📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Những vì sao đất nước - Quỳnh Cư, Văn Lang, Nguyễn Anh

5 trả lời, 5.210 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-04-29 17:58:21huytran>
Đây là 1 tập truyện ngắn, giới thiệu tiểu sử các danh nhân Việt nam. Xin admin nhập giùm 3 topic tôi mới đăng vào chung topic này. Tôi sẽ làm 1 mục lục sau khi đăng hết các truyện đang có trong tay.

Lê Văn Hưu

Chiếc võng điều hai người khiêng và đoàn tùy tòng được lệnh dừng lại bên đường. Một ông già nho nhã, ngoài bảy mươi tuổi, râu tóc bạc trắng như cước khoan thai bước xuống. Trời nắng trong. Lúa mùa đang thì con gái mềm mại, lả lướt trải thành một vệt dài dọc trên cánh đồng mầu mở. Xa hơn, mặt đất nâng cao dần. Và ở phía chân trời, núi rừng lớp lớp xanh thẫm vây bọc, lọt vào giữa khoảng đồng ruộng bằng phẳng êm ải ấy là bốn ngọn núi xinh xắn giăng hàng, nhô lên như những hòn giả sơn đặt trong một chậu cảnh. Ông già chống gậy trúc đứng ngắm cảnh tượng thiên nhiên kỳ thú ấy dường như không chán mắt.

Từ khi được nhà vua cho nghỉ việc triều đình, về quê an dưỡng tuổi già, ông lại có dịp đi du sơn du thủy. Hôm nay, ông đem học trò đến thăm người bạn già ở huyện bên và cũng là dịp đi xem lại một vùng đất đẹp. Ông già đang có mường tượng lại quang cảnh ở đây hơn năm mươi năm trước, khi khúc sông Bà Mã chưa đổi dòng. Ngày ấy, ông còn là một nho sinh ở đất Phủ Lý huyện Đông Sơn, đang tuổi thanh xuân phơi phới...

Biết thói quen của ông già, học trò đi theo bảo nhau mở tay nải, lấy la kinh đem hầu thầy. Ông già đưa bàn tay gầy cầm la kinh xoay đi xoay lại. Chiếc kim hai đầu nhọn lúng liếng đung đưa rồi đứng dừng, trên mặt la kinh tròn vành vạnh. Ông cố đem hết thị lực của đôi mắt già đọc những hàng chữ nhỏ li ti quen thuộc, nổi lên chi chít trên mặt la kinh rồi gọi đem giấy mực. Ngọn bút lông đưa đi đưa lại theo những ngón tay thon nhỏ, móng dài của ông. Hết vẽ lại ghe chép hồi lâu, ông già ngừng tay bút, nói với học trò:

- Hơn năm mươi năm trước, đây còn thuộc đất Vĩnh Ninh. Ngày ấy, vào năm Mậu Thân, theo kế của Thái sư Trần Thủ Độ nhà vua sai các nhà phong thủy để xem khắp núi sông trong nước, chỗ nào có vương khí thì dùng phép thuật để trấn áp. Chẳng là thái sư Trần Thủ Độ có một thời cai quản Thanh Hóa, ngài biết vùng này là đất đẹp nên mới có chuyện.

Một người học trò vòng tay hỏi:

- Thưa thầy, chuyện ở đây ra sao, xin thầy truyền dạy các con hay.

Đưa giấy bút, la kinh cho học trò cất, ông già giảng giải;

- Ấy đấy, hậu sinh như các con, chỉ mới sau năm mươi năm mà đã không hay chuyện cũ. Nếu không có người ghi chép lại, thì mai sau còn ai biết gì lịch sử của tiền nhân. Ông già chỉ tay về phía xa rồi tiếp:

- Khúc sông Bà Mã ở đàng xa kia, bây giờ gọi là Tân Mã Giang. Các con có thấy không, giải đất mầu mỡ này chính là giòng sông cũ lâu ngày bị vùi lấp, gọi là Cựu Mã Giang. Vì chuyện nắn lại khúc sông nên đất này, nay đã cắt về Yên Định. Cảnh vật ở đây vẫn đẹp đẽ, hùng vĩ như xưa, tuy có ít nhiều thay đổi. Ta đã đi nhiều nơi, cảnh đep không ít, nhưng mỗi nơi một khác. Càng đi thấy giang sơn ta đẹp. Bình sinh ta chỉ thích đi khắp đó đây, mắt thấy tai nghe, ghi chép được nhiều chuyện hay điều lạ. Nếu ta chỉ có đọc sánh thôi rút cục vẫn là con mọt sách. Ta đã có lần nhắc lại các con nghe câu nói của người xưa: "Độc vạn quyển thư, hành thiên lý lộ". Đó là sở thích của ta mà cũng là điều các con phải nhớ kỹ.

Học trò kính cẩn chấp tay:

- Thưa thầy, chúng con xin ghi tạc lời thầy.

Dưới nắng thu, chiếc võng điều hai người khiêng lại tiếp tục hành trình về phía quê hương bạn cũ của ông già. Đoàn tùy tòng chia nhau khoác tay nải cắp tráp theo sau. Họ vừa đi vừa nói chuyện về lời dạy của thầy một ông già đáng kính, cả nước ai cũng biết tên.

Ông già ấy là Hàn lâm viện học sĩ, Binh bộ thượng thư khiêm Chưởng sử quan, Nhân uyên hầu Lê Văn Hưu. Đó cũng là người chép sử đầu tiên của dân tộc Người đã nổi tiếng thần đồng từ khi còn là cậu học trò ở giáp Phủ Lý, huyện Đông Sơn, phủ lộ Thanh Hóa.

Thường ngày, khi tiếng chuông sớm mai bắt đầu vang lên từ ngôi chùa Hưng Nghiêm thì Lê Văn Hưu đã dậy đốt đèn, ê a học bài. Nhưng hôm nay cậu vẫn nằm yên trên giường, cạnh ông bố ít ngủ. Tưởng con ngủ quên, ông bố gọi:

- Hưu!

- Dạ.

- Dậy học bài!

- Vâng.

Cái tuổi lên tám, ăn không biết no, ngủ không chán mắt của Lê Văn Hưu cũng đã quen lắm với cảnh thức khuya dậy sớm ở một gia đình nghèo, thanh bạch. Lê Văn Hưu thức giấc ngay từ khi tiếng chuông đầu tiên vọng vào từ đường của họ Lê mà bố Lê Văn Hưu là tộc trưởng. Ấy thế mà cậu không dậy học bài. Cậu đang lo không còn sách, còn thầy để cho mình học nữa!

Nguyên do là thầy học, chính là nhà sư trụ trì ở chùa Hưng Nghiêm, trong buổi vừa rồi đã nói với cậu bé: "Con học hết chữ của thầy rồi, mà thầy cũng không còn sách để dạy con nữa". Câu nói vui của nhà sư có ý khen đưa học trò sáng dạ và ham học, không ngờ lại làm cho Lê Văn Hưu băn khoăn: "Không còn thầy, không còn sách thì học sao được".

Trong đám trẻ theo học ở chùa, nhà sư yêu quý Lê Văn Hưu hơn cả. Ông quý Lê Văn Hưu không phải vì cậu thuộc dòng dõi quan tướng công tước Trấn quốc bộc xạ trong làng, mà vì cậu sáng dạ và ham học một cách lạ thường. Lê Văn Hưu học đâu nhớ đấy, lại hay hỏi những điều khiến nhà sư phải kinh ngạc.

Có hôm sau buổi học, Lê Văn Hưu rủ bạn ở lại chơi nghịch ngoài vườn chùa. Một chốc nhà sư thấy Lê Văn Hưu tìm đến hỏi:

- Thưa thầy, trước chùa làng ta có bia đá đề mấy chữ "Càn nê sơn, Hưng Nghiêm tự". Thưa thầy, ở đây không có núi, sao người ta lại viết là "Càn nê sơn" ạ?

Nhà sư cũng đã từng băn khoăn về điều này, nay bất chợt thấy học trò hỏi, đành phải trả lời gượng ép:

- Sơn là núi, đúng vậy. Ở đây không có núi, mà chỉ có cái gò không cao lắm, tên cũ vẫn gọi lạ Càn nê. Nhưng trong một vùng đất thấp thì gò cũng tạm gọi là núi được, do đó người làm bia mới viết là Càn nê Sơn.

Nghe ra chưa vừa ý lắm, Lê Văn Hưu vòng tay:

- Thưa thầy, gò là gò, núi là núi chứ ạ!

Nhà sư đành cười, căn dặn:

- Con cố học nhiều, học mãi rồi sẽ biết hết.

Tưởng học trò hết băn khuăn, không ngờ cậu ta lại hỏi tiếp:

- Thưa thầy con còn thấy trong bia có hàng chữ: "Giáp Tí Thuận Thiên thập ngũ niên" là bao giờ ạ?

- Giáp Tí à? Lâu lắm rồi cách đây hơn một trăm năm.

- Thưa thầy sao lại Thuận Thiên thập ngũ niên ạ?

Đến câu hỏi này thì nhà sư cũng lúng túng. Thường ngày chỉ quen đọc kinh Phật, ít để ý đến chuyện sử, nhà sư nhớ mường tượng Thuận Thiên là niên hiệu ông vua đầu thời Lý. Ông trả lời
- Thuận Thiên là niên hiệu của vua Lý Thái Tổ. Như vậy là bia dựng vào khi Lý Thái Tổ làm vua được mười lăm năm, đó là năm giáp tí, con rõ chưa?

Những tiếng: Lý Thái Tổ, Thuận Thiên gợi lên cho Lê Văn Hưu một cái gì hay hay, bí hiểm mà cậu còn muốn biết nhiều nữa. Nhưng sợ thầy, Lê Văn Hưu không dám hỏi tiếp, chỉ băn khoăn:

- Thưa thầy, biết những cái đó có khó lắm không ạ?

Nhà sư nhắc lại:

- Không khó đâu, con cố học nhiều, học mãi rồi sẽ biết hết.

Lê Văn Hưu cười, chạy về với các bạn. Và không quên vòng tay cúi đầu chào thầy.

Còn nhà sư tay lần tràng hạt, lại vào ngồi trước quyển kinh phật. Nghĩ đến đứa học trò ham học kỳ lạ của mình, ông phải bàn với bố Lê Văn Hưu cho con sang học bên làng Trầu, ở đấy xa hơn một chút, nhưng có thầy hay chữ, đủ sức dạy cậu ta.

Nắng chiều vàng rực trên dãy núi Nhồi. Những tảng đá hình người ngồi đứng chon von trên đỉnh núi trở nên đẹp đẽ hùng vĩ lạ thường. Hàng ngày cắp sách đến làng Trầu, Lê Văn Hưu vẫn ước ao sẽ có lúc được leo lên đỉnh núi cao, sờ tận tay những dáng hình kỳ lạ ấy, và đứng tại đó ngắm nghìn bốn phương thì thích thú biết chừng nào! Hôm nay ngọn núi ấy có sức hấp dẫn lạ thường đối với cậu. Nhưng vì tan học muộn, cậu đành đứng nhìn tượng đá và thơ thẩn trông sang cụm Sơn Viện nổi lên xanh um, sườn núi phía tây tắm trong nắng chiều vàng ửng.

Mãi ngắm cảnh thiên nhiên hùng vĩ, Lê Văn Hưu không để ý đến cơn giông bất ngờ đang kéo đến. Nắng chiều nhạt dần rồi tắt hẳn, nhường chỗ cho một mầu u ám. Gió thổi mạnh. Những tia chớp nhằng nhằng rạch ngang trời và tiếng sấm râm rang vang động cả một vùng núi. Lê Văn Hưu cắp sách chạy vội. Nhưng mưa đã nặng hạt, cậu đành tạt vào một quán nhỏ bên đường để trú mưa. Bước chân vào quán, Lê Văn Hưu nghe người ta đang kể chuyện ma quái trong núi Thần. Một người chỉ vào ngọn núi có hình người ngồi ngất ngường trên đỉnh mà nói;

- Thật đấy, nhiều người gặp lắm. Những ngày mưa gió như hôm nay, vào lúc chập choạng thì ma quái lại hiện hình đố chữ người qua lại.

Nghe chuyện lạ. Lê Văn Hưu tò mò hỏi:

- Thế ma quái có làm chết người ta không ạ?

- Cứ vào đấy thì biết!

Một người khác thấy Lê Văn Hưu cắp sách liền hỏi:

- Mày là học trò thầy làng Trầu à?

- Vâng, cháu là học trò.

- Thế thì chúng tao thách mày ra chân núi kia thi chữ với yêu quái xem ai giỏi.

Suy nghĩ một lát Lê Văn Hưu đáp:

- Được, cháu có làm gì mà ma quái hại cháu. Các bác chờ nhé, cháu đi đây!

Lê Văn Hưu bước vào chân núi.

Trời nhá nhem. Cả khối đá khổng lồ xám xịt đứng sừng sững làm cho cảnh vật thêm âm u. Sau cơn mưa, đường núi sạch nhẵn, màu bạc phếch. Cây dại lắc lư trong vách đá, đứng rũ rượi bên đường.

Vừa bước vào chân núi, thấy từ xa có một ông già đi lại, Lê Văn Hưu liền hỏi:

- Ông là ai?

- Ta là ta.

Lê Văn Hưu chột dạ, nhìn ông lão từ đầu đến chân. Trông ông hiền lành phúc hậu, không có dáng vẻ ma quỷ, có lẽ là khách qua đường. Nhưng sao ông ta lại ăn nói ngang ngạnh như vậy? Lê Văn Hưu hỏi lại:

- Ông là ai?

Ông lão trả lời:

- Đoán được ta là ai thì về, nếu không thì...

- Thưa ông thì sao ạ?

- Thì sẽ biết!

Lê Văn Hưu nhìn kỹ ông lão một lần nữa. Ông già đẹp lão, tướng mạo hiền lành, sao lại là ma quỷ được? Lê Văn Hưu suy nghĩ một lát rồi reo lên:

- Là ông tiên! Đúng là ông tiên rồi!

Ông lão cười, xoa đầu Lê Văn Hưu:

- Ta là người núi, cháu nói đúng. Cháu là học trò thầy làng Trầu phải không? Thôi, về đi, trời lại sắp đổ mưa to rồi đấy.

Vừa, về đến quán, mọi người xúm lại hỏi, Lê Văn Hưu đáp:

- Không có yêu ma gì cả, chỉ là một ông tiên!

- Sao mày lại biết ông tiên?

Lê Văn Hưu tròn mắt, xòe tay giảng giải cho mọi người:

- Một người đứng bên núi, chữ "Nhân" bên chữ "Sơn" chẳng phải là "Tiên" thì là gì? Ông tiên mà các bác lại bảo là ma quái làm cho người ta sợ!

Câu chuyện Lê Văn Hưu gặp tiên đến tai thầy làng Trầu. Một hôm, sau buổi học, thầy giữ riêng Lê Văn Hưu lại để hỏi. Nghe lời thuật, thầy đồ càng kinh ngạc vì lòng can đảm và trí thông minh của cậu học trò họ Lê. Nhìn khuôn mặt đầy đặn với cặp mắt tinh anh của đứa học trò chưa đầy mười tuổi, thầy đồ nói:

- Con chăm học lại có tư chất hơn người. Văn bài cử nghiệp thầy không chuyên lắm. Để cho con có chỗ dùi mài kinh sử, thầy gửi con đến Cổ Bôn học với thầy họ Nguyễn. Đó là sư huynh của thầy. Con tuy còn nhỏ tuổi, nhưng với sức và tài học này thì chẳng mấy chốc đã lều chõng đi thi được rồi đấy.

Làng Cổ Bôn cách Phủ Lý một quãng đường. Hàng ngày đi học Lê Văn Hưu thường dừng bên quán thợ rèn ở đầu làng để xem.

Nhìn chùm tia lửa sáng lòe bắn tung tóe như sao sa theo tiếng búa nhịp nhàng, Lê Văn Hưu rất thích thú. Nhưng thú nhất là được xem người ta rèn giũa những thanh sắt vô dụng thành con dao, lưỡi cuốc xinh đep và hữu ích. Khâm phục tài nghệ của bác thợ rèn, Lê Văn Hưu băn khoăn không biết tổ tiên ta, ai đã dạy nghề rèn này cho bác.

Một hôm, Lê Văn Hưu xách túi sách đứng xem bác rèn đùi xiên, tò mò hỏi:

- Bác này! Ông tổ nghề rèn của ta là ai đó?

Thấy thằng bé mới lên mười mà đã biết hỏi vặn vẹo, bác thợ rèn ngước mắt nhìn:

- Mày là học trò thầy họ Nguyễn ở Cổ Bôn à?

- Vâng ạ!

- Học được bao nhiêu chữ mà chưa biết điều đó?

Lê Văn Hưu trả lời đùa:

- Có bao nhiêu chữ thì cháu học hết cả ngần ấy.

Bác thợ ngạc nhiên vì câu nói táo bạo của đứa bé:

- A! Giỏi nhỉ, Được! Thế thì tạo ra một câu đối, đối được tao có thưởng. Nếu không, phải ở đây quai búa, khi nào đối được mới cho về!

Bác thợ rèn ngừng tay búa, chỉ vào lò rèn, đọc:

- "Than trong lò, sắt trong lò, lửa trong lò, thổi phì phò, rèn nên dùi sắc, đối đi!"

Lê Văn Hưu cười:

- Chả khó mấy! Rồi vỗ vào túi đối ngay:

- "Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi, giật lấy khôi nguyên".

Bác thợ rèn tròn mắt, buông búa, chỉ vào Lê Văn Hưu:

- Mày là cháu bảy đời cụ Lê tướng công phải không?

Lê Văn Hưu không trả lời, Bác cười:

- Thảo nào! Tao xin thua rồi đó. Đây, phần thưởng!

Báo trao cho Lê Văn Hưu một cái dùi và ba mươi đồng tiền để mua bút giấy. Nhưng cậu bé vẫn chưa tha:

- Bác còn chưa nói được ông tổ nghề rèn là ai đấy nhé!

Bác thợ rèn cười xòa:

- Thằng này tinh quái thật! Thôi, đến trường đi, muộn học phải quỳ bây giờ!

Trường học thầy họ Nguyễn nổi tiếng vì có cậu học trò Lê Văn Hưu văn hay chữ tốt. Trong đám học trò, có người tóc đã hoa râm, có người còn trẻ măng, thầy họ Nguyễn đặt hi vọïng vào Lê Văn Hưu hơn cả. Nhà vua sắp mở khoa thi phen này cậu học trò họ Lê ấy có cơ sẽ làm rạng danh thầy. Tuy vậy thầy vẫn không ưa cái nết hay đi đây đó của cậu. Gần đến ngay thi rồi mà Lê Văn Hưu còn bỏ luôn mấy buổi bình văn!

Hôm nay, cảm thấy người khó ở, thầy họ Nguyễn cho học trò nghỉ. Thầy nàm khềnh ngả đầu trên gối xếp, đọc sách. Trong khi đó Lê Văn Hưu lại đang lững thững cắp sách đến trường.

Bước tới đầu làng Cổ Bôn, Lê Văn Hưu thấy bóng một người con gái đang đi phía trước. Hình như cô ta cố ý đi chậm để đợi ai. Cho đến khi nhận ra tào áo lụa quen thuộc, dáng người thon thả, bước đi mềm mãi của cô thì Lê Văn Hưu đã nhận ra là cô Cả con gái lớn của thầy đi chợ về.

Đợi Lê Văn Hưu đến gần, cô gái cười tinh nghịch:

- Anh Hưu! Phen này tha hồ mà quỳ.

Lê Văn Hưu giật mình thầm nghĩ: Có lẽ mình bỏ học đi chơi lâu ngày bị thầy quở mắng nên cô Cả mới dọa như vậy. Nhìn anh học trò đẹp trai nhưng lại độn khẩu trước con gái, cô Cả hỏi dồn:

- Anh đi đâu mười hôm nay?

- Tôi xin phép thầy rồi.

Cô Cả nguýt dài:

- Xin phép có ba hôm mà đi luôn mười ngày. Hôm nào thầy cũng tra hỏi, cáu gắt rầm cả trường vì anh bỏ học đi chơi đấy!

Đến trường, Lê Văn Hưu rón rén bước vào nhà học. Thấy phản, chiếu vắng tanh, chỉ có thầy nằm trên sập, Lê Văn Hưu chắp tay sợ hãi:

- Thưa thầy ạ.

Thầy đồ buông sách, nhổm dậy cười hỏi:

- Anh đi chơi về rồi à? Hôm nay thầy mệt, cho trường nghỉ. Nông Cống có chuyện gì vui không, vào đây kể ta nghe.

Thấy thầy không giận, Lê Văn Hưu mạnh dạn ngồi xuống chõng tre kế bên sập hầu chuyện:

- Thưa thầy, con vào Nông Cống thăm quê hương Bà Triệu và nhân tiện hỏi về đất Cự Phong ngày xưa.

- Anh lại sa vào chuyện đó, thảo nảo!

Thấy thầy có ý không vui, Lê Văn Hưu lựa lời nói rõ điều suy nghĩ của mình:

- Thưa thầy, nhân học Bắc sử, con thấy Nam sử cũng có nhiều chuyện hay, thế mà chưa có ai ghi chép cả. Chỉ nói riêng phủ lộ Thanh Hóa ta thôi, có tướng Đô Dương của Bà Trưng, có Bà Triệu, Dương Diên Nghệ, Lê Hoàn, đều là những người làm vẻ vang cho đất nước. Chuyện kể trong dân gan có nhiều, vết tích đều còn cả. Nếu không ghi chép lại thì lâu ngày đến mai một, sai lệch hết!

Thầy học Nguyễn gật đầu, cho lời nói của Lê Văn Hưu là phải. Nhưng theo thầy, việc ấy phải có tài như Khổng Tử chép sử nước Lỗ, như Tử Trường viết sử ký mới làm nổi. Thầy khuyên:

- Gần đến kỳ thi rồi, con cố tập văn bài, chuyên Nam sử con nghĩ là phải, nhưng sau này hãy hay.

Lê Văn Hưu vòng tay:

- Vâng, nhân tiện đi chơi, con hỏi thăm cho biết, ghi chép lại, sau này có khi cần dùng. Còn bây giờ con phải lo thỉ cử chứ ạ.

Sau khi chào thầy ra về, gặp cô Cả ở ngoài sân. Lê Văn Hưu trách:

- Thế mà dọa thầy bắt quỳ!

Cô Cả che miệng cười tinh nghịch:

- Khoa thi đến nơi rồi, không dọa thì còn trốn học đi chơi đến bao giờ!

... Mùa xuân đến. Vào năm Đinh Mùi nhà vua mở khoa Thái học sinh. Lần đầu tiên triều đình đặt ra lệ kén lâm khôi. Lê Văn Hưu trong kỳ thi ấy đã đoạt được "Bảng nhãn", vào lúc đúng mười bảy tuổi đời.

Trong căn phòng rộng rãi dành riêng cho vương tôn công tử học tập tại Quốc học viện, Hàn lâm viện học sĩ Lê Văn Hưu và hoàng tử Trần Quang Khải hai thầy trò hơn kém nhau vừa một kỷ đang ngồi đàm đạo.

Từ khi đỗ khoa thi Thái học sinh. Lê Văn Hưu được triều đình phong cho chức Hàn Lâm viện học sĩ, lại được nhà vua ủy thác cho viêc dạy dỗ hoàng tử. Sau gần mười năm học tập, đến tuổi trưởng thành, sắp ra ở phủ đệ riêng, học vấn của hoàng tử Trần Quang Khải cũng xứng đáng với công lao rèn dạy của thầy. Thể theo điều ủy thác của thượng hoàng Trần Thái Tông, Lê Văn Hưu còn phải giảng giải thêm cho hoàng tử những hiểu biết về nước Nam điều đó không có ở sách vở của thánh hiền. Do đó, trong mấy ngày gần đây, việc bình văn gảng sách được thay bằng những buổi đàm đạo. Tuy vậy, cũng không phải vì thế mà Trần Quang Khải không biết rằng mình đang được nghe rất nhiều điều truyền dạy bổ ích và thiết thực của thầy. Còn Lê Văn Hưu, ông cũng cảm thấy hứng thú được trở về với sự việc đã và đang diễn ra trên đất nước Đại Việt. Lê Văn Hưu muốn, bằng những buổi đàm đạo, dẫn dắt hoàng tử Trần Quang Khải vào đời, bắt tay xây dựng nền trị bình trong thiên hạ như điều mong mỏi của thượng hoàng và cũng là điều hi vọng của ông đối với vị hoàng tử mẫn tiệp này.

Hôm nay, Lê Văn Hưu nói với hoàng tử về việc bình giặc Nguyên mới xảy ra hồi cuối năm ngoái.

Đứng dậy lục tìm trên giá sách, Lê Văn Hưu rút ra một tập giấy mới ghi chép, rồi trở lại bên án thư, lật từng trang hỏi:

- Trong công cuộc chống giặc vừa qua, hoàng tử có nghe câu chuyện "Nhập tống" chứ?

Trần Quang Khải vòng tay:

- Thưa thầy, con có nghe điều này trong lúc cùng triều đình tạm lui về vùng Thiên Mạc. Nhưng từ bây đến nay không thấy ai nhắc lại nữa.

Lê Văn Hưu đứng dậy, bước lại gần hoàng tử, tay không rời tập giấy:

- Không đâu! Chuyện này người sau sẽ còn nhắc mãi. Nhân đây ta muốn nói với hoàng tử rằng, học sách của thánh hiền chưa phải là đủ. Khi hữu sự, biết đem cái sở học của mình ứng phó với tình thế mới là quan trọng. Hay dở, hiền ngu, chính là ở chỗ đó. Như khi giặc Nguyên tràn vào kinh thành, triều đình phải tạm lánh đi một nơi, thế nước chênh vênh, lòng người nao núng, ấy thế mà có người khuyên nhà vua nên "Nhập tống" để nương nhờ thì thật là lạ. Nếu theo lời người ấy, hẳn chúng ta không có ngày này và cơ đồ của tiền nhân rồi sẽ ra sao?

- Vâng, thưa thầy, phải chăng đó là lời bàn của thái úy Nhật Hiệu?

Lê Văn Hưu yên lặng, chần chừ, chưa muốn nhắc lại đích danh người ấy. Ông trả lời:

- Lúc bấy giờ ta là một văn quan, không được hầu cạnh Thượng hoàng nên chỉ nghe biết chuyện. Người đó là ai, có dịp, hoàng tử hỏi lại thượng hoàng thì sẽ rõ.

Một chuỗi ngày sóng gió phiêu bạt đã qua hiện ra trong óc vị hoàng tử trẻ tuổi. Đột nhiên Trần Quang Khải hỏi:

- Thưa thầy, con nghe Thượng hoàng thường nhắc nhiều về lời tâu của thái sư Trần Thủ Độ.

Nét mặt Lê Văn Hưu chợt sáng bừng lên với một nụ cười kín đáo:

- Hoàng tử thấy lời bàn của Trần Thái sư như thế nào?

- Thưa thầy, con thường nghe nói: "Nhất ngôn hưng bang", quả là những lời nói như vậy.

Lê Văn Hưu lật tìm trang giấy, đọc lại cho hoàng tử nghe lời nói của thái sư Trần Thủ Độ mà ông đã chép; "Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo", rồi giảng giải:

- Hoàng tử nói đúng. Lúc bấy giờ thế giặc mạnh, kinh thành đã mất, quân dân ta phải chịu lầm than phiêu dạt, nghĩ đến điều ấy, Thượng hoàng phân vân, bàn với các vương hầu là thành trì dinh lũy của triều đình: Nếu bấy giờ, ai cũng chỉ nghĩ đến mạng mình mà quên mất sơn hà xã tắc thì làm gì còn có người như Trần Thái sư với câu nói bất hủ đó. Lời tâu của Trần Thái sư đã làm cho Thượng hoàng yên tâm, quân dân bền lòng vững chí, ai nấy quyết tâm chống giặc giữ nước đến cùng.

Lê văn Hưu nhìn vào hoàng tử căn dặn:

- Người trong chuyện cũng không sống được mãi, nhưng hậu thế sẽ không quên với những lời bình phẩm xác đáng. Tuy là hậu thế chê bai, nếu người đó không biết lo trước vui sau thiên hạ, và khi cần, lại không biết quên mình vì sự mất còn của nòi giống. Việc bình giặc Nguyên năm ngoái là võ công lớn của triều ta. Tiếng thơm sẽ còn để lại đến muôn thuở cùng với tên tuổi của những người đã biết chọn con đường vì nước quên mình.

Lê Văn Hưu đưa cho hoàng tử Trần Quang Khải một tập sách do tay mình ghi chép rồi nói tiếp: Từ lâu, ta đã có ý định thu thập, ghi chép về Nam sử. Lần đánh giặc năm ngoái, tai nghe mắt thấy thêm được nhiều điều, mới càng thấy cần phải soạn ngay Quốc sử. Đây mới là những người, những việc còn ghi chép tản mạn. Nhưng hoàng tử cứ đọc trước, ta cho phép. Có chỗ nào không rõ, ta sẽ nói thêm.

