📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Anh hùng Lĩnh Nam

7 trả lời, 797 lượt xem — Trang 1 / 1
Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ



Q1 - Anh Hùng Lĩnh Nam



Hướng dẫn




Các bộ lịch sử tiểu thuyết của Yên-tử cư sĩ được chia ra làm năm thời đại:
1. Thời đại Lĩnh-Nam (39-43 sau Tây-lịch)
Thuật cuộc khởi nghĩa của vua Trưng cùng 162 anh hùng, lập thành triều đại Lĩnh-Nam. Thời đại này chia làm ba giai đoạn.
Giai đoạn 1. Anh-hùng Lĩnh-Nam
- Về phương diện sử
Hình thành tinh thần, tức chủ đạo của người Việt sau một thời gian dài bị Bắc thuộc, hai bà Trưng cùng các anh hùng chuẩn bị cuộc khởi nghĩa, 4 quyển, mang tên Anh-hùng Lĩnh-Nam. Gồm 40 hồi, mỗi quyển 10 hồi. Ôn lại tích xưa: Thuật lại sự tích thánh Gióng. Cuộc chiến giữa vua An-Dương và Triệu Đà, tích nẫy nỏ thần. Sự tích thánh Tản, thánh Chèm
- Về phương diện văn hoá
Cách làm ám cá, luộc gà. Sự nghiệp âm nhạc của Trương Chi. Cách chữa bệnh suyễn, cảm, cúm bằng dược học.
Giai đoạn 2. Động-đình hồ ngoại sử
- Về phương diện sử
Nối tiếp giai đoạn 1, Anh-hùng Lĩnh-Nam có hai khuynh hướng. Một khuynh hướng chủ chiến, muốn khởi nghĩa quét giặc Hán khỏi đất nước gồm hai bà Trưng và ông Đặng Thi Sách. Một khuynh hương muốn hòa giải, hợp tác với Hán, gồm Trần Tự Sơn, Đào Kỳ, Hoàng Thiều Hoa, giúp Hán đánh Thục, rồi xin được trả độc lập. Khuynh hướng chủ hòa thắng thế. Anh-hùng Lĩnh-Nam kéo quân giúp Hán diệt Thục. Thục sắp bị diệt thì Hán trở mặt bắt giam thủ lĩnh người Việt. Anh-hùng Lĩnh-Nam bèn hợp tác với Thục, đánh chiếm Trung-quốc, chia ba thiên hạ thành thế chân vạc Hán, Thục, Lĩnh-Nam. Lãnh thổ Lĩnh-Nam Bắc tới hồ Động-đình. Giai đoạn này gồm 3 quyển, 30 hồi từ hồi 41 tới hồi 70, mang tên Động-đình hồ ngoại sử.
- Về phương diện văn hoá
Nghệ thuật làm chả cá, nghệ thuật làm thuốc Lào.
Giai đoạn 3. Cẩm-khê di hận
- Về phương diện sử
Anh-hùng Lĩnh-Nam khởi nghĩa thành công, tôn Trưng Trắc lên làm vua. Vua Trưng cùng chư vị anh hùng kiến tạo thành triều đại Lĩnh-Nam. Triều đình Đông Hán Mã Viện, Lưu Long, Đoàn Chí thống lĩnh 14 đại tướng, đem quân nghiêng nước quyết diệt Lĩnh-Nam. Cuộc ra quân từ tháng 7 năm 39 sau Tây-lịch. Cuộc kháng chiến vĩ đại kéo dài đến tháng 2 năm 43. Tổng cộng 43 tháng. Cuối cùng vì dân Lĩnh-Nam ít, bị Hán dùng số đông đè bẹp, vua Trưng bị nội phản, tuẫn quốc tại Cẩm-khê. Giai đoạn này gồm 4 quyển, 40 hồi từ hồi 61 tới hồi 100, mang tên Cẩm-khê di hận.
- Về phương diện văn hoá
Rất phong phú: người Việt có văn tự là chữ Khoa-đẩu. Biết đúc trống đồng. Biết làm lịch không khác với lịch hiện đại (2001) làm bao. Triều đình soạn luật, soạn các sách sử
Lời khuyên của viện Pháp-á
Quý độc giả nên đọc theo thứ tự: Anh-hùng Lĩnh-Nam, Động-đình hồ ngoại sử, Cẩm-khê di hận. Có như vậy mới thấu hiểu hết chi tiết về thời đại này.
2.Thời đại Tiêu-sơn (1010-1225)
Thuật giai đoạn thịnh trị bậc nhất của tộc Việt. Tiêu-sơn là tên ngọn núi nhỏ, nơi kết phát ngôi mộ của tổ tiên họ Lý, do đó Lý Công-Uẩn được lên ngôi vua. Tiêu-sơn cũng là tên ngôi chùa mà thủa thơ ấu, vua Lý Thái-tổ đã tu học. Vì vậy cổ văn học còn gọi thời gian triều Lý cai trị là thời đại Tiêu-sơn. Thời đại Tiêu-sơn là thời đại thịnh trị của tộc Việt: Nam bình Chiêm mở mang bờ cõi. Bắc đánh Tống.
Thời đại này chia làm 5 giai đoạn chính:
Giai đoạn 1. Anh hùng Tiêu-sơn
- Về phương diện sử
Thuật, bằng cách nào mà các Thiền-sư đã giáo huấn, rồi đưa một đệ tử tên Lý Công-Uẩn lên làm vua, tức vua Lý Thái-tổ. Hào kiệt hồi đó làm cách nào để có thể giảng hòa những tranh chấp quyền lực trong nước. Những người này là Anh-hùng Tiêu-sơn. Mặc dù phía Bắc, Tống luôn tìm cách tạo ra nhửng mâu thuẫn trong nội bộ Đại-Việt. Giai đoạn này gồm 3 quyển, 30 hồi, từ hồi 1 đến hồi 30, mang tên Anh-hùng Tiêu-sơn. Anh-hùng Tiêu-sơn thiết lập kế hoạch đòi lại lãnh thổ tộc Việt cũ lên tới hồ Động-đình. Quân Việt vượt biên đánh Tống lần thứ nhất, nhưng có tính cách cục bộ. Đánh Chiêm lần thứ nhất (1020). Mượn lời các nhân vật, tác giả thuật lại cuộc khởi binh của bà Triệu, của Bố-cái đại vương.
- Về phương diện văn hoá
Lịch sử Thiền-tông Đại-Việt. Biện biệt sự khác nhau của Thiền-Hoa, ThiềnViệt. Thuật xuất hồn. Hành trạng các Thiền-sư đắc pháp thành Bồ-tát yêu nước chủ trương đem đạo pháp giúp dân tộc như La Quý-An, Vô-Ngại, Bố-Đại, Sùng-Phạm, Vạn-Hạnh, Minh-Không. Giải thích về Sấm ký. Giải thích thuật đoán giải mộng. Phương cách tế thời Lý. Thập đại danh hoa, thập đại danh hồng. Thuật nấu bún riêu. Phương thuốc kịch độc dùng luyện Chu-sa ngũ độc chưởng.
Giai đoạn 2. Thuận-thiên di sử.
- Về phương diện sử
Nối tiếp giai đoạn 1. Lý Công-Uẩn lên làm vua lấy hiệu là Thuận-thiên. Thuận-thiên hoàng đế (sau khi băng được tôn là Thái-tổ, sử gọi là vua Lý Thái-tổ). Bộ thứ nhì của thời đại Tiêu-sơn này mang tên Thuận-thiên di sử, gồm 3 quyển, 30 hồi, từ hồi thứ 31 đến hồi thứ 60. Các Anh-hùng Tiêu-sơn giúp Thuận-thiên hoàng đế chống với cuộc chiến tranh lạnh của Tống, tiêu diệt một tôn giáo ngoại nhập, đã gây ra những cuộc chém giết khủng khiếp, nhất là mưu dâng nước cho Tống. Quân Việt vượt biên đánh Tống lần thứ nhì. Anh-hùng Tiêu-sơn liên kết với những nước thuộc tộc Việt cũ: Xiêm, Đại-lý, Lưỡng-quảng... trong mưu đồ đòi lại cố thổ.
- Về phương diện văn hoá
Ý nghĩa thập đại phong lan. Phong thủy Thăng-long. Cách làm chả cá. Giải thích Thập mục ngưu đồ trong Thiền-tông. Lịch sử Sex, Nga-sơn khoái lạc. Dùng phụ nữ trẻ làm Cây-thuốc để trường thọ. Hành trạng Đào Hà-Thanh, tổ sư Hát-nói hay Ca-trù hay hát Ả-đào.
Giai đoạn 3. Anh hùng Bắc-cương
- Về phương diện sử
Nối tiếp giai đoạn 2, gồm 4 quyển, 40 hồi từ hồi thứ 61 đến hồi thứ 100, mang tên Anh-hùng Bắc-cương. Bắt đầu đi vào giai đoạn hùng tráng. Nguyên giữa biên giới Hoa-Việt có 207 bộ tộc ít người, gồm các giống Thái, Nùng, Mèo, Lô-lô v.v. đó là di tích của chế độ Lạc-hầu, Lạc-tướng thời vua Hùng, vua An-Dương, vua Trưng còn sót lại, sử gọi họ là Anh-hùng Bắc-cương. Vì theo chế độ cha truyền con nối, nên các động trưởng, trang trưởng có nhiều quyền hành. Các trang động này như hàng rào bảo vệ Đại-Việt. Khi quân Trung-quốc muốn đánh Đại-Việt, thì phải chiếm được các trang động này trước. Khi chiếm được các trang động này, thì dễ dàng chiếm vùng đồng bằng, đe dọa thủ đô Thăng-long. Vì triều Tống, khi thì đe dọa, khi thì lôi kéo, đem chức tước ra dụ dỗ các động trưởng, châu trưởng về với họ. Nhưng các trang động này cùng Anh-hùng Tiêu-sơn liên kết, lúc nào cũng trung thành với Đại-Việt. Cuộc chiến tranh lạnh diễn ra như thế nào?
- Về phương diện văn hoá
Phương pháp nấu rượu cúc, rượu tăm, rượu tắc kè.
Giai đoạn 4. Anh linh thần võ tộc Việt
- Về phương diện sử
Nối tiếp giai đoạn 3, gồm 4 quyển, 40 hồi từ hồi 101 đến hồi 140, mang tên Anh-linh thần võ tộc Việt. Đây là giai đoạn hùng tráng của tộc Việt. Tám vùng tộc Việt liên kết nhau đánh Tống lần thứ 3, giúp Nùng Trí Cao khởi binh, chiếm lại vùng Lưỡng-Quảng, lên tới Trường-sa, hồ Động-đình. Nùng Trí Cao xưng là Nhân-huệ hoàng đế, lập ra nước Đai-Nam.
- Về phương diện văn hoá
Tổ chức binh bị hồi đó khiến Tống phải học theo. Y học tiến tới chỗ cực thịnh.
Lời khuyên của viện Pháp-á,
Quý độc giả nên đọc theo thứ tự từ hồi thứ 1 đến hồi thứ 140, tức đọc Anh-hùng Tiêu-sơn rồi tới Thuận-thiên di sử, Anh-hùng Bắc-cương. Cuối cùng là Anh-linh thần võ tộc Việt.
Giai đoạn 5: Nam-quốc sơn hà
- Về phương diện sử
Đây là giai đoạn cực kỳ hùng tráng của tộc Việt. Bấy giờ vua Tống Thần-tông dùng những cải cách về thuế khóa, canh nông, binh bị của Vương An-Thạch. Trung-quốc trở thành giầu có súc tích. Vua Tống chuẩn bị đem quân đánh chiếm Đại-Việt, đặt thành quận, huyện. Bên Việt bấy giờ vua Lý Nhân-tông mới 9 tuổi, Linh-Nhân hoàng thái hậu phụ chính. Ngài thấy rằng ngồi yên đợi giặc sao bằng tìm giặc mà đánh. Ngài sai Trung-thành vương Lý Hoằng-Chân, Tín-nghĩa vương Lý Chiêu-Văn, cùng Lý Thường-Kiệt, Tôn Đản đem quân đánh phá các kho tàng của Tống ở Hoa-Nam và chiếm các châu Khâm, Liêm, Dung, Nghi, Bạch rồi rút về. Tống đem quân nghiênh nước sang trả thù, nhưng bị quân Việt đánh bại. Bộ này mang tên Nam-quốc sơn hà, dài 50 hồi, 5 quyển, 2260 trang. Bộ này có thể đọc độc lập, không cần phải đọc trước 4 bộ trên.
- Về phương diện văn hoá
Rất đa dạng.
Trong trận đánh Ung-châu các anh hùng đã biến chế nỏ thần, pháo thăng thiên thành Lôi-tiễn, giống như đại bác ngày nay. Đây là tiền thân của thần công. Sau này người Trung-quốc học được của người Việt, rồi chế thành pháo binh cho Mông-cổ. Mông-cổ đánh châu Âu mang Lôi-tiễn sang, sau này người Đức chế thành hỏa tiễn V1-V2, và ngày nay thành phi đạn, thành phi thuyền.
Cải cách về nông nghiệp, thuế khóa, y học rực rỡ vô cùng.
3. Thời đại Đông-A.
Trong Hán tự, chữ Đông với chữ A ghép lại thành chữ Trần. Vì vậy sử gọi thời gian Trần triều cai trị là thời kỳ Đông-a. Thời đại Đông-a chia làm 2 giai đoạn.
Giai đoạn 1. Anh hùng Đông-a dựng cờ bình Mông,
Việc thành lập Triều Trần, đánh Mông-cổ lần thứ nhất, mang tên Anh-hùng Đông-a dựng cờ bình Mông. Gồm 5 quyển, 50 hồi, 2566 trang.
Giai đoạn 2. Anh hùng Đông-a gươm thiêng Hàm-tử
Đánh Mông-cổ lần thứ 2 và 3. Mang tên Anh-hùng Đông-a gươm thiêng Hàm-tử, gồm 5 quyển, khoảng 2500 trang, chưa xuất bản.


Đăng nhập để trả lời
0
Hồi 1

Thế sự hồi đầu dĩ nhất không,
Giang sơn vô lệ khấp anh hùng





Thế sự hồi đầu dĩ nhất không,
Giang sơn vô lệ khấp anh hùng.
(Phan Chu Trinh 1872-1926,
Chí thành thông thánh thi)
Dịch nghĩa:
Ngẫm sự thế, quay đầu nhìn về quá khứ, không còn gì cả.
Giang sơn hết nước mắt mà khóc cho sự nghiệp các anh hùng.



