📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

George Sand - Béatrice DiDier 🔒

9 trả lời, 11.859 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-11-08 07:13:27Ct.Ly>
George Sand
 
Dịch giả : Đặng thị Hạnh và Lê Hồng Sâm
Tác giả : Béatrice DiDier
Đánh máy : Ct.Ly
Nhà xuất bản Phụ nữ
 


 
 
Dịch nguyên bản tiếng Pháp do adpf ấn hành tháng 3 năm 2004 tại Paris
 
Cuốn sách này xuất bản trong khuôn khổ «  Chương trình hợp tác xuất bản, đưọc sự giúp đỡ của Trung tâm Văn hóa và Hợp tác Đại sứ quán Pháp tại nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam
 
 
( Cet ouvrage, publié dans le cadre du Progamme de participation à la publication, bénéficie du soutien du Centre Culturel et de Coopération de l’Ambassade de France en République Socialiste du Vietnam)
 
Béatrice Didier là một giáo sư trường Đại học Sư phạm ( Phố Uhm, Paris) ; tác giả của nhiều tiểu luận ( Nhật ký thầm kín, văn viết - phụ nữ… ) về văn học Pháp thế kỷ XVII và thế kỷ XIX, đặc biệt về Stendhal và George Sand.
Năm 1998 bà đã xuất bản ở PUF một tác phẩm, đầu đề lấy nguồn cảm hứng từ Flaubert : George Sand. Một giòng sông lớn châu Mỹ.
bà là người chủ trì việc xuất bản toàn tập George Sand ở Honoré Champion, một công việc từ trước tới nay chưa bao giờ được thực hiện .
 
     George Sand
    «Với tư cách người sáng tạo ra kiệt tác, bà là người thứ nhất trong giới phụ nữ, bà có thứ hạng độc nhất đó, trên phương diện nghệ thuật, không phải chỉ của thời đại chúng ta mà của mọi thời đại; bà có trí tuệ mạnh mẽ nhất và cũng đáng yêu nhất đã được trao tặng cho giới của bà. Thưa Bà, bà làm vẻ vang cho thế kỷ và cho đất nước chúng ta […]
   Tôi xin cảm tạ bà vì đã là một tâm hồn lớn lao đến thế”.

 
                                                                     VICTOR HUGO,
                                                                Thư gửi George Sand,
                                                             Paris 19 tháng sáu năm 1875
 
 
 
Mở đầu
 
Ai sợ George Sand ? Các phản ứng khó thương của một Baudelaire có lẽ là bắng chứng rõ ràng nhất về nỗi lo âu do bà gây nên. Trong một thời gian dài người phụ nữ - tác giả đã khiến người ta sợ, đặc biệt nếu người ấy chẳng chịu thôi làm phụ nữ. Ngay từ đầu vinh quang của bà đã có vầng hào quang tai tiếng bao quanh.
 
    Điều này có vẻ đáng ngạc nhiên, bởi rốt cuộc thì trong thế kỷ XVIII của chúng ta, đông đảo nữ văn sĩ từng có tình nhân ; nhưng giữa thời gian ấy đã diễn ra cuộc Cách mạng, rất ít chú ý đến nữ quyền, cần phải thừa nhận như vậy : sau đó nền Đế chế, thời Trùng Hưng và triều đại Louis –Philippe biểu thị bước thoái bộ rất rõ trong việc giải phóng phụ nữ. Và dư luận công chúng, ở thế kỷ XIX, với sự phát triển của báo chí, các phương tiện trung gian để làm rùm beng vụ tai tiếng, những phương tiện mà thế kỷ trước không có. Trong một thời gian dài nền phê bình văn học, chịu ảnh hưởng của dư luận này, cứ khăng khăng thấy George Sand là người tình của Musset hay của Chopin, thay vì thấy bà là một đại văn hào, như chúng ta hiện nay. Điều đó lý giải tình trạng tương đối thất sủng của sáng tác George Sand. Tuy nhiên, sinh thời bà, một Balzac, một Flaubert và nhiều bậc khác coi bà là đồng đẳng với mình.
Tại nước ngoài ảnh hưởng của bà hết sức lớn lao, thí dụ như với Dostoievski và với tiểu thuyết Nga, cả với tiểu thuyết Ý. Bà từng được việndẫn bởi tất cả những phụ nữ nhìn thấy ở bà một ngưòi giải phóng.
Trong những năm đầu thế kỷ XX, Alaine và đặc biệt Marcel Proust coi bà là một đại văn hào. Sau đó, nhờ nhiều công trình từng in dấu ở nửa sau thế kỷ, hình ảnh của George Sand và công trình của bà đã định hình rõ rệt. Trước hết chúng ta hãy tỏ bày niềm kính trọng đối với việc xuất bản Thư Tín do Georges Lubin phụ trách, gồm hai mươi sáu tập dày, cho phép chúng ta xem xét cuộc sống của George Sand ngày này qua ngày khác, cuộc sống khác hẳn với những sự đơn giản hóa mà bà là nạn nhân, cho ta thấy khả năng làm việc khó tin nổi và theo dỏi công việc sáng tác của bà trong những nét lớn. Chúng ta cũng lưu ý cả nỗ lực đã được thực hiện trong lĩnh vực xuất bản, tuy vẫn còn chưa đủ. Cho đến nay chưa nhà xuất bản nào ấn hành một bộ tổng tập : Honoré Champion là nhà xuất bản đầu tiên khởi sự công trình này, sẽ phải được tiến hành trong nhiều năm. Các trường đại học đã đi vào nghiên cứu văn hào một cách nghiêm túc : trường Đại học Grenoble, với các công trình của ..Cellier và L.Guichard, được học trò của các ông tiếp nối, trường Đại học Vérone, với A. Poli, các trường Đại học Paris VII, Amsterdam, Hanovra, các trường Đại học Mỹ … Tuy vậy vẫn còn rất nhiều việc cần làm.
 
      Tiểu thuyết của George Sand, được viết với sự dung dị mà người ta thường chê trách bà, dễ đọc ; tuy nhiên nắm bắt toàn thể công trình của bà lại khó, trước hết do tầm rộng lớn của nó. Rất hiếm người có thể tự phụ là đã đọc chín mươi cuốn tiểu thuyết, các tác phẩm tự thuật, kịch, các bài báo, thư từ trao đổi của bà : giá như muốm làm, phải bỏ vào đó cả cuộc đời. Cho nên người ta thích tái bản những gì tất cả mọi người đều biết, thí dụ như các tiểu thuyết gọi là « đồng nội », và bỏ qua phần kịch, bị đánh giá nhầm lẫn là khó diễn. Tự giới hạn ở vài hình ảnh về George Sand do các thế hệ trước truyền lại thì dễ hơn: người đàn bà định mệnh, rồi « bà phu nhân hiền hậu của Nohant ».
 
Trong chừng mực bà từng gây ra và còn đang gây ra những cách lý giải say sưa sôi nổi, lại cũng khó có được một cái nhìn tương đối khách quan và đừng phóng chiếu lên bà các sơ đồ của thế kỷ XXI chúng ta. George Sand nhà đấu tranh vì phụ nữ ư ? Một số người sẽ cho rằng bà đấu tranh chưa đủ. Sáp nhập bà với các nhà đấu tranh vì phụ nữ những năm 1970 là một việc làm nguy hiểm : sự giải phóng phụ nữ mà bà yêu cầu xét cho cùng khá hạn chế, khi sẵn sàng chấp nhận là những người phụ nữ thuộc mọi đẳng cấp xã hội không có cùng một phận vị. Nhưng cần đặt cuộc đấu tranh của bà vào thời đại bà, chứ không phải thời đại chúng ta. Georges Sand xã hội chủ nghĩa, bạn của Pierre Leroux, ủng hộ 1848, thậm chí tham gia hoạt động trong đó ? Nhưng người ta sẽ thấy chủ nghĩa xã hội ấy là rụt rè, người ta sẽ chê trách thái độ của bà trong thời kỳ Công xã. Cả ở đây nữa, cũng cần xác lập lại các viễn cảnh : năm 1848 và năm 1871 tuổi bà đã khác đi: bà đã sống ngày này qua ngày khác những biến cố mà chúng ta biết một cách tổng quát và theo phương pháp quy nạp, đối với những biến cố đó chúng ta có thể có một cách nhìn khác với những người đương thời.
 
    Một điều cũng gây khó nghĩ, đó là trong cuộc sống thọ của bà, George Sand đã tự đổi mới, đã ứng dụng những thể loại rất khác biệt và thật khó đưa bà vào các phạm trù đã định giới hạn. Bà từng được một công chúng hết sức rộng rãi đọc trong suốt thế kỷ XIX. Bà có là nhà sáng tạo những hình thức mới hay không ? Nhiều hơn người ta nghĩ. Bà có quan tâm đến bút pháp, hay như người ta từng khẳng định, bà viết những gì lướt qua óc mình ? Việc nghiên cứu các bản thảo chứng tỏ rằng, dù không chữa kỹ lưỡng như một Flaubert, song bà dụng công, chỉnh sửa, nâng cao, hơn người ta thường bảo rất nhiều.
 
Các bạn đã đọc George Sand chưa? Cuốn sách nhỏ này muốn xui bạn hãy làm điều đó và đặc biệt là hãy phiêu lưu ngay (nếu việc đọc toàn bộ hầu như bất khả thực hiện) đến với những tác phẩm ít nổi tiếng hơn. Như thế bạn sẽ có được một khái niệm về sự phong phú, về tính đa dạng, về chất quảng đại trong văn chương của người được Flaubert ví với “một dòng sông lớn châu Mỹ”. Chú ý đến tác phẩm hơn là cuộc đời, chúng tôi sẽ theo trật tự thời gian trên những nét lớn, nhưng đồng thời có những tập hợp về thể loại để giúp nắm bắt đồng thời cả tính phức hợp cả sự nhất quán của công trình.



📎 GeorgeSand|GeorgeSand1
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-04-01 00:57:05Ct.Ly>
1-  Ra đời
 
Nguồn gốc gia đình.
 
    George Sand ưa nhấn mạnh sự kiện là do chính nguồn gốc gia đình mà bà thuộc về hai giới hết sức khác biệt. Giới quý tộc về bên nội, giới bình dân về bên ngoại. Vào thời kỳ hậu – cách mạng mà người ta mơ hòa giải xã hội, bà thấy nguồn gốc của mình như một biểu trưng cho sự liên kết các cực, cho phép bà thừa kế mọi tiềm năng của một  dân tộc. Amandine – Aurore – Lucile Dupin sinh ngày 12 tháng Messidor năm XII (1 tháng Bảy năm 1840) ở số nhà 15 (ngày nay là nhà số 46) phố Meslée hay Meslay, tại Paris.
 
     Về bên nội, Aurore là dòng dõi của Maurice de Saxe, vị anh hùng trận Fontenoy và của nhiều chiến thắng khác, sau thành Thống chế nước Pháp. Ông có với Marie Rainteau một con gái ngoài giá thú: đó là bà nội của George Sand; được nuôi dạy tại nữ học hiệu Saint – Cyr, bà kết hôn với Louis Claude Dupin de Francueil, sáu mươi mốt tuổi khi bà hai mười chín, và sống với ông rất hạnh phúc, như sau này bà tâm sự với cháu gái. Xuất thân từ giới đại tài chính, ông qua đời trước Cách Mạng ba năm, để lại cho bà một gia sản khá lớn. năm 1793, bà tậu cơ ngơi Nohant, nhưng có bị giam giữ ít lâu dưới thời Khủng bố. Con trai bà, Maurice Dupin, sinh năm 1778, ước mơ vinh quang trong ngành quân sự và gia nhập đội Cộng Hoà. Anh lập công trong cuộc viễn chinh sang Ý, đặc biệt ở Marengo. Cũng ở bên ý, Maurice gặp Antoinette Sophie – Victoire Delaborde, bấy giờ đang là tình nhân của một chuẩn tướng. Nguồn gốc tầm thường, quá khứ hơi lộn xộn của thiếu phụ khiến Maurice giữ bí mật việc kết hôn tiến hành ngày 5 tháng Sáu năm 1804, một tháng trước khi George Sand tương lai chào đời.
 
     Sự nghiệp quân sự của Maurice Dupin tiếp tục cùng Đại quân: các cuộc viễn chinh sang Bavière, sang Phổ, sang Ba Lan và Tây ban Nha (ở đó Maurice là trợ lý cho hoàng thân Murat). Người vợ, lại có mang, sang Tây Ban Nha với chồng cùng cô bé Aurore 4 tuổi. Vậy là George Sand, cũng như Victor Hugo, có tuổi thơ in dấu của bản anh hùng ca Napoléon và của cuộc chiến khủng khiếp tại Tây Ban Nha. Những hình ảnh không thể nào quên đã khắc sâu vào ký ức những đứa trẻ còn rất non nớt về sau sẽ trở thành các đại văn hào lãng mạn chủ nghĩa. Cuối tháng 7 năm 1808, trở về Nohant, tiếp theo là hai biến cố đau thương: tháng 9, em trai George Sand chết, được một tháng tuổi, rồi đến người cha, vì ngã ngựa ở gần La Châtre. (vùng Creusse)
 
     Sau này nhà văn sẽ dành một phần lớn trong Truyện đời tôi để kể câu chuyện của cha mẹ, nhất là người cha? Sự hòa hợp các tầng lớp xã hội mà Sand mơ ước, bà đã cảm nhận những khó khăn ngay từ thời thơ ấu, và cảm nhận một cách đau đớn. Bà Daupin de Francueil, muốn đảm trách việc giáo dục cô bé, đã khiến người mẹ từ bỏ quyền giám hộ. George Sand tương lai sống thời thơ ấu ở Nohant, với các cuộc đến thăm ngắn ngủi của mẹ, và những khi bà nội nghỉ đông tại Paris thì cô bé gặp mẹ nhiều hơn. Cô bé thấy mình bị giằng xé giữa hai người thể coi là hai bà mẹ, cô yêu mến cả hai, nhưng cảm nhận được sự thù địch sâu xa giữa họ. Cho nên bộ tự truyện sau này sẽ bị lôi kéo bởi những nẻo đường khác nhau: lý tưởng hóa mối tình của bố mẹ, thiên tình sử bên Ý và sự ra đời của mình (“Ngày hôm ấy mẹ tôi mặc một tấm áo dài đẹp màu hồng, còn cha tôi đang chơi vĩ cầm Crémone của ông”, một truyện thần tiên), nhưng cũng diễn tả cả nỗi đau thực sự sau này của mình và biện hộ cho mẹ về việc hầu như bỏ rơi con, sự bỏ rơi có lẽ do ưu thế kinh tế của bà nội nhiều hơn là do điều mà Sand không thể hình dung nổi như thái độ thờ ơ.
 
     George Sand, nhìn chung thường ít gạch xóa bản thảo, để lộ niềm bối rối này qua cách viết đầy khăn khoăn dằn vặt ở những đoạn liên tưởng đến mẹ.
 
    Nhà văn cũng muốn, một cách hết sức công bằng, bộc bạch món nợ đối với người bà mà tính cách mạnh mẽ đã in dấu lên mình. Nhờ bà nội; George Sand được biết chế độ cũ, về mặt thời gian hãy còn rất gần, nhưng sự đứt đoạn là Cách mạng đã đột ngột đẩy lùi thật xa vào dĩ vãng. Ngoài ra, Nohant là chốn buông neo đích thực của Sand. Bà sẽ du hành, bà sẽ ở Paris, nhưng giống như Antée, bà luôn cảm thấy cần lấy lại sức mạnh từ mảnh đất của thời thơ ấu nơi mà sau này bà muốn sẽ là chốn yên nghỉ cuối cùng cho mình. Chính từ Nohant mà bà cảm thấy niềm say mê đối với miền quê và chính xác hơn là đối với miền Berry, sẽ là khung cảnh cho nhiều tiểu thuyết của bà. Cũng từ nơi đây mà bà có được sức khoẻ cường tráng ít khi suy giảm. Jean Louis François Deschartres, trước kia là gia sư của người cha, trở thành gia sư cho cô con gái, và sự đào tạo về trí tuệ của Aurore, mặc dù lộn xộn đôi chút, về tổng thể vững vàng hơn sự đào tạo mà đa số các cô gái thời đó được hấp thụ. Thư viện của bà nội, người từng quen biết Jean Jacques Rousseau, có nhiều sách, và cô bé thỏa mãn được niềm đam mê đọc sách sẽ bền vững nơi cô. Bà nội chơi phong cầm và hát; chính nhờ bà mà Sand có được cơ sở của một sự giáo dục về âm nhạc nghiêm chỉnh hơn sự giáo dục của rất nhiều nhà văn lãng mạn. Nhưng trong Truyện đời tôi, bà chú ý nhắc nhở rằng mẹ bà thuộc một gia đình bán chim, rằng con chim như một vật tổ của bà: bà nội, đó là âm nhạc bác học, mẹ, đó là âm nhạc của thiên nhiên, cả âm nhạc dân gian nữa; chúng ta sẽ gặp lâi hai phương diền này của lĩnh vực âm nhạc trong sáng tác của bà, và chúng ta sẽ thấy Consuelo hoà giải các phương diện đó ra sao.
 
     Vào thời ấy, bất kỳ một sự giáo dục tốt nào cũng phải bao gồm một giai đoạn học tập trong một tu viện nữ. vậy là bà Dupin de Francueil gửi cô cháu nội đến với các nữ tu người Anh dòng thánh Augustin ở phố Fossés –Saint –Victor ( phố Cardinal – Lemoine ngày nay). Tại đó Aurore học một ít tiếng Ý và tiếng và tiếng Anh, nhưng đặc biệt là kết bạn và tiếp nhận được niềm thích thú trao đổi thư từ; các cô thiếu nữ này viết cho nhau những bức thư đúng là những tiểu thuyết thực sự. Chắc hẳn cũng từ nhà tu này mà nảy sinh trong cô thiếu nữ Aurore giấc mơ tu viện dai dẳng, tái xuất hiện trong thời gian ở Majorque, trong Lélia và Spiridion. Aurore trải qua một cơn khủng hoảng thần bí; sau này, dù tỏ ra hết sức độc lập đối với các Giáo hội, nữ tiểu thuyết gia vẫn nhạy cảm với hiện tượng tôn giáo và sẽ có khả năng sáng tạo nên các nhân vật tu sĩ và nữ tu; niềm tin ở Chúa không mấy khi rời bỏ bà, nhưng là một Chúa giống như trong Phát biểu về tín ngưỡng của phó giám mục miền savoie hơn là Chúa của Giáo hội thời Trùng hưng.
 