Trần Quang Khải kính cẩn đưa hai tay đỡ tập sách của thầy rồi lùi về án thư. Từng trang sách như dẫn dắt vị hoàng tử trẻ tuổi trở về với quá khứ oanh liệt của dân tộc, của núi sông.

Trong khi đó Lê Văn Hưu lại cúi đầu trên trang sách mở rộng quyển Thông giám cương mục của Chu Tử mà ông mới tìm được.

Hàn lâm viện học sĩ Lê Văn Hưu xuống võng, sững bước trước thánh cung để sửa sang lại triều phục. Trước mặt ông là một tòa điện không kém phần nguy nga cạnh hoàng cung tráng lệ. Vua Trần Thái Tông, sau khi nhường ngôi cho thái tử Hoảng đã lui vè đây với cương vị Thượng hoàng. Lê Văn Hưu đến thánh cung chầu đức Thượng hoàng theo lệnh triệu của người.

Lê Văn Hưu vừa đặt chân vào điện đình thênh thang, thì hoàng tử Trần Quang Khải đã từ thềm thánh cung vòng sau ngọn giả sơn bước ra đón, Hoàng tử chắp tay vái chào:

- Kính thưa thầy, hôm nay đức thượng hoàng thác cớ bận việc không dự buổi thường triều ở điện Kiền Nguyên. Người truyền cho con phải có mặt ở đây để hầu thầy.

Lê Văn Hưu theo hoàng tử vượt qua đoàn lính cấm vệ đang cúi gập người trên thanh gươm cầm ngang, vào chầu Thượng hoàng:

- Hạ thần Lê Văn Hưu kính chúc Thượng hoàng vạn vạn an.

Từ trên ngai ngự, Trần Thái Tông bước xuống đỡ vị học sĩ đang sụp lại dưới long án:

- Khanh giữ lễ quân thần là phải chỉ vào hoàng tử đang chắp tay đứng hầu, Thượng hoàng nói tiếp ta sinh ra Quang Khải, còn khanh thay ra dạy dỗ hoàng tử, thế là khanh đã giữ trọng đạo thần tử rồi đó.

Thường thường các bậc đại thần, kể cả nhà vua, mỗi khi vào chầu Thượng hoàng đều phải phục lạy, cúi đầu đợi mệnh. Nhưng hôm nay, riêng với Hàn lâm viện học sĩ Lê Văn Hưu, Thượng hoàng có đặc ân cho miễn lễ, lại sai đặt kỷ ngồi cạnh long án cùng đàm đạo.

Từ sau khi nhường ngôi, Thượng hoàng Trần Thái Tông mới rảnh rang để nghĩ đến quốc sử. Trong số các quan ở quốc học việc, Lê Văn Hưu là người có học vấn sâu rộng, lại am hiểu nam sử. Thượng hoàng ra lệnh triệu Lê Văn Hưu vào chầu để truyền bảo. Giờ đây con người có thể được giao trọng trách đó đang đưa hai tay nâng chén ngự tửu do Thượng hoàng ban cho và kính cẩn lắng nghe từng lời truyền dạy của người:

- Nước ta từ lập quốc đến nay trải qua nhiều biến đổi. Đời nọ truyền nổi đời kia, đến bản triều đã mấy ngàn năn, ấy thế mà chưa có một bộ quốc sử để ghi chép lại. Khanh là người học rộng, am hiểu Nam sử, ta muốn giao cho đảm đương việc đó!

Lê Văn Hưu đứng dậy chắp tay tâu bày:

- Muôn tâu Thượng hoàng, thần trộm nghĩ một nước không có bộ quốc sử sao gọi là nước văn hiến được. Vì vậy việc biên soạn một bộ quốc sử là khẩn thiết. Huống chi, mối họa giặc ngoại xâm lấn vẫn đang còn đó. Việc làm rõ quốc thể bằng sử sách lại càng cần phải làm ngay. Thần được Thượng hoàng biết tên, lại có lòng tin giao việc, thật là điều vinh hạnh lớn. Nhưng nghĩ mình tài học nông cạn, kiến văn hẹp hòi, thần vẫn nơm nớp e sợ không làm tròn được điều sai bảo của Thượng hoàng.

Trần Thái Tông ngắt lời:

- Ta biết việc biên soạn Quốc sử là khó. Nếu dễ thì từ trước đã có người làm, không đợi đến bây giờ. Nhưng nếu vịn vào khó mà không làm thì để đến bao giờ? Chẳng lẽ một nước có mấy ngàn năm văn hiến lại không có lấy nổi một bộ quốc sử. Nếu để vậy, ta đắc tội với tiền nhân mà còn làm thiệt thòi cho hậu thế.

Ngừng lại một lát rồi Thượng hoàng hỏi Lê Văn Hưu:

- Ta nghe hoàng tử Quang Khải kể lại rằng khanh đã từng ghi chép được nhiều về Nam sử?

Thấy Thượng hoàng hỏi, Lê Văn Hưu dè dặt:

- Muôn tâu, trước đây nhân mỗi khi đi thăm danh lam thắng cảnh, hoặc có dịp xem xét sinh hoạt làm ăn của dân cư, thần có viết lại những điều mắt thấy tai nghe. Gần đây, vâng mệnh Thượng hoàng phải giảng giải thêm nam sử cho hoàng tử, thần có kê cứu, sắp xếp lại theo thứ niên đại để tiện sử dụng.

- Khanh làm việc đó từ bao giờ?

- Muôn tâu, từ thuở mới theo đòi việc nghiên bút, nhân học Bắc sử thần muốn hiểu biết về nam sử nên đã bắt đầu tập tành ghi chép dần dần...

Nghe đến đây, Thượng hoàng đứng dậy cười lớn:

- Thế là khanh đã làm sử rồi đó! Thử hỏi, nếu giao việc này cho người khác, thì kẻ đó tất phải mất bấy nhiêu năm để đi xem xét, nghe ngóng, ghi chép lại, mà đã chắc gì hiểu biết hơn khanh. Aáy là chưa nói còn phải biết kê cứu, đối chiếu, phải xét đoán kỹ càng, chọn lọc phẩm bình tinh tường mới hạ bút chép thành bộ Quốc sử được chứ! Ta đã nghĩ kỹ, việc đó phải giao cho khanh!

Sau buổi chầu hôm ấy, theo lệnh của Thượng hoàng Trần Thái Tông, chức Chưởng sử quan đầu tiên của nước Đại Việt được triều đình gia phong cho hàn lâm viện học sĩ Lê Văn Hưu.

Đã sang canh ba, thư phòng của Hàn Lâm viện học sĩ kiêm Chưởng sử quan còn le lói ánh đèn. Khu Quốc học viện ở phía nam kinh thành vốn đã vắng lặng, về khuya lại càng tịch mịch.

Một mình bên ngọn bạch lạp, Lê văn Hưu đang tu chỉnh lại bản thảo. Sau nhiều năm chép soạn, đến nay ông đã có dưới tay một tập Quốc sử tạm như ý muốn. Nhớ lại, sau khi nhận lệnh của Thượng hoàng, Lê Văn Hưu cũng đã biết đây là một việc khó. Đến khi bắt tay vào việc ông mới thấy rằng mình chưa lường hết được khó khăn đến chừng nào! Trước quá khứ lịch sử xa xăm của đất nước, đã có lúc ông cảm thấy bất lực trong việc biên soạn quốc sử. Những bộ Bắc sử lớn như xuân thu của Khổng Tử, sử ký củ tư Mã Thiên, Hán Thư của Ban Cố, Tam quốc chí của Trần Thọ... Cho đến quyển sử gần đây như thông giám cương mục của Chu Hi, ông đều tham khảo kỹ. Các bộ sách ấy viết theo nhiều thể loại: Biên niên, kỷ sự... đều giúp cho ông nhìn ra cách viết! Còn sử liệu để viết mới thật nan giải. Bắc sử, ngoài các quyển trên còn có những bộ riêng về từng triều như: Hậu Hán thư, Tống Thư, Lương thư, Tùy thư, Đường thư... Tất cả đều có ghi chép ít nhiều sự việc có quan hệ với phương Nam, nhưng không tránh khỏi chắp vá sai lạc. Cuối cùng bảo bối của ông vẫn không ngoài những điều ghi chép được từ trước đã chất đầy giá.

Lần gởi từng mẩu chuyện cũ, những điềm son sáng ngời trong sự nghiệp của tiền nhân đã cổ vũ, thúc đẩy ông gắng gỏi làm việc.

Đọc lại chuyện kể dân gian về sự tích Lạc Long quân lấy nàng Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng, nở thành một trăm con trai, con trường là Hùng Vương làm vua đầu tiên của nước Văn Lang, ông nhớ đến miền đất tổ Phong Châu mà ông đã từng đặt chân đến. Đối chiếu so sánh niên đại, ông thấy thời Hùng Vương ngang với thời Phục Hi, Thần Nông của Bắc sử, cách đây đã vài bốn ngàn năm. Rồi chuyện Thục An Dương vương xây thành Cổ Loa, vết cũ hãy còn chỉ cách Thăng Long mấy dặm đường. Ông rất tiếc, những điều ghi chép về thời này còn quá ít ỏi, không dựa vào đâu để khảo cứu cho tường tận được. Ông đành phải tạm gác lại, chờ một dịp khác. Và đành bắt đầu chép từ Triều Vũ đế đến Lý Chiêu Hoàng.

Từ đó, ròng rã hơn mười năm trời lục tìm văn bản của các triều trước còn lưu ở thư các hoặc tản mạn trong dân gian, tìm kiếm thêm sự tích thần từ phật tự, nghe ngóng truyện kể lưu truyền, đối chiếu với Bắc sử, cuối cùng ông biên soạn lại thành tập bản thảo như bây giờ.

Đã nhiều lần đọc lại, ông vẫn còn băn khoăn. Ngay từ khi mới chấp bút, ông đã nghĩ rằng chép sử không chỉ là kê cứu là liệt sự việc diễn biến của các triều đại nối tiếp. Người chép sử không phải chỉ làm có thế, và bộ Quốc sử cũng không phải là để thỏa chí tò mò cho những người muốn biết chuyện xưa. Theo ông, người chép sử phải đánh thức lịch sử dậy để quá khứ trối trăn những điều dạy bảo cho mai sau. Sử bút phải biết rung lên tiếng nói hào hùng của các sự kiện oanh liệt, phải gợi bùng lên hào quang rực rỡ của những tấm gương chói lọi, nhưng cũng có khi phải làm búa rìu đối với những việc không hay để trước hết, cho các bậc vua chúa thay trời chăn dân lấy đó làm gương. Ấy thế mà mỗi khi đọc lại chồng bản thảo, ông vẫn thấy chưa làm được như điều mình mong muốn.

Đọc lại đoạn viết bàn về Hài Bà trưng: "Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố và sáu mươi lăm thành ở lĩnh ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay, đủ biết hình thể đất Việt ta có thể dựng được cơ đồ đất nước tự nghìn xưa, nhưng lại thấy thế vẫn chưa đủ. Ngót một ngàn năm lệ thuộc các triều đại phương bắc đã làm ông đau lòng. Thế mà bây giờ nguy cơ giặc Nguyên Mông thôn tính lại nổi lên. Muốn nhân đây cổ vũ lòng người xả thân vì nước, nhất là đối với những kẻ vẫn vỗ ngực tự xưng là bậc tu mi nam tử mà lại nhiều phen tỏ ra quá đớn hèn, ông hạ bút viết thêm: "Tiếc rằng nội sau họ Triệu cho đến họ Ngô, trong khoảng hơn ngàn năm, bọn đàn ông chỉ cúi đầu bó tay, làm thần bộc cho người phương Bắc, há chẳng xấu hổ với hai chị em họ Trưng là đàn bà ư! Ôi! Có thể gọi là tự bỏ mình vậy".

Ông vừa lòng với lời bàn về Ngô Quyền: Tiền Ngô Vương có thể lấy quân mới họp của đất Việt ta mà phá được trăm vạn quân của Lưu Hoằng Tháo, mở nước xưng vương, làm cho người phương Bắc không dám lại sang nữa. Có thể bảo là một cơn giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy.

Ông đã khen Lê Đại Hành đánh giặc Tống: "Lê Đại Hành giết Đinh Điền, Bắt Nguyễn Bặc, bắt Quân Biện, Phụng Huân dễ như lùa trẻ con, như sai nô lệ, chưa đầy vài năm mà bờ cởi yên tĩnh, cái công đánh ấy tuy nhà Hán nhà Đường cũng không hơn được..."

Nhưng nghĩ đến khi con Lê Đại Hành đánh giết lẫn nhau giành ngôi vua thì ông ngần ngại hạ bút thêm: "Ngọa triều giết anh tự lập làm vua, bạo ngược với dân chúng để thỏa lòng hung ác, đến nổi mất ngôi mất nước, không phải là sự bất hạnh của nhà Lê, là lỗi ở Đại Hành không sớm đặt thái tử và trung tôn, không biết phòng giữ từ khi mới chớm nên đến nỗi thế".

Xem lại phần chép về nhà Lý, thấy việc Lý Thái Tổ tiêu phí sức dân quá nhiều để xây dựng chùa chiền, cung điện đài tạ, ông bóp đầu suy nghĩ một hồi, rồi viết:

"Lý Thái Tổ lên ngôi được hai năm, tôn miếu chưa dựng, xã tắc chưa lập, mà trước đã dựng tám chùa ở phủ Thiên Đức, lại sửa chữa chùa quán ở các lộ, và cấp độ diệp cho hơn ngàn người ở kinh sư làm tăng, thế thì tiêu phí của sức dân, ông lại viết thêm: "Của không phải là trời mưa xuống, sức không phải là thần làm hộ, há chẳng phải là vét máu mỡ của dân chăng? " Ngẫm đến di hại sau việc làm của Lý Thái Tổ, ông để cho ngọn bút của mình lên tiếng: "Bậc vua sáng nghiệp, tự mình cần kiệm còn lo cho con cháu ngày sau xa xỉ, mà Thái Tổ để phép cho con cháu như thế, cho nên đời sau mới xây tường cao ngất trời, tạc cột chùa bằng đá, làm chùa thờ phật lộng lẫy hơn cung điện nhà vua. Rồi người dưới bắt chước, có kẻ hủy thân thể, đổi lối mặc, bỏ sản nghiệp, trốn thân thích, nhân dân quá nửa làm sãi, trong nước chỗ nào cũng có chùa, nguồn gốc há không phải là đấy? "

Chép đến việc Lý Thần Tông vừa lên ngôi ba năm đã hạ lệnh cho con gái các quan không được gả chồng trước, đợi sau khi chọn xong vào hậu cung, người nào không trúng mới cho đi lấy chồng, Lê Văn Hưu bực bội đến không kìm được chữ viết: "Trời sinh ra dân mà đặt vua chúa để chăn nuôi, không phải để cho vua tự phụng. Lòng cha mẹ ai chẳng muốn con cái có vợ có chồng, thánh nhân thể lòng ấy, chỉ sợ đàn ông đàn bà không được chốn thôi... Thần Tông xuống chiếu cho con gái các quan phải đợi khi tuyển vàp cung không trúng rồi mới được lấy chồng thì là tự phụng cho mình, có phải là lòng làm cha mẹ dân đâu?

Đã hay chép sử theo ông là chép việc làm của các bậc vua chúa. Nhưng vua chúa cũng phải chăm sóc muôn dân mới hợp đạo trời và thuận lòng người. Ông dựa vào điều đó để ca ngợi hay bài bác. Ý nghĩ ấy, lôi cuốn ngọn bút trong tay, ông đọc đi đọc lại, thêm bớt nhiều chỗ, say sưa làm việc đến quên cả trời gần sáng.

Tiếng chuông cảnh tỉnh của chùa Ngọc Hồ đã vọng vào Quốc học viện. Lê Văn Hưu đứng dậy, bước ra ngoài. Sương sớm mát dịu. Ông cảm thất mệt mỏi và thầm nhủ: Còn phải thức nhiều đêm nữa để tu chỉnh lại bản thảo mới kịp đem dâng nhà vua.

Kinh thành Thăng Long còn đậm đà phong vị Tết, tuy tháng giêng năm Nhâm Thân đã bước vào hạ tuần. Riêng điện vào loại lớn nhất hoàng cung, dựng từ thời Lý, lại được trang hoàng lộng lẫy hơn. Hàng cờ đuôi nheo cắm dọc lối đi từ cổng vào thềm điện. Trên hành lang, những chiếc đèn lồng bằng lụa điều đu đưa lơ lửng. Điện Tập Hiền lung linh, ánh lên mầu sắc lộng lẫy. Và đội quân cấm vệ nón dấu, bao vàng, cắp gươm chia nhau đứng canh giữ dưới thềm điện.

Hôm nay, nhân bộ quốc sử đã biên soạn xong, để khích lệ động viên quần thần phải gắng gỏi công việc văn học, nhà vua sai Tướng quốc Thái úy Trần Quang Khải học trò của Chưởng sử quan Lê Văn Hưu, triệu quần thần về điện Tập Hiền dự lễ hiến dâng quốc sử và cùng vui nhân dịp đầu xuân.

Chiêng trống khai trào dóng dả vang lên tường tiếng một, rồi đổ hồi, rung chuyển cả tòa điện. Bá quan văn võ phục trên thảm gấm bái mạng. Tiếp theo là những tiếng hô vang: "Vạn Tuế! Vạn tuế!" chúc tụng thượng hoàng Trần Thái Tông và hoàng đế Trần Nhân Tông đang ngự trên ngôi cao vòi vọi.

Khi mọi người đã yên vị, tay chấp ngang đai lưng, đứng yên lặng như những pho tượng theo nghi lễ triều hội, Thượng hoàng Trần thái tông từ trên cao đưa mắt nhìn khắp lượt quần thần rồi bước xuống nền điện phán bảo:

- Từ khi ta lập Viện Quốc học, mở cửa đón học trò trong nước vào học, đến nay đã gần hai mươi năm. Theo đó, người có tài năng văn học xuất hiện ngày một triều. Từ năm Đinh Mão ta lại bắt đầu kén chọn được người văn học giao cho quyền binh ở quán, các sảnh, viện. Như vậy, việc học đã mở mang thịnh đạt hơn so với các tiên triều. Các ngươi được triều đình ban cho tước vị bổng lộc trọng hậu, phải gắn công vun đắp cho nền học thuật nước nhà để thỏa lòng mong mỏi của ta.

Tiếng "Dạ" ran đồng thanh vang lên trong tòa điện. Thượng hoàng phán tiếp:

- Ta vui mừng truyền bào cho các ngươi biết từ ngày giữ ngôi ta đã nghĩ đến bộ Quốc sử. Cách đây mười năm ta giao cho Hàn Lâm việc học sĩ học sĩ Lê Văn Hưu soạn thảo. Đến nay quốc sử đã làm xong, lấy tên là Đại Việt sử ký. Đây là bộ sử đầu tiên của nước Đại Việt biên soạn dưới triều ta.

Thượng hoàng nói dứt lời, từ hàng quan văn, Lê Văn Hưu nâng cao bộ Quốc sử gồm ba mươi quyển, tiến lên quỳ dâng trước ngai rồng. Hàng trăm con mắt khâm phục dồn về vị văn quan mới ngoài bốn mươi tuổi đã làm nên việc trước nay chưa từng có, xứng đáng với vinh dự được Thượng hoàng nhắc đến tên. Bá quan văn võ lại càng kinh ngạc khi thấy vị tướng quốc Thái úy trẻ tuổi Trần Quang Khải vội vàng nghiêng mình trước Hàn lâm viện học sĩ Lê Văn Hưu và đỡ lấy bộ Quốc sử chuyển dâng nhà vua.

Thấy vậy, Thượng hoàng chỉ vào Trần Quang Khải nói với chủ nhà vua và quần thần:

- Thái úy Trần Quang Khải làm đến chức tướng quốc mà vẫn giữ đạo thầy trò. Còn Hàn lâm Viện học sĩ Lê Văn Hưu đã rèn dạy tướng quốc, lại theo lệnh ta biên soạn nên Quốc sử. Thầy ầy trò này, đều là bề tôi lương đống của triều đình.

Lê Văn Hưu nâng tay ngang trán quỳ trước mặt thượng hoàng:

- Muôn tâu, nhờ oai linh của Thượng hoàng, hạ thần mới có vinh dự như ngày nay. Biết mình học vấn nông cạn, nhưng vâng mệnh, thần mạo muội chấp bút e không tránh được sơ suốt. Thần cúi đầu xin Thượng hoàng, bệ hạ tha thứ cho.

Từ trên ngôi cao, vua Trần Nhân Tông cầm quyền sử đưa ra trước mặt quần thần:

- Việc học nước ta bắt đầu mở mang từ triều trước, nhưng sử học thì phải đến bản triều mới có người mở lối. Để làm nên bộ Quốc sử này là nhờ oai linh của Thượng hoàng, nhưng công sức của Hàm Lâm viện học sĩ Lê Văn Hưu không phải là nhỏ.

Nhà vua phán bảo Trần Quang Khải:

- Thái úy tướng quốc phải giao cho Viện quốc học chép lại nhiều bản, ghi rõ năm Nhâm Thân, niên hiệu Thiệu Long thứ mười lăm và người chép sư là Hàn Lâm viện học sĩ kiêm Chưởng Sử quan Lê Văn Hưu. Sách làm xong sẽ lưu giữ ở Bộ thư các làm tin sử truyền lại cho đời sau.

Đứng cạnh Tướng quốc Thái úy Trần Quang Khải, Lê Văn Hưu nghe rõ từng lời phán bảo của nhà vua. Không chép sử đương đại, nhưng ông thầm nghĩ rằng sau này sẽ có người ghi chép, một đôi dòng về chuyện xảy ra trong ngày hôm nay ở điện Tập Hiền.
Đăng nhập để trả lời
0
Phan Bá Vành

Trưa mùa hè đổ nắng lửa xuống cánh đồng Minh Giám.

Thúc trâu đi nốt sá cày cuối cùng, Bá Vành bặm môi ấn lút mũi sắt nhọn xuống bùn, lột phăng tấm áo cộc, giật mạnh chiếc nón mê, quạt thốc một hồi vào bộ ngực vạm vỡ như đá tảng. Từ đầu bờ xa tít tắp, tiếng cu Vò khàn khàn gọi với tới, giục Vành nghỉ tay ăn trưa. Cái đói âm ỉ giày vò suốt buổi, giờ bỗng dội cồn lên. Bá Vành tháo ách trâu, thuận tay đập luôn một roi cho con vật chạy lồng lên bờ, chỗ người đầy tớ của chủ đất đang đứng đợi. Bóng người và vật nhòa đi trong nắng chói. Bá Vành vớ lấy chiếc bắp cày đẩy chét tay, khẽ nheo mắt, đoạn vươn cánh tay dài như tay vượn, lao đánh vụt. Đòn tre nặng bay vù qua hơn một mẩu ruộng, cắm phập ngay trước mặt cu Vò! Bùn nước bắn vung tung tóe, nhưng Vò vẫn đứng nguyên vuốt mặt cười ồ ồ: Tài ném lao của anh Vành đã khét tiếng khắp vùng này, đích dẫu có xa đến mấy cũng chẳng chệch được một phân mà sợ!

Bá Vành ào ào lội ruộng đi tới. Nhìn rá cơm với bát tương và ấm nước vối. Vành tần ngần một lúc rồi bỗng vớ lấy ấm nước, tu một hơi cạn sạch.

Khuỳnh bắp tay quệt những giọt nước chảy ròng ròng dưới cằm, Vành bảo Vò:

- Mày chạy nhanh về nhà tao, đưa rá cơm này cho mẹ và vợ tao, bảo là phần thằng Vành gửi!

Cu Vò ngơ ngác nhìn Vành, nhưng vẫn cứ cầm rá cơm, ré chân bước vội, bởi đã biết cái tính quả quyết mà nóng nảy như lửa sôi của con người này.

Còn lại một mình, Bá Vành duỗi chân ngồi cạnh bóng trâu, đưa mắt nhìn quanh. Cánh đồng Minh Giám quạnh quẽ, tiêu điều, vàng vất hơi nắng trắng khô. Sau lũy tre làng, khói cơm trưa thưa thớt, vật vờ. Đã ba năm liền, cái vựa lúa Trấn Sơn Nam Hạ này bị thần đói vật cho nhừ tử rồi! Dân các làng trong miền, từ những kẻ vong mạng đánh liều tụ tập nhau làm giặc, còn thì chạy đói, bỏ cửa nhà mà phiêu dạt đi các xứ đến quá nữa. Những người già cả ở nhà còn cố gượng bám lấy xóm làng, vừa lần hồi sinh nhai, vừa vuốt ngực thở dài, nhắc lại chuyện trăm năm trước: Đời Lê mạt, miền này cũng đã từng bị cơn đói kém tàn hại, đất mất người đến nỗi ruộng bỏ hoang cho lau cỏ mọc thành rừng rậm, và thú rừng nhan nhản tràn về ngự trị thay người...

Bọn cường hào, ác bá, tham quan, nhũng lại, và cả cái triều đình mục nát của nhà Nguyễn chính là những kẻ đã gây ra tất cả những tai vạ đó. Chúng đục khoét, bòn rút, hà hiếp người nghèo cho đến tàn rụi, kiệt cùng. Sức dài vai rộng như Bá Vành, mồ côi cha nhưng may có mẹ hiền vợ thảo đùm bọc, vậy mà cày thuê bừa mướn cho chủ đất khắp vùng, vẫn chẳng đủ miếng cơm nuôi miệng!

Cơn đói lại cuộn lên. Bá Vành uất ức nghiến răng kèn kẹt. Tài võ nghệ, chí lược thao và sức mạnh tuyệt trần, gần xa đều thán phục như thế này mà đành bó tay chịu cảnh đói khổ mãi sao? Nếu không làm cuộc đổi đời thì bao giờ mới thoát cảnh đày đọa này?

Chiều hôm ấy, không trở lại nhà chủ nữa, Phan Bá Vành đánh thẳng con trâu mộng của chủ đất về nhà mình. "Vành tôi cùng với mẹ và vợ, làm đã cật lực mà vẫn sắp chết đói cả. Bây giờ chỉ còn có cách đánh lại chúng nó thì mới sống được mà thôi. Bà con làng xóm ai muốn hết khổ thì đi theo tôi! Sẵn có trâu béo đây, Vành tôi xin mở tiệc khao quân. Rượu thịt no say rồi thì cùng nhau làm cuộc đổi đời...". Phan Bá Vành vừa sải chân bước giữa xóm nghèo của mình, vừa cất giọng nói oang oang như vậy.

Cu Vò là người đầu tiên thấy chuyện lạ, vội gấp nghé tới xem. Được lệnh Bá Vành đi mời tìm bà con xóm giềng và người quen kẻ lạ gần xa lúc đầu Vò còn ngập ngừng ngần ngại, nhưng rồi cuối cùng cũng hăm hở, tất bật chẳng kém gì Bá Vành. Bữa tiệc thịt trâu hôm ấy thực đủ vẻ náo nức, dữ tợn, bồn chồn, hồi hộp. Khoản đãi những người theo mình đi làm cuộc đổi đời, và cũng là để một lần tạ nghĩa mẹ, giã từ vợ, Bá Vành cầm chắc ngọn lao sở trường, ra đi.

Tin Phan Bá Vành đã nỗi dậy khởi nghĩa chống triều đình nhà Nguyễn lập tức lan truyền đi khắp các ngả. Một đồn mười, mười đồn trăm, miền Sơn Nam Hạ sôi lên sùng sục như nước vỡ bờ. Bấy giờ là tháng bảy năm Ất Dậu, đời Minh Mệnh thứ sáu. Một đêm quang mây, người vùng Sơn Nam Hạ nhìn lên trời bỗng tròn mắt, ngây người đứng sững: Phía Đông Nam một ngôi sao tua rua vụt hiện ra chói lóa, đuôi sao cực lớn kéo dài lê thê về hướng Tây Bắc như chiếc chổi quái dị. Thế rồi, ồn ào hoặc thầm kín, thành kính mà thích thú, người vùng Sơn Nam truyền cho nhau câu hát kỳ lạ:

"Trên trời có ông sao tua
Ở làng Minh Giám có Vua Bá Vành"

Phan Bá Vành theo sau là cu Vò, ung dung bước qua chiếc cổng đồ sộ có chòi canh chắc chắn xây cao bên trên của nhà Tri Đạo. Đây là nhà hào phú lớn nhất làng Cát Già. Và chính cái kho của vựa lúa nhà này đang được người thủ lĩnh nghĩa quân nhằm vào để toan tính chuyện lương tiền cho đạo quân mới nổi của mình.