Trời nắng thu, gió heo may rít lên từng cơn, những cây thông bên bờ biển vi vu như tiếng ai oán của dân Việt mất nước. Trên bãi biển Ngọc-đường, một người đàn ông tuổi khoảng 50, lưng đeo bảo kiếm, tay dắt đứa trẻ, thả bước ngắm cảnh. Dân chài đang tụ tập làm việc, người thì vá lưới, kẻ thì giặt lưới. Họ thấy cha con người đàn ông thì lễ phép đứng dậy chào hỏi. Mỗi lần như vậy, cha con phải ngừng lại đáp lễ. Một lão già đang vá lưới, đứng dâïy chắp tay hỏi:
– Đào-hầu hôm nay thư thả, ra đây ngắm cảnh?
Người đàn ông chậm rãi trả lời:
– Khi trong lòng đau dớn, thì còn cảnh nào đẹp nữa? Khi nước đã mất thì còn lòng dạ nào mà dạo chơi?
Đứa trẻ đi cạnh ngước mắt nhìn cha hỏi:
– Bố ơi, nước mình đã mất đâu? Bố con ta chả đang sống trên đất nước mình đây sao?
Đào-hầu không trả lời, dắt con đi ngược lên đồi thông. Tới một mỏm đá nhìn ra biển, ông kéo con ngồi xuống, chỉ ra hòn đảo cách bờ không xa hỏi:
– Con có biết hòn đảo kia tên gì không?
Đứa trẻ trả lời:
– Đại sư huynh bảo đó là hòn đảo Nghi-sơn. Trên đảo có núi Biện-sơn. Đảo dài 4 dậm, rộng 2 dậm. Từ đây ra đảo khoảng 150 trượng. Trên đảo có đền thờ Mỵ Châu. Bãi biển Nghi-sơn có nhiều ngọc trai. Phía tây núi Biện-sơn có một giếng nước tên là Ngọc-tỉnh, nghĩa là giếng ngọc. Đem nước giếng ấy rửa ngọc trai, thì ngọc sáng và đẹp lắm.
Đào-hầu ngạc nhiên hỏi:
– Ai đã dẫn con đi chơi đảo Nghi-sơn?
Đứa trẻ cười nắc nẻ, giật tay cha:
– Thưa bố, anh Nghi-sơn.
Đào-hầu gật đầu, trầm tư nhìn những lớp sóng từ biển cuốn vào bờ, thở dài.
Đào-hầu tên thực là Đào Thế-Kiệt. Ông có ba con trai, con lớn là Đào Nghi-Sơn, con thứ là Đào Biện-Sơn, đều đã trưởng thành. Con thứ ba là Đào Kỳ, tức đứa trẻ này, mới 13 tuổi. Ông thấy Kỳ còn nhỏ, nên chưa cho biết những điều hệ trọng của đất nước, vì vậy trên bãi biển, nghe con đặt câu hỏi có liên quan đến đại vận dân tộc, ông không trả lời.
Ông hiện là một trong chín Lạc-hầu ở vùng Cửu-chân. Tổ tiên ông nguyên là tướng của Thục An-dương vương. Khi An-dương vương bị Triệu Đà cất quân sang đánh, bị thua trận, chạy đến đây thì khám phá ra con gái là Mỵ-Châu vì ngây thơ dại dột trong tình yêu mà làm mất nước.
Ngài giết con gái để tạ tội với thiên hạ rồi nói với các tướng sĩ rằng:
– Ta vì sinh con, không biết dạy, đến nổi làm hư việc nước. Ta không còn mặt mũi nào nhìn các quan, nhìn quốc dân nữa. Ta nguyện lấy cái chết để tự xử mình. Sau khi ta chết rồi, các người hãy chịu nhục, ẩn nhẫn theo gương Câu Tiễn nằm gai nếm mật, giúp người già, dạy trẻ thơ, để mai này khôi phục lại giang sơn.
Nói rồi An-dương vương nhảy xuống biển tự tử. Trong các tướng hồi đó có tổ tiên của Đào hầu. Ông cùng binh sĩ khai phá đất hoang, đốt rừng làm rẫy, lập ra Đào trang, đến nay đã bảy đời.
Trước khi tổ tiên ông tới đây thì vùng này dân chúng phiêu bạt, sống rải rác khắp nơi. Tổ tiên của ông cùng tám vị tướng khác chia nhau mỗi người một vùng, tụ tập dân chúng lại, dạy cho họ trồng cây, chăn nuôi. Lại giúp họ cất nhà, đóng thuyền, làm lưới đánh cá. Dân chúng cảm phục tôn chín người thành chín vị Lạc-hầu.
Thời bây giờ, người Hán tuy cai trị đất Việt, nhưng vẫn dùng chế độ phong kiến, mỗi vùng để nguyên một vị Lạc-hầu hay Lạc-tướng cai trị. Dân trong ấp dưới quyền điều động của Lạc-hầu, Lạc-tướng. Còn Thái-thú, Huyện-lệnh, Huyện-úy thì chỉ việc kiểm soát các Lạc-hầu, Lạc-tướng mà thôi.
Quận Cửu-chân, có một Thái-thú cai trị. Dưới Thái-thú có một Đô-úy coi về quân sự, có một Đô-sát coi về an ninh giống như ngày nay là cảnh sát, công an. Quận Cửu-chân chia làm bốn huyện, mỗi huyện có một Huyện-lệnh người Hán và một Huyện-úy khi thì người Việt, khi thì người Hán coi về quân sự. Mỗi huyện cũng có một Giám-sở Tế-tác coi về an ninh.
Sau gần 100 năm thì các Lạc-hầu họp nhau lại, lập ra phái võ Cửu-chân, thành ra bây giờ ở Cửu-chân chỉ có một phái võ, nhưng có tới chín trang ấp khác nhau. Từ khi phái võ Cửu-chân được thành lập đến giờ trải gần 100 năm. Võ phái Cửu-chân lấy việc phản Hán phục Việt làm lẽ chính để hoạt động. Các tôn sư của phái trọng nghĩa khinh tài, nên được các anh hùng khắp vùng Lĩnh-nam như Nam-hải, Quế-lâm, Giao-chỉ, Nhật-nam, Tượng-quận kính phục.
Tuy bên trong phái Cửu-chân có ý đồ lớn như vậy, nhưng vẫn giữ được bí mật. Nên khi Đào hầu thấy Đào Kỳ biết tường tận về đảo Nghi-sơn, ông tưởng mưu đồ bí mật đó con đã biết, nên mới vặn hỏi. Không ngờ, Đào Kỳ không biết gì hơn về thắng cảnh địa phương.
Nguyên hai hòn núi ngoài bờ biển, trước đây không có tên, một lần Đào hầu cùng phu nhân đi ngoạn sơn hứng gió, trở về đẻ ra người con thứ nhất, ông đặt tên là Nghi-Sơn, và đặt tên hòn núi đó là Nghi-sơn luôn. Hai năm sau ông bà du ngoạn hòn núi thứ nhì, về thụ thai đẻ ra người con thứ nhì, ông đặt tên là Biện-Sơn, và cũng đặt núi đó là Biện-sơn.
Ghi chú của thuật giả:
Đảo Nghi-sơn ngày nay nằm cách thị xã Thanh-hoá 55 km tại xã Ngọc-đường. Đảo dài khoảng 6 km, rộng 2 km, cách bờ biển khoảng 300-500 m. Trên đảo Nghi-sơn có núi Biện-sơn. Đền thờ Mỵ Châu hiện nay vẫn còn. Giếng Tẩy ngọc cũng còn. Trên đảo có một thành, xây từ đời Tây-sơn đặt 12 khẩu đại bác.
Thấy Đào Kỳ tuy mới 13 tuổi, nhưng đã khôn ngoan, ông muốn cho con biết những điều hệ trọng. Trước khi cho biết, ông gây sự tò mò của con, hơn là nói thẳng ra. Ông hỏi Kỳ:
– Con đã học được bao nhiêu cuốn sách rồi?
Đào Kỳ chìa bản tay ra tính:
– Đại-học này, Trung-dung này, Luận-ngữ này, Mạnh-tử này. Tứ-thư con học hết rồi. Ngũ-kinh thì con đã học kinh Thi, Thư, Xuân-thu, còn kinh Dịch thì đang học. Thầy con bảo tháng sau con sẽ được học Hàn-phi tử.
Đào hầu hướng mặt nhìn ra xa:
– Cuộc thế xoay vần, nhà Chu phong cho 800 chư hầu, nay chỉ còn lại một đất Trung-nguyên, những dân xung quanh đều trở thành Hán. Người Hán coi các dân tộc khác như thú vật, như man mọi. Họ gọi chúng ta là rợ Việt, là Nam-man, là rợ Giao-chỉ. Chúng ta có quốc tổ Hùng-vương, mà không được thờ, phải thờ Hoàng-đế, thờ Chu-công, Văn-vương, lại còn phải thờ cái gã nhà quê Lưu Bang tức Cao-tổ nhà Tây-hán . Người ta nhân danh là Hán, có quyền coi chúng ta như trâu, như chó, muốn giết thì giết, muốn bỏ tù thì bỏ. Tại sao chúng ta lại phải cúi đầu chịu nhục như vậy?
Đào Kỳ như thức tỉnh, nhìn vào chân trời xa xa:
– Vì người Hán có gươm, có đao, có sức mạnh. Vì người Hán đông, người Việt ít.
Đào hầu gật đầu:
– Chúng ta cũng có gươm, có đao, có sức mạnh. Nhưng chúng ta thiếu hai thứ: một là sự hợp quần, hai là lòng can đảm. Nếu chúng ta được hai thứ đó thì có thể đuổi người Hán ra khỏi đất nước này. Bởi vậy hôm nay bố đưa con lên đây, để dạy con mấy bài học.
Đứa trẻ mở to mắt reo lên:
– Bố ơi, con đã học xong bộ Cửu-chân trượng pháp rồi. Hôm nay bố dạy con Cửu-chân chưởng pháp đi bố.
Đào hầu lắc đầu:
– Võ thì lúc nào học chẳng được. Con đã 13 tuổi rồi, bố phải dạy con bài học quan trọng hơn. Nếu không có bài học này thì dù con có đọc hàng nghìn cuốn sách, có học hết các võ công trong thiên hạ cũng vô ích mà thôi. Đó là bài học để biết sử dụng những kiến thức trong sách vở, những chiêu thức võ học của thiên hạ.
Đào Kỳ hỏi lại:
– Bố ơi, con biết sử dụng Cửu-chân trượng pháp, Cửu-chân cầm nã thủ và Cửu-chân kiếm pháp rồi. Có khó gì đâu?
Đào Kỳ nói xong, nó rút kiếm bên cạnh cha ra, làm lễ rồi múa như mây bay, như gió cuốn. Hết bài, nó làm lễ với cha rồi tra kiếm vào vỏ, ngồi xuống.
Đào hầu vẫn mơ màng nhìn ra biển:
– Con biết sử dụng kiếm, nhưng dùng nó để làm gì? Giúp ích cho ai?
Đào Kỳ suy nghĩ một lúc, rồi chau mày, miệng muốn nói gì, rồi lại lắc đầu lộ vẻ không hiểu.
Đào hầu vuốt tóc con:
– Bố có ba con trai, thì con có ngộ tính cao nhất, hy vọng con sẽ là người thực hiện được cái chí của bố. Cho nên hôm nay bố đưa con lên đây để dạy cho con bài học quan trọng, đó là chỉ cho con biết sử dụng những gì con học được.
Ngừng một lát Đào hầu tiếp:
– Chúng ta thuộc dòng giống Bách Việt ở phía Nam núi Ngũ-lĩnh. Tổ tiên của chúng ta là Lạc-long quân. Lạc-long quân lấy tổ mẫu là Âu-cơ, tương truyền sinh được một trăm người con. Lạc-long quân phong cho mỗi con cai trị một vùng, do đó chúng ta có dòng giống Bách-việt. Người con cả của Lạc-long quân lên làm vua, lập ra họ Hồng-bàng, nước gọi là Văn-lang.
Đào Kỳ gật gật đầu, tỏ ý hiểu biết.
– Trải qua mấy ngàn năm đất nước của người Việt vẫn riêng một phương trời Nam. Sau vua Hùng thứ 88 vì mải mê rượu chè, bỏ bê chính sự, một trong các vua giống Bách-việt là Thục Phán đánh lấy nước Văn-lang lập ra nhà Thục. Vua Thục đặt tên nước là Âu-lạc.
Ghi chú của thuật giả:
Theo cổ sử, thì họ Hồng-bàng làm vua được 18 đời. Nhưng chúng tôi căn cứ vào một thư tịch khác thì không phải 18 mà 88. Con số 88 hợp lý hơn, nên trong suốt tất cả các tác phẩm của tôi, tôi dùng con số này. Xin đọc sang Anh-hùng Lĩnh Nam quyển 4.
Đào Kỳ reo lên:
– Con biết rồi bố ơi! Có một lần thầy đồ dạy con học, khi nói đến nước Âu-lạc thì người ngưng bặt, và thở dài. Con hỏi nước Âu-lạc là gì thì thầy lắc đầu. Tại sao thế hở bố?
Người cha thở dài:
– Đất nước có tên mà không dám nói tới. Người sống có khác gì chết không? Thầy con nhắc tới quốc hiệu Âu-lạc mà không dám giảng cho con nghe, vì nước chúng ta bị người Hán đô hộ, họ cấm nói đến những gì về lịch sử của chúng ta.
Đào Kỳ như đã hiểu được cha nó muốn nói gì:
– Bố ơi, thế nước Âu-lạc chúng ta làm sao mà bị mất, và mất tự bao giờ?
– Chúng ta mất nước tính đến nay là 184 năm rồi. Khi An-dương vương dựng nước, thì bên Trung-nguyên, Tần Thuỷ-hoàng thôn tính hết các chư hầu, dựng thành Trung-nguyên. Tần Thuỷ-hoàng muốn đất Âu-lạc thành quận huyện cai trị như Trung-nguyên. Thục An-dương vương cương quyết không để mất nước, chống lại. Thuỷ-hoàng sai tướng là Đồ Thư mang nửa triệu quân sang đánh. Người Việt ta, do đại tướng quân Cao Nỗ chỉ huy, ẩn vào rừng đêm ra đánh nhau với quân Tần. Cuối cùng giết được Đồ Thư, và bảo toàn được độc lập. Trong cuộc chiến này, đất nước chúng ta quá rộng, mà người ít, phải rút về phương Nam. Quân Tần lấy mất một số đất đai phía Nam núi Ngũ-lĩnh đặt ra ba quận Nam-hải, Quế-lâm và Tượng-quận, giao cho một viên quan cai trị, đó là Triệu Đà.
Ghi chú của thuật giả:
Tư Mã Thiên, Sử-ký quyển 112, chép: "Bấy giờ Thuỷ-hoàng phía Bắc thì mắc họa với rợ Hồ. Phía Nam thì khốn khổ với người Việt. Đóng binh ở chỗ đất hiểm, tiến không được, mà thoái thì cũng không xong. Suốt 10 năm, đàn ông phải mặc áo giáp, đàn bà phải xung làm lao dịch chuyên chở, khổ sở không chịu nổi. Người người thắt cổ trên cây dọc đường, người chết trông nhau".
Nghe cha nói, mặt Đào Kỳ hiện ra những nết ưu tư như người lớn. Đào hầu tiếp:
– Sau nhân Tần Thuỷ-hoàng tàn ác, dân chúng nổi loạn khắp nơi, Triệu Đà cũng không thần phục nhà Tần, xưng là Triệu Võ-vương, đóng đô ở Phiên-ngung. Đà là người khôn ngoan, có chí lớn, muốn lập một quốc gia lâu dài. Nhưng mở rộng về phương Bắc thì vướng nhà Hán hùng mạnh, nên tìm cách Nam tiến. Triệu Đà thấy trước đây Đồ Thư, đem quân Tần đánh nước Âu-lạc mà bị giết, vì Âu-lạc có ba bảo vật. Đà tìm cách phá ba thứ đó. Y bèn hỏi công chúa Mỵ Châu của An-dương vương cho con trai đầu lòng là Trọng Thuỷ, và khôn ngoan hơn, cho Trọng Thuỷ ở rể. Kỳ con, con thấy Triệu Đà có khôn không?
Đào Kỳ, tuy mới 13 tuổi, nhưng được cha dạy võ, thầy dạy văn, cha con luôn cạnh nhau, nên đã trưởng thành, biết suy nghĩ như người lớn. Nó cau mặt:
– Chắc là Thục An-dương vương không chịu gả Mỵ Châu cho Trọng Thuỷ.
Đào hầu lắc đầu:
– Con lầm rồi! An-dương vương chịu gả mới khổ chứ! Tại sao con cho rằng An-dương vương không chịu?
– Con nghĩ An-dương vương là người có tài, có chí lớn, thì mới thắng được Hùng-vương. Sau khi thắng Hùng-vương lại một lần kinh nghiệm nữa, không lẽ không biết được ý đồ của Triệu Đà? Mà dù vương có lầm lẫn thì tướng sĩ của ngài sẽ ngăn cản. Ngài dại gì gả Mỵ Châu cho Trọng Thuỷ.
Đào hầu thấy con có nhận xét tinh tế, ông mừng lắm. Ông nghĩ thầm: Nếu cứ đà này, thì năm 20 tuổi, Đào Kỳ sẽ là người lỗi lạc, có thể nối chí ông mưu đồ phục quốc được.
– Con đã biết nhìn xa rồi đó. Quân Tần mạnh mẽ biết chừng nào, gồm thâu các nước Trung-nguyên, thế như thác đổ. Vua Tần dùng đến nửa triệu quân đánh Âu-lạc nhưng vẫn bị bại. An-dương vương vì tự hào đó mà mất nước. Ngài quên rằng Âu-lạc có Tam bảo mới thắng được Tần. Con biết Tam bảo là gì không?
Đào Kỳ ngơ ngác nhìn cha, suy nghĩ một lúc rồi gãi đầu, bứt rứt trả lời:
– Con tìm ra rồi, Tam bảo là ba thứ quí. Thứ nhất là võ công của Âu-lạc, Văn-lang hơn Tần. Thứ nhì là địa thế Âu-lạc hiểm trở, khiến quân Tần tiến không được lui cũng không xong. Còn bảo vật thứ ba là gì thì con nghĩ không ra.
– Được, bố sẽ cho con biết nó là gì. Con hãy làm đừng hỏi vặt, đợi xong rồi sẽ biết.
Ông lấy cỏ bện thành một cái bùi nhùi dài, rồi quấn quanh người con như cái áo giáp. Ông lại lấy kiếm chặt tre, đẽo thành một cây côn đưa cho Đào Kỳ, dặn:
– Con đã học Cửu chân trượng pháp, con đánh cho bố coi.
