📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Truyện ngắn của Nguyễn Khải ! 🔒

5 trả lời, 2.017 lượt xem — Trang 1 / 1
                                         ĐẤT MỎ
                            NGUYỄN KHẢI
 
1.
Ngôi nhà nhỏ tường xây bằng sỉ than sỉ vôi, mái ngói, nép mình trong khe núi, lối đi vào mỏ Mông Dương, là của một gia đình thợ mỏ. Họ chỉ có ba người. Một ông bố vốn là thợ hầm lò, đã nghỉ hưu hơn chục năm nay, bị bệnh suyễn, nói năng đi lại đều khó khăn. Một bà mẹ buổi sáng tráng bánh cuốn bán cho thợ và trẻ con đi học, trưa chiều nhặt củi, nấu cơm, quẩn quanh, lủi thủi với đàn gà, ổ lợn và mấy con chó, có muốn nói chuyện cũng chả có ai để nói. Và một anh con trai đã 26, 27 tuổi, đẹp trai, khỏe mạnh, đi làm đêm thì ngủ ngày, làm ngày thì bố mẹ ngủ lâu rồi anh mới rón rén mò về, cũng chả thích nói chuyện với ai, ngoài những câu hỏi và trả lời rất ngắn gọn và cộc cằn. Một ngôi nhà im lặng và buồn. Là một gia đình nhưng không có cái vui cái buồn chung, không có sự tính toán chung nên cũng không có câu chuyện chung ngoài sự góp lại thành một món lương hưu của ông bố, lương tháng của người con và tiền lãi buôn bán vặt của người mẹ. Mỗi lần bà lão nói với chồng : "Tháng rồi ngoài ăn tiêu ra còn dư được..." thì ông đã nhăn mặt, xua tay : "Tùy bà, bà muốn làm gì thì làm". Bà lại nói : "Tôi muốn mua một cái áo khoác cho ông, cũng rẻ lắm, trời đã lạnh rồi". Ông chồng vừa thở vừa gắt: "Cả ngày ngồi nhà, có đi đâu mà phải mua áo mới. Mua cho thằng Tùng ấy". Thằng con cười : "Cả năm chui trong hầm lò, cởi trần còn mồ hôi đầm đìa cần gì áo rét". Bà mẹ bảo : "Con trai chưa vợ, lúc hội hè cũng phải có bộ đồ rét cho đàng hoàng..." Thằng con gắt : "Một vụ rét chỉ có vài lần xỏ tay, mua làm gì cho phí tiền". Thế là hết chuyện. Vẫn còn một chuyện khiến cho mọi người đều quan tâm. Âởy là cái nhà này phải có thêm đàn bà, thêm một cô con dâu và một đứa cháu nội. Lắm nhà kiếm được một đồng cũng khó, vợ chồng trẻ lại hay cãi nhau, mấy đứa con ốm đau luôn, quấy khóc nhanh nhách cả ngày mà mỗi lần bà lão đi qua nhấc chân không nổi, vì thèm quá, vì tủi quá. Bà tâm sự với con trai cái nỗi niềm muốn được làm mẹ chồng, làm bà nội của một gia đình đông đảo thì thằng con lại cười khì : "Mẹ dở hơi thật. Nhàn nhã, thảnh thơi không muốn lại muốn chui đầu vào địa ngục". Bà cãi : "Tao thích được sống trong cái địa ngục ấy thì mày bảo sao ?". Thằng con gầm gừ : "Con gái bây giờ không chịu làm vợ một thằng thợ hầm lò đâu. Đừng có mong !". Có lần bà nói chuyện vợ con với Tùng gay gắt quá thì hắn bảo với giọng dửng dưng :

- Thì mẹ tìm đi, một cô gái nào đó chưa lấy chồng bao giờ hoặc đã có một đời chồng, mặt rỗ, mắt lác, chân vòng kiềng, miễn là còn đẻ con được là con lấy. Con không chê đâu.

Bà mẹ không dám nói gì thêm, lẳng lặng xuống bếp chuẩn bị bữa cơm tối, vừa nấu cơm vừa khóc. Con trai bà đẹp đẽ thế, lanh lợi thế lại hẩm hiu chuyện vợ con đến vậy sao ?

2.
Cuối thu trời se lạnh về tối và tảng sáng, đất mỏ nồng nàn những hương vị quen thuộc của cỏ cây, đất đá, than bụi và cả mùi da thịt của người. Nắng và mây của mù thu cũng ngượng ngùng, e ấp, thấp thoáng buồn lại thấp thoáng vui, chả hiểu vì sao ? Vào một chiều cuối thu người anh con ông bác của Tùng, làm bảo vệ của mỏ, dẫn một cô gái tới nhà, bảo bà mẹ: "Con gửi cô này sang ở nhờ nhà thím, có được không ?". Bà mẹ ngước nhìn cô gái đi phía sau, hỏi : "Người quen của anh à ?" Anh kia liếc nhìn cô gái, cười nụ : "Quen, cô ấy muốn xin việc ở Nhà Sàng nhưng chưa có đợt tuyển. Phải đợi một hai tháng. ở nhà con cũng được nhưng không có chỗ nằm". Bà lão đứng dậy, nói vồn vã : "Thế thì cô cứ ở đây, nhà rộng lại vắng người".

Ngay sau khi người giới thiệu ra về cô gái đã vào bếp đổ nồi cám lợn ra cái chậu sành đợi nguội cho lợn ăn, quét dọn trong bếp, quét sân và dọn cơm chiều cùng với bà lão. Bà cụ đi lại nhẹ nhàng, nói cười luôn miệng. Chuyện làng xóm, chuyện làm ăn, chuyện gia cảnh, thiếu gì chuyện vẩn vơ đã nhiều chục năm chưa có ai nghe để nói. Cô gái tên Lượm, là chị đầu của hai đứa em còn nhỏ, bố là bộ đội mới về hưu, cả nhà sống bằng nghề làm ruộng. Chỉ có lúa, tôm cua cá tép của vùng lúa nên mãi mãi nghèo. Một làng nghèo của một huyện nghèo. Nên cô muốn đi làm công nhân để có tiền giúp các em ăn học. Người đâu mà xinh đẹp, mà dịu dàng, lại còn trẻ quá, chỉ khoảng ngoài đôi mươi chứ mấy. Này, cháu có đi làm đâu cứ về đây mà ở. Nhà vắng người có thêm cháu thì vui lắm, bà lão gạ gẫm thế. Lượm chỉ trả lời nhỏ nhẹ "vâng", không ra nhận không ra chối. Sao thế nhỉ ?

Cuối thu đầu đông là khoảng thời gian dễ chịu nhất đối với ông lão. Bệnh suyễn như lui hẳn, ăn uống được, đôi khi có thể uống lưng chén rượu trước bữa ăn. Bữa nay ông lão được bạn đón ra Cao Sơn ăn mừng đầy tháng thằng cháu đích tôn của ông ta. Ông già đã định không đi nhưng người bạn nói, ông đến chia vui với vợ chồng chúng tôi bữa nay thì sang năm chúng tôi lại đến chia vui với ông bà. Thế là ông đi. Nói chơi biết đâu lại thật, nhân nói như thần nói. Tối được một lúc thì ông về. Lượm chạy ra mở cổng. Ông đứng sững, hỏi : "Cháu là bạn của Tùng hả?" Cô gái nói : "Thưa bác, cháu mới tới". Vào trong nhà ông lão hỏi nhỏ vợ : "Bạn gái thằng Tùng đấy à ?" Bà vợ cười : "Người quen của thằng Trí, cô ấy ở đây ít hôm đợi việc làm". Ông già lấm lét nhìn cô gái đi lại thấp thoáng ngoài sân, mắt nhấm nháy : "Không chừng sang năm nhà mình có chuyện vui". Bà vợ thở dài : "Cũng mong thế, trời thương thì được". Vì ông đã ăn cơm nên bà vợ và cô gái muốn đợi ông chủ trẻ đi làm về cùng ăn cho vui. Tùng về sớm hơn mọi ngày, tay chân, mặt mũi, quần áo cứ như vừa từ vũng bùn lăn ra. Một cặp mắt rất to chiếu vào Lượm rồi một vệt sáng trắng từ hai hàm răng của người vừa bước vào : "Nhà có khách à ?" Lượm đứng lên, nói lễ phép : "Em chào anh, em là Lượm". Cái đầu đen sì nghiêng về phía bà lão. Bà mẹ phải giới thiệu lần nữa. Hàm răng như càng sáng hơn : "Chúng tôi xin cảm ơn cô đã đến đây. Có cô thì cái nhà này sẽ vui hơn nhiều". Cô gái cúi mặt, không nói gì. Thằng quỉ mặt đen bước vào nhà trong, nửa giờ sau một chàng trai tuấn tú mặc áo pun trắng, quần bò xanh, đi dép lê bước ra. Là anh sao ? Anh đẹp trai đến vậy sao ? Không có một người thợ mỏ nào giống anh cả. Một bữa cơm có cá kho, đậu rán, canh cải, cả ba người đều rất đói mà không ai ăn thấy ngon. Cứ hồi hộp thế nào, nghẹn ngào thế nào. Tùng uống một chén rượu thuốc, ăn một miếng đậu rán, rồi gắp thức ăn cho mẹ và cho khách. Và anh nhìn ngắm cái mâm cơm gia đình lần đầu có một cô gái cùng ngồi ăn. Lại là một cô gái đẹp. Đẹp chứ không chỉ xinh. Một cổ tay rất tròn. Những ngón tay rất dài. Những sợi tóc xõa rối một bên vai sáng lên trong ánh điện. Lạ quá, đẹp quá, cứ như là chuyện không thể có thật. Mỗi lần Tùng gắp thức ăn cho Lượm, cô ta lại nói nhỏ, rất nhỏ : "Em xin anh". Nhưng cô không ăn, bát cơm đầy thức ăn chả vơi đi được chút nào. Bà mẹ nói : "Cháu ăn đi chứ, người trong nhà đừng làm khách". Cô gái hơi cười: "Anh con gắp cho nhiều thức ăn thế này, con ăn sao hết". "Anh con", em nói lại đi, giọng em nhẹ quá, mảnh quá, như một sợi dây nhỏ sít chặt cổ anh đây này. Anh chỉ muốn òa khóc thôi. Vì cái gì nhỉ ? Vì sung sướng quá hay tủi thân quá? Vì vui quá hay buồn quá ? Anh không biết, đã được trải qua lần nào đâu mà biết !

3.
Như có phép lạ, mùa thu năm nay bệnh suyễn của ông già hình như còn nhẹ hơn các mua thu của mọi năm. Dáng đi của ông thẳng hơn, nhanh nhẹn hơn. Ông cười nói tự nhiên, không bị cụt hơi, cũng không thở gấp và đã bắt đầu hay nói. Như một người vừa được sống lại. Và hay mủm mỉm cười một mình. Bà già thì khỏi nói. Bây giờ người dậy sớm nhất nhà là Lượm, từ ba bốn giờ sáng để xay bột tráng bánh cuốn. Vài cân gạo chỉ xay khoảng một giờ là xong. Rồi cô nhóm lò than. Bà lão dậy thì nồi nước tráng bánh đã bắc lên lò rồi. Những ngày sau cô xay tới mười cân gạo, bà già bán một phần ở nhà, phần còn lại cô đội ra chợ bán. Đã nhiều lần Tùng đứng ở cổng nhìn Lượm đội thúng bánh cuốn trên đầu, tay xách một cái giỏ tre đựng bát đũa và các chai nước chấm, bước đi uyển chuyển, thân người uốn theo mềm mại, một tay khẽ vung vẩy như một điệu múa đẹp. Anh thở dài rất nhỏ, nước mắt như muốn ứa ra, vì đã nhớ rồi, đã lo sợ rồi, hình như cô ấy sẽ không bao giờ trở lại nữa. Cô ấy đến bất thần rồi cũng ra đi bất thần. Một cái gì quá đẹp, quá mọi mong ước rất khó là cái thật bền lâu. Chuyện cổ tích đâu có thật, nó an ủi, nó hứa hẹn chứ không thể là thật. Em ơi, nếu không gặp em anh chỉ buồn ít thôi vì anh chưa từng có gì để tiếc, để so sánh. Còn bây giờ...

Đã nhiều năm, từ ngày Tùng đi làm thợ hầm lò, những ngày làm ca 2, bà mẹ đều thức chờ con về khoảng gần nửa đêm, để đun nước tắm, hâm lại thức ăn và nhặt quần áo bẩn cho vào chậu ngâm. Như xưa kia bà đã chờ chồng về. Đã ba chục năm bà chưa bao giờ được ngủ trọn giấc hai tối liền, trừ những ngày lễ Tết. Bỗng nhiên bà được ngủ từ tối vì Lượm đã tình nguyện thay bà để chăm sóc con trai bà. Cô đi chợ và nấu cơm ngày ba bữa, bữa trưa, bữa tối và bữa nửa đêm cho riêng một người. Vợ trẻ chiều chồng mới cưới cũng không thể nấu cơm vào lúc nửa đêm. Lần đầu, Tùng được ăn bữa cơm đêm bằng cơm nóng xới trong nồi, anh cầm bát cơm lên mũi ngửi buột nói : "Em chiều anh thế này, lỡ nay mai em ở xa thì anh sống làm sao đây". Lượm cười nhẹ : "Thì anh vẫn sống như trước đây có sao". Tùng cũng cười nhưng rất gượng : "Trước ngày em đến và bây giờ đâu còn giống nhau nữa". Rồi Tùng vội nói sang chuyện khác, chuyện những ngày anh còn nhỏ, bố vẫn đi làm, là thợ hầm lò. Những ngày làm ca 2, khoảng nửa đêm, bà vợ vẫn thức chờ chồng về, đun nước tắm, dọn cơm và rót cho ông chén rượu. Trong khi ông ăn thì bà vá quần. Tức là đắp thêm vải vào những chỗ đã đắp vá nhiều lần, không còn là vải nữa vì nó đã cứng như cái mo. Mùa xuân, trời nồm, mưa bụi, những tảng vá không thể khô lại mà phải hong lên bếp lò, lấy tay gõ lên miếng vá như gõ lên miếng gỗ. Lương thợ hầm lò thì cao lắm, cao nhất mỏ, thứ nhất hầm lò, thứ nhì bò tót. Lái xe bò tót lên tầng, rét rất rét, nóng rất nóng nhưng vẫn có đầy đủ khí trời để thở chứ không luôn luôn có cảm giác bị ngạt như dưới hầm lò. Lượm vẫn ngồi nghe chăm chú, lát lát lại gắp thức ăn cho Tùng, nhưng cô chỉ mỉm cười chứ không nói thêm câu gì, cũng không hỏi, hình như cô cũng chả quan tâm gì nhiều tới những vất vả của người thợ mỏ. Khi cô đưa nắm sém cơm cho Tùng lúc cuối bữa, anh thở dài :

- Thời bây giờ thợ mỏ làm ca 2 về nhà dễ tủi thân lắm. Không có ai ngồi đợi anh ta cả, tự tắm giặt, tự dọn cơm, có muốn hỏi chuyện gì cũng phải đợi sáng hôm sau. Vợ con đang ngủ, phá giấc ngủ của nó lại thêm rắc rối.

Rồi Tùng kể một câu chuyện vui. Một anh bạn đi đánh bài về khuya vẫn hiên ngang đập cửa gọi vợ. Cách gọi của anh ta thần tình lắm : Em, em, mở cửa, than ! Cô vợ choàng dậy ngay. Anh chồng nhâng nháo bước vào, nhăn răng cười : Đùa tí thôi, làm gì có than ! Cô vợ chu chéo lên thì thằng chồng đã lăn ra ngủ rồi. Đêm sau hắn ăn cắp được một túi than nặng vác về, lại gọi cửa. Vợ không ra, bảo chồng cứ nằm ngoài hè mà ngủ. Hắn phá cửa nhảy vào, ném túi than lên người vợ, rồi đánh vợ một trận. Tùng kể xong rồi cười. Cô bạn gái của anh không cười chỉ hỏi :

- Các anh ở mỏ hay đánh bạc lắm à ?

- Không đánh bài thì còn biết chơi gì ?

- Các anh cũng hay ăn cắp than của nhà nước à ?

- Tiền lương cuối tháng mới có, có dạo mỏ nợ vài tháng mới trả lương. Nếu không ăn cắp than lấy đâu tiền hàng ngày mua gạo cho người mua cám cho lợn.

- Các anh cũng hay đánh vợ nhỉ ?

- Thi thoảng thôi, chứ không phải ngày nào cũng đánh. Lượm lại cười nhưng mặt lạnh tanh, không hỏi gì nữa.

4.
Lượm sống với gia đình Tùng được hơn một tháng mới dám cùng Tùng đi một đoạn đường trong đêm đến thăm một người bạn của anh suýt chết cách đó vài ngày. Anh ấy đang làm ca 2 được vài giờ thì sập lò, gỗ, than và đá đổ ào xuống, anh chỉ kịp nhoai nửa người ra còn thân dưới đã bị kẹt cứng trong gỗ và đá. Không dám vào đông người để cứu, cũng không dám làm một động tác nào mạnh khi cứu, chỉ một sự bất cẩn nhỏ là tất cả sẽ bị chôn vùi. Anh ta đã nằm chờ chết suốt bảy tiếng, đã ứa nước mắt vì tuyệt vọng, đã nói lời cảm ơn với bạn bè. Nhưng các bạn anh đã nhẫn nại hơn thần chết, đã cứu được anh ra khi trời vừa rạng sáng. Khi đưa anh lên khỏi miệng giếng, anh kêu lên : "Không ngờ đời tôi còn được nhìn lại ánh sáng của ban ngày".

Khi hai người ra về đã gần nửa đêm. Họ vẫn đi theo con đường men núi, đến khúc ngoặt bất chợt một vầng sáng hiện lên ở phía xa. Đó là quầng sáng của Nhà Sàng Cửa Ông, xa hơn là của mỏ Cọc 6, của Đèo Nai. Phía dưới kia là thị xã Cẩm Phả. Bà mẹ Tùng đã nói với cô gái đã hai chục năm nay ông bà không xuống Hòn Gai, ra thị xã Cẩm Phả đâu có hai lần, lúc thì thăm người nhà nằm bệnh viện, lúc thì thăm đứa cháu sinh con đầu lòng. Cũng đã có lần bà đi qua phà Rừng, ấy là cái thời còn con gái theo chị em từ quê ra mỏ tìm việc. Từ bấy đến nay đã non bốn chục năm rồi. Tùng hỏi : "Sao em biết ở đây có tuyển nữ công nhân Nhà Sàng mà ra đất mỏ ?" Lượm cười nhỏ : "Em đâu có biết. Theo bạn bè ra lúc đầu chỉ đi đội than thổ phỉ thôi. Sau ngày có con bạn chết vì bị đá đè, em sợ quá mới đi mót than ở các vỉa. Than ăn cắp ấy mà" - "Có bị bảo vệ bắt bao giờ không ?" - "Có chứ, em bị các anh ấy bắt luôn, cảnh cáo mấy lần nhưng không ăn cắp than thì lấy gì mà sống" - "Có nhớ anh nào bắt không ?" - "Cả mấy anh ở trạm gác Cao Sơn em đều quen nhưng chỉ nhớ tên có anh Trí thôi".

Đứng trước cổng nhà cả hai đều dừng lại và cứ đứng im lặng bên nhau rất lâu. Rồi Tùng nói trước, giọng anh hồn hển, đứt quãng như người suyễn :

- Anh thật lòng không muốn xa em, muốn mãi mãi được sống bên em. Chả biết em nghĩ thế nào ?

Lượm mím chặt môi, sống mũi và vè mắt cay sè. Cô cũng không muốn xa anh, muốn được sống mãi mãi với anh. Nhưng... em không thể, anh ơi. Em chưa yêu ai bao giờ nhưng em vẫn không thể yêu anh, không thể làm vợ anh.

Những ngày sau Lượm dậy từ rất sớm để xay bột, đốt lò và tráng bánh. Rồi cô đội thúng bánh ra chợ gần trưa mới về. Về nhà lại lao vào nắm than, giặt quần áo, nấu cám lợn và làm cơm chiều. Và cô vẫn nấu thêm bữa cơm nửa đêm những ngày Tùng đi làm ca 2, ngồi bên anh xới cơm và gắp thức ăn, vẫn trả lời dịu dàng, ý nhị những câu hỏi của Tùng. Nhưng cô không cười, cũng không nhìn thẳng vào mắt Tùng bao giờ, khi không thể nói rõ được điều gì đó thì cô nín lặng và thở dài rất nhỏ.

....

Anh ơi, anh là người đàn ông đẹp nhất và tốt nhất, nhưng em vẫn không muốn ở lại đây, không muốn mãi mãi phải sống ở đây. Cũng như mãi mãi phải sống ở làng quê thì buồn lắm. Nếu em là vợ anh chắc sẽ là một cặp vợ chồng rất đẹp đôi, em sẽ sinh cho anh vài ba đứa con, sẽ tráng bánh và bán bánh ở chợ, và đêm đêm ngồi đợi anh về để nấu nước tắm, dọn cơm và rót rượu. Còn anh, ngoài giờ đi làm và chơi với vợ con anh sẽ đi đánh bài, đánh bida và uống bia, đôi lúc cũng đánh vợ giống như nhiều người, nhưng vẫn là một gia đình hạnh phúc, có phải thế không, nhưng mà buồn lắm. Vì mọi cái vui cái buồn đều có thể biết trước, giống hệt những người đã đi trước. Và anh về già cũng sẽ bị hen suyễn, bị thấp khớp như mọi người thợ hầm lò tới tuổi nghỉ hưu. Vậy thì em muốn gì, chắc là anh hỏi thế. Chính em cũng không thật rõ em đang muốn gì. Muốn đến một vùng đất mới, sống trong một hoàn cảnh mới, tự mình phải lựa chọn, phải quyết định, không phụ thuộc vào bất cứ ai, có thể cuộc sống sẽ tốt hơn mà cũng có thể còn tệ hơn. Với phụ nữ, sự lựa chọn hình như chỉ được có một lần, lần đầu. Lầm lỡ một lần là cả đời phó mặc cho may rủi, cho số phận. Em không hối tiếc đã rời nhà đi đến đất mỏ. Nhưng em sẽ ân hận suốt đời nếu em bằng lòng ở lại đây mãi mãi. Em đã biết em là ai đâu. Là một con bé tháo vát và can đảm, dám sống theo ý mình hay chỉ là một con nhóc con nhiều mơ mộng, cuối cùng vì yếu đuối lại phải ỷ dựa vào một ai đó, vào một người đàn ông nào đó.

.....

Em phải đi ngay anh Tùng ạ. Nếu em ở lại thêm một tháng nữa thì em sẽ không ra nổi cái nhà này. Anh đừng trách em nhá, đừng giận em nhá. Rồi anh sẽ quên nhanh em thôi. Rồi em cũng sẽ phải quên anh, sẽ cố mà quên. Đưa đầu vào cái cạm bẫy êm ái, ngọt ngào của một tổ ấm hạnh phúc đã được chuẩn bị sẵn là dễ nhắm mắt buông xuôi lắm. Em sợ mọi dự kiến táo bạo sẽ kết thúc quá nhanh chóng nếu em vì cái nhìn buồn bã, tuyệt vọng của anh mà nấn ná ở lại.

Anh đừng nhìn em nữa nhá. Em xin thề sẽ không nhìn thẳng vào mắt anh một lần nào nữa, sẽ không nói thêm với anh một lời nào nữa. Và sẽ không bao giờ cho phép mình đi chung với anh trong đêm như đêm trước.
   Tháng 11 năm 1995
Chân Trời Tím

0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-04-22 06:19:47Chân Trời Tím>
                                           Đứa con nuôi
                                           Nguyễn Khải
 
Thế nào, cháu đã mỏi chân chưa ?

Cừ, chủ nhiệm chính trị nông trường dừng lại hỏi rất âu yếm đứa con gái chừng mười ba, mười bốn tuổi đi sau anh vài bước. Đứa bé hai tay xắn lấy quần, chăm chú tránh mấy vũng nước, rồi ngẩng lên, ngước đôi lòng đen rất sáng nhìn người hỏi :

- Mới đi được có mấy bước bác đã sợ cháu mỏi chân... Có bác mỏi chân thì có.

Cừ để cho đứa bé đi trước mình, nhìn cái dáng nhỏ nhắn của nó cứ chao đi chao lại trên mặt đường nhầy nhụa bùn vì cơn mưa đêm trước. Lượt vải chiếc áo sơ mi nâu may quá rộng trườn qua trườn lại trên cái lưng rất ngắn, một mái tóc cắt đến gáy cũn cỡn, hai cái bụng chân rất gầy, tất cả cái vẻ đằng sau của đứa bé sao mà tội nghiệp và trái tim Cừ như bị thắt lại vì những ý nghĩ thương xót. Quê nó ở Hà Đông, bố mẹ đã hy sinh trong kháng chiến, từ đó nó đi ở cho hết nhà này đến nhà khác, cuối cùng theo vợ một đồng chí cán sự ở châu lên Điện Biên, giúp đỡ chị ấy khi sinh nở. Nó đã ở với gia đình nọ được nửa năm, sau không hiểu vì lẽ gì lại bị đuổi, bơ vơ mất mấy ngày ở ngoài phố. Chuyện ấy đến tai Cừ, anh nảy ra ý định nhận đứa bé ấy làm con nuôi. Anh đón nó về ban chính trị trưa hôm qua, và sáng nay nhân ngày chủ nhật anh đưa về chỗ vợ ở đội sản xuất số 6. Đồ đạc của nó vỏn vẹn chỉ có một cái ba lô đã sờn hết mép (không hiểu ai đã cho nó), chăn màn không có. Ngay chiếc ba lô anh đeo trên vai đây cũng rất nhẹ, tuy các cạnh rất vuông vắn. Anh lại hỏi :

- Cháu có áo rét không ?
- Cháu chẳng thấy rét bao giờ bác ạ, có một cái áo trấn thủ nhưng cũng không mấy khi cháu mặc đến.

- Rét Điện Biên không như ở dưới xuôi đâu, mặc phong phanh là dễ ốm lắm đấy.

Hai người đến bờ sông Nậm Rốm thì đã gần trưa. Đứng bên này chiếc cầu bắc bằng những miếng sắt lát sân bay ngày trước, nhìn sang bên kia bờ Cừ ngạc nhiên vì mới có nửa tháng không qua đây mà khung cảnh đã như đổi mới hẳn. Tre măng mọc vút lên, vượt hẳn những lớp lá lăn phăn của bụi tre già. Mo nang ở các đốt tre ôm chặt lấy từng gióng, vàng nượm như bụng rắn, ở các đốt đã chìa ra những nhánh rất nhỏ, mấy chiếc lá non bám vào mỏng mảnh như những nét phảy. Những cụm cỏ nghệ mới đây còn xanh tốt như rừng, bây giờ đã bắt đầu vàng sẹm, chùm hoa ở giữa gốc màu tím điều cũng héo hon, sắp hết mùa cỏ dại rồi.

Bước qua cầu, Cừ đi sát cạnh đứa con nuôi, và bỗng nhiên anh thèm muốn được gọi nó là con, nhưng con bé vẫn coi anh như người xa lạ, nó gọi anh bằng bác với cái vẻ tự nhiên, vốn đã là một cách xưng hô quen thuộc của nó đối với nhiều người. Anh mỉm cười gượng gạo, nói khẽ :

- ở đây hơi xa phố cháu đừng buồn nhé.

Con bé lặng im một lát, mãi nó mới nói, giọng rất đanh như người lớn tuổi :

- Cháu ở đâu cũng được bác ạ.

Trò chuyện với một đứa con gái mới mười bốn tuổi trong một buổi tối và suốt dọc đường từ nông trường bộ về đến đây, Cừ luôn luôn ngạc nhiên vì những câu trả lời bất ngờ của nó. Anh vừa thương hại, vừa khó chịu vì nó đã khôn ngoan quá sớm, nó già hơn tuổi vì những lời lẽ đối đáp rất tinh khôn, và tính toán chi li đến từng câu trả lời. Nhìn những mái nhà nổi lên thành một dải vàng nhạt trên những ngọn me dại, xoan và những cây chó đẻ, con bé khẽ kêu lên :

- Đến rồi hở bác, chóng quá nhỉ, cháu tưởng còn đi xa nữa.

- Ta rẽ ra đồng thăm lúa một chút. Chỉ vài hôm nữa ở đây vào gặt rồi. Bận lắm đấy.

Trèo qua một cái giá tre có bực thang dựng lên trên hàng dây thép gai ngăn trâu bò là khu vực trồng lúa nương của nông trường. Những cây lúa cao ngợp đầu người, ngả ra che kín cả con đường mòn chạy ở giữa. Bông lúa đã sạm vàng, nhiều bông đã gục mặt, đôi bông mới uốn câu. Mép trấu hé mở để lộ ra những bao phấn mỏng mảnh nắng đã se dần màu trắng, ở những chẽ trên mép trấu đã ngậm lại còn lòi ra một chút đầu bao phấn hoe hoe vàng nhạt. Trong gió hanh tiếng lúa cọ vào nhau nghe rất nặng, vừa khô vừa sắc. Cừ lách mình vào giữa rừng lúa, vừa đi vừa cúi xuống nâng những cây ngả gạt sang hai bên. Hai cánh mũi anh co giãn rất nhanh, một thứ hương vị nồng nhạt, thoảng thơm phảng phất khắp mọi chỗ. Đi theo mãi cái vách thành kết bằng những hạt lúa dày kín ấy, hai người chợt bước ra một khoảng đất trồng lạc rộng mênh mông. Lạc ba tháng đã ra hoa, hoa lạc ẩn dưới gốc vàng chói, chập chờn như những cánh bướm, màu lá lạc được mưa xanh mỡ, trông non và ngọt như cốm. Và khu nhà trống để máy kéo cũng đã kề sát ngay phía đầu bãi bên kia.

Ngày chủ nhật, bộ đội và anh chị em công nhân ra chơi phố và đi thăm các đội bạn gần hết. ở mỗi nhà còn chừng mươi người đánh cờ tướng, tu-lơ-khơ, hoặc đẽo cán liềm, gắn lưỡi hái, chuẩn bị cho vụ gặt. Cừ vừa đi ngang sau khu nhà trung đội I, có tiếng gọi giật lại :

- Anh Cừ về chơi đấy ư ?

Cừ ngoảnh lại, Quang tổ trưởng một tổ sản xuất đang nhìn anh cười, trước mặt ngổn ngang đến chục cây giang và một bó lạt đã chẻ.

- Lâu lắm mới lại gặp nhau. Lấy gỗ xong hôm nào thế ? Không đi chơi đâu à ?

- Lại về đội được nửa tháng rồi anh ạ... Cũng định ra phố một tí nhưng các cô tiểu thư lại nhờ chẻ hộ lạt. Mai vào gặt rồi... Cháu nào thế ?

Cừ chưa kịp trả lời thì con bé đã nghiêng đầu nhìn Quang, cười rất tự nhiên :

- Cháu về đây để gặt giúp các chú mấy buổi.

Quang cười to :

- Ra thế, vậy chú xin xung phong cõng cháu ra ruộng nhé... Tối anh có rỗi tôi lại chơi.

- Thì về chơi chứ có về họp đâu mà không rỗi. Tối đến nhé, mình mới mua được gói chè hương.

Chị Lụa mấy hôm nay bị đau bụng nên nghỉ ở nhà. Chị ngồi một mình đang hí hoáy bóc lạc. Cừ đứng sững ngay ở ngưỡng cửa nói to :

- Đến nhà rồi đây !

Chị giật mình quay ra thấy chồng đang nghiêng mặt nhìn về phía sau.

- Ai đến chơi thế !

Vừa lúc ấy một cái đầu nhỏ bé, tóc cúp ngắn ló vào :

- Chào bác ạ.

Cừ đặt ba lô lên giường, giới thiệu :

- Đây là bác gái cháu, còn đây là cháu Tấm.

Chị Lụa ngắm một lượt đứa bé xa lạ mới đến :

- Con ai mà nhớn nhỉ ?... Cháu mới ở quê lên hôm nào đấy?

Cừ gõ gõ điếu thuốc lá xuống bàn, cười :

- Con tôi chứ còn con ai, bố con tôi ngủ nhờ bà chủ đêm nay nhé...

Tấm liếc nhìn cả hai người, rồi nó bưng miệng cười, hai con mắt sáng lên rất ranh mãnh. Bằng một cử chỉ rất nhanh, nó chạy lại đầu giường xách chiếc ba lô để lên một góc cái hòm gỗ, thành thạo như đã từng đến đây vài ba lần. Chị Lụa vẫn còn đang theo dõi nó bằng con mắt dò xét thì nó đã cúi xuống gậm giường, hỏi :

- Nhà còn đôi guốc nào cho cháu mượn rửa chân với. Và không đợi người chủ nhà trả lời, nó đã lôi ra một đôi guốc mộc, quai dù từ góc một chân niễng :

- Đây rồi, quai này là bền lắm nhé. ở trên kia có chú tích trữ đến hai đôi, cháu hỏi xin một đôi chú ấy nhất định không cho... Sao có người độc bụng đến thế.

Mới phút đầu con bé đã ăn nói quá lém lỉnh, chị Lụa đặt giá lạc lên bàn, nét mặt lạnh nhạt hẳn, hỏi chồng :

- Có ăn cơm nếp không để tôi lấy thêm gạo ?

Cừ cởi áo mắc vào chiếc đinh đóng trên tường, anh thấy vợ không vồ vập, ân cần đối với con bé nên lựa lời giới thiệu thêm:

- Con bé thông minh, nhanh nhẹn lắm, tôi nhận nó làm con nuôi đấy. Quê nó ở Hà Đông, bố mẹ chết cả, đi ăn đi ở từ bé. Mình hiếm hoi có nó cũng vui...

Anh định nói thêm thì tiếng Tấm đã léo xéo ở đầu chái :

- Cháu là người nhà bác Cừ đấy ạ. Chốc nữa mời chú sang chơi.

Nó định bước vào trong nhà thì chị Lụa gắt lên rất đột ngột:

- Lại tha đất vào đầy nhà bây giờ...

Nó đứng sững ngay lại, nét mặt đờ ra, nhưng rồi khẽ cúi đầu xuống đập đập đôi guốc vào thềm hè. Từ lúc ấy nó không nói một câu nào, ngồi im lặng trên cái ghế dài kê sát tường, lặng lẽ ngắm bà chủ nhà tính tình không lấy gì làm vui vẻ lắm...

Trong khi Tấm tính toán thầm với riêng nó thì Cừ cũng để ý xem xét thái độ của đứa bé khôn ngoan ấy đối với vợ mình ra sao. Càng nhìn anh càng ngạc nhiên vì cái khuôn mặt kỳ lạ của đứa con nuôi, phía trán hóp lại gần như nhọn, dưới cằm lại bành rộng ra theo hình vuông khiến nét mặt mất hết mọi vẻ thơ ngây, cái miệng rộng, hàm răng to và đều như hàm răng của người con gái dậy thì, hai con mắt đắn đo, dò xét, lấp lánh một vẻ tinh khôn, lanh lẹn đặc biệt.

Đột nhiên chị Lụa hỏi nó :

- Cháu năm nay mười mấy tuổi ?

- Tính cả tuổi mụ là mười bốn, cháu tuổi Sửu đấy. Tuổi Sửu là vất vả lắm.

Cừ mỉm cười :

- Cháu còn bé mà đã tin ở tướng số rồi à ?

Bữa cơm chiều Tấm tranh làm gần hết mọi việc. Mới đầu chị Lụa cũng giữ kẽ với chồng không cho làm. Nhưng sau thấy nó cứ nằn nì, quanh quẩn không chịu đi đâu, hơn nữa cơn đau bụng lại bắt đầu âm ỉ nên chị dặn dò một chút rồi đi nằm. Mâm cơm dọn lên rất ngon lành, rau sào, đậu phụ rán, lại thêm một đĩa rau thơm, hành sống. Vào bàn ăn Tấm cũng dành ngồi ngoài xới cơm. Vừa ăn nó vừa hỏi chị Lụa ở đây có vại muối dưa không, có lọ to để ngâm dấm đu đủ không, có biết cách làm đậu phụ nhự của miền Nam không ?

Cừ nghe nó hỏi cặn kẽ mọi việc như một người nội trợ đảm đang, anh bật cười :

-Có làm được không mà hỏi lắm thế ?

- Cháu vẫn làm mà lại.

- Vậy bác đề nghị bổ sung cháu vào tổ nuôi quân nhé.

- Nhưng lò bếp của các chú ấy đắp cao quá bác ạ.

Trong bữa cơm chị Lụa đã nhìn Tấm bằng con mắt dịu dàng hơn, con bé tuy ít tuổi nhưng làm ăn đâu vào đấy. Dù có phải nuôi mỗi tháng mất vài chục bạc nhưng khi ốm đau đã có người săn sóc, đỡ đần... Chỉ phải tội mặt mũi nó trông láu lỉnh, xảo trá quá. Rồi chị cứ miên man suy tính thiệt hơn, có lúc thấy nó cần thiết cho mình, có lúc lại thấy nó là gánh nặng cho mình, cho nên chị cũng không hẳn tỏ ra cởi mở, dễ dãi, nhưng cũng không đến nỗi lạnh nhạt, cau có như lúc đầu. Còn Tấm không phải chỉ hỏi một cách vô tư, nó cũng nghĩ về nó, về thái độ của hai người chủ nhà, và tự bảo thầm : "Mình ăn mấy vực cơm nhưng đã làm cho bà ấy cả buổi chiều, mình không ăn xin, nay mai bà ấy không thể kể ơn với mình được..."

Lên đèn được một lúc, chị Lụa đã đun sôi ấm nước thì Quang cầm một cây mía bước vào.

- Mía tăng gia của tổ đây, trồng được mấy bụi ăn phí ăn hoài gần hết cả, còn được vài cây phần anh.

- Có ngọt không ?

- Mía Điện Biên còn phải nói... Cháu có ăn mía không hay sợ sún răng ?

- Chú làm cháu như là trẻ con không bằng.

- Aỏi chà, thì người nhớn được với ai.

Cừ liếc nhìn Tấm ngồi thu lu ở một góc giường, định nói : "Nó bé nhưng có khi còn khôn hơn chú đấy", nhưng lại thôi. Chị Lụa đã đắp chăn đi nằm. Cừ lấy một lọ trà đưa ra trước đèn khoe với Quang :

- Cậu thử nhìn xem là nhãn hiệu gì ?

Quang nhìn chăm chú rồi cười ầm :

- Sao lại đựng trà vào lọ thuốc điều kinh của bà ấy ?

- Đấy ông xem, vợ thì thuốc điều kinh, chồng thì trà hương hảo hạng, cái này đựng vào cái nọ, hết lọ nhớn đến lọ bé làm gì mà không tiêu ma cơ nghiệp.

Quang nhìn đồng chí chủ nhiệm, người anh và cũng là người bạn tâm phúc từ ngày anh vào bộ đội đến nay. Sáu, bảy năm rồi, con người ấy hầu như không thay đổi mấy. Vẫn hàm râu quai nón không mấy khi được nhẵn nhụi, cái cười sảng khoái, rộng rãi, chan chứa thương yêu. Vẫn lối nói thẳng thắn, không e nể một ai, không giấu giếm một cái gì. Vẫn cách sống ồn ào, sôi nổi, thích đùa cợt.

Cừ dốc một ít trà vào lòng bàn tay, khẽ nghiêng nghiêng mé tay soi vào ánh đèn, rồi hỏi Quang:

- Uống đặc được chứ ! Hôm nay nói chuyện lâu một tí, cần gì ngủ sớm.

- Anh còn nhớ hồi đi chiến dịch nấu nước trà bằng ống cát cút không ?

- ừ, ừ... thế mà lúc uống vẫn say sưa, thú vị nhỉ. Mình cứ nhớ một cái ống cát cút bọc giấy báo đút vào túi áo ca-pốt, đến chặng nghỉ múc ít nước suối, móc hai quai vào cành cây, ông "con rể" đốt một bó đuốc hơ, chỉ năm phút nước đã sôi ùng ục, cho vào một dúm trà búp, cái thứ trà chiến lợi phẩm ấy mà. Thế là bố con, bạn bè quây lại xuýt xuýt, xoa xoa, đến hay... Nhân nói chuyện xưa lại nhớ đến thằng "con rể", nó hy sinh ở Mường Khoa nhỉ. Thằng ấy còn sống thì không chừng cũng trở thành cán bộ kỹ thuật hạng cừ. Uống đi không nguội... Cháu Tấm có uống được nước trà không... không dám uống à... Cũng phải. Chè chén nên nhường cho bọn già... Thế nào, kỳ về phép vừa rồi có được vui vẻ không ? Kết quả tốt đẹp chứ?... Không khéo cậu lại vượt vợ chồng mình cũng nên... Căn bản là phải trẻ mới ăn thua, chứ má đã răn, gối đã mỏi thì thuốc giời cũng đừng hòng.

Quang hớp một ngụm nước, nét mặt hơi buồn buồn :

- Anh cũng rõ hoàn cảnh gia đình của tôi rồi đấy. Từ ngày con bé cháu mất nhà tôi cứ ngơ ngơ ngẩn ngẩn, mấy năm nay lại mắc chứng đau bụng, đi khám họ bảo bị viêm tử cung, nhà nghèo bệnh trọng là thế. Thành thử một tháng nằm nhà đến hai chục buổi. Một mình đã vậy, nhưng còn hai đứa em, một đứa lên mười, một lên bảy. Chúng nó là con ông chú ruột tôi, cả bố lẫn mẹ đều hy sinh trong kháng chiến, họ hàng chỉ còn mỗi vợ chồng tôi là gần. Dù rau cháo nhưng anh em đùm bọc lấy nhau vẫn hơn đi ăn đi ở cho người khác... Mỗi lần về trông thấy chúng nó tôi không sao cầm được nước mắt. Thằng nhớn đi học về rời quyển sách là đâm đầu vào bếp đun nấu, thằng em thì đi tha thẩn khắp xóm, mặt mũi lem luốc như thằng quỉ. Tội nghiệp, chúng nó biết là anh chị nghèo nên ăn thế nào cũng được, mặc thế nào cũng xong, được cái cả hai anh em nó đều có sức nên ít đau ốm. Tôi nghiệm ra những đứa bé đã từng nếm mùi cơ cực, lớn lên đều có chí cả, quẳng vào chỗ nào cũng sống nổi... Không hiểu các cậu khác về phép có nhàn nhã không chứ tôi thì vất vả gấp mười lần ở đơn vị. Vợ ốm, em thì bé, không xoay trần ra tranh thủ mấy chục điểm rồi đến mùa thì ăn gì. Kể ra nếu ngày ngày thắng bộ quần áo mới, đi đôi giày vải lấp ló hai cái cổ bít tất trắng, một bao Hoàn Kiếm hoặc Bông Lúa đút túi quần, la cà nhà này nhà khác, thăm hỏi trò chuyện, giảng giải chính sách thì trông ra vẻ anh bộ đội về phép hơn. Đằng này mới từ mờ đất trên giường đã lăn xuống đất rồi, chẳng kịp đánh răng rửa mặt gì, ăn vội vài bát cơm nguội, ngậm điếu thuốc lá là ra đồng ngay. Buổi đầu thì dỡ khoai, buổi thứ hai thì tát nước, từ buổi thứ ba trở đi là cày liệt vị, vì đang dịp cày mùa. Lại nói cái tối tâm sự trước ngày lên đường. Vợ tôi cũng thuộc vào loại cứng rắn, đảm đang, nhưng có điều cô ta chỉ cứng rắn được khi vắng mặt chồng, còn tối hôm ấy thì cứ khóc sướt mướt như trẻ con. Cô ta kể lể ra nhiều nỗi lo lắng lắm, nào vợ chồng ăn ở với nhau đã tám chín năm trời bây giờ một mụn con không có; nào là ốm đau luôn, cảnh nhà lại túng thiếu, anh em kiến giả nhất phận, các em thì bé, gượng được thì khá, rồi ra không gượng được nữa sẽ biết nhờ cậy vào ai. Tôi lại phải kiên nhẫn gỡ ra từng mối một, nhưng cũng là giải quyết quanh thôi, động viên tinh thần là chính, vợ vì thương chồng nên cũng dịu dần... Về nhà được mười lăm hôm tính ra những giờ được ngồi trò chuyện với vợ, với em chẳng được bao nhiêu. Suốt ngày phơi mặt ở ngoài đồng, tối họp hành xong về thì cũng đã khuya, đặt lưng nằm xuống là ngáy bằng sấm... Vợ nó thấy cái cảnh ấy chắc nó cũng chán.

- Nếu đem so với hoàn cảnh của cậu thì vợ chồng mình còn là dễ chịu hơn. Bây giờ định giải quyết ra sao... Mình có thể đóng góp được gì trong cái việc này không ?

- Bây giờ đưa vợ và em lên đây thì cũng dở dang, vợ ốm, hai em dại, có miệng ăn mà không có tay làm, phụ cấp của tôi thì cáng sao nổi. Còn có nên nhờ anh em, nhờ tổ chức hay không thì tôi nghĩ chưa nên, mới bị cái gai đã kêu ầm lên là xổ ruột, người khác không cười thì tự mình cũng khinh mình là thằng nhát gan. Rồi ra đâu vào đấy cả... ở thời buổi này không nên quá lo xa...Nếu tôi có nghĩ ngợi là chỉ lo cho hai đứa em thôi. Nhưng tôi đã dặn dù thế nào chăng nữa nhất định phải cho thằng lớn đi học, và cả hai đều phải được ăn đủ, mặc ấm. Thiếu thốn đâu tôi sẽ trợ cấp thêm.

Câu chuyện về phép của Quang hấp dẫn con bé đặc biệt, mắt nó nhìn người nói không chớp và hình như nó cũng bị xúc động. Khi Quang nói xong nó khẽ thở dài, ngồi dựa vào vách liếp :

- Thế các em không phải làm gì để giúp thím à ?

- Chúng nó còn bé thì đã cất nhắc được gì.

- Bé !... Cháu bằng tuổi chúng nó đã phải làm đủ mọi việc rồi đấy.

Quả nhiên con bé là một tay làm ăn khá, không thua kém người lớn là mấy. Khi đưa Tấm về tổ thanh nữ, đồng chí đội trưởng đã căn dặn Quang, người phụ trách tổ đó, không nên để Tấm làm việc nặng, có thể chỉ nên cho làm nửa ngày còn nửa ngày học văn hóa. Một tháng qua đi, khi phân công hàng ngày, chính Quang cũng đã quên rằng Tấm mới mười bốn tuổi, bất cứ việc nào con bé cũng làm được thành thạo, gọn ghẽ. Nó cũng bắt chước các chị lớn tuổi, lấy một mảnh vải bịt tóc, quấn mùi xoa vào cổ tay lau mồ hôi, sau giờ làm nó kỳ cọ tay chân rất tỉ mỉ, lấy kim băng nạy từng hạt đất nhét vào vết nẻ ở gót, chải chuốt, ngắm nghía, hầu như không có một chút mệt mỏi nào, không cần một sự cố gắng nào, bình thường, tự nhiên như vốn đã là một nếp sống từ ngày bé. Tấm dành một tình cảm rất đặc biệt đối với Quang, vì anh ấy là anh của hai đứa em mồ côi, anh ấy lại là người tốt nhất nó chưa bao giờ được gặp, gia đình neo bấn mà vẫn nuôi nấng hai đứa em được đầy đủ, không bắt chúng nó phải làm lụng vất vả, không hành hạ, đánh mắng. Nó tin anh, thích được tâm sự với anh, và ao ước có được một người anh trai như thế.

Một buổi đứng đạp máy tuốt lúa cùng với Quang, Tấm chợt hỏi :

- Cháu làm như thế này đã được coi là công nhân chính thức chưa hả chú ?

Quang thầm nghĩ chắc con bé này muốn tỏ cho mọi người biết mình đã là người lớn rồi đây, muốn thành nữ công nhân để đi lấy chồng chăng. Anh mỉm cười :

- Nào có ai bảo cháu là bé đâu.

Nét mặt nó vẫn nghiêm trang, nó ngập ngừng một lát rồi hỏi tiếp :

- Như thế thì cháu có được chính phủ cấp lương cho không?

Quang đờ mặt ra không trả lời được, khi phân công anh coi nó như một người lớn, nhưng lúc trò chuyện anh vẫn nghĩ nó còn là một đứa trẻ con, làm được chút nào hay chút ấy, còn ăn uống, may mặc đã có vợ chồng anh Cừ rồi.

- Cháu cần tiền tiêu vặt à, ăn uống đã có nơi rồi còn gì.

- Không, cháu muốn tự kiếm lấy, cháu không thích ăn nhờ vào bác Cừ.

Chắc lại có chuyện gì xích mích giữa chị Lụa và con bé đây. Anh gợi chuyện :

- Bác Lụa là người tốt lắm đấy, chú xem bác ấy cũng rất quý cháu...

Nó lặng im, nhưng rồi khẽ "xì" một tiếng nhỏ :

- Tốt, cháu chẳng tin ai tốt cả. Các cô ấy làm được tiền còn may sắm cái này cái nọ, cháu muốn mua thước vải cũng chẳng biết xin ai.

- Cháu không nên giữ kẽ thế, thiếu gì phải nói các bác ấy mới biết.

- Cháu nói riêng với chú nhé, chú đừng nói lại với ai đấy... ở đây cháu thấy chỉ có chú là tốt thôi. Bác Cừ đưa cháu về cũng là muốn cháu hầu hạ vợ bác ấy. Nói là nhận làm con nuôi nhưng lại làm quá người ở. Cháu đi ở nhiều nơi rồi cháu biết. Bây giờ, cháu còn làm được thì nhận làm bố con, bác cháu, nay mai cháu thử ốm xem là người ta sẽ tìm cách đuổi đi ngay đấy... Chú ơi, chú thử hỏi cấp trên xem như cháu thì có được hưởng tiền lương không. Nếu có tiền cháu sẽ thổi cơm lấy, ăn uống thật tằn tiện, dành dụm được ít nhiều thì đỡ lo những ngày ốm đau...

Vừa nghe Tấm kể lể, Quang vừa nhìn hai cổ tay gầy guộc rám đen của nó xoay đi xoay lại lượm lúa, hai cái bả vai hơi co lên, nhìn qua những kẽ ô thưa của thứ vải mặc đã lâu ngày thấy lờ mờ những chấm trắng của da thịt, tự nhiên mắt anh cay xè, phía trong hai cánh mũi nóng ran xộc lên đến đỉnh óc. Anh định nói thêm một câu gì nhưng không thể nói được nên cứ cắn môi im lặng. Con bé vẫn nói miên man về những lo lắng của nó :

- Ví thử như cháu ốm thì có phải mua thuốc không hả chú, hay là được chú y tá phát? Cháu sợ ốm lắm chú ạ, ốm vừa buồn, lại hay tủi thân, nhưng cháu chẳng khóc bao giờ... Mấy cô ở đây mới đau bụng một tí đã khóc ầm lên để bao nhiêu chú phải đến dỗ, rồi nào thuốc uống, nào thuốc tiêm. Như cháu ấy à... cháu cắn răng lại mà chịu, không phải là cháu không muốn khóc đâu, không muốn rên đâu, nhưng nếu rên khóc người ta sẽ cho là ốm nặng, sẽ đưa cháu đi nhà thương, ở đấy chết không ai biết, cháu cứ nghĩ như thế là lại chịu đựng được, và rồi cháu vẫn không ốm...

Một buổi sáng chủ nhật, hai chú cháu Quang rủ nhau vào rừng đào măng. Đằng đông mặt trời vẫn nằm trong cái túi mây, nền trời trắng nhạt như cái bong bóng lợn. Bỗng nhiên giữa cái màu xám xịt ấy xuất hiện một vệt nắng vàng óng chạy dài suốt các bản dọc chân núi phía tây, và những cái mái nhà hình thang sáng rực lên như tách khỏi nền đất đen sẫm, bay lơ lửng. Quang vừa đi vừa giảng giải những vẻ đẹp mà anh rất mê say ở thung lũng Điện Biên này, buổi sáng như thế nào, vào lúc trưa như thế nào, tối đến khung cảnh lại biến đổi ra sao. Rồi anh hỏi Tấm :

- ở quê cháu có đẹp được bằng đây không ?

Nó ngập ngừng một tí :

- Cháu cũng chẳng biết nữa.

- Thế cháu lên đây có nhớ nhà không ?

- Nhớ mấy cái bà mà cháu ở ấy à. Cháu ghét cay ghét đắng. Đi được là thoát. Toàn những người bóc lột.

- Họ là địa chủ à ?

- Không, không phải là địa chủ đâu chú ạ. Một bà làm bún, một bà gói bánh chưng đem bán các chợ... Nhưng họ ác lắm. Cháu vẫn tức cái bà làm bánh kiếm được nhiều lãi thế nhưng cho cháu ăn uống thật khổ, cơm một phần, sắn trộn vào đến bốn phần. Vậy mà cũng không được ăn no đâu. Thức ăn toàn cà ủng, dưa khú, không sao ăn được. Tính nết bà ta lại quắt quéo, ăn cắp như ranh. Có hôm bà ấy ra ruộng cà chua giả vờ đi ngoài, rồi vừa ngồi vừa vặt cà chua đùm vào váy. Một hôm cháu ốm bà ấy phải đi đưa bánh cho các hàng đặt. Đợi bà ta đi được một lúc, cháu lấy cặp tóc nậy khóa chiếc hòm gian mở ra xem. Chú có biết trong hòm bà ấy cất giấu những gì không? Một thúng gạo dự nhé, một niêu cá kho với thịt nhé, cà chua đi lấy cắp cũng còn rất nhiều xếp đầy một góc hòm. Thì ra bà ấy vẫn ăn giấu cháu, hễ cháu đi chợ là ở nhà bà ấy thổi cơm gạo dự ăn với thịt. Thảo nào lúc ăn với cháu bà ấy và nhỏ nhẹ, chỉ hai lưng xới đã đứng dậy. Cháu thì xanh rớt, còn bà ấy thì béo đỏ... Hôm ấy cháu tức quá, đã định đổ hết niêu cá đi, hay bỏ đất trộn vào cho bõ ghét. Sau lại sợ bà ấy biết sẽ đuổi cháu, nên cháu thôi... Bây giờ cháu chỉ ao ước làm được nhiều tiền, may mấy bộ quần áo thật đẹp như các cô ở đây, rồi cháu sẽ về quê chơi cho các bà ấy biết mặt. Nhất định là cháu không chết đói nhé, cháu lại làm được ra tiền. Lúc ấy rồi lại xun xoe, cháu cháu, thím thím ngay đấy, để xin xỏ, vay mượn mà. Đừng có hòng cháu cho vay, họ vay được là họ nuốt trôi ngay, mình bé cãi lại làm sao được...

- Bây giờ ở quê cháu chắc cũng vào hợp tác xã cả rồi. Đời sống các bà ấy khấm khá lên thì rồi tính nết cũng thay đổi, chứ không đến nỗi như cháu nghĩ đâu.

- úi giời, tính họ ác thì đến chết cũng vẫn ác. Cháu hỏi chú nhé, nhà chú cũng nghèo tại sao chú vẫn nuôi được hai em cháu, chú vẫn cho các em được đi học.

- à, à...

Anh định trả lời vì đó là hai đứa con của những cán bộ đã hy sinh trong kháng chiến, anh phải có trách nhiệm với chúng nó. Là vì anh là một quân nhân không thể giống một bà bán hàng rong, nhưng lại sợ sẽ làm nó tủi thân, nghĩ ngợi thêm... Quang vừa đi vừa chăm chú ngắm nghía những bụi tre rất dày, mo nang rơi đầy ở gốc óng ánh màu trắng ngà. Tấm xách cái túi vải người Xá đi tung tăng phía trước, chốc chốc lại ngoảnh lại hỏi :

- Bụi này có măng không chú !

- Đi sâu vào tí nữa, ở đây họ lấy hết cả rồi.

Đến một bụi rất rậm, anh dừng lại cắm lưỡi thuổng xuống đất, bẻ những cành gai sang hai bên, nghiêng nghiêng ngó ngó một lúc rồi nói to :

- Đưa cái thuổng cho chú !

- Chú cho cháu xem chú lấy như thế nào... Cháu chẳng trông thấy gì cả...

Những mầm măng nhú lên trên mặt đất màu xanh thẫm sát những gốc tre mốc trắng, Quang lách lưỡi thuổng qua những thân tre, luồn vào đúng chỗ có mầm, ướm ướm mấy cái rồi lao mạnh mũi thuổng xuống đất, chiếc măng khẽ nẩy lên, rung rung một chút rồi lại đứng ngay ngắn, anh khẽ lắc lắc tay cán, chiếc măng lùi dần vào phía trong rồi nằm dài dọc theo chiều lưỡi, và rất nhẽ nhàng anh rút thuổng ra qua những kẽ hở, cầm lấy cái măng đưa cho Tấm.

- Đây, măng đây... nhưng phải bóc lượt vỏ ngoài ra, lấy cái nõn trắng ở trong thôi. Để chú bóc thử cháu xem.

Anh rút lưỡi dao ngắn đeo ở sau lưng chặt phía đầu vỏ ngoài bọc kín nhọn như búp sen, rồi lại rạch một đường thẳng nữa, bóc lượt vỏ ngoài. Nõn măng thật đẹp, những sợi lông xếp lại, mịn màng, nhóng nhánh trắng như bọc bằng xa tanh. Cái Tấm không bỏ qua một cử chỉ nào của Quang, nó trầm trồ:

- Đẹp quá chú nhỉ, mà cũng dễ lấy thôi.

Quang vừa luồn lưỡi thuổng đào những chiếc măng khác, vừa giảng giải :

- Cháu có trông thấy những cái vai trâu bằng tre không. Không phải do mình uốn đâu nhé, tự nó uốn nó đấy thôi. Cháu xem, bụi tre dày thế kia, chen chúc nhau thế kia, mầm măng muốn lớn lên là phải lách theo những kẽ hở, cho nên sau này gốc nó mới bị cong queo. Âởy vậy mà đi tìm vai trâu phải mất hàng mấy buổi chưa chắc đã chọn được cái vừa ý. Dùng vai trâu bằng tre thì bền hơn vai gỗ nhiều... Được mấy chiếc rồi?... Thôi, sang bụi bên kia... Chiều nay hai chú cháu ta sẽ ngồi thái mỏng ra xâu dây phơi độ vài nắng là cẩm như măng bán ở Hà Nội ngay.

Con bé vẫn chăm chú theo dõi Quang, còn Quang thì vừa làm vừa kể những câu chuyện thuộc về những kỷ niệm đã qua :

- Ngày cháu lên trên này, cháu có để ý đến những rừng bương ở quãng giữa Mộc Châu với Yên Châu không ?

- Có lẽ có nhưng cháu không để ý. Đến hôm nọ vào bản Cộng cháu mới được trông thấy cây bương đấy, ở quê cháu không có bương.

- ở Yên Châu thì nhiều rừng bương lắm. Ngày mở chiến dịch Tây Bắc cuối năm 1952, đơn vị chú toàn trú quân ở rừng bương. Những cây bương to bằng cái cột cái ấy, cứ đẵn một khúc băm ra làm giát vừa một người nằm, lợp lán cũng lấy mo nang của nó, chứ làm gì có thì giờ đi cắt gianh. Các chú đặt tên cho khu ấy là "khu mo nang". Mùa đông có sương muối thì lá rụng hết, còn trơ lại những chùm quả lủng lẳng bằng cái nón một... Cháu đưa túi chú xách cho, được ngày đi chơi chú bộ đội lại bóc lột sức lao động.

Tấm hơi nghiêng nghiêng đầu, một mảng tóc xòe ra che gần kín nửa mặt, chỉ thấy đuôi mắt nó sáng lên óng ánh :

- Chú Quang này, chú đi bộ đội từ bé à ?...

- Thôi, ta về đi, lấy thế đủ rồi... Đi thong thả chứ, vừa đi vừa nói chuyện cho vui... Chú đi bộ đội từ năm mười tám tuổi, năm nay chú đã hai mươi bảy. Có chắc sống được hai mươi bảy năm nữa không nhỉ ? Tuổi thì mười tám nhưng chú chỉ nhỉnh hơn cháu một tí thôi, thế mà đã vợ con đàng hoàng rồi... cũng tại các cụ cả. Chú nhập ngũ được một tháng thì được đi chiến dịch Tây Bắc lần thứ nhất ngay. Ngày cháu mới lên đây cháu có nhớ đồng bằng không ?... Lại không à ... Cháu thì chẳng nhớ đến ai, chẳng vương vấn một cái gì. Bây giờ tiếng là cháu lên Tây Bắc nhưng lại ở cái đất Điện Biên này thì có khác gì đồng bằng. Còn như ngày ấy sao chú nhớ dưới xuôi đến thế. Bốn mươi lăm ngày toàn hành quân trong rừng, trời mưa tầm tã, chỗ nào hơi có ánh sáng rọi vào trong bụng đã mừng khấp khởi, chắc mẩm sắp được giải phóng con mắt đây, sắp ra đến đồng bằng rồi đây. Chẳng ngờ lại quặt vào những chỗ bóng tối còn dày đặc hơn, núi vây quanh còn cao hơn. Có đêm đồng chí đại đội trưởng đơn vị chú tuyên bố đêm nay chỉ đi mười hai cây thôi, chú đã nghĩ ngay đến giấc ngủ ngon lành khi đến chỗ trú quân mới, vì mười hai cây, chứ ngay đến hai mươi cây nào đã mùi gì, cùng lắm chỉ một hai giờ đêm là đến nơi. Ai ngờ đêm ấy vẫn đi suốt cho đến sáng, chú vừa đi vừa tấm tức, bụng bảo dạ : đã làm đến cấp chỉ huy mà còn nói dối chiến sĩ. Cháu có biết đêm ấy bộ đội đi được bao nhiêu đường đất không, chắc nhiều lắm hả, không đâu, chỉ đi được có sáu cây số thôi. Đường rừng mà. Anh em thì họ biết cả, chỉ riêng chú vì là tân binh, lần đầu sống đất rừng núi nên mới nghĩ khờ khạo như vậy... Đã thế lại phải cái tội hay ngủ, đang sức ngủ mà không được ngủ người nó cứ mụ mẫm đi, chân vẫn bước theo anh em, nhưng tâm trí đã mê man chẳng còn hay biết chuyện gì xảy ra chung quanh nữa. Chú tuy là tân binh nhưng đã láu, hễ bộ đội dừng lại năm mười phút qua cầu, qua suối là chú tranh thủ ngủ ngay, ngủ đứng thôi, nhưng tay vẫn đặt lên ba lô người đi trước, bên trên họ chuyển động là mình thức tỉnh ngay. Một đêm chú cũng làm theo cái mẹo ấy, và cứ yên trí ngủ, ngủ mãi, rồi do linh tính con nhà binh hay sao, tự nhiên mở mắt ra, thấy tay mình hình như vẫn còn bíu lấy một vật gì, nắn lại kỹ... ai ngờ lại hóa ra mấu cây ổi cạnh đường, ngơ ngác nhìn trước nhìn sau cũng chỉ còn lại một cây ổi với một chú... còn anh em thì họ đã đi đâu từ lâu rồi...

- Ngày cháu ở cho nhà bà bún cháu cũng thèm ngủ lắm chú ạ. Làm bún dùng đến là tốn nước. Nhà có hai cái ang rất to, mỗi ang đổ bốn gánh nước chưa đầy. Cháu phải gánh từ tờ mờ sáng cho đến quá trưa mới tạm đủ nước dùng, hai xương vai cứ tê đi. Đến chiều lại vắt bún, đi đưa hàng, tối về nấu cám lợn chẳng được nghỉ một phút nào gọi là có. Lắm tối ngồi băm rau cháu chặt cả vào ngón tay, máu chảy lênh láng. Có buổi cháu đang nấu cám thế mà ngủ thiếp ngay lúc nào không biết, rơm cháy lém cả ra ngoài, đến lúc bà chủ đi qua lấy que cời nện vào giữa đỉnh đầu cháu, cháu mới sực tỉnh, nhưng đau quá không sao há mồm nói được. Đánh lúc đang ngủ là dễ chết lắm đấy chú ạ. Thế mà từ ngày cháu lên đây lại không thấy buồn ngủ nữa, trưa cháu cũng chỉ thích đi chơi, bữa nào ngủ được một tiếng lúc dậy mắt cứ sưng húp như người khóc ấy.

Nó kể cái câu chuyện không lấy gì làm vui ấy với vẻ mặt rất bình thản. Đối với nó những hành động tàn nhẫn của người khác không có gì là lạ lùng, họ vốn là như thế, còn nó, nó sinh ra để mà chịu đựng và chỉ ước ao sao mau lớn lên, khỏe mạnh ra để chịu đựng được bền bỉ hơn. ở đời này làm gì có được mấy người tốt, còn đời nó thì chắc là không thể sung sướng như người khác được.

Không hiểu vào cái hôm nào đó thì Tấm bắt đầu thấy yêu chỗ ở của nó. Hồi nó mới về đây chỉ độc có mỗi cái ba lô đã bạc, dăn dúm, còn ngoài ra không còn đồ đạc nào khác. Nó có thể đặt vào bất cứ cái giường trống nào, hoặc ở nhà bác Cừ nó, hoặc ở văn phòng của đội sản xuất, hoặc ở tổ thanh nữ. Điều đó chẳng có quan hệ gì, và cũng chẳng làm cho nó nghĩ ngợi gì, đâu nằm được là nó có thể yên tâm rồi. Nhưng dần dần đồ đạc của nó cứ nhiều thêm ra. Trước tiên chú Quang đẽo cho nó một đôi guốc bằng gỗ lồng mực, đóng quai dù, đôi guốc trắng mịn, nét đẽo đều đặn, cân đối, thật đẹp. Chú Khôi đội phó đổi cho nó một cái ba lô còn mới, màu xanh biếc, vải rất dày. Chú Tý quản lý cho mượn một cái màn và một mền chăn. Rồi đến chú Khang ở tổ mộc ghép mấy mảnh ván lại đóng cho một chiếc hòm nhỏ, bào nhẵn nhụi, có cả ổ khóa làm bằng vỏ đạn hẳn hoi. Lần đầu tiên trong đời nó có một cái đựng quá rộng và chắc chắn. Cách ít lâu bác Lụa may cho nó một đôi quần láng đen Trung Quốc, hai cái áo sơ mi trắng, một chiếc khăn sợi quàng cổ. Các cô ở tổ thanh nữ cũng tặng nó những chiếc kẹp ba lá không dỉ, vài cái vòng bằng hạt cườm. Tất cả những thứ ấy nó đều cất vào trong hòm, và không quên bỏ vào mấy hạt băng phiến. Bây giờ thì chỗ nằm của nó đã đẹp mắt và giàu có rồi. Một cái chiếu dệt hoa cạp vải, đầu giường chăn, màn, gối thơm tho, sạch sẽ, trên nắp hòm một lọ hoa bằng quả mìn nhảy quét lượt sơn xanh và vẽ chim hòa bình. Hễ lúc nào rỗi nó lại sửa sang chỗ nằm cho đẹp mắt hơn, quét quáy khắp gian buồng cho sáng sủa hơn và mở nắp hòm lôi ra tất cả những đồ vật nhỏ bé nhưng thật đáng quý, xem xét, ngắm nghía. Và cái công việc trẻ con ấy đã gây cho nó sự thích thú rất mới lạ. Nó bắt đầu yêu chỗ ở của nó, yêu cái gian nhà nhỏ bé mà nó chiếm một khoảng giường.

Cho nên buổi trưa hôm ấy khi nó đi gánh cát về thấy ngay trên giường mình để ngổn ngang một cái tay nải rất to bằng vải xanh, một bọc chăn chằng dây ngoài rất kỹ thì không thể không bực mình. Nó treo cái nón lên vách rồi nói to :

- Đồ đạc của ai mà để mất trật tự thế này ? Nó ghé đầu vào gian buồng phía trong thấy một người đàn bà rất lạ mặt đang thì thào nói chuyện với bác gái nó. Nó chào lí nhí rồi quay vội ra. Chị Lụa nói với người đàn bà kia :

- Cháu Tấm đấy, cháu nó ở với vợ chồng tôi được hơn hai tháng rồi. Có nó cũng vui cửa vui nhà.

Người đàn bà kia nhìn theo Tấm bằng đôi mắt buồn rầu, không nói gì cả. Người mới đến chơi là chị Lộc, vợ đồng chí Tề, trung đội trưởng ở tiểu đoàn 3, đơn vị cũ của Cừ. Cả hai vợ chồng đều là người Thổ Lạng Sơn, lấy nhau từ năm khởi nghĩa, nhưng ăn ở với nhau thì chưa đầy vài tháng. Chị lên Điện Biên với chồng đã được nửa năm, nhưng nửa năm ấy chồng lại đi tuyển tân binh ở Hải Dương mất ba tháng, về đơn vị được vài hôm lại đi học văn hóa. Rồi bị phù vì bệnh xưng thận phải về quân y viện ở Hà Nội điều trị. Cách đây vài hôm Hà Nội đánh điện lên báo tin bệnh tình anh ấy trở nên trầm trọng và mong vợ về thăm. Tiền riêng của hai người chỉ có hơn chục bạc, anh em trong đơn vị giúp thêm được hai chục nữa. Đi ô tô thì chậm, đi máy bay thì không đủ tiền. Trong lúc nguy ngập, bối rối chị tìm đến vợ chồng Cừ nhờ sự giúp đỡ. Suốt bữa cơm, Tấm hết sức chú ý đến người khách buồn rầu này. Cô ấy cũng phải trên ba mươi tuổi, răng bịt vàng ba, bốn chiếc, mặc cái áo cánh màu xanh trứng sáo, quần vải thô ruộm bùn, một tay đeo chiếc vòng nhựa màu đỏ. Cô ấy chỉ ăn được có hơn bát đã buông đũa đứng dậy, mắt cứ hoe đỏ, mòng mọng như sắp khóc. Gần tối thì Cừ đạp xe về. Vừa trông thấy Cừ, chị Lộc đã nức nở :

- Anh ơi, nhà em nguy mất anh ạ... Hà Nội họ đánh điện lên.

Rồi chị móc túi lấy ra một mảnh giấy màu xanh đưa cho Cừ. Anh cầm lấy xem rất kỹ, rồi khẽ hỏi :

- Chú ấy về nằm Hà Nội được gần tháng chưa nhỉ ?

- Mới có mười tám ngày.

Chính Cừ cũng ngờ rằng người bạn chiến đấu cũ của mình khó mà qua khỏi, nhưng biết làm thế nào. Chị ấy đang cần những lời khuyến khích, những câu nói tràn đầy hy vọng để lấy thêm sức chịu đựng cho những ngày tới. Anh làm ra vẻ vô tư :

- Họ đánh điện như vậy là thường chứ có phải trường hợp đặc biệt lắm đâu. Tôi cho là chú ấy muốn cô về phục vụ cho tiện đấy thôi.

- Không biết có phải thế không... Chắc anh ấy cũng biết đi về tốn kém như thế nào, làm gì có tiền. Ai lại muốn cho vợ về phục vụ mà lại đánh điện bao giờ. Em khóc suốt mấy ngày hôm nay... Em chỉ lo bơ vơ một thân một mình.

- Đừng có nghĩ vớ vẩn, vậy cô định bao giờ về dưới ấy.

- Nếu chỉ là về phục vụ cho anh ấy thôi thì em sẽ đi ô tô. Chậm vài hôm nhưng đỡ tốn.