Tri Đạo ngả người trên chiếc tràng kỷ, đang phe phẩy chiếc quạt lông tàu thì thấy Bá Vành đột ngột xuất hiện. Cài vội chiếc áo lụa mỡ gà, Tri Đạo chồm dậy, luống cuống mời Bá Vành ngồi lên sập trên, rồi lập tức, quát bảo gia nhân mổ lợn giết gà, làm tiệc ngay.

Mâm rượu thịt đầy có ngọn bày lên, Bá Vành thong thả ăn uống cho đến khi ngà ngà mới nói cho Tri Đạo biết mục đích đến chơi của mình. Ngồi thấp thỏm tiếp rượu con người oai danh đang nổi như sóng cồn ấy, Tri Đạo cũng đã phần nào đoán biết được câu chuyện. Vả chăng, cũng chẳng còn con đường nào khác, viên phú hào bèn mượn hơi men, nói với Bá Vành:

- Cái gia tài cơ nghiệp này giao cả cho tướng quân tôi chẳng hề tiếc. Chỉ tiếc là nghe nói đã nhiều mà chưa một phen được biết tài võ nghệ của tướng quân...

Bá Vành ngửa mặt cười khà khà, uống tiếp ba chén rượu nữa rồi mới bảo Tri Đạo:

- Ông gọi người nhà chặt cho ta mươi gốc tre đực dài độ ba thước. Bá Vành giang rộng hai cánh tay vượn ra hiệu làm cữ, rồi mang cả vào đây!

Khi đám gia nhân Tri Đạo lễ mễ khuân đống gốc tre vào dựng bên sập, Bá Vành khẽ liếc mắt ra hiệu cho cu Vò từ nãy vẫn khoanh tay đứng hầu ở phía sau. Lập tức, Vò rút con dao bên sườn, thoăn thoắt đẽo vạt nhọn hoắt những gốc tre thành ngay những ngọn lao lợi hại, quen thuộc. Gạt mâm thịt đã vơi quá nữa sang một bên, Bá Vành lúc ấy mới vươn người bước xuống sập, chìa tay đón lấy ngọn lao đầu tiên tự tay cu Vò đưa tới. Đảo mắt nhìn nhanh ra phía ngoài, Bá Vành vung tay, quát khẽ:

- Coi đây!

Ngọn lao xé gió vụt ra cửa, qua chiếc sân lát gạch Bát Tràng thênh thang, qua khu vườn rau dài dặt, qua chiếc ao thả cá bát ngát, cắm phập vào một thân cây chuối ngả mình bên kia bờ ao. Cu Vò đã nhanh tay đưa tiếp ngọn lao thứ hai, rồi thứ ba, thứ tư... Cuối cùng, Bá Vành vẫn không đổi sắc mặt thong thả trèo lên sập, cầm tiếp chén rượu. Tri Đạo và đám gia nhân chạy ùa ra cửa, hấp tấp đi mãi tới bên kia bờ ao. Và tất cả đều lặng người, sợ xanh mặt: Đều chằn chặn, thẳng tăm tấp, từ ngọn chuối xuông đến gốc, cứ đúng một gang tay lại một ngọn lao của Bá Vành cắm ngập!

Ngày hôm ấy, Tri Đạo đem hết cả gia nhân tài sản, đi theo nghĩa quân Bá Vành.

Chẳng bao lâu, số người tụ nghĩa dưới ngọn cờ Bá Vành đã lên đến trên năm nghìn. Những cánh tay vừa rời cày cuốc nắm lấy giáo gươm ấy Bá Vành tập hợp một phần thành đội Hữu quân, giao cho Nguyễn Hạnh, người tùng Đảng với mình làm tướng, còn thì đưa tất cả cho đội trung quân do chính mình chỉ huy.

Nghĩa quân Bá Vành tiến đánh các huyện Tiên Minh và Nghi Dương để làm căn cứ đầu tiên. Và cũng tại căn cứ này, họ đã đánh trận đầu tiên với một lực lượng đàn áp khổng lồ của triều đình thống trị. Nhà Nguyễn đã tung ra cả một đội quân lớn, do tiền quân Đô thống chế Trương Văn Minh chỉ huy, Thượng thư Nguyễn Hữu Thân làm phó, có cả thủy đội lấy ở Nghệ An, Thanh Hóa ra phối hợp ngăn chặn nghĩa quân từ mạn biển.

Vừa mới nổi dậy đã gặp phải một đội quân tiểu phạt đông đảo như thế, nghĩa quân Bá Vành không đương nổi, phải vừa đánh vừa chạy về mạn Nam Định. "Gặp cùng chớ đuổi". Đô thống chế Trương Văn Minh vừa hồi hộp nghĩ tới nhưng ân tứ thưởng lệ của triều đình sau võ công này, vừa làm ra vẻ bình thản nói với tả hữu như thế. Và ra lệnh thu quân.

Trấn thủ Sơn Nam Hạ Lê Mậu Cúc luôn mấy ngày nhận được mấy tin cấp báo: Phan Bá Vành lại mới nổi dậy, thanh thế rất mạnh; Phan Bá Vành đã liên kết được với chức Thủ ngự sứ Vũ Đức Cát ở cửa Ba Lạt. Chưa kịp đối phó, tin dữ lại tới tấp bay về: Các tướng Đặng Đình Miễn và Nguyễn Trung Diễn trấn giữ các tấn sở Trà Lý và Lân Hải đã bị Phan Bá Vành đem quân giết chết rồi chiếm lấy tấn sở; đoàn quân thuyền mười hai chiếc của triều đình đã bị Phan Bá Vành phục quân ở Cồn Tiền, Bá Trạch đánh úp, tước mất toàn bộ lương thảo, quân khí...

Không chậm trễ được nữa, Lê Mậu Cúc vội mở cổng trấn thành, đưa toàn bộ quân lính trong trấn đi tiểu phạt. Hào kiệt hầu Đỗ Hào tay chân thân tín của Mậu Cúc, quê ở Trà Lý, được cử làm tiền đạo, đem quân dẫn đường.

Vừa đến Trà Lý thì bỗng gặp ngay Phan Bá Vành cùng mấy thủ hạ đang kéo đi trên đê. Nhác thấy viên chủ tướng nghĩa quân chồm dậy trên mình ngựa, vươn cánh tay vượn nắm lấy cây siêu dài, từ xa, tiền đạo Đỗ Hào đã khiếp đảm hô quân lùi lại. Trấn thủ Lê Mậu Cúc lúc ấy vừa dẫn đại quân tới nơi, thấy vậy giận dữ thúc ngựa xông thẳng lên. Phan Bá Vành cũng lập tức phi ngựa tới đó.

Trống trận nỗi lên ầm ầm như sấm động. Con đê Trà Lý bụi cuốn mù mịt. Quân đội triều đình dàn ra dọc đê, nín thở nhìn theo chủ tướng của mình. Đôi ngựa chiến mỗi lúc lao tới gần nhau. Lê Mậu Cúc xưa nay vốn tự đắc về cái sức khỏe như thần của mình, biết Bá Vành chỉ còn ít quân, liền hăm hở xỉa ngọn thương, tới tắp tiến đánh ngay từ hiệp đầu. Thấy kẻ địch hùng hổ, viên thủ lĩnh nghĩa quân bỗng nỗi cơn lôi đình, vừa gầm hét, vừa vung siêu đao đánh trả. Đôi ngựa lúc chồm sát vào nhau, lúc vượt ra xa rồi lại quay vòng trở lại giao chiến đến hiệp thứ ba thì Phan Bá Vành đã đâm Lê Mậu Cúc một nhát trúng vai, hất Trấn thủ Sơn Nam từ trên mình ngựa ngã nhào xuống chân đê.

Thấy chủ tướng thất trận, Đỗ Hào vội vã hô quân ào ra dìu Lê Mậu Cúc chạy lộn về. Phan Bá Vành cũng giật cương quay ngựa trở lại với đám thủ hạ của mình, lúc này đang nhảy dựng cả lên mà hò reo tưởng đến vỡ trời trước thắng lợi của chủ tướng.

Tin Trấn thủ Sơn Nam Hạ Lê Mậu Cúc, danh tướng đất Bắc, phò mã của Hoàng triều bị tử trận trong khi đem quân giao chiến với Phan Bá Vành, ồn ào bay khắp ngả.

Không phải Mậu Cúc đã chết ngay sau khi bị Phan Bá Vành đâm ngã ở Trà Lý. Mang vết thương nằm giữa hàng quân, Mậu Cúc lúc ấy toan rút về trấn thành cố thủ. Nhưng Phan Bá Vành đã đem đại quân đến khiêu chiến. Và Đỗ Hào nói khích Mậu Cúc: "Cứ như oai danh của tướng quân thì các giặc cỏ có mùi mẽ gì mà đáng bẩn gươm! Nếu tướng quân trước vội chùn lại, chẳng hóa ra bị bọn tướng chê cười sao? Cổ nhân có khi gượng bệnh, ngồi xe đi trận, huống chi giặc đang ở trước mắt mà tướng quân thì thương tích chưa đến nỗi chết...". Trước tình thế ấy, Mậu Cúc đành gượng gạo tổ chức thủy đội, rồi xuống thuyền chỉ huy quân quan tiến đánh căn cứ của nghĩa quân Bá Vành một lần nữa. Nhưng Bá Vành đã đặt quân phục ở trên bờ, giấu thuyền nhỏ trong đám lau sậy, đợi khi thuyền Lê Mậu Cúc vừa chợt đến thì nhất tề đổ ra công kích dữ dội, chém chết Mậu Cúc giữa vòng vây.

Sau trận đánh lẫy lừng danh tiếng ấy, oai danh Phan Bá Vành và thanh thế nghĩa quân ầm ầm vượt lên như triều dâng sóng dậy. Cả một vùng rộng lớn Trấn Sơn Nam dường như mất bóng chủ cũ. Dân các làng xóm gần xa đều tìm đến xin Vua Bá Vành che chở. Và được lệnh của viên thủ lĩnh nghĩa quân, không một ai phải nộp thuế cho quan, nộp thóc cho nhà giàu nữa. Những tên cường hào nhiễu dân lập tức bị Vua Phan Bá Vành trừng trị thẳng tay. Đời sống tự do no ấm không ngờ lại giành được quá nhanh! Cảm ân nghĩa ấy, dân cày từng đoàn từng đội lũ lượt xin nhập quân ngũ, đông như trẫy hội. Và chẳng phải chỉ có người vùng đồng bằng Sơn Nam, mà từ miền thượng Thanh Hóa, cả một cánh quân ba nghìn người Mường cũng theo chủ tướng Ba Hùm của họ kéo về hội binh với Bá Vành. Đất võ Trà Lũ cũng cử những tay vật, tay khiên giỏi nhất cùng với tướng Hai Đương đi giúp Bá Vành. Dự vào hàng tả hữu của Bá Vành, chẳng bao lâu đã có tới ba chục thủ lĩnh có tài, cả văn lẫn võ. Ngoài Hữu quân Nguyễn Hạnh, Thủ ngự sứ Vũ Đức Cát theo về từ trước, Ba Hùm, Hai Đương mới về theo, còn có Chiêu Liễn, Chiêu Văn, Lang Đình, Tú Ốc, Nho Phương, Hai Hương, Hương Thước, Tuần Tường, Tuần Nghị, Tư Tân, Chấn Diễn, Ba Điều, Bất Hựu, Đốc Bồi...

Với cả một lực lượng hùng hậu ấy, Phan Bá Vành mở cờ gióng trống đánh phá quân triều, giúp đỡ dân chúng khắp cả một vùng từ đồng bằng đến ven biển, và vào năm Canh Tuất, tung ra trận đánh quyết định của mình: Tấn công Phủ Bo.

Chiếm được Phủ Bo, Phan Bá Vành phân vân không biết nên án binh giữa phủ thành, hay là theo lời khuyên của các tướng, lại tung quân sang đánh thẳng lấy tỉnh thành Vị Hoàng, thì bỗng được tin Bắc thành tổng trấn đã cử Thống chế Trương Phúc Đặng đem đại quân tới đánh. Binh mã triều đình đã qua bến Mỹ Bổng và đang men theo đường Thư Trì xuôi xuống, khí thế rất mạnh. Tướng Hai Đương lập tức xin được ra quân cự địch, rồi, tay khiên tay đao, dẫn ngay cánh quân bản bộ tiến lên phía trước. Gặp quân triều đình, Hai Đương lăn xả vào giữa hàng trận mà chém giết, Phúc Đặng, Hai Đương tuy đã cố sức tả xung hữu đột. Đấy chính là đám quân tiền đạo của Thống chế Trương nhưng quân triều đình vẫn ùn ùn kéo tới ngày một đông. Không cản nổi kẻ địch quá mạnh, Hai Đương phải thu quân chạy lộn trở về. Trương Phúc Đặng thấy trời sắp tối, bèn cùng đóng quân nghỉ lại.

Thấy Hai Đương thua trận, Phan Bá Vành nổi giận đùng đùng, một mặt hạ lệnh đem chém ngay đầu Hai Đương để làm gương, một mặt quát bảo tả hữu đốt đuốc cho mình ra trận tìm Trương Phúc Đặng thách đánh ngay đêm ấy. Chiêu Liễn và các tướng phải xúm lại xin mãi tội chết cho Hai Đương, và can mãi mới đình được lệnh ra quân đánh đêm của Bá Vành. Nhưng đến tờ mờ sáng hôm sau thì Bá Vành đã nai nịt gọn gàng, cưỡi ngựa, xách siêu đao, dẫn quân đến trước trại Trương Phúc Đặng rồi.


Lúc bấy giờ, cửa trận bên quân triều đình cũng mở ra, và Thống chế Trương Phúc Đặng cưỡi ngựa hồng, cầm côn sắt xuất hiện! Chẳng nói chẳng rằng, Phan Bá Vành thúc ngựa vung đao xông đến đánh ngay. Hai bên chủ tướng giao đấu một trận thật kịch liệt. Trương Phúc Đặng là tên võ tướng trụ cột của triều đình, vậy mà đánh mãi cũng không đỗ được Phan Bá Vành. Còn viên chủ tướng nghĩa quân thì cũng đã cố hết sức mà cũng không hạ nỗi Trương Phúc Đặng. Cuối cùng, người ngựa đều đã thấm mệt, đôi bên cùng thu quân về nghỉ.

Ngày hôm sau, hai viên chủ tướng lại cùng nhau giao chiến một trận kịch liệt nữa. Nhưng vẫn bất phân thắng bại.

Đến ngày thứ ba thì cả đôi bên quân tướng đều đã quá hồi hộp, sốt ruột. Trương Phúc Đặng, sau mấy ngày nghiền ngẫm và được lũ mưu sĩ thuộc hạ mách nước, quyết tìm cách ám toán, hạ ngay Phan Bá Vành từ xa. Vừa vào cuộc giao đấu, lựa vào viên chủ tướng nghĩa quân còn đang gò ngựa chạy tới. Phúc Đặng đem hết sức bình sinh quăng cả cây côn sắt vào mặt Bá Vành. Nhiều tiếng thét thảng thốt hoặc đắc chí bật lên từ hai bên hàng trận. Nhiều người đã chắc mẩm phen này Bá Vành phải trận vong. Không ngờ viên chủ tướng nghĩa quân nhanh mắt đã kịp nhoài người nép vào bên kia cổ ngựa để trách ngọn đòn ám hại: Cây côn sắt chỉ đập vỡ tan sọ con vật!

Ngả lăn từ mình ngựa xuống đất, Bá Vành chồm ngay dậy và vội trở về mươi bước. Vừa lúc ấy, cu Vò đã hộc lên một tiếng, cầm đầu xông tới sát bên cạnh chủ tướng, hai tay khư khư ôm một bó lao nhọn. Bá Vành chổm chân đứng dậy: "Được, Phúc Đặng mi đã buộc ta phải dùng đến ngón đòn sở trường rồi đó!"

- Coi đây! Bá Vành quát lớn, mắt long lên sòng sọc.

Nhanh như chớp, ngọn lao quen thuộc, như bao lần, vừa truyền từ tay người hầu cận trung thành tới tay Bá Vành đã rít lên, bay vù vù tới chỗ Trương Phúc Đặng. Viên thống chế triều đình cả kinh, bất giác né người, vung tay lên: Phúc Đặng đã chộp gọn được ngọn lao trong tay! Những tiếng ồ kinh ngạc loang ra khắp bãi chiến trường. Nhưng ngọn lao thứ hai đã lại từ tay Bá Vành vù vù bay tới. Và Phúc Đặng lại né người, vung cánh tay bên kia lên, bắt được! Tiếng reo hò nổi lên dậy đất. Viên thống chế nhà Nguyễn đắc chí hai tay giơ cao hai ngọn lao, hai bắp đùi kẹp chặt lấy mình ngựa, vươn thẳng người, xô ngựa xông vào chỗ Bá Vành đang đứng, khí thế thật dữ dội.

Gầm lên một tiếng vác óc, viên chủ tướng nghĩa quân giật lấy ngọn lao cuối cùng trong tay cu Vò, quỳ rạp xuống, nhằm đúng ngực Trương Phúc Đặng phóng ngược mũi nhọn lên, đà bay như gió bão của miếng phóng lợi hại dội vào cái thế xô tới hùng hở của viên tướng triều đình, khiến cho ngọn lao của Bá Vành chỉ trong nháy mắt xuyên suốt qua người Trương Phúc Đặng ném tung ngược viên thống chế nhà Nguyễn lên trời.

Điều kết thúc xảy ra quá đột ngột. Nghĩa quân Bá Vành lập tức ào lên, đánh cho không còn mảnh giáp cả một đạo quân lớn của triều đình.

Vua Minh Mệnh từ khu hồ sen, trong cấm cung theo đường hồi lang vào nghỉ ở đường Thư Quang. Tên vua thứ hai của triều Nguyễn này vừa làm xong cái công việc hàng ngày mùa hè của hoàng đế: Bắt cả bầy vợ hàng trăm người của y trần truồng ra tắm ở hồ sen để y ngồi xem.

Minh Mệnh bần thần, có ý không vui: Hoàng đế vừa chợt thấy trong đám vợ của y đã nhiều người có dáng quá tuổi đôi mươi! Loay hoay với điều ám ảnh ấy, chợt thấy quan Thượng bảo khanh Hoàng Quỳnh đã kính cẩn chực sẵn ở thềm điện, Minh Mệnh giở giọng truyền phán ngay:

- Hai ba năm nay đại hạn luôn, khiến dân tình cơ cực, lòng người không yên. Các trấn thành hay tâu việc giặc cỏ nổi lên cướp phá... Hoàng đế ngừng lại, nhấp ngụm sâm trong chiếc chén ngọn do viên nội giám vừa dâng. "Trẫm nghĩ chưa rõ vì cớ gì! Hay tại đàn bà con gái bị giam hãm ở trong cung nhiều, khí âm uất tắc mà nên thế chăng? Nay lũ họ cũng ở trong cung không nhiều lắm, song hãy tạm lựa ra cho bớt một trăm người, may ra tai biến giảm đi chăng? ".

Minh Mệnh lại nhấp ngụm sâm nữa. Và trong khi chờ cho chức Thượng bảo khanh Hoàng Quỳnh kia lĩnh kỹ thánh ý, trước khi truyền phán tiếp về việc phải chọn thêm con gái trẻ đẹp nhập cung thay thế vào chỗ phi tần sẽ bị thải ra, hoàng đế lơ lãng lật chồng sớ mà quan Cơ mật đã đặt sẵn ở án thư chờ ngài ngự lãm. Nhưng vừa mới xem lướt qua mấy chữ, Minh Mệnh đã giật mình thất sắc. Mối hiểm họa Bá Vành ở Bắc thành mà y hằng quan tâm, giờ đã trở nên quá lớn rồi! Tập sớ tâu việc phò mã Lê Mậu Cúc, và thống chế Trương Phúc Đặng nối tiếp nhau tử trận, nông dân Bắc thành rậm rộ đi theo Phan Bá Vành... Bị vò nát trong các ngón tay run rẩy co quắp từ lúc nào chẳng biết! Minh Mệnh phút chốc quên mất cả việc cung tần mỹ nữ, vội vã hạ lệnh: Triệu tập ngay viện Cơ mật!

Trong cuộc nghị bàn với viện Cơ mật hôm ấy, lúc đầu, quá hoảng sợ trước phong trào nông dân khởi nghĩa do Phan Bá Vành cầm đầu, hoàng đế nhà Nguyễn đã tính toán đến sự phải thân chinh. Nhưng sau đấy Minh Mệnh lại thay đổi ý kiến: Những đại thần cột trụ triều đình phải đi làm việc đó chứ không phải là hoàng đế! Vậy trước hết phải sai Tiền quân thống quản tiệp kính thập cơ Phạm Văn Lý làm thống tướng, Binh bộ thị lang Nguyễn Công Trứ làm tham tán, thủy quân đô đốc Phan Bá Hùng điều bát Hải đạo binh thuyền. Sau đấy, lại điều Phó đô thống chế, Nghệ An trấn thủ Nguyễn Văn Hiếu làm Sơn Nam kinh lược đại sứ, Hình bộ thượng thư Hoàng Công Xán, Binh bộ thị lang Thân Văn Duy làm Tham biện kinh lược sự vụ. Cả một bầy quan tướng ấy đều phải lập tức lên đường, triệt cho kỳ được mối hiểm họa Ba Vành để ngài ngự được thanh thản mà đi dưỡng thân vàng mình ngọc!

Phan Bá Vành đứng lên chòi cao của đại đồn Trà Lũ nhìn ra cánh đồng trống trước mặt. Bụi đất ở đấy vẫn còn chưa tan. Dư âm của những hồi trống trận vẫn còn chưa tắt. Ánh nắng xiên khoai đục vẫn một màu vàng dữ dội của buổi chiều chiến trường. Nghĩa quân của tướng Hải Đăng lại vừa tay khiên tay đao phá tan một cánh quân triều đình ở đấy.

Đại quân triều đình mấy trận gần đây dường như đã đổi cách đánh. Hồi mới kéo quân tới Sơn Nam, thống tướng Phạm Văn Lý đã khiến Phan Bá Vành phải khó chịu vì cách đánh của hắn. Văn Lý né tránh tất cả các cuộc giao chiến với nghĩa quân. Cùng với tham tán Nguyễn Công Trứ, có Hải thuyền của Phan Bá Hùng hỗ trợ, hắn đóng quân thành những đồn lớn, vây quanh vùng hoạt động của Phan Bá Vành. Quân của Văn Lý chỉ thỉnh thoảng mới dóng súng thần công nã vào trại quân Bá Vành, còn thì chủ yếu là làm vây cánh cho bọn kinh lược Nguyễn Văn Hiếu, tham biện Hoàng Kim Xán và Thân Văn Duy trị dân, triệt đường lương thảo của nghĩa quân. Những đồn quân của Văn Lý như thế, thường được phòng thủ khá vững. Có lần, chính thân Phan Bá Vành đã đem năm nghìn nghĩa quân, tất cả đều trần trụi, chỉ đóng khố bằng bẹ chuối, giữa ban đêm vác trường đao lăn xả vào phá đồn của Văn Lý, xung sát đến ba lần mà cũng không vào được quân doanh của hắn.

Vướng quân của Văn Lý, các cánh nghĩa quân của Bá Vành dần dần đều phải tụ về quanh chủ tướng. Và Bá Vành đã phải đưa tất cả về vùng đất võ Trà Lũ này, xây đại đồn, cố thủ. Nhưng dồn được nghĩa quân về vùng này rồi, Văn Lý xem ra lại muốn đổi cách đánh. Hắn bắt đầu tung lực lượng, giao chiến đàng hoàng với nghĩa quân. Mấy trận đánh dữ dội như trận đánh với Hai Đáng chiều nay đã xảy ra. Dân Trà Lũ, từ nhỏ đã học sử dụng khiên đao, khét tiếng đất võ, lần này theo Bá Vành, đã mấy trận làm quân triều đình khiếp vía. Nhưng liệu có đánh mãi được thế không?

Đứng trên chòi cao của đại đồn Trà Lũ chiều hôm ấy, nhìn các thủ lĩnh nghĩa quân đang quây lấy tướng Hai Đáng vừa thắng trận trở về, cặp mắt sắc như gương của Phan Bá Vành thoáng một nét đăm chiêu. Đôi mày nét mác cau lại, Bá Vành thấy dội bên tai lời các tướng Chiêu Văn, Bất Hựu nói với mình mấy hôm trước: "Giặc đã vào sâu rồi! Ta nên nhân lúc thế lực của giặc chưa dày mà đánh cho mỏng đi!". Đúng, có lẽ phải như thế! Cần dốc toàn lực, nhân lúc Phan Văn Lý đang còn điều quân tới chưa đủ mà đánh một trận sống mái, nếu không phá được giặc thì cũng mở được vây, Bá Vành đã thấy phân vân ngần ngại... Những giọt nước mắt, rồi những tiếng nói nũng nịu, những bàn tay ve vuốt, những cử chỉ chiều chuộng của người vợ lẽ mới, giờ chắc đang chờ đợi Bá Vành ở nhà, bỗng lái hẳn chiều suy nghĩ của viên chủ tướng nghĩa quân về một hướng khác. Ba Vành xoay người, bước vội xuống chòi.

Quả nhiên, người đàn bà mặt hoa da phấn đã đon đả đứng chờ Bá Vành trước thềm nhà. Bị bắt trong một trận đánh Phủ Bo ngày trước, Thị Tú, người đàn bà ấy con gái yêu của Tri phủ Trần Thước, may nhờ sắc đẹp và tài khéo, nên chẳng những thoát chết mà còn được Phan Bá Vành dung nạp làm vợ Lẽ. Rất biết lợi dụng sắc đẹp và tài khéo của mình để thi hành kế sách của viên thống tướng triều đình: Giữ chặt Bá Vành ở Trà Lũ để quân triều đình tiêu diệt!

Đón Phan Bá Vành bước qua bậc cửa, Thị Tú vừa phe phẩy quạt và lần tay cởi áo cho viên chủ tướng nghĩa quân, vừa cất giọng ỏn thót:

- Thiếp xin kính mừng tướng quân lại thắng trận. Tiệc rượu mừng thiếp đã dọn đây! Lũ quân triều hèn đốn ấy, xin cứ để kéo đến cho thêm đông, nuôi chúng cho thêm béo, rồi khi ấy tướng quân hãy ra oai một trận sấm sét, chẳng việc gì phải bận lòng nhọc sức...

Quàng cánh tay trần qua vai Bá Vành, kề chén rượu tận môi viên chủ tướng nghĩa quân, con rắn độc của Phan Văn Lý đang nhả nọc mỹ nhân kế, nối giáo cho quân triều đình...

Các tướng của Bá Vành cuối cùng cũng giật được thủ lĩnh của họ ra khỏi mạng lưới mỹ nhân kế.

Một buổi sớm, đưa được Bá Vành đi tuần thám một lượt khắp bốn bề đại đồn Trà Lũ, Chiêu Liễn, Nguyễn Hạnh đã chỉ cho chủ tướng thấy rõ bên quân triều đình, dinh trại cờ quạt la liệt san sát khắp đồng nội, quây chặt lấy nghĩa quân không còn một kẽ hở. Thế trận liên hoàn của Phạm Văn Lý dồn nghĩa quân vào tử địa đã bày xong! Giờ mà tung quân ra mà đánh thì muộn mất rồi Phan Bá Vành uất nghẹn đến tận cổ, trợn mắt hộc lên một tiếng.

Ngay ngày hôm ấy, lộ rõ chân tướng, Thị Tú bị điệu ra chém đầu. Và nghĩa quân cùng với nghĩa dân Trà Lũ được lệnh sắm sửa mai, cuốc, thúng sọt, sẳn sàng cùng với binh khí của mình. Đợi đêm đến, họ sẽ khơi một con ngòi chạy suốt từ sông Cát Giang thông sang đến sông Ngô Đồng mở đường máu để Bá Vành phá vây.

Con người kỳ lạ đã làm xong chỉ trong một đêm. Mờ sáng, nghĩa quân Bá Vành theo đường sông đào, ồ ạt đổ ra ngoài. Họ đã liều chết tả xung hữu đột, giao chiến với quân triều đình suốt cả ngày hôm ấy, máu chảy đỏ cả đoạn sông.

Nhưng rồi vòng vây vẫn không phá được. Quân triều đình, hết lớp này đến lớp khác, kéo tới như kiến cỏ. Và khi chiều đến, Phan Bá Vành cũng trúng thương ở đùi. Tả hữu tan tác mỗi người một ngả, chỉ còn một mình cu Vò vẫn người thủ hạ trung thành ấy bên mình đeo một ống vầu đựng rượu, xả thân cõng chủ tướng tháo chạy.

