BÓNG TỐI TRONG KHU VƯỜN
Tôi ngồi trên thanh chắn barie để chờ một người lạ. Đã ba ngày rồi. Những chuyến tàu đi qua đi lại cần mẫn chỉ để lại những dư âm là những tiếng còi. Người lạ tôi chờ chưa tới.
Buổi chiều sân ga vẫn hệt một nhịp điệu, giống như bao hôm nào. Những “quán cóc di động” lắc lư theo nhịp ngủ gật của lũ bán hàng rong. Đôi chân đen còi của chúng duỗi thẳng, khẳng khiu như những tay bang mùa lá rụng. Cạnh chỗ tôi ngồi là quán nước của bà gìa tóc bạc. Bà ngồi lặng phắc không thấy chờ mong hay khắc khỏai. Bóng bà đổ dọc theo tia nắng xuyên chéo. Những chiếc ấm chén màu da lươn đã cũ, có cái sứt quai, nằm lay lắt trên bàn.
- Tàu về!
Có tiếng hét lên làm sân ga giật mình. Lẫn vào từng hồi còi hụ dài là tiếng bánh
sắt đang nghiến trìn trĩn vào thanh ray. Nhộn nhạo tiếng rao hang. Những món quà rẻ tiền. Những thân hình mệt mỏi và nhàu nát. Những mớ hành lý ngổn ngang. Hội ngộ. Chia tay. Một chặp rộn lên rồi qua nhanh. Người ta đem theo những câu chuyện, dắt díu nhau tản về khắp các ngả đường. Chỉ còn lại cái ga xép vắng và bộn bề rác rưởi.
Vẫn không thấy người lạ mà tôi phải đón. Tôi phải chờ đón người lạ ấy theo quyết định của bố tôi. Những chuyến đi công tác và công việc đã khiến bố tôi mỏi mệt và ông không đủ thời gian để chăm lo cho anh em tôi. Hơn thế, anh tôi cần phải có sự chăm sóc của một người lớn. Với đầu óc quyết đóan của một nhà quân sự, bố tôi gọi điện về thị xã để đón một người bà con họ xa. Một người mà theo bố, phải đảm đang, tháo vát, biết lo toan cho gia đình vừa biết giúp anh em tôi học. Tôi nghĩ, nhiều đức tính quý báu như thế, bố có lục tung cả cái thị xã nhỏ bé đó cũng không kiếm nổi, huống hồ… Nhưng bố tôi nói, đã tìm được rồi, sớm muộn cô ấy cũng tới. và tôi phải chờ. Chờ một người đến chăm sóc dạy dỗ mình.
Trời nhuồm nhuộm tối. Tôi lặng lẽ ra về. Hình như tôi là người cuối cùng còn lại trên sân ga. Thọc tay vào túi quần, tôi lững thững đi trên con đường vào thị xã có nền cát mịn trắng. Hai bên đường, hàng cột đèn lập lòe sáng, thả những đốm vàng ệch xuống mặt đường gồ ghề. Tôi chưa muốn về. Trời thả gió dìu dịu mát. Tôi chưa muốn về để đánh thức anh tôi dậy. Tôi chưa muốn về để gặp gương mặt hốc hác vì thức đêm của bố tôi.
Căn bệnh của anh tôi như là một định mệnh, ập đến ngay từ khi anh biết nói cười. Anh được sắm đủ thứ. Anh sung túc và buồn bã trong bốn bức tường với những cơn đau lặp lại. Không ai nói cho anh biết anh bị bệnh gì. Nhưng bằng linh cảm nào đó, anh vẫn biết. Một cái kết thúc đang đón chờ anh tại một khoảnh khắc nào đó giữa một ngày tháng trong muôn vạn ngày tháng.
*
Tôi chờ đợi một tuần
Thế rồi người lạ cũng đến.