Cừ vẫn đi đi lại lại, anh nghĩ ngợi một cách đau đớn nhưng lại phải giấu dưới vẻ mặt bình thản : "Đi máy bay ngày mai thì may ra kịp. Từ hôm nhận được điện đến hôm nay cũng đã ba bốn hôm rồi. Liệu vợ chồng có được nhìn nhau lần cuối không. Tề ơi, nếu cậu mất đi thì cô ấy sẽ sống ra sao đây. Con cái không có..."

- Em đi ô tô vậy anh nhé ?

- Đi ô tô xóc lắm không được đâu, thôi đi máy bay vậy. Ngày mai có chuyến đấy.

Thấy chị ngần ngừ, Cừ hiểu ngay:

- Thiếu tiền phải không, cô không lo, tôi sẽ biếu cô một cái vé máy bay. Còn lượt lên thì hai vợ chồng đi ô tô cũng được rồi.

Mặt người đàn bà tuyệt vọng kia sáng hẳn lên, không phải vì được một cái vé máy bay, mà vì chị nghĩ đến lượt lên của hai vợ chồng.

- Cứ miễn là nhà em còn sống là may - và chị buột nói một câu đầy tin tưởng - nhưng có khi cũng phải hơn nửa tháng nữa chúng em mới lên được.

Khi chị đi ra ngoài rửa chân, Cừ gọi vợ vào gian trong khẽ hỏi (nhưng Tấm vẫn nghe rất rõ):

- Nhà còn tiền không ?

- Còn, cần lấy bao nhiêu ?

- Đủ mua một cái vé máy bay, sáu chục.

- Thế thì thiếu mất hai chục, thôi được... giật tạm chị Vần đến tháng trả, cũng chỉ vài hôm nữa là lĩnh lương rồi.

- à, nếu chị ấy còn tiền thì cứ giật thêm ba chục, còn một chục để cô ấy ăn đường. Chốc nữa sang hỏi ngay đi thôi. Mai cô ấy đi sớm... Sáng mai có gì ăn chưa ?

- Còn cá kho.

Rồi chị Lụa gọi Tấm :

- Tấm ơi, tối nay cô ấy ngủ với cháu nhé... có chật không? Trời rét nằm hà tiện một tí càng ấm.

Tấm mắc màn thì Cừ đẩy cửa bước vào :

- Cô Lộc này... cứ yên trí mà ngủ đi. Tôi đã gọi điện ra sân bay nhờ xếp chỗ rồi. Sáng mai ăn cơm xong, thủng thỉnh lên là vừa. Một giờ máy bay mới cất cánh kia.

- Vâng, em xin cảm ơn anh.

Suốt đêm ấy, hễ lúc nào Tấm thức giấc nó cũng nghe thấy tiếng xụt xịt rất kín đáo của người đàn bà nằm cạnh. Riêng nó cũng thao thức, trằn trọc vì những ý nghĩ lạ lùng. Cuộc sống của nó tuy còn ngắn ngủi, nhưng nó đã được chứng kiến nhiều nỗi thương đau, chỉ duy tình thương yêu, sự chăm sóc thành thực của những người chung quanh đối với kẻ không may mắn là chưa từng được thấy. Nó thường nghĩ đến cách đối xử của những bà chủ mà nó ở, của những người trong cái làng nhỏ bé mà nó đã quen biết. Sao những người ở đây chẳng giống chút nào với những người nó đã từng gặp. Bảy chục bạc đâu có phải ít! Chưa bao giờ nó dám ao ước được có một số tiền lớn như thế. ừ, nếu nó có thật nó sẽ biết dùng làm gì nhỉ ? Nó có thoáng nghĩ đến một số vốn riêng và những chuyện phòng xa. Ô hay, tại sao những tính toán vốn đã rất cụ thể, rất chi li qua nhiều lần tưởng tượng của nó, đã thành một nếp nghĩ rất quen thuộc ở trong nó, trong đêm nay lại hóa ra mờ nhạt đến thế, hầu như không còn gây được sự thích thú như những lần trước nữa... Vậy nó sẽ dùng làm gì nếu có số tiền ấy ? Hay là nó sẽ may mấy bộ quần áo thật đẹp... Thì cũng đến một cặp quần thâm, vài chiếc áo sơ mi trắng. Những thứ ấy bác Lụa nó đã may cả rồi, nó đã mặc rồi và như vậy cũng đã đủ. Rồi những băn khoăn của nó cứ lẫn lộn, vừa như thật vừa như giả, cho đến lúc nó ngủ thiếp đi lúc nào không biết.

Sáng hôm sau ăn cơm xong, chị Lụa cầm bảy chục đưa cho bạn dặn :

- Về Hà Nội tiêu dè dặt một chút, không thì tốn lắm đấy.

Chị Lộc hai tay đỡ lấy tiền, đầu ngón tay cứ run bắn :

- Em xin anh chị.

Cừ hơi cười, nói một câu cốt để chị yên tâm thêm :

- Hai vợ chồng có lên thì nhớ lại qua đây nhé, tôi có mấy việc muốn nhờ chú ấy.

Nhưng qua một đêm suy nghĩ chị càng thấy hy vọng của mình rất mỏng manh, chị chỉ còn ao ước được gặp mặt chồng lần cuối.

- Em cũng mong thế nhưng chắc chẳng được đâu anh ạ. Lần này em xin chào anh chị thôi. Về Hà Nội chôn cất cho nhà em xong em cũng về Lạng Sơn ngay. Không biết đến ngày nào lại được gặp anh chị.

Cừ ngồi lặng đi, anh khẽ lắc lắc đầu rồi nói nhỏ :

- Cho vợ chồng tôi hỏi thăm chú ấy...

Chị Lộc đứng dậy lấy đòn gánh xóc một đầu vào bọc chăn, và đầu kia tay nải, với lấy cái nón, nước mắt ròng ròng chảy xuống hai bên má :

- Em xin chào anh chị. Anh chị giúp đỡ em lúc này em chẳng bao giờ quên. Cháu Tấm ở nhà nhé...

Thấm thoắt cái Tấm đã ở với vợ chồng Cừ gần bốn tháng. Những ngày đầu tiên chị Lụa không mến con bé lắm. Nó đi làm suốt ngày, tối đến lại học văn hóa, hoặc dự các buổi sinh hoạt chung, về mắc màn một lúc đã ngủ. Nó ít trò chuyện với chị, và nhìn chị bằng con mắt né tránh. Nhưng dần dần cách sống của nó đối với chị cũng trở thành quen thuộc. Một ngày hai bữa nó đi lấy cơm về, hai bác cháu cùng ăn với nhau, nó muối dưa cà, thái đu đủ ngâm dấm, quét quáy nhà cửa, ngày nghỉ lại giặt giũ chiếu chăn, có khi cả quần áo của chị. Có hôm nó xin trên văn phòng được một chồng báo cũ, quấy hồ dán kín những chỗ vách lở, cắt những tranh ảnh ở các tờ họa báo trang trí ở đầu giường. Nhìn chỗ nào cũng thấy có dấu vết của nó, rồi dần dần một cái bóng nhỏ bé ra vào, một mái tóc ngắn đen nhánh thấp thoáng đã trở thành hơi ấm của căn nhà, là hình ảnh không thể thiếu được trong sinh hoạt hàng ngày. Buổi nào nó đi làm về muộn phải chờ cơm, tối nào nó không về sớm, chủ nhật nào nó đi chơi cả ngày, chị bắt đầu thấy nhớ, và khi bóng nó xuất hiện ở khung cửa, chị thấy trong lòng mình rộn rã hẳn lên, muốn bật ra một câu âu yếm : "Con đã về đấy ư ?". Chị ao ước được là mẹ, nhưng chưa bao giờ chị là mẹ, bóng dáng nó đã đánh thức trong lòng chị tình mẫu tử. Chị vá quần áo cho nó, để phần cơm nó, mua cho nó một cái cặp tóc, một cái khăn len với sự cần thiết rất tự nhiên, không gượng gạo, tính toán, và những lúc ấy trong lòng chị trở nên ấm áp, vui sướng lạ lùng.

Cừ thì ít có dịp được gần gũi đứa con nuôi, mỗi tuần anh chỉ về nhà được một hoặc hai lần. Nhưng mỗi lần về anh đều chú ý đến cách sống của con bé. Anh thích được nghe nó nói chuyện, xem xét rất tỉ mỉ quan hệ của nó đối với chung quanh. Ngoài tình bố con mà anh ấp ủ, anh còn thấy mình có trách nhiệm đối với một thế hệ đang lớn lên. Phải gây cho nó có lòng tin yêu, có cách sống thẳng thắn, cởi mở thì sau này nó mới trở nên một công dân tốt của cái xã hội hết sức mới mẻ. Anh là một cán bộ chính trị, lại là người từng trải, nên anh rất am hiểu những nguyên nhân của mọi hành động tội lỗi mà anh đã từng phải giải quyết. Hầu hết những con người đáng thương ấy đã bị những thành kiến xấu xa của cái xã hội đang chết đi đục khoét từ ngày còn thơ ấu. Họ sống và hành động theo những thói quen tai hại mà tự họ đôi lúc cũng nhận thấy nhưng lại không có nghị lực cưỡng nổi. Mỗi lần gặp những trường hợp đau đớn như thế trong lòng anh lại sôi nổi một ý nghĩ : phải chú ý đến trẻ con, phải giáo dục và cải tạo chúng nó, phải làm cho chúng nó được sống trong cái không khí hoàn toàn mới mẻ của thời đại xã hội chủ nghĩa. Đấy là phương pháp tích cực nhất có thể ngăn ngừa những tội lỗi sau này. Đấy là mối lo âu duy nhất hợp lý về hạnh phúc của con cái, giúp chúng nó thoát khỏi những tấn bi kịch thương tâm mà tự chúng sẽ gây ra...

Hôm ấy anh về đến nhà vào khoảng năm giờ chiều. Nhà đi vắng vì đang vụ gieo hạt. Khi anh mắc áo lên chiếc đinh đóng ở đầu giường Tấm, chợt thấy một cái làn mây nhỏ đan rất cầu kỳ chung quanh lại dán những bông hoa cắt bằng giấy xanh đỏ. Anh mở nắp làn giơ ra ngoài ánh sáng thấy ở trong có hai cái kén vàng và một cái kén trắng gài vào búi rơm nếp. Cái trò trẻ con này chắc chỉ là của Tấm. Bỗng dưng trong lòng anh lóe lên một niềm vui sướng lớn lao. Dẫu sao nó vẫn còn là một đứa bé, và cái phần trong trắng, thơ ngây ở trong nó chưa phải đã mất hẳn . Ăn xong bữa cơm chiều, Cừ pha một bình trà đặc, lấy ra một cái bánh nướng, và ít kẹo để trên bàn. Và khi gian buồng nhỏ bé lên đèn anh càng thấy nỗi vui sướng ngấm ngầm trong lòng mình lớn lên mãi.

Cái ước ao thầm kín đã từ lâu trong anh là có một đứa con, hạnh phúc tuy bé nhỏ, nhưng lại gần như hoang đường. Khi nói chuyện với vợ, anh có thói quen tránh những chuyện gì dính líu đến hạnh phúc của hai người, nhưng những cặp vợ chồng đã lấy nhau gần hai chục năm nay mà không nói với nhau về chuyện con cái thì cũng chẳng có gì để nói với nhau nhiều. Những buổi tối bên ngoài gió rét, một ngọn đèn để giữa, vợ ngồi khâu vá, và anh vừa xem sách vừa suy nghĩ mung lung. Đúng cái lúc ấy, lúc hai người im lặng theo đuổi công việc và ý nghĩ của mình, anh thường bắt gặp đôi mắt buồn rầu của vợ, đôi mắt ảo não như người có lỗi, và chính anh, anh cũng phải cố kìm mình lại để khỏi buột ra cái câu : "Nếu chúng ta có một đứa con". Tuy anh không dám nói, và vợ anh cũng không nói, nhưng cả hai lại như đều than thở với nhau rất nhiều. Từ ngày Tấm về ở với vợ chồng anh, thêm sự có mặt của nó ở gian buồng này, mỗi lần anh về cũng thêm những câu chuyện mới. Xen vào những giọng nói trầm lặng, quen thuộc, nổi bật lên giọng nói thanh thanh, ríu rít, tiếng nói của đứa trẻ. Cho nên mặc dầu nó vẫn sống rụt rè, giữ gìn, nó vẫn gọi vợ chồng anh là bác trai, bác gái, nhưng anh vẫn thấy sung sướng mỗi lần nghĩ tới nó, và càng ngày càng thấy gắn bó với đứa con nuôi. Qua mỗi lần về, anh lại thấy mắt con bé nhìn anh như thắm thiết hơn, quyến luyến hơn, và tiếng reo của nó "Bác đã về" cũng hồn nhiên hơn, thành thật hơn. Hình như nó đã bắt đầu yêu anh, tin anh, và hai tháng gần đây sự thay đổi ở nó càng rõ rệt. Nó nói nhiều hơn trước, kể cho anh nghe các thứ chuyện, toàn những chuyện vớ vẩn, những chuyện của trẻ con.

Tối nay sau khi Tấm kể lại rất nhiều chuyện bỗng nhiên nó hỏi Cừ :

- Bác có thích ăn bún không ?

- Cái con bé này, cháu làm như bác là người ăn uống khó khăn lắm đấy hử!

- Nhưng bún ở trên này họ làm xấu lắm, sợi vừa to, vừa cứng lại đen xì. Để hôm nào cháu làm thì phải biết. Hồi ở nhà cháu vẫn làm bún mà... Thế bác đã được tắm nước vắt bún bao giờ chưa? Nó hơi chua chua, thơm thơm, rất bở ghét bác nhá!

Thế rồi nó tính toán ở đây nhà nào có nồi to có thể mượn ngâm gạo được. Nếu không có nồi thì ngâm vào chậu vậy. Nhưng lại không có cối xay bột. Chẳng nhẽ lại vốc từng nắm gạo cho vào cái mũ nhựa giã thì lách cách quá. Có công giã bột thà làm bánh trôi ăn lại thích, trên này đường bánh có rất nhiều. Nếu hai bác nó không thích bánh trôi thì nó quấy bánh đúc. Bánh đúc chan riêu cua thì còn phải nói. Nhưng bây giờ lại chưa phải là mùa có cua... Và cuối cùng nó bắt sang chuyện khác :

- Bác ơi, tháng này cháu được lĩnh lương rồi. Đấy, có bác gái cháu biết, cháu làm có kém các cô ấy đâu, các cô ấy còn đau bụng, nhức đầu nghỉ luôn, chứ cháu thì chỉ nghỉ có mỗi buổi. Hôm ấy cháu bị dây thép gai đâm vào chân sâu đến đốt ngón tay, chảy bao nhiêu là máu. Cháu cứ lo nó sưng tấy lên rồi thì què. Thế mà chỉ đến chiều cháu lại đi làm được. Da cháu lành lắm kia.

- Lương cháu thì được mấy chục ?

- Chú Tý bảo cháu là được ba mươi đồng.

- ừ, bác mừng cho cháu. Cháu đã định dùng số lương tháng làm gì chưa ?

Những tia vui sướng trong mắt con bé bỗng tắt phụt ngay, cái nhìn trở lại dò xét, nghi hoặc. Nó ngắc ngứ một chút rồi đáp :

- Cháu sẽ đưa cả hai bác.

Cừ nhìn vợ, mỉm cười :

- Cháu không để tiêu riêng à ?

Nó nói một cách tiếc rẻ :

- Cháu cũng chả cần tiêu đến cái gì.

- Các bác không lấy tiền của cháu đâu, mua sắm cái gì đã có bác cho, số tiền ấy cứ dành lại mà làm vốn. Cháu bằng lòng không ?... Nhưng bây giờ bác muốn nói với cháu một câu chuyện.

Nó thu người lại, vẻ mặt lo lắng. Chuyện gì thế, bác ấy không muốn mình ở đây nữa ư?

- Cháu làm được ra tiền là rất đáng khen. Cháu hãy còn ít tuổi mà đã có thể sống tự lập được, không cần ăn bám vào ai. Nhưng theo bác thì bác không muốn cháu đi làm, vì ăn mặc của cháu đã có hai bác lo, lớn lên cháu cần gì thì tùy theo khả năng của bác, bác sẽ chu cấp đầy đủ. Bác chỉ muốn cháu được đi học, bây giờ cháu không học thì rồi lớn lên cháu vẫn phải học. Thà rằng học bây giờ có phải chữ nó dễ vào đầu hơn không. Cháu đã nghe ra chưa? Năm nay cháu mới mười bốn tuổi, bác sẽ cho cháu học đến năm hai mươi, nếu cháu còn có sức học nữa thì cứ học cho đến năm hai lăm, hai sáu rồi ra phục vụ xã hội cũng vẫn vừa. Sau này các bác không cung cấp được đủ cho cháu thì đã có chính phủ cung cấp. Cứ lo mà học cho tấn tới, còn ăn đã có người khác lo, có xã hội lo... Thế nào, ý cháu ra sao ?

Thấy con bé cứ cúi gằm mặt xuống, Cừ biết ngay nó đang xúc động, anh nói rất nhẹ nhàng :

- Thế thì chiều mai bác cháu ta lại lên đường về nông trường bộ nhé. Trường ở ngoài châu đến thứ hai thì mở. Giấy bút bác đã sắm cho cháu đủ cả rồi.

Chị Lụa đã hơi ngân ngấn nước mắt vì không ngăn nổi sự nhớ thương của mình đối với đứa con nuôi. Nó ở với chị thấm thoát đã được gần bốn tháng. Nó đã đem lại cho cuộc sống cô quạnh của chị những niềm vui chưa từng có. Bây giờ nó lại đi, và một mình chị ở lại cái gian buồng nhỏ bé này, cái gian buồng mà bất cứ chỗ nào cũng thấy dấu vết của con bé để lại.

Chiều hôm sau, trên con đường cái rộng nằm giữa thung lũng Điện Biên, Cừ đạp xe rất thong thả đi trước, sau yên xe buộc chiếc ba lô của Tấm và một cái mền bông. Tấm đi sau cùng với chú Quang nó. Nó mặc chiếc áo sơ mi trắng, cổ bẻ tròn, một bên mái tóc là chiếc cặp có giát những miếng đá xanh, đỏ, tay cầm cái làn mây dán giấy hoa.

- Đêm nay chú ngủ lại trên ấy chứ ?

- Chú ở chơi với cháu một lúc rồi chú về ngay.

- Đêm mới về đến nhà à ?

- Chân chú có ngắn như chân cháu đâu.

- Cháu với chú bước thi nào.

Rồi nó bước dài chân ra, sau nó bước ngắn lại nhưng đi rất nhanh gần như chạy, và nó đã thấy thích thú ngay cái trò chơi mới mẻ vừa nghĩ ra. Quang chạy vượt lên một quãng rồi dừng lại, cười :

- Đi chậm thôi cháu ạ, có chuyện gì kể cho vui đi.

Những bụi ké đồng tiền ở dọc đường đã rụng hết lá, chỉ còn để lại trên nhành cây mảnh dẻ những nụ hoa vàng nhỏ như cúc áo. Một cây vông vang mọc xen vào giữa bụi tre dại, hoa nở ra mướt vàng, nhị đỏ màu mận chín. Bày sẻ bay từng đàn vụt qua đầu hai người rồi đậu trên những ngọn xoan thẳng tắp và kêu ríu rít trong đám lá xoan non đỏ ửng vì ráng chiều. Xa xa những cánh cò trắng lóa, cánh cong như vòng cung bay rập rờn lướt trên màu tím thẫm của dãy núi. Khung cảnh lặng lẽ và thơ mộng. Và lần đầu tiên, bộ mặt mỹ miều đầy sức quyến rũ của thiên nhiên đã rung động được tâm hồn con bé Tấm. Nó quay lại nhìn Quang bằng đôi mắt đen nhanh nhánh:

- Chú Quang ơi, ở Điện Biên đẹp quá chú nhỉ ?

30-3-1960
 
 
Chân Trời Tím

0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-04-22 15:41:46Chân Trời Tím>
                                      Gặp gỡ cuối năm
                                        Nguyễn Khải
 
Tôi là người đến đầu tiên trong đám khách được bà chị tôi mời tới ăn bữa cơm cuối năm. Theo chị nói, Tết này chị không ăn Tết, chỉ làm một mâm cơm cúng tối Ba mươi, ngày mồng Một đóng cửa không tiếp khách, ngày mồng Hai xoa mạt chược, ngày mồng Ba ngủ, từ ngày Bốn trở ra mọi sự lại như năm cũ. Cũng chẳng có năm cũ và năm mới, ngày hôm qua và ngày mai, ngày ngày đều giống nhau, người người thì tàn tạ, tiền bạc hiếm hoi dần, tin vui thưa vắng dần, nhưng vẫn cứ phải sống, chẳng có ai chết, họ nội họ ngoại suốt năm năm nay không có một ai chết. Người bảy mươi sắp sang tuổi bảy mốt, người tám mươi sắp sang tuổi tám mốt, như vẫn còn muốn sống thêm cả chục năm nữa, lạ thật, quái quỷ thật, trêu chọc nhau thật.

Tôi nói:

- Nhưng sang ngày mai chị vẫn cứ phải thêm một tuổi, ví như năm nay chị sáu mươi, qua đêm nay tuổi chỉ sẽ là sáu mươi mốt.

Chị Hoàng vội xua tay:

- Không khiến nịnh, nỡm ạ. Năm nay tao sáu tư, sang năm đã là sáu nhăm.

- Đấy nhé, vẫn cứ là "sang năm".

- Ừ, ừ, có ai bảo ngày hôm nay không là ngày cuối cùng của một năm đâu. Nhưng ngày mai là ngày gì? Là ngày đầu tiên của một năm mới à? Với các anh thì phải, nhưng với tôi vẫn là một năm cũ, mãi mãi là một năm cũ, mỗi năm mỗi cũ đi!

Mỗi năm mỗi cũ đi, có lẽ đúng, với chị là đúng. Người chị mập hơn, các thớ thịt trên mặt như lỏng ra, chảy dần xuống. Tóc chưa bạc nhưng thưa nhiều, nhìn rõ cả da đầu. Cũng là cũ rồi, mỗi năm mỗi cũ, tôi thầm nhắc lại rồi bật cười:

- Bữa cơm tất niên gì mà lạ, không có người mới ra, chỉ có những người cũ đi.

- Mày thì sao?

- Cũng đang cũ dần đi.

- Năm mươi ngoài chỉ có cũ đi chứ mới ra thế nào được.

Tôi trách:

- Một lũ người ọp ẹp, cũ kỹ ngồi cạnh nhau, ngắm nhìn nhau để đón hy vọng một năm mới! Cái trò chơi độc ác này chắc là phát minh của riêng chị.

Chị Hoàng nhìn chăm chú những ngón tay mới sơn móng đỏ chót, cười nhạc không nói gì. Bà chủ đã tiều tụy tang thương, mà cái nơi để trú nấp, để vào ra cũng tả tơi, lở lói, tan nát, là phòng chờ của nhà ga, là quán trọ của tỉnh lẻ, chứ không thể là nơi của một gia đình. Từ hai năm nay chỉ có hai vợ chồng già sống với nhau tại số nhà này, còn con trai, con dâu và các cháu nội đã lần lượt ra nước ngoài bằng nhiều đường bí mật khác nhau, phiêu bạt tại nhiều nơi nhưng đều bình an cả. Người ở lại sống để chờ đợi đến lượt mình cũng sẽ ra đi, tất nhiên là phải đi thật đàng hoàng, có giấy xuất cảnh và nhập cảnh, có tiễn và có đón. Nhưng là bao giờ? Là tháng sau? Là năm tới? Cái đó còn tùy ở sự may rủi, ở mệnh trời. Lại mệnh trời! Bà con trong này mười người có đến chín tin ở mệnh trời. Ông đồng bà cốt nở như sâu. Trong các khoản tiền chi hàng tháng có một khoản chi cho việc xem tướng số, "mua hy vọng" người ta bảo thế, không có hy vọng thì sống làm sao? Ông anh tôi là một trường hợp ngoại lệ. Ông là một viên chức gương mẫu, là cái đinh, cái vít của một guồng máy hành chính tinh xảo, là giáo sư trường Quốc gia Hành chánh thời chế độ cũ. Tóm lại, là người chỉ tin ở những gì trong phạm vi hiểu biết và tính toán của chính mình, trong tầm tay với của chính mình. Thậm chí đến sự buồn, vui, mừng, giận cũng có thể tự kiềm chế được. Một gương mặt bất động, một dáng đi lặng lẽ, tiếp chuyện ai thì nghe và nhìn, chỉ nói khi rất cần, tiếp nhận chứ không ban phát, thi hành chứ không bàn luận, cần sự chuẩn xác chứ không cần sự bay bướm, là người rất hiền và rất lành như nhận xét của cả họ, là "type" viên chức hoàn hảo nhất, theo nhận xét của riêng tôi.

- Anh đi đâu nhỉ? - tôi hỏi - Chiều Ba mươi vẫn có người mời xoa à?

- Đi làm đẹp, hớt tóc, cạo râu, đón xuân mới.

Tôi cười ngờ vực:

- Ồ, ông già còn lạc quan nhỉ?

- Cũng buồn rồi, nóng ruột lắm rồi, có bữa chị để ý thấy mặt anh đỏ bừng, hai bàn tay nắm chặt lại nện khe khẽ lên tay ghế. Muốn điên lắm đấy.

- Còn chị?

Chị Hoàng nhìn tôi, mắt nhìn như dại đi:

- Chị hả? Chị đã trải qua các thời kỳ. Bây giờ thì trống rỗng, hoàn toàn trống rỗng. Có thể, chị nói là có thể lát nữa, trước đông đủ mọi người chị sẽ nói rõ cái ý định sắp tới của chị.

Tôi vẫn cười cợt:

- Chị có thể cho em biết trước được không?

Chị vẫn nhìn tôi chằm chặp:

- Không, không thể cho biết trước được. Tối nay đối với anh chị sẽ là một tối không bình thường.

Chuyện gì thế nhỉ? Chuyện gì có vẻ nghiêm trọng đến thế nhỉ? Nhưng phải đợi lát nữa. Những ai sẽ có mặt tại nhà này trong lát nữa?

*

Người khách đến sau tôi là anh Quý, xuất thân luật sư, sau làm viên chức của Bộ ngoại giao các chính quyền của chế độ cũ. Một nhà ngoại giao cũng có tên tuổi, nghe người ta bảo thế, bạn thân của cả hai anh chị tôi từ vài chục năm nay và hiện giờ là khách xoa mạt chược những ngày chẵn của gia đình. Thoạt làm quen tôi không ưa anh lắm. Anh cười đùa như một kẻ vô tâm, tránh né mọi sự bình phẩm và hoàn toàn không có ý kiến gì về thời cuộc. Mỗi lần gặp tôi chỉ trò chuyện với anh qua loa, vì cái ông già lễ phép và lãnh đạm chẳng có gì buộc tôi phải chú ý. Nhưng có một bận nghe anh đọc và bình một đoạn thơ trong "Ly Tao" của Khuất Nguyên, tôi mới nhận ra mình đã hiểu lầm người. Cái ruột trong rất khác với cái vỏ ngoài. Anh cũng có một nỗi niềm, một chí hướng, một nhớ tiếc nào đó. Bữa ấy tôi hết lời tán tụng cái giọng đọc thơ của anh vì không tiện đả động tới cái khác. Nhưng chính anh lại gợi: "Cậu chỉ khen cái giọng thôi à?". Tôi nóng mặt: "à, có cả cái khác nữa chứ, cái bên trong, cái tâm tư của anh!". Anh cười ha hả: "Tôi nhìn vào cậu để đọc đoạn thơ này, cậu phải thế nào tôi mới đọc được hay đến thế chứ?" Bà chị tôi nói dằn dỗi: "Còn tôi chỉ là cái túi thịt trong con mắt các người, có phải không?". Anh vẫn cười: "Thế bà còn muốn gì hơn nào". Họ vẫn ăn nói với nhau chớt nhả, suồng sả như vậy, nhưng chẳng ai giận ai cả, bè bạn với nhau những mấy chục năm mà. Rồi anh khoe cũng có làm nhiều thơ lắm, làm cho mình chứ không dám đọc cho ai nghe. "Cái tâm mình thì thật mà chữ nghĩa sao nó cũ kỹ, khuôn sáo thế. Thì ra, cái sáo của nghề ngoại giao đã thấm nhiễm vào tôi quá lâu rồi", anh tự thú nhận như vậy.

Vừa bước vào nhà, anh Quý đã hỏi:

- Bộ bàn ăn bán rồi, hả?

Chị tôi trả lời thản nhiên:

- Bán rồi, một bộ bàn ăn, một tủ sách, kèm thêm cái quạt trần, một ngàn đồng. Đắt hay rẻ?

- Bán cho ai đấy?

- Cô Hảo! "Em đưa chị một ngàn chị tiêu tạm, còn bao nhiêu chị cho em xin", cán bộ miền Bắc ăn nói đến thế là khéo.

Anh Quý cười nhẹ:

- Mình đã dùng nhiều rồi, nay lại đến lượt người khác. Lọt chị xuống em, mất đi đâu. Một ngàn tiêu được mấy ngày?

- Một tuần!

- A, hai ông bà già tiêu một ngàn một tuần, cũng đã là dè sẻn lắm.

Chị Hoàng phì cười:

- Nỡm ạ, hai ông bà già nhưng còn cả một đống đầy tớ. Dẫu ngày mai có xách bị đi ăn xin thì hôm nay vẫn phải có đầy tớ. Nói thế thôi, mệnh tôi có Song Lộc thì hết tiền sao được. Hôm nay hết ngày mai lập tức lại có.

Anh Quý nheo mắt hỏi ỡm ờ:

- Tức là vẫn hy vọng sẽ còn có thay đổi?

- Cái gì thay đổi?

- Cái tình hình chính trị ấy, nếu thay đổi lập tức chị em bà lại có rất nhiều tiền.

- Còn anh?

- Tôi, hả? Tôi đứng ngoài mọi thay đổi. Thời ngụy tôi là anh thân Cộng, không đủ để tin, thời Cộng sản tôi là một viên chức được ưu đãi của chính quyền ngụy cũng rất đáng ngờ. Chẳng phe nào chịu nhận mình là người của họ cả.

Chị Hoàng vung tay hét to:

- Vứt mẹ nó chuyện chính trị đi! Từ năm năm nay cái nhà này không bàn chuyện chính trị. Thiếu gì chuyện để nói cứ phải nói chuyện chính trị.

Rồi chị kể lể:

- Mấy bữa trước, cậu công an phường này chạy sồng sộc vào hỏi tôi: "Chiều nào ở đây cũng tụ tập đánh bài à?". Tôi trả lời: "Không phải mọi chiều mà chỉ có chiều ngày chẵn thôi!". Lại hỏi: "Có đánh ăn tiền không". "Có chứ, đánh suông thì chán chết, nhưng ít ít thôi, thua được cũng chỉ chục bạc trở lại, còn tiền đâu mà đánh nhiều". Nó vẫn nói lằng nhằng: "Tại sao các ông các bà cứ phải giải trí bằng cờ bạc nhỉ?". Tôi nổi xung lên: "Nếu không cho giải trí bằng đánh bạc thì bọn tôi biết làm gì cho qua ngày? Hay là biểu tình chống chính phủ? Bọn này mà ngồi không thì chỉ có nghĩ cách chống lại các cậu thôi. Cho chúng tôi đánh bạc còn tốt hơn để chúng tôi làm chính trị".

Người khác không dám nói chứ bà chị tôi có thể nói trắng như thế thật. Ăn nói rất sỗ, rất thô mà nghe được, ấy là cái tài riêng, cái duyên lạ của chị từ ngày còn trẻ. Anh Quý làm ra vẻ sửng sốt:

- Ăn nói bố láo thế mà họ không còng tay nhốt khám kể cũng hi hữu thật!

- Cậu này nó biết đùa, cũng là người có học nên nó chỉ bảo: "Bà phải giữ lời nhá, nếu làm khác đi là tôi sẽ bắt cả đám". Mình nói ngay: "Cậu đưa giấy bút đây, tôi viết hẳn tờ cam đoan cho cậu yên tâm".

Rồi chị cười ngặt nghẽo, hồn nhiêu như đứa trẻ. Cái mà người ta có thể làm ngơ được, "chịu được" là do chị biết nhân nhượng đúng lúc chăng? Nhân câu chuyện buồn cười về cờ bạc, chị kể tiếp một chuyện buồn cười khác cũng về cờ bạc:

- Thứ bảy tuần trước, bọn này lên xoa tại nhà cô Hảo, bài của mình các phu lên đẹp quá, chị hạ xuống là ù, còn ông Chương thì sỉu sường cống (1). Anh chàng ngồi ngẩn ra một lúc rồi gạ: "Ván này coi như hòa". Mình nhìn vào tận mặt hỏi: "Năm năm nay cậu chỉ nằm với nghĩ mà vẫn chưa phá được cái ngu à?". Nó hỏi lại: "Chỉ bảo phá cái gì ngu?". Tôi mới hét lên: "Khi tôi đã thắng cả trăm phần, cậu sắp thua cả trăm phần, mà cậu dám mở mồm: hòa, hòa, ván này hòa, là phải rất ngu mới dám nói thế. Tôi không đến nỗi ngu như cậu để gật đầu cho cậu hòa, cho cậu hòa hợp dân tộc, cho cậu tham gia chính phủ ba thành phần, cậu đã hiểu chưa?". Làm chính trị mà ngu như chó, trên một bộ răng, dưới một bộ giái, còn cái cứt khô gì mà buộc người ta phải hạ mã cầu hòa.

Anh Quý vừa cười, vừa hét to:

- Vứt mẹ nó chuyện chính trị đi! Từ năm năm nay tôi không có dự bàn các việc chính trị.

Chị Hoàng nghiêng người, đấm khẽ lên vai ông bạn:

- Nỡm ạ! Tôi chỉ thích bàn chuyện chính trị với riêng thằng Chương thôi. Phải làm cho nó thật nhục nhã, thật chán chường rồi mới hóa nó sang kiếp khác được.

Anh Quý rút tẩu thuốc, cái cách anh nhồi thuốc, mồi lửa, gõ tàn và ngậm lệch cần tẩu khi nghe người khác nói chuyện vừa đẹp mắt, vừa lợi hại, anh có thể né tránh rất tự nhiên, rất lịch sự nhiều câu trả lời bằng cái tẩu ngoại giao của anh.

- Bà còn cay cú cái chuyện năm nọ lắm nhỉ? Cái chuyện quyền lực ấy mà?

- À, à, chính trị của thiên hạ thì tôi mặc xác, tôi chỉ quan tâm có cái quyền lực thôi.

Anh Quý cười xòa:

- Với số rất ít chính trị là quyền lực, với số rất đông chính trị là thái độ. Không bị hút vào đầu này ắt bị hút vào đầu kia, làm sao có thể đứng giữa?

Chị Hoàng trỏ tay vào mình, hỏi:

- Như tôi hiện nay thì bị hút vào đầu nào?

Anh Quý mồi lửa vào tẩu một lúc lâu rồi mới thủng thẳng trả lời:

- Mất hy vọng vào quyền lực thì còn lại cái thái độ. Vẫn cứ là chính trị. Cả mấy năm nay bà vẫn làm chính trị, bằng thái độ chứ không bằng âm mưu giành quyền lực.

Chị Hoàng nhìn cả hai chúng tôi, cái nhìn lại như hơi dại đi một chút:

- Có lý, có lý lắm. Nhưng lát nữa tôi sẽ bảo thẳng với mọi người, có thể nói đủ mọi chuyện trừ chuyện chính trị. Tống cổ nhà chính trị ra khỏi số nhà này.

Anh Quý nói nghiêm trang:

- Lát nữa tôi sợ rằng mỗi chúng ta đều phải bày tỏ cái thái độ chính trị hiện nay của mình. ở đâu có hai người, ở đó có một nhà chính trị, Chúa đã bảo thế. Này, bữa ăn tất niên tối nay có những ai đấy?

Cái túi thịt trên mặt chị Hoàng đột nhiên lỏng ra, cái nhìn xa xôi, trống rỗng. Chị ngồi ngây ngô một lúc lâu rồi nói nhỏ, giọng khàn ướt:

- Không một ai có thể sống nổi với cái tâm trạng bị dồn đuổi, bị thua mãi. Tôi đã quyết định đứng hẳn lại, đứng nguyên một chỗ, đứng không xê dịch.

Quyết định gì? Chỗ đứng nào? Khi nãy chị đã nói với tôi một lần, bây giờ nhắc lại nữa, mà nghiêm trang quá, bí hiểm quá. Chính khách bàn vuông, nói cho rõ hơn, chính khách quanh bàn mạt chược, lại có được một dự tính cho nghiêm trang, cho bí hiểm kể cũng buồn cười. Nhưng ông bạn thân của bà chị tôi lại có vẻ không muốn cười, dầu rằng anh rất nhạy bén cái khía cạnh hài hước của thế sự. Anh nín lặng một cách căng thẳng, khẽ ngọ nguậy thân người trong lòng cái ghế bành nệm lót đã rách tả tơi. Rồi anh thở dài rất khẽ, hừm hè trong cổ họng rất khẽ. Bà chị tôi chợt ngồi thẳng lên, hai gò má thoáng ửng đỏ, mắt long lanh như người nhập đồng, giơ một ngón tay chỉ vào tận mặt chúng tôi, thách thức:

- Lần này tôi có thể nói quả quyết: chắc chắn là tôi thắng! Tôi không cần một ai ủng hộ vẫn cứ thắng!

*

Có tiếng người gọi lanh lảnh bên ngoài cổng sắt: "Bơ ơi! Bơ mở cửa cho em!". Cánh cửa vừa rít lên, tiếng người đã ồn ào: "Dạ, có hai vợ chồng em đến thôi để chị khỏi bận. Dạ, chẳng có gì, một chai rượu, sâm-banh của Pháp hẳn hoi, Bơ nhá!". Chị Hảo bước vào phòng khách, mặc áo dài màu xanh nhạt, thêu bông trắng rất to. Ông chồng theo sau mắt kính lấp lánh, tay cầm một chai rượu bọc trong giấy báo. Một cặp vợ chồng rất là "Tết". Chị Hảo chào chúng tôi, rồi nhìn ngược nhìn xuôi, kêu tướng lên: "Tết nhất nhà bà Bò hay nhỉ. Chẳng có hoa lá gì cả. Ôi giời! Mời bà vào thay quần áo giúp cho. Bà bêu xấu chúng tôi đấy à?". Lúc này tôi mới để ý bộ quần áo đang mặc của chị Hoàng. Tiếp khách chiều Ba mươi bằng quần áo ngủ, mà lại vá, hai ống quần hai màu khác nhau, một bên hoa xanh, một bên hoa đỏ nhạt, như quần áo hề. Thật ra, cái kho quần áo vô tận của chị cũng rỗng rồi. Phần thì cho chị em con cháu ở ngoài Bắc vào, mỗi người chọn xin một bộ, phần bị lấy cắp, quần áo ngâm trong chậu giặt mà còn mất, xem ra cái giống trộm tinh khôn ấy phải là trộm ở trong nhà. Người bị mất không kêu mà cũng chẳng muốn may sắm lại, có một bà bói bài Tây đã bảo chị: "Bà phải mất hết, chỉ còn hai bàn tay trắng mới ra khỏi nhà được". Việc gì chẳng có tiền định, kể cả cái chuyện bị mất cắp. Chị Hoàng lệnh khệnh đứng lên, người cao mập nhưng bàn chân lại nhỏ xíu, đi lập bập như đứa trẻ, một tay vung vẩy, miệng thì la: "Hương đâu! Hoa đâu! Mời các cô lên giúp tôi một chút đây!". Hai cô bé chạy lên, mỗi người xốc một bên nách, dìu bà lão rất hay làm nũng vào buồng trong. Đến cửa buồng chị còn đứng lại, hỏi anh Quý:

- Sang Pháp có thuê được bonne (2) thay quần áo giúp không, toi?

- Nếu bà có thật nhiều tiền thì vẫn thuê được, thuê giờ, thuê ngày, tùy.

- Mình ở lại Việt Nam thôi, nằm ở đây là sướng nhất.

Chị nói thật đấy. Sang Pháp ở với con dâu đầm, chị không thể bắt nó chui đầu vào bếp làm những món ăn Việt Nam với hàng trăm thứ chi tiết rắc rối, lại cũng không thể buộc nó phải ngồi chồm hổm cạnh chị cả ngày để lựa lúc mẹ chồng cần thì đưa một viên thuốc trợ tim, một điếu thuốc lá, một tách nước, một cái tăm hoặc tán chuyện gẫu để mẹ khỏi buồn. Và chắc chắn vợ chồng nó không thể bỏ cả ăn cả làm để ngồi trực trước tay lái đưa mẹ đi xoa mạt chược. Cả thế giới không thể tìm đâu ra một mẫu người ăn bám hoàn toàn như tôi, chị vẫn nói bô bô như thế. Thời nay vua chúa còn tự làm cơm đãi khách và đưa con đi học thì tôi hết muốn sống rồi. Vừa lười, vừa ngu mà vẫn ham được cầm quyền, cái sự vô lý ấy đã tới mức khùng dại. Mà bà chị tôi lại biết tất cả, tự nói về mình như nhận xét của mọi người, nên nói chuyện với chị luôn luôn là sự thích thú. Mỗi ngày chị lại giới thiệu với tôi thêm một thói xấu của chị, bình phẩm về cái thói xấu đó, xem nó như cái duyên riêng của mình, bỏ nó đi, giống như mọi người thì chẳng còn ai muốn yêu chị nữa. Một mẫu người lạ lùng nhất tôi chưa từng được gặp. Còn cô em ruột của chị, chị Hảo, lại là một mẫu người khác, tầm thường hơn, với những cái xấu cái tốt giống như nhiều người. Năm 75, tôi gặp anh chị Hảo lần đầu ở Hà Nội, vì được gặp lại bố và mẹ già tại Sài Gòn vừa được giải phóng sau ba chục năm xa cách tôi mới được biết ngay ở Hà Nội cũng có nhiều người thân. Năm ấy, chị Hảo mặc quần lụa thâm ống hẹp gấu nhỏ, áo cánh, bàn tay đen đủi, gầy guộc, mười năm theo chồng đi kháng chiến, hai chục năm nuôi con trông cháu, làm chủ một gia đình quá đông đảo, phải dè sẻn từng thìa mỡ, từng tấc vải, chị là một trong những bà mẹ phi thường của Tổ quốc Việt Nam. Anh chị vào sống tại Sài Gòn ngay cuối năm 75 để cho có chị có em, như chị nói, và cũng để hưởng thêm chút ít phú quý còn lại như chị thầm mong. Buổi đầu hai chị em gặp nhau, nghe kể lại cứ ngỡ là chuyện bịa. Bà chị giương mắt nhìn cô em một lúc rồi kêu lên: "Cô Hảo hả? Vợ cán bộ cao cấp gì mà ăn mặc như con vú già!". Cô em ôm lấy chị, òa khóc: "May nhờ có cách mạng chúng em lại được gặp anh chị". Bà chị nói khinh khỉnh: "Tôi chẳng mong gặp lại cô chú một tí nào. Gặp lại cô là cái vận tôi ăn mày rồi". Chị nói thật, cô em từ Việt Bắc về Hà Nội, chị chạy tuốt vào Nam, nay cô em cũng theo chân vào Nam, thì chị chạy đâu bây giờ? Ngay ngày hôm ấy chị Hoàng bắt em phải làm đầu lại, may sắm quần áo lại, rồi sửa cách ăn nói, cách đi đứng cho nó phù hợp. Giữa năm 76, tôi có công việc phải vào thành phố Hồ Chí Minh, đến thăm anh chị Hảo tại nhà riêng ở đường Hồng Thập Tự. Tôi bấm chuông, một ông già ra mở cổng: "Thưa, ông cần hỏi ai ạ?" - "Tôi là em bà Hảo, bà có nhà không cụ?" - "Xin mời ông vào chơi phòng khách, tôi xin lên báo!". Vừa lúc ấy có tiếng gọi lanh lảnh từ trên cao: "Việt! Việt! Em vào hôm nào đấy? Chờ chị một chút nhá!". Tôi ngẩng mặt lên, bà chị tôi trong bộ đồ ngủ màu đỏ chói, đang vẫy tay cười hỏi với tôi. Phòng khách rất sang, có cả thảm lót và bình hoa tươi trên bàn. Thời này phòng khách có thảm trải, có hoa cắm là hiếm lắm, rất hiếm. Ngồi trong cái ghế bành thật sâu, thật êm, hớp một ngụm nước trà thật thơm, thật nóng, chà chà, cái mùi vị phú quý quả là hết sức quyến rũ. Chờ năm phút, mười phút, ngồi đã tê đít mới nghe tiếng dép lẹp xẹp từ thang lầu bước xuống, và bà chị tôi xuất hiện ở khuôn cửa yểu điệu, rực rỡ, khác lạ như một bà quý phái Sài Gòn chính hiệu. Chị mặc cái quần đen thẳng nếp ống rộng, áo cộc cắt theo lối Tàu bằng gấm xanh, điểm chút hoa trắng, tóc uốn thật cao, môi má đánh thật đỏ, cả móng tay cũng sơn đỏ. Và mập ra rất nhiều, tươi lên rất nhiều, duyên dáng cũng thêm nhiều. Trẻ hẳn ra, như người mới bốn chục tuổi. "Chị sắp đi đâu mà ăn mặc sang trọng thế?". Chị ngạc nhiên: "Để tiếp cậu chứ còn đi đâu?". Từ lúc ấy chỉ có chị nói, nói ào ào, bao nhiêu cái vui, cái sướng, cái khéo léo, cái khôn ngoan, cả cái cách mạng, cái kháng chiến nữa chưa có dịp nào để nói, nay gặp được thằng em biết nghe và cũng biết tán tụng đúng lúc nên chị nói bằng hết, nói thật thỏa thuê. Tôi nghiêng đầu ngồi nghe, mắt nhìn chăm chú những tấm hoa trắng điểm trên áo, cái bàn tay vẫn còn gầy, còn đen nhưng móng lại sơn đỏ.

- Chị bảo thật cậu: chớ có đưa gia đình vào đây mà khổ. Tiêu pha tốn kém gấp năm, gấp mười ngoài kia, cậu ạ. Ngoài kia có đi đâu chị vẫn đi bộ, đây đó chỉ một đoạn đường có là mấy, trong này một bước là xe, một cuốc xe là bốn năm đồng, một ngày chị tiêu cả chục bạc. Rồi khách khứa, rồi họ hàng, mỗi bữa cơm mời có tiết kiệm cũng phải cả mươi tờ đỏ. Cậu tính, anh là cán bộ cao cấp, mình ăn ở lùi xùi quá sao tiện. Trưa nay em ở lại ăn cơm với anh chị nhá, anh lên Thành ủy có chút việc chỉ lát nữa là về, tài xết đánh xe tận nhà đón, các ông lãnh đạo ở đây quý anh lắm, có được một ông làm luật cách mạng như anh là hiếm chứ. Thì anh hưu rồi, nhưng nào có được nghỉ, họp cả chủ nhật, cả tối, như năm còn đi làm, cái gì Trung ương Mặt trận hả cậu? Đấy, anh làm ở đấy, rồi cả Hội Trí thức, rồi Hội Luật gia ngoài Hà Nội, năm ngoái đi Thụy Sĩ họp, năm nay không khéo được đi Pháp. Có đi Pháp chị mới cho đi, hồi trước anh sống ở Pháp mãi, cả chục năm, về nước mới lấy chị, cái ngày anh ngồi ở huyện Kim Động chị mới có mười bảy tuổi, buồn cười chết được cậu ạ, bà lớn trẻ con, dân đến chúc Tết sợ quá đến muốn vãi đái... Hay là em ở hẳn đây với anh chị, chị mới mướn được một chị đầu bếp đến là khéo, mời khách sang ăn cơm nhà mình nấu nướng nhộm nhoạm họ cũng cười. Sướng được ngày nào cứ sướng, tội gì. à, chị mặc cái áo này có lòe loẹt lắm không? Nhã nhất đấy, hàng gấm mặc mùa này vừa nhã vừa sang. Vừa vặn quá, cậu nhỉ, mập hơn ngoài kia nhiều, phải không cậu? Lên được sáu cân, ai cũng bảo chị trẻ ra như người bốn mươi, nói chết cười, họ cứ trêu ông thì già quá, bà thì trẻ quá.

Dầu là thế tôi vẫn rất mến chị, chị khoe khoang cái đầy đủ, cái giàu sang hết sức thành thật, tự nhiên và muốn chia sẻ với mọi người cái vui, cái sướng của gia đình chị. Giữa những người đang sầu não vì lại một cái Tết nữa đã đến, thì chị mặc quần áo thật đẹp, hớn hở đón xuân sang và lấy làm lạ tại sao người khác lại không vui như chị, không tràn đầy hy vọng như chị. Chị khoe với cả nhà năm tới anh Hảo có những hai Thiên Mã, chị thì có Song Lộc. Anh nhất định là đi Pháp rồi, còn chị vẫn chưa rõ tiền của sẽ ùa vào nhà bằng cách nào đây.

Anh Quý ngậm lệch tẩu một bên miệng, mắt nheo lại như cười:

- Bà vào đây học được cách tiêu tiền mà lại không học lấy cách làm tiền à? Nguy tai!

- Vợ chồng chúng tôi là cán bộ, chỉ biết tháng tháng lĩnh lương của nhà nước thôi.

- Chỉ với tiền lương của nhà nước mà mua được phấn sáp, sửa được móng tay, lại chiều chiều ngồi xoa mạt chược, thế thì hơn đứt chế độ ngụy rồi.

Ông chồng phải vồng vàng gỡ bí cho vợ:

- Toàn của đi xin cả, chứ với số lương hưu ăn còn chẳng đủ nói gì may sắm.

Bà vợ lườm nhẹ chồng:

- Một tháng tiêu cả ngàn bạc, ông xin của ai được nhiều thế?

Anh Hảo vẫn nói toang toang:

- Xin của chị bà, của em tôi, của những người ở nước ngoài. Không xin thì đào đâu ra?

Chị Hảo có vẻ ngượng nhưng chị không thể ngồi nguyên một chỗ mà không nói, nên lại quay sang hỏi chuyện tôi:

- Chị Đại có biếu vợ chồng cậu bánh Tết không?

- Ngon không, chị?

- Con Thảo mang xuống cho hai cặp, bóc một chiếc cả nhà ăn thử, ôi giời, toàn gạo là gạo, có soi kính lúp cũng tìm ra nhân, mà gói chắc tay quá, cứ như cơm nắm. Chị nói thật, cái thứ bánh ấy có cho đầy tớ nó cũng không thèm ăn.

Tôi vẫn cười:

- Vậy hả? Cái thứ bánh ấy là của nhà em gói đấy!

- Sao lại nhà cậu?

- Gói chung mà, gói bánh bằng tiền lương làm sao được thật ngon?

- Ít tiền thì gói ít vẫn cứ ngon.

- Nhà em đang cần đủ chứ chưa cần phải ngon.

Anh Hảo đã nổi cáu thật sự. Anh đập khe khẽ lên tay ghế:

- Cái bà này có cái tính rởm đến là hay khoe. Lúc nghèo thì khoe để người ta khỏi khinh mình. Lúc đủ cũng khoe để người ta phải thèm mình. Năm mới vào, đến chơi nhà cô em, người ta đang rầu rĩ như có đám, con trai lớn đi cải tạo, con trai nhỏ ngồi tù, con dâu thất nghiệp dắt một bầy cháu đến ăn vạ nhà bà nội, mà vẫn ngồi khoe được. Nào thằng cả nhà tôi đang đi tham quan Liên Xô, con dâu thứ đang nghiên cứu ở Đông Đức, thằng út thì vừa đi bộ đội về nay sắp ấy vợ. Lại thêm ông chồng cũng sang lắm, cũng to lắm, mỗi năm được đi chơi một nước, rồi những gì nữa, bà nhỉ? Ngồi nghe ngượng chín cả mặt mà người nói vẫn không biết ngượng.

Chị Hảo trả lời ông chồng hết sức ngạc nhiên:

- Việc gì mà tôi ngượng. Tôi bỏ nhà cao cửa rộng, theo chồng đi kháng chiến, nằm hầm rúc bụi cả mấy chục năm thì chồng con tôi mới thành ông kia bà nọ, tôi mới được sung sướng thì tôi phải khoe cái sung sướng của tôi. Họ theo Mỹ, đầy đủ chán rồi, rởm mãi rồi, nay họ có phải khổ cũng là sự công bằng. Tôi có ngửa tay xin ai cái sung sướng ấy, cái vinh dự ấy mà tôi phải ngượng!

Ô, chị nói phải quá, đúng quá, giận chị thế nào được, trách chị thế nào được. Các nhà tri thức quá tinh tế, quá nhạy cảm thường hay quên lý sự của các bà vợ, cái lý sự dung tục và trần gian nhưng chính nó lại đang điều hành các mối quan hệ đến từng giờ.

*

Anh Đại đến có một mình. Anh lệnh khệnh chống can bước vào, mặc âu phục đen, thắt nơ, tóc bạc, lông mày bạc, như một ông già quý tộc của cái thời đã xa xưa lắm. Anh lại gần bà chủ nhà vừa từ phòng trang điểm bước ra, cầm tay chị, nghiêng đầu hôn nhẹ một cái, rồi mới dựng can vào một cái ghế, nặng nề ngồi xuống. Vẫn là một ông già rất galant, hào hoa phong nhã nhất họ.

Chị Hoàng hất hàm hỏi:

- Tôi đến một mình à? Mụ vợ đâu?
Anh đáp lại lúng túng:

- À, à, kêu đau lưng cả tuần nay. Bà ấy dạo này yếu tợn, yếu hơn tôi nhiều.

Chị Hoàng cười tủm tỉm:

- Mụ ấy đã thề là không muốn giáp mặt với tôi mà. Người ta sợ dân Ba mươi tháng Tư là phải. Bọn nouveaux convertis (3) là bọn cuồng tín nhất.

Anh Quý hỏi:

- Bà lại mở cửa rước "hắn" vào rồi à?

- Hắn nào? Rước ai?

- Nhà chính trị ấy!

Chị Hoàng phì cười:

- Nỡm ạ! Lần này thì tống khứ hắn, không nhắc tới nó nữa. Lúc nãy anh Đại phải trả mấy đồng bạc xe? Chở một thành hai, chắc họ phải đòi đến chục bạc.

- Mình đi bộ, đã đi đâu mình chỉ thích cuốc bộ, không tốn tiền mà khỏe người.

Chị Hảo vỗ tay, kêu một cách yểu điệu:

- Lạy cụ, cụ đã tám mươi mà còn đi bộ được thì bọn con phục quá!

Anh Đại giương cặp mắt đã hơi đục trắng, ra vẻ ngơ ngác:

- Ai bảo với cô tôi đã tám chục? Tôi còn nhớ cái năm được nghe Cụ Nguyễn ái Quốc diễn thuyết tại tòa thị sảnh tỉnh Tours là năm min-nớp-xăng-vanh (1920), tôi mới mười chín tuổi, đang học thi tú tài ở trường trung học Descartes. Năm nay là bao nhiêu?

Anh Hảo đáp:

- Thưa bác, một ngàn chín trăm tám mươi.

Anh Đại vẫn tính toán rất thật thà:

- Tức là năm nay mình mới có bảy mươi chín. Mình kém Cụ Hồ mười một tuổi mà. Sao các cô lại nói vu cho tôi là đã tám mươi?

Cả nhà cười lăn ra. Chị Hoàng hét lên:

- Ông tuổi Sửu, sang ngày mai chẳng tám mươi còn bao nhiêu? Rút tuổi để lấy vợ bé, hả?

Anh Đại đưa tay xoa đầu, nói bẽn lẽn:

- à, chẳng là mình sợ chết quá. Mình đang còn rất khỏe, lại vô bệnh tật mà bảo chỉ vì quá nhiều tuổi nên phải chết thì thật vô lý. Người ta có thể sống được chẵn trăm kia mà!

Rồi anh đột ngột quay sang hỏi tôi:

- Năm Cụ Hồ dự hội nghị ở Tours thì cậu Việt ở đâu?

Chị Hoàng cười giàn giụa cả nước mắt:

- Thằng Việt ở đâu ư? Nó ở trong bụng mẹ nó chứ còn ở đâu?

Anh Đại nhìn tôi ngờ vực:

- Năm ấy cậu chưa đẻ, hả? Nhưng có quen Hoàng Đình Dong chứ, cùng tù Sơn La với tôi một năm mà. Bây giờ hắn làm gì, bộ trưởng hả?

Mấy năm trở lại đây anh Đại có già nhiều. Ăn vẫn khỏe, ngủ vẫn say, đi lại bình thường, nhưng đầu óc không còn minh mẫn như lần tôi mới gặp cách đây đã năm năm. Đôi lúc anh hỏi tôi người này với người nọ, thực ra họ đã chết từ lâu rồi, hoặc bình phẩm có tính cách thời sự một việc đã xảy ra từ những năm đầu thế kỷ. Dầu là vậy, anh vẫn là người nói chuyện rất có duyên, cư xử với mọi người nhã nhặn và tinh tế, biết tìm những lời lẽ thông minh nhất để an ủi mọi nỗi bất hạnh ở đời. Có lần tôi cùng với anh Đại tới thăm một ông anh khác tên là Đặng Tư Tề. Tôi tò mò hỏi: "Thưa anh, tại sao các cụ ngày xưa lại đặt tên anh là Tư Tề?". Anh Tề bảo: "Đó là một câu rút trong Luận ngữ Kiến hiền tư tề - Kiến bất hiền nhi nội tự tỉnh, nghĩa là: Thấy người hiền nghĩ sao cho bằng người ta. Thấy người xấu tự xét lấy mình". à, thì ra thời xưa đặt cái tên người không cốt đẹp, mà cốt cái dụng ý sâu xa. Nhân vậy tôi mới hỏi anh Đại: "Vậy cái tên Đại thì có nghĩa gì? Là mong làm ông to ư?". Anh Đại nháy mắt với anh Tề, rồi cười: "Tưởng là thế mà hóa ra không phải thế. ý nghĩa của nó cao sâu lắm cậu ơi! Đại là to, là to lắm chứ gì? Nhưng chỉ nên như vậy thôi, không nên quá tham. Tham một chút là hỏng. Năm 1925, anh Đại tốt nghiệp kỹ sư hóa tại trường Đại học Wiesbaden bên Đức, hy vọng được đem cái tài học của mình phụng sự cho nền công nghệ của nước nhà. Nhưng ở nước nhà người Pháp lại chỉ quan tâm có sự củng cố bộ máy chính trị, cần người làm luật với người làm thuốc, chứ chưa cần người làm hóa học và văn chương. Có bằng nước ngoài không dễ tìm việc, nhưng chắc chắn là được làm rể các cụ lớn. Các cụ lớn rất thích những chàng rể tân học để bày biện trong nhà, cái của hiếm ấy chẳng những sang mà còn hợp thời đáo để. Bằng thì treo trong khung kính, người mỗi ngày một phì nộn, mỗi năm đẻ thêm một đứa con, ăn ở như người Âu Tây, nói năng như người ái quốc, muốn làm cách mạng lắm chỉ hiềm dân trí còn quá kém cỏi nên đành phải chờ. Trong khi chờ không khỏi vẫn phải sống trong cái không khí trưởng giả cũ. Thành thử vẫn có cái để ăn, lại vẫn có cái để nhớ, để tiếc, thân trong vòng nô lệ, chí vẫn bay lượn ngoài cõi tự do. Dân chúng thì mất tất cả, nhưng các nhà trí thức - con rể các cụ lớn hình lại được tất cả! Ông anh tôi không đến nỗi bị động như thế, anh ngấm ngầm ủng hộ tiền bạc cho các tổ chức cách mạng trong nước, không phân biệt xu hướng chính trị của họ. Rồi anh bị bắt, đi tù Sơn La một năm, nằm cùng khám với những người cộng sản, sau bị đưa đi an trí tại Mã Đảo với những người bất mãn chế độ cai trị của Pháp vì nhiều lý do khác nhau, trong đó có ông hộ pháp Phạm Công Tắc, giáo chủ đạo Cao Đài Tây Ninh. Năm 1947, Pháp đưa anh Đại về quản thúc tại Sài Gòn, ở nhà ổ chuột, mở lớp dạy tiếng Pháp và tiếng Anh nuôi vợ con. Ông hộ pháp đạo Cao Đài mời anh ra hoạt động chính trị vì người Pháp đã thức thời, muốn có một nước Việt Nam độc lập trong khối Liên hiệp Pháp. Anh từ chối, viết thư trả lời vị "giáo chủ yêu nước" bằng một câu của cụ Khổng: Đức bạc nhi vị tôn, trí tiểu nhi vi đại, lực tiểu nhi nhiệm trọng, tiển bất cập hĩ. (Đức mỏng mà ngôi cao, trí nhỏ mà to lớn, sức yếu và gánh nặng thì ít khi thành công vậy). Nhưng với bạn bè thì anh nói thật: "Cụ Tắc có lòng yêu muốn thêm cho tôi một chấm trên vai, nhưng tên tôi đã là Đại, thêm một chấm không ra Đại Đại mà lại ra khuyển. Tôi muốn làm thằng Đại chứ không ham thành chó săn nên buộc lòng phải từ chối". Anh Đại thường tự nhận có tật bông lơn từ nhỏ, những lời anh nói vui chớ nên để ý. Ví như có một công tử nọ tuổi còn trẻ mà đỗ cao muốn cầu thân với gia đình, khi nói chuyện với "ông bố vợ có thể" đã phạm sai lầm là nói chữ nhiều quá. Ông già hủ lậu ngồi nghe kiên nhẫn cả giờ, rồi mới hỏi lại: "Các cụ xưa bảo có ba cách học để thành tài: sinh nhi tri tức là đẻ ra đã biết; miễn nhi tri, ráng học để mà biết; khốn nhi tri, chịu gian nan, khốn khó để biết, vậy cậu thuộc loại nào?". Anh chàng ngồi ngẩn ra không sao trả lời nổi, bảo rằng mình thuộc loại sinh ra để biết thì khoác lác quá, còn ráng sức học để biết lại tầm thường quá. Anh Đại liền trả lời thay: "Tôi thuộc loại thứ ba cậu ạ, tôi phải vật lộn với chữ nghĩa mới nhét nổi chúng và đầu, bẩm sinh tôi vốn ngu, học mãi mới sáng ra chút ít". Vì một câu nói đùa mà mất toi một chàng rể, cô cháu tôi cứ hận mãi, cái thằng công tử bột ấy có khoe khoang một tí nhưng có thể tha thứ được, nó hiền lành lại là con nuông một tỉ phú.

Anh Đại nghiêng người hỏi nhỏ cô em họ:

- Bữa cơm tối nay có những ai?

Chị Hoàng nói toang toang:

- Có mấy anh em trong nhà thôi. Cái nhà này cả năm là quán trọ, riêng tối nay chỉ mời mấy người mà tôi rất quý!

Anh Đại làm ra vẻ ngớ ngẩn:

- Tôi vẫn được cô xem là rất quý ư?

Chị Hoàng nhướng cặp lông mày vừa kẻ vẽ thật đen, thật đậm:

- Toi không dám tin à?

- Mình ngờ rằng cô đang cần một anh hề. Mình làm anh hề già cho bà em xem chừng không thạo lắm.

Chị Hoàng giơ một bàn tay có hơi thoa một chút phấn, một bàn tay thật đẹp, khẽ véo má ông anh đã già mà còn lẳng:

- Thì vẫn phò tá nữ hoàng tại các bàn tiệc suốt hai chục năm nay mà còn chửa thạo việc ư?

Anh Đại khẽ nháy mắt, một tay xoa má, miệng tủm tỉm rất hóm:

- Hôm qua mình còn trẻ, hôm nay đã quá già. Người già ngồi bàn tiệc chỉ nhằm có miếng ăn chứ ít nghĩ tới các làm vui vì người khác.

Chị Hoàng ngửa cổ, kêu ảo não:

- Trời ơi, Mình ước gì cái giây phút dịu dàng này ngừng lại mãi. Mọi người đều yêu tôi, tôi cũng yêu quý tất cả mọi người. Chú Hảo, mở sâm-banh đi, không uống lúc này còn lúc nào?

Anh Hảo giơ cao hai tay:

- Chúng ta chỉ có một chai rượu, phải đợi cái phút đầu tiên của một năm mới.

Chị Hoàng giương to mắt, hỏi lại:

- Chú vừa nói cái gì?

- Chúng ta chỉ có một chai rượu, không thể mở vào lúc này được.

Chị Hoàng nín lặng, miệng đã hơi méo đi:

- Ai mà tin được sẽ có ngày những người ngồi đây chỉ có một chai rượu mừng năm mới.

Anh Đại pha trò:

- Cái giây phút dịu dàng đã qua rồi. Lại muốn ghét rất nhiều người rồi.

Không một ai hưởng ứng câu nói đùa của anh Đại. Lẽ ra anh không nên nói câu ấy, quả nhiên anh đã già, nếu anh trẻ hơn, anh sẽ không nói đùa vào lúc này. Con người ta vì nghĩa khí có thể từ bỏ một gia sản, một ước vọng, một lai lịch, để trở thành kẻ vô danh giữa đám đông. Nhưng có một lúc nào đó, không nhiều, thi thoảng thôi, thiếu một chai rượu vốn thích nhất, lại vào cái lúc cần có một chai rượu nhất, cái lúc đấy là cái lúc nên nín lặng, không nên đùa đã đành mà cũng không nên nói, thậm chí cũng không nên nhìn vào mắt nhau nữa, cho nó qua đi, cho nó nhanh chóng qua đi, thông thường nó đã qua đi cũng dễ dàng và tự nhiên lắm. Cái đó gọi là "giây phút nổ bùng". Nhiều quyết định nghiêm trọng và ghê gớm thường lóe lên từ cái giây phút nổ bùng.

Chị Hoàng hỏi tôi:

- Việt hút thuốc gì?

- Thuốc em hút nặng lắm, khét lắm!

- Em châm cho chị xin một hơi.

- Chị không được hút thuốc kia mà.

- Không sao, một vài hơi thôi, cái loại thuốc của cậu chị hút sao được cả điếu.

Tôi châm một điếu Vàm Cỏ, chị hút một hơi, nhăn mặt, che miệng ho sặc sụa nhưng vẫn hút tiếp một hơi nữa, rồi trả lại tôi:

- Rót cho chị một ly nước vối.

Nhà này dẫu đã sống ở miền Nam trên hai chục năm nhưng không ăn cá biển (trừ cá thu), không nấu canh chua cá lóc, không ăn rau diếp cá, không bỏ bột ngọt hay nước cốt dừa vào các món ăn, vẫn gọi quả roi là quả roi chứ không gọi mận, dọc mùng là dọc mùng chứ không bạc hà, cá quả chứ không cá lóc, đỗ lạc chứ không đậu phộng. Và mời khách uống chỉ có hai thứ: hoặc là rượu hoặc là nước vối đã phơi ủ hết sức công phu. Chị nhấp một ngụm nước vối pha đặc, nói với anh Đại:

- Tối cuối năm mời anh đến chơi với em không phải để ăn một bữa cơm ngon. Thực đơn tối nay rất là xoàng, không phải vì muốn làm ra vẻ xoàng, mà vì hết tiền rồi. Lại chỉ có một chai rượu của chú Hảo, chú ấy chỉ muốn mở khi đã sang một năm mới. Bọn ta không thể chờ đến lúc giao thừa để ăn cơm, đói quá chịu sao nổi, mà phải ăn từ vài giờ trước, ăn chay với một chai sâm-banh đặt trên bàn nhưng không một ai có quyền mở. Nói tóm lại, không có ăn ngon, không có cả uống nữa, nếu anh cần một bữa cuối năm như thời xưa, xin mời anh tới nhà khác hoặc về nhà. Nhà anh vẫn ăn ngon hơn nhà em, em biết. Anh chị vẫn làm cách mạng lại vẫn còn có miếng ăn ngon, còn nhà này đã phản cách mạng lại không có gì để ăn cả, thua thiệt đủ đường, tùy anh chọn.

Anh Đại khổ sở thật sự, anh không thể hiểu vì lẽ gì cô em anh vốn quý chiều lại nói năng với anh bỗ bã đến thế. Người ta chỉ nên nói tới miếng ăn một cách vui đùa, chứ không nên nói về nó một cách nghiêm trang. Ngày nào cũng phải ăn, nhưng không nên nhắc tới nó nhiều, nhất là trong cái hoàn cảnh ai ai cũng thiếu thốn.

- Không, không, cô cho gọi chúng tôi đến là chúng tôi đã hết sức vui mừng rồi. Uống một ly nước vối, ngắm nhìn cô, rồi nghe cô nói chuyện là bữa ăn thịnh soạn nhất theo ý tôi.

Chị Hoàng cười nhẹ:

- Cám ơn ông anh. Anh luôn luôn là một thằng đàn ông rất galant. Nếu anh trẻ lại khoảng hai chục tuổi thì tôi có thể yêu anh được, tôi nói thật đấy. Tối nay tôi mời anh tới đây cốt để chứng kiến một chuyện quan trọng.

Anh Đại càng khó hiểu:

- Việc nhà hay việc nước?

Chị Hoàng nói bỡn cợt:

- Việc của gia đình nhưng cũng là việc của "quốc gia".

Anh Đại lần lượt nhìn chúng tôi với cái ý cũng bỡn cợt:

- Có đảo chính à? Phe "quốc gia" mạnh lên từ bao giờ thế?

Chị Hoàng cười nhợt nhạt:

- Làm gì có phe "quốc gia" hả anh? Mấy thằng trốn ra ngoại quốc, mấy thằng đi tù về, mưu độ thân còn chẳng xong nói gì những chuyện cao xa.

Anh Hảo:

- Dẫu họ có mưu lược hơn thế cũng chẳng thể đảo ngược được tình hình. Quần chúng đã đi với cách mạng thì họ còn biết dựa vào ai.

Chị Hoàng nói khinh khỉnh như một chiến sĩ rất từng trải ở chính trường:

- Quần chúng chẳng là cái quái gì cả. Chỉ là vai phụ của một vở diễn, theo quan niệm tư sản của chúng tôi. Cũng có lúc dân chúng nổi lên như một vai chính, nhưng không lâu, chỉ là giây phút đối với toàn bộ vở kịch. Một màn kịch chỉ có đám đông thì buồn lắm, lộn xộn bỏ mẹ, xem sao nổi. Cái đáng chú ý nhất vẫn là cái số phận lâm ly hay hào hùng của mấy vai chính.

Anh Hảo cười nhăn nhó vì cách lý lẽ bát nháo của bà chị:

- Theo ý bà, mấy vai chính của Sài Gòn năm 75 thì thế nào?

Chị Hoàng cười rất to:

- Hiển nhiên là tầm thường quá, đã diễn cương lại còn diễn dở thì thối bằng cứt. Tôi là người được thuê tiền để vỗ tay mà còn phải đánh bài chuồn. May mà họ đã hạ màn sớm.

Anh Quý lặng lẽ nhồi thuốc vào tẩu, dáng điệu chăm chú, thận trọng, nhưng chưa mồi lửa, tần ngần một lúc mới nghiêng mặt hỏi chị Hoàng:

- Ví như có cơ hội mới, liệu "họ" có làm nên trò trống gì hơn không?