Trong sáu ngày đêm, giấu Bá Vành trong một vạt lau rậm bên bờ tả ngạn sông Đồng Giang, dùng chỗ rượu trong chiếc ống vầu duy nhất còn bên người, Cu Vò nâng giấc, chữa chạy vết thương cho chủ tướng. Sang ngày thứ bảy, rượu hết. Vò lần ra bờ sông múc nước. Vừa vác được ống vầu về rửa vết thương cho Bá Vành thì đã thấy có tiếng động: Một người đàn bà bắt cua tình cờ nhác thấy bóng người trong bụi lau hoang dại, đã tò mò theo hút Cu Vò, lần vào đến tận nơi.

Gặp cảnh kinh lạ, người đàn bà hoảng hốt toan chạy trốn thì Bá Vành đã ôn tồn gọi lại. Biết đấy là người Hoàng Nha, viên thủ lĩnh nghĩa quân gọn giọng nói:

- Chị có biết cai tổng Lê Tuấn không? Hắn là con của người môn hạ ta đó! Về bảo hắn đến đây, ta sẽ giao cả thân ta cho hắn...

Biết trước mặt mình là Vua Bá Vành người đàn bà sụp xuống lạy ba lạy, và phải để giục đến mấy lần, nước mắt ròng ròng mà quay đi. Rồi cai tổng Lê Tuấn đã hối hả tìm đến ngay sau đấy, đem theo cả võng lọng.

Rước Phan Bá Vành về nhà, ba ngày liền, Lê Tuấn cung kính thuốc thang, cơm rượu phục dịch hết lòng. Đến ngày thứ tư, theo lệnh của người thủ lĩnh nghĩa quân, viên cai tổng cho đóng một chiếc cũi lớn, khiêng đến bên sập Bá Vành.

Chít một chiếc khăn màu đỏ lên đầu, Bá Vành ung dung bước vào cũi, để cho tay chân của Lê Tuấn khiêng đi nộp quan lấy thưởng. Người thủ lĩnh nghĩa quân ngồi yên lặng trong cũi suốt một đoạn đường dài. Đến địa phận xã Đồng Phú, huyện Thượng Nguyên, những người khiêng cũi đang chạy gằn bỗng thấy tay đòn lắc đảo dữ dội và Bá Vành lảo đảo ngã vật: Người thủ lĩnh nghĩa quân đã móc rốn, moi ruột, tự tử.

Bấy giờ là năm Đinh Hợi, đời Minh Mệnh thứ tám.

Hơn Hai mươi năm sau.

Miền Nam Sơn lại một lần nữa sôi lên sùng sục. Tráng đinh các thôn làng thi nhau sắm khiên, rèn đao, luyện võ. Căm ghét triều đình nhà Nguyễn đến tận xương tủy, già trẻ nơi nơi sôi nổi truyền cho nhau cái tin "Vua châu chấu" đã nổi ở Mỹ Lương, chỉ nay mai sẽ kéo về, kén quân, chọn tướng ở vùng này làm cuộc đổi đời.

Vào những ngày ấy, ở các phiên chợ Sơn Nam, thấy xuất hiện một người hát rong. Con người gầy guộc, râu tóc mới chớm hoa râm ấy đã cuốn hút người nghe, người xem, bằng một giọng hát rõ trầm mà nặng, bằng lối hát rất kỳ lạ: Cười đấy khóc đấy khi thì hào hùng sôi nổi, khi thì lắng đọng xót xa, và nhất là bằng lối hát thật mê say:

"Nghênh ngang một cõi biên thùy
Thiếu gì tướng tá, thiếu gì binh lương...

Cuộc khởi nghĩa của Bá Vành đã sống dậy cùng với người chủ tướng kịch liệt của nó qua những lời hát ấy.

Và con người đang truyền đi lời hát ấy chính là Cu Vò, người hầu cận trung thành của viên thủ lĩnh nghĩa quân năm xưa...
Đăng nhập để trả lời
0
Bà huyện Thanh Quan

Bà Đốc lại nhìn con gái. Bàn tay gầy gò xanh xao của con gái vẫn lần giở từng trang sách. Bà không rõ con bà đang đọc sách gì, nhưng là người có chút ít học vấn, bà hiểu cái giá sách xếp gọn gàng trước bàn học của con là những sách quý. Những cuốn sách ấy chồng bà đã bao năm tìm kiếm, thu thập mới có được. Có những sách ấy, con bà chẳng mấy khi rời khỏi bàn học. Nó gầy đi, thậm chí ốm cũng vì học. Nhưng, bà Đốc buồn rầu thầm nghĩ, thời thế này tài cán mà làm gì! Chắc gì sau này con bà được vinh hạnh sung sướng? Chồng bà tiếng làm quan nhưng nào có được tin dùng. Biết bao danh sĩ Bắc Hà bấy nay phải lận đận sống vùi dập ở nơi thôn dã mà có khi tính mạng vẫn nghìn cân treo sợi tóc. Xã tắc không còn cảnh thái bình hưng thịnh thì đường hậu vận của con gái bà rồi sẽ ra sao? Bà Đốc thở dài ngao ngán.
- Ồ; mẹ, mẹ ngồi đấy từ bao giờ? Nguyễn Thị Hinh nghe tiếng mẹ thở dài, vội bỏ cuốn sách, xoay hẳn người lại, hỏi.
Bà Đốc lúng túng:
- Con mới ốm dậy, chẳng nên học quá như thế!
- Mẹ lại lo cho con rồi. Hinh tiến lại ngồi sát bên mẹ, con đang học những bài thơ theo luật thơ riêng.
Đột nhiên ông Đốc tiến vào hỏi con, giọng nghiêm nghị:
- Xưa nay mỗi người chỉ giỏi một loại thơ. Con thích thơ Đường luật cơ mà?
- Thưa cha ấy là con đọc thêm cho biết. Đời này, đôi khi thi gia vẫn còn dùng đến lối thơ ấy.
- Vậy thơ riêng có mấy lối, con đã hay chưa?
- Thưa cha, thơ riêng có mười lối nhưng lối Họa vận và Liên ngâm chỉ làm để vui chơi phải không ạ?
Ông Đốc sửng sốt về sự hiểu biết rất sâu của con:
- Đúng vậy nhưng trong thơ riêng, ba lối tiết vị, vĩ tam thanh và song điệp chỉ đặc biệt ở ta mới có. Còn các lối khác, ta và Tàu đều giống nhau.
- Con muốn biết chút ít về các lối thơ này thôi. Con vẫn thích lối thơ Đường luật hơn cả. Nó tao nhã và thi vị biết bao.
Ông Đốc khuyến khích:
- Con cố lên. Nhưng xưa nay người giỏi thơ không phải chỉ là người có thơ nhiều, thơ nhanh. Muốn có thơ hay phải có hứng, nghĩa phải súc tích và từng chữ phải được trau chuốt quý như những viên ngọc mới được.
- Con sẽ ghi lòng những lời chỉ giáo của cha.
Nghe tiếng mẹ giục đi ngủ, Hinh tiếc rẻ đặt cuốn thơ của Lý Bạch trên bàn học. Hinh không muốn làm trái ý mẹ, nhưng lời và ý thơ bài Tĩnh dạ quang vẫn làm rung động tâm hồn Hinh, khiến Hinh không muốn đi ngủ. Chao ôi, bài thơ chỉ có bốn câu thôi mà gói được cả nỗi lòng, bày tỏ được cả tâm sự của người làm thơ. Đêm nay không trăng sao mà cảm xúc của bài thơ khiến Hinh như thấy ánh trăng tràn chiếu cả tâm hồn mình, gợi nỗi nhớ quê nhà da diết. Hinh nhẩm lại bài thơ, gửi tình cảm mình vào từng câu từng chữ:
Sàng tiền khán nguyệt quang
Nghi thị địa thượng sương
Cử đầu vọng minh nguyệt
Đê đầu tư cố hương
Tài tình thật, cùng ánh trăng ấy, Lý Bạch chỉ có ngẩng đầu lên, cúi đầu xuống mà hai cảnh vẽ ra đối nhau, uẩn súc, xa vời vợi. Hinh thầm nhủ: Rồi ta cũng sẽ dệt cho ta những vần thơ điêu luyện, trong như pha lê, quý như những viên ngọc như thế! Niềm tin và hy vọng ấy như có sức mạnh nâng bổng tâm hồn Hinh, khiến lòng Hinh rạo rực. Biết không thể ngủ được và để mẹ khỏi lo lắng, Hinh tắt ngọn đèn dầu rồi ngồi tư lự một mình. Hai năm qua Hinh nhớ lại, kể từ sau trận ốm thập tử nhất sinh, nhờ cha mẹ giữ gìn, chăm sóc, Hinh đã lớn phổng lên thành một cô gái hồng hào khỏe mạnh. Cũng hai năm mấy, Hinh không tới trường học nữa mà chỉ ở nhà chuyên chú vào việc đọc sách. Kho sách gần một nghìn cuốn của cha, Hinh đọc không đầy một năm đã hết. Cha Hinh phải đi tìm kiếm thêm nhiều sách quý để chiều ý con. Tuy đọc nhiều, đọc rộng nhưng Hinh không sao nhãng việc học làm thơ. Hinh đọc thơ, học thơ không chỉ cốt để thưởng thức mà còn để tìm cái hay cái đẹp trong từng câu từng chữ của mỗi thi gia. Các nhà thơ xưa kể từ Khánh Hỉ Thiền sư, Trần Thánh Tôn, Trần Nhân Tôn, Nguyễn Trung Ngạn, đến Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tôn, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm... Kể cả những người còn sống như Phạm Quý Thích, Nguyễn Du... Hinh đều đã đọc gần hết trước tác của họ. Các cuốn thơ ấy, Hinh đọc nhiều đến nỗi, chỉ cần trông vào hình dáng, nhìn vết mực giây hoặc nếp sờn của mỗi cuốn sách là Hinh có thể biết được tác giả của nó và những bài thơ hay trong đó. Ở mỗi bài thơ, Hinh đều thây họ có những lối làm thơ riêng biệt, nhất là con đường để họ trở thành thi nhân. Nhưng lạ thay, dù yêu mến, khâm phục họ mà Hinh vẫn không tìm thấy bóng dáng mình trong ấy. Có chăng, Hinh thấy tâm sự mình gần gũi với cụ Phạm Quý Thích, người vẫn lui tới nhà Hinh và là thầy học của cha Hinh ngày trước. Nhưng thơ của cụ Phạm có nỗi buồn sâu xa, kín đáo quá khiến Hinh dù hiểu nhưng không tài nào theo được. Hinh cũng buồn, nhưng là nỗi buồn nhè nhẹ, mờ ảo của tuổi đang lớn, Hinh thích gửi tâm sự mình, trong những vần thơ tha thiết, câu đặt thuận, lời thơ gọt giũa nhẹ nhàng, xứng hợp với tâm hồn Hinh. Hiểu mình nên Hinh đã chọn cho mình lối thơ Đường luật để dày công luyện tập. Và, dù không tự lục vấn mình nhưng Hinh yêu thích lối thơ ấy vì thấy nó cao quý, nặng về tôn kính cổ nhân, nhất là âm điệu uyển chuyển hợp với tâm tình và cuộc sống của Hinh.
Chính vì yêu thích thơ Dường luật nên sau khi đọc xong các thiên sách: "Ly tao", "Cửu chương" "Thiên vấn" của Khuất Nguyên, rồi đọc trọn bộ tám quyển "Đào Uyên Minh thi văn tập" của Đào Tiềm, Hinh say sưa đọc quên ăn quên ngủ thơ của Lý Bạch, Đỗ Phủ... Cũng chỉ đến lúc đọc và học gần trọn các sách thơ của các thi gia của ta và Tàu, Hinh mới thấy rõ ý thích thơ Đường luật của mình là chín chắn. Thế là Hinh đã quyết, đời Hinh sẽ chuyên chú vào lối thơ ấy, Hinh vừa lo lắng vừa phấn chấn trước quyết định ấy.
Hinh lại thắp đèn giở đọc từng trang thơ của Lý Bạch, rồi lại đọc đi đọc lại từng bài thơ của Đỗ Phủ. Hinh nghiền ngẫm, có khi học thuộc lòng những đoạn thơ lời hay ý đẹp, âm điệu lúc khoan thai lúc rộn ràng để rồi mất hút trong những cảnh đẹp như tranh vẽ. Hinh là phận gái, nền nếp của gia đình buộc Hinh từ lời ăn tiếng nói đến điệu đi dáng đứng, đều phải khoan thai dịu dàng. Ấy vậy mà câu thơ đầy khí phách và phóng túng của Lý Bạch cũng có sức lôi cuốn Hinh, khiến Hinh xao xuyến đến ngỡ ngàng. Hinh cúi sát tập thơ khẽ đọc:
"Cởi áo bào đổi lấy ruộng ngon
Cùng người tiêu được vạn kiếp buồn..."
Và đây nữa, Đỗ Phủ dùng thuật vịnh cảnh để ngỏ
tâm sự mình, nghĩa thơ uẩn súc, lời thơ óng chuốt đến thế là cùng:
"Gió nhẹ lay bờ cỏ
Thuyền đêm một cột cao
Sao rơi trên bãi rộng
Trăng nhảy giữa dòng sao..."

