📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Ước Mơ - Christine Arnothy 🔒

34 trả lời, 5.732 lượt xem — Trang 2 / 2
Chương 18
Đến Munich, chúng tôi mới biết rằng nếu tôi muốn đi thăm bố mẹ tôi, chúng tôi phải vượtqua biên giới nước Áo một cách bất hợp pháp. Nước Áo vẫn  còn  bị chiếm đóng bởi bốn cường quốc và chính các cường quốc ấy thành phố cho chúng tôi hộ chiếu sau nhiều tháng dài chờ đợi. Tôi không muốn chờ đợi.
Chúng tôi, Georges và tôi quyết định rằng chúng tôi sẽ làm phép cưới theo nghi thức tôn giáo và sau đó chúng tôi sẽ tìm đủ mọi cách để đi thăm bố mẹ tôi.
Tôi rất sợ phép cưới tại nhà thờ. Nhưng được nuôi dạy trong một gia đình ngoan đạo, tôi muốn trung thành với truyền thống gia đình.
Tại Munich, chúng tôi ở tại nhà của một người bạn cũng nghèo như chúng tôi, nhưng giàu lòng tương thân tương ái. Một ít lâu sau đó, một hôm vào lúc tám giờ sáng, tôi đứng bên cạnh Georges nghiêm nghị, trong một ngôi nhà thờ nhỏ ở Munich. Đứng trước bàn thờ và nghĩ đến những bà  già móm đang lẩm bẩm đọc kinh cầu nguyện, tôi có cảm giác rằng cái lưng của tôi rộng như một tấm phản. Không biết các bà già ấy có khám phá ra rằng cô dâu không còn có thể gài nút áo măng tô của mình lại được nữa hay không? Ôi, nếu tôi có một cái áo măng tô thật rộng, tôi đã có thể che giấu được tôi với đứa con của tôi! Nhưng bởi vì tôi chỉ có cái áo cũ này, mọi người đều có thể thấy rõ ràng là tôi đang mang bầu.
Chúng tôi quỳ xuống trong lúc linh mục cử hàng lễ Misa. Tôi lạnh nhưng trên ghế qùy đọc kinh tôi không thể kéo hai vạt áo măng tô sát vào người được. Tuy nhiên, tôi không muốn con tôi cảm lạnh, tôi chỉ nghĩ tới nó. Tâm hồn lâng lâng trong một niềm tê mê khó tả, trong lúc cầu nguyện, chính với đứa con của tôi mà tôi đã thề trung thành suốt đời..Ra khỏi nhà thờ, tôi muốn thú thật với Georges rằng những lời thề nguyền, tôi chỉ đã thốt ra khi nghĩ đến đứa con của tôi. Nhưng khi Georges quay về phía tôi, tôi thấy nét mặt cảm động của anh, nên tôi đành im lặng.
Bàn tay trái của tôi trong bàn tay anh, còn bàn tay mặt thì tôi đặt lên trên cái áo măng tô của tôi, chúng tôi đi ăn sáng.
Vị linh mục già, với nụ cười hiền lành và vô ngã, đã cho chúng tôi địa chỉ của một trong những người bạn thân của ngài, một linh mục tại một làng nhỏ gần biên giới nước Áo.
Mới tang tảng sáng chúng tôi đã đáp chuyến tàu địa phương đưa chúng tôi đến ngôi làng đang ngập nước mưa. Chúng tôi băng qua con đường chính và đi vào một con đường hẻm quanh co theo sườn núi. Ngôi làng nằm sâu trong cái thung lũng nhỏ ấy, có lẽ cũng ít có ánh mặt trời ngay cả vào tháng Bảy. Chúng tôi cứ đi theo cái bản đồ mà vị linh mục già đã vẽ trên nửa tờ giấy để chúng tôi khỏi phải hỏi thăm đường với dân trong làng.
Tôi quay về phía Georges.
-         Anh có thấy trong những hòn núi kia có cái gì giống như là một con đường không?
Anh nhìn chung quanh như thuyền trưởng một con tàu và lắc đầu:
-         Anh không tưởng tượng được bằng cách nào vị cha xứ ở đây sẽ đưa chúng tôi vượt qua biên giới được.
Áo măng tô của chúng tôi càng lúc càng nặng hơn vì nước mưa và chúng tôi đứng lại trước một ngôi nhà nhỏ được chăm sóc chu đáo bên cạnh một con đường hẹp và dốc. Georges kéo sợi dây của cái chuông nhỏ trước cửa. Tiếng chuông mau chóng được át đi bởi cơn mưa tầm    tã. Nhìn về phía hòn núi dựng đứng ngay ở phía sau ngôi nhà, tôi thấy một con suối đầy bọt chảy ào ào từ trên cao xuống thung lũng.
Cửa mở một cách đột ngột, một người đàn bà tóc hoa râm đứng nơi ngưỡng cửa có vẻ hiền lành  và ngạc nhiên vì sao chúng tôi đến tận nơi này.
-         Chúng tôi có thể gặp cha xứ không, thưa bà? – Georges hỏi và vì anh nói tiếng Đức rất thành thạo nên đã xua tan được sự phân vân của bà quản gia.
Không cởi áo măng tô ra, chúng tôi bước vào trong phòng ăn, nơi đó một bộ đồ ăn đã được dọn sẵn và một bình cà phê lớn bằng đất nung.
-         Các người hãy ngồi xuống đi – bà quản gia bảo với chúng tôi  - Cha xứ vừa cử hành lễ Misa xong, trong vài phút nữa ngài sẽ đến đây để ăn sáng.
-         Em đói bụng kinh khủng – tôi nói nhỏ vào tai Georges và tôi thấy ổ bánh mì thôn quê với bơ tươi càng lúc càng có vẻ ngon lành hơn.
Cha xứ đã đến và tiếp chúng tôi rất niềm nở, nhất là khi ngài biết chúng tôi được bạn thân của ngài giới thiệu. không hỏi rõ lý do vì sao chúng tôi đến đây, ngài rung cái chuông đồng nhỏ để gần đĩa thức ăn của ngài, sau đó ngài bảo bà quản gia đem đến hai cái bát nữa, cha xứ mời chúng tôi ăn sáng với ngài.
Đã từ lâu rồi, tôi chưa bao giờ ăn ngon như hôm ấy. Trong khi ăn, chúng tôi trình bày điều dự định của chúng tôi.
Linh mục lập tức tỏ vẻ rất âu lo:
-         Biên giới gần đây thôi – ngài nói – Nhưng Cha không muốn liều lĩnh làm một việc như thế. Các con hãy trở lại Munich và hãy an tâm chờ đợi hộ chiếu.
Tôi thất vọng não nề, nhưng tôi nói:
-         Thưa Cha, con đang đợi ngày sinh nở, con phải gặp bố mẹ con trước ngày đứa bé chào đời.
Cha xứ nhìn tôi với đôi mắt hoảng hốt.