- Đã có một cơ hội để họ làm tổng thống, nhưng lời tuyên cáo nhậm chức của ngài tổng thống là kêu gọi quốc dân đầu hàng. Đã có một cơ hội để họ nắm lấy quân đội, nhưng mệnh lệnh đầu tiên cho quân đội là hãy nộp vũ khí cho đối phương. Tại sao lại là mấy thằng khùng ấy nhỉ, chứ không phải là tôi? Nếu là tôi...

Anh Quý duỗi chân, ngửa cổ vào lưng ghế, nói sóng sượt:

- Tuyệt vọng hoàn toàn à?

Chị Hoàng trỏ thẳng tay vào mặt tôi, một bên mép nhếch lên độc ác:

- Từ nay đào kép chính là mấy ông này, vở diễn chính cũng là của mấy ông này. Bọn ta hãy yên lặng đón xem.

*

Thoạt nhìn anh Chương tôi không khỏi bật cười. Anh giống như một kép hát đã về già, nhiều xương quá, nhiều trán quá, lại mặc cái quần nhung kẻ màu vàng vừa rộng vừa dài, một cái áo len cũng rộng thùng thình đã cũ, đi đôi dép lê. Chỉ riêng cặp mắt và cái miệng là còn trẻ, khi nói chuyện anh vẫn trẻ như cách đây mấy năm. Cùng đến với anh có Bình, gọi bố tôi là ông cậu, tốt nghiệp kỹ sư hóa học tại trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, vào thành phố Hồ Chí Minh nhận công tác từ cuối năm 75. Chẳng hiểu vì lẽ gì cặp bác cháu này lại rất quý nhau. Họ khác nhau hoàn toàn mà lại nói chuyện với nhau được, tâm sự với nhau được cũng là lạ. Năm nay Bình hăm chín tuổi, sang năm mới tính theo tuổi ta là ba mươi, tam thập nhi lập, tức thị không còn là trẻ con nữa. Hiện nay hắn là trưởng phòng kỹ thuật của một liên hợp xí nghiệp, nghe nói Sở công nghiệp thành phố sắp bổ nhiệm hắn làm phó giám đốc một xí nghiệp hóa chất. Chị Hoàng biết tin đã nói đùa: "Thời nào cái nhà này cũng có người đi xe hơi, mày có xe nhớ đón bác đi chơi Cáp với nhé". Bình mặc quần jean nhung màu tím sẫm, áo sơ mi màu xanh nhạt kẻ chỉ trắng, gót giày đóng hơi cao, dáng dấp thanh tú, mềm mại, là người đẹp nhất giữa cái đống xương thịt hư mục, đổ nát. Anh Hảo nắm chặt lấy tay Bình, nói hể hả:

- Ai dám bảo Việt cộng chúng tôi không có người đẹp nào?

Chị Hoàng vít đầu Bình xuống, hôn nhẹ lên hai má:

- Nếu thằng Việt cộng nào cũng đáng yêu như con thì má tình nguyện ở lại Việt Nam ăn cháo suốt đời.

Trong họ thường đồn rằng chị Hoàng rất thích những chàng trai xinh đẹp bất kể họ là Quốc gia hay Cộng sản. Với thằng Bình thì chẳng riêng một chị Hoàng yêu nó, mà cả họ đều yêu nó. Thằng bé đã đẹp lại ăn ở rất mực đàng hoàng. Bình hỏi bà bác nũng nịu:

- Tết này má Bò có lì xì cho con được vài trăm đi chơi với bạn không?

- Tết với mày chứ không với tao, tao không lì xì cho ai cả. Nói thế thôi, khi nào con được lên chức phó giám đốc má sẽ tặng con một món quà.

Anh Chương cười hi hí:

- Thế thì chẳng bao giờ bà phải mất cho nó một xu quà. Tính nó khó chịu lắm, rất khó chịu, lên thế nào được chức phó giám đốc!

Chị Hoàng trợn tròn mắt:

- Nó ngoan như thế mà lại bảo là rất khó chịu? Việt cộng không biết dùng người rồi.

- Bà vuốt ve nó nên nó có vẻ ngoan. Thử là cấp trên nó xem, sẽ rất khó chịu, tính nó hay xét nét, lại không chịu nhân nhượng.

Chị Hoàng kéo dài giọng đầy ý tứ:

- Nó giống tính ai ở cái nhà này thế nhỉ?

Anh Chương lại cười, nhưng môi cứ mím lại như e sợ bong mất hàm răng giả:

- Giống tôi, tôi nhận là nó rất giống tôi. Cái tính ấy ở đâu cũng gây khó cho người khác.

Trong gia đình vẫn thường nói, từ sau ngày giải phóng, tính nết anh Chương thay đổi khác hẳn. Bây giờ anh đã biết chào hỏi, biết nói chuyện với người này người kia trong gia đình, ăn thế nào cũng được, mặc thế nào cũng xong. Là người bình dân hoàn toàn. Xưa kia tính nết anh chẳng những kiêu kỳ mà còn rất khó chịu. Bố là quan đầu tỉnh, cậu ấm ngồi trong lớp ngủ gục trên bàn, bạn học mách thầy, thầy xua tay: "Lặng im để cậu ngủ!". Sang Pháp ở cả chục năm nửa chơi nửa học, về nước cầm hai bằng tiến sĩ vừa luật vừa văn chương, được giới Phật giáo ủng hộ, làm Viện trưởng Viện Đại học Huế, thay vị linh mục nổi tiếng Cao Văn Luận, rồi làm chính khách chống chế độ gia đình trị của Ngô Đình Diệm, bị cậu Cẩn nhốt hầm cả mấy chục ngày, tiếng tăm lan khắp "toàn quốc". Diệm đổ, tướng Khánh lên cầm quyền vời anh ra nhậm chức bộ trưởng Quốc gia Giáo dục, rồi làm thượng nghị sĩ trong nhóm đối lập, đọc diễn văn, đi biểu tình, trả lời phỏng vấn, là một nhân vật nổi tiếng của nền đệ nhị Cộng hòa, được ông Minh lớn để vào mắt xanh mời tham gia nội các chấm dứt chến tranh, tái lập hòa bình, liên minh với Cộng sản. Cuộc đời hoạt động chính trị của anh cho đến trưa ngày Ba mươi tháng Tư năm 75, phải nói là vui vẻ và thuận chiều, muốn gì được nấy. Tiền tiêu có gia đình lo, sinh mệnh chính trị có giới Phật giáo lo, riêng anh chỉ lo có tương lai của đất nước. Tương lai của đất nước chưa biết chắc ra sao, nhưng tương lai của anh nhất định phải ở dinh Độc lập. Chị Hoàng đã phát nguyện: "Thằng Chương phải làm tổng thống một nhiệm kỳ, tôi có chết mới nhắm được mắt!". Làm dân thường mới khó, chứ làm tổng thống có gì là khó. Lính lái máy bay còn làm được thủ tướng huống hồ một nhà hoạt động chính trị chuyên nghiệp lại không làm được ông tổng thống! Lần đầu tôi được gặp anh thì anh đã khác trước nhiều, là người dân thường, lại là thứ dân thường có phấp phỏng lo sợ chút ít, nên anh nhũn nhặn lắm, câu hỏi đã nhũn nhặn mà cái cách nghe tôi trả lời càng nhũn nhặn. Vì anh hiền lành và tuân phục nên sự nói năng của tôi của tôi cũng sổng sểnh, không gìn giữ. Có lần tôi giới thiệu với anh những món ăn ngon tại những khách sạn lớn ở Bắc Kinh, thấy anh gật gù ra dáng tán thưởng, liền nói ngay: "Cái thứ đầu bếp ở Chợ Lớn không sánh được với Bắc Kinh đâu. Bên ấy mới là bếp Tàu chính hiệu!". Anh nói rất tự nhiên: "Đúng là thế, tôi đã ở Đài Loan ít tháng tôi biết, họ nấu ngon lắm, các nhà hàng ở Hồng Kông cũng nấu rất ngon". Chết tôi, tôi đang nói chuyện với một chính khách có tầm cỡ lắm, chứ đâu phải anh dân thường. Lại phải gìn giữ một chút, đắn đo một chút, cái gì biết rõ thì nói, cái gì biết lờ mờ cứ nói thẳng là không được biết. Lại có lần tôi dám cao đàm với anh về Kissinger và chủ thuyết của Kít theo những sách vở tôi được học. Tôi hỏi anh: "Mấy lần Kít đến Sài Gòn anh có được tiếp xúc không?". Anh trả lời nhỏ nhẹ: "Không, nhưng tôi có nói chuyện với ông ấy nhiều lần khi tôi tu nghiệp tại Harvard, năm ấy ông ta còn là giáo sư xếp sòng một dortoir (4) có cả ngàn sinh viên và đã là tác giả cuốn sách nổi tiếng Vũ khí hạt nhân và đường lối đối ngoại". Rồi anh nói cho tôi nghe về các tôn sư của Kít trong ngành ngoại giao, về cái cương và cái nhu trong chính sách ngoại giao của Mỹ thời Kít đang còn là thần tượng. Anh kết luận: "Theo riêng ý tôi Kít đã kiếm được cho Mỹ một người bạn khổng lồ là Trung Quốc, nhưng lại mất toi một sự nghiệp vì cái kết thúc bất ngờ ở Việt Nam". Về phương diện này, nói cho thật, cái biết của anh vẫn hơn tôi nhiều lắm. Nhưng khi tôi nói với anh về cuộc kháng chiến chống Pháp ở quê ngoại tôi, một tỉnh nhỏ thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ, cái đói cái khổ, lúc thua lúc thắng của một đại đội địa phương, những miền đất xa xôi tôi đã đi qua và ở lại một ít ngày, những bà mẹ chiến sĩ, những ông già gánh gạo cả tháng theo bộ đội đi chiến dịch, bộ đội ở đảo Cồn Cỏ năm đầu chống chiến tranh phá hoại, Hà Nội tháng 12 năm 1972, các con tôi đi sơ tán với bà nội, bố mẹ ở lại làm việc giữa tiếng bom nổ ở các góc phố thì anh lạ lùng và kinh ngạc hoàn toàn, như chuyện của một hành tinh khác. Quả nhiên anh không hiểu bao nhiêu về cuộc cách mạng ở Việt Nam, về hai lần kháng chiến ở Việt Nam, nghị lực và hi sinh của dân tộc Việt Nam. Anh ít biết những gì đã xảy ra ngoài cái Sài Gòn anh cũng chỉ biết đại khái, cái biết qua báo chí, qua lời đồn, chứ không phải cái biết qua tiếp xúc. Anh vốn e ngại mọi sự tiếp xúc với dân chúng, vì anh không biết cách hỏi, lại càng không biết cách trả lời. Anh chỉ có thể nói một cách hấp dẫn và thuyết phục với những người cùng làm chính trị như anh, thuộc các phe nhóm khác nhau trong thượng nghị viện. Cái thượng nghị viện ở trong này, nhìn cho kỹ, phảng phất giống như một khoa của trường đại học Harvard, giáo trình do giáo sư - đại sứ Mỹ tại Việt Nam soạn thảo, được giáo sư - tổng thống Mỹ duyệt y. ở đó các sinh viên - nghị sĩ có quyền chửi Mỹ, chửi chính phủ đang cầm quyền, kiến nghị các đạo luật dân chủ, và cứ bốn năm một lần có cái vốn chính trị để ra ứng cử tổng thống hoặc trong một liên danh với tổng thống.

Bình ngắm bà bác một lúc, nói với tôi:

- Bác Hoàng mặc thế nào cũng đẹp, chú Việt nhỉ?

Chị Hoàng múm mím môi, khuỳnh tay ưỡn ngực, nói uốn éo:

- Bác cũng như chủ nghĩa cộng sản của cháu ấy, không bao giờ già, không bao giờ xấu, vĩnh viễn là mùa xuân.

Anh Chương cau mặt:

- Cái bà này bất cứ lúc nào cũng nói chọc được.

Chị Hoàng nói đanh đá:

- Tôi có chọc cộng sản hàng giờ, nhưng mấy cha cộng sản vẫn cứ yêu tôi. Cậu tuyên bố bắt tay với cộng sản, hết sức khâm phục cộng sản nhưng cộng sản vẫn cứ mời cậu đi cải tạo, tại sao thế?

Anh Chương ngả người, co một chân lên ghế, giọng mệt mỏi, chán nản:

- Bà đúng là ngôi sao xấu của tôi thật, tại sao tôi cứ phải sống mãi mãi bên cạnh bà nhỉ?

Anh Đại hỏi:

- Cậu Chương tuổi gì, tuổi Tý phải không?

- Tôi cùng tuổi với lão Thiệu, năm ất Mão là năm xung của tuổi Tý. Hắn mất quyền nhưng không mất của, lại thoát được cả người. Mình thì coi như mất tất cả.

Anh Quý quay cần tẩu trỏ vào chị Hoàng:

- Bà này tuổi Mão, anh Chương tuổi Tý, thảo nào chị em xung khắc nhau. Tý Ngọ Mão Dậu là tứ hành xung.

Chị Hoàng vẫn thích chọc ghẹo ông em như mắc ghiền vậy:

- Cậu Chương đâu có mất tất cả. Ba năm đi cải tạo ngoài Bắc, mất một bộ răng nhưng học được cái thiền. Sang Mỹ ăn thịt bò, uống whisky thì thiền làm sao?

Anh Chương hỏi tôi:

- Hình như Việt đang nghiên cứu thiền phải không?

Tôi cười:

- Muốn biết tí chút thôi, em là người của kẻ chợ, thiền sao được?

Nói đến Phật học, thiền học, tướng số học là anh Chương có thể giảng giải, tranh cãi cả buổi, anh đang say mê môn huyền học cũng như xưa kia anh từng say mê môn chính trị học vậy. Anh ngồi dịch ra mép ghế cho được gần tôi hơn, để có sức thuyết phục nhiều hơn.

- Cậu nói thế là không hiểu gì về thiền rồi. Ai cũng thiền được, người đã xuất gia cũng như người đang hoạt động xã hội. Cái động cái tĩnh bên ngoài chẳng có liên can gì đến thiền. Tôi nói thật, mấy năm đi học ngoài kia nếu không thiền thì tôi đã chết rồi, chết vì nhiều thứ lắm, buồn chán cũng có, tuyệt vọng cũng có, nhớ tiếc những cái đã qua cũng có. Tôi đã thiền, đã tìm được sự thăng bằng, từ đó cảm thụ được một tự do rất mênh mông, một thứ tự do tuyệt đối nếu có thể nói là như thế.

Tôi chưa kịp trả lời, anh Đại đã vội vàng nói xen:

- Xin lỗi, tôi muốn nói một chút về cái kinh nghiệm của tôi mấy năm đi tù ở Mã Đảo. Năm ấy xứ này chưa có học thiền, cũng chẳng biết thiền là cái quái gì, kể cả mấy ông sư tu chùa, có đúng thế không? Mà ở Mã Đảo thì chết dễ lắm, mấy thứ có thể chết như cậu Chương vừa nói đều có cả, nhưng cái dễ chết nhất là bệnh fièvre jaune gọi là gì nhỉ, bệnh sốt vàng da, còn cái bệnh ictère cũng là sốt vàng da, nhưng ác liệt hơn, nằm nấc vài ngày là tử thần đón đi rồi, tàu tốc hành mà, anh em tôi thường nói thế. Nhiều người chết lắm, càng ngồi buồn càng dễ chết. Nhưng tôi vẫn vô bệnh tật, vẫn khỏe như ngày còn ở nhà là do tôi làm việc rất dữ. Gánh nước, bổ củi, giặt quần áo cho bạn tù, lại vào tận các bản làng người dân tộc mua rượu cho ông Truyền, cho cụ Tắc. Cụ Tắc thì giàu lắm, giáo chủ một đạo có đến vài triệu tín đồ, có đến thế không nhỉ, tôi cho là ông ta nói phét, chắc cũng chỉ một, hai triệu là cùng, tôi mua rượu, nói ví dụ là mười đồng một lít, về bán lại cho cụ mười lăm đồng, ăn bớt năm đồng. Tiền của ông pape Cao Đài như nước, ăn bớt dăm ba đồng có thấm tháp gì. Lúc Pháp cho ra tù, anh em cảm ơn tôi, tôi cũng cảm ơn lại, không nhờ hầu hạ anh em thì tôi cũng chết từ lâu, sống một mình, sống cho mình, thì sống sao nổi.

Anh Chương vẫn hướng về tôi, tiếp tục câu chuyện về thiền:

- Một bữa nào đó cậu phải đến tôi một ngày. Tôi đang đọc một cuốn sách rất hay về thiền. Cậu là người viết nên mở rộng cái biết của mình ra nhiều lĩnh vực, thuộc nhiều xu hướng khác nhau để có được sự rộng lượng với những người mãi mãi không thể giống cậu.

Từ ngày được trở về sống tại thành phố Hồ Chí Minh, anh Chương ở hẳn nhà chị Hảo. (Vợ anh và ba con đã qua Mỹ từ giữa tháng Tư năm 75). Sống với một gia đình cán bộ cách mạng cũng tránh được lắm sự phiền phức từ nhiều phía. Phần nữa họ cũng hợp nhau, biết tôn trọng cái tự do và niềm tin riêng của nhau, biết im lặng và né tránh mọi sự tranh cãi. Chỉ duy có một khó chịu nhỏ là chị Hảo lắm nhời quá. Chị hay nói, lại nói rất to, ngồi ở đâu cũng nghe thấy tiếng nói của chị. Cả nhà đang nghe tivi buổi tối, bất chợt một đứa cháu nào đó bật ho một tiếng, lập tức chị phải tra xét tại chỗ là đứa nào đã ho, chắc hẳn bố mẹ lại lôi nó ra tắm nước lạnh phải không, tao đã dặn thời tiết trong này nóng lạnh thất thường, chớ thấy con bức mà lôi ra tắm nước lạnh, cảm chết có ngày, tiền đâu mua thuốc, bố mẹ chúng nó sau mà ngu thế, nuôi con vô tâm thế, xưa kia tao nuôi chúng mày trong rừng, cả năm không nhìn thấy một giọt nắng có đứa nào viêm họng đâu, sưng phổi đâu. Nói cả buổi, cho đến lúc tắt tivi vẫn còn nói.

Tôi nói với anh Chương:

- Bữa nào em lên anh, muốn xin anh một lá số.

- Cũng là một môn học nên biết. Cậu có nhớ ngày sinh, giờ sinh không?

- Ngày sinh thì nhớ nhưng giờ sinh thì chịu.

- Không sao, nhìn mặt, xem tính cách có thể phục được giờ.

Anh Quý nói thêm:

- Lập số thì ai cũng lập được, nhưng xem là chuyện khác, cao thấp khác nhau là ở chỗ đoán giải. Có thể gọi anh Chương là bậc sư về môn này.

Chị Hoàng lại có dịp chọc ghẹo ông em:

- Cậu xem số của mình có đoán biết được tháng nào, năm nào thì gặp lại vợ con không?

Anh Chương trả lời thản nhiên:

- Biết được cái xu hướng, cái có thể thôi, làm sao biết được thật rành mạch.

Chị Hoàng vẫn đay nghiến một cách khó chịu:

- Tháng Ba năm 75, anh nói cái xu hướng, cái có thể ấy khác với tháng Sáu. Năm 76 anh cũng lại giảng giải cho tôi nghe cái xu hướng của đời anh rất khác với sau mấy năm anh ở ngoài kia về. Việc đã đến rồi mới tìm ra cách đoán giải thì xem tử vi làm quái gì.

- Một trò chơi của riêng tôi, tôi có buộc ai phải tin đâu.

Anh Quý vẫn ngậm cái tẩu thuốc đã tắt nói trầm ngâm:

- Một môn học trải mấy ngàn năm vẫn còn quyến rũ ắt phải có cái gì cao sâu lắm, huyền nhiệm lắm. Bảo là trò bịp cả thì cũng độc đoán quá...

Chị Hoàng như đã có chủ định, chị hỏi đột ngột cả mấy người:

- Các ông đều đã biết lá số của tôi, vậy thì năm nay và sang năm đời tôi có gì biến đổi lớn không?

Anh Quý nhả tẩu cầm trong tay, kêu to:

- Năm nay coi như đã kết thúc rồi, có gì phải hỏi!

- Chưa kết thúc, vẫn còn bốn năm tiếng đồng hồ nữa.

- Theo cách tính của tử vi thì năm mới bắt đầu tháng Tý, tức tháng Mười Một ta.

Chị Hoàng vẫn bướng bỉnh:

- Tôi tính theo các cụ, cứ qua giao thừa mới gọi là sang một năm mới.

- Bà con mong ước gì trong vài giờ nữa?

- Trong vài giờ nữa rất có thể xảy đến cái điều tôi mong ước.

Tôi hỏi:

- Cái điều đó hình như chị đã cầm chắc trong tay thì phải?

- Cậu nói đúng, tôi đã cầm chắc trong hai bàn tay cái sự sẽ thay đổi, nhưng tôi chưa muốn nói vào lúc này. Gần đến giao thừa tôi sẽ nói.

Anh Chương:

- Sẽ không có gì xảy ra với chị trong vài giờ nữa đâu. Năm Mùi đối với chị đã là qua rồi. Hãy đợi đến năm Thân.

- Tôi không thích đợi đến năm Thân, năm Mùi đối với tôi vẫn còn vài giờ nữa.

- Chị chờ đợi gì vào lúc năm hết Tết đến?

- Tôi không chờ đợi, cái sự mong muốn ấy tôi đã bỏ sẵn trong túi tôi đây. Nhưng tôi chỉ công bố vào lúc sắp giao thừa.

- Nên công bố vào cái khoảnh khắc năm phút trước giao thừa, trước lúc đốt bánh pháo mừng năm mới.

- Cậu thất vọng rồi, tôi không mua pháo, đắt lắm, quá đắt. Trước lúc mở chai sâm-banh của chú Hảo thì đúng hơn.

- Ồ, thế thì sang nhất, có sâm-banh hả? Đã ba năm nay tôi không được uống sâm-banh vào lúc giao thừa.

- Cậu Chương, tôi hỏi thật, cậu có chờ đợi một cái gì từ phút này cho tới năm phút trước giao thừa?

- Hình như tôi vẫn hy vọng một điều gì thật tốt lành sẽ đến vừa vặn trước lúc giao thừa. Năm Mùi tôi đã sang một đại hạn mới, tốt lắm, tốt hơn nhiều so với mười năm vừa qua.

- Cậu đã được trở về Sài Gòn rồi còn gì?

- Giữa năm Mùi có chuyện dời chỗ ở. Còn bốn năm giờ nữa, đủ sức ra phi trường, lên máy bay, bay tới một vùng trời khác.

- Xưa kia là thế đấy. Còn bây giờ nghe cũng khó tin nhỉ?

- Cứ nên hy vọng đi. Có bao nhiêu chuyện vô lý không sao tưởng tượng nổi đã xảy ra trong năm năm nay!

- Ờ, ờ... cũng có thể, cũng có thể lắm. - Anh Chương cười hí hí rồi quay sang hỏi Bình. - Mày nghe chuyện của các bác có hiểu gì không, con?

Bình liếc nhìn tôi, cười nhẹ:

- Nghe thì vui chứ hiểu làm sao được.

Anh Chương lại hỏi:

- Con có tin ở tử vi không?

Bình vẫn cười:

- Nếu tử vi là một khoa học chính xác thì thế giới sẽ buồn lắm.

- Sao thế?

- Sự sống là bí mật. Cháu ham sống vì trước mắt mình luôn luôn là cái bí mật, là cái chưa được biết, cái không thể hiểu. Nếu như cháu biết chắc vợ cháu sẽ đẹp, lại rất ngoan, cháu sẽ buồn lắm, cái biết trước ấy sẽ giết chết mọi vẻ đẹp của tình yêu. Tất cả đều được biết trước thì mọi sự buồn vui thương nhớ đều vô nghĩa, sẽ không có hy vọng và thất vọng, không có mơ tưởng, không có phiêu lưu, không có đấu tranh, không có tôn giáo, không có cả thiền. Là một sự trống rỗng to tướng. Là cái chết, chứ còn gì nữa? Bác Chương nhìn má cháu kìa! Chưa bao giờ má thấy con "lý luận" như hôm nay nhỉ? Bác Chương thì đã chịu đựng với con nhiều lần rồi. Con không giống với chú Việt, chú Việt thích nhân nhượng để chiều lòng mọi người, còn con lại muốn mọi sự yêu ghét phải luôn luôn minh bạch.

*

Mọi người đã ngồi vào bàn ăn, anh Hoàng mới mở cửa lững thững bước vào. Anh lần lượt bắt tay từng người, mỗi người đều thăm hỏi một câu thật âu yếm rồi mới vào buồng trong thay quần áo. Những ông già rất lịch thiệp, anh Đại thì lịch thiệp một cách phóng khoáng và bay bướm, anh Hoàng thì thận trọng, thật đúng phép tắc. Cùng đi với anh có Quân, con trai lớn của bà cô ruột tôi, hơn tôi đến dăm sáu tuổi nên tôi vẫn gọi là anh và Quân cũng xưng hô với tôi là anh, như bạn chứ không theo cái thứ bậc họ hàng. Anh sinh đẻ ở Hà Nội nhưng theo bố mẹ vào sống ở Sài Gòn từ năm còn nhỏ, cách sinh hoạt đặc dân Nam bộ nhưng giọng nói vẫn lơ lớ nửa Bắc nửa Nam. Lần đầu tôi gặp anh vào giữa tháng Năm năm 75, nhân ngày giỗ người con thứ của cô tôi bị giặc Pháp giết tại Đồng Tháp Mười hồi cuối năm 50. Nghe nói anh cũng viết báo, lại là nhân viên của nhiều hãng thông tấn nước ngoài, quen biết rất nhiều tướng tá và viên chức cao cấp của chế độ cũ, đã từng sang Mỹ học nghề làm báo những mấy năm. Người như thế là tôi muốn làm quen lắm, huống hồ còn là họ hàng. Viết về xã hội trong này được người hướng dẫn thông thạo và tin cẩn là một may mắn rất hiếm có. Nhưng ngay trong lần đầu gặp nhau tôi đã thất vọng hoàn toàn. Anh vừa lắm lời, vừa khoe khoang, lại thù địch với Việt cộng ra mặt. Anh kể đủ mọi chuyện vừa bịa vừa thực về những anh bộ đội giải phóng vào đóng quân tại một biệt thự rất sang nhưng lại đào hố mèo ngoài vườn; cho xả máy điều hòa nhưng lại mở tung các cửa vì sợ bị ngạt; gọi con ở bằng cô, gọi bà chủ là chị, nhìn người đàn bà nào cũng nghĩ là họ đã từng ngủ với Mỹ, mở sách của trẻ con rất lấy làm lạ chúng cũng học Bà Trưng, Bà Triệu, tưởng đâu chúng chỉ biết có tiểu sử ông Nixon. Vừa nói vừa cười, lại còn nhìn tôi với cái vẻ khiêu khích: "Anh không tin hả? Thì chính anh là nhà văn nhà báo mà cũng quê bỏ mẹ". Khi ra về, ông chú tôi chạy theo nói nhỏ: "Thằng Quân nó ăn nói thế nhưng nó tốt bụng lắm, cháu ở lâu sẽ hiểu". Tôi gắt lên: "Chú mời tôi đến nhà mà chú để nó chửi bộ đội tàn tệ đến thế, nghe được, hử?". Mấy lần sau gặp Quân ở nhà chị Hoàng tôi làm mặt giận, hỏi gì trả lời nấy, nhưng hắn cứ phớt lờ làm như không, lại còn muốn tiếp tục trêu chọc nữa. Một năm sau tôi có việc đến một cơ quan nghiên cứu của Đảng, vừa xuống xe đã nghe có tiếng gọi: "Ông Việt!". Tôi quay lại nhìn người gọi, trời đất ơi! Ai mà quen thế nhỉ? Quá quen, cái miệng bỡn cợt, con mắt soi mói, nhưng sao lại là hắn? Thì không là hắn còn ai nữa, nhưng tại sao, tại sao?... Người kia đã bước gần lại, vừa cười vừa hỏi: "Anh đến làm việc có lâu không?". Tôi nắm chặt lấy bàn tay Quân, đúng là Quân thật, đồng chí Quân, cuộc đời kỳ ảo như trong một cuốn tiểu thuyết tình báo, da mặt nóng bừng không biết nên nói sao cho phải. Quân vẫn cười cợt: "Bữa gặp anh đầu tiên mừng quá, muốn chọc anh chơi, biết là anh rất giận...". Tôi gạt đi: "Thôi, nói làm gì chuyện đó nữa". Anh hoạt động trong ngành quân báo từ năm 1946, tốt nghiệp trường sĩ quan ngụy ở Thủ Đức, làm việc ở cơ quan tham mưu ngụy cho đến ngày ký kết Hiệp định Genève. Năm 1955, anh giải ngũ, vẫn sống ở Sài Gòn với cái vỏ ngoài là nhân viên của hãng thông tấn AFP, viết bài bình luận về thời sự Việt Nam cho các tạp chí Life, Time của Mỹ và tờ Nouvel Observateur của Pháp. Với họ hàng, Quân là một nhà báo cỡ quốc tế, trong gia đình, anh là một trí thức yêu nước, ít nhiều có cảm tình với cách mạng, chỉ riêng một vài đồng chí lãnh đạo của kháng chiến mới biết được công việc chính của anh ta. Ba mươi lăm năm làm tình báo ở những cơ quan cấp cao nhất của địch, tham dự vào nhiều âm mưu, bồ bịch với đủ mọi loại người, đủ mọi quốc tịch, chơi chó, chơi chim, chơi cây kiểng, ăn nói như người vô tâm, làm việc như tài tử, trọng nghĩa khí, tôn thờ tình bạn và chủ nghĩa cá nhân. Sống giữa mọi người, anh là một tính cách rất rõ ràng, có một triết lý sống không mập mờ, không lẩn giấu. Còn ai dám ngờ vực một người có một cách sống rõ ràng? Khi đã biết nhau, có lần cùng ngồi trên xe hơi do anh lái, anh bảo: "Cho đến nay tôi vẫn giữ được sự phản ứng nhạy bén cả phía trước và phía sau xe, đến các ngã tư nhìn thấy chú cảnh sát giao thông tim mình vẫn đập nhanh hơn một chút". Nghe radio ở nhà cũng vậy, sau khi mở máy anh có thói quen vặn thật nhỏ và đưa mắt nhìn thoáng qua xung quanh. Một người làm tình báo dẫu là từng trải nhất cũng không thể giống hoàn toàn như người bình thường, nếu bị nghi nhất định đối phương sẽ tìm ra những chi tiết vô lý. Điều cốt tử là chớ để kẻ thù ngờ vực, tình nghi. Tôi hỏi: "Lúc nào người hoạt động tình báo dễ bị sơ suất nhất?". Anh nói: "Lúc nói chuyện, nhất là phải nói chuyện với bọn tình báo Mỹ. Cách lập luận của người cộng sản thường thiên về biện chứng pháp, thích tìm những tỷ dụ trong lịch sử, nếu lại không có bằng cấp về lịch sử thì hãy coi chừng, anh đã bị chúng chú ý. Tôi có quen tay đại sứ Mỹ ở Bangkok, William Kinmer, y cũng rất ham lý luận biện chứng, nhưng là theo cách riêng của y. Một lần thằng Adam phụ tá chính trị của đại sứ Bunker, nó còn trẻ lắm, nói tiếng Việt như người Việt, hỏi tôi: "Tại sao mày thích viết bài cho báo Mỹ?". Tôi trả lời thản nhiên: "Vì Mỹ buộc phải quan tâm tới Việt Nam nhiều hơn, hơn nữa họ trả tiền mỗi bài khá lắm!" - "Tại sao mày chống Cộng". Tôi quát lên: "Ai nói với mày tao chống Cộng! Tao chống Cộng hồi nào? Mày nói bậy, có ngày Việt Cộng nó đốp tao, tao chết mẹ!". Châm ngôn của tôi khi phải đối mặt với những thằng sừng sỏ là keep your emotion out - bỏ mọi sự xúc động ra ngoài!".

Quân nắm tay chị Hoàng bóp nhẹ một cái, bà chị giãy nảy, quát the thé: "Thằng khốn nạn, tay mày như sắt...". Anh nháy mắt với tôi rồi kéo ghế ngồi cạnh anh Quý. Hai người nói rất nhỏ với nhau một chuyện riêng, rồi nghe Quân nói to: "Nhất định là thế, tôi biết hắn mà!". Anh Quý vẫn ngậm tẩu nói tư lự: "Cảm ơn cậu, tôi sẽ có cách nói chuyện với hắn". Bình ngồi cạnh tôi, da thịt quần áo thơm nức, nom thằng bé ngon lành quá, đã có mấy cô chạy theo, không hiểu ý tứ hắn thế nào. Bình cười với tôi: "Khi nãy cháu nói hơi sỗ, chú đừng giận cháu nhá". Tôi cũng cười: "Ai lại giận nhân vật chính của mình bao giờ". Nó giương cặp mắt đen láy cực kỳ thông minh, hỏi tôi: "Định đưa cháu lên đài bất tử đấy à? Là người tốt hay kẻ xấu?". Tôi trả lời: "Cho đến nay các nhân vật chính của nền văn học ta đều là những người tốt cả" - "Theo cháu, nhân vật chính phải đặt được nhiều câu hỏi cho bạn đọc. Hắn là ai? Như thế là tốt hay xấu? Cháu là con người như thế, phải luôn luôn tự khẳng định chứ không thể chỉ khẳng định một lần".

Bình đưa mắt nhìn những người có mặt trên bàn ăn nói thì thào:

- Chú Việt, chú có e ngại một điều gì sẽ xảy ra trong bữa ăn tối nay không?

- Mình thấy cũng giống như mọi lần.

- Hình như họ đang chờ đợi, đang tính toán?

- Thì ai mà chẳng mong đợi một năm mới tốt lành hơn.

- Điều họ chờ đợi gần hơn chú ạ, họ có biết rõ cái họ đang chờ.

- Chuyện tầm phào khi nãy, hả? Nó thế thôi chứ đầu óc rỗng tuếch.

- Chưa hẳn thế đâu, có một cái gì đó buộc họ phải tính toán thật.

Chị Hoàng gõ thìa vào cạnh bát, quát to:

- Xin mời các vị không nói chuyện riêng, nghe tôi nói một tí đã.

Anh Đại mở khăn ăn gài vào cổ áo:

- Một bữa ăn có đọc diễn văn là đại tiệc rồi!

Chị Hoàng lườm nhẹ:

- Ăn rất xoàng, rượu chỉ có một chai, tiệc tùng quái gì.

Anh Hoàng ngồi cạnh Quân hỏi nhỏ:

- Rượu của cậu à?

Chị Hoàng nhướng mắt, hỏi Quân:

- Mày có mang rượu đến không?

- Một chai Martell, được không chị?

- ở đời có số thật, có bao giờ nhà này lại chỉ có một chai rượu đón giao thừa. Tôi tuyên bố vắn tắt: vì bữa ăn rất xoàng nên mỗi chúng ta phải góp vào một câu chuyện thật hay. Cấm nói chuyện riêng.

Anh Đại cười hềnh hệch:

- Mình có cái tật: bụng đã rỗng thì tai điếc đặc, ventre creux n'a point d'oreilles.

Anh Quý bênh vực sáng kiến của bà chủ nhà:

- Chị Hoàng nói có lý. Những câu chuyện thông minh nhất đều do những người bụng rỗng viết ra cả.

Anh Đại vuốt ve tấm khăn ăn trước ngực, nhìn chăm chăm vào cái đĩa không:

- Trước hết, cái bao tử phải cho chặt, rồi cái thông minh sẽ đến sau.

Anh Quý:

- Bao tử quá chặt thì chỉ nghĩ đến sự tiêu hóa thôi. Ông Truyền hồi ở Pháp thông minh hơn hồi ở Việt Nam, lúc trẻ thông minh hơn lúc già.

Nguyễn Thế Truyền là anh em con chú con bác với anh Đại, cùng ngồi tù với nhau tại Mã Đảo, là anh em nhưng không hợp nhau về chính kiến.

Chị Hoàng:

- Dân bạch đinh dám tát cụ lớn tại bến đò Tân Đệ là phải có gan lắm.

Anh Hoàng hỏi:

- Lúc ông Truyền tát ông Vi là ở đất Thái Bình hay đã sang đất Nam Định?

Anh Đại:

- Đất Nam Định, chứ đâu dám hành hung ở đất Thái Bình. Năm ấy Vi Văn Định là tổng đốc Thái Bình.

Chị Hoàng:

- Tôi lấy làm lạ tại sao Vi Văn Định lại chịu, cả thằng công sứ Thái Bình cũng chịu. Một ông bị cái tát, một ông bỗng nhiên hóa ra phò mã nước Bỉ.

Anh Đại nói lẩm bẩm:

- Vanité (5), chỉ là vanité mà thôi...

Anh Quý:

- Ông ấy đánh quan lớn Nam triều, nhưng lại bồ bịch với thằng thống sứ Bắc kỳ Tholance. Đánh tớ nhưng quen chủ thì có chuyện gì.

Anh Đại:

- Ông Truyền là người có tài lắm. Ông ấy viết văn Pháp còn giỏi hơn cả người Pháp, c'est le premier Vietnamien qui connait a fond cette langue (6), môn sinh của Anatole France mà...

Anh Quý chữa:

- Ngày ấy chưa có Vietnamien, chỉ có annamite thôi!

Anh Đại phì cười:

- Ờ, ờ... thì le premier annamite, thôi, vứt mẹ nó đi, đã là annamite thì có premier cũng chả là cái quái gì.

Chị Hoàng:

- Cái năm ông Truyền ra ứng cử cùng một liên danh với lão lang băm Hồ Nhật Tân, mình ghét quá. Lão kia là đứa vô danh, mình là người có danh lại nhà tới xin làm ét cho nó.

Anh Quý:

- Nghe người ta bảo ông Truyền có tính khiêm nhường. Năm đánh lão Vi vì đi đất mặc áo đụp nâu, như anh nông dân. Năm nọ ra ứng cử phó tổng thống là bị ép chứ thực tình chỉ muốn là người dân thường...

Anh Đại đập bàn, quát to:

- Là lập dị, là vanité, một đời làm chính trị của ông ta chỉ là cái vanité to tướng!

Anh Quý:

- Nhưng cái chết thì khá hơn, khá hơn cả cuộc đời. Ngày Bốn tháng Chín, radio báo tin Cụ Hồ mất tại Hà Nội. Tối hôm ấy, ông Truyền mời thân bằng cố hữu tới nhà ăn cơm tối với ông. Bữa đó tôi cũng được mời, cùng đi với ông bà Đại. Ăn chay, ông Truyền nhợt nhạt báo tin Cụ Hồ, một vĩ nhân còn lại của thế kỷ, người đã khai sáng một nước Việt Nam hiện đại vừa từ trần. Rồi ông nói luôn, Cụ Hồ đã mất nên ông không muốn sống thêm nữa, trên đời này chỉ có Cụ là hiểu được ông, hiểu được cả những lỗi lầm của ông, nay vị Thánh đã không còn thì ông cũng chả nên nuối tiếc cái thế giới này làm gì. Từ phút này ông đã là người chết rồi, xin có lời vĩnh biệt tất cả. Nghĩ rằng nói thế thôi, chẳng dè từ hôm sau ông tuyệt thực, nằm quay mặt vào tường, không nói hỏi với một ai nữa. Nằm được đúng mười ba ngày thì chết. Cũng là một cái chết đáng xúc động.

Quân nói khinh khỉnh:

- Dầu là một cái chết đáng xúc động cũng không thể cứu vớt một nhà cách mạng đã thất tiết. Trước sau ông ta vẫn là kẻ phản bội.

Anh Đại giơ cao hai tay:

- Nói như thế là đúng! Có tàn nhẫn một chút nhưng kết luận như thế là rất đúng. Không còn hào khí để làm cách mạng nữa thì cố giữ lấy cái tiết tháo. Chí ít cũng là một thái độ tự trọng.

Quân vẫn chưa chịu buông tha:

- Tôi cũng không tín nhiệm lắm mấy anh tri thức trùm chăn. Hèn cả, vẫn là những anh hèn. Quốc gia hữu sự, kẻ thất phu còn phải gánh trách nhiệm huống hồ là anh trí thức.

Anh Quý cười gượng gạo:

- Làm người ở cái thời buổi loạn lạc kể cũng khó nhỉ!

Quân trả lời điềm nhiên:

- Hẳn là khó rồi! Làm người đã khó, làm người trí thức lại còn khó hơn. Hằng ngày phải lựa chọn, từng việc phải lựa chọn, lầm lỡ một chút là tiếng xấu để đời.

Cả anh Chương lẫn anh Quý đều mất hẳn tự nhiên khi nghe những lời bình xét có phần gay gắt của Quân. Không hẳn là nghĩ tới chuyện đã qua, mà như có đắn đo một việc nào đó sắp tới. Quân rất hiểu họ, họ cũng biết thế, anh còn hiểu rõ cái mảnh đất họ được ươm trồng. Nhưng anh đang bàn bạc với họ chuyện gì thế? Họ đang cần ở anh sự giúp đỡ nào? Tôi không thể biết vì không bao giờ Quân nói với tôi công việc hiện nay của anh. à, chơi khơi khơi vậy thôi, lúc rảnh ngồi viết tổng kết những năm đánh Mỹ, cũng có họp hành nhưng không nhiều, đi chơi hả? ờ, thì đi, đi lúc nào chẳng được. Nói vậy thì biết vậy chứ cái tạng của anh đâu có ngồi chơi lâu được, có khi còn bận hơn cả những năm kháng chiến. Tôi đến nhà anh nhiều lần, nhưng chỉ gặp có vợ con, còn anh thì, theo anh nói, lúc ra chợ chó kiếm con Phốc nào hay hay thì mua, anh vốn rất ưa giống chó Phốc, lúc tìm một cuốn sách hiếm, lúc ra quán cà phê ngồi nhâm nhi một ly cho thoáng đầu. Vẫn còn được chơi chứ chưa phải ngày ngày đến sở, cái việc của anh, theo anh nói, giống như một nghệ sĩ, lúc tập trung xây dựng tác phẩm thì không có cả giờ ngủ giờ ăn, khi đã hoàn tất lại chơi bời dài dài. Lạy trời, đối với tôi anh vẫn giữ cái vỏ ngoài, sinh ư nghệ tử ư nghệ thuật. Nhưng tối nay tôi sẽ biết rõ hơn về tất cả. Đã có một bên đứng sát tới những quyết định hệ trọng, lập tức phía bên kia phải có sự cứu trợ kịp thời, hoặc đẩy tới hoặc chặn lại, tùy theo cái xu hướng tốt hay xấu của người trong cuộc. Sẽ là một màn kịch hứng thú đây, tôi nghĩ thầm, nhưng chưa một ai biết trước được cách kết thúc. Tạo hóa bao giờ cũng giàu óc tưởng tượng hơn nghệ sĩ, táo tợn hơn và cũng tàn nhẫn hơn. Cách kết thúc của đời sống luôn luôn là hợp lý, nhưng thông thường là ảm đạm, nghệ sĩ vốn nhân hậu và lạc quan hơn tạo hóa.

*

Bữa ăn của đêm trừ tịch không xoàng như lời rêu rao của chị Hoàng. Bàn ăn cũ cùng với bộ ghế mười hai người đã bán rồi, thay vào là cái bàn tròn rất rộng, khăn trải bàn, bát đĩa, ly tách vẫn choáng lộn như xưa, còn các món ăn dọn lên là thịnh soạn đối với thời buổi khó khăn này. Cá rút xương luộc vừa mềm, thái miếng to bày trên đĩa (mỗi khách ăn là một đĩa), rau cải xanh chẻ nhỏ nhúng tái, xếp xung quanh làm hàng, nấm Tống Cú dày thơm nhồi giò sống hầm nhừ phủ lên trên, là một món. ốc nhồi thịt băm nấm hương, lót lá gừng, hai món. Trứng muối lâu ngày ruột vỏ xanh đen trong suốt như khối ngọc. Cá nục con nhỏ kho với dầu làm giả cá sardine à l'huile. Lạp xưởng để cả chiếc. Và canh nấm, những bát canh nấm thật trong thật nhẹ. Thực đơn tạp-pí-lù. Tôi chưa được ăn một bữa cơm ngày Tết nào nấu nướng như thế cả. Không có bánh chưng, không có dưa hành và giò chả, không có những món nấu cố hữu của mọi bữa ăn được gọi là trang trọng. Nhưng nói cho thật, các món đều ngon, nấu như thế là rất khéo và tuyệt ngon. Về sau tôi được biết từng món dọn lên đều hợp với khẩu vị mỗi người, tất nhiên nhà bếp đã bỏ riêng ra hai thực khách ăn tạp là tôi và thằng Bình. Anh Đại và anh Quý rất thích cá sardine à l'huile Anh Hảo, anh Hoàng mê canh nấm. Quân thích nhắm rượu với trứng muối và ăn cơm với lạp xưởng cắn ngập chân răng. Anh Chương mấy năm đi học tập chỉ thèm có món nấm Tống Cú nhồi giò. Còn bà chủ nhà thích uống rượu vang với ốc bươu luộc. Hồi trước, có lần bà chủ nhà kỳ dị này mời khách thật sang, xe hơi đậu kín một đoạn đường để thưởng thức chỉ có một món: canh cua nấu bún sợi to với cải xanh, canh thật nóng, ớt thật cay, bưng bát mà ăn, cấm dùng thìa, vừa ăn vừa thổi, nước mắt nước mũi chảy giàn giụa. Cũng là những người biết sống, tôi nghĩ thế, vụ cái thực chứ không vụ cái danh, khỏi mất thì giờ mà sảng khoái. Nhưng là trong cách ăn, cách sống thôi, còn cách làm chính trị của cái nhà này thì dở hơn nhiều, lại chỉ vụ cái danh chứ không vụ cái thực, đã mất quá nhiều thì giờ lại còn mang thêm cái hận, cái oán.

Anh Chương ngồi trước đĩa nấm nhồi, nhăn mặt:

- Không xài được, răng lợi tôi thì xài làm sao được món này!

Chị Hoàng nguýt dài:

- Không nhai được, nuốt được thì dùng mũi mà ngửi. Vẽ chuyện!

Anh Chương cười ngượng nghịu:

- Chị Bơ ơi! Chị ơi!

Chị Bơ từ dưới bếp chạy lên, cười hiền hậu:

- Các ông các bà còn thiếu cái gì nữa? Tất cả là vừa rồi.

Anh Chương cằn nhằn:

- Không có món nào em ăn được cả. Có còn răng đâu mà nhai được các thứ này!

- Ờ, ờ, không có món nào thật mềm nhỉ. Ông ăn tạm thịt kho nhừ nhá?

Chị Bơ tên thật là chị Hỉ, cũng như tên gọi thường của chị Hoàng là bà Bò, các cháu nội của bà Bò đứa là Chuột, đứa là Đen, lại có cả một con Thẽm nữa. Nói thật tục, tên đặt thật thô, bông đùa rất sỗ sàng là thói tục của cả một dòng họ. Các đời trước lễ nghi, quan dạng nhiều quá, đời sau không phá phách một chút không thể sống nổi. Ông nội chị Bơ và ông nội chị Hoàng là anh em ruột, một dòng làm quan, một dòng làm dân thường, là bà con nghèo sống dựa vào những bà con phú quý. Mỗi lần các cháu phải đổi phủ đổi huyện lại đánh dây thép về quê mời ông bác họ lên chơi, nhờ ông thu dọn đồ đạc, đóng buộc hòm thùng, thuê xe hoặc thuê tàu chuyển tới nơi trị nhậm mới. Còn vợ chồng con cái họ thì ra Hà Nội chơi bời thỏa thích, khi trở lại nhiệm sở tất cả đã đâu vào đó, đến một cái chổi cũng không thiếu. Để đền bù công lao của ông bác - đầy tớ, các cháu mời ông ở lại phủ huyện chơi một hai tháng, ngày ba bữa cơm rượu, sáng tối hai bận cơm đen và có cái quyền nói hách với đám thừa phái, lục sự: "Thằng phủ nó nhà tôi...". Mà cũng hãnh diện đáo để, lo lắng sốt sắng đáo để. Người con gái duy nhất của ông là chị Hỉ, lên ở với chú họ là án sát Nam Định từ năm mười lăm tuổi, thoạt đầu là hầu trà thuốc, sau là phụ việc nấu nướng, dần dần thành bà quản gia. Cô chú chết chị ở với các em thành đầu bếp chính, một đời người chỉ lo có cái miếng ăn của các em ông, em bà, thích theo cái thích của họ, ghét theo cái ghét của họ, nghĩa là chị cũng sùng bái đạo Phật và rất ghét chủ nghĩa cộng sản. Có lần chị Đại và chị Bơ cãi nhau ầm ĩ cả nhà, chị Đại quát ầm ầm: "Chị rõ thật thối, con Hoàng nó ghét cộng sản còn có lý, còn chị một đời bưng rổ cọ niêu cho nhà nó mà cũng tập tọng chống cộng". Từ đó hai người không nói chuyện với nhau, tránh cả giáp mặt nhau. Chị Hoàng đi đâu cũng rêu rao: "Con mụ Ba-trăm-lẻ-tư ấy quá quắt lắm, đến bà Bơ hiền lành là thế mà cũng phải giận!". Năm nay chị Bơ đã 67, chị tuổi Sửu, kém anh Đại một giáp, còn vài năm nữa đã là 70, không chồng con, một đời hầu hạ các em mà vẫn vui vẻ, vẫn hãnh diện vì được hi sinh cho những người thân thuộc.

Chị Hảo chạy đâu từ lúc vùng vằng với ông chồng, bây giờ đã tha thướt trở lại ngồi cạnh bà chị. Chị làm ra vẻ thế thôi, chứ xưa nay chưa biết giận ai, cũng là một nét dễ mến và dễ gần. Nhưng chị không chịu nổi những câu chuyện siêu hình, phô bày cái uyên bác, cái thông minh, tôi là người nội trợ, chị vẫn nói thế, có những ham muốn tầm thường, cái vui cái giận của tôi cũng tầm thường. Có bữa gạo Long Đỉnh mới bảy đồng một ký, chị đã te tái chạy ra chợ khuân về hai tạ, gặp ai cũng thì thào: "Có tiền thì mua gạo trữ đi, đến lúc một củ khoai một chỉ vàng lại trắng mắt". Giá tiền một cái quạt bàn của hãng National khác với hãng Sanyo, một tấm drap vải tuy cũ nhưng dày khác với một tấm thêu lòe loẹt nhưng mỏng dính, mua quần áo trẻ con thì xuống chợ An Đông, quần áo của người lớn thì ở khu Dân Sinh hoặc chợ Tân Định. Rồi quà biết cô giáo và ông chủ tịch phường, tiền phúng và tiền mừng những nơi quen biết, khách mời ăn ngày thường và khách mời ăn ngày chủ nhật, chạy vù vù từ trên gác xuống dưới nhà, từ trong nhà ra ngoài đường, sáng sớm ở đầu tỉnh, bữa ăn trưa đã ở cuối tỉnh, thẻ thót, mời chào, tính toán, đắn đo, có lúc hí hửng như chỉ trong ngày mai chị sẽ cầm trong tay bạc vạn, có lúc lại hốt hoảng như gia sản, cơ nghiệp sắp mất sạch đến nơi, không khéo thì còn chết đói. Cái số vất vả, hấp tấp thế nào. Mà là người sang hẳn hoi, xưa kia là con gái cưng của Nhà nước, các con đứa tiến sĩ, đứa kỹ sư, có ai hèn đâu mà vất vả đến thế. Đúng là cái số, là do cái giờ sinh không được nhàn.

Chị Hảo múa đũa lướt qua các bát, nếm náp một chút, bình phẩm:

- Bà Bơ nấu ngon thì có ngon nhưng món nào cũng nhạt, ăn sợ sợ là.

Cô em uốn éo nhưng bà chị lại sỗ sàng:

- Tôi bị bệnh đái đường nên phải kiêng muối cô ạ, ăn được thì ăn, không ăn được thì chống đũa nhìn bọn mình ăn.

Anh Đại ăn uống rất ngon lành, vầng trán bóng đỏ đã lấm tấm mồ hôi. Ông em hai hàm răng giả mới làm cau có, vật vã với miếng nấm nhồi giò, ăn thì khó, bỏ đi không đành, than thở:

- Ngồi cạnh người ăn ngon mình lại không ăn được, tức không chịu nổi. - Rồi anh gắt lên - Cái ông này răng lợi còn vạm vỡ thế thì bao giờ mới chịu chết.

Anh Đại cầm đầu khăn chùi miệng, nói chúm chím kiêu hãnh:

- À, à, chết thế nào, mình định sống chẵn trăm, còn những hai chục năm nữa kia.

Rồi anh hỏi mọi người:

- Các ông các bà có tin cái răng nó có tai không:

Chị Hoàng bỏ vội thìa canh húp dở, nhăn mặt cười ngắc lên:

- Nỡm ạ, chết sặc bây giờ!

Anh Đại vẫn nói từ tốn:

- Cái năm tôi vừa tròn bảy chục, một sáng nọ lấy tay sờ đủ hai hàm răng, đếm được băm hai chiếc, mới than: Người già mà răng không chịu rụng là hại con hại cháu lắm đây, ăn hết lộc của chúng nó mà. Nghĩ là nói đùa, không ngờ hôm sau rụng luôn một chiếc, tuần sau rụng luôn chiếc nữa. Năm bảy mốt rụng tiếp thêm hai chiếc, thế là mất bốn cái răng cả thảy. Lại sợ quá còn sống mà mất răng thì sống cũng vô ích. Sống cốt có miếng ăn, lại không ăn được thì chết quách cho rảnh. Cũng lại than thế. Từ đó không rụng thêm một chiếc nào nữa, cho đến nay vẫn còn hăm tám cái răng bám chắc vào chân lợi. Tức là cái răng nó có tai thật.

Uống thêm một hớp rượu, rồi như chợt nghĩ ra một điều thú vị nào đó, anh Đại giơ một ngón tay lên:

- Xin các vị chú ý: nói dại chẳng may một vị nào đó trong chúng ta chết đi...

Chị Hảo giãy nảy:

- Phỉ phui! Năm hết Tết đến anh ăn nói đến là nhảm.

Chị Hoàng chống đũa, bảo cô em:

- Cô không muốn chết thì chết sao được, còn ai muốn chết nên mặc xác họ.

Anh Đại nói tiếp:

- Nếu chẳng may một ai trong chúng ta chết đi thì nên dặn con cháu chớ có mua hòm đẹp. Hò tốt lại chạm trổ, lại sơn thếp có đến ba ngàn không?

Vì là nói tới giá cả nên chị Hảo buộc phải trả lời:

- Ba ngàn hoặc ba ngàn rưỡi, thôi, không nói cái chuyện ấy, nghe ghê quá!

- Nằm trong cái hòm ấy thì khoái, nhưng đêm đến thằng gác nghĩa trang thông lưng với thằng kẻ trộm sẽ đào mả ta lên lấy hòm đem bán, còn thân mình thì... thì...

Chị Hoàng:

- Đã chết là không cần gì hết. Xác bỏ hòm, xác bó chiếu hay xác vùi nông cũng chẳng quan hệ gì. Cần nhất là phải thật sướng lúc sống.

Anh Đại kết luận:

- Theo tôi, nên mua loại hòm xoàng xoàng, khoảng bảy tám trăm bạc là được. Tiền còn dư cho con cháu nó làm vài lần gà luộc với nấm nhồi.

Chị Hảo lại tính toán:

- Hòm bảy tám trăm thì ván hở mộng vênh để lâu trong nhà thế nào được?

Chị Hoàng hỏi kháy cô em:

- Sao bảo không thích nói chuyện chết chóc năm mới?

- ừ, nói thế thôi, chứ rồi các chuyện cưới xin ma chay nội cái họ này không thoát được bàn tay tôi đâu. Thời buổi khó khăn, không tháo vát, không đi đây đi đó, ru rú xó nhà, có mất cả đống tiền cũng chỉ mua được của giả.

Quân từ nãy uống rượu nhắm với trứng muối đen, món nhậu anh thích nhất, tất nhiên hơi đắt tiền, trong Chợ Lớn họ muối, gọi là trứng Bắc Thảo, chợt anh quay người lại hỏi chị Hoàng:

- Có một ông bạn tâm đắc nhất với chị sao chị không mời ăn bữa cơm tối nay?

Chị Hoàng cười, nói lảng:

- Thì mày chẳng đang ngồi đây là gì?

- Cám ơn chị, nhưng em muốn hỏi cái ông người Hoa kia?

- À, chú Phùng, nhưng tối nay tao chỉ mời những người ruột thịt thôi.

- Người ruột thịt đã ai dám bỏ ra mười mấy lạng vàng cho thằng Tú đi chui? Không mời nhau những ngày này là thiếu ân nghĩa lắm đấy nhá!

Chỉ là một câu nói phất phơ mà cả mấy người đều ngượng nghịu. Anh Chương nói buông:

- Người Tàu họ quý tình bạn lắm, họ không có lợi dụng sự quen biết như người Việt mình.

Chị Hoàng:

- Họ giúp là họ giúp chứ nhà này thì còn có gì để họ lợi dụng?

Quân châm hút một điếu thuốc lá thơm, nhả khói, nói lấp lửng:

- Cũng vẫn có đấy!

Chị Hoàng hỏi châm chọc:

- Họ muốn kết bạn với những người chống chế độ này à?

- Không nông cạn đến thế, ý tứ chú Phùng sâu xa hơn.

Chị Hoàng vẫn nói rất thản nhiên:

- Mấy thằng nhà báo chỉ lắm chuyện. Cái nghề kiếm ăn bằng cách bày chuyện.

Quân nhấc ly rượu cầm tay vẫn hỏi bà chị về cái ông Phùng nào đó.

- Ai giới thiệu chú Phùng với gia đình này?

Chị Hoàng cau mặt, ngờ vực:

- Thì mày chứ còn ai?

- Tôi rất ân hận đã dắt ông ta đến làm quen với gia đình.

Chị Hoàng gắt to:

- Nỡm nữa chú, say hả? Có ai trách mày về cái việc đưa chú ấy đến đây đâu. Đang thiếu chân xoa lại vớ được một tay cao cường, rồi lại nhờ vả việc này việc khác, toàn việc tốn tiền cả, người ta vẫn đưa tay ra giúp, có nhắc đến ơn nghĩa lại còn gạt đi kia. Họ quân tử lắm.

Một câu chuyện mà chủ nhà muốn gạt đi, muốn né tánh, còn khách mời cứ bám theo dai dẳng, bất chấp sự khó chịu của xung quanh. Vậy cái anh chàng nhà báo này thật sự có ý định gì?

Anh Quý chăm chú nhồi thuốc vào tẩu nói nhỏ với Quân:

- Thôi, cái chuyện chú Phùng chẳng có can dự gì với ai ở đây, bỏ đi, nói chuyện khác.

Quân mỗi lúc một đáng ghét như người cố tình nhiễu sự:

- Có chứ, có liên quan đến nhiều người.

Anh Chương đã buông đũa ngồi nhấp rượu suông, anh chỉ thèm có món nấm nhồi giò nhưng lại rắn quá, mút mát một chút rồi đành bỏ:

- Thằng cha ấy làm chính trị, hả Quân? Có cái nhà này thích làm chính trị, chứ có phải ai cũng thích đâu. Một thằng lái buôn muốn làm ra vẻ học thức, thích ngồi đấu hót với những người có học, hắn thiếu cái đó mà, thế thôi, chỉ thế thôi.

Quân xoay xoay ly rượu đã gần cạn, hỏi ỡm ờ:

- Thế cái thằng Jerry Rose nó thiếu cái gì mà xin được cầu thân với anh chị? Con một ông tỷ phú, học vấn tốt nghiệp Sorbonne, chức vụ cố vấn Bộ Cải cách điền địa, lại rất trẻ và đẹp trai nữa. Theo anh thì thằng Rose thiếu cái gì?

Thỉnh thoảng trong câu chuyện chị Hoàng vẫn thường nhắc đến Jerry Rose. Bác gái tôi hồi còn sống cũng rất yêu hắn, coi như con nuôi. Ngày bác tôi mất hắn đi theo linh cữu, chít khăn trắng như người ruột thịt. Bữa hắn bị chết vì tai nạn máy bay cùng với Nguyễn Văn ứng là Bộ trưởng Bộ Cải cách điền địa tại Quảng Ngãi, cả nhà đều khóc, rồi đưa lên chùa cầu siêu. Ngày mới sang Việt Nam, Rose làm việc tại tòa lãnh sự Mỹ ở Huế, rồi cướp vợ của đồng liêu là Barnes. Barnes rút súng bắn tình địch, nhưng Rose thoát chết, chạy về Sài Gòn làm báo. Trước làm cho tờ Time sau làm cho tờ Washington Post. Quân và Rose quen nhau từ ngày ấy. Ai đã một lần nói chuyện với Rose đều nhận thấy hắn dễ thương một cách lạ lùng, e thẹn và rất ít nói. "Một người Mỹ không đáng ghét", đến với mọi người như một chàng trai tốt bụng, con nhà giàu và hết sức ngốc nghếch. Thực ra, cái anh chàng người Mỹ dễ thương nhất ấy lại là một nhân viên cựu trào của CIA, là người lên danh sách các nhân vật được cái quyền chửi Mỹ và lên án chính phủ bản xứ theo đúng giáo trình của trường "Đại học Nhà Trắng". Về sau này anh Chương và cả chị Hoàng đều biết việc đó do sự thổ lộ cố ý của Bill Kohlman, thằng què, như cách gọi của chị Đại. Sáng hăm chín tháng tư, Kohlman lại nhà riêng mời anh Chương đi cùng chuyến bay rời khỏi Việt Nam với hắn, nhưng anh Chương lại mắc họp với ông Minh lớn tại dinh Độc Lập bàn việc thành lập nội các hòa bình nên để lỡ mất.

Anh Chương trả lời câu hỏi hóc hiểm của Quân hết sức tự nhiên, anh là một chính khách thuộc phái mới, chơi bài ngỏ, không cần giấu giếm những lỗi lầm của mình.

- Thằng Rose là CIA còn có lý. Nó sang Việt Nam không để làm tiền, không để tạo thế, ắt hẳn phải có công vụ bí mật rồi. Còn chú Phùng cả Chợ Lớn biết gia đình chú mấy chục năm nay, không theo Tưởng, cũng không theo Mao, chỉ là tín đồ của Thần Tài, theo cái chủ nghĩa bao tử là đúng nhất? Chẳng lẽ chú Phùng là nhân viên của Xịa, Xịa mạnh đến thế mà thằng Mỹ cuốn cờ chuồn khỏi Việt Nam?

Quân với tay cầm ly rượu còn đầy của tôi rót sang cái ly cạn của anh, rồi hỏi mọi người:

- Các vị có muốn nghe một câu chuyện vui vui nhưng hơi dài dòng, chuyện kinh tế thôi chứ không phải chuyện chính trị, chuyện làm ăn ấy mà!

Chị Hoàng vẫn chưa hết nghi ngờ cái thằng em quỷ quái, nhưng chị vẫn trả lời:

- Chuyện vui thì được, thì lúc đầu tao đã nói mỗi người phải góp vào bữa ăn một chuyện vui.

Quân nhấp một ngụm rượu, nhìn buồn bã đĩa trứng muối trước mặt đã sạch nhẵn, nói khề khà với tôi, và tôi cũng hiểu được ngay anh muốn lấy tôi làm điểm tựa để tấn công vào một mục tiêu đã nhằm trước.

- Mấy ông nhà báo Hà Nội khi công kích nhóm cầm quyền nước này hay nước kia đã về hùa với Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam thường quá nhấn mạnh cái quan điểm chính trị của họ mà ít nhắc tới cái mối lợi của họ khi được thằng Mỹ chia phần. Cái chuyện kinh tế ấy mà, nhưng lại quan trọng lắm, rất quan trọng. Nhờ có chiến lược mở rộng ở Việt Nam mà Thái Lan xây cất được một hệ thống khách sạn cực kỳ tráng lệ cho vợ con Mỹ ở, mở rộng được sân bay cho máy bay Mỹ đậu nhờ, bán được gạo thừa vì Mỹ đang cần gạo đưa qua Việt Nam. Maroc cũng thích lính Mỹ mãi mãi có mặt ở Việt Nam vì quân nhu Mỹ sẽ đặt mua dài dài cá hộp Sumaco. úc thì bán được thịt gà cà-ri hộp, Nhật thì bán bao nylon đựng xác chết. Khi Mỹ rút quân, thằng Hồng Kông kêu thét vì mất toi một trăm triệu đôn mỗi năm do lính Mỹ qua nghỉ phép tung tiền vào các phòng trà và các tiệm may quần áo. Chẳng có dây trói nào bền hơn cái buộc của đồng tiền. Không có đồng tiền lăn qua lăn lại ai mà yêu nổi được ai?

Chị Hoàng ngắt lời:

- Nhà này quý thằng Rose không phải vì tiền. Bọn Mỹ thằng nào chẳng keo kiệt. Đến ăn cơm chỉ biết vác xác tới chứ có bao giờ biết cầm chai rượu theo.

Quân châm tiếp một điếu thuốc, tiếp tục câu chuyện chẳng có gì là vui của anh:

- Cái việc lớn xảy ra ở miền Nam này đều được bàn trong các bữa ăn, kế bên các đống tiền, có quan hệ xa gần với cái bao tử, như anh Chương nói. Ví như cuối năm 69, tôi được ông Lầu Phước Ngũ mời ăn cơm tại nhà hàng Đồng Khánh của ông. Tôi muốn nói thêm về cái ông họ Lầu này, là dân buôn nhưng khiếp lắm. Buôn á phiện mà chở bằng xe xúc, đục ruột cây nhét nhựa đen vào. Các danh tướng Đỗ Cao Trí, Nguyễn Hữu Có, Vĩnh Lộc, nói cho gọn, các ông chỉ huy của vùng 2, đều là đàn em của ông Lầu cả, là nhân viên tải hàng cả. Các hãng máy bay đi Bangkok, đi Singapore, đi Hồng Kông, đều do một tay ông thao túng. Đó là kinh tế chính trị học, thôi, không nói tới cái chuyện ấy nữa. Nói tiếp cái bữa ăn do ông Lầu là chủ tiệc, ngoài tôi là một thằng nhà báo vô danh còn thiếu tướng Phạm Đổng, bộ trưởng cựu chiến binh, anh cả của quân đội Cộng hòa, có Sơn Ngọc Thành, lãnh tụ Serei Khmer, kẻ đối đầu với Sihanouk, có Robert Shaplen cũng là nhà báo như tôi, nhưng có danh hơn và được giới quan chức Việt Nam kính nể hơn. Bàn chuyện gì? Bàn việc lật đổ ông Sihanouk để đưa ông Lon Nol lên thay. Cơ hội lật đổ sẽ nhằm lúc ông hoàng sang Pháp chữa bệnh. Ông Lầu nói: "Nếu ông Thành làm thủ tướng thì tôi thích hơn, mối bang giao hai nước Việt - Miên sẽ phát triển tốt đẹp hơn". Bang giao có nghĩa là buôn á phiện vì bọn này có quan hệ buôn bán với Lý Mi, hiện nay ông chủ của khu Tam Giác Vàng nổi tiếng Thái - Lào - Miến. Sơn Ngọc Thành còn nói với tôi và Shaplen: "Xin các ông giới thiệu trước quốc tế phong trào Serei - Khmer và những người lãnh đạo của phong trào này. Chúng tôi không dám quên ơn các ông". Tôi quên một chi tiết, có một người đứng lùi lại phía sau một chút nhưng có tham dự buổi họp, các anh chị đều có quen, là chú Phùng.

Anh Quý nói rất nhỏ, nhưng vẫn đủ để tôi nghe rõ:

- Có cả Phùng à? Cái lai lịch của thằng cha này xem ra cũng lớn nhỉ.

Quân dừng lại, điếu thuốc trên tay đã cháy quá nửa, anh dụi luôn vào đĩa gạt tàn, hớp một chút rượu, nói tiếp câu chuyện chẳng lấy làm gì vui nhưng xem chừng đã được sự chú ý của mọi người.

- Có mấy năm tôi là người làm công cho hãng Reuter. Ông chủ của tôi là thằng Jimmy Haln, giám đốc của hãng ở Đông Nam á. Hắn là người Nam Hàn nhưng vô dân Anh, có tú tài Anh. Vợ hắn là bí thơ của Lý Quang Diệu, chỉ biết tiếng Tàu mà không biết tiếng Cao Ly. Thằng cha rất đẹp trai, cái đẹp của một thằng rất lạnh, rất rắn. Nó là người của tình báo Anh. Thằng Kohlman thì bọn ta đều biết nó là quan chức của CIA rồi, mà nó cũng không giấu diếm. Nhưng cái thằng Legeur thì xem ra chưa có ai tin nó là Xịa. Thưa, Xịa đấy ạ, Xịa có cỡ đấy ạ. Nó vốn là phụ tá của Thomas Polgar, tiền nhiệm của Polgar là Edward Shackley. Cả thằng Tôm lẫn thằng Tét đều là Giám đốc tình báo ở Viễn Đông. Tôi vốn bồ bịch từ nhiều năm với Kohlman, nó ở Việt Nam từ thời Ngô Đình Diệm, năm nhiệm kỳ, mỗi nhiệm kỳ hai năm, mười năm cả thảy. Cáo già đấy! Nó thích chó mà tôi cũng thích chó. Quen thân nhau vì cùng có một câu chuyện để nói.

Anh Đại giơ một ngón tay:

- Anh Quân chỉ thích có chó thôi à?

Chị Hoàng phẩy tay, gắt to:

- Đừng có pha trò nhạt, bố ạ, để Quân nó kể tiếp nào.

- Không, mình hỏi thật chứ không có ý giễu đâu. Anh Quân này, chỉ biết chơi có chó thì ngoại lai quá, Tây quá, người á Đông mình sâu sắc hơn, thường là biết chơi cả ba loại: một là chó vì nó trung thành, thứ hai là cá vì nó suy tư, thứ ba là chim vì nó bay nhảy, hành động. Một đời người biết hành động, lại biết suy tư và rất trung thành với chí hướng dẫu có chết cũng thỏa lắm.

Anh Quý cầm tẩu ở tay, nói theo:

- Mình góp thêm một mẩu chuyện cho vui. Cái năm tôi và Phạm Đăng Lâm họp hội nghị bốn bên ở Paris, thì Kỳ cũng sang. Trước hôtel của vợ chồng Kỳ ở không có ký giả săn tin, phỏng vấn mà chỉ có các ông các bà bá tước, nam tước nuôi chó, đem chó đến giới thiệu với Kỳ. Hắn sộp, xài tiền ngon, bán được thì lãi lắm, cố vấn chính trị của Kỳ là Đặng Đức Khôi, hắn chính là một chuyên gia về chó, mà Kỳ cũng chỉ bàn với hắn về các giống chó, chứ không bàn chuyện chính trị. Bố hắn là Đặng Đức Dục thì lại rành về chim với mèo.

Quân nói tiếp:

- Có một con berger, loại đã đổi giống, thấp chứ không cao, tuyệt đẹp, để ở Michigan đưa tới nuôi ở Florida, có một người bạn gửi qua Việt Nam cho tôi. Hắn kêu điện thoại báo trước cả tuần, con berger đó sẽ qua Tokyo bằng máy bay của hãng Panam, từ đó lại chuyển sang máy bay của hãng Air France. Cả tiền chó và tiền chuyên chở vừa tròn một ngàn đôn. Đem về nhà được một tuần thì lão Kohlman mò tới xin xem mặt con chó quý phái ấy. Và nó mê quá, không dám hỏi mua lại, nhưng tuần nào cũng đến ám mình một buổi, mất cả việc. Cuối cùng tôi cho hắn luôn.

