📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Hiệu Đính Truyện

[HUYỀN BÍ] DƯƠNG CƠ CHỨNG GIẢI - LỘC DÃ PHU

11 trả lời, 11.970 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-05-02 04:58:07cumusic>
DƯƠNG CƠ CHỨNG GIẢI –Lộc Dã Phu    
LỜI TỰA
 

        Cây, gạch, ngói, ciment, sắt... được con người dùng để xây dựng nhà cửa. Nhờ các vật liệu kiến trúc đó mà con người có nơi che mưa tránh nắng. Tự những vật dụng vô tri đó không tốt, không xấu, không lợi, không hại.

       Vậy tại sao tục ngữ Việt Nam lại có câu: “Sống: cái nhà, thác: cái mồ”? Nếu chết là hết, là không còn gì đáng nói nữa, thì cái mồ còn có công dụng và nghĩa lý quan trọng gì cho bất cứ ai, dù là kẻ sống hay người chết ? Đối với người sống, nếu cái nhà chỉ đơn thuần với công dụng che mưa nắng, chẳng có tác dụng tự phát nào đến họa –phúc, thịnh – suy, thành bại của những con người được nó che chở, đùm bọc thì chắc lời tục cũng chẳng cần đặt cái nhà vào địa vị quan yếu khi người ta còn tại tiền. Tác dụng của cái nhà ở đây chẳng những là công năng đem lại tiện nghi, và hãnh diện cho chủ nhân của nó, những điều người ta cảm thấy được. Tác dụng ấy còn ẩn tàng nơi sâu thẳm mà dù tất cả những tiện nghi hiện có của khoa học cũng không sao thăm dò và chứng minh được. Tác dụng ấy là sự vận hành của nguyên lý âm dương, là sự sinh khắc của ngũ hành : kim, mộc, thủy, hỏa, thổ .Lý âm dương, là sự sinh khắc của ngũ hành :kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Lý âm dương và khí ngũ hành là những điều con người không thể nhìn thấy hay sờ mó được. Vậy quan niệm này thiên về tâm linh – DUY TÂM – chăng ?
        Một số người khác đả kích quan niệm trên, cho rằng vật chất chỉ là thứ vô tri, chẳng có mảy may tác dụng tự sinh đến sự thinh suy, thành bại của con người. Đối với những người này, thế giới phi vật chất không hiện thực, chẳng đáng quan tâm, vì nó mù mờ, vô sở cứ. Quan niệm của họ thiên về vật chất – DUY VẬT- là thực tiễn, là chân xác chăng ?
Sự thật, ranh giới giữa TÂM và VẬT, nếu có cũng là do sự chia chẻ trên ngôn từ. Tự thân một vật sẽ không là gì cả nếu không có tri thức, không có TÂM, khởi dựng và đặt bày. TÂM sẽ như hư không nếu dựa vào VẬT để dấy khởi, bởi không thể lấy TÂM để dựng TÂM, vì như vậy thành ra có đến hai TÂM. Sở dĩ có TÂM là do VẬT, có VẬT là do TÂM. Trong TÂM có VẬT và ngược lại. Không thể tách rời TÂM và VẬT riêng lẻ: TÂM và VẬT không hai, không khác.
Ngày nay, khoa học cũng hiểu được rằng vạn sự , vạn vật, không có cái gì đứng đơn thuần, riêng lẻ mà tồn tại : bởi vạn hữu tương giao, tương tác và tương nhập theo cái lý “Nhất đa tương dung" (Một và nhiều dung chứa nhau, trong cái Một có cái Nhiều và trong cái Nhiều có cái Một).

 Hiểu như vậy mới biết được “cả ba họ chỉ nằm trong cọng lông chân" vì cọng lông chân đó chính là sự chung đúc của cả ba họ. Cái thức giấc ấy do sự kết tụ những mẫn nhuệ và tinh anh của cả một quá trình dài lâu nay hay do sự nhận thức trong nhẫn nhục của “ Lò Cừ “cuộc sống trui rèn (1). Phi hai trường hợp này, khó mà cảm nhận được cái nhất thể của vạn hữu và dễ rơi vào sự nghiêng lệch –thiên kiến, tà kiến.
Vạn hữu phơi bày trong khoảng trời đất, nhưng vì vô tình hay vì trình độ hiểu biết mà người ta không thể nhận thức được tính chất tín hiệu và dự báo của chúng nó. Sản phẩm của nền văn minh kỹ nghệ là hàng hóa. Trong nền văn minh điện tử, tin tức là sản phẩm.
       Hiện nay và sắp tới, ai sở hữu trữ lượng tin tức càng lớn và có khả năng truyền đạt càng nhanh được coi như càng có nhiều quyền lực .
        Khoa học hiện đại chế tác kỹ thuật truyền thông những tín hiệu, còn khoa học cổ đại của nền văn minh triết Trung Hoa từ nhiều ngàn năm về trước đã sản sinh những dụng cụ xác định tính chất dự báo của sự vật. Đó là lý Âm Dương,  sự chuyển vận của Ngũ Hành, Bát Quái và Can, Chi. Nay vận dụng những nguyên lý hàm chứa trong những yếu tố đó để tìm hiểu sự an nguy, họa phúc, thịnh suy của ngôi nhà đem đến cho người trú ngụ.
Nhà của người sống gọi là DưongCơ hay Dương Trạch, vì xét theo Tám Cung của Bát Quái nên được gọi là Bát Trạch. Sách này danh đề DƯƠNG CƠ hay Dương Trạch, vì xét theo Tám cung của Bát Quái nên được gọi là Bát Trạch. Sách này danh đề Dương Cơ, không gọi là Bát Trạch, vì muốn giải trừ định kiến của những người xưa nay quen trói buộc sự khảo sát của một ngôi nhà vào mỗi cái cửa cái mở theo hướng của tám cung Bát Quái. Gọi là Chứng Giải , vì đã qua một quá trình khảo sát về nhà cửa trong thực tế để kiểm chứng những luận cứ, những định lý của các bậc tiền bối trong các sách Bát Trạch Minh Cảnh, Bát Chánh Tông, Dương Cơ, Dương Trạch, vì muốn giải trừ định kiến của những người xưa nay quen trói buộc sự khảo sát của một ngôi nhà vào mỗi cái cửa cái mở theo hướng của tám cung Bát Quái. Gọi là CHỨNG GIẢI, vì đã qua một quá trình khảo sát về nhà cửa trong thực tế kiểm chứng những luận cứ, những định lý của các bậc tiền bối trong các sách Bát Trạch Minh Cảnh, Bát Trạch Chánh Tông, Dương Cơ, Dương Trạch...
Sách khảo sát về nhà cửa có rất nhiều, hoặc bằng Hán văn hoặc Việt Ngữ, một đời chưa đủ cơ may để đọc cho hết, huống hồ là NGHIỆM GIẢI . Luận cứ của mỗi nhà có chỗ tương đồng, có chỗ trái ngược hẳn. Những sách viết bằng Việt ngữ, trích dịch từ Hán văn, nhưng có nơi soạn giả chỉ dịch âm mà không có nguyên bổn để tra cứu, chưa kể phần dịch âm này in không rõ ràng hoặc sai sót. Mặc dầu tựu trung chỉ có tám loại nhà xếp đặt theo hướng của Bát Quái, nhưng thực tế có rất nhiều kiểu cách nhà cửa, vì hễ có vô lượng tâm thì có vô lượng pháp. 
Những điều không thuận lợi nói trên cộng với những chướng ngại nơi bản thân người soạn tập sách này: trí hóa thấp thỏm lại chậm lụt, cuộc sống nhọc nhằn của một nông dân nơi biên đia đủ thứ khó khăn ,khiến mực độ khảo sát không thể sâu, phạm vi kiểm nghiệm không thể rộng, như bổn tâm mong cầu. Sự bổ cứu những điều thiếu sót, chỉ giáo những điều sai lầm không những cần thiết đối với người soạn mà còn đem lại lợi lạc cho những ai muốn có một ngôi nhà hợp với sự vận hành của thiên lý.
Sách này chú trọng vào thực hành, mục đích là giúp cho người đọc có thể tự tạo dựng cho mình một ngôi nhà đúng nguyên tắc, thuận lý của âm dương, ngũ hành, chứ chẳng phải một ngôi nhà nguy nga, đồ sộ là hữu ích. Người soạn cố viết giản dị, cố soi rọi cho được minh bạch các mấu chốt hiểm hóc. Nhưng chắc hẳn khoa này tự nó không có tính chất phổ thông trong quần chúng. Người đọc cũng cần cố công, nhất là những thế hệ cách xa chữ Hán và chữ Hán Việt.





Sách được trình bày qua năm chương :
Chương I :        Chương căn bản và tổng quát về âm dương, bát quái, ngũ hành Can Chi.
Chương II :       Trạch Chủ, những yếu tố liên quan đến chủ nhà.
Chương III :     Các loại nhà.
Chương IV :     Bếp
Chương V :      Cách coi nhà.


Khác với quyển BÁT TỰ LỮ TÀI KHẢO CHỨNG, dương trạch phưc tạp hơn, nên sách này đã khá dầy; do đó không có phần đề cập đến ngày, giờ, xây cất. Có dịp thuận tiện, sẽ kê chung vào quyển “COI NGÀY”
Nếu người được hạnh phúc nhờ đời sống vợ chồng được xứng ý, toại lòng, nếu nhà nhà được yên vui, phất phát nhờ ngôi gia cư thuận hợp với luật lý của vũ trụ, thì đó chẳng phải là sự thống khoái của những bực ưu thời mẫn thế nào ?
 
Tiết Lập Thu , năm ẤT HỢI 1995.
LỘC DÃ PHU.