    Bà nội, người con của các triết gia Ánh sáng, có lẽ lo ngại vì tính chất thần bí này, hoặc chỉ đơn giản muốn lại được thấy cháu ở nhà, bèn đón cô về Nohant. Tại đây George Sand tương lai tiếp tục đọc các nhà văn thế kỷ XVIII, nhưng cũng đọc cả các tác phẩm mới hơn: Atala, Tinh anh đạo Thiên chúa … Bà Dupin de Francueil, cảm thấy mình ốm yếu, những muốn gã chồng cho cháu gái trước khi qua đời; nhưng không làm được điều ấy. Sau khi bà mất (26 tháng Chạp năm 1821), mẹ của Aurore định lấy lại uy quyền đối với con gái, nhưng bà vụng về và không hiểu được những ham muốn tìm hiểu về trí tuệ. Việc mẹ con gặp lại nhau kết thúc bằng một thất bại. Được gia đình Du Plessis là bạn bè của cha mời về cơ ngơi ở gần Melun, Aurore gặp tại đó Casimir Dudevant, cũng như cô được sinh ra từ một cuộc hôn nhân bất tưong xứng (giữa một nam tước thời Đế chế và một người hầu gái); tuy vậy sự trùng hợp này không tạo ra được sự đồng cảm và đồng tư tưởng. Cuộc hôn nhân của họ (cử hành ngày 17 tháng Chín năm 1882) sẽ là một tai họa. Chín tháng sau, Maurice ra đời, đứa con trai vô cùng yêu dấu, mà người ta có thể coi là “tình yêu đích thực của George Sand”. Nhưng sự ra đời này không đủ để đôi vợ chồng này xích lại gần nhau, mà mọi sự đổ vỡ bắt đầu từ đó .
 
    Những năm đầu tiên của cuộc hôn nhân bộc lộ sự xung khắc, bùng ra khi họ ở Nohant cũng như khi đi du lịch. Vào tháng bảy – tháng tám năm 1825, họ đến núi Pyrénées, nơi Aurore hoan hỉ khám phá những phong cảnh hung vĩ. Tại đó Aurore quen Aurélien de Sèze, một luật sư trẻ người Bordeaux hết sức hấp dẫn. Năm 1827, Aurore đến dưỡng bệnh ở vùng nước suối Mont – Dore: quả thực cô bị căn bệnh mà giá như vào thời này chúng ta sẽ gọi là rối loạn tâm lý. Cô cũng đến khám một thầy thuốc tại Paris, ở đó cô gặp lại Stéphane Ajasson de Grandsagne, chàng trai thuộc gia đình quý tộc gạp gỡ tại Nohant sáu năm trước. Và bởi Solange con gái cô ra đời ngày 13 tháng Chín năm 1828, người ta có thể cho rằng Ajassion de Grandsagne là bố của đứa con thứ hai này. Gia đình Dudevant bất hòa hoàn toàn . Casimir tán tỉnh các cô hầu, uống rượu, tỏ ra thô bạo, còn người thiếu phụ sống một cuộc đời ngày càng độc lập. Cuối cùng hai vợ chồng đồng ý về một sự thoả thuận: Casimir ở lại Nohant, Aurore sống một nửa thời gian trong năm tại Paris.




📎 GS6ans
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-04-06 22:27:20Ct.Ly>
Sự ra đời của nhà văn
 
Trong thời kỳ khá rối ren của đòi mình, Sand đã bắt đầu viết và thoạt tiên là viết nhật ký hay truyện hành trình: Hành trình đến nhà ông Blaise, Hành trình đến Auvergne, hành trình sang Tây ban Nha, nhưng cũng viết cả Couperies và một truyện ngắn . Người mẹ đỡ đầu. Ngày 4 tháng Giêng năm 1831, khi rời Nohant đến Paris gặp gỡ người tình là Jules Sandeau, Sand mang theo một tiểu thuyết còn đang dang dở, Aimée. Mặc dù tỏ ra có năng khiếu hiển nhiên về hội họa, điều này được chứng minh bởi những bức chân dung do Sand vẽ, song từ nay trở đi bà chuyên tâm viết, thế nhưng bà sẽ phải giành lấy cho mình sự độc lập. bà cùng viết với Sandeau Người mãi biện, ký tên là “Alphonse Signol”, rồi họ ký “J.Sand” cuốn Hồng và Bạch hay Nữ diễn viên và nữ tu sĩ, tác phẩm này đã đáng chú ý hơn. Biết được những gì là của Aurore và những gì của Sandeau là vấn đề khó. Nhưng phê bình nghiên cứu gần đây nhất có khuynh hướng gán một phần ngày càng lớn cho George Sand tương lai.
 
   Sand quen Hennri de   Latouche, người miền Berry, chủ báo Le Figaro, bấy giờ chỉ là một tờ báo nhỏ. “Latouche […]  quăng cho tôi một đề tài và cho tôi một mẩu giấy nhỏ trên đó phải làm sao viết xong được đề tài “Tự thuật, tII,tr.160). “Đấy là một người bạn, và đặc biệt đây là một ông thầy ghen tuông do bản chất, như ông lão Porpora mà tôi từng miêu tả trong một cuốn tiểu thuyết của tôi. Khi Latouche đã ấp ủ một trí tuệ, đã phát triển một tài năng, anh không còn muốn cho một nguồn cảm hứng khác hay một sự giúp đỡ khác, ngoài anh dám mon men lại gần trí tuệ ấy, tài năng ấy nữa” (Tự thuật, TII, tr. 154). Ông thầy chuyên chế, hẳn như vậy rồi, nhưng chẳng phải là không hữu ích cho người học việc. Sand cũng cộng tác với tờ Thời trang, với Tạp chí Paris, và làm quen với nhiều nhà phê bình, đặc biệt là Auguste Hilarion de Keratry, người khuyên Sand hãy làm ra những cuốn sách! Bà gặp Honoré de Balzac, được nhà văn đề tặng cuốn Hồi ký của hai thiếu phụ có chồng. Thế là bà được tiến cử vào các giới văn chương.
 
   Latouche và Sandeau (mà Sand đoạn tuyệt hẳn vào tháng Ba năm 1833) đã hữu ích, nhưng chẳng bao lâu bà cảm thấy cần bay bằng đôi cánh của chính mình. Thế là bà được biết niềm vui của việc viết, nhưng cũng biết cả khổ đau. “Khi bắt đầu viết Indiana tôi cảm thấy một niềm xúc động rất mạnh và rất đặc biệt, không giống chút nào với những gì tôi từng cảm nhận trong những thể nghiệm trước đây. Nhưng xúc động ấy nặng nề hơn là dễ chịu”. (Tự thuật, tII, tr.164). Liên tiếp, ba cuốn tiểu thuyết khiến bà được biết tiếng: Indiana ( 1832), Valentine (1832), Lélia ( 1833). Từ nay bà ký tên “George Sand”. “Sand”, là một nửa tên họ của Sandeau, còn “George”  có một âm vang thôn dã dội chiếu lại Berry, ngay cả khi việc thiếu chữ “s” có cái gì mang tính chất Anh quốc. Các thành tựu của những năm đầu tiên đã được kết hợp lại như vậy đó. Tên này không phải do người ta cho bà (mặc dù Latouche có gợi ý); bà tự đặt nó cho mình, bà đã giành được nó bằng lao động văn chương của mình.
 
   Cuối cùng bà đã tìm được tự do hay chưa? Trong căn hộ nhỏ số 19, đường Malaquais, do Latouche nhường cho, nơi bà sống một mình, nhưng bao con người nổi tiếng từng đến thăm: Balzac, Marie Dorval, Liszt, Marie d’Agoult, Mérimée, Lamennais, Musset? Có và không.
“Tôi tưởng mình đã đạt được mục đích theo đuổi từ lâu, đạt được sự độc lập với bên ngoài và làm chủ được cuộc sống riêng của bản thân: tôi vừa gắn chặt chân mình vào một chuổi xích mà mình đã không dự liệu” (Tự thuật, t II, tr. 181) . Chuỗi xích của những người cầu cạnh, cả chuỗi xích  của những sự đặt bài viết: François Buloz, háo hức muốn chiêu mộ các tài năng trẻ, đưa Sand vào Tạp chí Hai thế giới do ông đứng đầu. Casimir? Sand  gần như đã giải thoát khỏi Casimir, nhưng vẫn còn phải gặp lại ông khi trở về Nohant; và việc ly thân trước pháp luật sẽ chỉ được phán quyết sau những cảnh rầy la nặng nề, vào năm 1835.



Ngôi nhà ở Nohant




 
George Sand và chồng Casimir


George Sand
📎 Gsaberry|GSàNohant|GSet son mari|GS
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-04-06 22:20:44Ct.Ly>
2. Nổi loạn
 
Indiana
 
      Người ta đã cho đây là phản ảnh của tấn bi kịch vợ chống; bao giờ ta cũng có khuynh hướng đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên của người phụ nữ như một tự truyện. Không đơn giản đến thế. Trên thực tế, nhân vật chính, Indiana, được ba người đàn ông yêu, mỗi người theo cách của mình. Người chồng tàn bạo và chiếm hữu (người ta nghĩ đấy là Casimir ); Raymon, người tình (người ta muốn thấy đây là Aurélien de Sèze); Ralph, người anh họ của Indiana, người bạn thủy chung như nhất, thần hộ mệnh . Họ cũng đại diện cho ba chế độ, chính trị. Người chồng là nhà binh, sĩ quan hưởng nửa lương của nền Đế chế, luôn nhớ nhung chế độ quân sự; Raymon, người tình, quý tộc, là biểu tượng của chế độ phong kiến và thời Trung Hưng, tuy nhiên cũng ít nhiều dung hòa với chế độ Lập hiến; Ralph biểu hiện giấc mơ Cộng hòa nẩy sinh từ Khế ước xã hội; không ai trong ba người này khiến nhân vật chính ưng ý. Người tình cũng đáng thất vọng như người chồng : vô ý thức, anh ta quan tâm đến sự nghiệp hơn là tới Indiana, và bỏ nàng để đi đến một hôn nhân truyền thống. Còn Ralph, anh không thực sự khiến Indiana ham muốn, nhưng anh sẽ đón nhận người phụ nữ bị bỏ rơi, nàng rất biết ơn và hai người sẽ cùng sống một cuộc đời không tưởng ngoài đảo.
 
    Lấy nguồn cảm hứng ở Bernardin de Saint – Pierre và các truyện kể của Jules Néraud, « người xứ Madagascar”, ông này đã giao lại cho nữ văn sĩ trẻ tuổi các ghi chép về du lịch của ông; George Sand đặt một phần tiểu thuyết của mình, nhất là đoạn cuối, trong khung cảnh đảo Réunion. Sau khi chỉ tìm thấy một nước Pháp đáng thất vọng ở Lagny, Paris, Bordeaux, Indiana cùng với Ralph đã có một hạnh phúc êm đềm, trong đoạn kết cuốn sách đã khiến nhiều người đọc ngạc nhiên, nhất là Sainte – Beuve. Đoạn kết này là một phụ bản, đọc đến đấy, ta thay đổi phong cách: cuốn tiểu thuyết có vẻ như muốn là một biểu hiện thực tại, lại kết thúc với một khúc điền viên vĩnh hằng. Đó là thuận theo hay tố cáo chính thể không tưởng. Phải chăng có lẽ đấy là một cách chỉ ra rang hạnh phúc tất yếu chỉ là không tưởng, khi số phận người phụ nữ chưa thayd dổi? Cuốn tiểu thuyết kể lại bất hạnh của hai người phụ nữ: một là của Indiana, một nửa là của Noun, ngưòi em sữa, còn bi kịch hơn – trong nhiều tiểu thuyết khác của George Sand, ta sẽ tìm thấy cái ám ảnh về người kép ấy. Noun đã bị Raymon quyến rũ; cô có mang và nhảy xuống nước tự vẫn, hậu quả gây ra do cách sống vô ý thức của người tình và sự kết án đạo đức giả của xã hội.
 
    Có lẽ tác phẩm không tưởng này còn có một ý nghĩa chính trị rộng hơn. Ralph biết rằng xã hội mà anh mơ tưởng hiện nay vẫn không sao trở thành hiện thực được. Cách mạng 1830, Indiana đã nhìn thấy nó dưới trạng thái tiêu cực nhất ở Bordeaux. Cảnh điền viên cuối cùng như vậy chắc là hệ quả của niềm thất vọng của George Sand và nhiều trí thức thời đại bà đã cảm thấy sau thất bại tiếp theo. Ba ngày Vinh quang.
 
     Cách lý giải tác phẩm rất đa dạng, điều đó chứng tỏ sự phong phú của nó. Người đương thời chủ yếu nhìn thấy trong tác phẩm sự nổi loạn của một phụ nữ. Bản thân Sand cũng đã phân tích nó một cách khác nhau theo từng giai đoạn trong cuộc đời bà, dẫn chứng là ba bài Tựa bà đã viết cách nhau khoảng mười năm. Chịu ảnh hưởng Balzac, trước tiên bà nhấn mạnh tới quan niệm tiểu thuyết, “tấm gương” của thực tại. Thực sự, có cả một khía cạnh hiện thực trong Indiana, miêu tả tình hình kinh tế và chính trị của nước Pháp đầu thế kỷ XIX. Tiếp đó, năm 1842; sau Thư gửi Marcie và sau cuộc tình với Michel de Bourges, trong một thời điểm dấn than, bà đã thấy hiều chất đấu tranh hơn trong cuốn sách. Indiana bảo vệ quyền của người phụ nữ: “Đó là quyền của một nửa nhân loại, của cả nhân loại nữa, bởi bất hạnh của người đàn bà kéo theo bất hạnh người đàn ông , cũng như bất hạnh của nô lệ kéo theo bất hạnh của chủ nô”. Cuối cùng năm 1852, bà phán xét cuốn sách này một cách thận trọng hơn. Giải phóng người phụ nữ? Đúng, nhưng người phụ nữ phải tự giải thoát khỏi cả bạo quyền của chồng và của người tình. Phê phán xã hội ư, đúng, nhưng không phải là khước từ hôn nhân. Cho nên cùng, Goerge Sand yêu cầu không phải tự do giới tính hoàn toàn, mà khả năng ly hôn, cả khả năng có độc lập về kinh tế cho phép độc lập về tình cảm.
 
      Indiana, cắt đứt với chồng, bị nhân tình ruồng bỏ, phải chịu cảnh nghèo đói, ốm đau, và đã đi đến chỗ tự vẫn nếu Ralph, người ân nhân cứu mạng, không can thiệp đúng lúc. Tuy nhiên người ta không nên quên rằng câu truyện là do một nam giới kể, điều đó bao hàm một khoảng cách nhất định; hơn nữa, không nhập hoàn toàn  vào nữ nhân vật của mình, nhà tiểu thuyết vạch ra sự yếu đuối, hèn nhát của nàng. Indian không phải là một chiến sĩ, nàng vừa bị thúc đẩy bởi nguyện vọng muốn được tự do, vừa bị ám ảnh bởi những ảo ảnh nô lệ.
 
    Cuốn tiểu thuyết thành công rực rỡ. Nhiều năm sau Truyện đời tôi tóm lược một cách hóm hỉnh việc tiếp nhận cuốn sách, rất khác nhau tùy theo việc người ta cho tác giả vô danh thuộc giới nào. “Các báo chí đều bàn về Ô. Sand với nhiều lời khen ngợi, nói xa gần rằng chắc chắn phải có bàn tay một phụ nữ xen vào đây đó để mách bảo cho tác giả một vài điều tinh tế trong tâm can và trí tuệ, nhưng đồng thời họ lại cho rằng văn phong và nhận định quá ư rắn rổi, nên chỉ có thể là một nam giới”. Nhưng việc dấu tên cũng không được lâu. Khi biết Indiana là tác phẩm của một phụ nữ, người ta bất bình vì tính vô luân của nó. Tích cực hơn, Sainte – Beuve khen ngợi sự táo bạo của tác phẩm: “Không bao giờ một người đàn ông có thể nhận biết và nói ra điều đó”. ( Le National ngày 5 tháng Mười năm 1832).
 
 
Lélia
 
    Chúng tôi sẽ không dừng lại lâu ở tác phẩm Valentine, ra mắt cùng năm với Indiana. Tuy nhiên vẫn phải ghi nhận rằng đó là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của George Sand xảy ra ở vùng Berry, đề tài trung tâm vẫn là số phận người phụ nữ, tác giả viết về một tầng lớp xã hội khác hẳn tầng lớp của Indiana; tầng lớp thợ thủ công. Valentine khiến cho Chateaubriand rất ngưỡng mộ George Sand. Tuy nhiên chúng tôi nghĩ Lélia là biểu tượng của George Sand, đó là một huyền thoại mà tên cuốn tiểu sử của André Maurois lại củng cố thêm. Nữ văn sĩ, tuy khước từ việc đồng hóa mình với nhân vật, vẫn hết sức thiết tha với tác phẩm này: trong khối dồi dào của sáng tác của bà, đó là cuốn tiểu thuyết duy nhất bà đã viết lại và biến đổi tới mức viết thành hai bản rất khác nhau (một vào năm 1833 và một bản nữa vào năm 1839).
 
    Trong bài tựa năm 1839, nhà tiểu thuyết sẽ nói tới “tiểu luận thi ca”, “tiểu thuyết ngông cuồng”. Quả thật, nếu người ta muốn coi Lélia như một tiểu thuyết, ở cả hai văn bản, tác phẩm đều khiến ta lạc hướng: nhân vật mang đầy ý nghĩa biểu tượng, các cảnh tiểu thuyết tương đối ít còn diễn từ triết học khá nhiều, mọi cái đó khiến ta nghĩ tới lúc thì một kiểu sử thi bằng văn xuôi, lúc lại là một kiểu “chiêm nghiệm”. Trong bài “Mổ xẻ Lélia”, Gustave Planche tóm lược trên những nét lớn tính chất biểu tượng của các nhân vật năm 1833 còn đang ở trạng thái ấp ủ:”Lélia - sự hoài nghi” , “Trenmor - sự chuộc tội”; “ Sténio thi ca” ; “Magus – mê tín”; “Pulchérie - nhục dục”. Bài Tựa năm 1839, do chính nhà tiểu thuyết viết, có phần nhuần nhị hơn. Trong bài Tựa, George Sand kể lại diễn tiến của văn bản. Bà sẵn sàng chấp nhận là mỗi nhân vật biểu hiện “một phần của trí thông minh triết học”; Pulchérie, chủ nghĩa Epicure, di sản của lối ngụy biện thế kỷ trước. Sténio là nhiệt tình và nhược điểm của một thời mà thông minh lên rất cao nhớ có trí tưởng tượng, rồi lại rơi xuống rất thấp, bị đè bẹp dưới một thực tế thiếu chất thơ và sự kỳ vĩ: Magnus là cái còn lại của một hệ tăng lữ suy đồi, hoặc “u mê”. Lélia là “sự nhân cách hóa, hơn là người biện hộ cho chủ nghĩa tinh thần của thời đại”.
 
