Hitoshi luôn mắc chiếc chuông nhỏ ở ví và mang theo nó bên mình.
Chiếc chuông nhỏ ấy là thứ tôi đã vô tình tặng Hitoshi, vào cái thuở mà chúng tôi vẫn chưa hề yêu nhau, chỉ là vô tình, vậy mà số phận của nó đã theo Hitoshi cho tới những phút cuối cùng.
Tôi học khác lớp Hitoshi. Chúng tôi quen nhau khi cùng làm trong ban tổ chức chuyến đi tham quan cho học sinh khối mười một.
Tuy nhiên, vào đợt tham quan, các lớp lại đi theo những hành trình hoàn toàn trái ngược nhau, nên chúng tôi chỉ được ngồi chung trên chiếc tàu Shinkansen (tàu hoả cao tốc của Nhật) trong chuyến khởi hành. Xuống đến sân ga, chúng tôi nói rất nhiều chuyện vui vẻ rồi lưu luyến bắt tay từ biệt. Vào lúc đó, tôi bỗng nhớ ra rằng trong túi áo đồng phục của mình có một chiếc chuông nhỏ mà tôi đã nhặt được khi nó rơi ra từ cổ con mèo ở nhà, tôi nói : "Đây là quà chia tay", rồi đưa cho cậu. "Cái gì thế này?", nói rồi cậu cười, nhưng đó hoàn toàn không phải một nụ cười hời hợt, cậu đặt nó trên lòng bàn tay rồi cẩn thận gói lại vào chiếc khăn mùi-soa. Tôi đã thực sự sửng sốt, vì hành động đó trông chẳng giống một cậu con trai ở lứa tuổi ấy chút nào.
Tình yêu, chỉ đơn giản là những điều như thế.
Cậu làm thế vì cảm thấy chiếc chuông là do tôi tặng nên có một ý nghĩa rất đặc biệt với mình? Hay cậu làm thế vì luôn được dạy dỗ rằng cần phải trân trọng những thứ nhận được từ người khác? Tôi không rõ, nhưng ngay lập tức, tôi đã đem lòng yêu mến cái cử chỉ ấy ở Hitoshi.
Và chiếc chuông nhỏ đã gắn kết hai trái tim nhỏ bé. Trong suốt chuyến đi, chúng tôi không được gặp nhau, nhưng cả hai đều cùng hướng hồn mình về nó. Mỗi lần chuông ngân kên, cậu sẽ nhớ tới tôi và những ngày ở bên tôi trước lúc khởi hành, còn tôi sẽ tưởng tượng ra chiếc chuông nhỏ đang reo vang dưới miền trời rất xa và con người đang mang nó theo mình. Khi chúng tôi trở về, một tình yêu lớn đã bắt đầu.
Kể từ đó cho tới suốt bốn năm sau, chiếc chuông đã cùng chúng tôi trải qua tất cả những đêm, những ngày và tất cả những sự kiện : Nụ hôn thứ nhất, những giận hờn cãi vã, nắng, mưa và tuyết, cái đêm đầu tiên, tất cả những nụ cười rồi những giọt nước mắt, bản nhạc hay chương trình tivi mà chúng tôi yêu thích. Nó đã ở bên chúng tôi vào tất cả những khoảng thời gian của hai người, và ngân lên những tiếng "tơ linh tơ linh" khẽ khàng, trong trẻo cùng với bàn tay đang rút chiếc ví của Hitoshi. Thứ âm thanh quá đỗi đáng yêu ấy mãi văng vẳng trong tai tôi.
Tôi đã lờ mờ nhận ra điều ấy. - Chuyện xảy ra rồi thì ai mà chẳng nói được như thế, chẳng qua chỉ là sự đau lòng của một cô gái trẻ mà thôi, có thể người ta sẽ cho là như thế. - Nhưng tôi vẫn phải nói : Tôi đã lờ mờ nhận ra điều ấy.
Tôi đã luonôn cảm thấy có điều gì đó rất lạ. Đôi khi, rõ ràng tôi đang nhìn Hitoshi rất chăm chú, vậy mà dường như cậu không hề ở đó. Và chẳng hiểu sao tôi lại cứ liên tục áp tai mình lên trái tim Hitoshi mỗi khi cậu ngủ. Nụ cười vừa mới ánh lên rạng rỡ, đôi mắt lại bất thần nhìn xoáy sâu vào một nơi nào đó. Bầu không khí bao quanh Hitoshi và trên nét mặt cậu, lúc nào cũng như thể trong suốt. Tôi đã luôn cho rằng có lẽ vì vậy mà tôi mới cảm thấy mong manh và thấp thỏm như thế này, nhưng nếu đó chính là một niềm dự cảm, thì thật xót xa biết bao.