(1)  Lò cừ nung nấu sự đời 
“Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương “
  (Cung Oán Ngâm Khúc – Nguyễn Gia Thiều )
FIND QUeeN
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-05-02 04:58:49cumusic>
CHƯƠNG I : 
ÂM DƯƠNG – BÁT QUÁI NGŨ HÀNH VÀ CAN- CHI
Theo quan niệm của nền triết học Trung Hoa, vũ trụ thuở ban đầu chỉ là một bầu hổn độn: sau đó, khí dương thanh, nhẹ bay lên  trên thành trời, khí âm dục, nặng lóng xuống thành đất. 
Thuở ban đầu, thời kỳ hồng mông sơ khai đó, vũ trụ chỉ là một khoảng không, được biểu tượng bằng một vòng tròn trống không, chưa có vật gì, gọi là THÁI CỰC. Mặc dầu có nhiều triết gia cho rằng trên thái cực còn có VÔ CỰC, nhưng tựu trung cũng chỉ là nói lên vũ trụ còn ở giai đoạn hư không.
Sau đó, vũ trụ biến đổi, trong thái cực sinh ra hai khí: Âm và Dương gọi là LƯỠNG NHI, gồm hai vạch : vạch liền (-) là nghi dương và vạch đứt (--) là nghi âm. Rồi lưỡng nghi sinh ra TỨ TƯỢNG.
            Tứ tượng cũng chỉ là do nghi dương và nghi âm giao nhau, chồng lên nhau mà thành: tức là HÀO (nghi, vạch) dương chồng lên hào dương thành THÁI DƯƠNG (=), hào dương chồng lên hào âm thanh thành THIẾU ÂM (=), hào âm chồng lên hào âm thành THÁI ÂM ,(==) , hào âm chồng lên hào dương thành THIẾU DƯƠNG (=). Theo thuyết của Ngu Phiên và Cao Hanh thì tứ tượng là tứ thời, bốn mùa : xuân, hạ , thu, đông. Sau cùng, tứ tượng sinh ra BÁT QUÁI , tức là tám quẻ : Càn , Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn và Đoài (còn đọc là Đoái)  biểu tượng mọi sự vật trên đời.
Những ý nghĩ trên được nói trong Hệ Từ thượng của KINH DICH: “Dịch hữu  thái cực, thị sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng,  tứ tượng sinh bát quái “ (Dịch có thái cực, thái cực sinh lưỡng nghi, lương nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái ).
 Kinh Dịch là một kỳ thư trong thiên hạ, từ cổ chí kim, từ đông sang tây, khắp thế giới chưa có một quyển thứ hai nào như Kinh Dịch. Các sử gia , triết gia, các nhà khoa học... khắp cùng thế giới, mỗi ngày tìm hiểu, nghiên cứu ,giảng giải một nhiều hơn mà mấy ngàn năm nay chưa ai rõ tác giả nó là ai, xuất hiện chính xác vào thời kỳ nào, vì có đến hàng chục thuyết khác nhau mà thuyết nào cũng chỉ có giá trị tương đối.
Khoa nghiên cứu về nhà cửa ( Dương Cơ) nói trong sách này chỉ áp dụng một phần rất nhỏ của DỊCH LÝ . Muốn thâm cứu thấu đáo  hơn, cần đọc các sách dịch, giảng về KINH DỊCH của nhà cách mạng tiền bối Phan Bội Châu, của Ngô Tất Tố, của học giả Nguyễn Hiến Lê..... hay các sách thuộc môn triết học Đông Phương của Phùng Hữu Lan, của giáo sư Nguyễn Duy Cần, hay của học giả Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê....
Bên Âu Tây, người nghiên cứu Kinh Dịch sớm nhất có lẽ là triết gia đồng thời cũng là nhà toán học lừng danh của Đức, Oâng Leibniz (1646-1716). Từ năm 1834 đến nay, nhiều tác phẩm viết về Kinh Dịch đã xuất bản của J. Legge, của Wilhelm, của Z.D .Sung, của Alfred Douglas, của J.Laiver, của Jung, của Becker...
Tác phẩm mới nhất lưu hành ở Việt Nam về Chu Dịch có lẽ là của Oâng Thiệu Vĩ Hoa, hiện sống tại Trung Hoa lục địa, có chân trong hội nghiên cứu Dịch Lý của Thế Giới. Ông Thiệu Vĩ Hoa áp dụng Dịch Lý vào “Khoa Dự Đoán Học” tức là khoa bói toán , theo danh từ thông dụng trong dân gian. ( Nhà Xuất Bản Văn Hóa, 43 Lò Đúc – Hà Nội, 1995).
Cứ theo quan điểm được đa số chấp nhận xưa nay. Kinh Dịch ban đầu do vua Phục Hy (4477-4363 BC) (1) sáng tạo nhân được con Long Mã hiện lên trên sông Hoàng Hà, lưng mang một đồ hình với những đường nét đặc biệt, nhà vua hội ý được, mới vạch ra bát quái. Thời Phục Hy, Kinh Dịch ban đầu chỉ có tám quẻ, mỗi quẻ chỉ có ba vạch, gọi là quẻ đơn, không có ghi chép lời nào cả. Vì thời đó chưa có vãn tự. Sau đó, thành ra tám quẻ kép . Việc làm này gọi là trùng quái. Ai làm công việc trùng quái ấy ? – Người thì nói chính là vua Phục Hy trùng quái, kẻ nói việc đó do Châu Văn Vương làm khi bị vua Trụ giam trong ngục Dữu Lý. Cuộc biện giải đến nay vẫn chưa dứt.
Nhưng các nhà khảo cứu từ lâu đều đồng ý cho rằng Châu Văn Vương đã viết lời giải 64 quẻ, gọi là THOÁN TỬ, sau đó con trai thứ của Văn Vương là Cơ Đán, tức là Châu Công, viết thêm lời giải cho từng hào, gọi là HÀO TỪ . Có tất cả 384 hào.
Bát quái từ thời Phục Hy, hợp chung với Thoán Từ và Hào Từ vào một phần gọi là KINH. Còn những phần tháp thêm vào KINH sau này gọi là TRUYỆN, gồm 10 thiên, gọi là THẬP DỰC. Vậy câu “Dịch hữu thái cực... tứ tượng sinh bát quái “ nói trên nằm trong phần TRUYỆN, gồm 10 thiên, gọi là THẬP DỰC. Vậy câu “ Dịch hữu thái cực... tứ tượng sinh bát quái “ nói trên nằm trong phần TRUYỆN, phần Thập Dực, chớ không phải thuộc phần Kinh. Dù thuộc phần nào, Dịch cũng chỉ nói đến ÂM DƯƠNG.
FIND QUeeN
Đăng nhập để trả lời
0
Tiết 1 : Đặc Tính của Âm Dương.


Âm dương có rất nhiều đặc tính. Nhưng ba đặc tính quan trọng nhất là tính chất tương
phản, lại tương giao, tương hòa và tính chất bao quát khắp vạn vật.
 
1.  Tính chất tương phản của âm dương:
Tính chất tương phản này của âm dương có  thể tìm thấy ở khắp cùng trong sinh hoạt hằng ngày: lạnh nóng, ướt khô, đêm ngày,tối sáng, nặng nhẹ, chết sống, thấp cao, ác thiện, nữ nam, tiểu nhơn quân tử... (chữ đầu thuộc âm, chữ sau thuộc dương).
Chính nhờ sự tương phản ấy, vạn sự, vạn vật mới được vận hành. Tuy trái ngược nhau,
nhưng sự trái ngược của âm dương không hòan  toàn, vì trong âm có dương và trong dương có âm, trong thái âm có thiếu dương và trong thái dương có thiếu âm. (xem hình tứ tượng).
 
2.  Tính chất tương giao, tương hòa của âm dương:
Âm dương tuy tương phản, nhưng cũng tương giao, tương hòa; dù trái ngược nhau những vẫn tìm nhau (tương cầu), hòa nhau, giao nhau, xô đẩy nhau (tương thôi), để thay thế cho nhau chớ không ngăn chặn nhau hay tiêu diệt nhau. Hiện tượng này thấy rõ ràng: ánh sáng ban ngày thay cho bóng tối ban đêm, bốn mùa tuần tự thay đổi nhau. Hệ Từ Hạ của Kinh Dịch nói : “ Nhật vãng tắc nguyệt lai, nguyệt vãng tắc nhật lai, nhật nguyệt tương thôi nhi sinh MINH yên. Hàn vãng tắc thử lai, thử vãng tắc hàn lai, hàn thử tương thôi nhi THẾ thành yên. Vãng giả khất dã, lai giả thân dã, khất thân tương cảm nhi LỢI sinh yên. (Mặt trời qua thì mặt trăng lại, mặt trăng  qua thì mặt trời với mặt trăng cảm ứng nhau mà sinh ÁNH SÁNG. Lạnh qua thì nóng tới, nóng qua thì lạnh tới, nóng lạnh xô đẩy nhau mà sinh NGÀY THÁNG . Cái đã qua co lại, cái sắp tới duỗi ra, co duỗi như vậy mà sinh LỢI ÍCH).
Dương tác động gây mầm, âm nuôi dưỡng cho thành tựu (Dương sinh âm trưởng). Chỉ có dương đơn độc thì không có thể sanh, chỉ thuần có âm thì không thể trưởng dưởng cho thành tựu được ( cô dương bất sanh, thuần âm bất trưởng ). Đây là một đặc tính rất quan trọng, ngoài đặc tính mâu thuẫn nói trên của âm dương, trong việc kiến tạo một ngôi nhà hợp cách.
 