    Nhưng một nhân vật không thể được phân tích như một con người tách rời khỏi người khác; trong phần đầu cuốn tiểu thuyết, người ta quan tâm nhiều đến cặp Lélia – Sténio, mà độc giả cảm thấy ngay rằng thế cân bằng đang bị đe dọa. Lélia là tính Cách mạnh trong khi Sténio, nhà thơ yếu ớt. Nàng như gần với Trenmor hơn, tầm quan trọng của nhân vật này ngày càng tăng. Nhân vật này có hẳn một câu chuyện, bởi anh ta trước đây đã là nhân vật một truyện ngắn vốn là xuất phát điểm của cuốn tiểu thuyết. Trong một cảnh trụy lạc, anh ta đã giết một phụ nữ, điều khiến anh ta bị tù khổ sai nhiều năm. Anh ta một hiện thân của người tù lãng mạn. Ra khỏi thử thách, được tái sinh, mạnh mẽ hơn, anh nhìn xã hội với một cái nhìn phê phán nặng nề. Năm 1839, diễn biến đó tiếp tục: anh đã trở nên Valmarina, thành viên một hội kín, có xu hướng cách mạng gần gũi với những người Carbonari.
 
      Với Lélia, người ta nhìn thấy tính lãnh cảm trong khi người em là Pulchérie, gái điếm thượng lưu, lại là biểu tượng cho sức mạnh của tình dục; làm như vậy là giới hạn quá nhiều nhân vật Lélia; không ai làm cho nàng thỏa mãn, đó là lỗi của nàng hay của đàn ông? Dù thế nào đi nữa, George Sand cũng đã chống lại cách lý giải nhân vật này, mà tâm trạng không thỏa mãn có một ý nghĩa rộng hơn nhiều, vừa chính trị, vừa siêu hình: Lélia biểu hiện mâu thuẫn giữa mộng ước và sự nghèo nàn của thực tế. Tuy vậy, nhân vật không dừng lại ở trạng thái tuyệt vọng và nghi hoặc. năm 1839. Lélia trở thành nữ tu viện trưởng của tu viện dòng Camaldules, nàng giảng thần học cho tập sinh, nhưng cũng khuyên họ phải cảnh giác với những lời ngụy biện của các chàng sở khanh; nàng thực hành một cách làm việc thiện xứng đáng với kinh Phúc âm, nhưng việc đó cũng khiến các giới chức của Giáo hội nổi trận lôi đình và truy hại nàng. Sau một thời kỳ dài tự vấn. Lélia được Valmarina giúp đỡ, đã tìm lại được một niềm tin cho phép nàng ra khỏi trạng thái buồn chán và làm những việc có ích, cho dù hành động của nàng có bị cản trở do những định kiến và lề thói thủ cựu của xã hội và Nhà thờ.
 
     Tuy thiếu những cảnh tiểu thuyết truyền thống, độc giả vẫn còn được đọc một số cảnh đặc biệt ấn tượng: Lélia suy ngẫm trên tảng đá, Lélia hấp hối, nạn nhân của dịch tả; cảnh vũ hội, ở đó Lélia và Pulchérie trao đổi áo domino cho nhau; vụ Sténio đầm mình tự vẫn, và trong phần viết mới năm 1839, cuộc chọi nhau giữa Lélia và giáo sĩ Annibal, lời thuyết giáo trong đó nàng kết án dữ dội Don Juan, mà Sténio, một tên quyến rũ loại tồi, cũng nghe thấy; sự phán xét và cái chết của Lélia . Có những phong cảnh cũng lưu lại trong trí nhớ. George Sand vốn đọc Rousseau, Chateaubriand và Senancour khá nhiều, đã tỏ rõ mình là một người tả phong cảnh rất giỏi: những bức tranh khắc khổ về một thiên nhiên trần trụi ở bản viết thứ nhất, kiến trúc nhà thờ trong thực bì của đất Ý, ở bản viết năm 1839.
 
    Có lẽ vì Lélia ít chất tiểu thuyết hơn Indiana, cũng bởi phần viết về suy ngẫm triết học nhiều hơn, nên các hướng chỉ đạo cơ bản của văn bản (nhất là vào năm 1839) được vạch ra một cách rõ ràng. Hai tiềm năng của lần xuất bản năm 1833 đã được phát triển một cách hệ thống: vấn đề số phận người phụ nữ, vấn đề liên quan đến niềm tin và không có tín ngưỡng. Hai ảnh hưởng chủ chốt đã giúp George Sand  thiết kế nên tư duy này, được biểu hiện mạnh mẽ trong lần in năm 1839; ảnh hưởng của Pierre Leroux sau này sẽ dẫn bà đến việc xác định lập trường vào năm 1848; cả ảnh hưởng của Lamennais. Cả hai đều đã giúp bà thoát khỏi hoài nghi, đặc biệt Leroux, khi ông lấy lại khái niệm về tiến bộ và khả năng hoàn thiện trên những viễn cảnh mới. Còn Lamennais, bị Nhà thờ truy bức giống như Lélia và Annibal, đã sáng lập một tờ báo mà bản thân tên báo đã là một chương trình: Tương lai.
 
     Tiểu thuyết Lélia thứ hai đã được viết xong ở Majorque trong tu viện Valldemosa, một nơi ở đẹp nhưng thiếu tiện nghi. Tại đấy Sand cũng sẽ viết Spiridion. Các văn bản này chứng tỏ sức mạnh chứa chất trong bà về cái Jean Pommier đã gọi là “giấc mơ tu viện”. Theo Tạp chí Hai thế giới, Spiridion bổ túc cho Lélia. Sự mê hoặc của tu viện, của cô đơn, của suy tư, mơ ước về sự khắc khổ, và cuối cùng về tính độc lập, dù có bị truy hại, ước vọng về tính tinh thần, nhưng về một tính tinh thần không vướng vất gì với tính chính thống, quả nhiên mọi đề tài trên đều là đề tài chung cho cả hai tác phẩm. Spiridion là một cuốn tiểu thuyết không có đàn bà, không có tình yêu xác thịt, diễn ra hoàn toàn trong một tu viện. Còn một cuốn tiểu thuyết khác cũng viết ở Majorqua, Bảy giây của cây đàn lia, giống như Lélia, cuốn này gần với sử thi triết học hơn là truyện kể tiểu thuyết.
 
     Trong Spiridion, đấu tranh tinh thần là đề tài trung tâm của tác phẩm, gắn vào đó, là đề tài về sự liên tục của cuộc đấu tranh và của việc kiếm tìm nó qua các thế hệ. Đúng vậy, Angel, người kể chuyện có niềm tôn kính của một người con đối với một tu sĩ nhiều tuổi hơn, Alexis, đồ đệ của Fulgence, ông này lại là đồ đệ của Spiridion, người sáng lập nhà tu dòng Thánh Bénédicto. Là câu chuyện về một mối gia hệ thuần túy tinh thần, Spiridion phơi bày một bức tranh tàn nhẫn của “sự đông cứng nhà dòng”, của các điều ti tiện và buồn chán: thù ghét và vô vàn âm mưu, hình phạt kinh khủng trong nhà ngục (dưới đất- ND). Spiridion gần với tiểu thuyết đen. Lịch sử vẫn hiện diện trên độ dài dằng dặc cả thế kỷ cho tới Cách mạng và Bonaparte. Thêm vào với các truy bức bên trong tu viện là truy bức của phong trào Khủng bố.
 
       Việc đan lồng các giọng kể cho phép du nhập cái hoang đường. Alexis và trước ông là Fulgence, có hoàn toàn đầy đủ lương tri khi ông tưởng như nghe những giọng nói và thấy những hình ảnh? Như vậy vẫn ẩn hiện sự có mặt của Spiridion, mặc dù ông đã chết từ lâu. Theo cách ấy ta thấy phát triển đề tài quan trọng về niềm tin và sự không tín ngưỡngt (đã có trong Lélia). Cuốn tiểu thuyết này, khá u ám do nhiều khía cạnh, giống như Lélia, vẫn được hy vọng truyền qua, và đề tài về sự chuyển giao thông điệp là biểu hiện của niềm tin đó. Nếu đạo Thiên chúa đã suy vong, tôn giáo của Tinh thần sắp bắt đầu. Cha Spiridion đã được an táng cùng với một bản chép tay ghi thong điệp này; cả Fulgence, bởi ông quá yếu đuối; cả Alexis vì ông quá kiêu ngạo, đều không có được thông điệp. Duy có Angel, Perceval tái sinh, cũng ngây thơ trong trắng như vậy, là nhấc được viên đá lát lên một cách nhẹ nhàng và tìm thấy bản viết tay của Spiridion (trong lần in năm 1839) và cả ba bản viết tay nữa ( trong lần in năm 1842): một của Joachim de Flore, một của Jean de Parme, cuối cùng là của Spiridion. Sự tin cậy ở tinh thần mà nhà tiểu thuyết biểu lộ, đồng thời là sự tin cậy ở bản viết.
 
     Có thể coi Bảy giây của cây đàn lia như một thử nghiệm sân khấu không? Khác với các nhà văn bản khác viết đặc biệt cho mục đích trên tác phẩm này không phải để diễn mà để đăng trong Tạp chí Hai thế giới của Buloz. Ông này gây nhiều khó khăn: ông ta khó chịu vì hình thức bất thường – ông ta muốn một truyện ngắn – ông ta khó chịu cả về nội dung khiêu khích chế giễu Louis – Philippe, đả kích xã hội. vào lúc ấy, Goerge Sand bị mê hoặc về chất hoang đường: bà viết một bài báo nhan đề “Tiểu luận về chính kịch hoang đường” trong đó bà tỏ lòng ngưỡng mộ Goethe, Byron, Mickiewicz …Quả nhiên, trong kịch Faust bà đã tìm thấy các nhân vật của bà : Faust – Albert, Méphitopphélès; Hélène, cô thầy bói “con gái của đàn lia”. Văn bản hay này là một bài ca sử thi bằng văn xuôi viết về sự điên rồ có thể phát hiện một chân lý cao siêu. Nhưng với George Sand  suy tư bao giờ cũng dẫn đến hành động và vở kịch kết thúc bằng những lời sau: “Hãy cùng đi làm việc”. Cũng như vậy, cuối tác phẩm Lélia ( 1839 ), sau khi nữ nhân vật chính qua đời, Valmarina lại bắt đầu lên đường.
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-04-10 14:14:09Ct.Ly>
3 – Tôi và những người khác
 
Tình yêu và các chuyến đi xa
 
        George Sand đi du hành ư? Các chuyến đi xa của bà trước tiên gắn với các cuộc phiêu lưu tính ái và đã cho ra đời những văn bản hay, nửa là truyện ký du lịch nửa là tự thuật, thường khi lời tâm sự yêu đương nhanh chóng nhường chỗ cho niềm vui sướng được khám phá ra một vùng đất. Trước tiên ta hãy ghi nhớ Thư của một khách du hành và Một mùa đông ở Majorque.
 
       Các cuộc tình ở Venise đã làm tốn quá nhiều giấy mực, ta chẳng dừng lại lâu làm gì. Chỉ cần gợi lại vài ngày tháng. Cuộc tình với Musset bắt đầu vào cuối tháng Bảy năm 1833. Đôi tình nhân lúc đầu đến Fontainebleau ở một tuần, rồi trở lại Paris; đó là thời hạnh phúc tràn đầy. Ngày 12 tháng Mười hai, họ đi Italie, xuôi dòng  sông Rhône, trên một con tàu cùng với Stendhal. Hai người đến Venise ngày 31 tháng Mười hai và đến ở khách sạn Danieli. Thời ấy khách sạn này đã khá đắt, và khó khăn về kinh tế nhanh chóng xuất hiện. George Sand bị ốm, còn Musset tán tỉnh các cô gái rồi cũng ốm nốt. Bác sĩ Pagello chăm sóc Musset và trở thành nhân tình của George Sand. Musset trở về Pháp ngày 29 tháng Ba năm 1834. Geoge Sand đi du ngoạn ờ Vénétie, viết rất nhiều. Thư của một khách du hành, Leone  Leoni, André, Jacques. Bà trở về Paris cùng Pagello, một con người trang nhã, đúng như trong nhật ký của bà, và tranh thủ thăm vùng Bắc Ý và Thụy Sỹ. Lòng say đắm của bà đối với Musset lại trở lại. Nhiều cảnh dữ dội, cuối cùng là chia tay và trở lại Nohant, trong khi Pagello quay về Ý. Sand và Musset cắt đứt hoàn toàn với nhau ngày 6 tháng ba năm 1835. Chỉ ít lâu sau, George Sand đã kết thân với Michel de Bourges, khác hoàn toàn với Musset.
 
       Cái khiến ta quan tâm trong cuộc tình duyên này là những tác phẩm nẩy sinh từ đó. Nếu không dễ gì có được một cuộc sống chung giữa hai nhà văn, nếu điều đó là một thất bại đau đớn thì ít nhất, thử thách cũng đáng giá ở chỗ nó là một chất men văn học đối với cả hai phía. Musset hồi tưởng lại Người thư ký nhân tình khi ông viết Fantasio, và ông sử dụng Một âm mưu năm 1537 để viết Lorenzccio – George Sand, về phía mình, nhờ Musset đã có được không chỉ những giọng điệu say mê , mà cả những nhân vật. Nhân vật Sténio trong Lélia hóa thân theo với cái nhìn của bà: trong bản viết năm 1833 là một nhà thơ yếu mảnh và quyến rũ, đến năm 1839 đã trở thành một anh chàng Don Juan tồi. Bà sẽ còn viết Nàng và Chàng (1859) để thử kết thúc câu chuyện; Paul de Musset trả lời lại bằng Chàng và Nàng, Louise Colet bằng Chàng. Các nhà phê bình tìm thấy những nét của Musset trong nhiều nhân vật tiểu thuyết (của George Sand –ND ), một việc quá dễ. Ta hãy nói một cách tổng quát rằng, cuộc tình với Musset đã tham gia tạo nên một nhân vật nam điển hình trong nhà tiểu thuyết, một kiểu nhân vật chắc chắn đáp ứng với khát vọng sâu xa của tưởng tượng sáng tạo của bà.
 
    
    Những lá thư đầu tiên củ Thư của một khách du hành xuất hiện năm 1834 trên tờ Tạp chí Hai thế giới, mở ra trước tiên với khám phá về Venise và về Italie có được nhờ chuyến du lịch . Ta chỉ nhìn thấy Musset qua phản chiếu, bởi lẽ vốn bao giờ cũng không muốn khai thác sự tò mò của độc giả. George Sand giả thuyết người kể chuyện là một nam giới và chọn một đầu đề bao hàm một tính chung. “Khi đọc các lá thư này, người ta thường không rõ lắm đấy là một người đàn ông, một ông già hay một đứa trẻ đang nói vể cảm tưởng của mình”.(Tự thuật, t. II, tr.546) Người kể chuyện có lúc nói với Musset –“Một kiểu tình yêu hủy diệt nào cháy ở trong anh?” (Tự thuật, t .II, tr. 661) – có lúc lại nói với độc giả bất kỳ nào muốn biết Italie. Chỉ có ba bức thư đầu tiên là phủ hợp với dự kiến viết:”Thư từ Italie”, giống như bao tác giả đã làm, kể từ Chủ tịch de Brosses. Nếu lá thư đầu tiên kể về một chuyến đi ngắn ở vùng Trentin, lá thứ hai dành cho chính Venise và lá thứ ba là về các hòn đảo. Ký sự du lịch bao hàm một số thuyết minh. Sand không loại bỏ chúng, nhưng ma lực của văn phong và nhạc tính của nó, vẻ đẹp của các trang miêu tả, khiến chúng sinh động hẳn. venise, đó còn là âm nhạc, và Geoge Sand sẽ không quên sau này khi bà viết Consuelo.
 
        “Nhà du hành” cũng không ở Venise lâu hơn George Sand. Các bức thư sau ghi rõ người nhận: Jules Néraud, những nhạc sĩ ( Meyerbeer, Liszt), bạn bè ( tên được sửa đổi lại: Everard thay cho Michel de Bourges, Herbert thay cho Charles Didier). Những lá thư này làm thành một kiểu nhật ký nói về lúc trở về Nohant, rồi Paris, và sau cùng là Thụy Sỹ, khi George Sand tìm đến Liszt và Marie d’ Agoult. Các bức thư Thụy Sỹ đáp lại các bức thư Italie lúc mở đầu: trong đó, nhiều đề tài được đề cập tới: phân tích nỗi buồn chán, nhận định về chính trị, suy nghĩ về nghệ thuật và âm nhạc… Sự đa đạng này không hề là phân tán mà được xuyên suốt bằng những đề tài chủ đạo: ưa thích cô đơn và độc lập, ngợi ca tình bạn vốn cho ta nhiều tự do hơn là tình yêu, niềm vui được viết và sự tự khẳng định của nhà văn. Rốt cuộc, sự thống nhất của các bức thư có vẻ phân tán này đến từ việc tự khẳng định bản than như một nghệ sĩ .

Đối xứng và khác hẳn với mối tình Musset là niềm say mê dành cho Frédéric Chopin. Tuy giống nhau do cùng một thể chất yếu đuối, hai người đàn ông này không hề giống nhau chút nào: hương vị xcăng đan đã hấp dẫn chàng Musset lúc ấy còn trẻ, đã khiến Chopin vốn tính kín đáo, tỏ ra dè dặt. Lần gặp đầu tiên, vẻ lạ lùng của nữ văn sĩ khiến ông khó chịu. Dù vậy, tháng Sáu năm 1838 bắt đầu một cuộc tình dài sẽ kết thúc trong đau đớn. Tưởng có thể làm cho Chopin và Maurice khoẻ ra, và nghe theo lời bạn bè Tây Ban Nha, George Sand quyết định qua mùa đông ở Majorque. Đợt nghỉ này toàn những chuyện không hay, đàn dương cầm mãi không đưa được đến Tu viện Valldemosa, khó khăn đủ điều, lạnh và mưa mùa đông, dân chúng đầy ác cảm. Chopin trở lại Pháp ốm yếu hơn cả khi đi. Họ dừng chân bốn tháng ở Marseille, nơi Chopin được thày thuốc Cauvière săn sóc, rồi đi Nohant, nơi ẩn náu yên tĩnh. Sau đó là Paris, phố Pigalle cho đến tháng Bảy năm 1842, rồi đến tỉnh Orléans, mùa đông năm 1846 – 1847, gia đình đi Nohant, nhưng không có Chopin. Cộng với một sự mệt mỏi chắc chắn có từ cả hai phía, là xung đột giữa George Sand và con gái bà, Solange, trong chuyện này Chopin đứng về phía Solange, đang muốn kết hôn với nhà điêu khắc Jean – Baptiste (còn gọi là Auguste) Clésinger. Sand cắt đứt hầu như vào cùng một lúc với cả hai, con bà và Chopin. Tuy không có những giông tố dữ dội như với Musset, niềm say mê cũng đã tắt và Chopin sẽ qua đời năm 1849 mà không gặp lại bà.
 