Cô làm sáng bừng sân ga ảm đạm bằng chiếc áo phông màu nõn chuối và chiếc quần bò màu be nhạt, bên mình là chiếc va ly. Chân cô đi đôi dép đế cao, những chiếc quai nhựa màu xanh ánh lên kỳ dị. Từ cô tóat lên cái gì không rõ rệt và nhưng không nhiều thiện cảm cho lắm. Cô dấn bước tới quán nhỏ, hỏi: “Cháu tên là Nhẫn phải không?”. Tôi đáp. “Vâng”. Cô hỏi tiếp: “Thế nhà cháu ở đâu ?”. Tôi chỉ tay xuôi theo con đường: “Nhà mái bằng, có gốc bang. Bố cháu dặn phải đi đón cô. Nhưng thực tình cháu giúp cô không phải người đến giúp đỡ anh em cháu”. Cô cười: “Thế à? Thật đáng tiếc. Nhưng chuyện đó tính sau. Ta về nhà đã. À, cô tên là Thục”.
Cô vừa đi vừa cười, giọng nói của cô cứ như đan vào nhau nghe như thứ thổ âm của một vùng miền nào đó, xa vời lắm. Cô bảo, ngồi trên tàu cô bị say quá. Mà người trên hôi không tả được. Tôi bực mình bảo, thế thì cô nên về thị xã. Cô bảo: “Là nói người ta, với cháu thì lại là chuyện khác”.
Cô Thục làm đảo lộn nhịp sống của anh em tôi ngay buổi sáng hôm sau. Cô không cho đọc truyện tranh vì đó là “trò nhảm nhí, vô bổ”. Cô đem tất cả những cuốn sách cũ xuống cân giấy loại cho bà đồng nát. Một ngày, anh em tôi chuẩn bị theo một vòng quay liên hòan khép kín. Dậy sớm, ăn sáng, đi học, ăn trưa, đi ngủ, học, ăn tối, học đàn và ngủ. Không tivi vì tivi tòan quay cảnh chiến trận. Mở cassette chỉ được mở những bản nhạc cũ, còn các đĩa mới tòan yêu đương vớ vẩn. Tôi hỏang sợ. Có khi anh tôi còn bệnh trầm trọng hơn. Bố tôi nhìn sự nền nếp của hai con trai mà yên lòng. Hôm sau ông đi công tác. Có Thục có ra tiễn. Hình như cô khóc. Những người đàn bà thường dễ mủi lòng – tôi nghĩ vậy.
Cô Thục sống hết sức đơn giản. Phòng cô ở như một thứ phòng trọ, nơi mà bất cứ ai nhìn vào cũng thấy nó thiếu sinh khí. Những sắc màu đối chọi nhau chan chát. Nhưng cô biết đánh đàn. Nhưng phím đàn run rẩy dưới tay cô. Phải thừa nhận ở cô có những khả năng khác thường. Đây có lẽ là lý do phù hợp để giải thích cho việc cô đánh đánh được đàn.
Cô bảo tôi: “Dũng vào đánh đàn cho anh Hùng nghe”. Rồi cô lại đều tay đan len. Tôi lướt tay theo ánh nhìn nghiêm khắc của cô. Hết bản, tôi ngừng. Cô bảo: “Tiếp tục đi”. Tôi lại chơi tiếp. Hết bản này đến bản khác. Có sai nốt. Có lỗi nhịp. Những đầu ngón tay nhức buốt. Cô Thục không cần biết. Cô chỉ cần nó đủ hai tiếng đồng hồ.
Anh Hùng tôi hay trở mình kêu đau dữ dội vào đêm. Cô Thục vùng dậy, chạy sang nhấc thân hình nhẹ tọp của anh dậy. “Đau ở đâu?”. Anh Hùng nín bặt, mặt nhăn nhó. Cô quát to: “Đau ở đâu?”. Anh chỉ vào cặp đùi khẳng khiu như cây sậy. Cô xoa xoa rồi bóp bóp, mỗi lúc một mạnh. Anh Hùng đau dữ hơn nhưng hôm sau ít kêu hơn. Dần dà tiếng kêu nhỏ như van vỉ. Tôi thương anh kinh khủng mà chẳng thể làm gì. Sức mạnh của cô Thục là như thế.