Trong suốt quãng đời dài, mà thực ra mới chỉ hai mươi năm của tôi, việc mất đi người yêu là sự trải nghiệm đầu tiên, nó khiến tôi đau đớn tưởng chừng như hơi thở của chình mình cũng đang tắt lịm. Kể từ cái đêm Hitoshi mất, tâm thức tôi đã lạc vào một chiều không gian khác, và không thể quay trở về được nữa. Tôi không còn có thể nhìn thế giới với ánh mắt của ngày xưa. Đầu óc tôi bồng bềnh vô định, mơ hồ, xáo trộn và luôn chìm trong một cảm giác nặng nề đến ngột ngạt. Tôi chỉ cảm thấy đau buồn vì đã buộc phải can dự vào một trong những việc không mấy người trên cõi đời này phải nếm trải (như phá thai, bán thân, hay bệnh nặng).
Chúng tôi vẫn còn trẻ, và biết đâu đấy có thể đó chưa phải là tình yêu cuối cùng trong đời. Nhưng giữa hai đứa đã có biết bao mảnh ghép của cuộc đời mà lần đầu tiên chúng tôi biết tới. Chúng tôi đã gây dựng nên bốn năm trời ấy, bằng việc từng bước khám phá, và cân nhắc sức nặng của rất nhiều sự khiện xảy đến, khi mà một con người và một con người gắn bó với nhau hơn.
Nếu đúng là chuyện xảy ra rồi mới nói, thì tôi đã có thể gào lên thật to mà rằng :
Ông Trời độc ác kia ! Tôi đã yêu Hitoshi đến thế kia mà.
Suốt hai tháng kể từ ngày Hitoshi không còn nữa, hôm nào tôi cũng tựa mình vào thành lan can của cây cầu bắc ngang con sông ấy và uống những bình trà nóng. Tôi không ngủ được, nên bắt đầu chạy bộ vào mỗi buổi sáng sớm, cây cầu chính là nơi nghỉ chân để sau đó tôi chạy ngược về.
Tôi sợ phải đi ngủ vào ban đêm hơn hết thảy mọi việc. Hay nói đúng hơn, là tôi sợ cái cảm giác choáng váng mỗi khi thức giấc. Tôi bỗng choàng tỉnh và run rẩy trong bóng đen sâu thẳm lúc hiểu ra rằng mình đang thực sự ở đâu. Tôi luôn mơ thấy những giấc mơ về Hitoshi. Trong những giấc ngủ chập chờn và khó nhọc, khi thì được gặp Hitoshi, lúc lại không, nhưng tôi luôn tri giác được rằng : Đây chỉ là một giấc mơ, và thực ra mình không bao giờ còn có thể gặp Hitoshi được nữa. Thành ra, ngay cả trong giấc ngủ, tôi cũng cố gắng để mình đừng thức dậy. Không biết bao lần tôi đã phải trở mình, đổ mồ hôi trộm và đón nhận những buổi sớm mai lạnh giá với đôi mắt nửa tỉnh nửa mơ cùng một niềm u uất đang ứ lên trong họng. Suốt khoảng thời gian khi mọi vật bên kia cánh rèm bắt đầu hé sáng, và khẽ khàng thở trong bầu không khí xanh mờ, tôi là kẻ bị bỏ rơi. Nỗi cô đơn và sự lạnh giá làm tôi cảm thấy thà rằng cứ chìm trong những giấc mộng còn dễ chịu hơn rất nhiều. Đó bao giờ cũng là những buổi sớm tôi không sao ngủ được và phải một mình vật lộn với dư vị còn đọng lại của giấc mơ. Lúc nào cũng vậy, tôi sẽ mở choàng mắt vào chính cái giây phút ấy. Sự kiệt sức do thiếu ngủ, và khoảng thời gian cô độc dài đằng đẵng đến phát điên khi chờ những tia nắng đầu tiên chiếu xuống bắt đầu làm tôi thấy sợ, vậy là tôi quyết định chạy bộ.
Tôi mua hai bộ đồ thể thao khá đắt tiền, mua một đôi giày chạy và còn sắm cả một chiếc bình giữ nhiệt nhỏ bằng nhôm để đựng nước. Tôi cảm thấy hơi xấu hổ vì đã bắt đầu bằng những thứ đồ vật đó, nhưng quan trọng là tinh thần cầu tiến.
Tôi bắt đầu chạy ngay khi bước vào kỳ nghỉ xuân. Tôi chạy tới cầu rồi quay về nhà, giặt sạch sẽ chiếc khăn bông và bộ quần áo, cho vào máy sấy và sau đó quay sang giúp mẹ chuẩn bị bữa sáng. Rồi tôi ngủ thêm chút nữa. Cuộc sống cứ như vậy tiếp diễn. Buội tối tôi đi gặp bạn bè hoặc xem video, cố gắng làm mọi cách để đừng có nhiều thời gian rảnh rổi. Nhưng đó chỉ là những nỗ lực vô vọng. Chứ thực ra, tôi chẳng muốn làm bất cứ điều gì hết. Tôi chỉ muốn gặp Hitoshi thôi. Song dù thế nào thì tôi vẫn phải làm điều gì đó dể tiếp tục vận động chân tay và đầu óc. Tôi muốn nghỉ rằng chỉ cần tiếp tục không cần chủ ý những nỗ lực ấy, tôi sẽ tìm được một lối ra. Chẳng có gì dể bảo đảm, nhưng tôi tin là mình sẽ cầm cự được cho tới lúc đó. Hồi con chó nhà tôi chết và cả hồi con chim nhỏ nhà tôi chết, tôi cũng đã vượt qua được bằng cách này. và đây chỉ là một trường hợp đặc biệt của những chuyện như thế. Ngày lại ngày chậm chạp trôi qua như héo úa mà chẳng có sự tiến triển nào. Tôi vẫn không ngừng tâm niệm, như đang cầu nguyện :
"Sẽ ổn thôi, sẽ ổn thôi, rồi sẽ tới cái ngày mình thoát ra khỏi tất cả những chuyện này."