    Bảng tổng kết, sẽ khá là tiêu cực nếu Chopin và George Sand trên hết không phải là những nghệ sĩ lớn, có thể biến cải mọi đau khổ thành tác phẩm đẹp. Trong thời ký tệ hại lưu lại ở Majorque, Chopin đã soạn các Khúc dạo đầu, khúc ballade cung fa thứ, một khúc Scherzo và hai bản Polonaise (cung đô thứ, và cung la trưởng). George Sand đã viết gần xong Lélia và viết thêm Spiridion. Chopin đã giúp bà khơi sâu quan niệm của bà về âm nhạc. Và các tác phẩm sau này sẽ được hưởng sự phong phú đó. Bà sẽ viết tiếp Một mùa đông ở Marjorque; nhưng cũng như Musset không hề xuất hiện trong Thư của một khách du hành, trong tác phẩm này không hề nghe tiếng dương cầm của Chopin vang lên.
 
        Phần đầu đang ở Tạp chí Hai thế giới tháng Giêng năm 1841, toàn bộ tác phẩm in thành sách năm 1842. Trong tác phẩm này, người kể truyện vẫn là một nam giới xưng “tôi”. Văn bản được thể hiện như một truyện kể về du lịch cùng với những nhận xét về địa lý và lịch sử của hòn đảo, George Sand đã dùng khá nhiều nguồn để viết. Ta cũng tìm thấy trong đó một kinh nghiệm về ba phương diện: Con người và sự thành hình lịch sử của họ; thiên nhiên, bản thân. Những độc giả đầu tiên đều nhận rõ ác cảm của nhà văn đối với dân địa phương; vốn là con đẻ của thời đại Ánh sáng, bà công kích “thói mê tín của họ”, tuy nhiên bà có thiện cảm ít nhiều đối với cuộc sống thường nhật của dân Majorque; bà quan tâm đến phong tục, âm nhạc và ngôn ngữ của họ. Bà cũng đã yêu phong cảnh vùng này khác hẳn với vùng Berry, với các cơn giông vùng Địa Trung Hải cực kỳ dữ dội. Trong phế tích của tu viện, bà đã thể nghiệm, sự yên lặng và cố thử tìm hiểu “điều bí ẩn thầm kín của cuộc sống tu sĩ ” ( Tự thuật, t. II, tr. 1126)
 
      Để trở lại với Chopin, tốt nhất là nên trở lại với truyện kể về thời lưu lại ở Majorque trong quyển Truyện đời tôi. “ Chàng đàn cho chúng tôi nghe những đoạn tuyệt vời vừa sáng tác xong, nói đúng hơn, đó là những ý niệm khủng khiếp hoặc não lòng vừa xâm chiếm lòng chàng mà chàng không hay biết, vào thời điểm cô đơn, buồn bã hay sợ hãi đó” . (Tự thuật, t. II, tr. 420).
 
       Cũng trong tác phẩm này, ta sẽ tìm được gọi là “giọt nước”; nhưng vì những nốt nhạc lặp lại ấy là một thủ pháp nhạc được dùng nhiều lần trong các Khúc dạo đầu, các nhà âm nhạc học đã kiến nghị dung đầu đề này lúc thì cho Khúc thứ sáu, lúc cho khúc thứ mười lăm ( Liszt về phần mình nghĩ đó là khúc thứ tám). Bất luận giai thoại là thế nào, Chopin không đặt đầu đề. George Sand đã nói tất cả về âm nhạc của ông khi bà viết: “ Chàng đã khiến cho một nhạc cụ duy nhất nói lên tiếng của cái vô cùng tận” ( Tự thuật, t. II, tr. 421)
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 01.12.2018 11:23:32 bởi Ct.Ly>
Nhập thế chính trị


 
      Tình bạn cũng có một vài trò quan trọng ngang tình yêu trong sự hình thành tác phẩm. Vả chăng giới hạn giữa tình bạn và tình yêu đôi khi được vượt qua rất nhanh, như với Michel de Borges. Mặt khác, nếu tính hào hiệp tự nhiên của George Sand dẫn bà đến với những người bị tước đoạt nhiều nhất, tư tưởng xã hội của bà lại hình thành nhờ đọc và trao đổi. Nhiều người đồng thời với bà đã có ảnh hưởng lớn lao đến bà. Tháng tư năm 1835, bà quen Michel de Bourges, một luật sư rất có tài, theo phái Cộng hoà, người bảo vệ các bị cáo trong vụ án tháng Tư trước Thượng Viện. Pierre Leroux là một trong những người hướng bà về chủ ngjhĩa xã hội; bà giúp ông xây dựng một tập đoàn lao động (sau đó thất bại). Cắt đứt với Buloz và Tạp chí Hai thế giới quá ư thiếu mạnh dạn, bà cùng với Leroux và Louis Viardot sáng lập Tạp chí độc lập năm 1841. Thư của một khách du hành có ghi lại lời ngợi ca sau: “Xin chào nền Cộng hoà, bình minh của công lý và bình đẳng, chính thể không tưởng tuyệt vời, mặt trời của một tương lai có lẽ viễn vong!” ( Tự thuật t.II, tr. 713).
 
      Chỉ còn việc chuyển từ tư duy sang hành động, từ không tưởng sang thực tại; năm 1848 sắp mang lại cơ hội cho George Sand; Ngay từ lúc Cách mạng mới bắt đầu, George Sand đã rất nhiệt tình. Bà tới Paris ngày mùng 1 tháng Ba. “Chúng tôi đang lao vào cái còn chưa biết, với niềm tin và hy vọng. […] Dân chúng can đảm và hiền hậu tuyệt vời. Giới cầm quyền nói chung gồm những người trong sạch và lương thiện. Tôi đến tự mắt mình xác nhận tất cả những điều đó, bởi tôi rất thân với nhiều người trong số họ . (Thư, tập VIII, tr. 299). Bà tìm lại được nhiều bạn thân: Louis Blanc, Maurice Rollinat, François Arago. Bà viết bài cho Tập san của nền Cộng hoà, thành lập tờ báo riêng của mình. Sự nghiệp dân chúng : hoạt động văn học không mệt mỏi của bà phục vụ cho nên Cộng hoà trẻ tuổi. Bà là Cố vấn của Bộ trưởng Nội Vụ Ledru – Rollin. « Nền Cộng Hoà đã được cứu thoát ở Paris ; vấn đề là phải cứu các tỉnh, tại đấy sự nghiệp của nó chưa thắng lợi ». (nt, tr.324). Hoạt động của bà mở rộng tới vùng Berry, ở đấy bà đã giúp đưa những bạn bè tin cậy vào những vị trí quan trọng.
Maurice, con trai bà là thị trưởng lâm thời ở Nohant. Nhưng nông thôn chống đối với tư tưởng mới. Ngay từ tháng Tư năm 1848, George Sand đã cảm thấy nền Cộng hoà lâm vào những chia rẽ nội bộ. Ngày 16 tháng Tư, bà đã viết : « Cách mạng đã bị giết chết trong nguyên lý và trong tương lai của chính nó, ít nhất là trong tương lai gần đây » (nt, tr.411). Ở tỉnh lẻ cũng như ỏ Paris, George Sand đều bị thù ghét dữ dội, ngày 15 tháng Năm bà cảm thấy nản chí và rời Paris : « Ngày hôm qua kéo chúng ta lùi lại mười năm » (nt, tr.457). lực lượng phản động thắng thế, các bạn của bà , Armand Barbès, Piere Leroux, Louis Blanc, đều bị bắt hoặc phải trốn đi. Các tờ báo Cộng hoà đều đóng cửa, dù là tờ Nền Cộng hòa chân chính, Người dẫn đường, hay tờ Dân chúng lập hiến của Lamennaìs.
 
     Một lần nữa, Nohant lại thành nơi trú ẩn của bà, và cả viết nữa, viết vốn vẫn là hành động, cả một mạng lưới thư từ được thiết lập từ Nohant : với Barbès đang bị tù, với Giuseppe
Mazzini lưu vong Londres, Sand tìm cách biện hộ cho những người bị kết án với hoàng thân - tổng thống. Người ta đã chê trách quan hệ của bà với Napoléon đệ tam; thực ra điều đó là bất công. Chưa bao giờ bà từ bỏ chính kiến xã hội chủ nghĩa. Nếu bà tiếp tục giữ quan hệ tốt với Napoléon đệ tam, đó chính là để cứu bạn bè. Hoàng thân Jérome Napoléon đối với bà là một chỗ dựa. Nhìn lại quá khứ, mối quan hệ của bà với Napoléon đệ tam dường như mâu thuẫn với hoạt động của bà thời kỳ 1848 ; nhưng Lịch sử từng ngày không phải là lịch sử mà các nhà sử học nhìn thấy sau đó. Hoàng đế tương lai từng theo chủ nghĩa xã hội và là một người Carbonaro; George Sand đã trao đổi thư từ với ông lúc ông bị tù ở đồn Ham, rồi ông ta được dân bầu với đại đa số qua phổ thông đầu phiếu. George Sand vào lúc ấy không thể đoán trước được hướng đi của chính sách ông ta sẽ theo khi có được toàn quyền. Bà buồn bã cúi mình trước kết quả bầu cử: "Khi người ta thấy phiếu bầu của một đa số lớn tước đoạt của con người quyền được sống bằng lao động, người ta buộc phải tự nhủ rằng dù sao đó vẫn là công việc con người đã làm, kết quả của phổ thông đầu phiếu (nt, tr.633).
 
 
Thư tín
Chúng ta vừa thấy vai trò của thư tín trong hoạt động chính trị, và chúng ta đã nhiều lần nhắc tới nó trong những mối quan hệ tình yêu. Đối với George Sand thư tín là một phương tiện ưu tiên để cảm thông với người khác, bạn thân, tình nhân, con cái v.v...; dù sao đi nữa, đối với chúng ta, thư tín vẫn là minh chứng cơ bản của mối giao tiếp đó. Trên bảng tra cuối sách mà Georges Lubin đã thiết lập để hoàn thành xuất bản phẩm đáng khâm phục của ông, ông liệt kê hơn hai nghìn người viết thư. Phần lớn là người Pháp, nhưng thư từ của George Sand đã tỏa sáng trên toàn châu Âu: nước Anh, nhất là nước Ý, Đức, Nga, Tây Ban Nha. Bà có mối liên hệ với Heine, Mazzini, Alfieri, Mickiewicz, Bakounine, Tourgueniev.
Thư từ của George Sand có giá trị hơn hẳn một tư liệu chỉ cho ta biết về hoạt động và quan hệ của bà; bản thân chúng đã là một tác phẩm nghệ thuật, rực rỡ do sắc thái đa dạng, thay đổi tùy theo người nhận, hoặc hoàn cảnh lúc bà viết. Đó cũng là nơi thử nghiệm tác phẩm: sự giao lưu giữa thư, tiểu thuyết, kịch, diễn ra không ngừng. Có thể nói thư từ là thành tựu lớn nhất của George Sand, có lẽ đấy là phần quan trọng trong sự nghiệp của bà có thể làm xúc động độc giả ngày nay trực tiếp nhất.
Không thể cung cấp ở đây một cái nhìn tổng thể, chúng tôi chỉ gợi lại phần kỳ lạ nhất: việc trao đổi thư từ với Flaubert mà rất may chúng ta có cả hai phía không thể tách rời. Và ta không thể biết phía nào đáng khâm phục hơn. Đối thoại này lại càng kỳ lạ khi thoạt đầu, chẳng có gì khiến hai bên gần gụi nhau, dù là tuổi tác (George Sand lớn tuổi hơn nhiều) tính cách, xác tín chính trị, hay quan niệm viết. Mặc dù vậy, khó tìm ở đâu một tấm gương thông cảm và cảm phục lẫn nhau chân thành đến thế. Từ năm 1866, năm bắt đầu một tình bạn thực sự đến năm 1876 (khi cái chết của George Sand làm ngưng lại) thư từ trao đổi giữa hai bên phong phú không gì sánh nổi. Người ta tìm thấy không chỉ một kiểu nhật ký của tác phẩm Giáo dục tình cảm (bản viết thứ hai), của Vụ cám dỗ thánh AntoineBa truyện kể, mà cả một cái nhìn bao quát tất nhiên còn có phần sơ lược, về các tác phẩm mà George Sand đang soạn thảo: Mối tình cuối (đề tặng Flaubert, và là cuốn tiểu thuyết mang tính Flaubert nhất của bà), Marianne (trong đó Flaubert tìm thấy bản thân mình), Cadio, Tiểu thư Merquem, Nanon, Truyện kể của một người bà. Hai khuynh hướng đạo đức mỹ học rất khác nhau toát ra từ việc trao đổi thư từ này và được tự do biểu hiện. Việc trao đổi cũng khuyến khích hai nhà văn tự tìm kiếm bản thân mình, rõ ràng đối thoại với người kia là phương tiện chắc chắn nhất: "Thư của bạn rơi xuống tôi như một cơn mưa làm ướt đất và khiến cho cái gì còn là mầm nhanh chóng lên chồi". Lá thư lớn lao viết ngày 25 tháng Mười năm 1871, đã bắt đầu như vậy, trong lá thư này George Sand khởi đầu một tự thuật thực sự, cả về trí tuệ và tinh thần. Chính trong sự trao đổi thư từ này mà ta thấy được tu chỉnh, sự hiền minh và học thuyết cuối cùng của nhà nữ tiểu thuyết (xem phần dưới, 7).
 
 
&&&&
 
4   Tính đa dạng của thế giới
 
Đô thị và nông thôn
Vừa viết xong Lélia, George Sand lao tới những đề tài phải đào bới từ trong thực tại thường nhật và đa dạng nhất. Ba cuốn tiểu thuyết đầu tiên của bà đều lấy tên phụ nữ làm tên sách (Indiana, Valentine, Lélia); từ nay, trong một thời gian, bà ưa thích đưa nổi bật lên một nhân vật nam: André (1835), Simon (1836), Mauprat (1837), Spiridion (1839), Người học việc trong chuyến đi vòng quanh nước Pháp (1840), Horace (1841). Chúng tôi sẽ đấu tranh chống lại hình ảnh hai lần rút gọn về George Sand khi người ta chỉ coi bà, hoặc như là một nhà tiểu thuyết viết về số phận phụ nữ, do việc chỉ đề cập đến các tiểu thuyết đầu tiên, hoặc nữa như một tiểu thuyết gia về nông thôn khi người ta chỉ quan tâm đến các cuốn tiểu thuyết đồng nội, và chúng tôi sẽ thử đưa ra dẫn chứng về tầm rộng lớn của thế giới của bà. Theo cách của bà, George Sand đã viết "Một hài kịch nhân gian". Nếu ta không tìm thấy nơi bà một đối xứng với hệ thống theo kiểu Balzac về sự trở về của các nhân vật, hoặc một cấu trúc tổng thể của dinh thự tiểu thuyết, người ta sẽ tìm thấy được trong đó một sự đa dạng về môi trường và về những nhân vật bà gợi tới.
Người ta có thể nhận thấy trong đó gần như mọi tầng lớp xã hội. Ví như giai tầng quý tộc Paris được gợi lên với Phu nhân de Chailly trong Horace, các dinh thự của ngoại ô Saint Germain trong Hầu tước de Villemer (1861). Ở nông thôn, giai cấp quý tộc có những điều kiện kinh tế thật khác nhau; kể lại tình hình thời đại của bà. George Sand thường hay đối lập lâu đài cổ quý tộc đã đổ nát với lâu đài mới xây dựng do các nhà tư sản làm ăn thịnh vượng và cởi mở với tiến bộ kinh tế (Tội lỗi của ông Antoine, 1847; Các quý ông xứ Bois-Doré, 1858; Jean de la Roche, 1860). Người nông dân mới giầu và tham lam, mơ ước mua được lâu đài. Châu tuần xung quanh ngôi nhà là các chức sắc, luật sư (Simon), các quản gia; tình hình di dân được đề cập trong Simon với hầu tước de Fougères, và tất nhiên trong Nanon (1872).
George Sand cũng đã biết giai đoạn đầu của công nghiệp hóa. Thợ thủ công vẫn tiếp tục tập hợp lại trong những nghiệp đoàn như thời Trung cổ trong tác phẩm Người học việc trong chuyến đi vòng quanh nước Pháp nhưng Tội lỗi của ông Antoine và nhất là Thành phố đen (1861) thể hiện sự ra đời của giai cấp công nhân và tính tàn nhẫn của những thầu khoán mới. Thành phố đen đưa ta đến Thiers là nơi nghề làm dao kéo đang phát triển, và để thoát khỏi sự đối đầu giữa kẻ bóc lột và người bị bóc lột, một người phụ nữ mạnh mẽ ra đứng đầu một hội liên hiệp thợ thuyền. Thế giới cửa hiệu nhỏ và buôn bán ít có mặt hơn so với Balzac- nhưng quán ăn có một vai trò quan trọng và ta không quên mụ Savinien trong Người học việc trong chuyến đi vòng quanh nước Pháp.
Người ta cũng tìm thấy hai nhân vật khá lãng mạn là cô thợ may và anh sinh viên; cô gái thợ Geneviève trong André và Marthe trong Horace, cuốn tiểu thuyết Balzacien nhất trong tác phẩm của Sand; Achille Lefort trong Người học việc trong chuyến đi vòng quanh nước Pháp; Henri Lemor trong Người chủ cối xay Angibault thể hiện người mà ta gọi là "nhà trí thức". Để có ý niệm về sự sinh sôi của nhân vật, cần phải nói tới thủy thủ (Tamaris), nhà binh (Indiana). Cũng cần dành chỗ cho những người bên lề xã hội: người vô gia cư Cadoche trong Người chủ cối xay Angihault, cô phù thủy (Cô Fadette, 1849; Tamaris), người di-gan (Các quý ông xứ Bois-Doré), những kẻ phiêu lưu (Tiểu thư Merquem).