-         Con muốn đi  bộ để vượt qua biên giới trong lúc chờ ngày sinh nở sao?
Tôi phải thuyết phục ngài:
-         Con van Cha, Cha hãy tin con. Con còn đi bộ được rất giỏi. Vị linh mục ở Munich có nói với chúng con rằng chỉ phải đi bộ mười cây số thôi. Chúng con sẽ đi chầm chậm, nhưng con phải gặp bố mẹ con, con sẽ không có được một chút an tâm nếu con không thể gặp được bố mẹ con.
Và tôi phải nói thêm để chứng minh:
-         Con đã đi bộ ba mươi lăm cây số với bố mẹ con khi chúng con đã phải vượt qua biên giới Áo – Hungari. Lúc bấy giờ con không đợi ngày sinh nở, nhưng đó cũng là một thành tích đáng kể.
Khuôn mặt tinh anh của cha xứ, rực rỡ vẻ già nua cao quý, đã trở nên dịu dàng:
-         Khốn khổ thay! Tội nghiệp thay thế hệ đầy thử thách của các con!
Tôi rất xúc động đến nỗi bàng hoàng vì những lời ấy, những lời đáp từ quá khứ trở lại trong trí não tôi như một tiếng vang, một tiếng vang vọng xa xăm nhưng rõ ràng và buồn bã. Ông Radnai trong căn hầm…Trong thời kỳ ghê sợ Budapest bị vây hãm…Khi ông Radnai nhìn tôi, đôi mắt ông nhoà nước mắt và dịu dàng một cách lạ lùng, ông thuộc hạng người bị ngược đãi, bị hãm hại mà sự dã man của thế gian làm cho ông phải run sợ. Nhưng ông không còn nghĩ đến chính ông mà nghĩ đến những thanh niên vì chúng còn muốn sống… Thế hệ tội nghiệp, ông nói trong những đợt phi cơ oanh tạc dữ dội. Lúc bấy giờ tôi mười lăm tuổi và, thời kỳ đó, những lời ấy làm cho tôi tràn trề một niềm hãnh diện phi thường, một niềm hãnh diện vô hạn có khả năng triệt tiêu sự sợ hãi.
-         Christine..Christine…
Giọng nhấn mạnh của Georges đã làm cho tôi trở lại với thực tế sau phút bàng hoàng.
Cha xứ tỏ vẻ lo âu.
-         Con thấy trong người không được khoẻ phải không?
-         Ồ, không, cám ơn Cha, con khoẻ, con chỉ suy nghĩ mà thôi..
Cha xứ đứng lên: 
-         Các con, điều quan trọng là đừng để cho ai thấy trong lúc chúng ta leo núi – nhìn tôi với vẻ phân vân, chính ngài lo âu khi nghe tiếng "núi" do ngài vừa thốt ra. Tôi uốn cong mình, ưỡn ngực ra và thóp bụng vào để chứng minh tôi thanh mảnh và thể thao biết bao, sẵn sàng đương đầu với cuộc đi dạo không đáng kể này.
Trong tiền phòng, linh mục lấy áo măng tô đen và cái dù đen của ngày và gọi:
-         Bà Hilda đâu?
Bà quản gia xuất hiện.
Ngài nói:
-         Một giờ nữa Cha sẽ trở về.
Ra khỏi nhà, chúng tôi đi vòng quanh ra phía sau vườn nhà. Sau vài phút bước đi dưới cơn mưa tầm tã ấy, chúng tôi vượt qua bờ rào và leo lên dốc đứng, rải rác lá thông và lá rừng mục nát.
Chúng tôi đi hàng một. Cái dù đen của cha xứ đu đưa ở giữa những cây cối như một cây nấm. Nước kêu bì bõm trong giày của tôi và tôi nắm tay Georges đang đi sau lưng.
Trời đột ngột bớt mưa và tôi có cảm giác hình như dân làng, đứng tựa cửa sổ, đang nhìn chúng tôi một cách chăm chú. Chúng tôi dễ bị người ta trông thấy xiết bao, chúng tôi giống như những con kiến lớn đang leo núi một cách vụng về, được hướng dẫn bởi một cái dù.
Khi chúng tôi lên đến đỉnh núi, mưa đã dứt hẳn và dưới chân núi, chúng tôi thấy trải dài trước mắt một đồng cỏ mênh mông và ở rất xa, chúng tôi thoáng thấy một nông trại, còn bị bao phủ trong sương mù. Chúng tôi còn đoán biết được những con bò sữa, nhỏ như những giọt nước.
Vị linh mục già nói với chúng tôi:
-         Khi đến nông trại ấy, các con đừng sợ. Những người ở đó rất tốt bụng. Gần cái trại ấy các con sẽ thấy một con đường sẽ dẫn các con vào trong một khu rừng nhỏ. Các con cũng sẽ thấy một nhà thờ nhỏ, nơi đó cha cử hành lễ Misa vào ngày chủ nhật, cứ hai tuần một lần và sau cái nhà thờ nhỏ ấy, các con sẽ có đường quốc lộ, một con đường bê tông. Đó đã là nước Áo. Đi theo con đường ấy, các con sẽ thấy một ngôi làng, từ đó có một chuyến tàu lửa đưa các con đến Kufstein.
Linh mục quay gót ngay lập tức, không đợi chúng tôi nói lời cám ơn và ngài biến mất sau các cây cối.
Thế là chúng tôi đang ở bên một bờ thế giới mà chúng tôi còn chưa biết, cô độc, chỉ có hai chúng tôi với nhau, phó mặc cho may rủi ở biên giới vô hình chia cách hai quốc gia.
-         Nào, chúng ta đi thôi – Georges nói với tôi và chúng tôi bước di trong cỏ cao ướt sũng nước, làm cho hai chân tôi lạnh cóng. Nhưng vì sao sự lạnh lẽo lại làm cho tôi khó chịu được trên con đường sẽ đưa tôi đến gặp bố mẹ tôi?
tôi hân hoan với ý nghĩ đã lập được một thành tích lớn. Tôi nhìn trước chân tôi. Tôi không muốn vấp váp một cách vô ích. Tôi nghĩ đến đứa con của tôi mà đây là cuộc hành trình đầu tiên của nó.
Khi tới nông trại, tôi gặp mấy đứa nhỏ, chúng nhìn chúng tôi với những cặp mắt ngơ ngác trong lúc chúng tôi bước vào trong nhà bếp của nông trại.
Khi bà chủ nhà biết rằng chúng tôi đến đây theo lời chỉ bảo của cha xứ, bà đặt lên trên bàn hai bát sừa còn nóng và hai ổ bánh mì lớn. Bà không nhận số tiền mà Georges trao cho bà và cô con gái lớn của bà đưa tiễn chúng tôi đến tận ngôi nhà thờ nhỏ. Khi chúng tôi đã đặt chân lên trên con đường lớn, con đường trên đất nước Áo, tôi bắt đầu run.
-         Can đảm thêm một chút nữa, chúng ta sẽ đến được nhà ga – Georges nói với tôi.