Con sông nơi tôi lấy làm điểm nghỉ chân để chạy ngược về là một con sông rất lớn, nó chia thành phố làm hai nửa. Nơi ấy có một cây cầu màu trắng, tôi mất chừng hai mươi phút để chạy được tới đó. Tôi yêu nơi ấy. Hitoshi sống ở bên kia sông, và chúng tôi luôn lấy đó làm điểm hẹn hò. Vì thế, ngay cả sau khi cậu mất, tôi vẫn rất yêu quý nó.
Tôi dừng chân bên cầu không một bóng người qua lại và thong thả uống từng ngụm trà nóng hổi từ trong chiếc bình giữa những thanh âm của sóng nước. Triền đê màu trắng chạy dài ra vô tận và huyền ảo, làn sương sớm xanh mờ đang giăng mình trên những cảnh sắc của từng con phố. Tôi cứ đứng đó trong bầu không khí buốt giá mà tinh khiết và chợt cảm thấy như mình đang ở gần "cái chết" hơn một chút. Thực ra chỉ ở trong cái khung cảnh khắc nghiệt, trong suốt và buồn bã như thế, tôi mới có thể hít thở được một cách nhẹ nhàng. Tự hành hạ mình ư? Không. Không phải. Bởi nếu không có khoảng thời gian đó, tôi sẽ chẳng còn chút tự tin nào để làm tốt mọi việc trong ngày. Khung cảnh ấy, lúc này đây, cần thiết với tôi hơn bất cứ điều gì.
Sớm hôm đó, tôi lại choàng tỉnh vì mơ thấy một cơn ác mộng. Năm rưỡi sáng. Như thường lệ, tôi thay quần áo và chạy ra ngoài giữa buổi sớm mai hứa hẹn một ngày rất nắng. Trời vẫn còn tối và hoàn toàn vắng vẻ. Không khí buốt giá và tĩnh mịch, khu phố hiện lên mờ trắng. Da trời là một màu nước biển xanh thắm, rồi nhạt dần về phía đằng Đông.
Tôi cố gắng chạy một cách thật thoải mái. "Đang thiếu ngủ mà cứ chạy như thế này thì chẳng khác nào tàn phá cơ thể mình." Đôi khi, ý nghĩ đó hiện lên mỗi lần tôi thấy khó thở. "Nhưng về rồi mình sẽ ngủ tiếp mà." Và tôi sẽ gạt nó ra khỏi tâm trí đang chờn vờn của mình với lý lẽ như vậy. Thật khó có thể giữ cho đầu óc mình được tỉnh táo khi chạy qua những dãy phố im lìm.
Tiếng của dòng sông đã vọng lại rất gần, nền trời thay đổi theo từng bước chạy. Một ngày đẹp đẽ và sáng bừng đã bắt đầu rọi xuống qua bầu trời trong xanh.
Đã đến cầu, như mọi lần, tôi lại tựa mình vào lan can và ngắm nhìn dãy phố nhạt nhoà đang chìm sâu xuống đáy cùng của bầu không khí màu lam mờ tỏ. Tiếng sóng ì ào dội mạnh và cuốn trôi mọi thứ trong làn bọt sủi trắng ngầu. Những giọt mồ hôi chảy xuống ròng ròng, và cơn gió lạnh buốt từ lòng sông thổi tới lùa vào mặt tôi. Giữa tháng Ba trời vẫn rét, trên thinh không, vành bán nguyệt hiện lên rất rõ. Hơi thở trắng mờ. Không rời mắt khỏi dòng sông, tôi đang định rót trà vào chiếc nắp bình để uống.
Thì đúng lúc đó.
-Trà gì thế? Cho mình uống với.
Bất thình lình một giọng nói cất lên từ phía sau làm tôi giật thót người. Cú giật mình quá mạnh khiến tôi đánh rơi chiếc bình xuống sông. Trên tay tôi chỉ còn lại một ít trà đang bốc khói từ trong chiếc nắp.