Đào Kỳ cầm côn, bái tổ rồi đi thứ tự từng lộ một. Khi nó đi đến lộ thứ nhì thì có tiếng ngựa hí. Hai con tuấn mã, trên lưng chở hai người Hán, ăn mặc theo lối quan binh tiến lại gần. Biết có người lạ nhưng nó không dám ngừng lại, vì Đào hầu dạy con rất nghiêm. Khi luyện tập võ nghệ, dù có biến cố gì chăng nữa cũng không được phân tâm. Nên hai con ngựa tiến lại bên cạnh, mà Đào Kỳ vẫn tiếp tục đi hết 36 lộ, mới ngừng.
Hai người mặc theo lối quan binh Hán, thì một người to lớn da trắng, một người gầy, cao da đen. Người to lớn quát:
– Cái bọn Nam-man này trốn lên đây tập võ. Quân này to gan thực, không coi phép tắc của quan Thái-thú ra gì cả!
Dứt lời y lấy roi ngựa quất vào đầu Đào Kỳ, tiếng roi xé gió kêu rít lên vi vu, đủ tỏ kình lực của nó không tầm thường. Cây roi của y là một thứ vũ khí ít thấy, bởi nó bằng da mềm mà dài. Cây roi quấn ngang lưng Đào Kỳ đến ba vòng. Viên quan Hán quát lên một tiếng, rồi giật mạnh roi. Người Đào Kỳ vọt lên cao khỏi mặt đất, bay về phía ngựa viên Hán quan. Viên Hán quan gầy đứng ngoài thấy thế cười ha hả:
– Triệu Thanh, xé xác thằng Nam-man con ra làm đôi đi.
Y vừa nói hết câu, thì một tiếng bốp vang lên, người bạn y to lớn mập mạp đã ngã lăn xuống đất. Còn Đào Kỳ thì ngồi chễm chệ trên lưng ngựa.
Thì ra khi thấy tên quan binh to lớn muốn dùng roi để giật mình lên khỏi mặt đất, Đào Kỳ mượn thế nhảy theo; sức người, sức mình hợp làm một, bay về phía địch. Trong khi bay trên không, nó chuyển trượng giáng một đòn vào đầu đối thủ. Triệu Thanh ngã xuống, còn Đào Kỳ thì đáp trên lưng ngựa.
Nói thì chậm, nhưng diễn biến thì nhanh vô cùng, khiến tên Hán quan gầy gò chỉ còn biết há miệng ra quát tháo:
– Phản rồi! Phản rồi!
Y rút đao ở lưng ra, chân thúc ngựa tiến về phía Đào Kỳ. Đào Kỳ liếc mắt nhìn Đào hầu, thấy ông ngồi trên tảng đá lơ đãng nhìn ra biển, như nghĩ ngợi xa xôi. Ông bảo con:
– Đã trót thì phải giải quyết cho xong đi chứ?
Đào Kỳ dạ một tiếng, đưa côn gạt đao của đối thủ, rồi nó lộn một vòng trên không đáp xuống đất cười hỏi:
– Ngươi là ai, xưng tên cho ta biết.
Người gầy quát:
– Ta là lữ trưởng kỵ binh Cửu-chân. Ngươi vừa đánh ngã lữ phó của ta. Ngươi mau nạp mình, để ta mang về xử tội.
Đào Kỳ cười:
– Đã là lữ trưởng, thì võ nghệ phải cao cường. Ngươi có giỏi xuống ngựa đấu với ta.
Hán quan thấy vừa rồi đứa trẻ chỉ ra một chiêu mà bạn y đã thảm bại. Y đưa mắt nhìn Đào Kỳ để định giá địch thủ. Y thấy đứa trẻ dường như không sợ hãi. Bởi thời bấy giờ quân Hán tác oai tác quái thế nào thì dân chúng cũng phải chịu. Trẻ con, người lớn hễ thấy quân Hán là chạy trốn. Đây Đào Kỳ đã không sợ, còn coi thường nữa. Y thấy cạnh Đào Kỳ còn người cha chưa ra tay, y cũng chột dạ. Nhưng bản tính hống hách đã quen của kẻ đi cai trị, y không thể lui được. Y rút đao nhảy xuống ngựa, đứng thủ thế. Bất thình lình y hét lên một tiếng lớn nhảy vào chém liên tiếp năm đao: Từ trái sang phải, từ phải sang trái, trên xuống dưới, từ dưới lên trên, quay một vòng, rồi đâm thẳng vào ngực Đào Kỳ. Đào Kỳ chỉ nhảy nhót tránh né, chứ không phản công, vì đây là lần đầu tiên giao chiến với địch nên nó thiếu kinh nghiệm.
Đào hầu kêu lên:
– Ngũ hổ đoạn môn đao.
Nghe bố nhắc, nó tỉnh ngộ: Ngũ hổ đoạn môn đao là một thứ đao pháp vùng đất Thục. Đao pháp thiên về dương cương. Khi đánh thì để hở bộ vị dưới chân. Chờ tới khi đối thủ chém đao cuối cùng theo vòng tròn, Kỳ thụp người xuống quất một côn vào hạ bàn y. Viên quan hoảng hốt lộn người để tránh. Khi chân y vừa chạm đất, thì thế côn thứ nhì lại đâm vào hạ bộ. Y hoảng hồn lăn tròn người đi bốn vòng thoát nạn, bật người đứng dậy, thì một thế côn đã trúng đầu y đến bốp một cái. Y ngất xỉu.
Dầu sao Đào Kỳ cũng là một đứa trẻ, chưa kinh nghiệm chiến đấu, đánh địch thủ rồi không biết giải quyết ra sao? Nó hỏi bố:
– Bố ơi! Chúng nó ngất hết rồi.
Đào hầu chỉ thanh kiếm cạnh mình:
– Cho mỗi đứa một kiếm vào cổ.
Tên béo mập đã tỉnh dậy, y bở vía, quỳ gối chắp tay lạy:
– Xin đại nhân làm ơn làm phúc tha cho tiểu nhân. Tiểu nhân trót mạo phạm. Từ nay tiểu nhân gặp đại nhân đâu sẽ xin cúi đầu làm lễ.
Đào Kỳ hỏi bố:
– Bố ơi, tha hay giết?
Đào hầu bảo con:
– Con thắng chúng nó, chứ không phải bố thắng. Tha hay không là tuỳ con.
Đào Kỳ nhìn hai quan nhân người Hán, đang quỳ dưới đất, lòng nó bỗng thấy tội nghiệp, quát lên:
– Ta tha cho đấy. Về đi!
Hai người quan nhân Hán như đã xuống quỷ môn quan được trở về, vội thụp lạy Đào Kỳ rồi lên ngựa phóng thẳng.
Đào hầu nhìn con đầy vẻ hân hoan:
– Con đã thắng được hai võ quan kỵ binh Cửu– chân. Qua cuộc đấu vừa rồi con thấy thế nào?
Đào Kỳ tưởng nhớ lại cuộc chiến đấu:
– Con thấy có điều rất lạ. Một là hai người đều có sức mạnh, đòn đánh ra như vũ bão, chứng tỏ ra đã nhiều năm luyện tập. Nhưng con thấy chúng để ra những sơ hở quá nhiều. Hai là những sơ hở đó lại hợp với những chiêu thức bố dạy con. Bố cho con biết tại sao đi!
– Những điều con nhận xét rất đúng. Có gì mà không hiểu. Nếu như bố luyện võ của Trung-nguyên từ bé, thì giờ phút này chưa chắc bố đã là đối thủ của họ. Còn con học võ Văn-lang, Âu-lạc, nên chỉ một hai chiêu hạ được họ là lẽ thường. Con nên biết rằng võ học nhà ta xuất phát từ đời An-dương vương. Cửu-chân trượng pháp là của ông Nồi, ngài tên thực là Vũ Bảo Trung. Nguyên ba cha con ông Nồi xưa kia là tướng của An-dương vương. Các ông đã nhân giao đấu với quân Tần, tìm ra tất cả những phá cách của võ học Trung-nguyên, rồi chế ra 36 lộ trượng pháp. Bởi vậy mỗi thế đánh của họ, để ra những sơ hở. Nếu như con giao chiến với người Lâm-ấp, thì chưa chắc con đã thắng họ dễ dàng như vậy. Con phải tìm hiểu lối đánh của họ, nhiên hậu mới thắng. Còn con đánh với người Hán, thì những thức, những chiêu con đánh ra đều khắc chế với họ cả, do vậy con thắng họ dễ dàng... Bây giờ con dùng Cửu-chân trượng pháp để tự vệ. Bố sẽ dùng những cành cây làm tên, bắn vào con.
Ghi chú của thuật giả:
Ông Nồi, tên thực là Vũ Bảo Trung tước phong Trung-tín hầu, là khai quốc công thần của Thục An-dương vương. Ngài quán tại Hương-canh, huyện Yên-lãng, tỉnh Vĩnh-phú, Bắc Việt. Xuất thân là người làm nghề nặn đồ sành bán, nên dân chúng gọi là ông Nồi. Ngài là đệ tử của Vạn-tín hầu Lý Thân. Ngài có hai người con trai, lớn là ông Đống tức Vũ Bảo Sơn tước phong Bảo-nghĩa hầu, thứ là ông Vực tức Vũ Bảo Hà tước phong Bảo-tín hầu. Khi Triệu Đà xâm lăng Thục, ba cha con ngài đều tuẫn quốc. Nơi cha con Ngài tuẫn quốc là vùng Chiêm-trạch, dân chúng gọi là gò Thánh-hóa. Ngày nay đền thờ của ba cha con Ngài còn tại Ngọc-chi và Vĩnh-thanh, huyện Đông-anh, Hà-nội.
Đào Kỳ tuân lệnh, múa côn như một chiếc cầu xanh bao phủ lấy thân. Đào hầu dùng những cành tre nhỏ như những mũi tên phóng vào người con. Ông phóng một lúc năm mũi, thì Kỳ gạt được có hai, còn ba mũi ghim vào tấm áo giáp bằng cỏ. Đến đó Đào hầu ngừng lại, hỏi con:
– Lúc nãy bố con ta đang nói đến Tam-bảo, con đoán được hai. Vậy vừa rồi là đệ tam bảo đó.
Đào Kỳ ngơ ngác không hiểu:
– Thế nghĩa là...
– Là kỹ thuật bắn cung tên của Âu-lạc.
Đào Kỳ đang hớn hở, bỗng buồn thiu lại:
– Con có nghe truyện này rồi. Mẹ kể cho nghe ngày xưa, vua An-dương xây thành Cổ-loa, cứ xây lại bị đổ. Sau được thần Kim-quy hiện lên bắt ma đi, vua mới xây được thành. Sau khi xây thành, thần cho vua cái móng rùa, làm nỏ thần. Mỗi phát bắn ra cả ngàn người chết.
– Không phải thế đâu con ơi! Không phải thần Kim-quy, mà là đại tướng Cao Nỗ. Ngài chế ra nỏ, có thể bắn một lúc cả trăm mũi tên. Có mũi nỏ như tên thường, có mũi to bằng bắp tay. Như ban nãy, bố giả làm tên bắn vào con, hai mũi thì con đỡ được, còn ba mũi thì con không đỡ được nữa. Nếu một tướng, dẫn đoàn quân xung trận, chỉ cần nẫy nỏ của Cao hầu bắn một phát, trăm mũi tên tung ra, thì ông tướng đó phải chết, phân nửa đoàn quân tê liệt. Nếu có mười nỏ hay trăm nỏ thì quân nào chịu cho nổi? Vì có nẫy nỏ đó, quân Âu-lạc thắng quân Tần. Triệu Đà nhiều lần đánh Âu-lạc đều bị bại vì thần nỏ.
Bây giờ Đào Kỳ mới hiểu:
– Thì ra Triệu Đà đánh Âu-lạc không được, mới cho Trọng Thuỷ sang làm rể, để phá Tam-bảo của An-dương vương. Một là biết được đường xá, địa thế, tình hình. Hai là biết được võ học Âu-lạc, ba là biết được cách làm nỏ thần.
– Đúng đấy. Bấy giờ trong triều Âu-lạc các quan đều phản đối. Nhưng có một số nhận hối lộ của Trọng Thuỷ nên tán thành. Đại tướng quân Cao Nỗ buồn rầu, cùng em là Cao Tứ lui về vườn ở ẩn. Trọng Thuỷ ở rể Aâu-lạc một thời gian đã mua chuộc được nhiều người, ngầm phá hại hết tất cả những xe chở nỏ, những dàn nỏ lớn đặt trên thành. Thuỷ nhân lúc vợ chồng tình nghĩa mặn nồng, hỏi về bí mật chế nỏ. Mỵ Châu nhẹ dạ, ăn cắp sơ đồ chế nỏ đưa cho chồng xem. Trọng Thuỷ ghi nhớ trong lòng, rồi đem trả lại vợ.
Sau khi biết được Tam-bảo của Âu-lạc, Trọng Thuỷ xin phép về thăm nhà. Khi trở về Nam Việt, y tính rằng sẽ mang quân đánh Aâu-lạc, Tam-bảo bị mất Aâu– lạc tất bại trận. Vua An-dương sẽ bỏ chạy, sau đó tụ tập quân phản công. Y nghĩ ra một kế tặng cho Mỵ Châu chiếc áo bằng lông ngỗng. Dặn vợ rằng: Nếu giặc tới, chạy đi đâu thì rắc lông ngỗng đến đó, y sẽ theo dấu lông ngỗng tìm vợ.
Đào Kỳ quát lên:
– Thực là độc địa!
Đào hầu hỏi con:
– Con đoán được rồi à?
– Con đoán ra rồi. Trọng Thuỷ biết An-dương chạy đâu, thì mang Mỵ Châu theo. Cho nên Trọng Thuỷ mới tặng Mỵ Châu chiếc áo lông ngỗng, dặn nàng rắc lông để y biết mà tìm. Trọng Thuỷ chỉ việc theo dấu là bắt được An-dương vương.
– Đúng! Trọng Thuỷ về triều, cho chế nỏ thần như Aâu-lạc, rồi cùng cha là Triệu Đà cất quân đánh. Âu-lạc lâu nay hoà bình, không phòng bị. Khi quân Triệu Đà tới nơi, vội vàng mang nỏ thần ra bắn, thì mười cái hỏng cả mười. Thậm chí những dàn nỏ đặt trên thành cũng bị hỏng cả. Đại quân Âu-lạc tan vỡ mau chóng. An-dương vương vội ôm Mỵ Châu lên ngựa chạy về phía Nam. Chạy được hai ngày thì gặp đoàn đệ tử của anh em Cao Nỗ.
Đào hầu ngừng lại cho con theo kịp rồi tiếp:
– Nguyên khi về nghỉ ở thôn trang, đại tướng Cao Nỗ đã sáng chế ra một loại nỏ bắn mỗi lần cả ngàn mũi tên, tầm bắn xa gấp đôi. Vì vậy đoàn đệ tử của ngài ít người, nhưng bắn lui quân Triệu. Sau quân Triệu tới trùng trùng điệp điệp, mà đoàn đệ tử Cao gia chỉ có mấy trăm người, nên cuối cùng anh em ngài đều tuẫn quốc. Nhờ anh em Cao gia ra sức cản giặc, An-dương vương mới chạy đến đất này.
Đào hầu chỉ mỏm đá trước mặt:
– Đây là chỗ An-vương vương giết Mỵ Châu, rồi nhảy xuống biển chết. Còn ngôi đền trên đỉnh núi kia là nơi tổ tiên ta xây để thờ An-dương vương.
Kể đến đây Đào hầu xuất thần ngơ ngẩn nhìn những lớp sóng biển trắng xoá, lớp nọ đè lên lớp kia xô nhau tiến vào bờ.
Hốt nhiên ông khoanh tay thành quyền, bước chéo sang phải một bước, phóng chưởng đánh vào một bụi cây. Chưởng phong vù vù xô tới, cây cỏ bật tung lên. Ông lại lùi một bước phóng chưởng thứ nhì, cát đá bay mịt mờ. Ông lùi bước thứ ba phóng chưởng nữa, trúng vào cây thông đến ầm một cái, cây thông gãy làm đôi đổ xuống.
Đào Kỳ reo lên:
– Bố ơi, bố sử dụng Cửu-chân chưởng, chiêu Hải triều lãng lãng phải không bố? Chưởng này có năm lớp, sao bố phóng có ba?
Đào hầu xoa đầu con:
– Con đã học chưởng này rồi phải không? Khi Thục An-dương vương chạy đến đây, ngài nghĩ lại lúc 20 tuổi thắng các anh hùng Tây-vu được tôn lên làm vua, rồi 25 tuổi đem quân đánh vua Hùng dựng nghiệp lớn. Năm 30 tuổi đánh quân Tần, giết Đồ Thư. Năm 35 tuổi xây thành Cổ-loa, và bây giờ tuổi tuy già, nhưng lực chưa tàn vì thiếu tinh tế, vì con gái dại dột mà mất nghiệp... Uất khí bốc lên, ngài sáng chế ra chiêu Hải triều lãng lãng gồm năm lớp. Mỗi lớp tượng trưng cho một thời kỳ của ngài. Lớp đầu mạnh hai, thì lớp thứ nhì mạnh bốn, lớp thứ ba mạnh tám, lớp thứ tư mạnh 16, và lớp thứ năm mạnh 32. Ban nãy bố chỉ phát có ba lớp mà mạnh như vậy đó. Chưởng Cửu-chân nhà ta khác với các chưởng khác rất nhiều. Các chưởng khác thì người phải có một công lực cao ở mức độ nào đó mới tập được. Còn Cửu-chân chưởng thì công lực thấp mãnh liệt ít, công lực cao mãnh liệt như sóng bể tràn lan, không biết đâu mà lường.
Đào Kỳ đứng lên nhìn xuống biển, chỉ thấy biển rộng mênh mông, sóng vỗ trùng trùng điệp.
Nó nhìn lên đền An-dương vương hỏi:
– Con đã vào đền lễ nhiều lần cùng với mẹ và các anh. Mẹ chỉ cho con tượng người cầm gươm đứng giữa là An-dương vương, người cầm nỏ đứng bên là Cao Nỗ, người cầm trượng là Vũ Bảo Trung. Trước mặt mấy thần tượng là tượng hai người quỳ gối, một là Triệu Đà, hai là Trọng Thủy. Nhưng bố ơi, tại sao không thờ Mỵ Châu?
– Không thờ! Người Việt không thờ những loại gái bán thân cho ngoại tộc, vì một người chồng ngoại tộc mà hại cả cha mẹ, tổ tiên, hại cả giang sơn, hại cả dân tộc. Nhưng sau này người Hán cai trị chúng ta, họ mới ra ngoài đảo Nghi-sơn xây đền thờ Mỵ Châu, để khuyến khích những người con gái Việt đi theo giặc, bán thân cho giặc, bán hết cả cho giặc như Mỵ Châu. Có điều sau khi Mỵ Châu chết rồi, tự nhiên những con trai ở vùng Cửu-chân có ngọc óng ánh như vết máu. Ngọc đó bị mờ, lấy nước giếng ở núi Biện-sơn rửa thì ngọc sáng ra. Còn Trọng Thuỷ sau khi đuổi tới đây, thấy Mỵ Châu chết, chôn cất tử tế, rồi về Cổ-loa nhảy xuống giếng tự tử chết. Ngọc trai ở đây bị mờ, lấy nước giếng Cổ-loa rửa còn sáng hơn nước giếng Biện-sơn.