Chị Hoàng kêu lên:

- Thằng Kohlman là cái cứt gì mà mày phải cho. Của một đồng, công một nén, quân đến ngu!

Quân cười như kẻ vô tâm:

- Giữ lại cũng chẳng được, vừa mất công nuôi chó lại mất công tiếp mấy thằng gàn đến xem chó. Cho luôn. Từ đó Kohlman coi tôi như cha nội nó. Cái thằng thích chó nhưng chẳng biết tí gì về cái nghề nuôi, nghề dạy chó cả. Tôi chơi chó công phu lắm, phải mua năm một tạp chí chuyên về chó, tờ Dog World (7), một đôn một cuốn. Bình của chó mình phải biết, đâu có hỏi được mấy ông bác sĩ thú y. Mỗi lần con chó đau nó lại đánh xe tới kêu tôi lại coi, như một bác sĩ chó thực thụ. Một lần đến nhà nó, tôi chạm mặt với chính ngay partron (8) của tôi là thằng Haln, rồi thằng Legeur, lão Lầu Phước Ngũ và cả chú Phùng của nhà này.

Cái kết thúc thật bất ngờ, không một ai có thể tưởng tượng nổi, lại có mối quan hệ nào đó giữa chú Phùng hiền lành, nhân nghĩa với cái đám tình báo gian manh kia. Anh Chương ngồi ngẩn ra, rồi chép miệng bảo bà chị:

- Quái lạ nhỉ, một thằng nhà buôn Tàu lại đến chơi nhà thằng tình báo Mỹ. Khó tin quá!

Chị Hoàng, cố vấn chính trị của ông em, tự khoe cái gì cũng tính được trước, bàng hoàng thật sự:

- Một thằng đút tay trong ống áo lại bồ bịch được với một thằng ghếch cẳng lên bàn, bất ngờ nhỉ? Hoàn toàn bất ngờ!

Quân:

- Cái gì bất ngờ?

Chị Hoàng:

- Chuyện ông Phùng nhà này!

- Có gì mà bất ngờ.

- Mỹ - Tàu hợp tác mày có bị bất ngờ không?

- Cũng không bất ngờ.

Chị Hoàng hỏi mỉa mai:

- Riêng mày được biết trước?

- Nhiều người biết trước, cứ gì tôi.

Anh Chương nheo mắt:

- Mấy ông lãnh đạo Hà Nội có biết trước không?

- Họ không biết trước thì làm sao có ngày Ba mươi tháng Tư?

Anh Chương:

- Chúng tôi cũng được biết trước chút ít, nhưng chúng tôi đã từ chối mọi sự hợp tác.

Quân:

- Ngày 9 tháng 1 năm 1945 Mao Trạch Đông gặp thiếu tá Ray Gromley, Trưởng đoàn quan sát quân sự của Mỹ tại Diên An đề nghị được đến Washington cùng với Chu Ân Lai gặp Roossevelt. Gromley đánh giá Mao chỉ là lãnh tụ một cuộc cách mạng của nông dân thôi, chứ chưa phải là cộng sản chính cống. Tướng Wedemeyer đặc phái viên của Roosevelt tại Trung Hoa liền gạt phắt cái đề nghị quan trọng đó đi, vì viên tướng này đã bị Tưởng mua rồi. Tưởng muốn là lãnh tụ độc tôn không thích có một đối thủ chính trị quá nguy hiểm.

Anh Chương nhìn Quân đầy vẻ nghi ngờ:

- Một chuyện quan trọng như thế tại sao tôi không được biết nhỉ?

Chị Hoàng khinh khỉnh:

- Nó bịa ra đấy, mồm mép nhà báo ai mà tin được!

Quân cười ầm ầm, nhô hẳn người về phía anh Chương, hỏi:

- Ông không thể tin được ở tôi, hả?

Anh Chương trả lời dứt khoát:

- Không, không thể tin, chẳng có bằng chứng nào để tin được cái chuyện. Mít Xoài của anh!

Quân đập tay xuống bàn, cười to hơn:

- Người ta thường chê các chính khách ít đọc, có đúng thật. Tôi nói theo tạp chí Những vấn đề đối ngoại, tạp chí Foreign Affairs, số ra tháng 10 năm 1972.

Anh Chương hỏi lại:

- Bài do ai viết?

- Bài của Barbara Tuchman, nhan đề If Mao had come to Washington (9). Chắc là anh có biết bà Tuchman chứ, tay tổ của nghề báo chúng tôi đấy, chuyên sục mũi vào các đống tài liệu mật của nhiều chính phủ. Chính bà cũng sợ bạn đọc khó tin nên phần chú thích có ghi rõ những chuyện trên đây được trích ra từ các tư liệu số 322 và 324 của phái đoàn Trùng Khánh tại Cục Lưu trữ quốc gia.

Quân ngừng lại một chút, da mặt hơi tái vì mấy ly rượu, giọng nói dịu hẳn không còn cái vẻ bỡn cợt, thách thức nữa:

- Tôi nói các anh chị đừng giận, cái nhà này xưa nay chỉ sống bằng mộng tưởng, bằng giả định. Xưa kia có làm chính trị cũng là thứ chính trị giả định. Kẻ thù, đồng minh, dân chúng cũng đều giả định tuốt. Thắng bại cũng giả định. Các nhà chính trị giả định, như trong quân đội có cái cấp đại úy giả định, đại tá giả định, capitaine fictif, politicien fictif, victoire fictive. Chính khách giả định là chính khách lý tưởng. Được cái danh chính khách, lại không phải chịu mọi sự khốn khó của một chính khách. Còn bây giờ muốn làm chính khách sẽ là chính khách thực thụ, politicien définitif, với mọi sự khốn khó thực thụ. Các anh chị dám có gan làm không? Được thì làm tổng thống, còn thua thì nhất định phải ăn cơm tù cả đời. Theo ý tôi... Thôi, để lát nữa tôi nói, gần sang một năm mới tôi sẽ nói, nói xong sẽ cút thẳng, có chửi cũng không kịp. Còn bây giờ, ta nên nói những chuyện vui vui hơn. Ô hay, chưa có cơm, hả? Chị Bơ ơi! Cho bọn em ăn cơm!

*

Trong bữa ăn tối hôm ấy, từ lúc Bình tới, nói gì làm gì tôi đều liếc mắt sang phía Bình một chút, đón đợi, thăm dò thái độ của hắn. Với những người khác họ có chửi cộng sản hay bênh cộng sản, tôi đều không quan tâm mấy, họ chửi cũng chẳng hại được mình, họ bênh cũng chẳng làm mình sang trọng hơn. Viết được về họ kể ra cũng vui vui, không viết được gì về họ cũng chẳng ai nỡ trách tại sao lại thiếu. Họ đã bị quên rồi. Cái số phận của họ mất dần sự quyến rũ. Người ta chỉ say mê có những người của hôm nay thôi. Do đó mà tôi khổ tôi bực chỉ vì Bình đã nhận xét: "Chú Việt hay nhân nhượng". Sống nhân nhượng, viết cũng nhân nhượng. Chỉ mong giữ được cái thân cho yên, không bị đụng chạm, không bị quấy rầy. Có mặt mà hóa ra không có mặt, có tiếng nói mà hóa ra không có tiếng nói, có sống mà sự đóng góp vào cuộc sống đang biến hóa, đang phát triển quá ít ỏi. Bình uống được rượu, hắn có thể uống cả chai mà quầng mắt chỉ hơi ửng tím một chút. Có lẽ do mấy năm sống ở Mạc Tư Khoa nghiên cứu công tác quản lý của ngành công nghiệp hóa học mà hắn biết uống rượu chăng? Nhưng hắn chỉ uống khi nào thích, còn đã không thích thì một giọt cũng không đụng, cả nửa năm không nhắp một ngụm rượu cũng không sao. Như lúc này ly rượu trước mặt hắn vẫn đầy, bữa nay hắn không thích uống, hắn thản nhiên xúc gắp các món ăn, nghe lơ đãng câu chuyện lẩn thẩn, xa lạ của mọi người, thỉnh thoảng lại nghiêng mặt mỉn cười với tôi như một đồng minh trong cách suy nghĩ và đánh giá. Chưa hẳn cách nghĩ và đánh giá của tôi đã hoàn toàn giống với Bình. Cùng một chí hướng thật nhưng lại cách nhau cả một thế hệ, cách nhau cả về kinh nghiệm và sự từng trải. Mỗi lần gặp nhau hắn thường thử thách tôi bằng cách kể một câu chuyện trong xí nghiệp rồi hỏi tôi nên kết luận như thế nào. Chú cháu tranh luận ỏm tỏi cả buổi, cuối cùng hắn cười xòa: "Mọi việc giải quyết theo cách của chú thì còn lâu mới xây dựng được chủ nghĩa xã hội". Tôi thích sự dàn hòa, sự nhân nhượng lẫn nhau, làm việc trong tinh thần đồng chí, đồng đội. Còn hắn thì tất cả là qui chế, là pháp luật, là trách nhiệm công dân. Cái xã hội chủ nghĩa của tôi nhân đạo hơn, cái chủ nghĩa xã hội của hắn xem chừng khắc nghiệt hơn. Anh Hoàng cũng rất thích thằng cháu Việt cộng. Anh không quan tâm tới xu hướng chính trị của người này hay người kia, mà chỉ xét nét có cái tư cách viên chức nhà nước của họ, bất kỳ thuộc chế độ chính trị nào. Có lần anh nói chuyện với tôi: "Vào bureau (10) của Pháp thằng nào cũng thắt cà-vạt, cổ cồn, mày râu nhẵn nhụi, nước hoa thơm nức, làm việc lịch sự và nghiêm trang lắm, kỳ thực chỉ là cái vỏ ngoài thôi, còn đóng cửa buồng lại chúng nó toàn tán chuyện láo cả, công việc chậm như rùa, cái bệnh quan liêu của Pháp trầm trọng lắm, khó tiến xa được. Thằng Mỹ thì khác hẳn, ngồi thì quay lưng ghế về phía khách, xoạng chân ra hai bên, có khi cao hứng còn đưa cả cẳng lên bàn, nhưng toàn nói chuyện đứng đắn, việc của mình hẳn hoi mà hắn đã nhận làm dẫu có chạy cũng không theo kịp". Tôi hỏi: "Còn cách làm việc của bọn tôi?". Anh trả lời rất đắn đo: "Đừng nghĩ tôi là phản động nhá, bộ máy hành chính của các cậu còn kém lắm". Riêng thằng Bình thì anh có nhận xét khác hẳn: "Nó lịch sự, tinh tế như Pháp, mà lại nhanh chóng, thiết thực như Mỹ" - "Anh làm việc với nó bao giờ mà anh biết?" - "Biết chứ, nhờ nó vài việc là biết ngay cái cách làm của nó". Anh Hoàng yêu Bình như một đồng nghiệp lý tưởng còn tôi quyến luyến Bình như một công dân của xã hội mới. Cuộc đời của anh viên chức dầu tài giỏi là mấy cũng hết sức tẻ nhạt, nếu muốn viết về cái tẻ nhạt có lẽ nên viết về họ. Thế là tôi với Bình lại khác ý kiến nhau rồi. Tôi thích mẫu người sáng tạo, phong trần một chút, mẫu nhân vật văn học. Bình thích loại người chấp hành thật nghiêm chỉnh mọi quy cách, hiểu thật hoàn hảo công việc của mình. Hắn rất yêu ông bác viên chức. Theo hắn, nếu bộ máy hành chính của một thành phố đào tạo được một ngàn người tận tụy với nghề nghiệp như ông Hoàng thì tình hình sẽ đổi khác rất nhiều. Nhà văn chế giễu một người suốt đời làm cái nghề cạo giấy buồn tẻ là rất vô trách nhiệm. Ai cũng muốn là một nhân vật được chú ý thì xã hội không thể tồn tại. Cơ thể con người là một sự phân công hoàn hảo, tạo hóa bao giờ cũng có lý, gọi là ruột thừa vì y học chưa tìm ra cái có ích của khúc thịt đó thôi. Đã là sự sống thì không có thừa, cũng không thể thiếu. Guồng máy quản lý xã hội của ta còn chưa tìm ra công thức thích hợp nhất cho nó, còn nhiều bộ phận thừa, nhiều chi tiết thừa, nên năng lực hành động không nhanh, không mạnh.

Một xã hội viên chức, cứ cho là những viên chức rất mẫu cán, cũng hết sức đáng buồn. Tất cả đều hoạt động trong một quy chế nhất định, đi theo một hàng lối nhất định thì văn học hết đất dụng võ. Tôi thích cái hôm nay, cái hôm nay ngổn ngang, bề bộn, bóng tối và ánh sáng, màu đỏ với màu đen, đầy dẫy những biến động, những bất ngờ, mới thật là mảnh đất phì nhiêu cho các cây bút thả sức khai vỡ. Bạn đọc thích gì nào? Thích đọc những tác phẩm văn chương tuyệt diệu hay thích cái hạnh phúc có thể tính trước của một xã hội đã ổn định? Vứt cái văn chương của chú đi, đục nước béo nhà văn là không được! Xã hội cần cái bình thường, cái ổn định, cái có thể tính trước, Bình nói thế. Anh Hoàng cũng rất thích một xã hội dân chủ và ổn định, người ta không phải lo cái gì khác ngoài công việc của mình. Vậy mà giữa họ vẫn cứ khác nhau. Ông bác nói với đứa cháu đầy âu yếm:

- Nếu con sống ở trong này hồi xưa, nhất định bác sẽ gửi con sang Pháp học trường ENA (11) hay sang Mỹ học trường Michigan. Những nhà cai trị lỗi lạc đều xuất thân từ hai trường nổi tiếng ấy cả.

Bình giương mắt, hỏi:

- Chế độ tư bản có cho phép cấp dưới cãi lại cấp trên không? Không phải cãi một lần mà nhiều lần.

- Trong chế độ tư bản người được làm sếp bao giờ cũng giỏi hơn nhân viên của họ, bằng cấp cao hơn, từng trải cũng nhiều hơn, cãi làm sao nổi. Nếu một nhân viên có tật hay cãi thì họ sẽ thải ra khỏi sở để tuyển người khác vào thay.

Bình cười:

- Ô, thế thì phiền quá, bác nhỉ? Người có tật hay cãi như cháu đến thất nghiệp mất. Không, cháu không thích cái chế độ tư bản của bác đâu.

Tôi hỏi ý tứ:

- Tức là anh có thích cái mẫu người phóng khoáng, đứng ngoài quy tắc một chút, chứ không hẳn là những viên chức ngoan ngoãn.

Bình hơi đỏ mặt, nhìn tôi trách móc:

- Một cán bộ tận tụy hoàn toàn không giống với mẫu người luôn luôn nhân nhượng, chú ạ.

Tôi cũng hơi nóng mặt, nhưng nín lặng.

Quân cũng đã quay sang góp chuyện:

- Theo ý cậu nên có những viên chức tận tụy nhưng đôi lúc còn phải biết tranh cãi?

Bình trả lời gay gắt:

- Biết nói với chú thế nào! Chú là người của một chế độ, cháu là người của một chế độ, giữa chúng ta có bao nhiêu là cái khác nhau.

Quân đưa mắt nhìn tôi, gương mặt anh sáng lên như thấp thoáng có một nụ cười:

- Đúng vậy thật. Cậu có cách gì nói cho bọn mình hiểu rõ thêm một chút không?

- Có chứ, tháng 12 năm 75, cháu vào Sài Gòn làm việc tại một xí nghiệp sơn. Giám đốc vốn là kỹ sư cơ khí ở Viện thiết kế thuộc Bộ cơ khí luyện kim, một phó giám đốc là trung cấp kỹ thuật cơ khí, và một phó giám đốc nữa làm công tác kinh doanh. Trong bốn người ở Hà Nội vào, chỉ có cháu là biết kỹ thuật làm sơn, nên vừa là trưởng phòng kỹ thuật, vừa làm vật tư, rồi làm kế hoạch kiêm luôn cả tính toán giá thành.

Anh Đại lại giơ tay, hỏi xen:

- Xin lỗi, cho bác hỏi Bình một chút, cái sujet cháu chọn làm luận án tốt nghiệp là gì? Bác cũng là một kỹ sư hóa học, hai bằng, một bằng của trường đại học Wiesbaden và một bằng của trường đại học Toulouse. Nhưng cổ lắm rồi, tốt nghiệp từ nửa thế kỷ trước là quá cổ!

- Thưa bác, đề tài làm luận án tốt nghiệp của cháu là phân tích đồng vị bền của các nguyên tố hóa học bằng phương pháp khối phổ. Cháu xin nói tiếp, làm vật tư của một xí nghiệp mới tiếp nhận trong năm 75 có nghĩa là đem tiền mặt đến gặp các nhà buôn vật tư ở Sài Gòn. Tiền đút vào trong bao bì, vài ba trăm ngàn là thường, tính theo tiền bây giờ đấy. Giá cả chưa có ai định cho hết. Tự cháu đặt ra giá cho xí nghiệp, tự cháu đi mua và tự cháu quyết toán. Nguyên liệu làm sơn có bảy tám thứ, xin lấy một thứ làm ví dụ, như nhựa an-kít chẳng hạn. Giá một kí lô nhựa từ 2đ20 đến 2đ60 là mua được mà mỗi ngày phải dùng từ hai đến ba tấn nhựa an-kít. Trong việc mua bán này có một người đứng ra làm môi giới, anh ta là đại diện cho một nhà máy làm sơn của tư nhân, có nguyên liệu thừa bán cho xí nghiệp của cháu. Chúng cháu thỏa thuận với cái giá 2đ20 một kí lô nhựa, mà mình ước tính ở nhà có thể từ 2đ40 đến 2đ60. Người môi giới còn gợi ý sẽ ghi giá tiền trong hóa đơn là 2đ40, một cách giữ khách hàng mà, cái số thừa hai hào một ký sẽ tùy nơi mình trích ra một khoản nho nhỏ biếu họ làm tiền trà thuốc. Một lần mua là từ mười tấn đến mười lăm tấn. Mỗi cân được lời hai hào, các bác tính đi, chỉ cần gật đầu một cái, có ngay trong tay từ hai đến ba ngàn bạc. Một tháng cháu mua khoảng bảy mươi đến chín mươi tấn, thu chi các khoản rồi, có thể bỏ túi được mười lăm ngàn. Mười lăm ngàn của năm 75, giá vàng có ba đồng một lượng! Một món tiền không nhỏ tí nào, mà lương trưởng phòng kỹ thuật vẻn vẹn có tám mươi đồng bạc. Cháu xin nói thành thật với các bác, cháu vẫn yêu cầu anh kia ghi trong hóa đơn là 2đ20, lại trích một khoản tiền là hai trăm ngàn tặng riêng anh để chi vào các khoản phí tổn. Anh ta hỏi cháu: "Anh không có gì sao? Tôi sẵn sàng ghi vào hóa đơn là 2đ40, có gì là không hợp pháp?". Cháu trả lời: "Chúng ta tính toán có khác nhau. Anh là người làm công cho một xí nghiệp, còn tôi là người chủ của một xí nghiệp".

Nét mặt Quân cứng lại, hoàn toàn không tự nhiên, tôi biết anh đang cố kìm giữ sự xúc động. Anh nói đúng, ngay với một tình báo viên già dặn cũng không thể tự giấu kín với tất cả, trong mọi lúc. Làm sao có thể tự chủ được trước những xúc động rất bất ngờ? Chị Hoàng kêu não nuột:

- Cái họ Trần chẳng có dính dáng gì đến mày mà sao mày giống người họ Trần thế. Dở hơi, một lũ dở hơi, tam tứ đại dở hơi!

Anh Chương bình phẩm:

- Được đấy, rất được đấy! Cái tiếng bao giờ cũng đẹp hơn cái miếng, nhưng rồi có ngày sẽ khổ vì cái tiếng Bình ạ.

Chị Hảo cũng than thở:

- Tôi cũng là người họ Trần, nhưng không đến nỗi ngốc nghếch như anh. Thiếu gì người ăn vụng, miếng ăn của họ còn to gấp trăm lần của anh ấy chứ. Anh sạch nhưng anh nghèo người ta cũng khinh cho.

Bình vẫn cười rất hồn nhiên:

- Năm ngoái, cháu là phó phòng kỹ thuật của Công ty sản xuất công nghệ phẩm, nên được làm ủy viên thường trực của tổ cải tạo tư bản tư doanh thuộc ngành công nghệ phẩm. Có một hộ sản xuất sơn hắc ín ở quận 6, nhỏ thôi, có chừng hai chục người làm. Cơ sở này thuộc diện được giải tỏa, nhưng chưa kịp làm thì người chủ đã tới gặp cháu rồi. Ông ta xin được tiếp tục sản xuất, vì nguyên liệu cũng chẳng còn được bao nhiêu, sau đó sẽ xin đi vùng kinh tế mới, ở đó cũng có nhiều mối bạn hàng. Ông ta nhấn mạnh: "Xin ông giúp cho, chúng tôi không bao giờ dám quên ơn ông". Việc chẳng có gì, nhưng cái thủ tục hành chính của mình nó rềnh ràng chậm chạp nên thường phải kéo dài từ hai tuần đến một tháng, mà họ thì muốn làm cho nhanh, trong một hai ngày. Làm thế nào được! Nhưng chỉ năm ngày sau, trên đường đến sở làm, cháu gặp lại ông chủ làm sơn hắc ín, ông ta đã giơ tay lên, cười toe toét: "Chào anh nhá! Cái việc của tôi thế mà xong rồi!". Tức là ông ta đã được một ông cán bộ nào đó tận tình giúp đỡ rồi.

Chuyện của hôm nay dẫu buồn đến đâu, dẫu bực đến đâu vẫn cứ vui, vì nó là máu thịt của hôm nay, của giờ này, nó tươi rói, nó đỏ hồng. Cả mọi người đều cười, cái cười thật tự nhiên, thật sảng khoái. Chuyện đời mà, có thể này và cũng có cả thế kia, đâu chỉ có một màu duy nhất. Bình cũng vui, anh kể cho vui chứ không có ý định tranh cãi:

- Chưa bao giờ anh tư sản cỡ nhỏ làm giàu lại dễ như bây giờ. Xưa kia còn bị hàng hóa nước ngoài cạnh tranh, nay không có hoặc chỉ có rất ít, cũng không bị bọn tư bản cá mập khống chế, chèn ép, xí nghiệp của họ bị trưng thu rồi, người quản lý cái tài sản ấy là bọn cháu, mà chúng cháu làm ăn còn dở lắm, nên chưa làm ra được nhiều sản phẩm, hoặc có sản phẩm nhưng giá thành lại cao. Năm vừa rồi, một xưởng mỹ phẩm ký hợp đồng với một xí nghiệp cỡ nhỏ làm ve chai, người chủ là Hoa kiều, còn trẻ nhưng khéo lắm, ma quỷ lắm. Nhà nước phải cung cấp cho họ một số hóa chất khan hiếm như sôđa, ASH, tức sôđa không ngấm nước, hay sôđa khan cũng thế. Họ nhận làm vì có lợi, công làm thì chịu lỗ, nhưng lãi cái phần bớt xén định mức vật tư của nhà nước. Khi cháu xét cái định mức vật tư giao cho họ thấy dư nhiều, muốn bớt đi nhưng anh em không bằng lòng, hợp đồng đã ký rồi, nói đi nói lại sao tiện. Vả lại xí nghiệp quốc doanh làm thủy tinh còn đòi định mức cao hơn, mà sản phẩm lại xấu hơn thì sao? Rồi nguyên liệu cũng không còn để đưa cho họ nữa, họ xin được tự xoay sở lấy, cuối cùng mắc nợ tới 20 tấn sôđa khan, mà mỗi kí lô giá ngoài từ hai mươi đến hăm sáu đồng. Xí nghiệp này báo nợ lên Sở, Sở cử người xuống một đoàn kiểm tra xem xét lại thì ông chủ Hoa kiều liền gạt đi, nói là không có nợ, làm gì có nợ? Mà nợ họ thật. Nợ trên dưới hai chục vạn! Một thằng buôn, vốn tính toán chi li từng đồng, bỗng dưng vứt bỏ hai chục vạn như mớ giấy lộn? Kỳ quái chưa? Chắc hẳn cái bên trong phải có rất nhiều trò lắt léo. Khi cháu hỏi đồng chí giám đốc, ông nói rất nhẹ: "Mình nợ thật, nhưng họ lại bảo không có nợ thì mình cũng lờ luôn, càng hay!"... Dễ nghe chưa? Mà chịu đấy! Làm viên chức thời xưa thì chịu, việc của thượng cấp có dính dáng gì đến mình. Nhưng cháu lại sinh vào cái thời này, là một viên chức của nhà nước cách mạng nên cháu sẽ không chịu, mà phải làm cho rõ lẽ. Cháu biết là cháu có thể thua, vì cái ông ấy vừa được Sở khen thưởng, lại được đề bạt làm phó giám đốc một liên hợp xí nghiệp hết sức quan trọng rồi.

*

Bữa cơm đã gần tàn. Rượu hết, các món nhắm cũng hết, cơm xới ra người ăn người không, riêng anh Đại vẫn xới một bát cơm thật đầy, anh ăn không nhiều, nhưng nhai chậm, nuốt chậm, nên cũng ngượng nghịu vì cả bàn ăn phải chờ mình. Anh đặt đũa nói múm mím:

- Xin lỗi cả nhà nhé. Bữa nay mình ăn ngon miệng quá. Khi nãy nghe các vị nói chuyện về một chú Tàu nào đó, tôi cũng có một chuyện về anh Ba Tàu. Chuyện ly kỳ lắm, có tài văn chương như cậu Việt là viết được một roman phiêu lưu tuyệt hay. Cái năm Pháp nó đưa tôi đi an trí ở Mã Đảo...

Chị Hoàng thét lên:

- Vứt mẹ cái Mã Đảo của anh đi! Bốn chục năm nay vẫn chưa kể hết chuyện Mã Đảo, hả? Bà Bơ ơi! Cho cà phê nhá!

Anh Đại vẫn cười hiền lành:

- Một ngày trong tù dài bằng một năm ngoài tự do. Bảy năm ở tù phải sống thêm cả trăm năm vẫn kể chưa hết chuyện. Các vị chắc đều biết cái eo biển Mozambique chứ? Bên này là Mã Đảo, bên kia là xứ Mozambique. Thời ấy quân Đức đang đánh nhau với quân Anh ở Bắc Phi, tàu buôn, tàu khách đi lại trong Đại Tây Dương bị tàu ngầm Đức đánh chìm vô số. Một buổi sáng chúng tôi nhìn thấy có một chiếc xuồng lờ lững táp vào chân đảo. Trong xuồng chỉ có một người nằm mê man như sắp chết. Một bộ xương người thì đúng hơn, tóc râu che kín mặt, tóc đen râu đen, là người châu á, nhưng đã là người cùng một châu cũng coi như người cùng một nước. Bọn tôi bế anh ta lên, pha sữa cho anh nhắp từng chút một, dần dần cũng tỉnh lại. Thì ra anh ta là người Tàu, nói tiếng Pháp khá lắm, đã từng ở Đông Dương ít năm, rồi sang Pháp, chiến tranh châu Âu bùng nổ, mất sạch cả gia sản lại tìm đường qua châu Phi, ở Côte d'Ivoire, làm ăn khó khăn quá mới theo bè bạn đi Mozambique bằng đường biển, dọc đường bị thủy lôi Đức đánh đắm, có hăm bốn người nhảy được xuống xuồng cấp cứu, lênh đênh trên mặt biển Đại Tây Dương đã non một tháng trời...

Chị Hoàng kêu lên:

- Một tháng trên biển! Họ chịu được đói, được khát, hả?

Anh Quý nhăn mặt:

- Bà này nghe chuyện rõ hay, có hăm bốn người nhảy xuống xuồng chỉ còn một người sống sót tức là đã có hăm ba cái xác vứt xuống biển rồi.

Chị Hoàng vênh mặt, hỏi anh Đại:

- Toi khoe câu chuyện ly kỳ có thể viết tiểu thuyết được mà chỉ có thế thôi à? Già rồi bố ạ, chuyện ông già mỗi ngày mỗi nhạt. Chỉ có đớp thôi!

Tôi nhìn anh Chương cười mỉm, quả nhiên anh Đại đã già thật, thì cái người sống sót ấy có thể là người Tàu mà cũng có thể là người Anh, người Pháp hoặc người Đức, chuyện quốc tịch của người bị nạn có gì là quan hệ. Hoàn toàn giống với cách viết của một nhà văn đã quá già. Mở đầu cuốn sách nghĩ rằng sẽ có chuyện động trời, gấp cuốn sách lại như người bị mắc lỡm, vừa mất tiền lại mất cả cái công hồi hộp chờ đợi sự kết thúc bất ngờ ở chương cuối. Cả mọi người nhìn anh Đại ái ngại cho một tuổi già, kể cả mấy ông già ngót nghét bảy chục cũng cảm thấy như trẻ hẳn lại, thông minh hơn lên vì được xót xa cho một người khác già hơn, đáng thương hơn. Nhưng cái ông già đáng thương hại ấy lại đung đưa con mắt một cách tinh quái, miệng mủm mỉm đầy hóm hỉnh, e hèm, dặng hắng, rồi mới tiếp tục câu chuyện chắc hẳn sẽ rất tức cười vì cái nhạt nhẽo, cái vô duyên của nó.

- Tất nhiên đã có hăm ba người chết, chỉ có một người sống nhưng họ không chết một lúc mà đã chết lần lượt.

Chị Hoàng cười gập người trên bàn, nước mắt chảy giàn cả ra má:

- Thôi, thôi, con xin bố, lú lẫn vừa vừa chứ!

Anh Đại vẫn nói ngớ ngẩn:

- Lần lượt không phải từng người, nói thế nào cho các vị hiểu được nhỉ, mà từng nửa một.

Không ai cười nữa, đưa mắt nhìn nhau, cái gì từng nửa?

- Vâng, chết từng mẻ một, mỗi mẻ là một nửa. Tôi nói rõ hơn nhé. Mẻ đầu chết mười hai người, mẻ sau chết sáu người, rồi chết ba người, ba người sau cùng thì chết lần lượt từng người một. Tất nhiên trong ba người ấy có một người không chết, đó là anh Ba Tàu chúng tôi đã cứu được.

Không phải là một chuyện nhạt nữa rồi, một chuyện đã bắt đầu có cái tầm vóc riêng của nó, cái huyền bí riêng của nó. Mà ông lão biết kể chuyện lắm, chưa lẫn, hoàn toàn chưa có lẫn.

- Vâng, những người chết đầu tiên rất thanh thản vì tấm lòng hỉ xả. Những người chết sau tuy có đau đớn hơn, nhưng vẫn còn là tự nguyện. Duy có ba anh sau cùng thì phải vật lộn,
phải chống chọi với cái chết, nói cho rõ hơn, phải chống lại những mưu mô, những thủ đoạn của người cùng thuyền để giành lấy cái sống, dẫu rằng cái sự sống ấy là hết sức mong manh.

Lại văn chương nữa! Thì ra khi đã có một cốt truyện quan trọng, với những chi tiết tuyệt vời, lời văn tự nó đến, đến thật mềm mại, thật uyển chuyển và trong trẻo như không có tí cố gắng nào.

- Họ không đói mà chỉ khát, cái khát hành hạ con người còn cay độc hơn cái đói, các vị ngồi đây chưa biết đói, cũng chưa biết khát nên khó mà hiểu được. Xin lỗi, có lẽ Việt nó có biết chút ít, lính văn nghệ thì chỉ được biết có chút ít thôi. Tôi cũng biết được chút ít, tù chính trị nhưng Tây còn muốn dùng nên không nỡ để đói hẳn, để khát hẳn như tù cộng sản. Này, mình nói năng lảm nhảm đã ra người lẫn chưa thế, tám chục tuổi, minh mẫn mãi thế nào được. Có lúc lẫn, nhưng không phải lúc nào cũng lẫn, có phải không?

Viết được một câu chuyện hay, chinh phục được lòng người thì người viết lại có cả quyền đôi lúc được giỡn mặt bạn đọc tí chút. Là nhà văn có tài nghĩ cũng sướng thật, viết như đùa, triết lý như đùa, nhân vật như đùa, mà vẫn quyến rũ biết bao.

- Sống nhiều ngày trên biển lại không có một giọt nước dự trữ, tức là cầm chắc cái chết, một cái chết rất khổ, vì xung quanh là nước, nước mênh mông, nước xanh rờn mà không uống được. Cái nghịch cảnh ấy làm người ta khô cháy hơn, cào cấu gan ruột hơn, dễ cuồng điên hơn. Lúc ấy chết được là cách giải thoát sung sướng nhất. Cái chết không đáng sợ bằng cái khát, nên mười hai người đã tình nguyện chịu chết, nghĩa là cho phép mười hai người kia giết mình lấy máu uống thay nước.

Chị Hoàng bưng lấy mặt, rên rỉ:

- Thôi, không nói nữa, ghê quá, câu chuyện của anh ghê quá!

Anh Chương cười nhạt:

- Cái bà này miệng hùm gan sứa thật. Muốn làm loạn mà sợ máu người à?

Chị Hoàng nửa nhăn nửa cười:

- Mình chỉ thích có người khác làm thôi, còn mình thì sợ lắm.

Anh Quý:

- Tiếc rằng bà đã già quá và cũng xấu quá, nên khó có chàng hiệp sĩ nào muốn xả thân vì bà!

Chị Hoàng cầm một chiếc đũa lao về phía ông bạn cố tri:

- Thối! Làm nghề ngoại giao mà ăn nói đến thô tục!

Anh Đại vẫn kể tiếp, câu chữ lung linh, ào ạt như chính anh đã có một lần trải qua. Cái giây phút này giống như cái giây phút của một nhà văn có tài viết được những trang lý thú nhất. Ngòi bút tự lia trên trang giấy với bao ý tưởng, hình tượng lạ lùng, như không còn thuộc về mình, mình đâu có những cái đó, mà thuộc về một thế giới kỳ ảo, phiêu diêu, hiện ra trong phút chốc và cũng sẽ tiêu tan trong phút chốc. Cái phút đó người trong nghề gọi là phút nhập thần, phút nhập đồng, chẳng rõ hình dạng nó ra sao, phải mời mọc nó tới bằng cách nào, nó đến thì được, nó đi thì mất, có khi phải chịu mất mãi mãi. Có người được nó đến thấp thoáng một đôi lần, có người ve vãn một đời chỉ đạt tới một cảm giác gần giống như thế, nhưng không phải thế, là những tác phẩm gần giống với văn chương nhưng chưa hẳn là văn chương, là do người làm, có thể do một người hết sức thông minh và khéo léo làm, chứ chưa phải do cái phần ngoài con người làm, do "thần" làm. Hình như anh Đại sắp xa cách chúng tôi rồi đây. Tết này anh cười đùa với chúng tôi, nhưng Tết sau có khi anh đã dong chơi đùa bỡn tận cái thế giới xa xăm nào. Người đã tám mươi tuổi, bỗng chốc minh mẫn, uyển chuyển, tinh tế trên sự bình thường là đáng ngại lắm, là rất đáng ngại.

- Một số đông cầm dao giết một số đông, cái việc giết ấy đỡ run tay hơn. Còn lại sáu người cầm dao giết sáu người tuy vẫn còn là tự nguyện, cái sự giết ấy đã đòi nhiều nhẫn tâm lắm, nhiều tàn bạo lắm. Đến lúc sáu người phải giết lẫn nhau để cướp lấy cái sống thì ta có thể hình dung họ phải vật lộn, cấu xé nhau man rợ đến mức nào? Nhưng tôi kinh hãi nhất là cái pha sau cùng. Ba người buộc phải loại trừ nhau để chỉ còn một người được quyền sống. Lúc này không thể dùng sức mà phải dùng mẹo, mẹo thật nguy hiểm, thật bất ngờ. Mẹo thật hiểm thì Âu phải thua á, và cả thế giới này phải thua anh Ba Tàu. Anh Ba Tàu chúng tôi đã cứu sống là người đã thắng cuộc, thắng bằng cái lừa lọc, cái lắt léo, cái khó ngờ. Chuyện vẫn chưa kết thúc đâu, còn một hồi cuối lý thú lắm. Trước khi có anh Tàu thì tôi là cái thằng làm ra tiền nhiều nhất trong đám tù. Tôi khỏe, tôi chịu khó, lại biết được võ vẽ đôi tiếng của dân Hovas và Mérinas, nên đi vào các làng bản thật xa mua rượu nấu bằng ngô, đem về bán lại cho các vị ở nhà. Cho ông Truyền, ông Tắc, một vốn mười lời. Đến khi cái anh Tàu kia khỏe mạnh rồi thì chính hắn đi mua rượu về bán, bán rẻ hơn tôi, mà rượu cất cũng ngon hơn, nên tôi phải bỏ nghề. Về sau hắn mở một cửa hàng chạp phô nho nhỏ buôn rượu, cà phê, và lấy một cô vợ người bản xứ, da đen, gốc Mã Lai. Khi tôi mãn hạn tù thì vợ chồng hắn đã có bốn đứa con trai, đứa đầu sáu tuổi, vào trong nhà có bàn thờ Phật bà Quan Âm và đức Thánh Quan, góc nhà có bát hương thờ Thần Tài. Tế bào đầu tiên của một Chợ Lớn - Mã Đảo, bang chủ đầu tiên của một bang, một hội, ông tổ đầu tiên của một dòng họ có thể sinh sôi nảy nở tới chục ngàn người trong khoảng một thế kỷ. Có thể lắm chứ, rất có thể! Ơ hay, tách cà phê của tôi đâu? Quên mất tôi hả, bà Bơ? à, đây, xin lỗi cả nhà nhé, cũng lẫn rồi, không lẫn hoàn toàn nhưng đã có lúc hơi lẫn!

Chúng tôi ngồi nín lặng, câu chuyện vừa huyền hoặc lại vừa thật quá. Một cuốn tiểu thuyết thu ngắn. Trong cái đầu sắp được nghỉ ngơi hoàn toàn kia còn có bao nhiêu câu chuyện kỳ thú về con người, mãi mãi cái mà nhân loại được biết chẳng thấm thía gì với những cái mà triệu triệu con người vô danh mang theo vào lòng đất.

Anh Quý nhồi một mồi thuốc và nói với tôi:

- Hồi trước, ngồi ở đây thấy dân Tàu họ làm ăn, họ sinh sôi nảy nở mà sốt ruột quá. Họ là khách trú, là dân ngụ, nhưng tổng thống, thủ tướng cho đến các bộ trưởng trong chính phủ đều ở trong tay họ. Không một hoạt động nào của xã hội thoát khỏi cái bàn tay điều khiển của người Tàu. Anh ham đánh bạc thì tôi là sếp sòng, anh thích chơi gái thì tôi là chủ điếm, anh là người Việt Nam nên có quyền nhập hành với khối lượng lớn nhưng chính tôi mới là ông trùm các dịch vụ chia nó ra thành nhỏ. Uy danh như Diệm, lúc lâm nguy cũng phải trốn nấp vào nhà một anh Ba Tàu. Tôi là thế đấy, anh làm gì được tôi nào! Vậy mà thằng Kỳ dám làm. Mới nhận chức thủ tướng, nó lôi Tạ Vinh, một thằng đầu cơ gạo, ra bắn chơi giữa Sài Gòn, chiếu đèn pha mà bắn cho dân xem.

Quân mủm mỉm cười:

- Kỳ nó làm cái trò giật gân ấy để lấy le với mấy ông trí thức đó thôi. Nó cũng có chủ của nó, chủ cho làm để kiếm vốn chính trị nó mới dám làm.

Chị Hoàng hỏi:

- Chủ của Kỳ là thằng Mỹ nào thế?

- Mỹ là chủ xa, Tàu mới là chủ gần. Chủ gần của nó là Trần Thành, một tín đồ của ông Mao Trạch Đông. Cũng như chủ của Dương Văn Minh là Dương Duy Nhạc, giám đốc Bank of China (Trung Hoa ngân hàng), chủ của Nguyễn Văn Thiệu là Lý Long Thân, giám đốc hãng Vicasa làm dây kẽm gai quân sự. Trong ba anh, anh nào làm tổng thống, Chợ Lớn đều ủng hộ cả.

Chị Hoàng nói cau có:

- Vứt mẹ nó chuyện thằng Tàu đi. Nó là gì ở cái nhà này mà nói nhiều về nó thế!

Anh Chương được dịp nói chọc:

- Nó là ân nhân của bà chứ còn gì?

Chị Hoàng gắt to:

- Tôi vay chứ không xin. Trả xong nợ là coi như không quen biết.

Quân hỏi:

- Chị trả thế nào được mấy chục lượng vàng?

Chị Hoàng đã dịu giọng:

- Thằng Tuấn sẽ phải trả cho em nó.

Quân tính toán:

- Một lạng khoảng năm trăm đôn. Năm mươi lạng là hai vạn rưỡi đôn. Một viên chức của Liên hợp quốc dầu lương rất cao, nhưng không đi làm, lại hai con, tiêu tốn lắm, không nợ là may còn tiền đâu để trả nợ cho bà.

Chị Hảo cũng tính toán:

- Vàng ở Việt Nam có sáu ngàn, ở ngoại quốc là năm trăm đô la. Tiền đô la bán ở đây một ăn hai mươi, năm trăm là mười ngàn. Một lượng lãi bốn ngàn đồng! Thảo nào nhiều người mấy năm nay làm giàu nhanh thế. Con cháu người ta ở nước ngoài đông nên buôn bán theo kiểu này được. Mà nhàn quá. Một bức điện đánh đi, một bức điện đánh lại thế là đã lãi cả chục ngàn đồng.

Chị Hoàng nghiêng mặt về phía anh Chương hỏi nhỏ:

- Chẳng lẽ thằng cha ấy còn muốn cái gì khác?

Anh Chương chép miệng ra vẻ rất thản nhiên:

- Bà đến mau tin người. Người ta tốt quá thì mình cũng phải tự hỏi: Mình có cái gì để người ta phải tốt đến thế?

Chị Hoàng gắt ầm lên:

- Mình sắp chết ngụp, có người giơ tay ra, có là con khùng mới không nắm lấy. Hãy cứ sống đã rồi sau sẽ hay!

Quân nói đầy bí ẩn:

- Cái hồi sau đã đến rồi. Phải tính nhanh nhanh lên, không thì kẹt.

- Họ muốn gì ở tôi nào? Khi cho vay chú Phùng không ra điều kiện. Bao giờ có thì trả, chỉ thế thôi.

- Cũng có nhiều cách trả, chẳng cứ bằng tiền.

- Mày bảo tao còn vốn liếng gì nữa ngoài đồng tiền?

- Còn hai đứa con trai, vốn của bà đó!

Chị Hoàng nhìn Quân sững sờ, rồi lại đưa mắt nhìn người em, miệng mím lại đanh đá:

- Không, tôi không có quyền gì với hai đứa con của tôi cả, chúng đã trưởng thành rồi.

Quân vẫn nói rất tàn nhẫn:

- Với họ đã vay là phải trả. Họ nhớ lâu và thù dai lắm.

Chị Hoàng không gầm thét nữa, chị trả lời rất lạnh lẽo:

- Họ có thể giết tôi, tôi đâu cần sống lâu hơn. Nhưng chớ có đụng đến các con tôi.

Tuấn, người con trai của chị, năm nay cũng xấp xỉ với tuổi tôi, vì chị lấy chồng rất sớm, năm mười sáu tuổi, mười bảy đã có con đầu lòng. Hiện nay Tuấn là một nhân viên cấp cao của tổ chức Liên hợp quốc, xu hướng chính trị hoàn toàn khác với mẹ và cậu, lấy vợ người Pháp, nhưng không nhập quốc tịch Pháp, biết ân hận, biết xấu hổ vì đã vắng mặt trong những năm tháng đầy gian truân của dân tộc. Người mẹ rất biết chí hướng của đứa con nhưng không chê trách. Chị bảo tôi: "Mình là người của một thời, nó là người của một thời, bắt nó phải giống mình thế nào được". Chị ghét cộng sản, nhưng tôn trọng niềm tin của con, chê bai Việt cộng, nhưng cũng chửi bới tuốt tuột các nhân vật chính trị của chế độ trước, một lũ học đòi, cắn hột cơm không vỡ thì làm gì nổi. Một chế độ lý tưởng chỉ có thể có, nếu "cậu Chương" là tổng thống, còn chị phải là bà cố vấn tối cao, chính chị mới là first lady, đệ nhất phu nhân, chứ không phải cô vợ quê mùa của ông tổng thống em ruột! Cả họ biết chuyện cứ cười lăn, ông bố tôi rất quý cô cháu cũng phải than thở: "Cái thân chị ấy từ sáng đến tối còn chẳng định được, huống hồ đòi định đoạt vận mệnh của toàn quốc!". Nếu chị được tham dự cầm quyền, ngay lập tức chị sẽ bỏ tù tất cả những người chị vốn ghét và mời làm bộ trưởng tất cả những ai đã được chị thương yêu. Sẽ là một chính phủ gồm những chàng trai thật trẻ đẹp, ăn mặc thật lịch sự, nói năng thật duyên dáng và phòng họp của nội các sẽ thơm tho, bóng láng như phòng nhảy. Những buổi rỗi rãi, chẳng có việc gì làm, tôi thường đến thăm chị để ngồi nghe chị chửi cộng sản, chửi tư sản và trình bày cái cương lĩnh chính trị của "nước Cộng hòa thơm phức và bóng láng". Thấy thằng em Việt cộng cứ ngồi nhăn răng ra cười, không giận, cũng chẳng buồn tranh cải, chị tức lắm: "Cả thế giới này chỉ có mấy ông cộng sản nhà mày làm chính trị vất vả, khổ sở đến thế chứ bọn tao trong này làm chính trị vui lắm, làm như tao vừa nói ấy, có điều họ thích nói chữ, mà tao thì diễn nôm thôi". Làm chính trị không cần chú ý đến kẻ thù (những người ghét vặt thì có), không cần dân chúng (chỉ có đám dân chúng mơ hồ trong các diễn văn), không cần đồng minh (chỉ có bạn xoa mạt chược, bạn ăn tiệc và người thân trong gia đình) thì nhất định là rất vui rồi. Trong năm năm qua, mỗi lần gặp tôi, chỉ lại trừng mắt, hỏi: "Làm sao lại thế?". Có giảng giải đến rách mép chị vẫn khăng khăng: "Việc gì phải thế!" Bây giờ thì tự chị phải cắt nghĩa lấy cho bao nhiêu cái làm sao, làm sao: "Làm sao chú Phùng lại thế?", "Nghĩ rằng chú ấy là người quân tử, làm sao lại...?", "Con chị là con chị, làm sao họ dám...?". Chỉ thương một nỗi chị không quen làm, cũng không quen nghĩ, từ bé đến già sống bằng sự nhờ vả, cung Nô là cung tốt nhất trong lá số của chị, chị khoe thế, bây giờ thời thế đổi thay nên lá số cũng đổi thay, tay chân chưa vất vả nhưng cái đầu đã muốn điên lên vì phả nghĩ ngợi xa gần. Bỗng dưng nét mặt chị như giãn ra, sáng lên, đã có niềm tin mới nào chăng?

- Quân này, cố đợi vài giờ nữa, gần tới giao thừa chị sẽ nói rõ với cậu cái ý định sắp tới của chị, hay lắm, thông minh lắm, chị mà bị kẹt hả, không đời nào, chị vẫn còn bảo bối tung ra lúc thật lâm nguy.

*

Bình nói với tôi:

- Chú đã biết chuyện một cán bộ khoa học của ta trốn chạy khỏi Tổ quốc của mình chưa? Chưa hả? Cái thằng ấy là bạn cháu, bạn chí thiết của cháu, nó tên là Dũng. Sau khi tốt nghiệp đại học nó về làm việc ở Viện nghiên cứu silicát, rồi đi nghiên cứu ở Đức, được các thầy khuyến khích làm luận án thi tiến sĩ. Dũng nước cuối năm 76, vào thành phố này làm ở phòng kỹ thuật của Sở công nghiệp. Ba mươi lăm tuổi vẫn sống độc thân, ở nhà tập thể. Người hắn nhìn ngoài thì nhỏ thấp, hiền lành, nhưng cực kỳ thông minh và quyết đoán. Khi ta cải tạo một nhà máy bột giặt, Sở liền đưa Dũng về phụ trách công tác kỹ thuật. Cách làm việc của Dũng cũng hay lắm, trách nhiệm phải rành rọt, của tôi, của anh, của nó cho phân minh, không có cái gọi là tập thể mù mờ hỗn độn, đến lúc hỏng trật không còn truy tìm được trách nhiệm thuộc về ai, thì "tất cả anh em chúng tôi" đều chịu mà. Cái "tinh thần tập thể" ấy chỉ khuyến khích kẻ bất tài, lười biếng, kẻ nhút nhát, và cả những thằng ăn cắp nữa. Giám đốc xí nghiệp vốn là thợ đúc ở Hải Phòng, nhưng thưa với chú, đây là một nhà máy hóa chất ạ. Có lần xí nghiệp bị kẹt ít ngày về cung ứng vật tư, ông giám đốc lập tức gào lên: "Nếu không có, tôi sẽ cho đóng cửa nhà máy"!. Rồi ông ta làm găng hơn, chẳng biết nghe đứa nào xúi giục, lập văn bản gửi lên ủy ban thành phố và Sở Công nghiệp tuyên bố tạm đóng cửa nhà máy thật. Cháu được giám đốc công ty cử xuống điều tra, chuyện bố láo cả, chỉ thiếu có một số vật tư dự trữ, chưa ảnh hưởng tới công việc trước mắt mà dám hạ lệnh cho công nhân nghỉ việc. Do dốt quá, quá dốt, nghe anh em họ kêu đã vội tin ngay là đúng. Lại tập thể! Tập thể phải có cái đầu chứ, anh ăn lương cao để làm một thành viên vô danh trong một tập thể lù mù sao? Ông này phải chuyển đi, xí nghiệp không có giám đốc mà chỉ có hai phó giám đốc, một là thằng Dũng mới được đề bạt và một ông cũng có biết qua nghề rèn dũa gì đó. Dũng chạy lên công ty, hỏi thẳng: "Tại sao các ông không cho tôi làm giám đốc? Hai phó giám đốc! Làm ăn gì mà kỳ thế!". Giám đốc công ty bảo: "Mày sơn đỏ mày đã rồi tao đề bạt cho". Nó nổi khùng lên: "Các anh muốn sơn đỏ tôi lúc nào mà chẳng được. Tôi là con liệt sĩ, từ bé đến lớn do cách mạng nuôi nấng, đào tạo còn chưa đủ tin à?". Có lần, Dũng nói với cháu: "Tao chán mấy cha ở chỗ tao làm việc quá. Họ thiếu sự thẳng thắn, thật thà lại không dám quyết đoán. Mày đừng ngồi trên công ty nữa, xuống xưởng với tao đi, chúng mình sẽ tổ chức lại cách làm việc theo một nề nếp mới". Cháu cũng bảo nó: "Làm việc với mấy ông trên đừng có nổi nóng mà hỏng cả. Rồi mày cũng phải phấn đấu vào Đảng đi, không là đảng viên sao đủ được tin để giao việc". Nó vẫn cười cợt: "Tao làm việc thật tốt, chẳng lẽ cấp trên cứ ngờ tao mãi". Hình như cháu bắt đầu nghĩ ngợi có giống chú chút ít thì phải, nghĩa là, nghĩa là... muốn khuyên nó nên nhân nhượng, nghĩa là đừng quyết đoán quá. Anh công nghiệp phải hạ mình xuống thành anh nông nghiệp, cái trách nhiệm cá nhân phải hòa tan trong cái lãnh đạm của tập thể, cái sắc sảo thì mài cùn đi thành cái mù mờ, cái tiên phong thì tụt lại một chút để khỏi bị xung quanh ganh ghét. Tự biến hóa thành kẻ vô danh, là tôi mà chẳng phải là tôi, công thì được hưởng mà tội lại không phải gánh lấy, tội của mọi người, tội của trên, của dưới, của tất cả, chứ không phải của riêng một ai, nhất là không phải của tôi. Thiệt, nhà nước chịu, cái đại tập thể chịu, chứ cái tiểu tập thể vẫn có thể yên tâm mà ngủ kỹ. Một năm sau Dũng được đề bạt làm giám đốc một xí nghiệp bột giặt, dẫu rằng nó vẫn chưa được sơn đỏ. Tức là trên đã khuyến khích nhân tài, đã phân công hợp lý, và sửa chữa như vậy cũng là nhanh. Cháu chưa kịp mừng cho nó, mừng cho chúng cháu, vì Đảng đã dám tin một người tức là dám tin một thế hệ, thì cái thằng ấy, chính cái thằng Dũng ấy là mắc sai lầm, một sai lầm cũng tầm thường như trăm ngàn người khác. Nó có yêu một cô là nghệ sĩ hát cải lương, hai bên đã hứa hôn và chuẩn bị làm lễ cưới. Lúc này anh chàng đang rất cần tiền. Nó liền ký một số giấy giới thiệu tới xí nghiệp giấy mua giấy quyến và giấy pơ-luya, loại khổ một mét vuông, khoảng năm trăm tờ. Là mua cho nó thôi, và việc mua bán này đã được một người trong ban giám đốc xí nghiệp giấy thỏa thuận. Nào ngờ cái người đã thỏa thuận lại giữ các giấy giới thiệu do Dũng ký, đưa lên trên báo cáo. Dũng tức giận đến phát điên, nó than thở với cháu: "Cái thằng chó đẻ, nó có thỏa thuận mình mới dám làm, ai ngờ chính nó lại ủn mình vào bẫy". Chú Tường, phó giám đốc công ty, là phó tiến sĩ về hóa chất cao phân tử, rất tin bọn trẻ chúng cháu, nên hoàn toàn bị bất ngờ trước sự lừa lọc của Dũng để kiếm ra đồng tiền. Nhưng chú vẫn tha thứ và tin dùng Dũng như trước đây. Chú Tường là một mẫu người rất hay, chú Việt ạ. Con người đó mới là nhân vật chính của văn học, vì cuộc đời của họ dầy lắm mà sự cống hiến của họ cho đến hôm nay vẫn còn rất to lớn và có ý nghĩa quyết định. Năm chục tuổi, nhưng rất trẻ, một người cháu tin rằng sẽ mãi mãi trẻ. Khi biết Dũng ký giấy tùm lum mua giấy cho riêng mình, chú Tường nói với cháu đầy lo lắng: "Người có tài mà hám tiền, hám danh là rất đáng ngại. Anh ta sẽ không nghĩ tới sự cống hiến nữa mà chỉ còn lo có chuyện kinh doanh sinh lợi mà thôi. ở đâu sinh được lợi, anh ta sẽ đặt vốn vào đó". Hai tháng sau, thằng Dũng và cô vợ chưa cưới trốn ra nước ngoài, theo đường dây tổ chức trong Chợ Lớn, nghe nói nó đi không phải mất tiền, nước ngoài họ đang cần mua chất xám, dầu phải tiêu cả vài chục lạng vàng để được một nhà khoa học cũng vẫn còn là quá rẻ.

Một câu chuyện hơi buồn chú nhỉ, người bất tài mà ở cương vị phụ trách thì tất cả sẽ rối tung, người có tài nhưng hám danh hám lợi thì dễ mất cả Cách mạng lẫn Tổ quốc. Nhưng các chú vẫn cứ nên tin ở bọn cháu đi, dẫu có bực, có ghét vẫn cứ phải tin, vừa giao vừa dạy vậy, phải mất công tí chút chứ biết làm sao.

*

Lại tranh luận về Thiền. Diễn giả mê say nhất luôn luôn là anh Chương.

- Nói về Thiền tức không còn là Thiền nữa. Đạo mà nói ra được không còn là đạo nữa. Tinh hoa của Thiền theo tôi là nghệ thuật tập trung tư tưởng ở mức tuyệt đối. Một tờ giấy cầm lỏng lẻo ngón tay không thể đâm thủng được, nhưng mũi kim có thể đâm thủng, vì nó nhỏ hơn nên bén hơn. Tập trung sự suy nghĩ của mình cho thật nhỏ lại, cho cực kỳ nhỏ thì không có sự bí mật nào của tạo hóa không bị khám phá. Vĩ nhân hơn người thường chẳng qua họ biết cách tập trung sức suy nghĩ của họ ở mức cao nhất. Các cụ xưa thường nói: Tâm viên ý mã, cái tâm của con người chạy nhảy như vượn như ngựa, nên tạp ý nhiều, cái tinh túy bị che lấp. Thiền là lọc bùn cho viên kim cương được lòi ra cho Phật tính được hiện ra.

Tôi hỏi:

- Người đã Thiền đầu óc có sáng suốt hơn người chưa biết Thiền không?

- Tất nhiên là tỉnh táo, sáng suốt hơn bọn ta rồi. ở Mỹ, có một người Thiền tới mức nhìn thấu cả nghiệp trước của người khác. Người ta đưa tới cho ông ta coi một cô gái mắc tật nắm chặt bàn tay mặt, thuốc men đã nhiều nhưng không khỏi, bàn tay chỉ mở ra được ít ngày lại từ từ co ngón nắm lại như cũ. Ông ấy bảo ngay bàn tay oan nghiệt kia kiếp trước đã giết nhiều người quá, nay sám hối đi thì có thể lành khỏi. Quả nhiên như thế thật, sau khi mở được bàn tay cô gái liền quy Phật. Bên Mỹ đạo Phật cũng phát triển lắm.

Tôi nói:

- Một thế kỷ nữa nước Mỹ sẽ có thêm vài triệu tín đồ theo đạo Phật vì đức Phật đã giúp họ mở được một bàn tay.

Anh Chương cười xòa:

- Cũng có thể, có thể lắm chứ.

Anh Quý:

- Tôi có biết một triệu phú Mỹ hằng năm sang Nhật giam mình trong Thiền viện một tháng. Trước đây ông ta chỉ là triệu phú, sau khi học Thiền ông trở thành tỷ phú, không khéo bây giờ thành tỷ tỷ phú cũng nên.

Tôi kêu to:

- Đức Phật bất công quá!

Anh Quý:

- Về sau thằng cha có viết sách thú nhận nhờ có Thiền tạo được cho hắn sự cân bằng trong tâm não, nên đầu óc thông minh hẳn lên, các ngón tẩy của đối phương trên thương trường hắn nhìn thấu cả, quyết định các việc không hề sai trật một ly.

Mặc anh Chương thoáng đỏ:

- Thằng Mỹ dẫu có theo Lão, theo Trang vẫn cứ kiếm được ra tiền. Cái đầu óc thực dụng của nó nhìn ra đồng tiền tinh lắm.

Tôi nói với anh Hảo:

- Anh ở cùng với anh Chương mà không học Thiền để di dưỡng tính tình?

Anh Hảo cười nhẹ:

- Tôi vẫn Thiền đấy chứ, nhưng theo cách của tôi, mà cũng chẳng nghĩ rằng đó là Thiền. Không biết Thiền là siêu đẳng lắm. Thế nào là hi ngôn, tự nhiên, ít nói, để cho tự nhiên. Cậu Chương lý luận nhiều quá tôi e rằng khó mà đạt được cái đào của Thiền.

- Tôi không đạt tới cái huyền nhiệm của Thiền thì đã chết rũ xương ngoài kia rồi.

- Tôi không nhằm đạt tới cái gì cả, không nghĩ mình sẽ thu được cái lợi gì cả, kiến tố, bão phác tôi chỉ cốt giữ cái giản dị, cái tự nhiên thôi.

Anh Quý nghe đã có vẻ chăm chú:

- Nhưng theo được cái cách Thiền của anh thì khó quá!

- Không khó, khó quá lại không phải là đạo nữa. Tôi sống như nước, thượng thiện nhược thủy bậc thượng thiện sống như nước. Nước luôn luôn có khuynh hướng nhập vào dòng lớn chảy ra đại dương. Mà tự nhiên, mà thanh thản.

- Xin lỗi, sắp sang năm mới không nên nói đến chuyện chết, nhưng nếu phải chết anh sẽ di ngôn cho con cháu điều gì?

- Tri túc chi túc biết đủ trong cái đủ. Nhưng mà khó, người ta chỉ hiểu được khi đã trong ngoài bảy mươi thôi.

Tôi pha trò:

- Tạo hóa thật khéo, chỉ cho hiểu khi đã gần kề cái chết. Nếu còn trẻ đã hiểu thì cuộc đời mất mọi cái vui, ai nấy đều mực thước, đều siêu thoát thì em phải bỏ nghề.

Anh Quý:

- Thằng Việt là đại ích kỷ. Lúc nào nó cũng chỉ nghĩ có cái nghề của nó.

Tôi vẫn bông đùa:

- Anh mà không ích kỷ? Miễn là cái tài ngoại giao của mình thật là sáng chói là đủ, bất kể cái đích của nó là thiện hay ác.

- Nhưng tôi đã bắt đầu hiểu.

- Em nói có sai đâu. Người ta chỉ hiểu khi đã không thể tham được nữa.

Anh Hảo:

- Việt nó nói đúng. Người ta chỉ hiểu khi đã gạt bỏ được mọi tham vọng cá nhân. Còn vị kỷ là dễ lầm lắm.

Anh ngừng lại một chút rồi nhướng mắt hỏi tôi:

- Việt có tin rằng riêng anh thì đã hiểu từ năm còn rất trẻ không?

Tôi trả lời rất thành thật:

- Vâng, với anh thì em tin.

Anh Hảo tốt nghiệp trường luật ở Paris, về nước được chính chủ bảo hộ bổ nhiệm làm tri huyện, một chức quan cai trị vào loại cà mèng nhất. Ông bố tôi là dân tham biện chuyển sang ngạch quan lại, học vấn và uy danh tất nhiên không thể bằng ông cử nhân luật, nên cụ có vẻ thích thú cái chức vụ mới đó lắm, thì có cà mèng vẫn cứ là quan lớn và vợ quan lớn tức thị là bà lớn và bà lớn có thể kể với họ hàng: "Ông huyện nhà tôi...". Ông huyện nhà tôi thì sang hơn "ông tham, ông phán, ông ký nhà tôi" rồi. Cái năm chú vợ cháu rể gặp nhau tại huyện Kim Động cũng rất thú vị. Anh cháu thì chán nản, treo ấn từ quan để trở về cái ghế luật sư tự do của mình, ông chú thì hí hửng đến nhận huyện mới thay cháu, với hy vọng một hai năm nữa sẽ được quan trên thương mà thăng lên tri phủ, vì huyện Kim Động là huyện to, thường gọi là phủ Kim Động, có thể gọi ông huyện Kim Động là "tri phủ chờ" cũng được. Bốn mươi năm sau, hai chú cháu gặp nhau ở Sài Gòn và tôi là người được chứng kiến. Ông chú nói ngậm ngùi:

- Năm nay anh đã sáu chục chưa?

- Sáu mươi thế nào, sáu nhăm rồi chú ạ, chú hơn cháu mười tuổi, phải không?

- Nhưng anh còn khỏe quá, trẻ quá. Người cách mạng hình như trẻ lâu hơn bọn tôi.

- Biết đủ, hễ biết đủ thì sống thanh thản lắm.

- Anh dám chịu mất hết bây giờ lại được cả. Tôi cố giữ cái được của tôi, hóa ra lại mất hết.

Anh Hảo là người sướng từ trong trứng, bố tôi thì thế nào được. Cái đại gia đình ấy có cả hai vế: tân học thì có một tiến sĩ, một luật sư, cựu học thì có một phó vương và một khâm sai đại thần. Họ sang đến thế mà họ theo cách mạng được, cả ông phó vương lẫn ông khâm sai đại thần. Còn ông tri huyện khăng khăng bảo thủ chế độ cũ, muốn sống chết vì nó, từ chối mọi sự thay đổi. Thượng thư dám nói tục, đùa tục, họ có nói tục cũng không ai dám nghĩ cụ lớn là dân hèn, còn tri huyện, tri phủ lại thích nói chữ, thích mùi vị quan cách. Con cái những gia đình thật phú quý một đôi trường hợp lại thức thời, con gái những gia đình nửa quý nửa tiện có khi lại khó, do cách giáo dục trói buộc từ nhỏ. Những công dân - công tử theo cách mạng nửa đầu rất hăng hái, rất nết na, nghiêm trang như kẻ tân tòng một tôn giáo. Lấy vợ nông dân, ăn cơm giở đầu đũa, gọi nhau là đồng chí, gia đình có gửi vàng tiếp tế cũng không nhận mà còn viết thư mắng mỏ, vì sự săn sóc riêng tư ấy đã làm nhơ nhuốc cái tâm hồn trinh bạch của người chiến sĩ cách mạng. Nhưng cái nửa sau xem ra không được hồn nhiên như cái nửa đầu, có vẻ mệt, có vẻ chán, có vẻ thất vọng vì cái hôm nay không giống mấy những mơ mộng của hôm qua. Thì ra đã cách mạng rồi mà vẫn giữ còn giàu với nghèo, còn sang với hèn, còn sạch với bẩn, chưa có bình đẳng cho tất cả, cũng chưa có công bằng cho tất cả. Nhưng cách mạng là chuyện của lịch sử, của con người, chuyện của trần gian, với bao nỗi nhọc nhằn, cay đắng của trần gian. Chưa bao giờ và sẽ không bao giờ nó là chuyện của thượng giới, của tiên cảnh, ngoại trừ trong cái đầu đầy mộng tưởng của các công tử đi làm cách mạng. Anh Hảo là đại công tử đi làm cách mạng, nhưng thật may, anh vẫn giữ được cái nhìn đắm đuối, nụ cười hồn nhiên từ trẻ đến già. Chẳng phải vì anh từng trải quá mà hiểu được đời, chỉ vì trời đã cho anh cái tính chất phác, giản dị, tự nhiên. Mấy năm đầu đánh Pháp anh làm thứ trưởng một bộ trong chính phủ kháng chiến. Về sau bộ đó không còn, anh xuống làm vụ trưởng. Có thời anh được tin, có thời anh bị ngờ, rồi anh lại được tin. Được tin hay không được tin anh vẫn làm việc hết lòng, vẫn vui cười, và khi được tham dự các cuộc họp anh vẫn nói rất to những điều anh cho là đúng, là phải. Vì anh làm việc ở tòa án nhiều năm, nên anh luôn luôn nhắc nhở mọi người phải chú ý tới vai trò của tòa án, nó là một trong ba cơ quan bảo vệ và phát huy sức mạnh của luật pháp, luật pháp là cơ chế pháp lý của quyền làm chủ tập thể. Có lần tôi nói với anh rằng trong cái hiểu của tôi thì anh công an giống hệt anh bộ đội, là một chiến sĩ cầm súng chiến đấu trên một mặt trận không có chiến tuyến, không rõ kẻ thù, không có ngưng nghỉ và có thể bị đâm từ sau lưng bất cứ lúc nào. Còn anh kiểm sát và tòa án là những viên chức đeo kính trắng ngồi bàn giấy, thuộc lòng các điều luật, nghiệt ngã, chấp nhặt, bắt bẻ. Tôi nói bậy bạ đến thế mà anh không giận, anh vẫn trả lời từ tốn: "Trước mặt chúng tôi không chỉ có kẻ địch mà còn có những người vi phạm pháp luật, là cậu, là tôi, là các con tôi, thậm chí có cả cấp trên của chúng ta nữa. Với kẻ địch chắc chắn anh em ta không thể đầu hàng, nhưng với bạn bè và người thân có khi chúng ta phải buông vũ khí. Đã thấy khó chưa? Rất khó! Có cần phải can đảm không? Rất cần! Với chúng tôi, cái dũng khí của người cách mạng là tất cả". Một ông già đã bảy mươi, xuất thân từ một gia đình đại quý tộc, theo cách mạng đã non bốn chục năm, khi nói tới cái dũng khí của người cách mạng ánh mắt vẫn long lanh, nghe mà cảm động. Anh sống phảng phất như tín đồ Lão Trang, nhưng lại hoạt động mê say và đầy trách nhiệm, đã nghỉ hưu từ dăm năm nay, nhưng vẫn nhận đủ mọi thứ việc theo hợp đồng với cơ quan cũ, vẫn tham dự các hội nghị quốc tế về pháp luật, đầu óc vẫn minh mẫn, trí nhớ không suy giảm, ăn khỏe, ngủ ngon, dáng dấp nhanh nhẹn như còn đang tuổi cường tráng. Anh bảo tôi: "Lão tử sống một trăm sáu chục tuổi, tôi cho là có lý, vì ông già ấy sống khôn lắm. Sống thật thanh thản chẳng những sống được lâu mà làm việc cũng được lâu". Anh Hảo nhận xét về cậu em rất đúng. Anh Chương phải lý lẽ mới Thiền được. Thiền phải là một cái được của anh khi anh đã chịu mất bao nhiêu cái khác. Ông em đọc sách Thiền, tìm thầy học thiền, thích bàn bạc về Thiền, Thiền đối với anh đã là một tôn giáo mới, cần có giáo lý, có thầy giảng, có tín đồ, và cái không khí ủng hộ. Ông anh mỉm cười: "Thiền thuộc về tâm học, kẻ biết không nói, người nói không biết, nó là bất ngôn tri giáo (12)". Ông em muốn đạt tới sự ngộ đạo bằng nghị lực, bằng diễn văn, bằng sự tính toán trước như chương trình tranh cử vào thượng viện. Ông anh lắc đầu hoài nghi: "Thiền chủ trương không tranh, không muốn, đã muốn là có lòng tham thì Thiền làm sao?". Tôi biết cái ý tứ sâu xa của anh Hảo, anh không Thiền, cũng chẳng ham, anh là thế, như trời đất sinh ra, hồn nhiên và chất phác, làm việc cho cách mạng, tranh cãi cho chân lý vẫn là Thiền, ngồi nhà đọc sách, chơi với các cháu cũng là Thiền, mà anh đâu có để ý tới cái Thiền, không phản đối nhưng cũng chẳng có gì để mà tin. Tin làm gì nhiều thế? Tin rằng cuộc đời dẫu thế nào vẫn cứ là tốt đẹp, cách mạng dầu có chuyện gì cũng vẫn là phát triển, tiến bộ. Thế là đủ, đã rất đủ để làm việc, để vui chơi, để an nghỉ. Cuộc tranh luận thế nào là Thiền giữa hai anh em đã kéo dài một năm nay, từ lúc anh Chương ở ngoài Bắc về và định cư tại nhà anh chị Hảo.

Anh Chương nói với anh Hảo:

- Anh có thể chê tôi ngu vì tôi hay ham. Mọi sự khốn nạn của đời tôi là do cái lòng ham. Nhưng cứ xem, tướng quân muốn làm hoàng đế, thứ phi muốn lên chánh cung, nước giàu muốn thêm thuộc địa, đấy, đấy, đã muốn tức là có tham, đã tham là lắm sự khốn nạn lắm. Rút lại tướng quân bị rơi đầu, thứ phi bị thảm tử, nước giàu thành nước nghèo, không được cái gì hết, nhưng không ai rút kinh nghiệm cả, đời sau vẫn theo vết xe đổ của đời trước, người sau cứ theo cái kinh nghiệm thất bại của người xưa, tham cả, do cái tham nó xui khiến cả. Tôi sẽ còn lý luận về Thiền, vì tôi muốn đạt tới chỗ sâu thẳm của nó, tại sao người khác đắc đạo mà tôi lại không thể? Vô lý! Rất có thể tôi lại sẽ thất bại như làm giáo dục thất bại, hợp tác với Mỹ thất bại, liên minh với cộng sản thất bại. Thất bại dài dài, nhưng tôi không tiếc đời đâu, một đời người được tiêu vào những cái muốn của mình làm say mê lắm. Chỉ vì cái muốn của mình không thức thời, nói theo ngôn ngữ hôm nay, là một chướng ngại trong sự vận động chung, nên mình cam chịu thất bại. Nhưng tôi vẫn còn nhiều ham muốn lắm nhé! Luôn luôn ham muốn, chỉ cầu rằng cái ham của tôi không làm tổn hại đến một ai.