Tôi vừa liên tưởng tới đủ thứ chuyện vừa quay lại, thì thấy một cô gái đang đứng đó và cười. Có thể nhận ra rằng cô ta hơn tuổi tôi, song không sao đoán được chính xác là bao nhiêu. Nhưng nếu cố đoán thì chắc vào khoảng hai mươi lăm... Mái tóc ngắn và đôi mắt trong veo mở to. Cô ta đã đứng đó tự khi nào không biết nữa, khoác bên ngoài bộ quần áo mỏng manh một tấm áo choàng màu trắng, nhưng thản nhiên, như không có vẻ gì là lạnh cả.
Thế rồi cô ta vừa cười vừa nói vẻ sung sướng với một thứ giọng mũi khá ngọt ngào.
-Vừa rồi cậu giống hệt con chó trong một câu chuyện cổ tích cúa Grimm, à không, một truyện ngụ ngôn của Aesop.
-Trường hợp đó,- tôi thản nhiên đáp,- nó nhìn thấy bóng mình in trên mặt nước và tự thả khúc xương ra đấy chứ. Làm gì có kẻ nào khác gây hại như thế này.
Cô ta ngoẻn miệng cười.
-Được rồi, lần sau mình sẽ mua cho cậu một chiếc bình khác.
-Cảm ơn.- Tôi cố cười.
Cái vẻ mắt quá ư tự nhiên lúc nói chuyện của cô làm tôi không sao nổi giận được, hơn nữa, chính tôi cũng tự thấy không đáng phải như thế. Vả lại, ở cô không hề có cái vẻ của một kẻ lập dị hay một con ma men đang lướt khướt tìm đường về nhà vào buổi sáng sớm. Mà ngược lại, đôi mắt của cô rất thông minh và vẻ mặt thì vô cùng sâu sắc, cứ như thể đã nếm trọn mọi sự buồn vui trên cõi đời này rồi. Vì thế mà trông cô thật lặng lẽ.
Tôi chỉ uống một ngụm nhỏ chỗ trà đang cầm trên tay cho đỡ khát rồi chìa về phía cô.
-Chỗ còn lại là của chị. Loại này gọi là trà Phổ Nhĩ.
-Ồ, mình rất thích loại đó.
Cô đưa bàn tay nhỏ nhắn của mình ra đỡ lấy chiếc nắp.
-Mình mới vừa đến đây lúc nãy. Từ một nơi xa lắm.
Có đôi mắt lấp lánh, đầy vẻ hăng hái đặc trưng ở một người lữ khách, cô nói trong khi mắt vẫn nhìn ra phía sông.
-Chị tới đây du lịch à?
Tôi hỏi như vậy vì không hiểu cô đến đây, một nơi vô vị thế này, để làm gì.
-Phải. Cậu biết không? Nơi đây sắp diễn ra một hiện tượng trăm năm chỉ thấy được một lần.- Cô nói.
-Một hiện tượng?
-Phải. Nếu hội đủ điều kiện.
-Là gì vậy?
-Còn bí mật. Nhưng chắc chắn mình sẽ tiết lộ với cậu. Vì cậu đã cho mình uống trà mà.
Nói rồi cô cười, thế là tôi đã bỏ lỡ mất cơ hội được nghe phần tiếp theo của câu chuyện. Bóng dáng của bình minh sắp tới đang bao trùm lên mọi vật. Ánh nắng như quện lẫn với nền trời xanh nhạt, và những tia sáng mỏng manh đang làm bừng lên làn không khí trên không trung.
Đã đến lúc phải về rồi, tôi nghĩ.
-Hẹn gặp lại chị sau.- Tôi nói.
Thế rồi cô liền nhìn thẳng vào tôi với ánh mắt sáng ngời.
-Mình là Urara. Còn cậu?
-Satsuki.- Tôi cũng xưng tên.
-Hẹn gặp lại vào một ngày gần nhất.
...Urara nói vậy rồi vẫy tay.
Tôi cũng vẫy tay và bỏ lại cây cầu sau lưng. Cô ta thật lạ ling2. Tôi chẳng hiểu những gì cô ta nói, nhưng tôi cảm thấy như đó không phải là một con người bình thường. Cái cảm giác nghi nghi hoặc hoặc ấy cứ lớn dần theo mỗi bước chân chạy, không hiểu sao tôi bỗng cảm thấy bất an nên ngoái đầu nhìn lại, Urara vẫn đứng đó ở trên cầu. Khuôn mặt nhìn nghiêng của cô đang hướng về phía dòng sông. Tôi kinh ngạc. Vì so với lúc cô ta đứng trước mặt tôi, nó đã hoàn toàn khác. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy một vẻ mặt nào của con người khó coi đến thế.
Dường như để ý thấy tôi dừng lại, cô lại nở một nụ cười và vẫy tay về phía tôi. Tôi cũng lóng ngóng vẫy tay rồi tiếp tục chạy.
...Thực ra cô ta là người như thế nào nhỉ? Tôi ngẫm nghĩ hồi lâu. Rồi cuối cùng thì buổi sáng cũng đã tới, và chỉ cái ấn tượng về cô gái lạ kỳ có cái tên Urara ấy là được khắc rất sâu vào nơi tiềm thức đang ngái ngủ của tôi với một đường viền chói chang trong ánh nắng mặt trời.