3.  Tính chất bao quát của âm dương.
Mọi sự mọi vật đều có mầm mâu thuẫn nội tại. Sở dĩ có mầm mâu thuẫn đó vì mọi vật chứa cả âm dương. Tuy trái nghịch nhau, nhưng tác dụng của âm dương  không nhằm diệt nhau, mà cùng bổ túc cái bất toàn cho nhau để cùng  tồn tại. Địch Lý khác với chủ thuyết của Hegel ở chỗ đó. Triết thuyết Đông Phương quan niệm: “Vạn vật phụ âm nhi bảo dương, xung khí dĩ di HÒA” (Trong vạn vật, vật nào cũng bồng âm bế dương, có đủ cả âm dương, chính nhờ cái khí xung khắc ấy mà được hòa hợp – Lão Tử , Đạo Đức Kinh, bản chú giải của Thu Giang Nguyễn Duy Cần ). Ngày nay, Toán Học, Khoa Học thực nghiệm... cũng đều đã biết rõ như vậy, khỏi cần biện giải ra đây. Trong vũ trụ, vạn vật chẳng có vật gì không tự mang trong bản thể của nó cả hai tính chất âm dương.
Sự vật phân chia ra thì có hai nguyên tố mâu thuẫn, nhưng hợp lại thì vẫn đồng nhất ; vì trở về với lý thái cực là hư không, hư không thì dung chứa được mọi sự, mọi vật. “Nhân nhân các hữu nhất thái cực, vật vật các hữu nhất thái cực”(Người hay vật gì cũng đều có một thái cực- Chu Hy). Lý âm dương là cột trụ của Kinh Dịch, cũng tức là của Bát Quái.
FIND QUeeN
Đăng nhập để trả lời
0
Tiết 2 : BÁT QUÁI
 
Nội dung của sách này chưa cần biết đến việc trùng quái, tức tạo ra các quẻ kép. (Quái tức là quẻ ), vì chỉ áp dụng cho các đơn quái mà thôi. Cần nắm vững, học thuộc lòng, hình tượng tám đơn quái ( bát quái) để sử dụng cho nhuần nhuyễn, không những thông suốt khoa nghiên cứu về nhà cửa (Dương Trạch ) mà còn lợi ích trên nhiều lĩnh vực khác, vì Dịch Lý trùm khắp từ việc trên trời, dưới đất, tới việc con người.
 
1.  Hình tượng bát quái :
o  Càn tam liên, Tây Bắc, Tuất Hợi
o  Khảm trung mãn, chánh Bắc đương Tí.
o  Cấn phúc uyển Đông Bắc Sửu Dần.
o  Chấn ngưỡng bồn chánh Đông Dương Mẹo.
o  Tốn hạ đoạn Đông Nam Thìn Tỵ .
o  Ly trung hư chánh Nam đương Ngọ.
o  Khôn lục đoạn Tây Nam Mùi Thân.
o  Đoài Thượng khuyết chánh Tây dương Dậu.
Nghĩa là :
Càn (Kiền ), ba vạch liền, ở hướng Tây Bắc, thuộc cung Tuất Hợi trên địa bàn.
Khảm, đầy ở trong, hướng Bắc, thuộc cung Tí.
Cấn, như chén úp, hướng Đông Bắc, thuộc cung Sửu, Dần.
Chấn như chậu ngửa, hướng Đông Nam, cung Thìn Tỵ.
Ly, rỗng ở trong, hướng Nam, cung Ngọ.
Khôn, sáu vạch đứt, hướng Tây Nam, cung Mùi, Thân.
Đoài, hở ở trên, hương Tây, cung Dậu.
 
2.Ý nghĩa của Bát Quái:
  a.Đối với thiên nhiên :
  Càn : trời     - Càn vi thiên
  Khảm : nước     - Khảm vi thủy
  Cấn : núi     - Cấn vi sơn.
  Tốn : gió     - Tốn vi phong 
  Ly : lửa     Ly vi hỏa
  Chấn : sấm    Chấn vi lôi
  Khôn : đất    Khôn vi địa
Đoài : đầm, ao  Đoài vi trạch
 
  b. Đối với những người trong gia đình :
  Càn : cha                                Khôn  : mẹ
  Chấn : trưởng nam     Tốn : trưởng nữ
  Khảm : trung nam, thứ nam     Ly: trung nữ, thứ nữ
  Cấn : thiếu nam, quý nam        Đoài: thiếu nữ, con gái út.
  c. Đối với cơ thể con người :
  Càn : đại trường (Ruột già)      Tốn : gan
  Khảm : thận + bàng quang      Ly : tim + tiểu đường
  Cấn : bao tử                           Khôn : tỳ, lá lách
  Chấn : mật                              Đoài : Phế (phổi)
Ý nghĩa của bát quái nhiều đến vô cùng, không vật gì , việc gì mà không bao hàm trong bát quái. Xem mục Tượng Loại vạn vật, trang 40, sách Chu Dịch và Dự Đoán Học của Thiệu Vĩ Hoa tất rõ. Nhưng ý nghĩa của bát quái nói ở mục (a) thì gần gũi với Tiên Thiên Bát Quái, còn ở mục (b) thì mật thiết với Hậu Thiên Bát Quái hơn.
 
3.Tiên Thiên Bát Quái :
Từ triều đại nhà Đường, nhà Hán trở về trước, không thể chỉ danh người đề ra thuyết Tiên Thiên Bát Quái. Đến đời nhà Tống, có vị “tiên nhân” là Trần Đoàn Lão Tổ, Người khai sáng ra khoa Tử Vi Đẩu Số, truyền đạo giáo cho Mục Bá Trưởng, Bá Trưởng dạy cho Lý Đỉnh Chi, Đỉnh Chi dạy cho Thiệu Ung (1011-1077), tức Thiệu Khang Tiết, tổ tiên 29 đời của Thiệu Vĩ Hoa ngày nay. Thiệu Tử đưa ra hình Tiên Thiên Bát Quái như hình dưới đây



Không có gì chắc chắn hình bát quái nói trên xuất hiện vào thời vua Phục Hy vì phần Kinh của Kinh Dịch không đề cập tới. Hình trên  diễn đạt ý nghĩa câu sau đây trong Thuyết Quái Truyện, mà Truyện, tức Thập Dực, được viết vào thời Chiến Quốc: 
“Thiên địa định vị, Sơn Trạch thông khí, Lôi Phong tương bạc, Thủy Hỏa bất tương xạ, bát quái tương thác (Trời Đất định vị trí rồi, khí của Núi và Chằm thông với nhau, Sấm Gío nổi lên nhau, Nước và Lửa chẳng diệt nhau, tám quẻ cùng giao nhau). Sự khắc chế cũng có hai trường hợp :khắc xuất và khắc nhập.
a/ Khắc xuất :
Một hành khắc xuất khi nó gây tổn hại hay chế phục hành khác. Tỉ như thổ khắc thủy : thổ
khắc xuất. Bốn hành kia theo đó mà suy.
b/ Khắc nhập :
Một hành khác nhập khi nó bị hành khác gây tổn hại hay chế phục. Tỉ như thổ khắc thủy ở
trên, thì thổ khắc xuất mà thủy khắc nhập. Kim khắc mộc : kim khắc xuất mà mộc (bị) khắc nhập. Khắc nhập thì chủ động, còn bị khắc nhập thì phải thúc thủ hứng chịu thôi.
  Cần nắm vững nguyên tắc sanh và khắc của ngũ hành, lý luận bén nhạy và trôi chảy, không những tinh thông khoa xem nhà cửa này mà còn lợi ích trong việc giao du làm ăn, tìm biết được sự thuận lợi hay trở ngại trong sinh hoạt của chính mình hay của người khác. Ngoài ra, còn lợi ích ở nhiều lãnh vực khác, bởi ngũ hành cũng như âm dương, tác
dụng của nó có tính chất bao quát, trùm khắp vạn sự, vạn vật.
  Khác với việc áp dụng ngũ hành vào giá thú nói trong quyển “Bát Tự Lữ Tài Khảo Chứng” ở đây không đề cập đến sự chế hóa trong tính chất sinh khắc của ngũ hành. Vì sự sinh hay khắc của ngũ hành trong khoa nghiên cứu về dương trạch không có sự “miễn trừ“.
  Tuy nhiên, cần biết số của ngũ hành để có thể tiên đoán được thời kỳ có hiệu lực, có tác dụng của ngôi nhà đối với những người sinh sống trong đó. Như vậy, cần biết sơ lược về Hà Đồ và Lạc Thư.
 
4. Hà đồ và lạc thư :
  Nhìn vào vị trí các quẻ, theo sự giải thích (không mấy hợp lý ) thì :
  _ Càn : trời , ở phương Nam, vì ở phương này nóng, thuộc hỏa.
  _ Khôn : đất ở phương Bắc, vì ở đây lạnh, thuộc thủy.
  _ Ly : hỏa , lửa, ở phương Đông, vì mặt trời mọc ở phương này.
  _ Khảm : nước, ở phương Tây Nam, vì khí nóng ở phương Nam ( Càn ) gặp khí lạnh ở phương Tây ( Khảm ) mà sinh ra gió tại Tây Nam.
  _ Tốn : gío, ở phương Tây Nam, vì khí nóng ở phương Nam( Càn ) gặp khí lạnh ở phương Tây (Khảm ) mà sinh ra gió tại Tây Nam.
  _ Chấn : sấm sét ở Đông Bắc vì gió ở Tây Nam (Tốn) thổi qua Đông Bắc gây nên sấm sét.
  _ Cấn : núi, ở Tây Bắc vì ở Tây Bắc nước Tàu có nhiều núi.
  _ Đoài : ao, đầm, chằm ở Đông Nam, vì ở Đông Nam của Tàu có nhiều đầm, lầy, ao, hồ.
  Phương hướng, theo quan niệm cổ Trung Hoa, khác hẳn bây giờ : Bắc ở dứơi, Nam ở trên, Đông bên trái, Tây bên phải ( theo hướng của người nhìn).
  Ý nghĩa của từng cặp đối nhau, theo phương vị đối nhau:
  Trời –Đất: : Càn –Khôn, Nam-Bắc
  Nước-Lửa: Khảm –Ly, Tây –Đông
  Núi –Đầm : Cấn Đoài, Tây Bắc- Đông Nam
  Gió – Sấm : Tốn –Chấn , Tây Nam- Đông Bắc.
 