*

Chị Hảo đang thề sống thề chết với cả nhà rằng năm vừa rồi chị túng lắm, sang năm mới có vận mới thế nào, chứ tiêu pha như hiện nay thì chỉ ít tháng nữa phải bán hết nhà cửa, đồ đạc, vợ chồng, bà cháu đến dắt nhau trở ra Hà Nội thôi.

- Hai ông bà già, tám đứa cháu cả nội cả ngoại, mười miệng ăn, một mình tôi xoay sở sao nổi, sắp bị gậy đến nơi chứ sung sướng nỗi gì? Năm mới vào tôi lên mười cân, tháng trước cân lại tụt xuống gần như cũ. Mà ai cũng bảo bà Hảo phải có trong tay vài chục lượng vàng.

Chị Hoàng vênh mặt lên:

- Cô khổ mặc xác cô, nhưng làm sao mà khổ được. Năm cô mới vào thì cô túng, cô khổ, còn bây giờ thì cô sướng nhất họ. Mỗi tháng một thùng đồ từ ngoại quốc gửi về lại còn mở miệng kêu khổ, không sợ người ta chửi cho.

Chị Hảo thở dài đến não ruột:

- Ôi giời đất ơi, một tháng có thùng đồ thì chẳng có, nhưng một năm cũng được nhận giấy báo lãnh vài bốn lượt. Đi lãnh đồ hồi hộp như chờ ngày xổ của vé số ấy. Cũng là một kí lô hàng, người ta thì gửi cho nhau nào là radio cassette, là lụa Pháp, là Campollon, B12, cầm nhẹ tênh tênh nhưng bán ra toàn tiền ngàn cả. Hôm nọ em ra lãnh hàng ở Bưu điện có một bà nhận một gói hàng sao mà bé thế, mà nhẹ thế, đến lúc bà ta tháo dây, mở hộp, hàng tơ Pháp nó bung ra bằng một gian nhà, phải cả trăm mét, họ cuốn gói thế nào mà khéo ơi là khéo, cũng gọi là một kí lô hàng! Đằng này anh em con cháu toàn loại trí thức dở hơi, gửi cho chú thím, anh chị những bông gòn, hộp quẹt, những mì ăn liền, đường vàng, rồi cả slip và bánh mì sấy khô. Mở ra mà xấu hổ, đến người giao hàng họ cũng phì cười.

Anh Đại đã cởi áo ngoài, đầu hơi ngoẹo về một bên vai, mi mắt hơi cụp xuống như ngủ, một cách ngủ chập chờn của người già, bỗng mở choàng mắt nhìn ngơ ngác xung quanh, rồi nhìn cô em miệng múm mím như cười.

- Đừng kêu khổ, khổ hay sướng là do mình cả.

Chị Hảo càng kêu rên:

- Thì tại em cả mà. Một đời vất vả vì chồng vì con làm sao mà nhàn, mà sướng!

Anh Đại lắc lắc đầu, vẻ mặt hiền lành, mềm dịu như Phật sống:

- Không phải, tại cô nghĩ đến đồng tiền nhiều quá. Đồng tiền nó lạ lắm, càng đếm lại càng thiếu. Các cụ đã dạy: chớ có đếm tiền!

Anh Quý:

- Sao bảo sang năm mới, chị có Song Lộc chiếu?

- Thì nghe ông Chương nói thế, chứ đã có gì cầm chắc được.

Chị Hoàng cười khẩy:

- Bói toán con tườu, tính được tương lai đã không đến nỗi khốn nạn!

Anh Quý hỏi thành thật:

- Anh Chương biết được mệnh mình, tại sao năm 75 không đi luôn còn ở lại làm gì cho khổ?

Anh Chương trả lời rất tự nhiên:

- Biết chứ, vì biết được mệnh mình nên tôi mới không đi.

Chị Hoàng bĩu dài môi:

- Đừng có nói phét. Sao không dám bảo thẳng ở lại để chờ ngày làm tổng thống!

Anh Chương:

- Năm ấy, trong lá số tôi, Thiên Khôi nằm cung Sửu lại gặp Tuần gặp Không. Cái đầu mà gặp đao có bằng thép cũng phải rơi. Đi là chết, ở lại chịu đày đọa ít năm thì thoát. Tôi yên tâm ở lại, có bảo là ngu là khùng tôi vẫn ở lại.

Anh Đại gật gù:

- Biết được trước hả? Hay nhỉ. Ông Phan Huy Quát lãnh tụ chống Cộng mà dám ở lại chắc cũng là do cái số?

Anh Chương vẫn nói không cười:

- Cái đại hạn mười năm vừa rồi của tôi xấu lắm. Nửa đầu thì lên cao, nửa sau thì xuống thấp. Toàn hung tinh cả: Thiên Hình, Kình Dương, Lực Sĩ, Thất Sát, bị tù bị trói, bị đánh là lý đương nhiên. Còn đại hạn mười năm tới thì đẹp hơn nhiều, toàn sao lành: Thái Dương, Thái Âm, Tả Hữu, mà lại đắc địa. Nhưng bảo cầm chắc cả mọi việc đều tốt thì cũng khó lắm, còn ăn nhau ở cái đức nữa. Đức năng thắng số. Phật cũng bảo: cái đức có thể đổi được cả nghiệp. Năm ông cụ nhà này tổng đốc Hải Dương, có một tay tri phủ, tuổi chưa đến ba mươi mà làm nghề cai trị tuyệt giỏi, lại tài hoa. Ông cụ bảo hắn đưa lá số cho xem thì lá số đẹp quá, vào loại thượng cách, đã phải khen "thằng này chỉ khoảng bốn mươi tuổi phải làm đến đại thần". Trong dinh có một ông lục sự giỏi nghề tướng số lắm, khi ông cụ đưa lá số kia cho ông coi, thì ông ta than: "Cụ lớn kỳ vọng vào cái bộ xương khô này mà làm gì. Cung phúc đức của ông ta kém quá". Không ai tin hết. Nửa năm sau tay tri phủ bị tai nạn xe hơi chết thật. Đấy, cái đức thắng cái số là như thế. Lại một chuyện vui nữa. Năm tôi đi học tập ngoài kia, có một cựu đại tá, cải tạo đã rất tốt, bỗng dưng chuồn mất. Thằng điên thật, ngay ở trong này cứ luẩn quẩn trên đất liền cũng khó thoát, nữa là ngoài kia. Hai hôm sau hắn bị anh em dân quân bắt được, dẫn về, phải cùm chân xích tay mất nửa tháng. Rồi hắn cũng được tha, cho về cùng một lần với tôi. Đi đường tôi hỏi hắn: "Cậu tính thế nào mà dám liền đến thế?". Hắn nhăn răng cười: "Trong lá số tôi, cung Giải ách có Hóa Khoa. Bao nhiêu lần đã kề cái chết mười mươi mà rồi thoát cả. Nghĩ rằng cứ trốn bừa đi, may thì lọt, mà có bị cung Giải thì lợi hại nhất, gươm có kề cổ vẫn thoát như thường.

Tôi hỏi anh Quý:

- Riêng anh có tin ở tử vi không?

Anh Quý cầm tẩu ở tay, nói tư lự:

- Trước kia tôi cũng không biết có tử vi nữa, mình làm mình chịu vệc gì phải hỏi ai. Cái năm tôi bị mấy ông cách mạng tạm giữ hai tuần, trong bụng đã lo quá, trung úy, đại úy còn đi tù huống hồ anh đại sứ. Khi anh em cán bộ hỏi xu hướng chính trị của tôi, tôi đáp: "Tôi không làm chính trị, tôi chỉ là viên chức của Bộ ngoại giao thôi". Họ nhìn nhau cười, rồi vặn: "Đại sứ khng làm chính trị thì ai làm?" - "Chỉ mấy thằng bự thuộc đảng này phái kia họ làm thôi, còn bọn tôi có ai để tâm đến chính trị, tôi là phản động nay đã hối cải, có khi họ thương là thật mà tha cho. Thật tình mình không để tâm tới chính trị, mà chỉ mài giũa có cái nghề của mình, cái toi cũng không tin, hả? Vậy mà mấy ông cách mạng tin đấy, có tin mới cho mình tự do thế này chứ! Bị giữ đã mươi hôm, nóng ruột quá, ăn khổ, ngủ khổ, tắm khổ cũng được, không sao, nhưng mà lo, lo phải ngồi tù đến mãn đời. Đến ngày thứ mười một, có một thằng cha làm ở tòa án bị giam cùng phòng, lấy giúp mình một lá số. Tính toán một hồi rồi bảo tiểu hạn của ông nhẹ lắm, có quý nhân phò trợ, chỉ nội năm sáu ngày nữa là được tha thôi. Chuyện bố láo! Quý nhân bây giờ đều là ngụy cả, phò trợ cách nào? Mà có được nhận xét đến thì cũng phải dăm ba tháng nữa là nhanh. Đến ngày thứ mười lăm, có một anh cán bộ bước sồng sộc vào phòng giam, hỏi to: "Ông nào là Bùi Quý?". Tôi đứng lên. "Ông mang tư trang theo tôi nhá!". Tôi xếp quần áo gối đầu cho vào cái túi xách tay, chào anh em rồi bước ra cửa, nghĩ bụng phen này là án đã thành, chưa biết bị giam ở Chí Hòa hay lao khám nào khác. Không chừng còn bị đưa ra ngoài Bắc cũng nên. Ông làm ở tòa án bỗng gọi theo: "Ông Quý, còn bát đũa của ông này!". Anh cán bộ bảo: "Khỏi cần!". A, thằng tù không cần mang theo bát đũa thì hoặc đem bắn, hoặc tha về. Bắn chắc chưa phải, hẳn là tha rồi. Tha thật, ở tù đúng mười lăm ngày. Sao lại may mắn đến thế! Về nhà nghĩ cứ sợ mãi cái lão làm ở tòa án. Chẳng hiểu cái thân của ông ta nay ra sao, vẫn còn ở trong tù hay đã được trở về với gia đình?

Quân đã đòi thêm một tách cà phê pha đặc, khen bà Bơ pha quá ngon, nếu mở quán có thể vào loại nổi tiếng, ấy là với những khách hàng cốt đến uống tách cà phê ngon chứ không nhằm cái gì khác.

Chị Hoàng che miệng cười:

- Này, tôi với bà Bơ có thể mở quán cà phê ôm được đấy!

Anh Chương cau mặt:

- Cái bà này ăn nói mỗi ngày một tệ.

- Bây giờ đổi đời rồi bố trẻ ạ. Bà xuống làm con, ông xuống làm thằng. Cho tôi hỏi, hồi ở ngoài kia đã có lúc nào ông bị người ta gọi là thằng chưa?

Quân nói lảng:

- Chỉ có mấy người ngồi đây mà đã có hai nhà trí thức cỡ bự tin ở tướng số rồi. Cái "đảng" này xem chừng mạnh dữ a!

Anh Quý chữa:

- Chưa hoàn toàn tin như ông Chương, nhưng cũng đã bắt đầu có tin.

Quân:

- Anh tính toán những việc sắp tới bằng tử vi hay bằng sự hiểu biết của chính anh?

- Phải là mình chứ, nhưng cũng có trông chờ chút ít vào cái vận may rủi. Mọi người đều thế cả, hay riêng nhà báo thì không thế?

Quân cười khó hiểu:

- Tôi cũng có được một cách đoán vận may rủi, thường là đúng lắm, nếu anh muốn thì lát nữa tôi coi cho.

Anh Quý ngồi nghiêng người, tay cầm tẩu tì nhẹ lên cạnh bàn, mắt hơi nheo lại nhìn anh chàng nhà báo, một cái nhìn thật kiêu kỳ, thật trí thức:

- Anh đoán thế nào được cái vận sắp tới của tôi, không một thuật ngữ nào đoán được cả. Nếu tôi có được một chỗ dựa vững chắc cho một cách nghĩ, tức khắc tôi sẽ biết cách tự khu xử...

Rồi anh nói với anh Hảo:

- Tôi giống anh rất nhiều phương diện chỉ khác nhau anh chọn lựa đúng nên anh thắng, tôi chọn lựa nhằm nên tôi thua. Anh không phải thay đổi một cách nghĩ, còn tôi phải làm lại từ đầu. Hiện nay trong tôi là một khoảng trống đến dễ sợ. Tôi không tự giải đáp được tất cả, tôi chưa tìm ra một lý lẻ nào để sống, sống với các anh, sống cho riêng tôi. Các anh là những người yêu nước vĩ đại nhất, đúng! Các anh dám hy sinh tất cả những gì thuộc về cá nhân cho nền độc lập của Tổ quốc, đúng! Nhưng các anh có biết thương cái số phận khốn khổ của người dân trong này qua nhiều cơn biến loạn không? Trong các diễn văn thì có nhưng còn những biện pháp thực hiện cụ thể? Các anh có rộng lượng, thể tất cho những kẻ đã từng hợp tác với địch không? Chính sách thì nói rõ lắm, nhưng còn trong cách đối xử hằng ngày? Nghe người trên nói tôi tin, nhìn đến người dưới làm lại buồn, lại không tin nữa. Sáng thì tin, tối lại không tin. Tin và không tin, sống không nổi, anh Hảo ạ. Năm 45 và năm 54 rất khác với năm 75. Thời thế khác, nhân tâm khác, có bao nhiêu quan niệm đã đổi khác từ ngày Mỹ sang, không dễ một sớm một chiều đã xóa bỏ được. Các cụ bảo: đa thư thì loạn tâm, càng biết nhiều càng bối rối, nhưng không biết nhiều thì làm sao định được thế nào là thật, thế nào là giả và mình phải lựa chọn cái nào? Phải lựa chọn mỗi ngày và qua mỗi việc. Họ nói thế làm thế là đúng hay sai? Hình như lúc này tôi nghe bên nào nói cũng có điều phải cả. Mà đã phải cả tức là không còn phân biệt chính tà nữa, thái độ hỗn loạn, hành động hỗn loạn, tưởng là làm đúng mà hóa ra lại rất sai. Chưa bao giờ cái anh trí thức, nhất là anh trí thức vừa được cách mạng đem lại tự do, phải vất vả lựa chọn như bây giờ. Đã bảo nhau phải theo cách mạng, ủng hộ triệt để cách mạng, thiếu thốn mấy vẫn chịu được, nhưng cách mạng đâu đã tin. Vào làm cơ quan thì chưa được giao việc đúng với khả năng, nói thật lại cho là nói láo, nói xách động, không nói, lại như người bàng quan, người của chế độ cũ, người thất bại với bao nhiêu mặc cảm. Thái độ hiện nay của một bộ phận trong giới trí thức Sài Gòn là chờ xem, đã chờ xem là vô trách nhiệm rồi, là rất không nên rồi. Nhưng chúng tôi phải làm gì? Hãy trả lời tôi đi! - Anh chợt ngừng lại, đưa mắt nhìn bọn tôi với cái ý giễu cợt, tự giễu anh thì đúng hơn, rồi cười xòa, nói tiếp: - Mà thôi, các anh khỏi phải trả lời. Đòi ở các anh một lời hứa hẹn, một chút ve vuốt rồi mới định được cái thái độ sắp tới nghĩ cũng kỳ, có phải không?

*

Anh Chương tự nhận mình là kẻ thất bại, một đời làm chính trị thất bại, anh Quý cũng thế, song giữa họ lại rất khác nhau. Anh Chương luôn luôn là người của một thể chế chính trị, của một phía, thái độ rõ ràng. Chí nguyện của anh Quý khiêm tốn hơn, anh chỉ mong được là một trí thức - viên chức, là người có tài nhưng cái tài ấy phải được người cầm quyền sử dụng thì mới có cơ hội bộc lộ. Trong số những người Việt Nam học luật ở Paris thì anh Quý là người đầu tiên và cũng là người sau cùng được công nhận là Thư ký hội đồng các luật sư Paris. Học vị như thế nhưng có trở về cái xứ thuộc địa hành nghề, không khéo suốt đời cũng chỉ là anh thầy cãi vô danh và túng kiết. Năm 55, Diệm bắn tin muốn mời anh ra làm việc, ai cũng nghĩ anh sẽ từ chối, nhưng thật bất ngờ, anh lại nhận lời đến là nhanh nhảu. Con người trí thức rất khó chập nhận một ông cựu thượng thư đầu óc thì hủ lậu, dáng vẻ thì quan cách, vốn là người của Pháp, sau là người của Mỹ, chẳng có tư cách gì để đứng đầu một chính phủ tự xem đã thoát ách thực dân. Nhưng con người viên chức lại hết sức hỉ hả, vì đã có một cơ hội để xuất đầu lộ diện. Năm 57, Diệm sang Mỹ thì anh Quý là cố vấn hạng nhất của sứ quán Sài Gòn tại Hoa Kỳ cùng với Trần Văn Chương là đại sứ, còn bà vợ của ông này thay chồng làm quan sát viên tại Đại hội đồng Liên hợp quốc. Anh Quý trông nom việc đón tiếp, nên bà vợ ông đại sứ liền nói nhỏ với ông cố vấn: "Ông Diệm không có vợ, tôi xin đi theo ông Diệm trong suốt chuyến công du, vậy tôi sẽ là first lady nhá?" Anh Quý trả lời: "Ông Diệm không vợ là không vợ, không thấy ai bảo phải thay thế bằng một bà đệ nhất phu nhân, nếu bà đi theo thì cứ đi với danh nghĩa là bà vợ ông đại sứ". Thế là anh viên chức mẫn cán lại muốn trở về con người trí thức tự do rồi! Luật lệ nào, hả? Mẹ vợ ông Ngô Đình Nhu muốn, tức là vợ chồng ông cố vấn muốn, cậy có bằng cao mà dám chọc vào ổ kiến lửa chăng? Năm anh Quý sang Pháp làm việc cùng với Phạm Duy Khiêm cũng vẫn gặp một chuyện rắc rối có quan hệ tới gia đình tổng thống. Bà Nhu có một bà dì là bà Nguyễn Thiều, chồng chết, rất đẹp và cũng rất lẳng đến nói với cháu xin chân thư ký tại tòa soạn đại sứ ở Paris. Ông Khiêm xưa có tằng tịu với bà chị, tức là mẹ Trần Lệ Xuân nên cũng không muốn đưa tay ra hứng lấy cô em góa bụa của người tình cũ. Riêng anh Quý thì giận dữ ra mặt, bà Thiều chưa bao giờ là viên chức của Bộ Ngoại giao, chỉ vì có quan hệ họ hàng với người cầm quyền lớn mà Bộ Ngoại giao phải bổ nhiệm. Một ông đại sứ, một ông sứ thần hạng nhì đồng lòng không nhận người thì Bộ phải chịu, nhưng vợ chồng ông cố vấn nhất định sẽ để tâm. Nhân Khiêm được Vincent Auriol là tổng thống Pháp lúc bấy giờ trao tặng Huân chương Bắc đẩu bội tinh, Diệm liền cách chức đại sứ và gọi về nước với lý do các đại sứ không được qua mặt tổng thống nhận huân chương của chính phủ nước ngoài. Khiêm không về, xin cư trú chính trị tại Pháp, làm nghề dạy học, và lúc rảnh ngồi viết một truyện tình bằng tiếng Pháp, bỏ tiền tự in lấy, nhan đề Nam et Sylvie văn chương lâm ly, thảm thiết đại loại kiểu Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách. Quý cũng bị gọi về vì chuyện này, ngồi chơi xơi nước ở Bộ Ngoại giao, không bị đuổi hẳn nhưng cũng không được giao việc mới. Mất chức đã đành nhưng còn mất luôn cả bè bạn, vì đã là người của gia đình Ngô Trần tức là phải đối mặt với tất cả những ai còn lại. Diệm đổ, rồi Minh đổ, Khánh lên, lại thêm một lần lựa chọn mới. Nguyễn Khánh là người Trà Vinh, dân cậu, xuất thân là học sinh trường quân sự Nước Ngọt của Pháp, ăn chơi đàn hát thì được chứ làm chính trị hồi nào, so với Diệm cái nấc thang xã hội của kẻ cầm quyền còn tụt xuống một bậc xa hơn.

Nhưng khi Nguyễn Khánh mời Bùi Quý phụ giúp Nguyễn Văn Bông là Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh, soạn thảo hiến chương Vũng Tàu, thì anh lại không thể từ chối. Một cơ hội quá đẹp để dương danh với thiên hạ! Nhưng vẫn là một tính toán nhầm lẫn. Bản hiến chương bị dân chúng Sài Gòn đả đảo kịch liệt, đến chính Khánh cũng phải hô theo "Đả đảo hiến chương Vũng Tàu!" và tự tay xét bỏ. Nếu như anh Quý còn lại một vài người bạn nào đó để tâm sự, để than thở thì lần này coi như mất sạch. Không ai có thể tin được một trí thức tự do lại có thể bênh vực một thể chế sặc sụa mùi vị độc tài. Lại thất bại, lần sau còn đau đớn hơn cả lần trước. Khánh đổ, một nhóm quân nhân nổi lên tranh đoạt nhau nắm quyền điều khiển quốc gia. Năm anh Quý còn ở Mỹ, thì các danh tướng của chế độ mới là cấp úy, cấp tá được cử sang Mỹ học về quân sự. Họ còn trẻ lại được Mỹ chọn dùng để lần lượt thay thế các ông đại tá già do các trường quân sự Pháp đào tạo. Hồi ấy, Lê Nguyên Khang là trung úy, Vĩnh Lộc là thiếu tá, Cao Văn Viên là trung tá, Nguyễn Văn Thiệu, trung tá, giám đốc trường võ bị Đà Lạt, còn Nguyễn Chánh Thi mới là đại úy nhậm chức chứ chưa được đại úy thực thụ. Những anh trung tá, thiếu tá, đại úy quèn, tiếng Pháp nói thì được nhưng viết chưa được, tiếng Anh lại chưa thông thì bình đẳng làm sao với nhà ngoại giao xuất thân là tiến sĩ luật. Dăm sáu năm sau, thời thế đổi thay, các sĩ quan học trò năm xưa đã là những ủy viên đầy quyền thế của các hội đồng tướng lĩnh, ủy ban hành pháp, ủy ban lãnh đạo quốc gia, có quyền triệt hồi, cách chức, lưu đày, bỏ tù tất cả những ông đại sứ có bằng cấp cao nhất. Thế sự đã đảo điên đến thế thì còn hy vọng gì được ăn thịt! Ăn rau thôi, ăn rau đến mãn kiếp! Nào ngờ, trong đám võ biền lại có kẻ chợt nhớ tới cái ông tiến sĩ luật và tiến cử ông đi làm đại sứ ở Tây Đức. Thật khó cho anh biết chừng nào, vì vẫn khinh họ thật, vẫn ghét họ thật nhưng miếng mồi họ mời mọc lại thơm ngon quá, ngoảnh mặt không nổi. Nửa đời người ao ước mà chưa được, bỗng dưng cái chức tước thèm muốn rơi đến tận tay, đành chịu tội với thiên hạ vậy, chứ nỡ nào để cái tài của mình mai một với tuổi già. Anh viên chức vừa được mãn nguyện, thì anh trí thức lại muốn bày tỏ nỗi niềm riêng. Anh phàn nàn với người này và người kia về sự có mặt của lính Mỹ tại Việt Nam đã quá lâu và quá nhiều; anh phản đối người bạn đồng minh đã nhân danh tự do để mặc sức xả bom đạn tiêu diệt một dân tộc đang đấu tranh cho tự do; anh tiên đoán chế độ Việt Nam cộng hòa không thể tồn tại lâu dài nếu người cầm quyền cứ mải chạy theo cái chiến xa của Mỹ. Là người đại diện cho một thể chế lại công kích chính cái thể chế mình được ủy quyền, nên lập tức ông đại sứ bị triệu hồi, tra vấn cứu xét ít lâu rồi sang làm đổng lý văn phòng của Bộ ngoại giao, có danh vị nhưng không có quyền hạn, gọi là được trọng cũng chỉ cái bề ngoài. Một năm sau anh Quý đệ đơn xin từ chức, dứt bỏ hẳn giấc mộng quan trường để được sống hoàn toàn với con người trí thức. Nghĩ cho cùng, cái mồi phú quý thế mà độc. Đã ngậm được nó thì chớ có hả miệng ra. Đã há miệng ra thì rất dễ rơi tuột. Anh viên chức có thể một đời ngậm miệng, nhưng anh trí thức đôi lúc đú đởn lại muốn há miệng ra. Đã là người làm thuê thì không thể là bậc trí giả, là người của phú quý thì không thể là người của đạo lý. Trong hai phải chọn lấy một, sống nhập nhằng ở khoảng giữa là khổ lắm, không làm được việc gì cho hẳn hoi mà cũng không nói được câu gì cho xuôi lọt. Thì vừa mới đây khi anh bộc bạch những lời tâm huyết với chế độ mới, lo âu cho nó, băn khoăn về những chính sách phải có của nó, nhưng có ai chịu nghe anh một cách trân trọng đâu. Vì khi nghe con người trí thức trong anh nói không thể không nghĩ tới cái bả phú quý anh đã chịu lụy trong nhiều năm. Anh trí thức có quyền phê bình điều này điều kia, câu đúng câu sai vẫn có thể nghe được. Nhưng cái viên chức đã từng được ưu đãi thì có quyền gì mà hóng hớt? Nó khó là thế! Quân đã nói làm người rất khó, làm người trí thức cho đúng cái nghĩa của nó tất nhiên lại càng khó.

*

Bình nói với tôi:

- Bây giờ chú có đi đâu cũng nghe người ta nói đến giá cả, đến đồng lương và các cách kiếm ra tiền. Cháu xin kể chú nghe một chuyện có liên quan đến đồng tiền, đến sức mạnh quyến rũ của đồng tiền. Cháu có một thằng bạn rất thân, cùng học với nhau ở Liên Xô mấy năm, rồi lại cùng vào nhận công tác tại thành phố này. Năm vừa rôi, tức là năm 79, hắn có mấy tin vui liền: được đề bạt làm phó giám đốc một xí nghiệp hóa chất, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Và một tin không được vui lắm: cô vợ có bầu đứa con thứ hai. Hắn về xí nghiệp được một tháng thì vợ bị sảy. Lương hai vợ chồng khoảng một trăm rưỡi, một con, lại vợ đau, tiêu pha ở cái đất Sài Gòn này, làm sao mà không túng thiếu. Ngoài Hà Nội ít ai giắt tiền tiêu vặt bằng giấy mười đồng, còn trong này ngay tờ năm chục cũng nhàu nát, đen bẩn, có dễ đến cả ngàn vạn bàn tay giành giật, tranh cướp nó trong ngày. Cái mãi lực của một thành phố lớn đến dễ sợ. Có thể gác bỏ việc tiêu sắm những món lớn, nhưng không thể không mua thuốc cho vợ con (vì có những đơn thuốc phải kiếm ngoài mới có), không thể không mua cái ăn hằng ngày, lại cũng không thể nói với bạn bè và người thân rằng chúng tôi đã hết tiền xin quý vị khi khác hãy lại thăm. Một bữa cơm mời khách, khách thân tình đến thăm nhau, chứ không phải khách nhậu nhẹt, cũng phải tiêu khoảng ba bốn chục bạc. Một bữa cơm mời mất đứt một nửa tháng lương. Rồi còn phải đóng góp vào việc vui buồn của thiên hạ, cuộc sống xã hội mà, tránh sao được, vả lại cũng không nên lẩn tránh. Ngã xe không lo đầu gối sưng mà chỉ buồn vì bị rách một miếng quần. Mất cắp một bộ quần áo, một chiếc xe đạp là một tai họa. Cháu xin nói tiếp câu chuyện của thằng bạn. Nó túng quá nên nó phải đi vay. Vay bạn chỉ được dăm mười đồng chẳng giải quyết được gì. Cuối cùng phải vay thằng phụ trách vật tư, nó có tiền nên mỗi lần vay được hai trăm, bốn năm lần vay đã nợ có trên ngàn đồng. Cứ biết là vay chứ kiếm đâu ra tiền mà trả. Gia đình cán bộ chỉ có thể gom tiền bằng cách nuôi heo, nhưng vợ ốm, con nhỏ, nấu cơm ăn còn chẳng xong nói gì tới chuyện nuôi heo. Cứ biết là nợ, còn trả bằng cách nào thì sau sẽ tính. Vì cậu đó không tính được nên cái thằng vật tư buộc phải tính giúp, vì ở Sài Gòn không ai cho vay không cả. Đồng tiền ở đây đẻ nhanh hơn ở Hà Nội, miễn là biết cách luân chuyển. Găm tiền một nơi cả năm là tối k��à con ở đây có thói quen trữ vàng với đôla, đó là hàng hóa, chứ không quen trữ tiền mặt như người ngoài kia. Trong kho của xí nghiệp lúc này có ba thùng soude nấu xà bông khoảng năm trăm kí lô, mà lại không nằm ở sổ sách nào, vì khi kiểm kê đã bỏ sót. Thằng vật tư chỉ xin với đồng chí phó giám đốc phụ trách về kỹ thuật và vật tư ký giấy xuất kho cho hắn, chỉ cần thế thôi, và cũng rất hợp thể thức, còn mọi việc sau đó tự hắn sẽ lo liệu lấy. Một chữ ký được chục ngàn, tiền nợ cũ coi như xong, chỗ anh em với nhau em có thì anh dùng có gì mà nợ. Nhưng cái thằng vật tư ăn tham quá chỉ muốn chia đôi cho phó giám đốc, bỏ qua thằng thủ kho. Thằng thủ kho cũng là đứa tinh, biết là có chuyện mờ ám liền ghi hàng xuất ra khỏi kho và báo lên trên. Chỉ trong vòng một tuần cái việc mờ ám nọ hoàn toàn bị vỡ lở. Hiện nay thằng bạn cháu bị đình chỉ công tác, nằm nhà, không khéo còn bị đuổi ra khỏi Đảng. Vừa mới hôm qua, cháu đến thăm vợ chồng nó, giận có ít mà thương rất nhiều. Hai đứa chỉ nhìn nhau rồi khóc. Nó không kêu xin, không oán trách, sẵn sàng chấp nhận cái số phận không may mắn. Nhưng rồi vợ chồng nó sẽ sống ra sao? Cháu tự hỏi vậy, với số lương một trăm rưởi một tháng và món nợ ngót nghét hai ngàn? Nó sẽ tốt lên hay sẽ xấu đi? Cháu sợ rằng nó sẽ xấu đi. Khi đã quẫn thì dễ liều lắm, ai mà tính được trước những hành động tệ hại của một anh liều. Còn một câu chuyện nữa cũng rất thương tâm, nhưng theo một cách khác. ở công ty cháu có một anh trung úy chuyển ngành, làm công tác kỹ thuật tại một xưởng máy. Anh ấy là người Hà Nội, vào Nam chiến đấu từ những năm sáu mươi, có ba bốn huân chương, lấy một cô vợ Sài Gòn, không đẹp nhưng rất hiền, và đã có với nhau một đứa con. Lương chồng khoảng trên tám chục, vợ là nhân viên kế toán một xí nghiệp dệt, lương bốn mươi lăm đồng. Lại một bà mẹ vợ nữa. Một trăm ba chục đồng những bốn miệng ăn. Túng lắm. Nhưng vào nhà không ai biết họ túng. Lúc nào cũng đàng hoàng. Nói chuyện không ai nhắc đến miếng ăn, đến tiền bạc, đến sự túng thiếu, vợ chồng mẹ con bảo nhau thật khéo. Nói thế, chứ túng vẫn là túng, không nhắc đến tiền nhưng hằng ngày vẫn phải tiêu tiền. Cuối cùng, anh bạn cháu phải mượn tiền mua một cái xe máy cũ làm nghề chở khách, ban ngày là cán bộ nhà nước, tối đến và ngày nghỉ là anh lái xe Honda ôm. Rồi lại mua một cái máy lạnh, chữa lại thành máy làm đá, một tháng kiếm thêm khoảng năm, sáu trăm đồng. Lần này thì sống đàng hoàng thật, dư dật thật, chứ không phải giả cách nữa. Mời bạn đến nhậu đã dám mua mực khô, thịt bò, hoặc có giết con gà, con vịt cũng không phải tính toán nhiều lắm. Một tối hai vợ chồng đều bảo cháu đến ăn cơm, chồng đã bảo rồi, vợ còn đạp xe tới nhắn lại. Bữa cơm tối cũng chỉ có một mình cháu là khách mời, và một đứa cháu làm công nhân ở Ba Son. Uống được vài hớp rượu, anh bạn cháu hỏi: "Chú Bình thấy đời sống của vợ chồng tôi dạo này thế nào? Dư dật lắm hả? Đúng là khá quá, phải không?". Nghe câu hỏi đã lạ, ngắm nhìn vẻ mặt gượng gạo của cả gia đình càng lạ hơn. Có tiền, có nhiều tiền mà xem chừng không được vui như trước, ấm cúng như trước, hồn nhiên như trước. Có chuyện gì thế? Cháu nín lặng không trả lời. Chị ấy mách: "Hồi này anh hay uống rượu quá chú à. Trong miệng lúc nào cũng có mùi rượu, tôi buồn quá". Anh chồng nói khiêu khích: "Ô hay, đã làm cái thằng lái xe Honda ôm lại không uống rượu, hả? Cái bệnh nghề nghiệp mà!". Cháu vẫn cúi mặt xuống ăn, ăn cho xong rồi còn chuồn. "Sao bữa nay chú ít nói thế, không nói cũng được, có chuyện gì mà nói, chẳng lẽ tôi lại kể cho chú nghe tôi đã kiếm tiền như thế nào, cò kè từ năm mươi xu tới một đồng như thế nào. Đã kiếm cơm thì còn tư cách gì nữa!". Bà cụ chỉ ăn có lưng bát rồi bồng cháu đứng lên, lấy cớ nó phá quá, các chú không nói chuyện được. Anh bạn cháu đưa mắt nhìn theo, gầm gừ: "Cho nó đi ngủ luôn đi, má ạ. Ai không uống, không ăn thì đứng dậy luôn đi. Tôi sẽ ngồi một mình cả đêm nay". Người vợ nhìn chồng nước mắt rơm rớm, trách nhỏ: "Mình lại say rồi, uống ít thôi, ngày mai còn dậy sớm". Anh chồng nói gay gắt: "Tôi không cần đi làm nữa, nhà nước trả lương có tám chục, tôi chạy xe một tháng sáu trăm, tôi không đi làm nữa, xin nghỉ hưu, để thành một thằng lái Honda ôm hoàn toàn". Nói được thế phải là người còn tốt lắm, anh đâu có hoan hỉ, có thỏa mãn với sự đầy đủ của hôm nay. Xem ra anh vẫn tiếc ngày hôm qua, sự túng thiếu trong sạch của hôm qua. Không một ai dám cãi lại anh, anh nói lảm nhảm một mình, rồi bưng mặt khóc, nghe tiếng khóc mới thảm chứ. Anh chưa say đâu, làm ra vẻ say để có dịp nói tuột nỗi lòng của anh thì đúng hơn. Anh nhìn cháu một lúc lâu, chén rượu vẫn cầm ở tay, rồi bảo: "Nửa năm rồi, tôi chỉ nhận ra có một điều: đồng tiền không thể làm ra hạnh phúc. Nghe xưa quá, cổ quá, chú nhỉ? Đã có hàng triệu người nói như vậy rồi. Có vở kịch nào, cuốn sách nào không có một câu tương tự. Nhưng hồi trẻ, tôi không tin. Chẳng qua mấy anh không có tiền mới nói như vậy, viết như vậy, chứ người nhiều tiền đâu có nghe họ nói gì. Họ cứ nín lặng làm tiền và tiêu tiền. Mà vẫn rất hạnh phúc. Có tiền mua tiên cũng được, phải không chú? ở thời buổi này có nhiều tiền vẫn sướng lắm. Bất cứ cơ quan nào cũng có dăm ba thằng hám tiền ngồi sẵn ở đó rồi, xin gì mà không có tiền lót tay là không xong. Xin nhà, tiền; xin việc làm: tiền; vô bệnh viện: tiền; mua được thuốc hiếm: tiền; kiểm tra bằng lái xe: cũng vẫn tiền. Trong các mối quan hệ giao dịch, đồng tiền mở cửa, rồi giấy tờ mới theo sau. Sức mạnh của đồng tiền ghê gớm đến thế, nhưng tôi vẫn cam đoan với chú: đồng tiền không thể nâng cao phẩm giá con người. Ngược lại là khác, hoàn toàn ngược lại. Tôi nói điều này với tư cách là người đang có tiền, mà đồng tiền vợ chồng tôi kiếm ra cũng lương thiện, cũng chính đáng. Nhưng tôi đi theo cách mạng, dám nhận mọi hy sinh, kể cả cái chết, không phải để cuối cùng có được nhiều tiền. Về Sài Gòn, tôi chịu đói, chịu thiếu cả mấy năm không phải vì tôi hèn không thể kiếm nổi ra tiền. Đồng tiền không thể là lý tưởng của vợ chồng tôi, của gia đình tôi. Tôi muốn một cái gì đẹp hơn, cao hơn thế, tôi muốn thực hiện cái lý tưởng của người cộng sản, tiêu diệt mọi tệ nạn xã hội sinh ra chỉ vì sự hoành hành của đồng tiền. Điều này tôi chỉ dám nói với chú thôi, tôi tin rằng chú hiểu tôi. Còn tâm sự với anh em họ chỉ ừ ào, mọi người đều thế cả sao mình lại muốn sống khác đi, nghĩ khác đi, có khi lại còn cho là tôi gàn, nếu không gàn thì cũng rởm, làm ra vẻ, đã lái xe Honda ôm, đã làm đá bỏ mối bán còn bày đặt băn khoăn, đau đớn vì không được sống như lý tưởng! Gàn! Rởm! Đạo đức giả! Có khi tôi chỉ là như thế thật. Vì tối nay đây, tôi vẫn lại nhảy lên xe đến bến đợi khách bên chợ Xóm Chiếu. Sáng mai trước giờ đi làm, bà xã tôi vẫn đem đá đi bỏ các tiệm quen, và tối về vẫn có thịt để ăn, có rượu để uống. Cuộc sống mà, năm nay còn thắc mắc, năm tới sẽ hết mọi thắc mắc, sẽ an tâm và vui vẻ mà làm tiền, không chừng lại hiểu được ra rằng chỉ mấy thằng nhà báo, nhà văn kiết túng mới đứng ngoài dè bỉu đồng tiền, chứ thật ra có tiền vẫn cứ tốt, càng nhiều tiền càng tốt, nó làm người ta sang trọng hơn, có nhiều bạn bè hơn và tìm ra hạnh phúc cũng dễ hơn!

*

Nhân Bình nói về sức mạnh của đồng tiền và sự cưỡng lại yếu ớt của mấy người bạn cùng làm việc ở công ty với anh, nên anh Đại lại có dịp góp vào một vài mẫu chuyện vui xung quanh cái việc kiếm ra đồng tiền:

- Đôi lúc mình hay nói: cái thằng cha ấy hết nghề rồi, có nghĩa là nó đã hết đường xoay xở rồi, sắp chết đói tới nơi rồi. Cuối cùng nó vẫn sống nhăn răng, vẫn tìm được ra cách kiếm tiền, vẫn chưa hết nghề. Nếu cậu Việt có thì giờ nên viết một phóng sự về những nghề đang kiếm ra tiền ở cái đất Sài Gòn này, chắc là kỳ lạ lắm. Riêng cái bin-đinh tôi ở, các bà vợ những ông giáo sư, bác sĩ trong mấy năm nay cũng đã tìm ra bao nhiêu nghề phụ để thêm vào đồng lương quá ít của các ông chồng. Hễ mình cần cái gì, tức là đã có người làm cái nghề đó, chỉ cần hỏi là có ngay thôi. Mấy năm tôi bị giam ở Mã Đảo, thì tôi chỉ có mỗi chuyện ấy thôi mà, mắt được nhìn thấy một cái nghề tôi dám tin là độc nhất vô nhị, mình không thể tưởng tượng nổi, chứ chưa nói là thấy cần. Nó không là một nhu cầu mà vẫn có nghề. Hoặc giả con người ta thích được hãi sợ, thích được hồi hộp, thích được xem đồng loại bị hành hạ, mà có những nghề đó chăng? ở Mã Đảo có một con sông rất rộng như Nhị Hà của ta, gọi là sông Betsibôka, mà nhiều cá sấu lắm. Trưa nắng nhìn cá sấu bò lên hai bờ cát cả ngàn vạn con to dài bằng cột đình, cột chùa, há miệng suy tư mà máu muốn đông lại. Có khi các cậu còn bò đi xa hơn, nằm nấp trong các búi cỏ rậm rình bắt bò, bắt chó, bắt người. Nạn cá sấu rình bắt người bên ấy còn ghê gớm hơn cái nạn rắn cắn ở xứ ta nhiều. Vậy nên dân địa phương đã tìm ra một cái nghề hết sức rùng rợn: xỉa răng cá sấu. Bọn tôi gọi người làm nghề đó là fakir, giống như anh fakir bên ấn Độ thổi kèn gọi rắn. Chắc họ cũng học được thuật thôi miên hay sao nên mới dám len vào giữa bầy cá sấu, mò mẫm ngồi cạnh từng con, lấy tay tỉ mẩn sờ rằng sờ lợi nó, rồi rúc cả đầu vào trong mồm cá mà lôi ra từng mảng thịt giắt ở các chân răng. Mất tiền cả đấy các vị ạ. Người xem ngồi trên bờ nhìn xuống, vỗ tay hoan nghênh mà tim muốn nhảy bật ra ngoài. Vì cũng có lần, mà có nhiều lần, các ông fakir chui đầu vào được mà rút ra không được, anh chàng cá sấu bị quấy rầy đã ngậm miệng lại rồi, nó đã ngậm miệng thì có nã đại bác cũng không chịu há miệng ra, cặp chân đen ngẳng của ông làm trò giẫy giẫy giật giật như cặp đùi nghéo bị rắn nuốt, rồi cứ trôi dần vào bụng cá. Mà đâu có kiếm được nhiều tiền, mỗi lần diễn cái trò chết người chỉ được năm mươi xu hay một đồng. Ôi chao! Một cách kiếm tiền vừa man di vừa nhục nhã!

Anh Quý nhận xét khác hẳn:

- Phải là một dân tộc thuần phác mới nghĩ ra được một nghề kiếm tiền hào hùng, mã thượng đến thế. Mình làm không nên mình chịu, không để liên lụy tới ai khác. So với cách kiếm tiền của bọn ta thì họ văn minh hơn nhiều.

Chị Hoàng hỏi:

- Nếu anh phải hy sinh quyền lợi của người khác để có được thật nhiều tiền, anh có chịu không?

Anh Quý:

- Hỏi như thế là đã sỉ nhục mình rồi. Mình ích kỷ thật nhưng không nỡ làm hại đồng loại.

Anh Chương cười nhỏ:

- Ông cộng tác với Diệm tức là có làm hại những người chống Diệm. Ông làm việc với các chính quyền ngụy là có làm hại những người kháng chiến. Đứng về phía này là có làm hại những người ở phía bên kia. Chính trị mà. Mấy chục năm nay ông vẫn làm chính trị đấy chứ.

Anh Quý nhìn chăm chú cái tẩu rỗng đã hết cả thuốc nhồi, nói gượng gạo:

- Cái thằng làm công vô thức rồi vẫn bị lịch sử ghép tội là thế. Đến lúc nghĩ ra thì cũng đã muộn.

Cái nhìn của Quân như đằm thắm hơn:

- Chưa muộn lắm đâu anh ơi, hãy còn nhiều dịp để anh nghĩ lại kia mà.

Anh Đại:

- Tôi vẫn nghĩ cái nghề xỉa răng cá sấu của dân Mã Đảo là cái nghề man rợ nhất, sao họ lại tự coi rẻ cái mạng mình đến thế, năm mươi xu một mạng người!

Anh Quý:

- Thưa với cụ, cái nghề bán rẻ mạng người khác còn man rợ hơn nhiều. ở xứ này đã có hẳn một giai tầng làm giàu bằng sự buôn bán máu người trong chiến tranh.

Chị Hoàng giương mắt nhìn ông nguyên là đại sứ, hỏi mỉa:

- Ông học nghề làm báo hồi nào vậy? Ông tuyên truyền mác-xít bọn tôi đấy, hả?

Anh Quý:

- Ngày còn ở xa tôi chỉ khinh mấy anh cầm quyền là vô học, nhưng có tinh thần quốc gia. Về sau ở gần họ, mới khám phá ra cái nghề chính không phải là chống cộng mà là buôn máu người.

Chị Hoàng trỏ vào mặt tôi:

- Tổng thống ngụy thì vô học, vậy ông Việt cộng này thì có mấy bằng?

Quân cười to:

- Bảo họ vô học thì họ còn cãi được. Hán Vương nhất định là dốt hơn Hàn Tín với Tiêu Hà rồi. Nhưng bảo họ xuất thân là lính Pháp thì họ hết cãi nổi.

Chị Hoàng hỏi nhẽo nhợt:

- Những ai thế? Thiệu và Kỳ phải không?

- Nhiều chứ, ông Minh lớn là người mà bà trọng, ông Đôn là người mà bà yêu, ông Trần Văn Minh nữa đều là dân học ở trường Tông Sơn Tây cả. ông Kỳ học lái máy bay chở khác Marrakech bên Maroc là một trường không quân của Pháp. Ông Thiệu học trường sĩ quan Đà Lạt khóa I vẫn do Pháp dạy. Ông Khánh học ở Nước Ngọt cũng vẫn là Pháp. Còn ai nữa, ông Cao Văn Viên là thuộc hạ của thằng thiếu tá Pháp tiểu khu trưởng tiểu khu Sóc Trăng, khi ông thiếu tá về nước, nghĩ tình thầy trò liền nhượng cô vợ Việt cho ông trung úy trẻ tuổi, là bà Cao Văn Viên đó. Là những sĩ quan của Pháp, về sau là của Mỹ mà có tinh thần Trần Hưng Đạo, Quang Trung nghe ngờ quá, hà?
Anh Chương

- Đã là người cầm quyền thì thế nào cũng có đứa nâng bi, xu phụ, quà cáp. Quà cáp phía dưới là một vạn thì quà cáp ở phía trên có thể là một triệu. Đút lót nhau tí chút cho chạy việc, thời nào chẳng thế. Còn bảo thành phe thành đảng buôn lậu trong chính phủ, trong quân đội, e rằng nói vậy cũng hơi quá vì nội vụ của họ ra sao, bọn tôi đều có được biết qua nhiều nguồn báo cáo.

Vẫn Quân nói:

- Nghị viện các anh biết làm sao được những chuyện kỳ bí của chính phủ. Tôi hỏi anh, thằng Kỳ tranh cử tổng thống bằng tiền của ai? Phải có tiền chứ, tiền của bà chị ruột và của vợ nó. Bà Lý lấy một ông Tàu, mở một hiệu buôn ở Paksé, về sau còn làm nhà thầu cho quân đội Pháp ở tỉnh này nên giàu lắm. Năm 1954, bên ấy làm ăn khó khăn, vợ chồng mới chạy về Sài Gòn. Ông em từ Maroc về, lái máy bay chở hàng, sau là máy bay chiến đấu. Máy bay hư hỏng, lại đưa qua Đài Loan sửa, lúc về ghé lại Hồng Kông, đàn em của Kỳ do bà Lý chỉ huy khuân lên từng bao bì cẩm thạch, đồng hồ, hạt trai nhân tạo, tơ Pháp, cả sâm và thuốc Bắc của lục địa Trung Hoa đưa sang, mua rất rẻ vì không có thuế quan, đem về Sài Gòn hàng lại đang hiếm, vốn có một, lãi cả chục cả trăm lần, làm giàu trong chớp mắt. Còn cô vợ cũng hay lắm, tậu đồn điền mía ở Hawai, mua nhà ở Luân Đôn, ở Paris cho thuê, nhà mẹ vợ giàu, bà Học thì giàu có tiếng. Hồi sau Kỳ làm thủ tướng thì sự làm ăn còn phát đạt hơn nhiều. Tàu của hải quân đem qua Mỹ sửa, khi đi thì chở đồ gốm, sơn mài, ngà voi, da thú, mặt hàng dân tộc mà, khi về thì xà bông, vải, quần áo may sẵn, lời lãi chia nhau, phần sư tử kính dâng lên thủ tướng. Thủ tướng ký lệnh làm quân cảng, lập tức ngân hàng phải chi ra khoảng mươi tỷ bạc, tức là đã có thể lấy đứt một tỷ để chia nhau. Rồi làm sân bay quân sự, bắc cầu quân sự, làm đường phục vụ cho mục đích quân sự, đều có tarif (biểu thuế) hết, cứ mười phần trăm mà tính. Với ông Khiêm, thủ tướng sau này, chỉ nói sơ sơ vài món: thầu vỏ đạn là một, tiền thuế quan là hai và chia lời với bọn đàn em ngồi giữa núi hàng của Mỹ ở Cam Ranh. Ba món đó là bao nhiêu ngàn triệu, hả? Cao Văn Viên làm tiền còn dữ hơn, nhưng lại rất kín đáo. Viên vốn là người chỉ huy phòng 4 của Bộ tổng tham mưu, cơ quan tiếp vận. Về sau đàn em của Viên bay đi các vùng, các quân khu nắm các cơ quan tiếp vận ở đó. Ví như đại tá Cao Văn Châu, không có họ hàng gì với Viên đâu nhá, chỉ huy trưởng tiếp vận vùng Một, giàu đến mức các thành phố lớn đều có nhà ăn chơi riêng của hắn cả. Vợ Ngô Quang Trưởng là người đàn bà đứng đắn, thuộc dòng họ Nguyễn Tường, rút lại cũng phải cúi đầu trước đồng tiền hắn đưa nhử. Trưởng đau lắm nhưng biết làm sao. Châu là đàn em tin cẩn của bà Viên. Vâng, cứ mười phần trăm nộp lên trên đều đều. Nhưng buôn độc địa nhất là thằng Đặng Văn Quang, trùm an ninh mà lại buôn ma túy để đầu độc lính mình và lính đồng minh thì hết nói. Có bốn món buôn lãi nhất ở Đông Nam á là vàng, kim cương, á phiện và rượu thì Quang đều buôn cả. Cho nên nói chuyện với bọn họ về quốc gia, chống cộng, hòa bình, tái thiết, dân tộc là thừa, đâu phải việc của họ, họ biết gì những chuyện đó. Phải nói là chiến tranh sẽ tiếp tục, Mỹ sẽ ở lại đây mãi mãi và các vụ áp phe lớn sẽ mỗi ngày một nhiều hơn, lập tức họ nghe ra ngay, và sự tính taón của họ là những tính toán thiên tài. Thôi, bàn làm gì đến cái tư cách mấy anh tay sai xứ thuộc địa, ngay đến danh tướng Raoul Salan sang Đông Dương để đối đầu với ông Võ Nguyên Giáp, xoay chuyển tình thế, rút lại cũng chỉ là anh buôn lập, buôn á phiện, chở từng chuyến máy bay. Giữa năm 69, Thiệu và Nixon gặp nhau ở đảo Midway để bàn về Việt Nam hóa về kinh tế. Việt Nam làm công nghiệp nhẹ, chế biến hàng nông sản, kỹ nghệ đóng hộp, kỹ nghệ đông lạnh, vân vân... Nhưng, ấy anh ba Tàu và các ông lớn đã nắm tới ba phần tư các nguồn lợi đó rồi. Ông Phạm Kim Ngọc nguyên Bộ trưởng kinh tế chuyển sang làm ngân hàng nông doanh. Ông Nguyễn Tấn Đời và Trung tướng Nguyễn Hữu Có mở Tín nghĩa ngân hàng. Ông Lý Long Thân, thầy của ông Thiệu, sẽ thôi nghề sản xuất dây kẽm gai mà chuyển sang sản xuất dầu ăn và trồng thuốc Virginia trên Ban Mê Thuột. Tất nhiên là không ngon lành thơm tho bằng thời chiến. Chuyển sang thời bình buộc phải có trí thức một chút, phải biết cách quản trị kinh tế một chút. Cho nên con cái họ có đang học ở Harvard khoa chính trị thì chuyển sang khoa business management, quản trị kinh tế, hoặc đưa sang trường đại học Michigan hay học viện kỹ thuật Massachusetts. Chuẩn bị như thế là cũng nhìn xa lắm. Thời nào họ cũng giữ độc quyền về cách kiếm ra đồng tiền mà.

*

Anh Đại nói với Bình:

- Trên đời này có lắm kẻ hám tiền, nhưng cũng có rất nhiều người không lấy tiền làm lẽ sống. Riêng bác, bác tự hào một đời biết coi nhẹ đồng tiền. Nếu tham tiền đã không dám chống Pháp. Chống nó chẳng những cái thân đi tù mà còn mất toi năm trăm mẫu ruộng. Có năm trăm mẫu ruộng ở xứ Bắc Kỳ là rất bảnh, đến thượng thư cũng phải nể, nói gì cái đảm phủ huyện tép riu phía dưới. Năm Pháp đưa bác từ Mã Đảo về Sài Gòn quản thúc, trong túi không còn một đồng một chữ, phải đến các hội từ thiện xin ăn, rồi bạn bè thay nhau nuôi. Cả mấy năm đi dạy học toàn cuốc bộ, có bữa đói quá phải ngồi xỉu xuống một vệ đường. Đói thật sự, đói quắt ruột héo gan, nhưng thà chịu đói chứ không bán mình cho Pháp. Pháp vẫn nhắn tin hàng ngày, làm quốc trưởng chưa được chứ làm bộ trưởng thì có thể lắm vì cũng có một cái danh, cũng có một cái bằng, cũng có mấy năm đi tù vì kháng Pháp, có khi còn được thiên hạ đồn đại, thêm thắt như một nhà đại cách mạng. Pháp chịu, lại đến ông Phạm Công Tắc cho người lại ve vãn. Giáo chủ Tây Ninh chỉ có hai cô con gái gọi là Tây Ninh nhị kiều, quá lứa một chút nhưng còn coi được, lại rất giàu. Cô em mới lấy chồng còn cô chị vẫn treo giá. Ông Tắc có ý nhắm bác để gọi rể, vì ông cũng có lòng mến từ lâu. Một là, bác đã có vợ con rồi, tuy vợ con ngày ấy hãy còn ở ngoài Bắc, hai là ông Tắc đã đầu hàng Pháp, kêu gọi giáo đồ hợp tác với chính phủ bù nhìn. Đành chịu đói thôi cháu ạ, chẳng lẽ đã dám hy sinh tất cả để rồi vì cái đói lại quỳ xuống đầu hàng. Sẽ không đói nữa nhưng mà nhục. Cái đói còn chịu được chứ cái nhục thì không ai chịu nổi. Chết rồi cái nhục vẫn còn bám theo kia. Dân mình là thế đấy, nếu không là tất cả thì cũng phải chín chục phần trăm trọng nghĩa khí, khinh tiền bạc. Nếu là một dân tộc hám lợi thì người lãnh đạo nào buộc được họ tự nguyện quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh? Hôm nay túng thiếu thì tính toái nhau chi li từng xu, từng hào, ngày mai có giặc lại vứt bỏ tất cả, nếu cần thì ném một mồi lửa cho nó cháy bùng lên, rồi xách súng dắt vợ con vào rừng kháng chiến, chắc chắn sẽ là như thế. Tất nhiên vẫn có người ở lại cộng tác với quân địch để làm giàu chuyến nữa, nhưng là số ít thôi mười phần trăm dân số thôi, chỉ là thế thôi, cháu ạ!

Chị Hoàng chợt quay phắt lại, bảo Bình:

- Này, mày thử hỏi ông bác cách mạng của mày vì sao ông ấy không đi kháng chiến? Vì sao lại chịu sống chui sống lủi ở xó Sài Gòn này cả mấy chục năm? Mày thử hỏi xem!

Bình cười mỉm, yên lặng. Anh Đại ngồi ngẩn ra một chút, rồi anh cười hề hề:

- À, à, việc gì phải hỏi, nó biết chứ! Nó biết tất cả nhưng nó vẫn thương tôi, có phải không, Bình?

Bình nói với tôi và với anh Đại:

- Thế hệ chúng cháu có nhiều việc phải làm lắm, nghĩ đến những việc phải làm vừa vui vừa ngại vì nhiều quá, vì mới quá. Rồi còn mò mẫm, còn vấp váp, còn sai sót chán. Thế nào là một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa của Việt Nam? Thế nào là con người mới? Lý luận thì rất nhiều, nước ngoài họ làm thế này, ta thì nên làm như thế này, nhưng thực tế chẳng giống như nước ngoài mà cũng không giống như ta muốn. Chỉ ngồi thảo luận với nhau cũng đã loại xà ngầu lên, anh nào cũng tự cho cách làm của mình là đúng, là phải, làm một chặp lại thấy ra hình như cũng chưa hẳn là phải. Thoạt mới nhận công tác anh nào cũng ham cải cách lắm, làm vài năm cái chí tiến thủ cứ nhụt dần, khó quá mà phiền phức quá. Bọn cháu còn trẻ dại nên có lắm cái nông nổi, lại vấp phải cái mỏi mệt, cái lãnh đạm của xung quanh, nhìn mặt nhau là gầm ghè, ngờ vực, nói gì đến sự cộng tác chân thành, rút lại họp mãi cãi mãi cũng mệt, cả hai bên đều mệt, chi bằng cứ làm theo cái đã có là đoàn kết nhất, trên yên tâm, anh em cũng yên tâm, mà nhà cải cách cũng được yên thân. Khi đã hết muốn cải cách thì cái chung chẳng có nghĩa lý gì, gạt nó sang một bên để chăm lo cho cái riêng thôi, là cái mình có thể chăm lo được, cải cách được, có kết quả rõ ràng. những năm đánh Mỹ, cháu còn đi học, nghe xung quanh không có ai bàn tán nhiều về đồng tiền, gặp nhau là thăm hỏi về tình hình các mặt trận, rồi an ủi nhau, khuyến khích nhau. Mà vui lắm, đêm ngày như có một ngọn lửa bập bùng đâu đó trong mỗi ý nghĩa của mình, trong mọi hoạt động của mình. Cái riêng của từng người đã hòa tan trong sự nghiệp kháng chiến. Không thể đứng ngoài đã đành mà cũng không một ai muốn đứng ngoài. Bây giờ thì ngược lại. Sự nghiệp chung là công việc của các cấp lãnh đạo, còn mỗi chúng ta hãy chăm lo cái mảnh đất phần trăm của riêng mình. Việc riêng chống lại việc chung, gặm nhấm, giằng xé nó ra làm trăm ngàn mảnh để dễ bề tiêu hóa ào cái bao tử cao su của từng người. Lúc mới tiếp nhận cơ quan thì quạt bàn đủ, quạt trần đủ, bàn ghế cũng đủ. Qua vài lần chuyển qua chuyển lại quạt bàn mất tiêu, quạt trần mất tiêu, rồi đến ghế bàn làm việc cũng dần dần mất tiêu. Cá nhân giàu lên, nhà nước nghèo đi, đến tiền mặt trả lương cho công nhân cũng thiếu. Rồi lại ngẩn ngơ hỏi nhau: tại sao lại vậy? Có thể dân mình quen góp xương góp máu cho Tổ quốc mà chưa quen góp vốn cho nhà nước kinh doanh? Lại có thể góp xương máu thì được nền độc lập, mình hưởng, con cháu muôn đời hưởng, nhưng góp tiền bạc, công sức không khéo léo lại chui tọt vô túi mấy cha tham nhũng? Lại cũng có thể trong chiến tranh anh lính bất kể ngày đêm đều đến gặp được Bộ tư lệnh, còn trong thời bình góp ý kiến với trên như đốt sớ lên thiên đình, chẳng rõ đến tháng nào, năm nào mới được xét tới. Như cháu đã nói, thế hệ con cháu có rất nhiều việc phải làm, nhưng việc khẩn cấp là phải bảo nhau loại bỏ đồng tiền ra mọi tính toán cá nhân. Bị đồng tiền cám dỗ thì mất hết bác ạ, mất lý tưởng, mất niềm tin, mất cả bạn bè, sẽ sống với tâm địa ích kỷ, tàn độc như dưới chế độ tư bản. Có một anh giám đốc một xí nghiệp có hai người con gái hiện ở Hồng Kông gửi về cho bố ba kí lô viên bi đủ để sản xuất một triệu cây viết bic. Nhà nước mua năm xu một viên, một triệu viên được khoảng năm chục ngàn đồng. Nhưng khi ra hải quan lĩnh thì gặp khó khăn. Theo "lệ" là phải có lời nói riêng với mấy người có chức việc ở đó. Anh được năm chục ngàn đồng, thì anh biếu anh em vài ngàn làm tiền trà thuốc là vừa đẹp. Nhưng cái ông giám đốc của cháu lại thiếu ý tứ quá, cứ bình thản đưa giấy báo, rồi bình thản đứng đợi tới lượt lãnh hàng, chẳng có một lời nói bóng gió xa xôi nào. Người ta trả lời chưa tìm thấy hàng, xin mời đồng chí sáng mai lại. Sáng hôm sau đến, lại đứng chờ, coi như không thèm biết những thủ tục nào khác ngoài những thủ tục đã ghi trên giấy báo. Lại chưa tìm ra hàng, xin cảm phiền sáng mai đồng chí lại tới nữa. Đến lần thứ ba thì ông ta phải gắt gỏng rồi, phải dọa dẫm rồi. Tôi là cán bộ cách mạng chứ có phải dân ngụy đâu mà các đồng chí làm khó dễ với tôi. Họ đã phải nói gần nói xa: "Vậy tối nay chúng tôi sẽ lại nhà đồng chí bàn kỹ về chuyện này". Ông giám đốc gạt phắt: "Tôi làm việc ở cơ quan hăm bốn trên hăm bốn giờ, cần nói gì thì cứ nói ở đây!". Họ lại nhũn nhặn mời anh sáng hôm sau tới vậy. Hôm sau đến, hải quan tuyên bố hàng mất, lập biên bản và xin nhận đền. Mất năm chục ngàn, nhận đền vài trăm, thật là lý thú! Đồng chí giám đốc kia liền bỏ mọi việc, lao đầu vào chuyện tố tụng, viết hàng trăm lá đơn khiếu nại gửi khắp các cơ quan từ trung ương tới thành phố, gầm thét, đe dọa, sục tìm tới tận những chỗ có thẩm quyền cao nhất để truy cho ra manh mối. Giả thử xí nghiệp của mình bị lỗ, các cơ quan bạn không chịu thực hiện nghiêm chỉnh hợp đồng, có những kẻ ăn cắp vật liệu của nhà nước, có những đứa lãn công, có những khâu bị phá hoại mà người phụ trách cũng mất ăn mất ngủ, đảo lộn tất cả để tìm cho ra nguyên ủy thì nhà nước mừng vui biết mấy. Riêng cháu, trong chuyện này, cháu có khuyên đồng chí giám đốc nên lấy cái rủi nhỏ làm cái may lớn của đời anh. Vì nếu anh có trong tay năm vạn bạc thì anh sẽ không còn là anh nữa. Năm vạn ấy anh sẽ mua cổ phần trong mươi cái tổ hợp sản xuất nhỏ, đang thời kỳ bung sản xuất mà, hằng tháng thu lãi, năm vạn sẽ đẻ dần thành năm chục vạn. Một ông giám đốc đã có trong tay năm mươi ngàn bạc, tiến tới là năm trăm ngàn bạc, thì còn thời giờ đâu nghĩ đến lỗ lãi của xí nghiệp, nghĩ đến đời sống của công nhân, nghĩ đến những nghị quyết của chi bộ. Tất cả trí tuệ của ông giám đốc đã đầu tư vào phần kinh doanh tư bản chủ nghĩa rồi. Mà cái phần kinh doanh ấy cũng rắc rối lắm, trong giấy tờ là hợp pháp, nhưng cách làm ăn thông thường là bất hợp pháp, phải có trăm mưu nghìn kế đối phó với mọi tình huống thì mới khỏi đổ bể. Rồi cũng phải mua chuộc các cơ quan hữu trách, phải đe dọa những tổ chức muốn cạnh tranh, phải điều hòa sự tăng vốn chia lãi trong nội bộ, phải thuê cán bộ kỹ thuật, thuê luật sư, thuê nhân viên bảo vệ. Là một "liên hợp xí nghiệp" mà riêng mình phải chịu trách nhiệm và quyết định về tất cả, tất cả đều là thù địch, sểnh mắt lỏng tay một chút thì thân đi tù, cơ nghiệp tiêu ma, con cái chết đói. Vâng, nhất định sẽ phải là như thế với sự kinh doanh mờ ám ấy anh sẽ thành một nhà tư bản thực thụ với tâm lý tư bản, thủ đoạn tư bản, và những niềm vui cũng rất tư bản. Là kẻ thù của chủ nghĩa, chống lại lý tưởng cộng sản, nhưng vẫn là đảng viên cộng sản, không chừng còn ở trong cấp ủy cũng nên.

*

Nhìn lên chiếc đồng hồ treo đã mười giờ đêm. Đồng hồ chạy còn tốt nhưng bộ phận đánh chuông gảy đàn đã hỏng từ mấy năm nay, chẳng ai nghĩ phải đưa đi sửa, nếu không hỏng có lẽ cũng đem bán nó đi từ lâu rồi. Nhà này thì cần gì tới sự phân chia của thời gian, một năm trôi qua còn chẳng để ý huống hồ một phút một giờ. Mới mười giờ đêm mà tiếng pháo đã nổ ran ran. Người ta nóng ruột tống khứ mọi thứ xui xẻo của năm qua ra khỏi nhà mình, ra khỏi số phận của mình, hân hoan đón lấy những may mắn của một năm mới. Dầu đã ăn cả sáu, bảy chục cái Tết nhưng mỗi lần nghe tiếng pháo nổ vào lúc sắp giao thừa vẫn cứ bồi hồi, nôn nao, vui một chút, buồn một chút và mong đợi và hy vọng có lẽ cái năm đang tới sẽ vui hơn. Ngay với một người có tài đoán giải tử vi như anh Chương, vẫn cứ mong đợi và hy vọng, vì theo anh nói, là số chỉ bày tỏ được cái khuynh hướng, cái xu thế, chứ không thể biết chắc được cái cụ thể, được một triệu là được, được một đồng cũng là được, mất một trăm là mất, mất nốt cái hy vọng cuối cùng cũng là mất. Lại còn tùy ở phúc đức và nghị lực của mỗi người, phương Tây có câu L'homme propose Dieu dispose, người muốn trời định, nhưng phương Đông lại có câu Nhân định thắng thiên. Nói thế nào cũng là phải cả, anh Chương cười, mặt đỏ bừng, nói tiếp, chẳng biết làm gì để hy vọng thì xem tử vi cho đỡ buồn dẫu sao cũng có được cái niềm hy vọng, vui giả vẫn dễ sống hơn là buồn thật chứ. Còn bàn cho hết nhẽ, vẫn anh Chương nói, từ năm mươi tuổi trở đi, tương lai ra sao cũng đã có thể đoán biết được, ngũ thập tri thiên mệnh, đại khái về chiều thường buồn hơn, ảm đảm hơn là buổi sáng. Khương Tử Nha, Bách Lý Hề về già mới xuất chính làm nên công nghiệp một thuở cũng là chuyện hi hữu, còn người thế gian đã năm chục tuổi là sắp được hưu nghỉ rồi, sống an phận với những cái đã có. Người trẻ háo hức nhìn về tương lai, người già lại thích trầm mặc nghĩ về quá khứ, mình sống như thế đã là phải chưa, có thể thua, thua nhiều lần, nhưng cái thái độ sống không có gì đáng để chê trách. Tôi tự nghĩ, vẫn là anh Chương nói, tôi là kẻ thất bại, làm bộ trưởng thất bại, làm nghị sĩ thất bại, làm người yêu nước cũng thất bại, một trăm một ngàn dự kiến không thực hành được lấy một, nhưng tôi vẫn là một trí thức tự do, không ai mua được tôi, không ai làm chủ được tôi trừ đức Phật. Cậu Việt này, tôi có được đọc một bài báo ngày còn ở ngoài kia, viết rằng bọn chúng tôi là tham mưu của giai cấp tư sản, là người truyền bá chủ nghĩa thực dân mới, là chống cộng, là phản cách mạng, đọc xong tôi chỉ buồn mà không giận. Các anh đâu đã biết nhiều về bọn tôi mà vội lên án. ở trong này đã gọi là trí thức thì không có ai chống cộng, không có ai làm tay sai cho Mỹ, cũng rất ít người chịu làm cái nghề viên chức ăn lương tháng của chính quyền. Có trăm ngàn thứ nghề tự do để họ kiếm sống mà cũng đàng hoàng lại không phải lụy. Họ muốn viết gì thì viết, muốn chống ai thì chống, không một thế lực nào buộc được họ phải làm thế này, không được làm thế kia. Phải như vậy họ mới dám công khai bênh vực cộng sản tại nhiều trường đại học, công khai ca ngợi Cụ Hồ là vĩ nhân của thế kỷ, nhà yêu nước vĩ đại nhất của Việt Nam, công khai chửi Mỹ, riêng tôi mới có thể công kích thằng Thiệu ở nơi này nơi nọ mà không bị đi tù. Nếu bọn tôi đều là lũ bán nước cả, đều là nhân viên ăn lương của Xịa cả thì các cậu thắng làm sao? Chỉ bằng sức mạnh của súng đạn chứ không có nhân tâm thì làm sao mà thắng nổi?