Chiếc chuông nhỏ ấy là thứ tôi đã vô tình tặng Hitoshi, vào cái thuở mà chúng tôi vẫn chưa hề yêu nhau, chỉ là vô tình, vậy mà số phận của nó đã theo Hitoshi cho tới những phút cuối cùng.
Tôi học khác lớp Hitoshi. Chúng tôi quen nhau khi cùng làm trong ban tổ chức chuyến đi tham quan cho học sinh khối mười một.
Tuy nhiên, vào đợt tham quan, các lớp lại đi theo những hành trình hoàn toàn trái ngược nhau, nên chúng tôi chỉ được ngồi chung trên chiếc tàu Shinkansen (tàu hoả cao tốc của Nhật) trong chuyến khởi hành. Xuống đến sân ga, chúng tôi nói rất nhiều chuyện vui vẻ rồi lưu luyến bắt tay từ biệt. Vào lúc đó, tôi bỗng nhớ ra rằng trong túi áo đồng phục của mình có một chiếc chuông nhỏ mà tôi đã nhặt được khi nó rơi ra từ cổ con mèo ở nhà, tôi nói : "Đây là quà chia tay", rồi đưa cho cậu. "Cái gì thế này?", nói rồi cậu cười, nhưng đó hoàn toàn không phải một nụ cười hời hợt, cậu đặt nó trên lòng bàn tay rồi cẩn thận gói lại vào chiếc khăn mùi-soa. Tôi đã thực sự sửng sốt, vì hành động đó trông chẳng giống một cậu con trai ở lứa tuổi ấy chút nào.
Tình yêu, chỉ đơn giản là những điều như thế.
Cậu làm thế vì cảm thấy chiếc chuông là do tôi tặng nên có một ý nghĩa rất đặc biệt với mình? Hay cậu làm thế vì luôn được dạy dỗ rằng cần phải trân trọng những thứ nhận được từ người khác? Tôi không rõ, nhưng ngay lập tức, tôi đã đem lòng yêu mến cái cử chỉ ấy ở Hitoshi.
Và chiếc chuông nhỏ đã gắn kết hai trái tim nhỏ bé. Trong suốt chuyến đi, chúng tôi không được gặp nhau, nhưng cả hai đều cùng hướng hồn mình về nó. Mỗi lần chuông ngân kên, cậu sẽ nhớ tới tôi và những ngày ở bên tôi trước lúc khởi hành, còn tôi sẽ tưởng tượng ra chiếc chuông nhỏ đang reo vang dưới miền trời rất xa và con người đang mang nó theo mình. Khi chúng tôi trở về, một tình yêu lớn đã bắt đầu.
Kể từ đó cho tới suốt bốn năm sau, chiếc chuông đã cùng chúng tôi trải qua tất cả những đêm, những ngày và tất cả những sự kiện : Nụ hôn thứ nhất, những giận hờn cãi vã, nắng, mưa và tuyết, cái đêm đầu tiên, tất cả những nụ cười rồi những giọt nước mắt, bản nhạc hay chương trình tivi mà chúng tôi yêu thích. Nó đã ở bên chúng tôi vào tất cả những khoảng thời gian của hai người, và ngân lên những tiếng "tơ linh tơ linh" khẽ khàng, trong trẻo cùng với bàn tay đang rút chiếc ví của Hitoshi. Thứ âm thanh quá đỗi đáng yêu ấy mãi văng vẳng trong tai tôi.
Tôi đã lờ mờ nhận ra điều ấy. - Chuyện xảy ra rồi thì ai mà chẳng nói được như thế, chẳng qua chỉ là sự đau lòng của một cô gái trẻ mà thôi, có thể người ta sẽ cho là như thế. - Nhưng tôi vẫn phải nói : Tôi đã lờ mờ nhận ra điều ấy.
Tôi đã luonôn cảm thấy có điều gì đó rất lạ. Đôi khi, rõ ràng tôi đang nhìn Hitoshi rất chăm chú, vậy mà dường như cậu không hề ở đó. Và chẳng hiểu sao tôi lại cứ liên tục áp tai mình lên trái tim Hitoshi mỗi khi cậu ngủ. Nụ cười vừa mới ánh lên rạng rỡ, đôi mắt lại bất thần nhìn xoáy sâu vào một nơi nào đó. Bầu không khí bao quanh Hitoshi và trên nét mặt cậu, lúc nào cũng như thể trong suốt. Tôi đã luôn cho rằng có lẽ vì vậy mà tôi mới cảm thấy mong manh và thấp thỏm như thế này, nhưng nếu đó chính là một niềm dự cảm, thì thật xót xa biết bao.