Hinh lại tiếp tục giở từng trang thơ và mỗi bài thơ lại đem đến cho Hinh những rung cảm mới.
Chỉ đến khi nghe tiếng giày của mẹ ở phòng bên, Hinh mới dừng đọc thơ và giật mình thấy trời đã sáng.
Hinh sung sướng đến ngỡ ngàng khi sắp được trở về quê hương, nhân cha Hinh được điều về làm giám khảo kỳ thi Hương ở Thăng Long. Chỉ nghĩ đến Nghi Tam, cái làng nhỏ bé nơi quan lộ, giáp với Tây Hồ, nơi ghi đậm bao ký ước thời thơ ấu, lòng Hinh đã nao nức, bồi hồi. Rồi, một việc khác, rất hệ trọng đến với Hinh: Cụ Phạm Quý Thích sau bao lần đánh tiếng, đã dẫn chàng tú tân khoa đến gia mắt gia đình. Là phận gái, Hinh không được bày tỏ những suy nghĩ của mình với cha mẹ, song Hinh yên lòng vì chàng trai là người có học vấn uyên thâm, lại thư sinh điềm đạm. Vả chăng gia cảnh chàng theo lời mẹ Hinh kể cũng là dòng dõi nhà tôi của Vua Lê, rất hợp với gia đình Hinh.
Và lúc này đây, khi cả gia đình sắp từ biệt đất Hải Dương, lòng Hinh lại nao nao xúc động. Dẫu sao, Hinh thầm nghĩ, Hinh cũng đã sống những năm tháng ở chốn này thật là đẹp.
Nhưng chiếc xe ngựa sắp đầy hành lý, sắp sửa lên đường, đã cắt đứt mạch suy nghĩ của Hinh. Cũng chỉ đến lúc đã ngồi lên xe, sát bên mẹ, ngắm nhìn cảnh vật hai bên đường, lòng Hinh mới thanh thản trở lại.
Chao ôi, thiên nhiên mới huyền diệu làm sao! Bao năm dùi mài với đèn sách, Hinh đâu có dịp đi đây đó, ngắm xem phong cảnh của đất nước. Được dịp đi xa, Hinh như con chim non lóa mắt trước vẻ đẹp của núi sông. Hinh say ngắm cảnh vật muôn màu nghìn vẻ kia bằng cả những rung động sâu sắc của tâm hồn mình. Hinh không bỏ lỡ cảnh đẹp nào dọc đường đi. Từ màu xanh mát mẻ của cây cỏ bên lề đường đến đường viền xanh thẳm vô tận của núi rừng, từ một cái ao con phản chiếu nền trời thu trong xanh ven một xóm vắng, có lối đi trồng trúc đến dòng sông trắng xóa phẳng lặng như tờ giấy trải; từ bóng cây đa xanh um tùm tròn xoe như cái tán giương đến áng mây sà trên núi xa, tất cả đều đem lại cho Hinh những cảm hứng rạo rực.
Bao cảnh đẹp như bức tranh cổ được gạn lọc chải chuốt trong những tứ thơ mà Hinh từng đọc, có cái gì vừa gần lại vừa khác lạ với thiên nhiên rộng lớn đang trải ra trước mắt Hinh. Hinh thêm khao khát yêu mến cây cỏ, núi sông và Hinh như cảm thấy thiên nhiên cũng có tình quyến luyến đối với mình. Tâm hồn Hinh bay bổng lên trong những tình cảm mới mẻ. Cảnh thu kì diệu quá. Một tứ thơ của cụ Đỗ Phủ tả cảnh thu tuyệt đẹp tương tự như thế này mà sao Hinh không nhớ ra. Bài thơ thế nào nhỉ. À đây rồi, Hinh nhẩm đọc:
"Vàng úa rừng phong hạt móc bay
Non vu hiu hắt phủ hơi may
Dòng sông cồn cộn trời tung sóng
Ngọn ải mờ mờ đất rợp mây "
Hinh không thích cái dòng sông dữ dội nổi sóng của cụ Đỗ Phủ vì Hinh đang say ngắm mặt sông lặng lẽ trước mắt mình. Nhưng thật là bài thơ tả cảnh thu thanh cao và trong suốt. Hinh nhẩm lại bài thơ và một ý nghĩ thoáng qua rất nhanh rồi dần dần hình thành trong óc Hinh: Sao ta không dệt cho ta những vần thơ mùa thu óng chuốt, uyển chuyển như bao lâu đã hằng mơ? Ta có thể sàng lọc những cảnh vật này qua khuôn thơ Đường luật để bày tỏ tâm tình ta. Nhưng dùng Đường thi Hán ngữ hay Đường thi Nôm đây. Hinh bỗng dưng tự hỏi: Chẳng lẽ người Việt lại cứ làm thơ chữ Hán còn chữ Nôm lại không thể làm nổi một bài thơ hay được sao? Ta chẳng nên bắt chước người đời đi mượn chữ nước ngoài và cũng chẳng làm thơ Hán mới là sang. Nhưng làm Đường thi Nôm thì thật là khó. Việc chọn chữ vì thế sẽ rất công phu, cha ta đã từng răn dạy ta như thế bao lần rồi. Đột nhiên Hinh thấy vui mừng trước quyết định làm bài thơ tức cảnh mùa thu bằng chính chữ nước mình.
Một cơn mưa nhỏ chợt kéo đến. Gia đình Hinh phải tản vào trú mưa bên một ngôi miếu cổ bên đường. Cha Hinh lấy rượu ra uống. Hinh không uống rượu như Hinh đang say trước cảnh vật, say về những ý thơ đang thai nghén. Bao nhiêu cảnh thu dọc đường đang xáo trộn trong óc Hinh, khiến Hinh không biết khởi từ nét nào của mùa thu. Ý thơ này vừa sáng bừng lên đột nhiên lại biến đi, nhường cho ý khác lời khác dồn dập đến. Ồ;, phải gạn lọc những ý ấy những cảnh ấy; phải chọn từng từ, âm điệu phải uyển chuyển, nhẹ nhàng, lời thơ phải đài các, đoan trang mới được. Tứ thơ đã định, ý thơ đã thành. Hinh căng óc tìm câu phá và câu thừa. Và, rồi một câu thơ bật ra theo cảm xúc nóng hổi:
"Thấp thoáng non tiên lác đác mưa
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ..."
Hinh nhẩm lại câu thơ ấy từng cảnh thật đang diễn ra trước mắt, vẻ bằng lòng hiện lên trước mặt. Nhưng trời đã ngớt mưa Hinh lại lên xe đi tiếp, lòng nung nấu bài thơ "Tức cảnh mùa thu" đang làm dở.
Hinh ngồi trước kỷ sửa lại bài thơ lần cuối trước khi chép vào giấy đẹp. Lần này cũng như các lần trước, Hinh thấy về vần, phép đối, niêm, luật, bố cục không còn chỗ nào đáng chê trách, ý tứ bài thơ cũng thật là chặt chẽ. Điều đặc biệt đáng mừng là sau nhiều lần sửa ý, chọn chữ, Hinh thấy rõ, làm thơ Nôm cũng chẳng có thể rất hay mà cũng không khó như lúc đầu Hinh tưởng. Hinh phấn chấn chép lại bài thơ vào giấy hoa tiên, nét bút bay bướm mà rõ ràng:
"Thấp thoáng non tiên lác đác mưa
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ
Xanh um cổ thụ tròn xoe tán
Trắng xóa trường giang phẳng lặng tờ
Bầu giốc giang sơn say chấp rượu
Túi lưng phong nguyệt nặng vì thơ
Cho hay cảnh cũng ưa người nhỉ
Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ".
Soát lại lần nữa bài thơ, Hinh sửng sốt thấy năm ngày đã trôi qua. Hinh càng không ngờ, chỉ bằng bài thơ đầu tay ấy, Hinh làm cho giới thi nhân ở Thăng Long sửng sốt hâm mộ.
Lau nước mắt rồi lần nữa cúi xuống sửa lại những nén hương đang cháy dở trên nấm mồ người mẹ, Nguyễn Thị Hinh vẫn chần chừ chưa nỡ ra về. Mẹ Hinh mất ngay sau năm Hinh đi lấy chồng. Nỗi tiếc thương người mẹ cả đời đã nuôi nấng, yêu chiều Hinh tưởng không bao giờ khuây được. Nhưng Hinh đã được đền bù bằng tình yêu của chồng, Hinh nguôi dần nỗi nhớ người mẹ đã mất. Ông huyện Thanh Quan yêu vì nết, trọng vì tài đã quý Hinh. Hơn thế, trong mọi việc, ông vẫn để cho Hinh tự lo liệu. Nào ngờ tai họa đã chợt xảy đến. Ngày trở lại thăm nhà cũng là ngày chồng bị giáng chức, mà nguyên do của sự thật phũ phàng ấy, như lời đồn đại, là do Hinh gây nên, qua một câu chuyện phê án bằng thơ vui đùa nào đó.
Hinh bần thần nắn lại những ngọn cỏ trên nấm mồ mẹ. Nỗi buồn vì nhớ mẹ, thương chồng khiến Hinh thấy ngao ngán hết thảy. Giá như mẹ còn sống... Hinh đột nhiên nhớ tới cử chỉ âu yếm, lời nói dịu dàng đượm lo âu của mẹ ngày Hinh đi lấy chồng: "Thời này loạn lạc, nhân tâm điên đảo. Cha con là tiếng làm quan mà không được tin. Chồng con chắc gì thoát khỏi cảnh ấy. Mẹ muốn con lúc nào cũng giữ gìn". Ừ sao ta không hiểu hết lời khuyên của mẹ. Lời khuyên ấy với cảnh ngộ này có cái gì ăn nhập với nhau? Chẳng phải mẹ ta đã lo trước cho ta sự thể này rồi sao? Hinh ân hận đã không nhớ lời mẹ. Thật là, một nghìn lời khuyên không bằng một cái gai kinh nghiệm. Việc đã xảy ra, phiền muộn mãi cũng chẳng ích gì Hinh tự nhủ rồi đứng dậy, lưu luyến nhìn mồ mẹ lần nữa như để nhắn chào, rồi phủi đất, vuốt lại nếp áo, thong thả đi về phía quan lộ. Xa kia, nắng chiều hắt xuống mặt Tây Hồ một vòng sáng kỳ ảo, bao la, làm nổi bật đường viền xanh đen quanh hồ. Một nổi buồn man mác lại đến choán lấy tâm hồn Hinh. Hinh nao nao nhớ lại ngày nào mẹ còn sống. Hinh nhớ cả một thời kỳ xa xăm trước, cái thời Hinh không được sống như cha mẹ, ông bà Hinh luôn nhắc đến và hằng trân trọng, lưu luyến nó. Chính vì cái thời ấy, Hinh chỉ được sống trong tưởng tượng nên nó càng đẹp và càng đáng nhớ. Ngày ấy nay còn đâu!
Trở lại Thăng Long, đi thăm lại các danh lam thắng cảnh nơi đây, Hinh như gặp lại một giấc chiêm bao. Chiêm bao mà thật. Phố xá bây giờ tiêu điều quá, việc canh phòng nghiêm ngặt không bình thường. Vua Minh Mệnh trị vì có phần còn khắc nghiệt hơn cả Gia Long, nên cảnh loạn lạc chẳng những không dứt được mà ngày càng nặng nề. Hinh tự hỏi: Có phải vì Hinh đang đau buồn khiến cho Hinh thấy Thăng Long tẻ ngắt đơn điệu hơn xưa không? Thật ra, từ khi Gia Long lấy được đất Bắc Hà, Thăng Long đã ảm đạm. Hinh, gia đình và bạn bè Hinh đều thấy rõ từ lâu, một cái gì đã tan vỡ trong đời sống và trong cả ước mơ. Hinh trách tạo hóa thay đổi và tiếc nuối cái thời huy hoàng xa xăm trước. Hinh đã dạo khắp Thăng Long, nhưng những chiều thu ở đây cũng da diết buồn như lòng Hinh. Hinh bàng hoàng trước những ngôi đền đổ nát, mái sân rêu phủ, cột tường xiêu gãy. Chao ôi! Những lâu đài mà xưa kia lộng lẫy, tường hoa chăn gấm, đèn nến sáng trưng, bàn tiệc ngổn ngang, bây giờ chỉ còn là bức tường loang lổ, in nắng chiều ảm đạm. Ngay cả nơi xưa kia tưng bừng vui vẻ, xe ngựa rộn rịp, mà bây giờ cũng đã hoang dại, đường đi vắng vẻ, vết xe xưa cỏ thu phủ mọc. Tất cả những đổi thay phũ phàng ấy đem đến cho Hinh nỗi đau đứt ruột.
Một bài thơ nhớ thành Thăng Long xưa đã nhen nhóm trong lòng Hinh. Nhưng Hinh chưa vội chấp bút. Tâm hồn hinh đang xao động, trong trí Hinh bao nhiêu cảnh hoang tàn là bấy nhiêu tâm sự. Cho nên, phải cho những ý ấy lắng lại, phải viết thế nào để ngỏ hết được tâm sự mình không quá lộ liễu để phòng tai biến. Cuộc sống của vợ chồng Hinh hiện thời đã chẳng nhắc Hinh phải thận trọng như thế nào?
Chiều ấy Hinh đi ngang qua chùa Trần Quốc, nắng chiều vàng và tiếng chuông chùa như giục Hinh dừng bước. Và Hinh đã dừng bước. Vừa tới cổng chùa, Hinh sửng sốt suýt bật lêu lên thành tiếng. Hành cung đã hoang phế đến nỗi này rồi ư! Thời Lê, cái hành cung này rực rỡ biết dường nào mà nay đã thành một nơi bỏ không, phó mặc mưa dầu nắng dãi, khiến ai đi qua chẳng chạnh lòng đau đớn: Sự thay đổi thương tâm này là bởi đâu! Ai đã gây ra cảnh não lòng đó? Hinh không kiềm được lòng tự hỏi? Chính triều Nguyễn với những ông Vua như Gia Long và bây giờ là Minh Mệnh đã gây ra cảnh này. Những Vua ấy đâu nghĩ đến việc gìn giữ những lâu đài người xưa để lại. Hơn thế, chính những Vua ấy không dám dùng người chính trực như cha Hinh, chồng Hinh, không tin các cựu thần nhà Lê, nghi ngại các danh sĩ Bắc chuyên hiềm khích, bè phái để hại nhau. Hinh không dám nghĩ tiếp những chuyện có thể dẫn đến vạ tày đình, những chuyện dù quyết định vượt ngoài ý định của Hinh. Cảm xúc từ những điều mắt thấy khiến Hinh không thể cưỡng lại được ý muốn làm một bài thơ hoài cổ. Những ý thơ nối tiếp nhau hình thành không tài nào kìm nổi. Hinh lấy giấy bút, rồi hai câu thơ bật ra theo cảm xúc. Hinh vội ghi:
"Trần Quốc hành cung cỏ dãi dầu
Khiến người qua đó chạnh lòng đau... "
Hinh ngẫm nghĩ lại ý thơ. Chữ "Cỏ" đặt liền với "Dãi dầu" có phần không hay. "Cỏ dãi dầu" là chuyện thường tình, dùng chữ "Cỏ" như vậy không có được ý mình. Hinh vội sửa chữ "Cỏ" thành chữ "Bỏ".
Hinh lặng ngắm hành cung xưa, nhìn hồ sen bát ngát và nhìn ráng chiều vàng chiếu hắt lên chùa. Hương sen thoang thoảng tinh khiết kia, màu vàng rực rỡ của nắng chiều chiếu trùm lên lớp rêu loang lổ trên tường kia, có cái gì gần gũi, gợi cảm đến thế. Hinh dầm bút vào hiên mực và sửng sốt trước ý thơ mới nảy. Hương sen ấy khác nào hơi hương ngự còn rớt lại, màu vàng rực rỡ kia chính là màu áo chầu trong những ngày tưng bừng khi Vua ngự đến. Hinh run run ghi câu thơ chất chưa tâm sự mình:
"Dưới hồ sen rờt hơi hương ngự
Trên vách rêu in nếp áo chầu".
Hinh đọc lại câu thơ và vui mừng thấy từng chữ đối nhau rất chỉnh.
Hinh vẫn ngồi lặng đi bên gốc đại nhưng tất cả tâm trí Hinh đang dồn về những cảnh diễm lệ của hành cung xưa. Nếu không có tiếng chuông chùa lúc khoan lúc nhạt lẫn trong tiếng trống hồ từng đợt từng đợt dội vào bờ, có lẽ Hinh chưa dứt được những mường tượng về những ngày xưa êm đẹp. Chính tiếng sóng trên hồ rộng và tiếng chuông chùa gợi buồn ấy đã chắp cánh cho một tứ thơ mới mẻ. Lớp sóng xô đẩy nhau làm động cả mặt hồ khác nào sư hưng vong của các đế vương và tiếng chuông chùa lúc mau lúc khoan giống hệt sự đày ta của vòng trần thế, đáng cảm khái biết chừng nào. Đắm mình trong nỗi thất vọng về người xưa, cảnh xưa đâu còn, lòng Hinh càng thêm tê tái. Hinh viết những dòng thơ cuối, lòng buồn rười rượi:
"... Sóng lớp phế hưng coi đã rộn
Chuông chùa, kim cổ lắng càng mau
Người xưa cảnh cũ còn đâu tá
Ngơ ngẩn lòng thu khách bạc đầu".
Tối hôm ấy bài thơ được cha Hinh và chồng Hinh trao tay nhau đọc đi đọc lại.
- Hoài cổ đến thế này thì thật là tuyệt bút, cha Hinh ít khen con lộ liễu nhưng cuối cùng phải nói, cả bài không câu nào, chữ nào ra ngoài chủ định của đầu đề. Lại thêm lời hay ý đẹp, cha đọc thấy cảm khái vô hạn.
Và, mấy ngày sau, Hinh đã làm xong bài "Thăng Long thành hoài cổ", bài thơ mà Hinh đã có ý định làm từ trước. Chiều ý chồng, một tối Hinh đọc bài thơ ấy:
"Tạo hóa gây chi cuộc hí trường?
Đến nay thấm thoát mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thuơng
Ngàn năm gươm cũ soi kim cổ
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường"
Nghe trọn bài thơ, chồng Hinh nghĩ thầm: Chưa dễ các thi gia đời Đường đã vượt được tài nàng. Tuy thế, ông chỉ nói:
- Lời văn thật là khéo. Thơ như vậy thuộc vào ít có đời này, Chữ "Trơ" đi với chữ "Gan"; chữ "Gan" đi với chữ "đá"; chữ "Cau" đi với chữ "Mặt", chữ "Mặt" đi vơi chữ "Nước", ấy là cách dùng chữ rất luyện. Có lẽ nàng đã nát gan nát ruột vì mấy chữ ấy. Hinh nhìn chồng vẻ biết ơn nhưng không đáp.
Những bài thơ của Hinh được lưu truyền rất nhanh ở Thăng Long. Rồi giới văn thần ở kinh đô Huế cũng sửng sốt trước tài năng lỗi lạc của bà huyện Thanh Quan. Bao nhiêu nho sĩ Bắc Hà hâm mộ Hinh, xin được gặp mặt và tỏ ý muốn kết bạn ngâm vịnh. Nhưng Hinh đã từ chối hết thảy. Hinh chối từ là vì Hinh không thích đàn đúm ngâm vịnh. Hinh sợ sự giao du rộng rãi có thể làm phiền lụy đến Hinh và gia đình. Vả chăng, ngày chồng Hinh phải lên đường về kinh nhận chức Bát phẩm Thư lại bộ Hình đã đến gần.
Theo chồng vào kinh đô Huế chưa đầy một năm, biết Nguyễn Thị Hinh là người có học vấn lại có đức hạnh, Vua Minh Mệnh liền triệu vào cung, phong làm chức Cung trung giáo tập, dạy dỗ cung nhân. Trong buổi ra mắt, thấy Hinh là người biết mười nói một, cử chỉ đoan trang, tao nhã, rõ là dòng quý phái, lại xinh đẹp, Minh Mệnh rất quý mến. Vì vậy, vốn rất khắc nghiệt, Minh Mệnh vẫn thường cho Hinh được đàm luận thơ phú với mình. Một lần, nhân có bộ chén kiểu Trung Quốc mới đưa sang, chén vẽ sơn thủy Việt Nam và có đề thơ Nôm, Minh Mệnh đã khoe với mọi người xung quanh rồi bảo Nguyễn Thị Hinh làm một câu thơ Nôm. Không phải suy nghĩ lâu, Hinh đọc hai câu thơ rằng:
"Như in thảo mộc trời Nam lại
Đem cả sơn hà đất Bắc sang"
Những người xung quanh hết lời khen và Vua Minh Mệnh tỏ ra rất thích thú. Nhân nhìn thấy bức tranh sơn thủy treo trên tường, để thử tài Hinh, Minh Mệnh đọc:
"Quải thư bích thượng tận thu tứ hải sơn hà"
Nhờ có một trí nhớ kỳ diệu, Hinh biết câu đối này không phải của Minh Mệnh nghĩ ra mà là ở trong sách xưa, cuốn sách mà Hinh đọc nó từ hồi còn nhỏ. Nhưng không muốn làm cho Vua phật ý, Hinh mỉm cười, đọc câu đối lại:
"Tẩy túc trì trung dao động cửu thiên tinh đẩu "
Nghe câu đối vừa nhanh vừa hay, mọi người tỏ ý khâm phục. Riêng Minh Mệnh càng chịu Hinh là tài.
Tuy không phục ông Vua tự phụ về văn thơ này nhưng vì Vua ân cần, trân trọng Hinh, nên Hinh đã sống những năm tháng phần nào thanh thản bằng nghề dạy học trong cung cấm. Hinh càng yên lòng vì chồng Hinh tuy ốm yếu luôn nhưng cũng đã được thăng chức viên ngoại lang.
Nhưng những ngày sống êm đềm ấy đã qua đi như giấc mộng. Hinh muốn mình trong tình yêu thiên nhiên, vui với công việc dạy học, nhưng triều đình Minh Mệnh ngày càng rối ren, khiến Hinh thấy chán nản hết thảy. Minh Mệnh đã tin dùng bọn võ tướng, cai trị dân không phải bằng đức rộng mà bằng hình luật khắc nghiệt nên không tháng nào lại không có tin cấp báo dân nổi dậy từ các trấn đưa về. Từ đó Minh Mệnh càng khó tính. Rồi quan hệ giữa Vua và Hinh cũng bắt đầu rạn nứt. Vua Minh Mệnh bắt đầu để mọi việc làm của Hinh. Khởi điểm của sự rạn nứt ấy vẫn là chuyện văn chương.
Một lần Vua viết hai chữ "Phúc", "Thọ" rất lớn để ban ơn cho một đại thần. Vua hỏi Hinh chữ viết thế nào. Thấy chữ Vua xấu quá, Hinh chê khéo:
"Phúc tối hậu, thọ tối trường"
Ban đầu Vua ngơ ngác không hiểu. Sau nhìn kỹ thấy chữ "Phúc" béo phục phịch, chữ "Thọ" dài lêu nghêu, Vua Minh Mệnh gượng cười nhưng trong lòng giận lắm. Từ đấy Vua lạnh nhạt với Hinh ra mặt. Hinh nói chuyện ấy với chồng. Chồng Hinh giọng chua chát:
- Vua hỏi là để nghe lời khen, sao nàng lại vô tâm đến thế. Trái ý Vua rồi có ngày sẽ sinh vạ. Huống hồ ta là dòng dõi bầy tôi nhà Lê...
Câu nói của chồng như mũi kim chích vào tim Hinh. Lặng đi một hồi lâu, Hinh đáp:
- Con cháu những người ăn lộc của nhà Lê thì còn nhiều. Cũng như vợ chồng ta, họ đã an phận kiểu sống nhạt nhẽo này từ lâu rồi. Nhưng cũng là tạo hóa đổi thay, sao hoàng đế Quang Trung lại săn sóc đến bầy tôi nhà Lê một cách chu đáo đến thế. Ai trốn thì tìm về cho làm quan, ai ờ chức cũ thì cất nhắc chức trên. Ngay cả những người nhất quyết từ chối không chịu nhận quan tước thì để mặc ý an cư lập nghiệp, không phiền nhiễu tới. Đằng này các Vua Nguyễn thì lại nghi ngờ hết thảy. Vua như thế sao thu phục được nhân tâm trăm họ?
- Phải lắm! Nhưng nói làm chi cho thêm phiền lòng. Các bầy tôi nhà Lê đã bao phen cay đắng. Cay đắng mà cam chịu. Mà họ có tội tình gì? Ta chỉ còn nối tiếc thương âm thầm mà thôi.
Nghe chồng nói Hinh càng thương chồng và thương mình. Hinh hối hận đã làm cho chồng buồn. Phải rồi, cũng giống như chồng, Hinh đã giữ tâm sự tiếc nuối cái thời huy hoàng xa xăm vào bao nhiêu ý thơ và chôn chặt bao nỗi bất bình vào đáy lòng. Và khi biết nỗi nhớ ấy chẳng bao giờ nguôi được, ngày xưa đối với Hinh càng đẹp, càng thơ. Chính trong những ngày sống căng thẳng ấy, hình ảnh quê nhà với tháng năm ghi đậm ký ức thời thơ ấu, đã vỗ về an ủi Hinh. Vào dịp này, kinh đô Huế lại được truyền tay nhau bài thơ "Chiều hôm nhớ nhà" mới làm của Hinh. Bài thơ từng lời từng lời được trau chuốt tinh tế, quý như những viên ngọc, đẹp như một bức tranh cổ ấy đã được các cung nữ trong triều đọc cả ngày không chán:
"Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn
Tiếng ốc xa đưa lẫn trống đồn
Gác mái ngư ông về viễn phố
Gõ sừng mục tử lại cô thôn
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi
Dặm liễu sương sa khách bước dồn
Kẻ chốn chương đài, người lữ thư
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn"
Từ trong cung trở về, nét mặt Hinh lộ rõ vẻ tức giận. Có thể nào lại vô lý đến thế được? Sao Vua Minh Mệnh lại bắt bẻ và mắng mình trước mặt các cung nhân ngay trong buổi dạy học như thế? Vua nhiều tuổi nên khó tính hay Vua đố kỵ nhỏ nhen, thích làm nhục người khác? Câu chuyện như thế nào nhỉ. Phải rồi, lúc ấy Hinh đang giảng về luân lý trong kinh thi cho các cung nhân. Hinh đọc lời dạy của Khổng Tử đã ghi trong sách: "Thi khả dĩ hưng, khả dĩ quan, khả dĩ quần, khả dĩ oán, nhĩ chi phụ sự, viễn chi sự quân, đa thức ư điểu thú, thảo, mộc, chi oanh"
Biết được nhiều tên chim muông cây cỏ, Hinh đang say sưa cắt nghĩa, nhân tiện đọc cho các cung nhân nghe những bài thơ tả cảnh hay, thì thình lình Vua Minh Mệnh bước vào và gắt với Hinh:
- Sao dạy Kinh thi nhà ngươi lại chỉ giảng về chim muông, cây cỏ, và đọc những bài thơ chẳng đâu vào đâu như thế?
Hinh trấn tĩnh, đáp:
- Muôn tâu bệ hạ! Kẻ ngu thần không dám chỉ dạy như thế bao giờ!
- Ta vừa nghe nhà ngươi đọc thơ, Minh Mệnh nổi xung. Ngươi còn dám cãi sao?
Bị làm nhục oan uổng, Hinh toan thanh minh tiếp. Nhưng nghĩ đến phận mình, nghĩ đến người chồng đang ốm thập tử nhất sinh ở nhà, Hinh nén lòng nhịn nhục. Minh Mệnh được thể càng mạt sát Hinh nhiều điều tàn tệ. Ngỡ ngàng trước sự nhỏ nhen của Vua, Hinh vừa tủi thân vừa uất. Về đến nhà, Hinh cố giấu chồng. Nhưng chồng Hinh đã nhận thấy nét buồn bất thường ấy của Hinh. Hinh chối, lấy cớ trong người váng vất khó chịu rồi kêu mệt, bỏ cơm chiều, về buồng riêng nằm úp mặt vào gối khóc nức nở. Nước mắt Hinh đầm đìa trên chiếc gối gấm thêu phượng.
Hinh đã tự vực mình vượt qua thời kỳ sóng gió nhất sau khi chồng mất. Ngay tháng sau, lấy cớ sức yếu, Hinh cũng đã từ chức Cung trung giáo tập. Ngày từ biệt triều đình Thiệu Trị lòng Hinh cũng dửng dưng như ngày đến triều đình Minh Mệnh. Hinh đã gởi bốn đứa con về Nghi Tàm từ trước. Và hôm nay, Hinh đang trên đường về quê nhà, bỏ lại đằng sau bao nỗi đắng cay từng trải.
Hinh đã lên đến đỉnh Đèo Ngang. Vẻ đẹp của thiên nhiên rộng lớn, đầy màu sắc, khiến Hinh xao xuyến dừng chân.Trời về chiều êm ả quá. Trước mắt Hinh, ráng chiều phủ lên núi rừng vùng Đèo Ngang một màu đồng thau vàng rực. Không gian tím ngắt lại càng làm cho cảnh chiều đượm một vẻ trầm tư man mác. Đứng trên đỉnh đèo, Hinh nhìn suốt cả cảnh vật đến tận chân trời. Đó đây cỏ cây mọc chen nhau với đá, trùm lên đá. Và, theo gió nhẹ, hoa lá chen nhau đong đưa chuyển động như cùng vẫy gọi Hinh. Cảnh vật sinh động, đẹp như một bức họa kia sao gợi cảm đến thế. Vẫn dùng khuôn Đường luật và bằng câu phá du dương, câu thừa lấy từ cảnh vật đang xao động trước mắt, Hinh vội ghi lại câu thơ đầy cảm xúc:
"Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa..."
Nhưng sao giữa cái mênh mông của tạo vật, giữa cảnh bát ngát của núi rừng này, lòng Hinh thật trống trải đến thế. Mấy người kiếm củi ở chân núi bên kia, và cái chợ lèo tèo mấy nếp nhà không một bóng người qua lại, trông càng tiêu điều, hiu quạnh. Hinh tự hỏi: Không biết có phải vì lòng Hinh trống trải, cô đơn nên cảnh vật cũng trống trải, cô đơn theo hay ngược lại. Nhưng rõ ràng, cảnh vật có nỗi buồn như lòng Hinh, khơi sâu thêm nỗi buồn trong Hinh. "Tiều vài chú", "Chợ mấy nhà", hai vế của câu thực vừa hình thành thật là chỉnh. Hinh chưa kịp chọn chữ cho thành câu thơ, thì bỗng ở gần đó, tiếng kêu của một loài chim vọng tới. Xoay người về phía có tiếng động, Hinh thấy một con gà gô vừa kêu "Gia gia", vừa bay vụt đi. Hinh căng mắt theo dõi cánh chim. "Gia cô minh gia gia" "Đỗ cô minh quốc quốc", câu thơ của ai đã nói về giống gà và giống chim ấy nhỉ. Một gợi ý tuyệt hay hợp với nỗi lòng khắc khoải của Hinh bấy lâu mà sao Hinh không nghĩ ra? Quốc quốc, gia gia, gợi nỗi nhớ nước nhớ nhà, gợi lòng chán ghét bọn Vua quan nhà Nguyễn mà đặt trong câu luận, thì ý vừa sâu sắc vừa kín đáo. Hinh ngồi xuống thảm cỏ xanh non, nghĩ cho trọn câu thơ. Cặp mày vừa thanh vừa cong của Hinh nhíu lại. Rồi bốn hàng chữ bay bướm đã được ghi trên giấy. Hinh đọc lại:
"Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia."
Đọc xong những dòng thơ, Hinh khẽ mỉm cười hài lòng. Nhưng ngay sau đấy, mấy giọt nước mắt không kìm được từ từ lăn trên má, rồi rơi xuống trang giấy, làm nhoè cả mấy nét chữ còn chưa ráo mực. Hinh cười vì lời thơ tao nhã, âm điệu uyển chuyển, từng chữ lại đối nhau không ngờ. Hinh khóc vì Hinh quá xúc động do chính ý thơ viết ra. Những ý thơ ấy đã gói ghém được cả tâm sự bất tận nhưng kín đáo về nỗi nhớ triều Lê xưa và cũng rất kín đáo để bày tỏ sự chán ghét cái triều đình của Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị. Ý thơ ấy cũng là tâm sự của chồng Hinh, của cha mẹ ông bà Hinh và không ít con cháu các bầy tôi nhà Lê đang cam chịu cuộc sống buồn tẻ ở nơi thôn dã. Chưa bao giờ Hinh thấy lòng cô quạnh như lúc này. Cũng vẫn cảnh chiều hôm với bầu trời bao la, với núi non trùng điệp; vẫn là cảnh chiều với dòng sông lặng lẽ chảy cùng năm tháng, mà sao Hinh thấy mình quá nhỏ bé đơn độc? Những người thân nhất đã lần lượt qua đời rồi, chính Hinh cũng đang đi trong buổi chiều tà của cuộc đời. Vậy thì còn ai hiểu cho nỗi buồn chất chứa những thương đau này. Hinh lau nước mắt, ghi nốt hai câu thơ cuối, lòng nao nao xúc động:
"... Dừng chân đứng lại trời, non, nước.
Một mảnh tình riêng ta vời ta. "
Hinh lưu luyến nhìn cảnh vật như để khắc họa vào tim mình. Hinh biết rằng đời Hinh sẽ không còn dịp quay lại nơi này. Hinh lại lên đường, bỏ lại ngày càng xa triều đình nhà Nguyễn ở phía sau.
Hơn hai mươi năm sau, lúc Nguyễn Thị Hinh ngoài sáu mươi tuổi, bà đã bước sang một cuộc sống khác, hoàn toàn trái ngược với nếp sống cũ. Dù những ý nghĩ về cuộc sống đối với bà vẫn nặng nề như bản thân cuộc sống, nhưng lảng tránh ra khỏi vòng vây ngột ngạt của triều đình của vua Nguyễn, trở về với tình yêu thiên nhiên, với cuộc sống giản dị, chất phác, ấm áp tình người của dân chúng Nghi Tàm, tâm hồn Nguyễn Thị Hinh thanh thản trở lại. Hơn thế, Nguyễn Thị Hinh đã thấy rõ sự nín nhịn, cam chịu, an phận trước cường quyền là cuộc sống tẻ nhạt và vô vị. Vì vậy, không thách thức, không vùng vẫy lồng lộn, không liều lĩnh vô ích nhưng Nguyễn Thị Hinh đã bắt đầu sống theo tình cảm thật của mình: Cho nên, dạo ấy, sau lúc dân chúng Nghi Tam nổi dậy chống lệ nộp sâm cầm cho vua thắng lợi, thì một việc khác liên quan đến Nguyễn Thị Hinh lại mới chỉ là bắt đầu. Quan huyện Hoàn Long đem lính về nhà lý trưởng làng Nghi Tàm cũng vì cớ ấy. Theo lệnh thượng cấp, quan huyện Hoàn Long phải tìm cho ra ai là người xúi giục dân chúng và dám thảo đơn gửi đến triều đình Tự Đức đòi bỏ nộp cống ấy.
Sau bữa rượu thịnh soạn ở nhà lý trưởng Nghi Tàm, viên quan huyện ngả lưng trên chiếc sập gụ, hách dịch hỏi lý trưởng:
- Bấy lâu chẳng lẽ ông không biết thượng cấp họanh hoẹ mãi về việc ấy hay sao mà cứ làm lơ đi như vậy?

Viên lý trưởng ôn tồn đáp:
- Bẩm quan lớn! Bọn dân đen không chịu nói thì biết làm sao?
- Không chịu nói à, cứ nọc ra đánh cả lũ. Một gậy, mười gậy, một trăm gậy là khai tuốt.
- Bẩm quan, dân làng này cứng đầu lắm. Vả, việc đã yên rồi, tróc nã người thảo đơn làm gì? Vua cũng đã bãi lệ ấy rồi!
Viên quan sẵng giọng:
- Ông ngu lắm. Lá đơn ấy có những điều tỏ rõ là người biết hết nội tình triều đình. Lời lẽ mềm mỏng mà từng chữ lại chắc như đá. Thật là, viên quan lúng túng, thật là tuyệt diệu. Lệnh thượng cấp: Nếu không trị tận gốc, trị sớm, trị một cách êm thắm thì còn là loạn.
- Dân chúng tôi có ai là trạng nguyên, tiến sĩ đâu?
- Lạ thật, viên quan vùng dậy đi bách bộ. Vậy, ông lý, làng này ai là người hay chữ?
- Chỉ có... Lý trưởng Nghi Tàm ngần ngừ. - Ai? Quan huyện quát hỏi.
- Chỉ có cụ huyện Thanh Quan.

Quan huyện sửng sốt.

-Tên thực là Nguyễn Thị Hinh phải không? Bà ta đi tu rồi chứ?
Lý trưởng đáp:
- Bẩm quan, từ khi từ chức Cung trung giáo tập, cụ huyện trở về quê. Cụ thường đi vãn cảnh chùa, đến các nơi danh lam thắng cảnh chứ nào phải đi tu. Thật là con người chỉ biết lấy cỏ cây sông núi làm vui.
Đến lượt viên quan huyện bối rối:
- Ông cho đòi bà huyện tới đây. À mà thôi! Tự ta đến hỏi cho ra lẽ cũng được.
Thấy quan huyện đến, cụ Nguyễn Thị Hinh đang ngồi xem sách từ tốn đứng dậy:
- Ngài hỏi ai?

- Chào cụ huyện Thanh Quan. Tôi là quan huyện Hoàn Long đến thăm cụ.
- Ngài cứ gọi tôi theo tên tục, Nguyễn Thị Hinh khoan thai nói.
- Cụ cho tôi thưa rõ. Tôi là cháu ngoại cố Phạm Quý Thích.
Nguyễn Thị Hinh cố kìm sự ngạc nhiên:
- Tưởng ai hóa ra thân thuộc cả.
- Thượng cấp lệnh cho tôi phải tìm ra người cả gan thảo lá đơn chống lệ nộp sâm cầm của dân chúng vùng này.
- Đến thế kia à?
- Nghe lý trưởng nhắc đến tên cụ, tôi biết ngay nhưng cố lờ đi. Đơn cụ thảo sắc quá làm vua tức giận. Họ sẽ trị một cách ngấm ngầm nhưng khủng khiếp.
- Ngài cứ bảo là ta. Cặp mắt đen lay láy của Nguyễn Thị Hinh long lên. Chính ta, vợ ông huyện Thanh Quan xưa, từng giữ chức trong triều Minh Mệnh, Thiệu Trị thảo cho dân đen lá đơn ấy. Nếu cần phải nói thêm cho rõ thì ngài cứ thưa với quan trên rằng, thời ấy ta phải nhịn nhục, cam chịu là nhầm lẫn. Lúc ấy tưởng như vậy ta được yên thân. Nhưng nay rời bỏ triều đình ta mới hiểu được mọi lẽ, ta mới tự biết kính trọng phẩm giá mình.
Viên quan huyện ngó nhìn ra sân:
- Xin cụ hiểu cho, tôi làm quan cũng vì thời thế. Có thể tôi chưa dám làm như cụ.
- Đó là việc của ngài. Nhưng chưa dễ mấy ai dám làm những điều mình nghĩ. Đời thật bao giờ cũng phũ phàng hơn mộng tưởng. Trách sao được?
- Cụ nói đúng, viên quan huyện đứng dậy, tôi phải thừa hành lệnh trên nhưng thực bụng thì không đồng tình. Huống hồ lại biết chính cụ là người thảo đơn.
Nguyễn Thị Hinh trở lại dáng đoan trang, nhã nhặn thường ngày:
- Vào tuổi ngài tôi chưa nghĩ được như thế!
- Thân mẫu tôi biết cụ ở lại đây thế nào cũng đòi lại thăm.
- Ngài cho tôi kính thăm cụ nhà.
Viên quan huyện về rồi, cũng như bao chiều khác, Nguyễn Thị Hinh lững thững đi về phía Hồ Tây đón gió. Nguyễn Thị Hinh gật đầu đáp lại nụ cười thiện cảm của những người hàng xóm vừa từ rặng dâm bụt sau nhà đi ra. Nụ cười của họ còn đọng lại nỗi lo lắng khi nãy chưa tan hết.
Chao ôi! Họ tốt bụng quá và cảnh chiều mênh mông quá, Nguyễn Thị Hinh thầm nhủ. Chiều Hồ Tây bao giờ cũng hiền dịu. Và, từ lâu rồi, đối với Nguyễn Thị Hinh, cảnh chiều không hẳn là buồn.
Đăng nhập để trả lời
0
Đoàn thị Điểm

Từ tối đến giờ quan thị lang Nguyễn Kiều vẫn ngồi trầm tư trước chiếc kỷ thấp, nghiên bút, giấy mực đã bày biện sẵn sàng. Mấy ngày nay, ông đã bao lần ngất đi vì cái chết đột ngột của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, người vợ mà ông rất mực yêu quý và trân trọng. May nhờ nhiều người khuyên giải, ông mới vợi được phần nào nỗi buồn đau để tỉnh táo trở lại. Quan thị lang đã sai sửa soạn làm lễ an táng Đoàn Thị Điểm, cho xứng với danh giá, đức độ và tài năng người đã khuất. Ông quyết định làm bài văn tế người vợ mà ông vừa kính phục vừa chịu ơn. Ý nghĩ ấy đã khơi dậy những tình cảm sâu kín, thiêng liêng khiến cho quan thị lang xúc động đến nghẹn ngào.

      Con người mẫn tiệp, đoan trang ấy đã dũng cảm cáng đáng gánh nặng gia đình, nuôi mẹ già, chị dâu và hai cháu nhỏ, nhưng lại khảng khái khước từ bả vinh hoa phú quý, khước từ lời cầu hôn của nhiều văn nhân, tiến sĩ, thượng thư để trở thành kế thất quan thị lang Nguyễn Kiều. Quyết định của Đoàn Thị Điểm thực sự đã gieo cho giới thi nhân một nỗi bất ngờ. Chỉ có Nguyễn Kiều mới hiểu, nữ sĩ lấy ông không chỉ vì mến tài đức ông mà còn vì thương những đứa con nhỏ của ông không người chăm sóc dạy dỗ, khi ngày đi sứ của ông đã tới gần. Hiểu như thế, ông càng yêu quý Đoàn Thị Điểm bội phần.

      Một người hầu gái rón rén bưng khay trà đến dâng quan, đã cắt đứt mạch hồi ức của tiến sĩ Nguyễn Kiều, ông xoay mình nâng chén trà, nhấp một ngụm nhỏ. Thứ trà được người vợ quá cố ướp hoa nhài công phu, hương vị thật là ngát. Phải, ông đã uống thứ trà lần đầu ở Chương Dương gần bảy năm trước, để không bao giờ quên được dư vị ngọt ngào của nó. Bây giờ uống lại thứ trà ấy, trong cảnh ngộ hiện tại, lòng ông bỗng nao nao thương nhớ người vợ yêu đã khuất. Ông lại đắm mình trong những kỷ niệm êm đềm về nữ sĩ mà tháng năm sẽ chẳng thể phai nhòa trong ông. Sau ngày cưới, con người có vẻ ngoài lãnh đạm, kiêu kỳ ấy lại trở thành người có tài quản suất công việc trong nhà một cách chu đáo. Nữ sĩ đã thực sự đem lại cho gia đình ông nguồn hạnh phúc vô bờ, đến nỗi, sự vắng mặt của nữ sĩ, dù chỉ có một buổi, cả gia đình ông đều thấy trống trải đến không chịu được. Chính bằng tình yêu thắm nồng, bằng sức mạnh của tài năng, bằng cách lấy văn chương làm vị thuốc chữa bệnh cho một người làm văn chương, Đoàn Thị Điểm đã tế nhị chỉ cho ông rõ, tài ông chưa hơn được thiên hạ ít nhất là còn thua vợ. Não lòng thay, sống chung của ông với nữ sĩ ngắn chẳng tẩy gang. Sau ngày cưới, lửa hương nồng đượm chưa quá một tuần trăng, ông phải đi Bắc sứ. Ba năm sau trở về, ông mới thực sự hiểu nữ sĩ một cách trọn vẹn. Ông sửng sốt thấy nữ sĩ không chỉ hiểu lòng ông mà còn đọc được cả ý nghĩ của ông. Chẳng những nữ sĩ đã quán xuyến gia đình, dạy dỗ các con ông chu đáo mà còn để tâm dịch Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn một cách tài tình. Nhưng đời người như đóa hoa phù dung, quan thị lang thầm nghĩ, biệt hiệu Hồng Hà của nữ sĩ sao ứng với nghĩa của chữ đến thế? Chỉ ba năm sau lúc đi Bắc sứ về ông nhận chiếu chỉ về trấn Nghệ An và xảy ra cái chết bi thương của nữ sĩ. Nhớ lại những kỷ niệm ngày ấy, thị lang Nguyễn Kiều thấy dội lên nỗi ân hận day dứt. Bởi vì lúc ông sửa sọan hành trình, nữ sĩ vì không được khỏe có ý chối từ xin đi sau. Nhưng nể ông nài ép, nữ sĩ không nỡ trái ý bất đắc dĩ xuống thuyền. Ai ngờ chuyến đi ngàn dặm buồm căng, tưởng rằng vợ chồng có dịp chén tạc, chén thù cùng đàm đạo chuyện đời, làm thơ vịnh cảnh những lúc trăng lên, mỗi khi gặp cảnh non kỳ nước tú lại dẫn đến sự phân ly đôi đường kim cổ. Trái tim ông co lại. Ông vội gạt nước mắt, dầm bút vào nghiên mực, ghi vội những dòng cảm xúc:
"Thật ngẫu chi phú
Trường hu đoản thán
Thốn kết sầu tràng
Song thùy lệ nhãn"
      Cho đến lúc gia nhân đã trở dậy, quan thị lang mới viết những dòng cuối, lòng trĩu nặng ưu tư:
"... Than ơi đường chia đôi ngả
Duyên đứt sáu năm, vui ít sầu nhiều, tài dài mệnh ngắn"...
      Rồi đám tang Đoàn Thị Điểm được cử hành như ông đã định. Quan lại và những bậc khoa bảng trong trấn đều đến đông đủ. Nhiều danh sĩ, thi nhân từ kinh đô và các trấn khác cũng gấp lên đường kịp dự tang lễ. Linh cữu Đoàn Thị Điểm được đem về an táng tại quê Nguyễn Kiều.