Đào Kỳ lại thắc mắc:
– Tại sao bố lại đặt tên anh cả là Nghi Sơn, hai hai là Biện Sơn? Đó là nhân vì địa danh ở Ngọc-đường hay vì lý do vong quốc?
Đào hầu thở dài:
– Tổ tiên con trước cũng là một tướng của An Dương vương, truyền đến bố là bảy đời. Mình mất nước tới nay là 184 năm rồi. Nếu mình muốn phục quốc, phải tìm cho được hai thứ: Một là bí quyết làm nỏ của đại tướng Cao Nỗ, hai là tất cả những bí quyết võ công thời An Dương vương. Bố đặt tên cho hai anh con, là muốn nhắc nhở đến cái hận vong quốc. Còn tên con, cha muốn con nhớ đến cái hận mất đất Lĩnh-nam. Bởi tổ tiên ta gốc ở núi Kỳ, phía Nam Ngũ-lĩnh.
Đào Kỳ khẳng khái:
– Võ công của người xưa chế ra, tại sao mình không thể chế ra?
Đào hầu dắt con trở về, cha con đủng đỉnh xuống núi:
– Đã đành mình có thể chế, nhưng người xưa mất bao nhiêu tâm huyết mới tìm ra những chiêu thức bí hiểm. Nếu con học võ của tổ tiên rồi từ chiêu thức đó, biến chế thành võ học mới, sẽ đỡ tốn công hơn. Bố nghe nói, khi Vạn-tín hầu Lý Thân tự vận, có ghi chú tất cả võ công vào 200 thẻ bằng đồng. Nhưng không hiểu nay ai giữ? Còn trước khi Cao Nỗ đánh trận cuối cùng rồi tuẫn quốc, cũng có ghi chép, vẽ đồ hình nỏ thần để lại cho đời sau, nhưng nay không hiểu ở đâu?
Hai cha con đang đắm mình trong những biến cố gần 200 năm trước, thì có tiếng quát:
– Khôn hồn đứng im, nếu động đậy, ta ra lệnh buông tên.
Hai cha con giật mình nhìn xung quanh, gần 30 binh Hán, tên đặt lên cung, chỉ chờ lệnh là buông. Người chỉ huy là tên béo mập thả ban nãy. Đào hầu sợ Đào Kỳ sử dụng võ, bảo con:
– Không được chống trả.
Tên béo mập ra lệnh:
– Quăng vũ khí ra xa.
Đào hầu tháo thanh kiếm trên lưng, quăng ra xa. Tên béo mập cười ha hả:
– Phen này tụi bây có đến trăm cái đầu cũng phải rụng hết.
Triệu Thanh ra lệnh cho lính trói Đào hầu và Đào Kỳ lại rồi bắt hai cha con đi về phía một doanh trại. Đào hầu chú ý nhìn thấy đây là một doanh trại kỵ binh mới cất lên không lâu. Ông thắc mắc:
– Quân kỵ ở đâu đông thế này? Họ đến vùng này làm gì mà ta không biết?
Ông nhìn lên cột cờ ở sân thấy thêu con gấu đen thì giật mình:
– Thì ra kỵ binh ở Giao-chỉ. Vậy có biến cố gì đây?
Thời bấy giờ Thái-thú Cửu-chân là Nhâm Diên, bất hoà với Thái-thú Giao-chỉ là Tích Quang. Cho nên những người bị Tích Quang truy nã thì chạy vào Cửu-chân ẩn náu, và những người bị Nhâm Diên truy nã thì chạy ra Giao-chỉ tỵ nạn. Mỗi Thái-thú có một quân trực thuộc toàn người Hán tổng cộng 12.500 người. Mỗi quận gồm 4 sư bộ và một sư kỵ. Mỗi huyện thì có một sư hỗn hợp, cứ một người Hán lại có một người Việt.
Đào hầu thấy kỳ hiệu của thiết kỵ Giao-chỉ tiến vào Cửu-chân, làm ông nảy ra không biết bao nhiêu nghi vấn:
– Một là hai Thái-thú bất hoà với nhau, đem quân đánh nhau. Hai là có cuộc khởi binh của một trong chín Lạc-hầu, lực lượng Hán ở Cửu-chân chống không nổi phải viện thêm lực lượng Giao-chỉ.
Nhưng ông thấy điều này không đúng, vì đất Cửu-chân có chín Lạc-hầu thì năm vị đã thoả hiệp với thái-thú, hai vị thì sống xa vời với chuyện phục quốc. Chỉ còn Đào trang nhà ông với Đinh trang của em vợ ông là còn giữ nguyên chí nguyện của tổ tiên. Ông với em vợ Đinh Đại hiện chưa có động tĩnh gì đến nỗi Thái-thú Cửu-chân phải viện quân từ Giao-chỉ vào.
Đúng như quan chế hồi đó, thì Lạc-hầu còn ở địa vị cao hơn sư trưởng, nhưng thực tế thì bọn Hán quan thường dùng sức mạnh, bắt giam các Lạc-hầu, Lạc-tướng là thường. Đấy là nói quân Hán ở Cửu-chân. Huống hồ đây lại là quân Hán của Giao-chỉ gửi vào.
Triệu Thanh đưa cha con Đào hầu vào doanh trại giao cho mấy tên lính và dặn:
– Chúng bay hãy giam hai con chó Nam-man này lại, đợi ta phát lạc sau.
Mấy tên quân dẫn cha con Đào Kỳ vào một căn lều kín, bỏ đó, đóng cửa đi ra. Đào hầu bảo con:
– Có cách thoát thân rồi, con thử nghĩ xem có giống như ý bố không?
Đào Kỳ thì thầm vào tai bố:nói:
– Đợi đến đêm, bố cắn dây cởi trói cho con. Rồi con cởi trói cho bố. Bố con mình thư thả đi về.
Đào hầu nói:
– Bố đưa con ra khỏi doanh trại, con về báo cho mẹ biết, kẻo mẹ lo sợ. Còn bố thì bố trở lại dọ thám xem quân kỵ Giao-chỉ vào Cửu-chân làm gì?
Đào Kỳ nói:
– Bố nghi là phải. Con nghĩ binh lính ở Cửu-chân dư sức đánh dẹp bất cứ trang ấp nào của ta, hà cớ Thái-thú phải viện kỵ binh Giao-chỉ? Có khi y muốn tiêu diệt chín nhà chúng ta cũng nên.
Trời đã trở về chiều. Mặt trời ngả bóng, vẫn không thấy Triệu Thanh trở lại để trả thù như ước tính. Đào hầu ghé răng cắn dây cởi trói cho con.
Sau đó Đào Kỳ cởi trói cho cha. Hai người chưa kịp đứng dậy thì có tiếng chân người đi tới, rồi tiếng một tên quân Hán nói:
– Ta mang cơm cho hai con chó Việt ăn đây.
Cánh cửa mở, hai tên quân Hán bước vào. Đào hầu hô:
– Phát chưởng!
Đào Kỳ ra chiêu Loa thành nguyệt hạ, Đào hầu ra chiêu Tây vu xuất binh. Hai tên Hán bị ngã chết giấc tức thì. Đào Hầu cởi quần áo của tên to lớn mặc vào. Đào Kỳ bắt chước cha, cởi quần áo của tên nhỏ bé mặc vào, nhưng vẫn còn rộng thùng thình. Hai cha con dùng dây trói hai tên quân Hán lại rồi mở cửa lều ra ngoài. Đào hầu dẫn con hướng về phía góc doanh trại vắng người, chỉ ra ngoài nói:
– Con theo hướng này băng qua đồi thì về trang của mình được.
Đợi Đào Kỳ đi rồi, ông mới nhắm hướng đại doanh đi tới. Đại doanh là một căn lều khá lớn, bên trong có đèn nến sáng choang. Ông nép mình dưới cửa sổ nhìn vào: Bên trong có hơn mười người ngồi quanh một cái bàn, dường như đang hội họp. Ông nhận được mặt các quan chức người Hán ở Cửu-chân: Thái thú Nhâm Diên, Đô-uý Dương Hiển, Đô-sát Chu Khải và một số võ quan ông không nhận ra.
Đô-sát Chu Khải chỉ lên tấm bản đồ:
– Từ Đào trang đến Đinh trang xa khoảng 10 dậm. Trang chủ Đào trang là Đào Thế Kiệt 50 tuổi, văn võ kiêm toàn. Vợ là Đinh Xuân Hoa 40 tuổi, võ công không thua chồng là bao. Đệ tử chân truyền có ba người là Trần Dương Đức, Trịnh Quang, Hoàng Thiều Hoa, cả ba đều văn võ kiêm toàn. Thiều Hoa năm nay 18 tuổi, có vẻ đẹp quốc sắc thiên hương, khắp vùng đều biết tiếng. Thế Kiệt có ba con trai là Nghi Sơn, Biện Sơn, và Kỳ. Hai người lớn thì võ công tuyệt thế, đứa nhỏ mới 13 tuổi, nhưng văn võ đều thông. Đệ tử ngoại đồ 88 người, tráng đinh 500, phụ nữ biết võ 200. Dân chúng trong trang gồm 1.200 nóc gia, tổng cộng 6.300 người. Lương thực, lừa ngựa đầy đủ. Người trong trang được tổ chức thành đội ngũ chỉnh tề.
Thái-thú Nhâm Diên hướng vào một võ quan trẻ nói:
– Từ khi thuộc hạ về đây trấn nhậm nhận thấy một điều khó khăn nhất là tất cả dân chúng đều quy tụ vào chín Lạc-hầu. Mà chín Lạc-hầu đều là con cháu của đám di thần Âu-lạc. Đám này nhận di ngôn của Thục Phán ẩn náu chờ thời, phản Hán phục Việt, cho nên mối nguy nổi loạn không biết sẽ nổ ra lúc nào.
Ngừng một lúc y nói tiếp:
– Mấy năm trước đây bên Trung-nguyên chúng ta xảy ra vụ Vương Mãng cướp ngôi, thiên hạ tao loạn, phân năm xẻ bảy. Thuộc hạ không quy phục Vương Mãng. Vương Mãng mấy lần định mang quân sang hỏi tội. Bọn Lạc-hầu, Lạc-tướng thấy vậy rục rịch định nổi loạn. Ty chức biết trước vội vàng ban hành pháp lệnh năm điều để làm tan thế đoàn kết của bọn chúng.
Đô-uý Chu Khải hỏi:
– Chúng ta là người Hán, đi cai trị bọn Nam-man. Nếu chúng nó nổi loạn thì mang quân đi dẹp, há sợ gì? Tại sao đại nhân phải ban hành pháp lệnh làm gì cho mệt.
Nhâm Diên nói:
– Đô-uý biết một mà không biết hai. Dân chúng Cửu-chân đều quy tụ vào chín nhà, nếu chúng ta dẹp hết chín nhà, thì Cửu-chân chỉ còn là bãi đất hoang. Cho nên bản nhân mới theo Tôn-tử binh pháp: "Dụng binh chi đạo, toàn quân vi thượng, phá quân thứ chi"
Nghĩa là: Đạo dùng binh cần bảo vệ lấy quân hơn là tổn hại quân sĩ. Cho nên thuộc hạ chỉ dùng có một tờ giấy, viết năm điều pháp lệnh, mở rộng cho người Hán, người Việt được bình đẳng, được kết hôn với nhau, lại cho người Việt làm quan chức, dạy chữ thánh hiền, lễ nghĩa cho chúng...
Một võ quan dáng người uy nghi, còn trẻ ngồi ghế chủ toạ nói:
– Tuyệt! Chúng ta là con cháu Văn-vương, Chu-công, Khổng-tử. Nhà Đại Hán coi thần dân như con đỏ. Thái-thú ban pháp lệnh cho người Việt được như người Hán, cho người về Trung-nguyên mượn những nho gia khoa bảng thất thời sang đây dạy dỗ họ, đúng như Khổng-tử nói "Giáo bất biệt hoại", nghĩa là khi dạy học thì không phân biệt giống người. Làm như vậy vừa được âm đức vừa làm sáng nghĩa của Khổng Mạnh.
Đào Thế Kiệt cố moi óc xem võ tướng trẻ tuổi này là ai, nhưng ông đoán không ra. Cứ thấy dáng điệu đường bệ của y và cung cách lễ phép của Nhâm Diên, ông cũng đoán sơ rằng viên võ quan này có địa vị không nhỏ.
Nhâm Diên nói:
– Thuộc-hạ không thực tâm như vậy, chẳng qua là muốn tâm chiến giai đoạn mà thôi. Thuộc hạ còn ký lệnh phong cho năm Lạc-hầu làm Huyện-úy. Thế là từ đấy, quan binh Hán cứ ngồi chơi, người Việt gây loạn thì dùng huyện úy người Việt mang bản bộ quân mã cũng là người Việt đi đánh. Cho nên pháp lệnh ban ra mấy năm, đi đâu cũng chỉ nghe bàn đến Tam-hoàng, Ngũ-đế, Chu-công, Văn-vương, Khổng-tử mà không hề nghe nói đến Hùng-vương. Lúc trà dư tửu hậu người a chỉ nói trận Cai-hạ, Hạng Võ bị thua, tự tử ở Ô-giang, mà không nghe thấy nói đến Hùng-vương đại chiến An-dương vương. Trẻ con học về trận chiến giữa Hoàng-đế với Suy Vưu mà không học về trận chiến giữa An-dương vương với Đồ Thư. Dân chúng chỉ biết cái nhục bị Tần Thuỷ-hoàng cai trị, mà quên mất cái hận Cổ-loa bị Triệu Đà phá. Nam nữ thanh niên chỉ còn biết đến diễm tình của Tiêu Sử với Lộng Ngọc mà quên chuyện Trương Chi Mỵ Nương.
Ngừng lại một lúc y nói:
– Chín Lạc-hầu, không cần đánh, mà năm người trở thành đầy tớ của ta. Thuộc hạ lại tìm cách nay khen ngợi, mai ban thưởng, khiến cho hai Lạc-hầu mãi mê với việc phát triển văn hoá Trung-nguyên, mà xa lìa cái gọi là phản Hán phục Việt. Rút cục chỉ có Đào trang và Đinh trang là còn giữ nguyên. Cho nên thuộc hạ cần phải ra tay tiêu diệt.
Viên võ quan trẻ lại hỏi:
– Nhâm Thái-thú đã từng nêu cao nhân nghĩa bấy lâu, thì nay cũng phải truyền một hịch để kể tội Đào, Đinh, thì ta ra quân mới được dân chúng tôn phục. Vậy Nhâm Thái-thú đã tìm ra tội trạng gì của hai trang chưa? Tôi nghĩ rằng ra quân đánh người vô lý, thứ nhất là ác độc, dã man vô nhân đạo, thứ nhì là thất nhân tâm.
Đô-uý Cửu-chân Dương Hiển nói:
– Lĩnh Nam công xuất thân là người nghĩa hiệp nên mới đưa ra ý kiến đó. Nhưng ý của Thái-thú đại nhân là đánh Đào, Đinh trang, sẽ khiến cho các trang kia sợ hãi không dám trở lại phản Hán phục Việt nữa.
Đào hầu nghe bọn Hán quan bàn luận đánh trang ấp của mình, bất giác ông rùng mình nghĩ:
– Thì ra tên tướng trẻ này là Nghiêm Sơn, tước phong Lĩnh-nam công, lĩnh chức Bình-nam đại tướng quân. Y là người đã xả thân đánh nhau với võ sĩ Vương Mãng 20 trận, bị thương 15 lần, cứu Quang Vũ, cùng Quang Vũ phất cờ dựng lại nhà Hán. Y được Quang Vũ giao cho toàn quyền sáu quận Lĩnh-nam là Nam-hải, Tượng-quận, Quế-lâm, Giao-chỉ, Cửu-chân và Nhật-nam. Thì ra Nhâm Diên nhờ Lĩnh-nam công mang quân vào diệt trang ấp của mình với Đinh sư đệ. May mà mình biết trước.
Thái-thú Nhâm Diên tiếp:
– Thuộc hạ mới trình văn lên Bình-nam đại tướng quân, để làm sao đánh một trận, diệt được hai trang. Do vậy hôm nay Lĩnh-nam công đại nhân mới mang thiết kỵ từ Giao-chỉ vào trợ chiến. Thuộc hạ định kế sách như thế này:
Thứ nhất, Đô-úy Cửu-chân Dương tướng quân chỉ huy đánh Đinh trang.
Thứ nhì, thuộc hạ chỉ huy đánh Đào trang.
Thứ ba, Đô sát Cửu-chân Chu tướng quân chặn đường rút lui của giặc về phía Nhật-nam.
Ngày mai thuộc hạ sẽ đạt thư mời Đào Thế Kiệt, Đinh Đại đến phủ Thái-thú ăn tiệc, rồi tìm cách giữ lại cho đến chiều. Trong khi đó thì sáng sớm Dương Đô-úy cho bao vây Đinh trang: Sư số 1 mặt Đông, Tây, sư số 2 phục ở đèo phía Nam. Sư kỵ thì tấn công vào phía Bắc. Giặc thấy trống mặt Nam tất chạy qua đèo Đôn-dương, sư số 2 dùng cung tên tiêu diệt. Cùng lúc đó thì chính thuộc hạ đánh Đào trang. Sư số 3 bao vây mặt Tây, Nam không cho chúng liên lạc với Đinh trang. Sư số 4 bao vây mặt Đông. Sư kỵ Giao-chỉ tấn công mặt Bắc. Trong lúc thuộc hạ giữ Đào Thế Kiệt, Đinh Đại ở phủ thì các vị bao vây hai trang. Thuộc hạ sẽ ép hai tên Đào, Đinh đầu hàng, giải tán trang của chúng. Nếu chúng biết điều quy phục, thì chúng ta chỉ việc tiến quân vào trong trang cử người thay chúng làm Lạc-hầu. Còn chúng không chịu đầu hàng thì thuộc hạ sẽ đốt pháo lệnh, các vị cho tấn công.
Đô-sát Cửu-chân Chu Khải hỏi:
– Trường hợp chúng đầu hàng thì giải quyết gia đình chúng ra sao?
Nhâm Diên tủm tỉm cười:
– Cho mỗi gia đình một cái thuyền lớn, nội ngày phải ra đảo Nghi-sơn ở. Thuyền tôi đã cho cắt đai, đục lỗ sẵn, khi ra khơi bị sóng đánh chìm ngay.
Nghiêm Sơn không đồng ý:
– Người ta đã đầu hàng, mà còn giết tuyệt như vậy, đâu có đạo nghĩa gì?
Nhâm Diên liếc ngang mắt, không dám hỏi gì.
Nghiêm Sơn nói:
– Nếu họ đầu hàng thì ta vẫn để cho họ làm Lạc-hầu. Được một hào kiệt đầu hàng còn hơn được một trăm tên xu phụ.