Thế giới các giáo sĩ được biểu hiện ở rất nhiều dạng: mục sư bình yên vùng nông thôn trong Consuelo hay trong Các quý ông xứ Bois- Doré, linh mục bị dục vọng dày vò trong Lélia hay Tiểu thư La Quintinie (1863), thầy tu trong Spiridion. La Daniela (1857), nhờ cảm hứng đến từ Lamennais và nhờ chuyến du hành qua Italie năm 1855, vạch rõ một cách không thương tiếc sự vận hành của các quyền lực đã suy đồi trong Nhà thờ (điều này đã được đề cập đến trong Lélia từ năm 1839).
Đa dạng về tuổi tác, từ tuổi thơ đến tận cùng tuổi già; muôn mặt trong nơi chốn: vùng Berry là nơi ưu tiên, nhưng theo gót George Sand, ta đi qua cả vùng la Brie, thành phố Bordeaux, đảo Réunion trong Indiana, Jean de la Roche, Thành phố đenTử tước de Villemer nẩy sinh từ những ký ức vùng Auvergne; Tamaris, từ vùng miền Nam, Tiểu thư Merquem từ bờ biển xứ Noocmăng, và Malgrétout từ dãy Ardennes; Thụy Sĩ xuất hiện trở lại trong Tình yêu cuối cùng; trong các nưóc ngoài Italie được thể hiện nhiều nhất nhưng Thụy Điển đã làm bối cảnh cho Người tuyết; và Consuelo du lịch rất nhiều: đến từ Italie, nàng đi qua vùng Bohême, nước Phổ và nước Áo.
Cần thêm rằng sự muôn vẻ của nhân vật và sự phong phú kỳ lạ trong sáng tác đã là cơ hội để nữ văn hào thể nghiệm mọi kỹ thuật tiểu thuyết trong tầm tay của bà: tiểu thuyết ở ngôi thứ ba, ở ngôi thứ nhất, tiểu thuyết bằng thư. Đôi khi bà còn kết hợp nhiều hệ thống khác nhau, ví như tác phẩm tổng hợp kiểu Ông Sylvestre hay Tình yêu cuối cùng. Vậy là sự đa dạng của điểm nhìn cộng thêm với sự đa dạng của tình huống, tầng lớp xã hội và nơi chốn.
 
 
Horace
Đây là cuốn tiểu thuyết của thành phố, của Paris và đồng thời là tiểu thuyết của một nhóm, nhóm của nhiều sinh viên. George Sand đã sống rất lâu ở Paris - khi bà rời khỏi Nohant và chồng bà, thủ đô đối với bà là giải thoát và tự do; bà đã tái hiện tài tình Paris của khu phố Latin, với phố xá và các quán cà phê. Người kể chuyện có một căn hộ nhỏ, trên ke Augustins. Ban công ở trên đỉnh tầng cao nhất của ngôi nhà. Anh thường gặp một nhóm bạn bè tại quán cà phê, người chủ là Poisson, gần vườn Luxembourg. Nhưng Paris những năm 1830 không hề yên tĩnh. Những xáo động của sinh viên trùng hợp với những yêu sách của công nhân. Horace gợi lại cuộc bắn giết của tu viện Saint-Merry; có hai nhân vật bị thương trên chiến lũy. George Sand, trong một lá thư gửi Buloz, mỉa mai báo trước rằng phần thứ ba của cuốn tiểu thuyết sẽ đẩy ông đến "tuyệt vọng": "Các nhân vật chính của tôi sẽ đi đánh nhau ở Tu viện Saint - Merry; và thật kỳ diệu và kỳ lạ, cả hai người, một người là vô sản, người kia là sinh viên cộng hòa, họ đều không lên đấy để chiến đấu cho nền quân chủ". (Thư, t.V, tr.423). Quả nhiên Buloz không chịu đăng cuốn tiểu thuyết trong Tạp chí Hai thế giới nếu không có những sửa đổi, mà nhà viết tiểu thuyết cho rằng không thể chấp nhận được. Bà bèn đem tiểu thuyết của mình sang in ở Tạp chí độc lập, một tạp chí xuất bản định kỳ theo chủ nghĩa xã hội, mới xuất hiện, tiểu thuyết được in từ năm 1841 đến năm 1842, sau đó xuất bản thành sách năm 18
Giống như Barrès trong cuốn Những người mt gốc, trong Horace, George Sand - trước đây đã có lúc định đặt tên cho cuốn tiểu thuyết là "Người sinh viên", - không đưa nhân vật mang tên tác phẩm thành ngôi sao, không hề là vậy. Trong nhóm sinh viên ấy, nguồn gốc thật khác nhau: trưởng giả tỉnh lẻ, quý tộc theo phái chính thống, giai cấp thợ thuyền, họ đi kề nhau. Họ theo học nhiều ngành khác nhau : Théophile, người kể chuyện, là một sinh viên y năm thứ ba; Paul Arsène, một họa sĩ trẻ, vì nghèo mà có lúc phải vắng mặt ở xưởng họa của Delacroix, trở thành hầu bàn quán cà phê; Horace học luật, không có xác tín gì, đơn giản chỉ vì "hiện nay chỉ có một nghề dẫn đến mọi thứ, đó là nghề luật sư" còn về những người phụ nữ, họ đến làm phong phú thêm bảng mầu của các nhân vật Paris, từ Phu nhân de Chailly, đại diện cho nền đại quý tộc dưới một dáng vẻ không có gì đáng mến, tới Marthe, cô gái thợ cao thượng.
 
 
 
 
Người chủ cối xay Angibault
Được xuất bản năm 1845, vậy là trước Ao ma (1846), Cô bé Fadette (1849) và François đứa trẻ bị bỏ rơi (1850), trước cả Cách mạng năm 1848, tác phẩm này mở đầu cho các tiểu thuyết đồng nội, sẽ khiến ta lưu tâm, bởi ngoài thành công thực chất của nó, nó còn cho phép chúng ta gạt đi hai nhận định thường được chấp nhận: tiểu thuyết của George Sand có vẻ như biểu hiện một cách nhìn lý tưởng vì cuộc sống thôn dã, có lẽ chúng đã là nơi trú ẩn cho con người theo chủ nghĩa xã hội bị nền cộng hòa làm cho thất vọng.
Chắc chắn là có hai bản tình ca (một la giữa Marcelle, cô chủ lâu đài Blanchemont, và Henri Lemor nhà trí thức trẻ, xuất thân bình dân, một nữa là giữa Louis lớn, anh chủ cối xay Angibault và cô Rose Bricolin) sau này sẽ kết thúc bằng hai đám cưới. Blanchemont, Angibault, bản thân những tên đó đã là đầy chất thơ. Thung lũng Đen luôn là "một niềm vui thích cho trí tưởng tượng". Marcelle muốn thiết lập ở đấy một xứ Clarens mới, một nơi chốn trong trẻo và hạnh phúc. Henri Lemor được nuôi dưỡng bằng tinh thần Louis Blanc và Pierre Leroux (một phần tiền nhuận bút của George Sand dùng vào việc gây dựng nhà in gương mẫu của bà ở Boussac). Thế nhưng tình ca và mộng ước xã hội chủ nghĩa sắp va vào một thực tế tàn nhẫn.
 
Cuối cùng nông thôn mà George Sand miêu tả cũng khá là ảm đạm. Nghiện rượu đói nghèo và nợ nần là số phận thường nhật. Chỉ có thế lực đồng tiền thắng thế. Lão Bricolin ‘‘ sống của hôm nay’’ (tác giả đã nghĩ đến dùng từ này làm đầu đề tác phẩm, Bricolin lặp đi lặp lại nó nhiều lần). Lão thích con gái lão phát điên hơn là cho phép một hôn nhân bất lợi, lão chỉ đồng ý gả Rose cho người chủ cối xay sau khi có sự thu xếp về tài chính của Marcelle; Bricolin ước mơ mua được lâu đài Blanchemont và lão ta đạt được điều đó, không chút thương xót đối với người xung quanh và nữ chủ nhân cũ của lâu đài. Người nông dân biến thành trưởng giả.
Cuối cùng thì chất thơ của tiểu thuyết này toát ra từ chất thơ vùng Berry mà George Sand yêu quý: chất thơ của ngôn ngữ, của thứ thổ ngữ bị chê bai một cách bất công, bà đã đem lại cho người đọc một cách nhìn nhận ("chính ở Thung lũng Đen mà người ta nói thứ tiếng Berry thực, thuần túy, bản thân nó là thứ tiếng Pháp thực sự của Rabelais"), mùi vị các món ăn của bánh yến mạch, của bánh lê, cá hồi, của "salat trộn dầu hạt dẻ sôi sùng sục", cái đẹp của âm nhạc và điệu múa, của điệu múa Bourrée và của quần áo mà chỉ thế hệ già là còn mặc thế hệ người bà của Rose. Truyện điển viên, tiểu thuyết "hiện thực" hay tiểu thuyết tư tưởng? Người chủ cối xay Angihault là tất cả các cái đó trong một sự kết hợp tinh tế, chính vì vậy lúc nào nó cũng được ưa thích.
François, đứa trẻ bị bỏ rơi cũng giới thiệu một cách hiện thực vấn đề vay nợ của nông dân và việc bỏ rơi con ngoài ruộng (chữ champi đến từ đấy). Nhưng phần mộng mị trong cuốn sách này có lẽ còn lớn hơn cuốn trên, chính nhờ truyện kể về một sự loạn luân biểu tượng giữa người mẹ nuôi và nhân vật chính - và ta hiểu tại sao cuốn sách này quyến rũ Proust thời trẻ đến vậy - giống như trong chuyện thần tiên, nhân vật chính phải ra đi hoàn thành nhiều thử thách trước khi trở về lấy được người mình yêu. Ao ma chẳng có chút gì của tiểu thuyết dành cho trẻ em, dùng cho bài tập ở trường. Thực ra, phía sau thiên diễm tình của Germain, một người đàn ông góa vợ cần lập gia đình, và cô bé Marie sắp trở thành hầu gái, hiện ra cuộc sống khắc nghiệt của những người giúp việc ở nông thôn. Cũng có cả uy thế của tiền bạc ở một ngôi làng, hiện thân trong người đàn bà góa giầu có mà Germain phải lấy. Điều may mắn là phép mầu của cái Ao ma và của cái đêm ngoài trời đã khiến hai kẻ du hành gần nhau mãi mãi và Germain và Marie sẽ có hạnh phúc. Đến lúc ấy, nhà tiểu thuyết có thể gợi lại một cách chính xác các phong tục hôn nhân ở nông thôn.
 
 
Tình yêu cuối cùng
Khác với các tiểu thuyết đồng nội, tác phẩm này khá lâu đã không được biết đến. Được in ở Tạp chí Hai thế giới năm 1866, nó tiếp theo tác phẩm Ông Sylvestre, nhân vật cùng tên kể lại một giai đoạn trong cuộc đời mình. Nếu cuốn tiểu thuyết này đề tặng Flaubert, khiến ta lưu tâm, chính bởi vì nó là dấu hiệu của tiến trình George Sand đi tới một cách thể hiện ngày càng cao hơn đôi với hiện thực. Trên phương diện này, nó nhập đúng vào tiến trình của thế kỷ đi tới "chủ nghĩa hiện thực", cho dù "chủ nghĩa. hiện thực" của nó, trong các tiểu thuyết nông thôn được kết hợp với việc lý tưởng hóa một số nhân vật. Tình yêu cuối cùng, không  hề lý tưởng hóa, Sylvestre, người chồng bị phản bội, mà lương tâm không khỏi có phần đạo đức giả, về người vợ cũng vậy, Félicie bị dục vọng hành hạ, và đi đến tự vẫn, khi không toại nguyện giống như bà Bovary, cả Tonino anh thanh niên đầy quyến rũ, có khuynh hướng muốn được gái bao và sử dụng hăm dọa để tống tiền.
Nghịch lý đặt ra từ đầu là một ngựòi đàn ông phải có thái độ thế nào khi bị người đàn bà bỏ rơi đi theo một người khác? Trong chuyện Jacques, nhân vật chính tự vẫn. Một thái độ như vậy ông Sylvestre coi là đáng chê trách. Theo ông, "cách trừng phạt ngoại tình tốt nhất là một tình bạn được người chồng bị lừa dối dâng hiến một cách hào hiệp", một giải pháp bề ngoài cao thượng, nhưng không thiếu phần khoái cảm tàn ác, và ở đây, giống như một kiểu giết người trá hình. Có lẽ do ảnh hưởng của Flaubert và để giữ một khoảng cách với nhân vật, nhà tiểu thuyết không đứng về phía nào và người đọc, trong màn kịch đáng buồn này, co thể đứng về phía Sylvestre hoặc Félicie. Các vai diễn phần bí mật của riêng mình; họ không nói hết. Lá thư Félicie được mở ra sau khi cô chết, nói lên sự thật khác với điều Sylvestre kể, ông là "con nhân sư già". Đáng lẽ ông ta có thể được báo động do tiếng vĩ cầm của Félicie vang lên lần cuối trước khi cô tự vẫn ; có lẽ ông ta đã không muốn hiểu; ông ta chỉ ghi nhận: "Trí tưởng tượng bị kích thích cao độ của tôi lẽ ra có thể coi những vớ vẩn mơ mộng về âm nhạc ấy như một kiểu truyện biểu trưng mà nàng muốn kể cho tôi về những giông tố sự sa đọa và tuyệt vọng của nàng". Người thầy thuốc được gọi đến quá chậm, đã nói với Sylvestre: "Có những sự sắp đặt nghiệp chướng, trước chúng, thầy thuốc buộc phải duy vật... Thế nếu tôi nói với ông rằng bản thân ông cũng đã chịu nghiệp chướng đó khi khiến vợ ông ghê tởm cuộc đời và đi đến chỗ tự sát?".
 
 
 
&&&&
 
5 Giới nghệ
 
Nghệ sĩ và thợ thủ công
George Sand nghĩ rằng không nên tách họ ra, bản thân bà cũng tự coi mình như một người thợ của nghề viết. Geneviève làm hoa giả, Simon, luật sư nổi tiếng với những phát biểu ngẫu hứng xuất sắc cũng là những nghệ sĩ, giống như Arsène, trong xưởng vẽ của Delacroix. Người học việc trong chuyến đi vòng quanh nước Pháp nêu bật hình ảnh một thợ mộc nghệ sĩ, George Sand cũng đã ngợi ca nhiều ngành nghệ thuật đã bị văn học bỏ qua: ví như trong Những nghệ nhân tranh ghép (1838), và quyển đối xứng Những nghệ nhân thổi kèn túi (1853). Cảm xúc nghệ thuật của bà còn được rèn giũa do tất cả các nghệ sĩ bà đã có dịp gặp, dù đấy là nhạc sĩ (Liszt, Chopin...), họa sĩ (Delacroix...), diễn viên (Marie Dorval, Bocage...), ca sĩ (Pauline Viardot, Adolphe,
Nourrit...), chưa kể các nhà văn lớn của thời đại. Nếu bà có vẻ thận trọng khi không viết về tiểu thuyết của nhà tiểu thuyết (mặc dù Horace có thử viết văn) bà đã để lại cho chúng ta cuốn tiểu thuyết về một họa sĩ trong Nàng và Chàng, tiểu thuyết về một diễn viên sân khấu trong Lâu đài des Désertes, tiểu thuyết về một nhạc sĩ trong ConsueloNhững nghệ nhân thổi kèn túi. Lĩnh vực ưa thích của bà có lẽ thật sự là sân khấu và âm nhạc.
 
 
Sân khấu
Bà nói về sân khấu trên tư cách là người hiểu rõ lĩnh vực này, vốn bản thân là nhà tiểu thuyết, nhưng lại là nhà viết kịch. Hai hoạt động này bổ xung cho nhau, nhiều khi bà viết một vở kịch rút từ một trong những cuốn tiểu thuyết của mình rồi bà hoặc một cộng tác viên đưa lên sân khấu (như Paul Meurice đã làm với Các quý ông xứ Bois - Doré, Le Drac, Cadio; Dumas con với Hầu tước de Villemer). Và các vở kịch của bà đều thành công; năm 1864, việc công diễn Hầu tước de Villemer ở Nhà Hát Odéon gần như chuyển thành một cuộc nổi loạn. Vua đang đợi diễn ở Sân Khấu Pháp năm
1848, và cả François, đứa trẻ bị bỏ rơi ở nhà hát Odéon năm 1849, hay Claudie rạp Porte Saint-Martin năm 1851, tất cả đều mang ý nghĩa chính trị. Cho dù nội dung tư tưởng màn kịch của bà có bộc lộ nhiều hay ít, George Sand bao giờ cũng coi sân khấu là một phương tiện giao tiếp với dân chúng giống như các ấn phẩm giá rẻ của các tác phẩm của bà. Nhưng tác phẩm kịch của Sand bị mất giá trị, một số bài nghiên cứu của giới đại học hoặc một vài cuộc biểu diễn quá hiếm hoi cũng không cứu vãn được. Đó là phần không được đánh giá đúng trong sự nghiệp của bà.

 
 
Trang 65


 
0
5 Giới nghệ
 
Nghệ sĩ và thợ thủ công
George Sand nghĩ rằng không nên tách họ ra, bản thân bà cũng tự coi mình như một người thợ của nghề viết. Geneviève làm hoa giả, Simon, luật sư nổi tiếng với những phát biểu ngẫu hứng xuất sắc cũng là những nghệ sĩ, giống như Arsène, trong xưởng vẽ của Delacroix. Người học việc trong chuyến đi vòng quanh nước Pháp nêu bật hình ảnh một thợ mộc nghệ sĩ, George Sand cũng đã ngợi ca nhiều ngành nghệ thuật đã bị văn học bỏ qua: ví như trong Những nghệ nhân tranh ghép (1838), và quyển đối xứng Những nghệ nhân thổi kèn túi (1853). Cảm xúc nghệ thuật của bà còn được rèn giũa do tất cả các nghệ sĩ bà đã có dịp gặp, dù đấy là nhạc sĩ (Liszt, Chopin...), họa sĩ (Delacroix...), diễn viên (Marie Dorval, Bocage...), ca sĩ (Pauline Viardot, Adolphe,
Nourrit...), chưa kể các nhà văn lớn của thời đại. Nếu bà có vẻ thận trọng khi không viết về tiểu thuyết của nhà tiểu thuyết (mặc dù Horace có thử viết văn) bà đã để lại cho chúng ta cuốn tiểu thuyết về một họa sĩ trong Nàng và Chàng, tiểu thuyết về một diễn viên sân khấu trong Lâu đài des Désertes, tiểu thuyết về một nhạc sĩ trong ConsueloNhững nghệ nhân thổi kèn túi. Lĩnh vực ưa thích của bà có lẽ thật sự là sân khấu và âm nhạc.
 
 
Sân khấu
Bà nói về sân khấu trên tư cách là người hiểu rõ lĩnh vực này, vốn bản thân là nhà tiểu thuyết, nhưng lại là nhà viết kịch. Hai hoạt động này bổ xung cho nhau, nhiều khi bà viết một vở kịch rút từ một trong những cuốn tiểu thuyết của mình rồi bà hoặc một cộng tác viên đưa lên sân khấu (như Paul Meurice đã làm với Các quý ông xứ Bois - Doré, Le Drac, Cadio; Dumas con với Hầu tước de Villemer). Và các vở kịch của bà đều thành công; năm 1864, việc công diễn Hầu tước de Villemer ở Nhà Hát Odéon gần như chuyển thành một cuộc nổi loạn. Vua đang đợi diễn ở Sân Khấu Pháp năm
1848, và cả François, đứa trẻ bị bỏ rơi ở nhà hát Odéon năm 1849, hay Claudie rạp Porte Saint-Martin năm 1851, tất cả đều mang ý nghĩa chính trị. Cho dù nội dung tư tưởng màn kịch của bà có bộc lộ nhiều hay ít, George Sand bao giờ cũng coi sân khấu là một phương tiện giao tiếp với dân chúng giống như các ấn phẩm giá rẻ của các tác phẩm của bà. Nhưng tác phẩm kịch của Sand bị mất giá trị, một số bài nghiên cứu của giới đại học hoặc một vài cuộc biểu diễn quá hiếm hoi cũng không cứu vãn được. Đó là phần không được đánh giá đúng trong sự nghiệp của bà.
 
