.
- Theo anh, thì việc làm này có kỳ cục không? Nhất là trong tình huống này!
- Ông ta giải thích “Phải làm một việc gì để giải khuây”. Quả là quái dị, nhưng tính tình lập dị là gốc của ông ta mà! Ông ta có xé một bức ảnh của vợ trước mặt tôi với vẻ dữ dằn và bảo “Tôi không bao giờ muốn gặp cái mặt đáng nguyền rủa này nữa”.
- Hết rồi à, Watson.
- Còn khi lên ga Blackheath, tôi thấy một người đàn ông hối hả leo lên toa gần toa tôi. Ðó là một người cao ráo, da nâu mà tôi đã hỏi thăm đường. Tôi lại gặp hắn tại London Bridge và sau đó hắn mất hút trong đám đông. Chắc là hắn theo dõi tôi.
- Có thể lắm! - Holmes đồng ý - Anh nói một người cao, da nâu, râu ngạnh trê, đeo kính râm, nghênh ngang, phải không?
- Holmes, anh quả là phù thủy. Tôi đâu có nêu chi tiết kính râm mà anh biết?
- Còn cái kẹp cà-vạt của hội Tam điểm nữa!
- Ủa?
- Thật ra tất cả những gì đập vào mắt anh cũng lôi cuốn sự chú ý của tôi. Nhưng anh đã bỏ qua những cái quan trọng.
- Tôi bỏ qua cái gì?
- Anh bạn đừng buồn. Không ai giỏi hơn anh đâu. Nhưng anh đã bỏ những chi tiết thiết yếu. Người láng giềng nghĩ sao về lão Amberley và bà vợ? Về bác sĩ Ernest? Anh có hỏi thăm cô nhân viên bưu điện, vợ ông chủ tiệm tạp hóa gần đó không?
- Đúng là tôi đã không làm điều đó.
- Tôi nắm được vài điều thiết yếu. Tin tức thu lượm xác nhận lý lịch của ông lão. Ông ấy nổi tiếng là một người hà tiện, một người chồng thô bạo, khó tính. Chắc chắn ông ta có một số tiền lớn trong phòng kiên cố. Cũng đúng với sự thực là ông bác sĩ có chơi cờ với Amberley và chơi thân với vợ ông ta. Toàn chuyện thế đó, trơn tru, nhưng... nhưng...
- Anh còn thấy gì nữa?
- Trí tôi đang làm việc... ừ... Thôi tạm ngừng, Watson à. Tối nay chúng ta hãy đi nghe nhạc.
Sáng hôm sau, tôi thức dậy sớm. Trên bàn đã có sẵn một tờ giấy viết nguệch ngoạc: “Watson thân mến! Có một vài điểm tôi cần bàn lại với ông lão Josiah Amberley. Tôi mong anh rảnh lúc 15 giờ vì tôi cần anh vào giờ đó! S.H.”
Tới giờ hẹn, tôi mới gặp lại Holmes. Anh ta về nhà với vẻ mặt nghiêm nghị, ưu tư.
- Ông Amberley có đến không?
- Không.
- Vậy mà tôi đợi ông ta.
Một chặp sau, ông già đó tới với vẻ mặt khắc khổ, mệt lả và bối rối.
- Tôi nhận được một điện tín, ông Holmes à. Tôi chẳng hiểu gì cả.
Ông ta đưa cho Holmes xem.
Holmes đọc lớn:
“Tới ngay, đừng chậm trễ. Tôi có thể cho tin về sự mất mát mới đây của ông.
Elman, nhà thờ chánh xứ”.
- Ðiện tín đánh đi từ Little Purlington; lúc 14 giờ 10. Little Purlington thuộc quận Essex, hình như gần Frinton. Amberley, ông phải đi ngay. Cuốn danh mục của tôi đâu rồi? Ðây, có rồi! J.C. Elman, cao học, ngụ tại Mossmoor, thuộc Little Purlington... này, Watson, xem giùm lịch trình xe lửa.
- Có một chuyến lúc 17 giờ khởi hành từ ga Liverpool.
- Tốt Watson nên đi theo ông. Có thể ông cần người giúp đỡ.
Nhưng ông già có vẻ không muốn lên đường, ông ta nói:
- Thật là phi lý, ông Holmes à. Người đó làm sao biết được tai họa của tôi? Ai lại tốn thì giờ và tiền bạc một cách vô lối như thế!
- Nếu không có tin mới lạ, ông ấy đánh điện cho ông làm gì? Ðiện hồi âm cho biết.
- Ông sẽ lên đường ngay?
- Chưa chắc tôi đi đâu - Holmes ra vẻ nghiêm khắc: - Ông sẽ làm cho cảnh sát và tôi có cảm tưởng không hay về ông, ông Amberley. Ðã có một lối mòn rõ ràng mà ông từ chối lần theo. Chúng tôi nghĩ rằng ông không muốn cuộc điều tra kết thúc chăng?
Amberley tỏ vẻ hoảng sợ:
- Ồ, đương nhiên phải đi. Thoạt nhìn thì khó tin một linh mục lại biết chuyện này nọ, nhưng nếu ông cho là...
- Tôi cho là như vậy! - Holmes trịnh trọng cắt ngang. Rồi anh kéo tôi qua một bên và căn dặn.
- Ðiều cần yếu là ông ta phải lên đường! - Holmes thì thầm với tôi - Nếu ông ta muốn trốn hoặc bỏ về thì anh chạy ngay tới bưu cục gần nhất gửi gọn cho tôi 2 chữ “vọt rồi”. Tôi sẽ thu xếp cho ông ta phải tìm tôi.
Little Purlington nằm trên một đường phụ nên không phải là chỗ dễ đến. Trời đẹp, ấm, xe lửa chạy rề rề. Bạn đồng hành của tôi không nói năng, chỉ thỉnh thoảng chua cay nhận xét chuyến đi ngu xuẩn. Chúng tôi lại phải thuê xe ngựa tới nhà linh mục chánh xứ, cách ga 2 dặm. Chúng tôi được một tu sĩ bệ vệ và trịnh trọng đón tiếp. Bức điện hồi âm của chúng tôi còn để trên bàn.
- Thưa quý ông! - ông ta hỏi - Chúng tôi có thể làm gì để giúp quý ông?
Tôi giải thích :
- Chúng tôi đến theo lời mời của bức điện của linh mục!
- Bức điện của tôi? Tôi đâu có đánh điện cho quý ông?
- Tôi muốn nói bức điện linh mục gửi cho ông Josiah Amberley về việc người vợ và tiền của ông ta.
- Ðây là một trò đùa khiếm nhã. Tôi không bao giờ nghe đến tên anh chàng đó và tôi không hề đánh điện tín cho ai cả?!
Chúng tôi nhìn nhau một cách ngạc nhiên:
- Có thể có sự lầm lẫn! - Tôi nói - Có thể nào ở đây có hai nhà thờ chánh xứ không? Thưa linh mục, đây là bức điện mà chúng tôi nhận được, người ký tên là Elma.
- Chỉ có một nhà chánh xứ và một linh mục chánh xứ duy nhất. Bức điện này là một sự giả mạo đáng tởm, tôi sẽ kiện ra cảnh sát.
Ông lão Amberley và tôi trở lại con đường chính của làng, có lẽ đó là con đường cổ nhất của Anh quốc. Chúng tôi tới bưu cục nhưng đã đóng cửa. Nhờ điện thoại trong quán nhỏ trước ga, tôi liên lạc được với Holmes.
- Kỳ quá - Tiếng nói từ xa xôi dội vào tai tôi - Cực kỳ lý thú! Watson thân mến, tối nay không có xe lửa, vô tình tôi đẩy anh vào một quán trọ đồng quê. Nhưng anh có thiên nhiên và Amberley thì cũng được rồi.
Tôi nghe tiếng Holmes cười và gác máy. Qua chuyến đi này, tôi thấy rằng lời đồn ông lão này hà tiện quả không ngoa. Ông ta cằn nhằn về các khoản chi phí cho chuyến đi, lại cò kè về chi phí quán trọ. Khi về tới London, tôi nói với ông ta:
- Chúng ta nên ghé qua phố Baker, Holmes có cần hỏi ta điều gì thêm không?
- Nếu đó là những chỉ thị cuối cùng thì tôi thấy cũng chả ích lợi gì! - Amberley vừa nói vừa cười chế nhạo.
Tuy vậy, ông ta vẫn đi theo tôi. Tôi đã đánh điện báo cho Holmes giờ về, nhưng tôi lại nhận được hồi âm: “Anh hãy đợi tôi tại Lewisham”.
Tôi như bị rơi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác. Tại phòng khách của nhà ông Amberley lại có thêm một người đàn ông với khuôn mặt nghiêm trọng, lạnh nhạt ngồi cạnh. Ông ta mang kính râm và cà-vạt mang kẹp của hội Tam điểm.
- Tôi xin giới thiệu ông Barker. - Holmes nói - ông Josiah Amberley à, ông ta cũng quan tâm đến công việc của ông. Chúng tôi tuy hoạt động riêng rẽ nhưng cùng muốn hỏi ông một điều.
Ông lão ngồi xuống một cách nặng nề, cảm thấy một nguy hiểm gần kề.
- Ðiều gì vậy, ông Holmes?
- Chỉ điều này thôi, ông đã vứt mấy cái xác chết đi đâu?
Lão ta nhảy dựng và la lên. Hai bàn tay xương xẩu huơ huơ trong không trung, miệng há hốc. Trong một thoáng, chúng tôi thấy rõ chân tướng của Josiah Amberley. Khi ngồi lại xuống ghế, ông ta lấy tay che miệng như muốn chặn đứng một cơn ho. Holmes đột nhiên nhảy lên như con cọp, nắm cổ họng ông ta, đè cổ, chân cho đến lúc mặt ông ta chạm sàn nhà. Một viên thuốc màu trắng từ miệng ông ta lọt ra.
- Không có chuyện ấy được, ông Josiah Amberley à! Sự việc phải theo tiến trình tự nhiên và đều đặn. Sao, Barker?
- Một xe ngựa đang chờ ngoài cổng! – Barker trả lời.
- Chúng ta cách bót cảnh sát chỉ vài trăm yard thôi. Tôi đi theo ông ra đó. Còn Watson, anh ở lại đây, nửa giờ sau tôi trở lại.
Một lát sau Holmes quay lại với một thanh tra trẻ.
- Tôi để cho Barker lo làm thủ tục. Watson, anh chưa biết ông Barker. Ðó là một đồng nghiệp tài danh của tôi ở duyên hải Surrey. Khi anh nói về một người da nâu, cao ráo, tôi đã biết ngay là ai rồi. Ông ấy có nhiều thành tích đẹp, phải không, ông thanh tra?
- Ông ấy đã góp phần vào nhiều vụ. - Viên thanh tra trả lời dè dặt.
- Ðúng, các phương pháp của ông ta không chính quy. Cách làm việc của tôi cũng tương tự. Nhưng, đôi khi bọn này cũng hữu dụng đấy chứ? Ông thì muốn phải báo cho lão biết theo nghi thức, nhưng với thằng ăn cướp đó thì làm gì được một lời đầu thú?
- Có lẽ là không. Nhưng sau cùng cũng đạt mục đích. Ông vui lòng cảm thông với chúng tôi.
- Tôi sẽ không dành ông đâu, ông MacKinnon à. Tôi đoán chắc với ông rằng tôi xin rút lui, ông Barker cũng chỉ làm theo chỉ thị của tôi thôi.
Viên thanh tra cảnh sát có vẻ nhẹ nhõm.
- Ông quả là hào phóng, ông Holmes. Có lẽ lời khen hay chê đối với ông không quan trọng. Nhưng đối với chúng tôi thì khác hẳn, khi mà báo chí bắt đầu tung tin ra.
- Ðồng ý. Báo chí cũng sẽ phỏng vấn, ta nên chuẩn bị các lời đáp. Ông sẽ nói gì khi họ hỏi cái mấu chốt nào khiến ông ngờ vực và cuối cùng ông đã đề ra được một giả thiết.
Viên thanh tra lúng túng:
- Hình như chúng ta chưa nắm chi tiết cụ thể, ông nói rằng trước mặt ba nhân chứng, tội phạm gần như đã thú nhận, qua việc mưu toan tự sát sau khi đã giết đôi gian phu dâm phụ.
- Ông có những sự kiện nào khác? Ông có dự trù một sự lục soát chưa?
- Ba cảnh sát viên đang trên đường đi tới hiện trường.
- Như vậy thì không bao lâu nữa, ông sẽ có mọi chứng cớ. Các xác chết có thể được chôn quanh quẩn đâu đó. Hãy lục dưới hầm rượu, ngoài vườn. Nhà này cổ lỗ quá, có thể được xây trước khi có nước máy. Thành ra xem đâu đó có cái giếng bỏ hoang. Hãy thử thời vận về các hướng đó!
- Nhưng làm sao ông đoán được cái cách mà tội ác đã được diễn ra?
- Trước hết, xin nói với ông về lão già Amberley này. Một kẻ quái đản đến nỗi tôi cho rằng nên cho lão vào nhà thương điên hơn là đưa đi chém. Lão là một tên hà tiện kinh khủng. Cái nhỏ nhen của lão đã biến vợ lão thành miếng mồi ngon cho bất kỳ một tên sở khanh nào; và viên thầy thuốc mê cờ đến đúng lúc. Amberley đánh cờ có hạng, nên lão có một trí thông minh đủ sức nghĩ ra các mưu mô khủng khiếp. Giống như các lão già hà tiện khác, lão ghen dữ dội. Khi lão già ngờ có một mối tình bất chính, lão quyết định phục thù và lập một kế hoạch cực kỳ quỷ quyệt. Hãy đi theo tôi !
Holmes đưa chúng tôi vào hành lang. Anh đi quen thuộc như người trong nhà rồi ngừng trước chiếc cửa mở toang của căn phòng kiên cố.
- Trời ơi! Mùi sơn khó chịu quá! - Viên thanh tra nói lớn.
- Ông vừa gặp cái nút đầu tiên! - Holmes nói - Ông có thể cám ơn bác sĩ Watson là người đã để ý đến cái mùi này. Tại sao trong lúc gia đình rối ren mà hắn lại cho tỏa cái mùi nồng nặc này? Dĩ nhiên là để khỏa lấp một mùi khác, mùi tội lỗi, một mùi gợi sự ngờ vực. Rồi tôi suy nghĩ về căn phòng này. Một căn phòng không ai khác vào được. Tôi chỉ giải đáp sau khi thân hành khám nghiệm căn phòng. Sở dĩ tôi cho rằng vụ này rất nghiêm trọng vì tôi đã hỏi thăm rạp hát Haymarket và biết chắc chắn số 30 và 32 của dãy B thượng hạng không có ai ngồi đêm đó cả.
Như vậy Amberley đâu có đi xem hát. Lão đã ngu dại lộ cho anh bạn Watson biết số ghế của vé còn lại. Vấn đề là làm sao chui vào nhà của lão. Tôi đã sai một nhân viên khác đi thám hiểm. Tôi đã nhờ bác sĩ Watson dẫn ông ta đi xa qua đêm. Tên của ông linh mục chánh xứ thì chỉ lục trong danh mục nhà thờ. Rõ ràng, minh bạch chưa nào?
- Tuyệt vời! - Viên thanh tra nói.
- Không ngại gì nữa, tôi phá cửa mà vào nhà. Tôi khoái cái màn đào ngạch lắm, nhưng thỉnh thoảng mới làm một lần. Hãy quan sát những gì tôi phát hiện được.
Ông thấy cái ống dẫn khí đốt chạy dọc theo nẹp gỗ, ống này chạy vào phòng, đến cái hoa hồng giữa trần nhà. Bất cứ lúc nào, mở khóa thì phòng bị ngập khí đốt vì đầu ống trên trần không đậy nắp. Cửa lớn, cửa nhỏ mà đóng kín lại thì chỉ cần hai phút là đủ giết bất cứ ai ở trong phòng này. Do quỷ kế nào mà đôi tình nhân bị dụ vào đó thì tôi không rõ.
Viên thanh tra lò dò khám nghiệm ống ga một cách thích thú.
- Một nhân viên của chúng tôi có ghi nhận mùi ga. - ông ta nói. - Nhưng lúc ấy cửa đã mở toang và việc quét sơn đã bắt đầu rồi. Theo lão già thì công việc bắt đầu từ hôm trước. Còn gì nữa, ông Holmes?
- Có một sự kiện bất ngờ. Rạng sáng, tôi chui cửa sổ nhà bếp ra thì bị một người chặn lại hỏi: “Này, anh chàng kia, anh tới đây làm gì?”. Khi quay lại, tôi nhận ra đôi kính râm của Barker, người bạn đồng nghiệp của tôi. Chúng tôi cười sặc sụa. Tôi nghĩ rằng ông ta được gia đình bác sĩ Ray Ernest thuê và trong lúc dò la đã đi đến kết luận y hệt. Ông ta canh ngôi nhà này đã mấy ngày, lầm tưởng bác sĩ Watson là tòng phạm. Nghi ngờ, nhưng không có cớ để hỏi han; còn gặp tôi nhảy cửa sổ thì thộp ngay. Tôi thông báo các phát hiện của tôi và hai chúng tôi hợp tác để sớm hoàn tất nội vụ.
- Tại sao không hợp tác với chúng tôi?
- Tại vì tôi muốn làm cái thí nghiệm nhỏ nhoi. Quý vị đâu chịu đi “ngoài lề” như tôi!
Viên thanh tra cười mỉm.
- Chúng tôi đâu dám từ chối ông. Chúng tôi xin tất cả các kết quả. Và xin cám ơn ông nhiều.
- Ðương nhiên! Thói quen của tôi mà!
- Thưa ông Holmes, nội vụ cho ông trình bày là sáng tỏ rồi, chỉ còn phải tìm cho ra các xác chết.
- Tôi sẽ chỉ cho ông một chút bằng chứng - Holmes nói tiếp - Tôi chắc chắn rằng cả lão Amberley cũng chưa thấy. Ông thanh tra à, ông sẽ thu lượm được kết quả nếu ông “suy bụng ta, ra bụng người”, ông sẽ làm gì nếu ông lọt vào tình huống tương tự như cặp nạn nhân kia? Ông chỉ còn hai phút để sống và để phục hận cái người đang chế nhạo ông ở ngoài cửa? Ông sẽ làm gì?
- Viết một mẩu tin nhỏ.
- Ðúng. Ông muốn rằng công chúng hay biết ông đã bị chết, ông hãy để ý những gì đã được viết trên tường. Nhìn kìa! “Chúng tôi đã...(2)”. Chỉ bấy nhiêu thôi!
- Ông nghĩ gì về lời ghi này.
- Anh chàng đã nằm sóng soài, cách sàn nhà cả bộ, thoi thóp khi viết. Chưa hoàn tất thì đã tắt hơi!
- Anh ta muốn viết: “Chúng tôi đã bị ám sát”(3).
- Tôi cũng hiểu như ông. Nếu mình tìm ra một cây viết chì đỏ ở các xác chết thì chúng ta càng rõ hơn.
- Ồ, chúng tôi sẽ lục lạo cho tới kỳ cùng. Còn các chứng khoán? Ðâu có bị mất cắp. Nhưng ông ta có chứng khoán đấy! Chúng tôi kiểm tra rồi.
- Tôi đoán chắn với ông, lão già giấu chúng nơi an toàn rồi. Khi mọi sự rơi vào quên lãng, lão sẽ đột ngột tìm ra và nói láo rằng đôi gian phu dâm phụ vì ăn năn đã gửi trả.
- Ông có lời giải đáp cho mọi thắc mắc. - Viên thanh tra nói - Ðương nhiên lão sẽ khai báo với chúng tôi. Nhưng, tôi thắc mắc tại sao lão lại nhờ đến ông?
- Vì tự kiêu vụn vặt! - Holmes đáp - Lão tự cho là mình khôn ngoan, không ai vượt được trí lão. Lão có thể khoác lác với hàng xóm rằng, lão đã ra tới cảnh sát thám tử tư đủ cả.
Viên thanh tra cười to tiếng.
- Quả thật ông là một kỳ tài!
Hai hôm sau, Holmes đưa cho tôi tờ báo North Surrey Observer (4). Những tít nóng bỏng, khởi đầu là “Sự kinh hoàng tại biệt thự “Haven” và kết thúc bằng “Một thành công rực rỡ của cảnh sát”. Một cột dài chữ lí nhí kể lại các sự kiện theo thứ tự thời gian. Và đoạn chót: “Sự bén nhạy tuyệt vời giúp thanh tra phân biệt mùi nước sơn với một mùi khác, mùi khí thắp chẳng hạn. Sự bạo dạn suy đoán rằng cái phòng kiên cố cũng có thể là phòng tử thần. Cuộc điều tra sau đó đưa tới việc tìm ra xác chết trong một cái giếng bỏ hoang được che lấp dưới một cái nhà kho. Tất cả các điểm đó giúp minh họa trí thông minh tuyệt vời của các thám tử chuyên nghiệp”.
- Tốt, Tốt, MacKinnon là người bạn tốt, - Holmes nói với nụ cười khoan dung – Anh có thể sắp xếp vụ này vào nó trong những hồ sơ lưu trữ được rồi đấy, Watson à.

---
(1) Bến ấm
(2) Nguyên văn: “We we…”
(3) Nguyên văn: “We were murdered”
(4) Người quan sát vùng Surrey
📎 Nguoi ban son
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-07-08 14:31:25Thái Nhi>
NGƯỜI ÐI BỐN CHÂN
Lữ_khách hiệu đính


Một chiều chủ nhật đầu tháng 9-1903. Holmes gởi cho tôi một bức điện ngắn ngủi: “Tới ngay, dầu không rảnh cũng phải đến”.
Sự hiện diện của tôi đã trở thành một trong các thói quen của Holmes, giống như cây vĩ cầm, thuốc lá nặng, cái tẩu cũ kỹ, các sách tham khảo... Khi mà công việc quá nhiều và cần một người tin cậy, thì tôi là người đầu tiên anh ấy nghĩ đến. Nhưng không chỉ vậy, tôi còn như một viên đá mài cho tâm trí anh. Anh thích sự có mặt của tôi, vì tôi cũng bắt chước suy luận như anh, những sai lầm của tôi, hoặc những ý kiến của tôi đôi khi làm lóe lên những gợi ý cho anh ấy.
Khi tới ngôi nhà ở phố Baker, tôi thấy anh ngồi co ro trong ghế bành: hai đầu gối co lại, miệng ngậm cái tẩu, trán đầy rẫy vết nhăn. Chắc chắn anh đang rối trí về một bài toán hóc búa. Anh lấy tay đẩy ghế bành cho tôi.
- Watson này, tôi đang nghĩ tới việc viết một chuyên khảo về công dụng của chó trong nghề thám tử.
- Ðề tài này đã được nghiên cứu nhiều rồi.
- Có lẽ anh còn nhớ trong một vụ án mà muốn làm tăng tính giật gân, anh đã đặt tên là “Những cây dẻ đỏ”. Trong vụ ấy, ta chỉ cần quan sát kỹ tính khí của một đứa bé, mà suy đoán ra các thói quen gây tội ác của một người cha.
- Vâng, tôi còn nhớ khá rõ.
- Cái lý luận của tôi về chó cũng tương tự. Con chó là phản ánh của đời sống gia đình. Có bao giờ anh gặp một con chó đú đởn trong một gia đình sầu thảm, hoặc một con chó u sầu trong một gia đình hạnh phúc không. Người càu nhàu có chó càu nhàu, người nguy hiểm có chó nguy hiểm. Còn một con chó ngông thì có thể phản ánh một gia đình kỳ khôi.
- Hơi võ đoán đó! - Tôi lắc đầu nói nhỏ.
Holmes nhét thuốc vào cái tẩu, không thèm để ý tới lời bình phẩm của tôi.
- Sự áp dụng những điều tôi vừa nói vào thực tế sẽ ăn khớp với cái vụ mà tôi đang điều tra. Tôi đang tìm một câu giải đáp “Tại sao Roy, con chó loại sói trung thành của giáo sư Presbury lại cắn ông ấy?”.
Tôi thả mình xuống ghế trở lại, thất vọng.
- Có phải vì cần trả lời một câu hỏi thô thiển này mà tôi bị kéo đến đây?
Holmes liếc tôi.
- Anh bao giờ cũng vẫn thế! - Holmes nói to - Ðến bao giờ anh hiểu được rằng một hậu quả nghiêm trọng nhất lại có thể bắt nguồn từ những chuyện lặt vặt. Không lạ sao, khi ta thoạt nghe một giáo sư cao niên, có danh vọng, có một con chó loại sói làm bạn thân nhất, rồi ông ta lại bị chính con chó ấy tấn công hai lần? Nào, Watson anh nghĩ sao!
- Con này điên?
- Giả sử là thế, nhưng phải coi lại, vì nó không tấn công ai khác cả, nó chỉ tấn công ông chủ của nó vào những dịp rất đặc biệt. Lạ lắm, Watson ạ!... Nhưng chàng rể tương lai Bennett của ông ta lại đến trước hẹn. Tiếng chuông của anh ta đó. Tôi tưởng có thể nói chuyện với anh nhiều hơn trước khi tiếp anh ta.
Chúng tôi nghe tiếng bước chân đi nhanh nhẹn đến cầu thang, rồi những tiếng gõ cửa khô khan. Lát sau, một người bước vào. Ðó là một người trạc 30 tuổi, cao ráo, gọn ghẽ, đẹp trai, nhưng có cái dáng của anh sinh viên rụt rè hơn là một người lịch lãm, Bennett bắt tay Holmes rồi nhìn tôi ngạc nhiên.
- Việc này rất tế nhị, ông Holmes, tôi phải dè dặt khi nói chuyện đó trước một người thứ ba.
- Ông khỏi lo! Bác sĩ Watson đây là hiện thân của sự dè dặt, và tôi cũng thú thật với ông rằng trong vụ này tôi thực sự cần một phụ tá.
- Tùy ông, ông Holmes, xin ông thông cảm cho tôi.
- Anh Watson, đây là ông Trevor Bennett, trợ lý kỹ thuật của vị giáo sư, sống cùng nhà đồng thời là vị hôn phu của con gái duy nhất của giáo sư Presbury. Do đó, ta biết rằng giáo sư có thể tin vào lòng trung nghĩa và tận tụy của ông.
- Thưa ông Holmes, bác sĩ Watson biết tình hình chưa?
- Tôi chưa có thời giờ để trình bày.
- Như vậy tôi phải quay lại các dữ kiện cũ trước khi qua cái mới.
- Tôi làm chuyện đó cho - Holmes nói chen vào - Giáo sư Presbury nổi tiếng khắp châu Âu, ông dành hết thời giờ cho việc nghiên cứu, ông không có bị tai tiếng gì. Ông góa vợ và có một cô gái tên là Edith. Ông có tính thực tế, năng nổ. Cho tới cách nay vài tháng, tình hình là như thế.
Sau đó thì cuộc đời của ông bước qua một bước ngoặt. Lúc ông 61 tuổi, ông hứa hôn với con gái của giáo sư Morphy, đồng nghiệp của ông tại bộ môn cơ thể học so sánh. Cô thiếu nữ Alice Morphy vẹn toàn cả hai mặt thể chất vả trí tuệ nên vị giáo sư của chúng ta có đủ lý do để chết mê chết mệt. Nhưng, gia đình không tán đồng.
- Chúng tôi thấy rằng sự đam mê này hơi lố bịch. - Thân chủ của chúng tôi xen vào, nói rõ hơn.
- Rất đúng! Lố bịch và dị hợm. Tuy nhiên giáo sư Presbury giàu lắm, nên bố cô bé không phản đối đâu. Cô bé đương nhiên nhiều tham vọng.
- Cô ấy có vẻ thản nhiên về tuổi tác, bất chấp cái lập dị của vị giáo sư. Vào thời gian này, một chuyện nhỏ đột ngột xảy ra, làm đảo lộn nếp sống đều đặn của vị giáo sư: ông làm những điều trước đây ông chưa hề làm. Ông ra đi mà không nói đi đâu, vắng nhà 15 ngày, rồi quay về trong trạng thái mệt nhoài. Nhưng ngẫu nhiên thân chủ của chúng ta là ông Bennett đây, nhận được một bức thư của người bạn thời sinh viên tại Prague, Tiệp Khắc. Lá thư báo cho biết có thấy giáo sư Presbury ở bên đó, nhưng không thể nói chuyện với nhau được. Nhờ vậy gia đình mới biết giáo sư đi Prague. Sau chuyến đi này, giáo sư thay đổi tính tình, ông trở nên thâm trầm, dè dặt. Gia đình có cảm giác rằng ông không còn là người cũ nữa.
Ông đang sống dưới một bóng đen che lấp các đức tính cao đẹp của ông. Trí thông minh của ông vẫn nguyên vẹn, các bài giảng cơ thể học so sánh vẫn tuyệt hảo như cũ. Tuy nhiên có một cái gì rất mới, làm cho gia đình buồn lo và kinh ngạc. Con gái ông rất thân thiết với ông, đã nhiều lần cố gắng khôi phục cái thâm tình cố cựu và đâm thủng cái mặt nạ bí mật này. Cả ông Bennett đây cũng đã hết sức cố gắng, nhưng đành chịu thua. Và giờ đây, tôi xin nhường lời cho ông Bennett để nói về mấy lá thư.
- Thưa bác sĩ Watson, giáo sư không hề giấu tôi điều gì. Con trai hoặc em trai chưa chắc được ông tín nhiệm bằng. Với tư cách là thư ký riêng, tôi được phép bóc ra và phân loại các thư tín và giấy tờ của ông. Vài ngày sau khi từ Prague về, ông bảo tôi rằng một số thư có thể từ London về, có đánh dấu chéo dưới con tem thì phải để riêng cho ông. Thực tế, có nhiều thư có đánh chéo, tuồng chữ của người gởi có vẻ là một người ít học. Tôi không biết ông ấy có trả lời những lá thư này hay không, vì các lá thư hồi âm không có qua tay tôi.
- Còn về cái hộp? - Holmes nói.
- Khi từ Prague về, giáo sư có mang một cái hộp bằng gỗ. Ðó là một điêu khắc quái đản theo kiểu Ðức. Ông để nó trong cái tủ dụng cụ. Một hôm trong lúc tìm cái mỏ vịt, tôi nâng cái hộp lên. Lạ lùng thay ông ấy bỗng nổi trận lôi đình và trách móc sự tò mò của tôi bằng các lời lẽ không được lịch sự. Tình huống này xảy ra lần đầu tiên với tôi, làm tôi đau khổ. Tôi cố giải thích rằng tôi chỉ đụng cái hộp hoàn toàn vì vô tình. Tuy vậy suốt đêm đó, ông nhìn tôi một cách thiếu thiện cảm và tôi thấy rõ ông nghi ngờ tôi một chuyện gì đó.
Ông Bennett rút từ trong túi ra một tập nhật ký và nói thêm:
- Chuyện này xảy ra vào ngày 2 tháng 7.
- Ông đúng là một nhân chứng tuyệt hảo. Có lẽ tôi cần đến các ngày tháng mà ông ghi - Holmes nói lớn.
- Kể từ khi tôi để ý đến những cái bất bình thường trong cánh xử thế của ông thầy, tôi tự nhủ rằng tôi có nhiệm vụ nghiên cứu trường hợp của ông. Do đó tôi có thể xác định rằng cũng vào chính cái ngày 2-7 này mà con chó Roy tấn công ông khi ông rời văn phòng để ra hành lang.
Màn này được tái diễn vào những ngày 11-7 và 20-7. Sau các cuộc tấn công này, chúng tôi phải nhốt Roy vào chuồng ngựa. Ðó là một con thú mà chúng tôi thương, vì nó rất yêu mến chủ... Tuy nhiên tôi ngại việc lạm dụng sự nhẫn nại của hai ông.
Ông Bennett nói mấy tiếng sau với giọng trách móc, vì rõ ràng Holmes không chú ý nghe nữa. Mặt anh se lại, mắt nhìn lên trần nhà. Một lúc sau anh như tỉnh lại...
- Dị kỳ, rất dị kỳ - Anh thì thầm - Tôi chưa biết các chi tiết này, ông Bennett. Theo tôi thì chúng ta đã đến cái mấu chốt của nội vụ.
Khuôn mặt khả ái của thân chủ tôi sa sầm lại.
- Ðiều tôi sắp kể tiếp theo đây xảy ra vào đêm hôm kia, lúc 2 giờ sáng. Tôi nằm, nhưng không ngủ. Tôi nghe một tiếng động mạnh, dường như phát sinh từ hành lang...
- Vào ngày... ? - Holmes hỏi.
Khách của chúng tôi không che giấu được sự bực dọc trước sự ngắt ngang này.
- Tôi đã nói là đêm hôm kia, tức là nhằm ngày 4-9.
Holmes cúi đầu cười.
- Ông hãy tiếp tục.
- Tôi thỉnh cầu ông thầy ngủ ở cuối hành lang. Do đó nếu muốn đi xuống cầu thang, thì phải đi ngang qua cửa phòng tôi. Thật là hãi hùng, thưa ông Holmes! Hành lang tối đen, ngay giữa có một cửa sổ để lọt một ít ánh sáng. Nhờ đó, tôi thấy ai đang đi ở ngoài đó. Chính là ông, ông đang bò, thưa ông Holmes, đang bò! Ðúng ra là đi bằng tay và chân, cái đầu đong đưa giữa hai tay. Giáo sư ta di chuyển khá dễ dàng. Tôi điếng người, đứng trơ như phỗng đá khi ông tiến tới cửa phòng. Tôi chận lại, hỏi xem để giúp đỡ. Ông đứng dậy ngay tức khắc, chửi vào mặt tôi rồi hối hả chạy xuống cầu thang. Tôi ngồi rình hơn một giờ, đến gần sáng mới về phòng.
- Nào, Watson, anh nghĩ sao về hiện tượng này? - Holmes hỏi tôi với dáng điệu của một nhà sinh lý học.
- Có lẽ là đau lưng. Theo kinh nghiệm của tôi thì khi đau lưng nặng có thể buộc mình phải bò khi di chuyển nhưng không làm đổi tính khí của con bệnh.
- Giỏi đó, Watson. Anh luôn đưa chúng tôi trở về với thực tế. Nhưng chúng ta khó mà chấp nhận giả thiết đau lưng vì ông ta có thể đứng thẳng tức khắc mà.
- Ông vẫn khỏe như trước giờ. - Bennett nói. - Mấy lúc này lại khỏe hơn trước nhiều lắm. Nhưng mà sự việc lại cụ thể ràng ràng đó! Cảnh sát chả giúp đỡ chúng tôi được gì. Chúng tôi vô cùng lo lắng, có cảm giác đang đi tới một tai họa. Edith cũng đồng ý với chúng tôi rằng không thể khoanh tay ngồi chờ.
- Quả là một việc quái đản. Anh nghĩ gì đó Watson?
- Về phương diện y khoa, tôi mong đây là bệnh tâm thần. Sự vận hành của não bộ bị xáo trộn bởi chuyện tình ái ông ta đi du lịch nước ngoài để chữa bệnh đó. Thư từ và cái hộp có thể liên quan tới một cuộc thương lượng riêng tư, thí dụ một sự vay mượn hay những cổ phiếu mà ông cất kỹ trong cái hộp.
- Còn con chó loại sói có thể không đồng ý với cuộc thương lượng nọ. Không đâu, Watson à! Có chuyện khác trong nhất thời , tôi chỉ có thể gợi ý rằng...
Không ai có thể biết Sherlock Holmes sẽ gợi ý cái gì, bởi vì lúc đó cửa mở và một thiếu nữ bước vào. Ông Bennett nhảy bổ tới, la to, giang hai tay về phía cô ta:
- Edith! Không gì hệ trọng chứ ?
- Em cảm thấy cần ở bên anh, ồ, em sợ lắm, ở một mình đằng đó không được đâu.
- Ông Holmes, xin giới thiệu vị hôn thê của tôi.
- Hồi nãy giờ chúng ta mò mẫm đi tới kết luận đó, phải không Watson? - Holmes vừa nói vừa cười. - Thưa cô Presbury, tôi đoán rằng câu chuyện vừa xảy ra là một bước ngoặt mới mà cô muốn thông báo với chúng tôi?
Người khách nữ của chúng tôi tóc hoe, đẹp, thuộc mẫu người Anh quốc, mỉm cười với Holmes, rồi đến ngồi bên cạnh Bennett.
- Khi Bennett ra khỏi nhà, tôi biết ngay là anh ta tới đây vì có nói sẽ nhờ đến ông. Thưa ông Holmes, ông có thể giúp đỡ người cha đáng thương của tôi không?
- Tôi hy vọng, thưa cô. Tuy nhiên, hiện giờ tôi vẫn còn lờ mờ. Cô có thể cho tôi một chút ánh sáng?
- Mới đêm qua thôi, suốt ngày tôi thấy ông kỳ cục lắm. Tôi chắc chắn rằng có những lúc ông ta chẳng nhớ gì về việc đã làm. Ông cụ sống trong một giấc mơ dị thường. Và hôm qua là một thí dụ. Không phải cha tôi ở cạnh tôi. Hình hài là ông ta đó, nhưng tâm hồn thì không phải là ông.
- Cô vui lòng cho biết điều gì đã xảy ra?
- Giữa đêm khuya, tôi bị đánh thức bởi tiếng chó sủa dữ dội. Tội nghiệp Roy! Nó bị xích gần chuồng ngựa. Tôi cần nói thêm là tôi luôn luôn khóa cửa khi ngủ, vì chúng tôi sống trong sự sợ hãi liên tục. Phòng tôi ở lầu 2, tấm sáo trước cửa sổ của tôi được kéo lên. Bên ngoài trời sáng trăng. Trong lúc tôi nằm nhìn ánh trăng sáng, lắng nghe tiếng chó sủa thì tôi rất kinh ngạc khi thấy mặt cha tôi đang quan sát tôi. Tôi suýt chết vì ngạc nhiên và kinh hoàng. Ông cụ dán mặt vào khung kiếng, ông dơ một tay lên như để đẩy cửa kiếng lên. Nếu cửa sổ mở ra, có thể tôi đã điên rồi. Không phải là một ảo giác đâu. Thú thật, tôi im lìm trong 20 giây để canh chừng cái đầu đó.
Rồi nó biến mất, tôi không dám nhảy ra khỏi giường. Tôi ngồi trơ ra đó, lạnh cóng và run lập cập suốt đêm. Vào lúc ăn sáng, tôi gặp lại ông cụ nét mặt lạnh lùng, dữ tợn làm như ông không biết chuyện đêm qua. Tôi cũng chẳng nói gì, kiếm cớ đi London và nhạy tới đây.
Holmes có vẻ ngạc nhiên một cách sâu xa.
- Thưa cô, cô có nói phòng cô ở lầu 2, ngoài vườn có cái thang dài không?
- Không có, thưa ông. Ðó là khía cạnh giản dị của câu chuyện. Ðâu có phương tiện sẵn để leo lên cửa sổ. Thế mà ông cụ lại có mặt ở cửa sổ!
- Chuyện này xảy ra ngày 5-9, đó là một điểm gây rắc rối! - Holmes nói.
Thiếu nữ có vẻ ngạc nhiên. Bennett xen vào:
- Thưa ông, tôi đồng ý. Ông hay hỏi về các ngày tháng của biến cố, chúng quan trọng ra sao?
- Có thể quan trọng, hiện tôi còn thiếu nhiều yếu tố.
- Ông đang nghĩ tới mối tương quan giữa cơn điên và các giai đoạn của mặt trăng chăng?
- Không, chắc chắn là không. Tôi nghĩ đến một chuyện khác hẳn. Ông vui lòng để lại cuốn nhật ký, vì tôi cần kiểm tra lại các ngày đó. Watson này, tôi nghĩ rằng kế hoạch hành động của chúng ta rõ ràng lắm rồi. Cô Presbury đã cho tin rằng cha cô ít nhớ hoặc không nhớ gì cả vào những ngày đó. Do đó ta sẽ viếng ông ta như thể ông đã định hẹn với chúng ta vào cái ngày mà ông Bennett ghi chép. Chúng ta sẽ mở chiến dịch tấn công, sau khi tiếp xúc với ông ta.
- Tuyệt vời! - ông Bennett la lớn - Tuy nhiên tôi cũng cho hay trước rằng: Giáo sư có lúc phát cáu và hung bạo nữa.
Holmes cười:
- Có nhiều lý do vững chắc để chúng ta không nên chần chừ, những lý do hấp dẫn nếu giả thiết của tôi là đúng. Ngày mai, thưa ông Bennett, ông sẽ gặp chúng tôi tại Camford. Nếu tôi chưa đãng trí, ở đó có một cái quán mang tên là “Chequers” bán rượu porto không đến nỗi tệ, còn giường nệm thì sạch sẽ. Anh Watson, tôi nghĩ rằng mấy ngày tới chúng ta có thể sống ở những nơi kém dễ chịu hơn.
Sáng thứ hai chúng tôi lên đường đi đến thành phố có trường đại học nổi tiếng. Holmes chỉ nói công chuyện với tôi sau khi các va-li đã được đem vào khách sạn.
- Watson này, chúng ta có thể bắt chẹt ông giáo sư ngay trước giờ cơm. Ông ta phải dạy tới 11 giờ, sau đó mới về nhà.
- Ta ra mắt ông ấy với lý do gì?
Holmes nhìn vào cuốn sổ tay.
- Ðầu óc ông ta lộn xộn rồi. Hôm nay là 26-8. Ta cứ nói đại rằng hôm nay là ngày ông ta có hẹn với ta. Chắc ông ấy không cãi gì đâu. Anh có đủ trâng tráo để nói ẩu như vậy không?
- Dù sao cũng phải cố gắng.
- Hoan hô Watson! Ðó là phương châm của hãng mình. Người địa phương chắc chắn sẽ chỉ đúng ông thầy của chúng ta.
Người địa phương đó là anh xà ích đánh xe đi qua các phân khoa đại học, quẹo vào một đại lộ mênh mông để đậu trước ngôi nhà xinh xắn, xung quanh có bồn cỏ xanh tươi. Khi xe ngựa ngừng, một cái đầu hoa râm xuất hiện tại cửa sổ mặt tiền, nhìn chúng tôi chòng chọc xuyên qua đôi mắt kiếng gọng đồi mồi.
Chúng tôi được đưa vào gặp nhà bác học, con người đầy bí ẩn đang đứng trước mặt chúng tôi. Thoạt nhìn, dáng dấp và cử chỉ của ông không lộ một nét lập dị nào, con người cao ráo, uy nghiêm. Ðôi mắt có lẽ là điểm đặc sắc nhất: sắc bén, thông minh đến độ xảo quyệt, ông đọc các danh thiếp của chúng tôi.
- Xin mời hai ông ngồi! Tôi có thể giúp gì hai ông?
Holmes nở nụ cười.
- Chính đó là câu chuyện mà chúng tôi xin hỏi ông.
- Hỏi tôi, thưa ông?
- Có lẽ có sự lầm lẫn rồi. Qua một trung gian, tôi được biết giáo sư Presbury thuộc đại học Camford cần đến các dịch vụ của tôi.
- Thật vậy sao? Không có đâu!
Tôi có cảm giác như một tia hung hăng đang nhen nhúm trong đôi mắt to xám của ông.
- Ông vui lòng cho biết tên, họ của người báo tin.
- Rất tiếc, thưa giáo sư, chuyện mật mà. Nếu có lầm lẫn, không sao cả. Tôi thành thật xin lỗi đã làm phiền giáo sư.
- Ðâu có dễ dàng như thế được. Tôi cần hỏi cho cặn kẽ, ông có một giấy viết tay, thư từ hoặc điện tín để làm bằng không?
- Không, thưa ông!
- Tôi đoán là ông không dám liều mạng nói rằng tôi đã mời ông?
- Tôi thích im lặng hơn. - Holmes nói.
- Nhưng công việc đó đòi hỏi phải trả lời. - Giáo sư Presbury nói với một giọng chua cay - Nhưng, tôi vẫn có, không cần đến mấy ông.
Ông băng qua văn phòng và bấm chuông, ông bạn Bennett xuất hiện.
- Vào đây, ông Bennett. Hai ông này từ London tới có cảm giác rằng họ được mời đến. Thư từ của tôi đều qua tay ông, ông có thấy thư tôi gửi cho một người tên Sherlock Holmes không?
- Không, thưa ông. - Bennett đỏ mặt trả lời.
- Dứt khoát chưa nào? - Giáo sư vừa nói vừa nhìn Holmes một cách thiếu thiện cảm - Giờ đây, ông...
Ông ưỡn ngực ra, xòe hai tay để lên bàn.
-… Ðối với tôi thì hình như hai ông đây ở trong một tình huống cần giải thích.
Holmes vươn vai.
- Một lần nữa, tôi xin lỗi đã quấy rầy ông một cách vô ích.
- Chưa được đâu, ông Holmes? - ông già la to.
Diện mạo ông ta trở nên hung ác phi thường, tiếng nói vang vang như sấm sét, ông đứng chận ngang cửa đưa hai nắm tay:
- Hai ông không thể ra khỏi nơi đây một cách dễ dàng như thế!
Cơn thịnh nộ làm thay đổi hình dạng, đường nét của ông, làm ông mất hết lương tri. Tôi tưởng đâu sẽ phải ẩu đả để thoát ra.
- Kính thưa giáo sư! - ông Bennett nói lớn - Xin nghĩ tới vị thế của giáo sư, kính xin giáo sư nghĩ tới sự tai tiếng của mình trong trường đại học. Ông Holmes là một nhân vật ai cũng biết tên. Giáo sư không thể thất lễ như vậy.
Miễn cưỡng, giáo sư tránh qua một bên cho chúng tôi đi qua. Sau đó, chúng tôi đi tìm sự êm ả ở ngoài đường phố.
- Hệ thống thần kinh của nhà bác học hơi xuệch xoạc. - Holmes nói nhỏ - Ðột kích như vậy là liều lĩnh thật, nhưng tôi cần có cuộc tiếp xúc cá nhân này. Hãy coi chừng, anh Watson. Hình như ông cụ đi theo chúng ta.
- Chắc chắn ông ấy phải đuổi theo...
Quả thật một ai đó chạy bịch bịch sau lưng chúng tôi. Nhưng may mắn không phải ông giáo sư mà là người cộng tác viên của ông ta.
- Tôi rất tiếc, thưa ông Holmes! Tôi thành thật xin lỗi hai ông.
- Không sao cả, ông Bennett thân mến. Nhưng cái lặt vặt như vậy xảy ra rất thường đối với nghề nghiệp của chúng tôi.
- Chưa bao giờ tôi thấy ông ấy ở trong tình trạng tương tự. Giờ đây thì ông đã hiểu tại sao con gái ông ta và tôi sợ cuống cuồng. Nhưng tâm trí ông ta rất minh mẫn.
- Quá minh mẫn đi chứ! - Holmes nói - Tôi đã tính toán sai. Trí nhớ của ông ta minh mẫn hơn cả mức dự đoán của tôi. Nhân tiện, ông vui lòng chỉ cho chúng tôi cái cửa sổ của cô Presbury.
Ông Bennett rẽ một con đường xuyên qua các bụi cây và chúng tôi thấy một mặt của ngôi nhà.
- Kìa! Căn thứ nhì bên trái.
- Tôi không thể nào leo lên đó, cho dù có dây leo bên dưới và ống nước bên trên cung cấp một điểm tựa hay một chỗ để bấu vào.
- Chính tôi đây cũng phải trầy da tróc vẩy mới lên tới đó. - ông Bennett nói.
- Ðương nhiên. Ðối với người bình thường đó là một thành tích đầy nguy hiểm.
- Tôi còn muốn nói với ông một chuyện khác nữa, ông Holmes. Tôi có tên của người bạn ở London thường viết thư cho giáo sư. Sáng nay giáo sư có gởi cho ông ta một lá thư. Tôi có ghi lại cái địa chỉ của ông ta trên giấy thấm. Tôi đã làm một ông việc bẩn thỉu, trong lúc được tin cậy như bạn tri âm, nhưng biết làm sao bây giờ.
Holmes đọc tờ giấy mà Bennett đưa, rồi bỏ nó vào túi :
- Dorak? Tên gì lạ kỳ? Hay quá, đây là một cái khâu to tướng trong cái dây chuyền. Chiều mai chúng tôi về London, thưa ông Bennett. Lưu lại đây chả có ích lợi gì cả. Chúng tôi không thể bắt nhốt giáo sư được vì ông ta có phạm tội ác gì đâu và cũng không thể xích ông ta lại được, bởi vì bệnh điên của giáo sư chưa chứng minh được. Cho tới giờ phút này không thể dự trù một biện pháp nào cả.
- Nhưng không lẽ chúng ta bó tay?
- Hãy kiên nhẫn! Sự việc sẽ qua một bước ngoặt. Nếu tôi tính toán không lầm, thì ngày thứ ba tới, giáo sư sẽ lên cơn. Ngày đó, chúng tôi sẽ có mặt tại Camford. Ngồi ở đây chờ đợi thì không thoải mái chút nào, ngoài ra tôi đề nghị cô Presbury nên nán lại ở London thêm một thời gian nữa.
- Ðược.
- Tóm lại cô ấy phải nán lại London cho đến khi nào bảo đảm rằng mọi hiểm nguy đã tan biến. Từ đây tới đó, ông chớ có chọc ông ta giận, ông ấy mà vui, mọi sự sẽ êm xuôi.
- Ông ấy kìa! - Bennett nói nhỏ.
Xuyên qua các nhánh cây, chúng tôi thấy rõ cái dáng cao dong dỏng đứng trước cửa chính, nhìn tứ phương, ông nghiêng người ra phía trước, hai tay vung vẩy, đầu quay trái rồi quay phải. Viên thư ký vội vã thuồn, vượt các bụi rậm để về với giáo sư. Hai người cùng nhau trở vào nhà, nói chuyện huyên thuyên và hăng say.
- Tôi đoán rằng ông cụ đang cộng hai với hai. - Holmes nói với tôi trên đường về quán trọ - Ông ta tỏ ra có một não bộ logic đặc biệt. Ðành rằng ông hung dữ nhưng ở vị trí của ông, ông có đủ lý do để nổi điên. Ông ta thấy có thám tử theo dõi và chắc chắn nghi ngờ con gái và con rể tương lai đã báo động. Ông bạn Bennett của chúng ta sẽ phải trải qua những giờ phút sóng gió.
Holmes dừng chân tại bưu điện để đánh một bức điện tín. Ngay tối hôm đó chúng tôi nhận được hồi âm. Anh cho tôi xem: “Tôi đi tới đại lộ Commercial và đã thấy Dorak rồi. Người dễ thương, gốc Bohemia. Sở hữu một cửa hàng lớn. Mercier”.
- Anh chưa biết Mereier - Holmes giải thích cho tôi - Tôi mới tuyển. Anh ta sẽ lo công việc thường ngày. Chúng ta cần biết về người mà vị giáo sư liên lạc thư tín. Quốc tịch của người này làm tôi nhớ lại chuyến đi Prague của giáo sư.
- Cám ơn Thượng đế! - Tôi nói. - Mãi tới nay mới gặp cái màn này khớp với cái kia. Cho tới giờ phút này, chúng ta đứng trước một loạt dữ kiện không giải thích được và không có liên quan gì với nhau. Thí dụ có cái tương quan gì giữa một con chó dữ và một sự lưu ngụ tại Prague hoặc giữa hai dữ kiện này với một người mà vào một đêm nào đó, sẽ di chuyển bằng bốn chân.
Holmes vừa xua tay, vừa cười. Chúng tôi đang ngồi tại bộ xa-lông nhỏ của một khách sạn xưa, trước một chai rượu porto.
- Nào, để khởi sự, chúng ta lấy mấy ngày ra nghiên cứu cho vui.
Holmes nói rồi chúm các ngón tay lại, lấy dáng điệu của một thầy giáo làng đang lên lớp.
- Cuốn nhật ký của chàng thanh niên cho ta thấy rằng các xáo trộn bùng nổ trước tiên vào ngày 2-7 rồi cứ tái diễn 9 ngày một lần, trừ một biệt lệ. Cái cơn kế chót là 26-8, còn cơn chót là ngày 3-9 và sắp tới sẽ là ngày 12-9?
- Tôi đồng ý.
Chúng ta đưa ra giả thiết tạm như sau:
- Cứ 9 ngày, ông ta uống một liều thuốc mạnh, có hiệu quả thoảng qua nhưng cực kỳ độc hại. Tính khí ông già đương nhiên chịu ảnh hưởng của chất độc dược này. Ông có thói quen này lúc ở Prague và hiện nay thì qua trung gian của một người ông ta vẫn được cung cấp thuốc. Mạch lạc chưa, Watson?
- Còn con chó, còn cái đầu tại cửa sổ. Còn sự di chuyển bằng bốn chân ở ngoài hành lang?
- Chúng ta đã có một khởi điểm. Còn từ đây tới thứ ba tuần sau, vào ngày 12-9, tôi không hy vọng được cái gì mới. Trong khi chờ đợi, chúng ta chỉ có mỗi một việc làm là giữ mối liên lạc với bạn Bennett và tận hưởng những niềm vui nhỏ tại thành phố đáng yêu này.
Sáng hôm sau, Bennett trốn ra để cho tin mới. Ðúng như Holmes dự đoán, anh ta phải trải qua những giây phút khá nhức đầu. Tuy không trực tiếp cáo buộc về việc chúng tôi đột nhập vào nhà, nhưng ông giáo sư nói năng với anh bằng một ngôn ngữ cực kỳ thô bạo và nghi ngờ anh về các biến cố đã xảy ra. Tuy nhiên, sáng nay ông trở lại bình thường, vẫn lên lớp một cách tuyệt hảo như thường lệ.
- Trừ những cơn khủng hoảng kỳ cục, - Bennett nói - Tôi thấy ông dạt dào sinh khí hơn bao giờ hết, và não bộ của ông vận hành tuyệt hảo. Tuy nhiên ông không còn là người cũ, người mà chúng tôi quen thuộc.
- Theo tôi, không có chi phải sợ trong vòng một tuần. - Holmes đáp - Tôi có nhiều việc khác nữa. Còn bác sĩ Watson cũng có một số bệnh nhân đang chờ. Ta dành phải hẹn nhau vào thứ ba tới, tại quán này. Trước khi tạm biệt nhau, tôi hy vọng sẽ có khả năng giải thích hoặc đánh tan các ưu tư làm cho gia đình ông điêu đứng. Từ đây tới đó, nhớ liên lạc với chúng tôi bằng thư.
Mấy ngày sau đó, tôi không gặp lại Holmes nữa. Nhưng tới thứ hai, tôi nhận một điện văn ngắn, bảo tôi đến vào ngày hôm sau. Trong lúc tàu lăn bánh về hướng Camford, Holmes báo cho tôi biết rằng không có biến cố mới xảy ra. Sự yên ấm ngự trị trong gia đình, vì giáo sư Presbury đã xử thế hoàn toàn bình thường.
Khi gặp lại chúng tôi tại khách sạn vào tối hôm đó, Bennett nói:
- Hôm nay ông có nhận từ London một gói nhỏ và một cái thư có dấu chéo dưới con tem, ông không đụng tới. Ngoài ra, không còn gì khác để báo cáo.
- Bấy nhiêu có thể là đủ rồi. - Holmes thì thầm với một nụ cười ảm đạm. – Ông Bennett, tôi tin rằng chúng ta sẽ đi tới kết luận này ngay đêm nay. Nếu các suy đoán của tôi mà đúng, thì vụ này đã chín mùi rồi. Từ giờ cho tới đó, ta phải liên tục cảnh giác. Nếu nghe ông bò ngang cửa phòng thì anh làm lơ đi, chỉ kín đáo theo dõi. Bác sĩ Watson và tôi chắc chắn quanh quẩn đâu đó. Nhân tiện cho tôi biết ai giữ chìa khóa của cái hộp nhỏ?
- Giáo sư móc nó vào dây chuyền đồng hồ.
- Vậy chúng ta phải bắt đầu nghiên cứu về hướng đó. Kẹt quá thì bẻ ổ khóa. Trong nhà còn người đàn ông nào khác có đủ sức khỏe không?
- Người xà ích.
- Ông ta ngủ ở chỗ nào?
- Trong chuồng ngựa.
Có lẽ chúng ta cần tới ông ta. Hiện giờ chúng ta không thể làm gì hơn trước khi sự việc đi vào ngõ rẽ! Tạm biệt. Tuy nhiên, tôi đoán chúng ta sẽ gặp nhau trở lại trước khi trời sáng.
Gần nửa đêm, chúng tôi rình ngoài các bụi rậm, trước cổng nhà của giáo sư. Ðêm đẹp, nhưng lạnh, gió thổi, mây bay mau trên trời và thỉnh thoảng che khuất mặt trăng lưỡi liềm. Nếu không vì tò mò và nóng lòng muốn chứng kiến phút chót của cái chuỗi dữ kiện quái dị thì cái phiên gác của chúng tôi sẽ chán ngắt.
- Hễ giả thiết về chu kỳ 9 ngày mà đúng - Holmes nói - Thì chắc chắn đêm nay chúng ta thấy ông giáo sư lên cơn. Các triệu chứng tỏ lộ sau khi từ Prague về. Ông bí mật liên lạc thư từ với một thương gia tên Dorak, đặt trụ sở tại London và là đại diện thương mại cho ai đó tại Prague. Ông ta có nhận từ thằng cha này một gói hàng vào hôm nay. Tất cả mấy chuyện này đều ăn khớp với nhau. Chúng ta không biết ông ta uống cái gì. Tại sao lại uống những thuốc gởi từ Prague tới. Ông ta uống theo sự hướng dẫn chính xác, 9 ngày một lần. Ðây là điểm đầu tiên mà tôi để ý. Triệu chứng dễ thấy lắm, anh có để ý các cái khớp ngón tay của ông ta không.
- Không.
- Da dày và chai chưa từng thấy. Tiếp đến cái cổ tay áo sơ mi, đầu gối quần dài và đôi giày.
Holmes ngừng lại, vỗ trán.
- A, Watson! Cái giả thiết của tôi khó tin nhưng chắc chắn nó đúng. Tất cả cái dữ kiện đều chĩa về hướng này. Vậy mà ta đâu có thấy các mối liên hệ nào giữa các dữ kiện này? Mấy cái khớp này... đều không được lưu ý đúng mức! Còn con chó? Còn đám dây leo? Ðến lúc phải núp rồi! Coi chừng, Watson! Ông ta kìa! Mau lên!
Cửa chính mở từ từ. Dáng cao dong dỏng của ông giáo sư nổi bật, ông ta mặc áo ngủ, và đứng thẳng, hơi nghiêng người về phía trước, hai tay đong đưa.
Giáo sư xuống sân. Lúc đó, một đột biến xảy đến. Ông ta khom người xuống, bắt đầu di chuyển bằng tay và chân, thỉnh thoảng nhảy nhót. Ông ta đi bằng bốn chân qua mặt tiền nhà rồi quẹo vào góc thì ông ta biến mất.
Bennett lẻn ra khỏi nhà, rón rén theo sau.
- Tới đây, Watson! - Holmes gọi nhỏ.
Chúng tôi hối hả băng qua bụi cây, đến một địa điểm có thể quan sát phía hông nhà được trăng lưỡi liềm chiếu sáng. Rõ ràng, ông giáo sư đang co ro dưới chân bức tường đầy dây leo. Rồi, nhanh nhẹn lạ thường, ông bắt đầu níu nhánh này, chuyền nhánh khác, chân tì chắc, tay bám chặt, hình như muốn thích thử tài leo chớ không có mục đích cụ thể nào, áo ngủ tung bay phất phới hai bên như một con dơi khổng lồ. Ông vẽ một vệt đen vuông trên tường.
Lát sau như chán trò chơi này, ông chuyền xuống, lại ngồi bệt xuống đất. Rồi lại đi như thú bốn chân đến chuồng ngựa. Con chó Roy chạy ra khỏi chuồng, sủa dữ dội. Nó kéo căng dây xích, lồng lộn như điên. Ông giáo sư ngồi ngay gần kề, nhưng ngoài tầm sợi dây xích, chọc ghẹo chó với trăm nghìn cách. Ông hốt cát hoặc nhặt sỏi tung vào mắt chó, lại lấy gậy chọc, đưa ngay dưới mõm chó, ông cố chọc cho chó tức giận cực độ. Chưa bao giờ chúng tôi chứng kiến một cảnh dị thường như thế. Người càng nặn ra những điều tàn ác để chọc ghẹo, chó càng điên tiết sủa vang, vùng vẫy bức xích. Rồi thình lình thảm cảnh nổ bùng. Dây buộc cổ tuột ra. Chó nhảy đến. Người và chó cùng nhau lăn lộn: chó gào rống, người la hét. Chó cắn vào cổ người, ông giáo sư ngất xỉu trước khi chúng tôi chạy đến. Nếu Bennett không chạy tới kịp, ra oai với con chó thì chính chúng tôi cũng lâm nguy luôn.
Sự lao xao làm cho anh xà ích ngủ ở trên chuồng ngựa thức giấc, chạy ra với nét mặt còn ngái ngủ và kinh hoàng. Con chó lại bị xích. Chúng tôi đưa ông giáo sư về phòng. Bennett có học về y, giúp tôi băng cuống họng bị thương. Sau nửa giờ tìm đủ mọi cách, chúng tôi cầm được vết thương nguy hiểm. Tôi chích một mũi morphin làm cho ông ta ngủ mê man. Tôi đề nghị mời một y sĩ chuyên môn nhưng Bennett phản đối vì không muốn chuyện xấu xa này bung ra ngoài, có hại cho thanh danh ông giáo sư và cho cô con gái.
- Ðúng vậy - Holmes - Chúng ta sẽ ngăn cản mọi sự tái diễn. Ông Bennett vui lòng giao cho tôi chiếc chìa khóa ở dây đồng hồ. Chúng ta đi xem cái hộp bí mật, còn anh xà ích thì hãy ở cạnh người bệnh.
Trong hộp không có gì nhiều: một chai nhỏ rỗng, một chai khác còn gần đầy, một ống kim thạch, nhiều bức thư chữ viết lí nhí của một người ngoại quốc mà các phong bì đều có dấu chéo. Tất cả đều xuất xứ từ đại lộ Commereial và ký tên là Dorak. Chúng chứa hoặc những biên nhận hoặc báo tin một chai thuốc mới gửi đến. Có một bao bì với chữ viết của một người có học hơn và mang bưu ấn của Prague trên một con tem của nước áo.
- Ðây là giải đáp của bài toán! - Holmes la lớn, rồi đọc to lên.
“Thưa đồng nghiệp kính mến! Kể từ ngày được ông chiếu cố, thăm viếng, tôi suy nghĩ nhiều về trường hợp của ông. Vì ông quá lo lắng nên tôi phải chữa trị cho ông, nhưng ông phải thận trọng, vì các kết quả mà tôi đạt được, cho thấy có kèm theo những nguy hiểm.
Nếu sử dụng loại serum của vượn-người, thì ông được an toàn hơn. Nhưng tôi thích sử dụng loại serum của con vượn Langur. Loại vượn này chuyên bò và leo, còn vượn-người thì đi thẳng như người. Tôi yêu cầu ông thận trọng tối đa để bài thuốc khỏi bị tiết lộ. Tôi còn một thân chủ khác ở Anh. Dorak là đại diện của tôi, phụ trách lấy thuốc cho cả hai ông. Ông nên báo cáo hàng tuần cho tôi biết.
Thân trọng kính chào
H. LOWENSTEIN”.
Sau khi nghe đọc thư xong, tôi giảng giải cho Holmes và Bennett biết.
- Lowenstein. Cái tên này làm tôi nhớ lại một bài báo kể chuyện một nhà bác học vô danh đã tìm ra thuốc trường sinh bất tử. Lowenstein của Prague! Lowenstein với serum trường sinh đã bị đại học y khoa cấm vì ông không tiết lộ nguồn gốc của serum.
Bennett lấy ra một cuốn động vật học, rồi đọc.
- Langur, giống khỉ to, đầu đen, sống trên cái triền núi Hymalayar, là loài khỉ leo trèo, to con nhất và giống con người nhất. Ông Holmes, nhờ ông mà chúng tôi phăng lên ngọn ngành của tệ trạng.
- Ngọn ngành thực sự là câu chuyện chồng già vợ trẻ. Ông giáo sư lo sợ cuộc tình duyên sẽ sớm đổ vỡ nếu ông “không còn trẻ!”. Không ngờ vì muốn trèo cao mà ông rủi ro tụt xuống thấp hơn.
Holmes ngắm nghía cái lọ cầm trên tay và suy nghiệm chất lỏng trong trẻo ở bên trong.
- Khi tôi viết xong cái thư qui trách nhiệm cho Lowenstein về tội lưu hành khất độc thì chúng ta sẽ không còn bực bội nữa. Theo tôi thì chả còn gì để nói thêm, ông Bennett à. Con chó nhờ cái khứu giác nhạy bén của nó nên nó cảm nhận sự thay đổi nhanh hơn anh nhiều. Chính con khỉ, con khỉ thích leo trèo, bị Roy tấn công, chứ không phải ông giáo sư. Còn việc ông giáo sư nhìn vào phòng con gái là hoàn toàn ngẫu nhiên. Watson này! Chút nữa có chuyến xe lửa đi London, tôi đề nghị chúng ta đi uống trà trước khi lên tàu.
📎 Nguoi bon chan
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-07-08 14:33:51Thái Nhi>
NGƯỜI LÍNH BỊ VẢY NẾN
Lữ_khách hiệu đính


Watson bảo tôi hãy thử tường thuật một trong các cuộc phiêu lưu của hai chúng tôi. Sở dĩ như vậy là vì tôi luôn mồm chê bai cái bài tường thuật của Watson là nông cạn, thường thiên về mục đích thỏa mãn công chúng. Nhưng khi cầm viết trên tay, tôi lại thấy phải trình bày câu chuyện sao cho độc giả bị lôi cuốn. Câu chuyện tôi đang viết đây có lẽ sẽ thành công vì nó là một trong những chuyện dị thường nhất trong bộ sưu tập của tôi, tuy không được Watson chú ý tới.
Đó là vào tháng 1-1903, ngay sau cuộc chiến Boer. Thân chủ tôi khi ấy là ông James M. Dodd, đến từ Briton. Watson khi ấy đang bận tíu tít với gia đình, nên trong hội, chỉ còn lại mình tôi tiếp khách.
Tôi có thói quen ngồi quay lưng ra cửa sổ, khách ngồi ở ghế trước mặt, làm như vậy gương mặt họ được ánh sáng chiếu thật rõ. Ông James M. Dodd có vẻ lúng túng, không biết bắt đầu câu chuyện bằng cách nào. Tôi cũng không gợi ý cho ông nói, vì ông càng bối rối, tôi càng có nhiều thời gian để quan sát. Sau cùng, tôi đưa ra vài kết luận.
- Ông từ Nam Phi về!
- Thưa đúng! - ông ấy đáp lại trong sự ngạc nhiên.
- Ông là lính tình nguyện của đoàn kỵ binh Hoàng gia?
- Thưa đúng.
- Có lẽ là quân đoàn Middlesex?
- Ông quả là một phù thủy, thưa ông Holmes!
Sự kinh ngạc của khách làm tôi cười.
- Khi một hào kiệt dáng dấp hùng dũng bước vào phòng khách này, với một khuôn mặt quá sạm nắng so với người chính quốc, và khi khách để mù soa trong tay áo, chứ không phải trong túi, thì việc đoán gốc gác của khách đâu có gì khó. Ông để râu quai nón ngắn, chứng tỏ rằng ông đâu phải là lính tại ngũ. Ông lại mặc đồng phục của một kỵ binh. Còn về quân đoàn Middlesex thì căn cứ vào danh thiếp của ông, tôi biết rằng ông là nhân viên hối đoái ở phố Throgmorton. Cái góc đường này thì không thể đưa tới đơn vị nào khác hơn!
- Không gì qua lọt sự nhận xét của ông!
- Thưa ông Dodd, đâu phải sáng nay ông đến đây để thảo luận về khoa học quan sát. Có chuyện gì tại Tuxbury Old Park vậy?
- Thưa ông...
- Trong thư, ông xin gặp tôi, và lời lẽ khẩn thiết đến nỗi tôi chắc chắn đã có một cái gì đột ngột và quan trọng xảy ra.
- Ðúng thế! Tôi viết thư hồi xế trưa, nhưng từ lúc đó đến giờ, nhiều biến cố đã xảy ra. Phải chi đại tá Emsworth đã không đuổi tôi ra khỏi cửa...
- Ðuổi ra khỏi cửa?
- Vâng. Ðại tá Emsworth là hiện thân của quân kỷ, nói năng thô bạo. Nếu không nể mặt Godfrey, tôi đã không nhịn đâu.
Tôi đốt thuốc và dựa lưng ra sau một cách thoải mái.
- Có lẽ ông nên giải thích rõ hơn?
- Tôi nhập ngũ hồi tháng giêng 1901, cách nay đúng 2 năm, và gặp Godfrey Emsworth. Nó tình nguyện nhập ngũ trước tôi. Hai đứa ở cùng một đội. Nó là con trai độc nhất của đại tá Emsworth. Trong toàn quân đoàn, không có đứa nào tốt hơn nó.
Chúng tôi trở thành đôi bạn thân, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi. Rồi trong một cuộc đụng độ gần đồi Diamond, gần Pretoria, nó bị trúng một viên đạn của súng bắn voi. Tôi có nhận được hai lá thư của nó. Cái thứ nhất gởi từ bệnh viện Cape Town, cái thứ nhì gởi từ Southampton. Rồi sau đó bặt tin luôn. Khi chiến tranh chấm dứt, tất cả đều được giải ngũ.
Tôi viết thư cho bố nó, hỏi thăm nó ở đâu. Tuyệt nhiên, không có hồi âm. Tôi phải đợi, rồi lại viết lá thư khác. Lần này thì được phúc đáp: “Nó đi chu du thế giới, có thể phải cả năm mới về”. Thư ngắn và lời lẽ cộc lốc như thế đấy! Tôi không vừa lòng thưa ông. Godfrey tốt bụng lắm. Nó không thể bỏ rơi bạn bè như thế này. Ngoài ra, tôi còn biết rằng nó thừa kế một tài sản kếch xù, và giữa bố nó và nó có trục trặc. Do đó tôi quyết định tìm hiểu sự việc. Nhưng vì cần sắp xếp việc nhà nên tuần rồi tôi mới có thời giờ lấy hồ sơ Godfrey ra và nhất quyết bỏ hết mọi công chuyện, chỉ chú tâm vào việc này mà thôi.
Ông James M. Dodd thuộc loại người để kết bạn, thứ không phải để gây thù. Ðôi mắt xanh của ông nghiêm khắc và khi nói chuyện thì hai hàm của ông khít lại.
- Rồi ông làm gì?
- Ðầu tiên tôi gởi một lá thư cho mẹ nó ở Tuxbury Old Park, gần Bedford. Phải nói thẳng là tôi ớn cái ông già cộc lốc đó lắm: “Godfrey là bạn thí thân của cháu, cháu không thể nào quên được các kỷ niệm chung. Nếu có dịp, cháu sẽ kể lại cho bác nghe một cách chi tiết. Cháu muốn tới nhà bác, thăm hai bác và hỏi thăm tin tức của bạn cháu. Bác có thấy bất tiện không?”.
Sau đó, tôi nhận được một lá thư rất dễ thương. Bà cụ mời tôi đến nhà chơi. Tôi đến đó vào ngày thứ hai. Căn nhà của ông bà đại tá ở tại Tuxbury Old Park.
Xuống xe lửa, không có xe ngựa, tôi phải xách va-li đi bộ. Ðó là một ngôi nhà bao la lọt giữa một cái vườn mênh mông. Lão quản gia Ralph, già nua và rêu rã như ngôi nhà, vợ lão trước kia là vú em của Godfrey. Godfrey có nói với tôi về bà này nó thương bà như mẹ ruột. Do đó tôi đặc biệt lưu ý tới bà dù rằng cái bề ngoài của bà khá dị thường. Thân mẫu của Godfrey là một người đàn bà nhỏ thó, nhanh nhẹn khả ái. Chỉ có ông cụ là không thể nào ưa được.
Tôi được đưa vào văn phòng. Ông ngồi sau bàn: một con người dềnh dàng, lưng hơi gù, da sạm đen, râu quai nón màu tro, lỗ mũi có mạch máu hồng nổi cộm lên như mỏ kền kền. Cặp mắt hung tợn màu tro dưới hai đám lông mày rậm rạp chòng chọc nhìn tôi. Tôi hiểu tại sao ít khi Godfrey đề cập tới bố nó.
“Sao, anh bạn?”, ông hỏi tôi với giọng rổn rảng, “Tôi muốn biết rõ các nguyên nhân thật của cuộc thăm viếng này?”
“Thưa bác, cháu đã nói rõ trong thư”.
“Ðúng thế! Ông nói rằng ông quen Godfrey ở châu Phi. Chúng tôi không có cách nào khác hơn là phải tin theo lời ông”.
“Cháu còn giữ thư của nó trong túi đây”.
“Ông cho tôi xem?”
Ông liếc sơ hai cái thư rồi trả lại.
“Rồi sao nữa?”
“Cháu rất quý Godfrey. Nhiều sự ràng buộc và vô số kỷ niệm đã hợp nhất chúng cháu lại. Ðương nhiên cháu phải ngạc nhiên trước sự bặt tin của nó và phải tìm xem hiện giờ nó ra sao”.
“Tôi nhớ mang máng là đã viết thư cho ông biết rồi mà. Từ Nam Phi trở về, sức khỏe của nó suy sụp trầm trọng, vợ chồng tôi quyết định cho nó nghỉ ngơi hoàn toàn thay đổi hẳn không khí. Tôi khẩn khoản yêu cầu ông bạn giải thích cho các bạn khác của nó”.
“Cháu xin ghi nhớ. Tuy nhiên cháu xin biết tên chiếc tàu và hãng hàng hải để có thể gởi cho nó một lá thư”.
Thỉnh cầu của tôi có vẻ vừa gây bối rối vừa chọc giận người chủ nhà. Ông cụ chau mày và gõ nhẹ cộp cộp trên bàn như một người đánh cờ đang bị chiếu bí.
“Ông bạn thân mến, nhiều người sẽ bực bội trước cái cù nhầy của ông bạn và nghĩ rằng ông nói dai như đỉa đói”.
“Thưa bác, tất cả chỉ vì thân tình với con trai bác”.
“Ðúng. Tôi ghi nhận điều đó. Nhưng tôi yêu cầu ông đừng hỏi thêm. Mỗi gia đình đều có chuyện riêng tư mà người ngoài không thể nào hiểu nổi. Bà nhà tôi rất thích nghe về cuộc đời quân ngũ của Godfrey mà ông bạn khá rành, nhưng xin ông bạn hãy làm lơ hẳn cái hiện tại và tương lai của nó”.
Thưa ông Holmes, như vậy là tôi phải chấp nhận và tự nguyện giải quyết sự mù mờ về số phận của Godfrey.
Tối hôm đó, bầu không khí khá tẻ nhạt. Ba người trầm lặng ăn cơm trong một gian phòng âm u, đèn đóm lù mù.
Bà cụ háo hức muốn nghe tôi kể về con trai của bà, còn ông đại tá thì có vẻ u sầu. Cuộc thảo luận này làm tôi phật ý đến nỗi có dịp tôi liền cáo lui về phòng. Ðó là một phòng trống trơn và cũng thê lương như phần còn lại của ngôi nhà. Tuy nhiên sau thời gian ngủ trên đồi cỏ Nam Phi, tôi đâu còn khó tánh về vấn đề chỗ ngủ nữa. Tôi vạch màn cửa ngắm cảnh vườn đêm dưới ánh trăng lưỡi liềm. Kế đó tôi ngồi gần lò sưởi và cố gắng đọc một cuốn tiểu thuyết để tiêu khiển.
Lão Ralph mang thêm than đến.
“Tôi sợ ông bị thiếu than trong đêm khuya. Gió thì buốt, phòng thì rộng...”. Ông lão lưỡng lự như muốn nói điều gì. Khi tôi nhìn lên thì thấy ông đang đứng trước mặt tôi, vẻ đăm chiêu.
“Thưa ông Dodd, xin ông tha thứ cho cái tội nghe lén những gì ông nói về cậu Godfrey trong bữa cơm tối. Ông biết không, vợ tôi là vú của cậu ấy, còn tôi thì phần nào như bố nuôi của cậu vậy. Ðương nhiên chứng tôi có để ý đến cậu ấy. Ông có nói cậu ấy đối xử đẹp, phải không?”
“Nó là người dũng cảm nhất quân đoàn. Có lần nó cứu tôi thoát chết. Không có nó, tôi đâu còn sống đến ngày nay”.
Ông lão quản gia xoa đôi tay gân guốc.
“Thật đúng với tính cách của cậu ấy. Cậu ấy luôn can đảm. Ông ơi, không có cây cổ thụ nào ngoài vườn mà cậu ấy không leo. Ngay từ thuở đó, cậu ấy cũng đã là một cậu bé dũng cảm... và thưa ông, lớn lên cũng đã là một người đàn ông dũng cảm!”
Tôi nhảy dựng lên, la lớn:
“Ông vừa nói “đã là”... Vậy nó đã chết rồi sao? Emsworth ra sao rồi?”
Tôi nắm cứng vai ông lão, nhưng ông vùng ra.
“Tôi không hiểu ông muốn nói gì, thưa ông. Ðề nghị ông hỏi ông chủ. Ông chủ biết đó”.
Ông lão sắp rời phòng, tôi nắm cánh tay ông, níu ông lại, năn nỉ.
“Mong ông trả lời một câu thôi; bằng không, tôi giữ ông lại suốt đêm: Godfrey chết rồi ư?”
Ông lão không thể nhìn thẳng vào mặt tôi. Ông ấy tựa như một con thỏ bị thôi miên. Câu trả lời vuột khỏi môi ông!
“Thà cậu ấy chết còn hơn!”
Câu nói vừa đột ngột vừa hãi hùng!
Ông vuột khỏi tay tôi, hối hả chạy ra khỏi phòng.
Thưa ông Holmes, câu trả lời của ông lão hình như cũng chả giải thích được gì nhiều. Chắc chắn là bạn tôi đã bị kẹt trong một vụ hình sự. Nếu không thì cũng là một cái gì nhục nhã làm nguy hại đến danh dự của gia đình ông đại tá khiến ông phải tống cậu con đi xa.
Godfrey thích phiêu lưu, nên có thể bị bạn bè lôi kéo dễ dàng. Nếu vậy, nhiệm vụ của tôi là phải tìm để giúp nó. Trong lúc tôi đang nghĩ ngợi thì bỗng Godfrey Emsworth xuất hiện trước mặt tôi...
Người khách hàng của tôi ngừng nói vì xúc động sâu xa..
- Ông hãy nói tiếp. Vấn đề này có những dữ kiện hết sức đặc biệt.
- Nó đứng ở phía ngoài cửa sổ! Phía ngoài! Nó áp sát mặt vào cửa kiếng. Hồi nãy tôi có nói là tôi ngắm trăng. Sau đó, tôi kéo màn nửa chừng. Hình dáng nó nằm gọn trong phần cửa sổ trống. Ðây là loại cửa sổ lớn nên tôi thấy rõ nó từ đầu xuống gần hết chân. Nhưng gương mặt của nó làm tôi xúc động mạnh! Chưa bao giờ tôi thấy ai trắng bạch như thế. Khi thấy tôi nhìn nó, nó tức khắc nhảy lùi ra sau và biến mất trong đêm khuya.
Thưa ông Holmes, có một cái gì đó làm tôi thắc mắc vô cùng. Tôi đứng đó, trố mắt nhìn. Nhưng đã xông pha trận mạc trong 2 năm, tôi không hoảng hốt lắm, nên khi Godfrey vừa đi khỏi thì tôi đã đứng tại cửa sổ. Cửa kẹt, nên tôi mở hơi lâu. Cuối cùng tôi ra được ngoài vườn. Tôi chạy dọc theo hướng nó chạy. Lối đi thì dài, mà trời lại mờ. Tôi thấy một cái gì đang di động lờ mờ trước mặt tôi. Tôi tiếp tục chạy, kêu ngay tên nó, nhưng không có kết quả. Cuối lối đi tôi đứng trước một ngả rẽ năm sáu đường mòn đi về nhiều phía. Tôi đứng đó, chần chừ. Chính lúc này tôi nghe rõ ràng tiếng một cửa lớn đang đóng lại. Không phải đàng sau lưng tôi ở trong nhà chính, mà là ở trước mặt tôi, đâu đó trong bóng tối. Tôi nghe khá rõ, vậy là Godfrey chạy trốn tôi? Chính nó đóng cửa lại sau khi đã vào nhà.
Làm gì bây giờ. Qua một đêm không ngủ, tôi hy vọng tìm ra một giả thiết có thể giải thích suôn sẻ các dữ kiện. Hôm sau, tôi thấy ông đại tá dễ chịu hơn, và sẵn dịp bà vợ ông nhắc rằng chung quanh vùng này có những nơi hay hay, tôi bèn xin phép họ được lưu lại thêm một đêm nữa. Tôi đã biết chắc chắn rằng Godfrey đang lẩn trốn không xa. Cái tư dinh bát ngát và nhiều hang hóc đến nỗi cả một trung đoàn kỵ binh có thể tìm đủ chỗ núp an toàn. Nó có chừa một bí mật nào thì rất khó mà phát hiện.
Nhưng mà cái cửa tôi nghe đóng không phải của căn nhà chính. Tôi lục lạo khu vườn, đi lung tung một cách tùy tiện, vì ông bà chủ nhà đều bận rộn công việc. Có nhiều căn nhà phụ nhỏ. Nhưng ở cuối vườn, có một cái nhà cô lập, khá bề thế, rất tiện lợi khi làm nhà ở cho một người làm vườn hay một người canh bọn ăn trộm.
Phải chăng tôi đã nghe tiếng cửa của căn nhà phụ này đóng lại. Tôi giả vờ khoan thai tới gần, như thể đang đi thăm toàn khu đất. Ngay lúc đó, một người đàn ông nhỏ con, râu quai nón, nhanh nhẹn, trang phục màu đen, mũ lông nón tròn, xuất hiện trước cửa. Lạ lùng thay, vừa ra khỏi cửa, ông ta vội vàng khóa cửa lại, và bỏ chìa khóa vào túi, nhìn chòng chọc vào tôi, hỏi:
“Ông tới đây chơi vài ngày?”.
Tôi nói rõ danh tính rồi cho biết tôi là bạn thân của Godfrey.
“Tiếc rằng nó đã đi du lịch. Phải chi nó ấy có ở nhà, chắc sẽ mừng lắm”.
Tôi nói bâng quơ.
“Chắc chắn như vậy…”, ông ấy trả lời hơi lấp lửng. “Tuy nhiên, tôi đề nghị ông trở lại đây vào một lúc khác thuận tiện hơn”.
Ông ta chỉ nói bấy nhiêu rồi bỏ đi. Khi tôi quay lại thì thấy ông ấy đứng lẫn trong đám nguyệt quế, mắt canh chừng tôi.
Khi đi ngang qua đó, tôi để ý thật kỹ ngôi nhà nhỏ với cửa sổ kéo màn dày. Thoạt nhìn, có vẻ đó là một căn nhà trống vắng. Tôi có cảm giác đang bị theo dõi nên tôi lững thững đi về phòng của mình.
Ðêm đến, khi trời đã tối đen và mọi nơi đều im vắng, tôi lén nhảy qua cửa sổ, rón rén đi tới căn nhà huyền bí. Tôi đã nói với ông rằng các cửa sổ đều kéo màn thật dày. Giờ đây các cửa lại đóng kín mít. Tuy nhiên, xuyên qua một khe hở của cửa sổ, một ánh đèn leo lét lôi cuốn sự tò mò của tôi. May mắn cho tôi màn không kéo kín hẳn.
Qua khe hở, tôi thấy rõ bên trong. Ðó là một căn phòng khá vui, có một cái đèn lớn và một ngọn lửa sưởi. Trước mặt tôi là người đàn ông lùn mà tôi đã gặp hồi sáng, ông ta đang ngồi hút thuốc và đọc báo.
- Báo gì? – Tôi hỏi.
Thân chủ của tôi vẻ bất mãn về lời ngắt ngang của tôi
- Có gì quan trọng không?
- Đa phần là quan trọng.
- Tôi không thấy điều gì đáng lưu ý cả
- Ông có để ý rằng báo đó là loại khổ lớn hay chỉ là một tạp chí chuyên đề khổ nhỏ ra hàng tuần không?
- Tôi nghĩ điều đó không quan trọng bằng điều này. Người thứ nhì ngồi quay lưng ra cửa sổ và tôi thề độc rằng đó là Godfrey. Tôi không thấy rõ mặt, nhưng tôi nhớ độ cong của đôi vai. Nó tì cùi chỏ, thái độ cực kỳ u sầu, quay lưng ra phía lò sưởi. Trong lúc tôi chưa biết phải phản ứng ra sao thì có người vỗ vai tôi: đại tá Emsworth!
“Hãy đi theo tôi, ông bạn!”, ông cụ ra lệnh cho tôi với tiếng nói nhỏ nhẹ, rồi ông lặng thinh, đi về nhà chính.
Tôi đi theo ông tới phòng của tôi. Khi đi ngang qua hành lang, đại tá lấy một cái đồng hồ báo thức. “8 giờ rưỡi có tàu về London. Xe ngựa chờ sẵn ngoài cửa lúc 8 giờ”. Ông cụ giận run, mặt trắng bệch. Thú thật tôi cũng cảm thấy mình vừa lọt vào một tình huống khó xử nên chỉ ấp úng biện bạch.
“Không dông dài làm gì!”, ông cụ nói cụt ngủn như thế, “Ông bạn đã khiếm nhã, đột nhập vào đời tư của kẻ khác. Ông bạn được tiếp như một thượng khách nhưng lại xử sự như một thằng gián điệp. Tôi không muốn gặp ông bạn lại lần thứ hai”.
Lúc đó tôi mất nhẫn nại và có phần thất kính:
“Tôi đã nhìn thấy con trai ông và tôi chắc chắn ông giấu nó với đời. Tôi không hiểu gì về lý do khiến ông buộc nó mai danh ẩn tích nhưng tôi biết chắc chắn rằng nó mất tự do. Tôi cho ông biết trước, thưa đại tá, khi tôi chưa an tâm về sự an ninh của nó! Tôi vẫn cố gắng tối đa để làm sáng tỏ vấn đề”.
Ông già nhìn tôi với đôi mắt đầy ác cảm rồi ông quay lưng, rời khỏi phòng tôi. Về phần tôi, tôi đi chuyến xe 8 giờ 30 và đi thẳng tới đây xin ông chỉ bảo và giúp đỡ.
Ðó là bài toán mà khách trình bày cho tôi. Bài toán có nhiều khó khăn nghiêm trọng. Tuy nhiên, nó có nhiều chi tiết lý thú.
- Về những người hầu thì sao? - Tôi hỏi - Nhà đó có bao nhiêu người?
- Theo tôi, thì chỉ có người quản gia và bà vợ. Ðời sống tại nhà đó khá đạm bạc.
- Trong căn nhà phụ, không có tôi tớ sao?
- Cái lão có râu quai nón, thuộc một đẳng cấp xã hội cao hơn.
- Rất là lý thú. Ông có để ý xem coi có phần cơm nước được đưa từ tòa nhà này sang tòa nhà khác không?
- Tôi nhớ có thấy lão Ralph xách giỏ đi về hướng căn nhà đó. Tôi không nghĩ rằng đó là một giỏ thức ăn.
- Ông đã mở cuộc điều tra xung quanh chưa?
- Có. Tôi đã nói chuyện với người trưởng ga và người chủ quán của làng. Tôi chỉ đơn giản hỏi họ có biết gì về anh bạn Godfrey Emsworth của tôi không. Cả hai đều khẳng định với tôi rằng nó đang đi chu du thế giới. Sau chiến tranh, hình như nó có về rồi lại ra đi. Câu chuyện hiển nhiên được những người chung quanh chấp nhận, không thắc mắc.
- Họ không tỏ vẻ nghi ngờ gì hay sao?
- Không.
- Câu chuyện đáng được lưu tâm. Ðược. Tôi sẽ cùng đi với ông tới Tuxbury Old Park.
- Ngay hôm nay?
- Lúc này tôi đang bận một việc cần thiết khác.
Ðầu tuần sau, tôi mới cùng với ông Dodd đi lên Bedford. Trên đường đi, chúng tôi còn ghé rước một người nghiêm nghị, có mái tóc đen màu xám bạc mà tôi đã thu xếp trước. Tôi nói với ông Dodd:
- Tôi xin giới thiệu một ông bạn cũ. Sự hiện diện của ông ấy có lẽ là thừa, trừ khi tình thế xoay chiều thì sự có mặt đó sẽ rất hữu ích.
Thân chủ tôi có vẻ ngạc nhiên nhưng không nói gì. Trên xe, tôi hỏi ông một việc mà tôi muốn cả người bạn đồng hành của chúng tôi cùng nghe.
- Ông có nói rằng ông thấy rõ mặt bạn ông ở cửa sổ.
- Nó áp mũi sát vào kiếng, ánh sáng của đèn chiếu rõ mồn một.
- Có thể là một ai khác giống ông ta?
- Không đâu! Chắc chắn là nó.
- Nhưng ông nói gương mặt của anh ta có thay đổi?
- Chỉ nước da thôi! Làm sao tả gương mặt nó bây giờ? Mặt nó trắng như bụng cá.
- Trắng toàn thân không?
- Không đâu! Tôi không cho là như vậy. Tuy nhiên tôi chỉ thấy cái trán của nó khi nó áp sát vào cửa.
- Ông có gọi ông ấy không?
- Lúc ấy tôi điếng người. Tôi có đuổi theo nó, như đã nói với ông, nhưng vô ích thôi.
Sau một cuộc hành trình dài bằng xe ngựa, chúng tôi đến nơi. Chính lão quản gia Ralph mở cửa cho chúng tôi. Tôi đã thuê nguyên xe này và có dặn ông bạn thân cùng đi hãy ngồi lại ngoài xe. Ralph ăn mặt trong y phục qui ước nhưng khác lạ là có đeo đôi bao tay da màu nâu, ông lão lật đật cởi ra để lên bàn ở ngay cửa. Như Watson từng nhận xét: tôi được trời cho những giác quan bất bình thường. Một cái mùi yếu nhưng dai dẳng cũng làm xốn xang mũi tôi. Hình như nó phát ra từ cái bàn. Vừa bước vào, tôi lại quay ra sau để nón lên bàn và làm rớt nó. Khi cúi xuống lượm, tôi ghé mũi gần đôi bao tay. Rõ ràng là mùi dầu hắc. Giờ đây hồ sơ tôi đã đầy đủ. Than ôi! Khi đích thân tôi kể chuyện, thì tôi lại phơi bày các cái mánh của tôi, ngược lại Watson thì giấu nhem các khâu này.
Ðại tá Emsworth không có ở trong phòng. Tuy nhiên khi Ralph đem tin tới thì đại tá nhanh chóng ra ngay. Chúng tôi nghe được bước chân nhanh và nặng của ông đi ngoài hành lang. Ông mở mạnh cửa, ào ào đi vào văn phòng, râu quai nón xồm xoàm, khuôn mặt hơi cáu. Chưa bao giờ tôi gặp mặt ông lão khủng khiếp như thế! Ông cầm trên tay tấm danh thiếp của chúng tôi, xé thành một nghìn mảnh.
- Này cái ông tào lao, tôi đã nói với ông rằng tôi không muốn thấy cái bản mặt đáng nguyền rủa của ông lần thứ hai. Nếu ông bất tuân, tôi có quyền sử dụng bạo lực. Tôi giết ông chết. Thật đó, tôi sẽ giết ông. Còn ông...
Ðại tá quay lại phía tôi.
- Lời đó dành luôn cho cả ông nữa. Tôi có biết cái nghề hạ lưu của mấy ông. Hãy phát triển tài năng của ông đi chỗ nào khác, không phải chỗ này!
- Tôi sẽ không bao giờ rời khỏi nơi đây - Người khách hàng của tôi dằn từng tiếng - Trước khi nghe chính miệng Godfrey nói rằng nó không bị áp bức gì!
Người chủ nhà cực kỳ giận dữ, bấm chuông vang trời.
- Ralph! Hãy điện cho cảnh sát, yêu cầu viên thanh tra đưa tới đây hai cảnh sát viên. Bảo với họ rằng hiện có 2 kẻ cắp đang đục tường tại nhà mình.
- Cho tôi vài giây! - Tôi nói xen vào - Ông Dodd, ông phải biết rằng đại tá Emsworth có quyền làm như thế. Chúng ta không có một tư cách pháp lý nào tại đây. Ngược lại, tôi cũng khẩn thiết xin đại tá nhìn nhận rằng mọi việc làm của ông Dodd đều vì cậu con trai của đại tá. Tôi tin rằng nếu tôi được nói chuyện 5 phút với đại tá, tôi sẽ làm ông thay đổi quan điểm.
- Tôi không bao giờ để cho người khác ảnh hưởng đến mình - Người lính già đáp - Ralph, hãy thi hành lệnh tôi. Còn đợi gì nữa? Gọi cảnh sát cho mau!
- Ðại tá sẽ không bao giờ làm điều đó! - Tôi nói vừa tựa lưng vào cánh cửa lớn - Sự can thiệp của cảnh sát sẽ gây ra cái tai họa mà đại tá muốn tránh.
Tôi lấy sổ tay ra rồi viết một từ, vỏn vẹn một từ, rồi trao cho đại tá.
- Chính đó là nguyên nhân khiến chúng tôi tới đây hôm nay. - Tôi nói thêm.
Ðại tá đăm chiêu nhìn tờ giấy, và mọi bực bội đều biến khỏi gương mặt ông, trừ sự kinh ngạc.
- Làm sao ông biết được?
Ðại tá ấp a ấp úng rồi ngồi phịch xuống ghế dựa.
Ðại tá ngồi trầm tư, lấy bàn tay gân guốc mân mê vài sợi râu, rồi chậm rãi nói:
- Vâng, quý ông muốn gặp Godfrey thì quý ông sẽ được gặp. Nhưng nên nhớ là tôi không hề cho phép, chính quý ông đã cưỡng chế tôi.
- Ralph! Hãy báo trước cho Godfrey và ông Kent biết rằng trong 5 phút nữa, chúng tôi sẽ đến đó.
Sau khi, 5 phút đã trôi qua, chúng tôi băng qua vườn, đi đến căn nhà bí mật. Ông lão lùn có râu quai nón đứng trước cửa, có vẻ sửng sốt:
- Chuyện gì mà đột ngột vậy? Thưa đại tá, tất cả các kế hoạch của ta bị hỏng hết?
- Ðành chịu vậy, ông Kent. Chúng ta bị bắt buộc. Godfrey có thể tiếp khách không.
- Có.
Ông lão quay lại, đưa chúng tôi vào một phòng trang hoàng rất nhiều thứ đồ gỗ. Một người đàn ông đứng quay lưng ra lò sưởi. Khi nhìn thấy người đó, Dodd dang tay nhào tới.
- Ôi Godfrey, thật là...
Nhưng người kia làm dấu xua đuổi.
- Ðừng đụng đến tao, Jimmie. Hãy giữ khoảng cách! Ðúng, mày có thể mở mắt nhìn tao cho thỏa thích. Nhưng tao không còn là thằng binh nhất Emsworth sáng giá thuộc đội B nữa, phải không.
Quả vậy, bề ngoài của anh ta rất dị thường. Người ta có thể đoán ra rằng trước kia anh ta rất đẹp trai, với khuôn mặt bị sạm nắng bởi mặt trời Nam Phi. Còn bây giờ trên khuôn mặt màu nâu, những vết trắng đã làm cho da anh bị phai màu từng mảng.
- Ðó là lý do tại sao tao không ra tiếp khách.
- Tao không phiền gì mày đâu, nhưng tao thích gặp mày một mình.
- Thật quá bất ngờ đối với tao.
- Tao muốn biết chắc rằng mày được vui vẻ, Godfrey.
- Tao nhận ra mày ngay lúc mày tới ngó qua cửa sổ. Sau đó thì lòng tao không còn bình thản nữa.
- Ông già Ralph cho tao hay tin và tao không thể không tới nhìn mày. Tao hy vọng mày không thấy tao. Tao chạy hụt hơi khi nghe cửa sổ mở.
- Vì lý do nào?
- Ồ, câu chuyện ngắn gọn thôi – Godfrey vừa nói vừa đốt thuốc - Mày còn nhớ trận đánh vào một buổi sáng nọ ở Buffelsspruit, ngoại ô Pretoria, trên tuyến đường sắt phía Ðông? Mày biết tao bị thương chứ?
- Ðúng, tao có hay tin, nhưng không biết chi tiết khác.
- Ba đứa bọn tao bị lạc đơn vị. Simpson, mà bọn mình thường gọi là Baldy Simpson, Anderson và tao. Ðịa thế trắc trở. Bọn tao đi thám sát, bị lọt ổ phục kích của bọn Boer. Hai thằng kia tử thương. Tao bị bắn vào vai bằng viên đạn bắn voi. Tuy vậy tao bám cứng vào ngựa, nó phi khoảng vài dặm trước khi tao té xỉu lăn cù dưới chân ngựa.
Khi tao tỉnh lại thì đã tối rồi. Tao đứng lên, nhưng thấy quá mệt. May thay có một cái nhà gần đó: căn nhà khá lớn có hàng hiên và rất nhiều cửa sổ. Trời lạnh ghê gớm, cái lạnh kinh khủng, khác hẳn với cái lạnh khô ráo và lành mạnh ở Anh. Tao bước đi khập khiễng, lê lết, mơ mơ màng màng. Tao nhớ mang máng là đã leo lên một bực thềm, bước vào một căn phòng rộng mênh mông có nhiều giường, tao đã bò lên đó. Cái giường rêu rã nhưng tao bất cần. Tao kéo “ra” đắp cái thân đang run cầm cập.
Một lát sau, tao ngủ thiếp đi.
Khi tỉnh dậy thì trời đã sáng. Tao có cảm giác rằng thay vì lọt vào được một khu nhà an toàn thì tao lại sa vào cảnh ác mộng. Ánh nắng châu Phi ào ào tuôn xuống, xuyên qua các cửa sổ không màn che. Trước mắt tao có một thằng lùn, nhỏ xíu, cái đầu thật to, đang bập ba bập bẹ tiếng Hà Lan, hai tay múa may lung tung. Sau lưng hắn là một đám đông. Khi nhìn kỹ, tao thấy họ không có dáng vẻ của một người bình thường: tất cả đều cong queo, méo mó, sưng phù.
Không ai nói tiếng Anh. Cái thằng lùn đầu to đang giận dữ. Nó gào thét như con thú, nó thộp tao bằng hai tay mất hình dạng, toan vứt tao xuống đất, dù máu từ vết thương của tao chảy lai láng, nó cũng mặc kệ. Con quái vật tí teo này mạnh như bò mộng. Tao chưa biết phải đối xử ra sao thì một người có tuổi thốt ra vài câu dõng dạc bằng tiếng Hà Lan, và tên lùn bỏ đi. Ông già mới quay sang tao, kinh ngạc nhìn tao, hỏi:
“Anh đến đây bằng cách nào? Tôi thấy anh kiệt sức và cái vai bị thương này cần được chăm sóc. Tôi là bác sĩ, tôi sẽ băng lại cho anh. Nhưng anh hiện ở nhà thương của người cùi và anh mới vừa ngủ trên giường họ”.
Có lẽ mày đâu cần tao phải kể lể dông dài hơn nữa, phải không Jimmie? Ông bác sĩ này cố nói với tao rằng mặc dù cơ thể ông đã được miễn nhiễm, ông cũng không bao giờ dám làm như tao. Sau đó, ông cho dời tao qua một căn phòng đặc biệt và đối xử với tao rất tử tế. Tám ngày sau, tao được di tản qua tổng y viện Pretoria. Khi về đến nhà thì những triệu chứng bất thường xuất hiện; những gì mày thấy trên mặt tao....
Làm sao bây giờ? Tao ngụ tại căn nhà cô lập này. Gia đình có hai gia nhân có thể tin cậy hoàn toàn. Lại có một căn nhà nhỏ để tao sống. Ðể giữ bí mật tuyệt đối, y sĩ Kent bằng lòng ở chung với tao. Nếu lộ ra một tí xíu sẽ bị sang cái địa ngục khác. Cả tao, cả mày, Jimmie... cả mày cũng không biết được rằng, tại sao bố tao đã nhượng bộ này. Ðó là điều tao không bao giờ hiểu được.
Ðại tá chỉ tay vào tôi, nói:
- Ông này ép buộc ba.
Rồi ông ấy mở ra tờ giấy ghi chữ “cùi”
- Ba thấy hình như ông ấy đã biết quá nhiều nên tốt hơn hết là nói cho ông ấy rõ tất cả.
- Và giờ đây, tôi đã biết hết rồi. - Tôi nói - Rồi đây có thể có những điều tốt đẹp xảy đến. Tôi nghĩ rằng chỉ có ông Kent mới biết rõ bệnh nhân. Thưa ông, tôi xin phép hỏi ông, trong trường hợp này, bệnh của bạn tôi có gốc nhiệt đới hay bán nhiệt đới?
- Tôi chỉ có những hiểu biết thông thường của một y sĩ - Kent trả lời giọng lạnh nhạt.
- Thưa ông, tôi không hề nghi ngờ chuyên môn của ông. Chắc ông sẽ chấp nhận một ý kiến thứ hai đó là với trường hợp này, ông sợ người ta đưa bệnh nhân vào trại cùi?
- Ðúng thế! - Viên đại tá trả lời.
- Tôi đã dự đoán cái tình huống này. Tôi có dẫn theo một người bạn thân: với người này, quý vị có thể tin rằng bí mật của chúng ta vẫn được bảo vệ. Trước kia, tôi có giúp ông ấy một việc. Giờ đây đương nhiên ông ấy sẽ sẵn lòng cho chúng ta một ý kiến, đồng thời cũng là của một chuyên gia. Ðó là ngài James Saunders.
Mặt mày của ông Kent sáng rực vì ông mà được hầu chuyện với ngài James Saunders thì cũng giống như một binh nhì được nói chuyện với đại tướng.
- Tôi vô cùng hân hạnh – ông ấy đáp.
- Vậy thì tôi sẽ mời ngài James đến tận đây, ông hiện chờ ngoài xe. Trong khi chờ đợi, đề nghị đại tá đưa chúng tôi lên văn phòng của ông. Tại đây tôi sẽ giải thích.
Giờ đây, tôi quả thấy thiếu vắng Watson. Watson biến hóa tài nghệ giản dị của tôi khi tôi tự thuật, tôi không hưởng được cái ngón nghề này. Mặc kệ! Tôi sẽ tường thuật hầu quý độc giả cái tiến trình tư duy y hệt như khi tôi trình bày nó cho các thính giả của tôi. Sau đó tôi bước vào phòng của đại tá có cả bà mẹ Godfrey tham dự. Tôi nói:
- Cái tiến trình đó, khi quý vị đã loại trừ những gì không thể chấp nhận, thì cái còn lại sẽ là chân lý, dù nó có vẻ khó tin thật. Có nhiều giả thiết. Trong trường hợp này, ta lần lượt xét từng cái một, cho tới khi gặp cái nổi cộm. Ngay từ phút đầu, tôi đã có ba lời giải thích về sự cách ly chàng trai trong một căn nhà thuộc lãnh địa của tổ phụ.
Thứ nhất là y trốn vì một tội đại hình.
Thứ hai là vì y bị điên nên cần nhốt lại để khỏi bị đưa vào nhà thương điên.
Thứ ba là y bị bệnh truyền nhiễm nên cần phải cô lập.
Lời giải thích thứ nhất không thể đứng vững. Nếu người thanh niên này phạm tội đại hình, mà chưa bị phát hiện, thì gia đình sẽ phải tống y ra nước ngoài càng sớm càng tốt! Ai dại gì giấu y tại nhà? Bệnh điên thì dễ chấp nhận nhất. Sự hiện diện của một người thứ hai trong ngôi nhà nhỏ đó có thể được giải thích rằng: người thanh niên cần được canh chừng. Sự kiện người hộ vệ khóa cửa khi ra ngoài củng cố thêm cho giả thiết này; nhưng mặt khác anh chàng đã có thể đi ra khỏi căn nhà nhỏ, lần mò tới căn nhà chính để nhìn thoáng qua người bạn thân? Ông có nhớ không, ông Dodd, khi tôi hỏi loại báo mà ông Kent đã đọc. Có thể nó là tờ “Dao mổ” hoặc tờ “Nhật ký Y học Anh”, mà nhờ đó có thể giúp đỡ tôi rất nhiều.
Ngoài ra luật pháp đâu có cấm giam giữ người điên tại nhà nếu người này được chăm sóc đúng theo y tế và chính quyền được báo cáo đều đặn. Vậy thì làm sao giải thích cái quyết tâm giữ bí mật tuyệt đối? Lại một lần nữa lý thuyết bệnh điên không khớp với thực tế.
Vậy chỉ còn có giả thiết thứ 3. Trong giả thiết thứ ba này, tất cả các dữ kiện dị thường đều được giải thích thỏa đáng: Bệnh cùi không phải là hiếm hoi tại Nam Phi. Anh chàng bị lây. Gia đình không muốn đưa bệnh nhân vào trại cùi. Do đó phải giữ bí mật tuyệt đối để tránh sự đồn đại của quần chúng và sự can thiệp của nhà cầm quyền, một y sĩ tận tụy và được trả lương trọng hậu sẽ chấp nhận chăm sóc bệnh nhân. Do đó, đâu có lý do gì cấm cản bệnh nhân đi dạo khi màn đêm buông xuống. Da bị trắng là một hiệu quả thông thường của căn bệnh.
Thế là tôi quyết định hành động như thể giả thiết này đã được xác nhận và chứng minh từ trước. Khi tới đây, tôi để ý rằng ông lão Ralph mang bao tay có khử trùng, thì các ngờ vực chót của tôi tiêu tan hẳn. Thưa đại tá, chỉ một từ mà thôi, cũng đủ cho đại tá thấy rằng bí mật của đại tá đã bị lộ. Còn việc tôi viết, thay vì nói, là nhằm bảo dám với đại tá sự kín miệng của chúng tôi.
Tôi đang hoàn tất bài phân tích ngắn này thì cửa mở và khuôn mặt khắc khổ của nhà khoa học tài danh về ngành da liễu xuất hiện. Lần đầu tiên ông cởi bỏ bộ mặt lạnh lùng. Cái nhìn của ông rực sáng tình người. Ông đi về hướng đại tá, bắt tay ông ấy.
- Nghề này của tôi thường là báo tin buồn, - ông nói - Nhưng lần này, thì ngược lại. Con trai của đại tá không mắc bệnh cùi.
- Sao?
- Ðó là một trường hợp cổ điển của một bệnh gần giống như bệnh cùi, hay bệnh vảy nến, một bệnh ngoài da. Da tróc vảy, khó coi. Bệnh dai dẳng, tuy nhiên có thể chữa được và chắc chắn không lây. Ðúng thế, thưa ông Holmes, thật là một sự trùng hợp dị thường! Tôi không bao giờ hy sinh tiếng tăm của tôi để tuyên bố mà là vì trách nhiệm... Nhưng bà cụ xỉu kìa? Ðề nghị ông Kent lo cho bà sớm tỉnh lại sau cú sốc vì tin mừng này.
📎 Nguoi linh.. vay nen
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-06-24 08:32:03Thái Nhi>
VỤ ÁN Ở LÂU ĐÀI CỔ VÙNG SHOSCOMBE
Lữ_khách hiệu đính