Ngày chủ nhật, anh em tôi dìu nhau ra ngòai vườn hóng mát. Cô Thục đi chợ về, mua một con cá quả cực lớn, bảo để nấu cháo. Không hiểu sao, cô vui đáo để. Cô gọi tôi vào múc nước ở bể để cô làm cá. Tôi vâng lời. Vừa múc nước tôi vừa hỏi: “Xưa cô Thục làm gì?” “Làm cô giáo!” “Cô dạy lớp mấy?” “Tất cả các lớp. Dạy nhạc” “Cô thích gì nhất?” “Chả thích gì nhất?” “Chả thích gì” “Chắc con của cô cũng xinh đẹp. Hệt như cô” “Không. Nó xấu xí. Nó chết rồi”. Cô vật con cá quả ra thớt. Nó giãy mạnh đến nỗi, cô không thể lựa dao mà mổ bụng nó. Cô lấy cái chày giã cua, đập vào đầu cá. Một cái, hai cái rồi đến khi cái đầu cá nát nhừ. Tôi bỏ chạy. Anh Hùng tôi đã chạy đi đâu. Tôi vào nhà thấy anh đang nằm sõng sòai trên sàn. Tôi lay anh dậy. Nhưng anh nằm im. Tôi gào lên. Bất lực.
Ba ngày sau, cô Thục rời khỏi nhà tôi. Chí bố tôi đưa cô rag a. Tôi ngồi ngòai vườn. Một mình.
*
Bao nhiêu lần, tôi lại ra ngồi nơi ga xép, bên quán nước của bà già tóc bạc và phấp phỏng chờ đợi những chuyến tàu. Và tiếng còi cứ lẩn quẩn vào giấc mơ tôi. Trong giấc mơ, tôi thấy ở phía cuối con tàu, một người quen thuộc và thương yêu đến kỳ lạ đang dẳt tay anh Hùng đến bên tôi. Rồi người nâng bổng chúng tôi, đưa chúng tôi về căn nhà ấm áp của mình. Tôi và anh Hùng – hai đứa trẻ như hai thiên thần vô tội. Chúng tôi vui chơi trong ánh sáng ấm áp và dịu dàng ở khu vườn. Không còn bóng tối. Không có những cơn đau. Không cô Thục. Chỉ có gia đình tôi. Sau này, lớn lên, tôi gọi thành tên, đó là ước mơ mẹ.
Hà Nội 21 – 8 – 2000
D.B.N
Tôi ngồi trên thanh chắn barie để chờ một người lạ. Đã ba ngày rồi. Những chuyến tàu đi qua đi lại cần mẫn chỉ để lại những dư âm là những tiếng còi. Người lạ tôi chờ chưa tới.
Buổi chiều sân ga vẫn hệt một nhịp điệu, giống như bao hôm nào. Những “quán cóc di động” lắc lư theo nhịp ngủ gật của lũ bán hàng rong. Đôi chân đen còi của chúng duỗi thẳng, khẳng khiu như những tay bang mùa lá rụng. Cạnh chỗ tôi ngồi là quán nước của bà gìa tóc bạc. Bà ngồi lặng phắc không thấy chờ mong hay khắc khỏai. Bóng bà đổ dọc theo tia nắng xuyên chéo. Những chiếc ấm chén màu da lươn đã cũ, có cái sứt quai, nằm lay lắt trên bàn.
- Tàu về!
Có tiếng hét lên làm sân ga giật mình. Lẫn vào từng hồi còi hụ dài là tiếng bánh
sắt đang nghiến trìn trĩn vào thanh ray. Nhộn nhạo tiếng rao hang. Những món quà rẻ tiền. Những thân hình mệt mỏi và nhàu nát. Những mớ hành lý ngổn ngang. Hội ngộ. Chia tay. Một chặp rộn lên rồi qua nhanh. Người ta đem theo những câu chuyện, dắt díu nhau tản về khắp các ngả đường. Chỉ còn lại cái ga xép vắng và bộn bề rác rưởi.
Vẫn không thấy người lạ mà tôi phải đón. Tôi phải chờ đón người lạ ấy theo quyết định của bố tôi. Những chuyến đi công tác và công việc đã khiến bố tôi mỏi mệt và ông không đủ thời gian để chăm lo cho anh em tôi. Hơn thế, anh tôi cần phải có sự chăm sóc của một người lớn. Với đầu óc quyết đóan của một nhà quân sự, bố tôi gọi điện về thị xã để đón một người bà con họ xa. Một người mà theo bố, phải đảm đang, tháo vát, biết lo toan cho gia đình vừa biết giúp anh em tôi học. Tôi nghĩ, nhiều đức tính quý báu như thế, bố có lục tung cả cái thị xã nhỏ bé đó cũng không kiếm nổi, huống hồ… Nhưng bố tôi nói, đã tìm được rồi, sớm muộn cô ấy cũng tới. và tôi phải chờ. Chờ một người đến chăm sóc dạy dỗ mình.