Mặt khác, có lẽ tính độc đáo của các vở kịch không nổi rõ trong những vở dành cho các sân khấu lớn ở Paris, bằng kịch thí nghiệm và múa rối được diễn ở Nohant. Bà có nhiều tự do hơn trước một công chúng rất hẹp, gần như trong gia đình: Maurice vẽ cảnh bài trí, George Sand viết kịch bản và chọn trang phục, nếu có Chopin ở đấy, ông ứng tác những nhạc đệm lấy cảm hứng tuyệt vời trong các nhân vật của kịch ứng tác của Ý. "Toàn bộ đã bắt đầu bằng kịch câm và đấy là do sáng kiến của Chopin. Chàng ngồi trước dương cầm và ứng tác, trong khi đó giới trẻ diễn tả bằng điệu bộ, và nhảy những điệu balê hài" ("Sân khấu rối ở Nohant" [Tự thuật, t.II, tr. 1249]. Khi Chopin không còn tới Nohant nữa, George Sand cố gắng thay ông đánh dương cầm. Cùng với sân khấu nhỏ, còn có cả sân khấu rối (hiện nay chỗ này vẫn còn dấu tích). Năm 1864, bà sẽ xuất bản ở Nhà xuất bản Michel Lévy cuốn Sân khấu Ở Nohant. So với bản thân các kịch bản thường là những canevas theo kiểu kịch Ý, các văn bản lý luận khiến chúng ta lưu tâm hơn, bởi chúng đưa ra một suy nghĩ tổng hợp hơn về kịch (Tự thuật, t.II).
 
 
Lucrezia Floriani và Lâu đài des Désertes
Suy nghĩ trên cũng là điểm xuất phát của tác phẩm Lâu đài des Désertes. Cuốn tiểu thuyết rất hay này là tiếp sau cuốn Lucrezia Floriani câu chuyện đầy bi kịch của một nghệ sĩ Lucrezia, "một nghệ sĩ tài năng thuần khiết, cao cả, có đủ tính bi kịch, và khi bà đóng một vai dàn dựng tốt, bao giờ bà cũng khiến mọi người xúc động và có thiện cảm [...] bà đã có những thành công lớn không phải chỉ trên phương diện ‘‘nghệ sĩ mà còn cả trên phương diện tác giả; bởi bà đã yêu nghề mình say đắm tới mức đã dám viết những kịch bản sân khấu". Trước khi qua đời, bà đã muốn dậy cho con trai mình, Celio, "nghệ thuật sân khấu, anh cũng bộc lộ một thiên hướng kịch say mê". Sau khi bà mất, cái chết của bà là hệ quả của tính ích kỷ của hoàng tử Karol (George Sand kiên quyết chống lại việc cho Karol là một tia phản ánh của Chopin), câu chuyện của các con bà tiếp tục ở cuốn tiểu thuyết thứ hai nhan đề Lâu đài des Désertes (trước tiên được dự kiến như một truyện ngắn, "Célio Floriani", sau đó đã được mở rộng). Thường rất hiếm khi George Sand viết những đoạn tiếp, đây là dấu hiệu George Sand quan tâm đặc biệt đến nhân vật hoặc đề tài. Viết từ năm 1847, Lâu đài des Désertes chỉ sẽ ra mắt năm 1851 trong Tạp chí Hai Thế giới, rồi ở tủ sách của Michel Lévy.
Một cách mâu thuẫn, cuốn tiểu thuyết về sân khấu này cũng là một tiểu thuyết về cô đơn. Trong một lâu đài hoang vắng giữa núi rừng, gần Briançon, người ta đang diễn tập vở Don Juan, nằm trong truyền thông Ý, Molière và Mozart. Đây là công việc của một tập thể tập hợp cả người chuyên nghiệp và cả nghiệp dư. Họa sĩ Adorno, người kể lại câu chuyện, đã quen biết Célio, Cecilia, và cha của cô gái, Boccaferri ở Nhà hát kịch thành Vienne; một cách lãng mạn, anh gặp lại họ trong lâu đai này, và sẽ được mời tham gia các buổi diễn tập. Vai diễn được những diễn viên thay nhau đóng và họ tìm cách diễn khác nhau, theo cách đó họ mở ra những khả năng diễn mới; Don Juan trước tiên do chàng trai rất trẻ Celio đóng sau đó là do ông già Boccaferri. Người kể chuyện lần lượt đóng vai Quận công sau đó là Mazetto. ‘'Đây là một cách làm sáng tạo dựa trên một canevas, và ứng tác là cách diễn cơ sở. Người ta đã không quên nhấn mạnh quan niệm sân khấu của George Sand báo trước quan niệm của Stanislavski và của Grotowski tới mức nào’’.
Là kịch sân khấu ở cấp độ hai, tiểu thuyết này là lời ngợi ca diễn viên và sân khấu và cũng kể lại một cuộc khai tâm. Người kể chuyện đã bước vào lâu đài theo lời mời của hai thiếu phụ mang những tên biểu tượng: Stella và Béatrice. Đóng vai của Quận công, anh đã phải trải qua cái chết, nhưng là để sống lại nhờ phép mầu của sân khấu, và có được tình yêu. Sự khai tâm của sân khấu đồng thời cũng là một sự khai tâm trong cuộc sống
Phía kia của hoạt động sân khấu ở Nohant, nghệ thuật múa rối, có tiếng vang trong một tiểu thuyết khác, Người tuyết, ở đây người điều khiển rồi nói ra chân lý của các sinh mệnh và còn giúp tìm ra kẻ phạm tội. Trong quyển này ta cũng tìm thấy những phát ngôn về vai trò xã hội của sân khấu: "Sân khấu sẽ hòa hợp với cuộc sống ngày mà nó được xem không mất tiền, mà ai có trí tuệ đủ năng lực để thể hiện giỏi, dù thuộc nghề nghiệp nào cũng sẽ trở thành người kể truyện và diễn viên vào một lúc nào đó, chỉ vì tình yêu nghệ thuật’’.
 
 
Âm nhạc: Consuelo
Ta vừa thấy sân khấu và âm nhạc gắn chặt với nhau như thế nào do sở thích của George Sand đối với opéra và đặc biệt đối với tác phẩm của Mozart. Một trong những bài viết đầu tiên của nhà tiểu thuyết là một truyện ngắn, La Prima Donna. Liszt, Rossini hay Meyerbeer đều hiện diện rất rõ trong Thư của một khách du hành. Âm nhạc vang lên trong tác phẩm bà nhiều đến nỗi ở đây chúng ta cần tự giới hạn trong ConsueloNhững nghệ nhân thổi kèn túi.
Consuelo (1842-1844) có kích thước một tiểu thuyết sử thi lớn và tiếp nối với Nữ bá tước de Rudolstadt, hai tác phẩm này làm thành một tổng thể không chia cắt. Consuelo, con một người đàn bà du xứ, đã được hướng dẫn những bước đầu về âm nhạc ở một trong những scuole của Venise mà Rousseau đã miêu tả trong Lời tự thú; cô làm việc dưới sự hướng dẫn của thầy Porpora, tất nhiên gợi tới nhạc sĩ Ý cùng tên những tới cả Rousseau do tính cách cáu bẳn và sự khước từ mọi thỏa hiệp với cách sống thượng lưu. Để cô thoát khỏi sự săn đón của tay nhà giàu Zustiniani (tên cũng có trong tác phẩm Lời tự thú), Porpora gửi cô đến xứ Bohême trong lâu đài Rudolstadt, tại đây cô quen biết hai nhân vật khó hiểu và đáng ngại, Albert de Rudolstadt, một người kéo vĩ cầm giầu cảm hứng nhưng ốm đau, và Zdenko, hiện thân của tâm hồn dân Bohême, bản thân cũng là nhạc sĩ. Thoạt đầu Consuelo khước từ không chịu lấy Albert, do không muốn hy sinh sự nghiệp âm nhạc của mình và muốn được tự do. Cô bắt đầu một chuyến lưu diễn dài qua những nhà hát lớn nhất của châu Âu, rồi đến Áo, ở triều của Nữ hoàng Marie-Thérèse, qua triều của Frédéric II ở Phổ. Bị tình nghi, cô bị giam trong nhà ngục Spandaw. Bị cầm tù, cô khám phá ra, cùng với một ý tưởng chính trị, năng khiếu soạn nhạc của chính mình, trong khi cho đến bấy giờ, cô chỉ là người biểu diễn. Cô được một hội kín cứu thoát khỏi nhà tù, hội Những người Vô hình, họ bắt cô phải chịu một thời kỳ bị giam cầm nữa, nhưng là để được khai tâm qua một số nghi lễ của hội Tam điểm, và truyền cho cô một học thuyết lấy cảm hứng từ Leroux. Ở đây cô đạt đến một đẳng cấp cao và làm quen với bà mẹ Albert, Wanda. Cô gặp lại Albert, người cô tưởng đã chết, rồi lấy anh khi anh đã gần hấp hối. Đoạn kết cho ta biết việc bá tước Rudolstadt và phu nhân đã cải hóa: trở thành những nhạc sĩ lang thang, họ đi từ làng này sang làng khác để truyền giảng tin mừng mới "Tự do Bác ái, Bình đẳng". Đoạn kết thúc truyện kể này diễn ra mười lăm năm trước năm 1789- George Sand viết Consuelo trước 1848; lý tưởng cách mạng vẫn còn hiện ra với tất cả sự trong sáng của nó.
 
Tóm lược một cách thô thiển như trên, điều không may là tác phẩm đã mất đi rất nhiều ý nghĩa và chất thơ của nó. Cuốn tiểu thuyết viết về âm nhạc này ca ngợi nền âm nhạc thế kỷ XVIII nhờ người bà, George Sand đã hiểu biết rất rõ nền âm nhạc này từ khi mới lớn. Trên đường đi, Consuelo gặp Haydn thời trẻ: từ hạt nhân khởi nguồn là Venise, nền âm nhạc nay tỏa sáng khắp âm nhạc châu Âu. Dù cho rất hấp dẫn, cuốn tiểu thuyết còn hơn là một chuyến du hành âm nhạc. Đó là một suy tưởng về âm nhạc và một cuốn tiểu thuyết khai tâm. Cũng giống như việc khai tâm và sân khấu gặp nhau trong Lâu đài des Désertes, ở đây hai đề tài giao thoa với nhau sâu rộng hơn nhiều. Consuelo là một người được khai tâm, nhưng ở thứ bậc cao, điều ngoại lệ đối với một phụ nữ trong các hội kín thế kỷ XVIII.
Ý nghĩa chính trị của tiểu thuyết cũng rõ ở điểm nó diễn tả một phụ nữ tự do, khước từ cả gông cùm của hôn nhân truyền thống lẫn các chuyên chế của các triều đình. Chủ yếu cô là một nhà sáng tạo, trong những trang cuối cùng, cô viết một bản "thánh ca gửi nữ thần tốt lành’’, ngợi ca khả năng sáng tạo của người phụ nữ, lâu nay bị khống chế và khinh rẻ? Những việc giải phóng phụ nữ chỉ có ý nghĩa nếu nó tham gia vào một sự giải phóng tổng hợp của người đàn ông; cũng chính cái đó được biểu hiện trong tam vị cách mạng "Tự do, Bình đẳng, Bác ái". Mọi đề tài đều gặp nhau. Giải phóng dân chúng, chính là giải phóng sức mạnh sáng tạo của họ, là khám phá ra âm nhạc bình dân của Zdenko, là soạn thảo một nền âm nhạc cho dân chúng giống như vợ chồng Rudolstadt đã làm khi rời bỏ hết mọi đặc ân của giai cấp quý tộc, họ trở về với trạng thái người zingari, vốn là trạng thái của mẹ Consuelo.
 
 
Những nghệ nhân thổi kèn túi 
 
Giống như Consuelo, Những nghệ nhân thổi kèn túi (1853) là tiểu thuyết trưởng thành, và kể lại hành trình của một cậu bé, Joset, được cô bé Brulette và Tiennet bảo trợ, vì trong làng, cậu được coi như hơi bị tâm thần; cậu sẽ trở thành một nhạc công vô song. Cậu có được sự phát hiện về âm nhạc là nhờ cái kèn túi của Huriel, một người dắt la rong đi qua Saint- Chartier. Theo lời khuyên của Huriel, cậu rời làng và đến chỗ ông Bûcheux lớn, bố của Huriel để hoàn thiện việc học âm nhạc. Cậu bị ốm, và được em gái của Huriel là Thérence săn sóc; Brulette và Tiennet được gọi đến bên giường bệnh của cậu, và cậu khỏi bệnh. Trước khi trở về làng, cậu bị một hội những nghệ nhân thổi kèn túi tấn công, do ghen ghét với tài năng của cậu. Số người này bắt cậu chịu một kiểu lễ khai tâm thô thiển khá nguy hiểm, trong các khu rừng bí ẩn vùng Bourbonnais, khác hẳn với sự khai tâm đích thực của cha Bûcheux lớn. Tiểu thuyết kết thúc bằng hai đám cưới của Brulette với Huriel và Tiennet với Thérence. Joset còn lại đơn độc, người ta tìm thấy chiếc kèn túi của cậu tan thành mảnh, còn cậu đã bị ám sát.
Là một tiểu thuyết lớn về âm nhạc bình dân Những nghệ nhân thổi kèn túi còn có một bức tranh quý báu về phong tục nông thôn, về thực hành âm nhạc, về những nghiệp đoàn nhạc công. Trong tiểu thuyết có hai nền âm nhạc đối lập; âm nhạc vùng đồng bằng Berry, êm ả quá tĩnh lặng; âm nhạc vùng Bourbonnais, vùng rừng núi, chát chúa, man rợ, được Joset ham thích. Hai cuộc hôn nhân cuối chuyện có lẽ là biểu tượng cho một sự hòa hợp có thể có giữa đồng bằng và rừng núi, giữa hai nền âm nhạc để đi tới một hòa điệu? Những nhạc sĩ lớn là Joset sẽ không đến được trạng thái cân bằng cuối cùng này. Nguồn cảm hứng dữ dội có thể nào kết hợp với sự yên tĩnh của đồng bằng không?
Đoạn kết có phần bí ẩn và George Sand đã để lưng một nghi vấn vốn là bản chất của cái hoang đường, khi bà kiến nghị một lời giải kép. Hợp lý: Joset là nạn nhân sự ghen ghét của những nhạc công kèn túi sợ anh sẽ chiếm chỗ của họ. Nhưng bà cũng gợi ý một lời giải siêu nhiên: Joset đã là nạn nhân của Quỷ. Trong một truyền thống đi từ E.T.A. Hoffmann đến Tiến sĩ Faustus của Thomas Mann, thiên tài âm nhạc vẫn có quan hệ bi kịch với thế giới bên kia của quỷ.
Câu chuyện được kể do Étienne Dépardieu, khi bé được gọi là Tiennet; năm 1828, ông ta kể những chuyện xảy ra từ năm 1770. Cuốn tiểu thuyết chứng minh là sự thay đổi giữa Chế độ cũ và Thế kỷ XIX không hề là rõ rệt trong nông thôn vùng sâu. Vào buổi tối người ta vẫn tiếp tục kể chuyện trước khi đi ngủ; và tác phẩm Những nghệ nhân thổi kèn túi cũng như François, đứa bé bị bỏ rơi, có tiết tấu, không phải chia thành chương hồi, mà theo các buổi "thức đêm". Với Những nghệ nhân thổi kèn túi, có tất cả ba mươi hai buổi thức đêm, giữ được cái duyên của lời nói nông thôn và của văn truyền miệng.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 01.12.2018 23:29:25 bởi Ct.Ly>
6 "Tất cả đều là Lịch sử"
 
Về một loại đồ dệt được gợi lại trong Truyện đời tôi, George Sand phát biểu một nguyên tắc có thể khiến các nhà sử học hiện đại của "Lịch sử mới" vui mừng, đó là quan niệm rộng của bà về thực tại lịch sử: thực tại lịch sử không chỉ là biến cố, nó bao gồm cả cái thường nhật, những sự việc nhỏ bé của cuộc sống vốn làm nên chất liệu của chính nó, cái mà Daniel Roche trong Lịch sử các sự vật vô vị đã chứng minh tầm quan trọng. Xuất phát từ quan niệm này tự thuật và tiểu thuyết có thể được xem xét dưới một nhãn quan mới. Tự thuật không chỉ là sự trình bày các trạng thái tâm hồn, mặc dù chúng cũng là thành tố lịch sử, và tiểu thuyết bao giờ cũng là ‘‘lịch sử’’, bất kể khoảng cách thời gian giữa thời gian văn viết và thời gian truyện kể.
 