Trong suốt quãng đời dài, mà thực ra mới chỉ hai mươi năm của tôi, việc mất đi người yêu là sự trải nghiệm đầu tiên, nó khiến tôi đau đớn tưởng chừng như hơi thở của chình mình cũng đang tắt lịm. Kể từ cái đêm Hitoshi mất, tâm thức tôi đã lạc vào một chiều không gian khác, và không thể quay trở về được nữa. Tôi không còn có thể nhìn thế giới với ánh mắt của ngày xưa. Đầu óc tôi bồng bềnh vô định, mơ hồ, xáo trộn và luôn chìm trong một cảm giác nặng nề đến ngột ngạt. Tôi chỉ cảm thấy đau buồn vì đã buộc phải can dự vào một trong những việc không mấy người trên cõi đời này phải nếm trải (như phá thai, bán thân, hay bệnh nặng).
Chúng tôi vẫn còn trẻ, và biết đâu đấy có thể đó chưa phải là tình yêu cuối cùng trong đời. Nhưng giữa hai đứa đã có biết bao mảnh ghép của cuộc đời mà lần đầu tiên chúng tôi biết tới. Chúng tôi đã gây dựng nên bốn năm trời ấy, bằng việc từng bước khám phá, và cân nhắc sức nặng của rất nhiều sự khiện xảy đến, khi mà một con người và một con người gắn bó với nhau hơn.
Nếu đúng là chuyện xảy ra rồi mới nói, thì tôi đã có thể gào lên thật to mà rằng :
Ông Trời độc ác kia ! Tôi đã yêu Hitoshi đến thế kia mà.
Suốt hai tháng kể từ ngày Hitoshi không còn nữa, hôm nào tôi cũng tựa mình vào thành lan can của cây cầu bắc ngang con sông ấy và uống những bình trà nóng. Tôi không ngủ được, nên bắt đầu chạy bộ vào mỗi buổi sáng sớm, cây cầu chính là nơi nghỉ chân để sau đó tôi chạy ngược về.
Tôi sợ phải đi ngủ vào ban đêm hơn hết thảy mọi việc. Hay nói đúng hơn, là tôi sợ cái cảm giác choáng váng mỗi khi thức giấc. Tôi bỗng choàng tỉnh và run rẩy trong bóng đen sâu thẳm lúc hiểu ra rằng mình đang thực sự ở đâu. Tôi luôn mơ thấy những giấc mơ về Hitoshi. Trong những giấc ngủ chập chờn và khó nhọc, khi thì được gặp Hitoshi, lúc lại không, nhưng tôi luôn tri giác được rằng : Đây chỉ là một giấc mơ, và thực ra mình không bao giờ còn có thể gặp Hitoshi được nữa. Thành ra, ngay cả trong giấc ngủ, tôi cũng cố gắng để mình đừng thức dậy. Không biết bao lần tôi đã phải trở mình, đổ mồ hôi trộm và đón nhận những buổi sớm mai lạnh giá với đôi mắt nửa tỉnh nửa mơ cùng một niềm u uất đang ứ lên trong họng. Suốt khoảng thời gian khi mọi vật bên kia cánh rèm bắt đầu hé sáng, và khẽ khàng thở trong bầu không khí xanh mờ, tôi là kẻ bị bỏ rơi. Nỗi cô đơn và sự lạnh giá làm tôi cảm thấy thà rằng cứ chìm trong những giấc mộng còn dễ chịu hơn rất nhiều. Đó bao giờ cũng là những buổi sớm tôi không sao ngủ được và phải một mình vật lộn với dư vị còn đọng lại của giấc mơ. Lúc nào cũng vậy, tôi sẽ mở choàng mắt vào chính cái giây phút ấy. Sự kiệt sức do thiếu ngủ, và khoảng thời gian cô độc dài đằng đẵng đến phát điên khi chờ những tia nắng đầu tiên chiếu xuống bắt đầu làm tôi thấy sợ, vậy là tôi quyết định chạy bộ.
Tôi mua hai bộ đồ thể thao khá đắt tiền, mua một đôi giày chạy và còn sắm cả một chiếc bình giữ nhiệt nhỏ bằng nhôm để đựng nước. Tôi cảm thấy hơi xấu hổ vì đã bắt đầu bằng những thứ đồ vật đó, nhưng quan trọng là tinh thần cầu tiến.
Tôi bắt đầu chạy ngay khi bước vào kỳ nghỉ xuân. Tôi chạy tới cầu rồi quay về nhà, giặt sạch sẽ chiếc khăn bông và bộ quần áo, cho vào máy sấy và sau đó quay sang giúp mẹ chuẩn bị bữa sáng. Rồi tôi ngủ thêm chút nữa. Cuộc sống cứ như vậy tiếp diễn. Buội tối tôi đi gặp bạn bè hoặc xem video, cố gắng làm mọi cách để đừng có nhiều thời gian rảnh rổi. Nhưng đó chỉ là những nỗ lực vô vọng. Chứ thực ra, tôi chẳng muốn làm bất cứ điều gì hết. Tôi chỉ muốn gặp Hitoshi thôi. Song dù thế nào thì tôi vẫn phải làm điều gì đó dể tiếp tục vận động chân tay và đầu óc. Tôi muốn nghỉ rằng chỉ cần tiếp tục không cần chủ ý những nỗ lực ấy, tôi sẽ tìm được một lối ra. Chẳng có gì dể bảo đảm, nhưng tôi tin là mình sẽ cầm cự được cho tới lúc đó. Hồi con chó nhà tôi chết và cả hồi con chim nhỏ nhà tôi chết, tôi cũng đã vượt qua được bằng cách này. và đây chỉ là một trường hợp đặc biệt của những chuyện như thế. Ngày lại ngày chậm chạp trôi qua như héo úa mà chẳng có sự tiến triển nào. Tôi vẫn không ngừng tâm niệm, như đang cầu nguyện :
"Sẽ ổn thôi, sẽ ổn thôi, rồi sẽ tới cái ngày mình thoát ra khỏi tất cả những chuyện này."