      Ròng rã mấy năm sau, nấm mồ nữ sĩ không ngày nào vắng người đến viếng. Có người thắp hương, có người trồng hoa, có người khóc bằng nước mắt, có người khóc bằng thơ. Và không phải chỉ ở nấm mồ này, không phải chỉ ở kinh đô mà xa hơn nữa, trong các thôn xóm cuộc đời của Đoàn Thị Điểm với bao huyền thoại, đã được nhắc lại...

      Thuở ấy nhân dân hạt Văn Giang không ai không hay biết và đem lòng kính trọng gia đình ông đồ Đoàn Doãn Nghi. Mọi người biết tường tận gia đình ông đồ Nghi, bởi vì gia đình ấy có hai người con rất mực thông minh, hay chữ là Đoàn Doãn Luân và Đoàn thị Điểm.

      Sinh ra trong một gia đình gia giáo, có truyền thống hiếu học lại rất thông minh nên từ rất sớm, Đoàn Thị Điểm đã nổi tiếng là thần đồng. Năm tuổi, Đoàn Thị Điểm đã đọc được bài trong kinh thi. Mười tuổi học sử và kinh dịch. Mười bốn tuổi học hết tứ thư ngũ kinh, sử truyện. Khi mới năm tuổi, nhân học sách Hán Cao Tổ, cha Đoàn Thị Điểm đồng thời là thầy học, muốn thử tài con mà ra câu đối rằng:

      - Bạch xà đương đạo, Quý bạt kiếm nhì trảm chí.

      Ông đồ Nghi bỗng sửng sốt nghe một vế đối rất chỉnh của con gái:

      - Hoàng long phụ chu, vũ ngưỡng thiên nhi thán viết...

      Dẫu khiêm tốn, ông đồ Nghi cũng phải thừa nhận tài năng lỗi lạc của con mình.

      Càng lớn lên, Đoàn Thị Điểm chẳng những chỉ nổi tiếng về tài năng mà còn nổi tiếng là người có sắc đẹp mặn mà, cử chỉ đoan trang, tao nhã, nói năng mềm mỏng. Cũng chính bởi nổi tiếng như vậy nên Đoàn Thị Điểm sớm bước sang một khúc ngoặt, hoàn toàn trái với những mơ ước bình dị của đời mình.

      Ấy là một buổi chiều, gia đình ông đồ Đoàn Doãn Nghi được vinh hạnh đón tiếp quan thượng thư Lê Anh Tuấn từ kinh tới. Sau bữa cơm thịnh soạn quan thượng thư lấy nê là thầy học cũ của chủ nhà muốn thử tài đứa cháu gái sớm nổi danh. Quan thượng thư gọi Đoàn Thị Điểm tới ngắm nghía dung nhan rồi bắt đi bảy bước vịnh một bài thơ độc hành (đi một mình). Quan thượng thư chưa kịp đưa chén trà lên miệng sau câu nói, đã nghe thấy cô gái mười sáu tuổi ứng khẩu đọc:
Đàm luận cổ kim tâm phúc hữu
Trung tùy tả hữu cổ quang thần
      Từng nghe đồn đại về tài thơ của Đoàn Thị điểm, vậy mà quan Thượng không dấu nổi sửng sốt:

      - Khá khen con là người nhanh trí, cốt cách con đoan trang tao nhã mà lời lẽ khí phách như một đại nhân.

      Ông đồ Nghi đỡ lời con:

      - Cháu nó cũng võ vẽ đôi chữ, chứ học hành nào đã ra gì!

      Khi chỉ còn hai người, thượng thư Lê Anh Tuấn gật gù, chậm rãi nói với ông đồ Nghi:

      - Không phải vô cớ ta về thăm gia đình con. Ở kinh nghe danh cháu Điểm ai cũng lấy làm sự lạ. Hỏi ra, biết cháu chẳng phải người xa, ta vui mừng khôn xiết. Thật là danh bất hư truyền.

      - Thật hân hạnh cho gia đình con, ông đồ Nghi xúc động đáp.

      - Người như cháu Điểm thực xưa nay hiếm. Con bé ấy được cả tài lẫn sắc. Ta đồ rằng chúa Thượng cũng đã phong thanh hay biết mà phủ chúa xưa nay vẫn thiếu người như thế!

      Chén trà trên tay ông Đồ bỗng rơi xuống sập, nước đổ lênh láng. Nhận ra vẻ lo lắng trên nét mặt ông đồ, viên thượng thư già làm bộ tự nhiên.

      - Nói gần nói xa chẳng qua nói thật. Từ xưa ta vốn chuộng người hiền tài, gia quyến lại hiếm hoi. Bởi thế, ta cất công về đây muốn được xin cháu Điểm làm con nuôi. Lên kinh có thầy giỏi thì dù phận gái không được đi thi nhưng chắc cháu sẽ làm rạng danh cho gia đình con và làm đẹp mặt ta nữa. Chẳng hay con có bằng lòng không?

      Ông Đồ Nghi bỗng lâm vào thế khó xử. Nhưng nể và tin thầy học cũ, người được chúa Trịnh Cương sủng ái bậc nhất thời ấy, lại cũng muốn đầu óc con mình mở mang, ông nhận lời mà lòng chẳng vui:

      - Bẩm quan Thượng! Quan Thượng đã dạy thế, thế nào con dám trái ý.

      Đoàn Thị Điểm được gọi đến. Lần nữa ngắm nhìn cô gái ăn mặc giản dị mà vẫn như một bông hoa đẹp đầy hương sắc, viên thượng thư gật gù:

      - Ta đã thưa với cha con. Ta muốn đưa con về kinh coi như con đẻ. Ở đó con sẽ mặc sức học rộng hiểu sâu và tiếp xúc với các văn nhân, trau dồi đường học vấn.

      Sợ con trái ý thất lễ, ông đồ Nghi âu yếm nhìn con:

      - Cha đã bằng lòng cho con lên ở với Quan Thượng. Con nhớ phải giữ lễ và nghe chỉ giáo của quan trên.

      Đoàn Thị Điểm nhỏ nhẹ:

      - Cha đã dạy, con xin vâng.

      Mấy ngày sau, Đoàn Thị Điểm bùi ngùi chia tay cha mẹ, từ biệt mảnh đất ghi đậm bao kỷ niệm êm đềm thời thơ ấu để theo quan thượng thư Lê Anh Tuấn về kinh.

      Sống giữa kinh thành mặc dù được quan thượng thư và gia quyến hết sức chiều chuộng, song Đoàn Thị Điểm vẫn không nguôi được nỗi nhớ cha mẹ và cuộc sống bình dị trong tình thương yêu đùm bọc rất đỗi chân thật, đầm ấm với người dân quê mình. Dường như đối với Đoàn Thị Điểm, cuộc sống nhung lụa, nhàn tản, có kẻ hầu người hạ hoàn toàn xa lạ đối với cô gái trẻ. Chỉ có điều an ủi duy nhất là dinh quan thượng thư chứa rất nhiều sách. Đoàn Thị Điểm say mê đọc sách. Bởi vậy, kho sách hàng nghìn cuốn của quan Thượng, Đoàn Thị Điểm chỉ đọc không đầy nửa năm đã hết. Đến lúc ấy, cuộc sống xa hoa, trống rỗng ở dinh quan thượng mới thực sự dày vò cô gái.

      Đoàn Thị Điểm chỉ còn biết làm thơ, trau chuốt câu văn làm vui. Những bài thơ lời đẹp ý hay ấy được quan Thượng trao tay cho các văn thần trong triều thưởng thức. Bởi vậy tài năng của Đoàn Thị Điểm dậy lên ở kinh đô. Thấy tiếng tăm con nuôi nổi lên như sóng cồn, thượng thư Lê Anh Tuấn rất hoan hỉ. Nhận ra cô con nuôi đẩy lên và do đó, có một vẻ đẹp quyến rũ đặc biệt, quan Thượng càng vui lòng. Cũng từ đó dinh quan thượng không mấy lúc vắng khách vào ra. Một hôm có bốn danh sĩ được tôn là "Tứ hổ đất Tràng An", tới dinh quan thượng để so đo tài năng với Đoàn Thị Điểm. Biết được thâm ý của các danh sĩ, Đoàn Thị Điểm trở về phòng riêng lấy giấy bút thảo nhanh một vế đối hóm hỉnh rồi sai người hầu trao tận tay khách. Vế đối ấy là:

      - Đình tiền thiếu nữ khuyến tân lang.

      Nhận ra vế đối vô cùng hiểm hóc (thiếu nữ là người con gái đồng thời là gió nhẹ. Tân lang là chàng rể vừa có nghĩa là cau). Bốn danh sĩ lúc đầu còn cười trừ, về sau toát mồ hôi hột mà không sao đối lại được. Chủ định đi thi tài bỗng dưng bị bại ngay từ màn đầu, cả bốn danh sĩ xấu hổ, vội vã tháo lui. Sau lần "đánh quỵ" bốn con hổ ở đất "Tràng An" tên tuổi Đoàn Thị Điểm được gắn với một loạt những huyền thoại. Sùng kính tài năng ấy, nhân dân đã phong Đoàn Thị Điểm là trạng Giữa.

      Mặc dù sớm đạt tới đỉnh cao vinh quang trong giới thi nhân. Đoàn Thị Điểm vẫn dửng dưng trước những lời khen cũng như trước những ánh mắt âu yếm của các trang công tử. Từ đáy lòng mình Đoàn Thị Điểm vẫn không nguôi nhớ đến cha mẹ, nhớ đến bà con trong xóm ngoài làng, nhớ những bài ca có lời óng chuốt, có nghĩa uẩn súc của quê hương.

      Nhưng rồi cuộc sống êm ả của Đoàn Thị Điểm ở kinh thành cũng qua mau. Dù không muốn quan tâm đến thời thế, nhưng sống ngay trong dinh quan Thượng, Đoàn Thị Điểm không thể bỏ qua được những biến đổi ở trong triều. Mới chỉ không đầy một năm sống ở kinh kỳ, Đoàn Thị Điểm đã bao lần chứng kiến những cuộc xuất chinh đi "Dẹp loạn" của binh lính triều đình. Thậm chí có lần, tướng sĩ vừa cờ dong trống mở xuất quân đi đánh trận này thì ở trận khác hỏa hiệu lại nổi lên cấp báo tin dữ. Triều đình lại một phen nhốn nháo huy động binh mã xuất chinh. Lo âu, chán nản trước cảnh ly loạn ấy, nhưng Đoàn Thị Điểm không dễ hiểu được ai là "Giặc", vì sao trấn này hay trấn khác "Làm phản triều đình". Mặc dù vậy, mỗi lúc nghe thấy trống động binh, nhìn thấy hỏa hiệu ngút trời, báo động một cách khẩn cấp về triều, tâm hồn cô gái trẻ lại nhói đau không dứt. Bỗng dưng Đoàn Thị Điểm xót xa khi nhớ tới những câu ca lan truyền trong dân gian:
"Trời mưa cho ướt lá bầu
Vì ai nên phải đi hầu chàng ơi
Nhà vua có lệnh về đòi
Đồn rằng chàng trẩy hai mươi tháng này".
      Bằng những hiểu biết bắt nguồn từ lòng nhân đạo, đã có sức mạnh kéo Đoàn Thị Điểm ra khỏi cuộc sống mơ mộng giữa bốn bức tường sách vở ở dinh quan Thượng để nhìn thẳng vào những biến động của thời cuộc đang diễn ra xung quanh mình. Đoàn thị Điểm se lòng khi tận mắt nhìn thấy những đoàn ăn mày rách rưới gầy còm lũ lượt tràn về kinh thành xin ăn. Tình hình đàng ngoài càng xấu đi nhanh chóng từ khi Trịnh Giang lên kế vị ngôi chúa. Vốn là người ngu dốt, nhu nhược, đa nghi, tàn ác, ưa phỉnh nịnh, Trịnh Giang mãi lo ăn chơi hưởng lạc và tùy tiện thưởng phạt, khiến lòng dân không phục.

      Chứng kiến những sự thật đau lòng ấy Đoàn Thị Điểm ân hận đã có lúc vô tâm với thời cuộc. Đoàn Thị Điểm tự hỏi, nước loạn là bởi đâu? Phải chăng nước thiếu bậc minh quân, lương thần? Nghĩ vậy Đoàn Thị Điểm say mê đọc sử sách nước nhà, tìm hiểu việc trị nước, hăm hở học gương nghĩa hiệp của những tôi trung hết lòng vì dân vì nước. Tuổi đời còn quá trẻ, tầm nhìn còn hạn chế, Đoàn Thị Điểm chưa hiểu hết việc làm của những nghĩa quân nông dân, nhưng Đoàn Thị Điểm ghét cay ghét đắng những hành động đồi bại, tàn ác của chúa. Đoàn Thị Điểm ước mơ có đủ tài năng và uy tín để chẳng những hiểu được phép trị nước mà còn được vua tin nghe, giao cho trọng trách, mong ngăn được loạn ly, làm cho dân thịnh nước giàu. Ngạc nhiên trước các sách mà cô con nuôi dày công nghiền nghẫm, quan Thượng có lần hỏi:

      - Lâu nay con lơi việc làm thơ để học nghĩa các sách này chăng? Việc ấy có ích lợi gì?

      - Thưa cha, Đoàn Thị Điểm từ tốn, xưa Từ Huệ Phi, một hiền phi của Đường Thái Tôn cũng biết dâng sớ bày mưu tính kế cho vua và được xem là một nữ tử thông tuệ đó sao.

      Quan thượng thư Lê Anh Tuấn sửng sốt:

      - Con gái của cha cũng có bụng phò vua giúp nước theo gương người xưa?

      - Thưa cha! Đất nước loạn ly, dân tình khốn khổ, phận nữ nhi càng thiệt thòi mọi bề. Lẽ ấy khiến cho con có nhiều điều băn khoăn tấc dạ.

      Thấy lạ, quan Thượng gặng hỏi:

      - Thần nịnh, chúa hôn? Quả là nước đang có lúc không yên. Cha muốn được biết những lẽ băn khăn của con. Chỗ cha con trong nhà đừng e dè.

      - Thưa cha! Cha đã hỏi, con không dám giấu. Đọc sách xưa nghĩ cảnh nay, con tự đặt mình lạm nghĩ kế trị nước. Thật lòng con không muốn trái trứng để khoe tài.

      - Con thử nói cha nghe!

      - Theo con, Đoàn thị Điểm sau lúc đắn đo, cất giọng quả quyết. nước muốn thịnh dân muốn giàu thì bậc minh quân trước phải năng giữ cỗi gốc của nước, trừ hà bạo. Hai là giữ nếp cũ, bỏ phiền nhiễu cho kỷ cương khỏi rối. Ba là nén kẻ quyền thần để ngăn ngừa chính sự mọt nát. Bốn là thải bớt kẻ nhũng lạm để trừ tệ đục khoét của dân. Năm là mở đường cho người nói thẳng để cho cửa thành cùng với đường can gián đều mở toang. Sáu là chọn tướng nên cần người thao lược mà không căn cứ vào thế gia. Chỉ có vậy, nước mới trị, dân mới yên.

      Nghe xong những ý táo bạo ấy từ miệng cô con nuôi bội phần xinh đẹp, quan thượng thư Lê Anh Tuấn bỗng lặng đi. Quan Thượng không thể ngờ mới ngần ấy tuổi đầu, Đoàn Thị Điểm lại có được sức nghĩ sâu rộng, sáng suốt và táo bạo đến thế. Luận giải của Đoàn Thị Điểm về thời thế cũng chính là những điều mà quan thượng thư bận tâm suy nghĩ. Dường như không phải Đoàn Thị Điểm bàn luận nghĩa sách mà bàn về việc nước, thổ lộ niềm tâm sự thầm kín bấy lâu ấp ủ cùng ông. Hơn thế, đã đọc được lòng ông. Thật thế, kể từ khi Trịnh Giang lên ngôi chúa, mọi việc Giang nhất nhất nghe bọn hoạn quan Hoàng Công Phụ, ghẻ lạnh các đại thần có năng lực.

      Nghĩ cảnh mình và chứng kiến hàng loạt việc làm thất nhân tâm của Trịnh Giang, Lê Anh Tuấn lo buồn đến quên ăn mất ngủ. Trong tâm trạng ấy, nghe con nuôi luận về thời cuộc, quan Thượng sửng sốt vì không phải ai khác, chính là con ông đã bộc bạch những điều ông nung nấu, những điều bao lâu ông dấu kín trong lòng.

      - Chẳng hay những điều con lạm bàn đã làm phiền lòng cha? Đoàn Thị Điểm thấy quan thượng thư đâm chiêu nên rụt rè hỏi, cha đã chẳng cho phép con nói đó sao?

      Nghe tiếng hỏi, thượng thư Lê Anh Tuấn trở về thực tại. Ngắm nhìn khuôn mặt thanh tú, linh lợi của con, quan Thượng thở dài nói:

      - Phải là người thông tuệ xuất chúng, lại phải là người nặng lòng ưu ái thương dân, thì ở tuổi con, mới có được những lời bàn xác đáng như thế. Nhưng con đã không gặp thời, cũng như cha đã hết thời mất rồi.

      Đến lượt Đoàn Thị Điểm sửng sốt.

      - Thưa cha! Cha nói gì con không hiểu.

      Thượng thư Lê Anh Tuấn thấy không thể giấu con:

      - Xưa nay trong nghiệp trị nước, được người hiền giúp thì nước thịnh, mất người hiền thì nước suy. Đó là lẽ thường. Nay chúa ghét bỏ người cao minh viễn kiến mà tin dùng bọn nịnh thần thì trách sao khỏi suy loạn? Sớm muộn rồi họa cũng đến với gia đình ta.

      Chỉ ngần ấy lời thôi nhưng Đoàn Thị Điểm hiểu được tai họa của cha đã đến gần.

      Đoàn Thị Điểm rơm rớm nước mắt.

      - Người ta lúc thế này, lúc thế khác; họa phúc thật khó lường. Nhưng đối với người cả đời vì dân mà mưu điều lợi, bỏ điều hại như cha, lẽ nào kẻ quyền thế dám ngang nhiên giày xéo lên công luận?

      Giọng quan Thượng đượm buồn:

      - Kẻ bạo ngược muốn giết một thuộc hạ thì thiếu gì cách êm thấm. Cha đã nghĩ kỹ rồi nhưng chưa tiện nói. Đến lúc con phải về quê nhà. Cha không muốn vì cha con phải liên lụy. Đời con còn dài, trong hoàn cảnh nào cũng phải giữ chí khí.

      Đoàn Thị Điểm ngước nhìn quan Thượng, thành kính:

      - Cầu cho cha tai qua nạn khỏi. Con sẽ không phụ lòng cha.

      Đoàn Thị Điểm không ngờ đó là buổi đàm đạo với cha nuôi lần cuối cùng.

      Chỉ mấy ngày sau, trong lúc Đoàn Thị Điểm còn lưu luyến chưa vội trở về quê nhà thì thượng thư Lê Anh Tuấn bị Trịnh Giang giáng chức, đẩy đi làm đốc trấn Lạng Sơn. Trở về quê nhà ít lâu Đoàn Thị Điểm kinh hoàng được tin: Thượng thư Lê Anh Tuấn, người có nhiều công trong thời Trịnh Cương, đã bị Trịnh Giang buộc phải uống thuốc độc tự tử ở trấn thành Lạng Sơn.

      Ngay sau khi rời khỏi dinh quan thượng thư Lê Anh Tuấn trở về quê nhà, gia đình Đoàn Thị Điểm đã trải qua những ngày lo âu căng thẳng. Không lạ gì những việc làm độc ác của chúa Trịnh Giang, nhất là xung quanh Trịnh Giang còn cả một bọn bộ hạ mất hết tính người, Đoàn Thị Điểm khuyên cha di cả gia quyến đi nơi khác, phòng hậu họa. Khi mối lo đã qua đi và sự nghèo đói không còn từng ngày thúc bách, Đoàn Thị Điểm bình tâm trở lại. Nỗi tiếc thương quan Thượng, sự bất bình trước việc làm hèn hạ của chúa khiến cho Đoàn Thị Điểm như cảm thấy ước mơ của mình bị sụp đổ, số phận mình cũng mỏng manh, ngắn ngủi như ráng đỏ chiều hôm. Để ghi nhớ cái kỷ niệm đau buồn bao hàm nỗi thất vọng về thời thế, Đoàn Thị Điểm tự đặt cho mình hiệu là Hồng Hà.

      Năm tháng trôi đi, bằng sự tiếp xúc rộng rãi, cởi mở với mọi người, vốn sống của Đoàn Thị Điểm cũng dày nhanh như những trang sách đã đọc. Sự hiểu biết ấy như bổ sung cho vốn học uyên thâm và tay bút tài hoa, khiến Đoàn Thị Điểm có thể diễn đạt được những nguyện vọng, ước mơ của con người, nỗi khát khao cuộc sống của tuổi trẻ. Đoàn Thị Điểm suy nghĩ về thế nước. Theo nữ sĩ, nước đã thiếu bậc minh quân, thiếu những lương thần ắt sinh loạn lạc. Đoàn Thị Điểm se lòng khi thấy loạn ly như một thứ bệnh dịch không phương cứu chữa.

      Cũng bởi ấp ủ những hoài bão giúp dân dựng nước. Đoàn Thị Điểm nẩy ý định viết sách để bày tỏ chính kiến, gởi gấm những tâm sự của mình. Nữ sĩ muốn mượn nét bút để khẳng định người đàn bà dù ở thời nào cũng có tài năng, hiểu việc trị nước và sẵn lòng sinh tử cho đại nghĩa. Ý nghĩ ấy thôi thúc Đoàn Thị Điểm nhanh chóng bắt tay vào công việc. Một mẫu người đàn bà tài hoa biết lo cho vận nước, sẵn lòng chết vì nghĩa lớn đã được dàn dựng. Truyện lấy tên "Hải khẩu linh từ" (Đền thiêng ở cửa biển) kể về nàng Bích Châu cung phi của vua Trần Duệ Tông. Nàng đã dám dâng lên vua bản điều trần gồm có mười điều gọi là "Kệ minh thập sách" đại ý khuyên vua năng giữ gìn cỗi gốc của nước, trừng trị bọn quyền thần nhũng lạm, cổ động nho phong và chỉnh đốn quân đội. Và nàng sẵn sàng hy sinh thân mình để giữ tính mạng cho vua và các chiến truyền. Đoàn Thị Điểm thận trọng đọc lại đoạn viết về bản điều trần:

      - "Một là nâng giữ cỗi gốc của nước trừ hà bạo thì lòng người yên vui.

      Hai là giữ nếp cũ bỏ phiền nhiễu thì kỷ cương không rối.

      Ba là nén kẻ quyền thần để ngăn ngừa chính sự mục nát.

      Bốn là thải bớt những kẻ nhũng lạm để trừ tệ khoét đục của dân.

      Năm là sinh cổ động nho phong...

      Sáu là mở đường cho người nói thẳng...

      Bảy là kén quân nên chú trọng dũng lược..
      Tám là chọn tướng nên cần người thao lược mà không căn cứ vào thế gia.

      Chín là khí giới quý hồ bền sắc không chuộng hình thức.

      Mười là trận pháp cốt cho chỉnh tề..."

      Đọc lại "Kệ minh thập sách" Đoàn Thị Điểm mỉm cười hài lòng. Phấn chấn Đoàn Thị Điểm bắt tay viết tiếp truyện "Long hổ đấu kỳ" (Rồng và hổ tranh nhau về tài lạ) ngầm ý đề cao kẻ hiền tài, vạch mặt kẻ tham quan gian ác hiểm độc. Mượn lời đạo sĩ chứng kiến cuộc tranh cãi giữa rồng và hổ, nữ sĩ muốn khuyên mọi người phải bắt chước rồng làm mưa, làm gió, bổ ích cho thế gian, chớ nên bắt chước hổ giơ nanh múa vuốt cắn lại loài người.

      Đoàn Thị Điểm đã đưa hai truyện ấy cho cha và anh đọc. Hiểu con gái có chí lớn nhưng Đoàn Doãn Nghi chỉ thở dài, nói nhỏ với con:

      - Con làm chuyện xúc tích lắm. Nhưng ở đời mấy ai làm được điều mình nghĩ. Lạ thay, chỉ có những người chịu cảnh nghèo, không may mới hay nghĩ được những điều sáng suốt.

      Giữa những ngày Đoàn Thị Điểm say mê đi sâu tìm hiểu đời sống và con người, ôm ấp hoài bão viết sách răn đời thì một biến cố xảy ra, làm đảo lộn những suy tính của nữ sĩ. Ông đồ Đoàn Doãn Nghi sau một trận ốm dài ngày, đã qua đời. Cái chết của cha chẳng những để lại cho Đoàn Thị Điểm một vết thương lòng khó hàn gắn, mà gia đình cũng mất một chỗ tựa vững chắc tin cậy. Đã thế, thuốc thang, ma chay cho cha khiến gia đình Đoàn Thị Điểm khánh kiệt.

      Mấy năm sau, một bất hạnh khác lại đến với Đoàn Thị Điểm, Đoàn Doãn Luân không may mất sớm, để lại mẹ già, người vợ vụng về và hai cháu nhỏ. Lo cho anh mồ yên mả đẹp, Đoàn Thị Điểm bước vào những năm khó khăn thử thách vượt quá sức mình. Cho đến sau này, Đoàn Thị Điểm cũng không biết sức mạnh nào khiến cho mình có đủ bình tĩnh và nghị lực để đương đầu với khó khăn, cáng đáng của gia đình qua khỏi những trận đói khủng khiếp.

      Nhưng Đoàn Thị Điểm vẫn chẳng được yên. Nhan sắc, tài năng, đức hạnh của nữ sĩ vẫn là một miếng mồi hấp dẫn những kẻ quyền cao chức trọng, học vấn nông cạn nhưng lại thích tiếng tăm. Một hôm Đoàn Thị Điểm đang ngồi dạy các cháu học ở dưới nhà ngang, bỗng có một đoàn hơn sáu mươi trai tráng, rước theo một chiếc kiệu xồng xộc ập vào nhà. Ngơ ngác chưa hiểu duyên cớ, Đoàn Thị Điểm thấy một người trạc ngũ tuần, mày râu nhẵn nhụi, mặc phẩm phục đại thần, từ trên kiệu bước xuống, tiến vào nhà, vái mẹ Đoàn Thị Điểm, xin nộp đồ sính lễ cưới Đoàn nữ sĩ. Vốn thông minh, Đoàn Thị Điểm bỗng hiểu nỗi nguy khốn sắp chụp lên đầu mình. Viên đại thần ấy chính là Bỉnh Trung Công Vũ Tất Thận, em bà Vũ Thái Phi mới đổi tên là Trịnh Thể tháng trước, đưa người đến mai mối muốn lấy nữ sĩ làm kế thất. Việc Đoàn Thị Điểm khước từ tưởng đã xong. Nào ngờ, hắn lại cậy quyền thế toan lấy thịt đè người nỡ ép liễu nài hoa. Trong lúc tuyệt vọng, Đoàn Thị Điểm bỗng nảy ra một kế. Nữ sĩ vội mặc chiếc áo rách đã vá nhiều miếng, kín đáo lách ra sau bếp, lấy đất bùn bôi lên khắp mặt mũi, quần áo rồi điềm tĩnh xách chiếc gầu ra khỏi cổng. Sau cả buổi sục tìm không thấy nữ sĩ họ Đoàn, Bỉnh Trung Công ra lệnh cho lính tráng bắt mẹ Đoàn Thị Điểm về kinh. Hắn tính bằng cách ấy, vì thương mẹ, Đoàn Thị Điểm sẽ phải tìm đến, thuận lòng lấy hắn. Nhưng Bỉnh Trung Công lần nữa tỏ ra không hiểu sĩ khí của bậc tài nữ. Đã hơn một tháng Đoàn Thị Điểm vẫn không tìm đến dinh hắn, chịu nộp mình cho tên dâm đãng. Trong lúc ấy, xúc phạm đến Đoàn Thị Điểm tức là xúc phạm đến một tài nữ được nhân dân hâm mộ, Bỉnh Trung Công đã bị dư luận phỉ nhổ. Không chịu được búa rìu dư luận công kích nên cực chẳng đã Bỉnh Trung Công phải lấy lễ hậu vớt vát cho uy tín mình, rồi đưa trả mẹ Đoàn Thị Điểm về nhà.