  Hình tượng ở tiên thiên bát quái cũng đối nhau :
Càn ba vạch liền đối với Khôn ba vạch đứt ( dương đối với âm)
Khảm vạch giữa tương đối với Ly vạch giữa âm
Chấn hai vạch ngoài âm đối với Tốn hai vạch ngoài dương.
Đoài vạch ngoài âm đối Cấn vạch ngoài dương.
  Tiên thiên bát quái tuần hoàn theo hai chiều:
-Thuận (theo chiều kiem đồng hồ, từ trái sang phải ):
Tốn               Khảm                 Cấn                 Khôn 
Nghịch (ngược chiều kim đồng hồ, từ phải sang trái ) : Càn → Đoài → Ly → Chấn.
( Từ đây, cần nhớ chiều thuận và chiều nghịch như trên để khỏi phải nhắc lại ).
  Việc đánh số thứ tự của mỗi quẻ thiên nhiên quy định như sau:
1.  Càn (đọc : nhất Càn)       5. Tốn (đọc : ngũ Tốn )
2.  Đoài : (đọc: nhì, nhị đoài )     6. Khảm (đọc : lục khảm)
3.  Ly ( dọc : tam Ly)      7. Cấn (đọc : thất cấn)
4.  Chấn (đọc : tứ chấn )     8. Khôn ( đọc : bát khôn)
Số thứ tự của quẻ tiên thiên khác với số thứ tự của quẻ hâu thiên.
5.  Hậu thiên bát quái :
Trong Kinh Dịch không có hai tiếng Tiên Thiên và Hậu Thiên Bát Quái. Trong phần Kinh cũng không có chỗ nào nói đến việc Chu Văn Vương định lại phương vị của Bát Quái theo như hình dưới đây :
 
phương vị của Hậu Thiên Bát Quái phù hợp với Thuyết Quái truyện : “Đế xuất hồ Chấn, tề hồ Tốn , tương kiến hồ Ly, chí dịch hồ Khôn, duyệt ngôn hồ Đoài, chiến hồ Càn, lao hồ Khảm, thành ngôn hồ Cấn “ (Đấng chủ tể xuất hiện ở phương Chấn, gọn gàng ở Tốn, cùng trông thấy nhau ở Ly, làm việc ở Khôn, vui mừng nói năng ở Đoài, chiến đấu ở Càn, lao nhọc ở Khảm, hoàn thành nói ở Cấn ). Tuần tự theo như câu trong thuyết Quái truyện nói trên (Thuyết Quái truyện là phần Truyện, do người đời sau thêm vào phần Kinh ), người ta thấy bắt đầu từ Chấn trước và cuối cùng là Cấn : Chấn Tốn Ly Khôn Đoài Càn Khảm Cấn, theo một chiều duy nhất là chiều thuận.
  Việc đánh số trong quẻ tiên thiên theo tám cung của bát quái, còn ở hậu thiên thì đánh số từ một đến chín, gọi là CỬU CUNG BÁT QUÁI . Cần học thuộc lòng thứ tự cửu cung bát quái như sau:


1.  Khảm (đọc : nhất khảm )      5. Trung (đọc : ngũ trung)
2.  Khôn (đọc : nhì khôn )     6.Càn ( đọc : lục càn )
3.  Chấn (đọc : tam chấn)      7.Đoài (đọc : thất đoài )
4.  Tốn (đọc : tứ tốn )      8. Cấn (đọc : bát cấn )
9. Ly ( đọc : cựu



Trong cách coi nhà cửa này và trong nhiều lĩnh vực khác, chẳng hạn như coi tuổi tác vợ chồng , chỉ ứng dụng số của Cửu cung bát quái theo hậu thiên, mà không dùng số theo bát quái tiên thiên. Thiệu Ung trong khoa Dịch  Số của ông. Dùng cả Tiên Thiên và Hậu Thiên Bát Quái . “ Hình tiên thiên mà ngày nay ta nhìn thấy là từ hình tiên thiên của Thiệu Ung đời Tống mà ra. Còn hình hậu thiên bát quái là từ “ Thuyết Quái “- người đời Tống cho là do Văn Vương tạo ra “(Thiệu Vĩ Hoa – sách đã dẫn , trang 17)
Trái lại, trong quyển “Kinh Dịch”, do Ngô Tất Tố dịch và chú giải, nơi trang 38 , viết : “Hình vẽ tiên thiên vốn của Phục Hy, không phải Khang Tiết (Thiệu Ung) chế ra “ (nhà xuất bản Tp/HCM tái bản). Việc tranh biện về Kinh Dịch đã có hàng ngàn năm nay và chắc sẽ còn kéo dài không biết đến bao giờ. Sách này chỉ chú trọng vào phần thực dụng.
Vậy nên chỉ biết thêm hình thứ tự bát quái ( được coi là ) của Văn Vương sau đây :


📎 TienThienBQ
FIND QUeeN
Đăng nhập để trả lời
0
Hình


📎 QueCANKHON_cr
FIND QUeeN
Đăng nhập để trả lời
0
TIẾT 3 : NGŨ HÀNH
Không biết ai là người đầu tiên chế tác bát quái, hình thành Kinh Dịch, thì cũng chẳng ai biết đích xác tên người xướng xuất huyết ngũ hành.
Chỉ biết ngũ hành là một trong sáu pháp của thuật số cổ nhân (Đai Cương Triết Học Sử Trung Quốc, quyển thượng, trang 182, của Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê, NXB Cảo Thơm), sáu phép ấy là:
 
Thiên Văn
Lịch Phổ 
Ngũ Hành 
Thi, qui (bói bằng cỏ thi và bằng mai rùa )
Tạp chiêm ( các cách chiêm nghiệm khác)
Hình pháp (phép coi hình sắc và âm thanh, tức coi tướng )
 
Sách "Nghệ Văn Chí" chỉ kể sáu pháp thuật trên của cổ nhân, nhưng không nói cổ nhân vào thời nào. Chỉ thấy sách “Tả Truyện” của Tả Khâu Minh có nói lướt qua hai yếu tố của ngũ hành là thủy và hỏa: "Hạ, tứ nguyệt, Trần, tai .Trình Bì Táo viết: ngũ niên, Trần tương phục... Trần Thủy thuộc dã: hỏa, thủy phi dã” (Vào tháng tư, mùa hạ, nước Trần bị tai họa. Trình Bì Táo nói: năm năm nữa thì nước Trần sẽ được phong lại... Nước Trần thuộc thủy, mà hỏa thì đi cặp đôi với thủy)
 
1.Các yếu tố của ngũ hành:
Quan Bác Sĩ nhà Tần xưa là Phục Thắng có truyền lại quyển Kim Văn Thượng Thư Bác Sĩ là một chức quan có tư cách chính thức giảng dạy về sử sách, kinh điển, vì đời nhà Tần, ai muốn học hỏi điều gì thì phải học nơi quan lại. Ai không có tư cách chính thức mà bàn về sử kinh thì chỉ “ rước họa vào thân “ . Tương Thư là một quyển sách nói về các việc đời thượng cổ, gồm có:
-Ngu Thư : Sử đời Đường Ngu, thời vua Nghiêu.
-Hạ thư : sử nhà Hạ, thời vua Vũ
-Thương Thư : Sử đời nhà Thương và nhà Aân ( nhà Thương từ vua Thành Thang trở đi, vào năm 1401 BC Cải quốc hiệu là Aân ).
-Chu Thư : sử đời nhà Châu, trong đó có Thiên Hồng Phạm, gọi là Cửu Trù Hồng Phạm, tức chín phạm trù lớn trong việc trị quốc.....
Tương truyền vua Vũ Nhân được Lạc Thơ do con rùa thần nổi lên trên sông Lạc, chi nhánh của sông Hoàng Hà, trên lưng nó có những vết đặc biệt, hội ý được những nét đặt biệt này, nhà vua làm ra cửu trù hồng phạm. Cửu trù hồng phạm được truyền đến Cơ Tử là chú của vua Trụ. Khi Aân Trụ bị diệt. Cơ Tử hiến cửu trù hồng phạm này cho Văn Vương của nhà Châu. Trong cửu trù hồng phạm trù thứ nhất nói về ngũ hành, theo thứ tự gồm có:
1-Thủy   2-Hỏa   3-Mộc 7  4- Kim    5.Thổ
   nước      lửa      gỗ           vàng      đất 



    Đến đời nhà Hán, thầy học của Tư Mã Thiên là Đổng Trọng Thư (190-105 BC) sắp xếp lại thứ tự của ngũ hành như sau:
 
MỘC    HỎA    THỔ    KIM     THỦY
  Trong sách “Xuân Thu phồn lộ “, Đổng Tử cho rằng Thổ phải ở giữa vì đó là thứ tự nhiên : “Thiên hữu ngũ, hành, nhất viết Mộc, nhị viết Hỏa, Tam viết Thổ, tứ viết Kim, ngũ viết Thủy. Mộc, ngũ hành chi thủy dã : thủy ngũ hành chi mạt dã : thổ ngũ hành chi trung dã. Thủy ngũ hành chi mạt dã : thổ ngũ hành chi trung dã. Thử kỳ thiên thứ chi tự dã “Trời có ngũ hành,  một là Mộc, hai là Hỏa, ba là Thổ, bốn là Kim, năm là Thủy. Mộc là hành đầu của ngũ hành, thủy là hành cuối của ngũ hành; Thổ là hành giữa của ngũ hành. Đó là thứ tự tự nhiên.
  Ngày nay, thứ tự người ta thường dùng trong ngũ hành là : Kim, mộc, thủy, hỏa, và thổ. Đó là thứ tự theo như sách “Bạch Hổ Thông Nhgiã “ của Ban Cố ( 32-92 AC) đời nhà Hán.
Năm hành kim, mộc, thủy, hỏa và thổ của vật chất trong trời đất mà con người có thể nhìn thấy và sờ mó được là : kim loại như vàng, sắt, đồng nhôm......, cây gỗ, củi đuốc, nước sông suối, móc sương, lửa, sức nóng của mặt trời và đất cát, bùn lầy. Đó là ngũ hành cụ thể, tạo thành vật chất hiển hiện, được nhiều người gọi là Ngũ Hành Hậu Thiên. Trái lại vật chất trong giai đoạn Ngũ Hành Tiên Thiên, chỉ là thứ khí vô hình. Vì đó là thứ khí vô hình nên mọi người không quan tâm : chỉ vì không đựơc quan tâm chứ chẳng phải năm thứ khí vô hình ấy không ảnh hưởng đến con người. Nhưng ngũ hành còn có đặc tính quan trọng khác nữa : Tính sinh hóa và khắc chế.
 