Con sông nơi tôi lấy làm điểm nghỉ chân để chạy ngược về là một con sông rất lớn, nó chia thành phố làm hai nửa. Nơi ấy có một cây cầu màu trắng, tôi mất chừng hai mươi phút để chạy được tới đó. Tôi yêu nơi ấy. Hitoshi sống ở bên kia sông, và chúng tôi luôn lấy đó làm điểm hẹn hò. Vì thế, ngay cả sau khi cậu mất, tôi vẫn rất yêu quý nó.
Tôi dừng chân bên cầu không một bóng người qua lại và thong thả uống từng ngụm trà nóng hổi từ trong chiếc bình giữa những thanh âm của sóng nước. Triền đê màu trắng chạy dài ra vô tận và huyền ảo, làn sương sớm xanh mờ đang giăng mình trên những cảnh sắc của từng con phố. Tôi cứ đứng đó trong bầu không khí buốt giá mà tinh khiết và chợt cảm thấy như mình đang ở gần "cái chết" hơn một chút. Thực ra chỉ ở trong cái khung cảnh khắc nghiệt, trong suốt và buồn bã như thế, tôi mới có thể hít thở được một cách nhẹ nhàng. Tự hành hạ mình ư? Không. Không phải. Bởi nếu không có khoảng thời gian đó, tôi sẽ chẳng còn chút tự tin nào để làm tốt mọi việc trong ngày. Khung cảnh ấy, lúc này đây, cần thiết với tôi hơn bất cứ điều gì.
Sớm hôm đó, tôi lại choàng tỉnh vì mơ thấy một cơn ác mộng. Năm rưỡi sáng. Như thường lệ, tôi thay quần áo và chạy ra ngoài giữa buổi sớm mai hứa hẹn một ngày rất nắng. Trời vẫn còn tối và hoàn toàn vắng vẻ. Không khí buốt giá và tĩnh mịch, khu phố hiện lên mờ trắng. Da trời là một màu nước biển xanh thắm, rồi nhạt dần về phía đằng Đông.
Tôi cố gắng chạy một cách thật thoải mái. "Đang thiếu ngủ mà cứ chạy như thế này thì chẳng khác nào tàn phá cơ thể mình." Đôi khi, ý nghĩ đó hiện lên mỗi lần tôi thấy khó thở. "Nhưng về rồi mình sẽ ngủ tiếp mà." Và tôi sẽ gạt nó ra khỏi tâm trí đang chờn vờn của mình với lý lẽ như vậy. Thật khó có thể giữ cho đầu óc mình được tỉnh táo khi chạy qua những dãy phố im lìm.
Tiếng của dòng sông đã vọng lại rất gần, nền trời thay đổi theo từng bước chạy. Một ngày đẹp đẽ và sáng bừng đã bắt đầu rọi xuống qua bầu trời trong xanh.
Đã đến cầu, như mọi lần, tôi lại tựa mình vào lan can và ngắm nhìn dãy phố nhạt nhoà đang chìm sâu xuống đáy cùng của bầu không khí màu lam mờ tỏ. Tiếng sóng ì ào dội mạnh và cuốn trôi mọi thứ trong làn bọt sủi trắng ngầu. Những giọt mồ hôi chảy xuống ròng ròng, và cơn gió lạnh buốt từ lòng sông thổi tới lùa vào mặt tôi. Giữa tháng Ba trời vẫn rét, trên thinh không, vành bán nguyệt hiện lên rất rõ. Hơi thở trắng mờ. Không rời mắt khỏi dòng sông, tôi đang định rót trà vào chiếc nắp bình để uống.
Thì đúng lúc đó.
-Trà gì thế? Cho mình uống với.
Bất thình lình một giọng nói cất lên từ phía sau làm tôi giật thót người. Cú giật mình quá mạnh khiến tôi đánh rơi chiếc bình xuống sông. Trên tay tôi chỉ còn lại một ít trà đang bốc khói từ trong chiếc nắp.
Tôi vừa liên tưởng tới đủ thứ chuyện vừa quay lại, thì thấy một cô gái đang đứng đó và cười. Có thể nhận ra rằng cô ta hơn tuổi tôi, song không sao đoán được chính xác là bao nhiêu. Nhưng nếu cố đoán thì chắc vào khoảng hai mươi lăm... Mái tóc ngắn và đôi mắt trong veo mở to. Cô ta đã đứng đó tự khi nào không biết nữa, khoác bên ngoài bộ quần áo mỏng manh một tấm áo choàng màu trắng, nhưng thản nhiên, như không có vẻ gì là lạnh cả.