Holmes nhìn đồng hồ có vẻ sốt ruột:
- Một thân chủ mới sẽ đến? Ông ta trễ hẹn rồi. Này, anh Watson, anh có rành về đua ngựa không?
- Có biết qua!
- Vậy anh sẽ làm trợ lý cho tôi về ngành này. Anh có biết ngài Robert Norberton không?
- Có ông ta cư ngụ tại lâu đài cổ Shoscombe. Tôi khá rành nơi đó vì có lên chơi ngựa vào mùa hè. Suýt chút nữa thì ngài Norberton đã làm anh bận tâm.
- Sao?
- Một hôm nọ, ông ta dùng roi da nện tới tấp vào một gã cho vay ăn lời cắt cổ. Suýt chút nữa có án mạng rồi.
- Hay quá! Ông ấy thường lên cơn điên lắm sao?
- Dù sao ông ấy cũng có tai tiếng là người nguy hiểm. Tay cưỡi ngựa liều lĩnh nhất nước mà! Cách đây mấy năm, ông ta về nhì trong giải toàn quốc! Theo lời đồn đại hiện nay ông ta sa sút lắm.
- Một phác họa tuyệt hảo. Tôi hình dung ra ông ta rồi. Giờ đây xin cho tôi biết lâu đài Shoscombe.
- Có gì lạ đâu! Nó nằm trong công viên Shoscombe, ở đó có một cái chuồng ngựa nổi tiếng và là khu trung tâm huấn luyện ngựa thôi.
- Huấn luyện viên trưởng - Holmes tiếp - Tên là John Mason. Không phải tôi có thần thông gì đâu mà anh nhìn tôi lạ lùng thế, Watson? Lá thư của hắn đây này. Anh cho tôi biết thêm chi tiết về Shoscombe?
- Ở đó có giống chó spaniel - Tôi nói tiếp - Loại chó thuần chủng Anh quốc mà kỳ triển lãm chó nào cũng có mặt nó. Ðó là niềm kiêu hãnh của bà chủ lâu đài Shoscombe.
- Bà ấy là vợ của ngài Robert Norberton?
- Ông này có kết hôn bao giờ đâu. Ông ta sống tại nhà chị ruột. Một quả phụ, mệnh phụ Beatrice Falder.
- Ai ở nhà ai?
- Chủ bất động sản ấy là chồng bà ta, ngài James Falder. Còn Norberton này không có dính dấp gì đến gia tài cả. Người chị chỉ được quyền hưởng huê lợi. Về sau thì lãnh địa về tay em trai của chồng bà.
- Em trai của bà ta, ngài Robert này, xài đã tay.
- Gần như thế. Tay đó sinh ra là để phá bà ta. Nhưng hình như bà ấy thương em lắm. Chuyện gì đã xảy ra trong lâu đài thế?
- Ðó thính là điều tôi cần biết. Nhưng, người biết điều đó sắp vào kìa!
Cửa mở và chú tiểu đồng đưa vào một người cao ráo, râu cạo nhẵn, vẻ mặt cương nghị, khắc khổ. Ðó là ông John Mason. Ông ta lạnh lùng nghiêng mình cúi chào trước khi ngồi vào ghế do Holmes mời.
- Ông có nhận được thư của tôi, ông Holmes?
- Có, nhưng thư đâu có giải thích gì?
- Chuyện quá tế nhị, lại rắc rối nữa. Chỉ có thể trình bày bằng miệng thôi.
- Vậy thì chúng tôi sẵn sàng lắng nghe.
- Ðiểm thứ nhất, thưa ông Holmes: có lẽ ông chủ tôi, ngài Robert đã điên rồi.
- Vì sao vậy?
- Thưa ông, một người làm việc dị kỳ một đôi lần thì còn khoan dung được, nhưng nếu họ luôn luôn làm chuyện quái dị thì ai cũng phải thắc mắc thôi. Tôi nghĩ rằng con “Hoàng tử” của Shoscombe và trường đua đã làm cho ông ta điên rồi.
- Ông huấn luyện một con ngựa con chứ?
- Tôi huấn luyện con ngựa số một tại Anh quốc. Ngài Robert muốn thắng cuộc đua này. Ông ta đổ hết tiền vào nó. Ðó là cơ may cuối cùng của ông ta.
- Có sao đâu?
- Quần chúng đâu có biết là con ngựa đó tốt. Ngài Robert quỷ quyệt hơn bọn gián điệp. Ông chỉ phô trương con ngựa cùng mẹ khác cha của con “Hoàng tử”. Thật ra thì con “Hoàng tử” chạy mau hơn! Ông ta đã đem đặt cả lâu đài Shoscombe vào đó. Hiện giờ thì ông ta lọt vào nanh vuốt bọn cho vay Do Thái, cho nên nếu con “Hoàng tử” thất bại thì tàn đời ông ấy.
- Trò chơi ngu dại, nhưng có gì là điên đâu?
- À, đêm ông ta không ngủ, chỉ thăm chuồng ngựa. Ðôi mắt trở nên hung tợn, dễ nổi giận vì những chuyện lặt vặt và nhất là cách đối xử với mệnh phụ Beatrice.
- Ủa, đối xử thế nào?
- Hai chị em là đôi bạn thân nhất. Họ có cùng sở thích. Bà ấy cũng thích ngựa. Ngày nào cũng vậy, bà ấy đi xe ra thăm ngựa và bà đặc biệt thích con “Hoàng tử”. Con ngựa vểnh tai khi nghe bánh xe ngựa sột soạt trên đường sỏi và chạy ra xe để được thưởng một miếng đường. Nhưng, giờ đây, tất cả những chuyện này không còn nữa.
- Tại sao vậy?
- Bà ấy lơ là hẳn đối với con ngựa. Trọn một tuần nay, khi chạy ngang qua chuồng ngựa, bà ấy chả thèm ghé lại.
- Chị em họ cãi lộn với nhau à?
- Nếu cãi lộn thì chắc chắn phải dữ dội lắm. Nếu không thì tại sao ông ta tống khứ con chó spaniel ra khỏi nhà. Cách đây mấy ngày, ông ta dẫn chó đến cho lão Barnes, chủ quán ăn “Rồng Xanh” cách Shoscombe 3 dặm, tận Crendall.
- Ðó quả là chuyện quái dị!
- Vì bị đau tim và đau bao tử, nên bà ấy không thể tiếp tục đi dạo với ông ta mỗi đêm. Tuy vậy, mỗi đêm ngài vẫn đến đó chuyện vãn đến hai tiếng đồng hồ. Nhưng những chuyện đẹp đẽ ấy nay không còn nữa. Bà ấy buồn, nhăn nhó và đâm ra nghiện ngập. Bà ấy uống rượu, ông Holmes à. Uống như hũ chìm[1].
- Trước kia không có uống à!
- Thỉnh thoảng, cũng có uống. Nhưng bây giờ thì mỗi đêm phải cả chai. Stephens, gia nhân, cũng xác nhận như vậy. Tất cả đều đã thay đổi. Chắc chắn đã có một điều gì trầm trọng vô cùng. À, còn chuyện này mới lạ chứ! Mỗi đêm ngài Robert đều xuống hầm nhà mồ ở sau vườn. Ông ta xuống đó để gặp ai vậy?
Holmes xoa tay.
- Ông cứ nói tiếp, thưa ông Mason! Mỗi lúc ông làm chúng tôi say mê hơn.
- Ông Stephens thấy rõ ông ta đã đi xuống đó, ngay lúc nửa đêm, giữa cơn mưa tầm tã. Qua đêm sau, tôi thức chờ, ông chủ lại xuống. Chúng tôi rón rén theo sau. Ông ta tới cái nhà mồ có ma về đó, và lạ thay, một người đàn ông đang đợi ông ấy tại đó!
- Con ma về đó à?
- Ðúng vậy, thưa ông. Một nhà mồ cổ lỗ bỏ hoang ngoài vườn hoa, không ai biết xây dựng vào năm nào. Bên dưới có một cái hầm có nhiều tiếng đồn trong vùng. Ban ngày thì tối im, ẩm thấp. Ðêm đến, đương nhiên thuê bạc triệu cũng không ai dám xuống. Riêng người chủ thì khác. Suốt cả đời, ông không sợ gì cả. Nhưng vào nửa đêm, có cái gì ở dưới đó?
- Này ông nói dưới đó có một người thứ hai. Chắc chắn đó là thằng giữ ngựa hay gia nhân. Sao ông không nhận dạng hay gạn hỏi.
- Tôi không quen với người đó!
- Làm sao ông biết được?
- Tôi thấy rõ y vào đêm thứ hai. Ðêm đó trời sáng trăng, ngài Robert đi ngang qua bụi cây nơi tôi và Stephens núp, khiến chúng tôi run như cầy sấy. Người thứ hai đi theo sau ông. Khi ông chủ đi xa, chúng tôi chui ra, làm ra vẻ dạo chơi dưới trăng, tình cờ gặp y. Tôi kêu y: “Nè! Ai đó?”. Y quay ra sau, mặt tái mét, nhìn chúng tôi rồi thét lên và ù té chạy. Tôi không quen y. Y đến đó làm gì, chúng tôi cũng không biết.
- Ông thấy rõ vì trời có trăng?
- Ðúng vậy. Mặt y vàng như nghệ. Hắn ta như có cái gì đó rất hợp với ông chủ.
Holmes lặng thinh suy tư.
- Ai hầu hạ phu nhân Beatrice Falder? - Holmes hỏi.
- Nữ bồi phòng của bà là Carrie Evans, thâm niên khoảng 5 năm rồi.
- Cô ấy tận tình với bà chủ chứ?
Ông John Mason có vẻ lúng túng, hơi ngượng ngập.
- Cô ấy khá tận tình! Nhưng tôi sẽ không nói rõ là tận tình với ai.
- Ông muốn nói gì vậy?
- Tôi không muốn ngồi lê đôi mách.
- Vậy là tôi hiểu hết rồi. Theo bức chân dung mà bác sĩ Watson mô tả về ngài Robert thì không một người đàn bà nào được an toàn nếu ở gần ông ta. Ông có cho rằng sự bất hòa giữa hai chị em họ bắt nguồn từ điểm này không.
- Mọi người đều sầm xì về điều này!
- Có thể là không hay biết. Nhưng đột nhiên bà ấy bắt gặp và tìm cách đuổi cô bé. Em trai bà không chịu. Vì là người tàn tật, bà ấy không có phương cách nào để thực hiện nên cô hầu phòng bị ghét bỏ vẫn tiếp tục phục vụ. Mệnh phụ tịnh khẩu, làm nư, uống rượu. Vì bà ấy nhăn nhó, ngài Robert bắt lại con chó. Ráp vậy có lớp lang chưa?
- Cũng có thể, nhưng chỉ đến đó thôi!
- Làm sao giải thích được việc ở nhà mồ?
- Không, thưa ông. Lại còn thêm một chuyện lạ nữa là tại sao ngài Robert lại đào một xác chết?
Holmes giật mình.
- Chúng tôi mới biết hôm qua, sau khi đã gửi thư cho ông. Hôm qua, ông chủ đi London, tôi và Stephens chui xuống hầm mộ. Tất cả đều bình thường, ngoại trừ trong một góc hầm có vết tích của xác người.
- Ông đã báo cho cảnh sát rồi chứ?
Thân chủ của chúng tôi cười:
- Thôi ông ơi, tôi nghĩ là cảnh sát sẽ không thụ lý điều chúng tôi phát hiện đâu! Ðó là một cái sọ và vài cái xương của một xác ướp có thể xưa ngàn năm. Có điều lạ là các tàn tích này trước đây không hề có tại đó. Chúng tôi khẳng định như thế. Chúng được xếp vào một góc, giấu dưới một tấm ván.
- Các ông làm gì nữa?
- Ðể chúng y tại chỗ.
- Tuyệt hay! Ông nói là ngài Robert đi vắng hôm qua. Hôm nay về chưa?
- Chúng tôi đoán ông ta sẽ về hôm nay.
- Ông ta tống khứ con chó lúc nào vậy?
- Ðúng một tuần. Con chó sủa và tru rợn người khi tới gần nhà mồ xưa cổ ấy. Sáng hôm ấy, ông chủ gần như phát điên. Ông thộp cổ nó, tưởng đâu sẽ đập đầu nó. Nhưng ông bảo một anh nài đem tặng nó cho lão chủ quán Rồng Xanh.
- Tôi không hiểu ông muốn chúng tôi giúp gì trong vụ này, ông Mason. Ông nên nói rõ hơn.
- Việc này có thể làm cho nội vụ rõ hơn chăng.
Thân chủ của chúng tôi nói. Và ông ta rút trong túi ra một gói nhật trình, cẩn thận giở ra và đưa cho Holmes một khúc xương đã cháy thành than.
Bạn tôi chăm chú khám nghiệm.
- Ông nhặt nó ở đâu vậy?
- Dưới hầm lửa, bên dưới phòng của phu nhân Beatrice, nơi đặt nồi nước của hệ thống sưởi ấm. Ðã từ lâu không dùng nữa, nhưng gần đây ngài Robert than thở rằng trời lạnh, nên phải đun lại. Chính Harvey, một thuộc viên của tôi, phụ trách việc này. Sáng nay, y mang cái xương này tới tôi. Y bắt gặp khi cào tro bếp. Y rối trí về vụ này.
- Tôi cũng vậy - Holmes nói. - Ý kiến của anh ra sao, Watson! Nó cháy thành than nhưng còn hình thù xương người.
- Khúc trên của xương ống chân? - Tôi khẳng định.
- Ðúng thế!
Holmes la lên rồi im lặng nghiêm nghị:
- Chú bé phụ trách bếp nước này làm việc giờ nào?
- Chỉ mỗi tối thì đến đổ nước vào!
- Thế thì, ban đêm bất cứ ai cũng có thể đến đó?
- Vâng ạ!
- Từ ngoài vào đó được chứ!
- Có cửa để ra ngoài. Một cửa khác để lên cầu thang theo hành lang đến phòng phu nhân Beatrice.
- Chúng ta đang ở vùng nước sâu thẳm, ông Mason. Thật sâu thăm thẳm! Ông nói rằng đêm qua ngài Norberton vắng nhà?
- Vâng, thưa ông.
- Như vậy thì chắc chắn ông ta không đốt xương?
- Ðúng vậy, thưa ông.
- Cái quán ông nói tên là gì nhỉ?
- Rồng Xanh!
- Ở vùng Berkeshire đó, câu cá được nhiều không?
Khuôn mặt của người huấn luyện viên hiền hậu lại lộ vẻ kinh ngạc, hơi ngớ ngẩn, nhưng ông ta cũng trả lời.
- Tôi nghe có cá hương dưới sông, khúc gần cối xay gió và có cá chép trong hồ của lâu đài.
- Chúng tôi chỉ cần biết bấy nhiêu thôi. Chúng ta đâu phải thợ câu nhà nghề, phải không Watson? Ông có thể đến gặp chúng tôi tại quán Rồng Xanh. Tối nay, chúng tôi sẽ đến đó. Chúng tôi không đòi hỏi ông phải ra đó. Nhưng ông có cần nhắn tin hoặc chúng tôi cần gặp ông phải biết tìm ông ở đâu. Sau khi đào sâu thêm một chút, chúng tôi sẽ đưa ra ý kiến có cơ sở.
Chúng tôi đi xe điện hạng nhất xuống Shoscombe vào một đêm trăng. Cái kệ trên đầu toa nhét đủ thứ đồ câu. Xuống xe, một xe ngựa nhanh chóng đưa chúng tôi đến một quán trọ kiểu xưa. Barnes, người chủ quán khoái thể thao huyên thiên nói về câu cá trong vùng, xem chúng tôi là người điệu nghệ?
- Ông nghĩ gì về cá chép trong hồ lâu đài? - Holmes hỏi.
Mặt ông chủ quán đang tươi bỗng sa sầm.
- Ðề nghị ông đừng nghĩ tới hướng đó. Ông có thể bị trấn nước trước khi được một con cá.
- Gì mà dữ dằn vậy?
- Ngài Robert rất ghét bọn gián điệp. Nếu hai ông đều không phải là dân địa phương mà đến gần chuồng ngựa, đích thân ông sẽ nghênh đón. Ông ấy chẳng ngại làm chuyện liều đâu. Ðừng chọc ông ấy!
- Người ta đồn rằng ông ta có một con ngựa đăng ký vào cuộc tranh giải kỳ này?
- Ðúng thế, một con ngựa tuyệt hảo. Chúng tôi đều nhắm vào nó, dốc hết túi như ngài Robert. Xin phép được...
Ông ấy nhìn chúng tôi, dáng nghi ngại.
- Hai ông cũng là dân đua ngựa?
- Không đâu. Chúng tôi là người London mệt nhọc đi đổi gió tại Berkeshire này thôi.
- Như vậy là hai ông lựa chọn đúng. Nhưng phải nhớ lời khuyến cáo của tôi về ngài Robert. Ông ta thuộc loại người làm trước, giải thích sau.
- Ðương nhiên, thưa ông chủ. Này con chó đẹp đang nằm rầu rĩ ngoài cửa là của ai vậy?
- Ông nhận xét thật là đúng. Thuần chủng Shoscombe đó. Ðộc nhất vô nhị trong toàn nước Anh này.
- Tôi giống ông. Tôi rất thích chó. - Holmes nói - Xin tha thứ cho sự tò mò của tôi! Một con chó giống như vậy giá bao nhiêu?
- Vô giá vượt hẳn khả năng của tôi. Chính ngài Robert biếu tôi đó. Vì vậy, tôi phải cột nó kỹ, nếu không chỉ trong nhấp nháy nó quay về lâu đài ngay.
Sau khi ông chủ quán rời chúng tôi, Holmes nói với tôi :
- Trong tay chúng ta chỉ có vài lá bài, Watson à. Ván bài này không phải dễ chơi đâu. Nhưng trong một hai ngày, chúng ta có thể tìm ra đầu mối. Tôi tin rằng ngài Robert vẫn còn ở London. Tôi đề nghị tối nay chúng ta chui vào vùng cấm địa. Có vài chi tiết tôi muốn rà soát lại.
- Anh có giả thiết rồi à?
- Sơ sơ như vầy, Watson à. Một chuyện đã xảy ra cách đây khoảng 8 ngày, làm xáo trộn sinh hoạt tại lâu đài Shoscombe. Chuyện gì à? Này, hãy xét lại người em chấm dứt việc thăm viếng người chị tật nguyền. Ông ấy tống khứ con chó mà bà chị cưng. Con chó thuộc quyền sở hữu của bà ấy, Watson! Anh có thấy gì lạ không?
- Thù vặt thôi?
- Có thể. Hoặc là... ờ... tôi lại thấy... Ta hãy nghiên cứu lại tình hình. Từ lúc cãi lộn cứ tạm cho là có đi, phu nhân đổi thói quen, ở mãi trong phòng, có ra đi thì không ghé thăm chuồng ngựa nữa, rõ ràng nhất là đâm ra uống rượu. Nào, khớp nhau trăm phần trăm chưa.
- Còn chuyện ở nhà mồ.
- Chuyện đó lại phải theo một lý luận khác. Có tới hai con đường đừng lẫn lộn nhé. Một đường liên quan đến mệnh phụ lơ mơ một cách ảm đạm, anh không thấy sao?
- Tôi chịu bí thôi.
- Bây giờ, qua con đường kia, liên quan đến ngài Robert nhiều hơn ông ta mê mệt về cuộc đua ngựa sắp tới, và đã lọt vào nanh vuốt của bọn Do Thái cho vay nặng lãi. Nơm nớp lo sợ trắng tay với cái lãnh địa phát mãi, ngựa tịch biên. Lại thuộc dòng máu liều, rút rỉa người chị với cô bồi phòng là công cụ ngoan ngoãn. Ðó, nãy giờ, chúng ta lần mò trên con đường chắc nịch chứ gì?
- Vẫn chưa rõ chuyện ở nhà mồ?
- À còn cái nhà mồ dưới đất. Giả thiết rằng... đó là giả thiết động trời rằng... Ngài Robert thanh toán chị ruột mình?
- Chuyện gì động trời vậy?
- Ðành rằng, ngài thuộc thế gia vọng tộc. Nhưng trong một đàn cừu, biết đâu lại chẳng có một con chiên ghẻ. Ta cứ tạm chấp nhận giả thiết này đi. Ông ta chỉ có thể gây lại tài sản nếu thắng cuộc đua sắp tới. Muốn thế phải bỏ tiền để xoay xở. Gọn nhất là thanh toán cái xác của bà chị trám vào đó bằng một người khác. Việc này thỏa hiệp với người bồi phòng nữ đâu phải là chuyện khó. Xác bà chị được đưa xuống nhà mồ, nơi ít ai lui tới. Ðêm đến, lén lút thiêu ở bếp nấu nướng sưởi. Ðó là nhưng điều mà chúng ta suy diễn được? Anh có ý kiến gì, Watson?
- Một khi mà anh chọn giả thiết kinh khiếp như vậy thì chuyện gì lại không được?
- Tôi định làm một thí nghiệm nhỏ vào ngày mai, Watson à. Trong tạm thời, ta chỉ thu gọn vào mấy nhân vật đó thôi nơi này, ta nhậu với chủ quán, nói về cá này cá nọ là trúng đài của ông ta liền. Biết đâu nhờ tán gẫu mà ta biết thêm chuyện hữu ích.
Sáng hôm sau, Holmes phát hiện chúng tôi quên mang theo lưỡi câu nhỏ, nên ngày đó nghỉ câu. Khoảng một hai giờ, chúng tôi đi dạo một vòng và anh xin được chủ quán cho dẫn theo con chó tinh khôn.
- Ðây là vùng tử địa - Holmes nói.
Khi chúng tôi tới trước cái cổng hai lớp song sắt có gắn huy hiệu của một dòng họ quý tộc.
- Ông Barnes có cho biết, khoảng 12 giờ, phu nhân sẽ dùng ngựa đi dạo, và khi tới cổng, xe phải chạy chậm để chờ mở cổng. Anh Watson, khi xe đến và lúc nó chạy chậm, anh hãy kiếm chuyện gì nói với xà ích. Phần tôi, ở đằng sau bụi cây và quan sát.
Chúng tôi khỏi phải chờ lâu. Một chút sau, một chiếc xe ngựa đồ sộ, màu vàng, không mui từ lâu đài chạy xuống. Hai con ngựa xám đẹp lộng lẫy, nhịp bước. Holmes ngồi trong bụi với con chó. Tôi đi phất phơ trên lộ. Người gác cổng chạy ra. Xe chạy chậm lại, ngựa đi từng bước. Nhờ đó tôi có thể quan sát kỹ người trên xe. Một thiếu phụ trẻ, thân hình đều đặn, tóc vàng, ngồi bên trái. Bên phải là một bà lão, khăn choàng che khuất mặt và tai. Chắc chắn là một bà lão tật nguyền. Khi xe ra đường cái tôi ra hiệu lệnh. Xà ích ngừng xe lại. Tôi hỏi thăm ngài Robert.
Cùng lúc đó, Holmes rời nơi ẩn nấp, thả con chó trung thành ra. Con vật vui mừng, sủa vang, leo lên xe. Trong nháy mắt, nguồn vui cuống cuồng của nó biến thành sự thịnh nộ đằng đằng sát khí, nó muốn xé tà áo bà lão.
- Cho chạy, cho chạy. - Một giọng cứng cỏi ra lệnh.
Ngựa ăn roi, chiếc xe phóng đi nhanh. Hai chúng tôi còn lại trên lộ.
- Thấy chưa Watson, kế sách của ta tốt đẹp. - Holmes nói lớn và cột con chó lại. - Nó lầm tưởng là chủ nó, nhưng nó phát hiện người nào khác. Chó chưa khi nào lầm.
- Tiếng ra lệnh cho xe chạy là tiếng đàn ông - Tôi nói lớn.
- Ðúng thế. Ta có thêm một lá bài mạnh trong tay. Nhưng còn phải đổ mồ hôi nữa.
Sau đó, hình như không có chương trình gì nữa, chúng tôi xách đồ câu ra bờ sông gần cối xay gió, và bữa cơm tối chúng tôi có thêm da cá hương tươi. Cơm xong, chúng tôi đi dạo trên đường hồi sáng, đến ngay cổng sắt của lâu đài. Một dáng vóc cao ráo chờ đợi chúng tôi. Chúng tôi nhận ra thân chủ John Mason.
- Kính chào quý ông - ông ấy nói - Tôi có nhận được thư ông. Ngài Robert chưa về. Nhưng chúng tôi chuẩn bị đón ông ta đêm nay.
- Nhà mồ cách lâu đài bao xa vậy? - Holmes hỏi.
- Khoảng một phần tư dặm.
- Vậy thì khỏi lo ông ta bắt gặp. Ta cùng tới đó.
- Tôi không thể nán lại lâu đâu. Bởi khi về, ông ta gặp tôi ngay để hỏi thăm “Hoàng tử”.
- Tôi hiểu. Chúng tôi sẽ tự xoay xở, ông Mason à. Ông chỉ cái nhà mồ rồi mặc chúng tôi.
Trời tối như mực. Mason dẫn chúng tôi băng qua cái đồng cỏ tới khi gặp một khối đen lù mù. Ðó là một nhà mồ rêu phong, ăn sâu xuống đất. Chúng tôi chui qua một cái lỗ toang hoác, trước kia là cái cổng tới một cầu thang thẳng đứng đưa xuống hầm.
Ông ta đánh một que diêm. Cảnh vật được chiếu sáng lờ mờ một cách thê lương, ảm đạm. Tường sắp sập được kê thêm bằng những cục đá thô thiển. Những cái hòm bằng đá được xếp về một phía lên tận nóc. Holmes đã thắp chiếc đèn lồng, ánh sáng màu vàng của chiếc đèn tỏa ra trên cảnh tượng tang tóc, phản chiếu cái bảng đồng gắn trên các hòm. Bảng nào cũng đều ghi huy hiệu của dòng họ, dù ở vào cõi chết cũng vẫn còn kiểu cách.
- Ông Mason, ông có nói về đống xương, vui lòng chỉ cho chúng tôi.
- Ở góc này đây...
Người huấn luyện ngựa bước tới rồi đứng lại như trời trồng khi ngọn đèn lồng chiếu sáng góc phòng.
- Biến đâu mất rồi?
- Tôi đã đoán trước. - Holmes vừa nói, vừa cười - Ta vẫn có thể tìm ra tro ở bếp nấu nước sưởi.
- Ðiên sao. Ai lại thiêu xương của một xác chết ngàn năm? - John Mason thắc mắc.
- Ðó là lý do chúng ta xuống đây. - Holmes trả lời - Vì sự nghiên cứu của chúng tôi có thể kéo dài, tôi không cần giữ ông lại. Nhưng chúng tôi chắc rằng chúng ta sẽ có giải đáp trước sáng mai.
Khi John Mason đi rồi, Holmes bắt đầu làm việc. Trước tiên anh ấy khám nghiệm rất kỹ các hòm, từ chiếc hòm xưa nhất đến các hòm gần đây nhất. Một giờ sau, anh đến bên chiếc hòm bằng chì ngay cửa vào hầm.
Tôi nghe một tiếng la nhỏ, biểu hiện sự đắc chí của anh. Với kính lúp, anh khám kỹ cái mép của nắp hòm nặng nề. Anh rút trong túi một cái xà-beng nhỏ và nạy nó lên. Nắp hòm vừa được giở lên với tiếng động mạnh, một phần bên trong hòm vừa để lộ thì có sự gián đoạn đột ngột. Tiếng chân bước nhanh và nện mạnh xuống nhà mồ. Một luồng ánh sáng xuống dần cầu thang. Ði trước là một người đàn ông đồ sộ. Người này xuống đứng trước cửa ra vào, thái độ hung tợn. Ánh đèn lồng giơ lên, chiếu sáng khuôn mặt nghiêm nghị, râu ngạnh trê. Ông ta nhìn quanh căn nhà mồ trước khi dừng mắt nhìn chúng tôi một cách ngạc nhiên. ông hét to:
- Mấy người là ai? Vào nhà tôi làm gì?
Holmes không trả lời, ông ta tiến xuống hai bậc cấp, giơ cao cây gậy cầm nơi tay, la lớn:
- Có nghe tôi hỏi không? Các người là ai? Vào đây làm gì?
Rồi ông quơ gậy. Thay vì rút lui để né tránh, Holmes tiến tới trước mặt ông ta:
- Tôi cũng có một câu để hỏi ông, thưa ngài Robert. - Holmes nói với giọng quả quyết - Ai đây? Sao bà ấy lại xuống đây?
Holmes quay lại, lật hết cái nắp hòm sau lưng. Nhờ ánh đèn, tôi thấy một xác chết gói gọn trong tấm vải trắng. Nhà quý tộc bước lui một cách khập khiễng, dựa mình vào chiếc hòm đá.
- Làm sao mấy ông biết được?
Tiếp đó, cái bản chất hung tàn nổi dậy, ông nói tiếp:
- Can dự gì đến mấy ông?
- Tôi là Sherlock Holmes. Cái tên này có lẽ ông đã nghe rồi. Dù gì đi nữa thì nhiệm vụ của tôi cũng như của mọi người công dân tốt, là buột người khác tuân thủ pháp luật. Theo tôi, ông có nhiều điều phải trả lời trước luật pháp.
Ngài Robert nhìn Holmes một cách giận dữ, nhưng trước thái độ bình tĩnh của bạn tôi nên sau cùng nhà quý tộc dịu giọng:
- Tôi xin thề trước Chúa, thưa ông Holmes, tôi không vi phạm pháp luật. - ông ta nói - Thoạt nhìn thì là do tôi, tôi nhìn nhận là đúng. Nhưng tôi không thể làm khác hơn.
- Tôi hân hạnh đồng ý với ông. Nhưng theo thiển ý thì các biện bạch của ông nên trình bày với cảnh sát.
Ngài Robert vươn vai.
- Vâng. Nếu bắt buộc thì ra cảnh sát vậy. Nhưng kính mời quý ông quá bộ vào nhà và tùy nghi phán xét.
Mười lăm phút sau, chúng tôi có mặt đông đủ ở phòng trưng bày khí giới của lâu đài cổ kính. Ngài Robert tạm vắng mặt một chốc. Rồi, ông quay trở lại với hai người đi theo. Người thứ nhất, là thiếu phụ trẻ trên chiếc xe ngựa. Còn người kia là một kẻ lùn tịt, mặt chuột có vẻ lấm lét. Cả hai đều ngạc nhiên vì rõ ràng là nhà quý tộc không có thời gian để giải thích với họ.
Ngài Robert giới thiệu với chúng tôi:
- Ðây là ông bà Norlett. Bà Norlett nhũ danh là Carrie Evans, là nữ bồi phòng tin cậy của chị tôi trong những năm qua. Tôi đưa họ tới đãy vì họ là hai người hiếm hoi có thể xác nhận những điều tôi nói.
- Có cần thiết lắm không, thưa ngài Robert. Ngài có biết rằng ngài đang làm gì không. - Người đàn bà hỏi lớn.
- Về phần tôi, tới phủ nhận mọi trách nhiệm - Người chồng nói.
Ngài Robert nhìn y một cách miệt thị.
- Tôi nhìn nhận mọi trách nhiệm - ông ta nói - Giờ đây, thưa ông Holmes, hãy nghe lời khai của tôi. Một lời khai rất thành thật. Các ông đã biết khá rõ về công việc làm ăn của tôi. Quý ông đã biết rằng tôi tin tưởng vào cuộc đua quốc gia này. Nếu tôi thắng, thì mọi sự êm ả. Nếu tôi thua... tôi cũng chả dám nghĩ đến.
- Tôi hiểu hoàn cảnh của ông!
- Tôi tùy thuộc vào chị tôi. Nhưng chị tôi chỉ được hưởng hoa lợi trên lãnh địa này nếu còn sống. Về phần tôi, tôi đã lọt vào nanh vuốt của bọn Do Thái. Tôi biết rằng ngày nào chị tôi chết, bọn chủ nợ sẽ đổ xô đến như đàn kền kền để xiết đồ đạc. Tất cả sẽ đi tong: chuồng ngựa, ngựa và tất cả. Vậy mà, chị tôi chết cách nay 8 ngày.
- Ông không thông báo cho ai cả?
- Thông báo sao được. Sẽ tiêu tan cả. Ngược lại, nếu tôi giấu nhẹm, tôi có cơ may thoát nạn. Chồng của cô bồi phòng, người này đây sẽ giả làm chị tôi trong thời gian ngắn này. Ðiều cốt yếu là mỗi ngày tái diễn cái màn bà ấy vẫn đi xe ngựa. Bởi vì ngoài chị bồi phòng, có ai vào phòng bà ấy mà biết sự thực. Bà ấy già cỗi, tàn rụi dần, ai cũng biết thế.
- Chỉ có pháp y mới kết luận được.
- Y sĩ riêng của bà ấy sẵn lòng xác nhận.
- Tạm nhận như vậy đi. Rồi ông đã làm gì?
- Ðương nhiên là xác chết đâu có thể để sình tại nhà. Ngay đêm đầu, ông Norlett và tôi cùng khiêng ra bỏ ở cái nhà dù cũ kỹ luôn đóng kín cửa, không ai ra vào.
Khốn nỗi, con chó tinh khôn cứ bám sát chúng tôi, đứng trước cửa sủa hoài. Tôi phải tống con chó đi và khiêng xác xuống hầm nhà mồ. Tôi xin bảo đảm với ông Holmes rằng tôi chưa hề thất lễ, thất kính với chị tôi. Tôi cảm thấy an tâm trước linh hồn người chết.
- Lối xử sự của ông không thể tha thứ được.
Nhà quý tộc lắc đầu một cách bực dọc.
- Làm lễ cầu hồn là dễ thôi. Nếu ông ở hoàn cảnh tôi có lẽ ông sẽ nghĩ khác. Tôi không thể khoanh tay nhìn tất cả hy vọng và dự án của tôi sụp đổ. Tôi vững tin rằng chị tôi sẽ được an nghỉ đàng hoàng nếu xác được đặt trong cái hòm của tổ tiên. Chúng tôi khui một cái hòm cũ, lấy xương cốt cũ ra, đặt xác chị tôi vào đó. Norlett và tôi đem xương cốt của tổ tiên về lâu đài, đem thiêu dưới bếp nước. Ðó là câu chuyện của tôi.
Holmes lặng thinh một hồi.
- Trong lời tường thuật của ông, có một điểm còn lù mù. Cái đánh cuộc của ông hay cái hy vọng của ông về tương lai vẫn còn nguyên vẹn, cho dù các chủ nợ có đến tịch biên tài sản?
- Con người cũng sẽ bị tịch biên. Cái đánh cuộc của tôi có nghĩa lý gì đối với họ? Tôi tin chắc chắn là họ không đem con Hoàng tử ra dự cuộc đua. Người chủ nợ chính của tôi lại là kẻ thù tệ hại, một thằng ăn cướp táng tận lương tâm mà tôi đã quất roi da vào mặt nó. Ông phải đồng ý với tôi rằng nó thù tôi đến chết.
- Thôi được, ngài Robert. - Holmes vừa đứng dậy, vừa nói - Ðương nhiên, nội vụ phải được trình báo cho cảnh sát. Tôi phải cho cảnh sát hiểu rõ vấn đề. Tôi đã làm rồi. Còn lối xử sự cá nhân của ông có hợp với đạo lý hay không, tôi không có quyền phán đoán. Watson à, đã nửa đêm rồi, chúng ta phải về thôi!
Câu chuyện kỳ quái này lại có một kết cục tươi sáng. Con Hoàng tử đoạt giải nhất tại cuộc đua quốc gia. Chủ nó lãnh được 80.000 bảng Anh. Các chủ nợ hết lo lắng và ngài Robert còn dư tiền để gây dựng lại cuộc đời. Cảnh sát và tòa án cứu xét một cách khoan dung các hành vi sai trái của ngài. Sau khi bị khiển trách vì khai tử trễ cái chết của người chị, nhà quý tộc may mắn kia chắc chắn sẽ kết thúc phần cuối cuộc đời trong danh dự, xứng đáng với tên tuổi của dòng họ.

---
[1] Nguyên văn: like a fish
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-05-02 16:37:17ct.ly>
(đã được lu_khach hiệu đính)


MA CÀ RỒNG VÙNG SUSSEX

Phần 1

Holmes đọc kỹ một bức thư rồi cười và trao cho tôi.
- Anh Watson, anh nghĩ sao về những chuyện pha trộn cái hiện đại với cái trung cổ, cái thực tế với cái ma quái cổ sơ Ðây là một chuyện tiêu biểu?
Tôi đọc thư.

46 Old Jewry, ngày 19 tháng 1 1 l/ụ ma cà rồng.

Thưa ông, Khách hàng của chúng tôi, ông Robert Ferguson, thuộc công ty Ferguson và Muirhead, buôn trà tại Mincing Lanh, có gởi thư hỏi chúng tôi vài câu về ma cà rồng. Vì công ty chúng tôi không chuyên về chuyện này, chúng tôi chuyển theo đây lá thư của Robert gạ cho ông. Chúng tôi không quên sự thành công của ông trong các vụ đã qua.
Trân trọng hình chào ông, ' Morrison, Morrison và Dodd.
-Chúng ta biết gì về ma cà rồng?
-Chúng ta mà cũng đi điều tra về ma cà rồng hay sao?
- Có việc để làm còn hơn là phải ngồi không?
- Quả thật người ta đưa chúng ta vào không khí của chuyện cổ tích. Anh Watson, xin vui lòng với lấy cuốn sách! Và chúng ta cùng xem mục “ma” nói gì?
Tôi quay ra sau, với lấy cuốn sách tham khảo đưa cho Holmes.
Anh đặt nó trên đầu gối, rồi từ từ đọc danh sách các vụ điều tra trước đây.
- Chuyến đi của con tàu Gloria Scott.
Vụ nhớp nhúa! Victor Lynch, người mạo hóa. Thằn lằn có nọc độc.
Người đẹp của gánh xiếc.. Ðủ cả. Nghe đây, Watson! Ma- cà-rồng ở Hung-ga-ri, Ma-cà-rồng ở Transyvanie?
Holmes lật nhanh các trang giấy, cắm cúi đọc, nhưng chỉ một lát sau thì vứt cuốn sách, rồi thốt lên một câu thất vọng:
- Chả có gì. Ðọc làm gì các chuyện xác chết đi dạo nếu không bị đóng cọc giữa tim và ghim chặt vào cái hòm? Chuyện điên rồ?
- Nhưng mà ma-cà-rồng đâu bắt buộc phải là người chết. Người sống vẫn có thể là ma-cà-rồng. Tôi có đọc một chuyện quái vật hút máu trẻ em để trường sinh bất tử.
Anh có lý. Chuyện này eo trong danh mục của tôi, nhưng chả lẽ mình lại nghe theo những chuyện nhảm nhí đó Thế giới này đủ rộng để chúng ta hoạt động, đâu cần đến chuyện ma quái. Nhưng, lá thư của ông ta có lẽ cọ những tin tức chính xác hơn.
Holmes lấy lá thư thứ hai ở trên bàn, đọc nó rồi cười thích thú. Ðọc xong, anh yên lặng hồi lâu, lá thư rung rung trên tay. Cuối cùng anh đột ngột rời khỏi giấc mơ. ' - Cheeseman's Lamberley. Lamberley nằm ở đâu, anh Watson?
- Trong vùng Sussex, phía nam của Horsham. Ðâu có xa nhỉ?
- Còn Cheeseman's?
- Tôi không biết.
Ở đó có nhiều ngôi nhà xưa hằng mấy thế kỷ, mang tên những người có công xây cất chúng,.. như là: Odley's, hoặc Harvey's, hoặc Camton' s. Con người bằng xương bằng thịt thì đã bị trôi vào quên lãng nhưng tên họ vẫn sống trong căn nhà của họ.
- Ðúng thế. Tôi có cảm giác rằng chúng ta sẽ biết rõ hơn về Cheesemanls Lamberley. Ðúng như tôi đã hy vọng, Robert Ferguson gởi bức thư này. ông ta quen với anh đấy.
ông ta quen tôi?.
- Ðọc đi!
Holmes đưa thư cho tôi.

46 Old Jewry, ngày 19 tháng 1 1 Thưa ông Holmes, Các luật sư của tôi khuyên tôi tiếp xúc với ông, nhung đây là một câu chuyện rất khó trình bày. Nó liên quan tới một người bạn của tôi. Tôi nhân danh người này mà tiếp xúc với ông. Cách nay năm năm, ông bạn tôi cưới một bà vợ người xứ Pérou. Cô gái rất xinh đẹp, nhưng cách sông và tôn giáo khác nhau, không mấy chốc đã làm xuất hiện những khác biệt về tình cảm giữa người chồng với người vợ. Tình yêu của người chồng nguội lạnh, và anh ta không khỏi tự hỏi xem việc kết hôn vừa rồi có phải là một sai lầm không! Ðau khổ hơn cả, chính là việc nàng rất yêu thương anh ta và theo các biểu hiện bên ngoài thì nàng rất quyên luyến anh ta. Giờ đây, ta hãy đi vào điểm chính. Thư này chỉ có mục đích cho ông biết tình hình một cách khái quát và hỏi xem ông có vui lòng giúp đỡ không.
Vợ bạn tôi bắt đầu biểu hiện một nét quái dị, hoàn toàn trái ngược với cái dịu dàng và nét khả ái tự nhiên của nàng. Chồng nàng có một đứa con trai với người vợ trước.
Thằng bé năm nay được 15 tuổi. Tuy bị tật do một tai nạn lúc nhỏ, nó vẫn rất đẹp và hiếu thảo. Ðã hai lần vợ của bạn tôi bị bắt gặp đang đánh đập thằng bé. Có lần nàng đánh nó bằng gậy, đánh mạnh đến nỗi hiện nay một cánh tay của nó bị yếu đi.
Nhưng chuyện đó không thấm vào đâu so với cái cách mà nàng đã cư xử với chính con trai nàng, chưa tròn một tuổi. Cách đây một tháng, người vú để cháu bé nằm một vài phút ở trong phòng. Bỗng bà ta nghe đứa bé la thất thanh, bèn vội chạy vào, bà thấy mẹ ruột của đứa bé cúi xuống cắn ngay gần cổ nó, vết thương nhỏ lồ lộ, máu còn chảy. Kinh hoàng, người vú muốn báo cho người cha, nhưng người mẹ năn nỉ và biếu cho người vú 5 đồng bảng đề bà này giữ bí mật. Nàng không hề giải thích gì về hành động đó và nội vụ trôi qua.
Nhưng làm sao xóa được cảm giác kinh tởm trong tâm trí người vú. Từ đó, bà vú canh nữ chủ một cách nghiêm ngặt và luôn luôn túc trực bên đũa bé. Bà thấy rằng trong khi bà canh người mẹ thì người mẹ cũng canh bà và mỗi lần bà phải rời đứa bé thì người mẹ vội vã tới gần. Nếu ngày lẫn đêm, người vú canh giữ đứa bé thì ngày lẫn đêm, người mẹ rình rập bà vú. Ðương nhiên ông thấy là khó. tin nhưng tôi mong ông hiểu đây là chuyện có thật..
Cuối cùng, cái ngày khủng khiếp đã đến: thần kinh của người vú không còn chịu đựng được sự căng thẳng, bà bèn nói huỵch tẹt với người cha. Thưa ông Holmes, bạn tôi thừa biết rằng vợ nó yêu thương nó rất mực và là một bà mẹ rất tận tuy, ngoại trừ các sự bạc đãi dành cho đứa con ghẻ. Do đó nó không tin! Nó bảo bà vú từ nay trở đi đừng có nói bậy bạ nữa. Nhưng trong lúc hai người đang bàn chuyện với nhau thì lại vang lên tiếng la của đứa bé.
Người vú và ông bà chủ hối hả chạy vào phòng. Bạn tôi thấy vợ nó đứng dậy và máu từ trên cổ của đứa bé chảy vuông tấm ga. Bạn tôi hốt hoảng, kéo mặt vợ ra ánh sáng. Có vệt máu trên môi nàng. Rõ ràng chính nàng uống máu của đứa bé.
Câu chuyện hiện ngừng tại điểm này. Người mẹ hiện nằm ì trong phòng. Tuyệt đối không giải thích một tí nào.
Bạn tôi gần như điên. Nó, cũng như tôi, chúng tôi chẳng biệt gì về ma-cà-rồng. Chúng ta có thể cùng nhau tìm hiểu được không Thưa ông Holmes, ông có tiếp tôi không ông có đồng ý dùng cái tài năng siêu việt của ông để cứu giúp một người đang bấn loạn tinh thần Nếu chấp nhận, ông đánh điện cho Ferguson và tôi sẽ đến vào ' 10 giờ ngày mai.
Trân trọng Robert Ferguson
TB: Tôi còn nhớ ông bạn thân Watson chơi bóng bầu dục ở đội Blackheath. Tôi là thằng trung vệ của đội Richmond. Ðó là điểm tự giới thiệu độc nhất mà tôi có thể đưa ra trong hiện tại.
Ðương nhiên là tôi nhớ y - Tôi nói và để thư xuống Rô-be-mập, thằng trung vệ giỏi nhất của đội Richmond. Lúc nào nó cũng vui vẻ.
Tôi mường tượng được cảnh nó lo âu cho bạn nó.
Holmes liếc mắt nhìn tôi và lắc đầu..
- Tôi không bao giờ thấy được hết khả năng của anh, anh Watson. Anh có nhiều khả năng tiềm tàng lắm. Nè! anh nhờ người đi gởi bức điện tín này, vì anh là người tốt bụng: “ông Rô-be, chúng tôi vui vẻ xét trường hợp của ông”.
Trường hợp của thằng Rô- be!. ' - Ðừng để nó lầm tưởng rằng cơ sở này được điều hành bởi những thằng ngốc. Ðây đúng là trường hợp của chính nó.
Thuở xưa, Rô-be là một lực sĩ cao lêu nghêu, dẻo' dai, chạy nhanh như gió. Trên đời này không gì đau đớn cho bằng khi phải chứng kiến “cái ngày già” của một lực sĩ mà mình quen biết lúc thịnh. thời. Lưng đã còng, tóc rụng gần hết, vai đã xệ.
Chào anh Watson - Nó nói với giọng vẫn còn nồng nàn ấm áp - Anh không còn giống hẳn con người cua “Công viên Con Nai già”.
-Tôi cũng có thay đổi chút ít.
Nhưng chính mấy ngày qua mới làm tôi già đi thực sự.
Ðiện tín của ông, thưa ông Holmes, dạy tôi biết rằng khỏi cần đóng kịch là đại diện của ai cả?
Nói thẳng nói thật thì có lợi cho công việc hơn.
- Holmes đáp.
- Ðúng vậy. Nhưng ông hãy tưởng tượng cái khó của tôi khi phải nói về người đàn bà mà tôi rất mến yêu. Tôi có thể làm gì bây giờ? Tố cáo với cảnh sát? Nhưng tôi cũng cần phải bảo vệ hai thằng con trai nữa? Nàng điên rồi, phải không ông Holmes? Một tật xấu di truyền? Có bao giờ ông gặp một trường hợp tương tự không ông hãy giúp tôi, tôi tuyệt vọng rồi!
Không có gì lạ lùng lắm đâu ông. Rô-be! Giờ đây ông hãy ngồi xuống, hãy lấy lại bình tĩnh. Tôi cần nhưng câu trả lời chính xác và gọn ghẽ. Phần tôi, tôi bảo đảm với ông rằng tôi sẽ tìm ra giải đáp. Trước hết ông hãy cho tôi biết, ông đã quyết định nhưng gì? Vợ ông còn ở cạnh mấy đứa con thứ?
- Chúng tôi đã cãi nhau dữ dội. Ðó là một người đàn bà rất yêu chồng. Nàng đau khổ biết bao khi tôi phát hiện ra cái bí mật kinh tởm của nàng. Nàng không nói gì. Tôi trách móc, nàng không hề trả lời, chỉ nhìn tôi một cách tuyệt vọng rồi chạy vào phòng nằm luôn. Từ đó, nàng từ chối gặp tôi. Nàng có một tớ gái phục vụ từ trước khi lấy tôi Cô ta tên là Đô-Lo. Ðúng ra là một cô bạn thân. Chính Ðô Lo mang cơm cho nàng.
- Hiện thời đứa bé không có gì nguy ngập phải không?
- Bà vú thề với tôi là sẽ không bao giờ rời nó, dù ngày hay đêm. Tôi có thể tin tưởng vào bà ta. Tôi hơi lo cho thằng Jack đấy bị xử tệ hai lần như tôi đã nói trong thư.
- Nàng có cắn Jack đâu?
- Nhưng nàng đánh đập nó một cách tàn bạo. Việc này tệ hại hơn bởi vì Jack là một kẻ tàn tật.
Khuôn mặt của Rô-be dịu đi.
- Theo tôi thì ai cũng phải động lòng trước tình trạng đáng thương của nó. Vì nó té nên nó bị trật xương sống. Nó vô cùng hiếu thảo, thưa ông Holmes.
Holmes đem cái thư hôm trước ra đọc lại.
- Nhà ông gồm có những ai?
Hai tôi tớ mới vào làm. Một thằng bé giữ ngựa ngủ lại đêm. Vợ tôi, thằng Jack, đứa bé sơ sinh, cô Đô-Lo và bà vú ,tất cả chỉ có bấy nhiêu thôi.
- Tôi đoán rằng lúc cướp vợ, anh chưa biết về vợ anh nhiều lắm đâu?
- Ạ - Tôi quen nàng có vài tuần! ,
- Đô-Lo phục vụ bà ấy bao lâu rồi?
- Vài năm..
- Như vậy Đô-Lo hiểu rõ vợ anh hơn anh?
- Ông có lý.
Ạ Holmes ghi vài chữ..
- Tôi sẽ hữu ích tại Lamberley hơn là ở tại đây.

Trường hợp này đặc biệt, cần phải hỏi từng người. Nếu vợ ông vẫn còn nằm trong phòng thì ông phải tránh, không để sự hiện diện của chúng tôi làm bà ấy bực bội hoặc buồn phiền. Chúng tôi sẽ ngụ tại quán của làng.
Rô-be cảm thấy nhẹ nhõm.
- Chính đó là điều tôi mong mỏi.
Lúc 2 giờ sẽ có chuyến tàu tại ga Vitoria, nếu ông có thể đi.
- Chúng tôi sẽ đi chuyến đó. Ðương nhiên, Watson sẽ đi theo tôi. Nhưng trước khi lên đường, tôi cần biết chính xác vài chi tiết. Người đàn bà bất hạnh đó, đã bị bắt quả tang xử sự tệ hại với hai đứa bé?
Ðúng.
- Nhưng hai cái xử tệ này không giống nhau, phải không?
- Bà ấy đập Jack.
Một lần đập bằng gậy, lần sau thì bằng tay, mà rất là tàn tệ.
- Bà ấy có giải thích không?
- Nàng chỉ nói là ghét nó.
Nàng nói đi nói lại nhiều lần như thế.
- Mẹ ghẻ mà! Chúng tôi gọi là ghen với người quá cố.
Bà ấy có bản chất ghen dữ dội?
Ðúng!
Ghen quá lố!
Còn thằng bé.. Nó đã mười lăm tuổi, có thể nó có trí tuệ rất phát triển vì thân xác nó bị hạn chế. Nó có giải thích cho ông biết tại sao nó bị đánh như thế không?
- Không, nó bảo nó không làm gì nên tội?
- Thường ngày thì hai người ấy hòa thuận với nhau chứ?
- Không!
Không bao giờ eo sự êm thấm giữa mẹ ghẻ con chồng!
vậy tại sao ông nới nó rất mực hiếu thảo?

- Trên đời này tôi chưa thấy có thằng con trai nào quyến luyến bố nó như Jack. Cuộc đời tôi là cuộc đời của nó. Nó mê say theo dõi những gì tôi nói hay làm.
Holmes lại ghi chép và suy nghĩ một lát.
- Hai cha con ông rất thân nhau trước khi ông tục huyền. Cái tang làm cho hai người gần gũi nhau hơn, phải không?.
- Ðúng vậy!

Thằng bé hiếu thảo như thế, có lẽ nó rất quý những kỷ niệm về mẹ nó.
- Phải.
- Chắc chắn đó là một thằng bé rất lý thú. Xin hỏi thêm một chi tiết khác về các lần thằng bé bị đánh. Việc đồi xử với bé sơ sinh và với Jack xảy ra cùng một ngày?
- Lần đầu thì đồng thời, nàng như là nổi điên vậy; nàng như muốn đổ nổi điên lên cả hai đứa. Lần thứ nhì thì chỉ một mình Jack lãnh đủ. Bà vú không nhận thấy đứa sơ sinh bị thương tích gì?.
- Rất rắc rối.
-Tôi thưa hiểu ông muốn nói gì, thưa ông Holmes!

Tôi có thói quen đặt giả thiết tạm và chờ thời gian hoặc yếu tố mới chứng minh cho giả thiết đó ông Rô-be, chúng ta đâu có tài như thần thánh. Tôi ngại rằng anh bạn Watson của ông đã khoác lác quá nhiều khi nói về các phương pháp khoa học của tôi. ông cứ tin chắc là chúng tôi sẽ lên chuyến xe hai giờ tại ga Victoria.
Ðêm đó trời đầy sương mù. Sau khi để hành lý tại quán trọ, chúng tôi đi xe ngựa, băng qua vùng đất sét Sussex, dọc theo một con đường ngoằn ngoèo để đến cái trang trại cổ lỗ và cô lập. Khắp nơi, cũ kỹ và đổ nát!
Rô-be đưa chúng tôi vào một phòng rộng thênh thang, có một lò sưởi đồ sộ kiểu năm 1670 đang cháy bừng bừng..

Tôi nhìn căn phòng, một sự pha trộn về thời đại và lục địa. Tường gần như bị che khuất bởi những chạm trổ trên gỗ từ đời ông trại chủ thứ nhất cánh đây ba thế kỷ.
Phần dưới có những bức tranh bằng sơn nước hiện đại, đúng thẩm mỹ. Trên cao, treo lủng lẳng một bộ sưu tập đẹp mắt về công cụ và vũ khí Nam Mỹ.
Holmes tò mò đứng lên chăm chú quan sát chúng.
Lát sau anh quay lại, đôi mắt đăm chiêu.

- Ồ ồ?
- Anh la to.
Một con chó xù tai quặp, rời cái thúng ở trong kẹt, lê lết tiến tới chủ nó. Chân sau nó kéo lê khó khăn, đuôi lệt bệt dưới đất. Nó tới liếm tay của Rô-be.
- Có chuyện gì vậy, ông Holmes?
- Con chó?
- Con chó sao vậy?
- Nó bị bại xui, nay sắp lành rồi!
- Phải vậy không, Ca-lo?
Con chó run rảy như tán đồng, quơ nhẹ cái đuôi lệt bệt, đôi mắt buồn nhìn chúng tôi. Nó biết chúng tôi thảo luận về trường hợp của nó.
- Chuyện xảy ra đột ngột hay sao?
Chi sau một đêm thôi.
- Lâu chưa?.
- Cách nay khoảng bốn tháng!
- Rất lý thú!
- Rất bổ ích?
- Ông thấy gì, ông Holmes?
- Một sự xác nhận?
- Xác nhận điều gì. Ðối với ông chỉ là một thắc mắc, còn với tôi là vấn đề sống chết Ạ Vợ tôi eo thể là kẻ giết người' con tôi đang lâm nguy, thưa ông Holmes, ông không nên đùa giỡn với tôi.
Người cầu thủ bóng bầu dục run rẩy, Holmes để nhẹ một tay lên vai ông ta.
- Tôi biết rằng dù sự việc như thế nào, ông cũng đau khổ. Do đó, tôi sẽ giúp ông tối đa. Hiện nay tôi không thể nói nhiều hơn, nhưng trước khi ra về, tôi hy vọng có thể nói ra chính xác hơn.
- Cầu xin ơn trên tiếp tay với ông. Xin phép hai ông cho tôi lên thăm xem có gì mới không Trong mấy phút ông ta vắng mặt, Holmes lại ngắm nghía các vật lạ trên tường. Khi chủ nhà quay lại nét mặt bơ phờ của ông cho thấy không có tiến bộ gì! Một cô gái lêu nghêu, khuôn mặt sạm nắng đi theo sau ông.
- Trà đã pha xong chưa, cô đô-lo- ông chủ nhà nói Hãy lo cho xong để bà ấy cần gì là có ngay' Bà nhà đau nặng lắm - Con bé nhìn ông chủ một Cánh lo lắng - Bà không muốn ăn. Bà cần được một y sĩ.
chăm sóc. Tôi sợ lắm, vì tôi eo biết gì về y khoa đâu? “ Rô-be nhìn tôi. Qua đôi mắt, tôi hiểu anh ta muốn hỏi ý tôi.
- Tôi sung sướng giúp đỡ anh!
- Bà nhà chịu gặp bác sĩ Watson không
- Tôi đưa ông ấy lên - Cô Đô-Lo nói.
- Tôi đi theo cô ngay.
Cô gái cuống cuồng vì bị xúc động mạnh. Tôi đi theo lên cầu thang và dọc một hành lang cổ lối đưa đến một cái cửa to. Cô tớ gái 'tra chìa vào ổ khóa. Hai cánh cửa gỗ sồi đồ sộ kêu răng rắc trên mấy cái bản lề. Tôi bước vào, cô ta bám theo và cánh cửa được đóng ngay lại.
Trên giường, một người đàn bà nằm dài, rõ ràng đang sốt dữ dội. Nàng không tỉnh hẳn. Tuy nhiên, khi tôi vào, tôi vẫn thấy đôi mắt đẹp đang kinh hoàng nhìn tôi.
Thấy người lạ mặt đến gần, nàng an lòng, gục trở lại xuống gồi rồi thở dài. Tôi nói vài câu trấn an, rồi bắt mạch và lấy nhiệt độ. Tôi có cảm giác rằng bệnh tình của nàng là hậu quả của một sự kích thích tâm thần!
- Bà như vầy đã hai ngày nay. Tôi sợ bà chết - Cô Đô Lo nói..
Bà Rô-be quay về phía tôi, hỏi:
- Chồng tôi đâu?
- Ở dưới nhà.
ông muốn vào thăm bà. Ạ - Tôi sẽ không bao giờ chịu gặp ông ta.
Rồi nàng nới luôn miệng như đang trong cơn mê.
- Một con quỷ, một con quỷ' ? Tôi sẽ làm gì với con quỷ này
- Tôi có thể giúp bà, hoặc về mặt này hoặc về mặt nọ”
- Không? Không ai giúp tôi được. Dù có làm gì, cũng đã tan nát cả rồi.
- Thưa bà, chồng bà rất thương yêu bà. ông hiệp đau khổ nhiều về chuyện vừa xảy ra.
Bà lại quay về hướng tôi, đôi mắt đẹp tuyệt trần!
- Ông ấy thương tôi? Ðúng! Phần tôi, bộ tôi không thương ông ấy sao? Thà hy sinh còn hơn là làm cho tim ông ấy tan nát? Ðáp lại, ông ấy lại liệt tôi vào các lọai người mà ông ấy dám nghĩ
- Ông ấy đau khổ dữ dội vì không hiểu nổi sự việc!
- Làm sao hiểu nổi?
- Nhưng phải tin tôi chứ?
- Bà có muốn gặp ông ấy không?
- Không, tôi không thể quên các lời khủng khiếp đó. Tôi không thể xua đuổi cái nhìn đó trên mặt ông ta. Tôi không muốn gặp ông ta. Giờ đây, ông hãy đi đi! ông không thể cứu tôi được đâu. Ông vui lòng nhắn với ông ấy một điều: trả con tôi cho tôi? Tôi có quyền đối với con tôi? Ðó là điều độc nhất mà tôi muốn nói với ông ấy.
Tôi xuống nhà.
Rô-be và Holmes đang ngồi bên bếp lửa. Chủ nhà buồn bã nghe tôi thuật lại.
- Ðâu có thể đưa đứa bé lên đó được
Rô-be nói
- Biết nàng nổi cơn lúc nào. Làm sao quên được cảnh nàng ngẩng đầu lên với máu me đầy miệng?
Cảnh này làm ông ta rùng mình' - Ðứa bé được an toàn khi ở với bà vú - ông ta nới tiếp - Ðể yên đứa bé tại đó đi?
Một tớ gái dọn trà ra. Trong lúc cô rói trà, cửa mở và một cậu bé trai bước vào phòng. Mặt tái mét, tóc hoe, mắt xanh. Khi nhìn thấy cha nó, nó nhảy bổ tới, ôm lấy.
cổ âu yếm.
-Ồ, ba- Nó la lớn - Con không ngờ ba đã về rồi. Nếu biết con đã đi đón ba. ô, gặp lại ba, sung sướng làm sao!
Rô-be khôn khéo từ từ thoát ra khỏi sự ôm ấp này.
- Con trai của ba- ông ta vừa nói vừa xoa đầu cậu bé một cách trìu mến - Ba về từ sớm vì hai bác đây - ông Holmes và bác sĩ Watson - chấp thuận đến chơi với chúng ta một đêm..
- Thám tử Sherlock Holmes?
- Ðúng rồi.
Thằng bé nhìn chúng tôi đăm đăm, nhưng hình như thiếu thiện cảm.
- Còn thằng bé kế của ông, ông Rô-be?
- Holmes hỏi - Chúng tôi muốn xem mặt cháu nhỏ.
- Con nói với bà vú đem em xuống đây!
- Rô-be ra lệnh.
Thằng bé bước ra.
Dáng đi dị thường, lê lết, triệu chứng của xương sống yếu kém. Một lúc sau, nó quay lại.
Theo sau nó là một người đàn bà dong dỏng cao, tay bế một đứa bé rất đẹp, mắt đen, tóc vàng óng. Rô -be bế thằng bé, nâng mu nó.
- Không ai đủ can đảm làm cho đứa bé đau?
- Ông ta thì thầm và nhìn cái thẹo nhỏ màu đỏ trên cuống họng của đứa bé.

Vào lúc đó tôi tình cờ nhìn Holmes thì thấy mặt anh ấy se lại. Ðôi mắt lạnh lùng của anh nhìn người cha và đứa bé, sau đó lại đăm đăm nhìn vào một điểm bên ngoài căn phòng. Tôi chắc anh đang quan sát cái gì ở bên ngoài, dường như Holmes đang tập trung thị giác vào cánh cửa sổ. Rồi Holmes cười nụ và lại tiếp tục nhìn đứ a b é.
Trên cái cổ hồng hào của nó, có một vết đỏ nhỏ.
Không nói lời nào, anh nhìn kỹ cái vết này.
Cuối cùng anh bắt tay nó?.
Cháu bé đã có một điểm dị thường khi bước vào đời Bà vú, tôi muộn gặp riêng bà...
Holmes kéo bà vú ra một góc và trang trọng nói chuyện với bà ấy..
- Tôi hy vọng nỗi lo âu của bà đã kết thúc rồi.
Sau đó, bà vú có vẻ thuộc loại người bướng bỉnh và lầm lì, bế bé đi ra khỏi phòng.
- Bà vú là người như thế nào?
- Holmes hỏi.
Tuy bề ngoài trông không dễ thương, nhưng bà ta có quả tim vàng và thương thằng bé lắm.
- Còn cháu Jack!
- Cháu thương bà vú không?
Ðột ngột Holmes quay sang Jack.
Mắt nó vốn lay động, linh hoạt bỗng sa sầm ngay. Nó lắc đầu.
- Jack là một người đam mê, biết thương, biết ghét - Rô -be vừa nói vừa ôm con trai“May thay, tôi thuộc nhóm người nó thương '...
Thằng bé bắt đầu nói líu lo với bố rồi rúc đầu vào nách bố. ông này đẩy ra.
- Thôi con đi chơi - Rô-be nói một cách êm ái.
Nhìn con ra đi âu yếm, rồi quay về hướng Holmes, ông ta nói:
Tôi đã đưa hai ông vào một vụ kỳ lạ. Theo quan điểm của ông, chắc chắn ông thấy vụ này cực kỳ tế nhị và phức tạp.
- Chắc chắn là tế nhị - Holmes vừa nói vừa cười - Nhưng không phức tạp lắm. Khởi sự là suy luận. Khi sự suy luận này được xác nhận từng điểm bởi một loạt biến cố ngẫu nhiên, thì ta eo thể kết luận rằng mục đích ta đã ' đạt Trong thực tế, tôi đã có kết luận trước khi ra đi và mấy bước sau này chỉ là nhưng kiểm khứng.
Rô-be để bàn tay to tướng trên trán của mình.
- Thưa ông Holmes, nếu ông đã tìm thấy chân lý, xin đừng để tôi hồi họp.
- Tôi phải làm gì?
- Tôi bắt buộc phải giải thích.
Tuy nhiên ông có đồng ý cho tôi giải quyết nội vụ theo lối của tôi không?
là bà có thể tiếp chúng ta không, anh Watson?
- Bà ấy bệnh nhưng rất biết điều.
- Ðược.
Phải có sự hiện diện của bà ấy, chúng ta mới eo thể làm sáng tỏ mọi việt. Ta hãy lên trên đó.
Nàng đâu chịu gặp tôi.
- Rô-be la lớn.
- Chịu chứ sao không - Holmes nói, rồi viết vài dòng trên một tờ giấy - Anh Watson, anh được đặc quyền, xỉn anh vui lòng trao tờ giấy này cho bà Rô-be.

Tôi leo lên cầu thang trao tờ giấy cho cô Đô-Lo này thận trọng chỉ hé cửa mà thôi. Một phút sau, tôi nghe một tiếng la ở trong phòng. Tiếng la trộn lẫn sự vui mừng và ngạc nhiên. Cô đô-lo bước ra:
- Bà ấy sẵn sàng tiếp, bà ấy sẽ lắng nghe.
Tôi gọi Rô-be và Holmes.
Khi chúng tôi vào, Rô-be tiến về phía vợ nhưng nàng dùng tay làm dấu ngăn lại.
Người chồng buông mình xuống ghế bành, trong lúc đó Holmes trịnh trọng cúi chào nữ chủ nhà rồi ngồi cạnh người chồng.
- Tôi nghe rằng cô Đô-Lo không cần ở đây
Holmes nói - Vâng, được thôi, thưa bà, nếu bà muốn, cô ấy cứ ở lại, tôi thấy không có gì bất tiện cả. Thưa ông Rô- be! tôi là một người rất bận việc. Do đó tôi xin vào đề ngay. Trước hết tôi xin nói điều anh cần biết nhất: bà Rô-be rất tốt, rất tận tình với gia đình, nhưng bà lại là nạn nhân của một sự bất minh lớn lao do ông gây ra.
Rô-be nhảy dựng lên.
- Ông hãy chứng minh điều đó. Tôi sẽ mang ơn ông. suốt đời
- Tôi sẽ chứng minh cho ông, nhưng tôi báo trước rằng sau đó ông sẽ đau đớn vô cùng!.
- Chả sao!
Tôi cần ông tẩy xóa mọi nghi ngờ đối với vợ tôi. Trên đời này không có gì quý hơn điều đó.
- Vậy tôi sẽ tiết lộ cái lý luận của tôi trước khi tôi lên đường đến đây. Ngay từ đầu, tôi bác bỏ ý tưởng ma-cà-rồng ở nước Anh, không bao giờ có cái tội ác này. Tuy nhiên, ông có nêu ra một nhận xét chính xác này: ông thấy bà nhà ngẩng đầu khỏi cái nôi của bé với máu ở trên môi bà.
- Ðúng thế!
- Có bao giờ ông nghe rằng một vết thương bị hút chưa chắc là để lấy máu mà là để chữa lành vết thương?
Trong lịch sử của Anh quốc, một nữ hoàng đã hút một vết thương để lấy chất độc ra, ông còn nhớ không?
- Thuốc độc - ông đã nhìn kỹ những kỷ vật của Nam Mỹ. Do trực giác, tôi đã đoán biết sự hiện diện của các vũ khí trên tường. Thuốc độc có thể phát sinh từ một người khác, tuy nhiên tôi đã nghĩ tới mấy cái vũ khí đó. Khi tôi thấy cái ống bên cạnh cái cung bắn chim, thì tôi cho rằng điều tôi nghi ngờ là đúng. Nếu bé sơ sinh bị chích bởi một trong các mũi tên tẩm chất độc cu-ra hay một chất độc ma quái khác, thì sự chết sẽ mau chóng xảy đến, nếu không hút nó ra kịp.
- Còn con chó?
- Khi tôi thấy nó gần như bại xui, thì tôi hiểu “ngay. Cái cảnh tượng con chó lê lết rất ăn khớp với lý luận của tôi. Bây giờ, ông hiểu chưa nào? Vợ ông sợ loại chất độc này, vì bà nhà đã thấy một lần ở đâu đó, nhờ vậy bà ấy đã cứu mạng đứa bé. Bà ấy không muốn nói hết sự thật với ông, vì bà biết rằng ông thương các con ông, sợ ông lo buồn.
- Còn Jack?
- Tôi có quan sát nó. Lúc nãy, khi ông đưa đứa bé xuống, gương mặt của Jack được phản chiếu rõ ràng trên kiếng cửa sổ. Tôi thấy rõ có một sự ghen tuông, thù hận ác độc.Tôi chưa hề thấy khuôn mặt hận thù nào cao độ đến thế đó - Jack là vô vàn yêu quý của tôi!
- Ông phải chấp nhận, ông Rô- be. Ðó là một thứ tình yêu. méo mó, cháu Jack quá yêu ông và quá yêu người mẹ quá cố, nên cháu có thể làm chuyện rồ dại.
Cháu dốc toàn tâm trí vào sự hận thù và ghen ghét đối với đứa bé xinh đẹp. Cái đẹp và sức khỏe này tương phản , với tật nguyền của riêng cháu!
- Chúa ơi! Kinh hãi quá!.
- Tôi nói đúng không, thưa bà
Bà Rô-be khóc nức nở, vùi mặt vào gối. Bà quay về.
phía chồng.
- Làm sao tiết lộ với anh được. Tôi biết anh sẽ đau khổ dường nào. Tôi phải cắn răng chịu đựng thôi, chờ sự thực được nói ra từ cửa miệng của người khác hơn là của chính tôi. Khi ông này có quyền năng siêu nhiên, viết giấy cho tôi hay rằng ông biết hết, tôi mừng vô hạn...
- Cái toa thuốc của tôi là phải đưa cậu Jack đi nghỉ mát một năm tại bờ biển
- Holmes vừa nói vừa đứng lên - Tuy nhiên còn một điểm chưa được sáng tỏ, thưa.
bà...
Chúng tôi hiểu rõ tại sao bà hung dữ với Jack: sự kiên nhẫn của một người mẹ có những hạn chế của nó. Nhưng tại sao bà dám bỏ bê đứa bé hai ngày nay?
- Tôi đã căn dặn bà vú tường tận rồi.
- Ðược lắm!
Ðúng như tôi đã dự đoán.
Rô-be rung động, đứng cạnh giường, dang hai tay gồ ghề run rẩy ra...
- Watson, đúng lúc ta phải rút lui
Holmes nói nhỏ vào tai tôi - Anh kéo cùi chỏ bên này, tôi thì kéo cùi chỏ bên kia của cô Đô-Lo quá thơ ngây vì trung nghĩa.
Khi khép cửa lại, Holmes nói thêm:
- Hãy để cho vợ chồng họ tự giải quyết với nhau.
📎 Ma ca rong
Đăng nhập để trả lời
0
NGƯỜI ÐÀN BÀ CÔ ÐƠN ÐI DU LỊCH

Holmes tựa lưng vào ghế và rút sổ tay ra.
- Một trong các hiểm nguy lớn trong xã hội là người đàn bà cô đơn đi du lịch. Bà phiêu bạt từ nơi này sang nơi khác, sống tại khách sạn hoặc tại các nhà trọ tư nhân. Bà giống như một chú gà con đi lạc giữa bầy chồn cáo. Khi bị nhốt rồi thì ít ai hay biết.
- Ðó là bà nào vậy?
- Tôi hỏi.
- Mệnh phụ Ca-pha, là người duy nhất còn sống của gia đình cố hầu tước De Rufton. Mệnh phụ Ca-pha nhận được nhiều của cải gồm đồ nữ trang Tây Ban Nha rất xưa bằng bạc hoặc bằng kim cương mài rất khéo. Những kim cương mà bà gắn bó đến nỗi không chịu gửi cho ngân hàng, trái lại bà mang theo mình đi khắp thế giới.
- Chuyện gì đã xảy đến cho bà vậy?
- à, chuyện gì ư. Bà còn sống hay đã chết. Ðó là bài toán của chúng ta. Bà có những thói quen đều đặn. Từ bốn năm nay, cứ mười lăm ngày là viết thư cho bà Ðô-nây người quản gia già, ở Camberwell. Chính bà đô-nây đến gặp tôi. Gần năm tuần rồi, chả có tin tức gì của bà ta cả. Bức thư cuối cùng được viết từ khách sạn National ở Lausanne. Hình như mệnh phụ rời khách sạn mà không để lại địa chỉ. Gia đình giàu có này đang rất lo lắng, những số tiền vô cùng lớn lao đặt dưới quyền sử dụng của chúng ta để làm sáng tỏ vấn đề.
- Bà đô-nây có phải là nguồn tin tức độc nhất hay không. Mệnh phụ Ca-pha chắc chắn còn có những người nhận thư khác?
- Chỉ có một người nhận thư độc nhất, đó là ngân hàng. Các sổ chi phiếu của họ là những nhật ký gọn gàng.
Ngân hàng của bà ấy là ngân hàng Sylvester. Tôi có kiếm tra lại tài khoản của bà. Cái chi phiếu áp chót bà ký để thanh toán tiền khách sạn ở Lausanne. Kể từ đấy, bà chỉ ký thêm một chi phiếu.
- Ký cho ai và ký từ đâu?
- Cho cô Ma-ri, nhưng không thấy ghi nơi ký.Tiền được ghi tại ngân hàng Credit Lyonnais ở Montpellier cách nay chưa tới ba tuần.Ðó là một chi phiếu 50 bảng Anh. .
- Ma-ri là ai?
- Bồi phòng của mệnh phụ. Chúng ta hiện chưa biết tại sao cô ta được chi phiếu này? Tuy nhiên các sự tra cứu của anh chắc chắn sẽ làm sáng tỏ cái bí mật này.
- Sự tra cứu của tôi?
- Anh biết rằng, tôi chưa có thể rời Luân Ðôn khi mà lão già A-bra vẫn còn sống trong kinh hoàng. Lại nữa, cơ quan Scotland Yard sẽ cảm thấy bị bỏ rơi nếu tôi đi vắng và sự vắng mặt của tôi sẽ làm cho giới sát nhân cựa quậy. Vậy là anh Watson, anh phải đi, và nếu cần hỏi ý kiến của tôi thì tôi sẵn sàng trả lời, dù ngày hay đêm. Tôi chỉ lấy giá rẻ là 2 pen-xơ cho một lời nói.
Hai ngày sau, tôi tới khách sạn National ở Lausanne. Nơi đây tôi được ông Mô-sen đón tiếp nồng hậu, vị giám đốc này cho tôi biết bà Ca-pha ở tại khách sạn nhiều tuần lễ và được nhiều người ái mộ. Bà vẫn đẹp, có thể lúc còn trẻ, bà là một hoa khôi. ông Mô-sen không biết gì về số nữ trang của bà. Nhưng các nhân viên thì có để ý tới cái rương nặng trịch trong phòng của bà luôn được khóa kỹ. Cô gái Ma-ri cũng được yêu mến như bà chủ. Cô ấy vừa hứa hôn với một nam bồi phòng tại khách sạn nên tôi xin địa chỉ của cô dễ dàng. Cô ngụ tại số 2 đường Trajan tỉnh Montpellier của Pháp. Tôi ghi chép kỹ lưỡng và tự hào rằng dù cho Holmes có ở đây anh cũng không thu lượm tin tức nhiều hơn.
Còn một điểm vẫn mù mờ. Tôi không thu lượm được chi tiết nào giải thích sự ra đi đột ngột của bà mệnh phụ ở Lausanne, bà rất sung sướng. Mọi người tin rằng bà sẽ ở lại suốt mùa này trong căn hộ xa hoa, ngó ra hồ. Bà ra đi vào một ngày đẹp trời, không hề báo trước, bỏ hẳn một tuần lễ tiền khách sạn. Vi-ba, vị hôn phu của cô bồi phòng là người độc nhất đưa ra một giả thiết.
- Anh cho rằng sự ra đi đột ngột này có liên hệ với sự thăm viếng trước đó một hay hai ngày của một anh chàng to con, râu quai nón đen.
- Một thằng mọi!
Một thằng mọi thật sự - Vi-ba nói với tôi.
- Ông ta ở đâu đó trong thành phố. Người ta thấy y nói chuyện một cách say đắm với bà mệnh phụ trong một cuộc đi dạo trên hồ, rồi y có đến khách sạn. Bà ấy từ chối gặp y.
Ðó là một người Anh, không ai biết tên. Ngay sau đó mệnh phụ dọn nhà. Vị hôn thê của Vi-ba cũng chú ý đến mối tương quan giữa cuộc viếng thăm và sự dọn nhà. Vi-ba không đưa ra được cái động cơ khiến Ma-ri bỏ bà chủ. Nếu muốn biết, tôi phải đi Montpellier hỏi ngay cô ta.
Chương đầu các điều tra của tôi kết thúc như thế.
Tôi dành chương hai cho nơi mà mệnh phụ Ca-pha tới, sau khi rời Lausanne. Trong chiều hướng này, tôi vấp phải một bí ẩn. Nếu bà ta giấu lộ trình, tại sao hành lý được ghi rõ ràng là đi Baden? Và cả bà lẫn hành lý cũng đi tới cái thành phố nước khoáng này, theo một lộ trình rất ngoằn ngoèo.
Tôi được biết điều này qua ông giám đốc công ty du lịch địa phương. Do đó tôi lên đường đi Baden sau khi gửi cho Holmes một bản tường trình. Tôi đã nhận một hồi âm ca ngợi đượm mùi hài hước.
Tại Baden, tôi tìm ra vết tích của bà không khó lắm.
Mệnh phụ ở khoảng mười lăm ngày tại Englischer Hof.
Trong khi lưu ngụ tại đó, bà làm quen với ông bà tiến sĩ Shlessinger: đó là một gia đình truyền giáo từ Nam Mỹ về. Giống như nhiều người đàn bà cô đơn khác, mệnh phụ này tìm quên nỗi buồn trong tôn giáo. Nhân cách của tiến sĩ, lòng mộ đạo và sự tận tụy của ông, cộng với việc ông đang tĩnh dưỡng sau một cơn bệnh mà ông vướng phải trong khi đi truyền đạo, tạo ra một cảm giác rất tốt đẹp nơi bà mệnh phụ. Theo tường thuật của giám đốc khách sạn thì sáng nào ông cũng ngồi phơi nắng trên ghế dài ngoài hàng hiên mỗi bên một người đàn bà canh chừng.
Sau khi bình phục, ông cùng vợ lên đường đi Luân Ðôn và mệnh phụ Ca-pha cũng rời khách sạn để đi theo họ. Chuyện đó xảy ra cách đây ba tuần và kể từ đó, ông giám đốc không có tin tức gì nữa. Về phần cô nữ bồi phòng, cô đã ra đi vài ngày trước, khóc như cha chết và báo cho các nữ bồi phòng khác rằng cô rời bà chủ một cách vĩnh viễn. Trước khi cô đi, tiến sĩ Shlessinger đã thanh toán tiền lương cho toàn nhóm.
Ðã kết luận, ông giảm đốc còn tiết lộ rằng ông không phải là người duy nhất lo lắng cho số phận của mệnh phụ Ca-pha.
- “Cách đây khoảng một tuần, có một người khác tới đây hỏi tôi những câu hỏi tương tự”.
- Ông ấy có tiết lộ danh tánh không?
- Tôi hỏi.
- Không. Nhưng tôi biết là người Anh, một người Anh hơi khác thường.
- Một thằng mọi, phải không- Tôi vừa nói vừa ra dấu theo cách thức của ông bạn nổi tiếng của tôi.
- Ðúng thế. Ðó là cái từ rất tương xứng với y. ông hãy tưởng tượng một con người đồ sộ, râu ria xồm xoàm, da đồng. Ðúng ra, y nên ngụ tại một quán trọ đồng quê hơn là tại một khách sạn danh tiếng. Một người cứng cát và hung hãn. Một người mà tôi không bao giờ dám giậm chân.
Bí mật dần dà lộ rõ từng đường nét, y hệt một dáng đi từ từ thoát ra khỏi sương mù, một người đàn bà mộ đạo bị săn đuổi bởi một anh chàng ma quái và kiên gan. Bà ấy sợ y, bằng không thì bà đâu có trốn khỏi Lausanne. Y đã đuổi theo bà ta. Chóng chầy cũng đuổi kịp. Kịp rồi chưa?
Có có phải là lý do khiến bà im bặt. Các người khổ ải tháp tùng bà có khả năng che chở bà khỏi sự hung bạo của thằng mọi thô lỗ? ý đồ gớm ghiếc nào làm động lực cho cuộc săn lùng này? Ðó là bài toán tôi phải giải đáp.
Tôi viết thư cho Holmes, thông báo sự nhanh chóng và nghiêm túc mà tôi đã vận dụng để đi vào cội rễ của nội vụ. Ðáp lại tôi nhận được một lá thư bảo tôi mổ xẻ lỗ tai trái của tiến sĩ Shlessinger. Holmes có tật hay pha trò, đôi khi lố bịch, nên tôi không bận tâm với cái trò giễu cợt sái chỗ này. Nói cho đúng, khi tôi vừa đến Montpellier và đang đi tìm cô bồi phòng Ma-ri thì thư của Holmes đến nơi.
Tìm lại và khai thác cô này là không khó đối với tôi.
Là một người tận tình, cô gái này chỉ rời chủ sau khi biết chắc rằng chủ không có gì nguy hiểm và cũng vì gần ngày lấy chồng. Cô tâm sự rằng chủ của cô có tỏ ra cáu kỉnh với cô lúc ở Baden. Có lần cô đã hỏi bà chủ xem có ngờ vực sự lương thiện của mình không. Chính sự việc này góp phần làm dễ dàng sự chia tay. Mệnh phụ Ca-pha có trao cho cô 50 bảng Anh làm quà đám cưới.
- Tôi nghi ngờ kẻ vô danh kia đã khiến bà chủ tôi bỏ Lausanne qua Baden. Chính tôi thấy y nắm cổ tay của bà chủ tôi một cách lộ liễu trong cuộc du ngoạn trên hồ. Y có vẻ hung hãn, dữ tợn.
Cô còn cho rằng vì sợ y mà mệnh phụ Ca-pha phải tháp tùng theo vợ chồng tiến sĩ Shlessinger qua Luân Ðôn. Không bao giờ bà tiết lộ tí gì với Ma-ri cả. Tuy nhiên qua nhiều dấu hiệu, cô bồi phòng biết rằng bà chủ mình đang sống trong tình trạng sợ hãi. Nói tời đó, cô đột ngột đứng dậy, khuôn mặt bấn loạn. Vì ngạc nhiên và sợ hãi.
- Nhìn kìa - Cô kêu lên - Thằng khốn đang đi săn mồi. Nó là người mà tôi vừa nói đến.
Qua cửa sổ của phòng khách nhỏ, tôi thấy một người cao lớn, râu đen ưỡn ra trước, chầm chậm đi xuôi theo đường phố, mắt nhìn các số nhà. Rõ ràng, y đang tìm cô bồi phòng. Tôi nhảy bổ ra và kè y ngay.
- Ông là người Anh?
- Thí dụ là thế đi.
- Y gầm gừ.
- Tôi có thể biết được quí danh?
- Không được?
Tôi cụt hứng.
Nhưng vẫn dõng dạc hỏi:
- Mệnh phụ Ca-pha hiện ở đâu?
Y trố mắt nhìn tôi, hỏi lại:
- Ông đã làm gì bà ấy? Tại sao ông săn đuổi bà ấy. Tôi yêu cầu được trả lời.
Anh ta gào thét lên vì giận dữ rồi vồ lấy tôi. Tôi đấm đá không tệ, nhưng y mình đồng da sắt, lại hung hăng như cọp. Y thộp cổ tôi và tôi sắp ngã thì một công dân Pháp râu ria lởm chởm trong đồng phục xanh, từ quán rượu chạy ra, tay cầm cây gậy ngắn, đập mạnh vào cánh tay trước của hung thủ. Y buông tôi ra, đứng im nhìn tôi trừng trừng và muốn vồ lấy tôi một lần nữa. Thình lình y cười chế nhạo, bỏ tôi lại và đi vào cái biệt thự tôi vừa chạy ra. Tôi quay lại, cám ơn người cứu mạng đứng cạnh tôi trên lề đường.
- Nào, Watson! - Người này nói - Anh quậy rối bời, làm ơn quay về Luân Ðôn với tôi bằng chuyến tốc hành đêm nay.
Một giờ sau, Sherlock Holmes với trang phục thường nhật ngồi trong phòng khách sạn của tôi. Anh giải thích cho tôi sự có mặt bất ngờ và đúng lúc của anh. Anh rời Luân Ðôn, nguy trang thành công nhân, ngồi trong quán rượu chờ tôi.
- Anh Watson, anh đã tiến hành một cuộc điều tra lớp lang một cách kỳ diệu. Tôi không thấy anh có một sơ hở nào cả. Tuy nhiên, tất cả hoạt động của anh có thể được tóm tắt như vầy: anh đã báo động tứ tung để chẳng kiếm ra được cái gì cả.
- Có thể anh đã hơn tôi?
- Bị chạm tự ái, tôi đáp.
- Không phải “có thể” mà là “chắc chắn”Ðây là anh Phi-líp, một đồng hương và hiện đang ngụ cùng một khách sạn với anh. Chính ở ông này, tôi chờ đợi một khởi điểm cho một cuộc điều tra tốt hơn.
Trong một cái mâm nhỏ, một bản đồ được trình lên cho chúng tôi. Người mang mâm là nhân vật râu ria xồm xoàm mới đánh tôi ngoài đường. ông này nhảy dựng lên khi thấy tôi.
- Nghĩa là sao, ông Holmes. Nhận được lời nhắn của ông, tôi tới đây ngay. Nội vụ có gì hên quan tới cái ông này?
- Tôi xin giới thiệu cùng ông, người bạn cố tri và cộng tác viên của tôi, bác sĩ Watson, đã tiếp tay với chúng ta trong vụ này.
Người lạ đưa bàn tay đồ sộ, sạm nắng và thốt ra vài lời xin lỗi.
- Tôi hy vọng đã không làm ông bị thương. Khi nghe ông cáo buộc tôi quấy phá bà ấy, tôi điên tiết, lúc đó tôi không tự chủ được. Thôi, điều trước tiên tôi muốn rõ là vì sao ông biết được sự dính líu của tôi.
- Tôi có tiếp xúc với bà nữ quản gia của mệnh phụ.
- Bà lão Ðô-nây đội cái mũ nhỏ?
Tôi nhớ rõ lắm!
- Bà ấy nhớ ra ông trong những ngày xa xưa đầy thú vị, lúc ông chưa đi Nam Phi.
- À, vậy là ông hiểu câu chuyện của tôi. Tôi không còn phải che giấu ông điều gì. Tôi thề với ông, ông Holmes à, trên đời này chưa có người đàn ông nào thương một người đàn bà hơn mối tình tôi dành cho Ca-pha. Lúc đó tôi là một thằng mọi con, tôi biết. Nhưng tôi không tệ hơn nhiều đứa cùng tuổi. Nhưng cô ấy có tâm trí thuần khiết như tuyết, nên cô hay biết vài tội lỗi của tôi lúc thiếu thời, cô không muốn nói chuyện với tôi nữa. Tuy vậy cô ấy thương tôi: đó là cái kỳ diệu? Cô thương tôi đủ để cô mãi mãi sống độc thân. Thời gian sau, khi tôi đã làm nên sự nghiệp tại Barbeton, tôi đi tìm lại cô ta và năn nỉ. Tôi được biết cô chưa lấy chồng. Tôi gặp cô ta tại Lausanne và cố gắng thuyết phục. Con tim cô ấy đã hơi xiêu lòng, nhưng ý chí của cô vẫn sắt đá. Khi tôi muốn gặp cô trở lại thì cô đã rời bỏ thành phố. Tôi tới Baden và biết được rằng cô bồi phòng của cô ấy ở lại Montpellier này. Tôi thô bạo vì tôi sinh trưởng trong một môi trường thô bạo, nên khi nghe bác sĩ Watson hỏi tôi không tự kiềm chế được.
Nhưng vui lòng cho tôi biết Ca-pha đã ra sao rồi?
- Phải đoán mò thôi - Sherlock Holmes đáp - Về Luân Ðôn, ông ngụ tại đâu, ông Phi-líp?
- Tại khách sạn Lang ham.
- Vậy tôi đề nghị ông quay về Luân Ðôn và hãy sẵn sàng đón nhận mọi tình huống. Tôi không dám nuôi nhưng hy vọng hão huyền, nhưng ông nên vững tin rằng, tất cả những gì có thể làm được sẽ được làm cho mệnh phụ. Hiện giờ tôi không thể nói gì hơn. Watson chuẩn bị va-li đi. Tôi đã điện cho bà Hớt-xơnđể sẵn đĩa nhỏ, đĩa lớn, chuẩn bị đón hai lữ khách đói khát sẽ về đến vào sáng mai, lúc 7 giờ 30.
Một điện tín chờ chúng tôi tại đường Baker. Sau khi đọc xong, Holmes trao cho tôi. Nó chỉ có mấy chứ:
“Bị răng cưa hay rách.
Xuất xứ từ Baden”.
- Nội dung gì lạ vậy?
- Có lẽ anh còn nhớ câu hỏi của tôi về cái lỗ tai trái của nhà truyền giáo.
Anh đâu có trả lời.
- Tôi đã rời Baden, làm sao dò hỏi được?
- Ðúng thôi. Chính vì lẽ đó mà tôi đặt câu hỏi với viên giám đốc khách sạn Englischer Hof và được trả lời như thế.
- Nó báo việc gì?
- Nó cho biết rằng chúng ta đang đương đầu với một anh chàng xảo quyệt và nguy hiểm. Tu sĩ, tiến sĩ Shlessinger, nhà truyền đạo tại Nam Mỹ, tên thật của hắn là Hô-ly, một trong các thằng ăn cướp táng tận lương tâm nhất mà đất Australia đã sinh ra... Biệt tài của hắn là dụ dỗ các cô, các bà cô đơn bằng... tín ngưỡng. Vợ của hắn là một người Anh tên Pha-xơ. Bọn họ nồi nào úp vung nấy. Hắn có cái tai dị hình do bị cắn trong một cuộc ẩu đả vì rượu. Như vậy thì mệnh phụ đáng thương đã lọt vào tay cặp vợ chồng yêu quái này.
- Chết cũng là một giả thuyết!
- Nếu bà ấy chưa chết, thì chắc chắn bị nhốt kỹ đến nỗi không thể viết thư cho cô Ðô-nây hoặc cho các bạn bè khác. Có thể bà ấy chả bao giờ đến Luân Ðôn?
- Có thể bà ấy chỉ đi ngang qua thôi. Chúng hiểu rằng một người ngoại quốc như chúng khó bịp được cảnh sát Anh. Nhưng cũng có thể bọn này biết rõ rằng Luân Ðôn là nơi tốt nhất để nhốt một ai đó! Bản năng của tôi bảo tôi rằng bà ấy ở Luân Ðôn. Cho tới giờ này, vì chưa có phương cách để biết rõ địa điểm, chúng ta đành phải chờ. Ðêm nay tôi sẽ đi một vòng và thông báo cho ông bạn Lestrade hay.
Nhưng cả cảnh sát lẫn nhóm của Holmes cũng không đủ sức làm sáng tỏ sự bí ẩn. Giữa mấy triệu người dân Luân Ðôn thì việc kiếm ba người đó chẳng khác nào mò kim đáy biển. Thử nhắn tin trên báo: vô hiệu? Theo đuổi chăng đi tới đâu. Canh chừng các sào huyệt của giới sát nhân: vô ích.
Nhưng một tuần sau, ánh sáng đã lóe lên. Một món nữ trang bằng bạc và một vài viên kim cương kiểu cổ ở Tây Ban Nha được đem đến cầm thế tại đường Westminster. Người đem cầm, theo người ta trình bày với chúng tôi, có dáng cao, to, cạo râu nhẵn nhụi, ra vẻ là nhà tu. Tên và địa chỉ y cho, chắc chắn là giả. Người ta không để ý đến cái lỗ tai, đại để thì sự mô tả tương ứng với các đặc điểm của Shlessinger.
Lúc 3 giờ, người bạn râu quái nón xồm xoàm ngụ tại khách sạn Lang ham lại tới thăm để lấy tin: đó là lần thứ ba trong một giờ sau khi có chỉ dẫn mới.
ông ta tiều tuy vì âu lo.
- Phải chi tôi được giao phó một nhiệm vụ gì đó? - ông ta cứ than thở liên tục như thế.
Cuối cùng Holmes xoa dịu:
- Nó đã đi cầm nữ trang, chẳng bao lâu nữa, chúng ta sẽ chộp được thôi?
- Ðiều đó có nghĩa là Ca-pha chả có gì nguy hại, phải không.
Holmes nghiêm túc lắc đầu:
- Nếu chúng nhốt bà ấy từ hôm đó đến nay, thì đương nhiên chúng không thể thả bà ấy ra. Tàn đời chúng còn gì! Do đó chúng ta phải sẵn sàng chấp nhận sự tệ hại nhất.
- Tôi có thể làm gì?
- Chúng quen mặt ông không?
- Không.
- Có thể nó sẽ lại ra hiệu cầm đồ. Trong trường hợp đó, chúng ta lại bắt đầu làm việc. Hơn nứa, tại hiệu cầm đồ cũ, người ta không tò mò, hỏi han gì, nên nếu nó thiếu tiền, nó sẽ quay lại đó. Tôi sẽ giới thiệu ông với hiệu này và họ sẽ để cho ông ở lại cửa hiệu của họ. Nếu con mồi dẫn xác đến, ông theo nó về nhà. Nhưng phải kín đáo và nhất là không được hung bạo. Tôi muốn ông lấy danh dự thề rằng sẽ không làm gì nếu chưa được phép của tôi.
Trong hai ngày, Phi-líp không mang tin tức gì về.
Tối ngày thứ ba, ông chạy xống xộc vào phòng khách của chúng tôi, mặt tái xanh, mọi bắp thịt trong cơ thể đồ sộ đều run rẩy.
- Có kết quả, có kết quả.
Trong niềm phấn chấn, ông ấy nói năng không đầu đuôi. Holmes xoa dịu vài câu rồi mời ngồi vào ghế bành.
- Nào, vui lòng truyền đạt tin tức cho chúng tôi theo thứ tự hẳn hoi.
- Bà vợ đến, cách đây chưa đầy nửa giờ. ỳLần này là bà vợ, nhưng cái đồ đeo ở cổ đem đi cầm, lần này cũng giống cái trước. Bà ấy cao lớn, tái xanh, với đôi mắt láu lỉnh.
- Ðúng là con mẹ ấy.
- Nó rời cửa hiệu, tôi đi theo. Nó ngược phố Kenstington, vào một cửa hiệu mai táng?
- Rồi sao nữa?
- Holmes hỏi với tiếng nói run run.
- Con mụ ấy đang nói chuyện với người đàn bà ngồi sau bàn giấy thì tôi bước vào“Muộn rồi đó”, tôi nghe con quỷ cái nói đại loại. như thế. Người đàn bà trong cửa hiệu năn nỉ: “ông ấy sẽ về kịp. Chút nữa thôi ông ấy có xin thêm thời gian, bởi vì đây là cái kiểu rất đặc biệt. Cả hai mụ đều ngừng nói và nhìn tôi. Tôi giả vờ hỏi giá cả này nọ rồi cáo từ.
- Tốt lắm, rồi sao nữa?
- Mụ ấy cũng đi, tôi ẩn nấp sau một cái cổng. Tôi nghĩ rằng mụ ta có ngờ vực nên mụ có nhìn quanh, rồi lên xe ngựa. May mắn là tôi cũng gọi được một cái xe để đuổi theo. Mụ ấy xuống tại số 3ê quảng trường Poultney.
Tôi núp vào một góc và nhìn kỹ căn nhà.
- Có thấy ai không?
- Cửa sổ không được thắp sáng, trừ một cái ở tầng dưới. Bức mành được kéo xuống, do đó tôi chả thấy gì bên trong. Tôi đứng đó, chưa biết phải làm gì thì một xe thùng có phủ mui ngừng lại; bên trong có hai người. Họ leo xuống, khiêng một cái hòm ra khỏi xe, leo lên bực thềm .
- Con mụ vợ mở cửa. Tôi đứng không xa lắm. Mụ thấy tôi và tôi tin rằng mụ ấy nhận ra tôi. Tôi thấy mụ ta giật mình rồi lật đật đóng cửa lại. Tôi nhớ lời đã hứa với ông, nên trở về báo cáo.
- Nhiệm vụ của ông hoàn thành mỹ mãn - Holmes nói và nguệch ngoạc vài chừ trên một tờ giấy.
- Chúng ta không thể làm gì nếu không có trát tòa. ông phục vụ chính nghĩa của chúng ta bằng cách mang giấy này tới nhà cầm quyền và xin trát tòa. Sẽ có khó khăn đó! Tuy nhiên tôi nghĩ rằng sự bán nữ trang là cũng đủ bằng cớ, Lestrade sẽ lo chi tiết.
Nhưng trong khi chờ đợi, chúng có thể giết bà ấy. Cái hòm nghĩa là thế nào? Mua cho ai? Nếu không phải là cho bà ấy?
- Chúng ta sẽ làm tất cả những gì có thể làm được.
Ông bạn. Chúng ta không để mất một giây phút nào. Hãy tin cậy nơi chúng tôi.
- Giờ đây, Watson à!
Holmes nói, sau khi người khách hàng của chúng tôi xuống cầu thang.
- Ta vận dụng lực lượng chính qui. Phần chúng ta, như thường lệ là những người không chính qui, thi hành chương trình hành động riêng. Tình huống ngặt nghèo đến nỗi chúng ta phải sử dụng những biện pháp liều lĩnh. Ði mau đến quảng trường Poultney.
Trong lúc xe ngựa chạy nhanh dọc tòa nhà Quốc hội rồi vượt cầu Westminster, Holmes ôn lại sự nối tiếp của các sự kiện.
- Bọn cướp này lường gạt người đàn bà khốn khổ này, đưa về Luân Ðôn sau khi thuyết phục bà ấy cho cô bồi phòng nghỉ việc.
Nếu bà ấy có viết thư thì thư bị giữ lại.
Qua trung gian của một đồng phạm, chúng mua một cái nhà có đồ đạc. Tới nơi, chúng cầm tù mệnh phụ và đoạt lấy nữ trang. Chúng đã bắt đầu bán và cho là an toàn vì tin rằng có ai mà để ý tới số phận của bà ấy! Nếu chúng thả bà ra, bà sẽ tố cáo chúng. Vậy là phải nhốt bà ấy. Vì không thể nào nhốt mãi mãi được, nên phải giết chết - Rõ ràng là vậy.
- Tuy nhiên, hãy lý luận hướng khác. Giờ đây chúng ta không khởi đầu từ người đàn bà mà từ cái hòm. Màn này chứng tỏ rằng, người đàn bà bất hạnh đã chết. Nó cho thấy một đám ma hợp lệ, có giấy phép chôn đàng hoàng.
Trong trường hợp chúng đã giết mệnh phụ, chúng đã vùi xác đâu đó ngoài vườn. Ðằng này tất cả đều hợp lệ, công khai. Tại sao? Chắc chắn là tại vì chúng đã làm bà ấy chết một cách có thể gạt pháp lý, có lẽ bằng thuốc độc.
Nhưng chúng không khờ dại để một y sĩ tới gần bà ta, trừ khi đó là một tòng phạm.
- Giả thuyết này khó tin lắm?
- Chúng làm giấy giả được không?
- Nguy hiểm cho chúng lắm. Không, tôi không tưởng tượng chuyện đó bao giờ. Dừng lại, bác xà ích? Ðây là cửa hiệu mai táng, vì chúng ta vừa đi qua tiệm cầm đồ.
- Anh vào đi Watson. Dáng dấp anh gây tin tưởng hơn. Hỏi xem mấy giờ ngày mai thì động quan.
Bà chủ nhà đáp mau mắn là 8 giờ ngày mai.
- Thấy không .Watson. Ðâu có gì bí hiểm? Sáng như ban ngày? Họ không sợ gì cả. Tôi không thấy có giải pháp nào hay hơn là tấn công ngay. Anh có vũ khí không?
- Một cây gậy?
- Chả sao, chúng ta đủ sức mạnh mà. Kẻ có chính nghĩa mạnh gấp ba - anh ta nói.
- Chúng ta không thể chờ cảnh sát. Bà xà ích, cho chúng tôi xuống. Bây giờ chúng ta cũng thử thời vận như đã từng làm đôi lần trong quá khứ.
Anh giật chuông tại cửa ngôi nhà lớn tăm tối. Cửa mở liền. Một người đàn bà cao lớn và tái xanh xuất hiện dưới ánh sáng yếu ớt của hành lang.
- Các ông cần gì? - Mụ nói cộc lốc và nhìn kỹ chúng tôi trong bóng tối.
- Tôi muốn gặp tiến sĩ Shlessinger - Holmes đáp.
- Ở đây không có ai tên như vậy cả.
Mụ ấy đáp, định đóng cửa, nhưng Holmes đã lọt vào trong cái cửa hé mở.
Tốt thôi. Vậy thì chúng tôi muốn nói chuyện với người đàn ông ngụ tại nhà này, dù y mang tên giả nào đi nữa. Holmes nói một cách cương quyết.
Mụ ấy lưỡng lự rồi mở toang cửa ra.
- Mời vào?
Trên đời này, chồng tôi chả sợ ai cả.
Mụ ta ra đóng cửa lại và đưa chúng tôi vào một xa-lông nhỏ bên trái, mụ ta vặn thêm gaz cho đèn sáng trước khi vào nhà trong.
Chút nữa, ông ấy sẽ ra - Mụ ta nói.
Chúng tôi vừa mới nhìn quanh cái căn phòng bụi bặm bị mối đục thì cửa mở, đưa vào một người đàn ông cao lớn, đầu sói, không râu. Khuôn mặt đồ sộ, hơi đỏ, má phệ và một vẻ nhân từ giả trá, ông ta nói giọng nhợt nhạt:
- Quí vị lầm rồi. Tôi tin chắc rằng người ta đã chỉ đường sai. Ðề nghị quí vị xuống sân, chút nữa...
- Ðủ rồi, chúng tôi không có thời gian - Holmes cắt ngang - Anh là Hăn-ri nguyên quán ở Adélaide, gần đây thì mang tên tiến sĩ Shlessinger, nguyên quán ở Baden và Nam Mỹ. Tôi chắc chắn về điều này như 1 với 1 là 2.
Hăn-ri nhảy dựng lên, nhìn cay độc vào mặt chúng tôi.
- Ông không là gì cả đối với tôi, ông Holmes à. Ông tới nhà tôi làm gì vậy?
- Tôi muốn biết ông đã làm gì mệnh phụ Ca-pha, người rời Saden cùng với vợ chồng ông.
- Tôi cũng muốn được ông cho biết bà này hiện ở đâu - Hăn-ri vẫn lạnh lùng nói.
- Bà nợ tôi 100 bảng và để trả nợ, bà để lại cho tôi hai món nữ trang mạo hóa mà con buôn không thèm nhìn. Bà ấy quyến luyến vợ tôi khi chúng tôi ở Baden... Ðúng là lúc đó tôi mang tên khác. Bà ấy bám sát chúng tôi qua đây. Tôi đã thanh toán giùm tiền khách sạn và chi phí này nọ. Qua tới đây, bà ấy biến đâu mất? Và như tôi đã nói, bà để lại cho chúng tôi hai món nữ trang vô giá trị để trừ nợ. Nếu ông tìm ra bà ta, tôi cũng sẽ thưởng tiền cho ông.
- Tôi muốn kiếm bà ấy - Sherlock Holmes nói: - Và tôi sẽ lục nát căn nhà này cho tới khi tìm ra bà ấy mới thôi .
- Trát tòa đâu?
Holmes đưa khẩu súng lục ra.
- Tạm dùng trát này trong khi chờ cái khác tốt hơn.
- Thế à.
Ông chỉ là một thằng ăn trộm trèo tường.
- Nếu ông muốn! - Holmes trả lời một cách vui vẻ - Bạn đồng hành của tôi cũng là một kẻ cướp nguy hiểm.
Và cả hai chúng tôi sẽ viếng thăm nhà ông.
Người đối thoại của chúng tôi mở cửa la to:
- Ði kiếm một cảnh sát, An-ni.
Có tiếng chân đàn bà chạy ngoài hành lang. Cửa cổng mở ra rồi đóng lại.
- Thời gian có hạn - Holmes nói với tôi.
- Này Hăn-ri, nếu ông ngăn cản, ông sẽ gặp những rắc rối lớn. Cái hòm đâu rồi?
- Hỏi làm gì.
- Có một xác chết trung đó? Tôi muốn xem cái xác đó.
- Không bao giờ, nếu không được sự đồng ý của tôi.
- Vậy thì khỏi cần xin phép.
Bằng một cử động nhanh nhẹn, Holmes đẩy Hăn-ri qua bên và đi vào hành lang. Một cửa đang hé mở, chúng tôi bước vào, đó là phòng ăn. Holmes vặn gaz để tăng thêm ánh sáng rồi giở nắp hòm. Dưới đáy hòm có một hình dạng người hốc hác. ánh sáng chiếu rọi một khuôn mặt già cỗi nhăn nheo. Không một sự tàn ác nào, không một bệnh nào có thể biến mệnh phụ Ca-pha ra nông nỗi này. Mặt của Holmes bộc lộ sự ngạc nhiên, nhưng đồng thời cũng chắc chắn có một sự nhẹ nhõm.
- Cám ơn Chúa?
- Anh nói thầm - Ðây là người khác!
- Rõ ràng là ông lại lầm lạc nữa rồi, ông Holmes- Hăn-ri đi theo chân chúng tôi và nói lớn.
- Người chết này là ai?
- Là vú già của nhà tôi. Chúng tôi đưa bà cụ từ trạm xá nhà dưỡng lão Brixton về. Chúng tôi có mời bác sĩ Hô-sô ở số 13 Firbank Villas... Ghi địa chỉ này cho kỹ, ông Holmes nhé! Bà cụ được chăm sóc tận tình đúng theo lòng bác ái của Chúa. Ba ngày sau, bà cụ chết. Giấy cho chôn ghi là do già cỗi, nhưng đó chỉ là ý kiến của bác sĩ. Còn ông, đương nhiên ông biết nhiều hơn. Chúng tôi giao cho công ty mai táng Stimson đường Kenmington. Tám giờ sáng mai thì làm lễ. Có cái gì mờ ám đâu, ông Holmes?
Ông hố lớn rồi. Phải chi chụp hình được cái bản mặt đáng tức cười của ông khi giở nắp hòm? Ông tưởng ông sẽ gặp mệnh phụ Ca-pha, nhưng ngược lại, ông chỉ thấy bà lão chín mươi tuổi.
Dưới những mũi tên của đối thủ, Holmes giữ được khuôn mặt điềm đạm, nhưng sự co bóp của hai bàn tay biểu lộ sự bồn chồn:
- Tôi sẽ lục soát nhà ông - Holmes nói.
- A, ông tưởng...
Chủ nhà kêu to trong lúc có tiếng nới đàn bà và những bước đi nặng nề vang dội ở ngoài hành lang.
- Ðể coi? Ði lối này, quý ông?
- Hai người này dùng vũ lực vào nhà tôi và tôi đuổi không chịu đi. Xin giúp tôi đuổi họ ra.
Một đội trưởng và một nhân viên cảnh sát đang đứng ở ngưỡng cửa.
Holmes đưa tấm thiệp của mình ra.
- Ðây là tên và địa chỉ của tôi. Còn đây là bạn thân của tôi, bác sĩ Watson.
- Chúng tôi biết ông nhiều. Tuy nhiên, hai vị không thể nán lại đây, nếu không có trát tòa.
- Ðương nhiên tôi biết điều đó.
- Bắt ông ấy đi - Hăn-ri la to.
- Chúng tôi biết rõ nhiệm vụ của chúng tôi - Viên đội trưởng uy nghiêm nói.
- Ông Holmes, ông phải rời khỏi nơi đây.
- Vâng.
Giây lát sau, chúng tôi đã ra tới đường. Holmes đã lấy lại sự bình tĩnh, nhưng tôi thì sôi sục vì giận và nhục. Viên đội trưởng tháp tùng chúng tôi.
- Rất tiết, thưa ông Holmes.
Ðó là luật.
- Ðúng thôi, ông đội ông không thể làm khác.
- Tôi tin ông có lý do vững vàng khi vào đó.
Tôi có thể giúp gì cho ông?
- Một người đàn bà mất tích, ông đội à? Chúng tôi tin bà ấy ở trong nhà đó. Tôi đang chờ trát, không lâu lắm đâu.
- Tôi sẽ đứng canh, ông Holmes à, nếu có gì mờ ám, tôi không bỏ qua đâu. Mới 9 giờ, chúng tôi bắt đầu cuộc săn đuổi. Trước tiên, chúng tôi thuê xe đến viện dưỡng lão Brixton, và được biết vài ngày trước đây có hai nhà từ tâm đến xin một bà lão đần độn có thể trước kia là tôi tớ của họ và được cho phép chở bà đi. Cái chết của bà này không làm cho ai ngạc nhiên cả.
Kế đó, chúng tôi qua nhà của y sĩ ông ta đã được mời đến, đã chứng kiến bà lão chết vì già cỗi; sau đó ông có khám tử thi và ký phép cho chôn, Holmes nói:
- Tôi đảm bảo với quý anh rằng tất cả đều một trăm phần trăm hợp lệ; không có cái gì mờ ám cả. Trong nhà không có gì khả nghi. Duy có một điều lạ là họ không túng thiếu mà họ lại không dám thuê gia nhân?
Sau rốt chúng tôi đi tới Scotland Yard. Có những khó khăn về thủ tục xin trát tòa. Không thể xin được chữ ký của quan tòa trước ngày mai.
Cái ngày hôm đó kết thúc như vậy, trừ một chuyện này: Khoảng 12 giờ đêm, Phi-líp đến cho hay rằng ông có thấy đằng sau cửa sổ của cái nhà đáng nghi ngờ ấy một ánh lửa lập lòe đi qua lại, nhưng không ai ra vào cả. Chúng tôi chỉ biết phải nhẫn nại chờ.
Sherlock Holmes quá cáu kỉnh và bực dọc. Tôi đi ngủ, mặc anh ta kéo thuốc liên tục. Cặp chân mày rậm của anh đã nối liền nhau thành một đường thẳng. Mấy ngón tay dài nhạy cảm của anh gõ nhẹ trên tay ghế bành.
Anh đang tìm tất cả các giải pháp có thể cho các bí ẩn.
Nhiều lần trong đêm, tôi nghe bước chân anh đi qua lại trong căn hộ.
Cuối cùng sau khi tôi thức dậy, anh nhảy bổ vào phòng tôi.
- Mấy giờ thì động quan. Tám giờ phải không? Bây giờ là 7 giờ 29 rồi. Watson à! Tôi đã sử dụng ra sao cái óc tí xíu mà trời ban cho? Nhanh lên, nhanh lên! Một vấn đề sống chết, và cơ may để chết là một trăm trên một. Nếu ta tới muộn, tôi sẽ không tha thứ cho tôi về chuyện đó.
Năm phút sau, chúng tôi ngồi trong xe ngựa. Mặc dù tài xế đánh ngựa tới tấp, khi đi ngang đồng hồ Big Ben, cây kim chỉ 8 giờ kém 25 và đổ vang 8 giờ khi chúng tôi xuống xe ở Brixton. Tuy nhiên mọi người cũng đều đi trễ. Lúc 8 giờ 10 xe tang còn đậu trước cổng nhà. Khi con ngựa sùi bọt mép của chúng tôi ngừng lại, ba người khiêng quan tài đã ra đến ngưỡng cửa. Holmes ào ào chạy tới trước mặt họ để cản đường.
- Lui lại.
Anh la lớn vào bọn đạo tì rồi đặt tay trên vai người gần nhất.
- Ðem quan tài trở vào nhà tức khắc?
- Ông muốn gì nữa? Tôi hỏi ông một lần nữa? Ông có trát tòa không? - Hăn-ri thét lên giận dữ.
- Trát trên đường đi tới đây, cái hòm này sẽ ở lại trong nhà cho tới khi có trát tòa tới.
Tiếng nói của Holmes đượm nồng quyền uy đến nỗi các đạo tì khứng lại. Hăn-ri lẩn trốn vào nhà. Họ tuân theo lệnh Holmes.
- Nhanh lên, Watson tuộc-nơ-vít đây - Holmes thét lên khi hòm được đặt trên bàn - Còn đây một cái tuộc-nơ- vít khác cho bạn. Thưởng một bảng nếu nắp được mở trong vòng một phút! Không ngập ngừng gì hết Ra tay!
Tốt.
Một cái nữa! Một cái nữa. Cùng nhau kéo nó lên. Tốt. À, hay lắm.
Kết hợp sức mạnh, chúng tôi giở được nắp hòm. Từ trong bốc ra mùi thuốc mê nồng nặc. Một xác được trải dài, đầu bịt băng thấm nhựa thuốc phiện. Trong nhấp nháy, Holmes gỡ hết, để lộ một khuôn mặt cứng đơ của một người đàn bà đẹp, cỡ 40 tuổi. ông lấy tay dựng đứng phần thân và duy trì nó ở thế ngồi.
- Bà ấy sống không, Watson. Còn tồn tại tia sinh lực nào không? Chúng ta đã đến quá trễ.
Trong nửa giờ, chúng tôi có cảm giác là trễ. do hiệu quả của thuốc mê hoặc do bị làm ngạt thở thật sự, mệnh phụ Ca-pha có thể đã tới mức không còn hy vọng gì nữa.
Cuối cùng nhờ hô hấp nhân tạo, chích ê-te và nhờ tất cả những gì mà khoa học có thể có. Một làn sương nhẹ trên kính và sự nhấp nháy của mi mắt báo cho chúng tôi biết rằng sự sống từ từ trở lại.
Một xe ngựa ngừng trước nhà. Holmes kéo sáo lên.
- Lestrade cầm trát tòa tới- Holmes loan báo - Ông ấy sẽ kiếm bắt các con mồi đang lẩn trốn và đây...
Những bước đi nặng nề ngoài hành lang.
- Và đây là một người có nhiều quyền hơn chúng ta, để chăm sóc mệnh phụ này. Kính chào ông Phi-líp. Tôi nghĩ rằng ta nên chở mệnh phụ đi nhà thương càng sớm càng tốt. Trong khi chờ đợi, bà lão vẫn có thể đi tiếp con đường tới nơi an nghỉ cuối cùng.
Anh Watson, có lẽ anh nên ghi thêm câu chuyện này vào mớ hồ sơ của anh. Nó minh họa sự sơ sót tạm thời mà dù cái tâm trí quân bình nhất trên đời cũng mắc phải.
Những sơ hở tương tự thường xảy ra cho mọi người. May mắn cho kẻ nhận ra kịp và kịp thời sửa chữa. Tôi có quyền kiêu hãnh về điều này. Ðêm trước, tôi cứ thắc mắc rằng, đâu đó một chỉ dẫn, một câu nói lạ tai, một nhận xét kỳ dị đã đến với tôi nhưng tới đã gạt bỏ chúng. Rồi thình lình trong ánh sáng lờ mờ của buổi bình minh, các lời đó trở lại trong ký ức tôi. Ðó là nhận xét của bà chủ cửa hàng mai táng, như Phi-líp tường thuật lại.
Bà ấy nói: .
“ông ấy sẽ về đến ông ấy có xin thêm thời gian, bởi vì cái kiểu đặc biệt”. Bà ấy nói về cái hòm, như vậy là kích thước vượt ra ngoài lệ thường. Tại sao? Tại sao? Thình lình tôi nhớ đến chiều sâu của nó và cái hình người bé nhỏ khô đét bên trong. Tại sao một cái hòm rộng mênh mông mà chỉ để chứa một cái xác tí tẹo, nếu không phải để chứa thêm một cái xác thứ hai? Hai xác sẽ được chôn với một giấy phép độc nhất. Rõ như ban ngày, thế mà đầu óc tôi rối mù?
Quả là một may mắn nhỏ nhoi nếu tìm ra bà ta trong tình trạng còn sống, nhưng cuối cùng quả có may thật. Theo tôi biết, mấy người đó không dám tự mình cầm dao cầm súng giết ai. Họ có thể chôn bà mệnh phụ mà không ai hay biết tí gì.
Anh Watson, anh có thể dựng lại quang cảnh một cách dễ dàng. Anh đã quan sát cái xó hãi hùng trên gác, nơi mà mệnh phụ bị nhất lâu ngày? Họ cho bà ấy ngửi thuốc mê tối đó, đưa bà ấy xuống, cho thêm thuốc mê vào hòm để chắc chắn rằng bà không thể tỉnh lại, rồi vặn ốc cái nắp hòm. Mưu chước tinh vi thật? Một mưu chước mới mẻ trong lịch sử tội ác. Nếu cái nhà cựu truyền giáo này không bị Lestrade còng tay thì chắc chắn sau này ta sẽ nghe thêm những chiến tích kinh rợn hơn!
Cuộc đời như những cơn mưa
Đăng nhập để trả lời
0
VÒNG TRÒN ÐỎ
(lukhach chỉnh chính tả)