2. Sự sinh, khắc của ngũ hành:
A- NGŨ HÀNH TƯƠNG SANH :
Gọi là tương sanh nhưng sự thật không phải sanh cho nhau. Một hành sanh hành khác, khi nó phù trợ, làm cho thành tựu, làm cho lợi ích hành kia. Thí dụ Thủy sanh Mộc: nước làm cho cây tươi tốt. Cần tâm niệm rằng mọi sự, mọi vật trên thế gian này đều chịu quy luật tương đối chi phối. Chẳng hạn nước làm cho cây cối tốt tươi thì nước cũng có thể làm cho cây cối chết trong trường hợp úng thủy, nứớc quá đa.
 
Năm hành Sanh là :
  -Kim sanh thủy : kim loại sanh ra nước ( nấu chảy ) 
  -Thủy sanh mộc ( đã nói trên )
  - Mộc sanh Hỏa : cọ cây ra lửa, cây đốt lên sanh lửa.
  -Hỏa sanh thổ : được lửa đốt qua đất tốt hơn.
- Thổ sanh kim; đất sinh ra kim loại
Lấy kim làm chuẩn, như Ban Cố, sự Sanh của năm hành được biểu thị theo hình vẽ dứơi đây

📎 NguHanhtuongsanh_cr
FIND QUeeN
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-05-02 05:29:33cumusic>
Sự sinh hóa của năm hành có hai trường hợp : sanh xuất và sanh nhập.
a) Sanh xuất :
Một hành sanh xuất khi hành đó làm lợi cho hành khác, như kim sanh thủy thì thủy được lợi mà kim bị hao tổn bốn hành kia cũng theo đó mà luận.
b) B-Ngũ Hành tương khác :
Gọi là tương khắc, nhưng chẳng phải hai hành khắc nhau, mà hành khắc hành kia. Tiếng tương sanh hay tương khắc chỉ một chu luân sanh hai khắc của cả năm hành.
Một hành khắc hnàh khác khi nó làm hư hại, hao mòn hay khống chế hành đó. Tí như kim hắc mộc : búa, rựa, đục, chàng, cưa, rìu  (kim) làm cây bị xẻ, bào, đẽo, gọt....Hoặc như thủy khắc hỏa : nước làm lửa tắt. Các hành còn lại cũng theo đó mà suy luận.
Cứ lấy kim làm chuẩn như thông lệ, sự khắc chế của ngũ hành được biểu thị theo hình vẽ sau dưới đây: 
-Kim khắc Mộc: (đã nói ở trên)
-Mộc khắc Thổ: cây làm cho đất xấu, cằn cỗi vì hút hết chất tốt trong đất.
-Thổ khắc Thủy: đất ngăn làm nước không lưu thông được.
-Thủy khắc hỏa: (đã nói ở trên)
-Hỏa khắc kim: lửa đốt chảy kim loại.
  Lấy kim làm chuẩn, như Ban Cố , sự Sanh của năm hành được biểu thị theo hình vẽ dưới đây.



Sự khắc chế cũng có hai trường hợp :khắc xuất và khắc nhập.
a/ Khắc xuất :
Một hành khắc xuất khi nó gây tổn hại hay chế phục hành khác. Tỉ như thổ khắc thủy : thổ khắc xuất. Bốn hành kia theo đó mà suy.
b/ Khắc nhập :
Một hành khác nhập khi nó bị hành khác gây tổn hại hay chế phục. Tỉ như thổ khắc thủy ở trên, thì thổ khắc xuất mà thủy khắc nhập. Kim khắc mộc : kim khắc xuất mà mộc (bị) khắc nhập. Khắc nhập thì chủ động, còn bị khắc nhập thì phải thúc thủ hứng chịu thôi. Cần nắm vững nguyên tắc sanh và khắc của ngũ hành, lý luận bén nhạy và trôi chảy, không những tinh thông khoa xem nhà cửa này mà còn lợi ích trong việc giao du làm ăn, tìm biết được sự thuận lợi hay trở ngại trong sinh hoạt của chính mình hay của người khác. Ngoài ra, còn lợi ích ở nhiều lãnh vực khác, bởi ngũ hành cũng như âm dương, tác dụng của nó có tính chất bao quát, trùm khắp vạn sự, vạn vật.
  Khác với việc áp dụng ngũ hành vào giá thú nói trong quyển “Bát Tự Lữ Tài Khảo Chứng” ở đây không đề cập đến sự chế hóa trong tính chất sinh khắc của ngũ hành. Vì sự sinh hay khắc của ngũ hành trong khoa nghiên cứu về dương trạch không có sự “miễn trừ “.
  Tuy nhiên, cần biết số của ngũ hành để có thể tiên đoán được thời kỳ có hiệu lực, có tác dụng của ngôi nhà đối với những người sinh sống trong đó. Như vậy, cần biết sơ lược về Hà Đồ và Lạc Thư.


📎 NguHanhTuongKhac_cr
FIND QUeeN
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-05-02 05:55:19cumusic>
3. Hà đồ và lạc thư :
Bỏ qua các chuyện truyền kỳ về việc vua Phục Hy được Hà Đồ trên lưng con long mã ở trên sông Hoàng Hà, việc vua Đại Vũ được Lạc Thư trên lưng con rùa thần nổi ở trên sông Lạc. Vì mặc dầu trong Luận Ngữ có đề cập đến Hà Đồ, nhưng Đồ và Thư là cái gì thì trước đời Tống chưa ai nhìn thấy. Hà Đồ và Lạc Thư được nói đến nhiều vào thời gian của Tống Thái Tôn. Hình Hà Đồ và Lạc Thư chỉ được in thành sách trong triều Tống Huy Tôn (1101-1125). Không An Quốc vẽ không ? ( Khổng An Quốc là cháu 12 đời của Đức Khổng Phu Tứ, là một đại thần dưới triều Hán Vũ Đế ).
  Các nhà khảo cổ đời nay cho rằng Hà Đồ có thể bắt nguồn từ Hệ Từ Truyện trong Kinh Dich : “Thiên nhất, địa, nhị, thiên tam, địa tứ, thiên, ngũ , địa lục, thiên thất, địa bát, thiển cửu , địa thập. “(Số của trời là 1, của đất là 2, của trời là 3, của đất là 4, của trời là 5, của đất là 6, của trời là 7, của đất là 8, của trời là 9, của đất là 10)
  “Thiên số ngũ, địa số ngũ. Ngũ vị tương đắc nhi các hữu hợp. Thiên số nhị thập hữu ngũ, địa số tam thập. Phàm thiên địa chi số ngũ thập hữu ngũ. Thử sở dĩ thành  biến hóa nhi hành quỷ thần dã “ (Trời có 5 số, đất có 5 số. Khi 5 số của trời và 5 số của đất được phân phối vào năm chỗ thì mỗi số có một số bổ túc cho nó thành một cặp. Do đó mà thành ra biến hóa và hành động như quỷ thần.- Dịch châm chước theo cách hiểu của Chu Hy của Richard Wilhelm.)
Cứ nhìn hình Hà Đồ dưới đây:



Đừng quan tâm đến chữ thiên (số ) và địa (số )với định kiến Thiên là Trời. Địa là Đất có tính cách thiêng liêng và mầu nhiệm. Vì ở đây thiên chỉ dương mà địa thuộc âm. Thiên sốtức là số dương, đánh dấu bằng vòng tròn trắng trên hình vẽ Hà Đồ. Địa số tức là số âm, biểu hiện bằng vòng tròn đen.
-Trời có 5 số : 1 3 5 7 và 9, cộng lại là 25
- Đất có 5 số : 2 4 6 8 và 10, cộng lại là 30
-Tổng cộng số dương và số âm của Hà Đồ là 55.
Khi 5 số dương và 5 số âm được phối trí vào 5 chỗ, tức vào bốn phương:
-Đông  Tây  Nam Bắc và Trung cung (cung trung ương)
  3           4      2       1               5
thì mỗi số có một số bổ túc cho nó thành một cặp :
-Ở phương Bắc : 1 dương + 5 của trung cung thành 6 âm (điểm đen).
-Ở phương Nam : 2 âm + 5 của trung cung thành 7 dương ( điểm trắng ).
-Ở phương Đông: 3 dương + 5 của trung cung thành 8 âm ( điểm đen).
-Ở phương Tây : 4 âm + 5 của trung cung thành 9 dương ( điểm trắng).
-Ở trung ương : 5 dương + 5 của trung cung thành 10 âm ( điểm đen).
Đó là số sinh và số thành của Hà Đồ.
1 2 3 4 và 5 là số sinh.
6 7 8 9 và 10 là số thành 
“Thiên chất sinh thủy, địa lục thành chi; địa nhị sinh hỏa, thiên thất thành chi; thiên tam sinh mộc; địa bát thành chi; địa tứ sinh kim  , thiên cửu thành chi; thiên ngũ sinh thổ, địa thập thành chi “( Số trời 1 sinh ra nước, số đất 6 làm cho thành; số đất2 sinh hỏa, số trời 7 làm cho thành ; số trời 3 sinh mộc, số đất 8 làm cho thành; số đất 4 sinh kim, số trời 9 làm cho thành ; số trời 5 sinh thổ, số đất 10 làm cho thành).
  Cần nhập tâm với các cặp 1-6,2-7,3-8,4-9,5-10, biểu thị số sinh và số thành của Thủy, Hỏa, Mộc, Kim và Thổ.
  Từ khi sinh đến khi thành của mỗi hành, theo luật sinh và khắc của hành nầy đối với hành khác mà có tác dụng thuận, nghịch, phúc họa, hưng suy... xảy ra đúng theo thời hạn từ sinh đến thành của nó. Do đó mà người xưa cho rằng năm số của ngũ hành “ biến hóa và hành động như quỷ thần “. Tin hay không ( vì đúng hay sai), chẳng cần biện giải vội (không thể biện giải bằng các phương pháp của khoa học thực nghiệm ) cứ đọc thật kỹ và thực hành thật đúng sách này tự khắc sẽ biết. Trường hợp ở đây chưa thể gọi là “lấy Sự để hiển Lý “, chỉ có “tâm cảm “ cái Lý ấy mà thôi; vì Lý ở đây không thể hiển bày bằng ngôn ngữ hay hành động con người khác thấy biết trên hiện thực.