Nhìn đồng hồ đã mười giờ ba mươi phút, chỉ còn một giờ rưỡi nữa là sang một năm mới, chúng tôi đã định sẽ ngồi với nhau, với anh chị Hoàng đến đúng giờ phân chia hai năm mới ra về. Mà như chị Hoàng đã nói trước, gần đến cái giờ ấy, chị sẽ tuyên bố một điều quan trọng, là thái độ dứt khoát nhất của chị đối với tình hình hiện tại. Còn anh Chương thì thế nào? Anh quý thì thế nào? Xem như cả hai cũng đều đang tính toán, cũng đều đang chọn lựa. Nghe câu chuyện của họ, nhìn nét mặt của họ, tôi biết, nếu là đang chọn lựa thì cũng chưa hẳn một bề nào. Rồi còn bọn tôi nữa, mấy anh em đi kháng chiến về, cũng có mặt tối nay theo lời mời của bà chị, để chứng kiến cái gì nhỉ? Để buộc phải bày tỏ thái độ trước một vấn đề nào nhỉ? Từ tối đến giờ ngồi nói với nhau đủ mọi thứ chuyện, tựu trung vẫn là chuyện chính trị, là thái độ chính trị của từng người trước những việc lớn của đất nước. Người thắng cũng có phần lo âu khi nhìn về tương lai, kẻ bại có cái chua chát về sự nhầm lẫn khi lựa chọn ý nguyện buổi đầu. Có thể cái buổi đầu chỉ tính tới cái dễ dãi và vui vẻ, chứ nào ngờ chính trường còn ác liệt hơn cả đấu trường, thân bỏ lại mà cái danh cũng bỏ lại. Nếu như phải nói với hậu thế thì sẽ nói điều gì nhỉ? Rằng chúng tôi muốn nắm lấy chân lý, thoát khỏi mọi sự tranh chấp ích kỷ, vụ lợi của các chủ nghĩa, đảng phái, của các thế lực và cũng đã thất bại! Cuối cùng vẫn chỉ là một phần tử vô nghĩa của một tập đoàn, một thành viên bị động của một xã hội, một ý kiến trong muôn vàn ý kiến không đáng được chú ý, một con số không méo mó khi tính lại những hoạt động vô ích của gần một đời người. Chẳng là cái gì cả, buồn nhỉ, danh nhân, dũng tướng về già cũng buồn, cũng tự than mình chưa làm được cái gì cả. Kennedy chẳng là cái gì cả, Kissinger cũng cẳng là cái gì cả. Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, lừng lẫy tiếng tăm non nửa thế kỷ, rút lại lúc chết đi cũng chẳng là cái gì cả. Họ là những trí thức cả đấy, vừa có trí thức lại có quyền lực, một góc hoàn cầu có lúc đã nằm trong tay họ mà rồi ra cũng có cái gì đâu. Rút lại chỉ còn cái tư cách cá nhân giữa đám bạn bè. Bạn bè rồi cũng thay đổi, ngày nay khác với ngày qua, cuối cùng còn lại cái gì nhỉ? Chỉ còn lại có mình nhìn kỹ vào lòng mình. Là một trí thức tự do, không làm tôi một kẻ nào, không xu phụ một thế lực nào, là bộ phận vô tư nhất của xã hội xáp gần với chân lý hơn cả! Cái chỗ trú nấp cuối cùng ấy của người trí thức xem ra cũng chưa phải đã hoàn toàn yên ổn. Quân bảo thế, theo anh, đã thất bại là thất bại hoàn toàn, từ cái nhìn chung đến cái riêng. Nhìn thế sự ngao ngán mà có nhìn vào lòng mình cũng vẫn ngao ngán. Bởi vì, người trí thức chỉ hành động khi đã xác tín. Đã xác tín thì không thể giữ cho riêng mình một phần tự do cỏn con nào mà dồn tất cả cho sự nghiệp. Sự nghiệp là tự do của anh ta. Vả lại cái nguyện vọng sâu thẳm của người trí thức không phải là đứng ngoài chính trị mà là đứng bên trong chính trị, cầm quyền chính trị. Luôn luôn anh ta là một phần tử của một xu hướng, của một phe phái mà còn là phần tử tiên phong, tích cực nữa kia. Thành hay bại, vinh hay nhục, là do cách chọn, chứ không do có nhảy vào trong hay vẫn đứng ở ngoài. Tu sĩ cũng còn chẳng thể đứng ở ngoài. Vẫn là Quân nói, năm 54 Diệm từ Mỹ về làm thủ tướng có dắt theo mấy anh trí thức học ở Mỹ, đám Bùi Phước Long, Nguyễn Thái, Bùi Công Văn, Võ Văn Hải. Họ sẽ đem những kiến thức của một xã hội cởi mở, cái société ouverte, để cải tạo cái xã hội thuộc địa, phong kiến, khép kín ở Việt Nam. Nhưng cái xã hội thuộc địa và phong kiến ấy đã nuốt chửng họ ngay những ngày đầu. Tất bại là do chọn lầm minh chủ. Ngô Đình Nhu cũng là trí thức chứ gì, cứ chửi nó là thằng archiviste, làm cái nghề lưu trữ văn khố, nhưng nó vẫn là thằng có trí thức nhất trong mấy anh em nhà họ Ngô. Thời ấy có ai dám nghĩ khác, chứ chưa dám nói khác với học thuyết Cần Lao - Nhân Vị của ông cố vấn! Học thuyết đi trước, máy chém theo sau, cách tổ chức xã hội giống hệt quan niệm của các giáo sĩ trí thức thời trung cổ. Nhu chết, học thuyết tiêu ma, thất bại vì một tham vọng điên cuồng. Nhất Diệm, nhì Nhu, thứ ba là bác sĩ Trần Kim Tuyến, ông "thước mốt" theo cách gọi của bọn đàn em ở đây. Ông ta là giám đốc Sở nghiên cứu chính trị thuộc phủ tổng thống, tức là cơ quan an ninh và mật vụ. Cũng trí thức lắm: một bằng cử nhân luật, một bằng tiến sĩ y khoa. Cách sống rất trí thức: giản dị, khiêm nhường, rất quý bạn mà lại hóa ra một thứ hung thần của đệ nhất cộng hòa. Rút cuộc Tuyến bị đuổi, sự nghiệp tan tành, thất bại vì một mưu đồ bẩn thỉu. Giới trí thức Sài Gòn ngày ấy phản đối chính sách độc tài của gia đình họ Ngô, chủ trương bất hợp tác. Tờ nguyệt san Quê hương là cơ quan phát ngôn của bọn họ. Giám đốc bí mật của tờ báo "tiến bộ" ấy là ai? Bác sĩ Trần Kim Tuyến! Luật sư Trần Văn Minh chỉ là người giúp việc công khai của ông ta mà thôi. Chống nó mà rồi lại hợp tác với nó. Tất nhiên là thất bại rồi, vì thơ ngây mà cũng phần nào vì hám lợi.

Lại nói cái thời Mỹ, anh em trí thức chúng ta không ai hợp tác với Mỹ cả, chỉ hợp tác với các tổ chức của tư nhân Mỹ có đặt văn phòng tại Sài Gòn mà thôi. Lớn nhất là cơ quan Văn hóa á châu, Howard Thomas là người đại diện ký hợp đồng. Rồi đến các cơ quan điều nghiên của Ford, ông vua xe hơi, của Rockefeller, vua dầu hỏa, của Carnégie, vua sắt thép. Các cơ quan này có nhiệm vụ tiếp nhận các công trình của những nhà trí thức tự do không muốn làm cho chính phủ hoặc cơ quan chính thức của Mỹ, mà chỉ nghiên cứu một số đề tài do những cơ quan tư nhân này đề xuất. Ví dụ như tình hình báo chí Việt Nam một nửa thế kỷ nay chẳng hạn, một công việc rất tự do, cung cấp tình hình cho một tổ chức văn hóa, chẳng có gì là hại nước hại dân cả, mà tiền nhận cũng khá nhiều, từ năm đến mười ngàn đô la. Còn những nhà trí thức hoạt động trong các đảng phái theo chủ nghĩa quốc gia, không tư bản, không cộng sản như Đại Việt hoặc Việt Nam quốc dân đảng chẳng hạn, cũng không thể thoát khỏi bàn tay của người Mỹ. Tôi không nói bịa đâu, có chứng cớ hẳn hoi. Nghề của tôi nó đòi hỏi phải rất tò mò mà. Quân nhìn vẻ mặt ngờ vực và hơi khó chịu của anh Chương, anh Quý liền nói luôn thế. Ai nắm Việt Nam quốc dân Đảng? Tưởng Giới Thạch nắm. Ai nắm ông Tưởng? Đó là tướng Wedemeyer, đặc phái viên của Roosevelt bên cạnh chính phủ Trùng Khánh. Còn Đại Việt? Nhật nắm, Nhật đã đẻ ra cái tổ chức chính trị này. Tôi có được quen biết ông Komatsu là một ký giả Nhật nổi tiếng, trong thế chến thứ hai ông ta làm tình báo, là sếp sòng tình báo Nhật trên toàn cõi Đông Dương, hồi ông đến chơi nhà Trần Văn Chương còn vò đầu cô bé kháu khỉnh Trần Lệ Xuân và cho kẹo kia. Ông Komatsu là cha đẻ của Đảng Đại Việt. Nhật thua, bán lại cho Mỹ những nhà yêu nước Việt Nam theo tinh thần Đại Đông á để Mỹ dùng về lâu về dài. Các nhà tri thức Việt Nam tất nhiên là không chịu đánh bạn với quân nhân hoặc quan chức Mỹ đang dính líu tới cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Bạn của họ là các giáo sư, các tiến sĩ, những người trí thức cấp tiến hoặc khuynh tả ở Mỹ. Nhưng các ông trí thức này nếu không phải là nhân viên của CIA, thì cũng là nhân viên của cơ quan USAID là tổ chức chi tiền, yểm trợ, thực hiện mọi viện trợ của Mỹ tại Việt Nam, hoặc là giáo sư trường Đại học Michigan chuyên giúp đỡ các nước đang phát triển củng cố, cải tạo bộ máy hành chính và an ninh tại nước họ. Có một dạo tôi chơi rất thân với con một ông tỷ phú tên là Deso, là thượng sĩ Deso. Cậu ta đăng lính theo nghĩa vụ quân sự, làm việc nửa ngày chơi nửa ngày. Thì cậu ấm đã chịu tòng quân, lại chịu sang Việt Nam cũng đã làm vinh dự cho đội quân viễn chinh của Mỹ lắm rồi. Trời ơi, con người ăn nói học thức và dễ thương làm sao. Tiêu xài như dân cậu Bạc Liêu, chiếc xe Pontiac màu vàng của hắn cả Sài Gòn chỉ có ba chiếc. Cuối cùng mới vỡ lẽ cậu ấm là bí thư cho tướng O' Daniel, con papa mà đã lợi hại đáo để, cậu ấy chơi thân với dân làm báo cốt để moi tin mà. Còn ai trí thức hơn hai nhà báo danh tiếng của Mỹ, mỗi lần qua Việt Nam đều lại ăn cơm đằng nhà tôi, khen bà vợ tôi nấu món ăn khéo quá. Đó là Stewart và Joe Alsop. Các bố ấy đều là cấp sư ở tòa Ngũ Giác Đài. Sau này Stewart, Alsop cộng tác với Thomas Brađen viết cuốn: Nước Mỹ và công tác tình báo, tôi mới được biết cái nghề chính của các sừ. Tôi cũng lại quen thân với một ông bạn nữa, cũng trí thức lắm, lịch sự hơn cả Pháp là Guy Pauker, gốc Hung, nói tiếng Anh theo giọng Hung, học ở Sorbonne, vợ Mỹ, từng ở Indonesia nhiều năm, nghiên cứu cây cỏ vùng nhiệt đới gì đó. Anh này có cái tật khi nói chuyện với phụ nữ cứ giương mắt nhìn trừng trừng, phụ nữ họ rất ghét. ít năm sau mới té ngửa cái ông Pauker bác học ấy là tác giả chính vụ lật đổ Sukarno, đưa tướng Suharto lên cầm quyền, hiện đang làm giám đốc cơ quan điều nghiên quân sự, chính trị, kinh tế ở á châu, gọi tắt là cơ quan nghiên cứu và phát triển, là RANT. Thì ông Vũ Quốc Thúc, nhà kinh tế học lỗi lạc của bọn mình đấy, một trí thức nhất định là tự do rồi, không là tham mưu, là cố vấn cho một đảng phái chính trị nào rồi, nhưng tên tuổi của ông ta lại gắn chặt với những kế hoạch lẫy lừng của Mỹ ở Việt Nam, Vũ Quốc Thúc - Staley, Vũ Quốc Thúc - Lilienthal.

Vâng, chúng ta là những phần tử tiến bộ nhất, có ý thức dân tộc nhất của xã hội, chúng ta không nuốt nổi anh em nhà Ngô và tập đoàn quân phệt Khánh, Kỳ, Thiệu thì chúng ta làm việc với các tổ chức dân chủ của Mỹ, của thế giới tự do, của ông Pauker chẳng hạn, vẫn có tiền xài, mà vẫn đứng ngoài chính trị nhá! Anh Quý làm đại sứ vì nó là cái nghề của anh, chứ anh ấy có ưa gì mấy cha cầm quyền, anh luôn luôn đứng ngoài chính trị, kể ra cũng khó nghe thật, anh Quý nhỉ, mấy ông Việt cộng cũng dễ tính, chứ là tôi thì phải mời anh đi cải tạo ít nhất là vài năm. Còn anh Chương, xin lỗi, anh làm gì còn tự do mà nói rằng vẫn giữ trọn, anh đã bán đi đổi lại không biết bao nhiêu lần, anh mặc cả với người cầm quyền đúng hơn là anh chống họ. Mà họ chịu mua anh cũng cốt để thỉnh thoảng anh chống lại họ chút chút cho vui. Những người trí thức có tư tởng cách mạng thật sự, hành động theo một đường lối chính trị tiến bộ thật sự, họ đâu có giấu giếm cái chỗ đứng của mình, đâu có xấu hổ vì phải chiến đấu trong một đội ngũ, dưới một lá cờ, đằng sau một khẩu hiệu. Như thế chẳng quang minh hơn là cũng có tất cả các thứ đó mà lại chối là không có sao? Anh Chương nói câu này đúng, chúng ta chẳng là cái gì cả. Thế giới mênh mông, sự vận động của nó cũng mênh mông, danh nhân, danh tướng còn chưa là cái gì huống hồ một đơn vị rất vô nghĩa là mình. Mỗi chúng ta - Quân nói - giống như một đơn vị nhỏ nhất của thời gian, là một tíc tắc - tíc tắc. Các triết nhân xưa thường ngắm cái sọ người để suy ngẫm. Mưu bá đồ vương, rút lại cũng chỉ là một cái sọ vô danh mỏng mảnh. Tôi không ngắm sọ người mà thường suy tư trước cái đồng hồ báo thức đặt trên bàn làm việc. Tíc tắc - tíc tắc, hãy nhớ tới cái hữu hạn, cái ngắn ngủi, cái chóng qua của một kiếp người. Hãy mơ mộng trong cái hữu hạn ấy. Với cái vĩnh viễn, cái vô tận, cái trôi đi mãi mãi thì mình có là cái gì, chẳng là cái gì cả, đừng nghĩ phải là cái gì đó mà khổ, nhưng ta vẫn có thể là cái gì đó trong cái khoảnh khắc ta đang sống, là một sức đẩy dẫu là yếu ớt vào cái dòng lưu chuyển chung, tôi vẫn nghĩ như thế, tôi vẫn sống như thế và tự xem là đủ. Quân quay mặt sang phía tôi, ánh mắt anh lấp lánh. Mấy chục năm qua, tự xét mình, tôi thuộc về sức đẩy, chứ không thuộc về vật cản nhưng cũng chỉ như thế thôi, chẳng là cái gì cả trong cái dòng chảy vĩnh viễn của lịch sử!

*

Đã mười một giờ ba mươi. Còn nửa giờ nữa là giao thừa, là hết hẳn một năm cũ, sang hẳn một năm mới, theo Âm lịch. Chị Hoàng bệ vệ đứng lên, mặt đỏ bừng, kêu nhức đầu quá xin phép mọi ngời vào trong buồng nằm nghỉ một lúc, nếu giao thừa không thấy chị ra thì xin mời tất cả vào buồng chị, chị sẽ tuyên bố một điều rất hệ trọng. Chị nói thêm: "Buồng tôi không khóa, xin mời tất cả vào tự nhiên. Vì tôi không muốn công nhận cái năm sắp tới nên từ lúc này tôi đã thuộc về kỷ niệm của mọi người". Chị Bơ cũng nói sẽ dành cho cả nhà một bất ngờ, nhưng phải đợi đúng giao thừa, cái bất ngờ của tôi cũng thường thôi, chị nói thế, không được đặc sắc như của chị Hoàng đâu. Nhẽ ra chị phải gọi là cô Hoàng, vì chị là chị cả, nhưng bà chị nghèo toàn gọi các cô em, cậu em vừa giàu vừa sang là chị là anh hay là ông là bà. Sống nhờ người ta lại gọi là cô là cậu sao tiện. Anh Đại nửa ngủ, nửa thức, cười mủm mỉm, nói rằng anh chỉ thích được một bữa ăn thêm thật bất ngờ. Anh Chương kêu lên chán nản, có gì là bất ngờ thì trình diễn hết đi, cho nó vui, vui cả năm, còn sống mãi trong cái không khí "sẽ không có gì đến cả" thì buồn quá, buồn muốn chết được. Sau đó chị Bơ rủ chị Hảo xuống nhà dưới để chuẩn bị cái gì đó, có khi chuẩn bị cho sự bất ngờ chị vừa nói cũng nên. Anh Đại vẫn ngồi ngay ngắn một đầu bàn ăn, đầu hơi ngoẹo xuống vai, tiếp tục giấc ngủ chập chờn của người già. Tôi nghe chị Đại nói nhiều đêm anh chỉ ngồi như thế mà ngủ, nằm lại thức nhưng ngồi thì ngủ được, không được một giấc dài thì cũng được nhiều giấc ngắn. Còn lại có mấy người ngồi quây lại, uống một đợt cà phê thứ ba, thứ cà phê bột do Biên Hòa sản xuất, thơm đậm mà không chua như cà phê bột của Pháp. Theo anh Hoàng thì cà phê Ban Mê Thuột thuộc loại ngon nhất thế giới, trồng ít nhưng chọn giống rất kỹ để các ông Tây thuộc địa thưởng thức với nhau. Còn cà phê xứ Ba Tây họ sản xuất theo lối đại công nghiệp, rất nhiều, nhưng phẩm chất kém. Tôi hỏi, có phải dân Đức xài cà phê dữ nhất thế giới không? Mỹ chứ! Dân Mỹ xài tới bốn chục phần trăm cà phê của thế giới, mà nước nó thì không có đến một cây, toàn nhập thôi, trước hết là nhập của Ba Tây. Còn nước mình, tự hào cà phê ngon nhưng lại không nằm trong danh sách những nước sản xuất cà phê của Liên hợp quốc, vì anh có ít quá, ngon mà ít là chết rồi, thế giới họ cần cái vừa phải nhưng mà nhiều, thật nhiều. Vẫn theo anh Hoàng, ở Đông Dương có hai nơi trồng được cà phê tuyệt ngon, ngoài Ban Mê Thuột còn có Attopeu nữa, cũng là của Pháp cả. Anh Hoàng bảo tôi: "Thời buổi này là thời buổi kinh tế cậu ạ. Các nhà chiến lược của hoàn cầu đều là những nhà kinh tế học cả. Cậu muốn viết hay cậu phải giỏi về kinh tế. Chẳng phải vì tôi thích cái cụ thể, cái có thể tính đếm được, đoán giải được mà tôi nói thế đâu. Tổ chức RAND nổi tiếng khắp thế giới về các công trình nghiên cứu chính trị và quân sự trên căn bản kinh tế. Một tổ chức làm thuê nữa cũng rất uy tín với nhiều chính phủ, được gọi là Think Tank, cái túi khôn, do Herman Kahn lập ra, tức là Hudson Institude. Anh muốn lên kế hoạch xây dựng, phát triển trong năm năm hay mười năm về một phương diện nào đó, thuê chuyên gia họ tới điều nghiên một hai năm là có ngay một bản tường trình rất chính xác. Mà rẻ lắm, rẻ hơn tự mình làm lấy nhiều". Tôi nghĩ thầm: Nhỡ họ chơi xỏ mình thì sao? Họ làm tình báo thì sao? Ông này phi chính trị thật, một người làm công hoàn hảo thật. Biết là chúng tôi không tin lắm, anh đứng dậy lục tìm trong hộc tủ một lúc lâu, lôi ra một cuốn sách dày, có ghi ngoài For official use only, chỉ dùng trong công vụ, là biên bản hội nghị Ngân hàng phát triển á châu do Watanabe là chủ tịch họp năm 1970 tại Manila. Anh lật nhanh một số trang đầu, dừng lại trước một dãy cột số, bảo tôi:

- Hội nghị này bàn về ảnh hưởng kinh tế của Mỹ ở Việt Nam và vùng Đông Nam á sau khi cuộc chiến ở Việt Nam kết thúc. Những vấn đề được đưa ra xem xét như sau: cách mạng xanh, công nghiệp hóa, tức là công nghiệp chế biến nông sản, mậu dịch quốc tế, đầu tư tư nhân, cả vấn đề tăng giảm dân số ở khu vực này. Lạ nhất mà hồi đó tôi đâu đã tin, là bọn họ đã tiên đoán trên căn bản kinh tế đến năm 73 dứt khoát phải chấm dứt chiến cuộc tại Việt Nam. Cậu xem những chỉ số viện trợ và chi tiêu của lính Mỹ ở Việt Nam thì rõ. Từ năm 70 đến hết năm 72, Mỹ viện trợ quân sự cho chính quyền Thiệu đều đặn mỗi năm là 2 tỷ đô la. Sang năm 73 còn 1 tỷ rưỡi, năm 75 chỉ có 300 triệu. Chi phí của lính Mỹ và các viên chức người Mỹ tại Việt Nam như tiền mướn nhà, tiền chơi đĩ, may quần áo, thuê người làm v.v... năm 70 là 250 triệu, năm 72 là 150 triệu, năm 73 là 100 triệu, đến năm 75 chỉ còn có 50 triệu. Tức là họ có tính được trước thật. Nói gì thì nói, thằng Mỹ vẫn có đầu óc tính toán thực tế nhất. Tất cả chỉ là trên căn bản kinh tế! Nhưng mấy ông nội ở đây lại quá tồi, nó vừa rút khỏi là anh cũng rã theo luôn. Ai mà tính nổi mấy anh ngụy lại tan nhanh đến thế?

Quân phì cười:

- Vậy mới gọi là tính toán chi li trên một căn bản lầm lẫn. Nên hỏng! Làm con buôn thì ăn, mà làm hiệp sĩ thì hỏng!

Anh Quý nói theo đầy ngụ ý:

- Làm người bình thường thì được, mà làm người hùng thì khó.

Anh Chương cười gượng gạo:

- Đã từ lâu, từ nhiều năm nay tôi không còn ao ước làm người hùng nữa. Tôi không lãng mạn như ông Kennedy đâu, từ nhỏ tới lớn ông ta muốn làm gì đều được nên quá tin vào số mệnh siêu phàm của mình. Còn tôi, chỉ những thất bại là thất bại, đến làm chồng làm cha còn không được thì làm gì cho nên.

Quân nói, như thế vừa tỉnh táo lại vừa thực tế.

Anh Quý hỏi: Vậy còn lá số của anh, sao bảo đại hạn tới rất tốt?

- Hiền lành, hòa dịu, một thập niên êm ả không có sóng gió, nó chỉ sự an phận, hưu nghỉ. Vậy cũng đã là tốt lắm, vì tôi đang mong thế. Có điều, từ nay mình phải sống nhờ vào đồng lương của vợ, của con. Cái nghề của mình ai mà xài nổi, hết thời rồi.

Quân nói ướm:

- Có một nơi đang chiêu nạp những người làm nghề chính trị đối lập, lương trả hậu lắm, ông Phùng của nhà này có biết chỗ liên lạc.

Anh Chương thở dài mỏi mệt:

- Tôi biết chứ, tôi biết vì đã có người nói với tôi cái chuyện đó rồi. Nhưng tôi từ chối. Mình đã chán Mỹ quá đi, nay lại đến xin làm công cho nó, không phải trực tiếp mà là qua một kẻ trung gian thì còn ngán ngẩm nào bằng. Không bàn chuyện đó nữa, bỏ qua! Tôi hy vọng năm tới tôi sẽ được đoàn tụ với gia đình, thằng Tín đã mười bảy tuổi rồi, mẹ nó dạy nó làm sao được, mẹ coi con như còn lên năm lên ba hò hét, cấm đoán, con xem mẹ như một mụ già độc đoán, ích kỷ, chẳng biết gì những thay đổi của thế giới. Năm nó mười sáu tuổi, có lần hỏi chị nó, đã bao giờ chị muốn tự tử chưa? Mẹ nó hét lên chửi nó là thằng ngu, thằng khùng, rất may con chị đã nói với em nó rất khôn ngoan, rằng chị đã nghĩ tới tự sát từ năm mười ba tuổi kia, năm nào cũng muốn tự sát vài lần, tự nhiên lắm mà, ai chẳng thế, rồi cũng chẳng có ai tự sát, vẫn sống hết. Thằng em cười, nói một câu mà chỉ đọc qua thư cũng dựng cả tóc gáy: Nếu em là người duy nhất nghĩ như thế thì em sẽ tự tử thật, còn tất cả đều đã có lúc nghĩ như thế, mà họ còn sống cả, riêng mình lại chết, thật ngốc quá. Nguy hiểm chưa! Các bà mẹ yêu con dại dột đến dễ sợ! Được làm cha và làm chồng là nguyện vọng duy nhất của tôi hiện nay, có lẽ là mãi mãi. Mình làm nhiều chuyện vớ vẩn quá, vô ích quá, từ nay sẽ làm một việc thôi, giống như mọi người, nhưng sẽ là việc có ích nhất. Tính thế đã được chưa, các anh?

Anh Quý nói:

- Chỉ còn ít phút nữa là sang năm mới, tôi có thể nói thật với các anh một chuyện này, phải là tối nay, trong cái không khí thật tự do, thật trí thức của tối nay, mới có thể nói thật được, không phải vì sợ mà vì xấu hổ, có một chuyện cỏn con như thế, cũng phải đắn đo, tính toán mãi. Từ một năm nay, chú Phùng muốn giúp vợ chồng tôi ra nước ngoài, và biết rằng chúng tôi không có tiền, lại già yếu nên chú hứa sẽ lo cho cả, lo ở bên này và lo cả lúc đã sang tới bên kia. Sang bên kia sống bằng tiền cứu trợ dân tị nạn, cộng thêm bạn bè giúp đỡ chút ít thì vẫn sống được. Tại sao chúng tôi muốn đi, tôi bị bệnh thống phong, mỗi ngày mỗi nặng, phải mổ nạo kịp thời, lại phải có thuốc ngừa phòng, bữa nọ ngã nhẹ một cái, chống khuỷu tay đỡ, ngay trong đêm đầu xương đã sưng tấy lên, sưng cả một cánh tay, phải uống nửa trăm viên Ampicillines mới khỏi. Nhà tôi là cử nhân văn chương tốt nghiệp ở Anh hiện đang dạy ở trường Đại học sư phạm nhưng cũng gần tới ngày hưu nghỉ. Cả hai vợ chồng đều muốn đi, nhưng bằng cách nào? Tiền không có, quen biết cũng không, đi chính thức thì không ai bảo lãnh, kẹt. Thì gặp ông Phùng, ông muốn giúp bọn này qua nước ngoài, bằng đường tổ chức riêng trong Chợ Lớn, rất bảo đảm. Lại không mất tiền, không mất gì cả. Chỉ có đi thôi. Tôi nhận liền và hết lòng cảm tạ tấm lòng tốt của họ. Tháng này lại bảo tháng tới, đến tháng tới lại bảo tháng sau, lúc không thuận gió, lúc phải xem lại thuyền, có lúc lại bàn nên đi đường bộ vất vả tí chút nhưng chắc chắn, rút lại cả bốn năm tháng chỉ rập rình chuẩn bị chứ chưa có gì đáng hy vọng hơn. Gần đây, chú Phùng nói thật, đoàn đi còn phải chờ hai nhân vật nữa, nhiều tổ chức nước ngoài mời họ qua, nhưng chính phủ Việt Nam không đồng ý nên phải đi theo đường này, có họ thì cách đưa đón sẽ chu đáo hơn, mình có đi theo cũng đỡ cực. ở tuổi già, cứ đỡ cực là thích rồi, có nhiều người đưa đón là thích rồi, tìm hiểu làm gì thêm cho mệt. Nhưng rồi vẫn chưa thấy đi, còn đợi gì nữa? Thì ra hai ông ấy không muốn đi. Một ông thì say mê những đề tài đang nghiên cứu, mà những công trình ấy phải ở lại Việt Nam mới hoàn thành được, vợ con ông ta đi rồi, ở lại còn một cô con gái, mà cô bé thì cách mạng lắm, nếu ba cô đi, cô cũng dám ở lại một mình. Còn một ông nữa là cựu đảng viên cộng sản, một giáo sư địa chất danh tiếng, bà vợ ham đi nhưng ông chồng lại không thể đi, họ là người của cái sự nghiệp này, còn phải đi đâu nữa? Nhưng cái tổ chức nào đó lại rất muốn hai ông này ra khỏi Việt Nam, một người vì lý do khoa học, còn một người vì lý do chính trị. Chú Phùng muốn tôi, vợ chồng tôi, tới thuyết phục hai nhân vật kia nên đia, chúng tôi quen biết nhau cả mấy chục năm, nếu tôi có thể sẽ thu xếp ổn thỏa. Chú Phùng nghĩ thế, chứ tôi, tôi biết anh trí thức nào cũng vậy, càng có tài càng ích kỷ, họ phải quý cái sự nghiệp của họ trước, rồi bạn bè là sau, đến vợ con cũng là sau. Dụ dỗ thế nào được! Tôi cũng đã ngờ anh chàng Phùng này rồi, nhưng vẫn nghĩ hắn vì đồng tiền mà phải làm thế, chắc món tiền thưởng cũng to lắm, chứ không phải vì cái gì khác. Cách đây một tuần, hai chúng tôi, tôi và chú Phùng ấy mà, lại gặp nhau lần nữa, tại nhà tôi. Kỳ này thì chú ta có dọa dẫm xa xôi một vài chuyện nào đó của tôi trong quá khứ, tôi cũng đã quên rồi nhưng chú ấy lại nhớ, mình tưởng là chuyện nhỏ, chuyện vặt, nhưng nghe họ giảng giải thì lại hình như là to, là nghiêm trọng. ở lại sao được, nhưng mà đi thì phải là cả ba người. Các tổ chức bên ngoài họ muốn vậy. Vả lại, dầu tôi có muốn ở lại cũng đã muộn, tôi đã biết quá nhiều về họ, đã gặp gỡ một vài người trong bọn họ, mà những người này không thích luôn luôn chạm trán tôi tại Sài Gòn. Có nghĩa là tôi phải biến đi, bằng cách nào thì tùy, nhưng là biến khỏi nơi này đi, không nên có mặt lâu ở đây nữa, vì nhỡ ra, nhỡ ra tôi lại trống mồm trống miệng thì sao? Mà họ muốn mình phải biến đi thì thiếu gì cách? Tôi không xem tử vi, không tin lắm ở tử vi, nhưng có lẽ cái tết này đối với tôi là cái tết sau cùng, gặp các anh lần này cũng là lần sau cùng. Chẳng phải nói gở đâu, nhưng sự thật sẽ là như vậy. Anh Quân rất muốn giúp tôi, tôi tin là anh có thể giúp được, nhưng tôi xin được từ chối. Cậu Việt có muốn giúp, tôi cũng từ chối. Tuy tôi là kẻ trốn chạy thật, nhưng chưa đến nỗi vì mưu cái lợi riêng mà nỡ phá phách cái sự nghiệp chung. Thà rằng chịu chết! Tôi đâu có ngán cái chết nếu cái chết của tôi có thể lưu lại một chút âu yếm trong đáy lòng dăm ba người bạn.

*

Tôi ngước nhìn đồng hồ: mười hai giờ kém mười phút. Chị Hoàng đâu nhỉ? Vẫn chưa hết nhức đầu sao? Sắp giao thừa rồi, sắp sang một năm mới rồi mà chịu nằm khàn một mình trong buồn gà? Bà này kể cũng kỳ, nhất định không chịu nhìn nhận một năm mữa sắp tới. Với chị không có cũ mà chẳng có mới, tất cả đều giống nhau, mười năm, một năm, một ngày, một giờ đều như nhau cả, có gì là thay đổi, đốt xong một bánh pháo, cái năm cũ lại ùa vào, khách mừng năm mới ra về, đóng cửa lại vẫn hoàn là một năm cũ với những lo buồn cũ, hy vọng cũ, bực dọc, tức giận rất cũ. Mà lại mệt hơn, tốn tiền hơn, buồn bã hơn. Tống cổ cái năm mới sẽ tới, vẫn cứ đón đợi và hy vọng, vẫn là một cái gì khác với hôm qua, với mọi ngày nên chị chui vào trong buồng ngủ một giấc, tỉnh dậy đã là qua một năm mới rồi, chắc chị nghĩ thế, nên đến lúc này vẫn chưa chịu ló mặt. Vậy chị sẽ tuyên bố cái điều hệ trọng theo chị vào lúc nào? Không lẽ vào sau lúc giao thừa, vào ngày mai, à, nếu thế thì có gì là đặc biệt, là đáng đón đợi, người ta chỉ đón đợi những gì sẽ xảy ra trước và sau cái phút giao thừa. Cái trang trọng của một khoảnh khắc đặc biệt của thời gian óng ánh lên tất cả những gì đặc gần nó, ở trong nó, chịu sự chiếu sáng của nó. Hay là, tôi đưa mắt nhìn anh Chương, hay là... Anh Chương quay nghiêng mặt đốt thuốc Vàm Cỏ, từ năm ra ngoài kia học tập anh quen hút thuốc nặng, ở buồng anh có cả một cái điếu cày và hộp thuốc lào Thống Nhất. Anh chẳng tỏ vẻ gì là nóng ruột vì sự thiếu mặt của bà chị. Anh Hoàng cũng thế. Anh Quý đưa mắt hỏi tôi, hình như anh cũng e ngại có chuyện gì đó không hay lắm, không tốt lành lắm sẽ xảy ra vào đúng giao thừa. Quân nhấm nháp tách cà phê tư lự. Ruột thịt của họ, họ vẫn thản nhiên như không, mình chỉ dính dáng một tí máu mủ việc gì phải hốt hoảng đến thế, tôi nghĩ thầm và đốt thêm một điếu thuốc cho đỡ bồn chồn. Chị Hảo chạy te te từ dưới nhà lên, giọng nói ồn ào: "Bà Hoàng đâu! Bà Hoàng đâu! Chúng tôi đang chuẩn bị một chuyện bất ngờ cho cả nhà, chờ nhé! Chờ một chút nhé! Chị đâu hả anh?". Anh Hoàng trả lời chậm rãi: "Kêu đau đầu, nằm trong nhà". Chị Hảo lại hỏi: "Thôi chết, quên mất, anh còn thuốc ngủ cho em mấy viên, dạo này em ngủ ít quá, một đêm chỉ chợp mắt được một hai tiếng". Anh Hoàng vẫn nói từ tốn: "Tôi không dùng thuốc ngủ bao giờ, hỏi chị ấy". Chị Hảo lại réo: "Chị Hoàng ngủ hay thức? Chị Hoàng! Xin bà mấy viên thuốc ngủ đây!". Rồi chị chạy xồng xộc vào buồng trong, nhưng anh Chương đã gọi giật lại: "Chị Hảo! Bà ấy vừa vào nằm một tí lát bà ấy ra sẽ hỏi". Bình nói thì thầm bên tai tôi: "Khi nãy nom mặt bác gái đỏ rực đến dễ sợ, như đang nghĩ ngợi một chuyện gì rất căng thẳng!". Tôi nín lặng, Bình nói đùa: "Hay là, hay là bà cụ định làm một cú gì đó, hả chú?". Tôi hỏi nhỏ: "Cú gì?" - "Một liều thuốc ngủ trước lúc giao thừa chẳng hạn. Thái độ dứt khoát nhất đối với tình hình hiện nay mà". Thằng Bình là một cán bộ khoa học, nhưng hắn lại nhạy cảm như một nghệ sĩ. Chính tôi cũng vừa chợt nghĩ như Bình đã nghĩ, nhưng hắn nghĩ mau hơn tôi. Chị Hảo lại nói toang toang: "Cái bà Hoàng đến là đoảng, mời anh em đến đón năm mới lại chui vào buồng nằm tới giờ chưa ló mặt ra. Năm mới gì mà buồn thế? Tẻ thế?". Anh Hảo nhăn mặt: "Bà nói nhiều quá, bà chuẩn bị cái gì bất ngờ thì xuống chuẩn bị tiếp đi" - "Xong cả rồi, xong cả rồi, nhưng nhìn mặt các ông tôi lại mất vui. Chán bỏ mẹ! Chị Hoàng ơi!".

Tôi nói nhỏ với anh Hoàng:

- Anh vào xem chị em có đau mệt gì không? Bà ấy uống tí rượu em sợ lên huyết áp.

Anh Hoàng nói chậm rãi:

- Không sao đâu. Ngồi lắm nên mỏi muốn đi nằm thôi. Cho bà ấy ngủ luôn đến sáng mai cũng là tốt.

Tôi lại nói gợi với anh Chương:

- Giao thừa không có bà chủ cũng mất vui anh nhỉ? Anh vào khua chị Hoàng dậy đi, anh! Phải ra tiếp khách chứ! Qua giao thừa tha hồ ngủ, chị đã nói sẽ không tiếp ai trong ngày mai mà.

Bình cũng nói thêm:

- Với lại bác bảo sẽ nói một điều gì đó hay lắm, quan trọng lắm trước lúc sang năm mới mà. Cháu phải nghe rồi mới về ăn Tết được, không thì cứ thắc mắc cả năm.

Anh Hoàng đưa mắt hỏi anh Chương:

- Chị bảo nói cái gì?

Anh Chương lại cau có:

- Ai biết được bà ấy định giở trò gì, cũng lắm trò lắm.

Mười hai giờ kém năm phút. Đột nhiên tiếng pháo nổ ào ào khắp thành phố, nhìn ra sân nhấp nhoáng như có ánh lửa. Rồi nhà bên trái đốt pháo, nhà bên phải đốt pháo, nhà trước cửa đốt một dây pháo rất dài, tiếng nổ dữ dội, gay gắt. Khói bay mờ mờ vào sân như sương, mùi thuốc pháo đã nồng nàn như ướp vào da vào thịt. Không ăn Tết mà được ư? Chối từ một năm mới đã tới mà được ư? Rồi tiếng pháo nổ rầm rầm ngay trong sân, lửa lập lòe hắt sáng lên những tàng cây cối sẫm. Cả mọi người như bừng tỉnh, nhốn nháo, nhà này mà đốt pháo? Nhà này cũng đã phải đón năm mới! Ai đốt thế? Pháo ai mua thế? Mặt người như rạng rỡ, như tươi sáng, như mới ra, trẻ ra. Anh Hảo mở sâm-banh tuyệt khéo, nghề phụ của anh mà, tiếng nổ to, khói vừa bay hết mới rót ra các ly, không mất đi đâu một giọt. Anh Đại hét to: "Xin chúc năm Canh Thân có nhiều tin vui! Xin chúc các cô các chú sang năm mới thật mạnh giỏi, thật may mắn!". Anh đã mặc áo khoác ngoài, cổ thắt nơ, tóc bạc trắng, tay giơ ly rượu đầy tràn, nhìn mọi người âu yếm, thỏa mãn, hể hả. Cả mọi người đều hét theo: "Xin chúc mừng một năm mới!". Rồi chúng tôi nắm tay nhau, chúc cho nhau mọi điều thật tốt đẹp. Là một bất ngờ nhỉ? Chúng tôi có định làm cái cử chỉ trang trọng và mòn cũ này đâu, không ai định cả, mà tất cả đều cùnglàm, tự nguyện, sung sướng và tràn ngập hy vọng. Con người ta cũng buồn cười nhỉ? Cũng hay nhỉ? Bà Bơ mặc áo dài lụa nâu, vấn khăn nhiễu nâu lại đi đôi hài cũ, món quà của bà cô tặng cô cháu tận tụy những năm nào. Theo sau chị là hai cô bé bưng hai mâm bánh chưng, đã bóc lá, với cá kho, với giò lụa, hành muối. Bà Bơ nói: "Cô Hoàng không thích ăn Tết, không cho gói bánh và làm các món ăn ngày Tết, nhưng chị còn tiền (lần đầu tiên chị xưng đúng danh vị của chị với chúng tôi) đủ để sửa soạn một bữa ăn thanh đạm nhưng thật là Tết, thật là bữa ăn của ông bà ngày Tết, mời các cô các chú. Năm mới chị chúc...". Cả mấy anh em chúng tôi đứng ngây ra, nước mắt rưng rưng khom người ồn ào chúc lại bà chị cả một đời hy sinh cho các em, dẫu đi tới góc biển chân trời nào vẫn nhớ tới chị, một bà chị ở Việt Nam, cái quê hương Việt Nam mỗi lần Tết đến, trong khói pháo thơm nồng, ngồi xắn từng miếng bánh chưng xanh mướt, ăn với giò lụa, với hành củ muối nén, nói với nhau nhưng hy vọng tốt đẹp nhất về một năm mới đã đến.

Và đúng vào lúc ồn ào, tưng bừng, ríu rít, vào cái lúc thật là Tết, rất là Tết, và rất là một cái Tết của Việt Nam, thì chị Hoàng từ phòng ngủ bước ra, mặc áo gấm dài thất thể màu xanh sẫm, quần Cẩm Châu đen, lại đi cả hài cườm. Như người từ đầu thế kỷ bước ra, hay nói cho đúng hơn, như từ trong hòm bước ra, một cái hòm gỗ tốt, có sơn thếp, có chạm trổ, theo thời giá khoảng ba ngàn đồng. Chị nhìn mọi người gườm gườm rồi nói to:

- Các người mở sâm-banh mà không đợi tôi hả? Tôi là người thừa của cái nhà này hả? Hay nhỉ? Hay thật đấy?

Anh Chương trố mắt nhìn bà chị:

- Bà này lại còn năm mới hơn cả bọn tôi? Bất ngờ nhỉ! Rất bất ngờ!

Anh Hảo cũng nói theo:

- Nom chị trang trọng như trong một bức ảnh chụp ấy. Chị đã thuộc về cái thế giới của những bức ảnh chụp rồi.

Quân mủm mỉm cười:

- Có treo lên được không nhỉ? Một bức hình cổ kính như thế thì treo lên ở chỗ nào cho hợp?

Thằng Bình cũng cười:

- Đến cái chỗ treo lên cũng không có hả chú? Làm người bình thường vậy. Làm người bình thường vẫn cứ thích hơn là bị treo lên!

Tôi đứng sát lại chị Hoàng, nói nhỏ:

- Chị đã chấp nhận cái hôm nay rồi phải không? Đấy là thái độ dứt khoát nhất của chị trước tình hình hiện tại, có phải không?

Chị Hoàng nhìn tôi buồn bã, vừa buồn bã vừa ngượng nghịu. Chị lại thất bại rồi, dự tính thì ghê gớm, nhưng bắt tay là thất bại. Có một lúc tôi đã thoáng lo sợ rằng chị có thể dám làm một chuyện gì đó. Liều mà! Nhưng chồng và em trai thì không hề lo, họ biết nhau quá, nhát cả, cái anh nhát dẫu có liều vẫn cứ nhát, nhiều lắm là nói thôi, nói cho hả, đâu có gan làm.

Chị Hoàng đi lướt qua mặt tôi, nói với cô em:

- Hình như cô Hảo cần thuốc ngủ, phải không? Tôi xin biếu cô một ống Véronal đây, loại này mạnh lắm, mỗi lần chỉ nên uống nửa viên thôi.

Rồi chị khệnh khạng kéo ghế ngồi vào bàn ăn, ngắm nhìn bà Bơ đang xắn riêng cho mình một miếng bánh thật ngon, nói phụng phịu:

- Có bánh chưang mà không có chè kho à? Cái nhà này làm ăn đến buồn cười, cứ được một cái lại hỏng một cái, có bánh chưng mà lại không có chè kho! Bây giờ tôi có thể ăn một lúc hết nhẵn hai đĩa chè kho!

---
(1) Bài thiếu quân
(2) Cô hầu
(3) Những kẻ tân tòng (tôn giáo)
(4) Nơi ở của sinh viên nội trú
(5) Huênh hoang
(6) Là người Việt Nam đầu tiên hiểu thấu đáo ngôn ngữ này
(7) Thế giới của chó
(8) Quan thầy
(9) Nếu Mao đến Hoa Thịnh Đốn
(10) Văn phòng
(11) Trường Quốc gia Hành chánh
(12) Dạy bảo không cần đến lời nói

31-1-81
Chân Trời Tím

0
                          Đã từng có ngày vui
                         Nguyễn Khải
 
Tháng 4 năm 1945, gia đình tôi dọn nhà đến phố Đỗ Hữu Vị, một đường phố của giới viên chức Hà Nội, ở chung với bà chị ruột của mẹ tôi. Cả hai bên đều có lợi. Trả tiền nhà cho chị vừa ít hơn lại được nhờ cậy vào chị và các cháu trong cái thời buổi Nhật Tây hỗn loạn. Chị cho em thuê nhà vẫn cứ yên tâm hơn là cho người ngoài thuê, gặp năm khó khăn thêm đồng nào hay đồng ấy. Riêng tôi thì không lấy gì làm vui lắm vì phải sống trong một ngôi nhà toàn là đàn bà, vừa buồn vừa lạnh. Bà bác tôi vốn tính lạnh lùng, nghiêm khắc, hai người con gái cũng lạnh lùng giống mẹ, lại hay xét nét, riễu cợt. Họ vẫn gọi tôi là thằng ngố vì tôi nhút nhát lại hơi đần. Bác tôi có bốn người con : một trai đầu là bác sĩ đã có vợ con và ở riêng và ba cô con gái kế tiếp. Người con gái thứ hai chết năm hăm nhăm tuổi, chưa chồng, chưa có cả người yêu, hình như thế, cái chết cũng đột ngột. Một đám ma im lặng và trắng toát. Ngựa phủ vải trắng, xe tang sơn trắng, các ngù lông ở bốn góc xe cũng màu trắng và những người đi đưa đều mặc quần áo trắng. Duy có một người đàn ông đi cách xe tang chừng một quãng là mặc âu phục đen, hai tay ôm trước ngực một gói giấy báo. Lúc hạ huyệt người đó vẫn đứng ở xa, khi mọi người đã ra về người ấy mới bước lại trước mộ, mở gói giấy báo đặt lên mộ một bó hoa trắng rồi quì xuống.

Hai người em gái còn lại, một chị tên là Linh đã hăm nhăm tuổi và một chị tên là Nga, hăm hai tuổi. Các chị đều có bằng Cao đẳng tiểu học nhưng không ai chịu đi làm, cũng rất ít bạn bè, sống cô độc và lạnh lẽo. Đàn bà mà thông minh quá, biết rộng quá cũng khổ. Chẳng có người đàn ông nào trên đời khiến họ phải say mê. Bác tôi vẫn than thở với mẹ tôi : "Ai mà dám rước hai con quỉ cái ấy, rồi cũng đến làm bà cô thôi". Bà bác tôi một đời không hề mó tay vào công việc nội trợ, chỉ có đánh bạc và đi lễ. Một người đàn bà vô dụng là thế mà vẫn được chồng rất nể còn con cái thì sợ một phép. Bà đi vắng nhà như cái chợ, bà ở nhà mọi người đi lại như những cái bóng, muốn nói gì cũng chỉ dám thì thào. Mẹ tôi bảo : "Bà ấy sướng từ nhỏ tới già, con người ta đều có số cả."

2.
Đó là chuyện về trước. Từ ngày hai gia đình ở chung thì cách sinh hoạt của gia đình bác tôi đã khác xưa nhiều lắm. Tháng 6 năm 45 bác trai tôi mất. Ông là kỹ sư hóa học tốt nghiệp ở Pháp những năm đầu thế kỷ. Ông bị bệnh kiết l��ã mấy tháng, người cứ gầy rộc và rất hôi. Người con trai bác sĩ làm việc ở Hải Phòng một bữa về nhà lúc trời tối. Anh ta xách cặp thuốc lên thẳng trên gác ngồi nói chuyện với bố tới gần nửa đêm rồi lặng lẽ đi xuống bảo các em : "Để cậu nằm ngủ". Sáng sớm hôm sau anh ta nói với mẹ : "Cậu mất đêm qua rồi". Bác gái tôi ở nhà cả ngày, cả tuần vì cũng không còn tiền đánh bạc, chỉ tới bữa ăn mới xuống. Hai chị tôi cũng thay đổi cả tính nết lẫn cách sống, nói năng mềm mỏng, cư xử với xung quanh nhũn nhặn, dễ dãi. Và rất hay đi chơi, đi một buổi hoặc đi cả ngày. Mỗi lần ra phố hai bà phải mất cả giờ để chọn áo và trang điểm, rồi nhìn ngắm nhau để có dịp bình phẩm, chọc ghẹo nhau trong tiếng cười hồn nhiên, trong trẻo. Mà bác tôi cũng không bảo sao, cũng có thấy sự khác thường nhưng bà xem như không biết.

Chỉ riêng ông bác sĩ, người con trưởng của gia đình, là vẫn giữ nguyên nếp sống cũ. Anh là người sang trong họ, là ông bác sĩ đã sang, lại là con rể một ông tổng đốc càng sang, vừa có danh vừa có tiền, dẫu thời thế có đổi thay cũng không thể xê dịch được cái địa vị đã có. Tôi chỉ không ưa anh gọi mẹ tôi là bà xưng tôi, như người dưng, còn mẹ tôi lại khúm núm gọi cháu là ông, cười nói nịnh nọt. Một lần anh lên Hà Nội rẽ qua về thăm nhà, bảo hai em gái : "Các cô cho tôi ăn cơm chiều nhá !" Lập tức chị Linh nói luôn : "Thôi, mời ông ra hiệu, ở nhà chả có gì" Anh cau mặt có vẻ không bằng lòng nhưng chị Linh vẫn thản nhiên trò chuyện với mẹ tôi. Một lần khác, anh nói gì đó với các em khi họ cùng ngồi ăn bánh ngọt và uống nước trà ở cái bàn nhỏ kê giữa sân. Hai người em gái cũng vừa cười vừa nói lại điều gì đó, rồi nghe anh nói to : "Đừng có nghe mấy thằng VẹM, Nhật nó chém đứt cổ !" Chị Linh cũng to tiếng: "Có là con vật mới chịu ngồi một chỗ đợi chúng nó đến cắt cổ !" Ông anh đứng vọt lên, mặt hằm hằm xách cặp đi thẳng. Chị Nga nhìn theo anh, nói với : "Đàn ông gì mà nhát thế!" Trong bữa cơm tối bác tôi bảo : "Anh chúng mày lại ra Phòng luôn à ?" Mẹ tôi nói : "Anh em to tiếng gì với nhau rồi ông ấy bỏ đi luôn". Bác tôi cau mặt : "Bố chết còn anh, anh không bảo được em thì hóa ra nhà vô phúc à ?" Chị Linh khẽ hích tay em gái, cười gượng gạo : "Ông ấy là trí thức mà không biết gìn giữ phẩm giá, chỉ lăm le muốn làm đầy tớ thôi, không là ông chủ Tây thì là ông chủ Nhật". Bác tôi dằn đũa xuống bàn, mặt đỏ tía : "Quân ngu ! Cả nhà này không ăn cơm của thằng Tây dễ thường húp nước gạo mà sống được đến hôm nay à ?"

3.
Tới tháng 7 bác tôi đã phải gọi người bán cái sập chân quì và tủ chè, cả một lô đôn thống bình lọ nghe nói rất quí, rồi đến áo gấm và áo măng tô lông. Cuối cùng cái xe kéo kiểu Ômic, phương tiện đi lại của cả nhà, cũng bán nốt. Nhưng bữa ăn thì vẫn như xưa, một bàn thức ăn, thịt quay, cá nấu ám, canh nấm, thịt băm nhồi ốc lót lá gừng, ăn như phá núi cũng phải lở. Mẹ con tôi nghĩ thế nhưng bác tôi lại không thể quen ngồi trước một bàn thức ăn chỉ có vài ba món. Bà không ăn nhưng mắc tật ghiền nhìn một bàn thức ăn thật đầy đặn, thật sang trọng. Sau một tuần ăn chung mẹ tôi xin được ăn riêng nhưng bác tôi trừng mắt, bảo : "Dì muốn ăn riêng thì không nên ở chung với tôi. Có hai chị em cũng bày ra hai bếp không sợ thiên hạ họ chửi cho à ?" Mẹ tôi sợ mà phải theo nhưng cả ba mẹ con tôi ăn uống mất cả tự nhiên. Nhưng tối đến thì vui lắm. Cả nhà (trừ bác tôi đã lên gác sau bữa ăn) ngồi súm lại dưới ánh đèn chụp mờ tối nghe chị Linh đọc thì thào báo của Tổng bộ Việt Minh, báo nhỏ bằng cuốn vở học trò, in rất xấu nhưng chỉ có tờ báo ấy mới dám viết : thực dân Pháp, phát xít Nhật, mới dám gọi nội các Trần Trọng Kim là nội các tay sai, bù nhìn. Và một ông vua bù nhìn. Năm ấy tôi nào đã biết gì nhưng rất hãnh diện được tham dự vào một âm mưu phản loạn của người lớn, được sống trong cái không khí bí mật của người lớn, chỉ thế thôi cũng đã hơn lứa bạn cùng tuổi nhiều lắm. Rồi các chị tiếp bạn trai ở nhà, cũng là một chuyện lạ. Thoạt tiên là một chàng trai trẻ, dáng dấp như sinh viên, lúc mặc quần soọc trắng, lúc mặc bộ đũi vàng, chắc hẳn gia đình cũng vào loại giàu của đất Hà thành. Anh thường đến chơi vào buổi chiều, cả ba người trò chuyện rì rầm cho đến lúc lên đèn. Người đàn ông nói nhiều hơn còn hai người đàn bà thì ngồi nghe rất thành kính, gương mặt rạng rỡ, thơ ngây, trở nên xinh đẹp lạ thường. Mẹ tôi bảo : "Cậu ấy là bạn của đứa nào ?" Chị Linh đỏ mặt không nói gì. Chị Nga nói nhỏ: "Anh ấy là cán bộ" Rồi lại thêm một người bạn mới nữa, chắc cũng là cán bộ, có khi còn là cấp trên của người đến đầu tiên. Anh này chừng lớn tuổi nhất bọn, để râu quai nón, lại đeo kính râm, rất ít nói và cũng rất ít cười, con người có vẻ bí hiểm như nhân vật Kỳ Phát trong tiểu thuyết trinh thám của Phạm Cao Củng. Gần như mỗi ngày đều có người mới tới bàn công việc với các chị. Làm việc bí mật ở nhà này là bảo đảm. Nhà ở phố vắng, chỉ có một chủ, gia đình tôi tuy ở chung nhưng ra vào lặng lẽ không có ý tò mò việc riêng của người khác.

Đầu tháng 8 có nhiều người mua đồng nát, lông vịt, ve chai tấp nập tới gõ cửa, kỳ thực chả có mua bán gì, họ lấy từ dưới đáy thúng từng xấp vải gói kỹ trong các bọc giấy đưa cho hai chị. Vải đỏ và vàng may cờ. Nhà có hai cái máy may, các chị và tôi hì hục khiêng vào buồng trong giáp bếp và ngồi may từ sáng sớm đến nửa đêm. Rồi mẹ tôi cũng vào may giúp. Bác tôi hỏi : "Mấy cô may vá gì mà đạp máy suốt ngày thế ?" Mẹ tôi nói : "Có một hội từ thiện nhờ may quần áo vải xấu để phát chẩn" Bà lại hỏi : "Người ta có trả tiền công không ?" Chị Nga nói : "Chuyện phúc đức ai lại ngửa tay lấy tiền công". Bà cũng không hỏi gì thêm. Bà bếp phải tự đi chợ, tự nấu ăn. Bữa cơm nghèo nàn hẳn nhưng bác tôi trở nên rất dễ dãi, có gì ăn nấy, không mắng mỏ, phiền trách ai, chỉ có cái nhìn của bà cứ khinh khỉnh, thỉnh thoảng lại nhếch mép cười nhạt là làm người khác không yên tâm mà thôi.

Rồi cách mạng tới. Một Hà Nội và một Tháng Tám đỏ rực, trẻ trung và cởi mở. Không có tiếng súng nổ, không có một ai chết nên càng vui. Người bị thua thiệt nhất là nhà vua cũng còn cảm thấy vui, thấy tự hào vì được làm công dân một nước Việt Nam đã độc lập. Cách mạng thành công được vài ngày thì hai bà chị tôi được gọi đi làm. Tưởng làm gì hóa ra làm cấp dưỡng cho một cơ quan an ninh của cách mạng đóng ngay tại Sở Liêm phóng cũ. Hai người cùng gầy nhỏ, cùng yếu ớt, từ nhỏ tới lớn chưa từng làm việc nặng, chưa phải hầu hạ ai, bây giờ phải dậy từ mờ sớm để đi chợ, phải nấu cơm ngày hai bữa cho mấy chục người ăn mà vẫn khỏe khoắn, vẫn tươi cười, còn như trẻ ra, đẹp ra. Mới hay cái phép thiêng của một niềm tin, của một tình yêu có thể cải tử hồi sinh là chuyện có thật.

Nhân nói chuyện vui trong một bữa cơm có đông đủ cả nhà, mẹ tôi hỏi bác tôi :

- Bác có biết chúng nó theo Việt Minh từ ngày còn bí mật không ?

Bác tôi cười khẩy :

- Không biết mà tôi chịu để chúng nó chạy rông ngoài đường cả ngày.

Cả mọi người đều không hiểu. Bác tôi lại nói :

- Cái thằng trắng trẻo hay cười tao thấy được. Còn cái thằng để râu mang kính nếu chậm vài tháng không khéo thì bị bắt. Trông như thằng mật thám ai thấy mà chả ngờ.

Ở trên gác có cửa sổ nhìn xuống sân trong, cửa có treo rèm nên không thể biết người đứng sau rèm nhìn xuống.

4.
Cuối năm 1946 gia đình tôi rời Hà Nội về thị xã Hưng Yên là quê ngoại. Rồi kháng chiến toàn quốc. Suốt tám năm đánh Pháp tôi không được biết tin tức gì về gia đình bác tôi. Năm 55 tôi trở về Hà Nội mới tới thăm bác. Bác đã ngoài bảy mươi, sống với con dâu và các cháu. Người con trai cả là bác sĩ trong quân đội Pháp bị mìn chết trên đường 5 vào đầu năm 53. Người chết, của đi theo người, lại đông con, cả mấy mẹ con đều sống cơ cực, ăn cũng không được no, bác tôi cũng phải chịu khổ theo đến tiền mua trầu vỏ cũng không có. Tôi biếu bác ít tiền nhân lấy được tiền nhuận bút sách, bác cầm tiền bằng cả hai tay, nói nịnh nọt : "Tôi cám ơn cậu, thỉnh thoảng cậu lại thăm tôi nhá". Hai chị tôi đều đi theo kháng chiến và đã lấy chồng, đã có con, nghe nói thế, chứ chưa có chị nào đem chồng con về thăm mẹ cả. Năm sau bác tôi mất nhưng tôi đang đi công tác nên cũng không được gặp các chị. Năm 70, tôi có việc phải về huyện Yên Mỹ thuộc tỉnh Hưng Yên. Phố huyện trở lại đông vui vì Mỹ đã ngưng ném bom miền Bắc từ cuối năm 68. Tôi đang đi phất phơ nhòm ngó mấy gian hàng lụp xụp bán dép gọt bằng lốp xe thì có người gọi tên. Tôi quay phắt lại, một bà to mập, mắt má sụng sịu, bèo nhèo, tóc cắt ngắn đã bạc quá nửa đứng ở cửa hiệu chụp ảnh đang nhìn tôi chằm chằm. Một người lạ hoàn toàn nhưng tôi vẫn trả lời : "Vâng, tôi là K. đây". Bà ta bước vội lại cầm lấy tay tôi kéo luôn vào trong nhà : "Vào đây, vào đây, mày là đáng ăn đòn !" Tôi mặc quân phục, đeo quân hàm thiếu tá, cao lớn, oai vệ mà bà ta dám mày tao chắc phải là người thân thiết lắm, nhưng là ai nhỉ ? Bà ấn tôi ngồi xuống ghế, khuỳnh tay đứng trước mặt, cười cười : "Thằng ngố, không nhận ra chị, hả ?" Trời ơi, chị Linh ! Chị Linh ơi, sao chị già nhanh thế, xấu nhanh thế ! Nhưng tôi chỉ kêu trời ơi rồi nước mắt trào ra chứ không dám nói thêm. Một người đàn ông tóc húi ngắn, bạc trắng, cởi trần, mặc quần cộc lừ lừ từ gian trong bước ra. Chị nói : "Anh đấy !" Tôi đứng lên chào, ông ta khẽ gật đầu nhìn vào quân hàm tôi mang trên cổ áo, nói cộc lốc: "Thiếu tá mà trẻ quá nhỉ ?" Chị Linh nói : "Cậu này là em tôi, con bà dì ruột". Ông ngồi ngay trước mặt kéo cái bát điếu nhơ nhớp những bã thuốc, tàn đóm, nói khàn khàn : "Bây giờ chị em mới gặp nhau à ?" Hiệu ảnh gì mà chật quá, bẩn quá, ông ấy làm nghề chụp ảnh sao ? Chị nói, nghề làm ảnh là nghề kiếm cơm của chị, còn anh là y sỹ của bệnh viện huyện đã nghỉ hưu. Tôi hỏi :

- Còn anh gì...

Anh gì tôi cũng không được biết tên, cũng chưa lần nào tôi hỏi tên, biết anh lúc đang còn là bí mật, cách mạng thành công rồi anh không hay đến nhà vì họ đã gặp nhau hàng ngày ở cơ quan nên càng không muốn hỏi. Anh gì nhỉ ? Chị cười rất buồn :

- Cậu muốn hỏi anh Hạnh phải không ? Anh ấy là người chồng trước của chị. Anh chị đã có với nhau được một đứa con gái thì anh mất vì bệnh sốt rét ác tính ở Việt Bắc. Năm 51 chị mới làm bạn với anh Tùng đây, lại có thêm hai cháu nữa. Chả bao giờ chị quên được những ngày ở phố Đỗ Hữu Vị, đẹp quá, vui quá, K. nhỉ ?

Tôi chả nói được gì cứ ngồi ngẩn ra mà nhìn bà chị vừa tìm lại được, lòng dạ nôn nao vì những đổi thay. Chị nói không được tự nhiên lắm :

- Cũng trưa rồi, cậu ở đây ăn cơm với anh chị nhé !

Tôi chưa kịp từ chối thì ông chồng đã nói luôn :

- Cậu cứ ăn ở trong ủy ban huyện rồi ra đây chơi với anh chị. Nhà có hai vợ chồng ăn uống qua quít cho nó xong bữa, mời khách thế nào được.

Trưa ngày hôm sau tôi ra chào anh chị về Hà Nội. Chị Linh dặn, có dịp lên Tuyên Quang thì rẽ vào thăm vợ chồng chị Nga. Ông chồng cũng là người tôi có biết, là cái anh chàng mang kính để râu, bí hiểm như một nhân vật trong tiểu thuyết trinh thám ấy. Anh ta là liên lạc viên của nhóm, là dân mới nên thích khoe cái bộ dạng "hoạt động bí mật" của mình. May mà cách mạng thành công sớm ! Tôi hỏi địa chỉ chị Nga thì bà vợ quay lại hỏi ông chồng, ông chồng chạy đi lục tìm một lúc rồi quay ra gắt vợ, đã lâu không ai gửi thư cho ai nên cũng quên mất cả địa chỉ.

Tôi buồn bã xách cặp ra bến xe Yên Mỹ không dám ngoái đầu nhìn lại một lần nào. ờ, mà cũng chẳng nên buồn bực làm gì về sự tầm thường của một đời người, nó vẫn là thế, mãi mãi là thế. Có điều, ai ai cũng có những năm tháng đã sống cho một niềm tin, cho một tình yêu, cho những mộng tưởng có nhiều phần hư ảo. Những giấc mộng đẹp, những cách sống đẹp, những mặt người tuyệt đẹp thời nào cũng có xuất hiện nối tiếp nhau cho tới vĩnh viễn.
    Tháng 8 năm 1992
Chân Trời Tím

0
                       Cái thời lãng mạn
                          Nguyễn Khải
 
Tôi về xã Đồng Tiến là do sự rủ rê của một người bạn. Tức là anh Biền. Ngày trước Biền là trưởng ban hành chính của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, ra quân năm 1958, năm ấy anh mới hai mươi bốn tuổi. Anh trở về làng phải vật lộn với miếng ăn mất vài năm, năm 1961 được bầu vào đảng ủy xã, năm 1962 làm chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp toàn xã và là người có học vấn cao nhất trong số cán bộ xã thời bấy giờ.

Các mối quan hệ giữa tôi với anh, giữa tôi với ban thường vụ đảng ủy xã, với gia đình này gia đình kia trong ít ngày "thâm nhập thực tế?" đã được tôi canh cải chút ít để đưa vào một truyện vừa. Là do cái tài mình kém, cái khả năng tưởng tượng khô cằn, cứ phải bám dựa vào một hình mẫu nhất định nên mới sinh ra lắm chuyện rắc rối. Rắc rối ngay với mấy người lãnh đạo của xã nên tôi chỉ còn một cách là im lặng, vì anh em đang giận mình, có thanh minh gì cũng khó lọt vào tai đương sự. Năm tháng qua đi, nhiều việc lớn ập đến, cái giận của ngày nào, cũng đã nguôi ngoai dần, có thể gặp mặt nhau để bình tĩnh nói lại về mọi sự cho hiểu nhau hơn. Nhưng vẫn chưa có cơ hội trở lại. Mãi tới hăm bốn năm sau. Một khoảng thời gian đủ dài để gói trọn một cuộc chiến tranh, nhiều đời người, nhiều buồn vui và bao nhiêu là thay đổi trong các mối quan hệ. Như đã sang hẳn một kiếp khác. Giờ phút đầu tiên đặt chân lên quê hương của một tác phẩm tôi đã nghĩ đúng như thế. Ngày mới đến xã lần đầu tôi đi xe lửa tuyến đường Hà Nội - Yên Bái, tới ga Tiên Kiên bốc xe đạp xuống, rồi cứ thế đạp, xuống dốc, lên dốc lại xuống dốc, trời rất nắng, hai bên là đồi, đồi trọc nhiều hơn nên càng nắng. Lại phải tìm xã, đạp vượt lên cả ba bốn cây lại đạp vèo vèo lộn lại, mà không thấy mệt, đạp xe cả ngày cũng chưa thấy gì là mệt. Còn bây giờ, thôi, chẳng nên nói một chút gì về cái bây giờ của mình vì nó không được vui. Sức khỏe không vui, cuộc sống cũng chưa vui, đọc lại những gì mình đã viết trong bấy nhiêu năm lại càng không được vui cho lắm.

Lần này tôi về xã Đồng Tiến bằng xe hơi, tất nhiên là đi nhờ xe của tỉnh, nhưng một người viết mà đi xe hơi xuống xã vẫn cứ buồn cười thế nào. Xe chạy thẳng vào ủy ban xã, xuống xe còn hỏi: "Bao giờ thì đến Đồng Tiến?". Dọc đường đến xã tôi không nhận ra một chút gì quen thuộc. Mới lạ hết, kể cả khu nhà máy phân lân. Vì một nhà máy đang hoạt động rất khác với một công trường ngổn ngang xộc xệch những đất đá, những lớp rào, những cần cẩu. Mấy người tôi gặp đầu tiên là bí thư đảng ủy xã và chủ nhiệm hợp tác xã. Người ba mươi tuổi, người ba mươi lăm tuổi, một người vốn là cán bộ chăn nuôi trên huyện, một người là kỹ sư nông nghiệp, nhưng trước đó anh đã là bộ đội ở chiến trường. Cũng mới cả. Cũng không thể quen biết. Hăm bốn năm trước họ là những ai nhỉ? Là một lũ trẻ con làm sao mình có thể biết! Tôi không được biết anh em, nhưng anh em thì có biết tôi. Bí thư đảng ủy xã là con rể ông Tuy Kiền mà. Oan gia lại đối đầu, tôi cười với mình nghĩ thế.

- Ông già năm nay đã tám chục chưa? - Tôi hỏi.

- Kém một tuổi tròn tám mươi, nhưng ông bủ tôi còn khỏe. Năm nọ ốm cả tháng đã tưởng chết.

- Ông già còn giận tôi không?

Bí thư xã nhìn tôi bằng cặp mắt rất dài, gương mặt dài, miệng rộng và tươi.

- Hồi xưa thì có giận nhưng gần đây ông bủ lại hay nhắc đã lâu không thấy anh về chơi.

Tôi nói đùa đùa:

- Tôi với anh coi như đã có quen biết nhau từ trước, từ ngày anh về làm rể ông bủ Kiền. Còn ông chủ nhiệm bây giờ có dính líu gì đến ông chủ nhiệm ngày xưa không?

Chủ nhiệm hợp tác xã gầy, cao, da mặt tái sạm, mười hai năm sau chiến tranh vẫn chưa dứt hẳn cơn sốt rét.

- Có chứ, tôi là em rể cái ông chủ nhiệm anh viết trong sách ấy.

Làng xã của mình là thế. Họ hàng rồi mới đến làng nước. Chỉ trỏ vào mặt nhau nói là tôi là ông, là anh này là thằng nọ, rồi trời xui đất khiến thế nào lại là con rể, là cháu rể, là em rể nhà người ta, nghĩ lại mới ngượng. Các cuộc đấu tranh thì qua đi, còn họ hàng làng xã vẫn nguyên đấy, nên làm gì nói gì cũng phải nghĩ lui nghĩ tới chứ không thể vô tư, xổng xểnh như các nơi chạ người. Cơ quan, xí nghiệp là nơi chạ người. Nơi chạ người nói gì cũng được. Không làm ở đây thì làm ở kia, đâu có buộc được mình cả đời.

Lại một ông nào nữa ria mép râu cằm đen đúa một nửa mặt, lững thững từ sân bước lên hè, từ hè vào phòng tiếp khách, không chào hỏi một ai cả, đứng ngay trước mặt tôi, hỏi sõng sượt:

- Thử xem còn nhớ ra nhau không nào?

Là người quen à? Ai thế nhỉ? Vẫn lạ lắm.

Người kia vẫn tiếp tục thách thức:

- Quên hả? Ông quên tôi thật hả?

Nói rồi há mồm cười. Tôi đứng vụt lên, kêu to:

- Ninh em Khang phải không?

Nin bước vòng qua mép bàn, nắm chặt lấy hai cánh tay tôi lay nhè nhẹ, cái cười như chợt cứng lại vì xúc động.

- Đi lâu thế, đã tưởng không bao giờ trở lại nữa. Năm nay anh bao nhiêu tuổi rồi?

Tôi cười gượng gạo, buồn rầu:

- Đừng hỏi tuổi tôi, còn em, để im mình tính, năm ấy là mười bảy, năm nay bốn mươi mốt phải không?

- Thằng con lớn của tôi năm nay đã mười bảy.