Đăng nhập để trả lời
0
Hồi 2

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi




Đào-hầu biết có nghe thêm nữa cũng vô ích. Ông lẩn ra phía sau doanh trại, vọt qua hàng rào, dùng khinh công chạy thẳng về Đào-trang. Vừa vào tới trang, ông cho gọi các con và đệ tử đến sảnh đường. Đào phu nhân họ Đinh, xuất thân là người đồng môn với Đào-hầu. Võ công của bà không thua gì chồng. Bà kết hôn với Đào-hầu đã 24 năm, vợ chồng tâm hợp ý đồng, lấy việc dạy học trò, quy tụ dân chúng, mở mang ruộng vườn làm mục đích cho cuộc sống. Trong thời gian dài chung sống, bà biết rằng dù gặp chông gai bão táp đến đâu, ông cũng bình tĩnh giải quyết. Nay thấy ông trầm tư, rồi tập họp con cái, học trò khẩn cấp, bà biết đại biến cố đã đến.
Sáng hôm nay, Đào-hầu nói vơí bà rằng ông dẫn đứa con út là Đào Kỳ dạo chơi bãi biển, xem dân chúng đánh cá. Thế rồi buổi trưa không thấy chồng con về ăn cơm, linh tính báo cho bà biết có sự không may sẽ xảy ra. Chiều mới thấy Đào Kỳ trở về nói với bà rằng Đào-hầu và nó bị bắt. Đào hầu ở lại dọ thám. Nghe con thuật, Đào phu nhân tỏ vẻ bực tức, vì thời bấy giờ tuy bị người Hán cai trị, nhưng chồng bà là một Lạc-hầu, chỉ Thái-thú mới có quyền bắt giữ. Thế mà nay một võ quan cấp Lữ, bắt giam ông. Bây giờ thấy chồng trở về, mặt đầy vẻ nghiêm trọng, bà không kiên nhẫn được nữa, hỏi:
– Có tai vạ lớn rồi ư?
Đào-hầu gật đầu:
– Hơn thế nữa!
Ông gọi đại đệ tử là Trần Dương Đức bảo:
– Con xuống tầu, chuẩn bị hai con ngựa, mang theo kiếm chờ sư phụ ở sân để cùng đi Đinh trang.
Ông bảo con cả là Nghi Sơn:
– Con điều khiển tráng đinh, đệ tử phòng vệ, tuần tiễu trong trang thực nghiêm mật. Chỉ cho người vào mà không cho người ra. Ai không tuân, giết tại chỗ, kể cả đệ tử trong nhà.
Ông bảo con thứ là Biện Sơn:
– Con đánh trống tập họp đệ tự ở đại sảnh đường, xong vào báo cho bố biết.
Ông tường thuật sơ lược mọi chuyện cho phu nhân nghe rồi kết luận:
– Ta quyết định bỏ đất này chạy ra Giao-chỉ. Cách đây năm năm, dự đoán tình thế khó yên, ta đã cho em là Đào Thế Hùng mang gia đình ra Cổ-loa lập nghiệp trước, nay chúng ta ra đó thì đã có cơ sở rồi. Vậy phu nhân cho tỳ nữ chuẩn bị những thứ gì tối cần thiết hãy mang theo. Chúng ta phải đi ngay đêm nay mới kịp.
Biện Sơn vào thưa:
– Thưa bố, các đệ tử đã tề tựu đông đủ.
Đào hầu theo con vào đại sảnh đường. Các đệ tử chắp tay hành lễ. Ông ra hiệu miễn lễ rồi nói:
– Tổ tiên ta xây dựng cơ nghiệp này đã được bảy đời, cộng 184 năm. Ngày nay Đào trang gặp tai biến. Thái– thú Nhâm Diên tập trung 15.000 quân để đánh hai trang Đào, Đinh vào ngày mai. Đệ tử Cửu-chân chúng ta không hèn, nhưng Đào trang chúng ta chưa tới 600 người mà phải địch với 7.500 người có tổ chức thì chỉ là một cuộc tự tử vô ích. Bởi vậy ta quyết định đi lánh nạn. Ta gọi các con lên đây, để cho các con được lựa chọn: Ở lại hay theo ta, tuỳ các con.
Tam đệ tử là Hoàng Thiều Hoa nói:
– Chúng con nguyện theo sư phụ tới cùng. Nhưng...
Đào Thế Kiệt vốn sủng ái cô nữ đệ tử này, ông hỏi:
– Con muốn nói nhưng gì?
Hoàng Thiều Hoa tỏ ý chí cương quyết:
– Mình không phạm pháp, sư phụ lại là một Lạc– hầu, tự nhiên Thái-thú Nhâm Diên đem quân đánh phá trang ấp mình, không lẽ mình chịu nhục như vậy sao?
Các đệ tử cùng nhao nhao lên:
– Chúng con cương quyết không chịu nhục.
Đào hầu hỏi các đệ tử:
– Ý các con muốn thế nào?
Hoàng Thiều Hoa cương quyết:
– Con nghĩ, trước khi rút lui khỏi đất này, chúng ta phải đánh cho Nhâm Diên một trận kinh thiên động địa để chúng ghê mặt anh hùng Lĩnh Nam.
Đào phu nhân nuôi Thiều Hoa từ nhỏ, bà không có con gái, nên rất cưng chiều cô nữ đệ tử này. Bây giờ trước cảnh trang ấp sắp gặp nguy nan, nàng tỏ chí khí hùng tráng, bà thấy đẹp lòng, tát yêu nàng:
– Được, chúng ta phải làm như thế.
Bà nói vơí hầu:
– Tôi thấy Thiều Hoa có lý. Ta đánh một trận, rồi hãy bỏ đi.
Đào hầu gật đầu ra lệnh:
– Các đệ tử hãy dồn tất cả đàn bà, trẻ con, người già không biết võ đến đây ngay. Nội một giờ phải xong.
Ông ra lệnh cho tam đệ tử Hoàng Thiều Hoa:
– Con theo sư mẫu, bảo vệ đoàn xe cho đàn bà, trẻ con xuống bến chài, chạy ra đảo Nghi-sơn, chờ sư phụ ở đó.
Ông ra lệnh cho con trưởng:
– Con dẫn 100 tráng đinh ra phục trên đường dẫn tới bờ biển. Chờ cho xe cho đàn bà, trẻ con xuống thuyền, ra khơi rồi, con cùng Thiều Hoa bảo vệ đoàn thuyền đến đảo Nghi-sơn ngay.
Ông không thấy nhị đệ tử Trịnh Quang đâu, hỏi:
– Nhị sư huynh đâu?
Đào Kỳ đáp:
– Nhị sư huynh về đón gia đình rồi.
Ông ra lệnh cho con thứ là Biện Sơn:
– Con dẫn 50 sư huynh đệ thuộc ngoại đồ, cùng 200 tráng đinh, chia làm hai đội, men theo bờ biển đến cảng Bắc, phục đấy. Đợi khi thấy lửa cháy ở phủ Thái-thú thì đánh cướp chiến thuyền. Tại cảng Bắc có năm chiến thuyền, con cho ba chiếc chạy ra đảo Nghi-sơn đón người của Đào, Đinh trang ở đó. Vì tất cả đã đến bằng thuyền đánh cá. Thuyền đánh cá nhỏ quá, không thể ra xa. Muốn vượt biển, phải dùng chiến thuyền. Con giữ hai chiếc cho ta với anh Nghi Sơn. Nếu giặc đến tiếp cứu đông quá, chống không nổi, thì con cứ ra khơi trước. Chúng ta sẽ tìm đường khác rút lui.
Biện Sơn hỏi:
– Trường hợp phải đi trước, thì hẹn nhau tại đâu?
Đào hầu ghé tai con dặn nhỏ mấy câu, rồi vẫy tay, ra hiệu coi như hết.
Đào Kỳ không thấy bố sai phái, nó hỏi:
– Con sẽ phải làm gì?
Đào hầu nói:
– Con còn nhỏ tuổi, nhưng võ công cũng như kiến thức không tầm thường, con đi với tam sư tỷ, nhưng mọi sự phải nghe tam sư tỷ.
Ông đứng lên nói lớn:
– Thi hành lệnh ngay.
Ông ra sân, cùng đại đệ tử Trần Dương Đức lên ngựa, ra roi lao vào đêm tối, mịt mờ. Hai người vốn quen đường, nên dù đêm tối cũng không sợ lạc. Đào trang, Đinh trang không xa cho lắm, nên chỉ lát sau hai thầy trò đã tới nơi. Tráng đinh mở cổng, đánh ba tiếng trống báo có khách. Trang chủ Đinh Đại ra đón khách, thấy anh rể thì mừng lắm, kêu lên:
– Tỷ phu, anh tới có việc gì khẩn mà đi đêm như vậy?
Đào hầu ngoắc tay ngụ ý bảo im lặng, rồi tiến vào sảnh đường. Ông ngồi xuống ghế tường thuật tỉ mỉ những điều đã nghe thấy ở trong dinh kỵ binh Giao-chỉ cho Đinh Đại nghe.
Đinh Đại trầm ngâm một lúc rồi hỏi:
– Anh nghĩ coi, có cách nào khác không? Hàng cũng chết, mà chạy thì chạy đi đâu bây giờ?
Đào hầu nói:
– Hiện giữa Thái-thú Giao-chỉ là Tích Quang và Thái-thú Cửu-chân là Nhâm Diên đang có hiềm khích, chúng ta chạy ra ngoài Giao-chỉ ẩn thân vậy, chứ người hai trang của chúng ta không thể nào địch lại với mười lăm nghìn quân Hán. Ta đã biết kế hoạch của Thái-thú, thì tương kế tựu kế, có sợ gì? Hiện lực lượng trong trang của đệ có bao nhiêu người?
Đinh Đại nói:
– Vợ em không biết võ. Em chỉ có một đại đệ tử là Quách Lãng, bản lãnh cũng vào loại khá, có thể dùng được. Hai đứa con gái là Bạch Nương, Tĩnh Nương, đứa lớn 20 tuổi, đứa nhỏ 18 tuổi, văn võ kiêm toàn. Đệ tử ngoại đồ 97 người, tráng đinh 400, đàn bà biết võ 150.
Đào Thế Kiệt suy nghĩ một lúc rồi quyết định:
– Giặc vốn chỉ muốn hại hai chúng ta, rồi đưa người khác lên làm Lạc-hầu. Vậy chúng ta mang hết người đi, thì dù chúng có chiếm được Đào, Đinh trang, thì chỉ chiếm được hai trang trại hoang vu.
Đinh Đại vừa là em vợ, vừa là sư đệ của Đào Thế Kiệt, ông phục tùng Đào-hầu đã quen. Ông nói:
– Tất cả đều do anh quyết định.
– Được, em tập trung đệ tử lại đi.
Đinh Đại ra lệnh đánh trống tập họp đệ tử vào đại sảnh. Ông cùng Đào-hầu bước vào. Các đệ tử đứng dậy chắp tay hành lễ:
– Đệ tử tham kiến sư bá và sư phụ.
Đinh-hầu ra lệnh cho miễn lễ, rồi nói:
– Lần đầu tiên sư phụ họp các con khẩn cấp như thế này bởi Đinh trang sắp có tai vạ lớn. Ta nghĩ: Thầy trò thì sống chết có nhau, nên dù biến cố nào chăng nữa, ta cũng mang các con đi theo. Ta nói cho các con biết, Thái-thú Nhâm Diên tập trung 15.000 quân để tiêu diệt Đào, Đinh trang trong ngày mai. Nếu chúng ta chống lại chúng thì chết hết vô ích. Vì vậy ta quyết định bỏ chạy. Vậy những ai muốn theo ta, những ai muốn ở lại?
Tất cả các đệ tử đồng hô lớn:
– Chúng con xin theo sư phụ.
Đào-hầu nói:
– Chúng ta phải giữ cơ mật mới được. Những ai chưa có vợ con thì ở lại đây. Còn ai có vợ con rồi, thì trở về đón vợ con đến đây ngay, nội một giờ phải xong. Chỉ cần mang theo vũ khí, áo quần là đủ. Đồ tế nhuyễn, nhất thiết không cần mang theo.
Ông quay lại ra lệnh cho Đinh Bạch Nương và Đinh Tĩnh Nương:
– Hai cháu cho chuẩn bị xe ngựa sẵn, đợi các đệ tử tập trung đàn bà, trẻ con, thì cho lên xe ra biển. Tất cả xuống thuyền, chạy ra đảo Nghi-sơn. Ở đó lên chiến thuyền, rồi đi tỵ nạn.
Ông dặn Quách Lãng:
– Cháu chỉ huy tráng đinh đi vòng quanh trang tuần tiễu, gặp người lạ mặt, bắt vào giao cho sư phụ cháu.
Ông dặn với Đinh Đại:
– Bây giờ giặc còn đang ngủ, nếu được tin báo chúng ta tháo chạy, muốn tập hợp quân lính cũng không kịp. Tuy vậy sư đệ dẫn một số tráng đinh phục trên đường ra biển, để phòng địch đánh bất ngờ.
Đào hầu truyền lệnh xong, cùng đại đệ tử lên ngựa phi trở về Đào trang. Hai người vừa đi được một quãng thì gặp bốn kỵ mã, lưng đeo vũ khí đứng chặn mất lối đi. Ông nhìn kỹ thấy có hai người mặc theo lối quân Hán, còn hai người mặc theo lối người Việt. Biết đây là bọn Tế– tác dò thám, ông bảo Trần Dương Đức:
– Giết chúng nó, đoạt ngựa, quần áo.
Dương Đức phi ngựa tới trước. Hai Hán quân quát lớn:
– Dừng ngựa!
Miệng nói tay múa đao chém về phía trước. Dương Đức rút kiếm khoa ngang, hai thanh đao của chúng bay tung lên trời. Chúng còn đang ngơ ngác thì đầu đã rơi xuống đất. Hai tên Việt đứng cạnh sợ quá há hốc mồm ra, chưa kịp trở tay, đã bị Đào hầu đánh hai chưởng văng xuống đất dãy mấy cái, rồi nằm im.
Hai thầy trò lột quần áo của hai tên Hán, khám trong người thấy có thẻ bài chứng nhận chúng làm việc tại phủ Tế-tác cấp bậc là ngũ trưởng.
Hai người hướng phủ Thái-thú phi như bay.
Tại Đào trang, khi Đào hầu với Trần Dương Đức đi khỏi, thì gia đình của đám đệ tử đã lên xe, đồ đạc lênh kênh một đoàn hướng bờ biển tiến phát.
Đào Kỳ tìm không thấy nhị sư huynh, nói với Thiều Hoa:
– Sư tỷ đi trước, em với 20 tráng đinh ở lại đợi nhị sư huynh.
Thiều Hoa chia cho Đào Kỳ 20 tráng đinh rồi lên đường. Đào Kỳ thấy bố mẹ, sư huynh, sư tỷ đã đi hết, tự nhiên nó cảm thấy mình là người lớn nhất, dẫn đám gia đinh canh cửa trang.
Nhưng nó chờ đến canh ba, mà vẫn không thấy nhị sư huynh đâu. Lòng đầy lo sợ, nó tự nghĩ:
– Dù gì ta cũng phải chờ nhị sư huynh và gia đình để cùng đi.
Hốt nhiên có tiếng vó ngựa lộp cộp đi lại. Nó nhảy xuống đất ghé tai nghe và đếm:
– Một... hai... ba... mười. Trời ơi, 10 kỵ mã tới, đúng là quân Hán rồi đây.
Nó vẫy tay cho tráng đinh phục trong trang, rồi nhìn ra: Phía trước quả có 10 kỵ binh đang đi tới. Hai người đi đầu là Mã Dũng và Triệu Thanh mà nó đã đánh nhau hồi chiều. Nó cười khỉnh:
– Chắc hai thằng này vào nhà tù kiếm cha con ta không thấy, nên dẫn kỵ binh đi tìm đây. Đã vậy tao cho chúng mày nếm mùi đau khổ.
Nó thò tay ra sau rút tên nạp vào cung, nhắm con ngựa Mã Dũng cưỡi buông tên. Vèo một tiếng, con ngựa bị trúng tên, đau quá nhảy dựng hai vó trước lên rồi ngã lăn ra. Mã Dũng vội thúc chân vào bàn đạp, vọt người lên đứng xuống đất chửi đổng:
– Đứa nào bắn lén? Nếu là anh hùng thì xuất hiện cùng ta đấu 100 hiệp.
Đào Kỳ cười ha hả, từ trong cổng bước ra chỉ vào mặt Mã Dũng:
– Hồi chiều, chúng mày được tao tha chết, lạy như lạy ông nội. Thế mà không biết điều, về dẫn lính ra phục kích. Chúng mày bắt được tao mà sao ngu quá, không giữ được, để tao thoát thân?
Triệu Thanh vẫy tay, tám kỵ binh vây Đào Kỳ vào giữa. Đào Kỳ không sợ hãi:
– Mày có giỏi thì xuống ngựa, một chơi một, chứ dùng đông người đánh mình tao đâu phải anh hùng?
Triệu Thanh không để lời nói Đào Kỳ vào tai, cùng đám kỵ binh múa đao tấn công. Đào Kỳ rút kiếm nhắm đỉnh đầu Triệu Thành xả một nhát. Triệu Thanh đưa đao đỡ. Đao kiếm sắp chạm nhau, thì lưỡi kiếm Đào Kỳ bỗng đổi chiêu biến thành vòng cầu chém vào hông y. Triệu Thanh kinh hoàng, lộn người xuống đất tránh thế kiếm hiểm ác đó, thì thanh kiếm của Đào Kỳ chém xuống trúng giữa đầu con ngựa của y. Con ngựa đau quá, hí lên một tiếng thê thảm rồi đâm bổ về phía trước. Vòng vây mở rộng, Đào Kỳ chạy vào rừng cạnh đó. Triệu Thanh, Mã Dũng cùng ôm đao đuổi theo. Đào Kỳ vấp vào hòn đá, ngã lăn xuống đất. Triệu Thanh thích quá, nhảy lại gần dí đao vào cổ Đào Kỳ quát lớn:
– Này hết sống nhé!
Thực ra Đào Kỳ giả bộ vấp té, chờ khi Triệu Thanh đến gần, dí đao vào cổ, nó bật người dậy, vọt lên cao như con cá, cỡi trên mình ngựa, thuận tay rút kiếm đâm về sau một chiêu, kết thúc tính mệnh một tên kỵ binh đang đánh tập hậu nó.
Mã Dũng, Triệu Thanh xuất thân là kỵ binh, quen đánh trên mình ngựa, bây giờ mất ngựa, chân tay trở thành luống cuống. Đào Kỳ phi ngựa chạy vào trang. Đám kỵ binh hô lên một tiếng đuổi theo, khi chúng vừa vào đến cổng thì huỵch, huỵch, huỵch, ngựa vấp dây chăng ngã lăn, hất đám kỵ binh xuống đất. Đám tráng đinh từ chỗ núp nhảy giết hết đám kỵ binh, rồi cắt đầu treo lên cổng trang.
Đào Kỳ đang hứng chí, thì thấy lửa bốc lên ngập trời tại phía phủ Thái-thú. Nó biết cha và anh đánh chiếm cảng Bắc, vội cùng đám gia nhân lên ngựa chạy ra bờ biển, thì cuộc di tản bằng thuyền gần hoàn tất.
Đào phu nhân bảo Nghi Sơn:
– Mọi việc đến đây là yên rồi. Hiện các đội kỵ binh của Cửu-chân đóng ở phía Nam 50 dặm. Chúng có điều động đến cứu ứng thì cũng phải tới sáng. Ta chỉ lo đội kỵ binh Giao-chỉ đóng cách đây không xa. Chúng thấy phủ Thái-thú bị tấn công, tất kéo tới cứu viện. Vậy con dẫn huynh đệ, tráng đinh, phục trên đồi An-tuy, để đề phòng. Nếu thấy kỵ binh Giao-chỉ tới thì dùng tên bắn, và đốt lửa làm nghi binh. Con cố ý chần chờ hầu bố con có thì giờ cướp chiến thuyền.