      Sau việc khẳng khái cự tuyệt Bỉnh Trung Công, tên tuổi Đoàn Thị Điểm với thái độ cam chịu cảnh nghèo, quyết chống lại cường quyền, đã trở thành niềm tự hào của dân chúng và án một tấm gương cho giới thi nhân. Tuy vậy, không mơ hồ về phẩm chất xấu xa của những tên quan lại tham tài háo sắc, nên nhân có người con gái ở Sài Trang được chúa sủng ái muốn đón Đoàn Thị Điểm vào cung dạy dỗ, Đoàn Thị Điểm đã nhận lời. Nhờ việc dạy dỗ các cung nhân, Đoàn Thị Điểm có dịp hiểu rõ tâm sự chán chường, nỗi lòng u uẩn của những thiếu nữ phải chôn vùi tuổi xuân trong cung cấm, để ngày đêm phục dịch hầu hạ mọi ý thích của chúa. Đoàn Thị Điểm se lòng khi nhìn những cô gái xinh đẹp, thông minh ăn vận như những nàng tiên, đã sớm phải chịu bất hạnh, bị lãng quên trong nỗi cô đơn buồn tẻ. Hiểu ước nguyện của các cung nữ tràn đầy sức sống, bằng trái tim tuổi trẻ của mình, bằng vốn sống tích lũy được bao năm và bằng cả sự rung cảm của tâm hồn mình, Đoàn Thị Điểm đã thai nghén hàng loạt đề tài về tình yêu và quyền sống của người phụ nữ. Sống giữa triều đình Lê Trịnh, chứng kiến những diễn biến của thời cuộc, Đoàn Thị Điểm không ít chuyện để viết. Cầm lại bút sau bao năm vì hoàn cảnh phải xếp lại, Đoàn Thị Điểm đã nhiều đêm thức trắng để hoàn thành liên tiếp chuyện "Vân cát thần nữ" và "Bích câu kỳ ngộ", để bày tỏ, gửi gắm tâm tư của mình và khích lệ chị em phụ nữ.

      Sớm nhận ra các cung nhân không còn ngoan ngoãn trong khi hầu hạ mình như trước, chúa Trịnh tuy không có cớ để bắt tội Đoàn Thị Điểm nhưng đã buộc nữ sĩ phải rời cung, trở về quê nhà. Đoàn Thị Điểm đi rồi nhưng các cung nhân vẫn chẳng thể nào quên bậc tài nữ đã hiểu lòng họ và vẫn tìm mọi dịp để kể cho nhau nghe về những truyện Đoàn Thị Điểm đã viết ở đó.

      Trở về quê làng Chương Dương vui với nghề dạy học và những tưởng lửa lòng đã tắt thì mối tình nồng nàn, thiết tha của tiến sĩ Nguyễn Kiều đã làm cho Đoàn Thị Điểm bối rối cảm động. Yêu người tài, trọng vì đức, nhất là biết quan thị lang Nguyễn Kiều sắp phải đi sứ, bốn đứa con dại không người chăm nom, Đoàn Thị Điểm đã xiêu lòng.

      Trở thành vợ tiến sĩ Nguyễn Kiều cuộc đời Đoàn Thị Điểm bước sang một trang mới. Dù những ý nghĩ về cuộc sống vẫn nặng nề như bản thân cuộc sống, nhưng gặp được người chồng tâm đầu ý hợp, lại phải bận rộn cáng đáng gánh nặng gia đình, Đoàn Thị Điểm hầu như không còn thì giờ suy nghĩ cho riêng mình. Nhưng hạnh phúc gia đình vừa nhóm lên đã lại phải chia ly. Ngay sau tuần trăng mật, khi những cuộc vui xướng họa của cặp vợ chồng hay chữ chưa thành lệ thì tiến sĩ Nguyễn Kiều đã phải cầm đầu phái đoàn đi Bắc sứ. Mối tình muộn mằn nhưng không kém nồng thắm của Đoàn Thị Điểm, bởi vậy, đã lại xa xôi như một nỗi nhớ. Yêu chồng, Đoàn Thị Điểm đã dành trọn tình cảm của mình chăm sóc, dạy dỗ bốn đứa con riêng của chồng. Chỉ đêm đến, dưới ánh đèn khuya nữ sĩ mới lặng lẽ dõi theo bước đi của chồng trong nỗi lo lắng, buồn thương xen kẽ. Tình yêu thương nồng đượm, chân thành ấy đã khiến cho Đoàn Thị Điểm có một nguồn cảm hứng đặc biệt. Bằng nỗi xúc cảm mạnh mẽ ấy. Đoàn Thị Điểm viết chuyện "Am ấp liệt nữ" có mang bóng dáng mình. Cốt chuyện đơn giản nhưng nó được dệt bằng tình yêu thương rộng lớn, nên kết cục bi thảm mà người đọc vẫn có một ấn tượng đẹp về một mối tình đẹp.

      Đọ lại những trang bản thảo sau nhiều lần sửa chữa, Đoàn Thị Điểm vẫn chưa hết xúc động. Cố ý tô đậm cuộc sống cô đơn, buồn tẻ của Đinh phu nhân, để Đinh phu nhân hết lo cho chồng "Chiếc xe lăn lộc cộc nơi chân trời xanh biếc đầy những cát lầm" "Lại lo cho tuổi trẻ của mình chóng qua" "Tuổi thanh xuân chạy nhanh như bóng mặt trời nhấp nhoáng" và khát khao mong chồng trở về. Đoàn Thị Điểm đã gài được thâm ý coi thường mệnh lệnh của vua Lê chúa Trịnh, xem thường công danh, coi thường lễ giáo đương thời.

      Đoàn Thị Điểm vừa đóng, xén xong tập truyện của mình thì một gia nhân vào báo có quan ngự sử Đặng Trần Côn đến thăm. Nghe cái tên quen quen, Đoàn Thị Điểm sực nhớ ra người học trò đã từng ra mắt mình gần mười năm trước nay đã làm quan to nên thoáng bối rối.

      Đáp lại lời chào của vị quan trẻ, đẹp trai, có gương mặt thông minh, Đoàn Thị Điểm cố lấy giọng tự nhiên:

      - Quan ngự sử có nhã ý đến thăm gia đình chúng tôi, thật là hân hạnh.

      - Thưa Tôn phu nhân, Đặng Trần Côn theo chủ nhà bước vào phòng khách, giọng cởi mở, về tuổi đời, cả về nghề nghiệp văn chương tôi chỉ đáng mặt học trò. Xin Tôn phu nhân chớ khách khí.

      Sau một tuần trà, Đặng Trần Côn ân cần rút từ tay áo mình tập sách đã đóng xén công phu, trao cho Đoàn Thị Điểm giọng cung kính:

      - Bấy lâu xa cách nhưng tôi vẫn một lòng bái phục tài thơ và vốn học vấn uyên thâm của Tôn phu nhân. Nay nhân làm được tập sách này tôi muốn Tôn phu nhân đọc giúp và tham góp chỉ giáo cho.

      Xúc động đỡ lấy tập sách, Đoàn Thị Điểm vội lật tờ bìa và nói như reo:

      - "Chinh phụ ngâm khúc"! Thật là cảm động cho người đầu tiên được đọc khúc ngâm này.

      Đặng Trần Côn cởi mở:

      - Tôi sẽ xin ở lại đây để Tôn phu nhân có thời giờ đọc xong và được nhận những lời chỉ dạy nhân thế?
- Nếu vậy, Đoàn Thị Điểm chỉ vào tập sách của mình, cũng xin quan ngự sử xem câu chuyện tôi mới làm, chắc quan ngự sẽ chỉ vẽ cho những chỗ còn sai sót.

      Không khí trong phòng trở nên thân mật, ấm cúng. Hai thi nhân đã bỏ qua hẳn cử chỉ dè dặt buổi đầu để chăm chú đọc tác phẩm của nhau, những tác phẩm có chủ đề gần giống nhau.

      Đặt tập "Chinh phụ ngâm khúc" trên kỷ, Đoàn Thị Điểm bùi ngùi nói với Đặng Trần Côn:

      - Thiên truyện của tiên sinh thật là hay. Tiên sinh dùng lối văn tập cổ lại dùng nhiều điển tích của thơ Đường những lời lâm ly não nuột làm héo hắt lòng người. Viết thiên truyện này là tiên sinh hiểu thấu nỗi lòng của người thiếu phụ có chồng đi trận, điều mà bấy lâu tôi vẫn hằng để tâm nghiền ngẫm.

      - Thưa Tôn phu nhân, Đặng Trần Côn hoan hỉ, chính vì biết Tôn phu nhân để tâm viết nhiều về khách má hồng buổi chinh chiến mà tôi đem "Chinh phụ ngâm khúc" tới nhờ chỉ giáo.

      - Làm được thiên truyện này chắc hẳn tiên sinh phải lao tâm khổ tứ hàng năm trời. Nhưng nếu để vậy, người thưởng thức được cái hay của thiên truyện chẳng có là bao! Tôi có ý định diễn âm tập sách này. Tôi quyết thế vì cốt truyện làm cho tôi cảm động. Và có vậy mới xứng với lòng trân trọng của tiên sinh đối với tôi.

      Đặng Trần Côn còn đang bàng hoàng xúc động trước phần thưởng đặc biệt mà Hồng Hà nữ sĩ đã dành cho mình thì đã nghe Đoàn Thị Điểm cất giọng ngâm:     
"Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm từng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này..."
      Đặng Trần Côn sững sờ kinh ngạc:

      - Tôn phu nhân đã diễn âm thanh như thần, tôi thực không ngờ được. Thiên truyện này mà được bậc khuê tú anh tài như Tôn phu nhân để tâm diễn dịch thì phải thống thiết lắm. Công ấy của Tôn phu nhân. Kẻ làm sách đã dược thơm lây.

      Bên ngọn đèn khuya, giấy bút, nghiên mực đã bày biện sẵn sàng, Đoàn Thị Điểm lại say sưa dịch sách.

      Lần giở thiên truyện và theo đuổi những diễn biến tâm trạng nhân vật, nữ sĩ không khỏi giật mình thấy Đặng tiên sinh có những suy nghĩ đồng điệu với mình. Cũng như Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm đồng tình với câu hỏi của người chinh phụ:
"... Xanh kia thăm thẳm từng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này? "
      Nhưng ai đã gây ra nỗi này? Ai gây ra nạn binh đao? Đọc suốt thiên truyện không thấy chinh phụ trả lời. Nhưng hơn ai hết Đoàn Thị Điểm hiểu thâm ý của Đặng Trần Côn: Kẻ gây ra họa binh đao ấy chính là vua chúa không còn chút tình dân. Cái chết thê thảm của thượng thư Lê Anh Tuấn chẳng phải là bài học răn đời đó sao?

      Đoàn Thị Điểm lại tiếp tục việc dịch thiên truyện. Càng dịch Đoàn Thị Điểm càng thấy tâm đắc với Đặng tiên sinh kín đáo bày tỏ thái độ mình qua lời than của Chinh phụ... Thái độ đó là vì thương chồng, nhớ chồng, vì oán ghét chiến tranh phi nghĩa, chinh phụ đã công nhiên đi ra ngoài lễ giáo, ngang nhiên giày xéo lên công, dung, ngôn, hạnh, hoàn toàn trái với đạo lý. Trút cả tâm hồn mình cho việc dịch chinh phụ ngâm, Đoàn Thị Điểm không còn chú ý đến thời khắc trôi qua. Cho đến lúc mệt mỏi muốn đi nghỉ, nữ sĩ kinh ngạc thấy trời đã sáng. Một niềm tự hào nho nhỏ thoáng đến với Đoàn nữ sĩ kể từ ngày bắt tay vào dịch chinh phụ ngâm. Đã bao đêm nữ sĩ say sưa làm việc như thế và rồi mai mốt khi dịch phần hoàn thành, mỗi lần đọc nó, người đời chắc sẽ chẳng quên ta!
Đăng nhập để trả lời
0
Phùng Hưng

Tiếng xôn xao của gia nhân từ ngoài xa vọng vào gian đại sánh đang còn tranh tối tranh sáng, đúng lúc Phùng Hưng bắt đầu uống tuần trà qua lộ buổi sớm. Thứ chè Giao Châu này rất được người hào trưởng đất Đường Lâm ưa thích, bởi cái vị đắng chát rất gắt của nó vậy mà khiến được người lắm công nhiều việc cứ mỗi ngụm trà lại thấy thêm sáng óc tĩnh tâm. Mà điều bận lòng của người hào trưởng bây giờ thì quả là nhiều vô kể. Phùng Hưng còn đang gỡ mãi chưa xong mối lo thuế má phải nộp cho Phủ đô hộ bởi cái lệnh kỳ quái của vua nhà Đường vừa bắt chuyển tất cả số thu tô, điệu, hộ của đất này thành tơ sợi để đưa về kinh đô Trường An cho triều đình Bắc phương tiện dụng, thì lại mới nhận tiếp được lệnh phải nộp thêm cống phẩm bằng đặc sản trong miền là thứ tơ tằm tám lứa! Bọn thống trị ngoại bang muốn gì mà lại cứ lấy mãi chuyện tằm tơ để làm khổ dân đất tơ tằm này?

Nỗi phiền muộn mà Phùng Hưng những mong lấy chén trà sớm làm khuây, bây giờ lại bị những xôn xao khuấy động. Người hào trưởng Đường Lâm vừa đặt chén trà, trừng mắt nhìn ra cửa thì đã thấy mấy kẻ gia nhân cùng hất tấp chạy vào:

- Thưa quan Lang, đêm qua chúa rừng lại về cõng mất con hươu sao ở ngoài trại hươu rồi!

Cơn giận của người hào trưởng Đường Lâm lập tức bùng ra. Con nghiệt súc này thật đã quá đỗi lộng hành, chẳng khác gì lũ giặc đô hộ! Mấy hôm trước, tin cọp dữ từ rừng về làng bắt lợn, giết trâu đã đến tai Phùng Hưng. Nhưng chưa tính được chuyện đối phó thì nó đã lần đến tận cơ ngơi của viên quan lang mà thách thức! Suýt làm đổ khay trà, Phùng Hưng chồm dậy, bước vội ra ngoài, đi như chạy đến khu trại hươu.

Đàn hươu nuôi lấy lộc, nép cả vào nhau bên hàng rào cao ở chân đồi, mở to những cặp mắt hiền lành còn nguyên vẻ khiếp sợ, nhìn người chủ của chúng đang vượt con dốc sau nhà, xăm xăm bước tới. Khu đất nuôi hươu này do chính tay quang lang Phùng Hạp Khanh cha của Phùng Hưng gầy dựng nên, truyền đến đời người chủ hiện nay của đất Đường Lâm thì đã trở thành một trại hươu bề thế, cùng với các trại gấu, trại khỉ, trại rắn, trại rùa... Làm nên vẻ thịnh vượng và tiếng tăm cho đất Đường Lâm.

Hào trưởng Đường Lâm chau mày cắn môi nhìn vạt rào đổ gãy và những vết chận cọp to như chiếc bát hằn sâu trên mặt đất. Con thú rừng này ắt phải lớn kinh khủng! Phùng Hưng nhướn dõi theo những giọt máu thẫm màu vương dài theo dấu cọp. Đột nhiên, khoát tay cho lũ gia nhân ngơ ngác dừng lại, Phùng Hưng nghiến răng trèo trẹo, khom người lần theo con đường cướp mồi mang đi của chúa rừng. Những vết chân cọp và từng giọt máu hươu cứ thế dẫn hào trưởng Đường Lâm ngoằn ngoèo lượn theo những vạt đồi tranh mênh mông hoang dại, lên cao xuống thấp, rồi mất hút vào dãy rừng đại ngàn phía Tây.

Lầm lũi trở về gian đại sảnh giữa làng, cả ngày hôm ấy, Phùng Hưng có dáng đăm chiêu suy nghĩ. Còn đang canh cánh việc tác yêu tác quái của lẽ quan quân đô hộ nhà Đường thì lại thêm nạn cọp dữ! Nhưng không thể để yên cho chúa rừng hoành hành được! Mà biết đâu, trừ được nạn cọp lại chẳng phải là điềm trừ được nạn giặc? Phùng Hưng loay hoay xoay tấm lưng rộng bè như cánh phản trên chiếc kỷ. Con đường mòn dẫn cọp rừng về làng với những dấu chân tròn to như chiếc bát và những giọt máu thẫm màu cứ ám ảnh mãi trong đầu. Chấm tay vào khay nước, vô tình, Phùng Hưng ngoằn ngoèo đưa ngón tay vẽ đi vẽ lại vệt đường từ rừng về trại thú, cho đến khi chợt ngước lên nhìn ra vườn, thấy đập vào mắt mình hình một thằng bù nhìn rơm đang lắc lư đuổi chim bên luống đỗ. Sáng bừng cặp mắt, Phùng Hưng chấm vội ngón tay vào chỗ ngoặt của con đường mòn vòng quanh một tảng đá gốc, mọc xù xì giữa vạt đồi tranh, vẽ trên mặt kỷ. Thế là, chiều hôm ấy, gia nhân được lệnh bện gấp một thằng bù nhìn rơm ro bằng người thật, đem vào cửa rừng, đặt ngay cạnh tảng đá ở khúc đường ngoặt ấy. Và một mặt, rào lấp thật kỹ các trại thú cùng các chuồng gia súc trong làng.

Đêm hôm ấy, cả vùng Đường Lâm đều nghe tiếng hổ gầm dữ dội ở cửa rừng. Và đến sáng ngày, khi Phùng Hưng dẫn gia nhân vượt mấy con dốc xa, ra đến chỗ ngoặt của lối đường mòn, thì đã thấy bù nhìn bị cắn xé tan tành. Rơm ra tung tóe một vùng cùng với những dấu chân cọp quần đảo. Chúa rừng quen đường về trại hươu, thấy bóng người ở giữa lối, đã chồm lên vồ xé thật dữ dội rồi chuồn mất!

Thoáng một vẻ đắc ý, Phùng Hưng hạ lệnh cho gia nhân làm tiếp một thằng bù nhìn rơm nữa, đặt đúng vào chỗ cũ. Thế là đêm ấy và cả mấy đêm sau nữa, bù nhìn rơm đều bị hổ dữ xé nát. Cho đến một sáng, gia nhân chạy vào báo tin: Cọp dữ không chạm đến bù nhìn nữa, và quanh trại hươu thì thấy đầy dấu cọp lượn vòng rình mò, nhưng may sao, chưa mất thêm con hươu nào! Phùng Hưng lại thoáng một vẻ đắc ý, truyền cho bện thêm một chiếc chùy giả, đặt vào tay thằng bù nhìn, rồi hồi hộp chờ. Đêm ấy, chúa rừng lại về quần thảo quanh trại hươu mà bù nhìn rơm cầm chùy vẫn nguyên vẹn! Cọp dữ đã rất háu đói, quên đứt mất hình người vẫn đứng vô hại trên lối mòn dẫn đến chỗ những con mồi ngon lành, mấy hôm liền đã khiếp nhược đến đờ đẫn trước tai vạ khủng khiếp đêm đêm vẫn đến lượn quanh hàng rào...

Chiều hôm đó, bầy gia nhân kinh ngạc thấy người hào trưởng Đường Lâm lặng lẽ lấy ra chùy đồng khổng lồ của cha mình, từ mấy chục năm nay vẫn cất kỹ trong rương. Đấy là cây chùy đã cùng Phùng Hạp Khanh đi theo Mai Hắc Đế dấy nghĩa năm Khai Nguyên. Người hào trưởng Đường Lâm làm lễ cúng tổ tiên, khấn vái anh linh cha mình rất lâu. Đám gia nhân càng kinh ngạc hơn nữa, khi thấy sau đấy, vào lúc trời chạng vạng, Phùng Hưng mình trần trùng trục, vớt bùn ao trát kín người, rồi vươn mình, xách cây chùy nặng, xua mọi người trở về, lẳng lặng đi thẳng về phía ngàn Tây.

Đã biết tiếng vị quan lang nghiêm nghị nên không một ai dám ngăn hỏi. Nhưng ai cũng biết là Phùng Hưng một mình đi đánh cọp. Rất nhanh, tin tức bay ngay đi khắp trong miền. Và đêm ấy, cả vùng Đường Lâm không ai dám chợp mắt.

Tất cả những trái tìm đều bỗng giật thót lên khi nghe một tiếng gầm khiếp đảm của chúa rừng từ xa vọng về. Sau đấy là một lúc yên lặng như tờ. Rồi tiếng hổ lại rống lên dữ dội.

Thế là, không ai bảo ai, từ những gian nhà rải rác khắp làng, tiếng hú hét ầm ĩ nối nhau truyền đi. Rồi những bó đuốc bật sáng rùng rùng túa ra đầu làng. Người Đường Lâm, vừa hò la, vừa đốt lửa, kéo nhau rầm rập chạy đến chỗ có tiếng hổ gầm.

Ánh đuốc lửa đỏ bập bùng dừng cả lại, soi mờ tỏ một vạt cỏ gianh nát như bên con đường mòn dẫn từ rừng về làng. Chúa Sơn lâm, soải chân nằm quị ở đấy, lù lù như một con bò mộng đã hết thở. Và trên tảng đá xù xì, Phùng Hưng trần trùng trục, chống cây chùy khổng lồ, ngồi yên lặng như tượng đồng.

- Bố cái ơi, May mắn quá chừng!

Những tiếng kêu thảng thốt bật lên. Dân chúng đã hiểu rõ chuyện! Người hào trưởng của họ vừa tự tay giết chết cọp dữ bằng cách dầm bùn cho nhạt hết hơi người, đứng thay vào chỗ con bù nhìn rơm mà chúa rừng đã quen coi thường, bất ngờ đón đường đi qua của cọp dữ để giáng cho nó những quả chùy sấm sét! Những tiếng reo hò mừng rỡ dậy cả một vùng bãi vắng trong đêm khuya. Lập tức, Phùng Hưng được mọi người rầm rộ rước về làng, cùng với thân xác cồng kềnh của chúa rừng đã bị hạ thủ.

Tin vui từ đấy đồn xa mãi. Người khắp nơi không ngớt kéo tới xem thây chúa rừng và trầm trồ chúc tụng người anh hùng đánh cọp. Cho đến hôm có một người khách mảnh mai nhỏ nhắn, khăn áo còn phủ đầy bụi đường trường, mệt mỏi mà vẫn lanh lợi, từ ngoài ngõ bước thoăn thoát vào sảnh đường.
Đỗ Anh Hàn tiên sinh! Phùng Hưng vừa nhận ra khách đã hồ hởi reo to Lâu nay tiên sinh ngao du tận những đâu mà hình bóng vắng bặt trong làng?

- Xin chúc mừng, quan lang vừa trừ được cọp dữ Đỗ Anh Hàn vui vẻ đáp lời Phùng Hưng và ghé tai hạ giáng tiếp ngay Tôi có tin mới ở Phủ đô hộ mang về cho quan lang đây!

Phùng Hưng đổi nét mặt, nắm tay Đỗ Anh Hàn, kéo đến bên bàn trà. Và cuộc chuyện trò kín đáo diễn ra ngay giữa những chén qua lộ đắng chát.

- Núi sông chìm đắm, tôi đã đi đủ miền đất nước mà đâu đâu cũng thấy tiếng than vãn vì nỗi giặc lấn lướt Đỗ Anh Hàn theo cặp mắt tinh nhanh, trầm giọng mở đầu cây chuyện Lũ quan quân đô hộ càng già tay vơ vét, càng khiến lòng người căm giận. Mà bề ngoài thì giặc có vẻ hùng hổ như thế nhưng bên trong lòng dạ cũng đã thấy run. Kinh lược sứ Trương Bá Nghi đang ráo riết vét gỗ bắt phu xây đắp lại tòa phủ thành Tống Bình. Việc thổ mộc xem ra quy mô rất lớn, nên việc nhiễu dân cũng vô kể. Chẳng phải đấy là dấu hiệu lo sợ bị đánh úp đó sao?

Người hào trưởng Đường Lâm yên lặng lắng nghe lời kể thầm thì của Đỗ Anh Hàn và nhận ra ngay cái ý sâu kín của con người nổi tiếng trí lưcï trong miền. Đỗ Anh Hàn muốn nhắc nhở, thúc giục ta! Chí hướng của ta hẳn là người đã rõ. Bấy lâu nay theo ý cha ta, ra sức gầy dựng miền đất này, nén chịu sự thúc bách của bọn đô hộ, ta đâu có lúc nào nhãng việc tìm lựa thời cơ... Phải chăng thời cơ bây giờ đã đến? "

Thấy Phùng Hưng nín lặng nhưng cặp mắt thì đảo lộn, long lanh, Đỗ Anh Hàn sôi nổi tiếp ngay:

- Nghe tin quan lang khổ công tìm ra kế lạ để tự tay giết được cọp dữ, trừ hại cho dân, đâu đâu cũng lấy làm khâm phục. Tôi đi khắp chốn đều thấy dấu hiệu lòng người hướng về quan lang mà trông đợi. Người ta ai cũng muốn quan lang làm sao trừ luôn được nốt cho dân cái nạn cọp dữ mặt người đang tàn hại sinh linh đất nước kia!

"Thật là khéo lời! Mà cũng hiểu đúng ý ta muốn lấy việc tự tay giết cọp để gây thêm thanh thế" Phùng Hưng nhìn Đỗ Anh Hàn, xúc động nghĩ nhanh "Con người này xứng tài quân sư một khi ta xướng lên việc nghĩa!"

Và để thay lời đáp, Phùng Hưng tin cẩn đặt bàn tay to bè của mình lên bàn tay thon nhỏ của Đỗ Anh Hàn, nắm chặt.

Từng đoàn người chạy loạn bế bồng dắt díu nhau từ các làng Giao Châu chạy lên Phong Châu, ghé qua hoặc xin trú chân lại ở Đường Lâm. Những vẻ mặt đã u ám, võ vàng vì lo thuế, lo ăn, bây giờ lại nhớn nhác, xác xớn vì nỗi sợ giặc biển. Các cụ già run tay hơ trên ngọn lửa củi rừng, đảo mắt nhìn quanh rồi mới dám nói đến những cái tên kinh hoàng: Giặc Chà Và, Côn Luân!

Giống người khác lạ này đây ở mãi xa ngoài biển khơi. Da đen như đồng hun, tóc quăn như râu ngô, chúng ùn ùn cưỡi những chiếc thuyền buồm khổng lồ ập vào đất liền như những cơn bão lốc. Bọn quan quân đô hộ nhà Đường ngày thường hùng hổ bao nhiêu, thì bây giờ lại khiếp nhược bấy nhiêu. Quân nào tướng ấy, hấp tấp hãi hùng rúc cả vào trong các thành lũy cố thủ, để mặc cho dân chúng các làng đồng bằng, ven biển rơi vào cảnh tai ương chết chóc. Tang tóc long ra trên các làng Giao Châu, mà rồi phủ thành Tống Binh cũng không tránh khỏi bị vây hãm. Quân Chà Và, Côn Luân tập hợp đội ngũ, tiến đánh Tóng Bình dữ dội đến mức Kinh lược sứ Trương Bá nghi phải cuống cuồng viết thư cầu cứu Hiệu úy châu Vũ Định Cao Chính Bình mau mau đem quân về tiếp viện. Từ mạn trên, có tin Cao Chính Bình sắp đưa quân Đường về đánh quân Chà Và, Côn Luân ở đồng bằng Giao Châu. Tai họa chém giết giữa các bọn giặc cướp còn chưa biết đâu mà lường hết được!

Vừa nghe tin náo loạn ấy, hào trưởng Đường Lâm đã vội cho vời ngay Đỗ Anh Hàn. Thì cũng vừa đúng lúc con người đa mưu túc trí ấy đang trên đường tìm đến tòa sảnh đường của Phùng Hưng.