 
Truyện đời tôi
Tác phẩm Truyện đời tôi được George Sand bắt đầu viết từ năm 1847, theo khích lệ của nhà xuất bản Hetzel, nhưng cũng vì cần tiền cho gia đình (những món nợ của Clésinger, con rể bà; hồi môn của Augustine, con gái nuôi của bà). Tác giả ngừng viết khi diễn ra các biến cố năm 1848, sau đó lại viết lại. Trước khi in thành sách, tự thuật in định kỳ trong tờ báo La Presse. Các chỗ khác nhau giữa in trên báo và tác phẩm, các chỗ sửa và dập xóa trong bản thảo chứng tỏ nhà văn đã hết sức cẩn thận khi sửa chữa văn bản và cả những khó khăn bà gặp phải khi kể lại vài thời điểm của quá khứ (ví như các mối quan hệ với người mẹ) hay khi viết về chân dung tự họa của mình.
Tên của tập tự thuật này đã khiến ta phải chú ý. Đây không phải là "Lời tự thú". Bóng của Rousseau bay phảng phất trên mọi chuyện đời của thế kỷ XIX, dù là của Sand, Chateaubriand hay Stendhal. Nhưng nếu nó được gợi lại, đôi khi có phần một cách bội bạc, cũng chỉ để nhấn mạnh là ta sẽ không theo mẫu đó. Không có việc phải nói sự thật, trước một tòa án tưởng tượng; nhà văn tự do nói điều họ muốn; ngay dù họ không rơi hoặc ít rơi vào việc tự hư cấu thì họ cũng chọn trong quá khứ điều họ vui lòng kể cho ta nghe. Từ đấy mà co thất vọng lớn của độc giả Truyện đời tôi cứ muốn tìm trong đó những chuyện chăn gối. Những người tình của George Sand ít khi hiện diện trong đó. Ngược lại, chiếm phần lớn là "Lịch sử một gia đình từ Fontenoy đến Marengo", một câu chuyện được kể lại khá dài - các trận đánh chỉ tương đương với các năm tháng. Câu chuyện riêng của bà được cài chặt vào Lịch sử bà đã sống từ năm 1804 đến năm 1848. Bà đã muốn làm công việc một người viết sử bằng cách sưu tập tư liệu (bà có rất nhiều lưu trử của gia đình phía nội), về cuộc đời riêng, bà cũng có những đoạn báo chí, những ký về du lịch cho phép bà xác định rõ các hồi ức. Nhưng có ý thức về Lịch sử không chỉ là gợi nhớ lại quá khứ, đó còn là có ý thức về thay đổi và George Sand giống như Chateaubriand cuối tập Hồi ký từ thế giới bên kia gợi tới tương lai hay còn chưa rõ ra sao nhưng lại rất khác hiện tại.
George Sand hướng tới người đọc mà tương lai này sẽ có phần lệ thuộc. Sau khi loại bỏ người chỉ đơn giản là kẻ tò mò, có phần thiếu thiện chí, bà tạo dựng với người đọc "vô tư" một mối giây bè bạn, bà mơ tưởng sẽ có ích cho anh ta Ngay trong bài tựa bản in năm 1843 của Thư của một khách du hành - bản thân tác phẩm này là môt kiểu tự truyện, bà nhấn mạnh tới vai trò này của văn viết về cái tôi: "Nỗi đau của tôi cũng là của anh". Và trong những trang đầu tiên của Truyện đời tôi, bà viết tiếp: ‘‘Tôi đã đau những nỗi đau ấy, tôi đã trải qua những trở ngại và tôi đã thoát ra được; vậy bạn có thể chữa khỏi và chiến thăng’’. (Tự thuật, t.I, tr.10).
Bà bắt đầu thực hiện việc kể lại cuộc sống bên trong, cuộc sống tâm hồn, câu chuyện của trí óc và con tim mình, hướng tới một lời truyền đạt thân ái’’ (nt, t.I, tr.9). Bà muốn xác lập lịch sử các tư tưởng thời đại bà - di sản thời đại Ánh sáng, ngày mai của các cuộc Cách mạng, nền Đế chế năm 1830, sự đi lên của Chủ nghĩa xã hội -, được phản ảnh trong một trí óc, của chính bà. Và mối quan tâm viết nên Lịch sử của bà không kéo theo việc phi cá tính hóa tự truyện, hoàn toàn ngược lại, cái tôi tự xây dựng mình trong và do Lịch sử. Cuộc phiêu lưu của bà không chỉ là của một tư duy, đó cũng là một tổng thể những tình cảm (nhiệt thành, buồn chán, tình bè bạn...), những xúc cảm mà bà cố làm sống lại trong việc đi ngược trở lại thời gian đã mất: nhờ văn viết mầu sắc; âm thanh mùi hương, tất cả đều trở lại từ sâu thẳm của thời thơ ấu, của Italie và Tây Ban Nha; của đường phố Paris và khu vườn Nohant.
 
 
Tiểu thuyết và Lịch sử
ConsueloMauprat đều đã là tiểu thuyết lịch sử, nếu ta hiểu theo nghĩa đó là những tiểu thuyết mà khung cảnh, khá xác định, được đặt trong một thời trước đó. Khoảng cách chừng mười năm giữa thời gian truyện kể và thời gian viết trong Horace có đủ để khiến nó thành một tiểu thuyết lịch sử không? Tôi không nghĩ việc ưóc đoán một khoảng cách thời gian là đủ. Giới hạn giữa một tiểu thuyết lịch sử và một tiểu thuyết được xác định trong lịch sử, nên nhận định trong thế cân bằng có thể có giữa cuộc sống cá nhân của nhân vật và sự hòa nhập của họ vào Lịch sử, điều đó không có nghĩa họ phải đóng một vai trò lịch sử - rất thận trọng George ưa thích đưa vào nhân vật trung tâm, những con người không ai biết để có thể có nhiều tự do hơn trong sáng tạo. Nêu ta chấp nhận sự phân biệt này (nhiều khi khá là tinh tế người ta sẽ
nhận ra rằng Lịch sử ngày càng hiện diện nhiều hơn trong các tác phẩm sau 1848 (có thể xem chẳng hạn Các quý ông xứ Bois-DoréNgười tuyết thời những năm (1858-1859), và trong các tác phẩm thời sau năm 1870 (như Nanon, 1872).
George Sand làm công việc nhà viết sử khi bà viết những tiểu thuyết trên. Bà tập hợp một kho tư liệu khổng lồ. Ví dụ như với Các quý ông xứ Bois-Doré, mà hành động diễn ra ở Pháp vào thời điểm các cuộc chiến tranh tôn giáo, bà đọc cả Lịch sử vùng Berry, của Raynal, cả Michelet hay Henri Martin. Để viết Người tuyết, mà câu chuyện diễn ra ở Thụy Điển thế kỷ XVIII, nhu cầu làm tư liệu của bà lại càng lớn, do chỗ bà chưa sang nước này, nhất là vùng Dalécarlie, nơi bà vẫn phải miêu tả. Sức làm việc của bà khiến ta kinh ngạc; bà cũng lôi cuốn bạn bè vào việc: họ trở thành những nhà làm tư liệu và họ phải nhanh. Bà viết cho Charles-Edmond (Choiecki): ‘‘Hãy gắng gửi cho tôi một cái gì đó có tính lịch sử về thế kỷ XVIII ở Thụy Điển. Tôi mong chờ những thông tin này bởi cuốn tiểu thuyết đi nhanh hơn là tôi muốn và tôi không kìm lại được’’ [Tự thuật, t.XIV, tr.570].
Việc xuất bản Truyện đời tôi kéo dài cho tới năm 1855; việc viết Các quý ôngNgười tuyết bắt đầu ít lâu sau, từ năm 1856-1857. Động thái đi ngược lại quá khứ vốn là một phương diện của tự thuật, như vậy là vẫn được tiếp tục qua tiểu thuyết. Nhưng George Sand, vốn quan tâm đến việc theo kịp tiến triển của thời đại, không chịu sáng tạo những tiểu thuyết kiểu Walter Scott, như người ta từng làm rất nhiều ở Pháp thời lãng mạn. "Tôi đã tìm tòi rất nhiều, để có thể ở lại trong sự chính xác lịch sử của những phong tục, ý niệm và cách xử sự nhỏ nhặt nhất của thời đại mà tôi dùng làm bối cảnh. Tôi không gắn cốt chuyện của tôi với một vấn đề lịch sử nào không chính xác. Nhưng tất cả những cái đó không tạo ra một tiểu thuyết kiểu Walter Scott. Người ta không làm kiểu ấy nữa" [Thư tín, t.XIV, tr.378-379]. Đặt tiểu thuyết một cách chính xác vào lịch sử, vào lúc ấy, là một cách để đáp ứng với nhu cầu của chủ nghĩa hiện thực, cứ ngày càng bức bách khi mà thế kỷ tiến lên, tuy vậy vẫn không chối bỏ chất tiểu thuyết. "Ngày nay, người ta muốn có những tiểu thuyết, tôi không nói là theo chủ nghĩa hiện thực, mà là của thực tại, và có lẽ thế là phải. Nhưng muốn tiểu thuyết hay, chúng phải có nhiều chất tiểu thuyết". (Thư tín, t.XIV, tr.683). Màu sắc lịch sử sẽ là một trong những yếu tố của chất tiểu thuyết, sẽ nhấn mạnh tới nét đặc biệt của đồ vật, của ngôn ngữ, nhất là khi tiểu thuyết lịch sử gặp gỡ với tiểu thuyết trinh thám, và khi mà đồ vật (con dao găm chẳng hạn, được miêu tả kỹ càng trong Các quý ông xứ Bois-Doré), chính là một nhân tố của tình tiết. Cũng giống vậy, nhân vật đặt trong quá khứ sẽ có thể được miêu tả với những dục vọng mãnh liệt hơn, trên cả phương diện thiện hoặc ác. Nhân vật chính, Mario trong Các quý ông xứ Bois-Doré, Waldo trong Người tuyết, là một nghệ sĩ, người chống lại bất công, tìm cách khám phá và tổ chức việc khám phá ra tội ác mà bố mẹ anh ta là nạn nhân. Nghệ thuật vạch trần thực tế.
 
Cuối cùng tiểu thuyết lịch sử là một phương tiện để tránh kiểm duyệt, để trả lời lại cuộc đàn áp các trào lưu cách mạng. La Daniella (1857) vào thời tự do báo chí không còn nữa, đã khiến tác giả phải chịu những trận lôi đình vì trong cuốn này Nhà thờ và tăng lữ bị tấn công nặng nề. Các nhà xuất bản của bà đều cảnh giác. Trong hợp đồng ký với báo La Presse để in định kỳ Các quý ông xứ Bois-Doré, bà phải hứa:
"Cuốn tiểu thuyết này sẽ hoàn toàn không đề cập gì đến các vấn đề chính trị, tôn giáo và xã hội của thời hiện đại và của tương lai" (Thư tín t.IV, tr.333). Một cách tự vệ khôn khéo. Trên thực tê, cuốn tiểu thuyết này tiếp tục cuôc đấu tranh chông chủ nghĩa cuồng tín đã bị tô' cáo trong quyên La Daniella: cuồng tín chông đạo Giatô ở nước Thụy Điển theo đạo Tin lành thế kỷ XVIII, cuồng tín chông đạo Tin lành ở nước Pháp thời những cuộc chiên tranh Tôn giáo.
 
 
Nation
Cuốn tiểu thuyết lớn này có một cái nhìn về Cách mạng, cân bằng và không quá khích. Ra đời năm 1872 - George Sand lúc này đã sáu mươi tám tuổi - cuốn tiểu thuyết chứng tỏ khả năng làm việc và sức mạnh sáng tạo của nhà tiểu thuyết vẫn còn nguyên vẹn. Trong quyển này bà cũng phải tập hợp một lượng tư liệu đáng kinh ngạc, nhất là những điều liên quan đến thời kỳ Khủng bố ở Châteauroux. Ngay ở đây bà vẫn dẫn dắt truyện kể một cách linh hoạt, nhanh gọn đến kỳ lạ. Cả thế kỷ XIX đã chịu dấu ấn của Cách mạng Pháp, vừa là một ám ảnh vừa là hy vọng lớn; trong cuộc cách
mạng này ta có thể thấy cả nguồn gốc của các mưu toan cách mạng sau này (1830, 1848, 1871) - George Sand đã chứng kiến các thử nghiệm đó, có lúc còn đóng vai trò tích cực năm 1848 - và cả một trong những nguồn gốc của sự phát triển các khoa học lịch sử thế kỷ XIX. Cách mạng đã ám ảnh tiểu thuyết, dù chỉ được gợi lên nhân một điều gì đấy (ví như trong Người chủ cối xay Angibault, hay trong Mauprat cùng với sự kết thúc chế độ phong kiến, và tất nhiên qua nhiều ám chỉ trong Tấn trò đời) hoặc đã thành bản thân đề tài tác phẩm. Trong tương quan với Những người Chouans của Balzac và Năm Chín mươi ba của Hugo, Nanon có được hai nét độc đáo, đó là một cuốn tiểu thuyết về nông thôn và là truyện kể của một phụ nữ nông thôn.
Sinh năm 1775, đến năm 1850, Nanon kể lại các sự cố bà đã chứng kiến trong thời thơ ấu và tuổi thanh niên. Thời kỳ trước cách mạng được gợi lại như một thời xa xưa, tưởng như không gì có thể sẽ thay đổi: người nông dân là nông nô của tu viện Valcreux, tại đây chàng trẻ tuổi Émilien de Franqueville, một con trai thứ gia đình quý tộc, đang tập tu. Tin tức đến rất chạm chạp. Vào một hôm phiên chợ người ta biết tin
chiếm ngục Bastille. George Sand gợi lại rất giỏi cái phi lý và sự khủng khiếp của Nỗi sợ lớn, rồi ngày Lễ Liên bang, thời điểm hân hoan và hạnh phúc, rồi việc bán của cải quốc gia Nanon đã có thể sở hữu ngôi nhà của mình. Tu viện được Castejoux mua, ông là một "luật sư yêu nước" ở Limoges, mua xong ông giao quyền bảo vệ và quản lý cho cha bề trên (trước đây) và Emilien. Lúc đó, một cộng đồng hạnh phúc được thiết lập. Cha bề trên tuyên hứa với Hiến pháp. Nhưng rồi xảy ra phong trào Khủng bố - theo George Sand, đây chủ yếu là một hiện tượng của đô thị. Emilien đến Limoges thăm Castejoux, bị Pamphile bắt, Pamphile vốn là một tu sĩ cuồng tín, nay biến thành một người cách mạng vừa không khoan nhượng vừa vụ lợi. Emilien nhờ Castejoux mà không bị lên máy chém, trốn ra nông thôn, anh sống cùng với Nanon một thiên diễm tình cho tới khi Robespierre chết. Anh gia nhập quân đội nền Cộng hòa và bị cụt một tay trong chiến đấu. Trở về quê, anh kết hôn với Nanon, cô này đã mua lại tu viện Valcreux từ tay Castejoux và trở thành nữ hầu tước Franqueville, trong khi cô em Louise, tuy đầy định kiến quý tộc, nhưng vẫn lấy Castejoux. Nhân chứng có trách nhiệm kể lại cái chết của Nanon, nói về bà như sau: "Tôi bị ấn tượng mạnh trước vẻ cao sang của bà, đội cái mũ vải của phụ nữ nông thôn mà bà không bao giờ muốn rời bỏ, bà khiến ta nghĩ tới gương mặt các hoàng hậu thời Trung cổ mà người phụ nữ nông dân nay còn giữ lại kiểu mũ truyền thuyết".
Nanon không hề là một "nữ nông dân hãnh tiến" mặc dù tác giả có lúc đã muốn đặt tên cho tác phẩm như vậy, theo truyền thống Marivaux; bà là biểu tượng của sự hòa hợp giai cấp mà George Sand từng ước muốn một cách sâu xa, ước muốn đó đã ghi khắc trong giấc mơ về cội nguồn của bà; trong xuất thân, bà đã kết hợp giòng máu quý tộc và giòng máu bình dân (ngay dòng họ Franqueville đã gợi nhớ tới Francueil). về cuộc Cách mạng, George Sand đưa ra một cách nhìn phức hợp. Là người thừa kế triết học Ánh sáng, bà đầy nhiệt tình với năm 1789, nhưng kinh sợ phong trào Khủng bố và đã miêu tả sự tàn bạo của nó ở Limoges. Cách mạng đã mang học thuyết Ánh sáng tới nông thôn - cho phép cô bé Nanon học chữ. Nuôi dưỡng trong tư tưởng của các nhà xã hội chủ nghĩa, George Sand thừa hiểu biết về nông thôn, hơn ai hết, bà biết người nông dân gắn bó với tư hữu tới mức nào; không hề có chút mơ mộng nào về chủ nghĩa cộng sản ruộng đất nơi các người dân vùng Berry vững chãi này trung thành với cách mạng chính vì họ sợ lại đặt lại vấn đề về việc mua tài sản nhà nước.
Cuốn tiểu thuyết lớn này không thành công mấy. Các tiểu thuyết George Sand viết cuối đời không bán chạy như thời trẻ. Tuy nhiên Nanon đã được sự ủng hộ của hai bậc thầy trong thế hệ các nhà tiểu thuyết mới: Émile Zola và Gustave Flaubert. Zola đã dành cho cuốn tiểu thuyết một bài tường thuật dài trong báo Cái chuông (ngày 30 tháng Mười năm 1872). Ông thấy đấy là một "bài thơ văn xuôi" huy hoàng: Nhà thơ nói về cuộc Cách mạng vĩ đại trong một khung cảnh điền viên. Tất cả nước Pháp già cỗi bị sụp đổ. Trên đống đổ nát, mọc lên một mùa xuân mới và hoa lá của tự do". Còn về Flaubert, ông viết cho George Sand rằng trong khi đọc, ông đã "bất giác kêu lên hai ba lần: Mẹ kiếp, hay quá" (Thư tín George Sand - Flaubert, tr.405-406).




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 02.12.2018 17:43:37 bởi Ct.Ly>
7 -  "Sức hấp dẫn không ngừng của vạn vật"
 
Kinh nghiệm cuộc đời 
 
Đã có một hình ảnh giản lược hóa về George Sand mà ta cần loại bỏ: sau năm 1848, George Sand có thể đã rút lui về Nohant - lúc ấy bà mới bốn mươi lăm tuổi - và bà đã không rời đất này cho tới khi qua đời (1876). Gần ba mươi năm ở ẩn ở nông thôn? Thực tế khác hẳn. Tất nhiên Nohant là nơi ưu tiên, nhưng từ trước vẫn vậy. Tuy nhiên bà đã nhiều lần đến ở nơi khác: bà đã đến ở Gargilesse nhiều đợt, nơi này là một nơi trú ẩn yên tĩnh, xa sự ồn ào của gia đình và bè bạn; năm 1864, bà còn chấp nhận cả việc để lại Nohant cho Maurice và vợ anh ta, và đến Palaiseau ở trong thời gian hơn một năm cùng với Alexandre Manceau. Bà vẫn có một ngôi nhà trú chân ở Paris, số 3, phố Racine, rồi 97, phố Feuillantines (90, phố Claude Bernard). Bà đến đấy xem diễn các vở kịch của bà, và gặp lại bè bạn trong các bữa ăn tối Magny nổi tiếng. Cuối cùng, bà là một người đi du lịch không biết mệt, những chủ yếu trong nước Pháp. Tuy nhiên từ tháng Ba đến tháng Năm năm 1855 bà đi Ý cùng với Maurice và Manceau. Bà đến Rome, rồi ở khoảng mười lăm ngày ở biệt thự Piccolomini ở Frascati. Tháng Năm và tháng Sau năm 1859, bà đi du lịch vòng quanh vùng Auvergne với Manceau và nữ diễn viên Bérengère. Sau khi bị bệnh sốt chấy rận cuối năm 1860, bà đi dưỡng bệnh ở gần Toulon ở Tamaris, bà ở đây bốn tháng cùng với Maurice và Manceau; rồi trở về qua Chambéry và vùng Savoie. Tháng Chín năm 1866, đi du lịch ở Bretagne; năm 1868, ở vùng Midi; thăm Flaubert ở Croissel, năm 1868 (bà đã đến đây một lần năm 1866). Hai cuộc du hành ngắn ở vùng Ardennes năm 1867. Người ta thấy rõ rằng, tuy bà vắng mặt ở Nohant trong thời gian ngắn nhưng khá nhiều lần.
 