Nhưng tôi chỉ thấy một ngôi làng cũng xa lắc xa lơ như cái nông trại khi chúng tôi đã thoáng thấy nó từ trên đỉnh núi.
Tôi bước đi như một người máy và mặt trời chỉ còn để lại trên cánh đồng một vạch màu vàng yếu ớt. Georges nhìn đồng hồ của anh.
-         Bốn giờ rưỡi – anh nói.
Chúng tôi đã ra đi từ ngôi làng ở bên kia núi lúc tám giờ rưỡi.
Tôi muốn nói chuyện với Georges, bỉêu lộ những tư tưởng thầm kín của tôi, nhưng anh rất ghét tôi đả động đến những tình cảm tương phản của chúng tôi. Tuy nhiên, tôi muốn nói với anh rằng mặc dù tâm hồn anh khép kín, chúng tôi không  bao giờ cảm thấy hoà hợp xiết bao như trong cuộc hành trình rồ dại này.
-         Này Georges?
Tôi đã kêu tên anh để làm cho anh chú ý đến tôi.
-         Em mệt lắm phải không?
-         Ừ, nhưng điều ấy không quan trọng một chút nào, em muốn nói với anh rằng…
Tôi năn nỉ anh một cách thầm lặng "anh hãy giúp đỡ em, chúng ta có một cơ hội duy nhất và tuyệt vời để hiểu thấu nỗi khó khăn riêng và chia sẻ tâm tư, tình cảm của nhau".
Nhưng anh không để ý nhận thấy gì cả.
Đến gần nhà ga, tôi không còn đi được nữa, tôi lết.
 
Toa tàu trống trơn, tôi có thể nằm trên một cái ghế dài.
Tôi nhắm mắt lại và nghĩ rằng cuộc hôn nhân của chúng tôi là cuộc hôn nhân thật sự, không phải như một cuộc hôn nhân mà tôi đã thấy cử hành tại sứ quán Pháp ở Budapest năm 1945, để có thể xuất cảnh với một giấy thông hành! Nhưng tôi không muốn hồi tưởng tất cả những chuyện xưa cũ ấy. Có thể một ngày nào đó, tôi sẽ kể lại những chuyện ấy.
Georges đánh thức tôi dậy ở Kufstein.
Tôi thấy lại nhà ga nhỏ giống như lúc tôi ra đi cách đây một năm. Trời đã tối khi tôi đến gần căn nhà gỗ nơi bố mẹ tôi ở. Nơi cửa sổ có ánh đèn. Tôi ra dấu cho Georges và chúng tôi nhìn bố mẹ tôi ngồi lặng lẽ chung quanh một cái bàn. Gian phòng đã có sự thay đổi. Tôi thấy đâu đâu cũng có sách, bố tôi đang viết và mẹ tôi đang mạng một cái áo sơ mi. Mặc dù mệt lử, tôi cũng chần chờ, tôi sợ quấy rầy sự yên tĩnh của bố mẹ tôi một cách đột ngột.
Khi tôi gõ cửa, mẹ tôi ra mở và sửng sốt vài phút khi trông thấy chúng tôi.
Tối hôm ấy  vui vẻ biết bao! Tôi sung sướng  tìm lại được một sự an tâm mà tôi đã cảm thấy thiếu thốn kinh khủng. Bố mẹ rất niềm nở với Georges, đã ôm chặt anh vào lòng như một đứa con trai trở về nhà sau một chuyến đi du lịch xa dài ngày. Khi biết được rằng tôi đang đợi ngày sinh nở và chúng tôi đã vượt qua biên giới một cách bất hợp pháp, bố mẹ tôi sửng sốt đến nỗi không tìm được lời nào để nói ra.
Mẹ tôi đặt tôi nằm trên giường và chèn nhiều cái gối chung quanh tôi. Tôi nằm mà ăn bữa tối. Tôi muốn cười và khóc vì sung sướng . Tôi yêu bố mẹ tôi biết bao! Và nhờ có bố mẹ tôi mà tôi sắp trở thành lại là một đứa con gái nhỏ, dù chỉ trong thời gian hai ngày…
Sự trở về của chúng tôi đã kích động lòng người trong trại tị nạn và cuối ngày thứ hai, ông trưởng trại đã phái một nhân viên đến cảnh cáo chúng tôi rằng ông muốn xem giấy tờ của chúng tôi sáng ngày hôm sau.
 Sáng hôm sau, chúng tôi buộc lòng phải từ giã Kufstein để trở về Paris, bằng cách đi ngược chiều con đường đã đưa chúng tôi từ Paris đến Kfustein. Bố tôi tiễn đưa chúng tôi đến tận biên giới Áo – Đức
 Một cuộc ly biệt ruột đau như cắt. Ngày hôm ấy tôi đã tự hứa với mình rằng tôi sẽ làm tất cả những gì tôi có thể làm để có được bố mẹ tôi bên cạnh suốt đời.
Trước khi đáp xe lửa từ Munich đến Paris, tôi đã đi khám thai tại một bác sĩ chuyên môn theo lời dặn của mẹ tôi, bác sĩ đã khám cho tôi và nói:
-         Hông của bà rất hẹp. Có thể có những rắc rối. Bà phải cẩn thận. Bà cần phải có một bác sĩ giỏi lúc lâm bồn…
Chúng tôi đã đáp xe lửa trở về Paris ngay tối hôm ấy.
0
Chương 19
Về đến Paris, chúng tôi trở lại căn phòng nhỏ ở lầu tám, nơi nương náu duy nhất của chúng tôi và Georges ra sức kiếm việc làm. Anh đến gõ cửa tất cả những nơi nào có lời rao cần một người đàn ông trẻ tuổi có khả năng. Trong những ngày đầu tiên kể từ ngày chúng tôi trở về Paris, tôi đợi anh, nằm dài trên ghế đi văng, với một quyển sách mua vài francs tại một tiệm sách cũ. Tôi đọc từ sáng đến tối, nhưng chỉ cần ngẩng đầu lên là buồn nôn buộc lòng phải chạy dọc theo hành lang đến phòng vệ sinh. Tôi đói, đói một cách khẩn thiết, một cách dữ dội, khó mà thoả mãn được. Nhưng chúng tôi có rất ít tiền, đến nỗi tôi không dám đặt chân vào các nhà hàng sang trọng ở chung quanh toà nhà nơi chúng tôi đang ở. Tôi phải cùng di với Georges đến tận đường Passy và ở đó, với năm mươi francs, chúng tôi mua tại một tiệm tạp hóa dầu ăn, xà lách, khoai tây và thỉnh thoảng mới mua được một miếng thịt lợn. Nhưng trong những buổi chiều dài đăng đẳng, tôi TT những  bàn ăn dọn rất mỹ thuật, có hoa rải rác trên một tấm khăn bàn thêu, những bộ đồ ăn bằng bạc sáng loáng dưới ánh đèn màu. Và trên cái bàn sang trọng ấy, tôi thay đổi thực đơn gồm toàn những món ăn ngon. Trước khi chúng tôi đi qua Đức, chúng tôi còn một phần tư lít nước chống nôn, nhưng từ khi trở về, thứ thuốc nước ấy là một xa  xỉ phẩm quá đắt tiền đối với chúng tôi.