Ninh ngồi kề sát tôi. Tôi cũng tì khuỷu tay lên cánh tay hắn. Hắn cứ nhìn tôi mủm mỉm cười. Râu ria gì mà khiếp. Chốc chốc hắn lại nói nhỏ: "Chóng thế! Chóng thế!" Tôi cũng nói: "Chóng thế! Chóng thế!". Từ lúc này tất cả đối với tôi đã hóa ra quen thuộc, thân thiết. Vì có Ninh ngồi cạnh tôi. Bí thư xã hỏi tôi sẽ làm việc với xã vào buổi nào còn "bố trí thời gian". Làm việc à? Làm việc gì nhỉ? Tôi không có ý định làm việc mà chỉ nhằm trong vài ngày ngắn ngủi tới thăm lại bà con và bạn bè quen thuộc. Tôi trả lời thế nhưng xem chừng cả hai người lãnh đạo của xã đều không muốn tin. Làm sao mà tin ngay được sự vô tư đó, vì tôi đã từng gây rắc rối cho xã một lần rồi. Họ lại hỏi tôi sẽ ăn ở đâu, nghỉ ở đâu. Ninh trả lời liền là tôi sẽ ăn nghỉ tại nhà hắn. Chủ nhiệm nói chúng tôi có nhà tiếp khách, có bếp ăn tập thể, ăn nghỉ tại đó rất tiện. "Chúng tôi sẽ cử người đến làm việc với anh, theo yêu cầu của anh". - "Thì đã bảo tôi không có ý định làm việc. Tôi đi chơi mà". Hai người lãnh đạo lại nhìn nhau. Bí thư xã nói trước: "Hiện nay ở xã đang có mấy chuyện phức tạp...". Chủ nhiệm nói chữa: "Gọi là phức tạp nhưng thật ra cũng không có gì..." Tôi nói: "Trước khi về tỉnh, thể nào tôi cũng xin được gặp các anh một buổi". Hai người lãnh đạo lại nhìn nhau và đồng ý. Ninh ngồi cạnh tôi không nói gì thêm, chỉ mủm mỉm cười. Tại sao hắn lại cười?

Ninh đứng ở sân ủy ban, hỏi tôi: "Anh còn nhớ chỗ này là chỗ nào không?". Một dãy nhà rất dài khoảng mươi gian nhưng chỉ có hai gian mở cửa để làm việc và tiếp khách, còn các gian khác đều khóa ngoài, một dãy nhà ngang cũng khóa. Và cái sân đến là rộng, là sân phơi ngày trước thì phải, lát gạch hẳn hoi nhưng cỏ mọc giữa các vuông gạch đã cao gần đến bụng chân và rất nhiều thanh sắt để ngổn ngang trong đám cỏ. Là nơi nào nhỉ? Cái khu vực nhộn nhịp, vui vẻ của hai chục năm về trước, có phòng truyền thanh của Hiềm, có cái giếng rất trong mỗi tối tôi đến tắm, một lối đi thật đẹp bao ngoài với hàng dừa che rợp một vùng ao, là ở xóm nào nhỉ? Là xóm Đông Chấn, Bái Tỉnh hay Bình Chính?

- Là nó đấy, sân phơi đấy, chỗ anh vừa ngồi là phòng truyền thanh của ông Hiềm đấy.

Tôi bước lướt lên gần như chạy, rẽ đám cỏ đi ngang qua cái sân mênh mông, rồi từ bậc thềm của dãy nhà ngang hoang vắng nhìn ngơ ngác xung quanh, lại cúi đầu đi dọc cái hành lang hôi mốc, tới tận góc sân đầu kia bần thần nhìn ngược lại. Là nó thật sao? Đã xa xôi đến thế ư? Đã hoang phế đến thế này ư?

2.
Tôi vẫn cắm cúi đi trước, đi rất nhanh, như người đã thuộc đường, Ninh phải rảo chân mới theo kịp.

- Không vào nhà bủ Kiền hả? - Ninh hỏi sau lưng tôi.

- Không!

- Đến nhà ông cả tôi chơi một lát. Ông ấy vẫn nhắc anh.

- Thôi, để khi khác.

Một tiếng cười ở phía sau:

- Đến cổng nhà người ta rồi, còn thôi thôi cái gì.

Đúng là quên thật, quên hoàn toàn. Cứ nghĩ cái cổng nhà anh Phúc có hai cây duối hai bên, có những bậc đá đặt xô lệch dễ trượt ngã. Hóa không phải, cảnh trong truyện tôi viết thế, lâu dần lấy cảnh hư thay cho cảnh thật. Nhà không có cổng, không có bậc đá, mảnh sân rất hẹp, nhà ngang vẫn như cũ, nhưng nhà trên hình như có xây lại. Tôi nhận ra ngay vợ anh Phúc, những người đàn bà nhỏ nhắn thường ít thay đổi, nước da vẫn mịn, răng vẫn đen, tóc cũng còn đen.

- Chắc là chị quên tôi rồi? - Tôi hỏi.

Chị nhìn tôi chăm chú:

- Nom mặt thì quen lắm nhưng không nhớ tên.

- Thằng Đa nhà chị năm nay nó hăm mấy?

- Nó sinh năm ta thắng Điện Biên, phải băm mấy chứ. Ông biết nó à?

- Năm tôi đến đây bằng tuổi nó bây giờ. Ba mươi ba phải không?

Thế là chị kêu rộn lên:

- Ông Khải! Nhớ rồi! Dạo trước gầy mà xanh, sao bây giờ to béo thế. Ông Phúc ơi, ông Khải về chơi!

Có tiếng người từ trên nhà hỏi xuống, giọng anh Phúc:

- Ông Khải nào?

Tôi bước lên hè cười cợt:

- Sao bảo lâu lâu vẫn nhắc lại còn hỏi Khải nào.

- Thôi chết! Ông về chơi thật đấy à?

Anh Phúc ngồi bó gối trên giường, mà gầy quá, da mặt trắng bủng, cánh tay bàn tay vừa gầy vừa trắng. Còn mắt chỉ có hai hốc mắt sâu hoắm thôi.

- Tôi hỏng mắt mấy năm nay rồi. Giàu hai con mắt...

- Chắc là ông để muộn quá.

- Bác sĩ trong nhà, muộn thế nào. Thằng Đa đưa tôi lên bệnh viện mắt Hà Nội, chạy chữa một tháng chỉ cứu được một mắt, hai năm sau múc nốt con mắt còn lại. Con người ta tránh được việc chứ không tránh được nghiệp. Với lại, mọi sự đối với tôi tạm gọi cũng là xong.

Là xong chứ, xong đẹp đẽ, chu tất, không thể nói là tạm được. Lần đầu tiên đến cái nhà này, cách đây đã hai chục năm, tôi nghĩ về anh có khác. Năm ấy anh chỉ hơn tôi khoảng vài tuổi mà đã rất chững chạc, chững chạc và đắn đo và thăm dò. Như lấy làm khó hiểu và có phần nào hãi sợ tất cả những gì đang diễn ra xung quanh anh. Gia đình anh vào hợp tác xã nông nghiệp ngay từ đợt đầu, hai đứa em thứ ba và thứ tư lần lượt đi bộ đội (người em thứ hai đi bộ đội từ năm chống Pháp), anh ở trong tổ nuôi cá giống vốn là nghề cũ của làng. Ba đứa em nhỏ ngoài giờ học thì làm ruộng, làm gạch, chăn trâu lấy điểm. Làm ruộng có vụ, những tháng rảnh rỗi vợ anh lại chạy chợ, gặp gì buôn nấy, còn anh vẫn có nghề may, may lối cũ cũng được mà lối mới cũng được. Là một gia đình rất nền nếp, có gia phong, dầu bố mẹ chết sớm, từ năm anh Phúc mới mười bảy tuổi. Nhưng anh luôn luôn giữ một khoảng cách nhất định với mọi cuộc vận động của xã. Cũng tham gia như mọi người nhưng không gắn bó. Là nghĩa vụ chứ không là niềm vui. Tin có ít mà ngờ thì nhiều. Anh cùng một trà tuổi với tôi, là người lao động, người kháng chiến mà cách nhìn nhận thế sự giữa chúng tôi lại còn nhiều khác biệt. Ngày ấy ở xã có chuyện bí thư chi bộ gả chồng cho con gái theo kiểu bán, giá tiền là từng ấy, thuận mua thì đem nhau đi, bất kể cái đứa chồng tiền là thằng nào. Tất cả mọi người đều lấy làm lạ, riêng anh Phúc thì bình luận thản nhiên: "Cái họ nhà ấy tôi biết, xưa nay vẫn coi đồng tiền lớn hơn mả tổ, có lạ là người như thế lại được bầu làm bí thư chi bộ".

Tôi rất mê anh Biền là chủ nhiệm hợp tác xã lúc bấy giờ. Là người có quyền mà không tham là hiếm lắm. Anh Phúc cũng đồng ý như thế nhưng lại bảo: "Lúc này cậu ta đang tham cái lớn hơn nên biết bỏ qua những cái nhỏ". Tôi hỏi: "Cái lớn hơn là cái gì?" Vẫn cái giọng dửng dưng: "Trẻ hám danh, già hám lợi, cái lý là như thế!". "Thế còn ông Tuy Kiền?" Anh Phúc mủm mỉm cười: "Ông này thì hám lợi đứt đuôi rồi, nhưng có đáng là bao, ai chả thế. Có tức là tức cái đứa không làm gì mà lại ăn rất bẫm kia". Khi tôi hỏi anh vì sao nhiều gia đình không dốc hết sức mình vào sản xuất nông nghiệp, lại chạy ngang chạy dọc như một thứ tiểu thương ở nông thôn thì anh đáp: "Không làm thế có mà đói to, anh cứ nhìn mấy thằng em tôi ngồi ăn thì biết". Tôi nói: "Dốc hết sức vào cây lúa tự khắc sẽ đủ ăn. Người trồng lúa không đủ ăn còn ai đủ". Lại cười, cái cười lấp lửng đến là nhiều ý nghĩa: "Cái lý chung là như thế, nhưng trong thực tế chưa hẳn đã là thế" - "Vậy cái thực tế ấy là thế nào?". Anh đắn đo phải một lúc mới trả lời, là do đã tin tôi lắm, đã thân với tôi lắm nên mới trả lời, còn ngồi chỗ khác với người khác dễ gì dám nói. Mà nói làm gì, nói xuôi thì không thể, nói ngược chỉ hại đến thân thôi. Đại để, theo ý anh Phúc, nơi nào ruộng đất có ít, người phải nuôi lại nhiều thì nên để nông dân tự lo lấy miếng ăn của họ. Một nhà người, già trẻ lớn bé, xúm quanh một mảnh ruộng, bóp từng hòn đất, nhổ từ cọng cỏ, mài đến nhẵn bóng mọi góc bờ làm gì mà không đủ ăn. Có mấy thước vườn còn nuôi sống được người huống hồ những mấy sào ruộng! Đất đã ít lại tập thể, lại họp hành, lại đấu tranh, rồi biểu đồ này thống kê nọ, rồi tính rồi toán, cứ rối như canh hẹ, rút lại có cái cốt tử là miếng ruộng thì để nó đứng trơ một mình như con côi con ghẻ. Anh nói: "Cái của ngọc thực vốn bện hơi người, mà phải là hơi người quen chứ không nên là hơi người lạ, mới ra hoa ra quả được. Anh cứ ngẫm mà xem...".

Năm ấy, tôi biết mấy ông xã không thích tôi đi lại quá nhiều với gia đình ông Phúc. Có thể vì nhà ấy đông anh em quá, họ hàng thân sơ của một chi cũng đã chiếm đến góc làng. Lại cũng không phải là những người ngu hoặc quá hiền, việc gì cũng biết, chuyện gì cũng tường, không nói thì thôi, đã nói rất khó bắt bẻ. Lại cũng có thể anh em nhà họ là gia đình kháng chiến, thực hiện các chính sách rất nghiêm chỉnh, nhất là chính sách nghĩa vụ quân sự, đời cha đời ông không làm điều gì phi nhân thất đức, nên họ có quyền chỉ trích, có quyền phản đối, có quyền phát đơn kiện tụng nếu họ muốn mà không một ai dám ngăn trở hoặc đe nẹt. Nên mấy ông làm việc ở xã mới ngại, mới ghét, không muốn một anh nhà văn nhà báo lui tới chơi bời với anh em họ, sợ sinh biến.

Tôi thích lai vãng tới gia đình này chỉ vì một lý do rất đơn giản: Tôi đang mê say người em thứ tư của anh Phúc mới ở bộ đội về, tên là Khang, sẽ là một mẫu người lý tưởng của tôi trong một truyện nào đó, sắp tới. Đã tính thế. Thêm nữa, đến với anh em họ rất vui, những đàn ông là đàn ông, ra vào nguềnh ngoàng, ngồi đâu cũng có người, đứng đâu cũng gặp người, toàn là người thích nói vui nên mình cũng vui lây. Chỉ nói vui thôi chứ không nói xấu một ai, châm chọc một ai, hoặc bàn luận việc này việc nọ của xã mà họ không bằng lòng. Tôi biết là anh em họ không bằng lòng nhiều chuyện nhưng họ chỉ nói nhỏ với nhau thôi, chắc vậy, chứ không để lọt vào tai người ngoài. Chẳng phải vì sợ mà chỉ vì họ không thích thế.

3.
Mấy chục năm sau trở lại, nhà rộng hơn xưa nhiều, mấy đứa em đã có những cơ ngơi riêng, nhưng nhà vẫn chật, vẫn rất là lắm người vì một dãy con trai đã trưởng thành. Rồi hai đứa đi bộ đội mới về. Đứa làm nhà máy đã ở riêng nhưng vợ chồng nó vẫn bế con sang gửi ông bà và xin ăn một bữa cơm trưa. Vẫn là một gia đình rất vui, toàn nói những chuyện vui. Chả biết ông chủ có được vui không, xem chừng ông bằng lòng với số phận, mà đã bằng lòng là lại tìm ra những cái cớ để vui. Nhìn anh Phúc đi đôi guốc mộc cao, lần theo vách nhà bước xuống hiên, rồi từ hiên víu lấy cái má cột thả dò dẫm từng chân xuống mà sợ. Con cái thì ngồi cả đống, chả thấy có đứa nào chạy ra dắt đỡ. Tôi bảo thằng con thứ hai làm ở nhà máy phân lân: "Xem bố mày đi đâu kia!" Nó cười: "Đừng có mó máy vào người ông ấy mà nghe chửi. Ông không thích có người dắt". Tôi nói: "Lỡ ngã thì chết". Nó vẫn cười: "Có mình ngã chứ bố cháu làm sao mà ngã". Mù mà vẫn sạch, chỉ có rửa mặt với chân tay trước lúc ăn cũng phải kỳ cọ cả giờ. Gia đình và tôi ăn cơm ở bàn, còn ông chủ xin phép được ăn riêng, một bát cơm đã có sẵn thức ăn, một đôi đũa bày trên cái khay nhỏ do bà vợ bưng lên để bên cạnh. Ông chủ ngồi co chân một góc giường, bát cơm đặt hờ trên gối, cúi đầu và thong thả từng miếng nhỏ, cái đầu như rất nhẹ, cả thân người vừa bé vừa nhẹ, dầu đã cạn rồi, chỉ còn cháy bằng cái tàn than ở đầu ngọn bấc thôi. Quay lại với mấy đứa con anh Phúc ngồi hầu cơm ông nhà báo, bạn cố tri của gia đình, mà buồn cho mình quá. Vì cái cháy lên của tôi trong trò chuyện với chúng nó đã khó nhọc lắm, cháy lên để tỏ ra mình chưa lụi, chưa thể lụi, kỳ thực cũng đã bắt đầu cháy bằng cái tàn bấc rồi. Cả ba thằng đều cao lớn, đẹp đẽ, lại râu cằm, lại ria mép, cái nhìn từng trải, cách nói lịch thiệp, khôn ngoan hơn các chú nó ngày xưa nhiều, mới biết thời thế đã đổi thay, một đời người là ngắn ngủi. Đã ngắn lại còn những mơ mộng hão huyền, những tham vọng vớ vẩn, những việc làm vô ích và buồn cười nên lại càng ngắn. Lúc khôn ra, tỉnh ra, hiểu ra thì già mất rồi, làm lại không được, nên buồn, buồn và giận, giận mình là chính chứ không dám giận đời, đời vốn nó là thế, mãi mãi là thế, mình muốn cưỡng lại nên mới sinh ra nhiều sự hồ đồ, sinh ra ân hận, sinh ra buồn bực lúc tuổi già. Cái tuổi bắt đầu già...

Năm còn trẻ tôi nhìn các ông già như một đẳng cấp xa lạ, nể sợ và tò mò vì mình không thể biết, đã già bao giờ mà biết! Bây giờ tôi đã được đứng trong cái đẳng cấp cao quý đó rồi, nhìn lại bọn trẻ cũng vẫn nể sợ và tò mò dầu mình đã có nhiều năm là chính họ. Nhưng cái thời mình khác, cái thời họ khác, nghĩ ngợi và hành động không còn giống nhau, tưởng tượng về nhau cũng khó nên rất lạ. Với cái lạ, cái tò mò tôi đã làm một cuộc phỏng vấn chớp nhoáng với một trong ba đứa con của anh Phúc, cái thằng theo tôi nghĩ là sắc sảo nhất, tự tin nhất, dám nói những điều mà bạn bè nó chưa dám nói. Tên hắn là Định, đứa con trai thứ tư của anh Phúc, năm nay hăm bốn tuổi, mới xuất ngũ năm ngoái, vừa đúng cái khoảng cách một lần đi và một lần về của tôi ở xã Đồng Tiến. Mắt xếch, cái miệng thật lém, da trắng, lại tóc dài, lại một chút ria loáng thoáng; cái áo pun màu xanh đậm, cái quần nhung nâu đã cũ, đi đôi dép Nhật, là một chàng trai của hôm nay, có thể sống rất thoải mái, rất tự nhiên như ở chính nhà mình bất cứ một thành phố lớn nào trong cả nước.

Tôi hỏi:

- Nhà này được chia mỗi vụ bao nhiêu cân thóc?

Định:

- Hơn hai tạ, một ngày công ở đây có sáu lạng rưỡi. Vụ nào được là cân mốt. Nhà này có mười hai miệng ăn, một ngày thổi bốn cân rưỡi gạo. Ăn được khoảng một tháng, còn lại năm tháng phải sống bằng những nguồn thu khác.

- Là những nguồn thu nào?

- Nuôi cá bột như thời chú mới đến đây ấy.

- Cái thời tao mới đến đây mày còn ở các nước Nam Nứ nào, làm sao mà biết?

Định cười, cái cười gống chú Khang nó hết sức:

- Đọc truyện của chú thấy viết lia lịa về cá con, cứ y như người của cái làng này.

Tôi nói trêu:

- Cái anh quẩy đôi thúng sơn vừa đi vừa lắc chả hợp chút nào với bọn mày hôm nay, bẻo lẻo như thằng bán cá con, hai mươi hăm mốt, con này tốt bốn mốt bốn hai...

Định hơi đỏ mặt nhưng vẫn cười cợt:

- Bây giờ văn minh hơn xưa nhiều rồi. Ví như nhà cháu có hai cái máy cô-le, bơm nước vào hút nước ra ao lớn cũng chỉ trong đêm là xong, mờ sáng cho cá vào sọt lót nilon, đặt lên xe máy mỗi bên một sọt, rú ga chạy vù vù tới các mối mua quen đổ cá, chỉ nửa buổi đã phấp phới lượn xe về. Cũng không phải đếm nữa, mà là cân, cân khô, con nào chết bỏ, làm ăn như thế chứ.

- Một vụ cá nhà mày được bao nhiêu tiền?

- Khoảng vài trăm ngàn.

Tôi kêu khẽ: "a", rồi lại hỏi:

- Còn nguồn nào nữa?

- Bán rau giống, su hào, bắp cải, cà chua, hành, tỏi... Nhưng phải đi xa một chút, ngược tàu lên tận Yên Bái, Phố Lu.

- Một vụ rau có được khá không?

- Như vụ vừa rồi, anh em cháu thu hai trăm ngàn.

Tôi lại kêu nhỏ: "a".

- Còn gì nữa?

- Nuôi lợn.

- Nuôi lợn thì vất vả đấy.

- Chả có gì là vất vả. Nhà cháu toàn bắt lợn từ bảy chục cân về nuôi, có lúc bắt hẳn một con tạ rưỡi. Vỗ thế nhanh, mỗi ngày lên một cân thịt. Gọi là "nuôi phục", khi hợp tác xã cần lúa đổi lấy thịt là mình có ngay. Hiện nay trong chuồng cũng có một con gần hai tạ.

- Lỡ đang nuôi nó chết thì sao? Lỗ to!

- Lỗ thế nào. ở xóm này có một nhà được mổ lợn. Nửa đêm gà gáy nhìn con lợn kém vẻ tươi là gọi ông ta đến bắt liền. Lợn ốm nhưng ông ấy vẫn trả giá như lợn khỏe. Gọi là mối quan hệ hữu nghị, giữa người nuôi lợn với người mổ.

Anh Phúc nói thêm:

- Còn là ngân hàng cho vay vốn của bọn chúng nó nữa đấy.

Tôi giương mắt nhìn Định:

- Là thế nào?

Định lại cười:

- Là bất cứ lúc nào mình cần tiền mặt cứ đến ông ta mà lấy. Lãi suất rất nhẹ.

- Có thể vay được bao nhiêu?

- Trăm ngàn, hai trăm ngàn, tùy người.

Tôi lại "ồ" rồi quay sang hỏi anh Phúc:

- Mức sống bà con bây giờ so với năm nọ có khá hơn không?

- Hơn nhiều chứ, như nhà này cũng hơn, hơn gấp cả chục lần.

Tôi lại "a". Và lại hỏi:

- Đã có tủ lạnh chưa? Có ti vi chưa? Là hỏi khiêu khích chơi chứ cái vùng bán sơn địa này làm gì đã có điện để dùng những thứ sang trọng đó.

Định hỏi lại, rất thản nhiên:

- Chú đã đến thăm nhà ông Biền rồi chứ gì, cái ông chủ nhiệm gương mẫu trong "Tầm nhìn xa" ấy?

- Chưa, nhưng mà sao?

Anh Phúc gắt:

- Mình biết việc nhà mình thôi, nói nhà người khác làm gì.

- Nói tốt thôi, nói về sự hơn hẳn của hôm nay so với hôm qua. Cháu chắc nhà chú ở thành phố Hồ Chí Minh không thể bằng nhà ông Biền ở xã Đồng Tiến được. Cái vỏ ngoài là phải thua đứt rồi, cái ruột trong cũng thua. Nhà chú có tủ gương lớn gỗ lát không? Có tủ ly chén gỗ lát không? Có giường nằm và sa lông đóng kiểu mới cũng bằng gỗ lát không? Nhìn vào trong nhà cứ vàng chóe. Rồi rađiô cát sét, rồi ti vi màu của Nhật. Không có điện hả, cái bình ắc qui dùng để làm gì nhỉ? Một tuần xạc điện một lần, ở thị trấn có đến mấy cửa hàng xạc điện.

Tôi lại "a" nhưng đã tư lự. Rồi tôi lại hỏi:

- Nhà bí thư xã thì sao?

- Cháu không biết.

- Nhà chủ nhiệm hợp tác xã thế nào?

- Cũng chưa đến bao giờ.

- Mày là đảng viên chưa?

- Chưa, nhưng cháu xin làm dân thường thôi, người dân lương thiện và làm tròn mọi nghĩa vụ.

- Có định đi đâu nữa không?

- Không.

- Có đang phấn đấu cho một mục tiêu nào không?

- Có chứ, làm giàu, đã giàu muốn gì cũng được mà không ai dám khinh.

- Mày có thích đọc sách văn học không?

- Có, nhưng là sách tình báo thôi. Bữa nào ra chú nhớ mua giùm cháu một ít sách tình báo... sách dịch, chú nhá, cháu sẽ xin gửi lại tiền chú theo giá mua chứ không theo giá bìa.

- Mày cũng biết nhiều nhỉ. Cho mình hỏi một câu cuối cùng: Mày có nhận xét gì về công việc của xã không? Có thắc mắc gì không? Xưa kia chú Khang mày ở bộ đội về là tìm hiểu ngay tình hình của xã.

Lại cười:

- Chú ấy là nhà cách mạng, muốn cải tạo, muốn thay đổi nhiều thứ lắm, nhưng là hồi xưa thôi, cháu nghe nói lại thế. Còn bây giờ hai chú cháu rất thông cảm nhau, chú ấy cũng đang quyết tâm làm giàu mà.

Tôi hơi cau mặt:

- Người già có quyền đứng ngoài cuộc một chút, nhưng bọn trẻ chúng mày chả lẽ lại thích đứng ngoài?

Nó vẫn cười:

- Muốn nhảy vào cuộc là phải đấu đá nhau, để giành chỗ. Cái chung chả biết có tốt hơn không, chứ riêng mình chắc chắn sẽ nhơ nhớp hơn trước.

4.
Tôi nắm lấy tay Khang mà nước mắt muốn ứa ra. Thời gian chả ủng hộ chúng tôi một tí nào. Chỉ phá phách thôi. Vòng tóc mềm mại đen mướt năm nào đã rụng sạch, chỉ còn lại cái trán rất hói khô nhăn. Mắt vẫn còn lấp lánh cái màu nâu nhạt nhưng đã có túi rồi, đuôi mép cũng chảy rồi, hàm răng còn nguyên nhưng như dài ra vì chân lợi đã co lại. Một ông bủ năm chục tuổi, xấp xỉ với tuổi bủ Sen, bủ Kiền năm tôi mới tới đây. Cũng năm gian nhà ngói, sân gạch, bể nước, giường nằm gỗ lát, salon gỗ lát, đồng hồ treo tường, còn khang trang hơn cả nhà anh Phúc. Và một bầy con, đứng làm hai lớp bịt kín lối xuống nhà ngang để nhìn một ông khách rất lạ đến chơi với bố. Thằng lớn nhất khoảng mười bảy, mười tám tuổi đang cày vỡ mảnh vườn trước nhà cũng bỏ bò đấy chạy nhảo vào đứng cùng với các em, chốc chốc lại đưa mắt nhìn trộm tôi rồi lại nhìn nghiêng đi cười ngượng nghịu. Khang nói:

- Chúng nó biết bác đến từ tối qua. Phải nửa đêm mới về nhà chú Ninh, phải không?

- Tối được một lúc là về. Định sang anh ngay nhưng thấy nhà đã tắt đèn.

- Nhà tôi ngủ sớm, sớm dậy còn làm hàng.

- Làm hàng gì?

- Bánh rán. Dạo này mỡ đắt, đường đắt, đang định thôi.

- Nhà nhiều người, không làm thì ngồi chơi không à?

- Ờ, cũng nghĩ thế nên vẫn phải làm.

Tôi quay người ngắm nhìn bức tranh sống về một gia đình đông vui, những sáu đứa, nhỉnh hơn nhau một chỏm đầu, đám con trai cởi trần trùng trục, hai đứa con gái một lớn một nhỏ ăn mặc cũng lôi thôi. ở làng quê, làm nhà sắm đồ là quan trọng nhất, cho bằng anh bằng em, rồi mới đến ăn, sau ăn mới đến mặc.

- Chắc anh đã biết chuyện chúng tôi rồi chứ gì. Năm đứa là con của cô trước, thằng út là con của cô sau. Tôi đã nghĩ là phải chết trước vợ, mấy năm ấy tôi yếu lắm, toàn thổ huyết thôi, bảo là giãn phế quản. Nào ngờ lại góa vợ để rồi lại lấy thêm một đời vợ nữa.

Nhân vật Khang của tôi vừa kết thúc mọi sự phiêu lưu vặt vãnh trong địa hạt văn chương thì cuộc phiêu lưu thật sự trong đời sống mới bắt đầu. Mà những thử thách của cuộc sống mỗi ngày chả có văn chương nào tả nổi. Anh không ở lại xã mà cũng chẳng đi nông trường như tôi đã dự đoán một cách lãng mạn. Anh lấy vợ ngay năm sau đó rồi lên làm trên công an huyện. Làm cán bộ nhà nước vẫn nhẹ mình hơn làm anh cán bộ xã, có lương, có gạo, lại vẫn gần nhà. Tính như thế cũng được nhưng phải đẻ ít, hai con là vừa đủ. Vì cô vợ làm người của tập thể thì giỏi, làm người của gia đình lại vụng. Không biết xoay xở cho riêng mình là vụng. Đã vụng lại mắn đẻ, đẻ sòn sòn. Đẻ đứa con đầu, tức là cái thằng đang cày, thiếu sữa, phải nuôi con bằng sữa bò. Khổ rồi! Đến đứa thứ tư thì không còn gì để nuôi nhau nữa, khánh kiệt. Cứ mua mì thanh của anh em công nhân nhà máy về nấu với lá bánh tẻ rau khoai, chồng một bát loa, vợ một bát loa, ba đứa con ba bát nhỏ. Đẻ đến đứa thứ năm thì Khang mắc bệnh giãn phế quản, mỗi lần ho ra cả chén máu, đi hết bệnh viện này đến bệnh viện khác. Vợ ở nhà cứ lầm lũi nuôi một bầy con, mỗi năm một túng thiếu hơn và không có tí chút hy vọng nào vào tương lai. Tương lai là bà góa. Bà góa trẻ với năm đứa con thơ, lại túng thiếu, lại không thể ngửa tay xin anh xin em mãi. Lúc lấy nhau như long như phụng, đẹp đôi đến trời phải ghen, bạn phải tị. Mà hóa ra...

Tôi hỏi:

- Bệnh tình của chị ấy thế nào mà bệnh viện phải bó tay?

Một chuyện đã xảy ra từ năm sáu năm về trước, đã lấy vợ khác, đã có một đứa con thêm mà vẫn ngắc ngứ rất lâu mới nói được, cứ nhìn tránh đi mà nói, vì tôi biết cô ấy, biết lúc họ khủng khỉnh với nhau rồi lại làm lành với nhau, biết lúc họ không nói gì đến cái ăn cái mặc, đến vật chất mà chỉ khắc khoải về tình yêu, về lý tưởng, về chỗ đứng của mình trong xã hội.

- Chả có bệnh gì cả, Khang nói. Cái bữa đó là vào buổi chiều, cô ấy đi lấy phân trâu về đến nhà cứ kêu rát vai. Tôi nhìn vai thấy có một vòng đỏ, như cái mụn, nhỏ thôi. Tôi nói: "Chắc là cái nhọt, đừng để đòn gánh tì lên nó toét ra". Cô ấy ngồi ở thềm hè, lấy nón quạt, định rửa ráy qua loa rồi mới cho con bú. Rồi cứ thấy quài tay lên bóp nặn gì đó cái đầu mụn. Tôi ngồi trong nhà đã bảo tay đang có phân trâu đừng có sờ mó vào mà khốn. Lại còn cãi: "Vẽ, người làm ruộng lăn lộn với phân gio từ sáng đến tối, vệ sinh như dân tỉnh có mà đói dài". Rồi lại tiếp tục xoa xoa nắn nắn. Tôi cũng chả để ý nữa. Hai ba ngày sau vẫn đi làm. Tôi đang nghỉ ở nhà nhưng người yếu chả giúp được gì, chỉ thổi nồi cơm, nồi canh, tắm rửa cho lũ trẻ là đã thở dốc. Rồi cô ấy sốt, cho uống thuốc cảm, đánh gió nhưng không đỡ. Qua một đêm thì đã mê rồi, người nóng như than hồng, co giật từng cơn. Tôi nói có sai đâu, tay dính phân trâu, lại bóp nặn vết loét là khổ. Đến trưa đưa lên bệnh viện huyện, truyền huyết thanh. Tối hôm đó cô ấy tỉnh lại, trò chuyện được với nhau cả giờ. Đã mừng, nghĩ là thoát. Nào ngờ nửa đêm lên một cơn co giật nữa rồi đi hẳn. Cứ như trong chiêm bao. Chôn vợ rồi mà chiều chiều vẫn nhìn ra cổng, ngóng vợ về. Nhỡ cô ấy về thật thì sao? Nghĩ thế. Hoặc là tôi mê. Chính là tôi đang hôn mê, tôi đã chết rồi chứ không phải vợ. Vợ tôi khỏe thế chết sao được. Bữa cơm đơm một bát đặt lên bàn thờ, vẫn xới một bát để ở góc mâm. Không thể quen được chỉ xới cơm cho con mà không có vợ. Vợ không ăn ở nhà thì ăn ở đâu, vẫn ngồi ở góc đó và bao giờ tôi cũng dành cái chỗ quen thuộc ngồi xới cơm mỗi lần ăn cơm nhà. Rồi khóc, đêm khóc, ngày khóc, hễ ai tới thăm hỏi lại khóc. Như đàn bà anh ạ. Có lâm vào cảnh ngộ của tôi mới biết thế nào là cái khổ của thằng đàn ông nửa đời chôn vợ. Năm đứa con, đứa lớn mười hai, đứa nhỏ một tuổi, tôi lại đau ốm, lại không còn gì để ăn, không còn gì để bán, anh em kiến giả nhất phận, nhờ vả mãi thế nào được.

Vợ Khang mất cuối tháng tám ta, tháng chín tháng mười anh vừa nuôi con vừa khóc vợ, đầu óc u ám những ý nghĩ đen tối. Tháng một, anh vay thằng Ninh bốn chục cân thóc, cũng là vay liều rồi chèo thuyền ra bãi giữa tra lúa trên một rẻo đất pha cát, cứ mỗi hốc là năm hạt. Tại sao anh làm thế? Chính anh cũng không hiểu. Bởi đã cùng đường nên phải làm, làm cầu may, làm còn hơn không làm, là nghe có người nói chơi nói bời ở đâu đó rằng tra lúa ở bãi giữa nếu được ăn là ăn gấp mấy lần. Rẻo đất ngoài đó vốn vô chủ, của tập thể không, của cá nhân không, là đất của những người đã tuyệt vọng. Tháng một mực nước thấp nhất thì tra hạt. Đầu tháng ba là phải gặt rồi. Giữa tháng ba, sau Hội Tổ có mưa lớn rửa đền, các rẻo đất đó lại chìm sâu dưới nước. Vụ đó anh được, làm cầu may mà được, được lớn, chỉ mất có bốn chục cân thóc mà thu về một tấn lúa, nhẹ nhàng như chơi. Ngày giỗ đầu anh làm rất to, mời những mười mấy mâm. Bưng mâm cơm cúng lên bàn thờ vợ, thắp mấy nén nhang, chẳng kịp khấn khứa gì cứ đứng xuôi tay mà khóc, khóc cho vợ, khóc cho mình. Phải đến lúc đó anh mới thấy hết cái ranh giới phân chia giữa tuổi trẻ với tuổi già, giữa cái thời sống cho mình, cho xã hội với bao nhiêu là mơ mộng giả thật với cái thời chỉ còn biết sống cho con cái, một lũ con, ngoài ra không còn hy vọng nào khác, niềm vui nào khác.

Nhìn một góc sân thấy úp lổng chổng ba bốn cái nồi to, là nồi đun nước tráng bánh, một loạt giàn phên đã đưa ra xếp gần kín một nửa sân.

Tôi hỏi:

- Đã làm bánh rán lại làm cả bánh đa nữa à?

- Làm mỗi thứ một tí mới đủ ăn đủ tiêu ông ạ. Cái này là làm miến, làm miến lãi hơn.

Nhà đông người làm miến là tính toán sát nhất. Người tráng, người phơi, người cắt, đứa nào có việc của đứa ấy, như một đội quân. Ngay đứa con gái út của bà trước bế thằng con đầu của bà sau, cũng tay bế em tay giặt giặt những sợi miến vừa cắt cho nó rời ra, tơi ra, trên các giàn phơi. Và ông bố mới sáng đã cởi trần, đầu hói, bụng vú nhăn nhúm vừa ngồi nói chuyện với tôi chốc chốc lại nhìn ra sân hò hét con cái. Anh Khang của ngày hôm xưa đấy! Hôm xưa chúng tôi nói chuyện đạo, bữa nay gặp lại toàn nói chuyện đời, một đời người đến là trầm luân, khổ ải, nhưng không thể chết được, vì cái gan góc của con người ta cũng không cùng. Có điều, được cái gan góc thì mất cái mộng mơ, được cái trải đời lại hóa ra lì lợm. Khôn lên tức là ít tin đi. Vẫn là mất. Mất to.

5.
Tôi cũng phải kể lại một chút về ông Tuy Kiền hay bủ Kiền cho trọn vẹn một chuyến trở về cái nơi đã từng đến. Tôi đến thăm nhà ông lần thứ nhất chỉ gặp bà bủ và một đám con cháu, chả rõ con dâu hay con gái, con trai hay cháu nội. Người con trai lớn của ông bủ chỉ kém tôi có dăm sáu tuổi, con của anh đã đi bộ đội về, trạc tuổi thằng Định, ông bủ năm nay đã bảy chín rồi mà. Tôi bước vào cổng nhà ông vừa mừng vừa ngại, rất mong được gặp ông, lại vẫn khấn thầm ông đã đi đâu đó không có nhà. Viết về người ta như thế gặp lại cũng ngượng. ờ, thì anh là nhà văn nhà báo của Đảng của Chính phủ, khen ai chả được, chê ai chả được, quyền của anh mà, chúng tôi thấp cổ bé miệng, thân phận con ong cái kiến làm sao dám cãi. Nghĩ thế là ngượng. Ngượng với mình, ngượng với người, có những trang viết thời này là đúng, thời khác chưa hẳn đã đúng, khen nhau trên báo trên đài là hay, là tốt, đêm nằm vắt tay lên trán nghĩ ngợi xa gần lại thấy chưa phải đã tốt đã hay. Viết sao thì viết, cho thuận lòng mình cho thuận lòng người, lúc gác bút nghĩ lại một đời viết không đến nỗi xấu hổ. Tôi đi với Ninh, không tự giới thiệu là ai, như là một cán bộ trên huyện trên tỉnh gì đó đi theo ông trưởng ban kiểm soát (Ninh là trưởng ban kiểm soát của hợp tác xã nông nghiệp) rồi nhân anh ta có việc phải hỏi bủ Kiền nên cũng theo vào. Bà bủ cũng đã già, kém ông lão chừng dăm sáu tuổi, nhưng đi lại còn nhanh nhẹn, tóc chưa bạc, răng chưa rụng, nhìn tôi một thoáng, không hỏi han gì, chỉ bảo Ninh:

- Ông lão đi đâu từ sớm, anh có việc gì hỏi?

Ninh nhìn tôi, miệng hắn như hơi cười trong hàm râu đen nhánh:

- À, vẫn cái chuyện gỗ lạt ấy mà. Nếu ông bủ định mua thì phải báo trước để cháu còn nhắn.

Bà lão rót nước mời, mắt vẫn nhìn tôi không ra quen không ra lạ.

- Ông ấy muốn đóng bộ bàn ghế theo kiểu bây giờ, nay nhắc mai nhắc sốt cả ruột, đi cả ngày có lúc nào ở nhà mà ngồi ghế.

Ninh lại nhìn tôi cười, cười về cái gì tôi không rõ.

- Nhà người ta có mà nhà ông bủ chưa có là ông chưa chịu. Người già nhưng tính trẻ là thế.

Một thanh niên khoảng ba mươi tuổi, người mập lùn, trán ngắn, mắt nhỏ, có ria mép bước lên hè lừ lừ nhìn tôi, rồi hỏi Ninh:

- Anh phải bàn với nhà máy thế nào, mấy bữa nay họ xả khói khiếp quá, sặc sụa mùi lưu huỳnh. Cá đến chết hết vì khói thải thôi.

- Ờ, thì vẫn nói, nói hàng ngày.

- Còn cái vụ mua bán phân lân kín hở ra sao cũng phải cho xã viên chúng tôi được biết chứ.

Ninh lại quay sang cười với tôi, nói tỉnh khô:

- Cái đó mày phải hỏi ông anh rể của mày, tao làm sao có ý kiến!

Chúng tôi ra về, tôi lúng túng chào bà bủ và anh con trai có cái nhìn lừ lừ nhưng không ai chào lại tôi cả. Tức là có biết, biết hết và còn giận lắm. Vì một bài báo mà cả gia đình người ta hóa thành trò lạ để thiên hạ dòm dỏ, đàm tiếu không giận sao được. Lần thứ hai tôi đến một mình, định bụng phải gặp mặt ông bủ một lần để hai ông con có dịp trò chuyện với nhau thật thẳng thắn. Vẫn không gặp, ông lão đi chăn bò. Hỏi chăn chỗ nào, cái anh có cặp mắt lừ lừ bảo không biết. Trả lời mà không thèm nhìn mặt người hỏi là đã tỏ thái độ rồi. Chừng như anh chàng này là cậu út năm nào, đã lên bảy lên tám vẫn còn nằm ườn trên giường mỗi sáng để bà mẹ đeo đôi khuyên vàng lủng lẳng bưng bát xôi đến dỗ ăn thì phải?

Lần thứ ba thì tôi gặp ông bủ thật, gặp rất tình cờ ngay ở lối vào trụ sở ủy ban. Ông lão vốn đã gầy nhỏ nay càng gầy nhỏ hơn, như đứa trẻ, mặc cái áo xanh cộc tay, cái quần nâu lửng đang đứng trông bò. Ông đội nón lại còn quay nghiêng mặt đi khi thoáng thấy tôi bước tới nhưng tôi vẫn nhận ra, tôi nhận ra ông từ xa kia, vì cái dáng vẻ của ông dầu chỉ nhìn cái lưng cũng vẫn khác người.

- Chào bủ ạ, bủ còn nhớ em không?

Ông già bỏ nón, quay lại nhìn tôi, miệng như cười, cặp mắt nhỏ tí nhấp nháy.

- Không dám, ông mới về công tác?

- Thế bủ còn nhớ tên em không?

- Không biết, mới đến lần đầu làm sao mà biết.

- Lần đầu thế nào! Lần đầu là cái năm bủ bằng tuổi em bây giờ.

- Thế hả, là ai thế!

Tôi bỏ mũ cầm tay, nhìn vào tận mặt ông lão, cười nhỏ:

- Bủ không muốn nhận em chứ gì? Vẫn còn giận em lắm phải không?

Ông già không cười nữa, cặp mắt tinh khôn nhìn tôi chăm chú, định nói gì đó nhưng lại thôi. Tôi lấy bao thuốc Du lịch mời ông. Ông cầm điếu thuốc, nói khẽ:

- Dạo này lại hút thuốc có đầu lọc kia à?

Tôi bắt ngay lấy câu nói thân thiết ấy hỏi lại liền:

- Tức là bủ biết em có một dạo chỉ hút thuốc cuốn tay thôi, đúng thế không?

Ông lão lại nín lặng, nhìn xuống điếu thuốc vẫn cầm ở tay.

- Tối nay em đến thăm bủ nhá?

- Tối nay tôi bận.

- Mai nhé?

- Mai tôi đi ăn giỗ, đi cả ngày.

- Cho em đi theo với.

- Người ta không mời mà mình cũng đến hử?

Rồi ông lại nhìn tôi, vẫn cái nhìn rất chăm chú nhưng nín lặng. Tôi chẳng còn gì để nói thêm, lúng búng vài lời nửa như chào nửa như xin lỗi rồi bước vội đi.

Bữa ra về, tôi có đến gặp bí thư đảng ủy xã và chủ nhiệm hợp tác xã, có cả Ninh là trưởng ban kiểm soát cùng ngồi đó. Tôi ngỏ lời cảm ơn xã đã cho phép tôi trở lại vùng đất cũ, để thăm hỏi bà con và bạn bè của một thời viết và một thời còn rất trẻ. Trở lại với những kỷ niệm tức là trở lại với những gì đã vĩnh viễn mất nên bao giờ cũng buồn dẫu sự đời chẳng có gì đáng để phải buồn. Nếu nay mai viết một cái gì đó buồn buồn mong các anh cũng hiểu cho cái tâm lý ấy mà thứ lỗi cho. Bí thư xã đưa mắt nhìn chủ nhiệm hợp tác xã, hơi mỉm cười, rồi nói với tôi:

- Ông bủ Kiền có nhắn tôi gửi lời tạ lỗi với anh. Ông không giận anh đâu, có gì mà phải giận, nhưng ông không dám mời anh lại chơi nhà là sợ trẻ con nó nghĩ cạn dễ nói hỗn.
 
Chân Trời Tím

0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-01-28 11:19:52Ct.Ly>
                Chuyện người tổ trưởng máy kéo
                       Nguyễn Khải
 
Khi tổ thanh nữ đập xong đống lúa xếp cao ngút sau lưng như vách hào thì trời vừa tối. Thời gian đi vào phần đêm nhẹ nhàng và rất rụt rè: một mảnh trăng mỏng mảnh như vành móng tay nhờn nhợt trắng, một ngôi sao hôm sáng rực rất lẻ loi, một màu xanh lơ lơ phảng phất như có khói, và dãy núi phía tây chợt nổi rõ lên trên cái đường viền màu mỡ gà.

Mấy chị em ôm néo, bàn cào, bàn trang vào cất ở một góc nhà trống vẫn thấy mấy chiếc phản nằm kê xộc xệch, lạnh lẽo phủ đầy bụi mọt như hàng tháng trước đây, và ở góc đằng kia bóng đen của bốn chiếc máy kéo làm tối cả một nửa gian nhà vẫn xông lên thứ mùi hôi khét của dầu mỡ đóng khô ở cái trục bánh. Tổ máy kéo ra đi từ vụ trồng ngô mùa thu, đến nay đã gặt hết lúa nương vẫn chưa trở lại. Những gương mặt, những câu chuyện, và cả cái không khí tưng bừng của khói thuốc lá, bình trà nóng, ngọn đèn khêu to bỗng chốc trở nên xa xôi, đầy nhớ nhung. Và riêng đối với Thoa thì còn cả những kỷ niệm êm đềm, chỉ mới thoáng nghĩ đến người đã nóng rực vì sung sướng và cả vì lo sợ.

Đêm ngủ một giấc dài chợt tỉnh dậy, Thoa nhìn qua khe cửa thấy trời nhàn nhạt trắng, tưởng như sương muối của đầu đông lọt theo hơi gió đến rắc bụi trên chiếc chăn bông nóng rực hơi người, giữa lúc ấy một tiếng nổ quen thuộc, đều đều, vừa nghe rất rõ, vừa mênh mang như không có thực, như là một tiếng động gì đó trong giấc mơ, cứ rủ rỉ, lênh bênh, khiến người chị như chìm sâu mãi xuống, và giấc ngủ say sưa nửa đêm về sáng xóa mờ đi tất cả. Tờ mờ sáng hôm sau, kẻng báo thức vừa dứt, sương còn đang xuống nhiều như mưa bám trắng cả lông mày, gió châm vào mặt tê buốt, tổ thanh nữ đã mang đòn xóc ra đồng gánh lúa. Khi đi qua nhà trống cả bọn đều ngạc nhiên, không ngờ đêm qua ở đó có người ở, và họ đã đi đâu sớm hơn cả tổ thanh nữ, chỉ còn lại bốn chiếc màn trắng căng trên bốn cái phản đã kê ngay ngắn, những chiếc đệm Thái viền vải đỏ, những cuộn chăn bông lớn ở đầu giường, và những chiếc gối hoa màu sặc sỡ. Có hơi người, khu nhà trống như hẹp lại, ấm cúng hẳn, và ở góc đằng kia bốn chiếc đầu máy kéo cũng mất hút. Thoa không thể nén nổi sự sung sướng, chị kêu to:

- Các anh ấy về đêm qua rồi, thảo nào gần sáng mình nghe thấy tiếng nổ máy!

Tám đi trước ngoảnh ngay lại, mặt tím bầm trong vành khăn len vì rét:

- Thế ông tổ trưởng đã đến trình diện với cô chưa?

***

Tổ máy kéo cờ đỏ của trạm máy kéo nông trường Điện Biên có bốn người, do Doãn làm tổ trưởng. Bốn con người rất trẻ ấy hơn một năm nay được cả mọi người yêu mến, hơn nữa ở đây còn lấy làm hãnh diện với các đội sản xuất bạn vì lẽ tổ máy kéo cừ khôi đó ở đội sản xuất số "6" nhiều ngày hơn cả. Hơn một năm éc-ta cày, bừa, gieo cho bốn năm vụ vừa lúa, vừa màu, quanh đi quẩn lại cũng đã mất già nửa năm. Anh em máy kéo coi đội sản xuất số "6" là gia đình của họ, còn ở đây thì quý mến, nuông chiều họ như con cưng. Họ đi cày nơi khác chưa đầy một tháng đã hàng chục lá thư gửi đến. Ngày chủ nhật các cô chưa chồng gói vào những chiếc khăn len nào lạc, nào mía, ớt, cả rau thơm lặn lội một con suối, và bốn năm cây số đường lầy đi thăm những người yêu quý. Thời gian xa cách vừa qua mới hơn hai tháng, nhưng mỗi lần qua lại gian nhà trống, nhìn những miếng đất đóng khuôn vào vành xích khô trắng, ai cũng nghĩ như đã lâu lắm, như từ ngày mới về đây khai hoang, mấy chiếc đầu máy kia chưa hề dời khỏi chỗ đứng cũ kỹ này. Nhưng đêm qua họ đã trở lại cái gian nhà hoang vắng, và sáng nay đã mang lưỡi cày đến cắm xuống dải đất khô nẻ vì chờ mong ở tận cuối bản ón. Dải đất cày nằm dìa con đường chuyển lúa, nhưng mấy cái đầu máy vẫn lượn lờ trong đám sương dày đặc, tiếng nổ theo hơi gió bay lại, nghe rất tròn và êm ái.

Đến lượt chuyển lúa thứ ba sương mới bắt đầu trong, rạng dần. Thoa đã nhìn thấy thấp thoáng cái đầu máy quen thuộc cách đường có hơn chục thước. Khi chị vác đòn xóc quay trở lại gánh lượt thứ tư thì đầu máy đã kề ngay cạnh đường, chưa kịp nhận ra người lái là ai một giọng nói rất trẻ đã hỏi trước:

- Chào cô Thoa, cô vẫn khỏe chứ!

Chao ôi, anh ấy đây rồi, anh Doãn, con người mà từ hơn hai tháng nay chị chưa gặp mặt, nhưng không lúc nào không nhớ tới. Doãn quấn miếng vải dù trắng quanh cổ, bộ quần áo xanh và chiếc áo trấn thủ mặc ngoài loang lổ những vết đen của dầu máy giặt không sạch, đang nghiêng đầu nhe hàm răng nhỏ và đều nhìn khắp lượt cả mấy chị em.

- Cám ơn anh, em thì bao giờ cũng khỏe. Các anh mới về đêm qua?

Thoa trả lời nhỏ nhẻ, chăm chú đến từng lời nói của mình, nhưng Doãn hình như không chú ý nghe lắm, anh đã bắt đầu nói huyên thiên những chuyện đâu đâu với mấy cô khác. Tám nhảy xuống ruộng bước lại phía đầu máy, một tay ve vảy ra phía sau, tiếng nói rất chua:

- Tưởng các anh vui phố vui phường bỏ chúng em rồi... Cho em lên ngồi một lát nhé!

Doãn đưa tay ra phía Tám:

- Nào, ra đây tôi kéo lên.

Tám liêng liếng con mắt nhìn sang Thoa, một bên má đầy lên rất đanh đá, rồi quay ngoắt trở lại:

- Cám ơn ông anh có lòng tốt, tôi đâu được vinh dự ngồi cạnh ông tổ trưởng máy kéo.

Thoa vẫn nhìn Doãn khao khát, nhưng anh ta không hề nhìn lại một chút nào, vẫn hồn nhiên một cách đáng ghét:

- Các cô đi làm nhé. Tối mời xuống chỗ chúng tôi uống nước chè.

Những vòng bánh bắt đầu lăn trên vành xích, đầu máy nghiêng hẳn về một bên, hai cái vai rộng của Doãn lắc lư rất đáng yêu, một dải khói đen nâu từ ống khói bay cao lên, pha vào bụi sương một màu tím ngan ngát. Nỗi vui sướng rạo rực ở trong Thoa từ lúc sớm, khi đi ngang qua gian nhà trống lại thấy mấy cái màn căng quen thuộc, bị hẫng đi như rơi vào khoảng trống.

Suốt mấy tiếng đồng hồ chị cứ tin một cách vô lý rằng vì chị, chỉ vì riêng có chị nên tổ máy kéo đã trở lại, và gặp được chị, anh tổ trưởng trẻ tuổi sẽ nhảy từ trên đầu máy xuống, lúng túng vì cảm động, sẽ bắt chị dừng lại để hỏi han về sức khỏe, về công tác bằng giọng nói rất ấm áp, bằng cái nhìn rất trìu mến, và tất cả cái thái độ chân thành ấy đều biểu lộ bằng suốt trong thời gian vừa qua anh ta luôn luôn nghĩ đến chị, cũng như chị luôn luôn nghĩ đến anh. Nhưng những điều tưởng tượng thơ mộng ấy đã hoàn toàn không đúng, anh ấy coi chị cũng bình thường như mọi người con gái chưa chồng khác ở tổ thanh nữ, hầu như anh ấy chẳng có lúc nào nghĩ đến một cô Thoa nào đó ở đội sản xuất số "6", may mà còn chưa quên đấy. Một cái gì tấm tức, thù ghét, đau xót cứ lan ra khiến cổ họng chị se lại, và trong lồng ngực buốt nhói.

Nhưng Doãn không hẳn hoàn toàn không nghĩ đến người con gái mà anh chào đầu tiên. Trong tiếng máy mổ đều đều và hơi khói ma-dút thơm khét, một khuôn mặt hiện lên cùng với những mẩu chuyện thú vị. Cô ta quả không được xinh, chỉ được hàm răng đều và tươi, còn khuôn mặt hơn ngắn quá, cặp mắt cũng nhỏ quá. Chỉ vì cô ta năng đến với anh, chịu khó hỏi chuyện, suốt ngày bóng dáng cô ấy cứ thấp thoáng bên cạnh như buộc chặt vào với tổ máy kéo nên anh em trong tổ thường phải nghĩ đến cô ấy nhiều hơn, tìm hiểu về cô ấy kỹ hơn. Hơn nữa về đường tình duyên cô ấy lại gặp nhiều trắc trở. Lần thứ nhất cô yêu anh y tá của Đội, có lẽ vì anh chàng tài hoa và đẹp trai. Lần thứ hai lại yêu một anh ở trung đội 3, tay bóng đá chân giầy xuất sắc của nông trường. Cả hai đều đã có vợ, có con, cô ta tuy biết vậy nhưng vẫn yêu, yêu điên cuồng, cuối cùng không những cô ấy phải chịu đau khổ mà còn làm cho cả hai anh đàn ông cũng bị buồn phiền lây. Còn lần thứ ba này, cô ấy sẽ để ý đến ai? Mấy cô hay có tính thóc mách đã đến nói nhỏ với tổ máy kéo là "con bé thèm đàn ông" ấy đã yêu thầm anh tổ trưởng của họ rồi. Nghĩ đến đấy, Doãn lại thấy mình trở lại cái cảm giác vừa khó chịu vừa êm ái như những lần trước khi thoáng đoán biết người ta đang chăng bẫy đòn anh. Những cô ấy thì không thể yêu được, không thể có cảm tình ngay được, vừa xấu người vừa xấu nết. Anh vẫn ao ước được là người yêu đầu tiên của người khác, được tận hưởng sự rung động trong trắng không một vết nhơ. Trong mọi việc khác anh có thể rộng lượng, nhưng trong tình yêu anh phải tự thú nhận là mình rất ích kỷ, tuy vậy cũng chỉ là thứ ích kỷ không bị lên án, thích hợp với quan niệm của nhiều người.

Tiếng máy vẫn thầm thì trò chuyện với đất, và Doãn vẫn tiếp tục tâm sự với riêng mình. Đến đầu bờ anh cho vòng máy sang luống mới và ngắm lại những đường cày thẳng tít tắp lẫn vào trong sương. Từ giữa những rãnh đất bở tung, nâu xốp, những sợi khói màu tím nhạt ngút ngát bay lên. Những con quạ đen thui như đã bị đốt thành than đứng run rẩy trên các mô đất, chốc chốc lại kêu lên não ruột. Đằng đông cái bàu sương rộng lớn cứ trong mãi và trở nên tím mênh mang, trong cái bóng tím mơ hồ ấy như có cả màu xanh nhạt của nền trời. Ôi, buổi sáng mùa đông ở Điện Biên sao đẹp thế, tâm hồn người ta sao dễ thơ mộng thế. Mỗi lúc được thưởng thức vẻ đẹp kỳ lạ luôn luôn biến đổi của thiên nhiên, Doãn lại thấy công việc của mình tràn đầy thi vị, cuộc đời sao mà đáng yêu, tấm lòng cởi mở như không còn biết đến những tính toán nhơ bẩn, nhỏ nhen thường ngày. Cũng do thói quen thích chú ý đến cái đẹp của chung quanh, một buổi Doãn đã khám phá ra vẻ đẹp rất đột ngột của Thoa, nhưng có lẽ chỉ có một lần ấy, đã xa xôi rồi nhưng vẫn còn in đậm nét.

Lần ấy vào buổi chiều, anh đã bừa xong một vạt đất rộng gần hai éc-ta liền rẽ máy qua khoảng ruộng gieo lạc để về khu nhà trống. Kẻng nghỉ việc từ lâu nhưng ở cuối bãi vẫn thấp thoáng còn một bóng người, một cô nào ở tổ thanh nữ, nhưng trông xa không rõ ai. Cô ta gieo hết luống cuối, quay lại gieo nốt vạt bỏ dở ở đầu bãi đằng này. Doãn chợt nhận ra gọi to:

- Cô Thoa sao về muộn thế?
Thoa nhìn anh mỉm cười:

- Em gieo gọn khoảnh này để mai làm việc khác.

- Tích cực nhỉ?

- Đâu bằng bộ đội được!

ấy, tuy xấu người, nhưng ăn nói bao giờ cũng nhẹ nhõm, dễ nghe. Trời đã xâm xẩm tối, màu đất sẫm lại mênh mông. Phía tây một vầng sáng xanh nhạt pha lẫn với màu vàng của ráng chiều viền lấy dãy núi màu tím sẫm trông rõ như một đường khắc nổi. Trên cái nền cảnh lặng lẽ và dịu dàng ấy bóng dáng Thoa là cái khối duy nhất sinh động. Không biết có phải vì có anh chàng tổ trưởng máy kéo đang chăm chú ngắm mình mà cô ta làm duyên làm dáng thêm lên không. Chiếc khăn len mỏng bịt chặt lấy tóc, một cái áo vải hoa hơi sặc sỡ bó lấy thân mình thon nhỏ thắt lại bằng sợi dây đeo giỏ đựng nhân lạc, quần lụa chấm gót, cô ấy vừa đi rất uyển chuyển vừa đưa tay ra ngang thân người vung vẩy rất nhịp nhàng, những hạt lạc đỏ tươi đầy hai lòng bàn tay lần lượt theo kẽ ngón lọt thứ tự trên rãnh đất. Máy vẫn để nổ, nhưng Doãn thì còn đang say mê theo dõi những động tác đã trở nên tinh thục như một môn nghệ thuật. Chỉ một loáng Thoa đã đi đến rãnh cuối, khi chị cởi giỏ, rũ khăn, bước lại phía Doãn hỏi: "Anh chưa về kia à?" anh mới ngượng nghịu vì thấy mình đã làm một việc dại dột, dễ sinh hiểu lầm. Từ đó mỗi lần có những ý nghĩ khó chịu bực bội về sự săn đón quá lộ liễu của Thoa, cái hình ảnh đẹp đẽ, lạ lùng của buổi chiều hôm nào lại phảng phất len đến như một hơi thở ấm áp làm tê dại mọi tức giận, lại thấy tấm lòng cởi mở, dễ rộng lượng và tha thứ.

***

Tổ máy kéo cày được hai buổi thì vấp phải một trở ngại. Chân rạ lúa nương tốt quá, vừa cao, vừa dày, lưỡi cày vướng phải gốc rạ cứ nổi lên trên đất nhảy tưng tưng, hoặc có cày được cũng chỉ đi chừng một phần ba luống rạ đã quấn chặt lấy lưỡi, lại phải cho máy giật lùi nhảy xuống gỡ. Ăn cơm được một lúc, vừa lên đèn Doãn đã tất tưởi lên nhà văn phòng của đội sản xuất. ở văn phòng chỉ có Khôi, đội phó phụ trách kế hoạch đang hội ý với Tuệ, thư ký thống kê. Doãn chưa bước qua ngưỡng cửa đã nói to:

- Chào đồng chí Khôi, tôi ở tổ máy kéo lên báo cáo đồng chí một việc cần!

Đôi mắt nhỏ của Khôi liếc lên, rồi lại nhìn ngay vào tờ giấy để trước mặt, nói hơi gắt:

- Chờ ít, đang bận!

Doãn ngồi vào ghế dài, lấy tay khẽ bấm vào đùi Tuệ:

- Có thuốc lá xin một điếu.

Tuệ vẫn không ngoảnh lại, móc túi lấy ra một điếu dúi vào tay Doãn và tiếp tục nói:

- Dao ở kho chỉ còn chừng hơn mười chiếc có thể làm được, còn thì mẻ gỉ cả, anh cho ý kiến nên giải quyết như thế nào. Đem lên tổ rèn nông trường nhờ đánh lại thì lâu lắm.Tính ra số dao phải dùng cũng trên dưới năm chục con.

Hai tay Khôi chống lên má, cặp mắt đưa đi đưa lại sắc sảo:

- Ông phải báo cáo cụ thể một chút, hơn mười chiếc là mười một, mười hai hay mười lăm chiếc, số còn lại là bao nhiêu, thống kê không nên dùng chữ: hơn, độ, áng chừng, trừu tượng bỏ mẹ. Năm nay kế hoạch là phải cụ thể đến từng gánh phân đấy...

Tuệ rõ ràng bị lúng túng:

- Anh để tôi đếm lại, nhưng số dùng được thì còn ít lắm.

Đôi ủng dưới chân Khôi cứ cọ vào nhau sào sạo, những thớ thịt trên khuôn mặt rám đen như sắt lại, khẽ rung rung:

- Có cách đấy! Nha, Vừu hình như biết làm nghề rèn thì phải...

Tuệ ngồi thẳng người, ngẫm nghĩ:

- Đồng chí Vừu làm một bễ riêng từ dạo nọ, vẫn đánh dao dùng riêng, còn Nha thì... thằng cha ấy khéo tay lắm. Có thể được.

Khôi đưa ngón tay di di lên mặt tờ giấy:

- Ông ghi tên hai cậu ấy vào đây cho tôi, chốc nữa báo cho trung đội 1 điều người tạm thời sang rèn... Rèn dao có khó quái gì. Cứ nung cho đỏ, lấy búa giọt cho chặt những thớ sắt lại, đem tôi lên, chứ có cái gì phức tạp mà không làm được.

Doãn hút đã quá nửa điếu thuốc vẫn thấy công việc của hai người còn miên man. Anh đằng hắng vài cái, ngồi dịch lại gần đèn như để Khôi biết còn có một người khác đang đợi. Khôi như không để ý, anh lúc lắc cái đầu:

- Anh đã tính khối lượng hai gian nhà kho hộ tôi chưa. Năm nay lúa nhiều lắm đấy, tính sơ ra cũng ngót nghét hai trăm tấn rồi.

Tuệ lại bị lúng túng lần nữa, công tác thống kê cuối năm bận bịu quá, anh lại mới làm, riêng mỗi việc chạy đi chạy về cân kẹo những hoa màu còn lại trong kho cũng đã đủ hết ngày. Cứ mỗi lần ngồi trước mặt đồng chí đội phó, Tuệ lại có cảm giác rằng mình không thể nào trả lời được trót lọt những câu hỏi sắc bén của đồng chí ấy. Cái ấn tượng chết tiệt này đã khiến anh trở nên rụt rè, lo sợ một cách vô lý, rồi đến chính anh cũng tự đánh giá mình là thiếu tích cực, kém tháo vát. Còn Khôi thì rõ ràng là không bằng lòng lắm cái lối làm ăn luộm thuộm của anh thống kê, được một việc, hỏng mười việc, lúc nào cũng lấn cấn, nhăn nhó, rút lại vẫn chẳng nắm được cái gì. Khôi xòe bàn tay ra trước mặt Tuệ:

- Bất cứ việc gì cũng thế, phải nắm được việc nào là chính, việc nào là phụ. Việc nào phải tự tay mình làm, tự tay kiểm soát, việc nào có thể dựa vào các tổ sản xuất được. Ví dụ việc quan trọng nhất hiện nay là anh phải cân kẹo, theo dõi số thóc đã phơi khô, quạt sạch để nhập kho cho tôi. Thứ nữa là số phân các tổ làm, ủ ở những chỗ nào, mỗi chỗ tính được bao nhiêu gánh, phải phân phối chỗ ủ đều khắp các khu đồng để sau này vận chuyển đỡ tốn công... à, còn một việc quan trọng,... nay mai tôi đi họp vắng, nếu ở nhà lạc đã bắt đầu ra hoa hết, đã có củ thì phải cho bấm ngọn ngay để rút nhựa xuống củ. Hôm qua đi kiểm tra lại bãi lạc tôi cũng phát buồn vì cách vun gốc của bộ đội nhà ta, đúng là làm chiếu lệ. Lạc ba tháng tia bao giờ cũng đâm thẳng xuống thì phải vun gốc thật cao. Bảo là phấn đấu thực hiện một éc-ta thu trên ba tấn, nhưng cứ làm ăn như vừa rồi thì thu một tấn cũng khó.

Cách nói của Khôi bao giờ cũng rành rọt, dứt khoát, tính toán đâu vào đấy, những việc phức tạp nhất cũng thành ra giản dị. Tuệ vừa nghe vừa nghĩ thầm: "Dân văn hóa cao có khác, họ giải quyết hàng núi việc vẫn ung dung, còn mình... mai phải xếp sắp lại sổ sách cho thật khoa học mới được, phải kế hoạch hóa đi một chút...". Còn Doãn cũng ngồi ngây người ra nghe, quên cả thời gian chờ đợi. Khôi rút thuốc lá hút, cái mặt xương xương bóng lên bướng bỉnh của anh quay sang Doãn:

- Nào ta làm việc, có cái gì thế?

Tuệ thu xếp sổ sách rất vui vẻ chạy sang gian bên.

Doãn bò một nửa người lên cái bàn tre, nói hấp tấp:

- Rạ tốt quá, mấy thằng máy kéo nửa cười nửa khóc đấy đồng chí ạ...

Khôi hơi cau mặt: "Thằng này ăn nói với ai cũng sống sượng, làm việc cứ như đùa".

- Đồng chí trình bày nghiêm chỉnh lại cho tôi nghe nào.

Trình bày nghiêm chỉnh là thế nào nhỉ? Doãn ngơ ngác một chút, thực ra anh vẫn quen cái lối vừa báo cáo, vừa như nói chuyện thân mật, đôi lúc vui vẻ còn kề cà thêm cả những chuyện râu ria.

- Vâng, gốc rạ nhiều quá, không bập lưỡi cày vào đất được. Thành thử cày được một luống phải nhảy xuống moi rạ quấn đến ba lượt... rồi thì dùng máy mà chậm bằng trâu kéo đấy.

Mỗi lần nói chuyện với Doãn, tự nhiên Khôi thấy trong lòng mình không được thoải mái, anh vốn có ấn tượng là mấy thằng ở tổ máy kéo đi lang thang nay đây mai đó nên không có tính kỷ luật bằng anh em ở đội sản xuất. Đấy, cứ xem như cách ăn nói của nó thì biết. Như đối với bạn chứ không phải là đối với cấp trên nữa.

- Vậy đồng chí đề nghị nên giải quyết như thế nào. Hay là tôi phải điều anh em đi cắt gốc ra, xếp lại từng bó cho phẳng mặt ruộng để dễ cày. Việc gì mà không gặp khó khăn, phải tìm cách khắc phục chứ.

Doãn như không hiểu được thái độ hơi hách dịch của Khôi, anh ta thành kiến gì với tổ máy kéo đây, cặp mắt một mí rất dài, đen nhánh của Doãn liếc sang Khôi gườm gườm:

- Thế đồng chí bảo anh em chúng tôi sợ khó khăn à?

Khôi nhìn cái đầu húi ngắn rất vuông và hai cánh mũi rộng thở mạnh mẽ của người nói chuyện với mình, thầm nghĩ: "Đúng là một thằng bướng bỉnh. Nó đặt vấn đề như là cấp trên của mình". Từ phút ấy anh mất hẳn cái bình tĩnh, khách quan trong khi giải quyết công việc, mà chỉ còn lại sự tức giận, ghen ghét, muốn tạo ra một thế bí cho đối thủ, và buộc cái đứa ngang ngược kia phải chịu phục tùng sự cứng rắn của mình.

- Vậy anh bảo tôi nên giải quyết ra sao. Lúa ở ngoài đồng chưa chuyển hết về. Quản lý, tài vụ, anh nuôi cũng phải rút ra để đập lúa. Để lúa hấp hơi mọc mậm hơn, hay là các anh chịu khó nhọc một chút lùi lại cái đầu máy, nhảy xuống móc nắm rạ rối hơn. Anh phải nhìn vào toàn bộ công việc của một đội sản xuất mà yêu cầu chứ đứng nên chỉ biết có các tổ máy kéo... Phải nắm được việc nào chính, việc nào phụ mà giải quyết.

Những bắp thịt cuộn tròn ở hai bả vai rộng của Doãn khẽ rung rung trong lượt áo xanh mỏng, một màu đỏ nhạt lan ra trên cái cổ trắng mịn và hai gò má nhẵn bóng. à, à, ra thế đấy, thế thì bốn cái máy kéo mỗi ngày chỉ cày được sáu bảy éc-ta thôi à, chậm hơn cày đất hoang ư?

- Cày chậm như thế rồi có ảnh hưởng đến thời vụ đấy. Đồng chí nên...

- Được, được, tôi lại hỏi anh, nếu anh có cày chậm độ mươi hôm thì bảy mươi éc-ta đất vẫn nằm dài ra đó chứ nó có chạy đi đâu mất mà sợ. Còn nếu lúa ngoài đồng không chuyển hết về ư, anh cũng biết đấy, tình hình địa phương không phải là đã ổn thỏa lắm đâu, ví dụ có một thằng phản động nào đó nó châm cho mình một mồi lửa là ôi thôi, đi đời nhà ma hết, nửa năm vất vả, rút lại trắng tay, rồi Nhà nước sẽ cho lũ chúng tôi đi tù vì tội ngờ nghệch, không biết bảo vệ công sức của anh em. Chẳng nhẽ lúc ấy tôi lại xưng xưng viện cớ vì tôi phải bớt một số người đi dọn rạ cho tổ máy kéo... á... à... Anh thử nghe xem có lọt tay không? Họ sẽ cho tôi là thằng ngốc, là thằng cãi liều, anh hiểu chưa? Rồi còn phải đập, phải phơi, phải quạt... Rồi lại phải cử người đi mót lúa nữa kia. Anh tưởng cái khẩu hiệu "thu thanh, gọn, tốt" là nhẹ nhàng, vui vẻ lắm đấy hẳn. Nông trường bộ các anh còn được nghỉ ngày chủ nhật, chứ dưới đội sản xuất thì phải làm tuốt, cứ chiếu luật lao động ra ngày làm tám giờ thì có mà... có mà quay lại ăn cơm nếp mốc với cá mắm thối sớm.

Rồi tự nhiên vì có nhiều lý lẽ đanh thép mà lại rất giản dị một cách bình dân, đượm chút khôi hài nữa, nên Khôi càng nói càng đỡ bực tức, cứ vui vẻ dần, giọng nói càng sôi nổi, đến nỗi Doãn cũng không nhìn anh bằng con mắt gườm gườm nữa. Khi Doãn chào anh ra về thì không khí đã êm dịu hẳn. Khôi nhìn theo bóng anh chàng tổ trưởng máy kéo lẩm bẩm một cách thú vị: "Nó bướng thế nhưng cũng còn biết ra lẽ phải, không dồn cho một trận kịch liệt thì còn là lèo nhèo... Mấy cái thằng cha máy kéo".