 
Một sức hoạt động phi thường
Và hầu như bao giờ chuyến du lịch cũng dẫn đến một cuốn tiểu thuyết: chuyến đi Rome là ở ngọn nguồn dẫn đến La Daniella, vùng Auvergne là cảm hứng của Jean de la Roche (1860), Thành phố đen (1861), Hầu tước de Villemer (1861); Tamaris (1862) diễn ra ở vùng Midi; Cadio (1868) đầy ắp kỷ niệm vùng Bretagne; chuyến đi trong vùng núi Ardennes dẫn đến quyển Malgrétout (1870). Những ngày sống ở Gargilesse đã tạo cảm hứng cho quyển Dạo chơi quanh một ngôi làng. Sáng tạo văn học của George Sand ba mươi năm cuối đời, đa dạng đến kỳ lạ, và chúng tôi đã thử đề xuất một khái niệm về điều đó trong những chương trên đây. Nếu ta thêm vào với tiểu thuyết phần thư từ phần cuối của Truyện đời tôi, việc cộng tác với nhiều báo chí, những bài tựa người ta yêu cầu viết giúp và bà nhận làm, những tiểu luận như Kỷ niệm và cảm tưởng văn học (1862), Nhật ký một kẻ du hành trong chiến tranh (1871), Những lá thư mới của một khách du hành (1877), ta chỉ có thể kinh ngạc về sức sống trẻ trung, sự cởi mở của bà trước các biến đổi của thế giới, mong muốn giữ được liên hệ với một công chúng ngày càng rộng rãi. Cũng chính trong những năm này mà bà bắt đầu tiến hành việc xuất bản sách của bà theo giá rẻ, và được Tony Jouhannot minh họa.
Bí quyết của sự trẻ trung lâu dài đó, có lẽ là do tính hào hiệp, sức mạnh của các tình bạn ham muốn hiểu biết con người và sự vật. Bạn của bà ư? Than ôi họ đã ra đi khá nhiều trong ba thập kỷ này: Marie Dorval, Chopin, Phu nhân Marliani, Balzac, Latouche, Néraud, Rollinat, Bocage, Delacroix, Sainte-Beuve, chỉ để nói về những người đáng nhớ nhất. Vậy mà giống như Valmarina sau cái chết của Lélia bà lại cầm lấy cây gậy của người hành hương và lại lên đường. Mặt khác, số lượng người đến Nohant thật ấn tượng: diễn viên (Bérengère...) nhà văn (Gautier, Flaubert, Tourguéniev Dumas con - người mà bà gọi là "con trai tôi" và sẽ đem trở lại cho bà từ Ba Lan những thư bà gửi Chopin). Thiên hướng làm mẹ ngày càng rõ rệt cùng với tuổi, và những năm cuối cùng của bà, trẻ trung thêm lên nhờ tình cảm yêu thương đối với Alexandre Manceau. "Tôi cảm thấy mình thay đổi hẳn, tôi khỏe, tôi hạnh phúc", bà tâm sự với Hetzel như vậy. "Thư ký tâm phúc", tận tụy cực kỳ - đến lượt bà, bà sẽ săn sóc anh khi anh bị qụy năm 1865 do bệnh lao - Manceau đã ghi chép rất trung thành những sổ nhật ký của George Sand, nhật ký của những năm sống với anh.
Nhờ có Georges Lubin, việc phát hiện ra toàn bộ thư từ cũng chứng tỏ trong cuộc đời bà, gia đình đã đóng một vai trò lớn hơn người ta vẫn tưởng lâu nay. Bà sẽ khám phá ra nghệ thuật làm bà, niềm vui và nỗi đau đớn. Quan hệ của bà với con gái thường rất khó khăn, cô này có một cuộc hôn nhân không mấy tốt lành với nhà điêu khắc Clésinger; George Sand yêu một cách say mê cháu gái mình là Jeanne ("Nini") nhưng không may, cô bé qua đời rất sớm. Con trai bà lấy Lina Calamatta, cô con dâu lý tưởng, chính cô đã giữ gìn bản thảo của George Sand. Maurice và Lina có hai con gái, Aurore (1866) và Gabriella (1868), đối tượng bà viết tặng Truyện kể của một người bà.
Lúc nào George Sand cũng muốn tìm tòi. Từ lâu bà vẫn quan tâm đến phong tục vùng Berry. Bà đã làm công việc một nhà dân tộc học khi bà cho in trong tờ L'Illustration một loạt bài báo nhan đề "Phong tục tập quán vùng Berry; Các ảo ảnh ban đêm vùng nông thôn’’ . Cùng với Maurice bà tiến hành nghiên cứu văn học truyền miệng, và thu thập "bài ca lớn của cái kỳ diệu" tiếp nối từ thời đại này đến thời đại kia, bà sẽ tiếp cận "bài ca" này trong Truyện kể của một người bà. Bà còn làm nghiệp vụ một nhà sử về nghệ thuật và nhờ Mérimée can thiệp để cứu các bích họa thế kỷ XII của nhà thờ Vicq. Khi bà còn bé, Deschartres đã hướng dẫn bà về thực vật- về già, giống như Rousseau và Goethe, bà say mê thế giới thực vật, cả về khoáng vật học, nhờ đó có tác phẩm Laura.
Nhiều hoạt động khác nhau đến vậy không hề là phân tán; suy nghĩ của bà ngược lại trở nên sâu sắc hơn trước sự đa dạng của con người và thế giới. Thư từ trao đổi với Flaubert cũng là nơi để bà ghi nhận việc đào sâu và sự hiền minh bà vươn tới. Bà đã tách rời khỏi đạo Giatô, sự cuồng tín trở lại của nó khiến bà phẫn nộ - bà thể hiện điều đó trong La Daniella và trong Tiểu thư La Quintinie. Bà gần gụi hơn với đạo Tin lành, vì cảm thấy được tự do hơn trong tư duy, và bà khước từ sự ép buộc của Nhà thờ. Maurice và Lina chịu lễ ban phép của một mục sư Tin lành. Nói đúng ra, như ta đã thấy, tôn giáo của bà là Sự tuyên xưng đức tin của một giám mục vùng Savoie, nghĩa là một niềm tin ở Chúa pha thêm Phiếm thần luận, trong đó sự đồng cảm với Tự nhiên bao hàm một đồng cảm với nhân loại, nhưng lại không có những thất vọng Rousseau đã trải qua. Càng đi xa trên đường đời, bà càng muốn "tự phi cá nhân hóa"; trong một lá thư dài gửi David Richard, cũng là một lời tuyên xưng đức tin, bà khẳng định: "Lý tưởng của tôi không phải bản thân tôi. Khi sinh ra tôi đã được chiếu rọi do một ánh sáng không phải đến từ tôi và trong ánh sáng ấy tôi chỉ nhìn thấy người đã ban nó cho tôi", (Thư tín, t.XIII, tr.314). Trong một lá thư gửi Flaubert ngày 12 tháng Giêng năm 1876, nghĩa là trước khi mất ít lâu, bà định nghĩa quan niệm đạo đức của bà như sau: "Không đứng phía sau cửa kính mờ đục, qua đấy ta chỉ thấy có mũi của ta. Nhìn càng xa càng tốt, thiện, ác, bên cạnh, xung quanh, ngoài kia, khắp nơi; nhận ra sức hấp dẫn không ngừng của mọi vật sờ mó được hoặc không thể đụng chạm tới, đi đến tất yếu của cái thiện, cái tốt, cái chân, cái đẹp [Thư tín George Sand - Flaubert, tr.515-516]. Bà có tin ở thuyết luân hồi không? Trả lời Flaubert, vốn hay đùa chơi liệt kê hết các "cá tính đã mất" nay ông còn mang trong mình [Thư tín George Sand - Flaubert, tr.81] bà trả lời: "Nếu ta không còn nhớ gì rõ rệt, ta có một ý thức rất rõ về sự tái tạo của bản thân trong cõi vĩnh hằng [...]. Còn tôi, tôi tin rằng trước đây tôi là cây cỏ hoặc đá" (nt, tr.83). Điều đó bao hàm một đạo lý mỹ học nào đó. Nghệ sĩ là đàn ông hay đàn bà? Về thực chất anh ta là lưỡng tính. Chủ yếu, anh ta nên để trong mình vang lên tiếng ca của vũ trụ, mà không tự chế ngự: "Gió chơi trên cây đàn hạc cũ của tôi như ý nó muốn. Nó có nốt cao và nốt trầm, nốt mạnh và những lúc suy yếu, nói cho cùng, chẳng quan trọng gì đối với tôi, miễn là xúc cảm đến, nhưng tôi không thể tìm thấy gì trong bản thân tôi. Chính Kẻ kia mới ca hát theo ý thích của nó, hay, dở là tùy, và khi tôi thử nghĩ về cái đó, tôi thấy sợ và tự nhủ tôi chẳng là cái gì hết", (nt, tr. 102-103).
 
Laura
Phụ đề, Du hành trong tinh thể, khiến ta nghĩ tới Jules Verne, vào năm đó (1864) cũng xuất bản Du hành vào trung tâm trái đất, nhà sách Hetzel, bạn của George Sand. Laura biểu lộ khả năng cách tân và trí tò mò vô hạn của nhà văn. Người kể chuyện làm quen với một nhà buôn, ông Harz, vốn cũng là một nhà tự nhiên học; Harz đưa cho anh ta một bản chép tay đã úa vàng; đây là nhật ký thời trẻ của ông Harz, ông có tên Alexis, điều đáng ta phải chú ý: đó là tên một thầy tu trong Spiridion. Học việc về khoáng vật học Alexis yêu em họ là Laura, đến nghỉ hè ở nhà ông chú, nhà bác học Tungsténius. Để có được tình yêu của cô, Alexis đi tìm hốc tinh bắc cực cùng với Nasias, dường như là cha của Laura. Sau khi biết được Vườn Địa đàng, Nasias chết do tai nạn và Laura nhập vào ông. Cuối cùng Alexis kết hôn với Laura. Cuộc du hành hoang đường này chỉ là giấc mơ ở trung tâm của vật thể. Đây là một truyện ngắn huyễn hoặc nối tiếp kiểu truyện Bảy giây của cây đàn lia và nằm trong vòng ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn Đức, Laura báo hiệu sự phát triển của tiểu thuyết khoa học và viễn tưởng; cuốn sách này chủ yếu là dịp để George Sand biểu hiện niềm kinh ngạc của mình trước thế giới khoáng vật: ngọc tím, ngọc lam và kim cương soi sáng rực chuyến du hành huyền ảo này và long lanh hết cỡ trong văn xuôi của George Sand.
 
 
Truyện kể của môt người bà
Cũng chính thiên hướng kinh ngạc này lại xuất hiện trong Truyện kể của một người bà ra đời thành hai série (1873 và 1876), kinh ngạc trước các hiện tượng thiên nhiên nhưng cả trước nàng tiên Điện. Cái kỳ diệu có thường nhật, nhưng phải biết nhận ra nó. Cái thần tiên không nằm trong việc giải phóng các qui luật của tự nhiên, mà ngược lại trong việc khám phá ra các qui luật này. Các truyện kể trên thuộc lĩnh vực của cái diệu kỳ, không phải của cái hoang đường, có lẽ trừ truyện "Cây đàn ống của ngươi khổng lồ , có dáng vẻ của truyện Hoffman (ở đây nhân vật chính là một nghệ sĩ đứa trẻ tự khám phá thấy mình là một nhạc sĩ khi chơi đàn ống do nham thạch chảy từ bazan làm thành). Nhưng phần lớn thời gian, nhân vật chính chỉ cân có một cái nhìn đầy kinh ngạc, cái nhìn đó đã là rất nhiều rồi.
Biết nhìn, nhưng đúng hơn, phải biết nghe những tiếng nói bí ẩn của thiên nhiên. "Ta đã mở ra cho các con điều bí ẩn của gió", người kể chuyện nói như vậy (t.II, tr.141). Một số đầu đề khá là đặc trưng: "Cây sồi biết nói", hoặc "Hoa nói gì". Trong truyện kể này, một cô bé tưởng như nghe thấy các bông hoa nói; gia sư của cô bé nghĩ là cô bị ốm, nhưng người bà kết thúc cuộc tranh luận: "Tôi lấy làm ái ngại cho ông nếu ông chưa bao giờ nghe hoa hồng nói gì. Còn tôi, tôi tiếc thời tôi còn được nghe hoa nói. Đó là một khả năng của tuổi thơ. Hãy cẩn thận, đừng lẫn lộn khả năng với bệnh tật" (t.I, tr.19). George Sand đã thử kể các truyện này cho chính cháu gái mình vào các buổi tối ở Nohant. Giọng của người kể chuyện lấy lại và nối tiếp giọng của thiên nhiên, và tính truyền miệng là một trong những cái duyên của các văn bản ấy. Ở đây, George Sand không làm công việc một nhà nghiên cứu văn học dân gian; bà sáng tạo nhưng luôn tìm lại được cấu trúc, tiết tấu của truyện kể bình dân (điều này khá rõ trong nhiều chuyện nông thôn như François, đứa trẻ bị bỏ rơi). "Ngày xửa, ngày xưa...", tác phẩm cuối cùng của người phụ nữ đã viết không biết bao nhiêu, lại là một tụng ca dâng tặng lời nói.
Truyện kể là một cái gì khác hẳn trò chơi: về một phương diện, chúng mang lại trước cái chết lời kết thanh thản cho một cuộc đời dài và rất hoạt động. Bà "Tiên bụi" giải thích: Tôi gieo sự tiêu diệt để giúp cho mầm nẩy nở. Đối với mọi thứ bụi, dù chúng đã là cây cỏ, súc vật hay người, đều là như vậy. Chúng đều là cái chết sau khi đã là sự sống, và điều đó chẳng có gì buồn, bởi nhờ có tôi, bao giờ chúng cũng bắt đầu lại trở thành cuộc sống sau khi đã là cái chết". Khi ra đi, nàng tiên để lại một mẩu áo dạ
hội của nàng: "Tôi thực sự kinh ngạc: ở đấy có đủ hết; không khí, nước, mặt trời, vàng, kim cương [...] giữa mớ hòa trộn các mảnh vỡ không phân biệt được này, tôi nhận thấy đang lên men một cuộc sống gì tôi không rõ, của những sinh thể không sao nắm bắt được, chúng đang như tìm kiếm một nơi đâu đó để nở ra hoặc biến hóa, tất cả hòa quyện thành mây vàng óng giữa ánh sáng hồng của mặt trời đang lên (Rạng đông, t.II, tr.162-163).




0
Niên biểu


1804
Ngày 1 tháng Bảy, ngày sinh của Amandine- Aurore-Lucile Dupin, con gái Maurice Dupin và Antoinette-Sophie-Victorie Delaborde, sau này lấy bút danh George Sand.
 
1808
Cô bé Aurore đến Tây Ban Nha gặp bố, sĩ quan chuyên nghiệp. Tháng Chín, ông qua đời do tai nạn ngã ngựa gần Nohant.
 
1808-1818
Ngoài một số buổi đi thăm mẹ ở Paris, Aurore sống thời thơ ấu ở Nohant cùng với bà nội.
 
1818-1819
Nội trú ở nhà tu Augustines ở Paris.
 
1820
Trở lại Berry.
 
 
1821
Phu nhân Dupin de Francueil, bà của Aurore, qua đời.
 
1822
Kết hôn với Casimir Dudevant.
 
1823
Maurice Dudevant, con trai của George Sand, ra đời. Sau này cậu sẽ lấy tên là Maurice Sand.
 
1825
Đi du lịch ở vùng núi Pyrénées. Aurore quen với Aurélien de Sèze.
 
1827
Đi du lịch ở vùng Auvergne. Quan hệ yêu đương với Ajasson de Grandsagne.
 
1828
Con gái là Solange ra đời.
 
1830
Đến ở Paris.
 
1831
Cộng tác với nhân tình là Jules Sandeau, viết một truyện ngắn, La Prima Donna (Đệ nhất phu nhân), và hai tiểu thuyết Người môi giới, Rose và Blanche.
 
1832
Xuất bản Indiana, ký tên "G.Sand" rồi Valentine với bút danh "George Sand".
1833
Xuất bản Lélia. Bắt đầu yêu Musset. Đi Venise.
 
1834
Ở Venise rồi trở về Pháp với Pagello. Hoạt động văn học rất sôi nổi.
 
1835
Kết thúc cuộc tình với Musset.
 
1836
Xuất bản Simon. Đi du lịch ở Thụy Sĩ cùng Liszt và Marie d'Agoult.
 
1837
Xuất bản thành sách Thư của một khách du hànhMauprat. 
 
1838
Xuất bản Aldini cuối cùngNhững nghệ nhân tranh ghép. Bắt đầu yêu Chopin. Đến ở Majorque.
 
1839
Trở về Pháp. Xuất bản Spiridion, Uscoque và một văn bản mối của Lélia.
 
1840
Xuất bản Bảy giây của cây đàn liaNgười học việc trong chuyến đi vòng quanh nước Pháp.
 
1841
Xuất bản Horace. Sáng lập Tạp chí Độc lập cùng với Leroux và Viardot.
 
1842
Xuất bản Một mùa đông ở MajorqueConsuelo.
 
1843
Bắt đầu Nữ bá tước de Rudolstadt, tiếp sau Consuelo.
 
1844
Xuất bản Jeanne.
 
1845
Xuất bản Người chủ cối xay AngibaultTội lỗi của ông Antoine.
 
1846
Xuất bản Ao ma.
 
1847
Bắt đầu viết Truyện đời tôi.
 
1848
George Sand tham gia chính trị: "Thư ngỏ". Xuất bản Cô bé Fadette.
 
1849
Diễn vở François, đứa trẻ bị bỏ rơi ở rạp Odéon.
 
1850
Bắt đầu mối tình với Manceau.
 
1851
Diễn vở Claudie ở Rạp Porte Saint-Martin. Xuất bản Lâu đài des Désertes.
 
1853
Xuất bản Những nghệ nhân thổi kèn túi.
 
1854
Bắt đầu xuất bản Truyện đời tôi trong La Presse.
 
1857
Xuất bản La Daniella.
 
1858
Xuất bản Các quý ông xứ Bois-DoréNgười tuyết.
 
1859
Xuất bản Nàng và Chàng.
 
1860
Xuất bản Hầu tước de Villemer.
 
1862
Xuất bản Tamaris.
 
1863
Xuất bản Tiểu thư La Quintinie và bắt đầu trao đổi thư từ với Flaubert.
 
1864
Thành công lớn của vở Hầu tước de Villemer ở rạp Odéon. Xuất bản Lời tự thú của một thiếu nữ.
 
1865
Xuất bản Ông SylvestreLaura.
 
1866
Xuất bản Mối tình cuối cùng.
 
1867
Xuất bản Cadio.
 
1870
Xuất bản Malgrétout
 
1871
Xuất bản Nhật ký một kẻ du hành trong chiến tranh.
 
1872
Xuất bản Nanon.
 
1873
Xuất bản Truyện kể của một người bà.
 
1874
Xuất bản Chị Jeanne của tôi.
 
1875
Xuất bản FlamarandeTòa tháp Percemont.
 
1876
Ngày 8 tháng 6, George Sand qua đời.





0