Phần I

- Bà Wa-ren ạ, bà không có lý do chính đáng để ưu tư, và về phần tôi, tôi đang lưu tâm đến nhiều công việc nghiêm trọng hơn - Sherlock Holmes nói xong, tiếp tục cúi đầu xuống quyển album lớn.
Tuy nhiên bà chủ nhà vẫn bám riết:
- Năm ngoái, ông đã thu xếp công việc cho một trong mấy người thuê nhà tôi.
- Vâng, một việc không đáng kể.
- Ông ấy nhắc luôn về lòng tốt của ông và về cái cách mà ông biết “làm cho ánh sáng phát sinh từ bóng tối” Tôi nhắc lại lời của ông ấy. Tôi biết rằng hễ ông muốn là được.
Holmes nhạy cảm trước những lời “nói khéo” và cũng xúc động trước nhưng lời kêu gọi sự hảo tâm của mình. Anh thở dài, ngẩng mặt lên, kéo lui cái ghế.
- Ðược, bà Wa-ren. Tôi lắng nghe bà đây. Xin phép bà cho tôi hút thuốc. Cám ơn bà? Nếu tôi không lầm thì bà đang lo lắng vì người mướn nhà cứ ở riết trong phòng.
Có gì đâu, nếu tôi mướn phòng của bà, bà cũng không thấy tôi xuất hiện mỗi ngày!
- Có thể lắm, nhưng đây là chuyện khác. Tôi sợ, thưa ông Holmes, sợ đến nỗi mất ngủ. Nghé tiếng bước đi nhanh của ông ấy từ sáng tới khuya, nhưng không bao giờ thấy mặt ông ấy. Chồng tôi cũng bực dọc như tôi, nhưng anh ấy đi làm suốt ngày. Còn tôi, căng quá.
Tại sao ông ấy giấu mặt.
Ngoài cô gái giúp việc, ở nhà không còn ai.
Holmes nghiêng ra phía trước để đặt các ngón tay mảnh mai của anh trên vai bà chủ nhà. Dường như anh có khả năng xoa dịu mọi trường hợp băn khoăn. Sự sợ hãi biến khỏi đôi mắt của thân chủ: bà bình tĩnh trở lại.
- Nếu tôi chăm lo vụ này thì bà phải kể ra tất cả các chi tiết. Bà cứ thoải mái suy nghĩ, và nhớ lại tất cả đi? Bà có nói rằng người ấy dọn vào nhà cách nay mười ngày và đã thanh toán tiền ăn, ở đủ mười lăm ngày.
- Thưa ông, ông ấy có hỏi về các điều kiện tôi đề nghị năm mươi si-ling một tuần cho bộ xa-lông nhỏ trong một phòng ngủ đủ tiện nghi trên gác.
- Rồi sao nữa?
- Ông ấy đáp: “Tôi sẽ trả cho bà năm bảng một tuần, nếu bà chấp thuận các điều kiện của tôi”. Ông ta trao cho tôi một tờ mười bảng, và nói: “Bà sẽ nhận hai tuần một lần, nếu bà chấp thuận, còn không thì thôi, xin kiếu từ!”.
- Ðiều kiện như thế nào?
- Holmes hỏi.
- Ðưa cho ông ta một chìa khóa nhà. Ðâu có sao phải không ông? Nhưng ông ta lại căn dặn thêm: khỏi phải bận tâm, và đừng bao giờ quấy rầy tôi.
- Các điều kiện như vậy không có gì bất bình thường cả!
- Ðúng lý thì không. Nhưng ông ấy ở đã mười ngày rồi. Vợ chồng tôi và cả cô gái giúp việc đều không gặp ông ấy. Chúng tôi chỉ nghe tiếng bước chân lui tới, tới lui, sáng, trưa, chiều, tối. Trừ buổi tối đầu tiên, ông ấy không bao giờ ra khỏi nhà.
- Ủa, ông ấy có ra khỏi nhà vào buổi tối đầu tiên?
- Ðúng thế, thưa ông, và về rất khuya. Sau khi trả tiền, ông ấy cho tôi hay trước rằng ông sẽ đi vắng và dặn tôi đừng gài cửa. Nửa đêm tôi có nghe ông ấy về.
- Còn các bữa ăn?
- Ông ấy có dặn: Khi nào ông ấy nhấn chuông, chúng tôi phải mang cơm lên, đặt trên cái ghế trước cửa phòng. Rồi nghe tiếng thứ hai thì dọn sạch. Khi cần điều gì, ông ấy sẽ kẻ chữ in trên một mảnh giấy để trên ghế.
- Kẻ chữ?
- Ðúng thế, kẻ chữ in bằng bút chì, chỉ ghi các từ cần thiết, không dư, không thừa: hoặc xà phòng hoặc bao diêm, hoặc tờ Daily Gazette.
Mỗi sáng tôi mang điểm tâm và tờ báo lên.
- Anh Watson- Holmes nói lớn rồi tò mò nghiên cứu các miếng giấy con con - Tự giam hãm trong nhà, điều đó không có gì lạ. Nhưng kẻ chữ in là một việc khác mọi người? Anh nghĩ gì về cái tật kỳ cục này?
- Hắn muốn giấu nét chữ.
- Tại sao. Người chủ nhà trọ biết nét chữ của mình thì có sao đâu? Ngoài ra, tại sao lại viết cụt ngủn như thế Tôi cũng thắc mắc - Một đề tài lý thú? Chữ được viết bằng bút chì tím, to đầu, loại thường. Này, để ý, giấy bị xé tại đây, ngay sát chữ, đến nỗi chữ “X” của “Xà phòng” gần như biến mất.
Cần suy nghĩ, phải không anh Watson?
- Một sự thận trọng chăng?
- Ðương nhiên. Chắc chắn có dấu tay, dấu của ngón cái, có thể làm lộ căn cước của người viết. Này bà Wa-ren, bà đã nói rằng ông ta là một người có râu, tầm vóc trung bình, da nâu. Bà đoán xem ông ấy bao nhiêu tuổi?
- Thưa ông, không quá ba mươi.
- Bà có thể cố gắng moi trí nhớ để cung cấp thêm những chi tiết khác không?
- Ông ta nói tiếng Anh rất giỏi. Theo giọng nói thì hình như là người nước ngoài.
- Ăn mặc ra sao?
- Rất đàng hoàng. Một người thượng lưu. Quần áo màu sẫm, không có gì đặc biệt để lưu ý.
- Ông ta không cho bà biết tên à?
- Không, thưa ông.
- Và không thư từ hay khách khứa gì sao?
- Không, thưa ông.
- Buổi sáng, bà hay cô gái giúp việc vào phòng đó?
- Không, ông ta tự quét dọn.
- Ðấy là chuyện rất lạ.
ông ta có hành lý không?
- Chỉ có một cái bị to màu nâu.
Thế thôi.
- Vậy là không có bất cứ một thứ gì đưa ra khỏi phòng.
Bà chủ nhà trọ lấy trong xách tay một phong bì. Từ đó bà rút ra những que diêm đã cháy và một tàn thuốc để lên bàn.
- Mới sáng nay. Ðể trên mâm điểm tâm. Tôi cất giữ nó vì tôi nghe nói ông có thể suy đoán một ngàn chuyện từ những cái vô cùng vặt vãnh.
Holmes nhún vai:
- Không có nghĩa gì cả. Ðương nhiên. Diêm đã đánh để châm thuốc. Căn cứ theo phần cháy. Phải một que thì mới đốt được ống tẩu hoặc một điếu xì-gà. Mà... này! Anh chàng có râu quai nón, râu mép, bà có nói thế, phải không?
- Ðúng, thưa ông.
- Lạ lùng? Chỉ có người cạo râu nhẵn nhụi mới hút cái điếu thuốc này. Nhìn này, Watson! Dù khéo léo đến đâu, bộ râu mép của anh ta cũng sẽ bị cháy!
- Có lẽ y hút qua cán.
- Không đâu. Cái đầu điếu còn chất keo rõ ràng. Tôi đoán rằng người này ăn rất ít, bà Watson?
- Ðúng ông ta ăn ít đến nỗi tôi không biết làm sao anh ta sống được!
- Hừm. Có lẽ phải chờ thêm yếu tố mới. Nói cho cùng, bà không có cớ để kêu ca. Bà đã nhận tiền cho thuê phòng, mặt khác, ông ta có gây phiền hà gì đâu. Ðó chỉ là người khách trọ bình thường. Chúng ta không có quyền xâm phạm sự ẩn dật đó, trừ phi ta có cơ sở để quyết đoán rằng đó là cách trốn công lý. Tôi sẽ theo dõi kỹ. Bà hãy báo cho tôi tất cả những sự kiện mới và bà có thể tin cậy nơi tôi.
Khi bà chủ quán trọ ra về, Holmes suy nghĩ.
- Nội vụ rõ ràng có những chi tiết kỳ thú. Có thể đây chỉ là một trường hợp lập dị, cũng có thể là một câu chuyện có chiều sâu mà thoạt nhìn không thể chất. Cái ý tưởng đầu tiên xuất hiện trong trí tôi là người hiện trọ không phải là người trả tiền thuê nhà.
- Do đâu mà anh nghĩ như vậy?
- Chuyện quái lạ là cái lần độc nhất mà người trọ đi ra ngoài ngay sau khi gửi phòng. Ông ta trở về? Ông ta hay là một kẻ khác? Khi mà tất cả mọi người đều ngủ. Ngoài ra, người thanh toán tiền nói tiếng Anh giỏi, còn người này thì viết. Lối hành văn cụt ngủn có thể nhằm che giấu kiến thức rất nghèo nàn về tiếng Anh. Tôi vẫn thắc mắc rằng ở đây có sự “tráo người trọ”.
- Ðể làm gì?
- Ðấy là vấn đề.
Chúng ta sẽ đi theo hướng này...
Holmes lấy cuốn sổ lớn trong đó chữa các mục nhắn tin đăng trên các báo lớn của Luân Ðôn.
- A? - Vừa lật sổ Holmes vừa thốt lên - Quả là một bản hợp xướng rên la than khóc? Một sọt rác chuyện tạp nham? Thằng cha này cô độc, nó không thể nhận thư tín vì sợ lộ bí mật. Vậy bằng cách nào mà tin tức vào nhà được? Ðương nhiên phải qua mục nhắn tin, đây Cái nhắn tin cắt trong Daily Gazette lúc 15 giờ này:
“Người đàn bà có con trăn đen tại câu lạc bộ trượt băng Hoàng Tử“Mẫu khác: “Ðương nhiên Jim không muốn làm mẹ đau khổ”. Hai cái này có lẽ không dinh dáng gì tới người vô danh của chúng ta. “Người đàn bà ngất xỉu trên xe buýt đi, Brixton...” cũng chả ăn nhập gì. “Mỗi ngày tim tôi thổn thức... rên khóc”. Anh Watson ơi. Rên khóc một cách vô liêm sỉ à, đây “Nhẫn nại sẽ tìm ra cách liên lạc an toàn. Chờ đợi ở mục nhắn tin này - G”. ' Tin ngày nào? Sau ngày đến của người trọ tại nhà bà Wa-ren hai ngày. Nghe xuôi tai không? Người vô danh đọc và hiểu tiếng Anh, dù viết không tốt. Xem coi có gì nối tiếp không. Có đây: Ba ngày sau: “Tôi chuẩn bị để thành công. Nhẫn nại và thận trọng. Mây mù sẽ tan - G”. Rồi bặt hẳn một tuần. Nhưng giờ đây có chuyện chính xác hơn: “Ðường đi đã trống. Nếu tôi có dịp liên lạc bằng dấu hiệu, thì vẫn theo quy ước cũ - G”. Ðó là trong tờ báo hôm qua. Còn hôm nay thì không có gì cả, tất cả đều không thể ăn khớp hoàn toàn với người trọ tại nhà bà Wa-ren? Ðợi một thời gian ngắn nữa, tôi tin chắc rằng nội vụ sẽ trở nên dễ hiểu hơn.
Holmes đã đoán đúng. Sáng hôm sau, tôi thấy anh đứng quay lưng vào lò sưởi, mặt hớn hở.
Anh nghĩ gì về cái nhắn tin này, Watson- Holmes vừa hỏi vừa lấy tờ báo trên bàn.
“Tòa nhà lớn màu đỏ có phủ đá trắng. Tầng ba. Cửa sổ thứ nhì bên trái. Sau hoàng hôn - G”. Cái tin này thì khá chính xác. Tôi đề nghị sau khi ăn sáng, chúng ta sẽ đi thám sát trong vùng nhà của bà Wa-ren...
- A chào bà Wa-ren! Sáng nay, bà đem đến cho chúng tôi tin tức gì đấy?
Vẻ mặt giận dữ của bà báo trước là có chuyện mới và chấn động.
- Phải cho cảnh sát biết thôi, ông Holmes à. Tôi không chịu đựng nổi, phải tống hắn ra khỏi nhà. Tôi muốn hỏi ý kiến ông trước. Tôi không thể nhịn được nữa! Ông nghĩ xem, ông chồng già của tôi bị tấn công?
- Chồng bà bị đánh đập?
- Dù sao họ cũng đã mạnh tay với ông ấy!
- Ai mạnh tay?
- Chính tôi rất muốn biết điều này, nhà tôi làm nhân viên bấm giờ tại công ty Morton và Waylights ở đường Tottenham Court. Ông phải rời nhà trước 7 giờ sáng. Sáng nay chồng tôi chưa đi được mười bước thì hai người đàn ông từ sau đi đến, lấy một cái măng-tô phủ đầu ông, ném ông lên một xe ngựa chờ sẵn bên lề đường.
Chúng chở ông đi lòng vòng trong một giờ rồi mở cửa xe, đạp ông xuống đường. Lồm cồm ngồi dậy, chồng tôi thấy mình đang ở trên đường Hampstead Heath. Ông liền lên xe buýt và hiện thời đang nằm dài ở nhà. Tôi tức tốc đến đây báo cáo.
- Rất hấp dẫn. Ông ấy có quan sát bọn đó không? Chúng ra làm sao? ông ấy có nghe chúng nói chuyện không.
- Không, khi hồn vía đang lên mây thì còn biết gì?
- Ông cho rằng ông bị bùa, và nhớ mang máng có hai ba người đàn ông trong xe.
- Bà cho rằng việc tấn công này có liên quan đến người bí mật cư ngụ trong nhà bà?
- Chúng tôi sống tại đó đã mười lăm năm rồi, có bao giờ xảy ra câu chuyện như thế. Tôi chán ngấy hắn rồi. Tiền bạc đâu có giải quyết được mọi chuyện. Tôi sẽ tống khứ hắn trước tối nay.
- Bà hãy chờ một chút. Tôi bắt đầu thấy nội vụ có thế quan trọng hơn rồi đó. Rõ ràng là người trọ nhà bà đang bị đe dọa, kẻ thù của ông ta đang rình rập gần nhà, lầm lẫn chồng bà với ông vì sương mù buổi sáng, khi biết đã lầm, họ mới thả ông nhà ra. Nếu không lầm, thì họ đã làm gì nào?
- Vậy thì tôi phải hành động ra sao- Bà Wa-ren hơi bình tĩnh lại.
- Tôi rất muốn gặp người khách trọ ở nhà bà - Holmes nói.
- Tôi không biết quý vị làm thế nào mà gặp ông ta, trừ khi phá cửa Tôi luôn luôn nghe ông ta khóa cửa sát khi tôi mang điểm tâm lên và đi xuống lầu.
- Ít ra ông ấy cũng phải ra cửa để bưng mâm vào. Chúng tôi ngồi rình ở đâu đó.
Bà chủ nhà trọ suy nghĩ.
- Thưa ông, đàng trước có cái kho cũ. Tôi sẽ bố trí một cái gương, đề nghị quý ông nấp sau cánh cửa.
- Hay quá?
Mấy giờ thì ăn trưa?
- Khoảng 1 giờ.
- Vậy thì bác sĩ Watson và tôi sẽ đến đó đúng giờ.
- Kính chào bà Wa-ren!
Lúc 12 giờ 30, chúng tôi đến. Căn nhà cao bằng gạch màu vàng, nằm tại đường Great Howe, có một đường nhỏ đâm vào mặt đông bắc của viện bảo tàng. Vị trí gần ngã ba của nó, giúp nó nhìn bao quát con đường cùng các nhà xa hơn của đường này. Holmes cười nhẹ đưa tay chỉ về một trong các nhà nguy nga: nó nhô ra và dễ chú ý đến.
- Thấy không Watson. Toà nhà lớn màu đỏ có phủ đá trắng. Ðó là điểm hẹn. Chúng ta biết chỗ, lại biết mật mã thì nhiệm vụ sẽ dễ dàng. Trên cửa sổ có một tấm bảng đề hai chữ “cho thuê” . Rõ ràng là một căn hộ trống và kẻ tòng phạm có thể chui vào. Nào bà Wa-ren, có gì mới mẻ?
- Tất cả đã sẵn sàng.
Quý vị có thể lên, tôi đưa đường.
Bà đã thu xếp một chỗ nấp tuyệt hảo. Ngồi trong bóng tối, chúng tôi cũng thấy rõ cái cửa đối diện. Chúng tôi vừa an vị và bà Wa-ren vừa rời khỏi chỗ chúng tôi ẩn thì một tiếng leng keng văng vẳng báo cho chúng tôi biết rằng người khách trọ kỳ lạ đã kéo chuông. Một thoáng sau, bà Wa-ren xuất hiện với cái mâm. Bà đặt nó lên cái ghế cạnh cửa, rồi nặng nề bước xuống cầu thang.
Ngồi chồm hổm trong góc cửa ép vào nhau, chúng tôi nhìn đăm đăm vào cái gương. Ðột ngột, sau khi tiếng bước chân của bà Wa-ren xa dần, chúng tôi nghe chìa khóa khua lách cách, nắm đấm cửa xoay, hai bàn tay mảnh mai đưa ra bưng mâm cơm. Lập tức mâm được trả về chỗ cũ và tôi thấy trong khoảnh khắc, một khuôn mặt hoảng hốt nhìn cái cửa kho hé mở. Rồi cửa lại đóng, chìa khóa lại khua lách cách. Tất cả lại yên tĩnh. Holmes lay tay áo tôi, và chúng tôi rón rén xuống cầu thang.
- Tôi chúng tôi sẽ quay lại.
Holmes nói với bà chủ trọ đang chạy lại hỏi thăm.
- Watson à, về nhà chúng ta sẽ thảo luận thoải mái hơn.
Ngồi vào ghế bành, Holmes nói:
- Ðúng như tôi dự đoán, đã có sự thay thế người ở trọ. Ðiều không dự đoán được đó là một người đàn bà.
- Bà ấy đã thấy chúng ta?
- Ồ, chắc chắn bà ấy có thấy một cái gì đó nên mới hoảng hốt. Câu chuyện trở nên dễ hiểu, phải không? Một cặp vợ chồng kiếm chỗ tị nạn tại Luân Ðôn, để tránh một hiểm họa vừa khủng khiếp vừa gần kề. Chúng ta có thể đo lường cái hiểm họa theo độ nghiêm ngặt của các cách đề phòng. Người chồng vì cần làm cho kỳ được một cái gì đó, nên muốn rằng trong lúc đó, vợ ông ta phải được an toàn tuyệt đối. Bài toán không dễ, nhưng đã được giải quyết một cách hữu hiệu đến nỗi bà chủ nhà trọ hàng ngày mang thức ăn tới mà không biết gì cả. Các' mảnh giấy kẻ bằng chủ in, rõ ràng là để giấu chữ viết của một người phái nữ, vì sợ bị bại lộ. Do không thể liên lạc trực tiếp được, ông ta phải dùng mục nhắn tin trên báo. Tối nay thì mọi sự đều đơn giản.
- Nhưng mà cái gốc của câu chuyện là cái gì?
- Câu hỏi khôn ngoan quá. Anh quả là người luôn luôn thực tế. Gốc rễ của toàn câu chuyện là gì? Cái bài toán mà bà Wa-ren đặt ra mỗi lúc một lan rộng, và càng tiến xa càng để lộ những dữ kiện đen tối hơn. Kể từ phút này, ta có thể khẳng định rằng: một là, sự vụng trộm ái tình bình thường. Bạn đã thấy nét mặt của người đàn bà khi cảm thấy có hiểm họa. Hai là đã có một sự tấn công lầm lẫn (mà ông chủ nhà trọ là nạn nhân). Các sự báo động cùng với nhu cầu tối thiết về bí mật cho thấy tính sinh tử của vấn đề. Mặt khác sự tấn công lầm đã cho ta thấy rằng kẻ thù không hay biết có sự tráo người trọ. Rất là kỳ lạ, và phức tạp?
- Tại sao anh lại bận tâm đến nó làm gì?
Ðược lợi lộc gì?
- Nghệ thuật vị nghệ thuật mà? Tôi đã biết rằng đôi khi anh cũng hành nghề y mà không được lời một xu?
- Ðể học hỏi?
- Phạm vi của học vấn là bao la. Phải học mãi, và bài học cuối cùng mới là bài quan trọng. Cho nên trước một trường hợp có lợi cho học vấn, thì tuy sẽ chẳng được lợi gì về tiền bạc hoặc tiếng tăm ta cũng phải tham dự thôi. Ðêm nay, cuộc điều tra sẽ tiến một bước khá dài.
Khi chúng tôi trở lại nhà bà Wa-ren, ánh sáng lù mù của một đêm đông càng dày đặc thêm, ngả thành màu xám xịt, lốm đốm vàng do các cửa sổ và đèn đường.
Chúng tôi vào phòng khách của bà chủ trọ. Ðèn tắt, chúng tôi nhìn ra ngoài, xuyên qua cửa kính, bất chợt ở bên kia đường với một ánh sáng lấp lánh trong bóng đêm.
- Ai đó đang xê dịch trong phòng.
Holmes thì thầm dán chặt cái đầu xương xẩu và nhọn hoắt vào cửa kính.
- Ðúng thế, tôi thấy rõ cái dáng của người ấy. Hắn cầm nến trên tay. Hắn quan sát bên này đường. Có lẽ hắn muốn biết chắc rằng bà ấy đang chờ đợi. Kìa hắn bắt đầu đánh tín hiệu kia kìa. Watson, anh cũng nên ghi các tín hiệu, để chúng ta so kết quả. Chỉ lóe sáng một lần... chắc chắn là chữ A. Nè... bao nhiêu lần Watson, hai mươi chăng?Tôi cũng thế, vậy là chữ T. . . AT khá dễ hiểu... Một chữ T khác. Chắc chắn đấy là khởi đầu của cái từ thứ nhì.
TENTA chấm. Chẳng lẽ hết rồi sao? ATTENTA? Không có nghĩa gì cả. Hoặc giả là AT, TEN, TA? Cũng không rõ gì hơn, trừ khi TA là hai chữ cái của tên ai đó. Kìa, hắn lại tiếp tục Cái gì nhỉ? ATTE... Sao? Vẫn một lối mật mã?
Lạ kỳ, Watson à, vô cùng lạ kỳ. Lại dừng. Không.Hắn tiếp tục AT. . . sao? Hắn lặp lại lần thứ ba? ATTENTA, ba lần? Hắn sẽ còn đánh lại bao nhiêu lần nữa. Không, hình như xong rồi. Hắn rời cửa sổ rồi. Anh nghĩ sao Watson?
- Một điệp văn mật mã.
Holmes đột ngột cười ép tiếng, biểu lộ sự thông hiểu.
- Mật mã không tối tăm lắm đâu. Tiếng ý. Chữ A đầu có nghĩa là điệp văn được gửi cho một người đàn bà. Với chữ này, hắn nói: “Coi chừng? Coi chừng? Coi chừng! Ðúng thế.
- Phải là một điệp văn rất khẩn cho nên hắn mới lặp lại ba lần.
Chờ xem kìa, hắn quay lại cửa sổ.
Lại một lần nữa chúng tôi thấy rõ dáng dấp lờ mờ của một người đàn ông. Các tín hiệu được gửi tiếp nhưng nhanh hơn, nhanh đến nỗi khó theo dõi.
- PERICOLO Pericolo là gì Watson? Pericolo là hiếm nguy chứ là gì. Ðúng rồi, đó là một tín hiệu báo động. y lặp lại: PERI... Chuyện gì vậy?
Ánh sáng đột ngột tắt, toàn tầng lầu chỉ còn là một băng đen bao quanh cao ốc. Tiếng báo nguy bị cắt ngang?
Ai cắt và cắt bằng cách nào. Cùng một ý tưởng nảy sinh trong đầu chúng tôi và Holmes nhảy dựng lên.
- Nghiêm trọng rồi, Watson ơi- Anh la lớn - Một màn gian ác đang diễn ra. Tại sao bức điện văn bị gián đoạn đột ngột? Ta phải báo cho Scotland Yard. Nội vụ diễn tiến dồn đập.
- Anh muốn tôi di tìm cảnh sát.
- Có lẽ nên chờ cho tình hình rõ nét hơn. Có thể có một điều gì đó rất rắc rối. Nào Watson, chúng ta băng qua đường và quan sát cặn kẽ hơn.

Phần II

Trong khi chúng tôi nhanh chân hướng về con đường Howe, tôi quay lại nhìn ngôi nhà chúng tôi vừa rời. Ðằng sau cửa sổ trên cao hiện lờ mờ bóng của một cái đầu, một người đàn bà đứng lặng nhìn chòng chọc vào bóng đêm. Có lẽ đang chờ cái điệp văn bị đứt đoạn. Trước cổng tòa nhà ở đường Howe, một người đàn ông, cổ áo choàng kéo cao đang dựa vào song sắt. Khi ánh sáng của đại sảnh rọi vào mặt chúng tôi, ông nhảy dựng.
- Holmes!
- ông la lớn.
- Ủa, Grếch-xơn? - Holmes kêu to và bắt tay người thám tử của Scotland Yard - Ðồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu phải không Grếch-xơn? Việc gì vậy?
- Cùng một việc thôi, nhưng sao lại có anh can dự vào?
- Qua nhiều mối chỉ, khác biệt với các đầu mối của ông nhưng thuộc cùng một cuộn.
Tình cờ tôi bắt gặp các tín hiệu.
- Tín hiệu?
- Ðúng thế, từ cái cửa sổ kia. Nửa chừng thì bị cắt đứt. Chúng tôi băng qua đường để tìm hiểu lý do.
- Nhưng ông đang thụ lý, tôi không còn lý do để tiếp tục cuộc điều tra.
- Chờ một chút- Grếch-xơn nhiệt tình kêu lên - Anh Holmes, tôi thú thật rằng, hễ mỗi khi có anh tham gia thì tôi cảm thấy hăng hái hơn. Tòa nhà này chỉ có một cửa duy nhất, do đó nó chạy không thoát đâu.
- Ai vậy?
- Ha!
Ha! Lâu lắm chúng tôi mới ghi một bàn thắng.
Viên thám tử lấy gậy động trên đất. Người xà ích, tay cầm roi ngựa, rời xe tứ mã bước qua.
- Tôi xin phép giới thiệu ông với ông bạn Sherlock Holmes - Grếch-xơn nói với người xà ích - Ðây là ông Lê-vơ, thuộc dịch vụ cảnh sát Hoa Kỳ.
- Tôi hân hạnh được biết ông?
- Holmes nói.
Người Hoa Kỳ với khuôn mặt trẻ, không râu, mảnh khảnh, điềm đạm nói:
- Tôi nghe danh ông đã lâu.
Chỉ chờ bắt được thằng Gioóc này.
- Sao? Gioóc của Vòng Tròn Ðỏ.
- À, té ra hắn ta cũng nổi tiếng tại âu châu. Tại Hoa Kỳ, chúng tôi đều biết rõ bản mặt hắn. Hắn chủ mưu khoảng năm mươi vụ án mạng, nhưng chúng tôi chưa nắm được một bằng chứng cụ thể nào. Tôi đã bám sát hắn từ New York. Một tuần nay, tôi theo hắn sát gót. Tôi chỉ còn chờ một cái cớ để thộp cổ. Grếch-xơn và tôi đã thấy hắn lẩn trốn trong tòa nhà này. Chỉ có một cửa ra, hắn sẽ chạy không thoát đâu. Từ lúc hắn vào, ba người đã đi ra, nhưng không phải là hắn.
- Ông Holmes có nói với tôi về các tín hiệu - Ghếch- xơn nói - Tôi tin rằng như thường lệ, ông ấy sâu sắc hơn chúng ta.
Holmes trình bày ngắn gọn. Người bạn Hoa Kỳ bực dọc, xoắn hai bàn tay vào nhau.
- Chúng ta bị phát hiện rồi?
- Lê-vơ la lớn.
- Căn cứ vào đâu?
- Hắn đang gởi một điệp văn cho một tòng phạm. Bè lũ chúng ở Luân Ðôn này đông lắm. Chính vào cái lúc hắn đang báo động thì đột ngột bị gián đoạn. Ðiều đó có nghĩa gì, nếu không phải là thình lình hắn thấy bọn chúng mình đứng ngoài đường, hoặc hắn đột ngột biết có một hiểm nguy đang đe dọa nên hắn phải ngừng ngay tức khắc. Ông nghĩ sao, ông Holmes?
- Theo tôi, chúng ta nên leo lên liền và sẽ quyết định.
- Nhưng chúng ta không có trát bắt giam hắn!
- Hắn ở tại khu nhà bỏ trống trong những điều kiện khả nghi - Grếch-xơn đáp.
- Tạm thời thì bấy nhiêu cũng đủ. Khi bắt hắn rồi, chúng ta sẽ chờ New York tiếp tay để chúng ta nhốt hắn. Phần tôi, tôi nhận trách nhiệm bắt hắn ngay tức khắc.
Các thám tử của nhà nước đôi khi thiếu trí tưởng tượng, nhưng rất thừa dũng cảm. Grếch-xơn leo lên gác, nhẹ nhàng như lúc leo lên cái cầu thang lớn của sở Seotland Yard.
Lê-vơ đi trước, nhưng Grếch-xơn đã mạnh tay gạt anh ta qua một bên. Những hiểm nguy của Luân Ðôn phải là đặc quyền của người Luân Ðôn.
Cánh cửa của căn phòng ở phía trái của tầng ba, lúc đó đang hé mở Grếch-xơn mở toang nó ra. Tối đen và im lặng. Tôi bật diêm, châm đèn xách tay của viên thám tử.
Khi ngọn lửa đã sáng tỏ, chúng tôi đồng loạt kêu lên vì ngạc nhiên. Trên sàn nhà, những dấu chân máu chảy dài từ một căn phòng cửa đóng kín. Grếch-xơn dùng vai tung mạnh cửa, và đưa đèn lồng lên. Chúng tôi nhón chân, nhìn chăm chăm qua vai ông.
Chính giữa căn phòng trống, xác của một người khổng lồ nằm dài trong vũng máu. Mặt hắn nhẵn nhụi, sạm nắng, méo mó kỳ lạ. Ðầu gối co lại, hai bàn tay xòe ra và đưa cao trong sự co giật trong lúc chết. Ở cổ, một cán dao màu trắng cắm sâu vào đó. Cạnh bàn tay mặt của hắn một dao găm cán sừng lưỡi đôi nằm gần một chiếc bao tay da dê đen.
- Ðúng là Gioóc Ðen- Viên thám tử Hoa Kỳ la to - Ai đó đã nhanh tay hơn chúng ta.
- Còn đây, cây nến cạnh cửa sổ, anh Holmes - Grếch-xơn cười đùa.
- Anh làm cái trò quỷ gì đó?
Lúc đó, Holmes cầm cây nến cháy đưa qua đưa lại ngay trước cửa sổ rồi nhìn vào đêm tối. Cuối cùng, thổi cây nến và quăng nó xuống đất.
- Tôi tin tôi sẽ đóng góp một điều ích lợi- Holmes nói khẽ rồi đứng lặng thinh.
Trong lúc hai thám tử nhà nghề khám nghiệm tử thi, Holmes nói tiếp:
- Trong lúc các anh chờ dưới đường có thấy ba người đã ra khỏi tòa nhà này?
Các anh thấy rõ không?
- Rõ.
- Các anh có để ý một anh chàng khoảng 30 tuổi, không cao, râu quai nón đen?
- Có.
Hắn ra sau cùng.
- Ðó là hung thủ. Tôi có thể cung cấp dấu hiệu đặc biệt của hắn vì chúng ta có dấu chân rõ ràng của hắn.
- Vậy là đủ rồi chứ gì?
- Chưa đủ, ông Holmes, Luân Ðôn có tới mấy triệu người mà.
- Quả là chưa đủ.
Do đó, tôi đã mời bà này tới tiếp tay.
Tất cả chúng tôi đều quay lại. Trong khung cửa lớn xuất hiện một người đàn bà cao lớn, rất đẹp. Ðó là người trọ tại nhà bà Wa-ren. Bà từ từ bước vào, mặt tái xanh vì sợ sệt. Ðôi mắt hoảng hốt nhìn đăm đăm vào kẻ nằm sõng soài trên sàn nhà.
- Các ông đã giết nó!
- Bà thì thầm - ồ, các ông đã giết nó?
Tôi nghe bà hít không khí thật sâu, rồi nhảy tung lên và vui mừng. Bà chạy quanh phòng, vừa múa vừa vỗ tay. Hàng ngàn lời cảm thán bằng tiếng ý.
- Nhưng mà quý vị. Quý vị là cảnh sát phải không? Quý vị đã giết Gioóc phải không?
- Chúng tôi là cảnh sát, thưa bà.
Bà nhìn ngơ ngác sục sạo quanh gian phòng, hỏi:
- Còn Giê-na, chồng tôi đâu? Tôi là ê-mi, cả hai chúng tôi đều có nguyên quán tại New York. Giê-na đâu? Anh ấy vừa gọi tôi từ cửa sổ này, và tôi chạy sang ngay mà! Chính tôi vừa gọi bà - Holmes nói.
-Ông?
Làm sao kỳ vậy?
- Mật mã đâu có gì khó khăn. Sự hiện diện của bà tại đây rất cần. Tôi thấy chỉ cần đánh đi cái từ “vieni” bằng mật mã là bà ra ngay.
Người đàn bà ý nhìn thẳng vào Holmes với một ánh mắt lo âu.
- Tôi không hiểu vì sao ông biết được mật mã đó!
Anh ấy đã...
Bà ngừng ngang và thình lình mặt bà sáng đẹp vì kiêu hãnh và hân hoan.
- à, Tôi hiểu rồi? Anh Giê-na đẹp và diệu kỳ của tôi đã che chở tôi khỏi các nguy biến. Chính anh ấy đã giết con quái vật này? ô, anh Giê-na, anh thật là xuất chúng,
- Bà ê-mi.
Grếch-xơn kêu lên vừa đặt bàn tay lên vai bà ta một cách lạnh lùng như cách đối xử với các tên du côn.
- Hiện tại tôi không hiểu rõ bà nói gì, nhưng bà đã nói đủ để tôi có cơ sở đưa bà về Scotland Yard.
- Chờ một chút, anh Grếchốxơn. Tôi tin rằng bà này sẽ rất nhiệt tình cung cấp mọi tin tức mà chúng ta cần.
- Thưa bà, bà vui lòng hiểu cho rằng chồng bà sẽ bị bắt, sẽ ra tòa vì tội giết người. Tất cả những gì bà nói có thể được xem là lời khai của nhân chứng. Nếu bà nghĩ rằng ông nhà đã hành động vì những lý do chính đáng thì bà nên khai đầy đủ.
- Giờ đây thằng ác ôn này đã chết, chúng tôi còn gì phải sợ đâu - Bà đáp - Nó là một con quỷ, một con quái vật. Không một ông tòa nào phạt chồng tôi.
- Vậy thì - Holmes đề nghị - Chúng ta hãy đóng cửa này lại để hiện trường vẫn y nguyên và trở về phòng bà, nghe bà nói.
Nửa giờ sau, cả bọn chúng tôi ngồi trong cái xa-lông nhỏ. Bà nói tiếng Anh lưu loát nhưng không chuẩn lắm.
- Tôi sinh tại Posilippo, gần thành phố Naples của nước ý. Tôi là con gái của Ba-ren-li, trước đây là đệ nhất thẩm phán kiêm dân biểu của vùng. Giê-na là nhân viên của cha tôi và tôi yêu anh ấy. Anh ấy không có ăn, cũng không có cái gì ngoài thân hình đẹp, sức mạnh và tính cương nghị. Cha tôi không bằng lòng cho chúng tôi lấy nhau. Cả hai chúng tôi thoát ly gia đình, đám cưới được tổ chức tại ý. Sau đó, tôi bán hết nữ trang để có đủ tiền đi Hoa Kỳ. Chuyện đó xảy ra cách nay 4 năm. Từ đó, chúng tôi liên tục ngụ tại New Yord.
Lúc đầu chúng tôi gặp may. Nhờ chống trả một vài thằng du thủ du thực, Chồng tôi được lòng và được sự bao bọc của một nhà quý tộc ý có thế lực. Tên ông ấy là Castalotte, người góp vốn chính trong công ty lớn Castalotte & Zamba, chuyên nhập khẩu trái cây lớn nhất tại New Yord. Ông Zamba là một người tàn tật nên ông Castalotte độc thân xem Giê-na như con. Ðáp lại, vợ chồng chúng tôi cũng thương yêu ông ấy như cha đẻ.
Chúng tôi đã thuê và sắm sửa một ngôi nhà tại Brooklyn. Tương lai của chúng tôi có vẻ vững vàng thì bỗng có một đám mây đen bay tới.
Một tối nọ, Giê-na đưa về nhà một người đồng hương, tên Gioóc, cũng sinh quán tại Posilippo. Hắn là một tên khổng lồ, quý vị đã nhìn thấy. Trong cái thân xác khổng lồ đó là cả một con người lố bịch, hãi hùng. Trong căn nhà nhỏ bé của chúng tôi, tiếng của hắn vang rền như sấm và có lẽ hắn chỉ cần huơ tay một cái là tất cả đều nát vụn. Khi bị hắn nhìn, đối tượng sẽ mất hồn như bị thôi miên. Thật là một con người khủng khiếp. Cũng may là, hôm nay hắn đã chết.
Hắn tới lui nhiều lần. Cứ mỗi lần hắn tới thì mặt mày của Giê-na biến sắc. Người chồng đáng thương của tôi luôn tái mét và câm lặng ngồi nghe hắn nói điên nói sảng về chính trị và xã hội. Giê-na không nói gì, tuy nhiên tôi là bạn tri âm của anh ấy, tôi thấy có các dấu hiệu lạ thường. Lúc đầu tôi tưởng đó chỉ là một sự căm giận. Nhưng dần dà tôi hiểu rằng nó là một cái gì nặng nề hơn. Ðó là sự sợ hãi: một sự sợ hãi sâu xa, kín đáo, rối loạn thần kinh. Một đêm tôi ôm cổ anh và khẩn khoản nài nỉ anh giải thích cho tôi biết sự việc.
Chồng tôi thổ lộ rằng trong lúc chao đảo trước các sự bất công của xã hội, anh đã gia nhập vào băng nhóm Vòng Tròn Ðỏ ở Naples, trực thuộc tổ chức Carbohari.
Các lời thề và những bí mật của cái băng này thật khủng khiếp. Mắc vào đó rồi thì không có cách nào thoát ra được.
Khi chúng tôi qua Hoa Kỳ, những tưởng vĩnh viễn trốn khỏi gọng kìm. Nhưng một hôm, chồng tôi gặp lại chính con người đã kết nạp anh tại Naples, thằng khổng lồ Gioóc (giết người như ngóe với biệt danh “tử thần” ở miền Nam ý). Gioóc chạy đến New Yord để trốn cảnh sát. Nhưng tại đây, hắn lại thành lập một chi nhánh của cái tổ chức quái đản đó. Giê-na đã thổ lộ hết với tôi và cho tôi xem một tờ giấy. Trên đầu tờ giấy có vẽ một vòng tròn đỏ.
Ðó là giấy mời anh dự họp tổ đảng vào ngày giờ nào đó.
Tôi có để ý mấy lúc gần đây cứ mỗi lần tới nhà, tên khổng lồ thường bắt chuyện với tôi và khi hắn nói chuyện với chồng tôi, đôi mắt khủng khiếp của hắn như cú vọ nhìn tôi đăm đăm. Một đêm nọ, hắn tâm sự với tôi rằng hắn yêu tôi. Tôi ở nhà một mình, Giê-na chưa về, hắn đến gần tôi, siết tôi bằng sức gấu, hôn tứ tung và nài nỉ tôi ra đi với hắn. Tôi đang vẫy vùng thì chồng tôi về. Anh nhảy bổ tới, nhưng gã súc sinh quật anh ấy ngã quỵ rồi tháo chạy.
Ðương nhiên, hắn không bao giờ tới nhà chúng tôi nữa. Nhưng từ đó, chúng tôi đã có một kẻ thù không đội trời chung. Vài ngày sau thì tổ đảng họp, chồng tôi về nhà với vẻ mặt cực kỳ buồn bã. Quỹ của băng đảng bắt nguồn từ những cuộc tống tiền những người Ý giàu có. Chống lại là chết?
Castalotte, bạn thân và ân nhân của chúng tôi nhận được giấy mời. Ông ta không nao núng mà còn báo cảnh sát nữa. Tổ đảng quyết định trừng phạt. Ông ấy sẽ bị mưu sát và nhà cửa sẽ bị đặt chất nổ. Một cuộc rút thăm chỉ định người thi hành án. Tên khổng lồ mỉm cười khi thấy chồng tôi thọc tay vào túi thăm. Giê-na rút ra cái lệnh giết người có đóng triện vòng tròn đỏ. Thế là chồng tôi hoặc phải đi giết người bạn tốt nhất hoặc phải chịu hình phạt của băng đảng. Suốt đêm đó, chúng tôi ôm lấy nhau, an ủi nhau trước những thách đố hãi hùng đang chờ đợi. Giờ ra tay đã được ấn định vào hôm sau. Nhưng tới giữa trưa, vợ chồng tôi xuống tàu đi Luân Ðôn. Tất nhiên chúng tôi đã báo tin cho vị ân nhân và cho cảnh sát để họ bảo vệ sinh mạng cho ông ấy.
Phần còn lại, thưa quý vị, quý vị đã rõ. Chúng tôi biết chắc rằng kẻ thù bám sát chúng tôi. Tên cướp này quyết báo thù, nhưng chúng tôi biết rõ các trò xảo quyệt của hắn. Chồng tôi đã khẩn trương thu xếp một chỗ trốn an toàn cho tôi. Phần anh ấy, anh muốn liên lạc với cảnh sát Hoa Kỳ và Ý Ðại Lợi. Chính tôi cũng không biết anh ấy ở đâu, và làm gì. Tất cả những gì tôi hay biết điều qua mục nhắn tin trên báo. Nhưng có một lần nhìn qua cửa sổ, tôi thấy có hai người Ý rình rập nên tôi biết rằng tên gian ác đã tìm ra nơi lẩn trốn của chồng tôi. Cuối cùng chồng tôi nhắn tin cho tôi rằng anh ấy sẽ gửi tín hiệu cho tôi từ một cửa sổ. Nhưng khi tín hiệu được phát ra, tôi chỉ thấy toàn là những lời cảnh giác rồi đột ngột bị gián đoạn. Vậy là anh ấy đã biết mình bị thằng khốn nạn bám sát. Hiện thời, thưa quý vị, vợ chồng tôi không còn gì phải sợ. Về phía luật pháp, tòa án có kết tội chồng tôi hay không?
- Này, ông Grếch-xơn - Người Hoa Kỳ hỏi.
- Tôi không biết quán điểm của người Anh, chứ ở New York thì tôi chắc chắn chồng bà này sẽ được mọi người khen ngợi. Bà ấy phải đi theo tôi và gặp ông Giám đốc Sở.
Grếch-xơn trả lời.
- Nếu cảnh sát được sự xác nhận về bản tường trình của bà ấy, thì tôi tin rằng hai vợ chồng bà đều không có gì để sợ cả. Nhưng có điều tôi không thể hiểu nổi, anh Holmes à, ma quỷ nào đưa anh vào vụ này vậy.
- Vì muốn học hỏi, ông Grếchốxơn. Chúng ta khát khao học hỏi mà? Này Watson, anh lại có thêm một mẩu chuyện bi thương và kỳ dị để làm phong phú thêm bộ sưu tập. Nhân tiện, chưa tới 8 giờ và người ta đang tấu nhạc tại công viên Covent, đề nghị chúng ta đến đó ngay.
Cuộc đời như những cơn mưa
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-05-11 23:42:39lu_khach>
BA NGƯỜI CÙNG MANG HỌ GARRIDEBS
(lukhach chỉnh chính tả)

Cuối tháng 6-1902, không bao lâu sau cuộc chiến tại Nam Phi, Holmes phải nằm liệt giường mấy ngày liền.
Thỉnh thoảng anh ta bị như vậy. Nhưng sáng đó, Holmes xuất hiện, tay cầm một văn kiện dài, một tia tinh nghịch rực sáng trong đôi mắt.
- Anh Watson, đây là cơ hội để anh kiếm tiền: anh đã nghe cái họ Garrideb rồi chứ?
- Chưa.
- Vậy thì, khi anh thộp được một người mang cái họ Garrideb, anh sẽ thành triệu phú.
- Tại sao vậy?
Chuyện dài lắm, chưa bao giờ chúng ta gặp một chuyện quái dị như vầy. Vài phút nửa, vai chính sẽ tới đây Nhưng trong khi chờ đợi, chúng ta cần tìm một người mang cái họ Garrideb.
Tôi tìm trong cuốn danh bạ điện thoại và bỗng la to:
- Có một người nè!
Holmes cầm lấy cuốn danh bạ, đọc to.
- Narthan Garrideb, số 136, đường Little Ryder.
- Anh Watson. Rất tiếc, đấy chính là anh chàng mà tôi đang đợi. Ðịa chỉ này được ghi trong thư nè. Ta cần một người Garrideb khác!
Bà Hớt-sơn đi vào với một danh thiếp đặt trên mâm. Tôi lấy lên, liếc qua, và la to.
- Nó đây John Garrideb!
Cố vấn pháp luật Moorville Kansas, U.S.A.
Holmes cười nụ rồi nhìn cái danh thiếp.
- Tìm thằng khác, anh Watson à. Thằng tha này cũng ở trong bàn cờ rồi. Tôi không ngờ đã gặp y hồi sáng này. Nhưng dù sao y cũng sẽ cung cấp cho chúng ta vài thông tin hữu ích.
Ông John Garrideb, cố vấn pháp luật, rất lạ nhưng nở nang, đôi mắt rực sáng của ông ta lôi cuốn sự chú ý của người đối thoại.
- Thưa, đây là ông Holmes?
Ông ta hỏi rồi lần lượt nhìn đăm đăm vào mặt chúng tôi.
- À, đúng rồi! Ảnh chụp khá lắm, thưa ông, tôi mạn phép nêu ra nhận xét này. Tôi tin rằng ông có nhận được một lá thư của người trùng họ với tôi, ông Narthan Garrideb?
- Mời ông ngồi - Sherlock Holmes nói - Tôi đoán chúng ta còn phải nói chuyện lâu.
Holmes lấy một văn kiện trên giấy tốt.
- Ông tên là John Garrideb, có tên trong văn kiện này ông có sống một thời gian tại Anh quốc?
- Tại sao ông hỏi tôi câu này thưa ông Holmes?
Mắt ông ta toát ra một sự ngờ vực đột ngột.
- Toàn thể y phục của ông được may tại Anh!
Ông Garrideb cười gượng gạo.
- Làm sao ông phát hiện được điều này?
- Cái cách cắt vai của áo vét-tông, cái mũi nghếch lên của đôi giày.. Bất cứ ai khác cũng thấy được như tôi.
- À, tôi không dè rằng tôi có vẻ như một người Anh chính cống. Công việc buộc tôi đến đây. Do đó, toàn thể y phục của tôi đều được mua sắm tại Luân Ðôn. Thôi, đề nghị chúng ta chuyển đề tài qua cái văn kiện trên tay ông?
- Hãy nhẫn nại, ông Garrideb, hãy nhẫn nại!
- Holmes nói nho nhỏ.
- Ủa mà tại sao ông Narthan không cùng đi?
- Nhưng tại sao Narthan lại kéo ông vào vụ này? Tại sao vụ này lại cần đến ông? Ðây là một cuộc nói chuyện hoàn toàn liên quan giữa hai người chúng tôi, thế rồi tại sao hắn nổi hứng đi mời một thám tử tiếp tay.
- Sáng kiến của ông ấy không hề nhằm chống lại ông, ông Garrideb. Ông ấy muốn đạt mục đích mau hơn, có lợi cho cả hai ông. Ông ta biết rằng tôi có vài phương tiện thu nhặt tin tức, ông ta chạy tới nhờ vả tôi là chuyện thường.
Gương mặt của người khách sáng lên dần.
- Tốt thôi. Khi gặp hắn sáng nay, tôi được biết hắn có cầu cứu tới một thám tử, tôi liền xin ngay địa chỉ và chạy tới đây. Tôi không muốn cảnh sát can thiệp vào một việc riêng tư. Tuy nhiên nếu ông bằng lòng giúp chúng tôi kiếm ra người thứ ba, thì có gì là nguy hại?
- Ðúng vậy. Và giờ đây, thưa ông, sẵn có ông ở đây, chúng tôi ước mong được chính ông trình bày câu chuyện cho rõ ràng. Ông bạn thân Watson của tôi chưa được biết các chi tiết.
Ông Garrideb nhìn tôi với đôi mắt thiếu thiện cảm.
- Ông ấy cần biết chuyện à?
- Chúng tôi có thói quen làm việc chung với nhau.
- Nếu vậy, tôi sẽ cố gắng trình bày cho gọn. Nếu quý vị là người gốc ở tiểu bang Kansas, tôi khỏi phải dông dài về ông Alexander Hamilton Garrideb. Ông ta phát tài nhờ kinh doanh địa ốc và đầu cơ chứng khoán lúa mì ở Chicago. ông ta không có con cái nối dõi. Nhưng ông hãnh diện về cái tên họ lạ tai của mình. Ðó là lý do khiến tôi và ông ấy quen nhau. Tôi ngụ tại Topeka, lo về việc pháp lý. Một ngày nọ tôi được hân hạnh tiếp ông ấy. Ông ta kinh ngạc khi thấy có một người thứ hai mang họ ông. Tức thì ông ta dốc lòng tìm xem trên thế giới này còn ai khác mang cùng một họ Garrideb.
- “Hãy đi kiếm cho tôi thêm một người nữa!ông ấy bảo tôi. Tôi trả lời rằng tôi là một người rất bận rộn, không thể dành trọn cuộc đời đi chu du thế giới để tìm vài người mang họ Garrideb.
- Chính đó là điều anh phải làm nếu chuyện đời diễn đúng như dự liệu - ông ta nói tiếp với tôi, và tôi tưởng ông ấy nói đùa thôi. Ai dè nó có ẩn ý. Thật vậy, ông chết trong năm đó, để lại một di chúc, di chúc kỳ dị nhất ở tiểu bang Kansas.
Ông đã chia của cải của ông thành ba phần, trao cho ba người mang họ Garrideb. Mỗi người sẽ được 5 triệu đô-la nhưng chúng tôi chỉ có quyền được hưởng gia tài khi đã trình diện đủ ba người tại văn phòng công chứng.
Cái mồi này hấp dẫn đến nỗi tôi bỏ văn phòng cố vấn pháp luật để đi kiếm hai thằng Garrideb nữa ở Hòa Kỳ không nơi nào có. Tôi bèn vượt Ðại Tây Dương, quyết tìm khắp nước Anh này. Bước đầu tiên, tôi kiếm được một Narthan Garrideb trong danh bạ điện thoại của Luân Ðôn. Tôi gặp ông ta hôm kia và cho ông ta hay chuyện đó.
Rủi thay, ông này không quen một Garrideb nam giới nào khác. Vì chúc thư dặn: Ba người đàn ông. Vậy chúng tôi vẫn còn thiếu một Garrideb. Nếu ông có thể giúp chúng tôi bổ khuyết chỗ trống đó, chúng tôi sẽ đền ơn trọng hậu.
- Anh Watson - Holmes vừa cười vừa hỏi tôi.
- Tôi có cho anh hay trước rằng đây không phải là chuyện tầm phào, phải không? Thưa ông, phải chăng phương cách chắc ăn nhất để moi thêm một Garrideb nữa, là nhắn tin trên báo.
- Tôi đã làm rồi, nhưng vẫn không có hồi âm.
- À, à. Nhân tiện, tôi xin hỏi thêm: Nghe ông từ Topeka đến, tôi mừng lắm, tôi có liên lạc thư tín với một người nay đã chết. Ðó là bác sĩ Lysander Starr. ông này làm thị trưởng năm 1890 đó. Lão bác sĩ Starr kính yêu!
Anh nói lớn:
- Bên đó mọi người đều rất tôn kính ông cụ.
- Thưa ông Holmes, tôi đoán rằng chúng ta nên thông tin cho nhau. Hy vọng sẽ gặp ông trở lại vào một ngày rất gần.
Nói xong, người Hoa Kỳ kiếu từ.
Holmes đốt cái tẩu, ngồi lặng thinh hồi lâu với một nụ cười kỳ lạ trên môi.
- Sao?
- Cuối cùng anh hỏi tôi:
- Tôi thắc mắc, anh Watson, tôi rất thắc mắc.
- Thắc mắc điều gì?
Holmes rút cái tẩu ra khỏi miệng.
- Tôi không biết động cơ nào đưa thằng cha này tới đây. Suýt chút nữa là tôi hỏi thẳng hắn rồi. Nhưng tôi nghĩ kịp nên để hắn lầm tưởng đã bịp được chúng ta. Hắn mặc một cái vét-tông kiểu Luân Ðôn, một cái quần xệ tới đầu gối! Ðồ cũ cả năm rồi! Theo văn kiện này và theo lời của hắn thì hắn là một người Hoa Kỳ tỉnh lẻ mới vừa đến Luân Ðôn? Có bài nhắn tin nào của hắn trên báo đâu? Tôi theo dõi cái mục này hằng ngày mà! Tôi có quen với bác sĩ nào tên là Lysander Starr tại Topeka đâu. Hắn rất là gian dối. Tôi cho rằng hắn quả là người Hoa Kỳ, nhưng giọng nói đã bớt cứng vì lưu trú tại Anh được vài năm rồi.
Bí mật đàng sau cái màn tìm người phi lý này là cái trò gì đây. Hắn đáng được chúng ta lưu tâm vì chắc chắn hắn là một tên đại lưu manh. Ta cũng cần tìm biết xem người kia có cùng một băng bịp không. Hãy liên lạc điện thoại với y xem sao.
Bên kia đầu dây tôi nghe một giọng gà mái.
- Vâng, đây là Narthan Garrideb, ông Holmes có đó không. Tôi rất cần gặp ông Holmes.
Holmes cầm ống nghe và tôi nghe cách hành văn thường lệ của anh:
- Vâng, ông ấy có đến đây.
- Từ bao lâu? Hai ngày thôi à?
- Vâng, đương nhiên, viễn cảnh quả là hấp dẫn. Tối nay ông có ở nhà chứ? Tôi đoán là người cùng họ với ông sẽ không có mặt chứ. Tốt lắm, chúng tôi sẽ đến, vì tôi cần nói chuyện với ông. Bác sĩ Watson cũng sẽ có mặt. Vậy thì khoảng 6 giờ, chúng tôi sẽ đến ông. Ðừng nói gì với ông bạn Hoa Kỳ cả nhé. Tốt lắm, kính chào ông!
Chúng tôi đến đường Little Ryder vào lúc ánh hoàng hôn buông xuống khu phố. Ngôi nhà chúng tôi tới là một kiến trúc bao la theo lối cổ. Khách hàng của chúng tôi đã có mặt ở gió. Hai cửa sổ to tướng mà chúng tôi thấy thuộc cái phòng lớn, nơi chủ nhà làm việc lúc đêm khuya.
Holmes chỉ cho tôi cái bản đồ nhỏ ghi một tên họ lạ tai.
- Anh Watson, đây đâu phải là cái bảng mới!
- Holmes chỉ cái bảng phai màu.
- Như vậy là họ thật đó.
Căn nhà có cầu thang thang cho tất cả mọi người ở thuê. Tại cửa chính có nhiều bảng đồng ghi tên các văn phòng hoặc cái căn hộ tư nhân. Khách hàng của chúng tôi đích thân ra mở cửa và giải thích rằng bà giúp việc ra về hồi 4 giờ. Ông Narthan Garrideb khoảng lục tuần, cao lêu nghêu, ưỡn ẹo, lưng còm, gầy và hói. Ông có một khuôn mặt xương và nước da xám của người không bao giờ tập thể dục.
Căn phòng giống như một viện bảo tàng nhỏ, vừa rộng, vừa sâu; chỗ nào cũng tủ, cũng hộc, đầy nghẹt mẫu địa chất và mẫu sinh vật. Chính giữa là một cái bàn ngổn ngang những mảnh vụn, quây quần quanh một ống đồng to tướng của một kính hiển vi. Ðàng này là một tủ kiếng đựng tiền xưa. Ðàng kia là một cái hộc đầy ắp dụng cụ bằng đá lửa. Ðàng sau cái bàn, giữa là một cái tủ lớn đựng xương hóa thạch. Chắc chắn đây là một người nghiên cứu lung tung. Trong lúc đứng trước mặt chúng tôi, ông cầm miếng da len chùi chùi một đồng tiền xưa.
- Thưa ông Holmes, ở đây có một chỗ ngồi. Ðể tôi dẹp các cái xương này qua một bên. Còn ông... à, thưa bác sĩ Watson! Ông vui lòng nhích nhẹ cái lọ Nhật Bản này. Bác sĩ của tôi khuyên tôi ra ngoài nhiều hơn, nhưng đi chơi sao được khi công việc còn lu bù! Tôi có thể đoán chắc với hai ông rằng nếu cần kiểm kê một tủ thôi, có lẽ ba tháng cũng chưa xong.
Holmes quan sát căn phòng với cái nhìn buồn cười.
- Ông không bao giờ đi chơi thật sao?
- Thỉnh thoảng tôi đi xe ngựa tới Sotheby hoặc tới Christie là những tiệm đồ cổ mà tôi thích. Ngoài ra, tôi không bao giờ đi đâu khác. Nhưng thưa ông Holmes, ông có thể đoán biết cái chấn động khủng khiếp khi tôi nghe tin đó. Chỉ cần thêm một Garrideb nữa là cuộc đời tôi huy hoàng. Chắc chắn là chúng ta sẽ kiếm ra anh chàng đó.
Trên toàn thế giới này làm gì mà không có những Garrideb khác. Tôi nghe nói rằng ông thường lo những công việc lạ. Ðó là lý do tại sao tôi tiếp xúc với ông. Tôi nhìn nhận rằng anh chàng Hoa Kỳ đã không sai lầm khi trách cứ tôi không nghe theo lời y, nhưng tôi đã xử sự một cách tích cực.
- Ông có lý. Nhưng ông có thực sự muốn có một mảnh đất tại Hoa Kỳ không?
- Chác chắn là không. Không có gì có thể thuyết phục tôi bỏ các bộ sưu tập của tôi Nhưng anh chàng Hoa Kỳ cam kết sẽ mua phần của tôi ngay khi quyền sở hữu của chúng tôi được nhìn nhận.
Hắn chịu mua với giá 5 triệu. Hiện có khoảng một chục cái mẫu ngoài thị trường, tôi cần phải mua, nhưng không tiền. Ông hãy tưởng tượng tôi có thể làm biết bao việc với 5 triệu Mỹ kim. Tôi mơ ước một bộ sưu tập có tầm cỡ quốc gia. Tôi sẽ trở thành nhà sưu tầm lớn của thời đại?
Mắt ông ta sáng rực ở đàng sau cặp kiếng. Rõ ràng là ông Narthan Garrideb sẽ không tiếc công để tìm ra một người đồng họ.
- Tôi chỉ tới đây để làm quen với ông.
- Holmes nói:
- Và tôi cảm thấy không nên làm gián đoạn công việc nghiên cứu của ông lâu hơn. Tôi không cần phải hỏi han ông nhiều, bởi vì tôi có thư ông trong túi và thư này khá rõ ràng. Tôi đã bổ sung nó qua cuộc tiếp xúc với anh chàng Hoa Kỳ rồi. Tôi đoán rằng trước đây ông chưa hề quen biết với anh chàng này?
- Quả vậy, chỉ mới hôm thứ ba tuần vừa rồi. Ông ấy có cho ông biết qua về cuộc nói chuyện giữa ông ấy và tôi hôm nay không?
- Có, ông ấy đi thẳng tới nhà tôi sau khi gặp ông.
- Trước khi gặp ông, ông ấy giận dữ lắm.
- Tại sao?
- Hình như ông ấy cảm thấy bị xúc phạm. Nhưng sau khi gặp ông, thì tươi tỉnh lại rồi.
- Ông ấy có đề nghị với ông một cách hành động nào không?
- Thưa ông, không.
- Ông ta có hỏi hoặc đã mượn được tiền của ông chưa?
- Không, thưa ông.
- Ông không biết được mục đích của ông ta sao?
- Không, chỉ biết cái mục đích mà ông ta nói.
- Ông có cho ông ấy biết về cuộc gặp gỡ này của chúng ta bằng điện thoại không?
- Thưa ông, có.
- Tôi thấy rằng ông ấy đang thắc mắc.
- Trong các sưu tập của ông, ông có những cái mẫu giá trị lớn lắm phải không?
- Không, thưa ông. Ðó là những sưu tập tốt, nhưng không có giá trị gì ghê gớm lắm đâu.
- Ông có sợ ăn trộm không?
- Thưa ông, không.
- ông cư ngụ ở đây được bao lâu rồi?
- Gần 5 năm.
Cuộc chất vấn của Holmes bị gián đoạn bởi một cái đấm tay dữ dội trên cửa lớn. Thân chủ của chúng tôi vừa mở ra thì người Hoa Kỳ bước vào. ông tỏ ra rất bực bội.
- À, có ông đây nữa?
- ông ta vừa la to vừa vẫy một tờ nhật báo:
- Tôi hy vọng đến đúng lúc, ông Narthan Garrideb, xin chúc mừng ông? Hiện ông là một triệu phú!
Về phần ông, thưa ông Holmes, chúng tôi rất tiếc đã quấy rầy ông một cách vô ích!
Ông ta đưa tờ báo ra ông này nhìn ngay vào một cái tin có đánh dấu chữ thập. Holmes và tôi nhìn qua vai thân chủ. Nội dung như sau:
“Howard Garrideb.
Nhà lắp máy nông cơ, máy giặt, máy cày tay và cày hơi nước, máy đục lỗ, máy bừa, xe thực dụng trong trang trại, ước lượng về giêng khoan.
Liên lạc tại Grosveher, Aston”.
- Hay quá - Narthan Garrideb nói - Vậy là ta có người thứ ba rồi.
- Tôi đã mở những cuộc vận động tại Birmingham - Người Hoa Kỳ nói:
- Người đại diện của tôi đã gởi cho tôi bản tin này trong một tờ báo địa phương. Tôi đã khẩn trương viết thư cho người cùng họ và báo cho ông ta hay rằng ông sẽ gặp ông ta tại phòng của ông ta vào 4 giờ chiều mai.
- Ông muốn tôi đi gặp ông ấy à?
- Chớ sao. Tôi là một người Hoa Kỳ và tạt qua đây thôi, làm sao người ta tin được? Còn ông là một người Anh, có uy tín vững vàng, ông ta sẽ tin ông.
- Mấy năm nay tôi có đi đâu xa như thế bao giờ.
- Ðừng ngại gì cả, ông Garrideb. Tôi đã chuẩn bị chuyến đi cho ông. Ông khởi hành lúc 12 giờ và chắc chắn tới nơi khoảng sau 2 giờ. Ông có thể trở về ngay trong đêm. Công việc của ông là chỉ gặp người đó, trình bày câu chuyện và xin một chứng nhận rằng ông ấy còn sống.
- Chúa ơi- Y nói thêm một cách hùng hồn - Tôi phải lăn lộn từ miền Trung Hoa Kỳ qua tới đây. Còn ông, ông chỉ bước một bước ngắn là đặt dấu chấm hết cho câu chuyện.
- Ðúng vậy - Holmes nói xen vào.
- Tôi đồng ý hoàn toàn với ông cố vấn pháp luật.
Ông Narthan Garrideb vươn vai, vẻ mặt buồn rầu:
- Nếu ông thấy cần, thì tôi sẽ lên đường,
- vậy là đã dàn xếp xong. Xin ông nhớ báo cho tôi biết kết quả khi thuận tiện - Holmes nói.
- Dễ thôi- Người Hoa Kỳ cam kết và nhìn đồng hồ - Tôi phải đi đây. Mai tôi sẽ đến thăm ông, ông Narthan và sẽ tiễn đưa ông lên tàu đi Birmingham. Xin tạm biệt ông, ông Holmes.
Gương mặt của Holmes sáng rực khi người Hoa Kỳ đi ra.
- Ông vui lòng cho tôi xem bộ sưu tập của ông, ông Garrideb - Holmes nói:
- Trong cái nghề của tôi không có loại kiến thức nào là dư thừa cả và phòng ông quả là một bảo tàng viện.
Narthan Garrideb đỏ mặt lên vì sung sướng:
- Thưa ông.
Nếu ông có thời gian, tôi xin đưa ông đi giáp vòng ngay bây giờ.
- Rủi là tối nay tôi bận - Holmes trả lời - Tuy nhiên tất cả các mẫu của ông được phân loại và dán nhãn kỹ lưỡng đến nỗi, tôi nghĩ đâu cần ông đích thân giải thích. Nếu ông cho phép, ngày mai, tôi hân hạnh được tham quan.
- Rất sẵn sàng. Căn hộ lúc đó khóa, nhưng trước 4 giờ chiều bà Sa-đơ dưới tầng trệt còn ở nhà, bà ấy có thể trao chìa khóa cho ông.
- Nếu ông dặn trước bà Sa-đơ thì thật là thuận lợi cho tôi. Nhân tiện xin ông cho biết người chủ nhà của ông là ai vậy?
Narthan Garrideb có vẻ bỡ ngỡ trước câu hỏi này.
- Ti-lơ, ở đường Edgeware.
Mà có chuyện gì vậy ông Holmes?
- Tôi là một nhà khảo cổ hạng trung về địa ốc - Holmes vừa nói vừa cười, “tôi thắc mắc không biết căn nhà này được cất vào thời đại nữ hoàng Anne hay vào thời các vua Georges?”
- Chắc chắn là vào thời các vua Georges.
- Tôi đoán là xưa hơn một chút. Sự kiểm nghiệm cũng không khó. Xin tạm biệt ông Garrideb và chúc ông may mắn trong chuyến đi.
Người cho thuê nhà cư ngụ gần đó nhưng văn phòng đóng cửa nên chúng tôi quay về phố Baker.
Sau buổi cơm tối, Holmes trở về với đề tài.
- Bài toán nhỏ của tôi đã tới hồi kết thúc. Anh Watson, anh đã thấy cái giải đáp rồi chứ?
- Một chuyện không đầu không đuôi.
- Cái đầu thì khá rõ rồi. Còn cái đuôi, ngày mai chúng ta sẽ thấy thôi. Anh không thấy điều gì trong cái tin rao vặt sao?
- Mấy cái giếng khoan?
- À, anh để ý đến cái giếng khoan. Hay quá, Watson! Anh mỗi ngày một tiến bộ. ở nước Anh, người ta hết xài đến chúng, ở Mỹ thì còn thịnh hành. Thành ra cái tin rao vặt này là gốc Hoa Kỳ!
- Theo tôi thì chính tay Hoa Kỳ John Garrideb này mướn đăng. Nhưng để làm gì thì tôi không hiểu.
- Hắn “điệu hổ ly sơn”, muốn ông lão này lên Birmingham. Lẽ ra tôi nên cho ông ấy hay trước là ông ta đi mò kim đáy biển, nhưng tôi cũng cần ông ấy đi cho trống nhà. Ngày mai anh sẽ rõ trắng đen.
Holmes thức dậy rời nhà sớm và trở về vào giờ cơm, nét mặt trầm tư.
- Anh Watson, nội vụ nghiêm trọng hơn tôi đoán. Tôi báo trước, để anh có đủ hăng hái mà xông pha. Có nguy hiểm đó!
- Ðây đâu phải là cái nguy hiểm đầu tiên mà tôi được chia sẻ. Nhưng lần này thì có gì đặc biệt?
- Ta đụng vào một công việc cực kỳ khó. Tôi đã xác định lý lịch của John Garrideb, tay cố vấn pháp luật đó.
Hắn chính là Killer Evans, một kẻ giết người nổi tiếng.
- Tôi cũng chưa thấy gì rõ cả.
- Phải, nghề nghiệp của anh không bắt buộc anh phải nhớ tên từng thằng sát nhân. Tôi có đến Scotland Yard gặp Lê-tra. Ðôi khi ông ấy thiếu trực giác và thiếu tưởng tượng, tuy nhiên về mặt phương pháp và về mặt công việc cần cù, sâu sát thì Scotland Yard đoạt giải quán quân trên thế giới. Tôi nhớ ra rằng chỉ có tàng thư của Scotland Yard mới giúp ta biết tông tích anh chàng Hoa Kỳ này. Ðương nhiên là tôi đã tìm ra cái khuôn mặt hồng hào của hắn trong đám chân dung của những kẻ giết người. Bên dưới có ghi: “Harnes Winter còn được gọi là Morecroft, tức là Killer Evans”...
Holmes móc từ trong túi ra một phong bì.
- Tôi có ghi nguệch ngoạc vài chi tiết trong hồ sơ của hắn: Tuổi 44 sinh tại Chicago. Ba lần giết người tại Hoa Kỳ. Trốn tù khổ sai nhờ thời gian xáo trộn chính trị và đến được Luân Ðôn vào năm 1893. Giết một người trên bàn cờ bạc tại một hộp đêm ở đường Waterloo năm 1895.
Nạn nhân chết, nhưng nhân chứng xác nhận chính hắn là thủ phạm, Nạn nhân được nhận dạng là Rodger Prescott, người nôi danh làm bạc giả tại Chicago. Hắn ra tù năm 1901, bị cảnh sát theo dõi sát, sống đời lương thiện.
Thành phần cực kỳ nguy hiểm, Luôn có súng và sẵn sàng nhả đạn. Ðó là con mồi của chúng ta, Watson à! Mồi ngon, anh đồng ý?
- Nhưng hắn kiếm cái gì vậy?
- Ðòn phép của hắn bắt đầu lộ nguyên hình. Tôi có tới người cho thuê nhà. Thân chủ của chúng ta đã ở đó từ 5 năm nay. Trước đó thì căn nhà này bỏ trống. Người ở trước, tên là Waldron. Tại dịch vụ cho thuê nhà, mọi người đều nhớ rõ Waldron này, người cao to, có râu quai nón, và đen đúa. Anh chàng đột ngột biến đâu mất, không ai nghe thấy tăm hơi gì. Còn Prescott (nạn nhân của Killer Evans, theo Scotland Yard) lại cũng là một người nâu, cao và râu ria xồm xoàm. Cho nên giả thiết khởi điểm là Prescott (tên cướp người Hoa Kỳ) đã sống tại căn hộ này. Hiện nay ông bạn vô tội Narthan Garrideb của ta biến căn hộ này thành viện bảo tàng. Ta đã tìm ra một khâu trong cái dây chuyền.
- Còn cái khâu kế tiếp?
- Hãy từ từ.
Anh lấy một khẩu súng lục ở ngăn kéo và trao cho tôi.
- Nếu người Hoa Kỳ này hãm hại người đồng họ, thì ta phải sẵn sàng. Anh Watson, cho phép anh ngủ trưa một giờ. Sau đó chúng ta phiêu lưu tại đường Ryder.
Ðồng hồ gõ vang bốn tiếng khi chúng tôi đến căn nhà của Narthan Garrideb. Bà làm sắp về, bà tạo mọi dễ dãi cho chúng tôi. Holmes hứa sẽ thu xếp gọn ghẽ trước khi rời nhà:
Bà ra đi, đóng cửa lại.
Chỉ còn hai chúng tôi tại tầng trệt.
Holmes liếc mắt quan sát căn hộ. Trong một góc tối có một cái tủ không, kê sát giường. Chúng tôi chui núp phía sau đó:
Holmes thì thầm tiết lộ cho tôi đại cương của kế hoạch.
- Người Hoa Kỳ muốn cho thân chủ của mình rời khỏi căn hộ này. Chuyện đó là rõ ràng. Vì nhà sưu tập không bao giờ đi xa nên người Hoa Kỳ phải vẽ vời này no như anh đã thấy. Toàn câu chuyện về dòng họ Garrideb chỉ phục vụ cho mục đính đó.
- Quỷ quái chưa! Nhưng để làm gì?
- Ðó là điều chúng ta sẽ phát hiện. Dự án của hắn không ăn nhập gì với thân chủ của chúng ta. Nó chỉ liên quan tới người mà hắn đã giết. Trong căn hộ này có thể có một bí mật phi pháp. Lúc đầu, tôi lầm tưởng thân chủ của chúng ta có một cái gì đó quý giá. Nhưng sự kiện Rodger Prescott với tiếng tăm trong giới giang hồ, đã ngụ tại căn hộ này, làm tôi ước đoán một nguyên nhân tồi tệ hơn. Chúng ta chỉ còn một việc để làm thôi, đó là nhẫn nại chờ đợi.
Một lúc sau, tôi nghe có tiếng cửa mở và có tiếng chân người. Chúng tôi co ro ngồi xổm trong bóng tối. Kế tiếp là tiếng động khô khan ở ổ khóa. Chàng Hoa Kỳ bước vào căn hộ, nhẹ nhàng đóng cửa lại, nhìn quanh quan sát, cởi áo choàng và tiến về phía cái bàn giữa, nhanh nhẹn đẩy cái bàn qua một bên, giở tấm đệm trải dưới bàn, cuộn nó lại, rồi rút cái xà-beng ngắn ở túi trong ra, quỳ gối và bắt đầu đào.
Một lát sau thì một lỗ vuông xuất hiện Killer Evans đánh diêm thắp một khúc nến và chui xuống mất hút.
Holmes rờ nhẹ cổ tay tôi. Hai chúng tôi rón rén tới miệng lỗ. Dù chúng tôi di chuyển nhẹ nhàng nhưng sàn nhà cũ vẫn kêu cót két dưới chân. Cái đầu của tên Hoa Kỳ ló ra khỏi lỗ. Nó quay về hướng chúng tôi, bộ mặt giận dữ cùng cực. Nhưng gương mặt nó từ từ dịu lại khi thấy rõ hai họng súng.
- Ðược, được- Nó vừa chui lên vừa lạnh lùng nói - ông Holmes à. ông đã thấy cái mánh của tôi ngay từ đầu. Tôi nhìn nhận và chịu thua ông và...
Trong một thoáng, hắn rút súng và bắn hai phát.
Tôi cảm thấy xé thịt trên đùi. Nhưng súng của Holmes bổ vào đầu anh ta. Tôi mơ hồ thấy Killer Evans ngã trên sàn, máu chảy đầy mặt và Holmes tước vũ khí. Cuối cùng tay của bạn tôi ôm lấy tôi, kéo tôi đến một chiếc ghế.
- Bị thương có nặng không, Watson?
Nặng không?
Thái độ cuống quít của Holmes quả xứng đáng để tôi bị thương. Trong một giây lát, tôi thấy đôi mắt rớm lệ và đôi môi cương nghị run bần bật.
Ðây là lần đầu tiên tôi cảm thấy nhịp đập mạnh của con tim cứng cỏi. Cái phát hiện này bù đắp đầy đủ tất cả những năm tháng cộng tác khiêm tốn và bất vụ lợi của tôi.
- Không sao, Holmes à, chỉ trầy trụa sơ.
Holmes lấy dao rạch quần tôi.
- Ðúng!
- Anh ấy nói lớn và thở phào nhẹ nhõm - Vết thương xoàng thôi.
Khuôn mặt của anh lại lạnh như đá. Khi nhìn tên tù của chúng tôi đang ngồi dậy, mặt mày ngơ ngáo nghe anh nói:
- Cũng may cho mày đó. Nếu mày giết Watson thì mày sẽ không toàn thân mà rời căn hộ này đâu. Giờ đây mày có điều gì nói để biện minh không?
Hắn không nói, chỉ nhìn chúng tôi. Tôi tì tay vào Holmes và hai chúng tôi cùng nhìn cái hầm nhỏ còn được chiếu sáng bởi khúc nến. Mắt chúng tôi dừng lại trên mốt cái máy rỉ sét, nhiều cuộn giấy lớn, chai lọ và nhiều gói nhỏ cột dây cẩn thận xếp kỹ lưỡng trên một cái đàn.
- Một máy in... Toàn bộ trang bị của tên trùm bạc giả? - Holmes nói.
- Ðúng, thưa ông!
Tên Hoa Kỳ nhìn nhận, rồi ráng đứng dậy nhưng cuối cùng buông mình xuống ghế trở lại. Ðó là một tên trùm tiền giả đáng sợ nhất tại Luân Ðôn này. Ðó là cái máy của Prescott và các gói trên bàn chứa hai trăm tờ năm bảng mà hắn đã sản xuất.
- Hai ông hãy sử dụng mớ đó, coi như bù vào công lao và tha cho tôi!
Holmes cười to:
- Bọn tao không mưu sinh bằng lối này, Evans à?
- Mày đã giết Prescott phải không?
- Ðúng, và tôi đã lãnh năm năm về tội này, mặc dù chính nó tấn công tôi. Lẽ ra tôi phải được thưởng một huy chương thật to. Không ai có thể phân biệt được tiền của Prescott với tiền của ngân hàng Anh quốc? Nếu tôi không giết y thì Luân Ðôn đã tràn ngập tiền giả. Tôi là người độc nhất biết y sản xuất tại chỗ nào. Quý ông đã hiểu rõ tại sao tôi xoay xở mọi cách để đẩy ông già bắt bươm bướm ra khỏi đây vài giờ. Lẽ ra tôi giết chết ông ấy là gọn ghẽ hơn. Nhưng tôi không thể hạ sát một đối thủ không võ trang. Nói cho cùng, thưa ông Holmes, tôi đâu có tội.
- Cho tới phút này thì mày chỉ bị kết tội mưu sát - Holmes nói - Mày sẽ biết rõ khi qua giai đoạn hai. Hiện điều chúng tao cần là cái thân xác quý giá của mày. Kêu điện thoại cho Scotland Yard đi, anh Watson!
Ðó là các sự kiện liên quan đến Killer Evans và cái sáng tạo tuyệt diệu của y về ba người cùng mang họ Garrideb. Sau này chúng tôi biết rằng ông bạn khảo cổ đáng thương bị suy sụp luôn sau cái chấn động làm tan nát mộng đẹp của ông.
Tin mới nhất cho biết ông đang ở một viện an dưỡng tại Brixton. Ðó cũng là một ngày huy hoàng đối với Scotland Yard khi họ phát hiện được trang thiết bị của Prescott, tên làm bạc giả nổi tiếng. Thực sự Evans có góp một ông lớn, giúp cho nhiều viên chức cao cấp ngủ ngon.
Cái viên chức này đương nhiên sẵn lòng đóng góp để mua một huy chương to bằng cái nồi súp cho Evans vào bốn bức tường kín cho hắn suy ngẫm.
Cuộc đời như những cơn mưa
Đăng nhập để trả lời
0
CÁC BẢN VẼ CỦA TÀU NGẦM BRUCE-PARDINGTON
(lukhach chỉnh chính tả)

Trong tuần lễ thứ ba của tháng 2 năm 1895, một làn sương mù vàng dày đặc phủ lên Luân Ðôn. Từ thứ hai cho tới thứ năm, đứng tại các cửa sổ của đường Baker không thể nào thấy dãy nhà trước mặt. Holmes đã sử dụng ngày đầu tiên của tuần đó để tham khảo một số tài liệu và hai ngày sau được dành cho đề tài: “âm nhạc thời Trung cổ”. Nhưng vào ngày thứ tư, sau điểm tâm, anh thấy rằng liên tiếp mấy ngày qua, các cuộn sương mù nhớp nhúa xám xịt nặng nề đang lửng lơ trên đường phố, vẫn còn đọng lại thành từng giọt nhờn nhợt trên các cửa kính, thì cái tính dễ nổi nóng của anh bộc phát. Anh bước sải trong phòng khách nhỏ bé, cắn móng tay, vấp chân vào đồ gỗ, nguyền rủa sự rảnh rỗi.
- Báo chí không có tin gì hả Watson?
Tôi thừa biết rằng đối với Holmes, hai chữ “tin gì” có nghĩa là “tin về hình sự“Hôm đó có đăng tin về một cuộc cách mạng, về một cuộc chiến có thể bùng nổ, về các lời đồn đại rằng chính phủ sẽ đổ. Các tin tức loại này nằm ngoài phạm vi của Holmes. Ở mục tin vặt, không mẩu tin nào đáng được lưu ý. Holmes than thở rồi tiếp tục sải bước qua lại.
- Bọn tội phạm hình sự ở Luân Ðôn thật là ngu. Anh Watson, hãy nhìn qua cửa sổ mà xem? Ðâu thấy mặt người rõ ràng? Trong sương mù dày đặc này, một thằng ăn cướp hay một thằng giết người có thể đi ngang dọc tại thủ đô như cọp giữa rừng già nhiệt đới. Con mồi chỉ hay biết sau khi đã nằm trong nanh vuốt.
- Có nhiều vụ trộm vặt - Tôi nói.
Holmes hít hít một cách miệt thị:
- Cái sân khấu vĩ đại với ánh sáng bệch bạc, thuận lợi cho những vở kịch hay hơn ngàn lần. Xã hội có diễm phúc khi tôi không có tính cướp bóc.
- Quả thật là một diễm phúc.
- Thí dụ tôi là một trong đám giang hồ tứ chiếng thì Luân Ðôn chết với tôi. Chỉ cần tung ra một giấy mời giả, hoặc một câu hẹn láo là xong. May mắn sao các xứ Ý, Tây Ban Nha, Bồ Ðào Nha... nơi mạng người được xem như cỏ rác, không có nạn sương mù này, chắc ta sẽ thoát khỏi cái đơn điệu chết người này.
Người làm bước vào với một bức điện tín. Holmes mở ra và cười lớn:
- Ngày của những phép lạ - Holmes nói - Anh Mycroft sẽ đến.
- Sao lại gọi là phép lạ?
- Tại sao ư. Như thể bạn gặp một xe lửa điện chạy trên một đường mòn ở đồng quê. Mycroft có đường ray riêng mà anh ấy không bao giờ rời chúng. Cái căn hộ tại Pall Mall, cái câu lạc bộ Diogène, Hội đồng Bộ trưởng là các tuyến xe lửa điện của anh. Chỉ có một lần anh ấy đến đây Hôm nay tai họa gì đã khiến anh ấy tới đây?
- Anh ấy không giải thích sao?
Holmes đưa cho tôi bức điện tín. “Muốn gặp em về vụ Ca-đô. Anh sẽ đến, Mycroft”.
- Ca-đô?
Cái tên này gợi lên cho tôi điều gì?
- Ðối với tôi cũng chả gợi lên tý gì cả. Nhưng trước sự kiện Mycroft phá lệ, anh có thấy tôi rối bời không?
- Thực ra, anh có biết Mycroft là ai không?
- Tôi có biết anh ấy khi chúng ta giải quyết vụ “Người thông ngôn Hy Lạp” - Anh có nói rằng Mycroft có một chức vụ nhỏ trong guồng máy nhà nước.
Holmes mỉm cười:
- Lúc đó tôi chưa quen anh nhiều, nên phải giữ miệng. Anh đúng khi tin rằng anh ấy là viên chức. Nhưng anh cũng không sai khi nói rằng lúc ấy bản thân Mycroft là Nhà nước Anh quốc.
- Khiếp thật.
- Mycroft lĩnh lương 450 bảng một năm, là người tuyệt đối không có tham vọng gì. Mycroft không chức tước gì, nhưng lại là người rất cần thiết cho đất nước.
- Bằng cách nào?
- Vị trí của Mycroft là vô song. Trên đời này, anh ấy đặc biệt có bộ nhớ phi phàm. Các kết luận của các Bộ được đệ trình mỗi ngày. Anh ấy là bộ phận đầu não điều tiết, tổng hợp các thông tin đó. Một ông bộ trưởng cẩn nhận xét một thông tin liên quan tới hải quân Ấn-độ, Canada? Với tài liệu cung cấp chỉ có Mycroft mới có khả năng nhìn tổng thể và giải thích ngay sự tác động của các yếu tố. Sơ khởi anh ấy được sử dụng như một công cụ để tiết kiệm thời gian. Nhưng hiện thời anh ấy đã trở nên tối cần. Trong đầu anh ấy, mọi việc được xếp theo thứ tự hẳn hoi. Khá nhiều việc phải chờ ý kiến của anh ấy rồi mới quyết định. Anh ấy sống trong chính giới. Anh ấy không hề phân tâm vào chuyện nào khác trừ phi để đấu trí cho vui. Thỉnh thoảng anh ấy cũng xen vào vài vấn đề lặt vặt của tôi. Hôm nay là ngày Thượng đế giáng trần, không biết Mycroft cần gì ở tôi?
- Ca-đô là ai?
Liên quan gì đến Mycroft?
- Tôi biết rồi - tôi kêu lên sau khi lục lọi chồng báo - Ðúng rồi, chính y. Ca -đô là chàng thanh niên đã chết sáng thứ ba trong xe điện ngầm.
Holmes sững người, lắng nghe.
- Chắc chắn là chuyện quan trọng, Watson à. Một cái chết, buộc anh tôi phải thay đổi thói quen thì tất nhiên không thể là cái chết bình thường. Chắc nó có liên quan với anh ấy. Nội vụ là tầm thường, nếu tôi nhớ không lầm. Anh chàng từ xe điện ngầm ngã xuống. Không hề bị mất mát gì, nên không có lý do để ngờ vực có chuyện đen tối, đúng không Watson?
- Một cuộc điều tra đã tiến hành và đã phát hiện thêm những dữ kiện mới mẻ.
Xem kỹ lại thì thấy đó là chuyện khá lạ kỳ - Tôi đáp:
- Căn cứ vào tác động của nó đối với anh tôi, tôi đồng ý rằng nó không phải là chuyện vặt vãnh.
Holmes thu mình lại trong ghế bành.
- Nào Watson, các dữ kiện mới là những gì?
- Ca-đô 27 tuổi, độc thân, thư ký tại xưởng hải quân Woolwich.
- Viên chức? Hèn chi liên quan tới Mycroft.
- Hắn đột ngột rời Woolwich vào tối thứ hai. Cô Vi-lê vị hôn thê là người gặp hắn cuối cùng. Hắn từ giã cô ấy một cách đột ngột lúc 7 giờ 30 trong sương mù. Họ không hề cãi nhau. Hiện cô ấy chả hiểu ra làm sao cả, chỉ biết rằng xác hắn được một công nhân xe điện ngầm phát hiện gần ga Aldgate.
- Hồi mấy giờ?
- Xác được phát hiện vào 6 giờ sáng thứ ba, nằm bên trái, xa đường sắt, tuyến phía đông gần xe, ở nơi kết thúc đường hầm. Ðầu bị vỡ, có thể do bị ngã. Nếu xác được khiêng trong đường phố gần đó ra, thì nó đã phải đi qua cửa người bấm vé đứng, điều này khá rõ.
- Rất tốt. Chuyện khá rõ. Xô ngã hoặc bị quăng xác từ tàu xuống. Cứ tiếp tục?
- Các tàu chạy gần đó từ Tây sang Ðông có chuyến : thuộc loại nội thành, có chuyến từ Willesden hay ngoại thành vào. Có thể đoán chắc rằng khi rơi xuống, anh chàng này đi hướng Tây Ðông vào lúc khá khuya. Tuy nhiên khó xác định hắn leo lên tàu lúc mấy giờ.
- Thì xem trên vé.
- Hắn có vé đâu?
- Không có vé?
Ðó mới là điều cực kỳ dị thường.
- Không ai có thể vào bến xe điện ngầm mà không có vé.
- Như vậy thì rất có thể anh chàng này có vé đàng hoàng, nhưng bị lấy đi để che giấu tên ga mà y lên tàu. Ðó là một giả thiết. Hắn đã làm rơi trên toa, đó là giả thiết thứ hai.
- Nhưng có một chi tiết lạ, hình như hấn không bị lấy cắp gì phải không?
- Không, đây là danh sách đồ vật tìm thấy trong người nạn nhân: cái ví với hai bảng 15 si-ling, một cuốn chi phiếu do chi nhánh Woolwich của Capital và Counties Băng phát hành. Chính nhờ cuốn chi phiếu này mà nhận diện được. Còn có hai vé hát của đêm đó là một gói tài liệu kỹ thuật.
Holmes lớn tiếng biểu lộ sự hài lòng:
- Chúng ta có tất cả. Nhà nước Anh, hải quân công xưởng Woolwich, tài liệu kỹ thuật, anh Mycroft của tôi. Dây chuyền khép kín. Nhưng anh ấy đã tới kia, nếu tôi không lầm.
Một giây đồng hồ sau, chúng tôi đón Mycroft Holmes to lớn và oai phong, có cái trán kẻ cả, đôi mắt sắt thép linh hoạt, đôi môi thật là cương nghị.
Theo gót ông là thám tử Lestrade. Chẳng nới chẳng rằng, viên thám tử bắt tay chúng tôi. Mycroft Holmes cởi áo choàng và thả mình trên ghế bành.
- Một vụ vô cùng bực bội, Sherlock Holmes. Anh không thích thay đổi thói quen. Tuy nhiên anh thấy cần phải đến đây? Chưa bao giờ anh thấy Thủ tướng bối rối đến thế. Còn tại Bộ tư lệnh hải quân họ cãi nhau như mổ bò. Chú đã đọc báo chứ?
- Vừa đọc xong.
Mà tài liệu kỹ thuật gì vậy?
- À, cái chết là ở chỗ đó. May thay, chưa tiết lộ chính xác. Nếu biết, báo chí đã làm om sòm. Tài liệu ở trong túi người thanh niên là các bản vẽ của tàu ngầm Bruce Pardington.
Mycroft Holmes đã nói với giọng trịnh trọng để nhấn mạnh tầm quan trọng của tài liệu.
- Các bản vẽ này có tầm quan trọng sinh tử trong tất cả các bí mật của Nhà nước. Cách đây hai năm, một số tiền kếch xù được trích từ ngân sách quốc gia để mua độc quyền sáng chế. Mọi biện pháp đã được áp dụng để giữ bí mật cho công việc. Các bản vẽ cực kỳ rắc rối, được để trong một tủ sắt vô cùng chắc chắn trong một văn phòng gần công xưởng hải quân; các cửa lớn và cửa sổ đều bất khả xâm phạm. Với bất cứ lý do nào, các bản vẽ này đều không được rời văn phòng đó. Dù kỹ sư trưởng của hải quân có muốn tham khảo, cũng phải tới văn phòng này tại Woolwich. Nhưng dù kỹ lưỡng đến thế, các tài liệu đó vẫn bị lọt vào túi một thư ký trẻ. Về phương diện Nhà nước, chuyện này quả là nhục nhã.
- Lấy lại được rồi mà?
- Không. Ðâu có lấy lại được. Trong mười bản vẽ bị trộm tại Woolwich có bảy cái trong túi của Ca-đô. Còn ba cái quan trọng nhất thì mất hút. Chú phải dẹp mọi chuyện để lo việc này, Sherlock! Suy đoán vặt vãnh các vấn đề linh tinh đâu có lý thú gì. Chú phải giải đáp câu hỏi tại sao Ca-đô ăn cắp các bản vẽ? Các bản vẽ bị thiếu bây giờ ở đâu? Hắn chết trong trường hợp nào? Xác hắn được đưa tới điểm đó bằng cách nào? Hãy giải đáp các câu hỏi đó. Tổ quốc sẽ ghi công chú.
- Tại sao anh không tự giải quyết lấy.
Anh có tầm nhìn xa hơn em.
- Có thể, nhưng trước tiên phải thu gom các yếu tố chi tiết. Chú cung cấp cho tôi các tin tức này. Tôi sẽ ngồi tại ghế bành mà tổng hợp. Chạy đây, chạy đó, thẩm vấn các công nhân, nói năng lộn xộn, bò sát mặt đất, khám nghiệm này nọ bằng kính lúp... không phải là nghề của anh. Chú là người độc nhất có thể xoay xở để giải quyết vụ này. Rất có thể, chú sẽ có tên trong bảng phong tước quý tộc kỳ tới...
Holmes mỉm cười và lắc đầu:
- Nếu em tham dự trò chơi này, thì chỉ vì thích nó, vì đầu đề của bài toán do anh đề ra có những dữ kiện lý thú. Em sẵn sàng đảm nhận, anh vui lòng cho thêm vài yếu tố phụ.
- Trên tờ giấy này có vài yếu tố thiết yếu, cũng có kèm theo địa chỉ cần dùng. Người quản lý các tài liệu này là ngài Giậm, ông có thâm niên cao, lại là một nhà quý tộc được trọng vọng tại thủ đô. Lòng ái quốc thì không ai nghi ngờ được. Ông là một trong hai người có chìa khóa tủ sắt đó. Tôi có thể nói thêm rằng các bản vẽ chắc chắn nằm trong văn phòng vào giờ làm việc từ sáng thứ hai và ngài Giậm quay về Luân Ðôn khoảng 3 giờ, mang theo chìa khóa. Suốt buổi tối hôm bị đánh cắp, ông lưu lại nhà đô đốc Sin-la ở quảng trường Barclay.
- Sự kiện có được kiểm chứng không?
- Có, Ðại tá Va-lăn, em ruột của Giậm, đã làm chứng cho việc ông rời khỏi Woolwich. Còn đô đốc Sin-la thì làm chứng cho đêm ở Luân Ðôn. Ngài Giậm không còn là một yếu tố trực tiếp trong vấn đề.
- Ai giữ cái chìa khóa kia?
- Ông Si-nây, thư ký cao tuổi nhất chuyên về vẽ.
Bốn mươi tuổi, có vợ, 5 con, ít nói, khó chịu, nhưng được xem là một công chức mẫu mực. Ðồng nghiệp không ưa có lẽ vì ông làm việc rất nghiêm. Ông ấy đã khai và lời khai này chỉ được xác nhận bởi vợ ông, rằng ông không rời khỏi nhà vào tối thứ hai, sau khi từ văn phòng về và chìa khóa của ông đã không hề rời khỏi dây đeo đồng hồ.
- Anh hãy nói về Ca-đô.
- Thâm niên mười năm và được tiếng tốt. Anh ta nổi tiếng là người sôi động và nóng nảy, nhưng được tiếng là người chính trực và thanh liêm. Chúng tôi không phiền trách gì về anh ấy. Tại văn phòng, anh ấy là phụ tá của Si-nây. Mỗi ngày anh ta phải đích thân sắp xếp các bản vẽ, không một người nào khác được phép động tới chúng.
- Tối hôm đó ai đã cất các bản vẽ trong tủ sắt.
- Si- nây.
- Như vậy thì nói tên người ta ăn trộm đâu phải là chuyện khó. Tài liệu được tìm thấy trong người của Ca-đô, điều đó có vẻ là dứt khoát rồi phải không? - Holmes nói.
- Ðúng. Nhưng giả thiết này bác lại nhiều điều trong bóng tối. Trước hết, tại sao hắn ăn cắp chúng? - Mycroft nói .
- Vì tiền, đúng không?
- Hắn có thể kiếm ra mấy ngàn bảng Anh một cách dễ dàng.
- Anh có thể đưa ra cho em một giải thích khác không?
- Không.
- Vậy thì phải chọn giả thiết của em: Ca-đô đánh cắp tài liệu, bằng cách sử dụng một chìa khóa giả.
- Như vậy phải dùng nhiều chìa khóa giả. Vì phải mở cả cửa tòa nhà, cửa phòng nữa.
- Như vậy là y có nhiều chìa khóa đôi. Y ăn cắp tài liệu, đem lên Luân Ðôn bán cái bí mật của đề án, rồi thu hồi, đem trả về tủ sắt vào sáng sớm hôm sau, để không ai hay biết . Chúng ta giả thiết rằng trên đường đi về Woolwich, hắn bị giết và bị ném khỏi toa.
- Ga Aldgate là nơi ta tìm thấy xác hắn. Ga này nằm chệch xa ga Luân Ðôn Bridge trên lộ trình bình thường để đi Woolwich.
- Chúng ta có thể tưởng tượng một ngàn lý do khiến y bỏ qua ga Luân Ðôn Bridge. Thí dụ y có thể say sưa nói chuyện với một người ngồi cùng toa: một cuộc nói chuyện có kết cục đưa tới cái chết, có thể y có mưu toan rời khỏi toa, bị ngã ra khỏi tàu và người đối thoại đóng cửa lại. Sương mù dày đặc nào ai trông thấy gì đâu.
- Dựa vào những gì chúng ta đang có, không có lối giải thích hay hơn. Tuy nhiên, Sherlock, chú hãy suy nghĩ lại xem, chú có bỏ sót yếu tố nào không. Có thể, vì cần thảo luận sâu thêm, thanh niên Ca-đô quyết định mang mớ tài liệu đó lên Luân Ðôn. Tất nhiên hắn đã có cuộc hẹn với một điệp viên người nước ngoài. Ðằng này hắn có hai vé xem hát, cùng đi với vị hôn thê được nửa lộ trình, rồi mới biến mất .
- Ðó là hắn ngụy trang - Lestrade nói xen vào, tỏ ra bồn chồn trước cuộc thảo luận giữa hai anh em.
- Một sự giả đò khá dị thường, tôi đã đưa ra nhận xét thứ nhất. Và đây là nhận xét thứ hai: nếu như hắn có đến Luân Ðôn và có gặp điệp viên nước ngoài, thì hắn phải thu hồi các bản vẽ trước sáng hôm sau, nếu không thì bị bại lộ. Hắn đã lấy cắp mười, nhưng chỉ còn có bảy cái trong túi. Vậy ba cái kia đâu? Chắc chắn hắn không dễ dãi trước sự mất mát này. Ngoài ra tiền thưởng đâu? Lẽ ra phải có một số tiền kếch xù trong túi hắn.
- Ðối với tôi thì mọi sự đều sáng tỏ như ban ngày - Lestrade nói.
- Hắn đánh cắp bản vẽ để bán, đã gặp điệp viên. Hai bên mặc cả chưa xong, hắn bỏ đi nhưng điệp viên nước ngoài lại đi theo. Trên xe điện, người này ám sát hắn, cướp lấy các tài liệu quan trọng nhất và ném hắn khỏi toa xe. Giả thiết này giải thích êm xuôi nhất.
- Tại sao hắn không có vé lên tàu?
- Vé sẽ tiết lộ tên cái ga gần nhà điệp viên nhất. Do đó người ta lấy và thủ tiêu rồi!
- Giỏi, Lestrade rất giỏi - Holmes khen:
- Giả thiết của anh đứng vững đó. Nhưng nếu giả thiết đó đúng thì nội vụ được xếp lại. Thằng phản bội đã chết, và các bản đồ của tàu ngầm Bruce Pardington có lẽ hiện nằm bên kia bờ biển Man-che. Ta còn làm cái gì nữa.
- Còn các hành động - Mycroft la lớn và đứng dậy.
- Trực giác của tôi bác bỏ giả thiết trên. Chú hãy vận dụng cái biệt tài của chú. Hãy ra hiện trường! Hãy hỏi thăm các nhân chứng. Trong suốt đường danh vọng của chú, chưa bao giờ chú có một cơ hội tốt hơn để phục vụ đất nước!
- Ðược - Holmes nói và nhún vai - Bọn em sẽ lên đường ngay. Còn Lestrade, anh vui lòng đi theo chúng tôi. Trong một hoặc hai giờ, chúng ta sẽ bắt đầu thăm ga Aldgate. Tạm biệt Mycroft. Em sẽ gửi cho anh một báo cáo vào tối nay, nhưng em nói trước, đừng hy vọng nhiều.
Một giờ sau, Holmes, Lestrade và tôi đứng trên đường xe điện ngầm, tại đó nó ra khỏi đường hầm, ngay lối vào ga Aldgate. Một ông lão lễ độ thay mặt cho công ty tiếp chúng tôi. ông nói:
- Ðây là chỗ tử thi nằm. Y không thể từ trên kia rơi xuống được, bởi vì có tường cao mà. Chỉ có thể rơi từ tàu và theo chúng tôi đoán là chuyến tàu 12 giờ đêm thứ hai.
- Các toa đã được khám nghiệm chưa. Có vết tích của sự ẩu đả không?
- Không có vết tích đánh đấm gì cả, cũng không tìm ra vé tàu của y.
- Có thấy một cửa lớn hãy còn mở không?
- Không!
- Sáng nay có thêm một nhân chứng mới - Lestrade nói - Một hành khách đi chuyến tàu ngang qua Aldgate lúc 11 giờ 40 tối thứ hai, khai rằng ông ta có nghe một tiếng “bịch” do một vật nặng rơi như xác người rơi xuống đất ngay trước khi tàu đến ga. Ngay lúc ấy, vì sương mù dày đặc nên không thấy được gì. Ông ấy chả khai báo gì cả. Nào, ông nghĩ gì đó, ông Holmes?
Holmes đang nhìn đăm đăm đường ray vòng cung khi ra khỏi đường hầm. Tuyến đi Aldgate là một cái nhánh nên có bộ phận bẻ ghi. Giờ đây cái nhìn soi mói của anh chăm chăm vào cái bộ phận bẻ ghi. Trên khuôn mặt nhọn và nhạy cảm của anh, tôi thấy miệng anh co lại, lỗ mũi run nhẹ, trán nhăn. Anh nói thật khẽ.
- Bộ phận bẻ ghi.
Hùm, bộ phận bẻ ghi.
- Sao?
ông nói gì?
- Hình như trên tuyến này không có nhiều bộ phận bẻ ghi?
- Ðúng, ít lắm.
- Ðồng thời là một khúc quanh. Vừa có bẻ ghi vừa có khúc quanh. Khá đơn giản.
- Sao, ông Holmes? ông đã thấy gì?
- Một ý tưởng thôi. Tuy nhiên nội vụ trở thành hấp dẫn tột độ, độc nhất vô nhị! Quả vậy, tại sao lại không có vết máu trên đường.
- Gần như là không!
- Nhưng nó là vết thương trầm trọng mà!
- Xương vỡ, nhưng vết thương bên ngoài thì không đáng kể.
- Dù sao, tôi vẫn đoán phải có vết máu ta xem qua cái toa?
- Không được đâu, ông Holmes à. Ðoàn tàu đã tháo ra, các toa đã phân phối qua các tàu khác.
- Ông Holmes - Lestrade xen vào - Các toa đã được khám nghiệm kỹ lưỡng rồi.
Tôi thân hành giám sát mà.
Holmes có cái khuyết điểm lớn là anh chịu đựng không được khi thấy người khác không sâu sắc bằng mình.
- Có lẽ là như vậy. Không phải tôi muốn nhìn qua các toa đâu. Anh Watson, thôi. Chúng ta không còn việc gì ở đây. Ông Lestrade, tôi cho rằng cuộc điều tra của chúng tôi sẽ tiếp tục tại Woolwich.
Tại Luân Ðôn Bridge, Holmes thảo một điện tín cho Mycroft. Anh đưa cho tôi xem trước khi gửi: “Một ánh sáng lập lòe trong đêm đen, nhưng có thể tắt. Trong khi chờ đợi, yêu cầu sai người làm cho em bản danh sách đầy đủ các điệp viên ngoại quốc nổi tiếng tại Anh cùng với các địa chỉ đầy đủ của họ. Sherlock”.
Khi ngồi trên xe lửa đi Woolwich, anh ấy nói với tôi:
- Anh Watson, dù việc gì xảy ra đi nữa, chúng ta cũng phải cảm ơn Mycroft đã cho chúng ta tham dự vào một vụ hứa hẹn có nhiều hấp dẫn.
Cái khuôn mặt nhọn của Holmes thể hiện một năng lực cao độ khi một yếu tố mới kích thích trí thông minh của anh. Tôi nghĩ đến con chó trong chuồng: tai xẹp, đuôi quặp. Vậy mà nó chạy trên đường săn mồi thì mắt sáng quắc, các thớ thịt dài, căng phồng. Kể từ sáng nay, một sự thay đổi đã diễn ra trong Holmes. Anh nói:
- Có chất liệu, có phạm vi hoạt động. Tôi quả ngu dại vì đã không thấy ngay các khả năng của nội vụ.
- Cho tới giờ này, tôi chả thấy gì cả.
- Nên nhớ là tôi chưa thấy toàn bộ đâu, nhưng tôi hiện đi trên một đường mòn đầy triển vọng. Người thanh niên bị giết ở một nơi khác, và xác chết nằm trên mui tàu.
- Trên mui ư?
- Lạ lắm phải không. Có phải ngẫu nhiên mà xác chết được phát hiện ngay chỗ tàu chuyển mình và hơi nghiêng vì đang đi vòng tại bộ phận bẻ ghi? Có phải đó là nơi dễ dàng nhất để một vật gì đó trên mui tàu phải rơi xuống? Qua vấn đề các vết máu, nếu xác bị mất máu ở chỗ khác, thì tất nhiên không còn đủ máu để rơi rải trên đường ray. Một yếu tố tự một mình nó cũng đã có nhiều ý nghĩa, phải không? Kết hợp nhiều cái như vậy lại, chúng càng có nhiều ý nghĩa hơn.
- Chúng cũng giải thích sự thiếu vắng của vé tàu? - Tôi nói lớn .
- Ðúng thế! Rất ăn khớp với nhau.
- Dù vậy, chúng ta cũng chưa thấy gì sáng tỏ. Lời giải thích của anh làm cho các sự việc trở nên dị thường hơn.
- Có thể lắm - Holmes đồng ý, vẻ mặt đăm chiêu.
Holmes rơi vào một trạng thái trầm cảm cho tới khi tàu ngừng lại ga Woolwich.
Anh gọi một xe ngựa rồi rút trong túi ra tờ giấy của Mycroft.
- Chiều nay chúng ta phải đi thăm vài nơi.
Người đầu tiên là ngài Giậm.
Viên chức nổi tiếng này ngụ trong một biệt thự đẹp có bồn cỏ chạy dài xuống tận sông Thames. Khi chúng tôi đến, thì sương mù tan và ánh sáng yếu ớt của mặt trời đã chiếu rạng. Một quản gia ra mở cửa.
- Ngài Giậm đã từ trần sáng nay.
- Chúa ơi!
- Holmes kinh ngạc nói lớn - Ông ấy chết như thế nào?
- Kính mời ông vào nhà gặp người em của ông cụ, là đại tá Va-lăn.
- Vâng.
Chúng tôi được đưa vào một phòng khách không sang lắm. Một lúc sau, chúng tôi được tiếp chuyện với một người khoảng 50 tuổi, cao lớn đẫy đà, cằm được tô điểm bằng một vòng râu đỏ hoe! Ðó là người em út của ông kỹ sư vĩ đại. Ðôi mắt hung tợn, đôi má lởm chởm những râu cạo xát, đầu tóc không chải, biểu lộ sự đau đớn đã giáng xuống cái gia đình này. Ông nói đứt đoạn:
- Tại vụ tai tiếng ghê tởm đó. Anh tôi có ý thức danh dự bén nhạy nên không thể trây mặt lâu hơn. Tim ông tan nát, ông luôn hãnh diện vì sự phục vụ của mình, ông không chịu nổi sự chấn động.
- Trước đây, chúng tôi hy vọng ông ấy có thể cung cấp cho vài chỉ dẫn giúp giải quyết câu chuyện.