📎 HaDo_cr
FIND QUeeN
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-05-02 05:59:55cumusic>
  Ở đây, các con số là bản thể của vũ trụ , vạn vật, theo vũ trụ luận của các triết gia Tây Phương như nhà toán học kiêm triết gia Pythagore chăng ?
  Các nhà khảo cứu về Kinh Dịch, ngày nay khó chấp nhận thuyết của “chưt tiên nho” ( các nho gia đời xưa ), theo đó, nhờ tìm thấy được hình đồ trên lưng con long mã ở sông Hoàng Hà mà vua Phục Hy làm ra bát quái. Nếu thử biểu diễn hình của Hà Đồ bằng số, rồi đem chồng nó lên hình tiên thiên bát quái của vua Phục Hy như dưới đây :
Thì phải nói rằng thật khó mà tìm ra được mối tương quan hữu lý giữa Hà Đồ và tiên thiên bát quái.




Phương Hướng      Hà Đồ                   Tiên Thiên Bát Quái
Bắc                      Thủy –số 1-6         Khôn –số 8 –Thủy
Nam                      Hỏa –số 2-7         Càn –số 1-Hỏa
Đông                      Mộc –số 3-8         Ly-số 3 – Hỏa
Tây                          Kim –số 4-9         Khảm –số 6-Thủy

Số của Hà Đồ là số sinh; thành .Số của tiên thiên bát quái là số của phương vị.
Những yếu tố trên còn chẳng có mấy liên hệ, huống hồ các yếu tố khác.
 
  Nếu dựa vào câu “Đế xuất hồ Chấn....” của Dịch Truyện mà có hậu thiên bát quái, vậy hãy so sánh hâu thiên bát quái với Lạc Thư.



📎 SOTienThienBQ_cr
FIND QUeeN
Đăng nhập để trả lời
0
Ở Lạc Thư , vòng trắng là số dương, vòng đen là số âm (cũng như số của Hà Đồ ). Số của 5 cũng ở trung cung, còn những số khác bố trí như sau : “Đái cửu, Lý Nhất, tả Tam, Hữu thất, nhị tứ vi kiên, lục bát ví túc “(Đội 9 , đạp 1 bên trái 3, bên phải 7, số 2 và số 4 ở vai, số 6 và số 8 ở chân. – Bên phải , bên trái, chân, vai..... ở đây là chân vai của con rùa thần trên sông Lạc.
*Số của Lạc Thư :
-Số dương  : 1 3 5 7 và 9 –cộng lại là 25(như Hà Đồ)
-Số âm : 2 4 6 và 8 –cộng lại là 20 ( kém Hà Đồ 10)



Nếu biểu diễn hình Lạc Thư bằng số, rồi đem chồng hình này lên cửu cung bát quái , ai cũng thấy mối tương quan chặt chẽ giữa Lạc Thư và Bát Quái hậu thiên:
-  -Đái 9, Lý 1 : cửu ly, nhất khảm 
-  Tả 3, hữu 7 : tam chấn, thất đoài
-  Lục bát vi túc : -lục càn, bát cấn.
-Số  5 ở trung cung (ngũ trung ) đối với cả hai.
  Vậy nếu Lạc Thư và Hậu Thiên Bát Quái có tính cách đồng nhất, mà hậu thiên bát quái xuất phát từ Dịch Truyện thì có lý gì Lạc Thư do vua Đại Vũ nhà Hạ tìm thấy trên sông Lạc cách thời đại của Dịch Truyện đến khoảng hai ngàn năm ?
  Ngược lại, nếu Hà Đồ xuất phát cũng  từ  Dịch Truyện thì Hà Đồ nào được đức Khồng Phu Tử thường cầu mong tái hiện như là điềm báo Thánh nhân ra đời(Luận Ngữ) ? –vì Hà Đồ được đức Thánh Khổng nói đến ít ra cũng cách thời đại của Dịch Truyện  trên dưới 1.000 năm. Đằng khác , nếu Hà Đồ khởi từ Dịch Truyện khơi ra, do đâu Dịch Truyện có được những con số này ? Thiệu Vĩ Hoa, sách đã dẫn, trang 23, cho rằng các số ấy rất có thể được lấy từ thiên can.  


📎 LacThu_cr
FIND QUeeN
Đăng nhập để trả lời
0
TIẾT 4 : THIÊN CAN – ĐỊA CHI
 
1.Nguồn gốc :
Theo Quang Hoa Báo, số tháng 9/1994, Phân Khoa Khảo Cổ của Trường Đại Học Sơn Đông mới đào được ở thôn Đinh Công, xã Uyển Thành, huyện Châu Bình, tỉnh Sơn Đông một mảnh sành trên đó có năm hàng gồm  11 chữ. Phòng Nghiên Cứu và Thí Nghiệm Khảo Cổ Học Bắc Kinh công bố kết quả xét nghiệm : Người Trung Hoa đã biết sử dụng văn tự cách đây 5.200 năm . (kiến thức ngày nay, số 161, ngày 01.01.1995).
  Thời gian này thuộc thời đại “Đồ Đá Mới”, trước vua Nghiêu (2356-2255) Khoảng 1.000 năm, có thể vào thời vua Thần Nông hay Huỳnh Đế, nhưng sau đời vua Phục Hy. Ba đời Hạ (2205-1766 BC) Thương (1766-1122 BC), Chu (1111-221 BC) đã có lịch phổ. Lịch nhà Hạ lấy tháng Dần làm tháng đầu năm tức tháng giêng). Lịch nhà Hạ lấy tháng Dần làm tháng đầu năm. Đức Khổng Tử cũng  theo lịch nhà Hạ. Khi trả lời câu hỏi về phép trị quốc của Nhan Uyên, môn đệ của Ngài.( Khổng Tử –Nguyễn Hiến Lê, Văn Hóa xuất bản năm 1991).
Khoa Khảo Cổ cũng đã đào được nhiều vô số mảnh xương, mai rùa, yếm rùa..... trên đó có khắc nhiều quẻ bóim, chẳng hạn như quẻ: “Tân Mão Trinh : kim nhật Tân, diệc vũ,  bất vũ ?”(Ngày Tân Mão thì Trời cũng mưa hay là không mưa) . Những giáp cốt này được tìm thấy ở An Dương, tỉnh Hà Nam, Trung Hoa ngày nay. (Kinh Dịch, Đạo của Người Quân Tử – Nguyễn Hiến Lê, Văn Học Xuất Bản năm 1922). Khoa Khảo Cổ cho biết những giáp cốt đó có từ đời Thương.
  Vậy Can, Chi đã được đặt ra ít nhiều từ đời Thương và có thể ngay từ đời nhà Hạ, hoặc trước đó cũng không chừng, vì văn tự đã có trước đó hằng ngàn năm.
  Việc vua Thành Thang (1766-1753) có tên là Thiên ẤT, các con của ông có tên là Đại Đinh, Trung Bính, Trung Nhâm, các cháu  là Đại Giáp... và việc lịch nhà Hạ lấy tháng Dần làm tháng giêng, có thể giúp kết  luận rằng : Can-Chi có từ đời nhà Thương, hay từ đời Hạ trở đi.
  Nhưng ý nghĩa của Can-Chi là gì ?
 
2. Ý nghĩa của Can :
Can, gọi đầy đủ là THIÊN CAN, là yếu tố bắt nguồn từ Trời , từ dương khí , từ khí thiên
nhiên. Can gồm có 10, gọi là thập thiên can :
  Giáp, ẤT,       Bính,    Đinh,    Mậu,    Kỷ,      Canh,   Tân,     Nhâm, Quý.
  1        2          3          4          5          6          7          8          9          10.
 
a/ Can và âm dương :
Can chia ra làm hai : Can dương và Can âm . Can có số lẻ ở trên là Can Dương, can có số chẵn là Can âm. Lý gì đặt Can dương và Can âm? Theo nguyên tắc, trước là dương, sau là âm. Can giáp được gọi là đầu ở trước, nên thuộc dương. Can Ất đứng sau nên thuộc âm. Những Can kế tiếp có lẻ nên hiểu theo lý âm dương tuần tự thay đổi nhau.
 
b/ Can phối hợp với ngũ hành:
Hai Can liền nhau đồng một hành, nhưng Can trứớc thuộc dương. Can  sau thuộc âm.
Giáp  (+) , Ất, (-) thuộc mộc, ở phương Đông.
Bính (+), Đinh (-) thuộc hỏa, ở phương Nam (đọc :dương hỏa, âm hỏa).
Mậu(+), Kỷ (-) thuộc thổ, ở trung ương.
Canh (+) , Tân (-) thuộc kim ở phương Tây.
Nhâm (+) , Quý (-) thuộc thủy , ở phương Bắc.
 
c/ Can tương quan đến thân thể :
Giáp : đầu   Bính : trán
Canh : gân  Nhâm : cổ.
Mậu + Kỷ  : mặt mũi 
Ất   : vai       Đinh   : răng, lưỡi
Tân   : ngực     Quý   : chân
 
d/ Can và tạng phủ :
TANG :            số 2 Ất,            số 4 Đinh,         số 6 Kỷ ,          số 8 Tân,          số 10 Quý 
Gan                  tim                    Lá lách             Phổi                 Thận
 
PHỦ: số 1 Giáp,           số 3 Bính,         số 5 Mậu,         số 7 Canh,        số 9 Nhâm 
            Mật                  ruột non            dạ dày              ruột già             bàng quang
 
(Để dễ hiểu, gọi là gan, tim..... Theo khoa Đông Y, phải gọi là Tạng can, tạng tâm....)
 