Thế rồi cô ta vừa cười vừa nói vẻ sung sướng với một thứ giọng mũi khá ngọt ngào.
-Vừa rồi cậu giống hệt con chó trong một câu chuyện cổ tích cúa Grimm, à không, một truyện ngụ ngôn của Aesop.
-Trường hợp đó,- tôi thản nhiên đáp,- nó nhìn thấy bóng mình in trên mặt nước và tự thả khúc xương ra đấy chứ. Làm gì có kẻ nào khác gây hại như thế này.
Cô ta ngoẻn miệng cười.
-Được rồi, lần sau mình sẽ mua cho cậu một chiếc bình khác.
-Cảm ơn.- Tôi cố cười.
Cái vẻ mắt quá ư tự nhiên lúc nói chuyện của cô làm tôi không sao nổi giận được, hơn nữa, chính tôi cũng tự thấy không đáng phải như thế. Vả lại, ở cô không hề có cái vẻ của một kẻ lập dị hay một con ma men đang lướt khướt tìm đường về nhà vào buổi sáng sớm. Mà ngược lại, đôi mắt của cô rất thông minh và vẻ mặt thì vô cùng sâu sắc, cứ như thể đã nếm trọn mọi sự buồn vui trên cõi đời này rồi. Vì thế mà trông cô thật lặng lẽ.
Tôi chỉ uống một ngụm nhỏ chỗ trà đang cầm trên tay cho đỡ khát rồi chìa về phía cô.
-Chỗ còn lại là của chị. Loại này gọi là trà Phổ Nhĩ.
-Ồ, mình rất thích loại đó.
Cô đưa bàn tay nhỏ nhắn của mình ra đỡ lấy chiếc nắp.
-Mình mới vừa đến đây lúc nãy. Từ một nơi xa lắm.
Có đôi mắt lấp lánh, đầy vẻ hăng hái đặc trưng ở một người lữ khách, cô nói trong khi mắt vẫn nhìn ra phía sông.
-Chị tới đây du lịch à?
Tôi hỏi như vậy vì không hiểu cô đến đây, một nơi vô vị thế này, để làm gì.
-Phải. Cậu biết không? Nơi đây sắp diễn ra một hiện tượng trăm năm chỉ thấy được một lần.- Cô nói.
-Một hiện tượng?
-Phải. Nếu hội đủ điều kiện.
-Là gì vậy?
-Còn bí mật. Nhưng chắc chắn mình sẽ tiết lộ với cậu. Vì cậu đã cho mình uống trà mà.
Nói rồi cô cười, thế là tôi đã bỏ lỡ mất cơ hội được nghe phần tiếp theo của câu chuyện. Bóng dáng của bình minh sắp tới đang bao trùm lên mọi vật. Ánh nắng như quện lẫn với nền trời xanh nhạt, và những tia sáng mỏng manh đang làm bừng lên làn không khí trên không trung.
Đã đến lúc phải về rồi, tôi nghĩ.
-Hẹn gặp lại chị sau.- Tôi nói.
Thế rồi cô liền nhìn thẳng vào tôi với ánh mắt sáng ngời.
-Mình là Urara. Còn cậu?
-Satsuki.- Tôi cũng xưng tên.
-Hẹn gặp lại vào một ngày gần nhất.
...Urara nói vậy rồi vẫy tay.
Tôi cũng vẫy tay và bỏ lại cây cầu sau lưng. Cô ta thật lạ ling2. Tôi chẳng hiểu những gì cô ta nói, nhưng tôi cảm thấy như đó không phải là một con người bình thường. Cái cảm giác nghi nghi hoặc hoặc ấy cứ lớn dần theo mỗi bước chân chạy, không hiểu sao tôi bỗng cảm thấy bất an nên ngoái đầu nhìn lại, Urara vẫn đứng đó ở trên cầu. Khuôn mặt nhìn nghiêng của cô đang hướng về phía dòng sông. Tôi kinh ngạc. Vì so với lúc cô ta đứng trước mặt tôi, nó đã hoàn toàn khác. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy một vẻ mặt nào của con người khó coi đến thế.
Dường như để ý thấy tôi dừng lại, cô lại nở một nụ cười và vẫy tay về phía tôi. Tôi cũng lóng ngóng vẫy tay rồi tiếp tục chạy.
...Thực ra cô ta là người như thế nào nhỉ? Tôi ngẫm nghĩ hồi lâu. Rồi cuối cùng thì buổi sáng cũng đã tới, và chỉ cái ấn tượng về cô gái lạ kỳ có cái tên Urara ấy là được khắc rất sâu vào nơi tiềm thức đang ngái ngủ của tôi với một đường viền chói chang trong ánh nắng mặt trời.
P.P