***

Quá trưa, Nông Ký Lâm đi họp ở bản về. Chân đi đất, mũ không sao, vành mũ đã buộc chỉ xơ ra những sợi vải, quần áo nhem nhuốc, xốc xếch, một bên túi quần phùng to không biết đựng vật gì. Đến giường nằm anh móc túi lôi ra một chai rượu Thái. Anh để chai rượu vào gậm giường cũng đã ngổn ngang rất nhiều thứ chai. Đầu giường một đống những chăn, màn, áo mưa, quần áo cũ đã thay chưa giặt, tạp chí Quân đội nhân dân, họa báo, và cả sổ sách, giấy má linh tinh. Khôi đang nằm xem báo trên giường ở góc bên kia. Sát vách căng một tấm sô giặt trắng, trên đính ảnh hai cô thiếu nữ, một cô người Trung Quốc, một cô người Liên Xô, cả hai như có điều gì vui vẻ nên cười cả. Thẳng trên đầu một cái mắc treo áo, ngoài bọc giấy báo, có lẽ là một cái áo rét hàng dạ gì đó. Gối rất trắng có dua chung quanh, trên lại phủ một cái mùi xoa màu rất nhã. Lâm bỏ mũ ra giường đến ngồi cạnh Khôi, tay anh đầy vết đất quyện với mồ hôi, từ trong quần áo thoáng bay ra một thứ mùi khen khét. Khôi nằm dịch lại phía trong, hỏi:

- Họp gì mà lâu thế?

Lâm chim chíp miệng, hai con mắt to, bàng bạc của người đã có tuổi vẫn anh ánh lên những tia sáng rất trẻ.

- Ông bố nuôi lại giữ ăn cơm, uống rượu nên về muộn. Này đồng chí Khôi ạ...

- Hử?

- Tổ máy kéo họ cày vất vả quá. Phải cho người ra dọn rạ giúp cho thôi.

Khôi bỏ báo, ngồi dậy, có vẻ khó chịu.

- Cậu Doãn lại báo cáo gì với ông đấy... Tay ấy là hay kêu ca lắm.

Đôi mắt Lâm chơm chớp, anh hơi cười, hàm răng trắng trông rất dễ thương:

- Mình đứng xem một lúc thấy cày gay quá, gốc rạ dạy cứ quấn vào lưỡi, thế thì còn làm ăn gì... đất lại rắn nữa. Đồng chí đã ra ngoài ấy chưa?

- Chưa, cậu ấy có đến xin người, nhưng mình làm gì còn người.

Khôi bắt đầu kể lại câu chuyện bực mình tối qua, và cách giải quyết rất dứt khoát của anh. Có điều qua một đêm và nửa ngày những lý lẽ của anh càng trở nên chín chắn và sắc bén, còn mấy ý kiến của Doãn càng thành ra cộc lốc và vô lý. Cuối cùng anh không quên nói thêm mấy nhận xét của riêng mình về cái tính tự do, ương bướng, hay yêu sách của tổ máy kéo. Lâm không nói thêm gì, hai bàn tay có những ngón hầu như vuông, sù sì, đan vào nhau, vặn vẹo rất bối rối, một bên mép hằn sâu xuống thành một đường nhăn dài. Anh cứ ngồi lặng lẽ như thế một lúc rồi sang giường của mình nằm duỗi thẳng chân, mắt hơi nhắm lại. Những ý nghĩ trong đầu Lâm bắt đầu mờ nhạt và lẫn lộn thì có tiếng Tám the thé ở đầu khu gia đình:

- Chào thủ trởng ạ... Tuần trước sao anh không về. Bà chị em cứ nhắc nhở mãi.

Cả Khôi lẫn Lâm cùng bật dậy một lúc:

- Chắc anh Cừ về!

Lâm chưa kịp chạy ra đã nghe tiếng nói oang oang của Cừ, chủ nhiệm chính trị nông trường:

- Lúa má đã đem về hết chưa đấy?... Trời nắng hanh thế này chỉ cốt để cho nông trường phơi thóc thôi mà!

Cừ bước vào, mặt anh đen ngòm vì hàm râu quai nón chưa cạo. Khôi nói vui một câu:

- Trời rét thế này mà anh nỡ để chị ấy nằm một mình à?

Cừ cười gượng gạo:

- Ôi chào, còn nụ cà hoa mướp đếch gì nữa, gọi nhau bằng ông bằng bà cả rồi!

Cừ ngồi xuống giường, lấy thuốc lá hút, hỏi Lâm:

- Hôm qua mình đến quân y chơi lại gặp cậu Thọ. Sao tay ấy sốt rét luôn thế nhỉ. Cẩn thận đấy, sốt rét ác tính chết người như bỡn... Thọ đi thì ai giữ kho?

Lâm nhìn sang Khôi:

- Tạm thời vẫn để đồng chí Tư tài vụ kiêm cả.

Đôi môi Khôi động đậy như muốn nói, nhưng Cừ đã hỏi trước:

- Chị Tư độ này đã đi làm được chưa? Cặp ấy cũng vất vả giống vợ chồng mình... có lẽ bố mẹ phàm ăn quá nên tranh mất cả phần con.

Lâm xua xua tay:

- Không phải đâu đồng chí ạ... bệnh này thuốc tây chữa không khỏi đây. Trên Lạng Sơn chúng tôi có thứ lá sắc uống khỏi được đấy. Ông cụ tôi ngày xưa chữa được nhiều người lắm. Sau này họ đều có con cái cả. Kỳ này về phép tôi sẽ lấy một ít đem về đây. Nhất định là khỏi.

Cừ giương đôi mắt tròn to nhìn Lâm, đôi môi anh trễ ra, như không tin lắm cái lối chữa bệnh bằng lá lẩu của những người vùng Đông Bắc, nhưng anh vẫn cứ nói:

- ừ, ừ, nếu ông lại tài giỏi thế thì vợ chồng chúng tôi sống tết chết giỗ.

Khôi ngồi xích lại, tay anh gấp đi gấp lại tờ báo, nét mặt trở nên đăm chiêu, và anh nói bằng một giọng trịnh trọng:

- Đồng chí chủ nhiệm ạ, hôm qua chúng tôi đã bàn với nhau (Lâm nghe chăm chú: bàn gì nhỉ?)... để đồng chí Tư kiêm coi kho là một điều hết sức ngờ nghệch (Cừ cũng quay lại: có vấn đề gì mà quan trọng thế?), không đúng những nguyên tắc về tài chính. Tôi lấy ví dụ, đồng bào đến đây mua lạc giống rất nhiều, chốc hai cân, chốc năm cân, cùng một đồng chí Tư mở kho lấy lạc bán, vừa viết hóa đơn thu tiền. Giả thử như đồng chí không viết hóa đơn chẳng hạn thì có ai biết không... tôi nghĩ có mà giời biết. Từ ngày nhập lạc đã cân lại bao giờ đâu mà biết thừa, thiếu, rồi nào những lạc đem biếu phái đoàn, lạc tặng các đơn vị bạn, lạc nộp lên nông trường làm giống, cả lạc lấy ra nấu thức ăn, trăm thứ, cứ nhộm nhoạm linh tinh cả, như thế thì... thì... có tham ô vài chục cân, cứ gọi cho là hàng trăm cân cũng vẫn trôi chảy như thường. Đáng lý anh giữ kho cân kẹo riêng, tài vụ tính toán tiền nong riêng, mỗi anh đều có sổ sách chi thu hẳn hoi, anh nọ kiểm soát anh kia như thế mới là đúng nguyên tắc... Tôi xin hỏi anh là... mặc dù đồng chí Tư ở trong cấp ủy nhưng có ai dám bảo đảm là cấp ủy không tham ô, nhất là khi lại không chịu một sự kiểm soát nào.

Cừ khẽ gật đầu: - Phải biết tin, nhưng cũng phải biết kiểm soát.

Lâm nghe Khôi trình bày mắt anh cứ đờ ra, lòng đen càng bạc đi.

Khôi thấy chủ nhiệm chính trị có vẻ quan tâm đồng tình với sự phát hiện có tính chất nguyên tắc của mình nên càng hồ hởi, cách nói càng rành rọt, trôi chảy. Vừa nói anh vừa lắng nghe tiếng nói của mình, thưởng thức một cách thú vị và hãnh diện những ý kiến táo bạo mà mình đã đề ra, và trong chốc lát anh tưởng như những người ngồi nói chuyện với anh đều ít thông minh hơn, kém từng trải hơn.

- Tôi không nhớ hồi kháng chiến có đồng chí cán bộ cao cấp nào nói "những thằng quản lý cứ ba năm nên đem chém đầu đi một lượt"...

Cừ hơi cười, xen vào:

- Nói hồ đồ như thế không được đâu. Trước hết phải có lòng tin...

- Vâng, câu nói ấy tuy ác một chút, nhưng thật hay. Các anh để ý đến những cuộc họp của quản lý không? Xe đạp cứ xếp thành hàng ở trước nhà, còn cuộc họp của cán bộ đại đội thì... chỉ lủng củng những chân là chân. Anh Cừ ạ, tôi trông lơ mơ thế này mà đã từng ở trong phái đoàn kiểm tra công tác hậu cần của trung đoàn đấy nhé. Chẳng là các ông ấy thấy tính tôi cũng hay sắc mắc nên kéo đi. Lần ấy đến một đại đội, ông chính trị viên cứ cam đoan với chúng tôi rằng cậu quản lý là người rất tốt, toàn đơn vị đều mến, ai tham ô chứ cậu ta thì không đời nào. Tôi không dám cãi gì, chỉ nghĩ bụng: "Đã giữ tiền mà không chấm mút có là người đời". Bắt đầu phải điều tra xem anh ấy ăn tiêu ra sao, thống kê lại, đem so sánh, lòi ra một số lỗ hổng, chất vấn, tiền anh lấy ở đâu ra, ai cho, cho bao giờ... hết nói... Tính ra đến lúc ấy anh ta đã ăn cắp của anh em đến hai mươi vạn rồi. Hôm thanh toán tài chính trước hội đồng quân nhân, mặt các ông thủ trưởng cứ đỏ như gấc... Nhưng tài nhất là cái khoản đánh cắp tiền ăn những cậu hy sinh trong chiến dịch. Thằng nào nghĩ ra cái mẹo ấy phải nói là thánh thật (Cừ nhìn đi chỗ khác, hơi rùng mình). Tiền thì lĩnh đầu tháng, nhưng nhiều anh em chỉ ăn đến mồng năm, mồng sáu thôi, còn lại vào túi quản lý cả. Đánh nhau như Điện Biên, một đại đội chết hàng trăm, rồi lại bổ sung hàng trăm, cứ nhộm nhoạm linh tinh cả, đến sổ nhân sự cũng chưa kịp ghi thì nói gì đến kiểm tra ngày giờ chết của từng người... Nhưng anh Cừ ạ, tôi cam đoan với anh rằng cậu quản lý nào đã ở với tôi thì dù có bảy mươi hai phép biến hóa cũng khó mà lọt qua con mắt của tôi được. Sơn lở từng mặt, ma bắt từng người, cũng tùy thái độ của nhau mà đối xử thôi đấy anh ạ.

Cừ hơi quay nghiêng lại, nhưng không nhìn thẳng mặt Khôi, trong người anh như vừa gợn lên một cái gì tởm lợm. Rồi anh hỏi Lâm về một chuyện khác:

- Thời gian làm việc của tổ máy kéo ở đội này được bao nhiêu lâu đấy?

Lâm nhăn nhó:

- Trạm thì quy định là trong vòng hai mươi hôm, nhưng xem chừng gay lắm đồng chí ạ, toàn gốc rạ, có lẽ phải kéo dài hơn đấy.

Khôi đã quên ngay câu chuyện vừa qua, anh bị lôi vào câu hỏi mới:

- Khó khăn ấy các đồng chí ở tổ máy kéo đã trình bày, tôi đã đề nghị anh em cố gắng khắc phục, vì ở đội nhân công thiếu quá.

Cừ vẫn nhìn chênh chếch sang Lâm:

- Nhưng khắc phục bằng cách nào?

Lâm như sững sờ, họ có bốn người ngồi cả trên bốn cái đầu máy, thì làm cách nào mà khắc phục được. Họ xin đội cho người ra giúp, nhưng đồng chí Khôi đã giải quyết khác hẳn với ý muốn của anh. Anh lắp bắp:

- Tôi... cũng chưa biết là nên khắc phục bằng cách nào?

Khôi lườm Lâm rất kín đáo, anh xen vào hấp tấp:

- Anh Cừ ạ, tôi đề nghị với các đồng chí ấy cứ cày, nếu rạ quấn nhiều quá thì cho máy lùi lại, chịu khó xuống móc rạ ra. Anh cũng biết đấy, kỳ vừa qua lúa chín rũ một loạt, trên lại không điều người về gặt giúp, nhất nhất cái gì cũng đội tự lực cả, công việc cứ mê ra, đành phải tập trung vào giải quyết những công việc chính thôi.

Cừ im lặng như không có ý kiến gì khác. Khôi thoáng mừng: "Cũng đồng ý như cách giải quyết của tôi thôi. Anh em thì đứa nào mà không muốn thêm người cho nhẹ việc".

Cừ lắc đầu, môi anh bĩu ra giống như là một nụ cười gượng gạo:

- Giải quyết thế không ổn đâu các ông ạ, việc ùn là vì mình thiếu kế hoạch (Khôi nghĩ: chỉ thiếu người chứ kế hoạch thì có thừa). Sở dĩ làm sao lúa chín rũ một loạt hàng mấy chục éc-ta, chỉ do là cày bừa chậm nên phải gieo vội, gieo một loạt. Tôi ví dụ nếu như mình tranh thủ cho cày bừa được khắp một lượt bảy mươi éc-ta nội trong tháng một này, thì chỉ đầu giêng tổ máy kéo đã có thể trở lại cày bừa được lượt nữa. Các anh cũng còn phải tính tới đất mềm, đất rắn nữa chứ, gió nắng này chậm một hôm là đất bằng đá rồi, cố cày thì gãy lưỡi không lấy tiền đâu mà đền chính phủ được, hay là gác máy đợi mưa mới cày... Đập chậm một tí thì lúa vẫn còn đấy, còn cày chậm thì ảnh hưởng đến cả vụ sau, ảnh hưởng đến cả vụ sau, ảnh hưởng đến cả các đội bạn.

Cừ đập đập hai bàn tay vào nhau, hỏi cả hai người:

- Đồng ý như vậy chứ, chỉ cần bớt ra một tổ thôi, thanh nữ cũng được, đi đốt rạ ấy mà, người Thái họ làm thế cả đấy... Các anh coi tổ máy kéo như đứa con hoang. Cứ khoán trắng là không được đâu. Anh em người ta mới tập làm cả, mình không động viên thì thôi, chứ ai lại bỏ mặc.

***

Mới chớm tối, gió thổi vào mặt đã tê buốt, trời xanh lạnh lẽo dầy đặc những vầng sao. Từ đầu nhà mùi lá sả bỗng bay lên ngây ngất, say say như mùi tóc đàn bà. Khôi định đứng dậy thắp đèn làm việc chợt thoáng thấy bóng Thoa từ phía nhà ăn đi lướt qua, thân hình tròn lẳn, mỗi bước đi các bắp thịt như nẩy lên trên đôi guốc gót cao. Anh để đèn sang một bên, gọi qua khung cửa sổ:

- Cô Thoa!

Thoa ngơ ngác rồi ngoảnh lại phía gọi:

- Ai đấy?

- Tôi đây! Nhờ cái này một tí.

Thoa ngần ngừ một chút:

- Anh Khôi phải không, em cất bát đã nhé.

Khi Thoa bước qua ngưỡng cửa buồng, in cái bóng mờ lên khung cửa, người Khôi bỗng nóng rực lên, máu như dồn cả lên mặt, một hơi lạnh chạy lướt trên sống lưng, anh nói mà cảm thấy hơi thở của mình đã mất nhịp.

- Nhờ cô đính hộ tôi mấy cái khuy áo.

Thoa ghé ngồi xuống giường. Khôi vẫn im lặng như không nhúc nhích, miệng anh khô lại, và hai thái dương mạch máu giựt mạnh. Một sự thèm khát không thể nén nổi đối với cái thân hình đầy mùi thơm của người con gái ngồi trước mặt. Chỉ cần với tay ra một chút, đầu ngón tay của anh sẽ chạm vào đôi vai căng thịt dưới lần vải mỏng, và tiếp đó sẽ là hai cánh tay rất mềm quấn chặt lấy người anh, cái mớ tóc ngây ngất lá sả sẽ dụi vào lồng ngực nở rộng, đôi môi cháy bỏng vì sung sướng sẽ gắn lên trên cái má như mọng đầy nước ngọt. Có thể thế được chăng? Được lắm chứ! Vì đó là con Thoa, một con bé rất đĩ tính, chỉ cần cái nháy mắt của người đàn ông, nhất là của anh đội phó trẻ tuổi, khỏe mạnh, chưa vợ là nó có thể ngã ngay vào lòng. Biết bao nhiêu lần nó đã nhìn anh bằng đôi mắt quyến rũ, nhiều tình ý, đôi mắt mời mọc, mà chỉ vì nghĩ tới mình là một quân nhân, một người chỉ huy nên anh phải làm ngơ. Biết bao lần nó nắm lấy tay anh như không muốn rời, ngồi sát bên anh hơi thở đã nóng rực vì thèm muốn nhưng anh cũng đã bỏ qua. Còn lần này đây... tối nay đây... có thể nào nhắm mắt trước một cơ hội thuận lợi nữa. Thằng đàn ông có phải là thánh đâu. Miễn sao công việc được êm dịu. Khi cả hai cùng đồng tình thì việc gì mà không trôi chảy. Ngồi lại gần đây, xích lại thêm một chút nữa, đã nghe thấy hơi thở của nó rồi, đã ngửi thấy mùi da thịt của nó rồi. Chao ôi, của quý, của trời cho, thằng đạo đức là thằng ngốc. Mắt anh lóa lên, tai ù đi, miệng càng khô đắng, tim đập nặng trĩu nghe rõ từng nhịp một, đầu ngón tay đã bắt đầu run bắn. Anh xô người lại, một khối thịt mềm nhũn và nóng hổi lả vào hai cánh tay, như điên dại anh vừa ghì chặt lấy, thì... một sức bật gạt anh ra, một cái tát rất mạnh làm tê cả một bên má, loáng thoáng một tiếng hét nhỏ: "Đồ khốn nạn! Tôi kêu lên bây giờ!" Khi anh nhìn lại trước mặt chỉ là cái bóng tối mênh mông, mát lạnh.

Sự thật hay là mê sảng? Việc trước mắt hay trong mộng mị? Cái gì đã xảy ra như thế? Cái gì đó vậy?

Tối hôm ấy Thoa xin nghỉ họp tổ, buông màn đi nằm sớm. Ai hỏi gì chị cũng không trả lời được, khi cầm mép chân rũ ra người chị vẫn còn run lên vì sợ hãi, một thứ hơi người nồng nặc mùi khói thuốc lá dính vào da thịt không sao bay đi được, và chị có cảm giác rằng người nào đứng cạnh chị cũng sẽ ngửi thấy mùi lạ ấy. Một cái gì tủi nhục như kim châm vào da thịt, một nỗi đau đớn dày vò, giằng xé, bỗng nhiên chị thấy mình lẻ loi, cô độc, bị hăm dọa, bị khinh rẽ.

... Chị để mẹ già ở dưới xuôi lên đây xây dựng nông trường cùng với bộ đội đã được già nửa năm rồi. Một cuộc đời lạ lùng, mới mẻ, rộn rịp bao vây lấy chị, kích thích chị từ lúc mờ sáng cho đến tối đêm... Đốt tre măng mọc vót lên với những chiếc mo nang vàng nượm, những giọt sương sớm đọng long lanh ở cọng cây đu đủ, những đốm trắng quay tròn trên cánh bày sáo nghệ, một bông hoa vông vang mướt vàng, mỏng manh, mọc chồi lên giữa bụi ké và me dại. Bất cứ một hình ảnh nào cũng đem lại một nguồn vui mênh mang, một thứ vui chẳng có duyên cớ gì, chỉ muốn được trò chuyện với mọi người, được luôn luôn cất nhắc chân tay, trong giấc ngủ cũng thấy người thổn thức, chưa kẻng đã choàng mắt dậy, nhìn mảng sáng nhạt in vào khe cửa trong lòng lại xôn xao vì một ngày mới bắt đầu với những việc làm mới, những câu chuyện mới, những khung cảnh mới. Khi chị mới đến đây anh em đều coi như một con bé: nước da đen khô, cổ ngẳng, ngực lép và chân tay queo quắt, lóng ngóng. Một nửa năm qua, khí hậu Điện Biên, nước sông Nậm Rốm, cơm gạo bộ đội, và nguồn thu mênh mông của đời sống tập thể đã thay da đổi thịt và thổi vào tâm hồn cô bé những cảm xúc, những ước mơ lạ lùng. Anh em bộ đội bắt đầu chú ý đến chị, đã có những con mắt ngắm nghía thầm kín, những lời khen ngợi đến đỏ mặt, những câu nói bóng gió xa xôi, những chuyện đùa vui sổ sàng, và cả những chuyện gán ghép. Giữa những ngi đó nổi bật lên một con người thương mến, Diễm, anh y tá của đội sản xuất. Hai người quen thân nhau từ ngày cùng đi làm hồ Huổi Phạ, chị bị cảm mấy hôm được Diễm chăm sóc rất tận tình, gần như đặc biệt. Tối nào anh cũng nói chuyện với chị đến khuya, dịu dàng như một người anh trai. Những lúc ấy chị thấy mình hoàn toàn mềm yếu, bé bỏng, chỉ muốn khóc lên để được nghe một giọng nói đầm ấm, một bàn tay vuốt ve. Chị cần có chỗ nương dựa trong lúc xa gia đình, xa mẹ, mà Diễm lại là một anh bộ đội rất tốt. Chị theo dõi, săn sóc từng bước đi, việc làm, lời nói, cho đến cái ăn mặc của người mình yêu, đến nỗi ai cũng nhận thấy sự đổi khác quá lộ liễu. Chị một lời nói thiếu trìu mến, một cái nhìn hơi bàng quan, một cách đối xử quá bình thường của Diễm cũng đủ làm chị hờn tủi, đau đớn hàng mấy ngày. Nhưng anh ấy đã có vợ và anh cũng dự định đón vợ lên Điện Biên để xây dựng cuộc sống lâu dài ở nông trường. Người yêu thứ hai của chị là Lưu, có lẽ bắt đầu bằng tình thương thì đúng hơn, vì anh ấy chẳng có gì đặc sắc, đã ba mươi tuổi, rất ít nói, nhưng thật là một người rất tốt. Người tốt thế mà lại gặp bước không may, hai vợ chồng lấy nhau đã trên mười năm, đã có con sống con chết, nay chị vợ ở nhà mê một anh góa vợ người cùng xóm, nằng nặc xin ly dị với chồng cũ. Lưu tâm sự với Thoa về cách giải quyết của mình, anh sẽ đưa vợ con lên đây, chắc chắn mọi việc sẽ ổn thỏa. Sao có con người đáng yêu đến thế. Chị dành tiền mua vải hoa, may một cái áo bông trẻ em rất đẹp, mua cả mũ, để nay mai anh đem về làm quà cho con. Chị săn sóc đến nỗi chính Lưu cũng ngượng nghịu và tìm cách lẩn tránh. Một buổi đi làm lạc chị đã nói hết nỗi lòng thầm kín của mình: "Nếu việc nhà không giải quyết xong anh cứ đưa con lên, nếu anh bằng lòng em xin nhận làm dì nó". Lưu về phép một tháng khi lên có cả vợ đi theo, anh chàng góa vợ kia đã phụ tình chị ta, lấy một cô khác còn rất trẻ. Cách ít lâu, vợ Lưu dò biết chuyện đã có lần cô Thoa ở tổ thanh nữ định quyến rũ chồng chị, định làm cho gia đình chị tan nát, chị liền tìm cớ gây chuyện đôi co với Thoa, làm ầm ĩ lên để tỏ cho mọi người biết xưa nay chị vốn chung thủy với chồng. Còn Thoa sao vụ hiểu nhầm ấy chị mấy cái vui vốn có, người trầm lặng hẳn đi, chị sống lặng lẽ và gần như cô độc. Trong tình yêu chị là người ít được may mắn, tuy vậy mỗi lần nghĩ đến yêu đương chị vẫn thấy rạo rực sung sướng, như những vệt nắng làm bừng sáng cái tuổi dậy thì, nhưng chị lại rụt rè, lo sợ, vì dấu vết hai lần tan vỡ còn in quá rõ nét. Hình ảnh Doãn, anh tổ trưởng máy kéo, tính nết thẳng thắn gần như sỗ sàng, đến với chị thật bất ngờ. Đầu tiên có lẽ do sự gán ghép đùa cợt của chung quanh. Nhưng rồi bóng dáng anh ta với lối đi nhảy nhót, cái miệng cười hóm hỉnh thoáng nhìn tưởng là châm chọc, đôi mắt hơi xếch sắc sảo, dần dà xâm chiếm toàn bộ đời sống của chị. Chị theo dõi sự biến đổi của mình với trái tim trĩu nặng lo âu. Chị bắt đầu yêu anh ta rồi chăng? Liệu tình yêu giữa hai người lần này có được trọn vẹn? Nhưng Doãn đâu có dễ gần, hình như anh ấy khinh rẻ chị, coi chị là một con người xấu xa gì đó. Anh ấy nhìn chị bằng cặp mắt gườm gườm đầy nghi ngờ, và đối xử với chị không chút ân huệ riêng, gần như nhạt nhẽo. Buổi sáng gặp lại Doãn chị khóc suốt buổi trưa, tự thề rằng sẽ cắt đứt mọi quan hệ với con người bội bạc (tuy rằng Doãn chưa hứa với chị một điều gì), chị tìm mọi nét xấu xa của anh ta để gây mối hằn t
thù, một anh bộ đội kiêu ngạo, một thằng lái máy kéo lỗ mãng, là một con người chẳng ra gì. Nhưng chao ôi, càng tìm bới ra thì những nét đáng yêu càng lộ rõ, càng thu hút, muốn thù ghét anh ta nhưng lại thấy yêu quý vô ngần, muốn cắt đứt nhưng lại tự bảo rằng không thể sống được nếu thiếu bóng dáng anh. Rút lại chỉ càng thêm yêu, càng đau khổ, và càng thèm muốn một chút cảm tình dù bé nhỏ anh ấy sẽ dành cho riêng mình.

Tuy vậy chị vẫn hy vọng, cho mãi tới tối nay cái hành động thô bỉ của anh đội phó bắt buộc chị phải ngẫm nghĩ lại bản thân mình. Có thể người ta đánh giá chị là con người thiếu đứng đắn nên mới có thái độ sỗ sàng, thiếu tôn trọng đến thế. Chị chỉ đáng để đùa cợt, trêu ghẹo, chứ không thể là người yêu, người vợ sau này. Chỉ những người đã có vợ, có con rồi mới đưa tay đón lấy chị, trò chuyện với chị và quý mến chị. Anh Doãn lại quá trẻ, tương lai còn dài rộng, biết bao cô ở tổ thanh nữ đang mơ ước đến anh ấy. Thế mà, chị lại dám dành riêng cho mình cái hạnh phúc hiếm có, lại bắt anh ấy chỉ được chú ý đến có một người, một đứa con gái xấu xí, bị cả mọi người khinh rẻ. Chị vừa rấm rứt khóc, vừa thầm thì với mình: hãy biết làm ăn chăm chỉ như mọi người, anh nào có lòng tốt muốn thương yêu, đùm bọc thì sẽ lấy anh ấy, bằng không thì ở một mình, sống với tập thể, với nông trường, với hai anh nuôi, nay mai dành dụm được ít tiền sẽ về xuôi đón u lên, có mẹ, có con... U ơi, sao đời u vất vả cơ cực thế, đời con rồi cũng giống đời u, con sẽ về đón u lên nhé... Cũng như mỗi lần gặp những uất ức riêng không thể thổ lộ cùng một người nào khác, chị lại cầu cứu đến mẹ, đến hình ảnh một người đàn bà gầy yếu, lo lắng quanh năm, để kể lể, than vãn, tâm sự, để cảm thấy mình bớt lẻ loi, và nỗi buồn được trút vợi.

***

Đêm trước tổ máy kéo làm việc cho mãi tới khuya, nhưng bốn giờ rưỡi sáng hôm sau Doãn và ba anh em trong tổ đã trở dậy phát động máy, khi đầu máy ra đến đồng thì mới vừa kẻng báo thức. Trời tờ mờ sáng, sương kéo thành mộng đè lên đám đất vừa cày, lổn nhổn những cây cỏ khô cháy và gốc rạ bị đảo nhừ. Trong mù sương tiếng quạ kêu rời rạc, nghe ảo não và xa lăng lắc. Trên đám ruộng sắp cày một vệt lửa bỗng bay vút lên, in bóng mấy người cúi lom khom. Vệt lửa lan ra rất chậm chạp, uể oải như đã bị cứng đờ vì cái giá buốt của sương muối. Doãn quấn lại miếng vải dù, bịt kín hai tai, mỉm cười: "Rét thế này mà các cô đốt rạ đi sớm nhỉ". Rồi anh lái đầu máy chạy vòng lại phía có bóng người. Nghe tiếng máy nổ lại gần, mấy bóng người đứng thẳng lên, và một cái bóng thấp thoáng tiến lại gần. Doãn nhìn ra Tám, mặt tím đen trong cái khăn len màu, mặc áo bông vải hoa, ngoài lại thắt thêm một sợi lạt trông sù ra như con ếch. Tám liêng liếng con mắt nhìn lên đầu máy, tiếng nói cứ như nổi bập bềnh trong bụi sương:

- Anh tổ trưởng trẻ tuổi ơi, sao các anh ra muộn thế, chờ sưng cả mắt lên đấy!

Cái con bé chanh chua này, chưa bao giờ nó nói được một câu đứng đắn với người khác.

- Liệu có đốt kịp cho chúng tôi cày không đấy, vài ngọn lửa lèo tèo như trò trẻ.

Tám đưa tay quệt lên mặt, miệng nói như mếu:

- Khốn rạ tốt bỏ mẹ đi đây này, đốt mãi cũng không cháy. Có giỏi xuống đây giúp một tay.

Tám nguây nguẩy quay đi còn nói trở lại:

- Cái Thoa nó đứng ở kia kìa!

Doãn vẫn mĩm cười: "Rõ khéo chuyện mấy cô ả, việc gì đến tôi đấy".

Tổ thanh nữ do Tính làm tổ trưởng có mười cô. Gọi là cô vì họ chưa có chồng, chứ kể tuổi thì non nửa đã ngót nghét ba chục, trong số đó chỉ có Thoa và Duệ là trẻ nhất. Rạ ướt quá nên đốt mãi cũng không thể cháy to, ngọn lửa cứ lèo tèo, bỏ lại phía sau một vết đen ngoằn ngoèo đứt quãng, nham nhở. Nhưng cả tổ máy kéo vẫn có cảm giác rằng đầu máy chạy như nhẹ hơn, lưỡi cày bập vào đất ngọt hơn. Mỗi lần rạ cuốn chặt lấy lưỡi, Doãn lại quay lại, hét lên rất hách dịch:

- Các cô phụ việc ơi, lại đây nhờ một tý!

Sau tiếng gọi lại thấy cái dáng nguây nguẩy của Tám, và bước đi lặng lẽ của Thoa tiến gần lại cái khung kéo.

Gần nửa buổi Thoa không hề nhìn thẳng vào Doãn một lần nào, cũng không hé môi nói một câu. Nước da cứ xanh rờn trong chiếc khăn láng đen, mắt lờ đờ mệt nhọc, và môi mím lại như sắp khóc. Chị làm vẫn nhanh nhẹn, tháo vát, đâu vào đấy, nhưng có lẽ do bản năng nhiều hơn. Doãn mấy lần nghĩ thầm: "Cô này hôm nay lạ nhỉ, lại giận dỗi với ai đây, hay nhớ nhà?".

Đầu máy của Doãn bắt đầu vòng theo sát rìu khu chưa khai hoang ngun ngút những bụi cây chó đẻ, me dại, một thứ mùi hăng hăng nồng nặc bốc lên lẫn với mùi khói ma-dút sộc vào mũi rất nôn nao. Doãn cho dừng máy lại, gọi Tính:

- Đồng chí tổ trưởng ơi, cho tôi hội ý một chút!

Tính bước lại rất chậm chạp, e hè một cái rồi mới hỏi:

- Gì hử?

- Anh có mang theo dao không thế?

- Mang làm gì?

Doãn chỉ vào đám cây sát rìa ruộng:

- Giá phát được vào một quãng cũng tốt đấy ông anh ạ!

Tính đưa con mắt lờ đờ nhìn đám lá cây chó đẻ héo đen vì sương muối, nói đủng đỉnh:

- Trước sau cũng phải phát thôi, mảnh này nằm trong chương trình khai hoang đầu năm nay đấy.

Doãn nhếch mép, môi bĩu ra:

- Thì ta cứ tranh thủ cho phát luôn bây giờ, được chút nào hay chút ấy, tôi sẽ đưa máy vào quần vài vòng cho nhừ đất đi thì ít nữa có dùng trâu cày cũng tốt chán.

- ấy việc nào vào việc ấy chứ, đi gỡ rạ cho các anh còn chưa xong đây.

Doãn nhảy phắt từ trên đầu máy xuống:

- Tôi bàn với ông anh nhé, chỉ cần độ sáu cô phục vụ cho máy kéo thôi, còn năm người ta đi phát cũng được ối đất đấy!

- Trên có phân công đâu mà làm, bôi việc ra rồi các ông ấy lại cự cho.

Đôi mắt một mí hơi xếch của Doãn nhìn Tính gườm gườm:

- Anh máy móc bỏ mẹ, thì nhiệm vụ của tôi là cày đất thuộc chứ có khai hoang đâu mà tôi lại ngửa tay xin việc. Có cái mình ngồi trên máy cày cũng tiếc đất, giá phát lùi vào ít nữa thì trông cái mảnh đất nó vuông vắn, người ngoài họ có đến tham quan cũng dễ nhìn.

Tính ngắm nghía một lát rồi lặng lẽ quay đi, nói lúng búng:

- Vài người phát thì được mấy tí, bôi việc ra...

Doãn trèo lên đầu máy cày gắt to:

- Thì cũng xin mặc kệ các anh, đã làm cái anh lính nông trường mà chỉ sợ thêm việc. Lười bỏ bố!

Trưa về ăn cơm, nghỉ được độ nửa tiếng, cả tổ lại hấp tấp ra đồng. Ngồi nghe tiếng máy nổ đều đều mắt anh nào cũng nhíu lại vì buồn ngủ. Doãn đã nhìn thấy Tính và Thoa đang hì hục phát những bụi cây chó đẻ. Có lẽ họ làm cả buổi trưa, nên khu vực lấn vào đã khá rộng, những cây chó đẻ xếp lại thành từng đống lớn. Mặt Tính đen nhẫy vì mồ hôi, thấy Doãn, Tính ngừng tay e hè một cái:

- Không ngủ một chút à?

Doãn hơi ngượng nghịu vì câu gắt vội vàng của mình sáng, anh nói đùa:

- Thế ông anh không tự ái với tôi nữa chứ?

Giọng nói của Tính vẫn chậm chạp từng tiếng một:

- Phải tranh thủ làm vài buổi trưa thôi, chứ có mấy tiếng đồng hồ mà bôi ra nhiều việc thì chẳng bõ...

- Người đâu cả, mà chỉ có một ông lão với một cô con gái?

Tính hơi cười, răng vàng khè vì ám khói thuốc lào:

- Việc tự giác, ai bắt được.

- Ngừng tay một lúc, có nước chè nóng mang ra đây.

Tính bỏ nóng xuống, đặt quay chuôi dao vào lòng nón, cởi chiếc khăn buộc ở cổ lau mặt, vừa lau vừa hừm hè, đằng hắng rõ ra một người có tuổi. Doãn cầm phích rót vào ca một ít nước chè đưa cho Tính. Tính uống một ngụm nhỏ, rút một đoạn cuống đu đủ nhét thuốc lào đánh diêm hút rồi ngửa cổ thở khói, một mảng gáy rất to đỏ ửng xếp lại trên cái cổ áo đen nhẫy mồ hôi và ghét.

- Đời các cậu thế mà sung sướng, chọn được cái nghề tối tân nên đỡ chân lấm tay bùn. Chúng mình thì thật khổ, mùa mưa bùn ngập đến gối, mùa rét thì da thịt cứ tím bầm lại một nửa ngày vì sương muối. ấy, mình đã viết thư bảo thằng Nhớn, sau này có chọn nghề thì chọn làm cái anh lái máy kéo cho nó vinh quang.

Doãn cười khanh khách, hai cánh mũi rất to cứ phập phồng:

- Nếu trừ cái vinh quang ra, bố bảo chúng tôi có vất vả không?

- Vất vả đếch gì, nếu ngồi trên đệm da còn vất vả thì chỉ trùm chăm nằm nhà là an nhàn nhất.

Doãn vẫn mủm mỉm cười, hàm răng trắng đều của anh điểm một lỗ hà nhỏ ở giữa hai cái răng cửa trông rất hóm và thông minh.

- Nếu được như cái đất đồng Nam Bộ thì khỏi nói, chỉ việc cho nổ máy rồi ngủ luôn một giấc trên ghế cũng chưa chắc đã đến đầu bờ bên kia... Còn ở đây ấy ư? Bố xem, đất thì gồ ghề rắn bằng đá, đường vòng hẹp, cứ vòng luôn, không tinh mắt nhanh tay thì cho máy lao xuống suối có ngày. úi chao, cứ tưởng cách mặt đất có một cái ghế da đã là nhàn lắm đấy... Ông anh có biết chỉ tiêu của tổ cờ đỏ là thế nào không? (Doãn nhay nháy con mắt nhìn Tính)... Không ngon ăn lắm đâu. Một ngày bắt buộc phải mười tiếng cắm lưỡi cày xuống đất. Còn lúc phát động máy, chạy trên đường, chạy không trên ruộng, chăm sóc dầu mỡ, kiểm tra sửa chữa là anh không được tính vào đấy. Tổng cộng ra thì một ngày chỉ phải làm độ chừng mười lăm, mười sáu tiếng thôi... Nói chung thì vẫn là còn nhàn...

Rồi Doãn ôm lấy vai của Tính cười rầm rĩ. Khi anh nhìn lên chợt thấy bóng Thoa đã lùi lại xa tít ở gần đầu bờ bên kia, cô ấy bỏ cả một quãng giữa không phát. Chết, từ nãy hai anh em mải vui chuyện có cô con gái rượu của Đội lại quên không mời uống ngụm nước chè nóng. Anh đứng lên vòng tay làm loa miệng, gọi to:

- Cô Thoa!... Thoa!...

Cái nón trắng vẫn nổi lên giữa những ngọn cây chó đẻ, không thấy quay lại.

Tính nói thầm thì:

- Chẳng biết có ai trêu chọc gì nó không mà rấm rứt khóc cả buổi trưa.

Doãn không trả lời, anh cứ chăm chú nhìn cái bóng nón và lưỡi dao phát kiểu Đông Bắc mũi khoằm lại như mỏ chim đưa lên đưa xuống loang loáng. Lồng ngực anh chợt nổi gai lên vì thương xót, tội nghiệp cô ấy, thật là con người tốt, có điều gì làm cho cô ấy tủi thân đến thế... Hay vì mình?... chẳng có nhẽ... Anh cư xử vẫn niềm nở như đối với mọi người. Anh cho tắt máy rồi chạy lại phía Thoa. Thoa đang cắm cúi xếp lại những thân cây đã phát thành một bó. Anh nói khẽ:

- Sao không lại uống nước?

Thoa giật mình, quay lại: anh Doãn. Chị không biết mình nên trả lời như thế nào, cứ loay hoay bó đi bó lại, mặt gáy nóng ran vì sung sướng và cả vì hờn dỗi. Rồi bỗng nhiên Doãn cũng thấy mình lúng túng, ngượng nghịu, không còn cái thoải mái, tự nhiên như mọi khi vẫn nói chuyện với Thoa. Có lẽ hôm nay lần đầu tiên chỉ có hai người đứng nói chuyện với nhau và bản thân Doãn vừa trải qua một sự xúc động mà từ ngày lớn lên chưa hề có.

- Cô đưa tôi bó giúp cho, tay chân đàn bà có khác.

Cũng là lần đầu Thoa được đứng gần Doãn nhất, và chỉ có một mình chị, không còn sợ những con mắt tò mò, xói móc, những lời nói châm chọc. Anh ấy lại đang làm cái công việc của chị, nên chị có cảm giác rằng cái thân hình chắc nịch đầy sức trẻ đang vụt đi vụt lại trước mắt kia là của riêng mình, chị có quyền được ngắm nghía cho bõ những lúc nhớ trộm, yêu thầm. Nhưng thời gian đi nhanh quá, Doãn đã bó xong, anh phủi quần áo nhìn Thoa định cười, nhưng môi cứ méo đi vì mất tự nhiên. Anh đằng hắng mấy cái rồi chôn chân tại chỗ, còn Thoa vẫn cứ nhìn thẳng vào mặt anh như bị một sức hút kỳ lạ, không còn biết xấu hổ là gì. Mãi anh mới nói được một câu, mà tự mình cũng cảm thấy là nhạt nhẽo:

- Cô xem, đàn ông chúng tôi có được việc không?

Thoa cũng mỉm cười:

- Thế mà cũng có những việc các anh phải chịu chúng em đấy.

Doãn vụt nhớ lại hôm chạy lụt vào đầu mùa thu. Những bao lạc nặng trên dưới một tạ xếp đầy ở hội trường, cả một đại đội ùa vào, cứ hai người khênh một bao mang lên kho còn ì ạch. Doãn và đồng chí Lâm đang loay hoay bê một bao lên thì Thoa đã chít cái khăn vuông láng đen bịt lấy tóc, ghé vai vào: "Các anh đưa lên vai cho em". Lâm đang cuống quýt vì tiếng nước rép đã ào ào gần đến nơi mà các bao lạc còn bề bộn, nên gắt lên: "Không phải lúc đùa!". Thoa vẫn quỳ một gối xuống nói như cũ: "Để lên vai em mau lên!". Doãn vừa buông tay ra thì Thoa đã nhấc người đứng dậy, bao lạc nằm gọn ghẽ lên trên đầu và nửa lưng, mọi người chưa kịp ngạc nhiên thì Thoa đã nhon nhón chạy ra ngoài. Từ hội trường lên nhà kho dài hơn trăm thước, cô ta cứ chạy đi chạy về, mỗi lần một bao trên vai như thế, trông xa cứ tưởng là bao tải đựng vỏ bào chứ không phải là lạc mới dỡ.

Câu chuyện trở nên dễ dàng.

- Cái đầu cô chắc phải rắn bằng người luyện nội công ấy nhỉ?

- Cũng quen cả thôi anh ạ, em người vùng Tiền Hải, con gái đứa nào cũng đội được hàng tạ trên đầu ấy chứ.

- Con gái vùng ấy chắc bướng lắm.

- Cũng tùy với từng người.

Doãn hỏi thành thật:

- Sao tối hôm qua cô không ra chỗ chúng tôi chơi, có chuyện gì buồn thế?

- ở nhà vất vả mới buồn, chứ ở nông trường với các anh vui suốt ngày có gì mà buồn.

Thoa ngừng lại, khẽ hư hứ trong cổ như khé giọng:

- Tính chúng em nó làm sao ấy, vui buồn thất thường, không gan được như các anh đâu.

Rồi giọng chị tự nhiên nhẹ bẫng đi, rung lên:

- Với lại số em nó cũng vất vả, chứ không được nhàn như các chị khác, em cũng hay nghĩ xa xôi lắm, lắm lúc tự bảo: nghĩ nhiều thì có ích gì, hại sức khỏe, ảnh hưởng đến công tác, nhưng rồi thế nào vẫn cứ phải nghĩ, nghĩ đây nghĩ đó, chẳng ra thế nào... Đời phụ nữ thế mà khổ, chẳng mấy khi được sướng.

Thoa cứ kể lung tung, chẳng ra đầu cuối gì, nhưng Doãn chắc rằng đấy là những tiếng nói thốt ra từ một tâm sự u uất, anh nghe rất lặng lẽ và luôn luôn quan sát người nói chuyện.

- Có khi lòng mình ngay thẳng, người khác lại hiểu là oeo, mình đối xử tốt với mọi người, người ta lại bảo là thiếu đứng đắn... ở sao cho vừa lòng người, ở rộng người cười, ở hẹp người chê...

ở một nửa con mắt Thoa tự nhiên sáng bóng lên, óng ánh như có nước, chị cúi gằm mặt xuống, lấy lòng bàn tay dụi dụi mắt, mấy sợi tóc dính nước mắt bết chặt vào một bên má.

- Có điều gì thắc mắc sao cô không đưa ra tập thể, nhờ chị em góp ý kiến giải quyết có hơn không?

Thoa đưa mắt đỏ lừ lườm Doãn một cái, chị nói giận dữ:

- Tập thể, có phải cái gì tập thể cũng giải quyết được cả đâu... Các anh thì chẳng biết thông cảm gì với phụ nữ cả.

Rồi chị đứng dậy, cầm lấy dao ngoăn ngoắt quay đi.

***

Cừ ở lại đội sản xuất số "6" cả ngày hôm thứ hai để nghe ban chi ủy và cá tổ trưởng Đảng báo cáo về tình hình kết quả chỉnh đốn chi bộ. Ăn cơm tối xong anh đi xuống tổ máy kéo định hỏi về tình hình cày bừa, vì hôm nay họ không cày đêm. Anh em trong tổ đi chơi hết, còn lại có một mình Doãn đang hí hoáy viết thư. Cừ đứng nhìn lơ láo chung quanh, rồi đằng hắng hỏi:

- Đi đâu cả hở ông tổ trưởng?

Doãn quay ra mắt hấp háy nhìn người hỏi, khi biết là đồng chí chủ nhiệm, anh đặt bút xuống trả lời vui vẻ:

- Họ đi làm công tác phụ vận cả đồng chí ạ. Mời đồng chí vào chơi.

Cừ ngồi xuống cạnh phản, lấy bao thuốc mời Doãn một điếu. Doãn cầm điếu thuốc, nhìn Cừ mủm mỉm cười:

- Việc nước sao anh hăng hái thế, mà việc nhà lại uể oải vậy.

- Uể oải thế nào, anh thử lấy vợ đi xem có yêu vợ được bằng tôi không?

- Đã đành, nhưng chị ấy cứ xuống phàn nàn với bọn máy kéo là chung quanh họ chửa đẻ nhiều quá, mà mình thì cứ như cây cau đực.

Cái môi dưới của Cừ nhệch ra:

- à, việc ấy đâu có phải cứ tích cực mà được.

Anh nháy mắt hỏi Doãn:

- Thế còn anh, sao cứ lửng lơ như con cá vàng mãi thế. Xem chừng con bé say anh chàng tổ trưởng lắm rồi đấy.

Mặt Doãn đờ ra, hai mang tai đã nóng ran:

- Họ say mặc họ chứ, nhưng... nhưng tôi thì chưa thấy yêu cô ta.

Đôi mắt thô lố của Cừ nhìn Doãn chòng chọc:

- Chê xấu hả? Đấy, đấy, anh đếch nào mà không thích gái đẹp. Cứ nói thánh mãi đến lúc vận vào thân mới trật khấc ra.

- Không đâu, không đâu... cái xấu đẹp không quan hệ lắm, nhưng mà là cái đức kia.

Cách nói của Cừ vốn sỗ sàng, câu chuyện tình duyên đáng lý chỉ nên nói với nhau rất thầm kín, nhưng giọng anh cứ oang oang khiến người Doãn nhủn ra vì xấu hổ và lo sợ. Anh luôn luôn đưa mắt nhìn trộm ra ngoài.

- Thế nó phản đối xây dựng chủ nghĩa xã hội aà? Trây lười lắm hải? Hay là... phần tử phản cách mạng?

- Đâu đến nỗi thế, là người tốt thôi, làm ăn chăm ra phết, nhưng... tôi muốn nói là cô ta yêu nhiều người quá, tôi là người thứ ba đấy đồng chí ạ... Yêu nhau cũng đứng đắn thôi. Đầu tiên là cậu Diễm y tá, rồi đến Lưu, vợ tay Lưu đánh ghen một trận ầm ĩ cả lên.

Cừ đưa tay lên gãi gãi bộ râu rậm đen:

- Mình là con gái cũng đến phải lòng hai cái thằng cha ấy. Toàn là những tay tốt cả. Cô ấy có con mắt tinh đời đấy chứ.

- Nhưng người ta vợ con cả rồi, lại lăn vào.

- Thế mới nên chuyện, vì thế mới phải đau khổ, nhưng xem ra Thoa nó vẫn đối đãi với hai gia đình ấy rất tốt, đi lại vẫn đầm thắm, coi như anh chị nuôi. Người có thủy chung, có tình nghĩa là như thế đấy. Phải nhận rằng cô ấy là người tốt thật, chỉ phải cái ít gặp được may mắn.

- Tôi vẫn cứ nghĩ rằng một người con gái mà đã yêu đến hai ba người là thiếu trong trắng rồi.

Cừ xì một tiếng rất to, mắt trợn lên, anh đưa một ngón tay trỏ vào mặt Doãn:

- Xem cái mặt nào, thế mà họ nói với tôi rằng anh là một thanh niên rất mới, mới ở chỗ nào. Rõ là cái đồ phong kiến!

Có một điều rất lạ là mặc dù Doãn nói về cái cô Thoa (mà anh đã bắt đầu không thể dửng dưng được nữa) bằng những lời lẽ ruồng bỏ, tìm mọi cái xấu của cô ta để phơi bày ra, nhưng trong thâm tâm anh lại sợ cái lý của mình sẽ thắng. Nỗi vui sướng, lòng hy vọng của anh cứ nhóm lên dần dần từ trong những lời phản đối, từ những câu mạt sát của đồng chí chủ nhiệm đối với anh. Đồng chí ấy càng chê bai, trách móc anh, anh càng thấy nhẹ nhõm, càng thêm tin yêu và muốn tâm sự hết nỗi lòng của mình. Anh bắt đầu rụt rè kể lại buổi gặp gỡ sáng nay, kể rất tỉ mỉ đến từng câu đối đáp. Cừ nghe rất chăm chú, đến đoạn anh thắc mắc tại sao cô ấy lại ngoăn ngoắt bỏ đi trước lời khuyên rất thành thật của anh, thì Cừ cười rũ ra:

- Chao ôi... mày thật là một thằng ngốc, ngốc như con bò thiến ấy... Bao nhiêu thông minh của mày để đâu cả...

Mặt Doãn càng đỏ lên. Anh nhìn Cừ ngơ ngác, rồi khẽ cười ngượng nghịu.

- Chẳng nhẽ nó lại phải nói đến nơi là: anh ơi, em yêu anh lắm. Gái chưa chồng, họ có lòng tự tôn tự trọng của họ chứ. Người ta muốn được riêng anh an ủi, được riêng anh thông cảm và thương yêu, anh lại khuyên là nhờ... nhờ tập thể... Như chuyện tiếu lâm ấy!

Doãn nắm tay thụi vào lưng Cừ một cái, rồi bất chợt anh ôm choàng lấy người chỉ huy giàu hiểu biết, cắn vào một bên vai, mớ tóc óng mượt thơ trẻ của anh cứ dụi vào dưới cái cằm đầy râu của Cừ, anh nói như rên lên:

- Anh Cừ ơi!... khó nói quá anh ạ.

***

Đã hơn một tuần Thoa xuống làm việc dưới bộ phận nấu cơm. Suốt ngày chị bận túi bụi vào cái việc do chị bày ra: nấu nước mắm cá. Đây là lần nấu thứ ba, lần đầu tiên chẳng ai tin chị có cái tài ấy, người ta chế giễu bằng cái câu bóng gió: "mắm cô Thoa". Quản lý vội vàng có ý kiến nên ngừng lại, vì nếu nấu chẳng ra gì số tiền cá sẽ biết tính vào đâu. Thoa phải nói cứng nếu nấu hỏng sẽ tự đền. Người ta chờ đợi, nhưng khi chấm ngọn rau cải xanh vào bát nước vàng sánh như mật loãng, ai cũng khen nước mắm Điện Biên phẩm chất không thua sút nước mắm mua ở Hà Nội là mấy.

Cũng từ một tuần nay Thoa không gặp lại Doãn, thời gian gấp rút, cánh đồng lại xa, anh em máy kéo không có thời giờ về ăn cơm nữa, ngày hai bữa đưa cơm ra đồng, nhiều đêm họ mang chăn, căng bạt ngủ tại chỗ để giảm bớt số dầu mỡ đi về. Cũng có tối thu dọn xong, xách ống nước về nhà ở, Thoa thấy thấp thoáng có ánh đèn và tiếng ồn ào dưới khu nhà trống, chị bỗng rạo rực lên vì nhớ nhung, chỉ thèm được gặp lại khuôn mặt yêu quý trong chốc lát, nhưng vì trời rét ngại tắm rửa, người chị nồng nặc toàn mùi mắm cá, chưa bước đến cửa, trong nhà Tám đã kêu ầm lên: "Sao người con Thoa nặng mùi thế!". Chị nằm trong màn, nhưng vẫn hết sức lắng nghe tiếng cười, nói từ tổ máy kéo vọng lại, tưởng tượng ra giọng nói của Doãn để phân biệt, và cái buổi trưa được gặp nhau, được nói chuyện với nhau lại hiện lên với mọi vẻ thi vị của nó.

Cho đến một tối chị được tổ anh nuôi cử đi mang xôi ăn đêm cho tổ máy kéo. Chị mặc cái áo cánh bông đã hơi cũ, nhưng không cài khuy, cốt để ló ra hai cái vạt áo phin trắng bên trong, và vuốt một ít dầu thơm lên tóc. Trăng cuối tháng chưa lên, đường tối mờ mờ vẫn trắng hơi sương. Gió về đêm, lẫn với hơi thở của khoảng đất rộng bát ngát lùa vào cổ mát lạnh, nhưng người chị vẫn nóng bừng, và tiếng tim đập nghe rất nặng, đau nhói cả một bên ngực. Mấy chiếc máy kéo vẫn gầm gừ từ xa, qua vệt sáng của đèn chiếu, bụi vẩn lên như khói. Nhìn cái đèn chiếu cứ xa lăng lắc, như đâm vào chân núi, cày mãi đến đâu thế, và đến lúc nào mới nghỉ. Chị đặt rá xôi xuống vừa gọi vừa đưa tay với ra phía trước: "Các anh máy kéo ơi! Anh Doãn ơi...". Tiếng gọi của chị vang đi yếu ớt và tắt ngay trong tiếng nổ đều đều. Từ xa chiếc đèn chiếu vẫn rạch bóng đêm mệt nhọc, le lói, vất vưởng. Khoảng cách giữa chị và vệt sáng còn xa, giữa đó là bãi đất cày đen ngòm như cái vực, tưởng như đã đặt chân xuống sẽ bị cái khoảng đen nuốt lấy, và không bao giờ người ta có thể tới cái nơi muốn đến cả. Chị lại gọi, nhưng gió thổi vẫn mạnh hơn, cuối cùng chị cắp rá xôi lao xuống nhằm phía có ánh sáng chạy đến. Gió thổi tung hai vạt cánh áo bông, đánh bạt cả hơi thở, chốc chốc chị lại kêu lên: "Anh Doãn ơi, các anh máy kéo ơi!". Nghe thấy tiếng của mình vọng bên tai, chị tưởng như tiếng của người khác, cảm thấy bớt trống trải và đỡ lo sợ. Nhưng khoảng cách không xa như bóng đêm đã lừa dối. Một vệt sáng chói chiếu thẳng vào mặt chị, một tiếng kêu, tiếng của Doãn:

- Cô nào đấy hử?

Chị nhảy bổ về phía trước hét to vì sung sướng:

- Em đây, Thoa đây, có xôi nóng đây!

Đầu máy ngừng lại, một bóng người nhảy xuống.

- Cô Thoa đấy à, lại cả xôi nữa, cám ơn nhé!

Ba chiếc máy kéo (một cái bị hỏng nằm nhà) mỗi cái cày một góc, cách xa nhau khoảng hơn trăm thước. Giọng Thoa vẫn đứt quãng vì mệt và cảm động.

- Để em đi gọi các anh ấy lại.

Doãn gạt lại:

- Để tôi chạy đi cho. Chân các cô...

Doãn chạy khỏi được một lát thì đèn chiếu hai đầu máy kia tắt, và chỉ mấy phút sau đã thấy thấp thoáng ba bóng người tiến đến. Đầu máy của Doãn vẫn để nổ lấy ánh sáng ăn xôi. Họ ngồi quây xít vào nhau, suýt xoa vì sương muối bắt đầu xuống nhiều. Thoa mở những mảng lá chuối đậy trên đã mềm ỉu đi vì hơi nóng, khói xôi đỗ thơm béo phảng phất bay lên, mới ngửi cũng đủ nhỏ nước miếng. Chợt Doãn hỏi:

- Đũa bát để đâu cả?

- Ăn xôi nắm tay càng ngon các anh ạ.

Doãn cười khanh khách chìa hai bàn tay ra:

- Tay này mà bốc xôi à?

Cả sáu bàn tay cùng đưa ra một lúc đen nhẫy như nhuộm than. Thoa lúc này mới chú ý nhìn mặt họ cũng đều nhem nhuốc như vừa ở một đám cháy chui ra.

- Làm gì mà tay để bẩn thế?

Giọng Doãn sừng sộ như người cãi nhau:

- Làm gì à, tổ thanh nữ các cô đốt rạ đấy, nham nham nhở nhở, chỉ làm khổ chúng tôi. Móc rạ một buổi là thành người châu Phi hết.

- Hay em ở lại đi gỡ rạ cho các anh nhé!

- Không dám, phụ nữ các cô thức đêm không chịu được đâu, ốm ngay.

- Sao các anh chịu được?

- à, bì sao được, chúng tôi là bộ đội, bộ đội thức đêm hàng tháng cũng chưa mùi mèn gì.

Nhưng rồi cả ba vẫn bốc tay ăn, nắm xôi đen lại như bằng gạo nếp cẩm. Ăn xong hút hết một điếu thuốc, trăng đã lên cao. Hai đồng chí lái máy kéo trở lại tiếp tục cày. Chỉ còn có Thoa và Doãn. Chị thu lại những mảnh lá chuối khẽ nói: "Hãy còn nhiều xôi hay em để lại đây lúc nào đói thì ăn". Doãn không trả lời, anh hỏi lại, giọng rất nhẹ và đầy trìu mến, như chưa bao giờ anh có cái giọng ấy.

- Về ngay bây giờ à, nửa đêm rồi...

Với linh tính lạ lùng của người con gái, Thoa cảm thấy như cái phút nghiêm trọng nhất của đời mình sắp đến, và chị lo sợ. Chị cúi đầu xuống, hai tay thu vào lòng, người đã nhũn ra như không còn một sức chống cự nào, chị đợi một bàn tay đỡ lấy là chị sẽ ngã theo. Một giọng nói rất xa xăm thoáng đưa đến:

- Hôm nọ Thoa giận tôi lắm phải không?

- Em chẳng giận anh bao giờ cả.

- Thoa nói dối.

- Em nói thực đấy.

- Thế tại sao không thấy Thoa đến chơi với chúng tôi?

Để thanh minh, không ngờ chị lại buột mồm nói ra cái câu mà hai người cùng chờ đợi:

- Em không ra chơi nhưng lúc nào em cũng nghĩ đến anh.

Người Doãn nóng ran vì cảm động, như do bản năng xui khiến, một bàn tay của anh đưa ra nắm lấy cổ tay Thoa:

- Tôi cũng thế, tôi vẫn nghĩ đến Thoa.

Người Thoa chợt nhẹ bỗng đi như không có thực, chị hơi nhắm mắt lại, toàn thân như tê dại, không cảm thấy gì, không nghĩ được gì... Trên đầu họ là vầng trăng rất trắng, chung quanh là nền mây xanh, xanh trong, ngoài cùng lại viền một vòng mây vàng sẫm y như cái miệng giếng, trong ấy nước trong văn vắt, và tận đáy giếng một cái hình mặt trăng vừa tròn vừa nhỏ in bóng vào đấy thăm thẳm, rất sâu và rất mát... Một cái giếng nào đó ở vùng Tiền Hải vào những đêm có trăng như đêm nay.

***

Tổ máy kéo đã hoàn thành nhiệm vụ trước thời hạn quy định là ba ngày. Buổi chiều họp tổ bầu cá nhân xuất sắc, đến tối Doãn lên báo cáo tình hình với đồng chí đội trưởng. Đang nói chuyện thì Khôi bước vào, da ủng cọ vào nhau soàn soạt, Doãn đứng dậy:

- Báo cáo đồng chí Khôi, sớm mai anh em chúng tôi lên đường sang đội "5" đấy!

Mặt Khôi vẫn đen bóng, anh cười rất khắc khổ:

- Không nghỉ một hai buổi cho khỏe rồi hãy đi, các cậu đi có thể lại kỷ niệm gì ở đây không?

Lâm nhìn Doãn cười rất hồn nhiên, đôi mắt bàng bạc của anh ánh lên vì vui sướng:

- Có đấy, có đấy đồng chí Khôi ạ, với cô Thoa nhà ta đấy. Đẹp đôi lắm!

Mặt Khôi cứng ngay lại, anh à khẽ một tiếng, rồi lại hơi cười:

- Con bé ấy vớ được ông lái máy kéo trẻ tuổi, đẹp trai như thế này còn phải nói. Mình cho cánh phụ nữ dưới xuôi lên Tây Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội đều lãi to cả, một vốn bốn lời.

Lâm trùm bàn tay của mình lên tay Doãn:

- Theo chúng tôi thì cô Thoa là người rất tốt, đồng chí định xây dựng với cô ấy chúng tôi rất đồng ý. Tôi coi cô ấy như em tôi. Nhớ viết thư cho em nó luôn nhé, chủ nhật có rỗi thì về đây chơi... Đừng thắc mắc gì cả.

Khôi hơi ngượng nghịu, anh ngồi xuống cạnh Lâm hỏi sang chuyện khác:

- Trước khi các cậu đi có phải giấy tờ gì không?

Doãn chợt nhớ:

- Có chứ, tôi cũng định nói đấy, một cái giấy chứng nhận tinh thần làm việc của anh em, có bảo đảm kỹ thuật cày bừa không, có đạt được yêu cầu của đội đề ra không... chẳng hạn như thế... à, còn một cái giấy chứng nhận là khi cày năm éc-ta đất ở Pa Pháy thì bị gãy hai lưỡi cày, mất hai mươi cái bù long, và hai cái lò-xo.

Khôi khẽ hất đầu:

- Lý do?

- Lý do ấy à, lý do là vì đất các anh rắn quá.

Lâm tán thành ý kiến của Doãn:

- Đất Pa Pháy rắn thật đấy. Năm ngoái cày cũng bị gãy mất năm, sáu cái lưỡi.

Đôi mắt Khôi vẫn đưa đi đưa lại, anh cảm thấy như có cái gì không đúng nguyên tắc nếu viết giấy chứng nhận bừa bãi như vậy.

- Đáng nhẽ ra khi các anh mới về đây là phải mời chúng tôi xuống kiểm tra máy móc lại một lượt, bộ phận nào tốt, bộ phận nào hư, bộ phận nào có thể bị hỏng. Khi làm xong chúng tôi lại xuống kiểm tra lại lượt nữa thì mới nhận xét được tinh thần bảo quản máy móc của các anh... Trong thời gian ở đây, các anh là người của chúng tôi, chúng tôi có trách nhiệm về các anh (Doãn thoáng nghĩ: nhưng hôm nọ đồng chí lại muốn bỏ mặc chúng tôi tự xoay xỏa lấy). Đằng này cứ như khách trọ, đi không ai biết, về không ai hay, bây giờ lại... gãy lưỡi cày, mất bù-loong. Tôi cứ giả dụ rằng các anh đánh gãy ở đâu chứ không phải ở đây thì các anh nghĩ sao.

Máu trong người Doãn bắt đầu dồn lên mặt.

- Chúng tôi không khi nào lừa dối đồng chí đâu, có gãy thật, mất thật mới báo cáo. Lưỡi gãy vẫn còn đây, may mà tôi tinh tai nghe rắc một cái, dừng ngay máy lại nhảy xuống, chứ nếu không biết, đất rạ vùi đi thì có giời tìm. Còn bù-loong thì tổ rèn rèn được, có hơn một hào một cái nếu đây không nhận thì chúng tôi sẽ góp tiền nhau đền cũng không sao.

- Đây không phải là chuyện ai sẽ đền, mà... mà là vấn đề giám sát chặt chẽ để chống lại cái thói vô trách nhiệm trong việc bảo quản máy móc... Thôi được, chúng tôi sẽ viết giấy chứng nhận nhưng như thế là vô nguyên tắc đấy anh tổ trưởng ạ. Rút kinh nghiệm lần sau vậy... Mình đi xuống tổ thanh nữ họp một chút Lâm nhé!

Còn hai người, câu chuyện trở lại thoải mái, tự nhiên như cũ:

- Này, anh Lâm này, hôm nọ anh em ở đây lên trạm lĩnh được mười phuy dầu, tôi đã ký nhận lấy ba phuy, còn bao nhiêu anh phải cho cất vào kho cẩn thận, lần sau chúng tôi về thiếu đâu anh chịu đấy!

Lâm cười cười:

- Thế là còn lại bảy phải không, được, được.

- à, anh còn phải ký nhận là bộ đội của anh đã lấy trộm của tổ máy kéo ba cân mỡ cho vào máy quạt thóc, không ký nhận không được đâu.

Lâm trợn mắt lên:

- Cái thằng này... mặc kệ các anh, các anh có của sao không giữ, mà có lấy đi chăng nữa thì làm gì đến ba cân.

- Thôi, xí xóa cho các anh, nhưng đúng là ba cân mỡ. Bốn cái trục quay, mỡ ướt suốt ngày ngấm sũng cả chân cột lại không đến ba cân à... Còn việc nữa, chúng tôi mới quây lại thành một gian nằm cho đỡ rét, anh đừng cho ai dỡ nhé. Ra giêng về cày, lại không có chỗ nằm tử tế chúng tôi sẽ đình công cho anh biết tay.

- Được, được, chú cứ yên tâm, tôi sẽ cho làm một gian nhà riêng cho tổ máy kéo. Sang năm cơ giới hóa đến sáu mươi phần trăm kia mà.

- Thật tuyệt! Tin tưởng ở anh đấy!... Năm nay các anh được mùa lớn, có mấy thằng máy kéo cứ để chúng nó vác mồm không đi về, anh nghĩ có tội không?

- Muốn gì nào, có lạc, có ngô, có khoai, định lấy mỗi thứ mấy cân?

- Chỉ xin các anh một ít lạc, thỉnh thoảng rang chén với nhau một bữa thôi.

- Sáng mai tôi sẽ cho dỡ cái luống lạc trồng riêng cho các chú mấy cân.

Ngọn đèn để giữa, một bên là cái đầu húi ngắn của Doãn, hai cái bả vai rất rộng, bàn tay đưa lên đưa xuống, tiếng nói rầm rầm, cười ha hả. Còn một bên là mái tóc lờm xờm lấp loáng nhiều sợi bạc trắng, một nụ cười hồn nhiên, thơ trẻ, và đôi mắt cứ óng ánh lên cái vẻ trìu mến. Đồng chí đội trưởng đội sản xuất và anh tổ trưởng tổ máy kéo, một người giàu từng trải, rất dễ thông cảm và một người mới bước vào đời, háo hức, hăng hái, hai con người ấy thưởng thức rất thú vị những câu chuyện của nhau, ngắm nghía nhau cho mãi tới khi có kẻng ngủ.

***

Sáng hôm sau, tổ máy kéo chuẩn bị lên đường. Thu dọn xong bữa ăn lót dạ cho anh em, Thoa chạy về nhà ngủ đứng ở trong ngó ra chỗ sân phơi. Mấy cái đầu máy đã xếp thành một hàng dọc. Họ đang lúi húi tháo lưỡi cày cho vào một cái hòm nhỏ, và đổ số dầu còn lại vào cái bình chứa. Chiếc đệm Thái viền vải điều của Doãn cuộn lại ngất ngưởng sau lưng dựa, chiếc khăn mặt màu xanh Thoa tặng giắt vàomột bên ba-lô để cạnh chỗ ngồi. Người Thoa cứ bồn chồn, nôn nao, muốn chạy ra ngoài, nhưng lại ngại anh em chế giễu. Chị cứ quanh đi quanh lại bên cái khung cửa. Mấy anh ấy đã lên ngồi trên máy, đã bắt tay đồng chí Lâm, mấy cái đầu máy cùng gầm gừ, rồi rú lên từng đợt và tiếng nổ bắt đầu êm hẳn đi, đều đều. Cái đầu đội chiếc mũ xanh của Doãn nghiêng ngó sang hai bên như tìm kiếm ai. "Em đây kia mà! Em đứng chỗ này kia mà!" rồi Thoa chạy vụt ra. Doãn thấy Thoa, anh gật đầu hơi cười, một bàn tay đưa ra đỏ ửng vì rét. Thoa đặt bàn tay bé nhỏ run lên vì nhớ nhung trong lòng bàn tay to lớn, đầy hơi ấm.

- Em ở nhà đừng buồn... Nấu ăn cho anh em được ngon nhé. Nhớ cơm "xê 6" lắm đấy.

Thoa nghẹn ngào đến không nói được:

- Anh phải chú ý đến sức khỏe đấy... Cày trên ấy chắc đỡ vất vả hơn ở đây.

Đôi con mắt dài rất đen của Doãn óng ánh:

- Máy khỏe, lưỡi cày ngọt thì cày đất nào mà không được.

Đầu máy nhúc nhích, những chiếc bánh nhỏ lăn tròn lên vòng xích, Thoa cứ giữ lấy hai vạt áo bông chạy theo:

- Các anh nhớ viết thư cho chúng em nhé!

Mấy cái đầu máy đã đi xa, Doãn ngoái đầu lại đưa một cánh tay lên, rồi tất cả khuất vào cái bãi ngô rậm rịt. Thoa quay về đi rất chậm, vừa ngắm nghía những miếng đất in hình mắt xích bị cày bật lên trắng xốp, dấu vết còn lại của những người vừa đi, như ở đấy có hơi thở, có tiếng nói, một khuôn mặt, một nụ cười. Chị về nằm vật ra giường, nước mắt ứa ra ướt lạnh hai bên mang tai. Sao xung quanh im lặng đến thế, trống trải đến thế, những cái màn trắng, những chiếc đệm Thái lại cuốn đi rồi, còn trơ mấy cái mặt phản vàng bệch, lạnh lẽo, bụi mọt bắt đầu rơi lấm tấm. ở một góc nhà trống, chiếc đầu máy hỏng để lại nằm im lìm, bốc lên cái thứ mùi hôi khét của dầu máy đang khô lại dần dần ở các đầu trục. Nửa đêm tỉnh giấc không còn nghe thấy tiếng máy nổ êm đềm quen thuộc, tối trước khi đi ngủ nhìn qua kẽ liếp cũng không thấy ánh đèn le lói chiếu thành vệt trên hè nhà... Họ đã đi rồi! Đến mùa xuân họ mới trở lại. Những người thương mến! Các anh đi có còn nhớ đến khu đất vừa cày ở đây không, có còn nhớ đến những con người ở đây không... và anh sẽ có bao giờ quên em không, có bao giờ anh quên được cái đêm tâm tình của đôi ta ở giữa khoảnh đồng.
 
Chân Trời Tím

0