Đôi khi tôi cảm thấy trong người hơi khoẻ, trong lúc Georges vắng mặt, tôi đến tựa cửa sổ nhìn các mái nhà của Paris. Lúc bấy giờ mới đầu mùa xuân, hoàng hôn rũ bóng nhanh, nhưng cũng có những lúc cái mái nhà được tô điểm màu hồng và tháp Eiffel giống như một bức tranh hoạ của trẻ con vẽ bằng bút lông. Ôi, từ cái cửa sổ ấy, Paris hình như rất xa! Tôi bị giày vò bởi ý nghĩ rằng tôi sẽ chết sau khi sinh con. Trong bốn tháng còn lại của cuộc đời, tôi muốn viết một cuốn tiểu thuyết khác. Nhưng tôi không đủ sức khoẻ để viết, tôi đau lưng không thể chịu đựng nổi và tôi luôn luôn đói bụng. Georges về lúc trời đã tối Lòng tôi tràn đầy lo âu, nhưng làm sao tôi có thể kể lể với chàng trai kiệt sức ấy, trở về nhà, mặt mày xanh xao và chán nản sau một ngày đi kiếm việc làm nhưng không có kết quả? Tôi đinh ninh rằng cuộc đời sau này của tôi, nếu tôi còn sống sót sau khi sinh nở, chỉ là một cuộc sống buồn tẻ, sống khổ sống sở, vô tri vô giác như cỏ cây.
Ban đêm, khi đứa con đạp trong bụng tôi, tôi cảm thấy được ngón chân nhỏ bé và nhọn của nó  và trong bóng tối, tôi thì thầm lập lại rằng mẹ muốn con khoẻ mạnh, thật khoẻ mạnh.
Tôi không thể xd được thái độ của tôi đối với Georges. Kể từ lúc nào tôi đã bắt đầu im lặng? có lẽ tôi là một người ích kỷ không muốn bị đau khổ hay là một người tự cao tự đại không bao giờ chịu thú nhận sự thất bại của mình? Tôi muốn giữ chặt niềm hạnh phúc của tôi, mặc dù đó chỉ là hạnh phúc bề ngoài và khi anh ngủ, Georges nằm ngủ trên một tấm nệm để dưới đất gần một  bên giường của tôi, tôi cảm thấy tôi có trách nhiệm đối với anh. Bây giờ tôi có thói quen sắp xếp áo quần đồ đạc của anh cho có ngăn nắp, như thể tôi là bảo mẫu của anh hồi anh còn thơ ấu và để tự an ủi, tôi phải lặp đi lặp lai những câu cũ rích như thế này "Đàn ông luôn luôn vẫn là một đứa trẻ".
Nhưng khi nhìn tháp Eiffel, tôi không ngừng nghĩ đến lần tôi cùng Georges leo lên tháp ấy cách đây một năm và con quái vật bằng đăng ten sắt ấy làm cho tôi khâm phục nhưng đồng thời cũng làm cho tôi khiếp đảm.
Trong tình cảnh hầu như tuyệt vọng ấy, chúng tôi có được một hy vọng mong manh. Một trong những người bạn Hungari của chúng tôi phải toan tính một chuyện khó khăn, vận động để chúng tôi được định cư tại nước Bỉ. Trong thâm tâm, tôi rất buồn phiền khi nghĩ rằng để có thể sống được, chúng tôi phải rời khỏi nước Pháp và tôi biết rằng nước Pháp đích thực, nước Pháp êm đềm và niềm nở, còn chưa bày tỏ bộ mặt thật của nó đối với chúng tôi. Đôi khi tôi muốn kêu lên, hỡi nước Pháp, tôi đang ở đây, tôi yêu mến người, tôi ngưỡng mộ người, tôi muốn viết tiểu thuyết bằng tiếng Pháp, tôi muốn nước Pháp là tổ quốc thứ hai của tôi, bởi nước Pháp lớn lao và tuyệt vời, vì sao người không muốn biết rằng tôi đang ở đây?
Những mái nhà và những làn khói màu xám bốc lên một bầu trời điềm nhiên không trả lời tôi.
Xưa kia, không bao giờ tôi nghĩ rằng người ta có thể đói khát và nhìn các món đồ ăn trưng bày trong một cửa hàng tạp hoá một cách thèm thuồng. không xa toà nhà chúng tôi ở bao nhiêu, có một cửa hàng như thế và một hôm tôi thấy trong tủ kính có treo một nải  chuối. Các trái chuối mới đầu còn xanh, nhưng ôi thôi, giá của chúng đắt khủng khiếp! Mỗi ngày chúng càng vàng hơn. Đôi khi tôi đi ngang qua thật nhanh trước cửa hàng ấy, tôi thấy bà chủ tiệm cắt bốn hay năm trái với một con dao thật to. Quả thật tôi rất muốn được ăn một trái.
Một hôm Georges trở về với một tin mừng. Anh đã tìm được việc. một người Hungari làm nghề thợ mộc, lập nghiệp ở Pháp đã lâu, muốn người vợ Pháp của ông học tiếng Hungari. Thế là ông thuê Georges dạy cho vợ ông mỗi ngày một bài trong thời gian một giờ với thù lao hai trăm francs. Điều khó khăn duy nhất là họ ở gần Invalides, mà chúng tôi thì ở tận Passy, nếu đi tàu điện ngầm thì tiền vé ngốn gần hết tiền thù lao. Georges quyết định đi bộ. Sáng hôm sau là ngày anh ấy dạy bài đầu tiên, tôi đi theo anh đến nhà người thợ mộc. Người ta đã nói nhiều với chúng tôi rằng nếu một người có thai mà đi bộ nhiều ẽ đẻ dễ dàng hơn.
Trong lúc Georges giảng bài, tôi ngồi chơi trong xưởng mộc trên một cái ghế đẩu. Tôi thở thật sâu để chịu đựng mùi keo dán gỗ tạt vào mũi tôi như những làn sóng nhỏ tan ra khi vỗ vào một tảng đá.