- Tôi tin chắc rằng anh ấy cũng chẳng hiểu gì nhiều, cũng như ông và tất cả mọi người. Anh ấy đã thông báo cho cảnh sát tất cả những gì anh ấy biết. Tất nhiên anh ấy tin chắc rằng Ca-đô có tội. Phần còn lại hoàn toàn nằm ngoài sự hiểu biết của anh ấy.
- Ông không thể cung cấp cho chúng tôi một tin tức nào đem thêm ánh sáng mới cho nội vụ?
- Tự thân tôi không biết gì, ngoài những gì đã đọc hoặc nghe. Tôi xin lỗi, xin ông thông cảm cho hoàn cảnh chúng tôi hiện giờ. Tôi xin phép được coi cuộc nói chuyện này chấm dứt tại đây.
Trên đường về bằng xe ngựa, Holmes nói với tôi:
- Ðây là một diễn biến hoàn toàn bất ngờ. Tôi không biết rằng đây có phải là cái chết tự nhiên hay ông này đã tự sát. Trong trường hợp thứ nhì, chúng ta có thể suy đoán rằng ông ấy hối hận vì đã sơ sót? Ngay bây giờ, chúng ta hãy qua gia đình Ca-đô.
Ở ven ranh thành phố, một ngôi nhà bé nhỏ tươm tất che chở một bà mẹ lâm cảnh tang tóc. Bà cụ bất hạnh này chả giúp đỡ chúng tôi được gì cả. Cạnh bà có cô gái mặt tái xanh, tự giới thiệu là Vi-lê, vị hôn thê của người đàn ông bị giết và là người cuối cùng đã gặp nạn nhân.
- Tôi chả hiểu gì cả, ông Holmes ạ. Kể từ khi thảm kịch xảy ra, tôi có chợp mắt được đâu. Tôi chỉ suy nghĩ ngày lẫn đêm. Ca-đô là người trung thực, nghĩa hiệp và ái quốc nhất trên đời. Anh ấy có thể tự chặt tay mặt hơn là bán một bí mật quốc gia. Tất cả những ai quen biết anh ấy đều cho rằng nghi ngờ anh ấy là điều phi lý.
- Nhưng mà các dữ kiện sờ sờ ra đó, thưa cô.
- Tôi không thể hiểu được?
- Ông ấy cần tiền?
- Không đâu, anh ấy thanh đạm nên tiền lương kể như thừa thãi. Anh ấy đã tiết kiệm đến mấy trăm bảng và chúng tôi sẽ định kết hôn vào Tết này.
- Ông ấy không có biểu lộ triệu chứng rối loạn tâm thần. Nào, cô hãy tuyệt đối thành thật đi.
Con mắt sâu sắc của Holmes đã phát hiện một thay đổi nhỏ trong các cử chỉ của cô ta.
Cô hổ thẹn, rồi ngập ngừng.
- Dạ có- Cuối cùng cô khai thật - Tôi có cảm giác rằng anh ấy đang lo lắng về một chuyện gì.
- Từ hồi nào?
- Khoảng một tuần, anh ấy đăm chiêu, lo lắng. Tôi có hỏi lý do. Anh ấy nhìn nhận có ưu tư, nhưng liên quan tới công vụ. “Quá nghiêm trọng để tiết lộ, dù là đối với em”. Anh ấy nói với tôi và tôi không thể biết nhiều hơn.
Holmes làm ra vẻ rất nghiêm nghị:
- Hãy nói tiếp, dù rằng cô thấy cô phản bội anh ấy. Hiện tại tất cả chúng ta đều đang bí mà.
- Một đôi lần, tôi có cảm giác anh ấy muộn tiết lộ điều gì đó Một tối nọ, anh ấy nói về tầm quan trọng của một tài liệu bí mật và tôi nhớ có nghe nói rằng gián điệp ngoại quốc chắc chắn trả nhiều tiền.
Gương mặt Holmes trở nên nghiêm nghị hơn.
- Chỉ có bấy nhiêu?
- Anh ấy nói rằng chúng ta cẩu thả đối với những chuyện cùng loại. Bọn phản bội trộm tài liệu dễ ợt!
- Anh ấy chỉ mới tâm sự mới đây thôi ư?
Vâng, rất mới.
- Cô hãy nói về cái đêm cuối cùng.
- Chúng tôi dự định đi xem hát. Sương mù dày đến nỗi chúng tôi thấy rằng đi xe ngựa cũng vô ích. Chúng tôi đi bộ. Ðang đi qua văn phòng của anh ấy, thình lình anh ấy nhảy bổ vào trong sương mù.
- Không nói năng gì cả?
- Chỉ kêu lên một tiếng thôi. Tôi đợi, nhưng anh ấy không trở về. Tôi bèn về nhà. Sáng hôm sau, sau giờ mở cửa công sở, người ta tới thẩm vấn tôi. Khoảng 12 giờ, chúng tôi hay tin dữ. Ồ, thưa ông Holmes, nếu có khả năng, ông hãy cứu lấy danh dự của anh ấy.
Holmes lắc đầu một cách buồn thảm:
- Nào, Watson. Chúng ta qua nơi khác, qua văn phòng, nơi mà các bản vẽ bị đánh cắp.
Khi ngồi vào xe, Holmes nói thêm:
Tất cả đã khá bất lợi cho chàng thanh niên và các cuộc điều tra của chúng ta chỉ củng cố thêm cái cảm giác không hay này. Dự định làm đám cưới là động cơ của tội ác. Ðương nhiên, hắn cần tiền, hắn bị ám ảnh, nên đã nói ra. Hắn gần như đã biến cô bé thành đồng phạm khi tâm sự với cô ấy về các kế hoạch của mình.
- Dù sao cái tính khí cũng đóng một vai trò đáng kể.
- Tại sao hắn bỏ người vợ ở ngoài đường và nhảy bổ đi làm chuyện phi pháp?
- Có những cái phản bác đáng kể.
Ðây là vụ vô cùng khó gỡ.
Ông Si-nây, viên chánh thư ký tiếp chúng tôi tại văn phòng với sự tôn kính. Ðó là một người đeo kính, gầy, cau có, không thể đoán tuổi được, má đã hóp, đôi tay run run.
- Thật là khủng khiếp, ông Holmes.
Ông có hay rằng ông sếp đã chết?
- Chúng tôi từ đằng đó tới đây.
- Tất cả đều tan vỡ: sếp chết, Ca-đô chết, tài liệu bị đánh cắp. Khi chúng tôi đóng cửa vào tối thứ hai, sở này vẫn hoạt động như tất cả các sở khác của Chính phủ, Chúa ơi? Nghĩ tới thật đáng tởm, thằng Ca-đô cả gan làm việc tày trời.
- Như vậy là ông cho rằng y có tội?
- Tôi không thấy có giải pháp thứ hai. Tuy nhiên tôi tin cậy y như tin cậy vào chính bản thân tôi.
- Sở đóng cửa vào mấy giờ tối thứ hai?
- Hồi 5 giờ.
- Chính ông đóng?
- Tôi luôn là người sau cùng rời khỏi sở.
- Lúc bấy giờ thì các bản vẽ ở đâu?
- Trong tủ sắt này.
Ðích thân tôi để vào.
- Có người bảo vệ nào chịu trách nhiệm về tòa nhà này?
- Có chứ, nhưng ông ấy đồng thời canh chừng các tòa nhà khác nữa, ông ta là một chiến sĩ cao niên, hoàn toàn đáng tin cậy. Ông ta không thấy gì xảy ra cả. Ðêm đó sương mù dày đặc.
- Giả dụ Ca-đô muốn vào tòa nhà sau giờ đóng cửa, y phải cần đến ba chìa khóa mới lấy được giấy tờ trong tủ sắt, phải vậy không.
- Ðúng thế, chìa khóa cửa ngoài, chìa khóa phòng và chìa khóa của tủ sắt.
- Ngài Giậm có phải là một người rất cẩn thận hay không?
- Phải, về các chìa khóa đó, ông luôn luôn móc nó vào cùng một vòng, tôi thường thấy như vậy.
- Và ông ấy luôn luôn mang chùm chìa khóa về Luân Ðôn?
- Ông ấy nói với tôi như thế!
- Còn cái chìa khóa của ông thì không bao giờ rời khỏi ông chứ?
- Không bao giờ.
- Vậy, nếu Ca-đô là thủ phạm, hắn đã phải thuê làm những chìa khóa đôi. Tuy nhiên chúng tôi không thấy chìa nào trong xác của y. Ngoài ra, nếu một thư ký trong sở này muốn bán bản vẽ, chuyện giản dị là sao chép, chứ ai lại đánh cắp các bản chính như đã xảy ra?
- Ðể sao đúng các bản vẽ, phải có trình độ kỹ thuật cao.
- Tôi suy đoán rằng: ngài Giậm hoặc ông, hoặc Ca- đô, các ông đều có kiến thức kỹ thuật này?
- Tất nhiên, nhưng tôi yêu cầu ông đừng mưu kéo tôi vào nội vụ, thưa ông Holmes. Thảo luận dông dài như thế này có ích lợi gì khi mà các bản vẽ đều được tìm thấy trong người của Ca-đô.
- Chịu rủi ro khi ăn cắp các bản chính trong khi có thể sao chép một cách an toàn!
Quả là chuyện lạ!
- Lạ thật...
Tuy nhiên y đã làm điều lạ lùng đó.
- Trong vụ này, càng đi sâu càng thấy thêm khó hiểu. Còn thiếu vắng ba bản vẽ. Theo tôi được biết, thì đấy là ba bản chính yếu?
- Ðúng thế!
- Vậy là ông đồng ý rằng người sở hữu ba bản vẽ đó, tuy thiếu bảy bản vẽ kia, vẫn có thể đóng một tàu ngầm Bruce Pardington?
- Chính đó là điều tôi đã khai tại Bộ tư lệnh Hải quân. Nhưng hôm nay sau khi suy nghĩ lại, tôi không còn quả quyết như trước nửa. Những cái van đôi với đường rãnh ăn khớp với nhau được vẽ trong một bản vẽ nằm trong mình Ca-đô. Nếu không tự chế ra những cái van này, người nước ngoài không thể đóng chiếc tàu ngầm đó được Tất nhiên đó không phải là một trở ngại không thể vượt qua.
- Dù sao ba cái thiếu vắng là những cái quan trọng nhất?
- Ðúng thế!
- Tôi xin phép đi tham quan một vòng, vì thấy không cần hỏi ông nữa.
Holmes khám nghiệm ổ khóa của tủ sắt, cửa lớn của căn phòng và sau cùng quan sát các cánh sắt của cửa sổ. Chỉ khi chúng tôi quay về bồn cỏ, Holmes mới hồ hởi trở lại. Ngoài cửa sổ có cây nguyệt quế mà nhiều nhánh có dấu vết bị bẻ quẹo hoặc bị gãy. Holmes khám nghiệm các dấu vết này bằng kính lúp, đồng thời cũng quan sát dấu tay lờ mờ trên đó. Cuối cùng, sau khi yêu cầu ông chánh thư ký đóng các cánh sắt của cửa sổ, Holmes lưu ý tôi rằng chúng không sít sao lắm và cho thấy từ ngoài, người ta có thể theo dõi những gì đang xảy ra bên trong.
- Các dấu vết đã hư hỏng vì chúng ta đến trễ tới ba ngày, có thể chúng chả có ý nghĩa gì cả. Nào Watson, có lẽ không còn gì quan trọng để tìm hiểu tại Woolwich. Kết quả thật là mỏng manh, có lẽ về Luân Ðôn sẽ gặt hái được khá hơn.
Tuy nhiên, trước khi rời Woolwich, chúng tôi gặp một người bán vé tàu quả quyết rằng có thấy Ca-đô (mà y quen mặt) đi Luân Ðôn Bridge bằng chuyến tàu 8 giờ 15.
Ði một mình với vé hạng ba. Nét mặt bực dọc, y rối trí đến nỗi rất vụng về. Khi nhận tiền thừa trả lại, chính người bán vé đã phải giúp đỡ y. Dò lại trên bảng chỉ dẫn, chúng tôi nhận thấy rằng chuyến tàu 8 giờ 15 là chuyến tàu đầu tiên mà Ca-đô có thể đi, sau khi rời người vợ sắp cưới khoảng 7 giờ 30.
- Chúng ta hãy ôn lại - Holmes nói, sau nửa giờ im lặng suy tư - Chưa bao giờ ta gặp một vụ khó như thế này. Mỗi lần bước thêm một bước, lại gặp thêm một bức tường. Cuộc điều tra của chúng ta tại Woolwich đi đến một kết luận không thuận lợi cho lắm. Các dấu vết thu lượm tại cửa sổ sẽ khớp với một giả thiết kém ảm đạm hơn. Thí dụ, một điệp viên nước ngoài có tiếp xúc với y. Cuộc tiếp xúc này có thể đã diễn theo các cách thức nào đó mà y thấy khó tiết lộ. Tuy vậy, y cũng khá bạo để xì ra một chút với vị hôn thê của mình. Giờ đây, trên đường đi xem hát với cô gái, y thấy qua sương mù, cũng chính người điệp viên đó đi về hướng văn phòng. Tính tình nóng nảy, y quyết định ngay và đặt nhiệm vụ là trên tất cả, y theo dõi qua cửa sổ, thấy tài liệu bị ăn cắp, nên rình đuổi kẻ trộm. Vậy là ta giải quyết được cái khúc mắc giữa ăn trộm tài liệu hay sao chép Người lạ mặt đó phải ăn cắp tài liệu vì y không thể sao chép chúng tại chỗ. Tới đây, thì tất cả đều ăn khớp với nhau.
- Rồi sau đó?
- Sau đó, vì tình huống đặc biệt, chàng thanh niên đã phải bắt kẻ trộm và báo động.
- Tại sao y đã không làm.
- Có thể tại vì kẻ trộm là một trong các thượng cấp của y.
Giả thiết này giải thích cách xử sự của Ca- đô. Hoặc giả rằng trong sương mù, Ca-đô đi lạc và Ca-đô đã lên đường đi Luân Ðôn ngay để tìm kiếm kẻ trộm tại nhà nó. Giả thiết rằng Ca-đô biết địa chỉ của nó. Chuyện phải là khẩn cấp lắm, bởi vì y đã bỏ cô bé đứng một mình trong sương mù. Tới đây lối đi tẻ lạnh trở lại và một lỗ hổng to tướng nằm chắn giữa giả thiết của tôi. Dữ kiện rằng xác của Ca-đô cùng với bảy bản vẽ trong túi được đặt trên mui một xe điện ngầm? Trực giác buộc tôi khởi sự từ đầu kia của sợi chỉ. Có lẽ ta nên nhận dạng đối tượng của ta và đi theo hai lối, thay vì một.
Tất nhiên có một điệp văn chờ chúng tôi tại đường Baker. Một tổng thư văn đã trao đến. Holmes nhìn qua rồi trao cho tôi.
- Bọn gián điệp nhãi nhép này nhung nhúc, nhưng kẻ có khả năng làm chuyện phi thường thì không nhiều đâu. Các tên đáng lưu ý là A-đôn số 15 đường Great George, Westminster, Lu-y, Campden Mansions, Notting Hill và Huy-gô số 13 Caulfield Gardens, Kensington. Anh chàng này có mặt tại Luân Ðôn vào thứ hai, nhưng người ta đoán chắc rằng y không còn ở đây nữa. Vui mừng khi hay tin rằng các chú có thấy một tia sáng. Nội các nóng lòng chờ báo cáo của chú. Ðã có những lời khiển trách từ giới rất cao gửi xuống. Tất cả quyền lực của quốc gia đều đặt dưới quyền sử dụng của chú nếu có yêu cầu. Mycroft”.
- Tôi ngại rằng - Holmes cười và nói - Toàn thể kỵ binh và bộ binh của Nữ hoàng cũng chả giúp gì được tôi trong vụ này.
Holmes trải một bản đồ lớn của Luân Ðôn rồi cúi xuống nhìn.
- À, à!
- Sau đó, Holmes nói với vẻ hài lòng.
- Sự việc xoay theo một chiều thuận lợi hơn, anh Watson à! Tôi tin chắc rằng ta sẽ gỡ rối được.
Holmes vỗ vai tôi và đột ngột cười to tiếng:
- Tôi sẽ ra ngoài để thám sát qua loa. Tôi sẽ không làm điều gì quan trọng nếu thiếu anh. Anh ở lại đây: chắc chắn tôi sẽ quay lại trong một hay hai giờ.
Nếu thấy quá lâu thì lấy giấy bút và bắt đầu tường thuật việc anh em mình đã cứu nguy đất nước như thế nào.
Tôi chờ suốt đêm, mỗi lúc một bồn chồn hơn. Cuối cùng khoảng sau 9 giờ, một sứ giả đến với tờ giấy này:
“Tôi ăn tại quán Goldini Gloucester, Kensington - “Yêu cầu anh tới gặp tôi ngay. Nhớ mang theo kìm nạy cửa của bọn ăn trộm, một đèn ló, một cây kéo và một súng lục S H”.
Tôi nhét tất cả các thứ lỉnh kỉnh vào trong áo choàng và bảo xe đưa tôi đến địa chỉ trên. Trong cái quán cũ sang trọng của người ý, Holmes đang ngồi trước một bàn tròn nhỏ.
- Ðã ăn gì chưa? Vậy thì uống cà phê với tôi, hay nhâm nhi một cốc ca-cao. Hãy hút một điếu thuốc của chủ hiệu. Có mang theo dụng cụ không?
- Có!
- Hoan hô. Tôi sẽ tóm tắt những gì tôi đã làm và nói qua về việc chúng ta sẽ làm. Chắc chắn anh chưa đồng ý với tôi về việc xác chết được vứt lên mui toa. Tôi quả quyết như thế, chứ không phải bị vứt ra từ cửa toa.
- không phải từ cầu rơi xuống mui toa?
- Không thể được, nếu khám nghiệm các mui xe, anh sẽ thấy rằng chúng hơi cong, lại không có bờ ngăn.
- Anh cứ tin chắc rằng xác chết được vứt lên mui toa.
- Bằng cách nào?
- Chỉ có một giải thích đúng đắn mà thôi. Anh biết tàu chạy giữa trời xuyên qua vài chỗ của khu West End.
- Tôi nhớ lờ mờ rằng, một ngày nọ khi tôi đi tàu điện ngầm, tôi thấy những cửa sổ ngay trên đầu tôi. Nếu tàu điện ngừng ngay dưới một trong các cửa sổ này, thì vứt xác lên mui xe là chuyện dễ như trở bàn tay.
- Không thể như vậy được?

- Chúng ta bắt buộc phải nghĩ rằng khi các khả năng khác đều không hợp với thực tế, thì cái còn lại dù quái dị đi nữa, vẫn là sự thật. Các giải thích khác đều sai hết rồi. Khi tôi phát hiện tên điệp viên quốc tế sừng sỏ, hiện vắng mặt tại Luân Ðôn lại ở tại một ngôi nhà trông xuống đường xe điện ngầm thì nỗi hân hoan bừng hẳn lên như anh đã ngạc nhiên.
- Chính vì thế...
- Vâng, chính vì thế mà Huy-gô số nhà 13 Caulfield Gardens trở thành đối tượng của tôi. Tôi đã bắt đầu làm việc tại ga Gloucester. Một nhân viên dễ thương đã đưa tôi ra đường tàu điện ngầm và đã giúp tôi thấy rõ chẳng những cầu thang của cao ốc Caulfield Gardens ngó ra đường tàu mà tôi còn biết thêm một sự kiện quan trọng hơn là gần đó đường tàu điện gặp đường sắt, nên các đoàn tàu điện phải đậu lại vài phút.
- Diệu kỳ, Holmes ạ!
Vậy là anh đã giải bài toán.
- Chưa hẳn. Ta có tiến tới, nhưng mục tiêu hãy còn xa. Sau khi ngắm nghía các bức tường phía sau của cao ốc Caulfield Gardens, tôi đã quan sát mặt tiền và đã kiểm chứng rằng con mồi của ta đã bay thật sự. Nhà của y mênh mông, các tầng trên, theo tôi thì không có đồ gỗ. Huy-gô sống tại đó với một gia nô độc nhất, có lẽ là một đồng phạm được sự tin cậy hoàn toàn. Ta phải nhớ rằng: Huy-gô đi vào lục địa là để thanh toán cái chiến lợi phẩm vừa rồi chứ không phải để chạy trốn. Y không có lý do để sợ một trát bắt giam hoặc một trát lục soát. Y không bao giờ dự kiến sẽ có một anh chàng nghiệp dư vào khám nhà.
- Hay là xin một cái trát để hợp pháp hóa việc làm của chúng ta.
- Ðâu có bằng cớ cụ thể!
Lục soát để kiếm được cái gì?
- Có thể là tìm một bức thư lý thú.
- Tôi không thích điều đó, Holmes à!
- Anh Watson, anh canh ngoài đường. Còn tôi thì tự dành cái vai tội đại hình. Không phải là lúc để chúng ta bàn tán. Hãy nghĩ tới Mycroft tới Bộ tư lệnh Hải quân, tới nội các, tới viên chức cao cấp đang đợi tin. Chúng ta phải hành động thôi.
Ðể trả lời, tôi đứng lên:
- Anh có lý.
Chúng ta phải hành động thôi.
Holmes cũng đứng lên bắt tay tôi:
- Tôi biết chắc rằng anh không bao giờ bỏ rơi tôi vào phút nguy nan.
Trong chớp nhoáng tôi đọc trong mắt anh một tình cảm gần như sự trìu mến.
Ngay sau đó anh lấy lại sự tự chủ và tỏ ra thực tế.
- Cách đây khoảng 800 mét, chúng ta cứ đi thong thả thôi. Anh nhớ đừng có bỏ quên dụng cụ. Việc anh bị cảnh sát bắt sẽ là một rắc rối đáng tiếc.
Tới nơi, Holmes thắp đèn lồng để chiếu sáng cái cửa đồ sộ.
- Trở ngại đáng kể. Nó chắc chắn được phòng vệ bằng song sắt và được đóng chốt kỹ. Ta sẽ thoải mái hơn nếu ở ngoài sáng, có một cái vòm thấp hơn một chút để dự phòng trường hợp một cảnh sát viên quấy rầy chúng ta.
Một lát sau, cả hai chúng tôi trèo qua bức tường nhỏ, lọt vào cái sân trong nhà. Vừa đến góc có nhiều bóng tối nhất, chúng tôi nghe bước đi của một cảnh sát viên ngay trên đầu chúng tôi. Khi ông ta đi xa rồi, Holmes cúi xuống và đập mạnh vào cánh cửa dưới thấp cho tới khi cửa mở.
Chúng tôi lọt vào một hành lang tối om và đóng cửa lại.
Holmes đi trước để leo lên một cầu thang bằng đá trần.
Ðèn lồng chiếu ánh sáng màu vàng vào một cửa sổ thấp.
- Chắc chắn là cái cửa sổ này.
Holmes đẩy mạnh.
Cùng lúc đó chúng tôi nghe tiếng gầm nhỏ, thô, dần đà lớn dần, trở thành tiếng gào thét: đó là đoàn tàu điện ngầm chạy bên dưới chúng tôi trong đêm tối. Holmes chiếu sáng dọc bệ cửa đầy khói đen dày từ đầu máy phun lên. Diện tích vệt đen này có chỗ bị quệt nguệch ngoạc hoặc bị xóa hẳn.
- Anh thấy chỗ chúng đặt tử thi chưa. À Watson ơi, cái gì kia? Một vệt máu, chắc chắn mà.
Anh chỉ cho tôi những chỗ nhạt màu trên bệ cửa sổ.
Kìa, một vệt máu khác trên đá cầu thang. Chúng ta hãy ở lại đây chờ một đoàn tàu khác ngừng.
Không phải đợi lâu, đoàn kế tiếp gào rống khi ra khỏi đường hầm giống hệt đoàn trước rồi tiếng thắng ken két rít lên và đoàn tàu ngừng lại ngay bên dưới chúng tôi. Chỉ có khoảng cách gần 20 giữa bệ cửa sổ và cái mui của toa. Holmes nhè nhẹ đóng cửa sổ lại.
- Thực tế ăn khớp với giả thiết.
Anh nghĩ sao, Watson?
- Một kiệt tác, chưa bao giờ anh nhận xét hay đến thế!
- Ngay khi tôi nghĩ rằng tử thi rơi xuống từ mui. Một suy nghĩ rõ ràng là không dở. Và mọi việc sẽ được suy ra từ đó. Nhưng sự khổ nhọc của chúng ta chưa dứt đâu.
Có thể tại đây chúng ta sẽ gặp một vài điều hữu ích.
Chúng tôi leo cầu thang nhà bếp, lọt vào hành lang nối liền các văn phòng của tầng hai. Một căn phòng là ăn, giản dị tới mức khắc khổ. Căn thứ nhì là phòng ngủ cũng chả đem lại yếu tố nào mới mẻ. Căn cuối có vẻ hứa hẹn hơn, do đó Holmes ra công khám nghiệm nó một cách lớp lang. Ðầy dẫy sách báo của một nơi được dang làm văn phòng, Holmes nhanh chóng khám xét mỗi ngăn kéo, mỗi tủ Nhưng sau một giờ lục soát, không kiếm ra được gì.
- Con chó tinh khôn này đã xóa dấu vết trên đường nó đi. Ðây là cái may mắn chót của chúng ta. Chỉ còn cái hộp nhỏ bằng sắt trắng để trên bàn giấy. Holmes mở nó bằng một cái kéo. Bên trong có nhiều cuộn giấy đầy số và tính. Có cuộn giấy chữ được lặp lại liên tục: “sức ép của nước”, “sức ép trên một centimét vuông”. Có thể chúng liên quan tới một tàu ngầm? Bực bội, Holmes vứt chúng qua một bên. Còn lại trong phong bì chứa vài mẫu cắt trong báo. Anh để chúng ra bàn, bỗng khuôn mặt của anh sáng ra.
- Có ý nghĩa gì đây, Watson. Nè, một loạt điệp văn trong cột nhắn tin ở góc phải trên của trang báo không ngày tháng, có lẽ là tờ Daily. Các điệp văn khớp nhau. - Ðây là cái đầu tiên:
“Tôi đợi tin tức sớm hơn.
Ðồng ý về các điều kiện.
Viết thư qua địa chỉ trên thiếp.
P.”
Cái kế tiếp:
“Quá rắc rối không mô tả được, cần phải làm báo cáo tường tận. Tiền trao, cháo múc. P”.
Rồi đến bức điện văn này:
“cấp bách lắm rồi, tôi phải rút lại đề nghị, nếu hợp đồng không được thực hiện. Hãy cho cái hẹn bằng thư. Tôi sẽ xác nhận lại bằng cách nhắn tin. P”.
Cuối cùng là:
“Tối thứ hai. Gõ hai tiếng, sau 9 giờ. Chỉ có chúng ta mà thôi.
Ðừng nghi ngại quá.
Tiền mặt khi giao hàng. P”.
- Sự việc gần như trọn vẹn, Watson à. Phải chi thộp được thằng ở đầu kia.
Gõ nhẹ trên bàn, Holmes suy nghĩ trong giây lát.
- Suy cho cùng, có lẽ không khó đâu. Chúng ta chả còn gì để làm tại đây. Ta phải đi tới báo Daily Telegraph và xứng đáng kết thúc một ngày công tác tốt đẹp.
Sáng hôm sau, Mycroft và Lestrade mau mắn đi tới điểm hẹn. Holmes tường thuật chuyện đêm qua. Viên thám tử chuyên nghiệp lắc đầu khi nghe việc phá cửa, đục tường của chúng tôi.
- Trong ngành cảnh sát - Lestrade thì thầm - Chúng tôi không thể làm những điều tương tự. Ðó là lý do vì sao ông thành công nhiều hơn chúng tôi. Tuy nhiên một ngày nào đó, ông đi quá xa và sẽ gặp rắc rối đó.
- Vì Anh quốc, vì Tổ quốc, vì cái đẹp, phải không Watson. Hai con vật hy sinh trên bàn thờ Tổ quốc. Còn anh Mycroft, anh nghĩ sao?
- Tuyệt Sherlock, đáng phục!
Nhưng rồi đi tới đâu nữa?
Holmes cầm tờ Daily Telegtaph đang nằm trên bàn.
- Mấy anh chưa đọc cái nhắn tin của hôm nay à?
- Sao?
Lại nhắn tin?
- Ðúng thế.
Ðây là nội dung:
“Tối nay gõ 2 tiếng.
Chỗ hẹn cũ.
Giờ cũ. Tối quan trọng. Sự an toàn của bạn lâm nguy. P.”
- Chúa ơi! - Lestrade la lớn - Y tới, ta thộp thôi.
- Ðó là điều tôi nghĩ, khi tôi thuê đăng cái nhắn tin.
- Nếu anh vui lòng, mời anh đến gặp lại chúng tôi khoảng 8 giờ tại Caulfield Gardens.
Giải đáp đã gần kề.
Khoảng 9 giờ, tất cả chúng tôi đều ngồi trong văn phòng của tên điệp viên ngoại quốc, nhẫn nại chờ con mồi.
Một giờ trôi qua, rồi một giờ nữa, lúc 11 giờ, khi chuông nhà thờ kế cận ngân vang, chúng tôi tưởng hy vọng đã tiêu tan Lestrade và Mycroft bồn chồn trên ghế, cứ hai phút lại nhìn đồng hồ một lần, Holmes thì ngồi như phỗng đá, mắt nửa nhắm, mắt nửa mở, cảnh giác cao độ. Thình lình anh ngẩng đầu.
- Nó đến - Holmes nói.
Một người rón rén đi qua cửa. Ðứng lại rồi quay ra sau, chúng tôi nghe những bước đi chậm và hai tiếng động cửa. Ngoài lan can, đèn lồng đã được vặn thấp xuống. Holmes mở cánh cửa trông ra đường: một bóng đen lọt vào bên trong. Anh khép cửa lại rồi gài chốt.
Chúng tôi nghe anh nói nhỏ: “Ði lối này!”.
Ngay sau đó, con mồi đứng trước mặt chúng tôi.
Holmes đi sau nó. Khi nó quay lại thốt lên một tiếng la ngạc nhiên và sợ sệt thì đã bị Holmes tóm cổ, ấn và trong phòng. Sau khi tên tù lấy lại bình tĩnh thì cửa đã đóng lại và Holmes tựa lưng vào cửa. Tên tù nhìn quanh, lảo đảo rồi ngã bất tỉnh xuống sàn nhà. Cái mũ rộng vành của nó tung ra, xuất hiện các đường nét thanh tú và chòm râu quai nón đỏ hoe của đại tá Va-lăn. Holmes thốt ra một tiếng huýt sáo nhỏ vì ngạc nhiên.
- Lần này thì anh có thể liệt tôi vào hạng con lừa, Watson. Ðâu phải con mồi mà tôi dự kiến.
- Ai hả? - Mycroft háo hức hỏi.
- Em trai của ngài Giậm.
Chúng tôi dã khiêng cái xác ngất xỉu để lên tràng kỷ. Lát sau hắn ngồi dậy nhìn quanh với khuôn mặt méo mó vì kinh hoàng và lấy tay sờ nhẹ lên trán như một người không tin vào giác quan mình.
- Nghĩa là sao?
Tôi tới đây để nói chuyện với ông Huy-gô mà!
- Tan vỡ hết rồi, đại tá ơi- Holmes đáp - Tôi thú thực không hiểu tại sao một bậc trượng phu Anh quốc có thể xử sự như vậy. Tất cả liên lạc thư tín giữa ông với Huy-gô, chúng tôi đã năm hết. Và các tình huống về cái chết của Ca-đô đã cho phép chúng tôi đưa ra một lời khuyên: hãy lấy lại một chút uy tín bằng sự ăn năn và thú tội thành thật. Chúng tôi cần chính ông cho thêm vài chi tiết.
Hắn rên rỉ và lấy tay che mặt, câm miệng.
- Chúng tôi biết ông cần tiền cấp bách. Ông thuê làm chìa khóa giã từ các chìa do anh ông giữ và ông quan hệ với Huy-gô. Người này trả lời cho ông qua cột nhắn tin của tờ Daily Telegraph. Chúng tôi biết ông tới văn phòng trong sương mù vào buổi tối thứ hai. Ông bị Ca-đô phát hiện và theo dõi, người thanh niên cao đẹp này có cơ sở để theo dõi ông từ trước. Ca-đô đã chứng kiến màn ăn trộm nhưng không thể báo động vì còn cho rằng có thể ông tuân lệnh anh ông đến lấy bản đồ. Quên hẳn người yêu, Ca-đô bám sát ông trong sương mù cho tới tận nhà này. Tại đây, Ca-đô lộ mặt và bị ông giết.
- Không. Trước mặt Chúa, tôi thề rằng tôi không giết nó - Người tù của chúng tôi kêu lớn.
- Vậy thì ông cho chúng tôi biết Ca-đô đã chết như thế nào trước khi bị vứt xác trên mui tàu điện ngầm.
- Tôi xin thú thật mọi chuyện đã diễn ra đúng như ông trình bày. Tôi phải trả một món nợ vì chơi chứng khoán. Huy-gô đề nghị đưa tôi 5000 bảng Anh, cứu tôi khỏi sự khánh kiệt. Tuy nhiên về cái tội giết người tôi hoàn toàn vô tội.
- Yêu cầu ông nói rõ hơn.
- Mấy lúc gần đây, Ca-đô nghi ngờ tôi và theo dõi tôi nhưng tôi không hay biết trước khi hắn tới nhà này.
Sương mù bữa đó dày đặc, cách ba mét có thấy gì đâu. Tôi - gõ hai lần và Huy-gô ra mở cửa. Từ cánh cửa hé mở, Ca- đô nhảy bổ tới, hỏi chúng tôi lấy bản vẽ làm gì. Huy-gô liền cầm cái dùi cui đập vỡ sọ Ca-đô, ném xác người thanh niên ra ngoài hành lang. Chúng tôi không biết phải làm sao thanh toán cái xác này, chính lúc đó Huy-gô mới nghĩ tới các chuyến tàu điện đậu dưới cửa sổ sau nhà. Trước tiên, Huy-gô xem xét các bản vẽ tôi mang tới. Hắn nói:
- Ba bản này rất quan trọng, phải để lại đây.
- Không được đâu, sẽ náo loạn khủng khiếp tại Woolwich nếu tôi không mang trả lại!
- Tôi phải giữ lại, bởi vì chúng quá rắc rối, không có thời gian để sao chép.
- Tất cả đều phải được trả lại ngay trong đêm - Tôi nói.
Hắn suy nghĩ một lúc rồi nói:
- Thôi được, tôi giữ lại ba bản, còn mấy bản kia, ta bỏ vào túi anh chàng này.
Khi xác chết bị phát hiện thì nó lãnh đủ hết.
Vì không thấy có giải pháp khác, chúng tôi làm như hắn gợi ý: chúng tôi rình rập nửa giờ tại cửa sổ chờ một chuyến tàu dừng lại. Sương mù dày đặc. Do đó chúng tôi dễ dàng vứt xác của Ca-đô lên mui xe. Ðối với tôi, công việc chấm dứt tại đấy.
- Còn anh của ông.
- Anh tôi không nói gì với tôi, dù có lần bắt gặp tôi cầm mấy cái chìa khóa của ông. Tôi tin rằng ông ngờ vực tôi. Qua mắt ông, tôi nghĩ rằng ông biết tôi là thủ phạm.
Như các ông biết, ông không bao giờ nhìn mặt tôi nữa.
Sự yên lặng ngự trị căn phòng.
- Ðề nghị ông hãy làm nhẹ lương tâm và giảm thiểu hình phạt của mình - Mycroft nói.
- Tôi phải làm gì?
- Huy-gô cùng với các bản vẽ hiện ở đâu?
- Tôi không biết.
- Thằng khốn đó không cho ông địa chỉ ư?
- Hắn có dặn, nếu cần thì viết thư cho hắn tại khách sạn le Louvre ở Paris.
- Như vậy là được rồi - Holmes nói.
- Tất cả những gì thuộc phạm vi khả năng của tôi, tôi sẽ làm hết. Hắn là nguyên nhân của sự suy sụp của tôi. Ðây là giấy bút, ngồi xuống viết theo lời tôi đọc:
“Thưa ông có lẽ ông đã nhận thấy ông còn thiếu một chi tiết thiết yếu. Tôi còn giữ một bức vẽ bổ sung toàn bộ. Tuy nhiên, tôi xin thêm 500 bảng Anh nữa. Tôi không gửi qua bưu điện, tôi chỉ nhận vàng hoặc giấy bạc ngân hàng. Tôi sẵn sàng đi nước ngoài để gặp ông, nhưng sự xuất ngoại của tôi chắc chắn sẽ gây ra tiếng ồn ào. Tôi đề nghị được gặp ông 12 giờ trưa thứ bảy tại quán ăn của khách sạn Charing”. Xong rồi, có chết nó cũng tới nhà.
Hắn chạy tới. Ðó là một điểm lịch sử (lịch sử gián điệp có khi còn hấp dẫn hơn lịch sử công khai). Huy-gô vì háo hức muốn hoàn tất sự nghiệp của đời mình, đã lọt vào bẫy và bị 15 năm tù.
Trong va-li của hắn, có các bản vẽ của tàu ngầm Bruce Pardington. Hắn chuẩn bị bán đấu giá cho các hải quân châu âu.
Ðại tá Va-lăn chết trong tù. Còn Holmes quay về cuộc nghiên cứu âm nhạc. Tác phẩm được phát hành bằng vốn tư, người sành nhạc khen nó là một công trình có giá trị.
Vài tuần sau, tình cờ tôi hay tin rằng Holmes đã đến thăm cung điện Windsor. Anh mang về một viên ngọc bích tuyệt đẹp gắn trên kẹp cà-vạt. Khi tôi hỏi, anh trả lời rằng, đó là quà tặng của một mệnh phụ phu nhân kiều diễm.
Tôi biết rõ đấng mẫu nghi đó là ai và tôi tin rằng cái kẹp cà-vạt đó luôn luôn nhắc nhở anh nhớ tới chuyến đi tìm bản vẽ của chiếc tàu ngầm Bruce Pardington.

Cuộc đời như những cơn mưa
Đăng nhập để trả lời
0
CÁI BỜM SƯ TỬ
(lukhach chỉnh chính tả)

Sau khi giải nghệ, tôi rút về Sussex sống cuộc đời êm ả giữa thiên nhiên. Lúc đó, thỉnh thoảng Watson có tới thăm tôi.
Biệt thự của tôi tọa lạc tại triền phía nam của dãy núi Downs, từ đó nhìn ra biển Manche. Tại đó, bờ biển toàn bằng đá vôi. Muốn xuống biển, phải theo một đường mòn độc nhất, rất dài, khúc khuỷu, quanh co, dốc thẳng đứng và trơn trượt. Cuối đường môn này có một bãi sỏi bề ngang 100 mét, khi nước lớn cũng không bị chìm hẳn. Ðó đây có các chỗ trũng tạo thành những hồ tắm thiên nhiên đẹp mắt, nước được thay đều đặn vào lúc thủy triều lên.
Cái bãi biển lý tưởng này trải dài mấy cây số, chỉ trừ tại một điểm có cái vịnh con và xã Fulworth.
Tôi, bà lão bộc và đám ong mật quây quần với nhau trong lãnh địa mênh mông của tôi. Cách đó 800 thước, là trường học “Les Pignons” nổi tiếng của ông Ha-rôn, với khoảng 20 thanh niên đang họe nhiều nghề khác nhau dưới sự hướng dẫn của nhiều giáo sư. Lúc còn trẻ, Ha-rôn là một tay chèo cừ khôi của đội Cambridge. Với kiến thức tổng quát, ông rất giỏi. Chúng tôi kết bạn với nhau từ ngày tôi mới tới. Ông là người địa phương độc nhất có thể tới nhà tôi hàn huyên ban đêm, hoặc chính tôi qua bên ông ta mà không cần mời mọc.
Khoảng cuối tháng 7-1909, một cơn bão lớn càn quét biển Manche. Sóng lớn đập rầm rầm vào chân bờ đá vôi.
Sau khi nước rút, còn lại những cái đầm. Vào buổi sáng, gió đã lặng, toàn thể cảnh vật được tắm rửa sạch sẽ.
Trước khung cảnh quyến rũ, điểm tâm xong, tôi đi dạo một vòng để hít thở khí trời trong lành. Tôi men theo đường mòn đi xuống bờ biển. Trong khi đi, tôi nghe tiếng kêu đàng sau: đó là ông Ha-rôn đang vẫy tay chào đón tôi.
Trời thật đẹp, ông Holmes!
Tôi đoán thế nào cũng gặp ông tại đây.
- Ông chuẩn bị đi bơi?
- Vâng, tôi vẫn còn giữ những thói quen tốt.
Ông vừa trả lời vừa sờ cái túi căng phồng của ông.
- Ðúng vậy, Mc Phe-sơn ra khỏi nhà sớm lắm. Tôi đoán cũng sẽ gặp y tại đây Mc Phe-sơn là giáo sư khoa học, có vóc dáng đẹp nhưng tim yếu vì đau thấp khớp nặng. Tuy vậy ông ta cũng còn là một lực sĩ, giỏi về các môn thể thao. Mùa đông cũng như mùa hè, ông ta đều đi bơi. Tôi cũng là tay bơi, chúng tôi thường bơi với nhau ngoài khơi.
Liền khi đó, hai chúng tôi thấy Mc Phe-sơn xuất hiện trên đỉnh đá vôi, khởi điểm của đường mòn. Người ông thẳng đứng, nhưng lại lắc lư như một kẻ say rượu.
Thình hình ông giơ cao hai tay, la lên một tiếng thất thanh, rồi té sấp xuống đất. Ha -rôn và tôi, đứng cách đó 50 mét, hồi hả chạy tới, đỡ ông nằm lại. Mắt nhắm nghiền, mặt tái mét, Phe-sơn đang hấp hối. Ông nói hai ba câu như muốn trối trăn... nhưng giọng quá yếu ớt.
Chúng tôi chỉ nghe các tiếng cuối cùng: “Cái bờm sư tử”.
Cái bờm sư tử. Thật là lạ lùng và bí hiểm? Tuy nhiên tôi chắc chắn đã nghe rõ mồn một. Ðột nhiên Phe-sơn muốn nhổm dậy, huơ tay nhưng ngã qua một bên và trút hơi thở cuối cùng.
Ông bạn Ha-rôn sợ điếng người. Còn các giác quan của tôi đang ở tình trạng ứng chiến. Phe-sơn chỉ mặc một cái áo khoác mỏng, cái quần, chân mang đôi dép không cột dây. Khi ông ngã xuống, chiếc áo khoác trên vai tuột ra, để lộ mình trần. Chúng tôi điếng người khi nhìn thấy cái lưng đầy rẫy những đường đỏ đậm như bị roi đồng mịn quất liên hồi. Chắc chắn chiếc roi có thể co giãn được vì các vết thương vẽ những đường cong trên vai và trên sườn. Cằm thì nhiều máu từ vết cắn môi dưới trong cơn đau. Trong lúc tôi quỳ cạnh xác chết, Ha-rôn đứng như trời trồng thì một bóng người chiếu xuống đất: Ma-đô đã đến cạnh chúng tôi. Ma-đô là giáo sư toán, người cao ráo, da nâu, gầy gò, ít nói và hay giữ khoảng cách với mọi người đến nỗi không có lấy một người bạn. Hình như ông ấy chỉ sống trong vương quốc của những con số và những hình tròn, tách biệt hẳn với đời thường. Sinh viên cho ông ta là người kỳ cục, có lẽ sẽ trêu chọc ông cho vui nếu không gặp những lần ông đổ quạu. Một lần nọ, vì bị con chó của Phe-sơn quấy nhiễu, ông thộp đầu nó, quăng qua cửa sổ. Sau thành tích này, lẽ ra Ma-đô đã bị đuổi nếu ông hiệu trưởng Ha-rôn không quí chuộng cái tài của Ma-đô. Ðó là chân dung của nhân vật dị thường, phức tạp, đột ngột xuất hiện cạnh chúng tôi. Ma-đô có vẻ rất xúc động mặc dù chuyện con chó chứng tỏ rằng ông và người chết không hề có thiện cảm với nhau:
- Chúa ơi. Chúa ơi! Tôi có thể giúp được cái gì? Tôi phải làm gì để giúp quý ông?
Hồi nãy ông có đứng cạnh Phe-sơn không?
Chuyện gì vậy?
- Không, hồi sáng tôi ra trễ. Tôi đâu có tắm. Tôi đi thẳng từ nhà ra đây. Tôi có thể làm gì?
- Chạy ra khi cảnh sát Fulworth trình bày nội vụ?
Không đáp lại tiếng nào, Ma-đô tức tốc chạy đi.
Ðương nhiên là tôi thụ lý nội vụ. Trong lúc đó, Ha-rôn vẫn còn bàng hoàng trước thảm kịch, đang quanh quẩn bên cái xác. Việc đầu tiên của tôi là tìm biết lúc đó có ai.
Tôi đứng ở đầu đường mòn, nhìn nguyên cả bãi biển vắng tanh. Chỉ hai hoặc ba dáng người lờ mờ ở phía xa xa của ngôi làng Fulworth. Sau đó, tôi từ từ đi xuôi theo đường mòn. Thỉnh thoảng tôi gặp cùng một dấu chân đi xuống rồi lại đi lên. Không ai khác đi ra bãi biển bằng con đường mòn này. Tại một chỗ, tôi quan sát dấu của một bàn tay mở rộng, cái ngón chĩa theo hướng đi lên: điều này có nghĩa là khi leo lên dốc, Mc Phe-sơn đã bị té. Tôi cũng thấy những lỗ thủng hình tròn: như vậy là ông ta đã nhiều lần sụp gối xuống. Cuối đường mòn là một cái đầm lớn do nước ròng để lại. Khăn lau của ông còn vắt trên một tảng đá. Khăn còn xếp và khô: ông không có tắm.
Trên đám sỏi, tôi thấy vài mảng cát nhỏ ghi dấu dép và dấu chân đi đất của ông. Sự kiện cuối cùng này chứng tỏ rằng ông ta sắp sửa xuống nước, nhưng chiếc khăn khô cho thấy ông không xuống nữa.
Bài toán là như vậy. Thật là một chuyện lạ lùng Mc Phe-sơn không ở ngoài bãi biển lâu hơn 15 phút, bởi vì Ha-rôn có để ý khi ông này ra khỏi nhà, ông chuẩn bị để tắm, như đôi chân đi đất chứng minh. Nhưng ông đột ngột mặc áo quần trở lại rồi chạy đi mà không kịp gài nút.
Ra về mà không tắm hoặc ít ra là không lau khô?
Tại sao Mc Phe-sơn lại đổi ý. Bị quất roi một cách man rợ, bị hành hạ đến nỗi phải cắn môi chảy máu và chỉ còn đủ sức để ngược đường mòn rồi chết!
Ai đã tấn công ông ta. Quả có những hang động nhỏ dưới chân bờ đá vôi, nhưng mặt trời mới lên, chiếu sáng, không ai có thể dùng làm nơi ẩn náu được.
Có những dáng người xa tít trên bãi biển, nhưng họ ở quá xa, không thể dính dáng với vụ án. Hơn nửa cái đầm mênh mông nơi mà Mc Phe-sơn có ý định tắm ngăn cách với những người đó. Trên biển, vài chiếc xuồng đánh cá cũng ở khá gần. Các ngư phủ này có thể được thẩm vấn sau này. Như vậy có nhiều con đường mà chẳng có con đường nào đưa tới một hướng điều tra nhất định cả.
Khi tôi quay trở lại với xác chết thì có một nhóm nhỏ đang bu quanh. Ðương nhiên là có Ha-rôn và Ma-đô mới vào làng về cùng với An-đô, cảnh sát viên của xã. Anh chàng này to con, râu ngạnh trê, rõ ràng thuộc nòi giống Sussex, câm lặng, chậm nhưng nhiệt tình.
Anh ta nghe chúng tôi trình bày, ghi chép và cuối cùng kéo tôi ra một bên.
- Ông Holmes à, xin ông tiếp tay.
Ðối với tôi, đây là một vụ lớn lắm.
Tôi khuyên anh ta sai người đi báo cho cấp trên trực tiếp, mời pháp y, cấm không cho ai sờ mó gì và giới hạn tối đa sự tăng thêm dấu chân. Sau đó, tôi lục túi nạn nhân, và tìm thấy một mù soa, một dao lớn và một ví nhỏ.
Trong ví này lò ra một miếng giấy con. Tôi đưa cho viên cảnh sát. Những dòng chữ nguệch ngoạc của phụ nữ: 'Tôi sẽ có mặt tại đó, anh an tâm? Maudie”.
- Có thể nào đây là một chuyện tình, một cái hẹn?
Nhưng mà hẹn tại đâu. Lúc nào? Viên cảnh sát để tờ giấy trở lại trong ví, rồi bỏ ví vào túi áo choàng. Sau khi dặn dò việc lục soát chân bờ đá vôi cho thật kỹ, vì không còn gì cần kiếm nữa, tôi về nhà ăn điểm tâm.
Một lát sau, Ha-rôn tới nhà cho hay rằng xác chết đã được chở về trường Les Pignons để điều tra Ha -rôn mang lại vài tin tức chính xác và nghiêm trọng. Như tôi đoán trước, người ta không kiếm được gì trong các hang động dưới chân bờ đá vôi. Nhưng khi khám xét các giấy tờ trên bàn của Mc Phe-sơn; vài giấy tờ cho thấy có sự liên lạc thân mật giữa ông giáo sư khoa học trẻ tuổi này với một cô bé tên là Maud Bellamy ở làng Fulworth. Như vậy là biết được tác giả tờ giấy trong túi nạn nhân.
- Cảnh sát đã lấy các bức thư - Ha-rôn nói - Tôi không thể mang lại đây cho ông. Có thể nói dứt khoát với ông rằng đó là những bức thư tình. Nhưng tôi thấy không có lý do vững chắc để móc chuyện tình này vào biến cố thê thảm, trừ khi quả có một sự hẹn hò từ phía cô bé.
- Không ai hẹn với bồ tại một hồ tắm mà bất cứ ai trong chúng ta cũng đều có thể đến đó bất cứ lúc nào - Tôi - bác bỏ.
Là một sự ngẫu nhiên hoàn toàn khi không có một toán sinh viên đi theo Mc Phe-sơn - ông Ha-rôn nói.
- Có phải là ngẫu nhiên thật không?
- Holmes hỏi.
Ha-rôn cau mày suy nghĩ rồi nói:
- Ma-đô giữ họ lại để giảng một chứng minh hình học quỷ quái gì đó trước bữa ăn sáng. Thằng khỉ! Trông bộ mặt nó là đủ thấy nó đau xót một cách thành thật.
- Vậy mà tôi tưởng họ mặt trăng mặt trời với nhau?
- Quả có vậy, nhưng chỉ trong một thời gian mà thôi. Kể từ một năm nay, Ma-đô lại là bạn của Mc Phe-sơn như đối với bất cứ ai khác. Tánh tình hắn như thế! Bản chất không có nồng nàn với bất cứ ai.
- Tôi hiểu.
Hình như ông có kể cho tôi nghe về vụ con chó bị xử tệ.
- Vụ này được giải quyết êm xuôi rồi.
- Không còn có gì để phải trả thù?
- Không, tôi đoán chắc.
Họ trở thành bạn thân của nhau.
- Vậy thì ta phải quay về phía cô bé, ông biết cô ta không?
- Mọi người đều biết cô ta. Ðó là hoa hậu trong làng. Hoa hậu xứng danh, ông Holmes à! Ði đâu cũng được trầm trồ. Tôi biết rằng Mc Phe-sơn bị cuốn hút.
Nhưng tôi không ngờ sự việc đi tới mức như các lá thư trao đổi cho nhau.
- Gốc gác cô ấy ra sao?
- Cô ta là con của Ben-la, sở hữu chủ của tất cả các tàu biển và phòng tắm của làng Fulworth. Khởi sự chỉ là một ngư phủ thường, nhưng giờ thì phất lắm. ông ta và cậu con trai điều khiển cơ sở.
- Hay là ta đi vào làng một vòng để xem mặt họ.
- Viện cớ gì?
- Dễ mà. Ðừng lo? Suy cho cùng, ông giáo sư Mc Phe-sơn này không tự mình hành hạ mình đến mức độ man rợ như thế. Vậy, phải có một bàn tay ở đầu roi, nếu ta đề ra giả thiết là nó giết ông ấy. Trong cái xó biển này, ông ấy không có nhiều quan hệ lắm đâu. Ði vòng này, chúng ta sẽ kiếm ra động cơ của vụ án, và sẽ phăng ra thủ phạm.
Làng Fulworth nằm sâu trong một cái vịnh. Sau xóm nhà cổ và biệt thự hiện đại được cất trên thửa ruộng nghiêng, Ha-rôn đưa tôi tới một trong các biệt thự này.
- Ðấy là biệt thự La Harve, tên do chính Ben-la đặt.
- Ðối với một người khởi sự bằng số không, thì quả là không tệ.
- Ơ, ơ nhìn kìa, ông Holmes ơi?
Cửa vườn vừa mở: một người đi ra. Chúng tôi không thể lầm lẫn trước cái dáng người cao lêu nghêu, gân guốc, ưỡn ẹo. Ðó là Ma-đô.
- Ồ?
Ê! - Ha-rôn la to.
Ma-đô chỉ gật đầu nhìn lấm lét như định làm lơ đi luôn, nếu không bị ông hiệu trưởng chận lại.
- Anh đi tới đó làm gì vậy? - Ha-rôn hỏi.
Mặt của Ma-đô đỏ rực, nổi cáu:
- Thưa ông, tôi là nhân viên của ông, nhưng chỉ trong khuôn viên nhà trường. Tôi đâu phải báo cáo với ông về đời tư của tôi. Có lẽ trong một lúc nào khác, anh ta có thể phản ứng khéo léo hơn, nhưng lúc bấy giờ Ma-đô mất hẳn bình tĩnh.
- Trong tình huống này, cách trả lời của ông là lếu láo ông Ma-đô.
- Câu hỏi của ông hồi nãy cũng đâu có lễ phép gì!
- Ðây không phai là lần đầu tiên tôi vấp phải sự ương ngạnh của ông. Lần này là lần cuối cùng. ông chuẩn bị càng sớm càng tốt để đi dạy nơi khác.
- Tôi cũng có ý định này. Hôm nay tôi đã mất đi một con người độc nhất để tôi có thể sống dưới mái trường này.
Nói xong, Ma-đô bỏ đi. Ông hiệu trưởng giận sôi gan, im lặng đứng nhìn.
Rõ ràng là không thể chịu đựng được nửa.
Ý tưởng nảy sinh trong tâm trí của tôi lúc bấy giờ mà Ma-đô đã vồ lấy cơ hội để cao bay xa chạy. Một ngờ vực mơ hồ hình thành trong đầu tôi. Không biết cuộc viếng thăm gia đình Ben-la sẽ soi một tia sáng mới nào không? Ha-rôn bình tĩnh lại và chúng tôi tiếp tục đi về hướng biệt thự Le Harve.
Ben-la cỡ ngoài bốn mươi tuổi, có bộ râu quai nón màu đỏ hung rất đẹp. Nhưng tánh khí có vẻ không đằm thắm lắm.
- Không đâu, tôi không thích chi tiết.
Con trai tôi...
Vừa nói ông vừa chỉ một thanh niên lực lưỡng đang ngồi ủ rũ, cau có trong góc phòng khách.
- Con trai tôi cũng có ý y hệt như tôi. Các dự định của ông Phe-sơn đồi với con Maud không đúng đâu? Cái từ “kết hôn” không bao giờ được thốt ra. Tuy nhiên cũng đã có những thư từ, những cuộc hẹn hò và những rối rắm khó khăn mà con trai tôi lẫn tôi đều bài bác. Con bé mất mẹ. Chúng tôi là điểm tựa độc nhất của nó. Chúng tôi quyết tâm...
Lời nói của ông ta bị cắt ngang bởi sự xuất hiện của cô bé. Vừa thấy cô, tôi hiểu ngay khuôn mặt đều đặn, nước da tươi mát, con người sắc nước hương trời này đã làm xao xuyến bao con tim đàn ông đã gặp cô. Cô xô cửa bước vào, đứng trước mặt Ha-rôn với đôi mắt mở to:
- Tôi đã biết Phe-sơn đã chết - Cô nói - Xin hai ông nói thẳng cho tôi nghe chi tiết.
- Có một anh chàng ở trường đến cho chúng tôi hay- Người cha giải thích.
- Tôi không biết chuyện đó có liên quan gì đến em gái tôi- Người con trai lẩm bẩm.
Maud nhìn qua anh một cách giận dữ:
- Thây kệ tôi! Anh hãy để cho tôi giải quyết theo ý tôi. Theo những gì tôi biết thì anh ấy bị ám sát. Nếu tôi có thể tiếp tay tìm ra thủ phạm thì đó là việc vặt vãnh nhất mà tôi cần phải làm.
Sau đó, cô lắng nghe sự trình bày ngắn của tôi. Qua đó tôi thấy cô ta vừa sắt đá, vừa quyến rũ. Có lẽ cô ta đã biết mặt tôi rồi nên cô quay qua phía tôi:
- Hãy tiếp tay đưa bọn họ ra trước công lý, thưa ông Holmes. Tôi cam kết lúc nào tôi cũng dành trọn cảm tình cho ông và sẵn sàng cộng tác với ông, dù bọn sát nhân là ai?
Tôi có cảm giác rằng trong khi nói chuyện, cô nhìn cha và anh với vẻ thách thức.
- Cám ơn cô - Tôi đáp - Tôi cảm phục bản năng của phụ nữ trong những vụ như thế này. Cô có nói “họ”. Vậy là theo cô, có nhiều thủ phạm trong vụ này.
- Tôi biết rằng anh Mc Phe-sơn gan dạ, mạnh lắm. Nếu họ chỉ là một người thì không thể gây cho anh ấy những vết thương như thế.
- Tôi có thể gặp riêng cô một chút được không.
- Này Maud, tao nhắc lại với mày, đừng xía mũi vào việc này. - Người cha la to.
Cô gái nhìn tôi một cách tuyệt vọng.
- Tôi có thể làm gì bây giờ?
- Không bao lâu nữa, mọi người sẽ biết rõ các sự việc - Tôi đáp - Cho nên tôi có trình bày tại đây cũng không sao. Tôi thấy nên nói riêng với cô nhưng bố cô không cho phép thì ông ấy tham dự cuộc nói chuyện giữa cô và tôi.
Tôi nói về tờ giấy được tìm thấy trong túi ông Phe-sơn.
- Bất cứ ai điều tra vụ này cũng phải hỏi về tờ giấy này. Xin cô vui lòng cho biết thêm!
- Tôi thấy không có lý do gì để che giấu câu chuyện giữa chúng tôi. Chúng tôi đã đính hôn, chỉ chờ làm lễ cưới. Chúng tôi còn giữ kín vì bác của anh gần chết, có thề truất quyền thừa kế, nếu anh ấy cưới vợ trái với ý muốn của ông ta.
- Lẽ ra con phải cho ba hay?
- Người cha càu nhàu.
- Con đã tâm sự với ba rồi, nếu ba có một chút thiện cảm thì...
- Ba không muốn con gái của ba giao du với những thanh niên ngoại tịch.
- Thành kiến của ba như thế, con đâu dám cho ba hay trước chuyện kết hôn.
Còn về tờ giấy hẹn thì...
Cô ta ngừng lại, lục trong túi áo, rút ra một tờ giấy vò nát.
-... là để hồi âm tờ giấy này.
Cô ấy đọc to: Em thân yêu, Như thường lệ, tại điểm cũ, ở bãi biển, thứ ba, sau khi mặt trời lặn.
Ðó là lúc duy nhất anh ra được.
Rồi cô ấy nói thêm:
- Thưa ba là hôm nay đây.
Tôi dự định gặp anh ấy vào tối nay.
Tôi cầm tờ giấy và lật ngược lại.
- Bức thư ngắn này không gửi bằng bưu điện. Cô nhận nó bằng cách nào?
- Ông cho phép tôi khỏi trả lời vì nó không liên quan tới vụ án. Ngoài ra, tất cả những gì có liên quan, tôi sẽ trả lời đầy đủ.
Cuộc thẩm vấn không đem lại cái gì mới lạ. Cô không tin rằng vị hôn phu của cô có một kẻ giấu mặt, tuy cô đồng ý rằng có nhiều người nhiệt tình ngấp nghé cô.
- Xin phép được hỏi cô, ông Ma-đô có trong số người này không?
Cô ta đỏ mặt, có vẻ lúng túng.
- Có một dạo. Nhưng sau khi anh ấy biết rằng tôi rất thân thiết với Mc Phe-sơn thì tất cả đã thay đổi.
Lại một lần nữa, hình bóng con người lạ thường này dường như lộ rõ thêm. Phải tìm hiểu quá khứ của anh chàng Ma-đô này. Phải lục kỹ phòng của anh ta. Ha-rôn sẽ tận tình giúp đỡ tôi vì ông ta cũng ngờ vực.
Chúng tôi từ giã biệt thự le Harve với lòng khấp khởi mừng thầm đã nắm được một đầu cuộn chỉ.
Một tuần trôi qua. Cuộc điều tra vẫn giậm chân tại chỗ. Ha-rôn đã kín đáo dò hỏi thêm về ông giáo sư dạy toán và đã lục soát phòng ngủ của ông ta. Nhưng không có kết quả gì. Về phần tôi, tôi phải quay lại điểm xuất phát và cật lực làm việc, nhưng vẫn hoài công. Trong lúc đó bỗng xuất hiện một biến cố nhỏ: vụ con chó. Bà lão bộc của tôi nghe được trước tiên. Một chuyện bi thương, thưa ông. Chuyện con chó của ông Mc Phe-sơn - Một tối nọ, bà nói. với tôi như thế.
Ít khi tôi khuyến khích bà nói chuyện tào lao. Nhưng lần này tôi nằng nặc đòi bà kể cho tôi nghe.
- Chuyện gì về con chó?
- Nó chết rồi.
Nó chết vì thương tiếc chủ nó.
- Ai nói vậy?
- Chúa ơi. Người ta nói rùm beng. Nó nhớ chủ, bỏ ăn cả tuần nay. Hôm nay thì hai giáo sư trường Les Pignons gặp xác nó tại bãi biển. Ðúng ngay chỗ chủ nó bị giết.
“ Ngay chỗ.. chủ nó bị giết”. Mấy từ này vang dội trong óc tôi. Ðột nhiên, tôi có cảm giác mơ hồ rằng đây là một chi tiết thiết yếu. Con chó trung thành với chủ, chuyện đẹp thật. Nhưng tại sao lại chết ở chỗ đó. Tại sao ở cái bãi biển cô quạnh này. Con chó cũng là một nạn nhân chăng? Vô lý! Tôi có một cảm giác mơ hồ như thế. Một chặp sau, tôi tới trường gặp Ha-rôn. Theo yêu cầu của tôi, ông mời Sa-bu và Bờ-lao, hai sinh viên đã phát hiện ra xác con chó.
- Ðúng, nó nằm ngay bờ của cái đầm- Một trong hai sinh viên xác nhận với tôi - Có lẽ nó lần theo vết chân của chủ nó.
Tôi thấy xác con vật trung thành còn để trên một đệm rơm ở cửa ra vào. Xác nó cứng đơ, đôi mắt lồi ra, chân cẳng vặn vẹo. Sự đau đớn lộ rõ trên xác chết, dường như nó đã gào rống thảm thiết.
Sau đó, tôi đi xuống bãi tắm. Mặt trời đã lặn. Bờ đá vôi ngả bóng đen sì dưới mặt nước óng ánh. Quang cảnh thật là cô tịch. Ngoài hai con chim biển bay vòng vòng, không có một con gì khác nữa. Dưới ánh nắng chiều đang nhạt dần, tôi còn thấy dấu chân con chó ở chung quanh hòn đá mà chủ nó để khăn lau. Tôi đứng đó, suy ngẫm khá lâu. Chung quanh tôi, bóng đêm càng lúc càng dày thêm. Ðầu tôi đầy ắp những ý tưởng cuồn cuộn mà tôi cảm thấy cần tìm một điểm hệ trọng quanh quẩn đâu đây tại nơi sặc mùi tử khí này. Cuối cùng, tôi chậm rãi, nặng nề bước về nhà.
Ði hết đường mòn, lên trên bờ đá vôi, đột ngột tôi thấy lóe sáng trong đầu óc tôi cái điều thiết yếu mà tôi hằng mong muốn, một cái gì liên quan đến vụ án, tuy còn rất lờ mờ. Tôi mường tượng thấy một giả thiết cần phải kiểm chứng.
Tôi chạy về nhà, lao lên cái gác xép nhỏ chứa đầy sách. Lục lọi cả giờ, tôi tìm được một cuốn sách nhỏ bìa nâu mạ bạc. Tôi ngấu nghiến đọc đi đọc lại chương sách mà tôi vừa nhớ lại. Tôi không ngủ được cho đến khi biết chắc chắn rằng tôi nghĩ không sai.
Rồi sáng đấy, tôi gặp phải một trở ngại bực bội. Vừa uống xong tách trà, chuẩn bị xuống bãi biển thì tôi phải tiếp thanh tra cảnh sát Ba-đơn, thuộc sở cảnh sát Sussex.
ông ấy nhìn tôi.
- Thưa ông, tôi có nghe về những kinh nghiệm vô song của ông. Cuộc viếng thăm này không có tính chất chính thức nhưng tôi phải thú thực rằng tôi xui xẻo khi gặp cái vụ này? Thưa ông, có cần thi hành thủ tục bắt giam hay không?
- Bắt giam ông Ma-đô hả?
- Vâng, thưa ông. Nghĩ cho cùng thì ai khác bây giờ?
- Ta siết vòng vây, siết, siết cho tới khi cái vòng thu hẹp lại.
- Nếu không phải là ông ấy thì ai bây giờ?
- Ông có bằng bằng chứng gì không?
- Tính tình của Ma- đô. Cái bí mật quanh con người này! Chuyện con chó bị quăng ra cửa sổ? Nhất là Ma-đô đang chuẩn bị bỏ sở? Không lẽ ông lại làm ngơ cho y chuồn êm với một hồ sơ bất lợi cho y như thế - ông thanh tra cảnh sát xúc động hỏi tôi.
- Ông có những khiếm khuyết lớn trong cái hồ sơ đó!
Buổi sáng hôm ấy, Ma-đô dạy sinh viên học cho tới phút chót và chỉ sau khi phát hiện xác chết, ông ta mới tới. Ngoài ra, ông còn phải suy nghĩ đến một sự kiện quan trọng là một mình Ma-đô có thể đánh bằng roi vào một người như Phe-sơn cho đến chết không. Cuối cùng, còn phải xét đến dụng cụ đã gây ra các vết thương trên mình nạn nhân. Một cái roi co giãn hay cái gì cùng loại! Ông có khám nghiệm các dấu vết chưa?
- Tôi có thấy!
Cả pháp y nữa!
- Phần tôi, tôi đã sử dụng tới kính lúp. Cái dấu vết có những đặc điểm lạ.
- Ðặc điểm gì?
Tôi mời ông thanh tra vào văn phòng của tôi, cho ông ta xem một phóng ảnh.
Trong những vụ như vậy, đây là cách làm việc của tôi - Tôi nói.
- Ðương nhiên là ông lúc nào cũng nghiêm túc.
- Chúng ta hãy xét kỹ cái vết roi ở vai phải. Ông không thấy gì đặc biệt sao?
- Không?
- Rõ ràng là các vết roi không đều, ở đây có máu chảy, chỗ kia thì không. Trên một lằn roi khác, chúng ta cũng thấy như thế! Tại sao vậy?
- Tôi không có ý kiến gì cả.
Còn ông?
- Hiện tôi cũng còn lờ mờ, khi ta mô tả được cái dụng cụ tạo ra vết thương thì sẽ phăng ra thủ phạm ngay.
- Tôi có ý kiến - ông thanh tra cảnh sát nói nhỏ, ngập ngừng - Nếu là một dây thép gai nung đỏ thì mấy vết đâm là các điểm có gai.
- Sự so sánh của ông tinh ý thật. Do đó, tôi lại nghĩ đến cái đuôi con mèo có cột nhiều nút nhọn nhỏ.
- Vậy là ông đã tìm ra!
- Trừ khi các sự kiện đó bắt nguồn từ một nguyên nhân khác, ông Ba-đơn à, ông phải thấy rằng hồ sơ của ông không đủ để bắt người. Ngoài ra, còn lời trối của nạn nhân: “Cái bờm sư tử” nữa.
- Ông có giả thiết nào khác không, ông Holmes?
- Có lẽ có.
Nhưng tôi không dám bàn đến khi chưa có cơ sở vững chắc.
- Chừng nào?
- Trong vòng một giờ! Cũng có thể sớm hơn?
Ông thanh tra cảnh sát gãi cằm và nhìn tôi một cách bán tín bán nghi.
- Tôi muốn đọc những gì trong đầu ông, ông Holmes à! Có lẽ là các thuyền đánh cá?
- Không đâu, chúng ở xa lắm?
- Vậy là thằng cha Ben-la và thằng con trai to con của y. Hai người này cũng đang bực bội Mc Phe-sơn.
- Không phải đâu. Ông sẽ không moi được gì ở tôi! - Tôi vừa cười vừa nói - Giờ đây, ông thanh tra à, chúng ta đều cộng tác riêng. Nếu ông rảnh, chúng ta hẹn gặp lại lúc 12 giờ.
Chúng tôi chuẩn bị chia tay thì một việc hãi hùng xảy ra, đánh dấu bước đầu của hồi tàn cuộc.
Cửa nhà tôi bị đẩy mạnh toang hoác và một người bước đi khập khễnh ở hành lang. Ma -đô đi cà nhắc bước vào phòng tôi, mặt mày tái xanh, tóc tai bù xù, áo quần xốc xếch.
- Cho tôi xin rượu cô-nhắc!
Nói xong, ông ta ngã phịch xuống chiếc tràng kỷ. Bước theo sau anh ta là Ha-rôn, thở hổn hển, đầu không đội mũ, vẻ mặt hốc hác.
- Ðúng thế, hãy cho ta uống cô-nhắc - Ha-rôn kêu lớn - Hấp hối rồi. Ðưa anh ấy tới được đây là may đó. Dọc đường, anh ta ngất xỉu hai ba lần.
Nửa cốc rượu mạnh tạo phép lạ. Ma -đô phóng tay ngồi dậy và cởi áo vét.
- Hãy cho tôi dầu, thuốc giảm đau để xoa dịu cái đau kinh khủng này.
Anh ta rên rỉ.
Ông thanh tra cảnh sát và tôi cùng thốt lên tiếng kêu hãi hùng khi nhìn thấy những vết roi đỏ au trên vai trần của nạn nhân, những vết roi giống hệt trên mình của Mc Phe- sơn. Không những sự đau nhức cùng cực mà sự, hô hấp của nạn nhân thỉnh thoảng bị ngừng lại, mặt trổ màu đen, trán nhễ nhại mồ hôi và có lúc ông ta dùng tay đè mạnh lên tim như quá đau đớn.
Chúng tôi cho anh ta uống thêm “cô-nhắc”Cứ mỗi lần uống, anh ta lại tỉnh dần. Bông thấm dầu xà-lách hình như làm dịu được vết thương bí hiểm này. Cuối cùng, ông ta gục đầu xuống gối, nửa ngủ, nửa xỉu, nhưng ít ra thấy bớt đau. Chúng tôi không hỏi gì thêm được. Ngay khi chúng tôi hơi an tâm về tình trạng sức khỏe của Ma-đô thì Ha-rôn quay về hướng tôi.
- Chuyện gì vậy hở Holmes?
- Ông gặp anh ta ở đâu?
- Dưới bãi biển, ngay chỗ Mc Phe-sơn chết. Nếu Ma-đô yếu sức như Phe-sơn thì anh ta đâu về đến đây được.
Trong khi cố dìu hắn, mấy lần tôi tưởng hắn chết. Về trường thì quá xa, tôi bèn ghé vào đây.
- Ông thấy anh ta ở bãi biển?
- Tôi đang đi dạo dọc bờ đá vôi thì nghe tiếng kêu.
Anh ta đang đứng gần bờ nước, lắc lư như người say rượu.
Tôi lật đật chạy xuống, mặt áo quần qua loa rồi dìu về đây, ông Holmes. Ông phải tận lực để làm sáng tỏ vụ này. Với tài nghệ của ông, không lẽ ông không giúp được chúng tôi?
- Tôi tin là tôi làm được! Hãy đi theo tôi, cả ông thanh tra nữa. Chúng ta đi xem. Có thể tôi giao nộp kẻ sát nhân cho ông.
Bỏ Ma-đô cho bà lão bộc của tôi chăm sóc, chúng tôi xuống cái đầm chết người. Trên bãi sỏi còn quần áo, khăn lau của Ma-đô. Tôi chậm rãi đi quanh cái đầm. Các bạn tôi theo sau. Nước đầm không sâu, khoảng một mét hai hay một mét rưỡi, trong xanh như pha lê. Phía trong là một dãy đá tảng. Tôi đi dọc bờ nước dưới chân dãy đá vôi, vừa nhìn kỹ xuống nước. khi tìm được điểm sâu nhất thì tôi kêu lớn, biểu lộ sự đắc thắng.
- Một con sứa!
- Tôi kêu to - Các ông hãy nhìn cái bờm của con sư tử.
Con vật dị thường mà tôi chỉ cho mọi người thấy, giống lông bờm con sư tử. Nó đang cuộn lại như trái bóng. Nó nằm dưới đáy đá cách mặt nước độ một mét. Nó có những cánh lông dài màu vàng điểm ánh bạc, đang co vào, giãn ra một cách chậm chạp, nặng nề.
- Nó gây tác hại đã nhiều rồi. Cho nó qua thế giới bên kia đi! - Tôi kêu lớn - Hãy giúp tôi, Ha-rôn. Chúng ta trừ hậu họa.
Gần đó, có một hòn đá thật to. Chúng tôi lăn xuống đầm. Khi nước lặng, chúng tôi thấy con vật nằm dưới đáy hòn đá.
- Chuyện này vượt hẳn sức tôi - ông thanh tra cảnh sát nói lớn - Tôi sinh ra và lớn lên tại đây, nhưng chưa bao giờ biết chuyện tương tự. Con vật này từ đâu tới chứ không có ở địa phương Sussex này.
- Ðó là cái không may mắn của Sussex. Có lẽ cơn bão đã đưa nó tới. Thôi, hãy quay về nhà, tôi sẽ cho các ông biết kỷ niệm hãi hùng của một người gặp gỡ lần đầu cái tai ương của biển cả này.
Khi trở về văn phòng, chúng tôi mừng rỡ thấy Ma-đô đã khỏe hơn, tuy chưa hoàn hồn và thỉnh thoảng còn bị đau nhói. Anh cho biết là anh không hiểu việc gì xảy ra, đơn giản là anh cảm thấy đau tận xương tủy khi bị các móc nhọn quất vào mình. Anh đã cố gồng mình chạy lên bờ.
Tôi đưa ra cuốn sách mà tôi đã moi trên gác xép và nói:
- Ðây là cuốn sách đã rọi các tia sáng đầu tiên vào một vấn đề đã nằm trong bóng tối mãi mãi.
Quyển “Out of doors” (Du ngoạn) của nhà quan sát nổi tiếng J.G Wood. Chính ông ta suýt chết khi gặp con vật khủng khiếp này. Do đó, đây là một tài liệu có cơ sở vững chắc. Cyanea Capillate là tên khoa học của thủ phạm.
Tôi xin đọc qua một đoạn:
- Nếu bạn đi tắm mà gặp một khối tròn, mềm, màu hung hung đỏ, như lông bờm sư tử điểm bạc, cuộn tròn như trái bóng thì bạn phải coi chừng, vì nó quất đau điếng người. Những sợi dây hình như vô hình này dài đến 18 mét.
Rồi sau đó, tác giả tường thuật việt chính ông gặp con sứa này trong khi bơi ngoài khơi bờ biển Keng.
“Cái mớ dây ấy để lại trên da tôi những vết thương màu hồng. Nhìn kỹ, các đường này là do sự tiếp nối của hằng hà sa số mụn nhọt li ti”.
Wood lại giải thích: Cái đau như xuyên qua ngực.
“Tôi gục xuống như thể bị trúng nhiều phát đạn. Mạch máu như ngừng lại, tim đập mạnh như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực”. ông còn nói: “Tôi đã uống nguyên chai rượu cô-nhắc và hình như nhờ rượu này mà tôi còn sống”.
Sau đó, quay qua phía ông thanh tra, Holmes nói:
- Thưa ông thanh tra, tôi cho ông mượn cuốn sách này. Ông sẽ thấy rõ nguyên nhân cái chết của Mc Phe-sơn.
- Nhờ đó, hồ sơ của tôi được trong sạch - Ma-đô nói thêm với một nụ cười hơi gắng gượng - Tôi không phiền trách ông đâu, thưa ông thanh tra. Và tôi cũng không phiền trách ông đâu, thưa ông Holmes. Như vậy là nhờ vào sự kiện tôi chịu cùng một tai nạn với bạn tôi mà tôi được giải oan.
- Không đâu, anh Ma- đô. Tôi đã tìm ra hướng đi. Phải chi đồng thời với phát hiện này, tôi có mặt ở bãi biển thì anh đã không chịu cuộc phiêu lưu hãi hùng này.
- Mà làm sao ông biết được, ông Holmes?
- Về mặt sách vở, tôi đọc lung tung, nhớ dai dẳng những chi tiết dị kỳ. Mấy tiếng “cái bờm sư tử” của Mc Phe-sơn ám ảnh tôi mãi. Tôi nhớ có đọc đâu đó một tình huống khá bất thường. Có lẽ con sứa đó nổi trên mặt nước lúc Phe-sơn đứng trên bờ nên các lời trối trăng của ông ta là lời cảnh giác với tôi.
- Ít ra tôi đã được phục hồi danh dự - Ma-đô nói và từ từ đứng thẳng người lên.
- Tôi xin được giải thích thêm. Quả tôi có yêu cô Maud. Nhưng từ ngày cô chọn bạn chí thân của tôi, là Phe-sơn thì tôi chỉ còn có một ý muốn giúp cô ấy tìm hạnh phúc. Tôi nguyện ước được sống gần họ, làm bạn tâm tình. Tôi thường làm con chim xanh giữa họ. Tôi chấp nhận làm điều đó, vì tôi nắm bí mật của họ và thân thiết đến nỗi tôi hối hả báo tin buồn cho cô ấy, sợ có ai khác cướp mất công trạng. Cô ấy không tiết lộ cái tình thân giữa cô ấy với tôi vì sợ rằng ông không hiểu được sự thành thật của tôi mà gây nên rắc rối cho tôi. Tôi xin phép về trường. Tôi cần phải nằm nghỉ.
Ha-rôn giơ tay lên cao.
- Hai chúng ta đều buồn bực như nhau - Ha-rôn nói với Ma-đô - Anh tha thứ chuyện cũ của tôi. Trong tương lai, chúng ta sẽ hiểu nhau nhiều hơn.
Khi họ cặp kè ra đi, tôi đứng lại một mình với ông thanh tra cảnh sát.
- Ông đạt mục đích - ông ta nói to - Tôi có đọc nhiều về ông, nhưng chưa tin.
Thật diệu kỳ.
Tôi bắt buộc phải gật đầu nhận một lời khen.
- Lúc đầu tôi tỏ ra chậm chạp. Tôi hối tiếc vô cùng. Phải chi xác Phe-sơn được tìm thấy dưới nước thì tôi đã nghĩ ngay tới con sứa. Chính cái khăn lau đã đánh lạc hướng. Ðương nhiên, nạn nhân đâu còn tâm trí để lau với chùi. Phần tôi, tôi lại nghĩ rằng Phe-sơn không hề nhảy xuống nước. Kết quả là tôi đã đi lạc một lúc. Nào, thưa ông thanh tra, tôi thường qua mặt quí ông. Nhưng lần này quí ông được con sứa Cyanea Capillate phục thù giùm.