Trời nhuồm nhuộm tối. Tôi lặng lẽ ra về. Hình như tôi là người cuối cùng còn lại trên sân ga. Thọc tay vào túi quần, tôi lững thững đi trên con đường vào thị xã có nền cát mịn trắng. Hai bên đường, hàng cột đèn lập lòe sáng, thả những đốm vàng ệch xuống mặt đường gồ ghề. Tôi chưa muốn về. Trời thả gió dìu dịu mát. Tôi chưa muốn về để đánh thức anh tôi dậy. Tôi chưa muốn về để gặp gương mặt hốc hác vì thức đêm của bố tôi.
Căn bệnh của anh tôi như là một định mệnh, ập đến ngay từ khi anh biết nói cười. Anh được sắm đủ thứ. Anh sung túc và buồn bã trong bốn bức tường với những cơn đau lặp lại. Không ai nói cho anh biết anh bị bệnh gì. Nhưng bằng linh cảm nào đó, anh vẫn biết. Một cái kết thúc đang đón chờ anh tại một khoảnh khắc nào đó giữa một ngày tháng trong muôn vạn ngày tháng.
*
Tôi chờ đợi một tuần
Thế rồi người lạ cũng đến.
Cô làm sáng bừng sân ga ảm đạm bằng chiếc áo phông màu nõn chuối và chiếc quần bò màu be nhạt, bên mình là chiếc va ly. Chân cô đi đôi dép đế cao, những chiếc quai nhựa màu xanh ánh lên kỳ dị. Từ cô tóat lên cái gì không rõ rệt và nhưng không nhiều thiện cảm cho lắm. Cô dấn bước tới quán nhỏ, hỏi: “Cháu tên là Nhẫn phải không?”. Tôi đáp. “Vâng”. Cô hỏi tiếp: “Thế nhà cháu ở đâu ?”. Tôi chỉ tay xuôi theo con đường: “Nhà mái bằng, có gốc bang. Bố cháu dặn phải đi đón cô. Nhưng thực tình cháu giúp cô không phải người đến giúp đỡ anh em cháu”. Cô cười: “Thế à? Thật đáng tiếc. Nhưng chuyện đó tính sau. Ta về nhà đã. À, cô tên là Thục”.
Cô vừa đi vừa cười, giọng nói của cô cứ như đan vào nhau nghe như thứ thổ âm của một vùng miền nào đó, xa vời lắm. Cô bảo, ngồi trên tàu cô bị say quá. Mà người trên hôi không tả được. Tôi bực mình bảo, thế thì cô nên về thị xã. Cô bảo: “Là nói người ta, với cháu thì lại là chuyện khác”.
Cô Thục làm đảo lộn nhịp sống của anh em tôi ngay buổi sáng hôm sau. Cô không cho đọc truyện tranh vì đó là “trò nhảm nhí, vô bổ”. Cô đem tất cả những cuốn sách cũ xuống cân giấy loại cho bà đồng nát. Một ngày, anh em tôi chuẩn bị theo một vòng quay liên hòan khép kín. Dậy sớm, ăn sáng, đi học, ăn trưa, đi ngủ, học, ăn tối, học đàn và ngủ. Không tivi vì tivi tòan quay cảnh chiến trận. Mở cassette chỉ được mở những bản nhạc cũ, còn các đĩa mới tòan yêu đương vớ vẩn. Tôi hỏang sợ. Có khi anh tôi còn bệnh trầm trọng hơn. Bố tôi nhìn sự nền nếp của hai con trai mà yên lòng. Hôm sau ông đi công tác. Có Thục có ra tiễn. Hình như cô khóc. Những người đàn bà thường dễ mủi lòng – tôi nghĩ vậy.