Người thợ mộc, diêm bào lên đến mắt cá, thỉnh thoảng nói với tôi:
-         Bà khoẻ chứ? – rồi ông ta cúi xuống chăm chú bào tiếp. Ông ta nói với tôi những câu ngắn gọn và không đợi tôi trả lời – Bởi vì tình yêu, thưa bà, đó là sự sống, sau tình yêu là đứa con, những lo âu, những niềm hạnh phúc nho nhỏ. Bà có một người chồng trẻ trung, ông ấy sẽ thành  công, nhưng không dễ dàng khi người ta sống xa quê hương xứ sở…Tôi, tôi ở đây đã hai mươi năm, tôi đã tranh đấu trong bao nhiêu năm ấy, tôi có quốc tịch Pháp, vợ tôi người Pháp, các con tôi là dân Pháp, chúng không biết một tiếng Hungari nào. Tôi biết làm sao được, chúng biết tiếng Pháp, đó là điều tự nhiên. Bà thấy đó, tôi đâu có thời giờ. Tôi là người ở Szeged…Chắc bà biết Szeged? Thành phố đẹp. và Budapest. Mẹ tôi mới chết cách đây hai năm. Bà không bao giờ hiểu được làm sao người ta lại có thể chung sống với một người không phải là người Hungari. Mẹ tôi, bà rất gan dạ, tám đứa con và hai lần đẻ non. Không phải để làm cho bà sợ, nhưng sinh đẻ không phải là chuyện dễ..
Ở đây, tôi bị xâm chiếm bởi cảm giác của một cuộc đời bất diệt, tồn tại đời đời, một cuộc đời êm đềm, một cuộc đời hạng ba, đơn giản và nhân hậu. Ở đây ấm áp, phòng kế cận có những tiếng thì thầm, một người khách hàng hiêm hoi đến để nói chuyện hơn là để đặt hàng. Nhưng người thợ mộc không ngừng làm việc, mà tôi nhìn ông ta với vẻ khâm phục. Đó là một người đàn ông có một phòng ngủ, một cái bàn ăn, bát đĩa và thức ăn đủ nhu cầu. Ở đây tôi có một sự khát khao tột độ muốn có một chỗ ở nho nhỏ, một cái tủ với ít nhất hai cái áo dài và một chiếc áo măng tô thật rộng và thật ấm. con tôi sẽ sinh ra ở đâu? Ở trong cái nhà nào và ở đât nước nào?
Sau bài học, bà vợ ông thợ mộc đãi chúng tôi một ly cà phê nóng hổi. Cả hai vợ chồng người thợ mộc tưởng rằng Georges đi dạy suốt ngày, họ không bao giờ ngờ rằng chúng tôi sống hàng ngày với hai trăm francs của họ. Bảy giờ tối chúng tôi ra về. Trong lúc lội bộ trở về, tôi có cảm tưởng thành phố rộng mênh mông và các con đường dài vô tận. Bám chặt vào cánh tay của Georges, tôi đi một cách cẩn thận từng việc chầm chậm và đều đặn, tôi không muốn làm động đứa con trong bụng tôi.
Georges nói:
-         Em sẽ sinh nó ra dễ như người ta bỏ một bức thư vào hộp thư…
Tôi không thích anh so sánh như thế, cái kiểu so sánh ấy hơi chạm lòng tự ái của tôi, tôi không hiểu vì sao, nhưng giả vờ vui vẻ, tôi đáp:
-         Ừ.
Tuy nhiên trong thâm tâm tôi chuẩn bị để chịu một thảm trạng. một cách vô tâm, tôi sống trong hàng ngàn cuộc hấp hối tưởng tượng. Tôi thấy Georges goá vợ, với một người vợ khác còn trẻ hơn tôi nữa kia. Tôi không bao giờ có thể hiểu được cái tính kỳ  cục của anh, chỉ thích những người trẻ trung, chính anh cũng trẻ trung biết bao. Đối với anh, một người ngoài ba mươi tuổi đã là một người lớn tuổi và nếu đó là một người đàn  bà, thì ôi thôi, tốt hơn là đừng nói đến nữa. một người đàn bà ba mươi tuổi! thật là kỳ cục, có một lần anh nói với tôi rằng tôi còn bảy năm nữa để mặc những áo dài màu sắc rực rỡ, bởi vì sau tuổi ba mươi thì phải coi chừng. Không nói ra, tôi biết rõ rằng tôi sẽ từ giã anh trước cái tuổi ba mươi bất hạnh ấy. Nhưng tôi cũng biết rằng tôi sẽ nỗ lực một cách phi thường để không chêt khi lâm bồn. Tôi muốn đích thân nuôi con tôi .
Ban đêm, Georges nằm xuống là ngủ được ngay, tôi tưởng tượng những cảnh rất cảm động và buồn cười, làm cho tôi cười hay khóc trong bóng tối. Tôi thấy Georges đội một cái mũ cối hình tròn và cao, có vành và mặc áo jacket đi đưa đám tang của tôi và tôi run sợ khi nghĩ rằng anh sẽ nói với đứa con của tôi "Ôi, má của con rất dễ thương, bà viết tiểu thuyết. một hôm, bố không hiểu vì sao, má con đã biểu thợ cắt ngắn đầu tóc dài màu hung của bà". Và tôi cũng thấy ảnh của tôi đầy bụi bặm. Sau những loại ảo ảnh ấy, tôi ngồi dậy trong cái giường hẹp của tôi, ôm chặt bụng để con của tôi không cảm thấy sự xúc động vô ích của tôi. Tôi yêu thương con tôi một cách say đắm dữ dội và ban đêm khi quá đói bụng, tôi tự an ủi với sự tin cậy vào định luật tự nhiên, tôi biết rằng đứa con của tôi được nuôi dưỡng bằng máu huyết của tôi. Tôi cảm nhận sự hiện hữu của nó với một niềm vui sôi nổi, đầy xúc động và sợ hãi. Tình trạng đói khổ đến cùng cực trong đó chúng tôi đang sống, làm cho tôi nhắm mắt tin cậy vào Đức Chúa trời. Tôi chờ đợi phép màu nhiệm của Ngài với lòng tin vững chắc của những người không còn lo ngại cho chính bản thân mình, nhưng muốn tái tạo thế giới cho con cháu của mình.
Một lần tôi đi với Georges đến nhà người thợ mộc, tôi cảm thấy trong người đau đớn khó chịu vô cùng – chung quanh tôi mọi vật quay cuồng và, đứng tựa vào tường một ngôi nhà, áp khăn che miệng, tôi nói với Georges rằng tôi sẽ không thể ngồi trên một cái ghế trong một giờ được, tuyệt đối tôi phải nằm nhà thôi. Anh không thể đưa tôi đi trở về được, nếu anh bỏ mất giờ dạy, buộc lòng chúng tôi phải nhịn đói. Tôi đành phải mua vé métro để một mình trở về nhà. Chuyến đi ấy dài vô tận, tôi phải luôn luôn đặt khăn tay trước mũi. Ở trước mặt tôi, một người đàn ông ngồi đọc báo, thỉnh thoảng lại liếc mắt nhìn tôi một cái như muốn nói rằng đàn bà đau ốm thì phải ở nhà chứ đi đâu thế này!