Cuộc đời như những cơn mưa
Đăng nhập để trả lời
0
NHÀ THẦU KHOÁN Ở NORWOOD
(lukhach chỉnh chính tả)

Holmes đã trở về Luân Ðôn từ nhiều tháng qua.
Theo lời vêu cầu của Holmes, tôi về ở chung với anh trong một căn phòng của Y sĩ trực Verner hứa sang lại căn nhà nhỏ bé của tôi với cái giá cao nhất mà tôi đánh bạo đưa ra. Sau này tôi mới biết Verner là người bà con với Holmes và chính Holmes đã bỏ tiền ra.
Sáng nay, Holmes ngồi lọt thỏm trong cái ghế bành và hờ hững mở rộng tờ báo. Nhưng ngay sau đó một cú giật chuông hung tợn vang lên, tiếp theo là một người đập mạnh vào cánh cửa bằng nắm đấm. Cánh cửa vừa được mở ra, thì vang lên những bước chân hối hả. Holmes đặt tờ báo xuống, trong phòng khách chợt xuất hiện một thanh niên xanh mét, cặp mắt ngơ ngác, đầu tóc bù xù thở hổn hển. Anh ta lần lượt nhìn chúng tôi.
- Tôi xin quý ông thứ lỗi. Xin đừng hiểu lầm tôi: Tôi gần như bị điên. Thưa ông Holmes, chính tôi đây? Con người bất hạnh John Hector McFarlane là tôi.
- Hãy hút một điếu thuốc lá đi ông McFarlane! - Holmes nói, tay chìa ra một hộp thuốc.
- Tôi tin chắc rằng trước những triệu chứng như vậy thì bác sĩ Watson đây, sẽ sẵn lòng cho ông uống một liều thuốc. Tiết trời mấy bữa nay thật là nóng nực. Giờ đây, nếu ông cảm thấy được bình tĩnh hơn, thì tôi sẽ sung sướng khi thấy ông ngồi xuống và nói cho chúng tôi biết ông là ai và ông muốn gì . Ông đã báo cho tôi rõ danh tính ông tựa hồ như tôi phải biết đến nó, nhưng tôi bảo đảm với ông rằng ông còn độc thân, ông là luật gia, hội viên hội Tam điểm và mắc bệnh hen suyễn, ngoài ra tôi không biết gì hơn về ông.
- Vâng, tôi là tất cả những thứ đó, thưa ông Holmes, và hơn thế nữa, vào lúc này đây, tôi là người bất hạnh nhất ở Luân Ðôn. Ông Holmes ơi, xin ông hãy cứu tôi. Nếu cảnh sát ập đến bắt tôi trước khi tôi kịp kể xong câu chuyện thì vui lòng xin với cảnh sát hãy để cho tôi có đủ thì giờ nói với ông tất cả sự thật. Tôi sẽ yên tâm vào tù, nếu tôi biết là ông giúp tôi ở bên ngoài.
- Chuyện cảm động đấy và lý thú nữa?
Vì sao ông sắp bị bắt?
- Về tội ám sát ông John ở hạt Norwood.
Người khách vươn một bàn tay run rẩy tới tờ Daily Telegraph còn để trên đầu gối Holmes.
- Nếu ông đã đọc, thì hẳn ông đã đoán vì sao tôi đến đây. Hiện nay tôi là đầu đề để mọi người bàn tán.
Anh ta chỉ cho chúng tôi trang giữa của tờ báo.
- Ðây này. Ðược ông cho phép, tôi sẽ đọc cho ông nghe: Ðây là những hàng tít: Vụ án ở Norwood. Một nhà thầu khoán nổi danh bị mất tích. Một vụ ám sát? Một vụ hỏa hoạn do ác tâm? Kẻ sát nhân đang bị truy lùng. Họ đã theo tôi! Tôi sắp bị bắt. Mẹ tôi sẽ tan nát cõi lòng. Bà sẽ chết vì buồn tủi ? - Anh ta vặn hai bàn tay trong một cơn tuyệt vọng.
Người bị kết tội vì đã sử dụng bạo lực đó, có thân hình cân đối, tinh thần đã kiệt quệ, đôi mắt đầy vẻ sợ hãi, không râu, hai mươi bảy tuổi, ăn mặc đứng đắn và ăn nói như một người Anh có giáo dục.
- Anh Watson, anh vui lòng đọc bài cho tôi nghe - Holmes nói.
- “Trong đêm qua, tại vùng Norwood - hạ đã xảy ra một tội ác nghiêm trọng. Nhà thầu khoán Jonas Oldacre độc thân, 52 tuổi, ngụ tại Deep Den House (thường bị người chung quanh gọi là một người kỳ quặc, bí ẩn và một khoảng đất trong chất dầy gỗ xây dựng. Lúc 12 giờ đêm qua, người ta báo động cháy. Lính cứu hỏa kéo tới, nhưng gỗ quá khô, bốc cháy dữ dội, người ta không sao dập tắt được ngọn lửa, mãi cho tới khi cả đống gỗ biến thành tro. Cho tới lúc đó, người ta vẫn nghe đó chỉ là một đám cháy thôi. Vẫn còn thấy rõ trong phòng, một cây gậy bằng gỗ sồi, Jonas tiếp ông John Hector McFarlane ở trong phòng.
Cây gậy là của người khách. Cảnh sát đã nắm được chứng cứ của tội ác. Dù sao đi nữa cần phải chờ đợi những Tin giờ chót: đẫm máu trong căn phòng của nhà thầu khoán mà giờ đây người ta còn biết là cánh cửa sổ của gian phòng đó đặt ở tầng một, đã bị mở ra, có nhiều dấu vết cho thấy một vật to lớn đã bị lôi kéo tới đống gỗ, và sau cùng người ta đoán chắc rằng những mẫu vụn của thân người bị đốt cháy đã được nhận ra giữa đống tro tàn. Cảnh sát tin rằng nạn nhân bị đánh chết trong phòng, những giấy tờ của ông bị đánh cắp, và thi hài ông bị lôi tới đống gỗ rồi kẻ gây án đã châm lửa đốt. Cuộc điều tra được ủy thác cho thanh tra Lestrade, thuộc Scotland Yard”.
Sherlock Holmes đã lắng nghe tôi đọc, hai mắt nhắm nghiền, những ngón tay chắp lại.
- Vụ án đưa ra vài chi tiết lý thú. Trước hết, thưa ông McFarlane, làm thế nào ông còn được tự do, bởi vì những dáng vẻ bên ngoài dường như cho thấy ông là người có tội.
Tôi ở Blackheath, cùng với cha mẹ tôi. Tối hôm qua, vì cần làm việc muộn với ông Jonas, tôi đã nghỉ đêm tại một khách sạn ở Norwood, và từ đó tôi đã đi thẳng tới văn phòng. Tôi không hề hay biết về vụ này, lúc lên xe lửa, lấy báo ra đọc tôi hết sức kinh hoàng và chỉ còn có mỗi ý định: Ðặt sinh mạng tôi vào tay ông. Một người đã theo dõi tôi từ nhà ga Luân Ðôn Bridge và chắc chắn là.
- Ồ !
Ai vậy kìa?
Có người giật chuông và những bước chân nặng nề ngay sau đó leo lên cầu thang. Ông bạn Lestrade hiện ra trên ngưỡng cửa. Phía trên bờ vai ông, nhô lên vài cảnh sát mặc cảnh phục.
- Phải ông John “Hector McFarlane đây không - Lestrade hỏi.
Thân chủ của chúng tôi đứng lên, tái mét.
- Tôi bắt giữ ông về tội ám sát ông Jonas Oldacre ở Norwood.
McFarlane quay về chúng tôi với một gương mặt tuyệt vọng, đoạn anh ta lại ngã ngồi xuống.
- Xin hãy chậm chậm một chút, ông Lestrade - Holmes nói - Chúng tôi gặp nhau chưa được nửa tiếng đồng hồ và ông này sắp kể cho chúng tôi nghe câu chuyện có thể giúp chúng ta nhìn thấy rõ.
- Tất cả đều quá rõ!
- Lestrade nói với giọng buồn bã.
- Tuy nhiên, nếu được ông cho phép, tôi sẽ quan tâm đến câu chuyện kể của anh ta.
- Thưa ông Holmes, tôi thật khó lòng từ chối ông điều gì. Nhưng tôi phải ở đây, bên cạnh phạm nhân - Lestrade nhìn đồng hồ - ông có nửa tiếng để nói.
- Trước hết, tôi xin nói ngay rằng tôi không biết gì về ông Jonas Oldacre, ngoại trừ tên ông ta, cha mẹ tôi có quen biết ông ấy, nhưng từ lâu, hai cụ không còn gặp ông ấy nữa. Vì vậy nên tôi rất ngạc nhiên khi vào khoảng ba giờ chiều ngày hôm qua, ông ấy đến văn phòng tôi trong khu City. Ông nắm trong tay nhiều tờ giấy gỡ từ một cuốn sổ, viết nguệch ngoạc.
- Mấy thứ giấy đó đây, quý ông có thể xem đi.
McFarlane đặt những thứ đó lên bàn tôi, rồi nói tiếp:
- “Ðây là bản...
chúc thư của tôi?”. ông Jonas nói:
“Thưa ông McFarlane, tôi muốn soạn thảo nó theo thể bản thảo nháp do luật định.
Tôi ngồi ở đây trong lúc ông làm.
Tôi liền bắt tay vào công việc. Nhưng tôi kinh ngạc biết bao khi thấy ông ta làm chúc thư để tặng tài sản cho tôi.
Lestrade đã có hơn một lần quan sát thấy Holmes với dáng tò mò.
- Tôi rất muốn nói với ông một lời, thưa ông Holmes!
- Này ông McFarlane, chiếc xe ngựa đang chờ ông ở dưới đường.
Người thanh niên đứng lên và sau một tia nhìn cầu khẩn, rời khỏi phòng.
Cảnh sát dẫn anh ta xuống xe, nhưng Lestrade ở lại với chúng tôi.
Holmes đã cầm lấy xấp giấy hợp thành bản nháp của bản di chúc và anh quan sát chúng một sự quan tâm thấy rõ.
- Tài liệu kỳ lạ, phải thế không, Lestrade- Anh ta nói, tay đặt tập giấy xuống.
Tới lượt Lestrade xem các giấy tờ, ông rất ngạc nhiên.
- Tôi chỉ có thể đọc được những dòng đầu, những dòng ở đoạn giữa và một hoặc hai dòng ở đoạn cuối: chúng thật rõ như là chữ in. Trong các chỗ khác, chữ viết thật xấu và đây là đoạn mà tôi chẳng hiểu tí gì.
- Anh nghĩ sao về điều đó?
- Holmes hỏi. - Nói thật.
- Thế còn ông, ông nghĩ sao?
- Tài liệu này đã được viết ra trên chiếc xe lửa. Nét chữ dễ đọc viết tại nhà ga, chừ xấu trên các đoạn đường giữa những nhà ga, và các chừ không đọc được viết khi tàu chạy trên những chỗ bẻ ghi. Những tờ giấy này đã được viết trên một đường tàu ngoại ô, bởi vì nó có một chuỗi liên tục những chỗ bẻ ghi. Cứ giả thiết rằng suốt chuyến đi đó đã được dành cho việc soạn thảo tờ di chúc, thì đây là một chuyến tàu tốc hành và nó chỉ đừng lại có một lần giữa Norwood và Luân Ðôn Bridge.
- Ông quá giỏi. Thưa ông Holmes! Bản chúc thư đã được viết bởi Jonas Oldacre ngày hôm qua, trong lúc đi đường. Thật là kỳ lạ! Tại sao ông ấy viết một chứng từ quan trọng một cách vội vã như vậy?
- Nhưng làm như thế, là có khác nào viết ra bản án tử hình cho chính mình Lestrade nói.
- Ồ, ông tin vậy sao?
- Ông không tin à? Tôi thấy vụ việc còn chưa được sáng tỏ.
- Nếu vụ này mà chưa sáng tỏ thì vụ nào mới sáng tỏ, đây là một thanh niên bất thình lình được biết rằng ta chờ cho bà già kia đi ngủ, rồi ra tay giết ông già, đem thiêu xác, sau đó đi tới một khách sạn gần đó để nghĩ trọ. Rốt cuộc thì anh ta đã không thấy những vết máu đó, và anh ta yên chí rằng mình không để lại dấu vết nào.
- Nếu ông đặt mình vào cương vị của chàng trai đó, thì liệu ông có tính ra tay ngay vào cái buổi tối đó hay không. Cái buổi tối mà bản chúc thư vừa được ký. Hơn nữa liệu ông có chọn cái ngày mà có một đầy tớ gái đã đưa ông vào nhà và báo với chủ? Sau chót liệu ông có bị người khác biết không? Ngoài ra ông có chịu để cái can của mình ở tại đó mà có hễ thực hiện tội ác, hãy thú nhận rằng điều đó khó xảy ra.
- Về cái can, thưa ông Holmes. Ông biết rõ rằng một can phạm thường luôn luôn mắc phải những điều bất cẩn mà một người bình tâm sẽ không làm. Chắc chắn y đã sợ hãi và không dám trở lại trong phòng. Xin ông hãy đề nghị với tôi một giả thiết khác, khớp với sự việc hơn.
- Tôi có thể cung cấp cho ông hàng nửa tá, Holmes trả lời“Chẳng hạn như đây là một: ông già đưa ra những giấy tờ có giá trị. Một kẻ đầu đường xó chợ đi ngang qua đó ngó qua cửa sổ lúc bức màn chỉ buông xuống nửa vời, thấy mớ giấy tờ. Lúc McFarlane ra về gã đầu đường xó chợ lẻn vào, chụp lấy một cái can và giết Oldacre, đem cái xác đi đốt, rồi đào tẩu.
- Tại sao gã đầu đường xó chợ đem đốt cái xác- Lestrade hỏi.
- Ðể chôn vùi một chứng cớ - Holmes đáp - Rất có thể là kẻ đầu đường xó chợ muốn che giấu một vụ trả thù mà y là thủ phạm.
- Thế tại sao hắn lại không lấy cái gì. Bởi vì đó là những giấy tờ mà y không thể hưởng lợi được.
Lestrade lắc đầu, nhưng với một sức mãnh liệt được dằn xuống.
- Vậy thì, thưa ông Sherlock Holmes, ông hãy đi tìm gã đầu đường xó chợ của ông. Trong lúc chờ đợi, chúng tôi sẽ tạm giam người của chúng tôi. Tương lai sẽ cho biết ai là người có lý. Ông chỉ cần thận trọng điểm này, thưa ông Holmes: Không một giấy tờ nào bị mất, còn người bị cầm tù và người được sở hữu những giấy tờ đó.
Holmes ngạc nhiên, anh nói:
- Ðúng như lời ông nói, tương lai sẽ trả lời dứt khoát. Xin tạm biệt, Lestrade. Trong ngày hôm nay, tôi sẽ ghé Norwood để xem ông đã tiến tới đâu.
Sau khi viên thám tử ra về, Holmes đứng lên và chuẩn bị với tâm trạng vui vẻ công việc anh sắp làm trong ngày.
- Anh Watson, tôi tới Blackheath.
- Tại sao không tới Norwood?
- Tối nay sẽ cho anh biết một điều gì đó có lợi cho chàng trai.
Lúc anh trở về thì khuya, vẻ mặt đầy âu lo và mệt mỏi. Trong một tiếng đồng hồ, anh bấm phím cây vĩ cầm để xoa dịu nỗi buồn phiền của mình. Sau chót, anh đặt cây đàn xuống và thuật cho tôi những rủi ro của anh. Tôi dã giữ thái độ ông vàng trước mặt Lestrade nhưng tận trong đáy lòng tôi lại tin rằng lần này anh ta theo đúng hướng còn chúng ta thì lạc hướng.
- Anh có đi Blackheath không?
- Có. Người cha đã đi tìm con. Bà mẹ ở nhà. Bà có cặp mắt xanh, run lên vì sợ hãi và phẫn nộ. Bà ta nhất quyết cho rằng con bà không phải là thủ phạm. Nhưng bà không hề xót thương lão Oldacre. Trái lại, bà nói về lão với một nỗi cay đắng khiến cho vô tình bà lại củng cố cho lập luận của cảnh sát.
- Lão ta giống một con khỉ hung ác và lắm mưu mẹo. Ngay lúc còn ấu thơ, lão đã độc ác như loài thú dữ.
- Vậy là bà đã biết ông ấy từ thuở nhỏ.-
Tôi hỏi
- Phải, tôi biết rất rõ? Ðó là một gã si tình, đã đeo đuổi tôi. Tôi đã đính hôn với y, nhưng khi tôi biết y đã thả một con mèo vào trong chuồng chim, thì tôi liền hủy bỏ hôn ước.
Bà ta đi lục tìm trong một ngăn tủ và đã đưa tôi xem tấm hình chụp một người đàn bà, bị bôi lem luốc và bị khía rách bằng lưỡi dao nhíp.
- Ðây là ảnh tôi. Buổi sáng ngày cử hành hôn lễ của tôi, y đã gởi tấm hình này cho tôi cùng với những lời nguyền rủa đồi bại.
- Vậy thì ít ra ông ta cũng đã tha thứ cho bà, bởi vì ông đã để lại gia tài cho con bà?
- Con tôi cũng như tôi, chúng tôi không thèm nhận một chút nào của hắn.
Chính thượng đế đã trừng phạt hắn. Con trai tôi vô tội.
Sau đó tôi đã thử khơi mào hai hoặc ba ý nghĩ, nhưng chẳng rút ra được điều gì nên tôi đi tới ngôi nhà xảy ra tội ác.
Ðó là một biệt thự lớn, kiểu mới, xây bằng gạch đứng sừng sững trên thửa đất, phía trước nhà trải dài một bãi cỏ với những cây nguyệt quế. Về phía tay mặt và cách xa đường một quãng có một cái sân chứa gỗ xây dựng, là nơi đã phát hỏa. Tôi đã vẽ một bản sơ đồ hiện trường trong cuốn sổ tay. Cánh cửa sổ bên trái này là cửa sổ của phòng ông Jonas. Từ ngoài đường, người ta có thế nhìn vào trong. Ðó là điều an ủi duy nhất mà tôi đã đem về Lestrade không có đó, nhưng người phụ tá đã tiếp đón tôi nồng hậu. Cảnh sát vừa thực hiện một khám phá lớn.
Họ đã dành cả buổi sáng để lục lọi trong đống tro: ngoài những mẫu vụn của xác người bị cháy thành than, họ còn tìm thấy những phiến tròn nhỏ bằng kim khí phai màu.
Tôi đã quan sát cẩn thận. Thấy đó là những cái cúc quần dài. Một số những cúc đó có chứ “Hyams”: đó là tên người thợ may quần áo cho Jonas. Tôi sải bước trên bãi cỏ để tìm các dấu vết nhưng tiết trời rất khô, đất rắn như sắt.
Tất cả những gì tôi có thể thấy là một xác chết hoặc một kiện hàng cồng kềnh nào đó đã được kéo ngang qua một bờ rìa cây song song với đống gỗ. Việc đó phù hợp với cảnh sát Tôi bò trên bãi cỏ giữa cái nắng tháng tám. Một tiếng đồng hồ sau đó, tôi đứng lên, chẳng tiến thêm được chút nào.
Sau thất bại đó, tôi đi vào trong phòng và khám nghiệm các hiện trường. Những vết máu rất mờ nhạt nhưng rõ ràng đó là những vết máu tươi. Cây can đã được để sang một bên, trên đó cũng có những vết máu mỏng. Ðúng là cây can của McFarlane. Trên tấm thảm, tôi lấy được dấu chân của hai người nhưng không có dấu chân của một người thứ ba nào: thêm một điểm nữa cho canh sát.
Tôi quan sát các món cất giữ trong két sắt, rất nhiều giấy tờ đã được lôi ra và để ở trên bàn, trong những bao thư có gắn xi niêm phong mà một hoặc hai bao đã được cảnh sát khui ra, tôi thấy chúng không đưa ra một giá trị lớn lao nào, và tài sản trong ngân hàng của ông Jonas cho thấy ông không khá lắm. Nhưng tôi có cảm tưởng là không phải tất cả mọi giấy tờ đều nằm ở đó. Các giấy tờ nhận quyền sở hữu là những cái đáng chú ý hơn cả, nhưng tôi không tìm ra nó. Nếu chúng ta thấy chúng, thì chúng ta sẽ đánh đổ lý luận của Lestrade, bởi vì có ai đi đánh cắp một giấy xác nhận chủ quyền mà y sẽ được thừa kế trong nay mai.
Không còn cách nào khác, tôi thử cầu may với mụ đầy tớ. Bà ta tên là Lệ-xinh. Ðó là một người nhỏ bé, tóc hung, cặp mắt ngờ vực và không thực thà. Nhưng mụ ngậm miệng như hến. Ðúng, chính mụ đã đưa ông McFarlane vào nhà, lúc chín giờ rưỡi. Mụ đi ngủ vào lúc mười giờ rưỡi.
Phòng mụ ở đầu nhà phía bên kia và mụ đã chẳng nghe thấy gì. Ông McFarlane đã để lại trong gian tiền sảnh cái mũ và cây can của ông. Chính tiếng báo động hỏa hoạn đã đánh thức mụ dậy. Ông chủ già nua của mụ chắc chắn là đã bị ám sát. Ông chủ có kẻ thù nào không? Ai mà chẳng có kẻ thù, phải không? Nhưng ông Jonas rất kín đáo và những mối quan hệ của ông chỉ là những vụ giao tiếp về công việc làm ăn. Bà ta đã thấy những cái cúc của áo, quần mà ông chủ đã mặc tối hôm trước.
Gỗ rất khô, cháy như bùi nhùi gặp gió. Cũng như những người lính cứu hỏa, mụ đã ngửi thấy mùi thịt nướng. Mụ không biết gì hết về các giấy tờ, cũng như những công việc nặng của ông chủ mụ. Trái lại, đó là một bản tường trình hoàn toàn tiêu cực. Ấy thế mà... ấy thế mà...
Anh siết bàn tay này vào bàn tay kia để tạo thêm sức mạnh cho sự vững tin mà anh sắp bày tỏ.
- Ấy thế mà tôi biết rằng tất cả điều đó là giả dối.
Tôi cảm nhận thấy nó trong tận tủy xương tôi. Có một cái gì đó còn chưa chịu ló ra và mụ gia nhân biết một cái gì đó. Trong mắt mụ, tôi đọc thấy một thứ giống như chỉ dấu của một lương tâm tội lỗi. Tốt hơn là chẳng nên nói đến chuyện đó nữa, Watson. Nếu một sự may mắn mà không tới giúp chúng ta thì vụ ở Norwood sẽ không có mặt trên bản tưởng thưởng những thành công của bọn mình.
- Cái dáng vẻ bề ngoài lương thiện của “can phạm” há chẳng gây ấn tượng tốt với đoàn bồi thẩm hay sao?
- Watson, anh có nhớ cái tên sát nhân Bert Stevens, (kẻ đã muốn chúng ta cứu thoát hắn vào năm 1887) không. Anh có thấy người nào có những cử chỉ dịu hiền, kẻ nào giống như những đứa con gương mẫu trong một gia đình lương thiện hơn hắn chăng?
- Ðúng thế. Nếu chúng ta không đưa ra được một giả thiết nào khác thì chàng trai đó bị tiêu. Chỉ có một chi tiết nhỏ liên quan đến giấy tờ. Khi nhìn vào tập ngân phiếu tôi nhận thấy là trong năm vừa qua, nạn nhân có chi trả cho một ông Cornelius nào đó một số tiền rất lớn. Thú thật là tôi mong muốn được biết ông Cornelius là ai, mà một nhà thầu khoán đã ngừng hành nghề lại có những dịch vụ quan trọng đến thế. Liệu ông ta có giữ một vai trò nào trong vụ này chăng? Cornelius có thể là một nhà môi giới chứng khoán, nhưng chúng ta lại không tìm thấy một phiếu cổ phần nào tương ứng với những khoản chi đó. Tôi thiếu những chỉ-dấu khác, giờ đây tôi phải tìm kiếm bên phía ngân hàng về việc gã Cornelius đã lãnh các chi phiếu đó. Nhưng tôi e sợ rằng, vụ này sẽ kết thúc bằng sợi dây thòng lọng mà Lestrade sẽ choàng quanh cổ của chủ chúng ta.
Tôi không biết trong đêm đó Holmes có ngủ được hay không, nhưng khi tôi gặp lại anh trong bữa điểm tâm, thì tôi thấy anh xanh xao, mệt nhoài, những quầng trĩu nặng quanh mắt, làm cho cặp mắt lộ ra trong sáng hơn. Chung quanh ghế bành anh ngồi tấm thảm vương đầy những mẫu tàn thuốc và những ấn bản đầu tiên của nhật báo mới phát hành buổi sáng sớm. Một bức điện tín nằm trên mặt bàn.
- Anh nghĩ sao về bức điện này? - Holmes hỏi - Bức điện được gởi từ Norwood:
“Chứng cớ quan trọng vừa được tìm thấy. Tội lỗi của McFarlane đã được xác minh. Khuyên ông nên bỏ việc điều tra.”
- Thế là chuyện trở thành nghiêm trọng rồi đây - Tôi nói.
- Ðó là tiếng gáy ò o nhỏ bé của Lestrade - Holmes trả lời với một nụ cười cay đắng - Tuy nhiên, hãy còn quá sớm để mà bỏ cuộc. Anh hãy dùng điểm tâm đi, rồi chúng ta sẽ lên đường.
Chúng tôi đi Norwood. Một đám đông những kẻ hiếu kỳ vây quanh ngôi nhà Deep Den House. Lestrade đón chúng tôi với một vẻ mặt rạng rỡ và một thái độ thắng cuộc.
- Thế nào, ông Holmes, ông có đem theo bằng chứng rằng chúng tôi đã lầm lẫn không. Ông có tìm ra tên đầu đường xó chợ chưa? - ông ta kêu lên.
- Tôi chưa rút ra được một kết luận nào - Holmes đáp.
- Nhưng ngay ngày hôm qua, chúng tôi đã có một kết luận rồi! Chúng tôi Scotland Yard đây này! Và giờ đây câu kết luận đã kiểm chứng. Ông phải nhìn nhận rằng lần này chúng tôi đã hơi nhanh hơn ông một chút, thưa ông Holmes?
- Ông quả thật có dáng vẻ của một người vừa nhận một ân sủng của Thượng đế! - Holmes nói.
Lestrade buông ra một tràng cười ầm ĩ.
- Ông mong chúng tôi bị thua. Nhưng không ai có thể chiến thắng trong tất cả mọi trường hợp, phải thế không, bác sĩ? Hai ông hãy lại đây, lại đây để thấy rõ tác giả của tội ác chính là McFarlane.
Ông ta dẫn chúng tôi tới một gian tiền sảnh sẩm tối.
- Ðây là nơi mà chàng trai đã đi qua để lấy cái mũ, sau khi gây ra tội ác, xin quý ông hãy nhìn cái này.
Ông bật một que diêm và chỉ vào một vết máu trên tường, ông đưa que diêm sát lại gần hơn: lúc đó tôi thấy còn hơn là một vết: đó là một dấu ngón tay cái in thật rõ.
- Ông hãy dùng kính lúp mà quan sát nó thưa ông Holmes.
- Phải, đó là việc mà tôi đang làm đây.
- Ông dư biết là không có hai dấu tay giống nhau?
- Ðúng vậy.
- Thế thì ông hãy so sánh cái dấu này với bản sao lại ngón tay cái trên bàn tay phải của McFarlane được lấy từ dấu vết máu trên tay để lại. Tôi chẳng cần tới một kính lúp cũng nhận ra rằng hai dấu đó y hệt nhau. Thế là quyết định? - Lestrade reo lên.
- Phải, thế là quyết định - Tôi lặp lại.
- Quyết định - Holmes nói.
Một ngữ điệu nào đó trong giọng nói của Holmes khiến tôi giỏng tai lên. Tôi quay lại để nhìn Holmes. Mặt anh không còn như trước nữa, nó để lộ một niềm vui lớn trong lòng anh. Cặp mắt anh sáng như hai ngọn đèn pha.
Tôi có cảm tưởng là Holmes phải phấn đấu dữ dội để cố nén một tiếng cười ngạo nghễ.
Sau chót. anh thì thào:
- Ai mà tin được nhỉ. Một chàng trai dáng dấp dễ thương đến thế! đây là một bài học để chúng ta đừng tin vào những cảm tưởng ban đầu, phải thế không, Lestrade?
- Phải, tôi biết có những kẻ thường quá tự tin, thưa ông Holmes - Lestrade nói, sự hỗn xược của ông ta tăng lên.
- Chàng trai đó đã phải ấn ngón tay cái của bàn tay phải vào tường, trước khi gỡ lấy cái mũ móc trên cái máng áo choàng à? Một hành động rất tự nhiên.
Bề ngoài Holmes thật là bình tĩnh, nhưng tất cả thân hình anh lại vặn vẹo dưới ảnh hưởng của một cơn kích thích bị kiềm chế. Anh nói thêm:
- Ông Lestrade, ai phát hiện điều này?
- Bà Lệ-xinh, người đã báo động cho nhân viên trực gác tối qua.
- Nhân viên trực gác của ông ở đâu?
- Trong căn phòng đã xảy ra tội ác: chúng tôi canh gác để không cho ai đụng tới cái gì cả.
- Nhưng tại sao ngày hôm qua, cảnh sát không thấy vết máu này?
- Có thể nói ngay rằng, chúng tôi không tiến hành một cuộc xét nghiệm tỉ mỉ gian tiền sảnh. Vả chăng, nơi đó lại không được sáng sủa, phải thế không?
- Không hẳn thế. Tôi nghĩ rằng không có gì để nghi ngờ, và rằng dấu vết chưa chắc đã có từ hôm qua.
Lestrade chăm chú nhìn Holmes, tưởng chừng như ông nghĩ rằng Holmes đã mất trí. Thú thật là chính tôi cũng ngạc nhiên bởi cái khía cạnh hơi phi lý trong sự nhận xét của Holmes.
- Ông có nghĩ là đêm qua McFarlane đã ra khỏi xà lim để làm tăng thêm những lời buộc tội vốn đã đè nặng lên anh ta không - Lestrade nói.
- Tôi mời các anh chuyên gia giám định xem đây có phải là dấu ngón tay của anh ta không?
- Ðây đúng là dấu ngón tay của anh ta. Thế thì đủ rồi? - Lestrade ngắt lời.
- Khi tôi có đủ chứng cứ, tôi đi tới kết luận. Nếu ông có điều gì muốn nói, ông sẽ gặp tôi trong phòng khách, là nơi tôi sắp viết bản báo cáo.
- Anh Watson, công việc đường như rất tệ hại, ấy thế mà tôi lại phát hiện ra một cái gì đó thật là kỳ cục. Nó không cho mình được thất vọng.
Tôi thật vui khi nghe anh nói thế.
- Tôi trả lời.
- Tôi rất sợ là vụ án đã được giải quyết xong.
- Không, nó chưa được giải quyết đâu. Có một nhược điểm nằm ở trong cái bằng chứng mà ông Lestrade đã đưa ra.
- Nhược điểm ở chỗ nào?
- Ở chỗ này đây: vào ngày hôm qua, khi quan sát tiền sảnh, tôi không hề thấy cái dấu tay này. Anh Watson, một cuộc dạo chơi nho nhỏ dưới ánh nắng sẽ không gây thiệt hại cho chúng ta.
Tinh thần bị lộn xộn, nhưng tâm thần lại được sưởi ấm bởi một nguồn hy vọng mới, tôi theo Holmes đi vòng quanh khu vườn. Holmes quan sát ngôi nhà dưới tất cả mọi góc cạnh trước khi trở vào và đi thăm bên trong từ dưới tầng hầm lên tới cái vựa sát mái nhà. Phần lớn những căn phòng không có bày đồ đạc, nhưng Holmes quan sát chúng một cách cực kỳ tỉ mỉ. Sau chót, khi đứng tại bực thềm mà phía trên nó là nơi dẫn đến ba căn phòng không có người ở, anh suýt la lên vì vui mừng.
- Ðây là lúc nên cho Lestrade biết bí mật. Anh chàng đã thích thú khi cười ngạo chúng ta.
Viên thanh tra sở Scotland Yard đang cặm cụi viết.
- Tôi tin là ông đang soạn thảo bản báo cáo về vụ án?
- Holmes nói.
- Ðúng vậy.
- Ông không nghĩ là còn quá sớm chăng? Tôi không thể bắt tôi đừng nghi ngờ, bạn Lestrade?
Thanh tra Lestrade đã biết Holmes quá rõ, nên không dám coi thường với câu nói đó. Ông đặt cây viết xuống và nhìn Holmes với vẻ tò mò.
- Ông nói sao?
- Có một nhân chứng quan trọng mà ông đã không thấy, ông có thể giới thiệu người đó với tôi không?
- Dễ thôi!
- Xin hãy làm đi!
Ông có bao nhiêu nhân viên ở đây?
- Ba người.
- Tuyệt vời. Mấy người đó đều là những tay cao lớn, khỏe mạnh và có giọng nói thật lớn chứ!
- To con và khỏe mạnh thì có. Nhưng vì sao lại cần có giọng nói thật lớn chứ?
- Rồi ông sẽ hiểu thôi và còn nhiều điều nhỏ bé khác nữa. Mong ông vui lòng gọi người của ông lại. Tôi sẽ ráng sức.
Năm phút sau, ba người cảnh sát đã tập hợp trong gian phòng trước. Holmes nói với họ.
- Dưới dãy nhà phụ, có rất nhiều rơm. Mong các ông vui lòng mang tới đây hai bó. Anh Watson, tôi tin là anh có mang diêm quẹt theo. Thưa ông Lestrade, ông có sẵn lòng đi cùng với tôi lên bực thềm trên cao kia chăng?
Trên bực thềm được nói đến, mở ra một dãy hành lang rộng chạy dài theo ba gian phòng ngủ bỏ trống. Tới một đầu, Sherlock Holmes bố trí chúng tôi đứng theo hàng dọc. Các nhân viên thật hớn hở và Lestrade nhìn kỹ bạn tôi với tình cảm xen kẽ sự thích thú, sự lo âu và sự mỉa mai. Holmes tới đứng trước mặt chúng tôi với dáng vẻ một nhà ảo thuật đang chuẩn bị làm trò.
- Ông có sẵn lòng phái một trong những nhân viên của ông đi lấy một xô nước không. Hãy đặt rơm ở đây, trong hành lang này, nhưng đừng đặt sát vào tường. Bây giờ tôi tin là chúng ta đã sẵn sàng.
Lestrade đỏ mặt lên vì giận dữ:
- Tôi tự hỏi không biết ông có chế giễu chúng tôi không, thưa ông Sherlock Holmes. Trong trường hợp ông biết một điều gì đó ông có thể nói toạc ra mà chẳng cần đến cái trò dàn cảnh kỳ cục này.
- Tôi có những lý do đúng đắn để hành động như vậy. Có thể ông còn nhớ là hồi nãy ông đã hơi chế giễu tôi, khi mặt trời ra vẻ chiếu sáng phe ông Giờ đây xỉn cho phép tôi được chủ tọa một nghi lễ nho nho. Anh Watson, anh có sẵn lòng mở một cửa sổ ra và ném một cây diêm đang cháy vào cái đống rơm không?
Tôi làm theo điều anh yêu cầu. Bị cuốn hút bởi luồng gió lùa, một dải khói xám tỏa ra trong dãy hành lang, trong lúc rơm khô nổ lách tách dưới ngọn lửa.
- Giờ đây chúng tôi sắp giới thiệu người làm chứng đó với ông, ông Lestrade. Tôi có thể yêu cầu tất cả quý ông cùng kêu lên hai tiến: Cháy nhà!. Nào Một, hai, ba...
- Cháy nhà!
Cả ba người cùng hét toáng lên.
- Cảm ơn.
Mong quý ông lặp lại.
- Cháy nhà!
- Thêm một lần nữa, và cùng một lúc.
- Cháy nhà!
Tiếng kêu của chúng tôi lớn đến đỗi ở đầu đằng kia hạt Norwood cũng phải nghe thấy.
Bất thình lình từ trong một bức tường phẳng ở cuối dãy hành lang, một cánh cửa mở tung ra, và một người nhỏ bé nhảy ra như một con thỏ vọt ra khỏi hang.
- Tuyệt - Holmes nói với một giọng thật bình tĩnh - Anh Watson, mong anh hãy trút xô nước lên đống rơm. Cám ơn. Thế là đủ. Lestrade, xin cho phép tôi được giới thiệu với ông: đây là ông Jonas Oldacre.
Viên thám tử sững sờ, nhìn chằm chằm vào người mới tới đang hấp háy mắt và đang lần lượt ngó nhìn toán chúng tôi và vào ngọn lửa đang dần dần lịm tắt. Ông ta có một cái đầu ghê tởm: mưu mô, thói hư, tật xấu, và lòng độc ác.
- Thế là thế nào? - Lestrade hỏi, sau khi đã tìm lại được việc sử dụng cái lưỡi- ông làm gì trong khoảng thời gian đó?
Jonas thất ra một tiếng cười ngượng nghịu, nhưng ông lùi lại trước bộ mặt đe dọa của Lestrade.
- Tôi không làm gì tai hại cả.
- Không tai hại à. Ông đã làm tất cả những gì cần làm để cho một người vô tội phải bị treo cổ. Nếu không có Sherlock Holmes thì ông đã thành công trong cái mưu mô ác độc đó rồi.
Kẻ gian ác bắt đầu khóc rấm rứt:
- Thưa ông tôi xin đoán chắc với ông rằng đây chỉ là một trò đùa, không hơn không kém.
- Một trò đùa hả- Nhưng tôi, tôi không sẵn lòng cười đâu? Hãy đưa ông này vào trong phòng khách cho tới khi tôi xuống...
- Thưa ông Holmes.
Nhà thám tử nói tiếp, sau khi Jonas đã được đưa đi cùng với ba cảnh sát.
- Tôi không thể nói ra trước mặt các thuộc viên, nhưng trước mặt bác sĩ Watson, tôi xin thành thật nhìn nhận rằng ông đã thành công. Ðây là một trong những cú đẹp nhất trong sự nghiệp của ông... ông đã cứu dược mạng sống cho người vô tội và đã ngừa trước một vụ tai tiếng lớn lao có thể làm tiêu tan danh tiếng Lestrade này trong sở Scotland Yard.
Holmes mỉm cười, vỗ lên vai Lestrade.
- Thay vì danh tiếng bị tiêu tan, tên tuổi ông bạn tốt của tôi sẽ được lẫy lừng thêm nữa. Ông bạn chỉ cần sửa lại vài chi tiết trong bản báo cáo mà ông đang viết đó, và tất cả mọi người sẽ hiểu là chẳng có ai có thể đem phấn mà ném vào mắt thanh tra Lestrade.
- Bộ ông không muốn tôi nêu tên ông ra?
- Phải?
Và bây giờ chúng ta hãy đến xem cái hang của con chuột đi?
Một bức vách ngăn bằng lát nan và trát thạch cao đã được sắp xếp trên hai mét chiều dài ở cuối hành lang, với một cánh cửa được che giấu một cách khéo léo, ánh sáng đến từ các khe hở của những tấm nan lát. Có vài ba món đồ, thức ăn và nước uống ở bên trong, cũng như có nhiều cuốn sổ và tài liệu. Holmes nói:
- Nhà thầu khoán này đã tự làm lấy cái chỗ ẩn náu nhỏ bé này mà chẳng cần đến một kẻ đồng lõa ngoại trừ cái mụ đầy tớ quý hóa mà tôi sẽ mau chóng nhét vào trong cái đáy hai túi của tôi, nếu tôi ở địa vị ông, ông Lestrade.
- Tôi sẽ theo lời khuyên của ông. Nhưng làm thế nào mà ông lại biết được chỗ này, thưa ông Holmes?
- Tôi có ý nghĩ là lão già quỷ quyệt này trốn ngay trong nhà mình. Khi sải bước trong hành lang, tôi khám phá ra rằng nó ngắn hơn dãy hành lang tương tự ở phía dưới mất hai mét: ngay tức khắc, tôi đoán ra được nơi lão trốn. Tôi tự nhủ là hắn không đủ vững tinh thần để không nhúc nhích trong lúc có báo động cháy nhà. Tất nhiên là chúng ta có thể xông vào bắt hắn nhưng tôi lại thích hắn phải tự mình chường ra. Vả chăng tôi cũng muốn chọc quê ông một chút chơi, vì hồi nãy ông đã chế nhạo tôi.
- Vậy thì, ông đã ăn miếng trả miếng rồi đấy nhé. Một hòa nhé. Nhưng làm thế nào mà ông biết được con quỷ đó ở trong nhà?
- Dấu lăn tay. Ông đã bảo với tôi rằng đó là một bằng chứng quyết định. Ðúng, ông có lý, nhưng nó quyết định cho sự ngược lại. Tôi đã biết ngày hôm qua trên tường không có dấu vết đó. Vậy thì nó đã được thèm vào trong đêm khuya.
- Bằng cách nào?
- Khi những xấp giấy đã được niêm phong, Jonas yêu cầu McFarlane kiểm tra một trong những con dấu bằng cách ấn ngón tay cái lên trên sáp mềm. Ðiều đó đã xảy ra thật nhanh và thật tự nhiên đến nỗi ngươi thanh niên không còn nhớ gì nữa. Ngay chính cả lão quỷ này cũng không chắc đã nghĩ đến là về sau sẽ còn sử dụng cái dấu vết tay đó. Nhưng khi trốn trong hang, hắn đã nghiền ngẫm lại nội vụ và bất chợt thấy được tầm quan trọng của sự buộc tội McFarlane, nếu hắn sử dụng cái dấu tay đó. In lại một dấu tay trên xi, bôi máu vào nó, rồi đem in lại nó trên tường (hoặc do chính tay hắn hoặc qua trung gian của mụ đầy tớ), chỉ là trò trẻ con đối với cái tên vô lại đó. Nếu như ông chịu bỏ công ra mà xem xét các tài liệu mà y đã đem cất trong cái hang của y, tôi dám cá với ông là ông sẽ tìm thấy con dấu niêm với vết lăn tay ở bên.
- Tuyệt vời. - Lestrade reo lên - Thật rất rõ ràng.
- Nhưng tại sao lại có một sự đánh lừa ác hiểm đến như thế, thưa ông.
Tôi không thể ghìm được một nụ cười: tất cả sự tự mãn đến xấc xược của viên thanh tra đã rớt xuống, người ta dám nói đây là một cậu học trò đang hỏi ý kiến ông.
- Hắn là một nhân vật rất thâm, rất ác, rất ham trả thù. Thuở xưa, hắn đã bị bà mẹ của McFarlane hủy bỏ lời hứa hôn, hắn coi đó là một điều bị lăng nhục, và để lòng hận thù, hắn muốn được trả món thù xưa, nhưng chưa có cơ hội. Trong hai năm gần đây, những vụ kinh doanh của hắn đã gặp những tình huống xấu, hắn khó mà trả được nợ. Hắn quyết định quịt nợ, và vì mục đích ấy, hắn đã viết những chi phiếu lớn cho một ông tên là Cornelius. Tôi chưa theo dõi những chi phiếu đó, nhưng tôi dám đánh cuộc là chúng đã được phát hành cho người nhận đó trong một tỉnh lẻ là nơi mà thỉnh thoảng Jonas đến đó sống một cuộc sống khác. Hắn đã có ý định thay tên đổi họ, rút lấy tiền và rồi bỏ đi nơi khác sinh sống. Cornelius chính là tên giả của hắn.
- Rất có lý.
- Hắn cho rằng nếu hắn bị mất tích trong một trận hỏa hoạn thì hắn sẽ thoát được tất cả mọi sự truy tố, cùng lúc hắn sẽ thực hiện được một cuộc trả thù khủng khiếp đối với người phụ nữ năm xưa, bằng cách làm cho đứa con trai duy nhất của bà vào tù. Và hắn đã thực hiện điều này như một bậc thầy: Ngón khéo của bản chúc thư, động cơ gây tội ác, cuộc viếng thăm bí mật mà cha mẹ chàng trai không biết, sự đánh xoáy cây can, vết máu, những mẫu vụn bị cháy thành than của thịt động vật, những cái nút áo, nút quần... Tất cả đều đáng khâm phục. Hắn đã giăng lưới khéo đến nỗi cho tới sáng này tôi còn chưa biết thoát ra bằng cách nào. Nhưng hắn đã không biết dừng lại.
Hắn lại còn muốn siết chặt thêm nữa sợi dây thòng lọng vốn đã quấn lấy cổ chàng trai, cho nên hắn đã bị mất hết.
Chúng ta xuống thôi, Lestrade.
Tên vô lại ngồi trong phòng khách của chính y, bị kèm sát bởi hai viên cảnh sát.
Hắn rên rỉ:
- Ðó chỉ là một trò đùa thưa ông “Ðại Lượng”Tôi ẩn trốn là để muốn biết người ta nghĩ gì về tôi, sau khi “tôi chết”.
- Ðoàn bồi thẩm sẽ quyết định việc đó - Lestrade trả lời .
- Và chắc chắn là ông sẽ được biết rằng các chủ nợ của ông Cornelius.
- Holmes nói thêm.
Lão già giật nẩy mình và hướng đôi mắt dữ tợn của y về phía bạn tôi:
- Một ngày nào đó, tôi sẽ trả món nợ này.
Holmes nở một nụ cười khoan dung.
- Trong vài năm tới, ông sẽ rất bận rộn. Nhân đây xin cho hỏi một câu:
- Ông đã ném cái gì vào trong đống gỗ cùng với cái quần cũ của ông? Một con chó chết? Những con thỏ? Hay là cái gì? ông không muốn nói ra ư? Ồ! Ông thật khó thương biết bao!
Cuộc đời như những cơn mưa
Đăng nhập để trả lời
0
NGƯỜI KHÁCH HÀNG NỔI TIẾNG
(lukhach chỉnh chính tả)

Holmes và tôi đều thích tắm hơi. Trên lầu của cao ốc tại đại lộ Northumberland có một cái góc tách biệt chứa tràng kỷ song đôi, chúng tôi choán 2 ghế này vào - ngày 3-9- 1902.
Tôi hỏi Holmes ở đây có gì vui không. Ðể trả lời, anh thò cánh tay dài ra khỏi các tấm “ra” để lấy một cái bì thư trong áo choàng treo gần đó.
- Cái này là của một người gây rối. Tuy nhiên, cũng có thể đây là một vấn đề sống chết. Tôi chả biết gì, ngoài nội dung của nó.
Nội dung bức thư như sau:
“Ngài đa-mê-ry ngợi khen và sẽ tới nhà ông Sherlock Holmes vào lúc 4 giờ chiều mai. Ngài muôn tham khảo ý kiên ông Holmes về một vấn đề rất tế nhị và quan trọng. Do đó ngài hy vọng ông Holmes cố gắng thu xếp để được rảnh rỗi và xác nhận sự đồng ý qua điện thoại tại câu lạc bộ Carlton”.
- Ðương nhiên là tôi đã đồng ý tiếp đón ông ta. Anh có biết gì về cái ông đa-mê-ry này không?
- Tên ông ta là chìa khóa vạn năng để bước vào xã hội thượng lưu.
- Tôi thì biết nhiều hơn một chút. Ông ta nổi tiếng về cái tài thu xếp những việc tế nhị mà báo chí không đề cập. Là một người hào hoa phong nhã và có thiên khiếu về ngoại giao, ông ta cũng thực sự cần chúng ta.
- Chúng ta?
- Ðúng thế, nếu anh đồng ý.
- Tôi rất hân hạnh.
- Vậy đúng 4 giờ nhé.
Lúc đó tôi ngụ tại một căn hộ ở đường Hoàng hậu Anne, nhưng tôi tới đường Baker sớm hơn giờ hẹn.
Ngài đa-mê-ry tỏ ra rất đúng giờ. Ðó là một người to béo, lương thiện, hơi đua đòi một chút, khuôn mặt cá nhẵn, có giọng nói dễ nghe. Ðôi mắt sáng tỏa rộng sự trung thực, đức tính hòa nhã lộ rõ trên đôi môi tươi cười. Cái mũ màu lợt, áo vét đen ngòm. Tất cả các chi tiết của y phục, từ hột trân châu trên cà-vạt cho đến đôi ghệt màu xanh tím bên trên đôi giày bóng loáng đã minh họa tính tỉ mỉ trong cách ăn mặc. Căn phòng nhỏ hẹp có vẻ bị đè bẹp khi nhà đại quý tộc bước vào.
- Ðương nhiên tôi cũng muốn gặp cả bác sĩ Watson - ông vùa nói vừa cúi đầu lễ độ - Sự hợp tác của ông ấy cực kỳ hữu ích, bởi vì lần này, thưa ông Holmes, chúng tôi phải đương đầu với một kẻ nguy hiểm nhất âu châu.
- Tôi đã gặp nhiều đối thủ từng được gán cái danh hiệu “cao thủ”.
- Holmes trả lời và cười.
- Mời ngài dùng thuốc.
- Vậy ngài cho phép tôi nhé.
- Ðối thủ của ngài có nguy hiểm hơn cả cố giáo sư Mô-ri hoặc hơn cả đại tá Mô-ran không?
- Ông đã nghe nói đến hầu tước Ru-nê?
- Tên sát nhân người Áo?
Ngài đa-mê-ry tháo bao tay và cười to:
- Ông là bậc kỳ tài.
Như vậy là ông đã biết thành tích của y?
Nghề nghiệp bắt tôi phải theo dõi kỹ các vụ án tại lục địa. Tôi tin chắc rằng hắn đã giết vợ trong cái gọi là “Tai nạn tại đèo Splugen”. Tôi cũng biết hắn hiện ở Anh và chẳng chóng thì chầy hắn cũng tạo ra việc làm chống tôi.
Nhưng hầu tước Ru-nê đã giở trò gì mới. Tôi đoán là không phải cái thảm kịch xưa diễn lại.
- Không đâu, chuyện không nghiêm trọng hơn. Trừng trị kẻ gây tội ác là quan trọng, nhưng ngăn ngừa một tội ác lại càng quan trọng hơn. Thật là khủng khiếp, thưa ông Holmes! Khi chứng kiến sự chuẩn bị một biến cố ghê tởm, một tình huống bẩn thỉu, thấy trước kết quả tai hại mà ta không làm gì được để ngăn ngừa. Có ai lọt vào một cảnh ngộ đau đớn như thế chưa?
- Chuyện hiếm có!
- Vậy là ông cảm thông với người khách hàng mà tôi làm đại diện.
- Tôi không ngờ ông chỉ là người trung gian. Vậy ai là đương sự chính?
- Tôi khẩn khoản xin ông đừng hỏi thêm. Tên ông ấy cần được giữ bí mật. Tất nhiên ông sẽ được thù lao trọng hậu.
- Tôi rất tiếc - Holmes nói - Thưa ngài, tôi sợ rằng tôi phải từ chối đề nghị của ngài.
Người khách vô cùng bối rối. Gương mặt tối sầm vì thất vọng.
- Ông Holmes. Ông đặt tôi vào một hoàn cảnh khó xử. Nhưng tôi đoán chắc rằng ông sẽ hãnh diện mà đảm nhiệm công việc, nếu tôi cung cấp đầy đủ chi tiết của nội vụ. Nhưng vì tôi đã hứa là tôi sẽ không để lộ tên nhân vật. Và vì vậy, tôi chỉ xin trình bày tất cả những gì tôi được phép tiết lộ.
- Nếu ông muốn? Nhưng ông nên nhớ, tôi không hứa hẹn gì cả.
- Ðồng ý, chắc ông đã nghe nói về tướng Mê- vin. Ông ấy có một cô gái tên là Vi-ô-lét, trẻ đẹp vẹn toàn. Chính cô gái ngây thơ này cần được đưa ra khỏi nanh vuốt của loài quỷ dữ.
- Vậy là hầu tước Ru-nê hốt hồn con bé rồi?
- Hắn đẹp trai, có giọng nói đường mật, dáng vẻ tiểu thuyết và kỳ dị của hắn làm mê hoặc cô bé. Người ta đồn hắn đã chinh phục không biết bao nhiêu cô gái.
- Nhưng làm thế nào hắn lại quen được với cô gái ấy.
- Họ gặp nhau trong một chuyến đi chơi bằng tàu trên biển Ðịa Trung Hải. Ru -nê bám sát và cuối cùng chinh phục được con chim non. Cô ta mê mệt hắn. Ngoài hắn ra, cô ta chả thiết đến cái gì khác. Mọi phương cách đã được thử để chừa bệnh, nhưng vô ích. Tóm lại, cô ta dự trù lấy hắn vào tháng tới. Cô ta đã trưởng thành và cô ta có ý chí sắt đá. Vậy ta làm sao ngăn cản chuyện này?
- Cô ta có biết những chuyện hắn làm hồi còn ở nước áo không?
- Hắn có kể cho cô nghe những điều tai tiếng trong quá khứ của hắn, nhưng luôn luôn trong chiều hướng của một vị thánh tử đạo.
Cô ta chỉ nghe có một chiều.
- Tiếc thay, vì vô ý, ông đã tiết lộ danh tính của vị khách hàng của ông.
Ðó là tướng Mê-vin.
Người khách nhỏm mạnh trên ghế.
- Tôi không phủ nhận, nhưng chuyện buồn này đã làm ông tướng mất hẳn tinh thần. Gân cốt cứng cáp tại trận địa đã rêu rã, ông đã trở thành một người bất lực trước thằng người áo này. Tôi là bạn tri kỷ của ông ấy.
Tôi xem con bé đó như là con tôi ngay từ hồi nó còn mặc váy ngắn. Tôi thấy không có lý do để cho Scotland Yard can thiệp vào. Chính do ông tướng gợi ý mà tôi tới tìm ông với điều kiện là ông ta không xuất đầu lộ diện trong nội vụ.
Gương mặt Holmes sáng rực với một nụ cười tinh nghịch:
- Tôi cam kết với ông điều đó.
Tôi sẵn sàng ra tay.
- Nhưng làm sao tiếp xúc với ông, khi cần?
- Luôn luôn có thể tìm ra tôi qua trung gian của câu lại bộ Carlton. Trong trường hợp khẩn cấp, đây là số điện thoại riêng của tôi: XX-31.
Holmes ghi chép, vẫn ngồi yên và cười ranh mãnh.
Cuốn sổ tay vẫn còn để mở trên đầu gối.
- Ðịa chỉ hiện tại của Ru-nê, xin ông vui lòng. Biệt thự Vernon, gần Kingston. Nhà lớn lắm. Hắn ta phất trong mấy cú đầu cơ tài chính gần đây. Do đó bội phần nguy hiểm.
- Hiện hắn ở tại Luân Ðôn?
- Vâng.
- Ngoài nhưng điều vừa mới nói, ông có thể cho thêm những thông tin dồi dào hơn về anh chàng này không?
- Hắn mê ngựa, mê gái. Hắn sưu tập sách và tranh. Hắn lại có ý thức thẩm mỹ cao nên hắn rất có uy tín về việc đánh giá các đồ sứ Trung Hoa và có viết một cuốn sách về nghệ thuật này.
- Một bộ óc phức tạp- Holmes nói - Tất cả các tội phạm lừng lẫy đều có bộ óc phức tạp. Ngài có thể thông báo với khách hàng của ngài rằng tôi đích thân chăm lo vụ này. Tôi tin rằng chúng ta sẽ tìm ra cách giải quyết.
Sau khi khách ra về, Holmes chìm đắm trong suy tư làm như không biết có sự hiện diện của tôi. Cuối cùng anh trở về với thực tại.
- Anh Watson, có gì mới?
- Tôi đoán anh sẽ đi gặp con bé đó ngay.
- Ông tướng còn không làm cô bé động lòng thì tôi, một người xa lạ, sẽ làm được gì. Tuy nhiên, nếu mọi phương cách đều thất bại thì tôi sẽ tính sau. Còn bây giờ, ta phải bắt đầu dưới một góc cạnh khác. Có thể Si-oen sẽ giúp được tôi. Cho tới nay, tôi chưa có dịp nêu tên Si-oen bởi vì tôi chưa nói đến các vụ án bị phanh phui trong giai đoạn cuối của cuộc đời Holmes. Vào các năm đầu của thế kỷ này, Si-oen trở thành một phụ tá có tài năng.
Trước đó, Si-oen bị để ý dưới dạng một thằng ác ôn nguy hiểm, bị nằm nhà đá hai năm tại Parkhurst. Sau đó anh ta ăn năn, hối cải và liên minh với Holmes. Anh ta trở thành người được gài trong bọn côn đồ khét tiếng của Luân Ðôn. Si-oen cung cấp cho Holmes những tin tức đôi khi có tính quyết định. Nếu anh ta làm mật báo cho cảnh sát, thì sẽ bị lột mặt nạ ngay. Nhưng vì anh ta hợp tác trong những vụ việc mà kết quả sau cùng không phải là việc truy tố ra tòa nên các bạn cũ của anh ta không hề hay biết. Nhờ hào quang hai năm khổ sai, Si-oen lọt vào tất cả các hộp đêm, các sòng bài với cái bộ óc phong phú cũng như năng khiếu quan sát, Si-oen trở thành một mật báo viên lý tưởng.
Khó mà theo dõi tất cả các xoay xở của Holmes, bởi vì về phần tôi, tôi cũng có những nhiệm vụ nghề nghiệp phải chu toàn. Anh ấy hẹn sẽ gặp tôi tại Simpson. Tại đây, ngồi trước một bàn nhỏ gần cửa sổ, anh báo cho tôi vài tin tức đồng thời quan sát làn sóng người đi đường trong khu náo nhiệt Strand.
Si-oen đã đi săn mồi - Holmes nói với tôi - Có thể y sẽ mang về vài cái rác rưởi móc từ những xó xỉnh tối tăm nhất của xã hội đen. Chính trong cái mớ rác rưởi đó, chúng ta sẽ sục sạo và khám phá ra các bí mật của đối tượng.
- Cô bé đã không nhìn nhận những sự việc đã có, thì cái phát hiện mới mẻ của anh sẽ có tác dụng gì?
- Biết đâu, Watson. Tâm trí của người đàn bà là những bài toán khó hiểu. Một tội giết người có thể được bỏ qua, nhưng một vi phạm vặt vãnh có thể làm đau nhói con tim. Hầu tước Ru-nê có nói với tôi...
- Hắn có nói chuyện với anh?
- À, tôi chưa thông báo các dự định của tôi cho anh. Thì đây, tôi thích cận chiến. Tôi thích mặt đối mặt với đối thủ để tận mắt nhìn rõ, xem “cái cốt” của hắn là con gì.
Sau khi giao việc cho Si-oen, tôi đã kêu một chiếc xe ngựa, đến Kingston và phải nói rằng hầu tước rất khả ái.
- Hắn nhận ra anh?
- Trước đó, tôi đã đưa ra danh thiếp. Ðó là một đồi thủ tuyệt hảo, lạnh như băng, nới năng ngọt lịm, nhưng nọc độc thì như nọc rắn hổ mang. Theo tôi, hắn thực sự thuộc giai tầng quý tộc và tội ác. Hắn lịch sự mời bạn uống trà nhưng sẵn sàng bỏ thuốc độc hại bạn. Vâng, tôi khoái nghiên cứu hầu tước Ru-nê.
- Anh nói hắn rất dễ thương!
- Dễ thương như mèo, dễ thương mà giết người như ngóe. Cái cách hắn đón tiếp tôi làm tỏ lộ bản chất của hắn.
- Tôi cũng đoán rằng thế nào tôi cũng gặp ông, ông Holmes à- Hắn nói với tôi - Có thể tướng Mê-vin đã thuê ông để ngăn cản đám cưới giữa tôi với con gái ông ta?
Tôi đáp: - Vâng!
- Thưa ông - Hắn nói tiếp với tôi.
- Ông chỉ làm tổn hại cái danh tiếng khá xứng đáng của ông. Ông không thể nào thành công trong vụ này. Ông lao mình vào một việc vô bổ, lại nguy hiểm. Ông cho phép tôi mạnh mẽ khuyên ông nên rút lui tức khắc?
- Lạ chưa - Tôi đáp.
- Ðó lại chính là lời tôi dự định khuyên ông. Tôi kính trọng cái khối óc của ông, thưa hầu tước, và mấy phút sơ giao cũng chưa làm sút giảm sự kính trọng đó. Chúng ta hãy nói chuyện giữa người lớn với nhau. Không ai muốn lùi về quá khứ và gây phiền hà cho ông. Quá khứ là quá khứ? Ông hiện đang bơi trong một khúc sông trong lành. Nếu ông ngoan cố tiến hành đám cưới, ông sẽ đụng chạm tới một số người có quyền thế. Họ sẽ ra tay phá ông cho tới khi ông bị đuổi khỏi nước Anh này. Ông khôn thì nên để yên cho cô bé. Ông đâu có được thoải mái khi mà một vài giai đoạn trong quá khứ của ông được tiết lộ cho cô ta?
Vị hầu tước có vài sợi lông thẩm mỹ lòi dưới mũi như ăng-ten của một côn trùng. Chúng lay động vì khoái trá khi ông ta nghe tôi nói và ông ta cười nhẹ rồi trả lời.
- Xin tha thứ cho sự hả hê của tôi, ông Holmes. Tuy nhiên làm sao không cười khi thấy ông đánh bài mà không cầm bài, không một lá bài, thưa ông Holmes? ông tuyệt đối không có một lá bài, nói chi đến nước bài?
- Ông tin như vậy à?
- Theo tôi biết là như vậy. Ông cho phép tôi giảng giải đầy đủ. Bài tôi tốt đến nỗi tôi có thể bày ra giữa bàn.
Tôi có cái may mắn là chinh phục trọn vẹn tình yêu của cô bé. Cô ta yêu tôi, mặc dù tôi đã cho cô biết tất cả các giai đoạn rủi ro trong quá khứ của tôi. Tôi cũng có dặn cô ta rằng vài kẻ mưu mô, vài kẻ nguy hiểm sẽ tới gặp và kể cho cô ta nghe các chuyện đó. Tôi đã cảnh giác cô ta và chỉ cách cho cô ta tiếp đón bọn đó. Ông có nghe đến cái hiệu quả sau thôi miên không, thưa ông Holmes! Ông sẽ thấy nó một cách cụ thể. Tôi chắc chắn cô ta không từ chối tiếp ông đâu. Cô ta nuông chiều tất cả ý muốn của cha ngoại trừ một chi tiết nhỏ.
- Anh Watson, sau đó tôi kiếu từ với tất cả sự bình tĩnh và lạnh lùng. Nhưng khi vừa nắm lấy hột xoài mở cửa, tôi bị chận lại:
- Nhân tiện nói luôn, thưa ông Holmes, ông có quen ông Le Trun thám tử người Pháp không?
- Có!
- Ông có biết việc gì đã xảy ra cho y không?
- Hình như y bị vài thằng du đãng ở Montmarte đánh đòn và bị tật suốt đời.
- Ðúng. Một trùng hợp lạ lùng, y xen vào công chuyện của tôi cách đó một tuần! Ðừng xen vào chuyện của tôi, thưa ông Holmes, sẽ xui xẻo cho ông Lời khuyên chót của tôi. Ông đi đường ông, tôi đi đường tôi, chúc một đêm an lành?
- Tay hầu tước này có vẻ nguy hiểm - Cực kỳ nguy hiểm. Tôi từng biết rõ nhiều tên khoác lác, nhưng thằng này thuộc loại ít nói.
- Anh có bị bắt buộc phải bận tâm về hắn đâu. Hắn lấy cô bé đó thì có sao đâu?
- Vì chắc chắn hắn đã giết chết người vợ sau cùng, nên ta cần phải ngăn cản cuộc hôn nhân mới này. Mặt khác, phải làm theo lệnh của khách hàng.
Nhưng thôi, đừng có thảo luận điều này. Khi uống cà phê xong, anh đi theo tôi, bởi vì Si-oen sẽ đến báo cáo công việc.
Si-oen đã đến phố Baker khi chúng tôi tới nơi. Ðó là một tên khổng lồ, mặt hơi đỏ và thô, đôi mắt cực kỳ linh hoạt là dấu hiệu độc nhất của bộ óc xảo quyệt. Chắc chắn anh ta đã lặn ngụp trong giai tầng cặn bã.
Thật thế, cạnh Si-oen, trên ghế dài còn có một thiếu phụ trẻ trung mảnh khảnh, tóc đỏ hoe, khuôn mặt thê lương, tái mét, bị tội lỗi và ưu phiền tàn phá đến nỗi người ta mường tượng được những năm tháng khủng khiếp mà nàng đã trải qua.
- Tôi xin giới thiệu cô Kít-ti - Si-oen nói và lay động bàn tay béo phị.
- Những gì cô ấy biết... Cô ấy sẽ tự động nói ra. Tôi chộp được cô ấy, thưa ông Holmes, không đầy một giờ sau khi nhận được giấy của ông.
- Tìm tôi không khó - Cô gái nói - Ai cũng có thể tìm ra tôi tại địa ngục của Luân Ðôn. Chúng tôi là những bạn tâm giao. Nhưng mà, quỷ thần ơi, còn một thằng nữa thằng này lẽ ra phải ở một tầng địa ngục tệ hơn, nếu có công lý trên cõi trần này. Ðó là cái thằng mà ông đang bận tâm, thưa ông Holmes.
Holmes cười:
- Tôi xin dự phần vào nguyện ước của cô, cô Kít-ti?
- Nếu tôi có thể giúp ông tống nó đến cái nơi mà nó phải ở theo luật, thì tôi rất sẵn sàng.
Người khánh nữ nói một cách hăng hái. Sự hận thù cao độ thoáng qua trên các đường nét căng thẳng và trong đôi mắt rực sáng.
- Ông khỏi phải bận tâm về quá khứ của tôi, thưa ông Holmes. Quá khứ của tôi chẳng có gì hay ho. Tôi chỉ là con chuột nhắt trong nanh vuốt của con mèo Ru-nê. Chờ khi tôi có thể kéo nó... - cô vung hai bàn tay một cách điên dại -... kéo nó xuống tới một cái hố, nơi mà nó đã đạp quá nhiều người xuống.
- Cô biết chuyện gì rồi?
- Si-oen đã nói với tôi. Thằng điếm hiện chạy theo một con nghe đáng thương và lần này thì hắn muốn cưới cô ta làm vợ. Phần ông, ông chắc đã biết quá nhiều về con quỷ cái này!
- Cô bé mất trí rồi. Cô ấy yêu nó như điên như dại. Cô ấy đã được cho hay, nhưng cô ấy không chịu nghe tí gì.
- Ðược cho hay về vụ ám sát?
- Vâng...
- Chúa ơi. Con bé cừ thật? Ông không nhét bằng chứng vào cặp mắt ngu đần của nó?
- Cô có chịu giúp chúng tôi soi sáng cô ta không?
- Còn gì nữa. Tôi chưa phải là bằng chứng bằng xương bằng thịt sao? Tôi sẽ kể cho cô ta nghe cái cách tôi bị Ru-nê đối xử.
- Cô sẽ nói?
- Sao lại không?
- Nên thử làm coi. Thằng khốn đó đã thú nhận phần lớn các tội lỗi của nó và cô ta đã tha thứ cho nó rồi. Tôi không tin rằng. cô ta chịu trở lại vấn đề.
- Tôi sẽ chứng minh rằng nó chưa thú hết tội - Cô Kít-ti nói lớn tiếng.
- Tôi có biết sơ qua về hai hoặc ba cái án mạng chưa bị phanh phui. Hắn nói với cái giọng êm như nhung, rồi thản nhiên nhìn tôi và tiết lộ: Nó chết được một tháng rồi. Hắn không nói nhiều, và tôi cũng không chú ý lắm. Vì yêu hắn, bất cứ cái gì hắn làm, tôi cũng thích thú, y hệt như con bé ngu đần đáng thương kia. Chỉ có một chuyện làm cho tôi kinh hoảng. Quỷ thần ơi? Hắn có một cuốn sách đóng bằng da nâu, có ổ khóa đóng kín và có huy hiệu của hắn trên bìa. Hình như đêm đó hắn say, nếu không thì hắn đâu có cho tôi xem?
- Sách gì?
- Hắn sưu tập đàn bà. Hắn hãnh diện về bộ sưu tập đàn bà của hắn như người ta hãnh diện về những bộ sưu tập tiền xưa hoặc các loại tem. Hắn ghi đầy đủ trong sách đó những hình chụp lén, tên họ, và biết bao chi tiết khác. Ðủ hết? Một cuốn sách mà không một người đàn ông nào, ngay cả giới cặn bã cũng không nhẫn tâm làm thế! Nhưng Ru-nê đã viết: “Các linh hồn mà tôi đã hủy diệt”. Nhưng thôi, tôi không bình luận nữa, bởi lẽ cuốn sách đó không ích gì cho ông. Còn nếu nó hữu dụng thì làm sao lấy nó được?
- Nó ở đâu?
- Làm sao mà biết, bởi vì tôi đã tuyệt giao với hắn hơn một năm rồi. Khi còn sống chung, thì tôi biết nó được giấu ở đâu. Về nhiều phương diện, hắn giống một con mèo, hắn có cái tính sạch sẽ và chính xác của mèo. Do đó, có thể quyển ấy ở trong tủ đồ gỗ. Chỗ trong văn phòng riêng của hắn.
- Tôi đã vào đó rồi - Holmes đáp.
- Ủa, rồi hả. Vậy ông đâu phải là tay mơ. Có lẽ hắn đang gặp phải một tay kỳ phùng địch thủ rồi. Văn phòng mà ông vào có cái tủ buýt phê lớn chứa đồ sứ Trung Hoa đặt giữa hai cửa sổ sau cái bàn, có cái cửa đi qua văn phòng riêng, nơi hắn cất giấy tờ và một ngàn lẻ một thứ khác.
- Ông ta không sợ ăn trộm à?
- Ru-nê đâu phải đồ thỏ đế. Ðương nhiên hắn dư sức bảo vệ mạng sống và tài sản của hắn. Ban đêm thì có cả một hệ thống chuông báo động. Mặt khác trong nhà hắn có cái thứ gì đáng giá để quyến rũ bọn ăn trộm đâu? Ngoại trừ mớ đồ sứ Trung Hoa.
- Ðồ vô giá trị- Si-oen mạnh mẽ nói lớn - Không một thằng cha, con mẹ chợ trời nào chịu mua một món đồ cua nó.
- Ðồng ý- Holmes nói - Nào cô Kít-ti, đề nghị cô quay lại chiều mai lúc 5 giờ. Ðể tôi suy nghĩ về đề nghị đi gặp con bé của cô. Tôi sẽ xem xét coi có thể thu xếp một cuộc hẹn được không. Tôi thành thực cám ơn sự cộng tác của cô. Có lẽ tôi khỏi cần phải nhắc lại rằng người khách hàng của tôi rất hào phóng.
- Không - Cô gái la to - Tôi không đến đây vì tiền. Lôi được thằng khốn đó xuống bùn là tôi hả dạ! Nhét nó sâu xuống bùn và chân tôi đạp lên để giẫm nát cái mặt đáng nguyền rủa của nó! Tôi không muốn cái gì khác. Tôi sẽ gặp ông vào ngày mai và bất cứ lúc nào. Si-oen biết cách kiếm ra tôi.
Phải tới chiều hôm sau, tôi mới gặp Holmes tại quán ăn quen thuộc ở Strand. Anh nhún vai khi được hỏi xem cuộc hội ngộ có kết quả không? Holmes kể lại:
- Ông tướng điện thoại cho hay rằng mọi sự đã chuẩn bị xong. Kít -ti rất đúng hẹn, leo lên xe ngựa đi chung với tôi. Xe cho chúng tôi xuống lúc 5 giờ 30 tại tư dinh đồ sộ của ông tướng. Một người hầu mặt đồng phục đưa chúng tôi vào phòng khách lớn.
Con bé đang ngồi đợi. Cô ta mặt tái xanh, nghiêm trang, sắt đá và lạnh lùng như tuyết. Tôi không biết cách mô tả cô bé, anh Watson? Có thể trước khi câu chuyện kết thúc, anh sẽ gặp cô ta, chừng đó anh sẽ sử dụng năng khiếu văn sĩ của anh.
Cô bé đẹp, cái đẹp thanh thoát. Trong các kiệt tác của những nhà danh họa Trung Cổ, tôi gặp những khuôn mặt giống khuôn mặt của cô ta. Làm thế nào một con thú dữ có thể đặt vuốt của nó trên một con người như thế! Chuyện đó khó hiểu đối với tôi. Anh biết rằng những cái khác cực thì hút lẫn nhau, người thiên về tâm linh bị cuốn hút bởi người ác thú tánh. Ðương nhiên là cô ta biết lý do của cuộc thăm viếng của chúng tôi.
Sự có mặt của cô Kít-ti làm cho cô ngạc nhiên một phút. Tuy vậy, cô ta vẫn chỉ hai ghế bành với vẻ mặt của một bà trưởng tu viện tiếp nhận hai người cùi trước đây đi ăn mày.
Cô ta nói giọng như vang dội ư một tảng băng.
- Thưa ông, tôi có được nghe nhiều về phương danh của ông. Ông tới đây, theo tôi hiểu là để vu khống vị hôn phu của tôi, hầu tước Ru-nê. Chỉ vì chiều theo ý cha tôi mà tôi tiếp ông, và tôi xin báo cho ông biết trước rằng không một lời nào của ông sẽ có ảnh hưởng đến các quyết định của tôi.
- Cô ta làm tôi đau nhói. Ngay lúc đó, tôi coi cô ta như con gái của tôi. Tôi hăng say biện giải, mô tả cho cô ta các tình huống địa ngục của một người đàn bà chỉ biết rõ tim người đàn ông sau khi đã lấy nhau, một người đàn bà phải chịu sự nhơ khổ của đôi bàn tay đẫm máu và đôi môi tanh tưởi. Tất cả các lời nói của tôi không thể đem lại một phút xúc động trên cái nhìn xa xăm của cô ta.
Tôi nhớ lại những gì thằng ác ôn nói về cái tác động sau thôi miên. Quả vậy, ta có thể tưởng tượng rằng cô bé đanh sống bên trên trái đất trong một sự mê sảng.
- Tôi đã nhẫn nại nghe ông nói, thưa ông Holmes. Hiệu quả của lời ông là đúng như hiệu quả mà tôi đã cho ông biết trước. Tôi biết rằng chồng chưa cưới của tô đã trải qua rất nhiều cơn giông tố của những phê phán rất bất công. Ông là người cuối cùng trong một loạt người vu khống. Có thể ông có mỹ ý với tôi, mặc dù tôi biết ông là người làm việc có thù lao, ông có thể bảo vệ quyền lợi của hầu tước cũng như quyền lợi các kẻ thù của hầu tước. Nhưng đó là quyền tự do của ông.
Phần tôi, tôi muốn ông hiểu dứt khoát rằng, tôi thương anh ấy, anh ấy cũng thương tôi, còn dư luận đối với tôi thì chỉ như chó sủa lỗ không. Nếu bản chất quý phái của anh ấy đôi khi có sai sót, thì có thể Chúa đã thu xếp để tôi đến nâng anh ấy lên vai vế cũ.
Quay qua phía cô Kít-ti cô ta nói thêm. “tôi không hiểu tại sao có sự hiện diện của thiếu phụ trẻ tuổi này”.
Tôi sắp trả lời thì con bé bụi đời xen vào như cơn lốc. Anh hãy tưởng tượng cảnh lửa gặp băng, mặt đối mặt. “Tôi sẽ nói với cô, tôi là ai?”
Kít-ti nhảy dựng khỏi ghế và la lớn, miệng méo xẹo vì điên tiết.
- “Tôi là tình nhân cuối cùng của thằng đó. Tôi là một trong một trăm người đàn bà bị thằng đó cám dỗ, mê hoặc, tàn phá cuộc đời rồi liệng vào đống rác. Ðống rác, đối với cô có thể là nấm mồ, có lẻ lại hay hơn. Tôi nhắc lại, đồ ngu như chó, lấy nó, cô sẽ tiêu tùng! Hoặc nó đập nát tim cô hoặc nó vặn cổ cô? kết quả sẽ là cái chết chắc chắn.
Hôm nay, không phải vì thương cô mà tôi nói. Cô sống hay cô chết mặc xác cô. Chính vì muốn phục thù rứa hận. Không nên nhìn tôi một cách miệt thị như thế, người đẹp ơi! Bởi vì người đẹp có thể sa sút một cách tệ hại hơn, không lâu lắm đâu.
- Tôi không muốn phải nói những chuyện như thế này. Tôi lặp lại một lần chót rằng tôi biết ba giai đoạn của cuộc đời của vị hôn phu của tôi. Trong đó anh ấy đã vướng phải thành phần đa mưu và tôi vững tin rằng anh ấy thành thật hối cải những sai trái cũ.
- Ba giai đoạn- Người nữ đồng hành của tôi thét to - Ðồ ngu! Ðồ ngu cực kỳ
- Ông Holmes, tôi yêu cầu ông chấm dứt cuộc nói chuyện này. Tôi vâng lệnh bố tôi mà tiếp ông, chứ tôi đâu bị bắt buộc phải nghe các lời nói mê sảng của người này.
Cô Kít-ti chửi thề như bắp rang, nhào ra phía trước, nếu tôi không nắm được cổ tay cô, thì cô Kít-ti đã chụp tóc con gái ông tướng. Tôi kéo cô ta ra hướng cửa và nhanh nhẹn đẩy cô ta lên xe ngựa, tránh được một sự tụ tập của những người hiếu kỳ. Về phần tôi, tuy tỉnh táo hơn, nhưng tôi cũng muốn phát điên khi vấp phải một thái độ cao ngạo của người đàn bà đang cố cứu mạng. Vậy là tôi đã báo cáo tình hình đầy đủ rồi đó. Ðương nhiên, tôi phải mở ra một hướng đi khác. Tôi vẫn phải giữ nên lạc với anh, anh Watson! Có phần chắc là tôi dành cho anh một vai trong vở kịch tới. Tôi đoán biết màn tới do họ chủ động đó.
Holmes đã đoán đúng đòn thù của họ giáng trả.
Ðúng ra là của thằng điếm đó. Tôi điếng người khi đọc tin nhỏ trên một tờ nhật báo. Sự việc xảy ra giữa đại khách sạn Grand Hotel và nhà ga Charing Cross. Một anh què giò bày một tờ báo buổi chiều in hàng tít rất lớn bằng chữ đen trên nền vàng:
“Sherlock Holmes bị mưu sát”.
Tôi đứng như phỗng đá một lúc lâu. Sau đó hình như tôi giật tờ báo từ tay người bán, và không trả tiền báo rồi tức tối chui vào trước cửa một tiệm thuốc tây để đọc:
“Chúng tôi đau đớn hay tin ông Sherlock Holmes là nạn nhân của một cuộc mưu sát. Hiện tại mọi dự đoán về tình trạng sức khỏe của ông là quá sớm. Biến cố xảy ra khoảng 12 giờ tại đường Regent, gần quán cà phê Royal.
Hai người dùng gậy đập tới tấp trên thân và đầu ông Holmes. Các bác sĩ cho rằng đây là trường hợp nghiêm trọng. Ông được chở vào nhà thương Charing Cross nhưng ông nằng nặc đòi chở về nhà tại đường Baker.
Những kẻ tấn công ăn mặc rất đàng hoàng. Họ thoát thân bằng cách chạy vào quán cà phê Royal rồi đi ra bằng cửa sau và tan biến trên đường phố đông người. Ðương nhiên họ thuộc giai tầng tội ác đã biết bao lần bị khốn khổ bởi tài năng của ông Sherlock Holmes”.
Tôi nhảy lên một xe ngựa, bảo chạy tới phố Baker.
Tại cửa có xe của ngài Lê-ly đang chờ. Khi vào hành lang, tôi gặp nhà giải phẫu nổi tiếng này.
- Bệnh không có gì nguy kịch - Bác sĩ Lê-ly nói với tôi - Rách da đầu hai chỗ, trầy trụa tứ tung. Phải vá nhiều. Tôi có chính mooc-phin, cần để ông ấy nghỉ ngơi, nhưng ông có thể vào gặp vài phút.
Tôi hối hả bước vào căn phòng tối om. Holmes gọi tôi. Bức sáo được kéo xuống ba phần tư nhưng có một tia sáng mặt trời lọt vào, nhờ đó tôi thấy rõ có vết máu thoát ra lớp băng trắng trên đầu Holmes. Tôi ngồi gần anh, lắc đầu.
- Không gì đâu, Watson. Ðừng giữ cái bộ mặt đưa ma đó - Holmes nói với giọng yếu ớt - Không nặng như người ta nói đâu?
- Thật là may!
- Tôi đánh gậy cũng không tệ, như anh biết, tôi đỡ được nhiều cú.
Họ 2 người, tôi thua là do cái người thứ hai này.
- Ðương nhiên là do tên hầu tước khốn nạn đó giựt dây. Nếu anh cho phép, tôi sẽ xé xác nó ngay?
- Ta không thể làm gì trước khi cảnh sát thộp cổ mấy tên đồng phạm của nó. Chúng chuẩn bị kế hoạch chuồn hay lắm. Hãy chờ một lúc. Tôi có kế hoạch mới.
Việc thứ nhất phải làm là tung tin rằng bệnh trạng của tôi là rất nguy kịch. May mắn lắm thì sống thêm một tuần. Hãy phao tin rằng tôi đã nói sảng nói điên.
- Còn ngài Lê-ly.
- Ồ, khỏi lo, ông ấy phịa còn dữ hơn nữa. Tôi lo chuyện đó cho.
- Còn gì nữa không.
- Còn chứ. Cảnh giác Si-oen, bảo hắn đem cất giấu con bé bụi đời vào nơi an toàn. Bọn chúng sẽ làm thịt con bé. Khẩn trương lên, ngay đêm nay nhé!
- Tôi đi ngay.
Còn gì nữa không?
- Ðể cái tẩu và bao thuốc trên bàn giùm.
Tốt lắm!
Mỗi sáng anh tới đây, chúng ta sẽ hoạch định kế hoạch hành động.
Ngay đêm đó tôi thu xếp với Si-oen để gởi cô Kít-ti qua vùng ngoại ở Paris chờ tới lúc sóng lặng gió yên.
Trong suốt sáu ngày, công chúng lầm tưởng Holmes đang thoi thóp, chờ chết. Các bản thông báo sức khỏe rất là bi quan, còn báo chí thì công bố những tin tức ảm đạm.
Trong khi đó Holmes bình phục nhanh chóng.
Ngày thứ bảy, người ta tháo chỉ các chỗ may. Cũng tối hôm đó họ loan một tin mà tôi phải thông báo ngay cho Holmes.
Trong đám hành khách trên con tàu rời Liverpool vào sáng thứ sáu, có tên của hầu tước Ru-nê.
Hắn có những việc tài chính quan trọng phải giải quyết tại Hoa Kỳ trước ngày kết hôn đang gần kê. Sau khi nghe tin này, nét mặt Holmes tái mét.
- Thứ sáu. Holmes la lớn - Vậy chỉ còn có ba ngày thôi. Thằng ác ôn này muốn chạy trốn. Không được đâu, Watson? Tôi muốn anh làm một cái di để giúp tôi.
- Thì tôi tới đây là để giúp anh.
- Vậy anh dành 24 giờ tới để nghiên cứu kỹ lưỡng các đồ sứ trung Hoa.
Holmes không giải thích thêm. Tôi cũng không đặt một câu hỏi nào. Mấy năm sống với anh tập cho tôi thói quen răm rắp vâng lời. Nhưng khi đã rời phòng của anh, đi dọc đường Baker, tôi không biết làm sao chấp hành mệnh lệnh. Cuối cùng tôi đi đến thư viện ở quảng trường Saint-james, trình bày dự định của tôi cho người bạn thân tên là La-may, phó quản thủ thư viện và quay về nhà với một cuốn sách đồ sộ kẹp ở nách. Suốt đêm, suốt sáng hôm sau, tôi học được cả ngàn chuyện và nhồi nhét vào đầu cả ngàn cái tên. Ðầu óc nặng trĩu dưới gánh nặng của tài liệu này. Chiều hôm sau tôi đến nhà Holmes. Anh đang ngồi trên chiếc ghế bành, đầu quấn băng.
- Nếu tin theo các báo chí thì anh đang hấp hối?
- Ðấy chính là điều tôi muốn phổ biến rộng rãi, còn anh đã học bài kỹ chưa?
- Ít ra tôi có thể hiểu một số điều.
- Hoan nghênh! Anh thấy đủ sức tranh luận một cách khôn ngoan về đề tài đó chưa?
- Dư sức.
- Vậy, vui lòng lấy giúp tôi cái hộp trên lò sưởi?
Holmes mở nắp, để lộ ra một đồ vật nhỏ được gói kỹ trong miếng lụa Ðông phương.
- Phải cầm cho cẩn thận. Ðây là dĩa sứ đá trứng đời nhà Minh. Cho tới nay chưa có ai làm hay hơn. Có đủ bộ.
Hình như không có bộ thứ hai, ngoài bộ ở Hoàng cung Bắc Kinh. Nhìn đồ vật này, một người sành điệu sướng phát điên.
- Tôi phải làm gì?
Holmes đưa cho tôi một danh thiếp trên đó có in hàng chữ “Bác sĩ Hin Barton, 369 Half Moon Street”.
- Ðêm nay anh mang tên này và đến nhà hầu tước Ru- nê. Tôi biết vài thói quen của hắn.
Lúc 8 giờ 30 có thể hắn rảnh. Anh hãy gởi danh thiếp báo trước. Anh nói với hắn rằng anh mang tới một mẫu của bộ sứ đời nhà Minh, hiếm có. Anh đóng vai bác sĩ thì dễ thôi, nhưng anh cần đóng vai người sưu tập nhiều hơn. Bộ đồ sứ này tình cờ lọt vào tay anh, anh có nghe đồn nó thích đồ sứ, và anh sẵn sàng bán với giá cao.
Bao nhiêu?
- Câu hỏi khôn ngoan đó. Anh sẽ bị lộ diện mau chóng nếu không biết giá cả của món hàng. Mẫu này do ông tướng của chúng ta mang lại. Anh không nói ngoa khi khẳng định là không có cái thứ hai trên thế giới này.
- Tôi có thể đề nghị bộ đồ sứ được đánh giá bởi một chuyên viên?
- Anh tuyệt hảo hôm nay. Vì tế nhị, anh không định giá mà đề nghị mời chuyên viên.
- Nhưng chắc gì nó tiếp tôi?
- Tiếp chứ. Hắn là một tay chơi đồ cổ, anh quên rồi sao? Hãy ngồi xuống, tôi đọc cho anh chép! Khỏi cần xin hồi ám, chỉ báo sẽ đến và cho biết lý do.
Ngay đêm đó, với cái đá quý giá trên tay và tấm danh thiếp mang tên bác sĩ Barton trong túi, tôi lao mình vào một cuộc phiêu lưu.
Ngồi nhà và khoảnh đất chung quanh cho thấy rằng hầu tước Ru-nê giàu sụ, đúng như ngài James đã nói. Những con đường dài uốn khúc giữa các bồn hoa lạ đưa tới một cái sân vuông rải sỏi, có dựng nhiều bức tượng. Cơ ngơi này được sắp đặt bởi một ông vua vàng của Nam Mỹ vào thời cực kỳ phát đạt.
Một quản gia ăn mặc nghiêm chỉnh mở cửa cho tôi, rồi giao cho một gia nhân mặc toàn đồ nhung sang trọng.
Cuối cùng hầu tước tiếp tôi.
Ông ta đứng gần cái tủ cao, đặt giữa hai cửa sổ, chứa một phần bộ sưu tập đồ sứ Trung Hoa. Khi tôi vào, ông quay mặt về hướng tôi, tay cầm một lọ nhỏ màu náu.
- Mời bác sĩ ngồi. Tôi đang ngắm nghía các báu vật của tôi và tự hỏi không biết có thể thực sự thêm vào đó một cái nữa không? Cái mẫu nhỏ đời Ðường này thuộc thế kỷ thứ VII có thể làm ông thích. Tôi chắc chắn ông chưa bao giờ thấy một sự khéo tay nào và một sự pha trộn màu nào hài hòa hơn. Ông có mang theo cái đĩa đời Minh đấy chứ?
Tôi mở gói một cách cẩn thận và đưa cái đĩa ra. Hắn liền ngồi vào bàn, kéo cái đèn lại gần và quay đá qua lại, xem xét mọi khía cạnh. Trong lúc đó, ánh sáng màu vàng chiếu sáng khuôn mặt hắn cho phép tôi ngắm hắn một cách thoải mái.
Hắn thực sự đẹp trai, chiều cao trung bình nhưng dáng người thanh nhã, mềm mại. Khuôn mặt sạm nắng, vẻ Ðông phương, đôi mắt to đen nhánh, mơ màng, có sức cuốn hút đàn bà một cách dễ dàng. Tóc và râu màu đen, râu kẽm, ngắn, mảnh mai, chải chuốt. Giọng nói hấp dẫn, điệu bộ sang trọng. Tôi đoán hắn chỉ ngoài ba mươi, nhưng thực ra, như sau này mới biết, hắn đã bốn mươi hai rồi.
- Rất đẹp!
Rất là đẹp. - Hắn khen luôn miệng.
- Ông có một bộ sáu cái? Có một điều là tôi chưa bao giờ nghe nói về cái bộ đĩa tuyệt trần này. Tôi biết tại Anh quốc có một bộ có thể sánh với bộ này. Nhưng chắc chắn họ không bán. Thưa bác sĩ, bác sĩ vui lòng tha thứ cho sự tò mò của tôi và cho tôi biết do đâu bác sĩ có được bộ này?
- Ông thích nó thật à?
- Tôi hỏi với một vẻ bình thản.
- Tôi đã biết nó là thứ thiệt. Về trị giá của nó, tôi đành phó thác cho sự định giá của một chuyên gia.
- Rất là bí hiểm - Hắn thì thầm, với đôi mắt đen lấp lánh một tia sáng ngờ vực.
- Khi muốn mua những đồ vật có giá trị lớn như thế này, ai cũng muốn phăng cho tới ngọn ngành. Cái đĩa đẹp, quý, là điều không ai chối cãi.
- Tôi không mảy may ngờ vực. Nhưng tôi phải cân nhắc nhiều điều... Bác sĩ không có quyền bán nó.
- Tôi bảo đảm!
- Thế thì tôi phải xét lại giá trị của lời bảo đảm này.
- Các ngân hàng của tôi sẽ trả lời cho ông về uy tín của tôi.
- Ðược thôi!
Dù vậy việc buôn bán này có hơi dị thường!
- Ông mua hay không, tùy ông - Tôi nói với vẻ cực kỳ bất cần - Tôi tới ông trước tiên, tại vì tôi được biết ông là người sành sỏi, chứ việc buôn bán này đâu có khó gì?
- Ai nói với ông rằng tôi là người sành sỏi?
- Tôi biết ông có viết một cuốn sách về đề tài này ông đọc rồi?
- Chưa.
- Chúa ơi. Càng lúc tôi càng rồi trí hơn. Ông là người sành sỏi kiêm nhà sưu tập. Ông có một đồ vật giá trị lớn trong bộ sưu tập, thế mà ông không chịu khó đọc cuốn sách độc nhất giúp ông tìm hiểu ý nghĩa và giá trị của cái đồ vật này. ông giải thích điều đó như thế nào?
- Tôi rất bận.
Tôi là thầy thuốc. Tôi có khách hàng phải phục vụ.
- Ðó không phải là lời giải đáp! Nếu ham chơi đồ cổ, người ta luôn dành thời gian cho nó bằng mọi cách. Trong thư, ông có nói ông là người sành sỏi.
- Ðúng vậy.
- Vậy tôi hỏi ông vài câu để kiểm nghiệm. Tôi buộc lòng phải nói với bác sĩ rằng cái màn buôn bán này mỗi lúc mỗi lù mù. Nào, ông biết gì về nhà Bắc nguy và vị trí của họ trong lịch sử đồ gốm?
Tôi nhảy dựng khỏi cái ghế bành và giả đò nổi giận:
- Ðiều này không còn dung thứ được nữa. ông à? - Tôi la lớn - Tôi tới đây vì dành ưu tiên cho ông, chứ không phải để bị hạch hỏi. Kiến thức của tôi về đồ sứ có thể thua sút ông, nhưng tôi từ chối trả lời những câu hỏi được đặt ra một cách xấc xược!
Hắn nhìn tôi đăm đăm, cái tính thơ mộng trong đôi mắt của hắn đã biến mất. Rồi đột ngột, đôi mắt này rực lửa. Tôi thấy sự ngời sáng của bộ răng trắng của hắn giữa cặp môi tàn nhẫn.
- Anh chơi trò gì. Anh tới đây để dò xét tôi, anh mưu toan gạ gẫm tôi. Hình như Holmes đã gần chết và y sai anh đến đây canh chừng tôi. Anh vào đây dễ dàng, nhưng anh sẽ thấy ra khỏi đây rất khó.
Hắn nhảy dựng lên, tôi lùi lại, chuẩn bị đối phó. Có lẽ lúc đầu hắn có nghi ngờ, qua cuộc thẩm vấn, hắn thấy rõ hơn. Hắn thọc tay vào hộc tủ, lục lạo túi. Thình lình một tiếng động vang lên làm hắn dừng lại để nghe.
- À- Hắn la lên rồi chạy vào căn phòng phía sau lưng. Tôi chạy ra đến cửa. Cửa sổ của căn phòng thứ hai ngó ra vườn bị mở toang hoác. Bên cạnh cửa sổ này, Sherlock Holmes xuất hiện như một con quỷ, sau đó, Holmes nhảy ra ngoài. Tôi nghe tiếng chân anh giẫm lên các nhánh nguyệt quế ngoài vườn. Chủ nhà nhảy theo, miệng gào thét như con cọp dữ.
Và lúc đó chỉ trong một giây, tôi thấy rõ một cánh tay đàn bà ló ra khỏi các cành nguyệt quế.
Thình lình Ru-nê la thất thanh.
Tiếng la rợn người. Hắn lấy hai bàn tay bụm mặt vừa gào vừa chạy vào phòng, đụng đầu vào tường, ngã sụm xuống thảm, cuộn tròn, quằn quại, rên la vang dội trong căn nhà mênh mông.
- Cho tôi nước lã!
Cho tôi nước! - Hắn la liên tục.
Tôi vớ lấy bình nước trên bàn, hối hả chạy tới. Cùng lúc viên quản gia và nhiều người bồi phòng khác cũng chạy tới. Tôi còn nhớ rằng một người trong bọn ngất xỉu khi nhìn thấy gương mặt của hắn bị tàn phá một cách dữ dội. Acid đang ngậm nhấm khuôn mặt hắn, đang chảy thành giọt xuống tai và xuống cằm. Một con mắt đã trắng đục con kia thì đỏ và sưng lên. Cái diện mạo mà ban nãy tôi tấm tắc khen thầm thì giờ đây nó giống như một bức tranh đẹp bị nhòe, tèm nhem, trông rất gớm ghiếc!
Một cách ngắn gọn, tôi trình bày những gì đã xảy ra. Vài người bồi phòng nhảy qua cửa sổ, lục lọi ngoài vườn nhưng trời tối đen và mưa bắt đầu rơi.
- Chính là Kít- ti. Ồ, con quỷ cái đó sẽ phải đền tội! Ðúng, nó sẽ phải đền tội. ôi! Ðau quá, không thể nào chịu nổi! - Hầu tước Ru-nê la vang.
Tôi rửa mặt hắn bằng dầu, áp bông gòn vào da cháy rồi chích cho hắn một mũi thuốc giảm đau. Hắn bấu vào tay tôi, như thể tôi có quyền năng đem lại sự sống cho đôi mắt đang nhìn tôi chòng chọc.
Có thể tôi đã khóc trước cái đại họa này, nếu tôi quên được cái lòng lang dạ thú của hắn. Chính cái dã tâm của hắn là nguồn gốc của mối đại họa hôm nay. Tôi ghê tởm khi cảm thấy đang bị hắn bấu víu để cầu cứu... Bác sĩ chuyên môn của gia đình hắn đã đến, tôi được nhẹ nhõm. Tất nhiên một thanh tra cảnh sát không thể chậm chân. Tôi trình cái danh thiếp thật của tôi ở Scotland Yard, mọi người đều biết tôi y như biết Sherlock Holmes. Rồi tôi rời cái nhà xui xẻo này. Không đầy một giờ sau, tôi đã về tới đường Baker. Holmes đang ngồi trong ghế bành quen thuộc, lắng tai nghe một cách kinh hoàng. Tôi mô tả sự thay đổi hình dạng của Ru-nê.
- Có vay thì phải trả. Vay sao, trả vậy! - Nói xong Holmes với tay lấy cuốn sách nâu để trên bàn.
- Ðây là cuốn sách mà con bé bụi đời đã nói với chúng ta.
Nếu Vi-ô-lét khăng khăng không hủy bỏ sự đính hôn thì ta chịu thua thôi.
Nhưng cô ta sẽ hủy bỏ cuộc đính hôn!
Bắt buộc thôi, bất cứ người đàn bà nào có lòng tự trọng, cũng đều phải khuất phục lẽ phải.
- Cuốn sổ tình?
- Cuốn sổ tình dục thì đúng hơn. Ngay khi con bé Kít-ti cho biết, tôi hiểu ngay đó là một vũ khí lợi hại. Tôi lặng yên, không phát biểu gì vì sợ con bé không giữ miệng được. Tuy nhiên tôi suy đi tính lại mãi. Tiếp đến tôi bị tấn công, đó là cơ hội để làm cho Ru-nê lầm tưởng mà không đề phòng gì về phía tôi. Mọi việc trôi qua êm đẹp. Tôi tưởng đây mình còn phải chờ lâu. Không ngờ hắn dự định đi Mỹ. Tôi phải khẩn trương vì hắn sẽ không chịu để cuốn sổ này tại đây. Rất khó mà ăn trộm ban đêm, bởi vì hắn có một hệ thống báo động. Nhưng cướp đoạt vào ban ngày thì được, với điều kiện phải làm sao cho tâm trí của hắn bị chi phối. Ðó chính là lý do tại sao anh và cái đá phải nhập cuộc.
Khổ nỗi tôi phải biết chính xác cuốn sách nằm ở đâu. Mặt khác, tôi không có nhiều thời gian, bởi vì kiến thức của anh về đồ sứ Trung Hoa không có bao nhiêu. Ðó là lý do tôi cho mời con bé bụi đời vào phút chót. Có Chúa mới đoán được con bé giấu vật gì trong áo choàng của nó!
Tôi lầm tưởng nó chỉ đến vì công việc của tôi, đâu có dè nó còn nghĩ tới chuyện riêng tư của nó.
- Thằng ác ôn biết chính anh sai tôi đi!
- Tôi cũng khá lo. Nhưng anh đã cầm cự đủ thời gian để tôi chộp được cuốn sách! Kìa! Ngài James ngài tới, tôi mừng hết lớn.
Huân tước James thích thú nghe kể lại tất các biến cố.
- Một kỳ công! Ðại kỳ công - Huân tước la to - Nếu thương tích của hắn tệ hại như bác sĩ Watson mô tả thì cái kế hoạch phá đám cưới sẽ thành công, đâu cần tới cuốn sách bẩn thỉu này?
Holmes lắc đầu:
- Ðàn bà loại như cô Vi-ô-lét không xử sự bình thường như chúng ta dự đoán. Cô ta càng thương hắn bội phần, dưới các đường nét ghê tởm ở mặt của người tử vì đạo. Không đâu, chính cái mặt đạo đức của hắn cần được tiêu hủy chứ không phải cái mặt thể chất. Cuốn sách này sẽ làm cho cô ta bừng tỉnh. Tôi không thấy có giải pháp thứ hai. Ðây chính là chữ viết của tên nhơn nạn đó. Cô ta không thể phủ nhận.
James mang cuốn sách về, cùng với cái đá quý giá.
Tôi cũng cáo từ. Chiếc xe ngựa đang chờ, ông ấy nhảy lên, ra lệnh ngắn gọn cho người xà ích phóng xe nhanh.
Dù ông ta cố lấy vạt áo choàng che phủ huy hiệu trên cửa xe, tôi cũng có đủ thời gian để nhận dạng cái huy hiệu đó.
Tôi há hốc mồm, quay vào và đến phòng của Holmes.
- Tôi đã phát hiện khách hàng của mình là ai - Tôi la lớn, hãnh diện vì cái tin tức mới của tôi!
Nè, Holmes!
- Ðấy là một người bạn trung thực và nghĩa khí - Holmes chân ngang bằng cách khoát tay làm dấu.
Ba ngày sau, nhật báo The Morning Post loan báo rằng cuộc hôn nhân giữa hầu tước Ru-nê và cô Vi-ô-lét bị hủy bỏ. Số báo đó cũng tường thuật vụ cô Kít-ti ra tòa vì tội tạt acid. Nàng được hưởng trường hợp giảm kinh nên bản án không nặng lắm. Sherlock Holmes thì suýt bị truy tố vì tội trộm. Nhưng khi mục tiêu là tốt, và khách hàng là một thế gia vọng tộc, luật phát của Anh quốc cũng co giãn và có nhân tính. Holmes khỏi ngồi vào ghế bị cáo.
Cuộc đời như những cơn mưa
Đăng nhập để trả lời
0
HAI LỖ TAI NGƯỜI TRONG HỘP CÁC-TÔNG
(lukhach chỉnh chính tả)

Hôm đó, một ngày của tháng 8, trời nóng khủng khiếp. Con đường Baker giống như một lò lửa. Sự phản chiếu của ánh nắng trên bức tường gạch vàng của ngôi nhà trước mặt làm nhức mắt. Các bức mành đều kéo lên phân nửa. Holmes nằm cuộn tròn trên trường kỷ, đọc đi, đọc lại một bức thư mới vừa nhận hồi sáng. Vì Holmes có vẻ quá suy tư, tôi bỏ tờ báo xuống và dựa lưng vào ghế, nhìn anh. Im lặng và nóng bức? Ðể phá tan bầu không khí nặng nề này, tôi lên tiếng:
- Holmes, anh có đọc một mục nhỏ trong báo hôm nay nói về một bưu kiện gởi cho cô Susan Cushing ở Croydon không?
- Tôi chưa biết gì về chuyện đó.
Tôi cầm tờ báo và đọc lớn:
- Một gói hàng ma quái? “Cô Susan, ngụ tại phố Cross, là nạn nhân của một trò đùa thô lỗ. Hồi 2 giờ chiều hôm qua, bưu tá phát cho cô một bưu kiện nhỏ, được gói bằng giấy nâu. Bên trong là cái hộp bìa cứng đầy ắp muối hột. Khi đổ muối ra, cô kinh hoàng thấy có hai lỗ tai người còn khá mới.
Cái hộp này gởi từ Belfast vào buổi sáng. Người gởi không ghi tên. Cô Susan năm mươi tuổi, sống mai danh ẩn tích, gần như không bao giờ có thư tín. Tuy nhiên, cách đây vài năm, hồi còn ngụ tại Renge, cô có cho ba sinh viên y khoa mướn phòng. Nhưng sau đó phải lấy phòng lại vì họ làm ồn ào và đi về bất thường. Cảnh sát đoán rằng trò đùa này là của một trong ba sinh viên đó.
Các sinh viên này có nguyên quán tại Belfast. Hiện nay ông Lestrade đang mở cuộc điều tra”.
- Tạm gác tờ báo qua một bên- Holmes nói, sau khi tôi đọc xong mẩu tin - Chúng ta hãy nói chuyện về ông bạn Lestrade. Sáng nay tôi mới nhận được thư ông ấy. ông ấy viết: ông Holmes, tôi nghĩ rằng vụ này hợp với sở thích của ông. Cảnh sát chúng tôi cũng tin là sẽ làm sáng tỏ được vấn đề bí hiểm. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn cảm thấy có một vài khó khăn khi tìm một đầu mối để khởi động. Chúng tôi đã điện cho bưu điện Belfast, nhưng hôm đó có quá nhiều bưu kiện và không ai nhớ riêng cái bưu kiện này, giả thiết cho rằng tác giả là một sinh viên y khoa là đáng tin nhất.
Nếu ông có dư thời gian để hoang phí, tôi rất hân hạnh được gặp ông. Tôi có mặt tại nhà cô Susan hoặc tại sở suốt ngày. Nghĩ sao đây, Watson? Anh cảm thấy đừ sức chịu nắng và cùng tôi xuống Croydon không?
- Tôi chỉ đợi có bấy nhiêu?
- Hãy gọi một xe ngựa và bỏ thêm xì-gà vào hộp.
Lestrade đón chúng tôi tại ga. Ði bộ năm phút, chúng tôi đến phố Cross. Con đường rất dài, hai bên có nhà gạch hai tầng xinh xắn và sạch sẽ, bậc thang nào cũng trắng tinh. Ở các ngưỡng cửa những mụ lắm mồm mặc tạp-dề ngồi nói xấu thiên hạ.
Ði thêm hai trăm mét Lestrade dừng lại, gõ cửa? Một cô gái ra mở cửa. Cô Susan đang ngồi trong phòng. Cô có khuôn mặt điềm tĩnh, đôi mắt to, dịu hiền, tóc lốm đốm bạc, cuộn thành lọn trên đầu. Một lưới bao tóc đan dang dở để trên đầu gối, bên cạnh chiếc ghế đẩu là một cái giỏ đầy ắp lụa đủ màu.
- Ðồ quái quỉ đó đang ở ngoài kia chứ - Cô nói với Lestrade, khi chúng tôi bước vào - Tôi ước mong quý ông mang chúng đi càng sớm càng tốt.
- Chắc chắn như vậy, thưa cô. Tôi còn chờ ông bạn Holmes đến quan sát trước sự hiện diện của cô.
- Tại sao cần phải có mặt tôi?
- Phòng khi ông ấy hỏi này nọ.
- Còn hỏi gì nữa Tôi đã nói đi nói lại nhiều lần rằng tôi chẳng biết tí gì.
- Ðương nhiên, thưa cô - Holmes lấy giọng xoa dịu, can thiệp - Tôi hiểu rất rõ rằng cô vô cùng bực bội.
- Ông nói không sai, thưa ông. Tôi là một phụ nữ thích sống ẩn dật. Quả là một cái gì hoàn toàn mới mẻ với tôi khi bị nêu tên trên báo đấy, ông Lestrade. Nếu quý ông muốn xem xin mời ra ngoài đó.
Lestrade chui vào chái sau vườn, lấy ra một cái hộp bằng các-tông màu vàng, một miếng giấy màu nâu và một khúc dây nhợ. Chúng tôi ngồi xuống trên một ghế dài ở cuối lối đi. Holmes ngắm nghía từng vật một.
- Khúc nhợ rất đáng lưu ý - Holmes nhận xét và đưa ra chỗ sáng rồi đưa lên mũi ngửi - ông nghĩ gì về khúc nhợ này, ông Lestrade?
- Nó bị thấm dầu hắc.
- Ðúng như vậy. Một khúc nhợ thấm dầu hắc? Có lẽ anh đã để ý rằng cô Susan đã cắt nó bằng kéo, nó bị tưa ở hai đầu. Ðiều này quan trọng.
- Tôi không thấy được sự quan trọng này.
- Lestrade lắc đầu.
- Cái thắt nút còn nguyên và khá đặc biệt.
- Nút thắt rất khéo tay, tôi đã chú ý điểm này - Lestrade đáp một cách tự mãn.
- Về khúc nhợ đủ rồi - Holmes nói - Chúng ta hãy nhìn qua tờ giấy gói. Giấy nâu bốc mùi cà phê, anh không ngửi thấy sao? Tôi tin rằng điều này không ai tranh cãi. Ðịa chỉ được ghi hơi nguệch ngoạc? “Cô S.Cushing đường Cross, Croydon” bằng ngòi viết to. Chữ y trong danh từ Croydon, lúc đầu được viết chữ i, sau đó được sửa thành y. Tuồng chữ của một người đàn ông học vấn hạn chế, vì chưa quen thuộc lắm với thành phố Croydon. Tốt rồi cái hộp màu vàng dùng để đựng nửa cân thuốc lá, không có gì đặc biệt trừ hai vệt do móng tay cào ở góc trái. Hộp đựng muối hột, loại thường dùng để muối da sống và da thuộc thỏ. Giữa hộp muối là hai vật dị kỳ của hồ sơ chúng ta.
Vừa nói, anh vừa lấy hai lỗ tai, đặt chúng trên một miếng ván để trên đầu gối, rồi tỉ mỉ khám nghiệm. Lestrade và tôi đứng hai bên, lần lượt nhìn khuôn mặt căng thẳng của Holmes. Sau cùng, anh bỏ chúng vào muối trở lại và ngồi lặng thinh một lúc.
- Hai lỗ tai này không phải của cùng một người?
- Holmes nói.
- Vâng, tôi có thấy. Tuy nhiên, nếu là trò đùa của sinh viên thực tập trong phòng mổ thì tai một người hay hai người đâu có gì quan trọng.
- Quả vậy Nhưng đây không phải là trò đùa.
- Chắc chắn không?
- Chắc chứ. Tại nhà thương, sinh viên thực tập trên các xác chết. Hai lỗ tai này còn tươi. Chúng bị cắt bằng một vật cùn, trong khi các sinh viên luôn luôn sử dụng con dao mổ rất bén. Ngoài ra, người có chút ít kiến thức y khoa sẽ nghĩ tới chất formol hoặc cồn để ngâm, không ai dùng muối thô. Tôi nhấn mạnh rằng đây không phải là trò đùa mà là một vụ án hình sự nghiêm trọng.
Tôi hơi lạnh xương sống khi nghe mấy từ này và nhất là khi nhìn các đường nét rắn rỏi trên khuôn mặt Holmes.
Lestrade lắc đầu:
- Một giả thiết về trò đùa thì có nhiều khe hở. Tuy nhiên, giả thiết của ông cũng có những khe hở to tướng.
Cảnh sát chúng tôi biết rằng từ hai mươi năm qua, người phụ nữ này sống một cuộc đời rất kín đáo, đáng kính, tại Renge cũng như tại đây. Không bao giờ bà ta vắng mặt lâu hơn một ngày. Thế thì tại sao kẻ sát nhân lại gởi cho bà ta các bằng chứng tội ác của hắn?
- Ðó là một bài toán mà ta phải giải đáp - Holmes trả lời - Phần tôi, tôi cho rằng lý luận của tôi đúng và phải có nhũng án mạng xảy ra. Nhỏ, mảnh mai, có lỗ đeo bông thì phải là lỗ tai của đàn bà. Cái kia là lỗ tai đàn ông, sạm nắng, phai màu nhưng vẫn có lỗ để đeo khoen. Hai người này có lẽ đã chết, nếu không, thì chúng ta đã nghe nói về họ. Hôm nay là thứ sáu. Cái bưu kiện được gởi vào sáng thứ năm. Như vậy thì thảm kịch xảy ra vào thứ tư hoặc thứ ba hoặc sớm hơn. Nếu hai người này đã bị ám sát thì chính hung thủ đã gởi đến cho cô Susan như là một bằng chứng về tội ác đó. Thế thì người gởi bưu kiện là đối tượng của chúng ta. Nhưng sao lại gởi cho cô Susan? Lý do gì?
Có thể để cho cô ấy hay rằng tội ác đã hoàn tất, hoặc có thể để dày vò cô ấy. Trong trường hợp thứ nhì, thì cô ấy biết hung thủ là ai. Cô ấy có biết hay không? Tôi tin là cô ấy biết. Nếu cô biết là ai, tại sao cô lại báo cho cảnh sát?
Nếu cô đem chôn hai lỗ tai, thì chỉ có Chúa mới biết. Nhưng nếu cô ấy không muốn che giấu, thì cô ấy đã tiết lộ danh tánh của hắn rồi. Thật là một múi chỉ rối?
Holmes vừa nói vừa nhìn vu vơ. Thình lình anh nhảy dựng lên nói.
- Tôi cần hỏi cô Su-san đôi điều.
- Vậy tôi xin kiếu từ. Tôi còn phải theo dõi một vụ khác. Theo tôi, thì ta chả moi móc thêm được gì nơi cô Susan. Các anh nên tìm tôi lại sở - Lestrade nói.
- Trên đường ra ga, chúng tôi sẽ ghé - Holmes đáp.
Một lát sau, chúng tôi trở lại căn phòng của cô gái già, cô để cái lưới bao tóc đang đan dang dở xuống đầu gối, nhìn chúng tôi bằng đôi mắt xanh, sắc sảo nhưng khá thành thật.
- Thưa ông, tôi tin chắc rằng - Cô nới với chúng tôi - Ðó là một lầm lẫn. Tôi đã nói đi nói lại với anh chàng Scotland Yard, nhưng anh ta chỉ cười. Tôi không có một kẻ thù nào trên đời này. Tại sao tôi bị giễu cợt như thế này?
- Tôi đồng ý hoàn toàn với cô - Holmes lấy ghế ngồi bên cạnh và nói - Tôi tin chắc chắn rằng...
Bỗng anh dừng lại. Tôi thấy anh nhìn chòng chọc cái hình nghiêng của cô Susan nhưng khi cô ngạc nhiên quay lại thì anh thản nhiên trở lại.
Lúc đó, tôi bắt đầu chú ý bộ tóc xẹp xuống và hoa râm của nữ chủ nhân, cái mũi nhỏ, đôi bông tai của cô, cái diện mạo bình thản của cô và thấy không có gì có thể làm cho Holmes xúc động cả.
- Có vài điều thưa ông, tôi phát ngấy các câu hỏi - Cô Susan bực dọc la lớn.
- Cô có hai em gái?
- Làm sao ông biết?
- Khi vào phòng này, tôi để ý tấm hình ba người phụ nữ treo trên lò sưởi: một người là cô, còn hai người kia giống cô lắm.
- Ông nói đúng! Ðấy là hai em gái Sa-ra và Ma-ry của tôi.
- Còn đây đúng là một tấm hình khác của cô Ma-ry (em út của cô) đứng cùng với một người đàn ông chụp tại Liverpool. Dựa trên y phục thì đó là anh nam tiếp viên hàng hải. Vào lúc đó, có lẽ họ chưa làm đám cưới.
- Ồ, ông có thiên khiếu quan sát khá cao?
- Nghề nghiệp của tôi!
- Ừ, ông nói đúng. Nhưng vài ngày sau, chúng lấy nhau. Dượng ấy là Jim đang phục vụ tuyến đi Nam Mỹ khi chụp hình. Nhưng mê vợ đến nỗi không thể xa vợ lâu ngày, nên chuyển qua phục vụ trên một chiếc tàu Liverpool - Luân Ðôn.
- À, chiếc Conqueror?
- Không, chiếc May Day, Jim có đến thăm tôi một lần tại đây trước khi hắn nhậu nhẹt trở lại. Sau đó, hắn say bí tỉ mỗi khi lên bờ. Hễ có tí rượu vào là quậy như một thằng điên. Buồn thay cho cái ngày hắn bắt đầu nhậu trở lại. Trước hết hắn coi thường tôi rồi gây gổ với Sa-ra và giờ đây, vì Ma-ry không liên lạc thư tín với tôi nữa nên tôi chả biết chúng nó sống ra sao.
Rõ ràng là cô Susan được dịp tuôn hết nhưng ấm ức trong lòng ra. Như các người sống ẩn dật, cô ta tỏ ra rụt rè lúc đầu, nhưng sau đó thì tỏ ra cực kỳ thèm khát bày tỏ tâm sự. Cô cung cấp cho chúng tôi nhiều chi tiết về người em rể, rồi đến mấy sinh viên y khoa mướn nhà. Cô kể cho chúng tôi nghe các tật xấu của họ, tên tuổi của họ và nơi họ làm việc. Holmes chú ý nghe tất cả, thỉnh thoảng chân lại để đặt một câu hỏi.
Về cô em Sa-ra, tại sao hai cô đều độc thân mà lại không sống chung với nhau?
- Ôi, rõ ràng là ông không biết tính của Sa- ra. Khi mới dọn về Croydon, chúng tôi ở chung với nhau. Nhưng cách đây hai tháng, chúng tôi phải chia tay. Tôi không muốn nói xấu em gái tôi, nhưng nó cực kỳ khó tính, lại hay xen vào chuyện của mọi người.
- Cô nói rằng hai cô em đã cãi lộn với nhau ở Liverpool?
- Ðúng thế. Tuy nhiên, có một lúc hai đứa nó thân thiết nhất trên đời này. Nó tự động lên trên đó sống chung với vợ chồng Ma-ry. Nay thì Sa-ra luôn luôn chống đối Jim. Khi xuống đây, Sa-ra vẫn mãi nói về tật say sưa, tính tình thô bạo của im. Tôi nghĩ rằng Jim không chịu nổi việc Sa-ra xen vào gia đình của mình.
- Cám ơn cô nhiều - Holmes nói, rồi đứng dậy cúi chào - Cô vừa nói rằng cô em Sa-ra ngụ tại đường New ở Wallington. Thôi xin tạm biệt, và thành thật chia buồn với cô.
Khi chúng tôi vừa ra, thì một xe ngựa chạy ngang.
Holmes gọi nó lại:
- Wallington có xa đây không?
- Thưa ông, một ngàn năm trăm mét.
- Tốt lắm, lên xe đi, anh Watson, chúng ta phải đập sắt khi nó còn nóng. Tuy nội vụ đơn giản, nhưng vẫn còn cần vài chi tiết. Này anh xà ích, khi chạy tới bưu điện thì dừng lại nhé?
Holmes gởi một bức điện ngắn. Xe lại lên đường, anh dựa lưng vào thành xe, mũ kéo sụp để tránh nắng.
Xe ngừng trước một ngôi nhà khá giống căn nhà của cô Su- san. Holmes bảo xe chờ. Khi anh gõ cửa thì một người đàn ông dáng điệu trầm ngâm, trang phục đen, đội mũ láng bóng, bước ra.
- Cô Sa-ra ngụ tại đây?
- Holmes hỏi.
- Cô ấy hiện đau rất nặng. Từ hôm qua, cô bị kích động trầm trọng. Với tư cách y sĩ, tôi không thể cho phép ông vào thăm. Yêu cầu ông nán lại mười ngày sau.
Ông ta đóng cửa lại, và đi xuống đường.
- Có sao đâu, không là không - Holmes nói một cách hồ hởi.
- Có gặp được, cô ấy cũng không muốn nói chuyện nhiều với anh.
Tôi cũng chả cần cô ấy nói nhiều. Tôi chỉ muốn nhìn cô ấy thôi - Anh quay qua người lái xe - Anh hãy đưa chúng tôi tôi đến một quán ăn đàng hoàng một chút. Anh Watson, cơm trưa xong, chúng ta đi tìm ông bạn Lestrade.
Cả hai chúng tôi đều ăn cơm khá ngon. Holmes chỉ nói về âm nhạc. Anh hào hứng kể lại cái cách nào mà anh mua cây đàn với năm mươi lăm si-linh trong lúc trị giá tối thiểu là năm trăm ghi-nê tại một tiệm cầm đồ Do Thái.
Cao hứng, anh nói tới nhạc sĩ vĩ cầm người Ý là Paganini.
Trong suốt một giờ, anh mê say kể các giai thoại về con người phi thường này. Xế chiều, khi nắng hơi dịu, chúng tôi đến sở cảnh sát. Lestrade đợi chúng tôi tại cửa.
- Có một bức điện cho ông, ông Holmes à?
- À, có hồi âm rồi?
- Anh mở bức điện, liếc qua, rồi nhét vào túi.
- Mọi chuyện đều êm xuôi - Anh nói.
- Ông đã tìm ra được cái gì?
- Lestrade hỏi.
- Tôi đã tìm ra tất cả- Cái gì? ông đùa à? - Lestrade trố mắt nhìn Holmes.
- Tôi nói rất nghiêm túc. Một tội ác đê tiện đã xảy ra và tôi tin rằng hiện tôi đã nắm được mọi chi tiết.
- Còn hung thủ?
Holmes hí hoáy vài chữ sau lưng một danh thiếp của anh rồi đưa cho Lestrade.
- Ðó là danh tích của nó. Anh không thể bắt nó trước chiều mai. Yêu cầu anh đừng nêu tên tôi trong vụ này vì vấn đề này tầm thường thôi?
Hai chúng tôi ra ga trong lúc Lestrade hân hoan ngắm nghía tấm đanh thiếp.
Trong lúc chúng tôi vừa tán gẫu vừa hút xì-gà, Holmes nói với tôi rằng vụ án này cần phải đi ngược từ hậu quả tới nguyên nhân.
- Tôi đã viết thư yêu cầu Lestrade cung cấp các chi tiết mà chúng ta còn thiếu. Ông ấy sẽ kiếm ra sau khi bắt được chân hung. Chắc chắn sẽ bắt được bởi vì ông ta rất kiên trì từ khi hiểu rõ mệnh lệnh, chính bản tính này giúp ông ta thăng tiến trong Scotland Yard.
- Hồ sơ của anh chưa xong à?
- Gần xong. Chúng ta biết ai là người chủ động trong cái vụ thô bạo này. Nhưng ta chưa biết được danh tánh của một nạn nhân. Tất nhiên, anh đã rút ra kết luận của riêng anh rồi chứ? Tôi đoán rằng anh nghi anh chàng Jim.
- Nặng hơn là nghi!
- Tuy nhiên tôi chỉ thấy lờ mờ thôi!
- Ngược lại là khác, quá sáng tỏ. Chúng ta đã tiếp cận vấn đề. Lúc khởi sự, chúng ta đã thấy gì? Một cô gái già bình dị, đáng kính và một cái ảnh tiết lộ cho tôi biết rằng cô ấy có hai em gái trẻ hơn. Ngay tức khắc, tôi nghĩ rằng bưu kiện đã được gởi cho một trong hai người đó, chớ không phải gởi cho người chị cả. Tôi đã để cái ý tưởng này qua một bên, tự nhủ rằng phải kiểm nghiệm và phản bác nó. Rồi chúng ta đã khám nghiệm cái hộp nhỏ màu vàng.
Dây buộc thuộc loại dùng cột buồm, nhuốm mùi thơm của gió biển. Khi tôi để ý rằng nút được thắt theo lối của thủy thủ, bưu kiện được gửi từ một hải cảng và lỗ tai người đàn ông thì có lỗ và đeo vòng (theo thói quen của giới thủy thủ, thì tôi tin chắc chắn rằng các diễn viên của tấn kịch thuộc giới đi biển.
Khi tôi xem địa chỉ của bưu điện, tôi thấy người nhận là S.Cushing. Ðương nhiên người chị cả tên là Cushing và chữ đầu của hai chị em đều là chữa S hoa vậy chữ S hoa này có thể là Su-san Cushing mà cũng có thể là Sa-ra Cushing. Trong trường hợp này thì phải tiếp tục điều tra thêm. Khi tôi sắp khẳng định với cô gái già rằng chắc chắn có một sự nhầm lẫn, thì tôi đột ngột ngưng lại, anh còn nhớ chứ “Là một bác sĩ, hẳn anh thừa biết rằng: không có lỗ tai nào giống hệt lỗ tai nào. Không hề có hai lỗ tai giống hệt nhau. Trong số báo “Nhân loại học” năm ngoái, tôi có viết lai chuyên luận ngắn về đề tài này. Khi nhìn cô Susan, và thấy tai cô ta khá giống với một cái tai trong hộp:
đường đinh ốc cùng một độ mỏng, tai trên cùng một độ cong, cái sụn bên trong cùng một độ ngoằn ngoèo. Trên căn bản, hai lỗ tai rất giống nhau.
Tất nhiên, tôi nhận rõ tức khắc tầm quan trọng lớn lao của nhận xét này. Rõ ràng nạn nhân là một người cùng dòng họ với cô Susan. Tôi hỏi cô Susan về gia đình của cô thì được nghe các chi tiết mà anh vẫn còn nhớ đó.
Trước tiên, em gái kế của cô tên là Sa-ra, Susan và Sa- ra đã sống chung với nhau cho tới những ngày gần đây?
Ðó chính là sự nhầm lẫn về địa chỉ trên bưu kiện. Tiếp đến, chúng ta được nghe về anh Jim, lấy cô gái út, chúng ta được biết rằng có một dạo cô Sa-ra dọn nhà đến sống chung với gia đình chàng Jim. Cách đây vài tháng, họ đã cắt đứt mọi liên lạc đến nỗi khi cần liên hệ với cô Sa-ra, Jim đã phải gởi đến địa chỉ cũ.
-Ðến đây chúng ta thấy rõ vì sao anh chàng Jim dám từ bỏ mọi việc làm lương hậu để được sống gần vợ, lại thỉnh thoảng say túy lúy. Chúng ta có đủ lý do để tin rằng vợ của Jim (tức cô Ma-ry) đã bị giết cùng với một người đàn ông. Ghen tuông có thể là động cơ chính của vụ giết người. Nhưng tại sao kẻ giết người lại gởi bằng chứng tội ác đến cho cô Sa-ra Cushing? Có lẽ vì khi sống tại Liverpool, cô ta đã xen vào các biến cố Anh nên để ý tuyến hải hành có dừng lại tại Belfast, Dublin và Waterford. Nếu Jim phạm tội ngay trước khi lên tàu May Day, thì Belfast là điểm đầu tiên mà hắn có thể gởi các bưu kiện quỷ quái.
Tới giai đoạn này, rõ ràng chúng ta phải đưa ra một giả thiết thứ hai, dù tôi nghĩ rằng nó không vững lắm. Một kẻ si tình bị xua đuổi có thể đã giết ông bà Jim và lỗ tai đàn ông là của Jim và lỗ tai đàn bà là của Ma-ry.
Do đó, tôi đánh một bức điện cho bạn thân tôi là Aga , thuộc sở cảnh sát Liverpool, yêu cầu ông ấy kiểm lại xem bà Ma-ry có ở nhà không, và ông Jim có lên tàu May Day không. Kế đó chúng ta đi Wallington để viếng thăm cô Sa-ra. Tôi hăm hở muốn biết xem cô này có cái lỗ tai giống chị mình không. Ngoài ra, cô ấy có thể cung cấp cho chúng ta vài tin tức quan trọng.
May mắn thay, hồi âm bưu điện cho biết ba ngày nay, nhà bà Ma-ry đóng cửa và những người láng giềng cho biết bà xuống miền Nam thăm hai người chị, trong khi đó sở hàng hải xác nhận rằng ông Jim đã xuống tàu May Day và chiều mai tàu này sẽ đến sông Thames. Khi đến nơi, hắn sẽ bị Lestrade thộp cổ. Khi đó chúng ta sẽ có đủ mọi chi tiết cần thiết.
Hai ngày sau, Holmes nhận được một phong bì lớn đựng một bức thư của viên thám tử và một tài liệu đánh máy gồm nhiều trang.
- Lestrade chộp hắn rồi - Holmes nói - Có lẽ anh cần biết thư nói gì?
Tôi đọc cho anh nghe.
Ông Holmes thân mến.
Thi hành kê' hoạch mà chúng ta đã đề ra đê kiểm chứng các giả thiết của chúng ta...( hai chữ “chúng ta” nghe ấm áp làm sao, phải không Watson, Tôi đến bên Albert Dock chiều qua lúc 6 giờ và leo lên tàu May Day.
Sau khi dò hỏi, tôi phát hiện rằng trong thủy thủ đoạn của một nam tiếp viên tên là Jim. Trong chuyên đi, người này xử sự bất bình thường. Tôi xuống phòng hắn, và gặp hắn đang ngồi trên cái rương, hai tay ôm đầu, thân hình ngã tới ngã lui. Ðó là một người to cao, lực lượng, không râu, da sạm nắng. Hắn nhảy dưng lên khi nghe tôi đọc lệnh bắt hắn. Tôi đã đưa còi lên môi để cầu viện thì hắn sụm xuồng rồi lặng lẽ đưa cổ tay cho tôi còng. Chúng tôi nhốt hắn vào xà lim tại sở, và có tịch thu cái khác của y, trong đó chỉ có một con dao to, theo thói quen của thủy thủ. Lời khai của hắn được ghi bằng tốc ký và được đánh máy thành ba bản. Chúng tôi gởi đến ông một bản.
Như tôi đã thấy ngay từ đầu, nội vụ đơn giản như trò chơi trẻ con, tuy nhiên đa tạ ông về sự giúp đỡ quý báu dành cho tôi.
Trân trọng kính chào.
Lestrade
- Hừ - Holmes nói - Nội vụ đơn giản như trò chơi trẻ con, nhưng chắc chắn ông ta đã không thấy như vậy lúc đến nhờ vả ta. Cũng chả sao. Bây giờ ta hãy xem Jim - khai cái gì.
“Tôi thú nhận rằng tôi không sao nhắm mắt ngủ được nữa. Thỉnh thoảng tôi thấy cái đầu của hắn, nhưng cái đầu của cô ta thì xuất hiện thường hơn. Tôi không bao giờ còn cô độc nữa, họ luôn ở bên cạnh tôi. Hắn thì ủ dột và nhăn nhó, còn cô ta thì luôn có cái nhìn kinh ngạc. Tôi không muốn chạy tội đâu. Nhưng tất cả đều do lỗi của Sa-ra, chị ruột của nàng.
Họ có ba chị em. Chị cả là người đàng hoàng, tử tế. Chị thứ nhì là một con quỷ sứ. Cô em út là một thiên thần. Sa-ra ba mươi ba tuổi. Ma-ry thì hai mươi chín khi lấy tôi. Vợ chồng chúng tôi sống hoàn toàn hạnh phúc trong thành phố Liverpool. Một ngày kia, vợ tôi mời Sa-ra đến ở một tuần rồi một tháng và cuối cùng thì ở luôn với vợ chồng chúng tôi.
Lúc đó, tôi không uống rượu. Chúng tôi sống tiết kiệm và tương lai của vợ chồng chúng tôi sáng như một đồng đô-la mới.
Mỗi cuối tuần tôi đều ở nhà. Khi nào tôi ra khơi trễ vì chờ chất hàng thì tôi nằm nhà cả tuần và tôi có dịp sống gần với chị vợ hơn. Ðó là một người đàn bà đẹp, cao lớn, tóc màu, linh hoạt, hung ác, với đôi mắt sáng quắc như lửa. Nhưng khi có Ma-ry một bên thì tôi chỉ còn biết có một mình nàng. Tôi long trọng thề như thế.
Ðôi khi tôi có để ý và thấy rằng Sa-ra muốn ở một mình với tôi, hoặc muốn tôi đưa đi chơi. Một đêm nọ, tôi từ tàu trở về nhà và vợ tôi đi vắng, chỉ có Sa-ra ở nhà.
- Ma-ry đi đâu?
- Tôi hỏi.
- Ồ, dì ấy đi trả tiền gì cho ai đó.
Tôi bồn chồn, đứng ngồi không yên.
- Dượng không thể cảm thấy hạnh phúc trong năm phút khi Ma-ry đi vắng sao?
- Tốt lắm?
Tôi cả nể, đưa tay ra cho chị ta. Tức thì chị ta ôm chặt lấy nó trong hai bàn tay bừng bừng sinh khí. Tôi nhìn chị ta chòng chọc và chúng tôi hiểu hết, khỏi cần nói thành lời. Chị ấy đứng sát tôi, không nói gì, rồi để tay trên vai tôi.
- Có sao đâu Jim- Chị ta nói với một nụ cười giễu cợt, rồi tung tăng khắp phòng.
Khốn nạn là kể từ ngày đó. Sa -ra ghét cay ghét đắng tôi. Tôi thề là không nói ngoa. Tôi đã ngu xuẩn để chị ấy tiếp tục sống chung với chúng tôi. Ðúng thế, tôi quả là một thằng ngu! Tuy nhiên tôi không nói gì với Ma-ry.
Sinh hoạt của chúng tôi vẫn diễn tiến như cũ. Nhưng sau một thời gian, tôi nhận thấy Ma-ry thay đổi, trước kia nàng rất ngây thơ, hoàn toàn tin tưởng vào tôi. Giờ đây nàng trở nên kỳ dị, đa nghi. Nàng muốn biết tôi đã đi đâu, làm gì, nhận thơ của ai, có gì trong túi và nàng đã giở một nghìn linh một trò xuẩn động khác.
Càng ngày, nàng càng quái dị, khó chịu hơn. Vợ chồng cãi vã ồn ào chỉ vì một chuyện vớ vẩn. Tôi chả hiểu gì cả. Bấy giờ, Sa-ra thường tránh mặt tôi, nhưng hai chị em nàng thì gắn bó như bóng với hình. Giờ đây tôi mới hiểu rằng lúc đó Sa-ra đầu độc vợ tôi, mưu phá gia đình tôi. Tôi buồn, bắt đầu nhậu trở lại.
Thế là Ma-ry có thêm một cái cớ để trách móc tôi và cái hố cách biệt giữa hai vợ chồng càng ngày càng sâu thêm. Rồi sự xuất hiện của thằng thủy thủ A-lét đã làm cho sự việc trở nên trầm trọng hơn nữa.
Hắn có tài kể chuyện. Hắn thường xuyên đến nhà chúng tôi. Tuy nhiên, một ngày nọ, một biến cố nhỏ làm tôi nghi ngờ và kể từ đấy tôi mất hắn sự an tâm.
Hôm đó, tôi đột ngột trở về nhà. Khi đẩy cửa vào phòng khách, tôi thấy mặt vợ tôi đầy nét hân hoan.
Nhưng khi biết người bước vào nhà là tôi, thì nàng sà sầm mặt lại, im lặng, quay đi một cách thất vọng. Thế là đã quá rõ, chỉ có A-lét mới có bước đi giống tôi. Nếu gặp hắn lúc đó, tôi sẽ giết hắn ngay. Nhìn thấy ngọn lửa giận hờn trong cặp mắt của tôi, Ma-ry chạy tới để tay lên vai tôi:
- Ðừng, Jim, đừng.
- Sa-ra đâu rồi? - Tôi hỏi.
- Dưới bếp?
- Sa-ra! - Tôi nói lớn bước vào bếp - Từ nay thằng A-lét không được phép bước vào nhà tôi nữa.
Con quỷ cái Sa-ra kinh ngạc nhìn tôi:
- Tại sao.
- Không được hỏi.
Ðó là lệnh của tôi?
- Ồ, nêu các bạn thân của tôi không xứng đáng vào nhà này, thì cả tôi cũng không xứng đáng.
- Chị muốn làm gì thì tùy ý, nhưng nếu thằng đó mà vào đây một lần nữa, tôi sẽ gởi cho chị một cái lỗ tai kỷ niệm.
Ngay đêm đó, Sa-ra rời nhà tôi. Nhưng chị ta dọn ra cách nhà tôi không bao xa và cho giới thủy thủ mướn phòng. A-lét tới đó đều đặn và Ma-ry qua lại đó với chị mình. Vợ tôi đến đó bao nhiêu lần, tôi không biết. Có một lần, tôi rình theo và khi tôi bước vào nhà thì A-lét, trèo tường thoát thân. Tôi nói với vợ tôi rằng tôi sẽ giết chết nàng nếu nàng tái phạm. Sau đó, tôi dẫn nàng về nhà Ma-ry khóc nức nở, mặt trắng như giấy. Từ đó Ma-ry lại càng ghét tôi. Sự tuyệt vọng khiến tôi càng uống rượu nhiều và nàng càng kinh miệt tôi. Ðúng vào lúc đó, Sa-ra quay về sống chung với chị cả tại Croydon. Thời gian êm ả trôi qua cho tới tuần rồi là lúc khởi đầu sự đổ nát.
Tôi lên tàu May Day để đi một tuần. Nhưng vì tàu trục trặc, tôi phải trở về cảng trong mười hai giờ. Tôi về nhà hy vọng thấy Ma-ry tươi cười. Nhưng khi tôi quẹo vào đường tối, tôi gặp một chiếc xe ngựa chạy ra và vợ tôi ở trong đó, bên cạnh có A-lét. Cả hai người đùa to tiếng, chúng không ngờ tôi đang quan sát chúng từ bên kia đường.
Tôi thú thật rằng từ lúc đó, tôi mất hẳn sự tự chủ. Tôi chạy bộ đuổi theo chiếc xe ngựa, trên tay là một khúc gỗ sồi. Nhưng trong khi chạy, tôi nghĩ ngợi và giảm tốc độ để quan sát đôi gian phu dâm phụ. Chúng dừng lại tại ga. Ở các ghi-sê người ta chen nhau. Tôi có thể chen vào gần mà chúng không hay. Chúng mua vé đi New Brighton. Tôi cũng đi. Tôi leo lên toa thứ ba sau toa của chúng. Tại Brighton, chúng đi dạo trên bờ biển. Tôi theo sau chúng hai trăm thước. Cuối cùng tôi thấy chúng thuê một chiếc tàu, có lẽ chúng đi hóng mát. Trời có sương mù nhẹ. Cách nhau vài trăm thước không thấy nhau. Tôi cũng thuê một chiếc xuồng và chính tôi chèo lấy. Theo làn nước, tôi thấy xuồng của chúng tách bến. Khi ra khỏi bờ khoảng một nghìn năm trăm mét, sương mù phủ kín, chỉ có ba chúng tôi giữa biển cả mênh mông.
Tôi không bao giờ quên khuôn mặt của chúng khi nhận ra người chèo xuồng sát bên. Ma -ry thét lên. Anh chàng chỉ chửi thề như thằng điên và toan dùng chèo đập tôi. Tôi né được và nện cho y một chèo nát đầu. Tôi chừa cô ấy ra, dù cô ấy dâm loạn. Nhưng khi ả ôm lấy thằng dâm phu, kêu lên: A-lét tôi điên người, nện cho ả một chày. Cô ả gục bên cạnh. Như một con thú dữ say máu.
Tôi rút dao ra.. vậy đó, tôi khai báo khá đủ. Tôi cảm thấy một niềm hân hoan mang dại khi tôi nghĩ tới lúc Sa-ra nhận món quà phục thù thâm độc của tôi. Rồi tôi cột hai xác chết vào xuồng, gỡ một miếng ván ở đáy thuyền chờ cho đôi gian phu dâm phụ chìm sâu xuống đáy biển. Tôi dự đoán rằng chủ xuồng sẽ cho là chúng đi lạc trong sương mù và phiêu dạt đâu đó ngoài đại dương. Tôi lau chùi, chèo vào bờ, trở về tàu. Ðêm đó tôi chuẩn bị cái bưu kiện gởi cho Sa-ra Cushing. Xong rồi. Tôi đã nói hết sự thật. Ông có thể treo cổ tôi ngay! Tôi đang đau khổ, vì cứ mỗi lần nhắm mắt là trông thấy hai khuôn mặt đó. Họ nhìn tôi với những cặp mắt hốt hoảng, như lúc họ chợt thấy tôi trong sương mù. Tôi đã giết họ nhanh chóng, nhưng họ lại giết tôi từ từ. Lại một đêm nữa. Tôi sẽ chết hoặc phát điên trước khi trời sáng. Lạy các ông đừng để tôi một mình trong xà lim.
- Ý nghĩa của toàn câu chuyện này là gì vậy, anh Watson- Holmes để xấp tài liệu xuống bàn, rồi trịnh trọng hỏi tôi.