Cô Thục sống hết sức đơn giản. Phòng cô ở như một thứ phòng trọ, nơi mà bất cứ ai nhìn vào cũng thấy nó thiếu sinh khí. Những sắc màu đối chọi nhau chan chát. Nhưng cô biết đánh đàn. Nhưng phím đàn run rẩy dưới tay cô. Phải thừa nhận ở cô có những khả năng khác thường. Đây có lẽ là lý do phù hợp để giải thích cho việc cô đánh đánh được đàn.
Cô bảo tôi: “Dũng vào đánh đàn cho anh Hùng nghe”. Rồi cô lại đều tay đan len. Tôi lướt tay theo ánh nhìn nghiêm khắc của cô. Hết bản, tôi ngừng. Cô bảo: “Tiếp tục đi”. Tôi lại chơi tiếp. Hết bản này đến bản khác. Có sai nốt. Có lỗi nhịp. Những đầu ngón tay nhức buốt. Cô Thục không cần biết. Cô chỉ cần nó đủ hai tiếng đồng hồ.
Anh Hùng tôi hay trở mình kêu đau dữ dội vào đêm. Cô Thục vùng dậy, chạy sang nhấc thân hình nhẹ tọp của anh dậy. “Đau ở đâu?”. Anh Hùng nín bặt, mặt nhăn nhó. Cô quát to: “Đau ở đâu?”. Anh chỉ vào cặp đùi khẳng khiu như cây sậy. Cô xoa xoa rồi bóp bóp, mỗi lúc một mạnh. Anh Hùng đau dữ hơn nhưng hôm sau ít kêu hơn. Dần dà tiếng kêu nhỏ như van vỉ. Tôi thương anh kinh khủng mà chẳng thể làm gì. Sức mạnh của cô Thục là như thế.
Ngày chủ nhật, anh em tôi dìu nhau ra ngòai vườn hóng mát. Cô Thục đi chợ về, mua một con cá quả cực lớn, bảo để nấu cháo. Không hiểu sao, cô vui đáo để. Cô gọi tôi vào múc nước ở bể để cô làm cá. Tôi vâng lời. Vừa múc nước tôi vừa hỏi: “Xưa cô Thục làm gì?” “Làm cô giáo!” “Cô dạy lớp mấy?” “Tất cả các lớp. Dạy nhạc” “Cô thích gì nhất?” “Chả thích gì nhất?” “Chả thích gì” “Chắc con của cô cũng xinh đẹp. Hệt như cô” “Không. Nó xấu xí. Nó chết rồi”. Cô vật con cá quả ra thớt. Nó giãy mạnh đến nỗi, cô không thể lựa dao mà mổ bụng nó. Cô lấy cái chày giã cua, đập vào đầu cá. Một cái, hai cái rồi đến khi cái đầu cá nát nhừ. Tôi bỏ chạy. Anh Hùng tôi đã chạy đi đâu. Tôi vào nhà thấy anh đang nằm sõng sòai trên sàn. Tôi lay anh dậy. Nhưng anh nằm im. Tôi gào lên. Bất lực.
Ba ngày sau, cô Thục rời khỏi nhà tôi. Chí bố tôi đưa cô rag a. Tôi ngồi ngòai vườn. Một mình.
*
Bao nhiêu lần, tôi lại ra ngồi nơi ga xép, bên quán nước của bà già tóc bạc và phấp phỏng chờ đợi những chuyến tàu. Và tiếng còi cứ lẩn quẩn vào giấc mơ tôi. Trong giấc mơ, tôi thấy ở phía cuối con tàu, một người quen thuộc và thương yêu đến kỳ lạ đang dẳt tay anh Hùng đến bên tôi. Rồi người nâng bổng chúng tôi, đưa chúng tôi về căn nhà ấm áp của mình. Tôi và anh Hùng – hai đứa trẻ như hai thiên thần vô tội. Chúng tôi vui chơi trong ánh sáng ấm áp và dịu dàng ở khu vườn. Không còn bóng tối. Không có những cơn đau. Không cô Thục. Chỉ có gia đình tôi. Sau này, lớn lên, tôi gọi thành tên, đó là ước mơ mẹ.
Hà Nội 21 – 8 – 2000
D.B.N