Tôi loạng choạng chạy từ métro về nhà. Tôi vượt qua cửa vừa run, vừa vội vàng nói lời cám ơn với bà gác cổng – tươi cười sẵn sàng nói chuyện với tôi – về việc bà đã đưa cho tôi một bức thư mà tôi đút ngay vào túi xách tay cũ kỹ của tôi. Tôi băng qua sân để đến cầu thang, nhưng thang máy bị kẹt đâu đó ở trên cao, khiến tôi phải đi bộ lên tận tầng thứ tám. Đến nơi, tôi lục trong túi xách để lấy chìa khoá. Than ôi! Georges đã giữ chìa khoá mất rồi. Tôi thấy cánh cười phòng cao sừng sững như ngọn núi Mont Blanc. Tôi phải đi tới phòng vệ sinh, vì chóng mặt không thể chịu được. Ở đó tôi ngồi bệt xuống sàn nhà và khóc ròng. Tôi quá mệt, không còn chịu đựng được nữa. một hồi lâu sau đó, tôi quay trở lại trước cửa phòng của tôi, bà ở phòng bên canh – tôi chưa hề thấy cho đến ngày hôm ấy – đứng nơi ngưỡng cửa. Bà hỏi tôi:
-         Bà bệnh phải không?
-         Vâng, tôi bị bệnh… tôi không thể nào vào trong phòng được, tôi quên chìa khoá.
-         Vậy bà hãy vào trong phòng của tôi.
Bà ta dẫn tôi tới cửa sổ phòng bà và mở cửa sổ ra. Rồi bà giải thích:
-         Bà thấy đó, ở đây  có một cái bờ cửa sổ bằng bê tông và ở bên dưới có một cái nóc nhà bằng phẳng. Bà có thể bò đến cửa sổ phòng của bà, nếu cửa sổ ấy mở…
Tôi trả lời rằng có thể nó mở.
Bà ta giúp tôi leo lên một cái ghế để  bước lên bờ cái cửa sổ. Bà ta nắm tay tôi và nói:
-         Bà đừng sợ, nhất là đừng nhìn xuống bên dưới!
Tôi nắm chặt bàn tay bà ta nhưng sau đó, tôi phải buông tay bà ra và đi bốn bước thì tới cửa sổ mở của phòng chúng tôi.
-         Tôi có thể vào rồi – tôi reo lên và một lát sau, tôi đã vào được trong phòng.
Mở cửa trước ra, tôi cám ơn bà bạn phòng bên, nhưng sau đó kiệt sức, tôi buông mình ngã xuống ghế đi văng. Tôi chóng mặt ghê gớm. Tôi nghe văng vẳng có tiếng thì thầm như từ xa lắm, nhưng đó chính là tiếng của tôi "Sống thật không dễ một chút nào"…
0
Chương 20
Bức thư mà tôi nhận được ngày hôm ấy là của người Hungari duyệt  bản thảo quyển tiểu thuyết nhan đề Wanda của tôi. Ông muốn nói chuyện với tôi về cuốn tiểu thuyết ấy. Tôi gọi điện thoại cho ông ta và một giọng đàn ông dịu dàng, thân mật trả lời tôi. Ông ta mời tôi đến gặp ông. Buổi chiều ngày hôm sau, tôi mới biết được trước kia ở Budapest, ông là một nhà văn  có tiếng và một trong những tác phẩm của ông đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Tôi nhớ lại bố mẹ tôi thường nói đến ông, có một lần mẹ tôi đã mô tả ông ta là một người đàn ông trẻ trung tóc đen, lần lượt có đến ba bà vợ là những diễn viên tên tuổi người Hungari.
Chúng tôi đã hẹn gặp vào sáng ngày mai và tôi đã không có được một chút khả năng nào để làm đỏm đôi chút. Thân hình mạnh mẽ, nặng nề của tôi càng thêm rõ nét hơn trong cái áo măng tô chật hẹp một cách kỳ cục. Tôi không có son để tô môi và tôi đã phải làm một búi tóc nhỏ để che  dấu mái tóc dài của tôi.
Toà nhà nơi ông ta đang ở thật là sang trọng, cầu thang trải thảm đỏ, thang máy, cửa lớn của căn hộ có gắn nút bấm chuông đánh bóng sáng loáng. Tôi bấm chuông, một bà bồi phòng mở cửa
-         Bà muốn gặp ai?
-         Ông Gindy.
-         Ông có hẹn gặp bà?
-         Có.
-         Bà vui lòng đợi một chút.
Bà bồi phòng  biến mất và tôi rất xúc động. Người ta có thể sống lưu vong và không nghèo nàn.
Bà bồi phòng trở ra và đưa tôi vào trong một gian phòng lớn trang trí đồ đạc lộng lẫy, nơi đó một người đàn ông tóc bạc đứng lên khỏi chiếc ghế phô tơi ông ta đang ngồi.
-         Chào cô – ông ta nói với tôi bằng tiếng Hungari và nói thêm với vẻ gần như lạ lùng - Cô trẻ một cách dễ sợ! mời cô ngồi.
Tôi ngồi xuống và nhìn ông ta mà không giấu diếm sự tò mò của chính mình.
Ông ta cao lớn, thanh nhã, mặc áo dài lụa, và những thức ăn còn thừa của bữa sáng đặt trên một cái khay bằng bạc, trông chẳng khác nào một bức tranh tĩnh vật. một cách vụng về, tôi muốn nói với ông ta rằng tôi tưởng tượng ông ta trẻ hơn. Khi ông ta mở một nụ cười vui vẻ, ranh mãnh mà không tự phụ trên khuôn mặt của ông, thì quả thật nó đã làm cho ông trẻ lại.
Ông ta lấy một điếu thuốc và một cách máy móc, tôi đã tìm thấy  cái khăn tay của tôi, tôi thấy không chịu được mùi thuốc lá.
-         Và tôi – ông ta nói – tôi chờ đợi gặp sáng nay một người đàn bà bất hạnh, tác giả của Wanda với vô số tình nhân của nàng! Thế mà tôi lại thấy cô, một cô gái mảnh khảnh, trẻ một cách ngạo mạn.
Ông ta không thấy rằng tôi có bầu. Con người lỗi lạc ấy, đã quen biết những người đàn bà xuất chúng biểu diễn trên sân khấu, không bao giờ có con.
Ông ta hỏi tôi:
-         Cô bao nhiêu tuổi?
-         Hai mươi hai…Ông đã đọc quyển tiểu thuyết của tôi chưa?
-         Dĩ nhiên là tôi đã đọc và tôi thấy rất hay.
Gian phòng hình như quay cuồng chung quanh tôi và tôi cảm nghe tiếng nói của ông ta.
-         Cô bị bệnh sao?
-         Không, tôi sung sướng , chắc ông biết, tôi nóng lòng chờ đợi ông trả lời.
-         Tôi đã nói với nhà xuất bản phải cho dịch ra tiếng Pháp. – ông Gindy nói tiếp.
Tôi ngắt lời ông, hớn hở:
-         Tôi sắp viết một quyển khác nữa.
-         Cô không cần phải vội vàng, vấn đề xuất bản rất khó khăn..nhất là đối với một tác giả còn trẻ! Nhưng tôi tin cậy cô – ông nói thêm với một nụ cười lịch sự.