Cuộc đời như những cơn mưa
Đăng nhập để trả lời
0
CÂU CHUYỆN XẢY RA Ở KÝ TÚC XÁ
(lukhach chỉnh chính tả)

Tấm danh thiếp được đưa đến trước vài giây, theo sau nó là một người cao lớn xuất hiện. Cánh cửa chưa kịp đóng lại sau lưng, ông đã với tay về phía bàn, đứng sững lại trên nền nhà, và ngã sóng soài lên trên tấm da gấu trước lò sưởi.
Chúng tôi nhổm phắt dậy, Holmes kê gối ngồi xuống dưới đầu cho ông, còn tôi thì đưa ly cô-nhắc kề môi ông.
- Ðiều gì xảy đến với ông ta vậy, Watson?
- Holmes hỏi.
- Kiệt sức.
Có lẽ vì đói và mệt.
Vé khứ hồi đến Mackleton, phía bắc nước Anh - Holmes rút ra một tấm vé đường sắt từ trong chiếc túi nhỏ đựng đồng hồ của ông ta, và nói:
- Bây giờ chưa đến mười hai giờ. Ông ta phải ra đi từ rất sớm.
Mí mắt hơi tấy lên của vị khách khẽ động đậy, thế rồi đôi mắt xám của ông dán vào chúng tôi bằng một cái nhìn vô nghĩa. Lát sau, tiến sĩ Hu-ta khó nhọc đứng dậy, mặt đỏ lên vì xấu hổ:
- Hãy thứ lỗi cho tôi, ông Holmes, Cơn ngất này là hậu quả của một sự chấn động thần kinh. Không, xin cảm ơn ông. Chỉ cần cốc sữa với bánh biscuit thì tất cả sẽ qua khỏi thôi ông Holmes, tôi đến đây mời ông đi cùng với tôi.
- Ðể khi nào ông hoàn toàn hồi sức đã.
- Rồi thấy dễ chịu rồi ông Holmes, tôi khẩn khoản mời ông đi Mackleton ngay.
Holmes lắc đầu:
- Chúng tôi rất bận. Tôi đã nhận tiền trước cho việc điều tra khác rồi. Lúc này chỉ một việc cực kỳ quan trọng mới có thể buộc tôi rời khỏi Luân Ðôn.
- Cực kỳ quan trọng- Vị khách của chúng tôi vung tay lên - Lẽ nào ông không biết gì về vụ bắt cóc người con trai duy nhất của công tước Holdernesse?
- Của công tước Holdernesse?
Của ông cựu bộ trưởng?
- Phải, Chúng tôi đã dốc hết sức mình để chuyện đó không lên mặt báo. Thế nhưng, hôm qua có một tờ báo đã loan tin. Tôi nghĩ những tin này đã bay đến ông. .
Holmes với lấy tập sách chỉ dẫn trên giá, tìm đến chữ H.
- “Holdernesse... Công tước thứ sáu, người được tặng thưởng huân chương, thành viên của hội đồng tư vấn.
Ðây là con người nổi tiếng, và là một trong những người nổi tiếng nhất của đất nước chúng ta...”.
- Một trong những người nổi tiếng nhất, và có thể còn là một trong những người giàu có nhất nữa, Ông Holmes, xin cho phép được nói rằng: Ngài hứa sẽ trao tấm séc ,5000 bảng cho người nào chỉ ra nơi cất giấu con Ngài, và 1000 bảng cho ai chỉ ra kẻ bắt cóc đứa bé.
- Quả là hào phóng - Holmes nói.
- Watson! Chúng ta hãy đi theo tiến sĩ? Còn ông tiến sĩ, hãy kể cho chúng tôi nghe chuyện gì đã xảy ra.
Vị khách nốc cạn cốc sữa, rồi nói:
- Tôi là người sáng lập và là giám đốc ký túc xá gần Mackleton. Ký túc xá dành cho học sinh của tôi là một trường học tốt nhất nước. Rất nhiều gia đình quý tộc đã gửi con đến đây. Nhưng tuần tước, nhà quý tộc Holdernesse, đưa huân tước Sa-ti (người con trai mười tuổi và là người thừa tự duy nhất của Ngài) đến đây để chúng tôi dạy bảo.
Huân tước Sa-ti đến vào ngày 1 tháng 5. Chẳng bao lâu, cậu bé đã quen dần với nề nếp của chúng tôi. Cần lưu ý rằng trước đó, ở tại nhà, cậu bé sống không được thoải mái, hai ông bà không còn sống chung với nhau, nữ công tước đã dọn đến miền Nam nước Pháp, còn đứa con thì hướng về người mẹ. Lần cuối cùng người ta trông thấy cậu là vào tối ngày 13 tháng 5. Căn phòng dành cho cậu ở gác ba, còn căn phòng lớn bên cạnh có hai cậu bé khác ngủ. Vào cái đêm đó, hai cậu bé này không nhìn thấy, cũng như không nghe thấy gì cả. Thật ra cậu bé không rời khỏi phòng bằng cửa chính. Cửa sổ ở chỗ cậu ta mở toang, cây thường xuân với những nhánh rất rậm rạp quấn quanh tường. Trên mặt đất chúng tôi không tìm thấy dấu vết nào, nhưng chắc chắn là cậu đã bò qua cửa sổ.
Sáng ngày 14 tháng 5, lúc 7 giờ, người ta phát hiện ra chuyện này. Giường của cậu không trải chăn.
Trước lúc đi, cậu ta còn kịp mặc bộ đồng phục học sinh.
Không có ai vào phòng cậu ban đêm. Còn nếu như từ đó vọng ra những tiếng kêu hay những âm thanh vật lộn thì chắc người học sinh lớn hơn ở phòng ngủ bên cạnh tất sẽ nghe thấy.
Ngay sau đó tôi triệu tập tất cả ký túc xá lại. Ðến lúc đó chúng tôi tin rằng cậu bé không đi một mình. Ông Hây-đê, giảng viên tiếng Ðức đã vắng mặt, căn phòng của anh ở chái nhà đối diện với gác ba. Cửa sổ của căn phòng cũng trông ra ngoài bãi cỏ. Giường chiếu của anh ta không được dọn dẹp , áo sơ mi và đôi tất chân của anh để bừa bãi trên sàn nhà. Anh ta bò qua cửa sổ bíu vào những nhánh thường xuân, tụt xuống dưới.
Ông giáo sư này vào trường tôi hai năm trước đây, do sự tiến cử đáng tin cậy nhất. Nhưng anh ta là một người trầm lặng, hay cau có và không gây được cảm tình của mọi người.
Hôm nay là ngày 16 tháng 5. Từ ngày 13 tháng 5, chúng tôi đã không còn tin tức nào về kẻ chạy trốn. Ðầu tiên tôi liên lạc với công tước ở cách trường vài dặm, hy vọng vì nhớ nhà mà huân tước Sa-ti đã trở về với cha. Thế nhưng cậu ta không có ở đấy. Công tước vô cùng lo ngại. ông Holmes, tôi van ông, hãy hiến toàn bộ sức lực cho vụ này.
Sherlock Holmes rút cuốn sổ tay từ túi ra, và ghi vào đấy một điều gì đó để cần được ghi nhớ.
- Ông đã phạm một sai lầm lớn là không đến đây ngay - Holmes thốt lên nghiêm khắc - Ðiều này sẽ gây nhiều rắc rối cho cuộc điều tra, chẳng hạn bãi cỏ và dây thường xuân trên tường đều có thể cho ta biết nhiều điều quan trọng.
- Công tước đã gắng giữ kín việc này. Ngài sợ những nỗi bất hòa trong gia đình mình trở thành đầu đề cho những lời đàm tiếu.
- Nhà chức trách địa phương tiến hành điều tra chưa?
- Rồi, nhưng không đem lại kết quả.
- Có lẽ công việc điều tra hiện trường vẫn chưa được tiến hành đến nơi đến chốn?
- Tự nhiên cảnh sát ngừng cuộc điều tra!
- Như thế nghĩa là ba ngày đã trôi qua một cách vô ích. Ðiều này thật đáng buồn.
- Ông rất có lý.
- Dẫu sao tôi vẫn sẵn lòng bắt tay vào việc. Ông đã xác định mối quan hệ giữa cậu bé và người giáo viên chưa?
- Không có mối quan hệ nào giữa họ cả.
- Ông ta có dạy cậu ta không?
- Không.
- Các xe đạp đều không bị đụng đến sao?
- Không.
- Ông tin chắc vậy à?
- Phải.
- Ông có nghĩ rằng anh chàng dạy tiếng Ðức đã ra đi bằng xe đạp với cậu bé?
- Cố nhiên, không.
- Vậy lúc ấy ông giải thích chuyện đó ra sao?
- Có thể họ lấy xe để đánh lạc hướng. Sau đấy họ giấu xe đạp vào một nơi nào đấy, còn chính họ lại đi bộ.
- Cũng có thể. Nhưng đó là cách đánh lạc hướng kỳ quái. Các xe đạp vẫn ở trong kho chứa à?
- Vâng.
- Phải chăng anh đi bằng xe đạp rồi sau đó giấu xe đạp đi, chứ anh ta không đi bộ?
- Ông hoàn toàn có lý.
- Không, lý luận này có chỗ chưa ổn. Song, việc mất một chiếc xe có thể là khởi điểm cho sự điều tra. Chỉ còn một câu hỏi này nữa: Có ai đến thăm cậu bé trước ngày cậu tẩu thoát không?
- Không.
- Có thể có lá thư gửi cho cậu ta?
- Có một lá thư.
- Ai gửi?
- Cha cậu ta.
- Ông mở hộp thư của học sinh chứ?
- Không.
- Thế tại sao ông cho rằng lá thư là của cha cậu ta?
- Trên phong bì có gia huy và địa chỉ được viết bằng chính nét chữ nguệch ngoạc của công tước. Ngoài ra chính công tước cũng nhớ là đã viết thư cho con.
- Cậu bé nhận được các lá thư khi nào?
- Những ngày sau cùng không có lá thư nào gửi cho.
- Từ Pháp có ai gửi cho cậu ta không.
- Không.
Một lần cũng không.
- Tất nhiên ông hiểu tôi đang hướng tới cái gì rồi:
Hoặc là người ta dùng sức mạnh để cướp cậu ta hoặc là cậu ta tự đi theo ý muốn của mình. Còn nếu không một ai đến chỗ cậu ta thì sự tác động chính là ở lá thư. Tôi coi trọng việc biết ai là người liên lạc thư tín với cậu bé.
- Chỉ có người cha viết thư cho cậu ta thôi.
- Bức thư của người cha đến đúng vào ngày cậu bé chạy trốn. Mối quan hệ giữa cha và con ra sao? Có tồi không.
- Ngài bị cuốn hút vào những công việc quốc gia đại sự, nhưng Ngài quan hệ với người con cũng không đến nỗi tồi. Tuy vậy, trái tim của đứa trẻ hoàn toàn hướng về người mẹ.
- Bản thân cậu bé có nói như thế không?
- Không.
- Vậy ai nói?
Công tước nói chăng?
- Ồ, tất nhiên là không.
- Thế thì do đâu ông biết được điều đó?
- Tôi phải trò chuyện với viên thư ký của công tước, tên là Uyn- đê. Ông ta đã tiết lộ với tôi về tâm trạng của huân tước Sa-ti.
- Hiểu rồi. Nhân tiện xin hỏi luôn, bức thư cuối cùng của công tước đã được tìm thấy trong phòng của cậu bé sau khi cậu bé mất tích phải không? - Không, cậu ta. cầm theo người. Ông Holmes, có lẽ đã tới lúc chúng ta cần ra ga rồi.
- Bây giờ tôi phái người đi gọi xe. Sau 4 giờ nữa, chúng tôi sẽ sẵn lòng giúp ông. Ông tiến sĩ, nếu ông có ý định đánh điện về nhà thì hãy làm sao cho mọi người nghĩ rằng cuộc điều tra vẫn còn đang tiến hành ở Liverpool, trong thời gian đó, tôi sẽ yên ổn làm một cái gì đó ở ngay cạnh trường ông.
Khi chúng tôi đi tới cạnh trường thì trời đã tối hẳn.
Một tấm danh thiếp nằm trên bàn ở phòng chờ. Người hầu phòng thì thầm với viên giám đốc. Và thế là ông ta quay trở lại chỗ chúng tôi với một vẻ thật xúc động. Giám đốc nói:
- Công tước đang ở đây. Công tước và ông Uyn-đê hiện đang chờ tôi trong phòng làm việc. Chúng ta cùng vào đi. Tôi sẽ giới thiệu các ông với công tước.
Tôi có biết người hoạt động nhà nước danh tiếng này qua các bức ảnh. Nhưng con người thật của ông thì không giống các bức ảnh. Ông trông nhợt nhạt như xác chết. Ðứng cạnh ông là người thư ký riêng Uyn-đê. Ðó là một chàng trai có vóc người tầm thước, bộ mặt linh hoạt, đôi mắt thông minh. Anh ta bắt đầu câu chuyện bằng một giọng rất quả quyết, thậm chí cay độc.
- Tiến sĩ Hu- ta. Tôi đã ở chỗ ông ngay từ sáng nay. Song, đáng tiếc là tôi đến muộn và đã không thể ngăn cản chuyến đi của ông. Như mọi người cho biết thì ông đến chỗ thám tử Sherlock Holmes để ủy thác cho ông ấy điều tra vụ này. Công tước tỏ ra ngạc nhiên khi ông chưa xin ý kiến Ngài mà đã dám hành động như vậy!
- Khi cảnh sát đã không đưa tới cái mà...
- Công tước không hề tin vào điều đó.
- Nhưng, thưa ông...
- Ông tiến sĩ. Công tước không muốn chuyện này lan rộng ra để dễ dàng khắc phục tình trạng này.
Tiến sĩ hoảng sợ, lúng túng nói.
- Ông Sherlock Holmes có thể trở về Luân Ðôn bằng chuyến tàu sáng.
- Tôi không có ý định như vậy đâu, tiến sĩ ạ- Holmes cười một cách nhã nhặn - Vòm trời phương Bắc sảng khoái và xinh đẹp nên tôi quyết định nghỉ ngơi một vài ngày trên những bình nguyên này. Tôi sẽ tiêu khiển trong những điều kiện cho phép tại vườn nhà ông, hay ở khách sạn nông thôn. Ðiều này cố nhiên chỉ tùy thuộc vào ông.
Nhưng, đúng lúc ấy giọng nói trầm trầm của viên công tước đã kịp thời vang lên, cứu thoát ông tiến sĩ.
- Tiến sĩ Hu- ta. Ðáng lẽ ông cần trao đổi với tôi thì hơn. Tuy nhiên, nếu ông đã thổ lộ tất cả công việc này với ông Holmes thì chối từ sự giúp đỡ của ông ấy là một hành vi ngu ngốc. Ông Holmes, ông chẳng việc gì phải tới khách sạn. Tôi sẽ vui lòng đón ông về nghỉ ngay tại nhà chúng tôi.
- Xin cảm tạ Ngài. Nhưng theo yêu cầu của công việc, tôi cần phải ở lại đây, ngay tại nơi đã xảy ra biến cố.
- Tôi không muốn ép buộc ông đâu, ông Holmes ạ. Song nếu ông thấy cần thu thập những tin tức nào đó ở tôi hay ở ông Uyn-đê, chúng tôi rất sẵn lòng.
- Có lẽ tôi phải đến thăm Ngài tại lâu đài Holdernesse. Còn bây giờ, tôi chỉ muốn biết Ngài giải thích việc biến mất một cách đầy bí ẩn của con Ngài như thế nào?
- Thật khó trả lời quá, thưa ông.
- Xin lỗi Ngài, nếu tôi đụng phải vấn đề khiến Ngài cảm thấy khó chịu. Thế nhưng không còn cách nào hơn.
- Ngài có cho rằng nữ công tước đã lôi kéo cậu bé không?
Viên cựu bộ trưởng chần chừ rồi nói:
- Không, tôi không nghĩ như vậy!
- Thế thì có thể có kẻ nào bắt cóc cậu bé để chuộc tiền chăng?
- Không, thưa ông.
- Còn một câu hỏi nữa, thưa ngài. Tôi được biết: Ngài đã viết thư cho con trai Ngài vào đúng cái ngày mà cậu bé biến mất, phải không?
- Không, chuyện đó xảy ra vào ngày hôm trước.
- Hoàn toàn chính xác. Có điều cậu bé đã không nhận được thư vào chính ngày hôm đó?
- Phải.
- Trong lá thư đó chắc không có điều gì có thể làm cậu bé xúc động hoặc đem lại cho cậu ta ý nghĩ chạy trốn chứ?
- Tất nhiên không, thưa ông!
- Chính tay Ngài chuyển lá thư, phải không?
Viên thư ký ở phía sau công tước bực tức trả lời:
- Công tước không có thói quen tự mình chuyển thư từ cho người nhận. Lá thư ấy được lưu lại trên bàn, cùng với những lá thư khác trong phòng làm việc. Và tôi đã nhét tất cả vào thùng bưu chính.
- Ông có tin chắc là trong số các lá thư ấy chắc chắn có bức thư chuyển cho đứa bé không?
- Tất nhiên!
Tôi đã nhìn thấy nó.
- Ngài đã viết bao nhiêu lá thư vào ngày hôm ấy, thưa công tước?
- Hai mươi hoặc ba mươi gì đấy. Tuy nhiên theo tôi, chúng ta đã phần nào đi ra ngoài thực chất của công việc rồi đây!
- Không.
Tại sao như thế được? - Holmes nói.
- Chính tôi đã khuyên cảnh sát hướng sự điều tra xuống phía Nam nước Pháp - Công tước tiếp tục - Xin nhắc lại. Tôi không cho rằng nữ công tước có khả năng đẩy con trai tới hành động kỳ lạ ấy được. Nhưng do tính bướng bỉnh, cộng với sự xúi bậy và hỗ trợ của anh chàng người Ðức, đứa bé có thể chạy tới chỗ mẹ mình. Còn bây giờ, tiến sĩ Hu-ta, xin được phép từ biệt ông.
Tôi cảm thấy Holmes còn muốn hỏi một vài câu nữa song viên công tước đã kết thúc câu chuyện, hình như ông ta e ngại rằng mỗi câu hỏi mới sẽ lại soi rọi ánh sáng không thương tiếc vào phần cuộc đời được ông che đậy kỹ lưỡng.
Ngay sau khi họ đi khỏi, Holmes liền bắt tay vào việc. Sự quan sát căn phòng của cậu bé không đem lại kết quả gì ngoài kết luận dứt khoát là cậu ta chạy trốn qua phía cửa sổ. Trong phòng của người giáo viên cũng không tìm thấy gì mới. Dây trường xuân phía dưới cửa sổ không chịu nổi sức nặng của cậu bé. Soi đèn trên bãi cỏ, chúng tôi nhận ra ở đó có những vết giày hằn sâu, cỏ bị xéo nát: đó là bằng chứng duy nhất về cuộc chạy trốn ban đêm.
Ðể tôi ở lại một mình Sherlock Holmes bỏ đi, và anh trở về khoảng mười hai giờ đêm. Anh thu được tấm sơ đồ địa phương ở đâu đó. Anh trải nó trên giường rồi đặt cây đèn vào chính giữa và bắt đầu xem xét. Thỉnh thoảng anh dùng chiếc tẩu thuốc chỉ cho tôi coi những điểm cần lưu ý.
- Tôi muốn anh chú ý tới một vài chi tiết có thể mang ít nhiều ý nghĩa trong quá trình điều tra. Hãy nhìn vào tấm sơ đồ này?
- Ô chữ nhật có nét gạch chéo này là trường học. Chúng ta sẽ cắm kim găm vào đó. Còn đây là đường nhựa. Nó chạy qua khu trường theo hướng đông - tây.
Trong khoảng một dặm không có những con đường nhánh từ đây đi các hướng khác. Nếu họ đi bằng dường bộ thì không thể không đi qua con đường này.
- Ðúng vậy?
- Còn chỗ này, từ 12 giờ đêm đến 6 giờ sáng có cảnh binh túc trực: đây là ngã ba đầu tiên ở hướng đông của con đường. Người cảnh binh không rời trạm gác lấy một chút. Anh ta khẳng định rằng chắc chắn anh ta sẽ nhận ra người đàn ông và cậu bé nếu họ có đi qua đấy.
- Tôi đã nói chuyện với anh ta hồi tối và theo tôi, chúng ta có thể tin vào lời của anh ta. Thế nghĩa là về phía đông của con đường được loại trừ ra.
- Còn bây giờ chúng ta xem tình hình ở phía tây xem sao. Ở đó có khách sạn “Bò Mộng”. Nữ chủ nhân đang bị bệnh. Bà phái người đi Mackleton để mời bác sĩ. Nhưng vị bác sĩ này lại đang đi thăm một bệnh nhân khác. Mãi đến sáng sớm hôm sau, ông ta mới tới được chỗ bà. Vậy là ở khách sạn, trong khi chờ đợi bác sĩ, suốt đêm mọi người không ngủ được. Thỉnh thoảng người ta nhìn ra ngoài đường xem bác sĩ đã đến chưa. Theo lời của người này thì không một ai đi qua khách sạn cả. Nếu tin theo lời của họ thì phần đường phía tây sẽ không còn làm chúng ta nghĩ ngợi gì nữa. Vì vậy, những người chạy trốn đã chọn một con đường khác.
- Họ đi bằng xe đạp chăng?
- Tôi hỏi.
- Ðúng vậy. Nếu những kẻ chạy trốn không đi trên đường cái, thì họ hoặc là đi theo hướng bắc, hoặc là đi theo hướng nam của ngôi trường. Vậy chúng ta thử cân nhắc hai giả thiết này xem sao. Phía nam khu trường có một cánh đồng rộng lớn. Cánh đồng bị phân cách thành những mảnh nhỏ. Mỗi mảnh được ngăn với mảnh khác bởi hàng rào xây bằng đá. Không có khả năng qua đó bằng xe đạp. Vậy cần loại trừ giả thiết này. Chúng ta sang phía bắc. Ở đây, chúng ta trông thấy một cánh rừng nhỏ, được gọi là “Mũi dao lệch”.
Phía sau khu rừng chừng mười dặm có một cánh đồng lầy kéo dài, càng về hướng bắc càng nhiều gò đống. Chênh chếch phía trái cánh đồng là lâu đài Holdernesse: theo đường cái đến nơi này phải mất 10 dặm, còn theo đường chim bay mất chừng 6 dặm. Cánh đồng này hiu quạnh và vắng vẻ. Vài trại chăn nuôi trâu bò nằm rải rác trên đó. Cừu, bò và chim đầm lầy, đó là cư dân duy nhất của vùng này. Xa hơn còn có một đường nhựa chạy qua. Dọc theo con đường này có chừng hai, ba biệt thự, một nhà thờ và một khách sạn. Phía sau là những quả đồi cao và dốc. Tôi tin là cần phải hướng sự tìm kiếm của chúng ta về phía đó.
- Nhưng còn xe đạp?
- Tôi nhắc lại.
- Những người đi xe đạp cừ khôi không chỉ đi trên đường cái. Hơn nữa ở cánh đồng lại có những con đường mòn. Vả lại, đêm hôm đó trăng lại rất sáng. Vậy còn có gì khó đâu?
Có tiếng gõ cửa khẩn cấp, tiến sĩ Hu-ta bước vào phòng ông cầm chiếc mũ cát-két màu xanh với phù hiệu trắng trên lưỡi trai, ông ta reo lên:
- Thật là may mắn? Thế là chúng ta đã lần ra dấu vết của cậu bé.
- Các ông tìm thấy ở đâu?
- Ở chỗ người Di- gan. Bọn bắt cóc lưu lại trong trại người Di-gan trên cánh đồng. Hôm nay, cảnh sát bất thình lình ập tới chỗ họ, lục soát trong xe. Và họ tìm thấy cái này.
- Nó rơi vào tay họ bằng cách nào vậy?
Họ nói những gì?
- Họ thề rằng đã tìm thấy chiếc mũ trên cánh đồng vào sáng ngày 14 tháng 5.
Không, quân vô lại ấy đã bị tống giam cả rồi.
Tiến sĩ bước ra khỏi căn phòng.
- Thế là được rồi, ở đây nếu cảnh sát không bắt được những người Di-gan thì họ không làm được gì cả.
- Hãy nhìn vào sơ đồ này, Watson. Con suối này chảy qua cánh đồng. Ở khoảng giữa khu trường và lâu đài nó hóa thành đầm lầy. Tiết trời bây giờ hanh khô, vậy việc tìm kiếm dấu vết sẽ không khó lắm. Có thể còn lưu lại một cái gì đó giữa đầm lầy.
Ngày hôm sau khi thức giấc vào lúc mờ sáng, tôi nhận ra bóng dáng cao gầy của Holmes cạnh giường tôi.
Anh mặc áo quần tề chỉnh.
Tôi đã khảo sát bãi cỏ và kho để xe đạp. Sau đó tôi đi dạo ở khu rừng “Mũi dao lệch”. Hãy dậy đi, Watson! Gương mặt bạn tôi ửng đỏ, đôi mắt sáng lên như vẫn thường thấy ở những người mong mỏi bắt tay vào công việc ưa thích.
Lòng tràn đầy hy vọng, chúng tôi đi đến cánh đồng than bùn. Ở đó có rất nhiều con đường ngang dọc bị đàn cừu giẫm mòn. Chẳng bao lâu chúng tôi đi tới cánh đồng cỏ đã hóa thành đầm lầy ngăn cách chúng tôi với tòa lâu đài. Nếu chạy về nhà, thì cậu bé không thể đi qua cánh đồng này được! Tại đây tất cả phải lưu lại những dấu vết của cậu và những dấu vết của ông giáo người Ðức. Nhưng chúng tôi không thấy những dấu vết như vậy. Holmes đi dọc theo bên rìa của cánh đồng cỏ. Anh chăm chú quan sát từng vệt sần trên bề mặt cánh đồng. Ở đây có rất nhiều vết chân cừu. Ði tiếp vài dặm nữa chúng tôi thấy vết móng chân bò cái.
- Bế tắc rồi - Holmes buồn bã đưa mắt nhìn quanh cánh đồng - Tại đây còn có những bãi lầy và giữa bãi lầy này có một lối đi hẹp. Hãy nhìn kìa Cái gì thế này? .
Chúng tôi bước vào lối mòn có in hình một dải đen đen. Những vết bánh xe đạp in rõ trên lối mòn ẩm ướt.
- Xe đạp đây rồi?
- Tôi reo lên.
Nhưng Holmes lắc đầu.
- Một chiếc xe đạp nào đấy chứ không phải chiếc xe đạp chúng ta đang tìm. Tôi biết tới 42 lốp xe đạp khác nhau. Vết lốp này là của hãng “Dunlop” và lại còn có miếng “ghệt” nửa. Lốp xe của ông giáo người Ðức do hãng “Palmer” sản xuất, có những đường vạch dọc kia. Một giảng viên dạy toán đã nói cho tôi biết điều đó. Cho nên, không phải giáo viên người Ðức mà là một người khác đã qua đây.
- Nghĩa là chính cậu bé?
- Ôi. Giá như cậu bé có xe đạp? Người ta cam đoan với chúng ta là cậu bé không có xe. Những dấu vết này, được bắt đầu từ khu trường.
- Hay là ta theo hướng tới trường.
- Không phải. Vết bánh xe sau luôn sâu hơn vì nó phải chịu trọng lượng lớn hơn. Ðây này? Ở một vài chỗ, vết bánh xe sau đã xóa lấp vết bánh xe trước. Không người đi xe đạp chắc phải đi ra từ khu trường. Cũng có thể người này không có quan hệ gì với sự truy tìm của chúng ta. Song, chúng ta hãy cứ theo dấu vết này mà đi ngược lại vậy.
Chúng tôi đã làm như thế. Khi tới chỗ con đường mòn rẽ ngoặt từ vạt đất bị hóa lầy, đột nhiên vết lốp xe đạp biến mất. Con suối nhỏ cắt ngang lối mòn, và ở bờ bên kìa, vết xe đạp lại xuất hiện, mặc dầu có những con bò cái đã xéo lên chúng. Sau đấy, con đường mòn ăn sâu vào cánh rừng “Mũi dao lệch”. Cánh rừng hầu như tiếp liền ngay với tòa nhà của trường, rõ ràng người đi xe đạp đã xuất phát từ cánh rừng này. Holmes ngồi xuống một tảng đá, tay chống cằm. Anh ở trong thế hoàn toàn bất động. Cuối cùng, anh nói:
- Thôi được. Một kẻ có đầu óc phòng xa cố nhiên có thể thay bánh xe đạp để đánh lẫn dấu vết. Ta hãy tạm gác vấn đề nan giải này lại và hãy quay lại chỗ đầm lầy.
Chúng tôi tiếp tục xem xét tỉ mỉ phần đất lầy lội của cánh đồng. Chẳng bao lâu chúng tôi nhận ra còn một lối mòn khác nữa. Holmes đi tới gần lối mòn và vui sướng reo lên. Những vết mảnh chạy dài ở phía giữa lối mòn. Ðó là dấu lốp xe đạp của Palmer.
- Ông giáo người Ðức đã qua đây?
- Holmes thốt lên xúc động.
- Xỉn chúc mừng anh ?
- Thế nhưng còn lâu nữa mới tới được kết quả cuối cùng, đừng bước vào lối mòn. Hãy đi theo vết này. Có lẽ chỉ chốc lát nữa thôi nó sẽ đột ngột kết thúc.
Tuy vậy ở phần này của cánh đồng vẫn luôn gặp phải những chỗ sình lầy. Và mặc dầu lốp xe đạp thỉnh thoảng bị biến mất nhưng sau đó chúng tôi lại tìm thấy nó. Holmes nói:
- Anh hãy để ý xem ở đây, người đi xe đạp vào pê- đan không. Ðiều này thật dễ thấy. Anh nhìn vào những vết lốp xe trước và sau mà coi, chúng đều rõ như nhau. Ðó là do người đi xe đã dồn trọng lượng về phía trước như những tay đua vẫn thường làm. Trời! Anh ta ngã kìa!
Trên lối mòn có một vệt loang dài và rộng. Xa hơn một chút thấy có những vết giày, và sau đó vệt lốp xe đạp lại xuất hiện.
Holmes nhặt một cành cây có hoa bị gãy từ dưới đất lên. Những bông hoa màu vàng bị vấy vệt đỏ. Trên lối mòn trong bụi cây, những vết máu khô thẫm lại.
- Công việc tồi quá. Rất tồi. Thôi Watson, không đi về hướng này nữa. Hãy lui về phía kia vậy? Nào, xem ta có thể tìm được gì ở đây nào? Anh ta ngã, bị thương... đứng dậy... Rồi lại ngồi lên xe... tiếp tục đi. Có một đàn bò đi qua lối mòn này, nhưng không phải bò đực đã húc anh ta? Có điều không gặp những vết khác ở đây. Ði lên phía trước Watson. Những vết máu, những vết lốp xe đạp. Hãy cứ theo những dấu vết này.
Sự truy tìm của chúng tôi không kéo dài. Vết xe đột nhiên bắt đầu rẽ theo lối mòn bóng lên vì ẩm ướt. Tôi đưa mắt về phía trước. Bất thình lình những ánh kim loại lóe lên ngay trước mặt tôi. Chúng tôi lôi từ lùm cây ra một chiếc xe đạp của hãng “Palmer”. Một pê-đan bị ươn cong, tay lái và bánh trước bê bết máu. Cách không xa có một chiếc giày trồi lên trên cỏ. Chúng tôi chạy bổ đến đó và nhìn thấy người lái xe đạp bất hạnh: người cao, để râu, đeo kính. Mắt kính phải bị vỡ. Một quả đấm trời giáng vào sọ là nguyên nhân gây ra cái chết. Sau khi bị thương anh còn có thể đi xe đạp được vài mét nữa. Anh ta không mang tất, còn sau lần áo vét-tông, chúng tôi nhận ra chiếc áo ngủ. Không còn hoài nghi gì nữa. Ðây là giảng viên người Ðức.
Holmes thận trọng xoay thi thể trở lại để xem xét.
Cuối cùng, Holmes lo âu, nói:
- Thú thật, tôi không rõ bây giờ chúng ta phải làm gì. Sự tìm kiếm đã kéo dài đến mức không thể mất thời giờ thêm nữa, chúng ta cần báo cho cảnh sát. Lẽ nào lại có thể để người bất hạnh nằm ở đây được! - Hãy viết vài chữ cho tôi - Nhưng thiếu sự trợ giúp của anh, tôi không thể tiến hành công việc được. Kìa? Có ai đang gạt than bùn kia kìa! Hãy nhờ người ấy đi mời cảnh sát tới đây.
Tôi thực hiện ngay yêu cầu của Holmes, và anh nhờ người chủ trại ấy chuyển giấy cho tiến sĩ Hu-ta.
- Thế đó, Watson ạ. Sáng nay chúng ta đã tìm được hai dấu vết. Dấu thứ nhất là lốp xe đạp hãng Palmer, nó dắt chúng ta tới nạn nhân. Dấu thứ hai là lốp xe đạp bì “ghệt” của hãng Dunlop. Trước khi tìm hiểu dấu vết thứ hai này, chúng ta hãy lưu ý rằng cậu bé đã tự ý bỏ chạy.
Cậu ta bò qua cửa sổ và lẻn đi một mình hoặc cùng với người báo tin cho mình.
- Có lý.
- Cậu bé đã có chuẩn bị để chạy trốn, nên ăn mặc đầy đủ. Nhưng anh chàng người Ðức mặc áo quần vội vã nên đã bỏ chạy mà không kịp mang tất chân.
- Chắc chắn như vậy.
- Cái gì buộc anh ta nhảy qua cửa sổ? Chính là việc anh ta nhìn thấy cậu bé chạy trốn. Anh muộn đuổi kịp và đưa cậu bé trở lại. Anh vớ lấy xe đạp của mình, đuổi theo cậu bé và chết trên đầm lầy.
- Rất có lý.
- Rượt theo cậu bé, một người đàn ông chỉ cần chạy theo là đủ rồi. Thế mà anh chàng người Ðức (theo ý kiến của tiến sĩ Hu-ta, anh ta là một tay đi xe đạp cừ khôi) lại làm khác? Anh ta chạy vào kho lấy xe đạp của mình. Từ đó có thể rút ra kết luận thế này: Anh ta nhận thấy cậu bé sử đụng một phương tiện di chuyển ưu việt hơn đôi chân của anh ta. Nói cách khác, cậu bé đã lấy xe đạp của một ai đó phải không? Chúng ta hình dung kết cục của cuộc tẩu thoát ấy như thế này: Anh chàng người Ðức chết cách ngôi trường 5 dặm. Cần lưu ý là anh ta chết vì quả đấm của một người có đôi tay rắn khỏe. Nghĩa là cậu bé có người bạn dường và họ đào tẩu nhanh tới mức một tay lái xe đạp cừ khôi chỉ đuổi kịp họ ở dặm đường thứ năm. Tại nơi xảy ra tấn thảm kịch, chúng ta chỉ tìm thấy những dấu vết của móng bò cái và chỉ có vậy thôi? Tôi đi một đường vòng rộng chừng 50 bước vẫn không tìm thấy một lối mòn nào khác. Người lái xe đạp thứ hai không có liên quan gì tới vụ giết người, và ở đây không có vết chân người.
- Này Holmes!
Ðiều đó thật khó tin?
- Hoan hô. Kết luận thật chí lý! Trong sự trình bày các sự kiện của tôi có một cái gì đó thật khó tin. Ðúng thế, tôi có sai lầm. Song, trong suốt thời gian điều tra, anh luôn ở bên tôi và chính mắt anh đã nhìn thấy tất cả. Vậy tôi sai lầm ở chỗ nào?
- Có thể anh ta bị thương vào đầu trong khi ngã.
- Ở giữa đầm lầy này sao?
- Tôi rối trí mất rồi, Holmes ạ.
- Chúng ta đã từng giải đáp được những câu hỏi còn hóc búa hơn thế. Chỉ cần vận dụng chúng một cách khôn khéo nữa thôi... Nào, hãy tiếp tục đi Watson?
- Chiếc lốp xe hãng “Palmer” đã nói hết cho chúng ta rồi đấy Giờ thử xem chiếc lốp xe “ghệt” hãng Dunlop sẽ đưa chúng ta đến đâu?
Chúng tôi đi theo vết này. Nhưng chẳng bao lâu những quả đồi thoai thoải phủ những lùm cây thấp đã giăng dài trước mặt chúng tôi. Con suối đã ở lại đằng sau.
Ði tiếp sẽ không có ý nghĩa gì cả, bởi vì những vết lốp xe hãng Dunlop có thể dẫn đến lâu đài Holdernesse với những chiếc tháp to nhô tên về phía trái, hoặc có thể đưa tới những túp nhà màu sáng thấp lè tè mà sau lưng có con đường cái chạy qua.
Lúc chúng tôi chỉ còn cách khách sạn “Gà trống ưa ẩu đả” chừng vài bước, đột nhiên Holmes kêu lên một tiếng, nắm lấy vai tôi cho khỏi ngã. Một chân bị sái. Anh cà nhắc bước đến trước cửa khách sạn, nơi có một người đàn ông đang ngồi.
- Xin chào ông Rơ-ben!
- Holmes nói.
- Ông là ai. Sao biết tên tôi - ông ta hỏi, sau khi ném ra một cái nhìn hằn học và ngờ vực.
- Tên ông được ghi ở tấm biển ngay trên đầu ông kia kìa. Xin cho chúng tôi biết ông có chiếc xe ngựa nào không?
- Không.
- Tôi không thể bước nổi nữa.
- Nếu không bước nổi, thì đừng có bước.
- Vậy tôi di chuyển bằng cách nào được?
- Bằng nạng vậy!
Rơ-ben thật bất lịch sự. Thế mà Holmes đã chịu đựng được. Anh nói:
- Hỡi ông chủ đáng mến. Xin hãy nghe đây, ông không thấy điều gì rủi ro đã xảy ra với tôi ư? Chúng tôi phải đến nơi chúng tôi cần. Vậy bao giờ chúng tôi mới đến được?
- Bao giờ đến à?
Tôi không quan tâm đến chuyện đó.
- Tôi đến đấy vì một việc quan trọng. Hãy cho tôi mượn xe đạp của ông, tôi sẽ đền ơn trọng hậu.
Chủ nhà vểnh tai nghe.
- Ông cần đi đâu?
Ðến lâu đài Holdernesse.
- Không phải đến thăm công tước chứ?
Chủ khách sạn hỏi, vừa chế nhạo vừa nhìn vào bộ áo quần cáu bẩn của chúng tôi.
Holmes phá lên cười thân thiện:
- Công tước sẽ đón tiếp chúng tôi một cách niềm nở.
- Tại sao?
- Vì chúng tôi có những tin tức tốt về đứa con của Ngài.
- Ông Rơ-ben giật mình:
- Phải chăng các ông đã tìm thấy?
- Từ Liverpool, người ta đã cho biết rằng cậu ta hiện đang ở đấy. Thế đó, rồi sẽ tìm được thôi?
Một bóng đen chợt thoáng qua bộ mặt lởm chởm râu của ông ta. Và ông ta tự nhiên trở nên tốt bụng:
- Tôi từng là người đánh xe ngựa cho công tước. Rồi đột nhiên Ngài ngược đãi tôi. Rồi Ngài thanh toán tiền cho tôi và không dùng tôi nữa. Song dầu sao tôi cũng rất vui, bởi huân tước trẻ tuổi đã được tìm thấy ở Liverpool. Thôi được, tôi sẽ giúp các ông chuyển tin tức này tới lâu đài.
- Xin cám ơn. Chúng tôi sẽ ăn tối, rồi ông cho chúng tôi mượn xe đạp chứ?
- Tôi không có xe đạp.
Holmes nhìn người chủ khách sạn đầy ngụ ý.
- Tôi nói với ông là tôi không có xe đạp. Các ông sẽ đi bằng xe ngựa vậy? Chủ khách sạn nhấn mạnh.
- Thôi được ông cho chúng tôi ăn cái đã rồi sẽ bàn chuyện đó sau.
Khi chúng tôi còn lại một mình trong nhà bếp, chân Holmes tự dưng hết đau. Ðã chiều tối, chúng tôi cảm thấy đói mà vẫn không rời khỏi bàn. Ðắm chìm trong ý nghĩ của mình, một vài lần Holmes yên lặng đi đến gần chiếc cửa sổ trông ra phía sau ngập ngụa rác rưởi. Ở một góc sân, chỗ đóng móng ngựa, một thiếu niên lem luốc đang làm việc. Còn góc sân khác là chuồng ngựa. Sau một lần đi tới cửa sổ như thế. Holmes ngồi xuống bàn và đột nhiên nhổm phắt dậy, kêu to:
- Rõ rồi Watson! Tôi đã tìm ra rồi! Anh có nhận ra các vết móng bò cái sáng nay không.
- Có ở đâu?
- Khắp nơi.
Trên đầm lầy và cạnh chỗ người bị giết.
- Ðúng.
Còn bây giờ, ở đây có nhiều bò cái không?
- Tôi không thấy một con nào cả.
- Kỳ lạ thật. Khắp mọi nơi đều có vết móng bò cái, mà ở đây không có một con nào cả.
- Vâng đúng vậy?
- Bây giờ. Anh hãy cố nhớ xem anh đã trông thấy những vết này trên lối mòn như thế nào?
- Tôi chưa hiểu.
- Hãy nhớ lại xem. Ðôi lúc nó như thế này... - Anh bắt đầu xếp những mẫu vụn bánh mì trên bàn. - và đôi lúc lại như thế này... Ở một chỗ khác lại như thế này... Anh có nhớ không?
- Không.
- Còn tôi thì nhớ và sẵn lòng đưa tay lên thề. Tuy vậy chúng ta sẽ còn quay trở lại và sẽ kiểm tra lại ngay tại chỗ. Tôi có quẫn trí không nếu tôi không rút ra được những kết luận thỏa đáng từ điều đó.
- Những kết luận gì?
- Những kết luận như thế này: bò cái mà lại đi y như ngựa nước kiệu, nước đại và nước một. Mưu chước quỷ quyệt này lẽ nào không phải của tên chủ quán kia?
Ngoài sân không có ai cả, trừ cậu bé ở xưởng đóng móng ngựa. Chúng ta thử đột kích, xem tình hình ở đó ra sao.
Trong chuồng có hai con ngựa bẩn thỉu, lông bù xù đang đứng, Holmes nâng chân sau của một con lên và cười lớn:
- Những cái móng thì cũ nhưng được đóng cách đây không lâu. Những cái móng cũ, còn đinh đóng thì lại mới. Bây giờ ta sẽ quan sát xưởng đóng móng ngựa xem sao.
Cậu thiếu niên bận bịu với công việc của mình nên không chú ý đến chúng tôi. Holmes nhanh nhẹn nhìn quanh khu xưởng ngập đầy sắt vụn và dăm bào. Bất thình lình có những bước chân vọng lại từ phía sau. Quay lại, chúng tôi nhìn thấy người chủ nhà. Ðôi lông mày ông ta giao vào nhau thành một đường kẻ dài, đôi mắt lóe lên những tia sáng độc ác. Ông ta cầm lăm lăm một chiếc dùi cui bịt sắt tiến về phía chúng tôi với vẻ hăm dọa đến mức tôi rút khẩu súng lục từ trong túi ra.
- Quân chó đẻ!
- ông ta kêu lên - Bọn bay làm gì ở đây?
- Hãy rộng lòng tha thứ, ông chủ - Holmes điềm tĩnh nói - Phải chăng ông sợ chúng tôi tìm ra một cái gì đấy liên quan tới công việc đó?
Rơ-ben trấn tĩnh lại, ông ta cong môi lên trong một nụ cười giả tạo.
- Hãy tìm đi, xin mời. Tìm thấy cái gì, đó là việc của các anh. Nhưng tôi không thích thấy người lạ tự ý sục sạo khắp sân nhà tôi. Vì vậy, hãy trả tiền và tránh xa đây càng nhanh càng tốt.
- Chớ giận chúng tôi, ông chủ. Quả thực chúng tôi chỉ muốn nhìn những con ngựa của ông thôi. Vậy mà có lẽ chúng tôi phải đi bộ đến lâu đài. Từ đây tới đó không xa lắm thì phải?
- Ðúng hai dặm đường. Ði theo con đường kia kìa? Nhớ rẽ trái?
Ông ta tiễn chúng tôi ra khỏi sân bằng một cái nhìn u ám.
Chúng tôi đi theo con đường ấy không xa, bởi vì Holmes dừng lại ở chỗ rẽ đầu tiên khi biết chắc là bây giờ không một ai còn nhìn thấy chúng tôi.
- Cuộc đón tiếp vừa rồi thật là nồng nhiệt.
Càng rời xa khách sạn, tôi càng cảm thấy lạnh lẽo hơn.
- Không, đi khỏi đây bây giờ là quá sớm?
- Tôi cho rằng cái lão chủ khách sạn ấy biết tất cả.
- Tôi chưa từng thấy một bộ mặt nào hung ác hơn thế. Một kẻ ác độc thực sự? Còn những con ngựa và xưởng đóng móng ngựa thì thế nào? Thật là một nơi đáng lưu ý, cái “con gà trống ưa ẩu đả” ấy? Nào chúng ta hãy quan sát xem cái gì đã xảy ra ở đây. Phải bí mật và thận trọng.
Quả đồi thoai thoải ở phía sau chúng tôi rắc đầy những tảng đá xám. Lúc bắt đầu trèo lên phía trên sườn đồi, để nhìn về phía lâu đài, bất chợt tôi trông thấy một người đi xe đạp đang lao nhanh trên đường.
- Hãy cúi thấp xuống, Watson- Holmes kêu lên, sau khi lấy bàn tay nặng trịch ấn vào vai tôi.
Chúng tôi vừa kịp ẩn mình vào sau tảng đá thì người đó đã lao vút qua. Một khuôn mặt tái mét thấp thoáng trước mặt tôi. Mỗi nét nhỏ của khuôn mặt anh ta đều lộ vẻ kinh hãi: mồm há rộng, cái nhìn chết cứng của đôi mắt trợn trừng một cách man dại. Ðó chính là bức biếm họa kỳ quặc của Uyn-đê mà chúng tôi mới biết hôm qua.
- Viên thư ký của công tước- Holmes nói nhỏ - Hãy nhanh lên? Chúng ta xem ông ta làm gì ở đây.
Nhảy lên trên một tảng đá, chúng tôi men theo sườn dốc đi lên. Từ đó chúng tôi nhìn thấy cửa khách sạn.
Chiếc xe đạp của Uyn-đê dựng tại cạnh tường ở trong nhà, không một ai nhìn qua các cửa sổ.
Mặt trời khuất sau các đỉnh tháp cao của lâu đài.
Hoàng hôn buông xuống cánh đồng.
Chẳng bao lâu, trong bóng đêm dày đặc của khách sạn, một chiếc xe đạp hai bánh với những cây đèn thắp sáng ở bên cạnh được đẩy ra từ tàu ngựa. Chỉ một phút sau, ngựa đã phi như bay qua chúng tôi, hướng về phía Chesterfield.
- Như thế là thế nào?
- Holmes thầm thì.
- Tựa như cuộc tẩu thoát vậy. Trong xe chỉ có một người đi thôi?
- Tôi nhìn thấy rõ mà. Nhưng người đó không phải Uyn-đê, bởi vì ông ta đang ngồi kia kìa!
Bóng dáng người thư ký in rõ giữa khung cửa sáng bừng. Anh ta rướn cổ về phía trước, nhìn vào bóng đêm, rõ ràng đang ngóng chờ ai đó. Vài phút trôi qua. Cuối cùng, trên đường có những bước chân vọng lại. Trong ánh sáng đổ xuống từ những cánh cửa ra vào, thấp thoáng bóng của một người khách nào đó nữa. Rồi cánh cửa khép lại. Toàn bộ khách sạn lại chìm vào trong bóng tối. Thế rồi, ở một trong những cửa sổ phía trên, ngọn đèn bàn được thắp sáng.
- Có khách lạ tới thăm “Con gà trống ưa ẩu đả” - Holmes nói.
- Vào quán từ một hướng khác?
- Ðúng rồi.
Cả hai đều là khách mời của ông chủ.
- Ông Uyn-đê cần gì trong cái sào huyệt này, lại vào thời gian muộn màng như vậy. Ông ta hẹn gặp ai ở đây chăng? Hãy mạnh dạn lên, Watson! Chúng ta sẽ quan sát họ gần hơn một chút nữa ?
Chúng tôi tụt xuống đường, nhẹ nhàng tới gần những cánh cửa của khách sạn. Xe đạp của Uyn-đê vẫn đứng tựa vào tường như trước. Holmes quẹt diêm và soi vào bánh sau của xe đạp. Tôi nghe thấy tiếng kêu khe khẽ đầy vẻ ngạc nhiên của Holmes khi ánh lửa soi vào mảng “ghệt” trên lốp xe đạp của hãng Dunlop. Cửa sổ có đèn sáng ở ngay trên đầu chúng tôi.
- Cần ghé nhìn trong đó dù chỉ thấy chút ít thôi Watson! Giá anh đứng tựa vào tường công kênh tôi lên.
Một thoáng sau, Holmes đã đứng trên vai tôi ngay và tức khắc lại tụt xuống dưới.
- Ði thôi, bạn thân mến. Ngày hôm nay thế là đủ rồi? Chúng ta đã làm tất cả những gì có thể làm được.
- Chúng ta về trường ngay.
Suốt quãng thời gian chúng tôi lê bước chậm chạp theo cánh đồng, hầu như Holmes không hé răng nói lấy nửa lời. Không rẽ vào khu trường, chúng tôi đến thẳng ga để chuyển điện. Sau đấy, tôi thấy Holmes đang an ủi ông tiến sĩ. Ông ta bị sửng sốt bởi cái chết bi thảm của người giáo viên: “Rất khuya, tôi vẫn còn trông thấy anh trong phòng mình”.
- Mọi chuyện đều diễn ra tốt đẹp. Tối mai chúng ta sẽ có lời giải đáp - Holmes nói với tôi.
Sáng hôm sau, lúc 11 giờ, chúng tôi đã ở trên con đường trồng cây nổi tiếng của lâu đài. Người hầu phòng ra đón và dẫn chúng tôi vào phòng làm việc của công tước.
Uyn-đê đã đứng ngay trước mặt chúng tôi. Anh ta rất khiêm tốn và lịch sự, nhưng trong đôi mắt né tránh của anh ta thoáng hiện nỗi khiếp sợ.
- Các ông muốn thăm công tước phải không. Ngài không được khỏe. Ngài bị đau bởi tấn thảm kịch mà ông tiến sĩ đã báo cho chúng tôi biết.
- Ông Uyn-đê, tôi cần gặp công tước.
- Nhưng Ngài không rời khỏi phòng mình được.
- Vậy tôi sẽ đến chỗ Ngài!
- Ngài đang trên giường.
- Dù thế nào tôi cũng xin được tiếp kiến Ngài!
Giọng điệu lạnh lùng không cho phép phản đối của Holmes đã khiến viên thư ký tin rằng đôi co với con người này chỉ bằng thừa.
- Thôi được ông Holmes, tôi sẽ báo có ông đến.
Ðôi mắt của công tước hỏm sâu hơn, hai tay khuỳnh khuỳnh của ông lộ vẻ thiếu cương quyết, ông như già hơn so với ngày hôm qua. Với vẻ lịch sự đến tao nhã, ông cúi chào chúng tời và ngồi xuống ghế bành.
- Tôi nghe đây, ông Holmes!
Thế nhưng Holmes lại nhìn chằm chằm vào viên thư ký đang đứng cạnh chủ nhân.
- Sự có mặt của ông Uyn-đê khiến tôi bị ít nhiều gò bó, thưa ngài!
Mặt viên thư kí tái ngắt đi. Anh ta ném vào Holmes một cái nhìn thật độc ác.
- Nếu ngài muốn .
- Ðược, được, cứ để chúng tôi ở đây.. Ðược rồi ông Holmes! ông có điều gì muốn nói với tôi, phải không ?
Holmes khép cửa lại đằng sau viên thư ký, rồi mới nói:
- Thưa ngài Theo lời của tiến sĩ Hu-ta, tôi và bác sĩ Watson được biết ngài có hứa sẽ trả tiền thù lao cho công việc mà ngài đang quan tâm. Tôi muốn trực tiếp được nghe Ngài nói điều đó.
- Có.
- Người ta nói là Ngài sẽ trả 5000 bảng cho ai chỉ ra nơi con trai Ngài đang ở.
- Phải.
- Và 1000 bảng cho ai chỉ ra kẻ đang giam giữ huân tước.
- Vâng.
- Cố nhiên, điều này ngụ ý rằng không chỉ là kẻ bắt cóc mà còn là kẻ có âm mưu bắt cóc.
- Ðúng, đúng - Không kìm được lòng mình, công tước thốt lên - ông Holmes, nếu ông làm sáng tỏ bí mật này, ông sẽ không than phiền về tính keo kiệt của tôi.
Holmes cọ cọ hai tay vào nhau một cách thèm thuồng. Ðiều này khiến tôi ngạc nhiên vì trước đó tôi hiểu anh như một người có những đòi hỏi bình thường nhất.
- Tập séc của Ngài đang ở trên bàn thì phải. Xin Ngài ghi cho tôi tấm séc 6000 bảng Anh. Ngân phiếu xin chuyển vào tài khoản vãng lai của tôi tại chi nhánh ngân hàng La Capital Counties đường Oxford.
Công tước ưỡn thẳng người trong ghế bành, dò xét bạn tôi bằng cái nhìn lạnh như tiền.
- Ông đùa đấy à, ông Holmes. Ðây không phải là đề tài thích hợp cho sự bông đùa.
- Thưa ngài!
Tôi luôn luôn nghiêm túc.
- Ðiều đó có nghĩa thế nào?
- Ðiều đó có nghĩa là tôi biết nơi trú chân của con trai ngài và cũng biết một người đang lưu giữ cậu.
- Con tôi đâu?
- Trong khách sạn “Con gà trống ưa ẩu đả”, cách cổng lớn của công viên Ngài hai dặm ít ra cậu nhà đã ở đó vào ngày hôm qua - Công tước ngả người vào ghế bành.
- Vậy ông kết tội ai?
- Anh bước nhanh về phía trước, đụng tay vào viên công tước.
- Tôi kết tội Ngài. Còn bây giờ, thưa Ngài, xin ngài làm ơn đưa cho tôi tấm séc 6000 bảng Anh.
Từ ghế bành, công tước nhổm phắt dậy, thế rồi đột nhiên hai tay ông chới với tựa như ông đang gắng đứng vững bên bờ vực thẳm. Sau đó, bằng sức mạnh của ý chí sắt đá và bằng sự trợ giúp của tính kiềm chế quý tộc, ông ta lại ngồi xuống ghế, tay ôm lấy mặt. Một phút... rồi một phút nữa trôi qua . . .
- Hãy nói thẳng ra, ông biết gì nào- Con người bất hạnh ấy hỏi, không hề cất đầu lên.
- Tối hôm qua, tôi trông thấy Ngài và cậu nhà.
- Ngoài bạn ông ra, còn có ai biết chuyện đó nữa không?
- Tôi chưa nói cho ai biết cả.
Năm ngón tay run rẩy của viên công tước mở tập séc ra rồi cầm lấy bút.
- Tôi không bội ước đâu, ông Holmes ạ. Mặc dầu số tiền này chỉ để trả cho những tin tức mà thôi, ngoài nỗi cay đắng ra, chúng không mang lại cho tôi điều gì khác nữa. Nhưng khi đưa ra lời ban thưởng, tôi đâu có thể ngờ là các sự kiện lại xoay chuyển như thế! Tuy vậy, tôi hy vọng ông và bạn ông là những người biết điều.
- Tôi chưa hiểu ngài muốn nói gì, thưa ngài?
- Ðược, tôi sẽ nói trắng ra vậy ông Holmes ạ, nếu những tình tiết của việc này không một ai biết, ngoài hai ông ra, thì số tiền không chỉ có thế. Tôi phải cho ông 12000 bảng Anh. Không đúng vậy sao?
Nhưng Holmes mỉm cười và lắc đầu:
- Ồ! Thưa Ngài! Không thể dễ dàng thu xếp chuyện đó. Một ai đó phải trả lời về cái chết của người thầy giáo.
- Thế nhưng người thư ký của tôi không can dự vào đấy. Giết người, đấy là công việc của tên bạo chúa.
Tội còn lại thì nhìn nhận như thế này, thưa ngài: Khi một người đứng trước con đường dẫn đến tội ác, thì anh ta cần phải gánh lấy trách nhiệm đạo đức do những hậu quả hành động của mình gây ra.
- Trách nhiệm đạo đức. Ðúng! Nhưng đừng bắt người thư ký phải trả lời trước pháp luật. Không thể khép một người vào tội sát nhân nếu anh ta không có mặt vào lúc giết người; cũng không thể khép người ấy vào tội sát nhân khi việc giết người đã khiến anh ta công phẫn chẳng kém gì ông. Sau khi biết chuyện đó, Uyn-đê không chịu nổi sự day dứt của lương tâm và thú nhận ngay với tôi tất cả. Sau đấy, ông ta tuyệt giao với kẻ sát nhân, ông Holmes! Hãy cứu ông ta? Hãy cứu đi! Tôi van ông đấy!
Tính kiềm chế quý tộc của viên công tước biến mất.
Với bộ mặt méo xệch, viên đại thần chạy loang quăng khắp phòng, đôi tay ông vung vẩy một cách mạnh mẽ.
Cuối cùng, ông tự trấn tĩnh lại, ngồi xuống và nói:
- Tôi đánh giá cao việc ông đã đến đây. Nào, ít ra ta cũng bàn bạc xem cần áp dụng những biện pháp nào để giúp tôi khỏi bị lăng nhục.
- Nhưng chỉ khi chúng ta đã cởi mở với nhau đến tận cùng. Tôi sẽ làm tất cả những gì có thể làm được nếu tôi biết chính xác các chi tiết của công việc này. Ngài khẳng định rằng ông ta không phải là kẻ giết người?
- Ðúng, kẻ giết người đã lẩn trốn.
Holmes lạnh lùng mỉm cười:
- Thưa Ngài? Hôm qua, vào lúc 11 giờ đêm, người chủ khách sạn đã bị bắt tại Chesterfield theo chỉ thị của tôi. Viên chỉ huy cảnh sát ở đấy đã báo tin cho tôi vào sáng nay trước lúc tôi đến đây.
Công tước ngả người ra sau ghế, ngạc nhiên nhìn bạn tôi.
- Khả năng của ông liệu có giới hạn không, ông Holmes - ông ta thất lên - Thế nghĩa là Rơ-ben đã bí bắt. Thôi được có thể đó là điều mừng. Nhưng liệu việc hắn ta bị bắt có ảnh hưởng gì tới số phận của Uyn-đê không?
- Tới viên thư ký của ngài?
- Không, tới con tôi.
Uyn-đê là con trai của tôi.
Lần này Holmes thật sự ngạc nhiên:
- Thưa Ngài Ngài có thể giải thích chi tiết tất cả chuyện đó được không?
- Ông nói đúng. Chỉ có lòng thành mới có thể làm giảm nhẹ tình trạng căng thẳng mà Uyn-đê đã đặt cả hai chúng tôi vào đó. Lúc còn trẻ, tôi ngỏ lời cầu hôn với người đàn bà yêu dấu, nhưng nàng cự tuyệt vì lo ngại rằng cuộc hôn nhân như thế sẽ hủy hoại con đường công danh của tôi. Nếu nàng còn sống thì tôi đã không lấy một người nào khác. Nhưng nàng đã mất và để lại cho tôi một đứa con trai. Ðó là Uyn-đê. Tôi nuôi nấng cháu và không công khai thừa nhận mình là cha. Tuy nhiên, cháu đã được giáo dục tốt nhất. Khi đã lớn khôn, cháu vẫn thường xuyên sống cùng chúng tôi. Tình cờ cháu biết được bí mật của tôi và từ đấy cháu gắng lạm dụng quyền làm con của mình bằng mọi cách. Ðiều này đẩy tôi vào tình trạng lo ngại bị tố giác. Sự hiện diện của cháu ở lâu đài đã là nguyên nhân của sự tuyệt giao giữa tôi và vợ tôi. Và điều sau đây mới thật nặng nề. Ngay khi nhìn đứa bé, từ ngày đầu tiên, cháu đã căm ghét đứa con nhỏ (kẻ thừa kế hợp pháp của tôi) một cách dữ dội nhất.
Chắc ông sẽ hỏi tại sao do những chuyện ấy mà tôi vẫn tiếp tục dừ Uyn-đê ở nhà mình. Câu trả lời của tôi sẽ thế này: Vì khi nhìn nó, tôi trông thấy bóng dáng của mẹ nó, một hình bóng không thể xóa nhòa trong tôi. Từ biệt cháu ư? Tôi không đủ sức làm việc đó nhưng cuối cùng, tôi bắt đầu lo sợ cháu sẽ gây ra một chuyện gì đấy với huân tước Sa-ti. Và thế là tôi chuyển đứa bé đến ký túc xá của tiến sĩ Hu-ta.
Uyn-đê tiến hành mọi công việc của tôi, do vậy cháu biết Rơ-ben, người đã từng là tá điền của tôi chúng đã kết bạn với nhau. Sau khi quyết định bắt cóc huân tước Sa-ti, cháu biến tên này thành kẻ đồng lõa của mình. Ông còn nhớ là tôi đã viết một bức thư cho Sa-ti trước ngày Sa-ti chạy trốn? Uyn-đê đã mở phong bì ra, bỏ vào đó mẫu thư yêu cầu Sa-ti gặp mình ở cánh rừng “Mũi dao lệch” cách không xa khu trường. Chú bé đã đi đến đó vì thư có vẻ như được viết theo yêu cầu của vợ tôi. Uyn-đê đến khu rừng thưa bằng xe đạp. Sau đấy chính cháu đã làm Sa-ti tin rằng bà mẹ đang buồn phiền vì huân tước, rằng bà cách đây không xa, rằng nếu huân tước đi tới khi rừng này vào lúc nửa đêm thì người dẫn đường và ngựa sẽ chờ ở đó. Cậu bé bất hạnh bị sa vào bẫy đúng giờ hẹn, cậu đi đến khu rừng thưa và nhận ra Rơ-ben ở đấy. Rơ-ben cưỡi một con ngựa và Sa-ti ngồi lên yên một con ngựa Poney rất nhỏ con.
Nhưng Rơ-ben phát giác có người đang đuổi theo.
Hắn dùng dùi cui đánh vào người đuổi theo vài lần. Anh ta đã chết vì thương tích. Rơ-ben đưa Sa-ti tới khách sạn của mình, Nhốt cậu bé ở trên lầu, bắt bà Rơ-ben (một người đàn bà phúc hậu nhưng hoàn toàn lệ thuộc vào người chồng) coi giữ đứa bé.
Uyn-đê hành động như vậy là vì mù quáng, vì căm phẫn. Cháu cho rằng tất cả thái ấp của tôi cần được chuyển giao cho cháu, rằng cháu không thể bình tâm để bàn về quyền thừa kế tài sản đang tồn tại ở chỗ chúng tôi.
Cháu yêu cầu tôi để cho cháu quyền thừa kế thái ấp. Chỉ có như vậy cháu mới trả Sa-ti lại cho tôi. Cháu biết rất rõ là không đời nào tôi lại giao cháu cho cảnh sát. Nhưng những sự kiện đã đảo lộn nhanh tới mức cháu không thể thực hiện kế hoạch của mình. Uyn-đê hoảng sợ khi biết người thầy giáo đã chết. Chúng tôi biết chuyện đó vào ngày hôm qua do tiến sĩ báo. Bức điện đã đẩy Uyn-đê vào tình trạng lo sợ. Tôi kết tội cháu thẳng thừng. Cháu thành thật nhận lỗi nhưng cố van nài tôi trì hoãn hai ngày để tên tòng phạm được cứu thoát. Tôi đã nhân nhượng như đã từng nhân nhượng cháu trong mọi trường hợp. Khi đó Uyn-đê lao đến khách sạn, báo cho Rơ-ben biết trước và giúp hắn chạy trốn. Tôi không thể đi đến đấy lúc còn sáng, tôi chờ tối hẳn mới đến chỗ Sa-ti. Chú bé vẫn bình an vô sự. Nhưng vụ giết người đã gieo một ấn tượng khủng khiếp xuống đứa bé. Nhớ lời hứa bất đắc dĩ tôi phải để Sa-ti ở lại khách sạn chừng ba ngày. Bởi vì không thể báo những điều này cho cảnh sát mà lại không tố giác kẻ giết người, và khi Rơ-ben bị bắt thì sẽ khốn khổ, ông Holmes, tôi đã nói hết sự thật, giờ mong ông rộng lượng giúp tôi.
- Ðược, thưa Ngài. Trước pháp luật, tình trạng của Ngài là cực kì nghiêm trọng. Ngài giúp kẻ giết người chạy trốn, vì Uyn-đê đã lấy tiền từ túi Ngài giúp cho hắn tẩu thoát.
Viên công tước nghiêng đầu im lặng.
- Ðúng, tình trạng rất nghiêm trọng.
- Thế nhưng dưới con mắt của tôi thì cách cư xử của Ngài với cậu bé còn đáng lên án hơn. Ngài đã để cậu bé sống trong cái nhà gian phi suốt ba ngày!
- Chúng đã cam đoan với tôi là...
- Lẽ nào lại tin vào lời thề của hạng người ấy. Nếu chúng giấu biệt cậu bé vào một nơi nào đó thì sao? Chiều ý đứa con trai tội lỗi, Ngài đã buộc đứa trẻ vô tội phải chịu cảnh nguy hiểm. Không, không thể biện hộ cho hành động của Ngài được!
Viên đại quan kiêu hãnh vốn không quen nghe những lời chống đối như thế, nhất là ngay trong dinh thự của mình. Mặt ông ta đỏ lên, song lương tâm buộc ông ta phải câm lặng.
- Tôi sẽ giúp ông nhưng với điều kiện: Hãy gọi người hầu lại đây và yêu cầu anh ta thực hiện mệnh lệnh của tôi.
Không nói lấy một lời, công tước đưa tay ấn nút chuông điện. Một người đầy tớ bước vào phòng.
- Huân tước Sa-ti đã được tìm thấy - Holmes nói với người hầu - Công tước ra lệnh hãy mau chóng đưa một cỗ xe ngựa đến khách sạn “Con gà trống ưa ẩu đả” rước huân tước về.
- Còn bây giờ - Holmes nói khi người hầu đã chạy ra khỏi phòng làm việc, mặt rạng rỡ lên vì sung sướng.
- Chúng ta có thể đối xử một cách khoan dung với dĩ vãng. Tôi không thấy cần thiết báo cho chính quyền về tất cả những gì tôi đã biết. Còn Rơ-ben thì đấy là chuyện khác. Giá treo cổ đang chờ hắn. Tôi sẽ không nhúng tay để cứu mạng sống của hắn. Còn việc hắn có tiết lộ bí mật của Ngài hay không, tôi không biết. Tuy nhiên, Ngài có thể gợi ý để hắn nói những điều vô nghĩa ngoài trách nhiệm của hắn. Ở sở cảnh sát người ta sẽ kết án hắn bắt cóc chú bé để nhận tiền chuộc. Nếu ở đó người ta không dò xét gì sâu hơn thì họ sẽ không đến đây. Có điều việc ông Uyn-đê vẫn còn lưu lại ở nhà Ngài là việc không tốt.
- Cháu sẽ vĩnh viễn rời khỏi lâu đài và sẽ lên đường sang châu Úc!
- Thưa Ngài. Ngài không cố gắng hòa giải với công tước phu nhãn và thu xếp ổn thỏa cuộc sống gia đình hay sao?
- Sáng nay tôi đã viết thư cho công tước phu nhân rồi?
- Nếu vậy - Holmes vừa nói vừa đứng dậy - Tôi và bạn tôi có thể xin chúc mừng Ngài. Chỉ còn một vấn đề tôi chưa được rõ lắm. Những con ngựa của Rơ-ben được đóng móng thế nào để người ta có thể lầm lẫn vết móng của nó với vết móng của bò cái? Ai đã mách hắn làm chuyện đó. Không phải ông Uyn-đê chứ?
Ðôi lông mày của công tước nhíu lại ông im lặng đến một phút. Thế rồi, ông mở cửa phòng bên cạnh hiện đang được dùng làm bảo tàng của gia đình ông. Ông dẫn chúng tôi đến gần chiếc tủ trưng bày ở góc của căn phòng, chỉ cho chúng tôi xem những hàng chữ dưới tấm kính.
“Những chiếc móng ngựa sắt này đã được tìm thấy trong các cuộc khai quật tại một khu vực thuộc vùng Holdernesse. Chúng được dùng cho ngựa nhưng người ta đã rèn chúng dưới hình thức móng bò cái được tách đôi ra.
Rõ ràng, vào thời trung cổ, các quan đại phu phong kiến khi đi cướp bóc đã sử dụng biện pháp này nhằm đánh lạc hướng những người đuổi bắt”.
Holmes nâng nắp kính lên rồi lấy tay xoa vào một trong những cái móng ngựa. Bàn tay anh dính vết bẩn đen thẫm: bùn đầm lầy vẫn chưa kịp khô hẳn.
- Cám ơn Ngài. Ðấy là điều thứ hai ở chỗ Ngài khiến tôi đặc biệt quan tâm.
- Thế còn điều thứ nhất?
Holmes gập tấm séc làm đôi, thận trọng đặt nó vào giữa cuốn sổ của mình.
- Tôi là người không thật giàu có lắm!
Anh nói và nhét cuốn sổ tay sâu hơn vào trong túi trong...

Cuộc đời như những cơn mưa
Đăng nhập để trả lời
0
NGƯỜI BÁN SƠN VỀ HƯU
(lukhach chỉnh chình tả)

- Anh có thấy ông ấy không.
- Ông lão mới ra đấy à?
- Phải.
- Ông ta là thân chủ của anh?
- Scotland Yard giới thiệu qua. Cảnh sát cảm thấy không thể làm gì hơn.
- Chuyện của ông ta thế nào?
Holmes lấy trên bàn một tấm danh thiếp bẩn.
- Amberley có phần hùn trong công ty Brickfall & Amberley, sản xuất hàng mỹ nghệ. Chúng ta thấy tên công ty này nhan nhản trên các hộp sơn. Sau khi đã dành dụm được kha khá, ông ta rũ áo về vườn; lúc đó ông ta 61 tuổi, mua được ngôi nhà tại đường Lewisham. Tương lai có vẻ khá bảo đảm.
- Thế là tốt quá rồi?
Holmes đọc vài lời ghi nguệch ngoạc sau một phong thơ.
- Ông ta về hưu năm 1896! Ðến năm 1897 ông lấy bà vợ, nhỏ hơn ông 20 tuổi. Bà ấy khá xinh, nếu bức ảnh này đáng tin cậy. Có tiền, có vợ đẹp lại thêm hoàn cảnh thong thả, thật là một lộ trình thênh thang trước mặt.
Nhưng chỉ không đầy hai năm sau, ông lão trở thành một kẻ khốn khổ, tàn tệ nhất trong đám khốn nạn dưới ánh sáng mặt trời này.
- Chuyện gì đã xảy ra?
- Một thằng bạn bất nghĩa và một con vợ bất trung.
Amberley có một cái ghiền nhất trên đời: đánh cờ. Gần nhà có một y sĩ trẻ tuổi, tên Ray cũng mê cờ. Thế rồi, qua lại thường ngày, mối thân tình nẩy nở giữa ông bác sĩ và bà Amberley. Tuần trước, đôi gian phu dâm phụ đã cao bay xa chạy. Ðau đớn là chúng ôm theo cái két tiền dành dụm của ông lão. Chúng ta có thể tìm ra người phụ nữ ấy và lấy lại số tiền hay không?
- Anh sẽ làm gì?
- Anh Watson, bây giờ, chính anh sẽ làm. Anh đã biết tôi đang bận vụ hai ông mục sư, đâu có thời giờ đến Lewisham. Tôi đâu ngờ không đầy một tuần, vụ án này gây một chấn động lớn trên toàn nước Anh.
Khi tôi trở lại đường Baker thì đã quá khuya.
Holmes còn ngồi trên ghế bành, mắt lim dim nhìn khói thuốc nhởn nhơ bay lên trần nhà.
Có lúc tôi tưởng Holmes đã ngủ trong lúc tôi báo cáo nếu tôi không ngừng để lấy hơi, hoặc lúc lời tường thuật thiếu một vài chi tiết chính xác: bấy giờ mắt Holmes mở to, sáng quắc nhìn tôi.
- Ông Amberley đặt tên cho căn nhà của ông ta là “Cảng êm ấm“Người ta có thể nói rằng ông lão là một quý tộc khánh kiệt về sống chung đụng với giai tầng hạ lưu. Giữa khu đặc biệt này với những đường phố đơn điệu, những nhà gạch khiêm nhường lại trồi lên một ốc đảo của lối kiến trúc cổ, đầy đủ tiện nghi biện đại: đó là một ngôi nhà cổ kính, bao bọc bởi một bức tường rêu...
- Cắt bỏ khúc văn chương lãng mạn đó đi, anh Watson! - Holmes nghiêm giọng ngắt lời - Tôi cần biết đơn giản: tường gạch, cao...
- Vâng. Tôi không bao giờ biết đó là “Cảng êm ấm” nếu không dò hỏi một người lang thang ngoài đường. Tôi phải để ý đến thằng cha này vì người cao, da nâu, có râu ngạnh trê, thái độ nghênh ngang và có vẻ lính lắm. Hắn nhìn tôi một cách tò mò khi trả lời tôi.
Vừa qua cổng, tôi đã thấy ông Amberley từ nhà bước ra. Hồi sáng, tôi chỉ mới thoáng thấy ông ta thôi, bây giờ gặp lại, mới nhận rõ ông ta là một con người bất bình thường.
- Ðương nhiên, tôi đã biết rồi - Holmes nói - Nhưng cảm tưởng cá nhân của anh cũng cần cho tôi.
- Ông ta ưu tư cùng cực, nhưng không bệ rạc như ta tưởng: hai vai vẫn lực lưỡng như một người khổng lồ, tuy dáng đi có vẻ nghiêng ngả.
- Chiếc giày trái bị nhăn, chiếc giày phải còn bóng.
- Tôi không để ý đến điểm này.
- Chân giả mà! Nhưng thôi, tiếp tục đi Watson?
- Tôi lưu ý đặc biệt đến các lọn tóc bạc bẩn thỉu dưới chiếc mũ rơm và đặc biệt đến diện mạo của ông ta, những nét lõm sâu, sắc mặt dừ tợn.
- Hay lắm, Watson?
ông lão đã nói gì với anh?
- Ông ta kể lể nỗi lòng khi cùng tôi đi dạo ngoài vườn. Chưa bao giờ tôi gặp một khu vườn lôi thôi như thế.
Cỏ mọc tứ tung, hoa dại tự do phát triển. Tôi tự hỏi một người đàn bà đàng hoàng làm sao chịu đựng nổi cảnh này. Ông lão hình như đã ý thức được điều này và muốn sửa chữa, ở cửa chính có một lọ sơn to tổ bố và ông đang cầm cọ sơn các nẹp gỗ.
Ông ta đưa tôi vào phòng khách mới dọn dẹp và chúng tôi hàn huyên rất lâu.
- Tôi đâu dám hy vọng rằng.. một người như tôi thì làm sao được ông Sherlock Holmes đích thân giúp - ông ta nói.
- Nhưng ông phải hiểu rằng, đối với Sherlock Holmes, tiền bạc không thành vấn đề - Tôi đáp.
- Tất nhiên, ông Sherlock Holmes chỉ làm việc vì tính nghệ thuật. Nhưng ông ta cũng sẽ tìm thấy trong vụ này một điều gì đó để nghiên cứu. Thưa bác sĩ Watson, đó là một sự bội bạc cùng cực! Tôi có bao giờ từ chối điều gì với cô ấy? Có người đàn bà nào được nuông chiều đến thế. Còn thằng y sĩ trẻ tuổi. Nó đáng tuổi con tôi. Thế mà, họ đối xử với tôi như thế đấy? Bác sĩ ơi! Cuộc đời này quá tàn nhẫn.
- Ông ta lải nhải như vậy suốt một giờ. Theo tôi, ông ta không nghi ngờ gì về tình yêu vụng trộm của bà vợ.
Hôm đó, muốn lấy lòng vợ, lão mua hai vé thượng hạng tại rạp Haymarker. Vào phút chót, bà ta viện cớ nhức đầu, không đi được, ông phải đi một mình, ông ta có cho tôi xem cái vé chưa xé.
- Hay lắm- Holmes đáp - Hãy nói tiếp đi. Hấp dẫn đấy? Anh có xem cái vé không. Có ghi số ghế không?
- Có chứ - Tôi đáp với chút hãnh diện - Ðó là số 31, trùng với số thứ tự của tôi trong danh sách học sinh thời trung học nên rất dễ nhớ.
- Hoan hô, Watson.
Như vậy số ghế kia là 30 hay 32.
- Ðúng thế! - Tôi đáp một cách mỉa mai - Vào dãy B.
- Ngoài ra, ông ta còn nói gì khác không?
- Ông ta có cho tôi xem cái căn phòng kiên cố của ông. Thực vậy, nó kiên cố như một ngân hàng, các cửa lớn, cửa sổ đều bằng sắt. Nhưng bà ta dùng chìa khóa giả cuỗm khoảng 7000 bảng tiền mặt và chứng khoán.
- Chứng khoán?
Họ lấy để làm gì?
- Ông ta hy vọng là chúng sẽ vô dụng vì ông đã báo cho cảnh sát, ông ta đi xem hát về khoảng 1 giờ đêm.
Cửa lớn, cửa nhỏ đều mở toang hoang, bọn trộm thì biệt tăm.
Holmes suy ngẫm vài phút.
- Anh nói ông ta đang sơn!
Sơn gì vậy?
- Sơn lại hành lang và đã sơn xong cửa lớn cùng các nẹp cửa của văn phòng kiên cố đó.
- Theo anh, thì việc làm này có kỳ cục không?
Trong tình huống này!
- Ông ta giải thích “Phải làm một việc gì để giải khuây”Quả là quái dị, nhưng tính tình lập dị là gốc của ông ta mà? Ông ta có xé một bức ảnh của vợ trước mặt tôi với vẻ dữ dằn và bảo “tôi không bao giờ muốn gặp cái mặt đáng nguyền rủa này nữa”.
- Hết rồi à Watson.
- Còn khi lên ga Blackheath, tôi thấy một người đàn ông hối hả leo lên toa gần toa tôi. Ðó là một người cao ráo, da nâu mà tôi đã hỏi thăm đường. Tôi lại gặp hắn tại Luân Ðôn Bridge và sau đó hắn mất hút trong đám đông.
Chắc là hắn theo dõi tôi.
- Có thể lắm - Holmes đồng ý - Anh nói một người cao, da nâu, râu ngạnh trê, đeo kính râm, nghênh ngang, phai không?
- Holmes, anh quả là phù thủy. Tôi đâu có nêu chi tiết kính râm mà anh biết?
- Còn cái kẹp cà-vạt của hội Tam điểm nữa!
- Ủa?
- Thật ra tất cả những gì đập vào mắt anh cũng lôi cuốn sự chú ý của tôi.
Nhưng anh đã bỏ qua những cái quan trọng.
- Tôi bỏ qua cái gì?
- Anh bạn đừng buồn.
Không ai giỏi hơn anh đâu.
Nhưng anh đã bỏ những chi tiết thiết yếu. Người láng giềng nghĩ sao về lão Amberley và bà vợ? Về bác sĩ Ray? Anh có hỏi thăm cô nhân viên bưu điện, vợ ông chủ chạp phô gần đó không?
- Tôi nắm được vài điều thiết yếu. Tin tức thu lượm xác nhận lý lịch của ông lão. Ông ấy nổi tiếng là một người hà tiện, một người chồng thô bạo, khó tính. Chắc chắn ông ta có một số tiền lớn trong phòng kiên cố. Cũng đúng với sự thực là ông bác sĩ có chơi cờ với Amberley và chơi thân với vợ ông ta. Toàn chuyện thế đó, trơn tru, nhưng... nhưng...
- Anh còn thấy gì nữa?
- Trí tôi đang làm việc...
ừ?...
- Thôi tạm ngừng, Watson à.
Tối nay chúng ta hãy đi nghe nhạc.
Sáng hôm sau, tôi thức dậy sớm. Trên bàn đã có sẵn một tờ giấy viết nguệch ngoạc: “Watson thân! Có một vài điểm tôi cần bàn lại với Amberley. Tôi mong anh rảnh lúc 15 giờ vì tôi cần anh vào giờ đó!”
Tới giờ hẹn, tôi mới gặp lại Holmes. Anh ta về nhà với vẻ mặt nghiêm nghị, ưu tư.
- Amberley có đến không?
- Không.
Vậy mà tôi đợi ông ta.
Một chặp sau, ông già đó tới với vẻ mặt khắc khổ, mệt lả và bối rối.
- Tôi nhận được một điện tín, ông Holmes à. Tôi chẳng hiểu gì cả.
Ông ta đưa cho Holmes xem.
Holmes đọc lớn:
“Tới ngay, đừng chậm trễ. Tôi có thể cho tin về sự mất mát mới đây của ông.
Elman, tại nhà linh mục chánh xử”.
Ðiện tín đánh đi từ Little Purlington; lúc 14 giờ 10 Little Purlington thuộc quận Essex, hình như gần Frinton. Amberley, ông phải đi ngay. Ðiện tín do linh mục sở tại đánh đi. Cuốn danh mục của tôi đâu rồi? Ðây, có rồi?
JC. Elman, cao học, cư dân tại Mossmoor, thuộc Little Purlington... này, Watson, xem giùm lịch trình xe lửa.- Có một chuyến lúc 17 giờ khởi hành từ ga Liverpool.
- Tốt Watson nên đi theo ông. Có thể ông cần người giúp đỡ. Nhưng Amberley có vẻ không muốn lên đường, ông ta nói:
- Thật là phi lý, ông Holmes à. Người đó làm sao biết được tai họa của tôi? Ai lại tốn thì giờ và tiền bạc một cách vô lối như thế!
- Nếu không có tin mới lạ, ông ấy đánh điện cho ông làm gì? Ðiện hồi âm cho biết.
- Ông sẽ lên đường ngay?
- Chưa chắc tôi đi đâu - Holmes ra vẻ nghiêm khắc:
Ông sẽ làm cho cảnh sát và tôi có cảm tưởng không hay về ông, ông Amberley? Ðã có một lối mòn rõ ràng mà ông từ chối lần. Theo Chúng tôi nghĩ rằng ông không muốn cuộc điều tra kết thúc chăng?
Amberley tỏ vẻ hoảng sợ:
- Ồ, đương nhiên phải đi. Thoạt nhìn thì khó tin một nhà tu lại biết chuyện này nọ, nhưng nếu ông cho là...
- Tôi cho là như vậy- Holmes trịnh trọng cắt ngang. Rồi anh kéo tôi qua một bên và căn dặn.
- Ðiều cần yếu là ông ta phải lên đường- Holmes thì thầm với tôi - Nếu ông ta muốn trốn hoặc bỏ về thì anh chạy ngay tới bưu cục gần nhất gửi gọn cho tôi 2 chữ “vọt rồi”. Tôi sẽ thu xếp cho ông ta phải tìm tôi.
Little Purlington nằm trên một đường phụ nên không phải là chỗ dễ đến.
Trời đẹp, ấm, xe lửa chạy rề rề.
Bạn đồng hành của tôi không nói năng, chỉ thỉnh thoảng chua cay nhận xét chuyến đi ngu xuẩn. Chúng tôi lại phải thuê xe ngựa tới nhà linh mục chánh xứ, cách ga 3 km.
Chúng tôi được một nhà tu bệ vệ và trịnh trọng đón tiếp.
Bức điện hồi âm của chúng tôi còn để trên bàn.
- Sao, quý ông?
- ông ta hỏi - Chúng tôi có thể làm gì để giúp quý ông?
Tôi giải thích :
- Chúng tôi đến theo lời mời của bức điện của linh mục!
- Bức điện của tôi. Tôi đâu có đánh điện cho quý ông. Tôi muốn nói bức điện cha đánh cho ông Amberley về việc người vợ và tiền của ông ta.
- Ðây là một trò đùa khiếm nhã. Tôi không bao giờ nghe đến tên anh chàng đó và tôi không hề đánh điện tín cho ai cả. Chúng tôi nhìn nhau một cách ngạc nhiên:
- Có thể có sự lầm lẫn- Tôi nói - Có thể nào ở đây có hai nhà chánh xứ không? Thưa linh mục, đây là bức điện mà chúng tôi nhận được, người ký tên là Elma.
- Chỉ có một nhà chánh xứ và một linh mục chánh xứ duy nhất. Bức điện này là một sự giả mạo đáng tởm, tôi sẽ kiện ra cảnh sát.
Amberley và tôi trở lại con đường chính của làng, có lẽ đó là con đường cổ nhất của Anh quốc. Chúng tôi tới bưu cục nhưng đã đóng cửa. Nhờ điện thoại trong quán nhỏ trước ga, tôi liên lạc được với Holmes.
- Kỳ quá - Tiếng nói từ xa xôi dội vào tai tôi - Cực kỳ lý thú! Watson thân mến, tối nay không có xe lửa, vô tình tôi đẩy anh vào một quán trọ đồng quê. Nhưng anh có thiên nhiên và Amberley thì cũng được rồi.
Tôi nghe tiếng Holmes cười và gác máy. Qua chuyến đi này, tôi thấy rằng lời đồn ông lão này hà tiện quả không ngoa. Ông ta cằn nhằn về các khoảng chi phí cho chuyến đi, lại cò kè về chi phí quán trọ. Khi về tới Luân Ðôn, tôi nói với ông ta:
- Chúng ta nên ghé qua đường Baker, Holmes có cần hỏi ta điều gì thêm không.
- Nếu đó là những chỉ thị cuối cùng thì tôi thấy cũng chả ích lợi gì? - Amberley vừa nói vừa cười chế nhạo.
Tuy vậy, ông ta vẫn đi theo tôi. Tôi đã đánh điện báo cho Holmes giờ về, nhưng tôi lại nhận được hồi âm:
“anh ấy đợi tôi tại Lewisham”.
Tôi như bị rơi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác. Tại phòng khách của Amberley lại có thêm một người đàn ông với khuôn mặt nghiêm trọng, lạnh nhạt ngồi cạnh. Ông ta mang kính râm và cà-vạt mang kẹp của hội Tam điểm.
- Tôi xin giới thiệu ông Bây-cơ- Holmes nói - ông Amberley à, ông ta cũng quan tâm đến công việc của ông.
Chúng tôi tuy hoạt động riêng rẽ nhưng cùng muốn hỏi ông một điều.
Ông Amberley ngồi xuống một cách nặng nề, ông cảm thấy một nguy hiểm gần kề.
- Ðiều gì vậy, ông Holmes?
- Chỉ điều này thôi, ông đã vứt mấy cái xác chết đi đâu?
- Lão ta nhảy dựng và la lên. Hai bàn tay xương xấu huơ huơ trong không trung, miệng há hốc. Trong một thoáng, chúng tôi thấy rõ chân tướng của Amberley. Khi ngồi lại xuống ghế, ông ta lấy tay che miệng như muốn chặn đứng một cơn ho. Holmes đột nhiên nhảy lên như con cọp, nắm cổ họng ông ta, đè cổ, chân cho đến lúc mặt ông ta chạm sàn nhà. Một viên thuốc màu trắng từ miệng ông ta lọt ra.
- Không có chuyện ấy được ông bạn à? Sự việc phải theo tiến trình tự nhiên và đều đặn. Sao, Bây-cơ?
- Một xe ngựa đang chờ ngoài cổng!
- Bây-cơ trả lời.
- Chúng ta cách bót cảnh sát chỉ vài trăm thước thôi. Tôi đi theo ông ra đó. Còn Watson, anh ở lại đây, nửa giờ sau tôi trở lại.
Một lát sau Holmes quay lại với một thanh tra trẻ.
- Tôi để cho Bây-cơ lo làm thủ tục. Watson, anh chưa biết ông Bây-cơ. Ðó là một đồng nghiệp tài danh của tôi ở duyên hải Surrey. Khi anh nói về một người da nâu, cao ráo, tôi đã biết ngay là ai rồi. Ông ấy có nhiều thành tích đẹp, phải không, ông thanh tra?
- Ông ấy đã góp phần vào nhiều vụ - Viên thanh tra trả lời dè dặt.
- Ðúng, các phương pháp của ông ta không chính quy. Cách làm việc của tôi cũng tương tự. Nhưng, đôi khi bọn này cũng hữu dụng đấy chứ? Ông thì muốn phải báo cho lão biết theo nghi thức, nhưng với thằng ăn cướp đó thì làm gì được một lời đầu thú?
- Có lẽ là không. Nhưng sau cùng cũng đạt mục đích. Ông vui lòng cảm thông với chúng tôi.
- Tôi sẽ không dành ông đâu, ông Mác-kê à. Tôi đoán chắc với ông rằng tôi xin rút lui, ông Bây-cơ cũng chỉ làm theo chỉ thị của tôi thôi.
Viên thanh tra cảnh sát có vẻ nhẹ nhõm.
- Ông quả là hào phóng, ông Holmes. Có lẽ lời khen hay chê đối với ông không quan trọng. Nhưng đối với chúng tôi thì khác hẳn, khi mà báo chí bắt đầu tung tin ra.
- Ðồng ý. Báo chí cũng sẽ phỏng vấn, ta nên chuẩn bị các lời đáp. Ông sẽ nói gì khi họ hỏi cái mấu chốt nào khiến ông ngờ vực và cuối cùng ông đã đề ra được một giả thiết.
Viên thanh tra lúng túng:
- Hình như chúng ta chưa nắm chi tiết cụ thể, ông nói rằng trước mặt ba nhân chứng, tội phạm gần như đã thú nhận, qua việc mưu toan tự sát sau khi đã giết đôi gian phu dâm phụ.
- Ông có những sự kiện nào khác? Ông có dự trù một sự lục soát chưa?
- Ba cảnh sát viên đang trên đường đi tới hiện trường.
- Như vậy thì không bao lâu nữa, ông sẽ có mọi chứng cớ. Các xác chết có thể được chôn quanh quẩn đâu đó. Hãy lục dưới hầm rượu, ngoài vườn. Nhà này cổ lỗ quá, có thể được xây trước khi có nước máy. Thành ra xem đâu đó có cái giếng bỏ hoang. Hãy thử thời vận về các hướng đó!
- Nhưng làm sao ông đoán được cái cách mà tội ác đã được diễn ra?
- Trước hết, xin nói với ông về thằng cha Amberley này.
- Một kẻ quái đản đến nỗi tôi cho rằng nên cho hắn vào nhà thương điên hơn là đưa đi chém. Y là một tên hà tiện kinh khủng. Cái nhỏ nhen của y đã biến vợ y thành miếng mồi ngon cho bất kỳ một tên sở khanh nào; và tên thầy thuốc mê cờ đến đúng lúc. Amberley đánh cờ có hạng, nên hắn có một trí thông minh đủ sức nghĩ ra các mưu mô khủng khiếp.
Giống như các thằng hà tiện khác, y ghen dữ dội.
Khi y ngờ có một mối tình bất chính, y quyết định phục thù và lập một kế hoạch cực kỳ quỷ quyệt.
Hãy đi theo tôi !
Holmes đưa chúng tôi vào hành lang. Anh đi quen thuộc như người trong nhà rồi ngừng trước chiếc cửa mở toang của căn phòng kiên cố.
- Trời ơi ? Mùi sơn khó chịu quá ? - Viên thanh tra nói lớn.
- Ông vừa gặp cái nút đầu tiên - Holmes nói - ông có thể cám ơn bác sĩ Watson là người đã để ý đến cái mùi này. Tại sao trong lúc gia đình rồi ren mà hắn lại cho tỏa cái mùi nồng nặc này? Dĩ nhiên là để khỏa lấp một mùi khác, mùi tội lỗi, một mùi gợi sự ngờ vực. Rồi tôi suy nghĩ về căn phòng này. Một căn phòng không ai khác vào được.
Tôi chỉ giải đáp sau khi thân hành khám nghiệm căn phòng. Sở dĩ tôi cho rằng vụ này rất nghiêm trọng vì tôi đã hỏi thăm rạp hát Haymarket và biết chắc chắn số 30 và 32 của dãy B thượng hạng không có ai ngồi đêm đó cả.
Như vậy Amberley đâu có đi xem hát. Y đã ngu dại lộ cho bạn Watson biết số ghế của vé còn lại. Vấn đề là làm sao chui vào nhà của y. Tôi đã sai một nhân viên khác đi thám hiểm. Tôi đã nhờ bác sĩ Watson dẫn ông ta đi xa qua đêm. Tên của ông linh mục chánh xứ thì chỉ lục trong danh mục nhà thờ. Rõ ràng, minh bạch chưa nào?
- Tuyệt vời!
- Viên thanh tra nói.
- Không ngại gì nữa, tôi “phá cửa!mà vào nhà. Tôi khoái cái màn đào ngạch lắm, nhưng thỉnh thoảng mới làm một lần. Hãy quan sát những gì tôi phát hiện được.
Ông thấy cái ống dẫn khí đốt chạy dọc theo nẹp gỗ, ống này chạy vào phòng, đến cái hoa hồng giữa trần nhà. Bất cứ lúc nào, mở khóa thì phòng bị ngập khí đốt vì đầu ống trên trần không đậy nắp. Cửa lớn, cửa nhỏ mà đóng kín lại thì chỉ cần hai phút là đủ giết bất cứ ai ở trong phòng này. Do quỷ kế nào mà đôi tình nhân bị dụ vào đó thì tôi không rõ.
Viên thanh tra lò dò khám nghiệm ống ga một cách thích thú.
- Một nhân viên của chúng tôi có ghi nhận mùi ga - ông ta nói.
- Nhưng lúc ấy cửa đã mở toang và việc quét sơn đã bắt đầu rồi. Theo y thì công việc bắt đầu từ hôm trước. Còn gì nữa, ông Holmes - Có một sự kiện bất ngờ. Rạng sáng, tôi chui cửa sổ nhà bếp ra thì bị một người chặn lại hỏi: - Này, anh chàng kia, anh tới đây làm gì?
Khi quay lại, tôi nhận ra đôi kính râm của Bây-cơ, người bạn đồng nghiệp của tôi.
Chúng tôi cười sặc sụa.
Tôi nghĩ rằng ông ta được gia đình bác sĩ Ray thuê và trong lúc dò la đã đi đến kết luận y hệt. Ông ta canh ngôi nhà này đã mấy ngày, lầm tưởng bác sĩ Watson là tòng phạm. Nghi ngờ, nhưng không có cớ để hỏi han; còn gặp tôi nhảy cửa sổ thì thộp ngay. Tôi thông báo các phát hiện của tôi và hai chúng tôi hợp tác để sớm hoàn tất nội vụ.
- Tại sao không hợp tác với chúng tôi?
- Tại vì tôi muốn làm cái thí nghiệm nhỏ nhoi. Quý vị đâu chịu đi “ngoài lề” như tôi!
Viên thanh tra cười mỉm.
- Chúng tôi đâu dám từ chối ông. Chúng tôi xin tất cả các kết quả. Và xin cám ơn ông nhiều.
- Ðương nhiên?
Thói quen của tôi mà?
- Thưa ông Holmes, nội vụ cho ông trình bày là sáng tỏ rồi, chỉ còn phải tìm cho ra các xác chết.
- Tôi sẽ chỉ cho ông một chút bằng chứng - Holmes nói tiếp - Tôi chắc chắn rằng cả lão Amberley cũng chưa thấy ông thanh tra à, ông sẽ thu lượm được kết quả nếu ông “suy bụng ta, ra bụng người“ông sẽ làm gì nếu ông lọt vào tình huống tương tự như cặp nạn nhân kia? Ông chỉ còn hai phút để sống và để phục hận cái người đang chế nhạo ông ở ngoài cửa? ông sẽ làm gì?
- Viết một mẩu tin nhỏ.
- Ðúng. Ông muốn rằng công chúng hay biết ông đã bị chết, ông hãy để ý những gì đã được viết trên tường.
Nhìn kìa!
“Chúng tôi đã...”. Chỉ bấy nhiêu thôi!
- Ông nghĩ gì về lời ghi này.
- Anh chàng đã nằm sóng soài, cách sàn nhà 30cm thoi thóp khi viết. Chưa hoàn tất thì đã tắt hơi!
- Y muốn viết: “Chúng tôi đã bị ám sát”.
- Tôi cũng hiểu như ông. Nếu mình tìm ra một cây viết chì đỏ ở các xác chết thì chúng ta càng rõ hơn.
- ồ, chúng tôi sẽ lục lạo cho tới kỳ cùng. Còn các chứng khoán? Ðâu có bị mất cắp. Nhưng ông ta có chứng khoán đấy! Chúng tôi kiểm tra rồi.
- Tôi đoán chắn với ông, y giấu chúng nơi an toàn rồi. Khi mọi sự rơi vào quên lãng, y sẽ đột ngột tìm ra và nói láo rằng đôi gian phu dâm phụ vì ăn năn đã gửi trả.
- ông có lời giải đáp cho mọi thắc mắc - Viên thanh tra nói - Ðương nhiên y sẽ khai báo với chúng tôi. Nhưng, tôi thắc mắc tại sao y lại nhờ đến ông?
- Vì tự kiêu vụn vặt- Holmes đáp - Y tự cho là mình khôn ngoan, không ai vượt được trí y. Y có thể khoác lác với hàng xóm rằng, y đã ra tới cảnh sát thám tử tư đủ cả.
Viên thanh tra cười to tiếng.
- Quả thật ông là một kỳ tài!
Hai hôm sau, Holmes đưa cho tôi tờ báo North Surrey Observer (Người quan sát vùng Surrey). Những tít nóng bỏng, khởi đầu là “Sự kinh hoàng tại biệt thự “Cảng êm ấm” và kết thúc bằng “Một thành công rực rỡ của cảnh sát”. Một cột dài chữ lí nhí kể lại các sự kiện theo thứ tự thời gian. Và đoạn chót: “Sự bén nhạy tuyệt vời giúp thanh tra phân biệt mùi nước sơn với một mùi khác, mùi khí thắp chẳng hạn. Sự bạo dạn suy đoán rằng cái phòng kiên cố cũng có thể là phòng tử thần. Cuộc điều tra sau đó đưa tới việc tìm ra xác chết trong một cái giếng bỏ hoang được che lấp dưới một cái nhà kho. Tất cả các điểm đó giúp minh họa trí thông minh tuyệt vời của các thám tử chuyên nghiệp”.
Cuộc đời như những cơn mưa
Đăng nhập để trả lời
0
MỘT TRUNG VỆ BỊ MẤT TÍCH
(lukhach chỉnh chính tả)