Trên vách sảnh đường, bộ da vần vèo của chúa rừng bị hạ bữa trước căng rộng bốn chân, chúc đầu xuống đất. Đỗ Anh Hàn lẳng lặng nhìn ngắm con thú hồi lâu rồi nhếch mép cười với Phùng Hưng:

- Lũ cọp dữ mặt người bây giờ cũng đang có cái thế chui đầu vướng chân như thế này rồi đấy. Không nhân lúc này mà khởi sự thì còn chờ lúc nào nữa?

- Quân sư nói rất hợp ý ta!

Lần đầu tiên, Phùng Hưng xưng hô với Đỗ Anh Hàn theo cách ấy. Và họ Đỗ hiểu rằng đó là một lời chính thức tặng phong cho mình. Cảm kích, Đỗ Anh Hàn vòng tay nói với Phùng Hưng:

- Dấy nghĩa không thể không có quân đội. Gia nhân và trai tráng trong làng, xin hãy cho họp lại làm cái vốn đầu tiên. Sau đấy, việc chiêu một quân sĩ sẽ trong vào việc huy động dân binh trong các làng chạ quanh miền. Muốn thế, phải trước hết có người đứng đầu quân ngũ. Xin quan lang từ nay nhận cho chức Đô quân.

Lá cờ nghĩa lập tức đước kéo trên tòa sảnh đường. Tung bay cùng bóng cờ là những âm vang của chiếc trống đồng khổng lồ báu vật truyền đời của dòng họ Phùng ở Đường Lâm mà sau cuộc ứng nghĩa không thành của Phùng Hạo Khanh, đã phải bí mật đem chôn giấu để tránh giặc đến cướp. Chính báu vật ấy, bây giờ lại vừa được Đô quân Phùng Hưng cho lệnh đào lên, để nổi lại những hồi trống dấy binh hào hùng của cha ông. Đám gia nhân đông đúc của hào trưởng Đường Lâm bấy lâu nay đã được lệnh của vị quan lang tài trí, bí mật luyện rèn võ nghệ, bây giờ nhanh chóng tập hợp thành đội ngũ. Làng Đường Lâm, cũng như trăm ngàn làng chạ người Việt khác, từ cổ vẫn có lực lượng dân binh kén lựa trong số tráng đinh của làng. Quan quân nhà Đường, từng coi việc ấy như cái gai trước mắt, rắp tâm nhổ đi cho bằng được. Nhưng, không thể bỏ cổ lệ lấy cớ giữ mình để chống cự trộm cướp, các làng xã vẫn cứ tìm mọi cách duy trì lực lượng dân binh của mình. Và bây giờ thì những tay gậy gộc cung nỏ ấy, thấy nổi lên hiệu cờ và tiếng trống của người Đô quân mà họ vẫn hằng ngưỡng mộ, lập tức tụ hội về Đường Lâm như mây trời trước bão lớn.
Khắp các triều đồi ven Đường Lâm, sóng người rừng binh khí nhấp nhô, cuồn cuộn. Tiếng hò reo từng đợt từng đợt rộ lên, như muốn nâng bổng cả vòm trời đầy mây chì đang là là sà thấp trên đồi gò, đồng bãi. Đi khắp một lượt quận ngũ đủ miền, nhìn tận mắt bắt tận tay những chiến binh tinh nhuệ, sục sôi, trung dũng, Phùng Hưng bừng bừng hào khí, giật phăng tấm áo khoác rộng, vươn tấm thân đồ sộ, bước lên nền đất đắp cao giữa các hàng quân đang trải kín xung quanh.

Tiếng reo hò cùng tiếng trống chiêng lại dậy lên đến vỡ trời, như thể bù lại cho chuỗi ngày phải sống ngậm miệng nín hơi vừa qua. Những người tụ nghĩ dưới cờ Đô quân Phùng Hưng hôm nay đều biết rằng khắp miền gần xa làng chạ, cha mẹ, vợ con họ lúc này đều trông ngóng cả về đây. Có còn thuế má cống nạp nữa không, có còn sách nhiễu nạt nộ nữa không, có còn đói rét lo âu lo âu nữa không bây giờ là do cuộc dấy nghĩa này định đoạt. Chỉ vừa mấy hôm trước, tất cả vẫn đang còn là cảnh triền miên chìm đắm và hồi hộp đợi chờ. Vậy mà giờ đây, cơ man nào là người và vũ khí tụ hội lại, đã dấy lên cả một sức mạnh dời non lấp biển mà xưa kia ai ai cũng chỉ dám thầm mơ ước. Càng thêm tin phục biết bao ở người Đô quân tài trí đã khiến cho mơ ước của nhân dân thành được sự thực, bây giờ đang sừng sững đúng cao giữa biển người kia!

Biển người cứ thế mà hò reo cho đến khi giọng nói sang sảng như chuông đồng của Phùng Hưng cất lên. Nhưng những âm thanh sôi động chỉ lắng xuống để lại trào dâng. Bởi vì từ cửa miệng vị hào trưởng Đường Lâm mà bao người trông đợi, lệnh dấy nghĩa chống giặc đã ban ra. Tiếp đấy, đội ngũ tiền hậu tả hữu cũng được chia phân rành rọt, phép tắc động tĩnh tiến lui cũng được định rõ. Và sau cùng, những chóe rượu khao quân cũng đã được phân phát đến từng hàng đội, để nghĩa binh và Đô quân cùng nhau ăn thề: Một lòng chung sức đánh giặc đến cùng mà giữ đất, cứu dân!

Đám nghĩa quân vòng trong vòng ngoài chen lấn nhau mà tròn mắt nhìn, nhịn cả thở. Giữ vòng người, một chàng trai vạm vỡ thấp lùn, bắt thịt nổi lên cuồn cuộn, đang khom người giữ để sục hai cánh tay gân guốc xuống chân một tảng đá mọc trồi lên trên mặt đồi như một chiếc thạch bàn lì lợm, cục mịch. Tảng đá từ từ lay chuyển rồi đột nhiên, sau một tiếng thét lớn của chàng trai, vụt bốc lên khỏi mặt đất. Vòng người xô nhau chạy dạt cả về phía sau, khi thấy chàng trai lực sĩ đỏ bừng khắp mặt mày, mình mẩy, nâng cao tảng đá trên đầu, huỳnh huỵch bước thẳng về phía trước. Lại một tiếng thét váng trời nữa. Tảng đá khổng lồ từ cánh tay lực sĩ bay xuống sườn đồi rồi ầm ầm lăn tuột xuống vực. Chàng trai hể hả huýnh tay, ngẩng mặt, lắc lư bước trở về chỗ đám đông đang nhảy cả lên mà lo hét, reo hò.

Phùng Hưng từ nãy cũng nín thở hồi hộp theo dõi cử động của chàng trai, bây giờ vừa cười lớn, vừa bước rồi, vỗ mạnh vào tảng vai lực sĩ của người vác đá:

- Giỏi lắm! Em ta mới lớn mà đã sớm có sức khỏe tuyệt trần, xứng đáng từ nay được sử dụng cặp chùy gia bảo của dòng họ Phùng ta!

Khuôn mặt trẻ măng, giống Phùng Hưng như tạc, rạng rỡ trước lời khen của người chủ tướng nghĩa quân và cũng là của người anh lớn trong nhà Phùng Hải vừa toan nói lời cảm tạ thì bỗng nín bặt, đổi sắc, chỉ tay về phía ngọn đồi xa ở phía Nam. Một làn khói đen đang quằn quại từ đấy bốc lên cao dần. Và từ đấy chiếu thẳng ra xa nữa, lại thêm một cột khói mờ mờ cũng đã bay lên tự bao gờ rồi. Có giặc! Hiệu khói từ các trạm viễn tiêu báo về cùng một lúc với hiệu trống cấp báo giật giọng nổi lên ở chòi canh trước quân doanh Đường Lâm.

Vào ngay cuộc họp bàn kế sách chống giặc giữa quân doanh, Phùng Hưng trầm ngâm lắng nghe giọng nói rành rẽ của Đỗ Anh Hàn:

- Cao Chính Bình là một thằng giặc cáo già. Công đầu đánh giặc Chà Và, Côn luân năm trước là của hắn. Chẳng thế mà hoàng đế nhà Đường đã phong ngay cho hắm chức kinh lược sứ đô hộ đất này thay Trương Bá Nghi. Tên kinh lược sứ này thừa biết Đô quân đã nhân lúc hắn bận tay đối phó với Chà Và, Côn Luân để mà nổi dậy. Nhưng từ bấy nay, đã biết tin ra dấy nghĩa ở đây, mà lại đợi tới giờ mới đem quân đánh, rõ là tên này có bản lĩnh thận trọng. Hắn muốn nghe ngóng, sửa soạn quân mã cho chu đáo...

- Quân sư chớ có quá khen tướng giặc Giọng nói oang oang nóng nảy của Phùng Hải chợt cắt ngang lời bàn của Đỗ Anh Hàn Tôi tuy bất tài cũng xin mang chùy đem quân ra phá giặc ngay trước trận để Đỗ tiên sinh coi! Liệu sức vóc nó có bằng được tảng đá ở ngoài đồi kia không?

- Em ta không được ăn nói bộp chộp Bàn tay to nặng của Phùng Hưng lần này nghiêm nghị đè lên vai Phùng Hải Đánh giặc không phải như vác đá. Đỗ quân sư nói phải đó! Tên cáo già Cao Chính Bình lần này thân dẫn quân tới đây, tất đã có ý dùng hùng binh để trừ quân ta. Nhưng ta cũng đã có cách không cho nó đắc ý lộng hành...

Kế sách đánh giặc của Phùng Hưng được hoạch định liền ngay đấy. Trong khi ấy, Cao Chính Bình vẫn điềm nhiên xuống lệnh cho cánh quân từ Tống Bình đi đánh Đường Lâm của hắn chỉnh tề độ ngũ, trống dong cờ mở, dàn hàng tràn thẳng tới quân doanh của Phùng Hưng.

Đột nhiên, từ hàng tiền quân có tin báo về cho tên quan Đô hộ: đường vào Đường Lâm đã bị tắc. Kinh ngạc, Cao Chính Bình vội truyền phái thám mã đi xem hư thực, thì lát sau cũng lại được báo tin đúng là không thấy lối tiến binh nữa. Bởi vì con đường lớn xuyên qua dải rừng già bạt ngàn vây quanh Đường Lâm, bỗng nhiên bị cây cối đổ ngã, rong rào ngổn ngang, lấp kín mất ngả đi ngay từ chổ cửa rừng. Cao Chính Bình bực bội hạ lệnh dừng quân, rồi sai lùng tìm ngay trong các làng mạc xung quanh, kiếm người hướng đạo. Nhưng tên Kinh lược sứ lại chỉ nhận được tin báo: Khắp các làng chạ trong miền đều vắng ngắt cư dân và đều đã vít chặt các ngõ vào!

Giận dữ điên người, tên Kinh lược sứ gian ác lập tức xuống lệnh đốt sách các cứ điểm chống đối ấy để bắt dân ra hàng. Nhưng trả lời Cao Chính Bình, chỉ có tiếng lửa réo ù ù và tiếng nổ đùng đùng của tre nứa bị đốt, hệt như trăm ngàn tiếng thét mắng phẫn nộ, mà tuyệt nhiên không có lấy một người dân ào ra mặt. Tên quan đô hộ trầm ngâm ngẫm nghỉ một lúc rồi bỗng phá lên cười sằng sặc: Quân man hoảng sợ trước sức mạnh của lính Phủ đã bỏ chạy hết vào rừng ở cùng cầm thú! Vậy hãy mau tản quân vào rừng, tìm lấy đường mà tiến, bắt về cho kỳ được kẻ hào trưởng cầm đầu bọn man là Phùng Hưng!

Tên tướng giặc cáo già không còn cách nào khác, đành thi thố phép ấy, nhưng trong bụng vẫn cảm thấy nóng như lửa đốt bởi cái thế đánh kỳ lạ bắt buộc phải theo này.

Quả nhiên, tai vạ ập đến ngay với Cao Chính Bình đúng vào lúc cả đạo quân của hắn đã theo lệnh, tản mác giữa rừng già Đường Lâm như đấu muốn bỏ vào hồ nước. Cao Chính Bình chỉ còn kịp nghe được từ mãi xa vọng lại một hồi trống đồng lạ tai. Liền đó là những tiếng than khóc như ri của đám quân tướng nhà Đường từ dãy rừng đại ngàn dội ra. Đám tàn quân của Phủ Đô hộ tháo chạy ngược về, kêu la bịnh đánh ở khắp nơi trong rừng Đường Lâm: Trúng tên, trúng lao, bị đâm, bị chém và bị cả một viên tướng trẻ vạm vỡ sử dụng hai quả chùy dữ dội như tướng nhà trời, đập giáng những đòn tan thây nát mạng...

Kinh lược sức Cao Chính Bình kêu trời mà rút quân trở về Tống Bình.

Quân doanh Đường Lâm hôm nay nhộn nhịp khác thường. Đủ các hiệu cờ, sắc phục và vũ khí, cùng các giọng nói của các toán quân chen chúc nhau vào ra, đi lại. Đấy là các đoàn thân binh theo hộ vệ các tướng lĩnh của họ từ mãi xa trên miền núi phía Bắc, miền đồi phía Đông, miền rừng phía Tây, theo lệnh của Đô quân Phùng Hưng, cùng tụ hội ở Đường Lâm để một lần quyết định việc lớn. Đấy là những tên tuổi mà lâu nay, hễ cứ nghe nhắc đến là bọn quan quân đô hộ nhà Đường lại nhớn nhác mất ăn mất ngủ: Sa bà tướng quân A Gia, Đầu mục phụ tá Bồ Phá Cần, rồi thì những Triệu An, Lăng Bình, Đỗ Nhưng, Triệu Cử, Hà Toại, Lục Thành, Lưu Kiều, Thành Yển...
Tòa sánh đường cũ của Phùng Hưng bây giờ đã sửa lại thành một hổ trướng lớn. Chính giữa, vẫn vằn vè tấm da cọp dữ khổng lồ do chính tay người hào trưởng. Đường Lâm hạ thủ năm xưa. Ngồi tựa lưng vào chiếc kỷ kệ sát tấm da chúa rừng, Phùng Hưng đưa mắt nhìn một lượt khắp các hàng thủ lĩnh đã tề tựu đông đủ trong trướng hổ. Vị chủ tướng nghĩa quân giờ đã trở thành một lão tướng bạc trắng mái đầu, nhưng thời gian và lo toan vất vả vẫn không làm thay đổi được tấm thân cười tráng và dáng vẻ lẫm liệt của người hào trưởng năm xưa.

Thấm thoát vậy mà đã hơn hai chục năm trôi qua, kể từ buổi đầu dấy nghĩa đời Đường Đại Lịch, đến giờ đã sang đời Đường Trinh Nguyên. Niên hiệu nhà nhà Đường thì vẫn còn đấy, bởi ta chưa lật đổ được ách đô hộ của nó. Nhưng khắp một miền rộng lớn của đất nước này; từ Tây sang Đông trở ngược lên Bắc, quân Đường đã phải chịu mất với dân ta Giành lại và giữ vững những làng chạ quê hương khắp chốn xa gần ấy, có phần công lao của những con người ngồi đây. Có người lúc mới ra quân, mái tóc còn xanh, giờ thì đã điểm sương. Nhưng lại cũng có người mười năm trước, tuổi còn thơ trẻ, mà bây giờ đã đường đường là một tay tuấn kiệt. Và cả ba cô gái đang thì tươi trẻ ngồi ở hàng ghế cuối cùng kia nữa, mới theo các bậc chú bác bước vào hàng trận cự giặc mà đã nổi danh nữ tướng tài ba...

Phùng Hưng lại thấy trong người bừng bừng hào khí như ngày nào mới gặp gỡ các đạo dân binh đầu tiên theo mình dấy nghĩa. Nhưng vừa đưa tay giật bỏ tấm áo khoác, vị lão Đô quân đã kìm mình lại, lấy giọng thử đắn đo, cân nhắc:

- Đã hơn hai chục năm trời, chúng ta hùng cứ khắp miền này, cự lại phủ Đô hộ. Trận mạc trải qua cũng đã nhiều, nhưng mãi đến giờ, chúng ta với quân Đường vẫn chưa phân hẳn lẽ thắng bại. Cho nên hơn thua dứt khoát một trận lớn với giặc phen này, chính là điều mà hôm nay ta muốn bàn xem đã nên chưa...

Các thủ lĩnh nghĩa quân đều nhổm người, đưa mắt nhìn nhau. Ai cũng muốn nói ngay, nhưng người nào cũng muốn chờ nghe quân sư Đỗ Anh Hàn nói trước.

- Cao Chính Bình ngày càng tham tàn bạo ngược. Dân ở Giao Châu không ai không khổ vì hắn Đỗ Anh Hàn vẫn quen bắt đầu bàn việc bằng câu nói về địch tình và lòng dân như ngày trước Lòng người bây giờ khắp nơi đều hướng về Đô quân mà chờ, ngóng đợi...

Sa bà tướng quân A Gia đứng phắt ngay dậy:

- "Giặc Đường đang lúc bên trong thì kêu rông, bên ngoài thì ngông cuồng, trói buộc vơ vét dân ta, bên trên thì lỗi đạo trời, bên dưới thì mất lòng dân, Không hiểu sao chủ tướng còn chần chờ nghi ngại, cứ thủ hiểm mãi ở chốn núi rừng này, để mặc cho bọn hung bạo như con bọ ngựa giơ chân ngáng trên đường cái mà không tiến binh hỏi tội ngay? Tôi đây tuy kém tài cũng dám xin đem quân kéo thẳng đến phủ thành, lấy đầu Cao Chính Bình về trình dưới trướng!".

A Gia vốn là người nóng nảy chẳng khác gì Phùng Hải ngày trước. Lại thêm đầu mục Bồ Phá Cần cũng là người không kém sôi nổi:

- Xin chủ tướng lập tức cho ra quân đi thôi!

Khẽ mỉm cười trước tình hình ấy, Đỗ Anh Hàn điềm đạm nhìn Phùng Hưng, rành rẽ nói:

- Việc ra quân sống mái với Cao Chính Bình như vậy là chư tướng đều đã quyết. Chỉ xin Đô quân nghĩ đến cách đánh sao cho thắng thù. Thượng sách là chia quân làm nhiều đạo, vây hãm và tấn công Phủ thành đủ các mặt, khiến cho giặc không thể trở tay ứng cứu được cho nhau.

Phùng Hưng vui vẻ đứng dậy:

- Ý ta cũng chính là như thế! Bây giờ các tướng hãy nghe ta sắp đặt công việc: Đô bảo Phùng Hải sẽ dẫn quân đi đánh phía Bắc phủ thành. Phùng Dĩnh đánh ở phía Nam. Phía Đông phủ thành là Bồ Phá Cần, Phía tây xin nhờ Đỗ Anh Hàn. Còn ta sẽ thân thống lĩnh Trung quân!

Việc lớn đã quyết định chóng vánh. Có lẽ ngoài Đỗ Anh Hàn thì không một ai biết được rằng Phùng Hưng đã phải xiết bao lao tâm khổ tứ vì trận ra quân quyết chiến lần này. Vận mạng trăm họ, thành bại của đại cục mấy chục năm trời và của cả một đời chinh chiến nữa, đều trông cả vào đây. Thành ra, trong khi các thủ lĩnh ồ ạt kéo ra khỏi trướng hổ để đến thẳng bữa tiệc khao quân, thì chỉ có Đỗ Anh Hàn nán lại cùng Phùng Hưng ra sau.

Chính lúc ấy, đầu mục Bồ Phá Cần vừa tách khỏi các tướng lĩnh nghĩa quân, đi lượn nghiêng người một vòng quanh chiếc đỉnh đồng khổng lồ đặt sừng sững ngoài hổ trướng, và trước những cặp mắt kinh ngạc của mọi người, cởi phăng ngay tấm áo chẽn. Đưa mắt nhìn nhanh Phùng Hải lúc ấy cũng mở ta mắt đứng sững. Bồ Phá Cần lẳng lặng xuống tấn, túm chặt lấy chân đỉnh, vận gân cốt, nín hơi, từ từ nhấc bổng chiếc đỉnh, giơ thẳng lên cao. Các tướng lĩnh nghĩa quân ồ cả lên một lượt, trong khi Bồ Phá Cần điềm nhiên, thong thả cử khối nặng nghìn cân ấy đi một vòng rộng trước sân rồi lại trở về, từ từ đặt nguyên chiếc đỉnh vào chỗ cũ.

Bấy giờ, chống tay vào đỉnh đồng, Bồ Phá Cần mới hướng về phía Phùng Hải, thủng thẳng nói:

- Nghe đồn Đô bảo có tài vác đá nghìn cân! Vậy xin hầu một keo vật thử sức trước khi ra quân được chăng?
Các tướng lĩnh nghĩa quân lại ồ cả lên một lượt nữa, đầy thích thú, khi thấy Phùng hải mặt mày dần dần đỏ lựng, vừa trường trừng nhìn Bồ Phá Cần, vừa từ từ đưa tay cởi áo. Nhưng đúng lúc ấy thì Phùng Hưng từ nãy vẫn đứng ở cửa trướng hổ nhìn ra vội vã bước tới. Một tay giữ lại tấm áo trên vai Phùng Hải, một tay với lấy chiếc áo chẽn khoác vào người cho Bồ Phá Cần, vị lãnh Đô quân điềm đạm nói:

- Thôi! Tiệc rượu đang chờ... Hãy để sức ấy mà giết giặc!

Lấy đà tay đẩy mọi người đi về phía nhà tiệc, Phùng Hưng mỉm cười sóng bước cùng Đỗ Anh Hàn ở phía sau. Người quân sư tài trí của nghĩa quân lúc ấy mới nói với chủ tướng:

- Đô quân xử thế rất phải. Hai hổ tướng nóng tính như lửa ấy mà chọi nhau, thế nào cũng sinh ra mất hòa khí. Mà đấy lại là việc cấm kỵ trước khi ra quân!

Ra quân! Biết bao mơ ước, lo âu, bồn chồn, thôi thúc để cho có được một lần thỏa dạ như bây giờ! Năm đạo nghĩa quân của Phùng Hưng đã nhổ hết nanh vuốt của Cao Chính Bình trước khi cuồn cuộn tràn đến trước phủ thành Tống Bình. Suốt dọc đường tiến binh, dân chúng Giao Châu nô nức đội nắng mới kéo đi mừng đón nghĩa quân như đi trẩy hội. Những tiếng reo vui ngỡ ngàng lại đậy lên như ngày nào được thấy người anh hùng diệt trừ cọp dữ:

- Bố cái ơi! May mắn quá chừng!

Những người dân được giải thoát khỏi ách giặc cũng nhân đấy mà gia nhập nghĩa quân, không kể xiết. Thành ra, khi các đạo quân tiền, hậu, tả, hữu của Phùng Hưng kéo nhau đến sát chân thành Tống Bình thì tòa phủ thành của Cao Chính Bình lập tức rơi ngay vào cảnh cù lao giữa biển người và binh khí điệp trùng.

Tên Kinh lược sứ nhà Đường càng về già càng tàn bạo, nghe tin cấp báo, hấp tấp trèn lên mặt thành quan sát thế trận. Gấy gay cặt mắt đỏ ngầu, tướng giặc nghiến răng kèn kẹt, moi óc tính kế đối với vạ lớn trước mắt. Quả là tình thế rất nguy ngật! Nhưng đôi mắt đã lâu năm chinh chiến của tên Kinh lược sứ cáo già cũng đã nhanh chóng nhận ngay ra một điểm của tình hình: Nghĩa binh tuy đông, nhưng là quân ô hợp! Cao Chính Bình bấu víu lấy điểm ấy để hòng xoay chuyển tình hình.

Suốt mấy ngày liền, tập trung hết quân tình nhuệ có trong phủ thành. Cao Chính Bình lần lượt hạ lệnh mở từng cổng thành, giao chiến với từng cánh nghĩa binh, quyết phá vòng vây. Những trận đánh đẫm máu đã xảy ra quanh cả bốn mặt thành Tống Bình giữa tiếng trống thúc quân reo rầm trời dậy đất.

Trướng hổ của Đô quân Phùng Hưng khi ấy đã dời đến bên một hồ nước lớn gần kề Tống Bình. Những ngày này, con voi chiến khổng lồ, hết sức tinh khôn, chính là người bạn thân thiết nhất của vị chủ tướng nghĩa quân. Voi đã đưa Phùng Hưng đi dự đủ các trận đánh quanh bốn mặt thành Tống Bình nhằm đánh quân ta theo các chi bó đũa ra mà bẻ, Phùng Hưng liền nhân đấy buộc tướng giặc phải giao chiến theo thế sa luân chiến của quân ta. Xoay quanh bốn mặt thành như đèn cù, cuối cùng, vẫn chỉ có một đạo quân Đường lần lượt phải đối địch với bốn cánh quân ta!

Quyết thắng quân Đường trong trân cuối cùng này, Phùng Hưng đã tung hết lực lượng vào các trận giao chiến với Cao Chính Bình và đã kiến được tướng giặc, vì hao binh tổn tướng, phải rút hết quân mã vào thành, đóng chặt bốn cổng mà cố thủ.

Từ đấy là những ngày chỉ huy bao vây dồn ép ngặt nghèo. Nghĩa quân đã được lệnh của Phùng Hưng: Ngày nào cũng phải thúc trống reo hò, làm như sắp sửa tấn công phá thành đến nơi! Hốt hoảng đối phó với quân ta, lính Đừng mất ăn mất ngủ đến rã rời tay chân.

Tướng giặc già Cao Chính Bình càng lồng lộn như hổ dữ mắc bẫy. Cứ mỗi lần nghe những tiếng động xung sát của nghĩa quân Phùng Hưng dội vào thành, tên Kinh lược sứ lại phải hấp tấp bổ lên mặt thành độc chiến đến gần quất người. Cho đến một hôm, vừa tụt xuống chân thành, lảo đảo bước được về đến tư dinh thì tướng giặc bỗng trợn ngược mắt, thổ ra một bãi huyết lớn. Từ giữa sống lưng, một đám nhọt, khi tím bầm, khi đỏ quạch, dần dần tấy lên, khiến cho Cao Chính Bình phải nằm liệt giường, không sao gượng dậy được nữa.

Vào một buổi sớm, những tiếng hò reo huyên náo khác thường của nghĩa quân từ mãi ngoài tuyến trận xa bỗng dậy lên, ngày càng ầm ĩ và chuyển dần về đến tận hổ trướng bên hồ của Phùng Hưng. Vị chủ tướng nghĩa quân đoán biết có chuyện lạ, vừa trèo lên bành voi thì đã thấy quân sư Đỗ Anh Hàn thân dẫn về hổ trướng một viên tùy tướng nhà Đường. Mặt cắt không còn hạt máu, tướng giặc lấp bấp tâu bầy tin tức quân Đường ở Tống Bình: Kinh lược sứ Cao Chính Bình đã chết đêm qua trong tòa phủ thành bị vây hãm.

Tiếng reo hò lập tức vang ầm khắp một vùng ven hồ lớn. Dân chúng ta gần nghe tin quân Đường đã mất phủ thành cũng rùng rùng kéo tới, quây kín xung quanh Phùng Hưng mà nổi tiếng hò reo. Chính giọng nói của Đỗ Anh Hàn giữa lúc ấy, lần đầu tiên bỗng trở nên có sức vang khác thường, vượt lên trên tất cả mọi sự huyên náo:

- Xin rước Đại vương nhập thành!

Trăm ngàn tiếng tung hô lập tức dội lên, nhắc lại:

- Đại vương nhập thành!

- Đại vương vạn tuế!

Bất ngờ, lại thêm một tiếng thét nữa dội lên từ giữa đám dân chúng:

- Bố Cái Đại Vương vạn tuế!

Chính Đỗ Anh Hàn cũng lặng người kinh ngạc trước danh xưng mới mẻ mà tuyệt hay ấy. "Bố Cái Đại Vương"! Phải, vị vua lớn trên bành voi cao kia, hơn hai mươi năm nổi dậy đánh giặc cứu dân, với trận thắng hằng mơ ước quét sạch giặc thù này, hoàn toàn xứng đáng là bậc cha mẹ của dân ta!

Con voi khổng lồ tung vòi rống lên một tiếng lớn, nhấc chân chuyển người bước thẳng về phía thành Tống Bình, cuốn theo ầm ầm, dằng dặc, lớp lớp nhân dân và nghĩa quân. Trên bàn voi cao, Phùng Hưng lại một lần nữa giật phăng tấm áo choàng, hết cúi xuống lại ngẩng lên giữa những đợt sóng tung hô "Bố Cái Đại Vương" cứ thế kéo dài mãi...
Đăng nhập để trả lời
0
Chào Huy Trần

Truyện này còn nhiều không vậy Huy Trần

Chúc Huy Tran luôn vui




Đăng nhập để trả lời
0