Và đột ngột, ông nghiêng về phía tôi, hỏi tôi bằng một giọng thân mật:
-         Bằng cách nào cô đã có ý nghĩ viết truyện ấy?
Tôi đã trả lời ông ta một cách thành thật và hoàn toàn quên khói thuốc của ông đang hút:
-         Ông Gindy, tôi đã gặp một người đàn ông như nhân vật chính trong quyển tiểu thuyết của tôi, nhưng tôi đã hư cấu vô số điều…
Chúng tôi nói chuyện trong nửa giờ và nửa giờ ấy đối với tôi là giai đoạn khởi đầu của một cuộc đời mới. một người nổi tiếng, một nhà văn thành đạt tin cậy tôi. Trước khi tôi từ giã, ông ta cho tôi một trong những quyển sách của ông ta đã được xuất bản, một sách viết bằng tiếng Pháp, với câu đề tặng "Tặng một bạn đồng nghiệp trẻ, với tất cả tình bạn của Gindy"
Với từ "đồng nghiệp", ông đã phong danh hiệu nhà văn cho tôi.
Trong những tuần tiếp theo, tôi đã gặp ông ta nhiều lần và một tình bạn đã phát sinh. Tôi nói với ông rằng tôi rất khâm phục ông, bởi vì ông không nghèo nàn như tất cả những người Hungari mà tôi quen biết ở đây. Ông đột nhiên có vẻ sửng sốt. Ông nói:
-         Nhưng cô đừng tưởng rằng đây là nhà của tôi, tôi thuê một phòng ở đây trong toà nhà này, người ta mang đến đây bữa điểm tâm của tôi, họ biết rằng tôi không bao giờ thức dậy trước mười giờ, họ là những người tốt, nhưng cô đừng tưởng rằng cuộc sống dễ dàng đối với tôi.
Ánh mắt băn khoăn dừng lại trên một bức tranh khác thường.
-         Vật duy nhất mà tôi còn giữ được từ Budapest – ông ta nói với tôi và giọng của ông căng thẳng một cách lạ lùng, như giọng của một người sắp khóc.
Bức tranh miêu tả một thiếu phụ ngồi quay lưng, thân hình mảnh khảnh, khoả thân, mặt nhìn nghiêng về hướng một phong cảnh mờ nhạt. Bức tranh ấy gợi những kỷ niệm êm đềm, đó là sự hiện diện của một người đàn bà, sự hiện diện của một người đàn bà bất diệt.
-         Ngay cả trong trường hợp tôi phải chết đói, tôi cũng không  bán bức tranh ấy – ông Gindy thường nói như thế và hai vai thơ ngây của người đẹp mong manh ấy là tượng trưng của tình yêu.
Ông Gindy it nói đến các bà vợ trứ danh của ông. Ông đã sống quá gẫn gũi với họ trong nhiều năm dài, đến nỗi ông không thấy họ phi thường đến thế.
Tôi đã nói cho ông biết tôi đã có chồng và có một lần tôi đưa Georges đến gặp ông. Tôi chờ đợi câu trả lời dứt khoát của nhà xuất bản.
-         Tôi sẽ viết các quyển tiểu thuyết sau này của tôi bằng tiếng Pháp – tôi nói đã nói như thế với ông Gindy và ông trả lời:
-         Cô còn rất trẻ, chắc chắn cô sẽ thành công thật sự..
Ông không bao giờ biết chúng tôi đang chống chọi với những nỗi lo âu nghiêm trọng.
Một hôm, tôi thấy bức tranh của ông biến mất. Ngày hôm ấy ông xanh xao một cách dễ sợ, tôi không dám hỏi. Khi từ giã, ông nói với tôi:
-         Tội nghiệp nhà văn trẻ…cô đang đợi ngày sinh một đứa con..
Chúng tôi siết chặt tay nhau thật lâu. Ông ta nhìn lên chỗ trống của bức tranh trên tường.
Vận may đến với hình thức một bức thư ngắn gởi từ nước Bỉ. Người bạn trung thành của chúng tôi đã không quên chúng tôi. Trong thư ông cho chúng tôi biết ông gửi tiền đi đường đến cho chúng tôi và nói rằng những bạn bè người Bỉ của ông đã cảm động cho số phận của chúng tôi, nên mời chúng tôi đến ở trong một lâu đài. Người ta cũng dành cho Georges một việc làm và đã sắm trước cho đứa bé nào nôi, nào tã lót…
Chỉ một lát là chúng tôi sắp xếp xong áo quần vào trong va li bằng cạc tông cứng. Tôi trả lại chìa khoá phòng, nồng nhiệt cám ơn ông bà chủ nhà đã có lòng tốt đối với chúng tôi. Khi sắp ra đi, tôi mới biết một chiếc xe cứu thương vừa mới chở bà gác cổng vào một bệnh viện tâm thần.
-         Hình như bà ta điên – những người ở tầng tám nói.
Tôi đau lòng. Tôi không biết có phải bà gác cổng tốt bụng đã phát điên vì sự đời và lòng người ở chung quanh bà hay không. Nhưng tôi sẽ luôn luôn giữ kỷ niệm khuôn mặt của bà những lời bà đã nói với tôi "Cô ơi, có một phòng rất xinh ở trên tầng thứ tám…Phòng ấy đang được bỏ trống đấy".
Trên xe lửa, tôi nói với Georges:
-         Con của em sẽ được chào đời một cách an toàn.
Anh cười ngặt nghẽo, như thể đây là một trò đùa của học sinh trung học:
-         Em luôn luôn nói "con của em"…
Tôi đỏ mặt và cắn chặt răng để vượt qua cái biên giới đầu tiên mà tôi đến được một cách hợp pháp.
0
Chương 21
Kể từ buổi sáng ấy, tôi nằm yên tĩnh trên cái giường này không nhúc nhích. Các bức tường sơn màu xanh nhạt và trong góc ở phía tay mặt, có tượng Đức Mẹ Đồng Trinh bằng sứ. Trên cái bàn đầu giường, tôi để quyển sách mà tôi đã đọc tối hôm qua, đó là quyển chót của bộ Gia đình Thibault của Roger Martin mà tôi muốn đọc lại bằng tiếng Pháp. Sáng hôm ấy tôi bị một cơn đau dữ dội, một cơn đau mới, chưa bao giờ có trước đây. Georges đang làm việc tại văn phòng của anh, đây là ngày thứ hai anh đi làm. Người ta nói với tôi rằng anh sẽ đến thăm tôi vào khoảng từ một đến hai giờ. Gần một bên tôi, phía tay trái có một cái giường nhỏ màu trắng để trống. Đó là giường của đứa con sắp chào đời của tôi. Khi phải chịu đựng một đợt đau mới, tôi bám chặt vào các thanh sắt sơn trắng của chiếc giường nhỏ, cái giuờng nhỏ còn trống ấy đã giúp sức cho tôi rất nhiều. Thỉnh thoảng một bà nữ tu lặng lẽ đi vào, đến gần tôi, tôi cố gắng không nhìn mặt bà, tôi nhìn lên trần nhà màu trắng, không muốn người ta quấy rầy tôi trong nỗi đau đớn của tôi.