Hoàng Thiều Hoa nói với Đào phu nhân:
– Sư mẫu, việc bảo vệ gia đình là hệ trọng. Con với tiểu sư đệ đi chặn giặc cũng đủ rồi. Đại sư ca trí dũng hơn đời, cần ở đây giúp sư mẫu.
Đào phu nhân thấy lời Thiều Hoa đúng, bà bảo Đào Kỳ:
– Sư tỷ võ công cao, nhưng ứng biến không bằng con. Vậy mọi chuyện nhất thiết con lo ứng phó, nhưng phải nghe lời sư tỷ.
Đào Kỳ thấy mẹ coi trọng mình nó thích lắm. Nó nhảy vọt lên ngựa, cùng Thiều Hoa hướng về An-tuy. Nó kiếm chỗ cho huynh đệ, tráng đinh mai phục. Nó lại chỉ huy tráng đinh khuân đá chất lên cao, khi cần sẽ vần đá xuống cản giặc.
Công việc hoàn tất mau chóng, Đào Kỳ đến ngồi bên sư tỷ Hoàng Thiều Hoa. Các đệ tử Đào trang, nam có, nữ có, nhưng Đào Kỳ sủng ái nhất là tam sư tỷ. Bản tính Thiều Hoa ôn nhu văn nhã, học văn võ đều thành đạt, được cả sư phụ, sư mẫu thương yêu. Nàng nói gì Đào hầu cũng nghe, xin gì cũng cho. Mỗi khi Đào Kỳ nghịch ngợm, phá phách, nó bị cha la rầy, thì Thiều Hoa lại năn nỉ dùm. Riết rồi chị em thành thân mật. Hôm nay biến cố trọng đại xảy ra, nhà tan cửa nát. Bố mẹ, các anh, các sư huynh lăn mình vào chốn nguy hiểm, nó lại được ngồi bên cạnh sư tỷ chờ giặc.
Đào Kỳ nói sẽ vào tai Thiều Hoa:
– Em chỉ mong bây giờ có một tên tướng Hán đẹp trai, hào hoa phong nhã tới đây, chúng mình khỏi cần đánh, chị chỉ việc liếc mắt một cái, nó cũng té lăn xuống đất rồi. Như vậy khỏi phải đổ máu.
Thiều Hoa lấy tay sẽ cốc vào đầu Đào Kỳ một cái:
– Đến lúc này mà em cũng đùa được ư?
Với bản lĩnh của Đào Kỳ thì nó tránh cái cốc của Hoàng Thiều Hoa dễ dàng. Nhưng nó cứ để cho sư tỷ cốc, nó tiếp:
– Tại sao sư tỷ cốc em? Binh thư nói rằng "Không đánh mà thắng, không tổn nhân mạng mà thắng, không tổn lương tiền mà thắng thì là đại tướng giỏi". Nếu sư tỷ gặp tướng Hán, đưa mắt một cái cho nó hồn phiêu phách tán, thì sư tỷ đã trở thành đại tướng Lĩnh Nam rồi.
Thiều Hoa định nói thì Đào Kỳ bịt miệng nàng lại, ghé miệng vào tai "suỵt" một tiếng. Thiều Hoa lắng tai nghe, quả có nhiều tiếng lộp cộp như tiếng ngựa phi. Tiếng lộp cộp mỗi lúc một gần. Đào Kỳ ghé tai xuống đất nghe rồi đếm: một... hai... ba..., ôi nhiều lắm, cả 100 ngựa đang tiến đến chỗ nó ẩn.
Một lát sau, đoàn người ngựa đi tới, đuốc đốt sáng lòa. Đào Kỳ đợi cho đoàn người ngựa tới gần, mới phất tay ra hiệu. Tráng đinh bắn tên lửa vùn vụt về phía trước. Cỏ rừng bốc cháy ngùn ngụt. Đội quân đang đi, ngừng lại, dàn ra chờ. Viên tướng chỉ huy gò ngựa quan sát một lúc, không thấy động tĩnh gì, y phất tay cho quân tiến lên. Vừa lúc đó, một mũi tên xé gió bay tới. Y lạng người bắt lấy. Tuy bắt được tên, nhưng y cảm thấy cánh tay tê buốt. Biết người bắn không phải thứ binh lính tầm thường mà là một cao thủ có nội lực, tiếng tên mới rít lên như vậy. Y cầm mũi tên lên coi, thấy chuôi tên khắc một bông cúc, nét chạm trổ hoa mỹ. Y lớn tiếng hỏi:
– Cao nhân nào xin xuất hiện để tương kiến.
Nhưng không có tiếng trả lời. Vèo, một mũi tên khác xé gió bay tới, rồi hai, rồi ba, rồi bốn mũi nối đuôi nhau. Y tung người khỏi yên ngựa, ba mũi tên bay sát qua dưới chân y. Một mũi trúng giữa trán con ngựa. Con ngựa đau quá hí lên một tiếng, rồi ngã lăn ra đất giãy đành đạch. Viên tướng Hán kinh hoàng nghĩ:
– Người bắn tên dường như không có ý hại mình, nếu không thì vừa rồi, lúc mình còn ở trên không y bắn mấy mũi nữa thì mình chết rồi.
Phía sau có tiếng người rú lên, tiếng người ngã ngựa, tiếng người la hoảng. Y nhìn lại, thì ra ba mũi tên không trúng người y, bay ra sau trúng vào ba kỵ mã. Kỳ lạ ở chỗ ba kỵ mã đều bị trúng giữa cổ, chết ngay lập tức.
Y toát mồ hôi nghĩ:
– Người bắn tên này tiễn thủ không phải tầm thường. Nội lực không kém gì mình. Rõ ràng y không muốn sát hại mình, chứ không thì mình đã chết rồi.
Y nhảy xuống đất, nhổ tên ra coi, thì thấy ba mũi tên bắn chết kỵ mã phía sau trên chuôi đều khắc bông hoa cúc. Mũi tên bắn trúng ngựa của y thì trên có khắc bông hoa đào, tô son đỏ chói. Y cầm mũi tên để đoán tung tích kẻ bắn, thì thấy bốn mũi tên khắc bông cúc, toả ra mùi thơm thoang thoảng, làm y cảm thấy say say:
– Chắc người bắn tên này là một giai nhân? Nếu không sao lại có mùi thơm nhẹ nhàng thoảng qua?
Quả đúng như vậy, người bắn mũi tên vào người y đầu tiên là Thiều Hoa. Mũi tên bắn trúng ngựa y là của Đào Kỳ. Biểu hiệu của Thiều Hoa là bông cúc, nên trên kiếm cũng như trên mũi tên đều khắc bông cúc. Còn Đào Kỳ thì lấy biểu hiệu chung của cha, anh trên tên khắc bông đào.
Viên tướng chỉ huy đội quân quát lớn:
– Ta là Nghiêm Sơn, xuất thân nghĩa hiệp. Trọn đời kính trọng những anh hùng hảo hán. Vậy cao nhân nào đó xin xuất hiện để được tương kiến.
Vèo, vèo, vèo, một bóng mặc áo vàng đã nhảy đến trước mặt Nghiêm Sơn. Y định thần nhìn kỹ thì là một nữ lang tuyệt thế. Y chưa kịp phản ứng, thì thấp thoáng một cái nữ lang đã rút kiếm đâm y. Động tác, nhảy, đứng, rút kiếm đâm, thần tốc vô song. Y trầm người tránh, đưa đao đỡ. Đao kiếm chạm nhau toé lửa. Cả hai cùng lùi lại. Hổ khẩu y cảm thấy tê chồn. Nữ lang đã tra gươm vào vỏ, khoanh tay đứng nhìn y:
– Tiểu nữ họ Hoàng, tên Thiều Hoa xin kính chào Nghiêm tướng quân.
Nghiêm Sơn tuổi còn trẻ, khoảng 25-26, rất anh tuấn, võ công thuộc loại cao thủ vùng Quế-lâm. Chàng hiện là Bình Nam đại tướng quân, tước Lĩnh Nam công, uy quyền bao trùm toàn Lĩnh Nam như một ông vua con. Nghiêm Sơn tự hào là anh hùng vô địch, từ khi sang Giao-chỉ đến giờ, chưa một người Hán, người Việt nào địch nổi y. Không ngờ trong đêm nay chàng gặp một thiếu nữ Việt tuyệt sắc, bắn mấy mũi tên, mà một mũi làm chàng suýt bỏ mạng. Cảm phục vì tài, trọng vì sắc, chàng hướng vào Thiều Hoa đáp lễ:
– Thì ra Hoàng cô nương. Không biết cô nương đối với Đào Lạc-hầu là thế nào?
Thiều Hoa đáp:
– Đào tiên sinh là minh sư của tiểu nữ.
Nghiêm Sơn reo lên:
– Người xưa nói "Hữu minh sư, tất hữu cao đồ". Nghiêm mỗ nghe danh lão tiên sinh từ lâu, mà chưa có dịp tương kiến. Không ngờ đêm nay lại gặp cao đồ của người. Tại hạ với Đào-lạc hầu tuy chưa có duyên gặp gỡ mà lòng đầy kính phục. Chúng ta vốn không thù không oán, tại sao cô nương lại đón đường, bắn tại hạ mấy mũi tên suýt bỏ mạng?
Thiều Hoa không phải là người cơ trí như Đào Kỳ, nên đáp:
– Đào trang lập lên đã bảy đời, truyền 184 năm, lúc nào cũng an phận làm ăn, thuế sưu nộp đủ, không hiểu có tội gì, mà Lĩnh-nam công lại họp những 15.000 quân, viện thêm một sư kỵ ở Giao-chỉ vào để đánh phá? Tướng quân tự xưng là người anh hùng nghĩa hiệp xin giải thích cho.
Nghiêm Sơn nghe Hoàng Thiều Hoa nói, chàng chau mày, quay lại nhìn Nhâm Diên. Ánh mắt của chàng toát ra làn hàn quang cực mạnh, đầy vẻ nghiêm khắc.
Nguyên Nhâm Diên xuất thân là người đọc sách, được cử sang làm Thái-thú Cửu-chân từ thời Tây Hán. Khi Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán, thì y theo Vương Mãng. Kịp đến thời Quang Vũ trùng hưng, cử Nghiêm Sơn cùng Hợp-phố lục hiệp kinh lý vùng Lĩnh Nam, thì y lại theo về nhà Hán. Thời gian làm Thái-thú, y đã tổ chức Cửu– chân trở thành một giang sơn riêng. Tuy mới thần phục Quang Vũ, nhưng y vẫn có ý muốn tự lập như Triệu Đà ngày trước. Y dùng văn hoá Trung-nguyên làm cho năm Lạc-hầu Cửu-chân theo y, hai Lạc-hầu khác bỏ mộng phản Hán phục Việt, đi vào đường văn hoá. Chỉ còn lại Đào-hầu, Đinh-hầu là vẫn giữ nếp xưa, nuôi ý chí phục quốc.
Bề ngoài y thần phục Nghiêm Sơn, vì chàng được phong tới tước Công, chức Bình-nam đại tướng quân, nhưng y vẫn muốn gây cho dân chúng chống đối chàng, hầu y có thể lật đổ chàng bất cứ lúc nào. Nhân Đào, Đinh trang chống y, y sai một số người Việt làm việc cho Tế-tác, phải làm phúc trình rằng Đào, Đinh trang là nơi tụ tập của bọn đầu trộm, đuôi cướp, dân chúng bị hành hạ cực khổ. Y xin Lĩnh-nam công đem quân diệt hai trang Đào, Đinh, nhờ đó y nhổ được hai cái đinh trước mắt. Mặt khác y sẽ nói với võ lâm Lĩnh Nam rằng Nghiêm Sơn là người độc ác, đánh phá hai trang Đào, Đinh. Như vậy là một mũi tên, y bắn được hai con chim.
Nghiêm Sơn ở xa mới đến, không nắm vững tình hình. Nghe Đào, Đinh trang là nơi tụ tập của trộm cướp, chàng điều động thiết kỵ từ Giao-chỉ, Nhật-nam vào để tiêu diệt. Chàng tới đây đã hai ngày, tiếp xúc với dân chúng không là bao, nhưng chàng cũng được nghe loáng thoáng rằng Đào, Đinh nổi danh là Cửu-chân song kiệt. Vì vậy chàng bắt đầu nghi ngờ. Bây giờ đối trận với Hoàng Thiều Hoa, chàng thấy ở nàng toả ra vẻ ôn nhu văn nhã. Với tuổi 17-18, mà võ công không kém gì chàng, tiễn thủ kinh người. Nếu nàng định giết chàng, thì chàng đã chết rồi. Võ đạo như thế, thì e rằng đến phái Quế-lâm nhà chàng chưa chắc đã đạt tới được, thì làm sao sư phụ nàng là Đào hầu có thể là trộm cướp như Nhâm Diên nói? Vì vậy chàng đưa con mắt nghiêm khắc nhìn Nhâm, y rùng mình. Nhâm Diên đã từ sau tiến lên. Y chắp tay hành lễ với Thiều Hoa:
– Làm gì có chuyện đó? Không biết đứa nào bịa chuyện nói láo như thế phải đem mà giết đi? Bản chức lúc nào cũng kính trọng Đào hầu, thì làm sao có thể mang quân đánh người?
Thiều Hoa thấy Nhâm Diên vẫn còn dùng bản mặt giả đạo đức, nàng bực mình quát lên:
– Nhâm Diên, ngươi còn chối ư? Sư phụ, sư thúc ta từ lâu không phục hành động giả nhân, giả nghĩa, nguỵ quân tử của mi. Vì vậy mi muốn diệt trừ Đào, Đinh trang. Với bản bộ quân mã, mi thừa sức diệt hai trang, tại sao mi còn cầu viện thiết kỵ từ Giao-chỉ đến? Sư phụ ta đã biết rõ lòng dạ mi: Mi mang quân bất nhân đi đánh người nhân, sợ bị mang thiên hạ nguyền rủa, mi muốn đổ tiếng ác cho người khác. Hồi chiều mi họp với Lĩnh-nam công, định rằng ngày mai mời sư phụ, sư thúc ta tới phủ Thái-thú, cầm chân lại, giết đi, rồi mang quân đánh hai trang. Sư phụ ta đã biết trước, nên tiên hạ thủ vi cường. Người đã cùng các sư huynh, sư đệ, đột nhập phủ Thái-thú để giết mẹ, vợ, con mi, đến con chó, con mèo cũng không tha.
Nhâm Diên vẫn chối:
– Ai đã báo tin thất thiệt cho Đào-hầu, xin cô nương cho bản chức được biết, để trị tội.
Thiều Hoa biết Nhâm Diên là loại người xảo quyệt. Nhưng nàng không phải là người cơ trí, chưa biết trả lời sao để lột mặt nạ y. Thình lình ba mũi tên xé gió bay đến, hai hướng ngực, đầâu Nghiêm Sơn. Một hướng cổ Thái-thú Nhâm Diên. Kình lực khá mạnh. Nghiêm Sơn rút đao gạt được cả hai. Còn Nhâm Diên, y là quan văn, nên không biết tránh. Nghiêm Sơn nhún mình vọt qua ngựa Nhâm Diên, đẩy y lăn xuống đất, còn tay chàng bắt mũi tên. Nhâm Diên thoát chết, y phát run:
– Đứa nào hỗn láo, giết... giết.
Y ra hiệu cho thiết kỵ tiến lên vây Thiều Hoa vào giữa.
Thiều Hoa cười:
– Nghiêm tướng quân, anh hùng vô địch Quế-lâm, mà dùng đại quân để đối phó với một cô gái Việt sao đây?
Nghiêm Sơn biết phía sau Thiều Hoa còn nhiều người mai phục, nên mới có tên bắn ra. Chàng không biết là bao nhiêu người. Bản tính quật cường, chàng vẫy quân lui lại, một mình tiến lên.
Nhâm Diên nói nhỏ với chàng:
– Xin tướng quân đừng chần chờ, giải quyết mau vì phủ Thái-thú đang lâm nguy.
Nghiêm Sơn là Lĩnh-nam công, uy quyền như một ông vua con, chàng không ưa bọn Thái-thú Nhâm Diên, Tích Quang. Bây giờ giữa trận tiền, nghe y thôi thúc, chàng cau mày bực mình, nhưng địa vị chàng là người lớn, nên không muốn quát mắng y ở chỗ đông người.
Nghiêm Sơn thản nhiên hỏi Thiều Hoa:
– Xin cô nương tránh đường cho tiểu tướng đi. Sau đây mấy ngày, tiểu tướng sẽ đến Đào trang bái kiến Đào lão tiên sinh và cô nương.
Bỗng có tiếng quát:
– Khoan!
Đào Kỳ từ bụi cây vọt người ra, nó nhảy nhót mấy cái đã tới trước ngựa Nghiêm Sơn:
– Nghiêm tướng quân, tam sư tỷ của tôi đây vốn kính phục những anh hùng nghĩa hiệp. Nhưng tiếc rằng chưa gặp người nào vượt qua được bảo kiếm của người. Vậy hôm nay tướng quân cũng nên cho dân Cửu-chân được biết qua về võ Trung-nguyên.
Câu nói này, Đào Kỳ vừa có ý khích Nghiêm Sơn, vừa ngụ ý: Sư tỷ tôi là tuyệt thế giai nhân, võ công cao, người chỉ khuất phục đấng anh hùng, võ công cái thế. Nếu tướng quân muốn lọt vào mắt xanh, thì phải thắng được sư tỷ của tôi đã.
Nghiêm Sơn hỏi:
– Chú em, phải chú em là Đào Kỳ không? Ta mới tới đây đã nghe danh chú. Một chiêu đánh ngã lữ trưởng Mã Dũng, hai chiêu đánh ngã lữ phó Triệu Thanh, thực tài không đợi tuổi.
Đào Kỳ chắp tay đáp lễ:
– Tiểu đệ không dám.
Nhâm Diên thấy ba mũi tên lửa màu tím bắn lên từ phủ Thái-thú. Đó là tín hiệu cầu cứu. Một lát lại thấy hai mũi tên bắn lên từ cảng thuỷ quân, có lẽ cảng cũng nguy rồi. Lòng y như lửa đốt, nhưng Nghiêm Sơn cứ như ngây dại trước sắc đẹp Thiều Hoa. Nếu Nghiêm Sơn không là thượng cấp của y thì y đã nổi quạu rồi. Y nghĩ đến mẹ già, vợ, con, không biết những gì sẽ xảy ra nếu phủ Thái-thú bị Đào trang đánh chiếm. Y nói với Nghiêm Sơn:
– Đại tướng quân! Phủ Thái-thú và cảng thuỷ quân nguy cấp. Xin đại tướng quân ra tay gấp cho.
Đào Kỳ biết rõ ý Nhâm Diên, xen vào chia rẽ:
– Nghiêm tướng quân! Tam sư tỷ tôi chưa bao giờ gặp được người anh tuấn, võ công cái thế như tướng quân, tôi tưởng hai vị nên nhân đêm thu đẹp như thế này, trao đổi câu thơ, luận kiếm, hơn là chém giết nhau. Tướng quân đường đường tước phong tới Lĩnh-nam công, sao lại để cho một tên Thái-thú dưới quyền, văn dốt, vũ rát thôi thúc?
Câu nói này đánh trúng tâm sự Nghiêm Sơn. Chàng khoan thai bước xuống ngựa hướng về Hoàng Thiều Hoa nghiêng mình hành lễ:
– Xin được cô nương dạy bảo.
Thiều Hoa rút kiếm tung lên không, rồi thu tay lại hành lễ. Đó là luật lệ của phái Cửu-chân. Nghiêm Sơn cũng vội đáp lễ. Thiều Hoa vọt người lên cao, ánh kiếm bạc tà tà đâm vào cổ Nghiêm Sơn. Nghiêm Sơn đưa tay bắt kiếm. Hoàng Thiều Hoa kinh hãi nghĩ:
– Thế kiếm của ta như vậy mà y dám dơ tay bắt, thì quả là gan cùng mình.
Chiêu kiếm đâm thẳng bỗng thu trở về rồi vòng lên đâm vào vai trái. Nghiêm Sơn nhảy lui lại phía sau hai bước. Thiều Hoa đã đáp xuống đất.
Nghiêm Sơn thấy Thiều Hoa vọt lên cao đánh mình hai chiêu, thân pháp đẹp không tưởng tượng được. Chàng đứng ngây người ra nhìn.
Nhâm Diên nhìn về phủ Thái-thú, thấy lửa bốc cháy ngụt trời, thì lòng nóng như lửa đốt.
Nhâm Diên vẫy tay xua quân xông vào.
Đào Kỳ vọt về phía Nhâm Diên, khi còn lơ lửng trên không, thuận tay nó rút kiếm, đánh liền ba chiêu hiểm ác.
Nghiêm Sơn đang biểu diễn kiếm với Hoàng Thiều Hoa, thấy Thái-thú Nhâm Diên lâm nguy, chàng vội lạng người đi đỡ kiếm của Đào Kỳ.
Choảng một tiếng, kiếm của Đào Kỳ bay mất, tay rách hổ khâu, máu chảy đầm đìa.
Đào Kỳ ôm tay nhăn mặt:
– Oái! Nghiêm đại ca, ngươi ỷ lớn bắt nạt nhỏ. Như vậy không phải là anh hùng.
Bản lĩnh kiếm thuật của Đào Kỳ đã luyện tới mức khá, nhưng sở dĩ y thất bại vì nguyên tắc võ thuật của Lĩnh Nam là dùng mau thắng chậm, dùng động chế tĩnh. Đây Đào Kỳ còn nhỏ tuổi, công lực chưa đủ, lại dùng sức mạnh đánh ra, gặp phải Nghiêm Sơn là người công lực thâm hậu, vì vậy nó bị bay mất kiếm.
Nghiêm Sơn cứu được Nhâm Diên, đánh rơi kiếm của Đào Kỳ nhưng y không vui. Vì Đào Kỳ vừa mồm năm miệng mười như cố ý nói rằng: Ngoài Sơn ra không ai xứng đáng làm anh rể nó. Thế mà chàng đánh rơi kiếm của nó, lại làm nó bị thương.
Nghiêm Sơn hơi hối hận:
– Tiểu sư đệ! Có sao không?
Đào Kỳ làm bộ ôm tay nhăn nhó:
– Mới rách tay, chảy máu, cả cánh tay tê liệt thôi, chứ chưa chết.
Nó nhìn về phía phủ Thái-thú, cảng thủy quân thấy lửa cháy rực trời, nó biết rằng bố với các sư huynh đã thành công. Nó quay lại Thiều Hoa gọi:
– Sư tỷ, chúng ta đi thôi, lúc khác sẽ có dịp luyện kiếm với Nghiêm tướng quân. Hôm nay nể Nghiêm tướng quân, chúng tôi mở đường cho Nhâm Diên đi.
Lực lượng Đào Kỳ chỉ có non 100 người, mà quân của Nhâm Diên tới hơn 1.000, rõ ràng nó đang lâm nguy, nhưng nó làm như nể Nghiêm Sơn, mở đường cho y đi. Kể ra Nghiêm Sơn chỉ cần phất tay, trong chốc lát là chị em Đào Kỳ lâm nguy. Một mặt chàng muốn về cứu phủ Thái– thú, một mặt chàng không muốn gây thù hận với Thiều Hoa. Chàng hướng vào Thiều Hoa hành lễ:
– Hoàng cô nương, hẹn ngày tái ngộ.
Đào Kỳ gọi lớn:
– Khoan!
Y nhảy lại bên Thiều Hoa, phát một chiêu trên mái tóc sư tỷ, rút lấy cành hoa đào bằng vàng. Nó nói với Nghiêm Sơn:
– Nghiêm đại ca, em tặng anh món này, bắt lấy.
Nó phóng cành hoa đào đến trước mặt Nghiêm Sơn. Nghiêm Sơn bắt lấy mà mặt nóng bừng lên, nhưng chàng không quên liếc Thiều Hoa một lần rồi mới đi.
Đội quân Hán đi rồi, Thiều Hoa dơ tay tát Đào Kỳ một cái. Đào Kỳ cười ha hả tránh khỏi:
– Oàé! Trời ơi, đất ơi! Sư tỷ đánh ông mai à?
Thiều Hoa dậm chân nói:
– Sư đệ, ta mách với sư phụ đánh cho ngươi 100 roi về tội này.
Đào Kỳ nghiêm nét mặt lại:
– Sư tỷ, chị không hiểu được ý em ư?
– Hiểu gì?
– Thôi được rồi, đợi gặp bố, mẹ, đại sư ca em sẽ nói. Bây giờ chúng ta đến cảng Bắc để lên đường.
Đoàn người tiến ra phía bờ bể, men theo lên phía Bắc, nhưng tới cảng Bắc thì thấy xác quân Hán nằm la liệt, gươm đao, vũ khí rãi rác trên mặt đất, doanh trại cháy thành than đỏ rực. Thiều Hoa nhặt một thanh đao gẫy lên coi:
– Này tiểu sư đệ, đao này của Đinh gia.
– Như vậy bố, mẹ đã cứu được cậu rồi, chúng ta biết chắc bố, mẹ, cậu, đoàn thuyền đại sư ca, đoàn của anh cả, anh hai đều lên đường ra Bắc. Vậy chỉ còn đoàn của chúng ta mắc kẹt. Còn nhị sư ca hiện ra sao? Việc trước mắt là quan quân truy nã chúng ta rất gắt, chúng ta cần theo bờ biển đi về phía Bắc, để tìm thuyền lên đường.
Có tiếng rên từ trong bụi rậm vọng ra, Hoàng Thiều Hoa chạy lại xem. Nàng la lớn lên:
– Nhị sư ca! Nhị sư ca!
Đào Kỳ cùng mọi người chạy lại, thì thấy nhị sư ca Trịnh Quang mình đầy thương tích đang nằm đó rên.
Thiều Hoa xé vạt áo băng bó cho sư huynh. Trịnh Quang chỉ còn thoi thóp thở, không nói được gì, chân tay cũng không cử động được.
Đào Kỳ tự nghĩ:
– Chắc nhị sư huynh đón gia đình đi cùng với bố, mẹ trong cuộc chiến đấu bị thương, lạc tại rừng này.
Một nữ đệ tử ngoại đồ tên Nguyễn Tường Loan, lắc đầu, chau mày, tỏ ý nghi ngờ.
Đào Kỳ hỏi Tường Loan:
– Không biết sư tỷ có cao kiến gì?
Tường Loan kéo Kỳ ra một chỗ nói:
– Có nhiều điều hơi khác lạ. Võ công nhị sư huynh rất cao, nếu bị thương thì phải do vũ khí hoặc quyền, chưởng của cao thủ mới làm sư huynh mê man đến nằm ngất đi. Đây sư huynh không có những vết thương trí mạng bằng vũ khí, mà chỉ có những vết thương bằng quyền cước ngoài da, mà đến nỗi nói không ra lời, đó là điều lạ lùng. Nhị sư huynh về đón gia đình cùng đi với tên mã phu Nguyễn Ngọc Danh, vậy gia đình đâu? Danh đâu?
Đào Kỳ bảo Tường Loan:
– Đợi gặp sư phụ, sư mẫu rồi tính. Hoặc đợi vài ngày nhị sư huynh tỉnh dậy sẽ nói cho chúng ta biết. Bây giờ đi kiếm thuyền đã.
Một gia nhân nói:
– Vấn đề tìm thuyền cho 100 người cũng không khó, khó là gạo, nước, lương thực từ đây ra Bắc. Bây giờ đang mùa mưa Ngâu, sóng biển rất lớn, nhất là cửa Thần-phù dễ gì vượt qua nổi?
Đối với vấn đề địa lý thì Đào Kỳ mù tịt, nó không hiểu cửa Thần-phù là gì. Nó hỏi người gia nhân:
– Cửa Thần-phù là gì?
Người đó nói:
– Quê đệ ở cửa Thần-phù nên biết rõ. Ở đó có mấy con sông đổ qua, quanh năm gió thổi, nước xoáy thành tròn. Một con thuyền đinh to lớn, đi qua, xoáy cuốn một cái, thuyền quay tròn, bị lôi chìm xuống đáy. Bởi vậy có câu ca:
Lênh đênh qua cửa Thần-phù,
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.
Câu này có nghĩa rằng qua cửa Thần-phù chỉ người nào phúc đức mới sống được mà thôi.
Nguyên Đào gia trang thu nhận đệ tử có hai loại: Bắt đầu tất cả đều là ngoại đồ, học võ, học văn giống nhau. Nhưng những người có năng khiếu, ngộ tính cao thì được thu nhận làm nội đồ. Ngoại đồ thì xếp hạng theo tuổi mà gọi nhau. Còn nội đồ thì xếp hạng ai nhập môn trước là sư huynh. Đào hầu có ba con trai, không xếp theo thứ tự đệ tử, mà xếp tuổi. Bởi vậy Đào Kỳ luôn luôn là tiểu sư đệ. Còn gia nhân trong nhà, cũng đều được đối xử và xưng hô như đệ tử.
Đoàn người đi đến sáng thì tới một cửa sông nhỏ. Thuyền đánh cá đêm đã trở về đầy bến. Hoàng Thiều Hoa bàn:
– Bây giờ chúng ta lên bến kia mua thuyền, gạo, nước rồi lên đường.
Đào Kỳ ngửa tay:
– Sư tỷ cho tiền.
Luật lệ Đào gia trang không cho những đệ tử, con cái dưới 16 tuổi giữ tiền, nên trong người Đào Kỳ một đồng cũng không có. Bấy giờ tiền Cửu-chân sử dụng là tiền Hán, đúc bằng đồng, trên mỗi đồng tiền có niên hiệu của năm đúc. Những loại tiền thông dụng là Kiến-nguyên thông bảo, Chính-hoà thông bảo, Hồng-gia thông bảo, Nguyên-thủy thông bảo. Cứ một trăm đồng ăn một lượng bạc, và mười lượng bạc ăn một lượng vàng.
Ghi chú của thuật giả
Kiến-nguyên thông bảo, tiền đúc vào niên hiệu Kiến-nguyên thời Hán Vũ đế (140 – 135 trước Tây lịch).
Chính-hoà thông bảo, tiền đúc vào niên hiệu Chính– hoà đời Hán Vũ đế (92 – 88 trước Tây lịch).
Hồng-gia thông bảo, tiền đúc vào niên hiệu vua Thành đế nhà Hán (20 – 16 trước Tây lịch).
Nguyên-thuỷ thông bảo, tiền được đúc vào niên hiệu vua Bình đế nhà Hán (1 – 6 sau Tây lịch).
Thiều Hoa điều khiển cuộc di chuyển của gia đình, tiền bạc nàng đều giao cho người khác giữ. Trong người chỉ có một nén vàng 10 lượng và mấy trăm đồng tiền. Nàng móc ra đưa cho Kỳ:
– Em đi mua thuyền đi.
Dầu sao Đào Kỳ chỉ là đứa nhỏ, không thông thế tục, nó dụt tay lại:
– Sư tỷ đi mua đi, em đi theo. Chứ em có biết mua đâu.
Trong đám đệ tử đi theo Hoàng Thiều Hoa hầu hết là gái, có nhiều người thông thạo chợ búa. Một người bảo Đào Kỳ:
– Tiểu sư đệ, chị đi với em.
Người đó là Tường Loan. Loan võ không giỏi, nhưng tuổi đã trên 20, nguyên xuất thân là con nhà buôn, nên thạo thế tục. Đào Kỳ bảo Thiều Hoa:
– Sư tỷ, chị dẫn anh em vào khu vườn hoang kia ẩn náu. Đợi chúng em mua xong sẽ ra.
Loan dẫn Kỳ đến xóm chài. Dân xóm chài thấy hai người mặc quần áo sạch sẽ, lưng đeo bảo kiếm, thì biết là người hào kiệt. Đào Kỳ thấy ông lão khoảng 70 đang ngồi nhìn trời, mắt như mơ màng một chuyện gì.
Y tiến tới chắp tay hành lễ:
– Cháu kính chào bác.
Ông lão nhìn Loan, Kỳ, đầu đầy nghi vấn hỏi:
– Hai cháu chắc từ xa đến?
Đào Kỳ đáp thực:
– Chúng cháu từ phương Nam tới đây.
Ông lão gật đầu, chỉ vào trong nhà:
– Hai cháu đói lắm rồi, vào nhà kiếm tí xôi ăn đi.
Đào Kỳ thấy ông lão hiện ra vẻ thiện cảm, không do dự nó đi theo sau.
Ông lão chỉ xuống bếp:
– Cháu nhìn xem có gì lạ không?
Đào Kỳ liếc mắt nhìn, thấy trong bếp có khoảng bảy, tám người đàn bà đang nấu bảy, tám nồi cơm lớn. Một số người đang chặt những con cá khô thành miếng nhỏ.
Tường Loan hỏi ông cụ:
– Thưa cụ, chắc nhà sắp có việc làm đồng, hoặc làm rẫy lớn, nên chuẩn bị nấu cơm, nướng cá khô?
Ông cụ lắc đầu. Thình lình cây gậy của ông đánh vụt vào đầu Tường Loan. Nàng nhảy lùi lại tránh, nhưng cây gậy của ông lượn theo đánh vào ống chân bên trái. Tường Loan lộn đi một vòng tránh khỏi. Nhưng nàng vừa nhảy xuống đất thì cây gậy lại dí vào cổ nàng. Nàng định tránh, nhưng đã đến chân tường. Đành đứng im la lớn:
– Tiểu sư đệ, phát chiêu đi.
Nhưng Đào Kỳ ngồi im trên phản bốc xôi ăn, miệng cười toe toét. Tường Loan giận quá la lớn:
– Tiểu sư đệ, cứu ta với!
Đào Kỳ bốc xôi, bóc chuối ăn:
– Cụ cho em ăn xôi, chuối, và giảo nghiệm võ công sư tỷ, tại sao em phải cứu sư tỷ?
Ông cụ cười, thu gậy lại:
– Cô là ngoại đồ của Đào gia phải không? Còn cậu bé kia chắc là con út của Đào tiên sinh.
Tường Loan chắp tay vái:
– Cháu có mắt như mù, không biết cụ là bậc tiền bối.
Ông cụ cười vẻ tha thứ:
– Cô không tránh được ba chiêu trượng pháp của ta, thì ta biết cô là ngoại đồ. Còn cậu bé này, thấy ta ra chiêu mà biết ngay là ta đùa cợt, nhận ra võ công bản môn. Thế thì cháu phải là con cháu Đào gia mới đúng.
Đào Kỳ chắp tay hành lễ:
– Chúng cháu khép nép kính cẩn nghe cụ dạy bảo.
Ông lão vuốt râu cười:
– Ta là Phạm Bách, ngoại đồ đời trước của Đào trang, so vai vế, ta là sư huynh của sư phụ cháu.
Tường Loan, Đào Kỳ lạy thụp xuống đất hành lễ:
– Chúng cháu ra mắt Phạm sư bá. Kính chúc sư bá vạn thọ.
Ông cụ thở dài:
– Đêm qua ta thấy lửa cháy ở phương Nam, có tiếng trống trận, tiếng ngựa hí, ta biết rằng Thái-thú đã ra tay. Mà Thái-thú ra tay, thì không thể diệt Đào gia, Đinh gia thì làm gì đây? Ta biết dù Đào, Đinh có tài vũ dũng đến đâu, nhân số cũng chưa tới nghìn người, làm sao địch lại một vạn rưỡi quân của huyện Cửu-chân, lại thêm kỵ binh Giao-chỉ trên năm nghìn người do Thái-thú Giao-chỉ tăng viện tháng trước cho Nhâm Diên? Bởi vậy ta liệu thế nào người Đào, Đinh trang cũng chạy qua đây, nên nấu cơm, nướng cá khô sẵn để tiếp tế. Cuộc chiến ra sao, các cháu nói cho ta nghe.
Tường Loan tường thuật hết tự sự.
Phạm Bách thở dài:
– Từ lâu rồi, ta đã biết Thái-thú muốn tiêu diệt hết những hào kiệt Cửu-chân ta. Cái thế ta với Hán không thể cùng đứng. Ta không đánh họ, họ cũng diệt ta. Chi bằng đánh để chết cho thoả chí. Thế là quận Cửu-chân có bao nhiêu thế lực đều bị giết hết. Hán đế lo nhất là vùng Cửu-chân, Giao-chỉ, còn các vùng khác, y không quan tâm. Nay Cửu-chân, Đào, Đinh trang bị đánh thì đất Lĩnh Nam như rắn mất đầu, không ai dám nghĩ đến phản Hán phục Việt nữa.
Ông thở dài rồi nói tiếp:
– Giờ, ta đề nghị, các cháu chia ra toán năm người, toán bảy người, ngày mai làm dân tải muối đi bán đến vùng Lệ-hải ẩn thân. Còn ta với mấy cháu đi các nơi dọ xét xem sao đã. Các cháu nghĩ sao? Bởi hiện giờ họ Cao, giòng dõi Cao Nỗ xưa đang hùng cứ vùng núi Côi, chúng ta có thể tới đó nương nhờ.
Đào Kỳ thưa:
– Phạm sư bá đã dạy vậy, chúng cháu xin tuân lệnh.
Tường Loan dẫn mấy người nhà họ Phạm mang cơm vào rừng hoang cho anh em ăn, nói rõ chủ ý của Phạm Bách. Mọi người đều đồng ý.
Đêm đó mọi người ngủ trong hoang sơn. Đào Kỳ tuy võ công cao, kiến thức rộng, nhưng bản chất vẫn là đứa trẻ 13. Nó là con út, được bố mẹ cưng chiều, sống trong nhung lụa đã quen, bây giờ xảy ra biến cố, nhà tan, cửa nát. Bố mẹ, các anh không biết phiêu bạt nơi nào, lại phải nằm ngủ trong rừng. Nó ôm mặt thút thít khóc. Hoàng Thiều Hoa cũng tủi thân không ít, nhưng hiện trên trăm người, vừa sư huynh, vừa sư đệ, vừa tráng đinh, thì Trịnh Quang là sư huynh của nàng, có địa vị cao nhất, mà y bị thương mê man, vì vậy nàng phải điều động tất cả. Thấy Đào Kỳ khóc, nàng lại bên cạnh ôm nó vào lòng, lấy vạt áo lau nước mắt cho nó. Nàng dỗ một lúc nó mới chịu ngủ.
Sáng hôm sau mọi người thức giấc thì không thấy Tường Loan, vội đổ xô đi tìm, thì thấy xác nàng nằm dưới chân đèo, mình đầy thương tích, giống như trượt chân ngã. Thiều Hoa lại nắm tay xem mạch, thì Tường Loan chết rồi. Mọi người vào sinh ra tử, cả đoàn chỉ có mấy người bị thương, mà nay họ đã thoát khỏi hiểm nguy, tưởng được yên thân, thì Tường Loan bị trượt chân ngã mà chết. Các nữ đệ tử bưng mặt khóc thảm thiết.
Thiều Hoa ôm xác Tường Loan lại một hang đá, đặt vào trong đó, rồi sư huynh, đệ dùng đá lấp lại. Nàng lấy kiếm khắc mấy chữ ở cửa hang:
"Đào gia Nguyễn Tường Loan, tuẫn quốc tại chỗ này".