3.Ý Nghĩa của Chi :
Chi, gọi đầy đủ là Địa Chi, là yếu tố bắt nguồn từ đất, từ âm khí, từ hậu thiên. Ranh giới của tiên thiên và hậu thiên rất linh hoạt và tế vi, chẳng hạn khi chưa sinh là tiên thiên, sau khi sinh là hậu thiên, ở trạng thái khí vô hình là tiên thiên, lúc ở trạng thái có hình tượng là hậu thiên... Địa chi gồm 12, nên gọi là thập nhị địa chi. :
Tí         Sửu      Dần      Mão     Thìn      Tỵ        Ngọ     Mùi      Thân     Dậu      Tuất     Hợi   
1          2          3          4          5          6          7          8          9          10        11        12 
Số lẻ là Chi Dương, số chẵn là Chi Âm.
a/ Chi với ngũ hành, bát quái , phương vị

                         CHI                                          !                                               BÁT QUÁI




Dương  Âm       Ngũ Hành         Phương vị     !    Chi              Bát Quái           Phương Vị        Âm Dương




      Tí                     Thủy                       Bắc        !      Tí                   Khảm                   Bắc                       +




              Sửu          Thổ                  Trung Ương  !   Sửu và Dần        Cấn                  Đông Bắc                 +




 




              Mão         Mộc                 Đông Bắc     !    Mão                 Chấn                   Đông                      +



   Thìn                     Thổ                  Trung Ương  !  Thìn + Tỵ            Tốn                  Đông Nam                -



              Tỵ             Hỏa                 Đông Nam   !   Thìn + Tỵ            Tốn                 Đông Nam                 -



    Ngọ                    Hỏa                       Đông      !       Ngọ                 Ly                     Nam                       -



             Mùi            Thổ                  Trung Ương !   Mùi + Thân         Khôn                Tây Nam                  -



   Thân                     Kim                   Tây Nam   !   Mùi + Thân         Khôn                Tây Nam                  -



             Dậu            Kim                        Tây       !        Dậu                Đoài                      Tây                     +



   Tuất                      Thổ                  Trung Ương !   Tuất + Hợi          Càn                    Tây Bắc                 +



             Hợi             Thủy                    Tây Bắc   !    Tuất + Hợi         Càn                     Tây Bắc                 + 



 

b/ Chi và Tạng, Phủ :
Phủ: Tí : bàng quang  Ngọ : ruột non, Thìn Tuất : Bao Tử.
Dần : mật  Thân : ruột già.
 
Tạng :   Mão : gan  Dậu : phổi  Sửu Mùi : lá lách
Tỵ : tim   Hợi : thận.
 
c/ Chi và thời gian :
T.giêng             2          3          4          5          6          7          8          9          10        11        12 
Dần                 Mão     Thìn      Tỵ        Ngọ     Mùi      Thân     Dậu      Tuất     Hợi       Tí         Sửu.
Lấy tháng Dần làm tháng đầu năm, tháng giêng , theo như lịch nhà Hạ. (Thiên khai ư Tí, Địa tịch ư Sửu, Nhơn sanh ư Dần : trời khai ở hội Tí, Đất yên tỉnh ở hội Sửu, người sinh ra ở hội Dần – Thiệu Khang Tiết chia một HỘI có 10.800 năm).
 
d/ Chi và bốn mùa : 
-Dần Mão (và Thìn )   :mùa xuân, thuộc mộc.
-Tỵ Ngọ ( và Mùi)    :ùa hạ, thuộc hỏa.
-Thân Dậu (và Tuất)   :mùa thu, thuộc kim
- Hợi Tí (và Sửu)     : mùa đông, thuộc thủy.
Mặc dầu một mùa có ba tháng theo hành  sở thuộc nói trên. Nhưng với bốn tháng Thìn Tuất Sửu Mùi( tháng 3,9,12 và 6) thuộc hành thổ.
 
e/ Chi và tam hợp cục :
Mừời hai chi phối hợp với nhau thành bốn tam hợp cực:
-Thân Tí Thìn : Thủy Cục
-Dần Ngọ Tuất : Hỏa Cục
-Tỵ Dậu Sửu : Kim Cục
-Hợi Mão Mùi : Mộc Cục
Không có thổ cục, nhưng trong bốn cục đều có thổ của Thìn, Tuất, Sửu và Mùi.
 
f. Chi và ứng kỳ hiệu nghiệm của nhà :
-Tam hợp Thân Tí Thìn hay những năm Nhâm, Quý đem tai họa đến cho nhà loại Thủy như nhà Lục Sát, hay nhà có ngăn chánh với sao chúa là Văn Khúc. Nhưng những năm nói trên đem lại thịnh cát cho nhà loại mộc là nhà Sinh Khí, hay nhà có ngăn chính với sao chúa là Tham Lăng.
-Tam hợp Dần, Ngọ, Tuất hay những năm Bính, Đinh đem tai họa đến cho nhà hỏa là loại nhà Ngũ Quỷ, hay nhà có ngăn chính với sao chúa là Liêm Trịnh.
-Tam hợp những năm Tỵ, Dậu, Sửu hay những năm Canh, Tân đem phúc lợi nhà loại kim là nhà Diên Niên hay nhà có ngăn chính với sao chúa là Vũ Khúc.
Nhưng những năm đó lại đem tai ương đến cho nhà loại kim là nhà Tuyệt Mạng hay nhà có ngăn chính với sao chúa là Phá Quân.
-Tam hợp những năm Dần Ngọ, Tuất, những năm Thìn Tuất, Sửu, Mùi, những năm Mậu, Kỷ đem hưng thịnh đến cho nhà loại thổ như nhà Thiên Y hay nhà có ngăn chính với sao chúa là Cự Môn. Nhưng những năm ấy lại đem tai ách đến cho nhà loại thổ khác là nhà Họa Hại, hay nhà có ngăn chính với sao chúa là Lộc Tồn. (Tên nhà, ngăn, chính, sao, sao chúa... sẽ được các CHƯƠNG sau giải rõ).
Tính chất âm dương của Can, Chi bao giờ cũng trùng hợp nhau. Can dương đi cặp với Chi dương, Can âm đi cặp với Chi Âm, không bao giờ có Bính (+) Dậu(-) hay Quý (-), Tuất (+). Can và Chi biểu thị nhiều phương diện, từ bộ phận bên ngoài của cơ thể tới lục phủ, ngũ tạng bên trong, từ phương hướng tới thời gian, và còn biểu thị nhiều phương diện khác nữa. Trong phạm vi sách này, ý nghĩa về thời gian của Can và Chi rất quan trọng, khi nó xác định ngày, giờ, năm ,tháng cũng xác định luôn tuổi của trạch chủ.
 
FIND QUeeN
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-05-10 04:45:35cumusic>
CHƯƠNG III : TRẠCH CHỦ
Trạch chủ, tức chủ nhà. Nhưng trong một ngôi nhà, ai là người làm chủ ?
Trên phương diện pháp lý, ai đứng tên sở hữu ngôi nhà, người ấy là chủ. Nhưng trong khoa nghiên cứu Dương Cơ, sở hữu chủ ngôi nhà và trạch chủ, người chủ chốt trong ngôi nhà, có khác nhau.
Nhiều khi sở hữu chủ ngôi nhà cho người khác thuê. Bấy giờ, người thuê và những ai ở chung trong ngôi nhà mới chịu tác dụng của ngôi nhà, chứ không người cho thuê.
Lại nữa, sở hữu chủ của ngôi nhà ở chung với bậc tôn túc như ông bà, cha mẹ, thì ông hay cha, hoặc sở hữu chủ là con trai, mới là trạch chủ . Tại sao ?- Vì quan niệm của Đông Phương và của Khoa Dương Trạch này, đàn bà có chồng thuộc quyển của chồng, con gái chưa xuất giá  thuộc quyền của cha. Theo quan niệm này, người đàn bà góa dù là sở hữu chủ, nhưng người con trai, người con trai thứ nếu như người con trai cả ở riêng, mới là trạch chủ. Khi khảo sát ngôi nhà ấy, phải xét tuổi của người con trai đó chớ không cần biết đến tuổi của người mẹ góa.
  Thực trạng xã hội ngày nay, có nhiều người “mẹ độc thân “, Khoa Dương Cơ xét ai là Trạch Chủ ? Rõ ràng người mẹ độc thân với vài ba đứa con nhỏ thì chính người đàn bà này là trạch chủ. Người đàn bà góa với các con nhỏ cũng được xếp tương tự trường hợp này. Những người đàn bà sống với đàn ông ngoài cơ sở hôn nhân, cũng là trạch chủ, vì là những người đàn ông này không cùng sống chung trong nhà.
  Những người trắc thất có chồng ở chung nhà với vợ chính thức, coi như một loại “Lữ Khách“ thì người trắc thất này là trạch chủ. Nếu người vợ thứ dành quyền trạch chủ cho ông chồng, dù ông này thỉnh thoảng mới về sống chung, khoa Dương Cơ cũng tôn trọng sự sắp xếp đó.
  Phải xác  định tuổi, nhiên hậu mới có thể biết được hành bản mệnh và cung bát quái của chủ trạch.
 
Tiết 1 : XÁC ĐỊNH TUỔI.
 