Tôi khát nước và trong những lúc hiếm hoi dứt cơn đau, tôi thấm môi tôi với nước lạnh. Georges vào, anh muốn nói chuyện với tôi, tôi quay đầu về phía cai giường nhỏ và không trả lời.
Vào lúc hoàng hôn, các y sĩ đến. Họ hỏi tôi nhiều câu vô ích và lấy làm lạ về việc tôi không kêu la. Cơn đau dữ dội làm tôi co quắp người lại, tôi thường hụt hơi, nhưng vì nỗi đau đớn ấy, đứa con sẽ chỉ thuộc về tôi. Một bà nữ tu nói với tôi rằng Georges đứng ngoài hành lang. Số y sĩ tăng lên, có lúc có đến năm y sĩ chung quanh giường của tôi. Khi người ta lau mồ hôi trên mặt của tôi, tôi hỏi, tôi muốn biết bây giờ là mấy giờ. Mười một giờ đêm.
Đột nhiên trong phòng của tôi, người ta nhộn nhịp. Hai nữ y tá đẩy một cái xe và họ đặt tôi nằm dài trên đó như trên một cái băng ca, họ đẩy xe đi rất nhanh dọc theo một hành lang. Tôi thấy trước các cửa phòng đâu đâu cũng có những chậu hoa. Trời nóng và những bàn tay nhanh nhẹn đẩy tôi tới một vận mệnh vô định. Phòng giải phẫu sáng trưng và tôi thấy mình nằm giữa nhiều tấm gương chung quanh những đèn chiếu. Một y sĩ trẻ cúi xuống phía tôi và ngay lúc tôi cảm thấy cái kim tiêm nơi cánh tay tôi. Tôi đã hôn mê rồi, không còn biết gì nữa.
Bỗng tôi nghe một giọng  nói lập đi lập lại không ngớt:
-         Con tôi ở đâu? Con tôi ở đâu?
Khuôn mặt to lớn một cách quá chừng của một nữ y tá sát bên mắt tôi. Cô ta không nói gì cả. Thế thì ai hỏi "Con tôi ở đâu?"
-         Chỉ một lát nữa bà sẽ thấy nó – cuối cùng cô ta trả lời tôi. Đúng là tôi đã hỏi.
Với ánh sáng mờ, tôi tin lúc đó là buổi sáng.
Với một sự cố gắng rất lớn, tôi quay đầu và tôi chợt thấy Georges ngủ yên torng một chiếc ghế phô tơi. Tôi gọi anh. Anh không nghe.
Một nữ y tá đi vào, hai tay ôm một trẻ sơ sinh bọc trong tã. Cô ta đưa nó tới phía tôi. Con tôi đang ngủ. Da nó hồng hào.
-         Một đứa con gái rất xinh! – cô y tá nói với tôi.
Tôi không còn nghe thấy gì nữa.
Tôi bị bắt buộc phải thức dậy sau giấc ngủ mê man ấy, bởi vì một y sĩ đã tát tai tôi. Tất cả mọi người muốn tôi thức dậy, nhưng tôi còn muốn ngủ nữa, không thể nào cưỡng được.
Toàn thân tôi đau đớn. Và tôi nghĩ đến tất cả những nỗi đau đớn đang chờ đợi tôi.
Tôi nói với cô y tá rằng tôi muốn nuôi con tôi. Với sữa của tôi.
-         Thưa bà, người ta không bao giờ có sữa sau một ca đẻ khó phải mổ để lấy đứa bé ra, nhất là khi ca mổ ấy đã khó khăn như thế.
Cái cô y tá ấy không biết gì về cuộc sống. Cô ta đã tưởng rằng tôi sẽ phải chấp nhận một nguyên tắc, một nguyên lý. Nhưng tôi, tôi muốn nuôi con tôi, tôi phải có sữa.
Con gái tôi vẫn nằm trong cái giường nhỏ kế bên tôi, nó ngủ và tôi không còn đủ sức để giơ tay về phía nó. Nhưng tôi nhìn nó, cuộc sống của tôi liên hệ mật thiết với khuôn mặt điềm nhiên và hồng hào của nó.
Sau đó tôi nghĩ đến hoa. Tôi cũng phải có hoa trong phòng của tôi, như các phòng khác chứ, tôi không muốn để cho các cô y tá nói rằng…
-         Georges?
-         Ừ, anh đây, em muốn gì? – anh đến gần tôi.
-         Anh muốn đem hoa đến cho em không?
-         Ừ, anh sẽ đem hoa đến cho em – ra đến cánh cửa hé mở, anh quay lại hỏi tôi:
-         Em muốn hoa gì?
Tôi còn quá yếu để biết bây giờ đang là tháng nào, tôi cố suy nghĩ, nhưng không thể nào nghĩ ra được.
Tôi lập lại một cách cố chấp:
- Hãy đem hoa đến cho em…
Tôi muốn một mình với con gái tôi. Trong cái phòng nhỏ, bây giờ chỉ có hai mẹ con với nhau. Đột nhiên nó bắt đầu khóc. Đây là lần đầu tiên. Và chính với tôi nó khóc. Con gái yêu dấu của tôi..
Georges trở về với hoa. Tôi nhìn anh như thể anh là một người xa lạ. Tôi không hiểu những  gì anh muốn nói trong cái phòng này. Đêm ấy đã ngăn cách tôi với anh.
Trong những ngày tiếp theo, tôi đau liên miên. Tôi không thể ăn uống gì cả và một cô y tá lơ đãng, chắc là mới vào nghề, còn non nớt không biết việc phải giữ bí mật, đã nói với tôi rằng tôi suýt chết.
Nhưng đến ngày thứ năm, tôi có sữa và cái đầu tròn vo của con gái tôi, cạnh bên bầu vú của tôi làm cho tôi tôi hoàn toàn yên tâm. Tôi nhìn một cách trịnh trọng cái miệng nhỏ xíu của nó. Các nữ y tá đã nói rằng thật không thể tin được. Tôi, tôi cho dó là điều tự nhiên. Tôi muốn nuôi con tôi, tôi muốn nó uống sữa của tôi thì tôi phải có sữa…
Đó là một phép màu
Đó là niềm hạnh phúc
Tất cả là hạnh phúc…
 
Hết
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-09-03 23:04:16Ct.Ly>
Truyện Ước Mơ nằm ở đây này Tumbleweed ơi

Vì thư viện đang trong tình trạng sửa chửa, nên đành phải học chử " NHẪN " rồi Tumble ơi

Chúc Tumbleweed luôn vui nhé

Thân ái

Đã mang vào thư viện

Cảm ơn hiệp sĩ tumbleweed nhiều nhé

Thân
0
«« « 1 2 » »»