“Xin vui lòng chờ tôi. Bất hạnh kinh khủng. Mất trung vệ cánh phải. Cần thiết cho ngày mai. ô-vơ - Bưu ấn từ Strand. Giờ gửi: 10 giờ 36 phút”
Holmes nói, sau khi đã đọc bức điện tin.
- Thần kinh ông ô-vơ bị căng thẳng lắm nên mới viết văn bản rời rạc như vậy. Mấy ngày nay nhàn rỗi quá, bất cứ một vấn đề nhỏ nào cũng sẽ được hoan nghênh.
Ðó là một người trẻ tuổi, to con, mạnh khỏe với cả tạ xương và cơ bắp, hai bờ vai của ông đụng sát hai bên khung cửa ra vào. ông lần lượt nhìn chung tôi với một vẻ lo âu:
- Thưa, ông là Sherlock Holmes?
Holmes chào người khách.
- Tôi vừa từ Scotland Yard ra. Ông thanh tra Hốp- kin khuyên tối tới gặp ông. Ông ấy nói rằng việc này thích hợp với ông hơn.
- Ông hãy ngồi xuống.
Và cho tôi biết đó là chuyện gì.
- Tô-tân... Chắc chắn là ông đã có nghe nhắc đến anh ta? Anh ta là cái bản lề của toàn đội. Khi anh tả chuyền bóng, dù anh ta móc bóng, dù anh ta dắt bóng, không một ai có thể cản được. Vả chăng, anh ta còn có đầu óc. Bên cạnh anh, chúng tôi đều là những đứa trẻ. Tôi phải làm sao đây? Nếu ông không giúp tôi tìm cho ra Tô-tân thì chúng tôi chắc chắn bị thua.
Khi người thanh niên dứt lời, Holmes duỗi tay, lấy bộ sưu tập ra, nhưng anh không tìm thấy tên Tô-tân. Tới lượt người khách của chúng tôi tỏ vẻ ngạc nhiên.
- Coi nào, thưa ông Holmes, tôi cứ tưởng là ông đã biết anh ta chứ. Nếu ông chưa từng nghe nhắc tới Tô-tân thì ông cũng chẳng biết ai là ô-vơ. Với tâm trạng vui vẻ, Holmes ra dấu là anh cũng không biết.
- Kinh khủng thật - Nhà lực sĩ gầm lên - Tôi là người chỉ huy đội bóng nhà trường. Tôi chẳng là cái thá gì cả. Nhưng tôi không thể ngờ được là tại nước Anh lại có người không biết đến Tô-tân, nhà vô địch trong các trung vệ, tay cừ của Cambridge, của Blackheath, 5 lần đoạt giải quốc tế. Nhưng thưa ông Holmes, ông đã sống ở đâu vậy?
Holmes phá ra cười trước vẻ ngạc nhiên ngây thực của chàng trai khổng lồ trẻ tuổi.
- Chúng tôi không cùng sống trong một vũ trụ, thưa ông ô-vơ. Ông sống trong một thế giới lành mạnh hơn, thú vị hơn tôi. Nhưng mà này ông bạn tốt bụng, hãy ngồi xuống và nói một cách từ tốn về chuyện gì đã xảy ra.
ô-vơ để lộ sự bối rối của một người quen sử dụng những cơ bắp hơn là trí tuệ. Giữa vô số những câu nói lặp đi lặp lại, anh đã trình bày chi tiết câu chuyện kỳ lạ như sau:
- Tôi là người điều khiển đội bóng bầu dục của đại học Cambridge và Tô-tân là cột trụ của đội. Ngày mai chúng tôi sẽ đấu với đội của đại học Oxford. Hôm qua chúng tôi đến Luân Ðôn và ở một khách sạn. Lúc mười giờ, tôi đảo qua một vòng các phòng để xem các bạn đồng đội đã đi ngủ chưa. Tôi trao đổi vài câu nói với Tô-tân trước khi anh lên giường. Tôi thấy anh xanh xao, có vẻ lo lắng. Tôi hỏi anh vì sao. Anh trả lời là anh rất khỏe, chỉ hơi nhức đầu thôi. Nửa tiếng đồng hồ sau, người gác cửa tới cho tôi hay là có một người có râu, đem một lá thư tới cho Tô-tân. Vì Tô-tân chưa ngủ, người gác cổng đã cầm thư đó lên trao tận tay anh. Ðọc xong, anh ta xỉu xuống cái ghế dựa, tựa hồ như anh đã bị quất một dùi cui. Người gác cổng kinh hoàng, muốn đi tìm tôi nhưng Tô-tân đã ngăn lại, anh đã uống một cốc nước lớn, mặc quần áo rồi đi xuống, nói vài lời với người đợi dưới gian tiền sảnh, rồi cả hai ra đi. Sáng nay, căn phòng của Tô-tân trong tuềnh, chăn nệm vẫn còn y nguyên, đồ đạc cũng vẫn nguyên. Tôi có cảm tưởng rằng chúng tôi sẽ không bao giờ còn gặp lại anh nữa ?
- Anh đã làm những gì?
- Holmes hỏi.
- Tôi điện về Cambridge để xem coi có tin tức gì về anh không. Cambridge điện trả lời là “Không một ai trông thấy anh ta cả”. - Liệu anh ta có thể trở về Cambridge được không.
- Có một chuyến tàu chót vào hồi 11 giờ 15. Nhưng, theo tin tức của anh, thì anh ta không đáp chuyến tàu đó?
- Vâng, không ai thấy anh ấy ở Cambnridge cả.
- Thế rồi sau đó anh làm gì?
Tôi đánh điện cho huân tước Giậm.
- Tại sao lại gửi cho huân tước. Tô-tân là trẻ mồ côi, và huân tước Giậm là bác ruột của anh.
Ðiều đó soi sáng nội vụ một cách đặc biệt. Huân tước Giậm là một trong những người Anh giàu có nhất.
Tô-tân đã nói với tôi như vậy.
- Và bạn anh là người thừa kế di sản của ông Giậm.
- Vâng, ông già đã tám mươi tuổi, và lại mắc bệnh nữa. Ông chưa bao giờ cho Tô-tân một xu. Ðó là một người cực kỳ hà tiện, nhưng rồi tất cả gia tài sẽ về tay anh ấy một ngày gần đây thôi.
- Anh có nhận thư trả lời của huân tước không?
- Không.
- Tại sao bạn anh lại đi tới nhà huân tước?
- Tối hôm qua, có một cái gì đó làm cho anh ấy lo lắng. Nếu đó là một vấn đề tiền bạc, có thể anh đã đi tới nhà ông ấy.
- Ðược. Tôi sẽ chăm lo vụ này. Tôi không biết nói gì hơn là khuyên anh nên chuẩn bị cho cuộc thi đấu mà đừng có trông mong gì vào chàng trai đó nữa. Chắc chắn phải có một việc gì cực kỳ quan trọng mới khiến anh ta bỏ đi như vậy. Có thể điều quan trọng đó đã giữ anh ta lại. Chúng ta hãy tới khách sạn và nói chuyện với người gác cổng.
Holmes mau chóng làm thân với người gác khách sạn vả thu được nhiều tin tức:
- Người đem tin ăn mặc không hẳn đàng hoàng mà cũng không hẳn là một người thợ. Ông ta thuộc loại “trung gian” . Một người trạc năm mươi tuổi, có bộ mặt xanh xao, tóc hoa râm. Bàn tay ông ta run lên khi ông lấy lá thư ra. Tô-tân đã nhét lá thư vào túi, không bắt tay người đó. Họ đã nói chuyện rất ngắn, rồi cả hai vội vàng bỏ đi. Lúc đó là 10 giờ rưỡi.
- Anh là người gác cổng ban ngày, phải thế không?
- Vâng.
Tôi hết phiên vào lúc mười một giờ.
- Có lẽ người gác cổng ban đêm đã không thấy gì.
- Vâng.
Một toán người đi xem hát về muộn. Không có ai khác.
- Hôm qua, anh gác suốt ngày?
- Vâng.
- Anh đã được tin nhắn gửi cho ông Tô-tân.
- Có. Một bức điện.
- Lúc mấy giờ?
- Khoảng 6 giờ.
- Lúc đó ông Tô-tân ở đâu?
- Tại đây.
- Anh có mặt ở đây khi ông ấy đọc bức điện?
- Vâng. Tôi chờ đợi để xem có trả lời không.
- Thế là có điện trả lời phải không?
- Vâng.
Ông ấy đã viết một bức điện trả lời.
- Anh có cầm lấy bức điện đó không?
- Không.
Chính ông ấy mang đi.
- Nhưng ông ấy đã viết trong lúc anh có mặt ở đây?
- Vâng. Khi ông ấy viết xong ông bảo tôi: “Tốt lắm, anh bạn? Tôi sẽ đích thân lo liệu việc này”.
- Ông ấy viết bằng gì?
- Ngòi bút.
- Ông ấy đã dùng một trong những tờ giấy in sẵn để trên bàn này à?
- Vâng.
Viết trên tờ giấy thứ nhất.
Holmes đứng lên, cầm lấy mẫu in sẵn, đem tới bên cửa sổ và quan sát kỹ lưỡng tờ bên trên.
- Ðáng tiếc là anh ấy không viết băng bút chì. Bút chì thường để lại bên dưới một dấu. Tuy nhiên, tôi vui mừng là anh ta đã viết bằng một cây bút có ngòi lớn, mực nhiều và có thể còn vết tích trên tờ giấy thấm... Ðây rồi?
Anh giật lấy một tờ giấy thấm trên có những nét chữ ngược.
ô-vơ tỏ ra sôi động, kêu lên:
- Hãy đặt ngược nó trước tấm gương.
- Không cần - Holmes nói - Tờ giấy thấm này mỏng, cứ nhìn vào mặt sau là chúng ta có thể đọc được.
Anh lật ngược tờ giấy thấm lại và chúng tôi đọc:
“Ðừng bỏ rơi chúng tôi, vì lòng kính Chúa!”.
- Ðó là cái đoạn chót của bức điện tín mà Tô-tân đã gửi vài tiếng đồng hồ trước khi anh ta biến mất. Ít ra cũng có sáu từ chúng ta đã không đọc được, nhưng mấy chữ còn lại: “Ðừng bỏ rơi chúng tôi, vì lòng kính Chúa” chứng tỏ rằng chàng trai này đã thấy một mối nguy hiểm kinh khủng đang tới gần, và một ai đó có thể che chở được anh. Danh từ “chúng tôi” cho thấy có một người khác nữa bị dính líu vào.
- Cần phải tìm hiểu xem bức điện đã được gửi cho ai. Tôi nói.
- Ðúng vậy. Nhưng nếu anh vào một nhà bưu điện để yêu cầu được đọc cái cuống của sổ biên nhận thì các nhân viên sẽ tỏ ra ít sẵn lòng làm vừa lòng anh. Trước sự hiện diện của ông, ông ô-vơ, tôi muốn được coi qua những giấy tờ mà Tô-tân đã để lại trên bàn.
Holmes kiểm tra cẩn thận các thư từ, biên lai và cuốn sổ tay.
- Không có gì trong này cả. Nhân đây, tôi thấy là bạn ông có một sức khỏe thật tốt đấy chứ? Anh ta không có những trở ngại vụn vặt về sức khỏe chứ?
- Anh ấy vững như bàn thạch?
- Ông có thấy anh ấy bị đau ốm bao giờ không?
- Không một ngày nào?
- Có thể là anh ấy không được khỏe như ông nghĩ.
- Tôi thiên về việc tin rằng anh ấy có những sự buồn phiền bí mật.
- Nếu được ông cho phép, tôi sẽ đem theo hai hoặc ba tờ giấy, để đi điều tra tiếp.
- Xin chờ một chút - Một giọng ảo não kêu lên.
Chúng tôi quay lại và thấy một ông già nhỏ bé trên ngưỡng cửa. Ông ăn vận đồ đen màu gỉ sắt, đội một cái mũ cao, thành có vành rộng, trang điểm một cái cà-vạt trắng, thắt vụng về.
- Ông là ai mà lại đụng tới giấy tờ của người vắng mặt.
- Tôi là một thám tử tư và tôi thử tìm cách giải thích sự biến mất của ông Tô-tân.
- Ai thuê ông làm việc đó?
- Ông này đây, bạn của Tô-tân.
- Ông là ai?
- Tôi là ô-vơ, người dìu dắt đội bóng.
- Vậy ra ông là người đã gửi điện cho tôi đây. Tôi là huân tước Giậm. Như vậy là ông đã nhờ tới một thám tử?
- Vâng.
- Mà ông sẵn lòng chi trả các phí tổn.
- Anh Tô-tân sẽ chi trả, khi chúng tôi tìm ra anh ấy.
- Nhưng nếu người ta không tìm ra nó, thì ai trả tiền.
- Trong trường hợp đó, chắc chắn rằng gia đình Tô- tân sẽ...
- Ðừng trông mong gì - ông già hét lên.
- Ðừng trông mong ở tôi, dù chi một xu! Một xu, ông nghe chứ? Thưa ông thám tử. Về phần nhưng giấy tờ mà ông đang tự ý cầm trong tay đó, ông phải tường trình cho tôi biết một cách nghiêm túc?
- Ðược lắm - Sherlock Holmes nói.
- Trong lúc chờ đợi, tôi xin mạn phép hói xem ông có ý nghĩ nào về sự mất tích của cháu ông?
- Tôi chẳng có một ý nghĩ nào hết. Anh ta đã trưởng thành, vậy anh ta hãy tự chăm sóc lấy mình và nếu anh ta đi lạc như một đứa trẻ, thì tôi không chịu tốn tiền để tìm kiếm anh ta.
- Tôi hiểu quan điểm của ông - Holmes trả lời với một ánh mắt tinh nghịch.
- Nhưng có thể ông lại chưa hiểu quan điểm của tôi. Tô-tân là một người nghèo. Nếu như anh ta bị bắt cóc, thì chắc chắn đó không phải là người muốn cướp một món của cải nào của anh. Nhưng danh tiếng của ông thì lừng lẫy khắp toàn cầu, thưa huân tước, rất có thể một toán trộm cướp đã bắt cóc cháu ông với hy vọng sẽ khai thác được những tin tức về ngồi nhà của ông, những thói quen của ông, những của cải cua ông.
Gương mặt người khách trở nên trắng bệch.
- Chúa ơi, chưa bao giờ tôi nghĩ đến điều đó.
Nhưng Tô-tân là một chàng trai dũng cảm, sẽ không bao giờ phản bội người bác ruột của mình. Ngay chiều nay, tôi sẽ đem các đồ bằng bạc gửi vào ngân hàng.
Trong lúc chờ đợi. Thưa ông thám tử, ông hãy xem xét kỹ từng hòn đá. Còn về tiền bạc... Coi nào, cho tới con số là 5 bảng, chúng ta cứ nói là 10 bảng đi, ông có thể tin cậy nơi tôi!
Ngay khi đã dịu đi, ông già keo kiệt cũng không thể cho chúng tôi một tin tức gì, bởi lẽ ông ta biết rất ít về đời sống của người cháu ông. Vậy thì hướng điều tra duy nhất nằm trong cái mẫu điện tín này. Holmes chép lại nội dung bức điện, chúng tôi bắt tay ông già ô-vơ bỏ đi, để tham khảo ý kiến các bạn đồng đội về cách ra quân của đội bóng.
Holmes và tôi đi đến bưu cục gần nhất. Ðến trước cổng, chúng tôi dừng lại, anh nói:
- Với một trát tòa thì chúng ta có thể đòi hỏi được xem cái cuống điện báo, nhưng chúng lại không phải là cảnh sát chính thức. Tuy vậy chúng ta cứ thử xem.
- Tôi rất tiếc phải làm phiền bà - Anh nói một cách lễ độ với một thiếu phụ ngồi sau ghi-sê.
- Nhưng hẳn phải có một sự sai lầm về bức điên tín mà tôi đã gửi đi ngáy hôm qua. Tôi đã không nhận được điện trả lời, và tôi e là mình đã quên ghi tên ở cuối bức điện. Bà có thể nào kiểm tra lại giùm được chăng?
Người thiếu phụ lật cuốn sổ ra xem.
- Ông đã gửi đi hồi mấy giờ?
- Sau sáu giờ một chút.
- Bức điện gửi cho ai?
Holmes đặt một ngón tay lên môi và thì thầm với giọng tâm sự.
- Những chữ chót là “Vì lòng kính Chúa”.
Người đàn bà gỡ ra một cái cuống điện báo.
- Nó đây ông đã không đề tên ông- Bà ta nói khi bày bức điện ra trên quầy.
- Chính vì thế mà tôi không nhận được hồi âm- Holmes reo lên - ô, tôi mới thật dại dột làm sao. Xin trả bà, và xin cám ơn bà nhiều.
Anh phát ra một tiếng cười nhỏ trong cuống họng và xoa hai bàn tay vào nhau ngay khi chúng tôi ra tới phố.
Tôi hỏi:
- Thế nào?
- Tốt. Tôi đã hình dung ra bảy mánh khóe để có thể liếc nhìn qua bức điện đó, thành công ngay trong mánh khóe đầu tiên.
- Anh đã thấy gì?
- Ði ra ga công trường King- Anh kêu lên với người xà ích mà anh đã gọi xe.
- Chúng ta đi du lịch à?
- Phải, chúng ta phải đi tới Cambridge. Anh hẳn đã thấy sự mất tích này xảy ra trước một trận đấu quan trọng, và rằng người cầu thủ đó lại là cột trụ của đội bóng.
Có thể đó chỉ là một sự trùng hợp, nhưng nó thật đáng quan tâm. Thể thao tài tử không có những vụ đánh cá lớn, nhưng tổng số tiền đánh cá rải rác trong quần chúng cũng không nhỏ, và rất có thể là một ai đó có lợi khi bắt cóc một cầu thủ trong vài ngày, như một tên cướp cá ngựa đã bắt cóc những con ngựa nòi. Ðó là một lối giải thích.
Một lối thứ hai cũng có thể chấp nhận vì chàng trai đó là người thừa kế một tài sản lớn.
- Những giả thiết đó không tính đến bức điện tín!
- Rất đúng. Chính vì muốn tìm hiểu một điều gì đó về bức điện tín mà chúng ta mới đi Cambridge.
Khi chúng tôi mới tới nơi thì trời đã sẩm tối. Holmes thuê xe ngựa ở nhà ga và đưa ra địa chỉ của bác sĩ Lê-li.
Vài phút sau cỗ xe dừng lại trước một ngôi nhà lớn trên đường phố chính. Chúng tôi bước vào, và sau một hồi chờ đợi khá lâu, chúng tôi gặp một bác sĩ ngồi đằng sau cái bàn trong phòng mạch: bác sĩ Lê-li.
Ông cầm tấm danh thiếp của Holmes và nhìn chúng tôi với một dáng vẻ kém nhã nhặn.
- Tôi có biết danh ông, thưa ông Sherlock Holmes, và tôi biết ông làm nghề gì: một trong những nghề mà tôi chê bai.
- Sự đánh giá đó được chia sẻ bởi những kẻ phạm tội - Holmes trả lời một cách bình thản.
- Cái chỗ mà ông dễ bị chỉ trích đó là việc ông lục lọi vào trong những bí mật của các cá nhân, đào bới những việc riêng tư của người khác và làm mất thời giờ của những người còn bận rộn hơn ông nữa. Chẳng hạn như vào lúc này đây, tôi đang soạn thảo một bản chuyên luận thay vì ngồi nói chuyện với ông.
- Tất nhiên rồi. Nhưng cuộc nói chuyện này có thể còn quan trọng hơn bản chuyên luận của ông. Tuy vậy, tôi có thể nói với ông rằng chúng tôi cố gắng để tránh đưa ra công luận những việc riêng tư... Tôi tới đây để nói với ông về ông Tô-tân.
- Về việc gì?
- Ông biết ông ấy mà.
- Ðó là một người bạn thân của tôi.
- Anh ta đã bị mất tích.
- A, vậy sao...?
Gương mặt ông bác sĩ vẫn bình thản.
- Ðêm vừa qua, anh ấy rời khách sạn.
Từ đó. bặt vô âm tín.
- Ngày mai là cuộc đấu lớn giữa hai đội Oxford - Cambridge. Tôi không có thiện cảm với những trò trẻ con đó. Nhưng số phận của chàng trai thì khiến tôi quan tâm một cách sâu xa.
- Vậy thì tôi xin ông dành mối thiện cảm cho cuộc điều tra về số phận của ông Tô-tân.
Ông biết anh ấy ở đâu không?
- Không.
- Hôm qua, ông không gặp anh ta.
- Không.
- Ông Tô-tân có được mạnh khỏe không?
- Sức khỏe toàn hảo.
- Ông chưa bao giờ thấy anh ấy bị đau ốm sao?
- Chưa bao giờ.
Holmes đặt một tờ giấy trước mặt bác sĩ:
- Vậy thì ông giải thích như thế nào về tờ biên nhận mười ba đồng ghi-nê do Tô-tân trả cho bác sĩ Lê-li trong tháng trước. Tôi đã thấy tờ giấy này trong số những tờ giấy khác của anh ta.
Ông bác sĩ đỏ mặt tía tai.
- Tôi không cần giải thích với ông, thưa ông Holmes.
Holmes nhét tờ biên nhận vào trong ví.
- Chẳng lẽ ông thích giải thích trước công chúng. Tôi đã thưa với ông rằng tôi sẽ giữ im lặng. Người ta sẽ khôn ngoan biết bao khi thổ lộ riêng với tôi.
- Tôi không biết gì cả.
- Ông có nhận được tin gì của Tô-tân từ Luân Ðôn không?
- Không!
- A. Nhà bưu điện này kỳ cục thật - Holmes thở dài - Một bức điện khẩn đã do Tô-tân đánh đi từ Luân Ðôn vào hồi 6 giờ 15 chiều hôm qua... Một bức điện có liên quan tới sự mất tích của anh ta. Ấy thế mà người nhận lại không nhận được. Tôi sẽ tới bưu điện làm đơn khiếu nại.
Bác sĩ Lê-li nhảy cẫng lên. Mặt ông chuyển sang màu đỏ sẫm.
- Tôi ra lệnh cho ông ra khỏi nhà tôi - ông ta kêu lên - ông có thể nói với ông chủ của ông, huân tước Giậm rằng tôi không có việc gì cần giải quyết với ông ta cả, cũng như với những nhân viên của ông ta.
Ông nhấn chuông một cách giận dữ.
- John, hãy đưa hai ông này về .
Một người quản gia oai vệ đẩy chúng tôi ra cửa. Ra tới ngoài đường, Holmes phá ra cười:
- Anh Watson, thế là chúng mình bị thất bại ở hiệp thứ nhất. Ta đấu tiếp nhé. Cái lữ quán nhỏ kia, ngay trước mặt căn nhà của Lê-li rất thích hợp với các nhu cầu của chúng ta. Anh chịu phiền tới đó hỏi thuê một phòng trọ ở mé trước, tôi đi lo vài việc lặt vặt.
Holmes trở về lữ quán trước chín giờ tối. Anh mệt mỏi, ủ rũ, bụi bậm bám đầy người. Một bừa ăn nhẹ được dọn trên bàn. Sau khi ăn xong, anh mồi tẩu thuốc nhưng lúc đó tiếng động của một cỗ xe khiến anh đứng lên và ngó ra ngoài khung cửa sổ. Một cỗ xe và một cặp ngựa lông xám đang đứng bất động trước cửa nhà bác sĩ.
- Cỗ xe này đã ra đi vào lúc 6 giờ rưỡi, bây giờ đã hơn 9 giờ. Sau 3 tiếng đồng hồ đi và về. Vậy nơi ông ta đến cách đây 15 hoặc 18 cây số. Và ông ta đi như vậy mỗi ngày một lần, có khi tới hai lần.
- Ðiều đó chẳng có gì đáng ngạc nhiên đối với một y sĩ có đông thân chủ.
- Nhưng Lê-li không có thân chủ. Ðó là một diễn giả, một thầy thuốc tham vấn, ông ta ít chịu trị bệnh, cốt để không bị phân tâm trong lúc viết sách. Tại sao ông ta lại ra đi như thế. Ði để gặp ai?
- Gã xà ích của ông.
- Tôi có ngỏ lời với hắn, nhưng gã mất dạy đó đã thả chó ra. May mắn là không có con chó nào chịu nổi cây can của tôi. Nhưng một người địa phương đã cho tôi biết những thói quen và chuyến đi hàng ngày của ông ta.
Giữa lúc chúng tôi đang nói chuyện thì cỗ xe lại ra đi.
- Anh không thể theo dõi chiếc xe à?
- Hoan hô, anh thật là chói lọi. Hồi chiều tôi đã làm như anh vừa nói: tôi tới tiệm bán xe đạp, thuê một chiếc theo sau xe, cách khoảng chừng một trăm thước cho tới khi chúng tôi rời xa thành phố. Khi đi vào con đường lớn thì cỗ xe dừng lại. Tôi cũng dừng lại, ông bác sĩ xuống xe và đi nhanh tới tôi. Ông ta nói rằng con đường chật hẹp quá và mong muốn cỗ xe của ông không làm cản trở cho việc đạp xe của tôi. Ngay đó tôi vượt qua xe ngựa, tôi đạp trong nhiều cây số rồi dừng lại ở một nơi thích hợp để chờ xem cỗ xe có đến không. Xe không đi qua chỗ đó, nó đã rẽ sang một trong những con đường phụ. Tôi chạy ngược lại, nhưng không thấy cỗ xe. Nhưng vì ông ta đã nói rằng ông ta nhất quyết không cho một ai theo dõi ông, nên việc này là quan trọng và tôi quyết lôi nó ra ánh sáng.
Ngày mai chúng ta sẽ theo dõi ông ta.
Tôi đã gửi điện cho ô-vơ, nhờ anh ta cho biết là ở đây có phương tiện nào kín đáo để đi theo dõi không. Trong lúc chờ đợi, chúng ta phải theo dõi bác sĩ Lê-li: ông ta biết chàng trai đó ở đâu, tên ông có trên cái quang điện báo.
Ngày hôm sau, vào giờ ăn điểm tâm, người ta đem đến cho chúng tôi một lá thư:
“Thưa ông, ông chi phí thì giờ khi theo dõi tôi. Tôi có một tấm hình gắn sau cỗ xe ngựa. Nếu ông muốn đi trong 30 cây số mà cuối cùng nó sẽ dẫn ông về điểm khởi hành, thì ông cứ việc bám theo tôi. Ngoài ra, tôi báo cho ông biết rằng không phải cứ tò mò theo tôi mà ông sẽ tìm thấy ông Tô- tân. Trái lại, ông hãy trở về Luân Ðôn mà tìm, đồng thời báo cho ông chủ của ông biết rằng ông đã không thành công tại nơi này. Chắc chắn là tại đây, ông chỉ phí thì giờ mà thôi. Người tận tâm với ông.
Bác sĩ Lê-li.”
- Một đối thủ trung thực, thẳng thắn, ông ta kích thích óc tò mò của tôi và tôi muốn làm quen với ông ta - Holmes nói.
- Cỗ xe của ông ta giờ đây đang đứng trước cửa, ông ta đang lao xe vào kìa, Tôi thấy ông liếc nhìn về khuôn cửa sổ của chúng ta. Anh có muốn tôi thử cầu may với cái xe đạp không? - Tôi nói.
- Anh Watson, tôi không tin là anh ngang tầm với ông ấy, Tôi hy vọng từ giờ tới tối, tôi sẽ thuật lại với anh một vài tin tức. Thêm một lần nữa, bạn tôi lại trở về, đầy chán nản.
- Tôi đã theo cái hướng mà ông đã đi cả ngày hôm nay, tôi đi thăm từng thôn xóm nhỏ ở bên phía Cambridge, tôi đã tán gẫu với các chủ quán và các bà nội trợ. Tôi đã thám hiểm mà không thành công. Trong cái vương quốc của những người uể oải này, chẳng ai buồn để ý đến sự xuất hiện của một cỗ xe do hai con ngựa kéo.
- Ông bác sĩ lại ghi thêm một điểm nữa.
- Một bức điện cho tôi à!
- Phải:
“Hãy hỏi Pom-pê của ông Di-xơn. Trinity Col1ege”. Tôi chẳng hiểu gì hết. - ồ, nó khá rõ mà! ông bạn ô-vơ trả lời cho tôi thấy.
- Tôi sẽ viết ít hàng gửi ông Di-xơn và cơ may của chúng ta có cơ xoay chiều.
Nhân đây, đã có kết quả trận đấu bóng chưa?
- Rồi, Oxford đã thắng một bàn. Những câu chót viết: “Sự thất bại của một đội mặc đồ xanh là do thiếu cầu thủ Tô-tân”.
- A. Những dự đoán của anh bạn ô-vơ đã thành sự thực. Chúng ta hãy đi ngủ sớm, bởi vì ngày mai sẽ có những biến chuyển lớn.
Lúc thức giấc, tôi thấy Holmes đang ngồi bên ngọn lửa.
- Tôi vừa làm một cuộc dạo chơi nho nhỏ và tất cả đều thuận lợi. Anh hãy ăn một bữa điểm tâm cho chắc bụng, bởi vì chúng ta sẽ không ăn khi theo tới tận các hang của ông ta.
- Vậy, ta mang theo bữa điểm tâm, bởi vì cỗ xe đã đậu trước cửa nhà ông ta rồi kìa.
- Không sao. Cứ để cho ông ấy đi. Khi anh đã ăn xong, tôi sẽ giới thiệu anh với một nhà thám tử lỗi lạc.
Tôi gặp Holmes trong sân chuồng ngựa; anh ta mở cửa một cái chuồng chó và dắt ra một con chó béo lùn, có đôi tai thõng xuống, lông trắng và vàng. Holmes nói bạn Pom-pê là niềm kiêu hãnh của giống chó săn.
Anh dẫn nó tới cửa nhà ông bác sĩ. Con chó đánh hơi chung quanh nó một lúc, rồi với một tiếng lào thào bị kích động, nó chạy nhanh xuống đường phố, lao về phía trước. Trong gần nửa tiếng đồng hồ, chúng tôi đã rời khỏi thành phố và chúng tôi đã đi vội trên con đường nông thôn. Holmes nói:
- Sáng nay tôi đã đi dạo trong sân nhà bác sĩ và tôi đã dùng ống tiêm phun dầu hồi vào bánh sau cỗ xe. Một con chó săn tài giỏi sẽ đuổi theo một hướng có mùi dầu hồi cho tới tận chân trời góc biển. ồ, thằng cha ranh mãnh!
Ðây là lối mà hắn đã thoát đi vào tối hôm trước.
Bất chợt, con chó bỏ con đường lớn để lao vào trong một lối mòn có cỏ.
- Như vậy là con đường mòn này dành để bỏ rơi chúng ta. Bên tay phải chúng ta hẳn là làng Trumpington. à, kìa là cỗ xe ngựa đang đổ ra khúc quanh. Mau lên, Watson! Tới lúc quyết định rồi.
Anh lao vào trong một chỗ trống trong cánh đồng.
Kéo theo Pom-pê đang bực bội. Chúng tôi vừa kịp núp vào sau hàng giậu thì cỗ xe vượt qua. Trong xe có bác sĩ Lê-li, ông còng hẳn xuống, đầu gục trong hai bàn tay. Bộ mặt của Holmes cũng trở thành nghiêm trọng:
- Cuộc điều tra sẽ có một kết quả bi thảm. Nào ta đi, Pom-pê! Có một biệt thự trong cánh đồng.
Pom-pê buông ra những tiếng càu nhàu ở bên ngoài hàng rào sắt, nơi mà những dấu xe ngựa hãy còn thấy rõ.
Một lối đi dẫn vào trong biệt thự, Holmes cột con chó vào hàng rào, và chúng tôi vội vã bước vào Holmes gõ lên cánh cửa nhiều lần mà không có ai trả lời. ấy thế mà ngôi biệt thự không hoang vắng, bởi vì có một tiếng động bị nghẹt, vọng tới tai chúng tôi: một thứ tiếng rên rỉ tuyệt vọng, một thứ tiếng rầm rì buồn bã một cách kinh khủng.
Holmes dừng lại, ngó lại phía sau chúng tôi. Trên con đường mà chúng tôi vừa đi, một cỗ xe ngựa lại hiện ra.
Holmes reo lên.
- Ông bác sĩ lại trở lại, vậy là giải quyết xong tất cả một lần. Chúng ta buộc phải xem chuyện gì xảy ra nơi đây trước khi ông ta tới.
Anh mở cửa ra và chúng tôi bước vào trong gian tiền sảnh. Tiếng rì rầm nổi bật lên, nó từ trên cao vọng xuống. Holmes leo lên và tôi theo anh. Anh đẩy một cánh cửa hé mở. Chúng tôi đứng bất động, sửng sốt vì cảnh tượng hiện ra trước mắt: một phụ nữ, trẻ và đẹp, nằm dài trên giường, đã chết. Dưới chân giường, một chàng trai đang khóc nức nở. Anh ta chỉ ngẩng đầu lên khi Holmes đặt một bàn tay lên vai anh.
- Có phải ông là Tô-tân.
- Phải...
Nhưng quý ông đã đến muộn mất rồi. Cô ấy đã chết.
Kẻ bất hạnh bị bối rối đến nỗi đã lầm chúng tôi với những thầy thuốc được mời tới khám bệnh. Holmes chưa kịp nói vài lời an ủi thì tiếng bước chân trên cầu thang và cái bóng khắc khổ của bác sĩ Lê-li hiện ra nơi ngưỡng cửa.
Bác sĩ nói:
- Vậy là, quý ông đã tới đích. Trước mặt người chết, tôi xin thề là nếu như tôi còn trẻ, thì thái độ quái gở của quý ông chắn chắn sẽ bị trừng trị.
- Xin bác sĩ thứ lỗi. Tôi tin là có sự hiểu lầm! - Holmes nói, giọng trang nghiêm - Nếu bác sĩ vui lòng xuống dưới chúng ta sẽ hiểu lẫn nhau.
Chúng tôi ngồi trong phòng khách ở tầng trệt.
- Xin mời!
- ông bác sĩ nói.
- Tôi không phải là người làm công cho huân tước Giậm và trong vụ này, những thiện cảm của tôi không hề dành cho nhà quý tộc đó. Khi có một người bị biến mất, tôi có nhiệm vụ tìm hiểu số phận của anh ta ra sao. Tôi đã tìm thấy. Vậy là công việc của tôi đã xong. Nếu sự mất tích này không kéo theo những điều gì phạm pháp, thì ông có thể tin cậy ở sự kín tiếng của tôi.
Bác sĩ Lê-li tiến lên một bước và bắt tay Holmes:
- Ông là một người dũng cảm. Tôi đã hiểu lầm ông. ông đã biết nhiều: nhưng tôi cũng xin được nói thêm đôi câu: Cách đây một năm, Tô-tân tới sống ở Luân Ðôn và yêu say đắm cô gái con bà chủ nhà. Anh cưới cô ta. Cô ấy đẹp, thông minh và tốt bụng. Nhưng Tô-tân lại là kẻ thừa kế ông già quý phái kia, và tin báo về đám cưới chắc chắn sẽ làm tiêu tan tất cả “những hy vọng thừa kế của anh ta”. Tôi biết rõ chàng trai đó. Tôi yêu thương anh ta vì anh ta có nhiều phẩm chất lớn.
Chúng tôi đã cố che giấu đám cưới với mọi người. Nhờ ở ngôi biệt thự cách biệt này và cũng nhờ ở sứ kín tiếng riêng, Tô-tân đã thành công cho tới nay. Nhưng bất thình lình cô gái bị bệnh lao phổi ác tính. Chàng trai gần như điên lên vì buồn rầu. Anh ta buộc phải tới Luân Ðôn, nơi anh phải tham dự trận đấu. Việc rời bỏ hàng ngũ trong giờ quyết đấu sẽ làm lộ hết mọi chuyện.
Tôi đã trấn an anh ta bằng một bức điện, và anh ta đã trả lời bằng một bức điện, van nài tôi hãy làm hết sức mình. Ðó là bức điện mà dường như ông đã đọc bằng cách nào đó tôi không sao hiểu nổi. Tôi đã không hề nói rõ về căn bệnh của cô gái; nhưng tôi có viết thư nói rõ cho ông-già-vợ anh ta, và ông đó, quá đỗi vụng về, đã tìm cách báo tin cho Tô-tân biết. Kết quả là anh ta đã bỏ trận đấu, quay về đây trong một trạng thái gần như điên loạn. Từ khi về đây, anh ta luôn luôn ngồi ở chỗ đó, quỳ ở bên giường. Nhưng sáng nay, thần chết đã hoàn thành công việc. Ðó là tất cả, ông Holmes? Tôi tin chắc rằng tôi có thể hoàn toàn tin cậy vào sự kín tiếng của ông và của bạn ông.
Holmes siết chặt bàn tay bác sĩ, rồi nói:
Anh Watson, chúng ta đi thôi.
- Chúng tôi buồn bã rời khỏi ngôi nhà có đám tang.
Cuộc đời như những cơn mưa
Đăng nhập để trả lời
0
NGƯỜI ÐI BỐN CHÂN
(lukhach chỉnh chính tả)

Một chiều chủ nhật đầu tháng 9-1903. Holmes gởi cho tôi một bức điện ngắn ngủi: “Tới ngay, dầu không rảnh cũng phải đến”.
Sự hiện diện của tôi đã trở thành một trong các thói quen của Holmes, giống như cây vĩ cầm, thuốc lá nặng, cái tẩu cũ kỹ, các sách tham khảo...
Khi tới đường Baker, tôi thấy anh ngồi co ro trong ghế bành: hai đầu gối co lại, miệng ngậm cái tẩu, trán đầy rẫy vết nhăn. Chắc chắn anh đang rối trí về một bài toán hóc búa. Anh lấy tay đẩy ghế bành cho tôi.
- Anh Watson. Tôi đang nghĩ tới việc viết một chuyên khảo về công dụng của chó trong nghề thám tử.
- Ðề tài này đã được nghiên cứu nhiều rồi.
- Có lẽ anh còn nhớ trong một vụ án mà muốn làm tăng tính giật gân, anh đã đặt tên là “cây sồi đỏ”. Trong vụ ấy, ta chỉ cần quan sát kỹ tính khí của một đứa bé, mà suy đoán ra các thói quen gây tội ác của một người cha.
- Vâng, tôi còn nhớ khá rõ.
- Cái lý luận của tôi về chó cũng tương tự. Con chó là phản ánh của đời sống gia đình. Có bao giờ anh gặp một con chó đú đởn trong một gia đình sầu thảm, hoặc một con chó u sầu trong một gia đình hạnh phúc không. Người càu nhàu có chó càu nhàu, người nguy hiểm có chó nguy hiểm. Còn một con chó ngông thì có thể phản ánh một gia đình kỳ khôi.
- Hơi võ đoán đó?
- Tôi lắc đầu nói nhỏ.
Holmes nhét thuốc vào cái tẩu, không thèm để ý tới lời bình phẩm của tôi.
- Sự áp dụng những điều tôi vừa nói vào thực tế sẽ ăn khớp với cái vụ mà tôi đang điều tra. Tôi đang tìm một câu giải đáp “Tại sao Roy, con chó loại sói trung thành của giáo sư Trết lại cắn ông ấy?”.
Tôi thả mình xuống ghế trở lại, thất vọng.
- Có phải vì cần trả lời một câu hỏi thô thiển này mà tôi bị kéo đến đây? Holmes liếc tôi.
- Anh bao giờ cũng vẫn thế - Holmes nói to - Ðến bao giờ anh hiểu được rằng một hậu quả nghiêm trọng nhất lại có thể bắt nguồn từ những chuyện lặt vặt. Không lạ sao, khi ta thoạt nghe một giáo sư cao niên, có danh vọng, có một con chó loại sói làm bạn thân nhất, rồi ông ta lại bị chính con chó ấy tấn công hai lần? Nào, Watson anh nghĩ sao?
- Con này điên?
- Giả sử là thế, nhưng phải coi lại, vì nó không tấn công ai khác cả, nó chỉ tấn công ông chủ của nó vào những dịp rất đặc biệt. Lạ lắm? Watson ạ?... Nhưng chàng rể Ben-nét của ông ta lại đến trước hẹn. Tiếng chuông của anh ta đó. Tôi tưởng có thể nói chuyện với anh nhiều hơn trước khi tiếp anh ta.
Chúng tôi nghe tiếng bước chân đi nhanh nhẹn đến cầu thang, rồi những tiếng gõ cửa khô khan. Lát sau, một người bước vào. Ðó là một người trạc 30 tuổi, cao ráo, gọn ghẽ, đẹp trai, nhưng có cái dáng của anh sinh viên rụt rè hơn là một người lịch lãm, Ben-nét bắt tay Holmes rồi nhìn tôi ngạc nhiên.
- Việc này rất tế nhị, ông Holmes, tôi phải dè dặt khi nói chuyện đó trước một người thứ ba.
- Ông khỏi lo. Bác sĩ Watson đây là hiện thân của sự dè dặt, và tôi cũng thú thật với ông rằng trong vụ này tôi thực sự cần một phụ tá.
- Tùy ông, ông Holmes, xin ông thông cảm cho tôi.
- Anh Watson, đây là ông Ben-nét, cộng tác viên kỹ thuật của vị giáo sư, sống cùng nhà đồng thời là vị hôn phu của con gái duy nhất của giáo sư Trết. Do đó, ta biết rằng giáo sư có thể tin vào lòng trung nghĩa và tận tuy của ông.
- Thưa ông Holmes, bác sĩ Watson biết tình hình chưa?
- Tôi chưa có thời giờ để trình bày.
- Như vậy tôi phải quay lại các đừ kiện cũ trước khi qua cái mới.
- Tôi làm chuyện đó cho - Holmes nói chen vào - Giáo sư Trết nổi tiếng khắp châu âu, ông dành hết thời giờ cho việc nghiên cứu, ông không có bị tai tiếng gì? Ông góa vợ và có một cô gái tên là ê-đi. Ông có tính thực tế, năng nổ. Cho tới cách nay vài tháng, tình hình là như thế.
Sau đó thì cuộc đời của ông bước qua một bước ngoặt. Lúc ông 61 tuổi, ông hứa hôn với con gái của giáo sư Móc-phi, đồng nghiệp của ông tại ghế cơ thể học so sánh. Cô thiếu nữ A-líc vẹn toàn cả hai mặt thể chất vả trí tuệ nên vị giáo sư của chúng ta có đủ lý do để chết mê chết mệt. Nhưng, gia đình không tán đồng.
- Chúng tôi thấy rằng sự đam mê này hơi lố bịch - Thân chủ của chúng tôi xen vào, nói rõ hơn.
- Rất đúng! Lố bịch và dị hợm. Tuy nhiên giáo sư Trết giàu lắm, nên bố cô bé không phản đối đâu. Cô bé đương nhiên nhiều tham vọng.
- Cô ấy có vẻ thản nhiên về tuổi tác, bất chấp cái lập dị của vị giáo sư. Vào thời gian này, một chuyện nhỏ đột ngột xảy ra, làm đảo lộn nếp sống đều đặn của vị giáo sư: ông làm những điều trước đây ông chưa hề làm. Ông ra đi mà không nói đi đâu, vắng nhà 15 ngày, rồi quay về trong trạng thái mệt nhoài. Nhưng ngẫu nhiên thân chủ của chúng ta là ông Ben-nét đây, nhận được một bức thư của người bạn sinh viên tại thủ đô Pra-ha của Tiệp Khắc. Lá thư báo cho biết có thấy giáo sư Trết ở bên đó, nhưng không thể nói chuyện với nhau được. Nhờ vậy gia đình mới biết giáo sư đi Pra-ha.
Sau chuyến đi này, giáo sư thay đổi tính tình, ông trở nên thâm trầm, dè dặt. Gia đình có cảm giác rằng ông không còn là người cũ nữa.
Ông đang sống dưới một bóng đen che lấp các đức tính cao đẹp của ông. Trí thông minh của ông vẫn nguyên vẹn, các bài giảng cơ thể học so sánh vẫn tuyệt hảo như cũ. Tuy nhiên có một cái gì rất mới, làm cho gia đình buồn lo và kinh ngạc. Con gái ông rất thân thiết với ông, đã nhiều lần cố gắng khôi phục cái thâm tình cố cựu và đâm thủng cái mặt nạ bí mật này. Cả ông Ben-nét đây cũng đã hết sức cố gắng, nhưng đành chịu thua. Và giờ đây, tôi xin nhường lời cho ông Ben-nét để nói về mấy lá thư.
- Thưa bác sĩ Watson, giáo sư không hề giấu tôi điều gì. Con trai hoặc em trai chưa chắc được ông tín nhiệm bằng. Với tư cách là thư ký riêng, tôi được phép bóc ra và phân loại các thư tín và giấy tờ của ông. Vài ngày sau khi từ pra-ha về, ông bảo tôi rằng một số thư có thể từ Luân Ðôn về, có đánh dấu chéo dưới con tem thì phải để riêng cho ông. Thực tế, có nhiều thư có đánh chéo, tuồng chữ của người gởi có vẻ là một người ít học. Tôi không biết ông ấy có trả lời những lá thư này hay không, vì các lá thư hồi âm không có qua tay tôi.
- Còn về cái hộp?
- Holmes nói.
- Khi từ Pra-ha về, giáo sư có mang một cái hộp bằng gỗ. Ðó là một điêu khắc quái đản theo lối Ðức quốc.
Ông để nó trong cái tủ dụng cụ. Một hôm trong lúc tìm cái mỏ vịt, tôi nâng cái hộp lên. Lạ lùng thay ông ấy bỗng nổi trận lôi đình và trách móc sự tò mò của tôi bằng các lời lẽ không được lịch sự. Tình huống này xảy ra lần đầu tiên với tôi, làm tôi đau khổ. Tôi cố giải thích rằng tôi chỉ đụng cái hộp hoàn toàn vì vô tình. Tuy vậy suốt đêm đó, ông nhìn tôi một cách thiếu thiện cảm và tôi thấy rõ ông nghi ngờ tôi một chuyện gì đó.
Ông Ben-nét rút từ trong túi ra một tập nhật ký và nói thêm:
- Chuyện này xảy ra vào ngày 2 tháng 7.
- Ông đúng là một nhân chứng tuyệt hảo. Có lẽ tôi cần đến các ngày tháng mà ông ghi - Holmes nói lớn.
- Kể từ khi tôi để ý đến những cái bất bình thường trong cánh xử thế của ông thầy, tôi tự nhủ rằng tôi có nhiệm vụ nghiên cứu trường hợp của ông. Do đó tôi có thể xác định rằng cũng vào chính cái ngày 2-7 này mà con chó Roy tấn công ổng khi ông rời văn phòng để ra hành lang.
Màn này được tái diễn vào những ngày 11 - 7 và 20 ố 7. Sau các cuộc tấn công này, chúng tôi phải nhốt Roy vào chuồng ngựa. Ðó là một con thú mà chúng tôi thương, vì nó rất yêu mến chủ... Tuy nhiên tôi ngại việc lạm dụng sự nhẫn nại của hai ông.
Ông Ben-nét nói mấy tiếng sau với giọng trách móc, vì rõ ràng Holmes không chú ý nghe nữa. Mặt anh se lại, mắt nhìn lên trần nhà. Một lúc sau anh như tỉnh lại...
- Dị kỳ, rất dị kỳ - Anh thì thầm - Tôi chưa biết các chi tiết này, ông Ben-nét. Theo tôi thì chúng ta đã đến cái mấu chốt của nội vụ.
Khuôn mặt khả ái của thân chủ tôi sa sầm lại.
- Ðiều tôi sắp kể tiếp theo đây xảy ra vào đêm hôm kia, lúc 2 giờ sáng. Tôi nằm, nhưng không ngủ. Tôi nghe một tiếng động mạnh, dường như phát sinh từ hành lang...
- Vào ngày... ? - Holmes hỏi.
Khách của chúng tôi không che giấu được sự bực dọc trước sự ngắt ngang này.
- Tôi đã nói là đêm hôm kia, tức là nhằm ngày 4-9.
Holmes cúi đầu cười.
- Ông hãy tiếp tục.
- Tôi thỉnh cầu ông thầy ngủ ở cuối hành lang. Do đó nếu muốn đi xuống cầu thang, thì phải đi ngang qua cửa phòng tôi.
Thật là hãi hùng, thưa ông Holmes Hành lang tối đen, ngay giữa có một cửa sổ để lọt một ít ánh sáng. Nhờ đó, tôi thấy ai đang đi ở ngoài đó. Chính là ông, ông đang bò, thưa ông Holmes, đang bò! Ðúng ra là đi bằng tay và chân, cái đầu đong đưa giữa hai tay. Giáo sư ta di chuyển khá dễ dàng. Tôi điếng người, đứng trơ như phỗng đá khi ông tiến tới cửa phòng. Tôi chân lại, hỏi xem để giúp đỡ.
Ông đứng dậy ngay tức khắc, chửi vào mặt tôi rồi hối hả chạy xuống cầu thang. Tôi ngồi rình hơn một giờ, đến gần sáng mới về phòng.
- Nào, Watson, anh nghĩ sao về hiện tượng này- Holmes hỏi tôi với dáng điệu của một nhà sinh lý học.
- Có lẽ là đau lưng. Theo kinh nghiệm của tôi thì khi đau lưng nặng có thể buộc mình phải bò khi di chuyển nhưng không làm đổi tính khí của con bệnh.
- Giỏi đó, Watson. Anh luôn đưa chúng tôi trở về với thực tế. Nhưng chúng ta khó mà chấp nhận giả thiết đau lưng vì ông ta có thể đứng thẳng tức khắc mà.
- Ông vẫn khỏe như trước giờ?
- Ben-nét nói.
- Mấy lúc này lại khỏe hơn trước nhiều lắm. Nhưng mà sự việc lại cụ thể ràng ràng đó! Cảnh sát chả giúp đỡ chúng tôi được gì. Chúng tôi vô cùng lo lắng, có cảm giác đang đi tới một tai họa. Nàng ê-đi đồng ý với chúng tôi rằng không thể khoanh tay ngồi chờ.
- Quả là một việc quái đản.
Anh nghĩ gì đó Watson?
- Về phương diện y khoa, tôi mong đây là bệnh tâm thần. Sự vận hành của não bộ bị xáo trộn bởi chuyện tình ái ông ta đi du lịch nước ngoài để chữa bệnh đó. Thư từ và cái hộp có thể liên quan tới một cuộc thương lượng riêng tư, thí dụ một sự vay mượn hay những cổ phiếu mà ông cất kỹ trong cái hộp.
- Còn con chó loại sói có thể không đồng ý với cuộc thương lượng nọ. Không đâu, Watson à! Có chuyện khác trong nhất thời , tôi chỉ có thể gợi ý rằng...
Không ai có thể biết Sherlock Holmes sẽ gợi ý cái gì, bởi vì lúc đó cửa mở và một thiếu nữ bước vào ông Ben- nét nhảy bổ tới, la to, giang hai tay về phía cô ta:
- ê-đi?
Không gì hệ trọng chứ ?
Em cảm thấy cần ở bên anh, ồ, em sợ lắm, ở một mình đằng đó không được đâu.
- Ông Holmes, xin giới thiệu vị hôn thê của tôi.
- Hồi nãy giờ chúng ta mò mẫm đi tới kết luận đó, phải không Watson?
- Holmes vừa nói vừa cười.
- Thưa cô, tôi đoán rằng câu chuyện vừa xảy ra là một bước ngoặt mới mà cô muốn thông báo với chúng tôi?
Người khách nữ của chúng tôi tóc hoe, đẹp, thuộc mẫu người Anh quốc, mỉm cười với Holmes, rồi đến ngồi bên cạnh Ben-nét.
- Khi Ben-nét ra khỏi nhà, tôi biết ngay là anh ta tới đây vì có nói sẽ nhờ đến ông. Thưa ông Holmes, ông có thể giúp đỡ người cha đáng thương của tôi không?
- Tôi hy vọng, thưa cô. Tuy nhiên, hiện giờ tôi vẫn còn lờ mờ. Cô có thể cho tôi một chút ánh sáng?
- Mới đêm qua thôi, suốt ngày tôi thấy ông kỳ cục lắm. Tôi chắc chắn rằng có những lúc ông ta chẳng nhớ gì về việc đã làm. Ông cụ sống trong một giấc mơ dị thường. Và hôm qua là một thí dụ. Không phải cha tôi ở cạnh tôi. Hình hài là ông ta đó, nhưng tâm hồn thì không phải là ông.
- Cô vui lòng cho biết điều gì đã xảy ra?
- Giữa đêm khuya, tôi bị đánh thức bởi tiếng chó sủa dữ dội. Tội nghiệp con Roy? Nó bị xích gần chuồng ngựa. Tôi cần nói thêm là tôi luôn luôn khóa cửa khi ngủ, vì chúng tôi sống trong sự sợ hãi liên tục. Phòng tôi ở lầu 2, tấm sáo trước cửa sổ của tôi được kéo lên. Bên ngoài trời sáng trăng. Trong lúc tôi nằm nhìn ánh trăng sáng, lắng nghe tiếng chó sủa thì tôi rất kinh ngạc khi thấy mặt cha tôi đang quan sát tôi. Tôi suýt chết vì ngạc nhiên và kinh hoàng. Ông cụ dán mặt vào khung kiếng, ông dơ một tay lên như để đẩy cửa kiếng lên. Nếu cửa sổ mở ra, có thể tôi đã điên rồi. Không phải là một ảo giác đâu. Thú thật, tôi im lìm trong 20 giây để canh chừng cái đầu đó.
Rồi nó biến mất, tôi không dám nhảy ra khỏi giường. Tôi ngồi trơ ra đó, lạnh cóng và run lập cập suốt đêm. Vào lúc ăn sáng, tôi gặp lại ông cụ nét mặt lạnh lùng, dữ tợn làm như ông không biết chuyện đêm qua. Tôi cũng chẳng nói gì, kiếm cớ đi Luân Ðôn và nhạy tới đây.
Holmes có vẻ ngạc nhiên một cách sâu xa.
- Thưa cô, cô có nói phòng cô ở lầu 2, ngoài vườn có cái thang dài không?
- Không có, thưa ông.
Ðó là khía cạnh giản dị của câu chuyện.
- Ðâu có phương tiện sẵn để leo lên cửa sổ. Thế mà ông cụ lại có mặt ở cửa sổ!
- Chuyện này xảy ra ngày 5-9, đó là một điểm gây rắc rối - Holmes nói.
Thiếu nữ có vẻ ngạc nhiên. Ben-nét xen vào:
- Thưa ông, tôi đồng ý. Ông hay hỏi về các ngày tháng của biến cố, chúng quan trọng ra sao?
- Có thể quan trọng, hiện tôi còn thiếu nhiều yếu tố.
- Ông đang nghĩ tới mối tương quan giữa cơn điên và các giai đoạn của mặt trăng chăng?
- Không, chắc chắn là không. Tôi nghĩ đến một chuyện khác hẳn. Ông vui lòng để lại cuốn nhật ký, vì tôi cần kiểm tra lại các ngày đó. Anh Watson, tôi nghĩ rằng kế hoạch hành động của chúng ta rõ ràng lắm rồi. Cô này đã cho tin rằng cha cô ít nhớ hoặc không nhớ gì cả vào những ngày đó.
Do đó ta sẽ viếng ông ta như thể ông đã định hẹn với chúng ta vào cái ngày mà ông Ben-nét ghi chép. Chúng ta sẽ mở chiến dịch tấn công, sau khi tiếp xúc với ông ta.
- Tuyệt vời - ông Ben-nét la lớn - Tuy nhiên tôi cũng cho hay trước rằng: Giáo sư có lúc phát cáu và hung bạo nữa.
Holmes cười:
- Có nhiều lý do vững chắc để chúng ta không nên chần chừ, những lý do hấp dẫn nếu giả thiết của tôi là đúng. Ngày mai, thưa ông Ben-nét, ông sẽ gặp chúng tôi tại Camford. Nếu tôi chưa đãng trí, ở đó có một cái quán mang tên là “Chequers” bán rượu porto không đến nỗi tệ, còn giường nệm thì sạch sẽ. Anh Watson, tôi nghĩ rằng mấy ngày tới chúng ta có thể sống ở những nơi kém dễ chịu hơn.
Sáng thứ hai chúng tôi lên đường đi đến thành phố có trường đại học nổi tiếng. Holmes chỉ nói công chuyện với tôi sau khi các va-li đã được đem vào khách sạn.
- Anh Watson, chúng ta có thể bắt chẹt ông giáo sư ngay trước giờ cơm.
Ông ta phải dạy tới 11 giờ, sau đó mới về nhà.
- Ta ra mắt ông ấy với lý do gì?
Holmes nhìn vào cuốn sổ tay.
- Ðầu óc ông ta lộn xộn rồi. Hôm nay là 26-8. Ta cứ nói đại rằng hôm nay là ngày ông ta có hẹn với ta. Chắc ông ấy không cãi gì đâu. Anh có đủ trâng tráo để nói ẩu như vậy không?
- Dù sao cũng phải cố gắng.
- Hoan hô Watson. Ðó là phương châm của công ty mình. Người địa phương chắc chắn sẽ chỉ đúng nhà nho chúng ta.
Người địa phương đó là anh xà ích đánh xe đi qua các phân khoa đại học, quẹo vào một đại lộ mênh mông để đậu trước ngôi nhà xinh xắn, xung quanh có bồn cỏ xanh tươi. Khi xe ngựa ngừng, một cái đầu hoa râm xuất hiện tại cửa sổ mặt tiền, nhìn chúng tôi chòng chọc xuyên qua đôi mắt kiếng gọng đồi mồi.
Chúng tôi được đưa vào gặp nhà bác học, con người đầy bí ẩn đang đứng trước mặt chúng tôi. Thoạt nhìn, dáng dấp và cử chỉ của ông không lộ một nét lập dị nào, con người cao ráo, uy nghiêm. Ðôi mắt có lẽ là điểm đặc sắc nhất: sắc bén, thông minh đến độ xảo quyệt, ông đọc các danh thiếp của chúng tôi.
- Xin mời hai ông ngồi!
Tôi có thể giúp gì hai ông?
Holmes nở nụ cười.
- Chính đó là câu chuyện mà chúng tôi xin hỏi ông.
- Hỏi tôi, thưa ông - Có lẽ có sự lầm lẫn rồi. Qua một trung gian, tôi được biết giáo sư Trết thuộc đại học Camford cần đến các dịch vụ của tôi.
- Thật vậy sao?
Không có đâu!
Tôi có cảm giác như một tia hung hăng đang nhen nhúm trong đôi mắt to xám của ông.
- Ông vui lòng cho biết tên, họ của người báo tin.
- Rất tiếc, thưa giáo sư, chuyện mật mà. Nếu có lầm lẫn, không sao cả. Tôi thành thật xin lỗi đã làm phiền giáo sư.
- Ðâu có dễ dàng như thế được. Tôi cần hỏi cho cặn kẽ, ông có một giấy viết tay, thư từ hoặc điện tín để làm bằng không?
- Không, thưa ông!
- Tôi đoán là ông không dám liều mạng nói rằng tôi đã mời ông?
- Tôi thích im lặng hơn - Holmes nói.
- Nhưng công việc đó đòi hỏi phải trả lời - Giáo sư Trết nói với một giọng chua cay - Nhưng, tôi vẫn có, không cần đến mấy ông.
Ông băng qua văn phòng và bấm chuông, ông bạ lí Ben-nét xuất hiện.
- Vào đây, ông Ben-nét. Hai ông này từ Luân Ðôn tới có cảm giác rằng họ được mời đến. Thư từ của tôi đều qua tay ông, ông có thấy thư tôi gửi cho một người tên Sherlock Holmes không?
- Không, thưa ông - Ben-nét đỏ mặt trả lời.
- Dứt khoát chưa nào- Giáo sư vừa nói vừa nhìn Holmes một cách thiếu thiện cảm - Giờ đây, ông...
Ông ưỡn ngực ra, xòe hai tay để lên bàn.
- Ðối với tôi thì hình như hai ông đây ở trong một tình huống cần giải thích.
Holmes vươn vai.
- Một lần nữa, tôi xin lỗi đã quấy rầy ông một cách vô ích.
- Chưa được đâu, ông Holmes?
- ông già la to.
Diện mạo ông ta trở nên hung ác phi thường, tiếng nói vang vang như sấm sét, ông đứng chận ngang cửa đưa hai nắm tay:
- Hai ông không thể ra khỏi nơi đây một cách dễ dàng như thế!
Cơn thịnh nộ làm thay đổi hình dạng, đường nét của ông, làm ông mất hết lương tri. Tôi tưởng đâu sẽ phải ẩu đả để thoát ra.
- Kính thưa giáo sư - ông Ben-nét nói lớn - Xin nghĩ tới vị thế của giáo sư, kính xin giáo sư nghĩ tới sự tai tiếng của mình trong trường đại học. Ông Holmes là một nhân vật ai cũng biết tên. Giáo sư không thể thất lễ như vậy.
Miễn cưỡng, giáo sư tránh qua một bên cho chúng tôi đi qua. Sau đó, chúng tôi đi tìm sự êm ả ở ngoài đường phố.
- Hệ thống thần kinh của nhà bác học hơi xuệch xoạc - Holmes nói nhỏ - Ðột kích như vậy là liều lĩnh thật, nhưng tôi cần có cuộc tiếp xúc cá nhân này. Hãy coi chừng, anh Watson. Hình như ông cụ đi theo chúng ta.
- Chắc chắn ông ấy phải đuổi theo...
Quả thật một ai đó chạy bịch bịch sau lưng chúng tôi. Nhưng may mắn không phải ông giáo sư mà là người cộng tác viên của ông ta.
- Tôi rất tiết, thưa ông Holmes?
Tôi thành thật xin lỗi hai ông.
- Không sao cả, ông Ben-nét thân mến. Nhưng cái lặt vặt như vậy xảy ra rất thường đối với nghề nghiệp của chúng tôi.
- Chưa bao giờ tôi thấy ông ấy ở trong tình trạng tương tự. Giờ đây thì ông đã hiểu tại sao con gái ông ta và tôi sợ cuống cuồng. Nhưng tâm trí ông ta rất minh mẫn.
- Quá minh mẫn đi chứ- Holmes nói - Tôi đã tính toán sai. Trí nhớ của ông ta minh mẫn hơn cả mức dự đoán của tôi. Nhân tiện, ông vui lòng chỉ cho chúng tôi cái cửa sổ của cô ê-đi.
Ông Ben-nét rẽ một con đường xuyên qua các bụi cây và chúng tôi thấy một mặt của ngôi nhà.
- Kìa?
Căn thứ nhì bên trái.
- Tôi không thể nào leo lên đó, cho dù có dây leo bên dưới và ống nước bên trên cung cấp một điểm tựa hay một chỗ để bấu vào.
- Chính tôi đây cũng phải trầy da tróc vẩy mới lên tới đó - ông Ben-nét nói.
- Ðương nhiên. Ðối với người bình thường đó là một thành tích đầy nguy hiểm.
- Tôi còn muốn nói với ông một chuyện khác nữa, ông Holmes. Tôi có tên của người bạn ở Luân Ðôn thường viết thư cho giáo sư. Sáng nay giáo sư có gởi cho ông ta một lá thư. Tôi có ghi lại cái địa chỉ của ông ta trên giấy thấm. Tôi đã làm một ông việc bẩn thỉu, trong lúc được tin cậy như bạn tri âm, nhưng biết làm sao bây giờ.
Holmes đọc tờ giấy mà Ben-nét đưa, rồi bỏ nó vào túi :
- Dorak. Tên gì lạ kỳ? Hay quá, đây là một cái khâu to tướng trong cái dây chuyền. Chiều mai chúng tôi về Luân Ðôn, thưa ông Ben-nét. Lưu lại đây chả có ích lợi gì cả. Chúng tôi không thể bắt nhốt giáo sư được vì ông ta có phạm tội ác gì đâu và cũng không thể xích ông ta lại được, bởi vì bệnh điên của giáo sư chưa chứng minh được. Cho tới giờ phút này không thể dự trù một biện pháp nào cả.
- Nhưng không lẽ chúng ta bó tay.
- Hãy kiên nhẫn?
Sự việc sẽ qua một bước ngoặt.
- Nếu tôi tính toán không lầm, thì ngày thứ ba tới, giáo sư sẽ lên cơn.
Ngày đó, chúng tôi sẽ có mặt tại Camford.
Ngồi ở đây chờ đợi thì không thoải mái chút nào, ngoài ra tôi đề nghị cô ê-đi nên nán lại ở Luân Ðôn thêm một thời gian nữa.
- Ðược.
- Tóm lại cô ấy phải nán lại Luân Ðôn cho đến khi nào bảo đảm rằng mọi hiểm nguy đã tan biến. Từ đây tới đó, ông chớ có chọc ông ta giận, ông ấy mà vui, mọi sự sẽ êm xuôi.
- Ông kìa!
- Ben-nét nói nhỏ.
Xuyên qua các nhánh cây, chúng tôi thấy rõ cái dáng cao dong dỏng đứng trước cửa chính, nhìn tứ phương, ông nghiêng người ra phía trước, hai tay vung vẩy, đầu quay trái rồi quay phải. Viên thư ký vội vã thuồn, vượt các bụi rậm để về với giáo sư. Hai người cùng nhau trở vào nhà, nói chuyện huyên thuyên và hăng say.
- Tôi đoán rằng ông cụ đang cộng hai với hai - Holmes nói với tôi trên đường về quán trọ - ông ta tỏ ra có một não bộ thuận lý đặc biệt. Ðành rằng ông hung dữ nhưng ở vị trí của ông, ông có đủ lý do để nổi điên. Ông ta thấy có thám tử theo dõi và chắc chắn nghi ngờ con gái và con rể tương lai đã báo động. Ông bạn Ben-nét của chúng ta sẽ phải trải qua những giờ phút sóng gió.
Holmes dừng chân tại bưu điện để đánh một bức điện tín. Ngay tối hôm đó chúng tôi nhận được hồi âm. Anh cho tôi xem: “Tôi đi tới con đường Commercial Road và đã thấy Dorak rồi. Người dễ thương, gốc Tiệp Khắc. Sở hữu một cửa hàng lớn. Mercier”.
- Anh chưa biết Mereier - Holmes giải thích cho tôi - Tôi mới tuyển. Anh ta sẽ lo công việc thường ngày. Chúng ta cần biết về người mà vị giáo sư liên lạc thư tín. Quốc tịch của người này làm tôi nhớ lại chuyến đi Pra-ha của giáo sư.
- Cám ơn Thượng đế - Tôi nói.
- Mãi tới nay mới gặp cái màn này khớp với cái kia. Cho tới giờ phút này, chúng ta đứng trước một loạt dữ kiện không giải thích được và không có liên quan gì với nhau. Thí dụ có cái tương quan gì giữa một con chó dữ và một sự lưu ngụ tại Pra-ha hoặc giữa hai dữ kiện này với một người mà vào một đêm nào đó, sẽ di chuyển bằng bốn chân.
Holmes vừa xua tay, vừa cười. Chúng tôi đang ngồi tại bộ xa-lông nhỏ của một khách sạn xưa, trước một chai rượu porto.
- Nào, để khởi sự, chúng ta lấy mấy ngày ra nghiên cứu cho vui.
Holmes nói rồi chúm các ngón tay lại, lấy dáng điệu của một thầy giáo làng đang lên lớp.
- Cuốn nhật ký của chàng thanh niên cho ta thấy rằng các xáo trộn bùng nổ trước tiên vào ngày 2-7 rồi cứ tái diễn 9 ngày một lần, trừ một biệt lệ. Cái cơn kế chót là 26-8, còn cơn chót là ngày 3-9 và sắp tới sẽ là ngày 12-9?
- Tôi đồng ý.
Chúng ta đưa ra giả thiết tạm như sau:
Cứ chín ngày, ông ta uống một liều thuốc mạnh, có hiệu quả thoảng qua nhưng cực kỳ độc hại. Tính khí ông già đương nhiên chịu ảnh hưởng của chất độc dược này.
Ông có thói quen này lúc ở Pra-ha và hiện nay thì qua trung gian của một người ông ta vẫn được cung cấp thuốc.
Mạch lạc chưa, Watson?
- Còn con chó, còn cái đầu tại cửa sổ. Còn sự di chuyển bằng bốn chân ở ngoài hành lang?
- Chúng ta đã có một khởi điểm. Còn từ đây tới thứ ba tuần sau, vào ngày 12-9, tôi không hy vọng được cái gì mới. Trong khi chờ đợi, chúng ta chỉ có mỗi một việc làm là giữ mối liên lạc với bạn Ben-nét và tận hưởng những niềm vui nhỏ tại thành phố đáng yêu này.
Sáng hôm sau, Ben-nét trốn ra để cho tin mới. Ðúng như Holmes dự đoán, anh ta phải trải qua những giây phút khá nhức đầu. Tuy không trực tiếp cáo buộc về việc chúng tôi đột nhập vào nhà, nhưng ông giáo sư nói năng với anh bằng một ngôn ngữ cực kỳ thô bạo và nghi ngờ anh về các biến cố đã xảy ra.
Tuy nhiên, sáng nay ông trở lại bình thường, vẫn lên lớp một cách tuyệt hảo như thường lệ.
- Trừ những cơn khủng hoảng kỳ cục - Ben-nét nói - Tôi thấy ông dạt dào sinh khí hơn bao giờ hết, và não bộ của ông vận hành tuyệt hảo. Tuy nhiên ông không còn là người cũ, người mà chúng tôi quen thuộc.
- Theo tôi, không có chi phải sợ trong vòng một tuần - Holmes đáp - Tôi có nhiều việc khác nữa. Còn bác sĩ Watson cũng có một số bệnh nhân đang chờ. Ta dành phải hẹn nhau vào thứ ba tới, tại quán này. Trước khi tạm biệt nhau, tôi hy vọng sẽ có khả năng giải thích hoặc đánh tan các ưu tư làm cho gia đình ông điêu đứng. Từ đây tới đó, nhớ liên lạc với chúng tôi bằng thư.
Mấy ngày sau đó, tôi không gặp lại Holmes nữa. Nhưng tới thứ hai, tôi nhận một điện văn ngắn, bảo tôi đến vào ngày hôm sau. Trong lúc tàu lăn bánh về hướng Camford, Holmes báo cho tôi biết rằng không có biến cố mới xảy ra. Sự yên ấm ngự trị trong gia đình, vì giáo sư Trết đã xử thế hoàn toàn bình thường.
Khi gặp lại chúng tôi tại khách sạn vào tối hôm đó, Ben-nét nói:
- Hôm nay ông có nhận từ Luân Ðôn một gói nhỏ và một cái thư có dấu chéo dưới con tem, ông không đụng tới. Ngoài ra, không còn gì khác để báo cáo.
- Bấy nhiêu có thể là đủ rồi - Holmes thì thầm với một nụ cười ảm đạm.
- Anh Ben-nét, tôi tin rằng chúng ta sẽ đi tới kết luận này ngay đêm nay. Nếu các suy đoán của tôi mà đúng, thì vụ này đã chín mùi rồi. Từ giờ cho tới đó, ta phải liên tục cảnh giác. Nếu nghe ông bò ngang cửa phòng thì anh làm lơ đi, chỉ kín đáo theo dõi. Bác sĩ Watson và tôi chắc chắn quanh quẩn đâu đó. Nhân tiện cho tôi biết ai giữ chìa khóa của cái hộp nhỏ?
- Giáo sư móc nó vào dây chuyền đồng hồ.
- Vậy chúng ta phải bắt đầu nghiên cứu về hướng đo. ÔKẹt quá thì bẻ ổ khóa. Trong nhà còn người đàn ông nào khác có đủ sức khỏe không?
- Người xà ích.
- Ông ta ngủ ở chỗ nào?
- Trong chuồng ngựa.
Có lẽ chúng ta cần tới ông ta. Hiện giờ chúng ta không thể làm gì hơn trước khi sự việc đi vào ngõ rẽ! Tạm biệt. Tuy nhiên, tôi tiên đoán chúng ta sẽ gặp nhau trở lại trước khi trời sáng.
Gần nửa đêm, chúng tôi rình ngoài các bụi rậm, trước cổng nhà của giáo sư. Ðêm đẹp, nhưng lạnh, gió thổi, mây bay mau trên trời và thỉnh thoảng che khuất mặt trăng lưỡi liềm.
Nếu không vì tò mò và nóng lòng muốn chứng kiến phút chót của cái chuỗi dữ kiện quái dị thì cái phiên gác của chúng tôi sẽ chán ngắt.
- Hễ giả thiết về chu kỳ chín ngày mà đúng - Holmes nói - Thì chắc chắn đêm nay chúng ta thấy ông giáo sư lên cơn. Các triệu chứng tỏ lộ sau khi từ Pra-ha về. Ông bí mật liên lạc thư từ với một thương gia tên Dorak, đặt trụ sở tại Luân Ðôn và là đại diện thương mại cho ai đó tại Pra-ha. Ông ta có nhận từ thằng cha này một gói hàng vào hôm nay. Tất cả mấy chuyện này đều ăn khớp với nhau. Chúng ta không biết ông ta uống cái gì. Tại sao lại uống những thuốc gởi từ Pra-ha tới. Ông ta uống theo sự hướng dẫn chính xác, 9 ngày một lần. Ðây là điểm đầu tiên mà tôi để ý. Triệu chứng dễ thấy lắm, anh có để ý các cái khớp ngón tay của ông ta không.
- Không.
- Da dày và chai chưa từng thấy. Tiếp đến cái cổ tay áo sơ mi, đầu gối quần dài và đôi giày.
Holmes ngừng lại, vỗ trán.
- A. Anh Watson? Cái giả thiết của tôi khó tin nhưng chắc chắn nó đúng. Tất cả cái dữ kiện đều chĩa về hướng này. Vậy mà ta đâu có thấy các mối liên hệ nào giữa các dữ kiện này? Mấy cái khớp này... đều không được lưu ý đúng mức! Còn con chó! Còn đám dây leo! Ðến lúc phải núp rồi? Coi chừng, Watson? ông ta kìa? Mau lên?
Cửa chính mở từ từ. Dáng cao dong dỏng của ông giáo sư nổi bật, ông ta mặc áo ngủ, và đứng thẳng, hơi nghiêng người về phía trước, hai tay đong đưa.
Giáo sư xuống sân.
Lúc đó, một đột biến xảy đến.
Ông ta khom người xuống, bắt đầu di chuyển bằng tay và chân, thỉnh thoảng nhảy nhó. tÔng ta đi bằng bốn chân qua mặt tiền nhà rồi quẹo vào góc thì ông ta biến mất.
Ben-nét lẻn ra khỏi nhà, rón rén theo sau.
- Tới đây, Watson!
- Holmes gọi nhỏ.
Chúng tôi hối hả băng qua bụi cây, đến một địa điểm có thể quan sát phía hông nhà được trăng lưỡi liềm chiếu sáng. Rõ ràng, ông giáo sư đang co ro dưới chân bức tường đầy dây leo. Rồi, nhanh nhẹn lạ thường, ông bắt đầu níu nhánh này, chuyền nhánh khác, chân tì chắc, tay bám chặt, hình như muốn thích thử tài leo chớ không có mục đích cụ thể nào, áo ngủ tung bay phất phới hai bên như một con dơi khổng lồ. Ông vẽ một vệt đen vuông trên tường.
Lát sau như chán trò chơi này, ông chuyền xuống, lại ngồi bệt xuống đất. Rồi lại đi như thú bốn chân đến chuồng ngựa. Con chó Roy chạy ra khỏi chuồng, sủa dữ dội. Nó kéo căng dây xích, lồng lộn như điên. Ông giáo sư ngồi ngay gần kề, nhưng ngoài tầm sợi dây xích, chọc ghẹo chó với trăm nghìn cách. Ông hốt cát hoặc nhặt sỏi tung vào mắt chó, lại lấy gậy chọc, đưa ngay dưới mõm chó, ông cố chọc cho chó tức giận cực độ. Chưa bao giờ chúng tôi chứng kiến một cảnh dị thường như thế. Người càng nặn ra những điều tàn ác để chọc ghẹo, chó càng điên tiết sủa vang, vùng vẫy bức xích. Rồi thình lình thảm cảnh nổ bùng. Dây buộc cổ tuột ra. Chó nhảy đến. Người và chó cùng nhau lăn lộn: chó gào rống, người la hét. Chó cắn vào cổ người, ông giáo sư ngất xỉu trước khi chúng tôi chạy đến. Nếu Ben-nét không chạy tới kịp, ra oai với con chó thì chính chúng tôi cũng lâm nguy luôn.
Sự lao xao làm cho anh xà ích ngủ ở trên chuồng ngựa thức giấc, chạy ra với nét mặt còn ngái ngủ và kinh hoàng.
Con chó lại bị xích. Chúng tôi đưa ông giáo sư về phòng. Ben-nét có học về y, giúp tôi băng cuống họng bị thương. Sau nửa giờ tìm đủ mọi cách, chúng tôi cầm được vết thương nguy hiểm. Tôi chích một mũi moóc-phin làm cho ông ta ngủ mê man. Tôi đề nghị mời một y sĩ chuyên môn nhưng Ben-nét phản đối vì không muốn chuyện xấu xa này bung ra ngoài, có hại cho thanh danh ông giáo sư và cho cô con gái.
- Ðúng vậy - Holmes - Chúng ta sẽ ngăn cản mọi sự tái diễn. Anh Ben-nét vui lòng giao cho tôi chiếc chìa khóa ở dây đồng hồ. Chúng ta đi xem cái hộp bí mật, còn anh xà ích thì hãy ở cạnh người bệnh.
Trong hộp không có gì nhiều: một chai nhỏ rỗng, một chai khác còn gần đầy, một ống kim thạch, nhiều bức thư chữ viết lí nhí của một người ngoại quốc mà các phong bì đều có dấu chéo. Tất cả đều xuất xứ từ Commereial Road và ký tên là Dorak. Chúng chứa hoặc những biên nhận hoặc báo tin một chai thuốc mới gửi đến. Có một bao bì với chữ viết của một người có học hơn và mang bưu ấn của Pra-ha trên một con tem của nước áo.
- Ðây là giải đáp của bài toán - Holmes la lớn, rồi đọc to lên.
“Thưa đồng nghiệp kính mến, Kể từ ngày được ông chiếu cố, thăm viếng, tôi suy nghĩ nhiều về trường hợp của ông. Vì ông quá lo lắng nên tôi phải chữa trị cho ông, nhưng ông phải thận trọng, vì các kết quả mà tôi đạt được, cho thấy có kèm theo những nguy hiểm.
Nếu sử dụng loại xê-rum của vượn-người, thì ông được an toàn hơn. Nhưng tôi thích sử dụng loại xê-rurn của con vượn Langur. Loại vượn này chuyên bò và leo, còn vượn-người thì đi thẳng như người. Tôi yêu cầu ông thận trọng tối đa để bài thuốc khỏi bị tiết lộ. Tôi còn một thân chủ khác ở Anh. Dorak là đại diện của tôi, phụ trách lấy thuốc cho cả hai ông. Ông nên báo cáo hàng tuần cho tôi biết.
Thân trọng kính chào H.
Lowenstein”.
Sau khi nghe đọc thư xong, tôi giảng giải cho Holmes và Ben-nét biết.
- Lowenstein. Cái tên này làm tôi nhớ lại một bài báo kể chuyện một nhà bác học vô danh đã tìm ra thuốc trường sinh bất tử. Lowenstein của Pra-ha? Lowenstein với xê-rum trường sinh đã bị đại học y khoa cấm vì ông không tiết lộ nguồn gốc của xê-rum.
Ben-nét lấy ra một cuốn động vật học, rồi đọc.
- Langur, giống khỉ to, đầu đen, sống trên cái triền núi Hy-mã-lạp-sơn, là loài khỉ leo trèo, to con nhất và giống con người nhất. Ông Holmes, nhờ ông mà chúng tôi phăng lên ngọn ngành của tệ trạng.
Ngọn ngành thực sự là câu chuyện chồng già vợ trẻ. Ông giáo sư lo sợ cuộc tình duyên sẽ sớm đổ vỡ nếu ông “không còn trẻ!”. Không ngờ vì muốn trèo cao mà ông rủi ro tụt xuống thấp hơn.
Holmes ngắm nghía cái lọ cầm trên tay và suy nghiệm chất lỏng trong trẻo ở bên trong.
- Khi tôi viết xong cái thư qui trách nhiệm cho Lowenstein về tội lưu hành khất độc thì chúng ta sẽ không còn bực bội nữa. Theo tôi thì chả còn gì để nói thêm, ông Ben-nét à. Con chó nhờ cái khứu giác nhạy bén của nó nên nó cảm nhận sự thay đổi nhanh hơn anh nhiều. Chính con khỉ, con khỉ thích leo trèo, bị Roy tấn công, chứ không phải ông giáo sư. Còn việc ông giáo sư nhìn vào phòng con gái là hoàn toàn ngẫu nhiên.
Anh Watson. Chút nữa có chuyến xe lửa đi Luân Ðôn, tôi đề nghị chúng ta đi uống trà trước khi lên tàu.
Cuộc đời như những cơn mưa
Đăng nhập để trả lời
0
NGƯỜI LÍNH BỊ VẢY NẾN
(lukhach chỉnh chính tả)