  Không phải ai cũng biết tuồi chính xác của mình, huống hồ là họ biết tuỏi của Can lẫn Chi. Việc ấy không có gì đáng ngạc nhiên, vì việc biết rõ tuổi tác tùy thuộc vào hoàn cảnh sống, truyền thống văn hóa và trình độ học vấn.
  Tuổi của mỗi người phải được gọi bằng cả hai tiếng can và chi, chớ không phải chỉ biết số tuổi là đủ. Khi phối hợp bằng cả hai tiếng Can và Chi thì dù người có tuổi bao nhiêu cũng nằm trong sáu ”con giáp“, mỗi con giáp có 10 tuổi, tổng cộng có 60 tuổi, gọi là Lục Thập Hoa Giáp.
 
1.  Lục Thập hoa Giáp:
Giáp Tý và 9 tuổi thuộc”con nhà Giáp Tý:  Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỷ Tỵ, Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân va Quý Dậu.
-Giáp Tuất và 9 tuổi thuộc con nhà Giáp Tuất : Ất Hợi, Bính Tí , Đinh Sửu, Mậu Dần, Kỷ Mão, Canh Thìn, Tân Tỵ, Nhâm Ngọ và Quý Mùi.
-Giáp Thân và 9 tuổi thuộc con nhà Giáp Thân : Ất Dậu,Bính Tuất, Đinh Hợi, Mậu Tí, Kỷ Sửu, Canh Dần, Tân Mão, Nhâm Thìn và Quý Tỵ,.
-Giáp Ngọ và 9 tuổi thuộc con nhà Giáp Ngọ : Ất Mùi, Bính Thân, Đinh Dậu, Mậu Tuất, Kỷ Hợi, Canh Tý, Tân Sửu, Nhâm Dần, và Quý Mão.
-Giáp Thìn và 9 tuổi thuộc con nhà Giáp Thìn : Ất Tỵ, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Mậu Thân, Kỷ Dậu, Canh Tuất, Tân Hợi, Nhâm Tí và Quý Sửu.
-Giáp Dần và 9 tuổi thuộc con nhà Giáp Dần : Ất Mão, Bính Thìn, Đinh Tỵ, Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Canh Thân, Tân Dậu, Nhâm Tuất và Quý Hợi.
“Tiếng con nhà giáp..........” là danh từ chuyên môn của khoa bói toán. Từ Giáp Tí đến Giáp Dần tính theo chiều nghịch trên địa bàn, mỗi Giáp cách nhau một cung, Tỵ đi với can âm, Tí đi với can dương (viết I để khỏi lầm lộn) Có tất cả 60 tuổi, nhưng tựu trung cũng chỉ thuộc 12 chi : 



1-Tí ,còn gọi là thử, chỉ con chuột
2-Sửu (Ngưu), con trâu.
3-Dần (Hổ , Hùm),con cọp
4-Mão (Mẹo, Thố), con mèo.
5-Thìn (Long), con rồng.
6-Tỵ(Xà), con rắn
7-Ngọ (Mã), con ngựa
8-Mùi (Dương), con dê
9-Thân (Hầu), con khỉ
10-Dậu (Kê), con gà
11-Tuất (Khuyển), còn gọi là cẩu.
12-Hợi (Trư), con heo.
Theo âm lịch, người ta sinh ra đã kể một tuổi, hướng gọi là “tuổi ta” . Tuổi theo dương lịch (tuổi Tây) chuyển sang tuổi âm lịch phải cộng thêm 1. Thí dụ :người sinh 1929, đến năm 1995 là mấy tuổi theo âm lich ?
(1995-1929) +1 : 67 tuổi .
Dù theo tuổi âm lịch cũng không thể chỉ nói bằng con số, mà phải gọi bằng cả hai tiếng can và chi.
2.  Cách tìm Can – Chi của tuổi :
Múôn tìm Can chi của tuổi, phải biết can chi của năm đương niên, tức là năm muốn biết tuổi. Chẳng hạn năm muốn tính tuổi là 1968 thì năm này là năm Mậu Thân, năm 1975 là năm Ất Mão, năm 1995 là năm Ất Hợi, kế đến phải thuộc thứ tự của can, chi : 
-Can :
Giáp   Ất  Bính   Đinh Mậu   Kỷ  Canh  Tân   Nhâm  Quý
-Chi :
Tí         Sửu      Dần      Mẹo     Thìn      Tỵ        Ngọ     Mùi      Thân     Dậu      Tuất     Hợi
1          2          3          4          5          6          7          8          9          10        11        12
Phải an 12 chi trên bàn tay trái như hình trên (10). Vị trí 12 số trên bàn tay là 12 cung, ứng với 12 địa chi, gọi là địa bàn.
Có nhiều cách tìm (can chỉ của) tuổi, ở đây áp dụng cách giản dị nhất. Cách tìm tuổi, không phân biệt nam mạng hay nữ mạng.
a/ Trường hợp chỉ biết số tuổi:
•  Thí dụ 1: Vào năm Ất Hợi 1995, người 67 tuổi là tuổi gì? Con nhà Giáp nào?
Cách tính : Lấy ngón tay cái của bàn tay trái bấm lên cung số 12 tức cung hợi, vì năm đương niên là năm Hợi 1995. Đếm 1 (vì mới sanh trong năm Ất Hợi này đã phải kể 1 tuổi). Đếm tiếp tục, mỗi lần đếm tăng lên 12, thành 13 (tức năm Quý Hợi là 12 năm trước), 25 (Tân Hợi),
 37,49,61 ngưng lại vì gần tới tuổi muốn tìm là 67 (đếm quá, tới 73 cũng đựơc; nhưng phải lùi lại mất công).
Đã có 61 tại cung Hợi, đếm nghịch chiều ( để tăng số tuổi lên, đến xuôi chiều là giảm số tuổi xuống) tại cung số 11 (Tuất): 62, cung Dậu: 63, cung Thân: 64, cung Mùi: 65, cung Ngọ: 66, cung Tỵ: 67. Tại đây có thể nói chính xác: người 67 tuổi vào năm Ất Hợi là tuổi Tỵ. Tỵ là chi, còn can ? Muốn biết “cái gì“ Tỵ phải tính tuổi này thuộc con nhà giáp nào
  Tiếp tục đếm ngược chiều đến bao giờ tuổi của người này có số lẻ 2 thì dừng, vì năm đương niên là Ất Hợi, Ất số 2 trong thập can.
  Đã có 67 tại cung Tỵ (cung số6 ) thì 68 tại cung Thìn, 69 tại cung Mão, 70 tại Dần, 71 tại Sửu, 72 tại Tí : Người tuổi Tỵ này thuộc con nhà Giáp Tí.
  Muốn biết can của tuổi Tỵ, phải tính vòng trở lại từ giáp ( số 1 trong thập can ) tại cung Tí đến cung Tỵ, cung số 6, mà 6 ứng với chữ Kỷ. Vậy người 67 tuổi này vào năm ẤT Hợi là tuổi Kỷ Tỵ
•  Thí dụ 2: Năm Mậu Thân, bà 32 tuổi (Ta) là tuổi gì ?
Bấm ngón tay cái của bàn tay trái lên cung Thân, cung số 9, đếm 1, chồng lên nhiều lần 12 và đếm 13,25, dừng lại ở số 25, đã gần tới 32. Đếm nghịch chiều, mỗi cung 1 tuổi: 26 tại Mùi, 27 tại Ngọ.... 32 tại Sửu. Tạm trả  lời : năm Mậu Thân 1968, Bà 32 tuổi là tuổi Sửu. Nhưng “cái gì “Sửu ? –Phải tính bà tuổi Sửu này thuộc con nhà giáp nào, sau đó mơi trả lời câu hỏi trên.
  Nhớ rằng năm dương niên là năm Mậu Thân, Mậu số 5 trong thập can. Vậy tại cung Sửu. 32 tuổi, đếm nghịch chiều để tăng tuổi lên, mỗi cung một tuổi. Tới 35 thì dừng lại, thấy 35 tại cung số 11, cung Tuất: Bà tuổi Sửu 35 thuộc con nhà giáp Tuất.
  Tại cung số 11 Tuất (giáp), Giáp là số 1 trong thập can, đếm lần tới cung Sửu, từ cung Tuất đến cung Sửu là 4 cung, mà số 4 với chữ Đinh trong can: bà 32 tuổi năm Mậu Thân là tuổi Đinh Sửu.
b/ Trường hợp biết số tuổi và chi :
•  Thí dụ 3 : Năm Kỷ Sửu 1949, Bà tuổi Thìn 34 tuổi.
Kỷ số 6 trong 10 can.
Biết tuổi Thìn thì bấm ngón tay cái của bàn tay trái lên cung Thìn (số 5). Tính xem tuổi Thìn 34 này thuộc con nhà giáp nào ? –Đếm 34 tại cung Thìn, 35 tại cung Mão, 36 tại cung Dần (số 6 trùng với số 6 của năm đương niên ), dừng lại, trả lời , tuổi 34 vào năm Kỷ Sửu 1949 thuộc con nhà Giáp Dần. Từ cung Dần là Giáp, đếm 1 đến cung Thìn là 3, số 3 là Bính trong 10 can.
  Vậy tuổi Bà Thìn 34 này là tuổi Bính Thìn.
•  Thí dụ 4 : Năm Ất Mão 1975, ông tuổi Dậu 55.
Tại cung Dậu (số 10) đếm 55, nghịch chiều đến 56 tại Thân, 57 tại Mùi......, 62 tại Dần, dừng lại vì con số 2 (của 62) trùng với số  2 can Ất đương niên : ông này thuộc con nhà Giáp Dần. Tại cung Dần đếm 1, cung Mão : 2, cung Thìn : 3.... cung Dậu : 8. Số 8 ứng với chữ  Tân của 10 can : ông tuổi Dậu 55 là tuổi Tân Dậu.
  Biết tuổi thuộc con nhà giáp nào rất tiện lợi cho việc tìm ngũ hành của tuổi.
📎 BanTayDiaChi
FIND QUeeN
Đăng nhập để trả lời
0