watson bảo tôi hãy thử tường thuật một trong các cuộc phiêu lưu của hai chúng tôi. Sở dĩ như vậy là vì tôi luôn mồm chê bai cái bài tường thuật của Watson là nông cạn, thường thiên về mục đích thỏa mãn công chúng.
Nhưng khi cầm viết trên tay, tôi lại thấy phải trình bày câu chuyện sao cho độc giả bị lôi cuốn. Câu chuyện tôi đang viết đây có lẽ sẽ thành công vì nó là một trong những chuyện dị thường nhất trong bộ sưu tập của tôi, tuy không được Watson chú ý tới.
Tôi có thói quen ngồi quay lưng ra cửa sổ, khách ngồi ở ghế trước mặt, làm như vậy gương mặt họ được ánh sáng chiếu thật rõ. Ông Dodd có vẻ lúng túng, không biết bắt đầu câu chuyện bằng cách nào. Tôi cũng không gợi ý cho ông nói, vì ông càng bối rối, tôi càng có nhiều thời gian để quan sát. Sau cùng, tôi đưa ra vài kết luận.
- Ông từ Nam Phi về, ông là...
- Thưa đúng?
- ông ấy đáp lại trong sự ngạc nhiên.
- Chí nguyện quân trong Ðoàn ky binh Hoàng gia?
- Thưa đúng.
- Có lẽ là trung đoàn Middlesex?
- Ông quả là một phù thủy, thưa ông Holmes?
Sự kinh ngạc của khách làm tôi cười.
- Khi một hào kiệt dáng dấp hùng dũng bước vào phòng khách này, với một khuôn mặt quá sạm nắng so với người chính quốc, và khi khách để mù soa trong tay áo, chứ không phải trong túi, thì việc đoán gốc gác của khách đâu có gì khó. Ông để râu quai nón ngắn, chứng tỏ rằng ông đâu phải là một chiến sĩ hiện dịch. Ông lại mặc đồng phục của một kỵ binh. Còn về trung đoàn Middlesex thì căn cứ vào danh thiếp của ông, tôi biết rằng ông là nhân viên hối đoái ở phố Throgmorton. Cái góc đường này
thì không thể đưa tới đơn vị nào khác hơn?
- Không gì qua lọt sự nhận xét của ông!
- Thưa ông Dodd, đâu phải sáng nay ông đến đây để thảo luận về khoa học quan sát.
Có chuyện gì tại Tuxbury old Park vậy?
- Thưa ông...
- Trong thư, ông xin gặp tôi, và lời lẽ khẩn thiết đến nỗi tôi chắc chắn đã có một cái gì đột ngột và quan trọng xảy ra.
- Ðúng thế. Tôi viết thư hồi xế trưa, nhưng từ lúc đó đến giờ, nhiều biến cố đã xảy ra. Phải chi đại tá âm-vô đã không đuổi tôi ra khỏi cửa...
- Ðuổi ra khỏi cửa?
- Vâng. Ðại tá âm-vô là hiện thân của quân kỷ, nói năng thô bạo. Nếu không vì tình bằng hữu với Gô-rây, tôi đã không nhịn đâu.
Tôi đốt thuốc và dựa lưng ra sau một cách thoải mái.
- Có lẽ ông nên giải thích rõ hơn?
- Tôi đầu quân hồi tháng giêng 1901 (cách nay đúng 2 năm) và gặp Gô-rây. Nó tình nguyện trước tôi. Hai đứa ở cùng một đội. Nó là con trai độc nhất của đại tá âm-vô.
Trong toàn trung đoàn, không có đứa nào tốt hơn nó.
Chúng tôi trở thành đôi bạn thân, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi. Rồi trong một cuộc đụng độ gần đồi Diamond, nó bị một viên đạn của súng bắn voi. Tôi có nhận được hai lá thư của nó. Cái thứ nhất gởi từ bệnh viện Cap, cái thứ nhì gởi từ Southampton. Rồi sau đó bặt tin luôn. Khi chiến tranh chấm dứt, tất cả đều được giải ngũ.
Tôi viết thư cho bố nó, hỏi thăm nó ở đâu. Tuyệt nhiên, không có hồi âm. Tôi phải đợi, rồi lại viết lá thư khác. Lần này thì được phúc đáp: “Nó đi chu du thế giới, có thể phải cả năm mới về”. Thư ngắn và lời lẽ cộc lốc như thế đấy? Tôi không vừa lòng thưa ông. Gô-rây tốt bụng lắm. Nó không thể bỏ rơi bạn bè như thế này. Ngoài ra, tôi còn biết rằng nó thừa kế một tài sản kếch xù, và giữa bố nó và nó có trục trặc. Do đó tôi quyết định tìm hiểu sự việc. Nhưng vì cần sắp xếp việc nhà nên tuần rồi tôi mới có thời giờ lấy hồ sơ Gô-rây ra và nhất quyết bỏ hết mọi công chuyện, chỉ chú tâm vào việc này mà thôi.
Ông Dodd thuộc loại người để kết bạn, thứ không phải để gây thù. Ðôi mắt xanh của ông nghiêm khắc và khi nói chuyện thì hai hàm của ông khít lại.
- Rồi ông làm gì?
- Ðầu tiên tôi gởi một lá thư cho mẹ nó. Phải nói thẳng là tôi ớn cái ông già cộc lốc đó lắm: “Gô-rây là bạn thí thân của cháu, cháu không thể nào quên được các kỷ niệm chung. Nếu có dịp, cháu sẽ kể lại cho bác nghe một cách chi tiết. Cháu muốn tới nhà bác, thăm hai bác và hỏi thăm tin tức của bạn cháu. Bác có thấy bất tiện không?”.
Sau đó, tôi nhận được một lá thư rất dễ thương. Bà cụ mời tôi đến nhà chơi. Tôi đến đó vào ngày thứ hai. Căn nhà của ông bà đại tá ở tại Tuxbury Old Park.
Xuống xe lửa, không có xe ngựa, tôi phải xách va-li đi bộ. Ðó là một ngôi nhà bao la lọt giữa một cái vườn mênh mông. Lão quản gia Ráp, già nua và rêu rã như ngôi nhà, vợ lão trước kia là vú em của Gô-rây. Gô-rây có nói với tôi về bà này nó thương bà như mẹ ruột. Do đó tôi đặc biệt lưu ý tới bà dù rằng cái bề ngoài của bà khá dị thường. Thân mẫu của Gô-rây là một người đàn bà nhỏ thó, nhanh nhẹn khả ái. Chỉ có ông cụ là không thể nào ưa được.
Tôi được đưa vào văn phòng. Ông ngồi sau bàn: một con người dềnh dàng, lưng hơi gù, da sạm đen, râu quai nón màu tro. lỗ mũi có mạch máu hồng nổi cộm lên như mỏ kền kền. Cặp mắt hung tợn màu tro dưới hai đám lông mày rậm rạp chòng chọc nhìn tôi. Tôi hiểu tại sao ít khi Gô-rây đề cập tới bố nó.
- Sao, người bạn- ông hỏi tôi với giọng rốn ràng - Tôi muốn biết rõ các nguyên nhân thật của cuộc thăm viếng này?
- Thưa bác, cháu đã nói rõ trong thư.
- Ðúng thế. Ông nói rằng ông quen Gô-rây ở châu Phi. Chúng tôi không có cách nào khác hơn là phải tin theo lời ông.
- Tôi còn giữ thư của nó trong túi đây.
- Ông cho tôi xem?
- Ông liếc sơ hai cái thư rồi trả lại.
- Rồi sao nữa?
- Cháu rất quý Gô-rây. Nhiều sự ràng buộc và vô số kỷ niệm đã hợp nhất chúng cháu lại. Ðương nhiên cháu phải ngạc nhiên trước sự bặt tin của nó và phải tìm xem hiện giờ nó ra sao.
- Tôi nhớ mang máng là đã viết thư cho ông biết rồi mà. Từ Nam Phi trở về, sức khỏe của nó suy sụp trầm trọng, vợ chồng tôi quyết định cho nó nghỉ ngơi hoàn toàn thay đổi hẳn không khí. Tôi khẩn khoản yêu cầu ông bạn giải thích cho các bạn khác của nó.
- Cháu xin ghi nhớ. Tuy nhiên cháu xin biết tên chiếc tàu và hãng hàng hải để có thể gởi cho nó một lá thư.
Thỉnh cầu của tôi có vẻ vừa gây bối rối vừa chọc giận người chủ nhà. Ông cụ chau mày và gõ nhẹ cộp cộp trên bàn như một người đánh cờ đang bị chiếu bí.
- Ông bạn thân mến, nhiều người sẽ bực bội trước cái cù nhầy của ông bạn và nghĩ rằng ông nói dai như đỉa đói.
- Thưa bác, tất cả chỉ vì thân tình với con trai bác.
- Ðúng. Tôi ghi nhận điều đó. Nhưng tôi yêu cầu ông đừng hỏi thêm. Mỗi gia đình đều có chuyện riêng tư mà người ngoài không thể nào hiểu nổi. Bà nhà tôi rất thích nghe về cuộc đời quân ngũ của Gô-rây mà ông bạn khá rành, nhưng xin ông bạn hãy làm lơ hẳn cái hiện tại và tương lai của nó.
- Thưa ông Holmes, như vậy là tôi phải chấp nhận và tự nguyện giải quyết sự mù mờ về số phận của Gô-rây.
Tối hôm đó, bầu không khí khá tẻ nhạt. Ba người trầm lặng ăn cơm trong một gian phòng âm u, đèn đóm lù mù.
Bà cụ háo hức muốn nghe tôi kể về con trai của bà, còn ông đại tá thì có vẻ u sầu. Cuộc thảo luận này làm tôi phật ý đến nỗi có dịp tôi liền cáo lui về phòng. Ðó là một phòng trống trơn và cũng thê lương như phần còn lại của ngôi nhà. Tuy nhiên sau thời gian ngủ trên đồi cỏ Nam Phi, tôi đâu còn khó tánh về vấn đề chỗ ngủ nữa. Tôi vạch màn cửa ngắm cảnh vườn đêm dưới ánh trăng lưỡi liềm.
Kế đó tôi ngồi gần lò sưởi và cố gắng đọc một cuốn tiểu thuyết để tiêu khiển.
Lão Ráp mang thêm than đến.
- Tôi sợ ông bị thiếu than trong đêm khuya. Gió thì buốt, phòng thì rộng... Ông lão lưỡng lự như muốn nói điều gì. Khi tôi nhìn lên thì thấy ông đang đứng trước mặt tôi, vẻ đăm chiêu.
- Thưa ông, xin ông tha thứ cho cái tội nghe lén những gì ông nói về cậu Gô-rây trong bừa cơm tối. Ông biết không, vợ tôi là vú của cậu ấy, còn tôi thì phần nào như bố nuôi của cậu vậy. Ðương nhiên chứng tôi có để ý đến cậu ấy. Ông có nói cậu ấy đối xử đẹp, phải không.
- Nó là người dũng cảm nhất trung đoàn. Có lần nó cứu tôi thoát chết. Không có nó, tôi đâu còn sống đến ngày nay.
Ông lão quản gia xoa đôi tay gân guốc.
- Thật đúng với tính cách của cậu ấy. Cậu ấy luôn can đảm. Ông ơi, không có cây cổ thụ nào ngoài vườn mà cậu ấy không leo. Ngay từ thuở đó, nó cũng đã là một cậu bé dũng cảm... và thưa ông, lớn lên cũng đã là một người đàn ông dũng cảm?
Tôi nhảy dựng lên, la lớn:
- Ông vừa nói “đã là”...
Vậy nó đã chết rồi sao? Gô- rây ra sao rồi?
Tôi nắm cứng vai ông lão, nhưng ông vùng ra.
- Tôi không hiểu ông muốn nói gì, thưa ông. Ðề nghị ông hỏi ông chủ. Ông chủ biết đó.
ông lão sắp rời phòng, tôi nắm cánh tay ông, níu ông lại, năn nỉ.
- Mong ông trả lời một câu thôi; bằng không, tôi giữ ông lại suốt đêm: Gô-rây chết rồi ư?
- Ông lão không thể nhìn thẳng vào mặt tôi. Ông ấy tựa như một con thỏ bị thôi miên. Câu trả lời vuột khỏi môi ông!
- Thà cậu ấy chết còn hơn!
Câu nói vừa đột ngột vừa hãi hùng?..
Ông vuột khỏi tay tôi, hối hả chạy ra khỏi phòng.
- Thưa ông Holmes, câu trả lời của ông lão hình như cũng chả giải thích được gì nhiều. Chắc chắn là bạn tôi đã bị kẹt trong một vụ hình sự. Nếu không thì cũng là một cái gì nhục nhã làm nguy hại đến danh dự của gia đình ông đại tá khiến ông phải tống cậu con đi xa.
Gô-rây thích phiêu lưu, nên có thể bị bạn bè lôi kéo dễ dàng. Nếu vậy, nhiệm vụ của tôi là phải tìm để giúp nó. Trong lúc tôi đang nghĩ ngợi thì bỗng Gô-rây xuất hiện trước mặt tôi...
Người khách hàng của tôi ngừng nói vì xúc động sâu xa..
- Ông hãy nói tiếp. Vấn đề này có những dữ kiện hết sức đặc biệt.
- Nó đứng ở phía ngoài cửa sổ! Phía ngoài. Nó áp sát mặt vào cửa kiếng. Hồi nãy tôi có nói là tôi ngắm trăng. Sau đó, tôi kéo màn nửa chừng. Hình dáng nó nằm gọn trong phần cửa sổ trống. Ðây là loại cửa sổ lớn nên tôi thấy rõ nó từ đầu xuống gần hết chân. Nhưng gương mặt của nó làm tôi xúc động mạnh! Chưa bao giờ tôi thấy ai trắng bạch như thế. Khi thấy tôi nhìn nó, nó tức khắc nhảy lùi ra sau và biến mất trong đêm khuya.
Thưa ông Holmes, có một cái gì đó làm tôi thắc mắc vô cùng. Tôi đứng đó, trố mắt nhìn? Nhưng đã xông pha trận mạc trong 2 năm, tôi không hoảng hốt lắm, nên khi Gô-rây vừa đi khỏi thì tôi đã đứng tại cửa sổ. Cửa kẹt, nên tôi mở hơi lâu. Cuối cùng tôi ra được ngoài vườn. Tôi chạy dọc theo hướng nó chạy. Lối đi thì dài, mà trời lại mờ. Tôi thấy một cái gì đang di động lờ mờ trước mặt tôi. Tôi tiếp tục chạy, kêu ngay tên nó, nhưng không có kết quả. Cuối lối đi tôi đứng trước một ngả rẽ năm sáu đường mòn đi về nhiều phía. Tôi đứng đó, chần chừ. Chính lúc này tôi nghe rõ ràng tiếng một cửa lớn đang đóng lại. Không phải đàng sau lưng tôi ở trong nhà chính, mà là ở trước mặt tôi, đâu đó trong bóng tối. Tôi nghe khá rõ, vậy là Gô-rây chạy trốn tôi? Chính nó đóng cửa lại sau khi đã vào nhà.
Làm gì bây giờ. Qua một đêm không ngủ, tôi hy vọng tìm ra một giả thiết có thể giải thích suôn sẻ các dữ kiện. Hôm sau, tôi thấy ông đại tá dễ chịu hơn, và sẵn dịp bà vợ ông nhắc rằng chung quanh vùng này có những nơi hay hay, tôi bèn xin phép họ được lưu lại thêm một đêm nữa. Tôi đã biết chắc chắn rằng Gô-rây đang lẩn trốn.
không xa- Cái tư dinh bát ngát và nhiều hang hóc đến nỗi cả một trung đoàn ky binh có thể tìm đủ chỗ núp an toàn.
Nó có chừa một bí mật nào thì rất khó mà phát hiện.
Nhưng mà cái cửa tôi nghe đóng không phải của căn nhà chính. Tôi lục lạo khu vườn, đi lung tung một cách tùy tiện, vì ông bà chủ nhà đều bận rộn công việc.
Có nhiều căn nhà phụ nhỏ. Nhưng ở cuối vườn, có một cái nhà cô lập, khá bề thế, rất tiện lợi khi làm nhà ở cho một người làm vườn hay một người canh bọn ăn trộm.
Phải chăng tôi đã nghe tiếng cửa của căn nhà phụ này đóng lại- Tôi giả vờ khoan thai tới gần, như thể đang đi thăm toàn khu đất. Ngay lúc đó, một người đàn ông nhỏ con, râu quai nón, nhanh nhẹn, trang phục màu đen, mũ lông nón tròn, xuất hiện trước cửa. Lạ lùng thay, vừa ra khỏi cửa, ông ta vội vàng khóa cửa lại, và bỏ chìa khóa vào tủi, nhìn chòng chọc vào tôi, hỏi:
- Ông tới đây chơi vài ngày.
Tôi nói rõ danh tính rồi cho biết tôi là bạn thân của Gô-rây.
- Rất tiếc rằng nó đã đi du lịch, phải chi nó có ở nhà, nó sẽ mừng lắm.
Tôi nói bâng quơ.
- Chắc chắn như vậy?
Ông ấy trả lời hơi lấp lửng.
Tuy nhiên, tôi đề nghị ông trở lại đây vào một lúc khác thuận tiện hơn.
Ông ta chỉ nói bấy nhiêu rồi bỏ đi. Khi tôi quay lại thì thấy ông ấy đứng lẫn trong đám nguyệt quế, mắt canh tôi.
Khi đi ngang qua đó, tôi để ý thật kỹ ngôi nhà nhỏ với cửa sổ kéo màn dày. Thoạt nhìn, có vẻ đó là một căn nhà trống vắng. Tôi có cảm giác đang bị theo dõi nên tôi lững thững đi về phòng của mình.
Ðêm đến, khi trời đã tối đen và mọi nơi đều im vắng, tôi lén nhảy qua cửa sổ, rón rén đi tới căn nhà huyền bí.
Tôi đã nói với ông rằng các cửa sổ đều kéo màn thật dày. Giờ đây các cửa lại đóng kín mít. Tuy nhiên, xuyên qua một khe hở của cửa sổ, một ánh đèn leo lét lôi cuốn sự tò mò của tôi. May mắn cho tôi màn không kéo kín hẳn.
Qua khe hở, tôi thấy rõ bên trong. Ðó là một căn phòng khá vui, có một cái đèn lớn và một ngọn lửa sưởi. Trước mặt tôi là người đàn ông lùn mà tôi đã gặp hồi sáng, ông ta đang ngồi hút thuốc và đọc báo.
Một người thứ nhì ngồi quay lưng ra cửa sổ và tôi thề độc rằng đó là Gô-rây. Tôi không thấy rõ mặt, nhưng tôi nhớ độ cong của đôi vai. Nó tì cùi chỏ, thái độ cực kỳ u sầu, quay lưng ra phía lò sưởi. Trong lúc tôi chưa biết phải phản ứng ra sao thì có người vỗ vai tôi: đại tá âm-vô!
- Hãy đi theo tôi, ông bạn - ông cụ ra lệnh cho tôi với tiếng nói nhỏ nhẹ, rồi ông lặng thinh, đi về nhà chính.
Tôi đi theo ông tới phòng của tôi. Khi đi ngang qua hành lang? đại tá lấy một cái đồng hồ báo thức. “8 giờ rưỡi có tàu về Luân Ðôn. Xe ngựa chờ sẵn ngoài cửa lúc 8 giờ “.Ông cụ giận run, mặt trắng bệch. Thú thật tôi cũng cảm thấy mình vừa lọt vào một tình huống khó xử nên chỉ ấp úng biện bạch.
- Không dông dài làm gì - ông cụ nói cụt ngủn như thế - ông bạn đã khiếm nhã, đột nhập vào đời tư của kẻ khác. Ông bạn được tiếp như một thượng khách nhưng lại xử sự như một thằng gián điệp. Tôi không muốn gặp ông bạn lại lần thứ hai.
Lúc đó tôi mất nhẫn nại và có phần thất kính:
- Tôi đã nhìn thấy con trai ông và tôi chắc chắn ông giấu nó với đời. Tôi không hiểu gì về lý do khiến ông buộc nó mai danh ẩn tích nhưng tôi biết chắc chắn rằng nó mất tự do. Tôi cho ông biết trước, thưa đại tá, khi tôi chưa an tâm về sự an ninh của nó! Tôi vẫn cố gắng tối đa để làm sáng tỏ vấn đề.
Ông già nhìn tôi với đôi mắt đầy ác cảm rồi ông quay lưng, rời khỏi phòng tôi. Về phần tôi, tôi đi chuyến xe 8 giờ 30 và đi thẳng tới đây xin ông chỉ dạy và giúp đỡ.
Ðó là bài toán mà khách trình bày cho tôi. Bài toán có nhiều khó khăn nghiêm trọng. Tuy nhiên, nó có nhiều chi tiết lý thú.
- Về tôi tớ?
- Tôi hỏi - Nhà đó có bao nhiêu người?
- Theo tôi, thì chỉ có người lão quản gia và bà vợ. Ðời sống tại nhà đó khá đạm bạc. Trong căn nhà phụ, không có tôi tớ sao?
- Cái lão có râu quai nón, thuộc một giai tầng xã hội cao hơn.
- Rất là lý thú. Ông có để ý xem coi có phần cơm nước được đưa từ tòa nhà này sang tòa nhà khác không?
- Tôi nhớ có thấy lão Ráp xách giỏ đi về hướng căn nhà đó. Tôi không nghĩ rằng đó là một giỏ thức ăn.
- Ông đã mở cuộc điều tra xung quanh chưa?
- Có. Tôi đã nói chuyện với người trưởng ga và người chủ quán của làng. Tôi chỉ đơn giản hỏi họ có biết gì về người bạn Gô-rây của tôi không. Cả hai đều khẳng định với tôi rằng nó đang đi chu du thế giới. Sau chiến tranh, hình như nó có về rồi lại ra đi. Câu chuyện hiển nhiên được những người chung quanh chấp nhận, không thắc mắc.
- Họ không tỏ vẻ nghi ngờ gì hay sao?
- Không.
- Câu chuyện đáng được lưu tâm. Ðược. Tôi sẽ cùng đi với ông tới Tuxbury Old Park.
- Ngay hôm nay?
- Lúc này tôi đang bận một việc cần thiết khác.
Ðầu tuần sau, tôi mới cùng với ông Dodd đi lên Bedford. Trên đường đi, chúng tôi còn ghé rước một người nghiêm nghị, có mái tóc đen màu xám bạc mà tôi đã thu xếp trước. Tôi nói với Dodd:
- Tôi xin giới thiệu một ông bạn cũ. Sự hiện diện của ông ấy có lẽ là thừa, trừ khi tình thế xoay chiều thì sự có mặt đó sẽ rất hữu ích.
Dodd có vẻ ngạc nhiên nhưng không nói gì. Trên xe hơi, tôi hỏi Dodd, một việc mà tôi muốn cả người bạn đồng hành của chúng tôi cùng nghe.
- Ông có nới rằng ông thấy rõ mặt ông Gô-rây ở cửa sổ.
- Nó áp mũi sát vào kiếng, ánh sáng của đèn chiếu rõ mồn một.
- Có thể là một ai khác giống ông ta.
- Không đâu. Chắt chắn là nó.
- Nhưng ông nói gương mặt của Gô-rây có thay đổi?
- Chỉ nước da thôi! Làm sao tả gương mặt nó bây giờ? Mặt nó trắng như bụng cá.
- Trắng toàn thân không?
- Không đâu. Tôi không cho là như vậy. Tuy nhiên tôi chỉ thấy cái trán của nó khi nó áp sát vào cửa.
- Ông có gọi ông ấy không?
- Lúc ấy tôi điếng người. Tôi có đuổi theo nó, như đã nói với ông, nhưng vô ích thôi.
Sau một cuộc hành trình dài bằng xe ngựa, chúng tôi đến nơi. Chính lão quản gia Ráp mở cửa cho chúng tôi.
Tôi đã mướn nguyên xe này và có dặn ông bạn thân cùng đi hãy ngồi lại ngoài xe. Ráp ăn mặt trong y phục qui ước nhưng khác lạ là có đeo đôi bao tay da màu nâu, ông lão lật đật cởi ra để lên bàn ở ngay cửa. Như Watson từng nhận xét: tôi được trời cho những giác quan bất bình thường. Một cái mùi yếu nhưng dai dẳng cũng làm xốn xang mũi tôi. Hình như nó phát ra từ cái bàn. Vừa bước vào, tôi lại quay ra sau để nón lên bàn và làm rớt nó. Khi cúi xuống lượm, tôi ghé mũi gần đôi bao tay. Rõ ràng là mùi dầu hắc. Giờ đây hồ sơ tôi đã đầy đủ. Than ôi. Khi đích thân tôi kể chuyện, thì tôi lại phơi bày các cái mánh của tôi, ngược lại Watson thì giấu nhem các khâu này.
Ðại tá âm-vô không có ở trong phòng. Tuy nhiên khi Ráp đem tin tới thì đại tá nhanh chóng ra ngay.
Chúng tôi nghe được bước chân nhanh và nặng của ông đi ngoài hành lang. Ông mở mạnh cửa, ào ào đi vào văn phòng, râu quai nón xồm xoàm, khuôn mặt hơi cáu. Chưa bao giờ tôi gặp mặt ông lão khủng khiếp như thế! Ông cầm trên tay tấm danh thiếp của chúng tôi, xé thành một nghìn mảnh.
- Này cái ông tào lao, tôi đã nói với ông rằng tôi không muốn thấy cái bản mặt đáng nguyền rủa của ông lần thứ hai. Nếu ông bất tuân, tôi có quyền sử dụng bạo lực. Tôi giết ông chết. Thật đó, tôi sẽ giết ông. Còn ông...
Ðại tá quay lại phía tôi.
Lời đó dành luôn cho cả ông nữa. Tôi có biết cái nghề hạ lưu của mấy ông. Hãy phát triển tài năng của ông đi chỗ nào khác, không phải chỗ này?
- Tôi sẽ không bao giờ rời khỏi nơi đây - Người khách hàng của tôi dằn từng tiếng - Trước khi nghe chính miệng Gô-rây nói rằng nó không bị áp bức gì!
Người chủ nhà cực kỳ giận dữ, bấm chuông vang trời.
- Ráp. Hãy điện thoại cho cảnh sát quận, yêu cầu viên thanh tra đưa tới đây hai cảnh sát viên. Bảo với họ rằng hiện có 2 kẻ cắp đang đục tường tại nhà mình.
- Cho tôi vài giây - Tôi nói xen vào - ông Dodd, ông phải biết rằng đại tá âm-vô có quyền làm như thế. Chúng ta không có một tư cách pháp lý nào tại đây. Ngược lại, tôi cũng khẩn thiết xin đại tá nhìn nhận rằng mọi việc làm của ông Dodd đều vì cậu con trai của đại tá. Tôi tin rằng nếu tôi được nói chuyện 5 phút với đại tá, tôi sẽ làm ông thay đổi quan điểm.
- Tôi không bao giờ để cho người khác ảnh hưởng đến mình - Người chiến sĩ già đáp - Ráp, hãy thi hành lệnh tôi. Còn đợi gì nữa? Gọi cảnh sát cho mau!
- Ðại tá sẽ không bao giờ làm điều đó- Tôi nói vừa tựa lưng vào cánh cửa lớn - Sự can thiệp của cảnh sát sẽ gây ra cái tai họa mà đại tá muốn tránh.
Tôi lấy sổ tay ra rồi viết một từ, vỏn vẹn một từ, rồi trao cho đại tá.
- Chính đó là nguyên nhân khiến chúng tôi tới đây hôm nay - Tôi nói thêm.
Ðại tá đăm chiêu nhìn tờ giấy, và mọi bực bội đều biến khỏi gương mặt ông, trừ sự kinh ngạc.
- Làm sao ông biết được?
Ðại tá ấp a ấp úng rồi ngồi phịch xuống ghế dựa.
Ðại tá ngồi trầm tư, lấy bàn tay gân guốc mân mê vài sợi râu, rồi chậm rãi nói:
- Vâng, quý ông muốn gặp Gô-rây thì quý ông sẽ được gặp. Nhưng nên nhớ là tôi không hề cho phép, chính quý ông đã cưỡng chế tôi.
- Ráp. Hãy báo trước cho Gô-rây và ông Kent biết rằng trong 5 phút nữa, chúng tôi sẽ đến đó.
Sau khi, năm phút đã trôi qua, chúng tôi băng qua vườn, đi đến căn nhà bí mật. Ông lão lùn có râu quai nón đứng trước cửa, có vẻ sửng sốt:
- Chuyện gì mà đột ngột vậy. Thưa đại tá, tất cả các kế hoạch của ta bị hỏng hết?
- Ðành chịu vậy, ông Kent. Chúng ta bị bắt buộc. Gô-rây có thể tiếp khách không.
- Có.
Ông lão quay lại, đưa chúng tôi vào một phòng trang hoàng rất nhiều thứ đồ gỗ. Một người đàn ông đứng quay lưng ra lò sưởi. Khi nhìn thấy người đó, Dodd dang tay nhào tới.
- Ồ, bạn Gô-rây, thật là...
Nhưng người kia làm dấu xua đuổi.
- Ðừng sờ tôi. Hãy giữ khoảng cách! Ðúng, mày có thể mở mắt nhìn tao cho thỏa thích. Nhưng tao không còn là thằng binh nhất âm-vô sáng giá thuộc đội B nữa, phải không.
Quả vậy, bề ngoài của nó rất dị thường. Người ta có thể đoán ra rằng trước kia anh ta rất đẹp trai, với khuôn mặt bị sạm nắng bởi mặt trời Nam Phi. Còn bây giờ trên khuôn mặt màu nâu, những vết trắng đã làm cho da anh bị phai màu từng mảng.
- Ðó là lý do tại sao tao không ra tiếp khách.
- Tao không phiền gì mày đâu, nhưng tao thích gặp mày một mình.
- Thật quá bất ngờ đối với tao.
- Tao muốn biết chắc rằng mày được vui vẻ, Gô-rây.
- Tao nhận ra mày ngay lúc mày tới ngó qua cửa sổ. Sau đó thì lòng tao không còn bình thản nữa.
- Lão Ráp cho tao hay tin và tao không thể không tới nhìn mày. Tao hy vọng mày không thấy tao. Tao chạy hụt hơi khi nghe cửa sổ mở.
- Vì lý do nào?
- Ồ, câu chuyện ngắn gọn thôi – Gô-rây vừa nói vừa đốt thuốc - Mày còn nhớ trận đánh vào một buổi sáng nọ ở trên tuyến đường sắt phía Ðông?
Mày biết tao bị thương chứ?
- Ðúng, tao có hay tin, nhưng không biết chi tiết khác.
- Ba đứa bọn tao bị lạc bầy. Ðịa thế trắc trở. Bọn tao đi thám sát, bị lọt ổ phục kích. Hai thằng kia tử thương.
Tao bị bắn vào vai bằng viên đạn bắn voi. Tuy vậy tao bám cứng vào ngựa, nó phi khoảng mười cây số trước khi tao té xỉu lăn cù dưới chân ngựa.
Khi tao tỉnh lại thì đã tối rồi. Tao đứng lên, nhưng thấy quá mệt. May thay có một cái nhà gần đó: căn nhà khá lớn có hàng hiên và rất nhiều cửa sổ. Trời lạnh ghê gớm, cái lạnh kinh khủng, khác hẳn với cái lạnh khô ráo và lành mạnh ở Anh. Tao bước đi khập khiễng, lê lết, mơ mơ màng màng. Tao nhớ mang máng là đã leo lên một bực thềm, bước vào một căn phòng rộng mênh mông có nhiều giường, tao đã bò lên đó. Cái giường rêu rã nhưng tao bất cần. Tao kéo “ra” đắp cái thân đang run cầm cập.
Một lát sau, tao ngủ thiếp đi.
Khi tỉnh dậy thì trời đã sáng. Tao có cảm giác rằng thay vì lọt vào được một khu nhà an toàn thì tao lại sa vào cảnh ác mộng. Ánh nắng châu Phi ào ào tuôn xuống, xuyên qua các cửa sổ không màn che. Trước mắt tao có một người đàn ông rất lùn, nhỏ xíu, cái đầu thật to, đang bập bả bập bẹ tiếng Hòa Lan, hai tay múa may lung tung.
Sau lưng hắn là một đám đông. Khi nhìn kỹ, tao thấy họ không có dáng vẻ của một người bình thường: tất cả đều cong queo, méo mó, sưng phù.
Không ai nói tiếng Anh. Cái thằng lùn đầu to đang giận dữ. Nó gào thét như con thú, nó thộp tao bằng hai tay mất hình dạng, toan vứt tao xuống đất, dù máu từ vết thương của tao chảy lai láng, nó cũng mặc kệ. Con quái vật tí teo này mạnh như bò mộng. Tao chưa biết phải đối xử ra sao thì một người có tuổi thốt ra vài câu dõng dạc bằng tiếng Hòa Lan, và tên lùn bỏ đi. Ông già mới quay sang tao, kinh ngạc nhìn tao, hỏi:
- Anh đến đây bằng cách nàoTôi thấy anh kiệt sức và cái vai bị thương này cần được chăm sóc. Tôi là y sĩ, tôi sẽ băng lại cho anh. Nhưng anh hiện ở nhà thương của người cùi và anh mới vừa ngủ trên giường họ. Có lẻ mày đâu cần tao phải kể lể dông dài hơn nữa.
Ông y sĩ này cố nói với tao rằng mặc dù cơ thể ông đã được miễn nhiễm, ông cũng không bao giờ dám làm như tao. Sau đó, ông cho dời tao qua một căn phòng đặc biệt và đối xử với tao rất tử tế. Tám ngày sau, tao được di tản qua tổng y viện. Khi về đến nhà thì những triệu chứng bất thường xuất hiện; những gì mày thấy trên mặt tao....
- Làm sao bây giờ. Tao ngụ tại căn nhà cô lập này. Gia đình có hai gia nhân có thể tin cậy hoàn toàn. Lại có một căn nhà nhỏ để tao sống. Ðể giữ bí mật tuyệt đối, y sĩ Kent bằng lòng ở chung với tao. Nếu lộ ra một tí xíu sẽ bị sang cái địa ngục khác. Cả tao, cả mày, Jim... cả mày cũng không biết được rằng, tại sao bố tao đã nhượng bộ này. Ðó là điều tao không bao giờ hiểu được.
Ðại tá chỉ tay vào tôi, nói:
- Ông này ép buộc ba.
Rồi ông ấy mở ra tờ giấy ghi chữ “cùi” - Ba thấy hình như ông ấy đã biết quá nhiều nên tốt hơn hết là nói cho ông ấy rõ tất cả.
- Và giờ đây, tôi đã biết hết rồi - Tôi nói - Rồi đây có thể có những điều tốt đẹp xảy đến. Tôi nghĩ rằng chỉ có ông Kent mới biết rõ bệnh nhân. Thưa ông, tôi xin phép hỏi ông, trong trường hợp này, bệnh của bạn tôi có gốc nhiệt đới hay bán nhiệt đới?
- Tôi chỉ có những hiểu biết thông thường của một y sĩ - Kent trả lời giọng lạnh nhạt.
- Thưa ông, tôi không hề nghi ngờ chuyên môn của ông. Chắc ông sẽ chấp nhận một ý kiến thứ hai đó là với trường hợp này, ông sợ người ta đưa bệnh nhân vào trại cùi?
- Ðúng thế!
- Viên đại tá trả lời.
- Tôi đã dự đoán cái tình huống này. Tôi có dẫn theo một người bạn thân: với người này, quý vị có thể tin rằng bí mật của chúng ta vẫn được bảo vệ. Trước kia, tôi có giúp ông ấy một việc. Giờ đây đương nhiên ông ấy sẽ sẵn lòng cho chúng ta một ý kiến, đồng thời cũng là của một chuyên gia. Ðó là Uyn-đơ, ngài Uyn-đơ.
Mặt mày của ông Kent sáng rực vì ông mà được hầu chuyện với Uyn-đơ thì cũng giống như một binh nhì được nói chuyện với đại tướng.
- Tôi vô cùng hân hạnh - Bác sĩ Kent đáp.
- Vậy thì tôi sẽ mời ngài Uyn-đơ đến tận đây, ông hiện chờ ngoài xe. Trong khi chờ đợi, đề nghị đại tá đưa chúng tôi lên văn phòng của ông. Tại đây tôi sẽ giải thích.
Giờ đây, tôi quả thấy thiếu vắng Watson. Watson biến hóa tài nghệ giản dị của tôi khi tôi tự thuật, tôi không hưởng được cái ngón nghề này. Mặc kệ. Tôi sẽ tường thuật hầu quý độc giả cái tiến trình tư duy y hệt như khi tôi trình bày nó cho các thính giả của tôi. Sau đó tôi bước vào phòng của đại tá có cả bà mẹ Gô-rây tham dự. Tôi nói:
- Cái tiến trình đó, khi quý vị đã loại trừ những gì không thể chấp nhận, thì cái còn lại sẽ là chân lý, dù nó có vẻ khó tin thật. Có nhiều giả thiết. Trong trường hợp này, ta lần lượt xét từng cái một, cho tới khi gặp cái nổi cộm. Ngay từ phút đầu, tôi đã có ba lời giải thích về sự cách ly chàng trai trong một căn nhà thuộc lãnh địa của tổ phụ.
Thứ nhất là y trốn vì một tội đại hình.
Thứ hai là vì y bị điên nên cần nhốt lại để khỏi bị đưa vào nhà thương điên.
Thứ ba là y bị bệnh truyền nhiễm nên cần phải cô lập.
Lời giải thích thứ nhất không thể đứng vững. Nếu người thanh niên này phạm tội đại hình, mà chưa bị phát hiện, thì gia đình sẽ phải tống y ra nước ngoài càng sớm càng tốt! Ai dại gì giấu y tại nhà? Bệnh điên thì dễ chấp nhận nhất. Sự hiện diện của một người thứ hai trong ngôi nhà nhỏ đó có thể được giải thích rằng: người thanh niên cần được canh chừng. Sự kiện người hộ vệ khóa cửa khi ra ngoài củng cố thêm cho giả thiết này; nhưng mặt khác anh chàng đã có thể đi ra khỏi căn nhà nhỏ, lần mò tới căn nhà chính để nhìn thoáng qua người bạn thân? Ngoài ra luật pháp đâu có cấm giam giữ người điên tại nhà nếu người này được chăm sóc đúng theo y tế và chính quyền được báo cáo đều đặn. Vậy thì làm sao giải thích cái quyết tâm giữ bí mật tuyệt đồi? Lại một lần nứa lý thuyết bệnh điên không khớp với thực tế.
Vậy chỉ còn có giả thiết thứ 3. Trong giả thiết thứ ba này, tất cả các dữ kiện dị thường đều được giải thích thỏa đáng: Bệnh cùi không phải là hiếm hoi tại Nam Phi. Anh chàng bị lây. Gia đình không muốn đưa bệnh nhân vào trại cùi. Do đó phải giữ bí mật tuyệt đối để tránh sự đồn đại của quần chúng và sự can thiệp của nhà cầm quyền, một y sĩ tận tụy và được trả lương trọng hậu sẽ chấp nhận chăm sóc bệnh nhân. Do đó, đâu có lý do gì cấm cản bệnh nhân đi dạo khi màn đêm buông xuống. Da bị trắng là một hiệu quả thông thường của căn bệnh.
Thế là tôi quyết định hành động như thể giả thiết này đã được xác nhận và chứng minh từ trước. Khi tới đây, tôi để ý rằng lão bộc Ráp mang bao tay có khử trùng, thì các ngờ vực chót của tôi tiêu tan hẳn. Thưa đại tá, chỉ một từ mà thôi, cũng đủ cho đại tá thấy rằng bí mật của đại tá đã bị lộ. Còn việc tôi viết, thay vì nói, là nhằm bảo dám với đại tá sự kín miệng của chúng tôi.
Tôi đang hoàn tất bài phân tích ngắn này thì cửa mở và khuôn mặt khắc khổ của nhà khoa học tài danh về da xuất hiện. Lần đầu tiên ông cởi bỏ bộ mặt lạnh lùng.
Cái nhìn của ông rực sáng tình người. Ông đi về hướng đại tá, bắt tay ông ấy.
Nghề này của tôi thường là báo tin buồn - ông nói - Nhưng lần này, thì ngược lại.
Con trai của đại tá không mắc bệnh cùi.
- Sao?
- Ðó là một trường hợp cổ điển của một bệnh gần giống như bệnh cùi, hay bệnh vảy nến, một bệnh ngoài da. Da tróc vảy, khó coi. Bệnh dai dẳng, tuy nhiên có thể chữa được và chắc chắn không lây. Ðúng thế, thưa ông Holmes, thật là một sự trùng hợp dị thường! Tôi không bao giờ hy sinh tiếng tăm của tôi để tuyên bố mà là vì trách nhiệm... Nhưng bà cụ xỉu kìa? Ðề nghị bác sĩ Kent lo cho bà sớm tỉnh lại sau cú sốc vì tin mừng này.
Cuộc đời như những cơn mưa
Đăng nhập để trả lời
0
VIÊN ÐÁ CỦA MAZARIN
(lukhach chỉnh chính tả)

Watson sung sướng vô cùng khi một lần nứa được quay trở về căn hộ trên gác ở đường Baker, nơi xuất phát của biết bao cuộn phiêu lưu kỳ thú. ông nhìn các bản đồ phác họa trên tường, cái bàn loang lổ vì acid, và ngổn ngang những hóa chất để thí nghiệm, cái bao vĩ cầm dựng ở một góc, cái xô than vẫn được dùng để đựng cái ống vố và thuốc lá. Cuối cùng ông nhìn thấy khuôn mặt tươi cười của Bi-li, thằng tiểu đồng sâu sắc và tế nhị người đã giúp khỏa lấp cái hố sâu đơn côi và cô quạnh của nhà thám tử đại tài.
- Không có thay đổi gì nhiều lắm hả Bi-li. Cả cháu cũng không có thay đổi, tôi hy vọng ông ấy cũng thế.
Bi-li ái ngại nhìn về hướng phòng ngủ đóng kín.
- Có lẽ ông ấy đang ngủ.
Ðã 7 giờ tối và cái ngày hè hôm đó rất đẹp. Bác sĩ Watson khá quen với thời khóa biểu bất thường của người bạn cố tri, nên không hề ngạc nhiên chút nào.
- Nghĩa là ông ấy đang theo dõi một vụ nào đó?
Ðúng vậy thưa ông. Một vụ mà ông ấy phải dốc toàn tâm toàn trí. Cháu lo cho sức khỏe của ông ấy lắm.
Ông ấy tái mét, gầy đi, bỏ ăn..“ Chừng nào ông mới thấy đói, hả ông Holmes?”, bà Hớt-xơnthường hỏi thế. “Bảy giờ rưỡi ngày mốt”, ông ấy trả lời như vậy. Bác sĩ thừa biết là ông ấy lo lắng tới mức nào một khi lo vào một vụ.
- Biết - ông ấy đang bám theo ai đó. Hôm qua ông ấy ra đi người ta lầm tưởng là một công nhân đi kiếm việc làm.
Hôm nay ông ấy giả làm đàn bà, ông ấy nguy trang hay lắm. Mới đầu tôi còn bị lầm, nhưng bây giờ thì quen rồi.
Bi-li cười nhoẻn, tay chỉ về cây dù to tướng dựa vào cái ghế dài.
- Ðể ngụy trang làm một bà lão đó.
- Thuộc loại chuyện gì?
Bi-li hạ giọng như thể sắp sửa tiết lộ một bí mật lớn của thế gia.
- Cháu xin kể, thưa ông, nhưng phải tuyệt đối giữ. miệng. Ðó là vụ Viên kim cương của Hoàng gia.
- Vụ trộm một hột xoàn trị giá khoảng 100 ngàn bảng Anh?
- Ðúng thế, thưa ông. Phải kiếm cho ra ông biết không? Ông thủ tướng và ông bộ trưởng bộ nội vụ đều đến ngồi tại ghế dài này. Ông Holmes tiếp họ rất lịch sự, trấn an họ và hứa sẽ cố gắng tối đa. Có cả huân tước Can-lê.
- Thế nào?
- Ðúng thế, thưa ông.
Ông có biết ông này không?
Một mẫu người sắt đá, nếu cháu được phép nói thực lòng.
Cháu khoái ông thủ tướng nhất, ông bộ trưởng cũng thế cháu có cảm giác đó là những người cần mẫn, lễ độ. Còn ông Can-lê, cháu không thể chịu đựng được! ông Holmes cũng cùng một quan điểm với cháu, ông ạ. Ông Can-lê không tin tài của ông Holmes, chống đối việc sử dụng ông Holmes, và còn cầu mong ông Holmes thất bại.
- Ông Holmes biết không?
- Ông Holmes luôn luôn biết tất cả những gì cần phải biết...
- Vậy thì chúng ta hy vọng ông Holmes sẽ thắng và huân tước Can-lê sẽ quê.
Nè Bi-li, cái màn căng ở cửa sổ để làm gì?
- Ông Holmes mới móc nó cách đây ba ngày và có để một cái ngồ ngộ ở đàng sau.
Bi-li tiến tới, kéo cái màn ngăn cách căn phòng với cửa sổ.
Watson không thể đè nén một tiếng la vì ngạc nhiên. Một mẫu tượng lớn như thật của Holmes, mặc áo ngủ, mặt hướng ra cửa sổ, nhìn xuống như thể đang đọc một cuốn sách vô hình.
Bi-li gỡ cái đầu ra, rồi giơ cao lên.
- Ông Holmes luôn luôn cho đổi góc độ để có vẻ sống động. Chỉ khi nào bức sáo kéo xuống, cháu mới dám sờ tới nó. Khi bức sáo kéo lên, đứng bên kia đường, ông sẽ nhìn thấy rõ ông Holmes!
- Có lần chúng tôi cũng đã sử dụng cái màng này.
- Với cháu thì đây là lần đầu - Bi-li nói, tay kéo bức sáo để ngó ra đường - Phía bên kia đường có người rình.
- Cháu thấy rõ một người tại cửa sổ, ông nhìn thử xem.
Watson mới vừa bước tới thì cánh cửa phòng mở, cho thấy cái dáng vóc lêu nghêu của Holmes. Khuôn mặt bơ phờ, nhưng bước đi vẫn nhanh nhẹn như thường ngày.
Holmes bước tới của sổ, kéo bức sáo xuống.
- Ðủ rồi Bi-li!
Chết đó cháu ơi.
- Sao Watson?
- Gặp anh tại căn hộ thân ái này là thích thú vô cùng.
- Anh tới đúng lúc đó?
- Hình như vậy?
- Cháu có thể lui, Bi-li... Tôi lo cho thằng bé quá, anh Watson. Ðâu có thể để cho nó chịu hiểm nguy?
- Hiểm nguy gì?
- Chết đột ngột.
Tôi đang đợi đêm nay.
- Ðợi cái gì?
- Bị ám sát!
- Thiệt sao?
- Tuy nhiên, trong khi chờ chết, ta phải hưởng một chút tiện nghi phải không. Rượu chưa bị cấm. Cái ống quẹt và hộp xì gà vẫn nằm tại vị trí cũ. Bạn hãy ngồi trên ghế bành để tôi nhìn bạn thêm một lần nữa.
- Tôi hy vọng bạn chưa tập xong cái thói quen ghét cái tẩu và cái mùi thuốc khen khét của tôi.
Mấy bữa rày, nhờ nó mà khỏi ăn cơm.
- Tại sao lại không ăn?
- Năng lực sẽ bén nhọn hơn nếu ta ăn chay.
- Nhưng còn cái hiểm họa?
- À. Trong trường hợp mà sự đe dọa trở thành hiện thực, anh hãy nhớ lấy tên và địa chỉ của kẻ sát nhân đem nộp cho Scotland Yard. Tôi xin chúc lành cho anh? Nó là hầu tước Nê-giết. Chép cái tên đi, anh Watson, chép đi?
136 Moorside Gardens N.W. Xong chưa?
Khuôn mặt của Watson đầy lo âu.
- Cho tôi tham gia với.
Tôi rảnh hoàn toàn trong 48 giờ.
- Ðạo đức của anh chưa tiến, anh Watson. Ngoài các tật xấu khác, nay anh có thêm tật nói láo. Rõ ràng anh có dáng vẻ của một y sĩ rất bận rộn.
- Không đến nỗi thế đâu. Nhưng anh không thể nhờ cảnh sát bắt hắn sao?
- Ðược chứ !
- Thế thì tại sao không nhờ cho rồi?
- Tại vì hiện tôi chưa biết viên kim cương nằm tại đâu.
- Bi-li có nói với tôi về viên kim cương trên vương miện.
- Ðúng thế đó là một con cá mập. Thằng kia là Sam Mơ-tông, biết đánh quyền Anh. Thằng Sam không tệ đâu, nhưng nó bị hầu tước xỏ mũi. Nó chỉ là một con em chốt ngu đần đang vẫy vùng trong lưới của tôi.
- Hầu tước hiện ở đâu?
- Suốt buổi sáng nay tôi đứng sát bên nó. Anh có thấy tôi ngụy trang thành một bà lão chưa, Watson?
- Chưa bao giờ có bà lão nào quyến rũ như sáng nay. Nó còn cầm dù giùm tôi trong một lúc. “Xin phép bà. Nó nói với tôi, giọng pha trộn tiếng ý. Nó có cái dịu dàng của miền Nam trong cử chỉ lúc nó vui, nhưng khi buồn, nó là hiện thân của quỷ sứ.
- Có thể xảy ra thảm kịch?
- Có lẽ.
Tôi đã theo nó tới cửa hiệu của lão Trô-ben.
Tay này là một cây súng hơi, tôi đoán thế. Và tôi có đủ cơ sở để nghĩ rằng cây súng đó hiện giờ đang đặt tại cửa sổ trước nhà. Anh đã thấy hình nộm của tôi rồi đó. Hình nộm có thể ăn đạn bất cứ lúc nào. Ủa! Có gì vậy Bi-li?
Bi-li mang vào một tấm danh thiếp đặt trên mâm.
Holmes vừa nhìn vừa nhướng mày và cười thích thú.
- Ðích thị là Nê-giết. Bất ngờ quá. Anh ta cầm cây củi ngay phía đang cháy, chì thật. Anh biết rằng hắn nổi tiếng là thợ săn mồi to? Anh ta định sẽ kết thúc đẹp đẽ bảng thành tích của mình, sau khi ghi được thêm tên tôi vào đó.
- Ta báo cho cảnh sát!
- Chưa cần. Anh nhìn kỹ ra ngoài cửa sổ xem có ai thơ thẩn phía đó không?
Watson dạn dĩ vén bức màn.
- Một thằng to con đứng gần cửa lớn.
- Sam Mơ-tông đó.
Hắn trung thành nhưng ngu dại.
- Ông ta hiện ở đâu rồi, Bi-li?
- Tại phòng khách, thưa ông.
Khi ta bấm chuông thì cháu mời ông ấy lên. Dù không thấy ta cũng cứ đưa vào.
- Vâng- Watson đợi của lớn đóng rồi mới quay qua phía Holmes.
- Coi chừng, Holmes, có thể nó tới giết anh.
- Chuyện đó không làm tôi ngạc nhiên!
- Tôi xin được ở cạnh anh.
- Anh làm vướng tay, vướng chân tôi.
- Tôi không thể bỏ mặc anh được.
- Anh để tôi một mình mà anh vẫn có vai trò. Thằng cha này tới vì một lý do riêng của nó. Nhưng có thể nó sẽ ở lại vì lý do của tôi.
Holmes lấy sổ tay nguệch ngoạc vài dòng.
- Anh thuê xe ngựa chạy đến Scotland Yard, trao cái này cho Du-ga, thuộc ban tầm nã đại hình rồi quay lại đây với cảnh sát. Màn bắt hầu tước sẽ xảy ra sau đó!
- Ðược!
- Trước khi anh về tới, có lẽ tôi đã kiếm ra cục đá.
Anh vừa bấm chuông vừa nói:
- Chúng ta hãy đi vào phòng ngủ, phương án thứ hai đôi khi khá hữu ích. Ngoài ra tôi cũng muốn nhìn con cá mập của tôi trong khi nó không thấy tôi.
Vài phút sau Bi-li đưa hầu tước Nê-giết vào.
Nhà đi săn, nhà thể thao và người hào hoa nổi tiếng to béo có nước da sạm nắng, với một bộ râu xum xuê màu đen bao bọc một cái miệng hung ác, môi mỏng, mũi dài và cong như mõ ó.
Khi cửa đóng lại sau lưng, ông ta quan sát căn phòng với một cái nhìn hung tợn, mắt đăm đăm nhìn mỗi món đồ gỗ như sợ một cái bẫy. Ông ta giựt mình khi thấy cái đầu lạnh lùng của một người đang ngồi trên ghế bành trước cửa sổ. Lúc đầu gương mặt chỉ thể hiện sự kinh ngạc, nhưng sau đó, một tia hy vọng đen tối chiếu sáng trên đôi mắt khát máu. Ông ta nhanh chóng nhìn quanh rồi rón rén, cây gậy nặng nề giơ lên nửa chừng. Ông ta tới gần cái vóc dáng bất động, co mình để lấy đà thì một tiếng nói lạnh lùng từ cửa phòng ngủ vọng tới.
- Ðừng đạp nó, hầu tước ơi!
Hầu tước kinh ngạc. Hắn lại nâng cây gậy lên nhưng trước cái nhìn sắt thép và nụ cười chế nhạo, hắn thấy cần phải hạ tay xuống.
- Ðó là một công trình nghệ thuật nhỏ đẹp - Holmes nói, vừa tiến tới hình nộm - Nhà vẽ kiểu áo quần Tavernier của nước Pháp nặn ra nó đó. Ông ấy cũng khéo tay trong việt nắn sáp như Trô-ben bạn ông, khéo tay trong việc sản xuất súng hơi.
- Súng hơi?
Ông muốn nói gì?
- Hãy để nón và gậy trên cái bàn tròn này. Cám ơn, xin vui lòng ngồi xuống, cởi súng lục luôn, được không. Cũng chả sao, nếu ông muốn ngồi đè lên!... ông tới đúng lúc quá, tôi khát khao có được 5 phút riêng với ông.
Hầu tước làu bàu, chân mày sụ xuống, vẻ dọa nạt.
- Tôi cũng vậy, tôi muốn nói chuyện với ông. Tôi không phủ nhận rằng tôi có dự định hạ ông.
- Tôi cũng lờ mờ thấy rằng đầu ông đang nung nấu một dự án loại đó. Không hiểu tại sao ông lại dành cho tôi quá nhiều sự lưu tâm?
- Tại vì ông theo chúng tôi, tại vì ông sai người theo dõi tôi.
- Người của tôi, tôi thề là không có chuyện đó.
- Láo toét. Tôi bị theo dõi và tôi sai người theo dõi lại chúng nó. Ðó là một trò chơi có thể chỉ cần hai đối thủ.
- Thưa hầu tước, ngài tiếp xúc thẳng với tôi có hay hơn không. Do nghề nghiệp tôi phải thân thiện phần nào với các tên ăn cướp trên thế giới. Còn ông, lui tới với bọn nó là coi không được.
- Ðúng vậy.
- Hoan nghênh?
Tuy nhiên ông lầm khi cho ai đó là nhân viên của tôi.
Hầu tước cười lớn một cách miệt thị.
- Ðâu phải chỉ có một mình ông là người có tài quan sát sắc bén. Hôm qua là một người thất nghiệp già. Hôm nay là một bà lão, suốt ngày chúng bám tôi sát gót.
- Thiệt vậy sao? Ông nói quá? Tới phiên ông, ông lại ca tụng cái trò ngụy trang vặt vãnh của tôi.
- Là ông?
Chính là ông?
Holmes nhún vai.
- Trong góc kia là cái dù mà ông có nhã ý xin cầm giùm...
- Nếu tôi biết, thì không bao giờ...
- Thì không bao giờ tôi trở về nhà được chứ gì. Tôi biết rõ mà! Tất cả chúng ta đều bỏ lỡ cơ hội, rồi sau đó lại hối tiếc. Nhờ ông không nhận ra tôi mà chúng ta còn gặp nhau hôm nay.
- Ðôi chân mày của hầu tước sụp xuống một cách nặng nề hơn.
- Những lời ông nói chỉ làm cho không khí ngột ngạt thêm. Ông theo dõi tôi để làm gì vậy?
- Tôi cần tìm ra cái hột kim cương màu vàng?
Hầu tước ngả lưng ra sau cười một cách gượng gạo.
- Tôi thề...
- Thật ra ông biết tại sao tôi bám theo ông. Hôm nay ông đến đây là để dò xem tôi biết sự việc tới mức độ nào và nếu cần, ông sẽ ra tay thủ tiêu tôi? Phải khách quan mà nói, ông thủ tiêu tôi là điều tồi cần, bởi vì tôi đã biết hết, trừ một chi tiết nhỏ mà thính ông sẽ tiết lộ.
- Thật ư?
- Phải.
Ðôi mắt của Holmes chĩa thẳng vào mắt hầu tước, teo lại như hai mũi dùi bằng thép.
- Ông quả là một miếng nước đá trong suốt. Tôi thấy rõ cho tới tận đáy lòng ông.
- Như vậy ông biết viên kim cương đó ở đâu Holmes.
Y vỗ tay rồi đưa một ngón tay mỉa mai.
- Vậy là ông biết, ông vừa nhìn nhận.
- Tôi có nhìn nhận cái gì đâu?
- Nào, hầu tước, ông nên tỏ ra biết điều. Bằng không, ông sẽ gặp nguy hiểm.
Ông hầu tước nhìn lên trần nhà.
Holmes nhìn ông ta một cánh chăm chú như người đánh cờ đang chiếu bí đối thủ rồi mở ngăn kéo, lấy ra một cuốn sổ tay dày cộm.
- Ông biết tôi nắm ai trong cuốn sách này không?
- Không.
- Ông.
- Tôi à?
- Ðúng vậy. Trọn vẹn tiểu sử của ông trong này, không sót một điều gì?
- Xin Chúa tha thứ - ông hầu tước la to - Sự nhẫn nại của tôi có giới hạn, thưa ông Holmes.
- Vâng, đầy đủ ở trong này, thưa hầu tước. Các sự kiện có liên quan tới cái chết của bà lão Ha-rôn người để lại cho ông lãnh địa Blymer mà sau đó ông bán đi để nướng hết trong sòng bạc.
- Ông đang nằm mơ?
- Và nguyên cả cuộc đời của cô Va-ren nữa!
- Ông chả làm được gì với những cái đó.
- Còn đây, câu chuyện hay hơn. Cuộc đánh cướp trên tàu hỏa sang trọng La Riviera vào ngày 13-2-1892.
Và đây là cái chi phiếu giả mà ông tính rút tiền tại ngân hàng tín dụng Lyonnais cũng hồi năm 1892.
- Không, điểm này ông nói sai?
- Thì tôi đúng trong cái điểm khác. Nào, thưa hầu tước, trong khi đánh bài, mà đối thủ nắm hết các lá lớn, thì ông nên bỏ bài đi.
- Ðâu là cái mối liên quan giữa cuộc nói chuyện tầm phào này với cái hột xoàn.
- Từ từ, thưa hầu tước. Tôi có một mớ tin tức có hại cho ông đó, nhất là tôi có cả một hồ sơ hoàn chỉnh để tố cáo ông và vệ sĩ của ông trong vụ này.
- Thật sao?
- Tôi có lời khai của anh xà-ích chở ông đi Whitehall, và của anh xà ích chở ông từ đó. Tôi có lời khai của người trung gian thương mại thấy ông đứng gần tủ kiếng, tôi có luôn lời khai của ông Săn-đô, người không chịu cho ông cầm cái đó. Ðủ thưa?
Các mạch máu trên trán của hầu tước phồng to lên. Hai bàn tay sạm nắng, lông lá co thắt lại; ông ta muốn nói, nhưng chữ nghĩa đi đâu mất hết.
- Tôi đã đập bài xuống bàn rồi. Tôi còn thiếu một lá. Ðó là “lá bài viên kim cương”. Nó ở đâu?
- Ông sẽ không bao giờ biết!
- Ngài hầu tước ông hãy biết điều. Hãy nắm vững tình thế. Ông sẽ ngồi nhà đá hai mươi lăm năm. Sam Mơ-tông cũng thế, ông sẽ được gì trong 25 năm đó! Không được gì cả. Tuy nhiên, nếu ông chịu hoàn trả thì tôi sẽ thỏa hiệp với tội ác? Chúng tôi không cần ông, lẫn Sam.
Chúng tôi cần cục đá. Hãy trả nó lại cho chúng tôi thì ông sẽ trở về nhà trong tự do và mãi mãi tự do, miễn là sống trong đàng hoàng.
- Nếu tôi từ chối thì sao?
- Thì sẽ rất tiếc!
Bi-li đã xuất hiện khi nghe chuông reo.
- Ngài hầu tước, tôi đề nghị cho bạn thân của ông tham dự vào cuộc nói chuyện này. Nói cho đúng, anh ta cũng đang bị lâm nguy. Nè Bi-li, ở trước cửa lớn có một anh chàng to con và xí trai. Cháu mời anh ta lên đây.
- Nếu ông ta từ chối thì sao, thưa ông.
- Báo cho anh ta hay là hầu tước cần gặp. Anh ta sẽ lên ngay.
- Ông sẽ làm gì?
Ông hầu tước hỏi khi Bi-li đi khuất.
- Bạn thân của tôi là bác sĩ Watson mới ra về. Tôi có khoe với ông ấy rằng trong lưới của tôi có một con cá mập và một con cá chốt. Giờ đây, tôi giở lưới. Tôi tóm cả hai con.
Ông hầu tước ngồi thẳng lưng lên và đưa tay ra sau lưng. Holmes chĩa về hướng y một đồ vật nổi cộm trong túi áo ngủ của mình.
- Ông sẽ không chết trên giường, ông Holmes!
- Tôi cũng thường đoán như vậy. Tuy nhiên có cần phải chết trên giường không.
- Chắc ông sẽ chết đứng, chứ không chết nằm đâu? Nhưng hãy chấm dứt các sự đoán mò bệnh hoạn này, tại sao không dứt khoát chọn lấy sự vui vẻ của hiện tại?
Một tia chớp của mắt thú dữ sáng lóe trong cái nhìn của tên tội phạm hình sự. Holmes chuẩn bị ứng phó với mọi tình huống. Ðồi thủ có vẻ kiêng dè.
- Mân mê cây súng lục chả có ích gì!
Holmes nói một cách bình thản.
- Ông thừa hiểu rằng ông đâu dám bắn, dù tôi có dành cho ông đủ thời gian. Súng lục là những dụng cụ dơ và ồn, thưa hầu tước. Nên sử dụng súng hơi. Ủa, hình như có bước đi nhẹ của người bạn đáng nể? Chào ông Mơ-tông. Ðứng ngoài đường nãy giờ mỏi chân chưa?
Người đánh quyền Anh là một thanh niên cốt cách nặng nề, vẻ mặt thì vừa ngu vừa lì. Hắn đứng một cách vụng về ngoài cửa, trơ mắt ếch nhìn quanh. Thái độ của Holmes làm hắn ngạc nhiên. Hắn nhận thấy mang máng rằng thái độ đó không thân thiện nhưng không biết phải chống trả như thế nào. Hắn quay qua ông chủ của hắn.
- Việc gì thế.
Hầu tước? Thằng cha này muốn gì?
Giọng nói của hắn nghiêm trọng và khàn khàn. Ông hầu tước vươn vai, Holmes trả lời thay.
- Ðể tóm tắt tình hình, ông Mơ-tông, tôi có thể nói rằng mọi chuyện đã tới hồi kết cuộc.
Người đánh quyền Anh tiếp tục hỏi chủ mình.
- Thằng cha này nói đùa hả?
Phần tôi, tôi không cười được đâu.
- Tôi ái ngại lắm - Holmes nói - Tôi có thể đoán chắc rằng càng khuya, ông sẽ càng bớt vui. Bây giờ, nghe tôi đây, hầu tước Nê-giết. Tôi rất bận, tôi không có thì giờ để hoang phí. Tôi đi vào phòng tôi. Tôi yêu cầu ông coi đây như nhà ông trong lúc tôi vắng mặt. Ông có thể giải thích rõ tình hình cho bạn ông nghe. Tôi sẽ chơi một bản nhạc bằng vĩ cầm. Năm phút nữa, tôi sẽ quay lại để lấy câu trả lời dứt khoát của ông. Ông hãy lựa chọn: hoặc ông hoặc cục đá?
Holmes ôm cây vĩ cầm, rời khỏi phòng. Một lát sau các nốt nhạc rên rỉ đầu tiên của điệu nhạc u buồn nhất trỗi lên từ phòng bên.
- Chuyện gì vậy - Mơ-tông hỏi với vẻ âu lo- Thằng chả biết cục đá?
- Ông ấy biết quá nhiều điều liên quan tới cục đá.
- Tôi sợ rằng ông ấy biết hết rồi.
- Chúa ơi!
Khuôn mặt của người đánh quyền Anh tái xanh.
- Săn-đơ đã mách lẻo.
- Nếu có tố cáo chúng ta, tôi thề sẽ phanh thây nó.
- Ðiều đó chả ích gì cho chúng ta. Ðiều cần bây giờ là quyết định phải làm gì?
- Chờ một chút?
Người đánh quyền anh nói, rồi nhìn một cách ngờ vực về phía cửa.
- Con chim lạc bầy mà lại ra lệnh này nọ. Thằng chả có nghe lén không.
- Làm sao vừa nghe vừa phơi vĩ cầm?
- Ðúng vậy.
Có thể có người đằng sau bức màn?
- Phòng này sao có nhiều màn quá!
Nhìn qua nhìn lại, Mơ-tông thấy cái hình nộm tại cửa sổ. Hắn điếng người, không nói nên lời.
- Tuyệt.
Ðó là bức tượng. - ông hầu tước giải thích!
- Giả hả. Giống y như thật. Còn mớ màn này, dùng làm gì, thưa hầu tước. - Ồ, bỏ qua mấy cái màn đó đi, đừng hoang phí thời giờ. Chúng ta không còn nhiều đâu. Ông ấy có thể tống mình vào tù, vì cục đá đó.
- Nếu Săn-đơ tố cáo, thì ta có thể bị nguy.
- Tuy nhiên, ông ta sẽ làm ngơ nếu chúng ta nói cho ông ta biết cục đá hiện ở đâu.
- Sao?
Trả lại ư? Từ bỏ 100.000 bảng Anh?
- Phải chọn lựa thôi.
Mơ-tông gãi đầu.
- Thằng chả chỉ có một mình. Ta chỉ cần vào phòng, thanh toán hắn là xong mọi chuyện. Còn gì mà sợ?
Ông hầu tước ra dấu bảo đừng.
- Ông ấy có súng trong người. Vả chăng, giết ông ấy, rồi làm sao trốn thoát. Hơn nữa, có thể ông ấy đã nộp đầy đủ bằng cớ về chúng ta cho cảnh sát rồi.
Một tiếng động mơ hồ ở phía cửa sổ. Hai người im lặng, ngóng tai, nhưng ở cửa sổ, hình nộm vẫn ngồi ở ghế bành, Mơ-tông nói:
- Cái tiếng đó ở ngoài đường. Giờ đây, là phần việc của ông, ông chủ. Ông có đầu óc, chắc sẽ tìm ra kế để chúng ta thoát chân. Nếu cục đá là vô dụng thì ông nói thẳng với thằng chả.
- Tôi đã bịp những tay cừ hơn ông ấy nhiều! - ông hầu tước nói.
- Cục đá đang ở trong túi tôi. Tôi không chịu cái rủi ro giao nộp nó. Ngay đêm nay, nó có thể ra khỏi nước Anh và bị cắt thành 4 miếng tại Hòa Lan trước ngày chủ nhật này. Ông ấy không biết gì về Sết-đa đâu.
- Vậy mà tôi tưởng tay Sết-đa sẽ ra đi vào tuần tới.
- Ðúng ra là thế. Nhưng theo tình hình mới, nó phải đi trên chuyến tàu tới. Hoặc anh, hoặc tôi phải mang cục đá ra tới phố Lim gặp Văn Sết-đa.
- Nhưng cục đá giả chưa làm xong mà?
- Cứ cầm đá thật mà đi vậy.
Ta đâu còn thì giờ.
Lại một lần nữa, với cái năng khiếu ngửi thấy sự nguy hiểm, ông hầu tước dừng lại, nhìn về hướng cửa sổ.
Ðúng rồi, tiếng động hồi nãy phát sinh từ ngoài đường.
- Về phần Holmes - ông ấy nói tiếp - Ta sẽ gạt hắn một cánh dễ dàng. Hắn sẽ không làm cho chúng ta bị bắt đâu, nếu hắn còn hy vọng lấy lại được cục đá. Chúng ta sẽ hứa với hắn rằng hàn sẽ nhận được cục đá. Chúng ta cho hắn trật đường rầy. Ðến khi hắn hay biết thì cục đá đã qua tới Hòa Lan và chúng ta đã cao bay xa chạy.
- Tuyệt vời!
- Mơ-tông la lớn.
- Anh hãy lên đường về bảo thằng Hòa Lan nhanh lên. Phần tôi, tôi sẽ đi gặp con đỉa đó, sẽ cầm chân nó bằng một màn xưng tội giả. Tôi sẽ nói với nó rằng cục đá hiện đang ở Liverpool. Trời ơi âm nhạc trời đánh, nhức óc quá? Trong lúc nó lục lạo tại Liverpool, thì cục đá đã qua tới Hòa Lan, còn chúng ta thì đang bềnh bồng trên biển cả. Lại đây? Ðây là cục đá.
- Tôi tự hỏi tại sao ông dám để nó trong túi mình?
- Chớ để ở đâu bây giờ. Nếu chúng ta đánh cắp nó tại Whitehall thì kẻ khác cũng có thể đánh cắp nó tại nhà tôi.
- Cho tôi xem nó một chút.
Ông hầu tước nhìn người đồng phạm với vẻ hơi thất kính, và tỏ ý chê cái bàn tay bẩn thỉu, nói:
- Ông cho rằng tôi sẽ giữ nó luôn sao chớ. Hãy tới gần cửa sổ để nhìn thấy báu vật cho rõ ràng hơn. Ðưa ra ánh sáng đó!
- Xin cám ơn hai bạn - Chỉ nhảy một cái, Holmes rời khỏi ghế bành của hình nộm và giựt lấy cái báu vật ngàn vàng, một tay cầm nó, một tay chĩa súng lục.
Hai tên trộm đi thụt lùi, mặt cắt không còn chút máu. Trước khi chúng hoàn hồn, Holmes đã nhấn chuông.
- Hỡi các bạn, hãy tuyệt đối tránh bạo lực. Các bạn hãy quý trọng các đồ gỗ của tôi. Các bạn không có lối thoát đâu. Cảnh sát đang ở dưới nhà.
Quá ngạc nhiên, ông hầu tước không còn giận dữ mà chỉ sợ hãi:
- Ông Holmes, ông tài giỏi thật!
- Sự ngạc nhiên của ông là hoàn toàn hợp lý. Ông đâu có ngờ rằng trong phòng tôi còn có cái cửa thứ 2 trổ ra sau cái màn này. Khi tôi dời hình nộm đi, tôi sợ bị lộ quá chừng, nhưng vận may đã mỉm cười với tôi, và tôi có cơ hội nghe cuộc đối thoại đặc biệt của hai vị.
- Chúng tôi nhìn nhận là mình đã thua, thưa ông Holmes. Tôi cho rằng ông là quỷ hiện hình. - Hầu tước nói tỏ dấu bị khuất phục.
- Không. Tôi chỉ là anh em của quỷ? - Holmes đáp với một nụ cười lễ độ.
Trí óc đần độn của Sam Mơ-tông bắt đầu hiểu ra. Có những bước đi nặng nề ở cầu thang, phá vỡ sự yên lặng.
- Kỳ tài. Nhưng còn tiếng đàn. Tôi còn nghe tiếng đàn mà - Mơ-tông nói.
- Anh nghe đúng trăm phần trăm - Holmes đáp - Tiếng vĩ cầm tiếp tục thánh thót.
Máy quay đĩa hát là một phát minh kỳ diệu?
Cảnh sát xuất hiện, các tội phạm bị còng, bị đưa xuống xe ngựa chờ dưới đường. Watson khen Holmes về cành nguyệt quế mới thêm vào cái vương miện của anh ta. Nhưng cuộc nói chuyện giữa hai người bị gián đoạn vì Bi-li đang mang danh thiếp vào.
- Huân tước Can-lê, thưa ông.
- Ðưa ông ấy lên, Bi-li. Ðây là nhà quý tộc sáng giá, đại diện cho những quyền thế lớn. Ðó là một nhân vật tuyệt hảo, rất trung thực, nhưng “hơi xưa” một chút. Ta sẽ nịnh cụ ấy một chút rồi đùa cụ ấy chơi. Ông không biết chuyện gì vừa xảy ra đâu.
Cánh cửa mở, một người gầy gò bước vào, khuôn mặt khắc khổ, được tô điểm bằng bộ râu mép to và đen không tương xứng với đôi vai cong và cái thân hình mảnh khảnh. Holmes tiến tới và bắt lấy một bàn tay mềm nhũn.
- Kính chào ngài huân tước Can-lê. Thời tiết còn lạnh nhưng trong một căn hộ thì nhiệt độ không đến nỗi nào. Ðề nghị ông cởi bỏ áo choàng.
- Xin cám ơn. Tôi vẫn mặc.
Holmes đặt một bàn tay trên cánh tay áo choàng.
- Xin ông cho phép. Bạn tôi, bác sĩ Watson, sẽ trách rằng những thay đổi thời tiết như vầy là quái gở?
- Tôi cảm thấy được, ông à. Tôi không ở lâu đâu? Tôi đến xem cuộc điều tra của ông đến đâu rồi.
- Thưa ông, rất là khó khăn.
- Tôi đã biết trước rằng ông sẽ nói là rất khó khăn.
Một nụ cười chế nhạo hé lộ trong lời nói và thái độ của nhà quí tộc già.
- Cuối cùng mỗi một chúng ta sẽ phát hiện ra các hạn chế của bản thân mình thưa ông Holmes. Tuy nhiên, sự mở mắt của ông cũng chữa lành một sự tự mãn.
- Ðúng thưa ông.
Tôi rất ân hận.
- Tôi đã thấy trước rồi mà !
Holmes mỉm cười - nụ cười tinh nghịch:
- Tuy nhiên có một điểm đặc biệt mà tôi hy vọng được ông giúp đỡ?
- Mãi tới bây giờ ông mới nói, tôi e là hơi trễ đó.
- Tôi đã ngỡ rằng phương pháp làm việc của ông sẽ giúp giải quyết tất cả.
Nhưng thôi, dù sao tôi cũng sẵn sàng giúp ông.
- Thừa huân tước, chúng ta có thể lập hồ sơ về bọn trộm.
- Khi nào ta bắt được chúng cơ?
- Ðúng vậy, nhưng mà vấn đề là làm sao còng kẻ oa trữ đồ gian?
- Có quá chủ quan và quá sớm không.
- Phải lập hồ sơ mới được. Theo ông, phải làm sao để truy tố kẻ oa trữ đồ gian?
- Trường hợp họ bị bắt quả tang đang giữ cục đá!
- Ðiều đó, theo ông, là đủ để bắt nhốt kẻ oa trữ đồ gian chứ gì?
- Ðương nhiên.
Holmes vốn ít cười lớn tiếng, nhưng lần này thì cười hô hố.
- Nếu thế thì, kính thưa ông, tôi cảm thấy đau lòng phải nhờ cảnh sát bắt ông?
- Huân tước nổi trận lôi đình.
- Ông suồng sã quá lố đó, ông Holmes. Trong năm mươi năm nay, tôi chưa hề gặp một sự bỡn cợt nào tương tự. Tôi đang rối đầu vì quốc gia đại sự; tôi không thích và cũng không có thời giờ để đùa cợt một cách xuẩn động như vậy. Tôi cần nhắc lại cho ông biết rằng không bao giờ tôi tin vào khả năng của ông. Luôn luôn tôi chủ trương phải giao việc này cho cảnh sát công. Trân trọng cáo từ ông.
Holmes nhanh nhầu nhảy ra, chân lại ở cửa.
- Xin chờ một chút, thưa ngài. Sự ra đi với viên đá Mazarin là một tội ác tầy đình so với tội chỉ oa trữ trong một thời gian ngắn.
- Ðã quá mức chịu đựng của tôi rồi đó.
Hãy để cho tôi đi qua!
- Ngài hãy thọc tay vào túi áo choàng của ngài xem!
- Ông muốn nói gì?
- Ngài cứ làm như vậy đi!
Nhà quý tộc bỗng điếng người, mắt nhấp nháy hên hồi, cà lăm cà cặp. Cục đá to màu vàng đang nằm trong tay run rẩy của ông.
- Chúa ơi?
Cái gì đây? ông Holmes?
- Quá đột ngột, quá chấn động, phải không, thưa huân tước. Xin ngài tha lỗi, tôi đã quá lố, khi bỏ cục đá vào túi ngài ngay từ đầu cuộc nói chuyện. Ông huân tước già nhìn đăm đăm vào khuôn mặt rạng rỡ của Holmes.
- Thưa ông Holmes, tôi rất kinh ngạc. Quả thật là viên đá Mazarin! Chúng tôi mang ơn ông vô cùng. ông đùa dai và thất kính, nhưng mà ông đã nhìn nhận. Phần tôi, tôi xin rút lại tất cả những gì đã nói về biệt tài siêu việt của ông. Nhưng...
- Sau này tôi sẽ nói các chi tiết, thưa huân tước.
Tôi tin chắc rằng cái thú vị mà ngài tìm thấy trong việc tường thuật cái kết quả vui vẻ về cục đá trong hoàng gia sẽ bù đắp cái thất kính vừa rồi của tôi. Bi-li, hãy đưa ngài huân tước xuống và báo cho bà Hớt-xơn hay rằng tôi rất hạnh phúc nếu được bà cho thầy trò ta một bữa ăn tối thịnh soạn.
Cuộc đời như những cơn mưa
Đăng nhập để trả lời
0
Mình đăng kí sửa bài Vụ xì căng đan của xứ Bohemia (A Scandal in Bohemia) nha
Đăng nhập để trả lời
0
Vụ xì căng đan của xứ Bohemia
Với Sherlock Holmes, cô ấy luôn là một người phụ nữ. Tôi ít khi nghe thấy anh đề cập đến cô ấy dưới hình thức khác. Trong mắt anh, cô ấy vượt hơn hẳn mọi người khác bởi vẻ nữ tính. Đó không phải là một tình cảm yêu đương dành cho Irène Adler. Đó là một cảm xúc trái ngược lại với sự điềm tĩnh, lạnh lùng và chính xác đến tuyệt đối của Holmes. Tôi biết anh đã từng có những lý luận sắc bén và sự quan sát tinh tế không ai có được nhưng chính cảm xúc ấy đã làm anh sai lạc. Anh không còn nói đến cảm xúc lãng mạn và cũng thôi những lời chế nhạo.
Gần đây tôi ít gặp Holmes. Từ khi tôi lấy vợ, chúng tôi sống mỗi người một ngả. niềm hạnh phúc riêng tư tuyệt vời, những mối quan tâm về gia đình hiện lên xung quanh một người lần đầu tiên làm chủ cơ ngơi của mình, cũng đủ chiến hết sự chú ý của tôi. Trong khi đó, Holmes vẫn ở tại phố Baker, vùi đầu vào đống sách cũ của mình, hết tuần này sang tuần khác, mang hết khả năng và tài quan sát của mình để tháo gỡ những vụ án mà cảnh sát đã đầu hàng.
Đêm 20 tháng Ba năm 1888, tôi đang trở về nhà sau một chuyến đi thăm bệnh ngang qua phố Baker. Khi đi qua cánh cửa nhà quen thuộc, bỗng nhiên tôi muốn gặp Holmes. Phòng anh đèn sáng choang, và khi nhìn lên, tôi thấy cái dáng gầy gầy đi qua hai lần, bóng in lên tấm rèm. Anh bước đi nhanh nhẹn, hăm hở, đầu cúi xuống ngực, hai tay bắt chéo sau lưng. Tôi rung chuông và được đưa vào căn phòng mà xưa kia tôi đã chiếm một phần.
Không nói một lời, anh vẫy tôi đến chiếc ghế bành, ném cho tôi hộp thuốc xì gà và trỏ vào chiếc lò ga trong góc. Rồi anh đứng trước lò sưởi, nhìn tôi từ đầu đến chân.
- Hôn nhân hợp với cậu đấy, Watson ạ. Cậu đã lên 7 cân rưỡi[1] kể từ lần sau cùng ta gặp nhau.
- Bảy thôi.
- Quả thế. Lẽ ra tớ phải suy nghĩ thêm một chút. Cậu chưa nói cho tớ biết là cậu đã hành nghề trở lại đấy nhé!
- Phải.
- Mới đây cậu bị ướt sũng; cậu có một cô hầu gái vụng về và bất cẩn nhất trên đời.
- Đúng là hôm thứ năm, tớ có đi bộ ở vùng quê, nhưng mà tớ đã thay quần áo rồi. Còn về người giúp việc, cô ta quả thật bất trị, và nhà tớ đã cho cô ta nghỉ việc. Nhưng, cậu suy diễn như thế nào?
Anh cười khúc khích và xoa hai bàn tay vào nhau:
- Phía bên trong chiếc giầy chân trái của cậu có sáu nhát cắt gần như song song với nhau. Rõ ràng là những đường cắt đó gây ra do một người bất cẩn khi chà xát xung quanh mép gót giầy để lau bùn. Như thế chứng tỏ, cậu vừa gặp thời tiết xấu, vừa có một cô hầu gái rất kém. Còn về chuyện hành nghề thì...Nếu có một người nào đó bước vào phòng tớ mà có mùi iode với một chấm nitrate bạc trên ngón tay trỏ của bàn tay phải và một chỗ phình ra trên cái mũ chóp cao – cho thấy nơi ông ta đã gắn cái ống nghe - thì tớ sẽ là một thằng ngu nếu không nói ngay được rằng ông ta là đồ đệ của Hippocrate.
Tôi không thể nhịn cười.
- Khi cậu đưa ra những ký lẽ, thì sự thể luôn luôn hiện ra với tớ một cách giản dị đến mức buồn cười, thậm chí tớ nghĩ là mình cũng tự suy diễn được dễ dàng. Tuy vậy, mỗi lần cậu đưa ra một ví dụ mới, thì tớ lại hoàn toàn mù tịt nếu cậu không giảng giải phương pháp của cậu. Tớ không nhìn thấy sự việc như cậu chăng?
- Có chứ, - Holmes trả lời, vừa châm điếu thuốc vừa ngả mình xuống ghế - Cậu có nhìn thấy nhưng cậu không quan sát. Ví dụ, cậu thường thấy những bậc thang từ hành lang lên đến phòng này chứ?
- Thường thấy.
- Thường như thế nào?
- Ồ, có đến hàng trăm lần.
- Vậy nó có bao nhiêu bậc?
- Bao nhiêu ư? Tớ không biết?
- Đó, thấy chưa? Cậu đã thấy nhưng cậu không quan sát. Còn tớ, tớ biết chắc có 17 bậc vì tớ vừa thấy vừa quan sát nữa. Tiện thể, cậu xem, có thể cậu sẽ thích thú đấy – Anh ném cho tôi một tờ giấy dày màu hồng đang nằm mở ra trên bàn – Nó đến trong chuyến thư vừa rồi. hãy đọc to lên.Mảnh giấy không đề ngày thàng, không có cả chữ ký và địa chỉ.
“Sẽ đến thăm ông tối nay, vào lúc 8 giờ kém 15. Một người đàn ông muốn hỏi ý kiến ông về một vấn đề rất quan trọng. Những việc làm mới đây của ông nhằm phục vụ cho một trong những dòng họ hoàng tộc ở châu Âu đã cho thấy ông là một người đáng tin cậy. Thành tích này của ông chúng tôi đã từ khắp nơi nghe thấy... Vậy ông hãy ở trong phòng ông vào giờ đó, và xin đừng phật ý nếu người khách của ông mang mặt nạ.”
- Đây quả thực là một vụ bí hiểm. Theo cậu, nó có ý nghĩa gì?
- Hiện tớ chưa có dữ kiện. Lập giả thuyết khi chưa có dữ kiện là một sai lầm nghiêm trọng. Còn về mảnh giấy này, cậu có suy diễn gì không?
Tôi quan sát mảnh giấy và chữ viết
- Người đàn ông này có vẻ khá giả - Tôi nhận xét, cố gắng bắt chước tiến trình lý luận của Holmes - Thứ giấy này rất đắt giá. Chất giấy bền và cứng một cách đặc biệt.-
Đặc biệt. Đúng như thế, không phải là giấy sản xuất tại Anh. Đưa lên ánh sáng thử xem.
Tôi làm theo lời anh và thấy một chữ “E” lớn với một chữ “g” nhỏ, chữ “P” và một chữ “G” lớn với một chữ “t” nhỏ lồng vào nhau
- Cậu suy ra được điều gì?
- Chắc chắn là tên nhà sản xuất.
- Không phải đâu. Chữ “G” và chữ “t’ là viết tắt của “Gesellschaft”, tiếng Đức có nghĩa là “Công ty”. Nó giống như ta thường dùng chữ “Co.” vậy. “P” dĩ nhiên thay cho “Papier”. Bây giờ đến chữ “Eg.”. Tra trong Từ điển địa lý[2] xem sao.- Anh lấy xuống một quyền sách to tướng từ trên kệ sách – Eglow, Eglonizt... Đây rồi, Egria. Một vùng nói tiếng Đức, tại xứ Bohemia, cách Carlasd không xa. Nổi tiếng nhờ Wallensten tạ thế tại đó, và nhờ có rất nhiều nhà máy thủy tinh, nhà máy giấy. Ha ha, bạn ơi, bạn có thấy gì không?
- Giấy sản xuất tại Bohemia.
- Chính xác. Và người đàn ông viết những dòng chữ này là một người Đức. Cậu có thấy cấu trúc câu “Thành tích này của ông chúng tôi đã từ khắp nơi nghe thấy”. Người Pháp và người Nga không có cách viết như vậy. Chỉ có người Đức mới sử dụng động từ ở cuối câu. Bởi vậy, bây giờ chỉ cần tìm xem cái gã người Đức thích đeo mặt nạ này muốn gì.
Trong khi anh nói, có tiếng vó ngựa lọc cọc và tiếng xe nghiến trên mặt đường, theo sau là tiếng chuông giật mạnh. Holmes húyt sáo:
- Một cặp, theo tiếng động - Anh nói, nhìn ra cửa sổ - Một xe song mã và một cặp ngựa đẹp. Vụ này kiếm được khá tiền đấy, Watson ạ.
- Thôi, tớ xin phép cáo từ vậy.
- Bạn ơi, cứ ngồi đây. Vụ này hứa hẹn đấy. Bỏ qua rất phí.
- Nhưng còn ông khách của cậu ...
- Đừng bận tâm đến ông ta. Có lẽ tớ cần sự trợ giúp của cậu và ông ta cũng thế. Hãy ngồi xuống đi và theo dõi xem.
Tiếng bước chân chậm rãi và nặng nề vang lên trên cầu thang và nơi hành lang, ngừng lại ngay phía ngoài cửa lớn. Rồi tiếng gõ mạnh. đầy uy quyền.
- Xin mời vào – Holmes nói.
Một người đàn ông bước vào. Ông ta cao gần 6 feet rưỡi[3], có bộ ngực và tay chân to lớn của một chàng Hercules. Y phục đắt tiền, diêm dúa, một cái áo choàng dài màu xanh đậm, choàng qua hai vai, được thêu bằng lụa màu ngọn lửa. Giầy ủng cao lưng chừng bắp đùi, ống ủng được viền bằng lông thú đắt tiền. Ông cầm trên tay một chiếc mũ rộng vành, đeo mặt nạ che phần trên mặt, kéo dài xuống tận hai gò má.
- Ông nhận được mảnh giấy của tôi rồi chứ? – Ông ta hỏi bằng giọng trầm, khàn khàn, phát âm rõ rệt là giọng Đức, ông ta nhìn tôi rồi lại nhìn Holmes, hình như không biết phải nói với ai.
- Xin mời ông ngồi. Đây là bạn và là người cộng sự của tôi, bác sĩ Watson. Tôi được hân hạnh hầu chuyện với ai thế nhỉ?
- Ông có thể gọi tôi là Bá tước Von Kramm, quý tộc xứ Bohemia. Tôi hiểu rằng, vị này, bạn ông là một người đáng trọng, người tôi có thể tin cậy, phó thác một vấn đề vô cùng trọng đại. Nếu không đúng như thế, thì tôi muốn nói chuyện với một mình ông thôi.
Tôi nhổm dậy để đi, nhưng Holmes chộp lấy cổ tay tôi và đẩy tôi trở lại ghế.
- Ông có thể nói trước mặt anh bạn này bất cứ điều gì ông có thể nói với tôi.
Vị bá tước nhún đôi vai to lớn của ông ta.
- Vậy thì, trước hết tôi buộc lòng phải xin hai ông giữ hoàn toàn bí mật chuyện này trong vòng hai năm, sau thời gian đó, vấn đề sẽ không quan trọng nữa.
- Tôi xin hứa – Holmes nói.
- Xin các ông thông cảm cho việc tôi phải dùng cái mặt nạ này. Con người uy nghi lẫm liệt, chủ của tôi, muốn rằng kẻ thay mặt cho ông phải giữ bí mật chân tướng, và tôi có thể thú thật ngay rằng cái tước hiệu mà tôi tự xưng khi nãy, thì không hoàn toàn chính xác là tước hiệu của chính tôi.
- Tôi biết – Holmes nói giọng tỉnh bơ.
- Nói trắng ra, vấn đề này có liên quan đến dòng họ Ormstein vĩ đại, những vị vua kế thừa của xứ Bohemia.
- Điều này, tôi cũng đã biết – Holmes nói nhỏ, ngồi xuống ghế bành và nhắm mắt lại.
Vị khách của chúng tôi lộ vẻ kinh ngạc liếc nhìn người đàn ông có dáng điệu mệt mỏi, uể oải đang ngồi trước mặt ông ta. Holmes từ từ mở mắt ra và nhìn ông khách to lớn của anh bằng cái nhìn cau có.
- Nếu Bệ hạ chịu khó nhún mình để trình bày sự việc của ngài, thì tôi mới có thể phục vụ ngài tốt hơn.
Người đàn ông nhảy lên khỏi ghế và chậm rãi đi lại trong phòng với vẻ hốt hoảng tột độ. Rồi với một cử chỉ tuyệt vọng, ông ta xé cái mặt nạ và liệng nó xuống đất.
- Ông nói đúng – Ông ta kêu lên – Ta là vua. Tại sao ta lại phải tìm cách che dấu điều đó?
- Đúng thế. Tại sao phải dấu?- Holmes thì thào - Bệ hạ không nói thì tôi cũng đã biết tôi đang hân hạnh hầu chuyện với ngài Wilhelm Gottsreich Sigismond von Ormstein, Đại Công tước xứ Cassel- Falstein, vua kế vị xứ Bohemia.
- Nhưng xin các ông thông cảm cho - Vị khách nói. Ông ta lại ngồi xuống và đưa tay xoa lên vầng trán – Xin các ông hiểu cho, tôi không quen đích thân làm một công việc như thế này. Song vấn đề quá tế nhị đến mức tôi không thể giao phó cho một ai. Tôi đi thẳng từ Praha[4] đến đây để nghe lời khuyên của các ông
- Vậy xin bệ hạ hãy trình bày câu chuyện – Holmes nói, lại nhắm mắt lại.
- Tóm tắt câu chuyện như thế này: Năm năm trước đây, trong một lần thăm viếng Vacsava[5], tôi đã làm quen với Irène Adler. Cái tên đó chắc không xa lạ với ông.
- Bác sĩ làm ơn tra giùm tôi quyển danh mục – Holmes nói trong lúc vẫn nhắm mắt
Đã nhiều năm nay, anh đã thiết lập được một hệ thống hồ sơ, gồm những mục nói về người và việc, đền nỗi khó có một đề tài nào hoặc một nhân vật nào mà anh không thể cung cấp ngay tư liệu.
- Đưa tôi xem nào – Holmes nói - Hừm! “Sinh tại New Jersey năm 1858. Giọng nữ trầm[6]. Hừm...La Scala, vai nữ chính của Nhà hát Opera Hoàng gia Vacsava. Vâng, đã rời rời sân khấu. Ha! Đang sống tại London”. Đúng thế, theo tôi biết thì bệ hạ đã dan díu với cô gái trẻ này, đã viết những lá thư tai hại, và bây giờ muốn lấy lại những lá thư ấy, đúng không?
- Đúng vậy. Nhưng làm thế nào...
- Có hôn nhân bí mật không?
- Không.
- Có giấy tờ pháp lý nào không?
- Không.
- Vậy thì nếu cô ta trưng ra những lá thư nọ để tống tiền hoặc với một mục đích khác thì cô ta sẽ chứng minh sự xác thực của chúng như thế nào?
- Có chữ viết.
- Úi chà! Có thể giả mạo.
- Loại giấy viết riêng của tôi.
- Có thể đánh cắp.
- Con dấu của tôi.
- Có thể bắt chước.
- Tấm hình của tôi.
- Có thể mua.
- Chúng tôi chụp chung trên tấm ảnh đấy.
- Ôi chao! Thật tai hại! Bệ hạ đã phạm phải một sự hớ hênh thật đáng tiếc.
- Tôi đã yêu điên cuồng.
- Ngài đã tự hại mình một cách nghiêm trọng.
- Lúc ấy tôi chỉ là một hoàng thái tử trẻ mới có 30 tuổi.
- Phải lấy lại.
- Chúng tôi đã cố hết sức, nhưng đều thất bại.
- Bệ hạ phải chi tiền. Phải mua lại nó.
- Cô ta không bán.
- Vậy phải đánh cắp.
- Đã 5 lần thực hiện phương án đó. Hai lần tôi thuê những tên trộm lục soát nhà cô ta. Một lần chúng tôi đánh lạc hướng hành lý của cô ta khi cô ta đi du lịch. Hai lần cô ta bị đột kích, nhưng tất cả đều không có kết quả.
- Không thấy tăm hơi tấm ảnh đâu cả?
- Hoàn toàn không.
- Thật là một vấn đề khá rắc rối đối với tôi – Holmes cười, nói.
- Nhưng đối với tôi, đó là một vấn đền nghiêm trọng - Vị khách trách móc.
- Cô ta dự định làm gì với tấm ảnh.
- Để làm hại tôi.
- Nhưng bằng cách nào?
- Tôi sắp cưới vợ.
- Tôi đã nghe chuyện đó.
- Tôi sắp cưới Clotilde Lothman von Saxe- Meningen, con gái thứ hai của vua Scandinavia. Chắc ông cũng biết lễ giáo khe khắc của gia đình này. Bản thân cô ấy cũng là một người nhạy cảm.
- Còn Irène Adler?
- Cô ta dọa sẽ gửi tấm ảnh cho gia đình vợ tôi, và tôi biết chắc cô ta sẽ làm. Cô ta có khuôn mặt của một người phụ nữ đẹp nhất nhưng lại có khối óc của một người đàn ông cương quyết nhất.
- Ngài có chắc là cô ta chưa gửi nó đi.
- Chắc chắn.
- Tại sao?
- Cô ta nói rằng sẽ gửi nó đi vào ngày mà lễ đính hôn được công bố. Đó sẽ là ngày thứ Hai tuần tới.
- Vậy thì chúng ta chỉ còn có 3 ngày. Bệ hạ vẫn còn lưu lại London chứ?
- Chắc chắn rồi. Ông sẽ tìm thấy tôi tại khách sạn Langham dưới tên bá tước Von Kramm.
- Vậy thì tôi sẽ gửi cho ngài một vài dòng để thông báo tiến trình công việc.
- Xin cho tôi biết tin. Tôi rất sốt ruột.
- Còn chuyện thù lao thế nào? Thưa ngài?
- Ông sẽ nhận được ngân phiếu trắng.
- Tuyệt đối?
- Tôi chịu mất một địa phận vương quốc của tôi để có tấm ảnh đó.
- Còn việc chi tiêu hiện giờ?
Ông vua lấy một cái túi bằng da sơn dương từ bên dưới áo choàng và đặt nó lên bàn.
- Có ba trăm pound bằng tiền vàng và bảy trăm tiền giấy.
Holmes nguệch ngoạc ký vào một tờ biên nhận trong quyển sổ tay của anh và trao lại cho ông ta.
- Còn địa chỉ của cô ta?
- Biệt thự Briony Lodge, đại lộ Serpentine, St. John s Wood.
- Một câu hỏi nữa. Tấm ảnh to cỡ cái tráp đựng nữ trang.
- Đúng thế.
- Bây giờ, xin tạm biệt Bệ hạ. Tôi sẽ có ngay những tin tức tốt.
Khi chiếc xe chạy khuất xuống phố, anh nói:
- Tạm biệt nhé, Watson, chiều mai hãy ghé tôi, lúc ba giờ chiều. Tôi muốn bàn bạc vấn đề nho nhỏ này với anh.
Đúng ba giờ chiều, tôi đã ở phố Baker nhưng Holmes chưa trở lại. Bà chủ nhà báo cho tôi biết, sáng nay anh đã rời nhà sau tám giờ một chút. Tôi ngồi xuống cạnh lò sưởi, có ý đợi anh. Tôi đã quan tâm sâu sắc đến cuộc điều tra này. Gần bốn giờ chiều thì cửa lớn mở và một tay giữ ngựa có dáng say rượu, tóc tai bờm xờm và có râu mép, mặt đỏ bừng, áo quần xộc xệch bước vào. Mặc dù rất quen thuộc với khả năng hoá trang tuyệt. diệu của Holmes, nhưng phải nhìn đi nhìn lại ba lượt tôi mới chắc chắn đó là anh. Với một cái gật đầu, anh biến mất vào phòng ngủ, năm phút sau anh hiện ra trong bộ đồ bằng vải tuýt chỉnh tề, như thường lệ. Đặt hai tay vào túi, anh duỗi chân ra đằng trước lò sưởi và cười ha hả trong vài phút.
- Ồ! - Anh kêu lên, rồi cười sặc sụa, cho đến khi nằm rũ ra trong ghế.
- Cái gì thế, anh bạn?
- Thật buồn cười. Tôi chắc là anh sẽ không bao giờ đoán được là tôi đã sử dụng buổi sáng như thế nào, và sau cùng tôi đã làm gì.
- Có lẽ anh đã quan sát những thói quen và ngôi nhà của Irène.
- Đúng như vậy. Nhưng tiến trình thì hơi khác thường. Tôi rời nhà sau tám giờ một chút đóng vai một anh chàng thất nghiệp. Chẳng bao lâu tôi tìm thấy biệt thự của cô ta. Đó là một biệt thự nhỏ, xinh, có vườn phía sau, mặt tiền được xây nhô ra tận đường cái, có hai tầng. Cửa sổ có ổ khoá tròn. Phòng khách ở phía bên phải, trang bị tiện nghi với những cửa sổ dài xuống gần tới sát sàn, chốt cửa dễ mở. Phía sau không có gì đáng chú ý, trừ ra những cửa sổ nhỏ nơi hành lang, đứng từ nóc cái nhà để xe ngựa có thể với tới. Tôi đi xung quanh ngôi nhà, quan sát nó từ mọi vị trí, nhưng không ghi nhận dược một cái gì đáng kể.Tôi đi thơ thẩn xuống phố và phát hiện ra một cái chuồng ngựa trong một con hẻm chạy xuống cạnh một bờ tường của khu vườn. Tôi giúp những gã giữ ngựa một tay để họ tắm ngựa. Về khoản thù lao, tôi nhận được hai xu, một ly rượu pha, hai mồi thuốc lá và những tin tức mà tôi muốn biết về cô ta.
- Còn cô ta thì thế nào?
- Ồ! “Đó là người phụ nữ kiều diễm nhất trên hành tinh”. Những người ở xóm chuồng ngựa nói như vậy. Cô ta sống lặng lẽ, hát tại những buổi hoà nhạc, mỗi ngày đánh xe ra khỏi nhà lúc năm giờ sáng, và trở về lúc bảy giờ đúng. Ít khi ra khỏi nhà vào những giờ khác, trừ khi đi hát. Chỉ có một người khách nam giới, nhưng anh ta đến thường xuyên. Đó là ông Norton. Khi tôi đã nghe hết những gì mà tôi cần biết, tôi bắt đầu đi tới đi lui gần biệt thự một lần nữa và xem xét các kế hoạch của tôi. Anh chàng Norton này đến thăm một ngày hai lần với mục đích gì? Phải chăng Irène là thân chủ của anh ta, là bạn, là người yêu? Nếu là thân chủ, có lẽ cô ta đã giao tấm hình cho anh ta giữ. Nếu là bạn thì ít có khả năng đó.
Tôi phân vân, không biết nên tiếp tục công việc ở nhà cô gái, hay quay sang anh chàng luật sư. Tôi đang cân nhắc mọi vấn đề trong đầu, thì một xe song mã chạy đến biệt thự, cô ta và một gã đàn ông nhảy ra, rất vội vàng, bảo tài xế đợi. Bà quản gia mở cửa, anh ta chạy vụt vào với cái vẻ hoàn toàn tự nhiên như ở nhà mình.Anh ta ở trong nhà khoảng nửa tiếng, tôi có thể thấy anh ta nơi cửa sổ phòng khách, đi đi lại lại, nói năng rối rít và vẫy cánh tay. Về phần cô ta, tôi không nghe thấy gì. Bỗng anh ta hiện ra, trông có vẻ bồn chồn hơn trước. Khi bước lên xe ngựa, anh ta kéo một cái đồng hồ vàng từ trong túi ra và nhìn vào nó, ra dáng sốt ruột.
“Chạy nhanh, thật nhanh lên” - Anh ta quát to – “Đến ngay nhà thờ Sainte Monique. Nửa đồng guinée[7], nếu có thể đến trong hai mươi phút?”. Xe chạy đi.
Khi tôi đang tự hỏi có nên theo họ không, thì một chiếc xe nhỏ bé, xinh xắn từ đường hẻm chạy lên. Xe vừa đến nơi thì cô ta chạy bắn ra từ cửa hành lang và nhảy lên xe.
“Đến nhà thờ Sainte Monique” - Cô ta kêu lên – “Nửa đồng souverain[8] nếu đến đó trong hai mươi phút?”
Tôi đang tự hỏi, không biết nên chạy theo xe hay leo lên phía sau xe thì có một chiếc xe băng qua đường phố. Bác tài xế nhìn hai lần vào ông khách rách rưới, nhưng tôi đã nhảy vào xe trước khi bác ta phản đối.
“Đến nhà thờ Sainte Monique” - Tôi nói – “Nửa đồng souverain, nếu đến đó trong hai mươi phút?”. Lúc ấy là mười hai giờ kém hai mươi.
Khi tôi đến, hai chiếc xe với những con ngựa đang thở phì phì và đang ở trước cửa lớn. Tôi trả tiền xe và vội vã đi vào nhà thờ.Trong nhà thờ không có ai ngoài hai người và một ông linh mục. Hình như ông linh mục đang giảng cho họ một điều gì đó. Ba người đứng thành hình một cái nút thắt phía trước bàn thờ. Tôi đi thơ thẩn nơi lối đi hai bên như bất cứ một gã nhàn rỗi nào tình cờ bước vào nhà thờ. Bỗng nhiên, ba người tại bàn thờ quay lại nhìn tôi và Norton chạy ba chân bốn cẳng về phía tôi.
“Cám ơn Chúa” - Anh ta kêu lên – “Có bác là đủ. Xin bác làm ơn đến đây.”
“Cái gì vậy?” - Tôi hỏi.
“Xin bác đến giùm cho. Chỉ ba phút thôi. Nếu không thì không đúng phép”.
Tôi gần như bị lôi đến bàn thờ. Trước khi biết mình đang ở đâu, tôi thấy mình lẩm bẩm những câu trả lời (đã được thì thầm vào tai tôi) và thề thốt về những điều mà tôi chẳng biết ất giáp gì cả.
Nói chung, tôi là người làm chứng cho cuộc hôn lễ giữa cô dâu và chú rể. Dường như lễ cưới của họ có một cái gì đó chưa đúng phép và ông linh mục dứt khoát từ chối làm phép cưới mà không có một nhân chứng bất kỳ nào đó; sự xuất hiện của tôi khiến cho chú rể khỏi mất công chạy ra phố kiếm một chàng phù rể. Cô dâu trao cho tôi một đồng souverain và tôi có ý đeo nó lên dây đồng hồ để kỷ niệm.
- Đây là một điều bất ngờ, một bước ngoặt của sự việc và rồi cái gì đã xảy ra? - Tôi hỏi.
- Có vẻ như họ sắp lên đường ngay lập tức, và bởi thế, tôi phải có những biện pháp rất gấp rút và thích hợp. Tại cửa lớn nhà thờ, họ chia tay nhau. “Em sẽ đi xe ra công viên vào lúc năm giờ như thường lệ”, cô ta nói, khi chia tay. Tôi không nghe thấy gì nữa. Họ đi xe về hai hướng khác nhau, và tôi cũng đi để thu xếp công việc của mình.
- Thu xếp cái gì thế?
- Vài miếng bít tết nguội và một ly nước - Anh nói, tay rung chuông - Tôi bận quá không nghĩ đến chuyện ăn uống. Chiều nay, chắc còn bận rộn hơn nữa. Nhân thể tôi cần được anh giúp đỡ?
- Rất thú vị.
- Anh không ngại làm chuyện phi pháp chứ?
- Hoàn toàn không!
- Có thể bị bắt giữ, chịu được chứ?
- Nếu vì một mục đích tốt đẹp.
- Ồ, mục đích rất tuyệt diệu!
- Vậy thì sẵn sàng.
- Tôi rất tin anh.
- Nhưng anh cần gì ở tôi?
- Xin lỗi, tôi phải bàn chuyện đó trong khi ăn. Trong hai tiếng đồng hồ nữa, chúng ta sẽ ở hiện trường. Cô Irène sẽ trở về nhà lúc bảy giờ. Chúng ta phải có mặt tại đó để gặp cô ta.
- Rồi làm gì nữa?
- Anh cứ để việc đấy cho tôi . Anh không được can thiệp, dù xảy ra chuyện gì đi nữa. Anh hiểu chứ?
- Hiểu.
- Công việc bắt đầu khi người ta đưa tôi vào nhà cô ta. Bốn, năm phút sau đó, cửa sổ phòng khách sẽ mở ra. Anh sẽ đứng trụ gần sát cánh cửa sổ mở ấy.
- Vâng.
- Anh phải theo dõi tôi luôn.
- Vâng.
- Và khi tôi đưa bàn tay lên, anh sẽ ném vào phòng cái mà tôi trao cho anh, và cùng lúc ấy, anh kêu báo động: “cháy, cháy!”.
- Hoàn toàn rõ.
- Chả có gì khủng khiếp - Anh nói, lấy trong túi ra một cuộn tròn có hình điếu xì gà - Đây là một thứ lựu đạn khói bình thường. Công tác của anh chỉ có thế. Khi anh kêu báo động cháy, nhiều người khác sẽ tiếp tục kêu báo động. Rồi sau đó anh có thể đi bộ đến cuối phố, chờ tôi trong mười phút.
- Những chuyện đó tôi làm được.
- Tuyệt lắm!
Anh biến mất vào phòng ngủ, một vài phút sau hiện ra trong vai một mục sư Tin lành chất phác và dễ mến. Cái mũ đen rộng thùng thình, cà vạt trắng, nụ cười dễ mến, thái độ sốt sắng, ân cần ít ai bì.
Trời đã hoàng hôn và những ngọn đèn mới được thắp sáng lúc chúng tôi đi đi lại lại phía trước biệt thự. Có một nhóm đàn ông ăn mặc xốc xếch đang hút thuốc và cười đùa, trong một góc có một thợ mài kéo với cái bánh xe của ông ta, hai người gác dan đứng đùa giỡn với một cô vú trẻ, và dăm bảy chàng thanh niên ăn vận bảnh bao đang thơ thẩn lui tới, miệng ngậm xì gà.
- Anh thấy đó. Bây giờ tấm ảnh trở thành một con dao hai lưỡi. Cô ta không thích ông Norton nhìn thấy nó, cũng như vị vua không muốn vợ sắp cưới của ông ta nhìn thấy. Bây giờ, câu hỏi là chúng ta phải tìm tấm ảnh ở đâu?
- Nó ở đâu?
- Nó quá lớn, khó giấu vào áo phụ nữ, chắc cô ta không mang nó bên mình.
- Vậy nó ở đâu?
- Nơi người chủ nhà băng hoặc người luật sư. Nhưng phụ nữ chỉ tin tưởng vào chính mình. Vả lại, cô ta đã quyết tâm sử dụng nó trong một vài ngày tới đây, vậy nó phải ở cái nơi mà cô ta có thể lấy được dễ dàng: ngay trong nhà cô ta.
- Nhưng đã hai lần người ta tìm cách đánh cắp nó rồi kia mà.
- Ồ, họ không biết cách tìm.
- Nhưng anh sẽ tìm bằng cách nào?
- Tôi sẽ không cần tìm.
- Vậy thì…
- Tôi buộc cô ta phải chỉ chỗ cất giấu tấm hình.
- Nhưng, cô ta sẽ từ chối.
- Cô ta không thể từ chối. Kia kìa, xe cô ta đến đấy! Nhớ lời tôi dặn nhé.
Khi anh nói, ánh đèn bên hông của một chiếc xe ngựa chiếu ra từ một khúc quẹo của đại lộ. Khi xe đỗ lại, một trong những tên lang thang từ góc phố nhào ra để mở cánh cửa, với hy vọng kiếm được một chút cháo, nhưng lại bị một tên khác chen lấn, hắn ta cũng đã lao tới cùng với một mục đích như vậy. Một cuộc xô xát dữ dội xảy ra. Hai gã gác dan nhảy vào hỗ trợ một tên, còn người thợ mài kéo trợ lực tên kia. Cô gái vừa xuống xe đã bị kẹt vào giữa đám đông. Bọn đàn ông mặt đỏ nhừ đang đánh loạn xạ vào nhau bằng tay và gậy. Holmes nhào vào đám đông để che chở cho người phụ nữ. Nhưng vừa đến gần cô ta thì anh kêu lên một tiếng và ngã xuống, máu chảy ròng ròng xuống mặt. Hai gã gác dan hoảng hốt, bỏ chạy về một phía, và những tên vô lại chạy về phía bên kia, trong khi đó, một số người ăn vận bảnh bao - từ  nãy giờ đứng ngoài quan sát - ùa vào trợ giúp người phụ nữ và chăm sóc kẻ bị thương. Irène vội vã đi lên những bậc cấp, song vẫn đứng ở bậc cấp trên cùng, nhìn ra đường phố.
- Ông ta có bị thương không? - Cô ta hỏi.
- Ông ấy chết rồi? - Một vài giọng kêu lên.
- Không, không, ông ta còn thoi thóp - Một người khác quát to - Nhưng ông ta sẽ chết trước khi đến bệnh viện.
- Ông ta rất dũng cảm - Một người phụ nữ nói - Hẳn chúng nó đã lấy mất cái ví và cái đồng hồ của bà ta, nếu ông ấy không đến cứu. Đó là một bọn cướp táo tợn. À, bây giờ, ông ta đang thở.
- Không thể để ông ta nằm trên đường phố được. Chúng tôi có thể đưa ông ta vào nhà không, thưa bà?
- Được xin đi lối này!
Holmes được đưa vào biệt thự và đặt nằm trong phòng chính, trong khi tôi vẫn quan sát diễn biến từ bên cạnh cửa sổ. Đèn đã được thắp sáng, nhưng các tấm rèm chưa được vén lên, để tôi có thể thấy Holmes nằm trên đi- văng. Trong đời, tôi chưa bao giờ thấy xấu hổ cho bằng khi nhìn thấy người phụ nữ xinh đẹp này, người mà tôi đang âm mưu gài bẫy để chống lại. Cũng thật xấu hổ khi thấy sự tử tế và ân cần biểu lộ ra trong việc chăm sóc kẻ bị thương. Song, nếu rút khỏi vai trò mà Holmes đã giao phó cho tôi, thì tôi lại phản bạn. Tôi lấy quả lựu đạn khói ra khỏi cái áo choàng dài và rộng. Dù sao đi nữa, chúng tôi cũng không gây thương tích cho cô ta. Chúng tôi chỉ ngăn chặn, không cho cô ta làm hại đến người khác thôi.
Holmes đã ngồi dậy trên đi- văng, tôi thấy anh ra hiệu như một người đang cần không khí. Một cô tớ gái chạy băng tới và mở tung cửa sổ. Cùng lúc ấy tôi thấy anh đưa tay lên. Tôi liền ném quả lựu đạn khói vào phòng và kêu lên: “Cháy! Cháy!”. Ngay lập tức đám đông đang đứng đó cùng đồng thanh kêu to: “Cháy! Cháy!”. Những dám khói dày đặc cuồn cuộn dâng lên trong phòng và tuôn ra ngoài. Tôi thoáng thấy những bóng người chạy vụt đi, một lát sau đó, nghe giọng nói của Holmes từ bên trong, trấn an mọi người rằng đó chỉ là báo động nhầm. Len lỏi qua đám đông đang hò hét, tôi tìm đường đến góc phố. Mười phút sau, tôi sung sướng thấy cánh tay Holmes đang trong tay tôi. Chúng tôi đi nhanh và im lặng trong một vài phút cho đến khi xuống tới một trong những đường phố yên tĩnh.
- Anh hành động rất tốt.
- Anh có tấm ảnh rồi ư?
- Tôi đã biết nó ở đâu.
- Làm sao anh biết.
- Cô ấy chỉ cho tôi, tôi đã nói rồi mà.
- Tôi vẫn chưa hiểu gì.
- Anh đã thấy, mọi người trên phố đều là người của tôi.
- Tôi cũng đoán như thế.
- Khi cuộc ẩu đả nổ ra, tôi để một chút thuốc màu đỏ trong lòng bàn tay. Tôi chạy vụt ra phía trước, ngã xuống, đập tay lên mặt.
- Điều ấy, tôi cũng đoán được.
- Cô ta buộc phải cho tôi vào phòng khách. Tấm ảnh có khả năng nằm giữa phòng ngủ và phòng khách. Người ta đặt tôi lên cái đi- văng. Tôi ra hiệu cần không khí, họ buộc phải mở cửa sổ, và anh đã có cơ hội để hành động.
- Việc ấy giúp anh như thế nào?
- Khi người phụ nữ nghĩ rằng ngôi nhà cô ta đang cháy, theo bản năng, cô ta sẽ lao tới cái mà cô ta cho là quý nhất. Một phụ nữ có chồng thì chộp lấy đứa con, cô chưa chồng thì với lấy hộp nữ trang; đối với Irène, cô ta chạy tới dể cứu lấy tấm ảnh. Báo động cháy đã được thực hiện một cách đáng khâm phục. Khói và tiếng reo hò cũng đủ lay động một bộ thần kinh bằng thép. Tấm ảnh ở trong một góc phía sau tấm pa- nô trượt, chính ngay trên dây chuông bên phải. Thoắt một cái cô ta đã ở đó, và tôi kêu to rằng đó là báo động nhầm, cô ta đặt nó vào chỗ cũ, liếc nhìn quả lựu đạn, chạy vội ra khỏi phòng. Tôi đứng dậy, nói lời cáo từ và thoát ra khỏi nhà. Tôi lưỡng lự, không biết có nên lấy tấm ảnh ngay hay không, nhưng người tài xế đã đi vào, ông ta nhìn tôi một cách chăm chú...
- Và bây giờ?
- Bọn mình sẽ ghé thăm thân chủ của chúng ta. Có thể nhà vua sẽ thoả mãn khi ngài tự tay lấy lại nó.
- Bao giờ anh đến đó?
- Lúc tám giờ sáng mai. Cô ta sẽ chưa dậy, nhờ vậy mà chúng ta rảnh tay để hành động. Tôi phải đánh điện cho nhà vua ngay.
Chúng tôi đã về tới phố Baker và đã ngừng lại ở cửa lớn. Holmes đang lục túi tìm chìa khoá thì có một người đi ngang qua nói:
- Chào ông Sherlock Holmes, chúc ông ngủ ngon.Lúc đó có dăm bảy người trên vệ đường, nhưng lời chào hình như đến từ một chàng trai mảnh khảnh trong chiếc áo choàng dài vừa mới vội vã đi qua.
- Tôi đã có lần nghe giọng nói ấy - Holmes nói, trố mắt nhìn xuống đường phố mờ mờ ánh đèn - Bây giờ, tôi đang tự hỏi, người ấy là ai?
Đêm ấy tôi ngủ tại phố Baker. Sáng hôm sau, khi chúng tôi đang ăn điểm tâm, thì nhà vua chạy vụt vào phòng.
- Ông đã lấy được nó? - Ông ta kêu lên, nắm chặt hai vai Holmes.
- Chưa đâu.
- Nhưng có hy vọng?
- Có.
- Vậy thì đi. Xe của tôi đang đợi.
- Tốt lắm!
Chúng tôi xuống cầu thang, lên xe ngựa tiến về biệt thự của cô gái.
- Nàng đã lấy chồng.
- Lấy chồng? Bao giờ vậy?
- Hôm qua.
- Nhưng lấy ai?
- Một luật sư người Anh.
- Cô ta không yêu anh ta chứ?
- Tôi hy vọng là cô ta yêu anh ta.
- Tại sao lại hy vọng?
- Bởi vì chuyện ấy sẽ tránh cho Bệ hạ mọi chuyện rắc rối trong tương lai. Nếu người phụ nữ ấy yêu chồng, tức là nàng không yêu Bệ hạ. Nếu nàng đã không yêu Bệ hạ, thì không có lý do gì mà nàng lại can thiệp vào kế hoạch của Bệ hạ.
- Đúng vậy! Ồ, nếu tôi chọn cô ta làm hoàng hậu, thì cô ta sẽ là một vị hoàng hậu tuyệt vời biết bao?
Ông ta lại chìm vào im lặng trầm tư, một sự im lặng chỉ bị phá vỡ khi xe chạy đến nơi.
Cửa biệt thự mở ra. Một người đàn bà đứng tuổi đang đứng trên những bậc thềm. Bà ta nhìn chúng tôi bằng cái nhìn giễu cợt khi chúng tôi từ trên xe bước xuống.
- Ông là Sherlock Holmes, phải không?
- Tôi là Holmes - Bạn tôi đáp và nhìn bà ta bằng một cái nhìn dò hỏi, sửng sốt.
- Thật chẳng sai? Bà chủ tôi bảo rằng thế nào ông cũng ghé đến. Sáng nay ông bà chủ tôi đã lên đường sang châu Âu.
- Cái gì? - Holmes lảo đảo muốn ngã ra - Cô ta đã rời nước Anh?
- Vâng! Không bao giờ trở lại nữa.
- Còn giấy tờ? - Ông vua hỏi, giọng khàn khàn - Tất cả đều bị mất rồi ư?
- Chúng ta vào xem.
Anh đi băng qua bà quản gia và chạy vội vào phòng khách. Theo sau là nhà vua và tôi. Đồ đạc tung toé khắp nơi, những cái kệ trống rỗng, những ngăn kéo mở, hình như người phụ nữ đã lục lọi một cách vội vã trước khi ra đi. Holmes lao tới cái dây chuông, kéo cái cửa pa- nô trượt xuống và thọc tay vào, kéo ra một tấm ảnh và một lá thư. Đó là tấm ảnh của chính nàng Irène Adler mặc dạ phục.
Lá thư gửi cho “Ngài Sherlock Holmes”.
“Ông Sherlock Holmes thân mến,
Thật ra ông đã hành động rất khéo léo. Ông hoàn toàn đánh lừa được tôi. Cho đến sau khi nghe báo động lửa, tôi vẫn không mảy may ngờ vực. Nhưng, khi tôi phát hiện ra tôi đã tự làm lộ chuyện của mình thì tôi bắt đầu suy nghĩ. Từ mấy tháng trước, người ta đã báo cho tôi biết, phải đề phòng ông. Tôi đã được báo tin rằng nếu nhà vua thuê một thám tử, thì chắc chắn người đó phải là ông. Và người ta đã cho tôi địa chỉ của ông. Thế mà, sau cùng ông vẫn buộc tôi phải tiết lộ cho ông cái mà ông muôn biết. Thậm chí, sau khi bắt đầu ngờ vực tôi cũng thấy khó mà nghĩ xấu về ông mục sư tốt bụng.
Nhưng ông biết đấy, tôi cũng đã được huấn luyện trong nghề diễn viên. Y phục nam giới đối với tôi chẳng có gì xa lạ. Trước đây, tôi thường cải trang để sinh hoạt thoải mái hơn. Nhờ có bác tài xế canh chừng ông, tôi chạy lên tầng trên, mặc y phục của đàn ông rồi theo đến nhà của ông để biết chắc chắn rằng ông đang theo dõi tôi. Hơi liều lĩnh một chút, tôi đã chào ông, chúc ông ngủ ngon giấc, rồi đi đến Temple để gặp chồng tôi. Cả hai chúng tôi đều nghĩ rằng, tốt nhất là tẩu thoát còn hơn ở lại mà bị theo đuổi bởi một đối thủ kinh khủng như ông. Như vậy, ông sẽ tìm thấy chiếc hộc trống không. Còn về tấm ảnh, thân chủ của ông có thể yên tâm. Tôi đang yêu và được yêu bởi một người tốt hơn ông ta. Nhà vua có thể làm những gì mà ông ta muốn, và sẽ không gặp một cản trở nào về phía người phụ nữ mà ông ta đã đối xử tàn tệ. Tôi giữ tấm ảnh chỉ để tự vệ như một thứ vũ khí để chống lại toan tính nào mà ông ta có thể thực hiện được trong tương lai. Tôi để lại một tấm ảnh mà ông ta có thể muốn giữ. Xin chân thành chào ông, ông Sherlock Holmes thân mến!
Irène Norton, nhũ danh Adler”.
- Thật là một phụ nữ phi thường - Vua xứ Bohemia kêu lên, khi cả ba chúng tôi đã đọc xong lá thư - Cô ta không được ở vào giai cấp của tôi, là một điều rất đáng tiếc?
- Tôi rất tiếc là không đưa sự việc của ngài đến một kết cục thành công hơn - Holmes nói.
- Trái lại! Không có gì thành công hơn. Tôi biết rằng lời nói của cô ta chắc như đinh đóng cột. Tấm ảnh đó bây giờ an toàn như thể nó nằm trong lửa vậy.
- Tôi rất vui khi nghe Bệ hạ nói vậy.
- Tôi mang ơn ông vô cùng. Xin nói cho tôi biết, tôi có thể đền ơn ông như thế nào? Cái nhẫn này…
Ông ta tháo cái nhẫn ngọc ra khỏi ngón tay và đặt nó giữa lòng bàn tay.
- Bệ hạ có một thứ mà tôi cho là quý hơn thế nữa.
- Ông chỉ cần nói ra.
- Tấm ảnh này.
Nhà vua trố mắt nhìn anh, kinh ngạc.
- Tấm ảnh của Irène à? Sẵn sàng thôi, nếu ông muốn.
- Xin cám ơn Bệ hạ. Vậy thì, vấn đề đã kết thúc. Tôi trân trọng chúc Bệ hạ một buổi sáng tốt đẹp.
Holmes cúi chào, và quay đi không nhìn thấy bàn tay nhà vua chìa ra cho anh.
*
Xưa nay, anh vẫn thường lấy chuyện thông minh của phụ nữ ra mà đùa cợt. Nhưng gần đây, tôi không nghe anh làm việc đó nữa. Mỗi khi nói về Irène, hoặc khi anh nhắc đến tấm ảnh của nàng, anh luôn luôn gọi nàng bằng danh hiệu cao quý: “Người Phụ Nữ”. 
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»