Đăng nhập để trả lời
0
Hồi 3

Giang sơn vô lệ khấp anh hùng




Giang sơn vô lệ khấp anh hùng
(Phan Chu Trinh, Chí thành thông thánh thi)
Nghĩa là:
Giang-sơn không còn nước mắt để khóc anh hùng



Lạc tướng Phạm Bách nguyên xuất thân là ngoại đồ của Đào gia trang đời thứ sáu. Theo vai vế thì Đào Thế Kiệt phải gọi ông là sư huynh, Đào Kỳ cũng như Thiều Hoa phải gọi ông là sư bá. Hồi niên thiếu, ông được thân phụ của Đào Thế Kiệt nhận làm ngoại đồ, học võ trong ba năm. Sau đó ông bỏ lên vùng Linh-trường lập nghiệp. Cũng giống như sư phụ, ông tổ chức phá rừng, làm ruộng, đánh cá. Ông còn tổ chức hệ thống làm nước mắm bán. Nước mắm của ông có tiếng, suốt vùng Giao-chỉ, ai ăn nước mắm Linh-trường của ông cũng phải khen ngon. Mỗi ngày ông có hai toán tải nước mắn ra Bắc bán. Chẳng bao lâu ông trở thành giàu có.
Tuy giàu có, nhưng ông vẫn nhớ lời sư phụ dặn: Đừng quên cái hận vong quốc. Cho nên ông lợi dụng bán nước mắm, liên kết hào kiệt khắp nơi. Ông cùng Đào Thế Kiệt, Đinh Đại thường gặp nhau để trao đổi những tin tức trọng đại. Nay thấy Đào, Đinh nhà tan cửa nát, ông không khỏi đau lòng. Ông vào rừng gặp đệ tử, gia đinh của Đào trang, rồi phân tán họ thành 10 nhóm khác nhau, mỗi ngày ông cho một nhóm lên đường, với những xe chở nước mắm. Ông thấy trong hào kiệt đương thời, thì Cao hầu ở Hoa-lư người nhiều thế mạnh, có thể cho đệ tử Đào trang ra đó ẩn thân rồi tìm cách liên lạc lại với Đào Thế Kiệt và Đinh Đại sau.
Toán cuối cùng lên đường có Thiều Hoa, Đào Kỳ và tám người nữa. Đích thân ông đi cùng các cháu, để dò la tin tức gia đình hai sư đệ hiện phiêu bạt phương nào. Đến ngày lên đường thì Trịnh Quang vẫn còn phải nằm trên võng cho đồng môn khiêng đi.
Đoàn người khởi hành từ tờ mờ sáng, đến khi hoàng hôn, thì xa xa hiện ra hai dãy núi chặn ngang trước mặt.
Phạm Bách chỉ núi cho Hoàng Thiều Hoa và Đào Kỳ coi rồi nói:
– Kìa là núi Tam-điệp, tẻ ra hai hòn núi Thiết-giáp và Thần-đầu. Giữ hai ngọn núi là con sông Chính-đại đổ ra cửa biển Thần-phù.
Ghi chú của thuật giả
Vị trí này ngày nay nằm về phía Nam Phủ-lý 79 km, cảnh rất đẹp. Hai hòn núi Thiết-giáp và Thần-đầu kẹp con sông Đáy vào giữa. Phong cảnh tú nhã, nữ sĩ Hồ Xuân Hương thấy cảnh sông núi tượng hình cái của quý của đàn bà, đã tả rằng:
Hai bên thì núi, giữa thì sông,
Có phải đây là Kẽm-trống không?
Theo sách Phong-thuỷ ký thì chỗ con sông bị kẹp, giữa lòng có xoáy nước. Nếu táng mả tổ tiên vào đây, thì đời đời trong họ sẽ sinh ra những vị nữ lưu xinh đẹp, làm nghiêng ngửa giang sơn. Vua Thiệu Trị ra Bắc kinh lược, thấy địa thế kỳ lạ không dám đi qua sợ bi ô uế thân thể một vị đế vương, bắt dân chúng đào một con sông phía sau núi mà đi.
Hoàng Thiều Hoa mơ màng nhìn giang sơn đẹp như gấm, như hoa, hỏi:
– Cách đây mấy hôm một sư huynh có nói cửa biển Thần-phù ghê sợ lắm, ai qua đó khó biết rằng sống hay chết. Chỉ người nào phúc lớn mới qua khỏi mà thôi. Không biết có đúng không?
Phạm Bách đã qua đây nhiều lần rồi, nên rất am tường địa thế:
– Đúng đấy, cửa Thần-phù là nơi nhiều con sông gặp nhau gồm sông Hồng-hà, sông Mã, sông Vân-sàng, và sông Đáy. Sông thì sâu, nước chảy mạnh, thành ra những xoáy lớn. Thêm gió từ biển thổi vào ngược chiều xoáy. Hoá cho nên thuyền bè bị nước xoáy một chiều, gió thổi một chiều, nên hầu hết đều chìm.
Trời chập choạng tối thì đoàn người đã vượt qua ngọn núi Thiết-giáp, lọt vào thung lũng núi Thiết-giáp và Thần-đầu. Phạm Bách chỉ cho đệ tử Đào trang ngủ trong một ngôi đền lớn.
Ngôi đền không biết được xây từ bao giờ. Lớp ngói đỏ đã dầy những rêu xanh bao phủ. Tường gạch đỏ đã có chỗ lõm vào, tỏ ra đền đã chịu không biết bao nhiêu tuế nguyệt. Trước đền có hai con voi, hai con ngựa bằng đá xanh, được tạc rất khéo. Trên lưng voi, ngựa là tượng hai người lưng đeo cung tên, tay cầm gậy trong tư thế chiến đấu. Sân đền rộng mênh mông trồng nhiều hoa thơm cỏ lạ. Cổng đền được xây bằng đá, trên nóc đắp hai con rồng tranh châu. Hai bên cổng là hai cây đa cao vút tới tận mây xanh. Giữa sân là một cái hồ sen, hoa nở bốc hương thơm ngào ngạt, trước đền có chữ đề Cao Đại vương linh từ.
Phạm Bách ra lệnh cho con trai ông là Phạm Quang Minh:
– Con dẫn anh em Đào trang với người của mình vào nhà sau, kiếm chỗ nghỉ và nấu cơm ăn. Con làm cho bố mâm cơm tinh khiết để cúng Cao đại vương.
Thiều Hoa, Đào Kỳ định vào nhà sau, thì Phạm Bách gọi lại:
– Các cháu theo bác.
Ông dẫn hai người dạo quanh đền, rồi chỉ bãi cát trước sân kéo dài tới bờ biển. Ông thuật:
– Đây là chiến địa cuối cùng thời An-dương vương.Vương chạy đến Hoa-lư thì anh em đại tướng Cao Nỗ, Cao Tứ mang nỏ thần ra bắn lui quân Triệu Đà. Nhưng quân Triệu đông hàng mấy vạn, trong khi anh em Cao tướng quân chỉ có mấy trăm. Vì vậy ông bị bại. Anh em vừa đánh vừa rút tới đây thì sức cùng lực kệt. Ông thúc An-dương vương chạy vào Nam, còn anh em tử chiến chận giặc. Tại chỗ này, Triệu Đà thấy ông có tài muốn mua chuộc, cho người đến trại chiêu hàng. Đà hứa nếu ông chịu quy thuận thì cho cai trị đất Giao-chỉ. Này cháu Thiều Hoa! Đào Kỳ! Nếu các cháu là Cao tướng quân thì các cháu sẽ xử trí như thế nào?
Thiều Hoa đáp:
– Thưa bác, cháu giết chết sứ giả, tử chiến một trận. Tuy không thắng cũng làm cho giặc kinh hồn táng đởm, rồi chết cho thoả chí người Lĩnh Nam. Bọn Triệu Đà võ công không cao, tín nghĩa không có, chỉ nhờ xảo quyệt mà đắc thế, người cầm gươm không thể cùng cộng tác với hắn.
Đào Kỳ cười khúc khích.
Hoàng Thiều Hoa nghiêm nét mặt mắng:
– Tiểu sư đệ! Chị chưa tính tội tiểu sư đệ về vụ Nghiêm Sơn. Nay còn đùa nữa sao? Trước khi xảy ra trận đánh cảng Bắc, sư mẫu dặn em rằng: Mọi chuyện nhất nhất phải nghe chị. Nay sao em dám cười chị. Chị nói vậy không đúng hay sao?
Đào Kỳ càng cười lớn:
– Bố em thường cho rằng chị là người ôn nhu, mà chí khí như bậc nam nhi, quả đúng. Nhưng giữa chí khí nam nhi và khí phách của bậc anh hùng thì khác nhau xa lắm. Em cười là cười chị có chí khí nam nhi mà không đủ khí phách của bậc anh hùng.
Hoàng Thiều Hoa xịu mặt xuống nàng nói dỗi:
– Tiểu sư đệ! Thì ra tiểu sư đệ có khí phách anh hùng đấy. Ta, Thiều Hoa, xin kính cẩn rửa tai nghe khí phách tiểu anh hùng của sư đệ.
Đào Kỳ vỗ tay vào lưng sư tỷ, nó nheo mắt, thè lưỡi nhát Thiều Hoa:
– Ngày xưa nước Việt có nàng Tây Thi, đẹp tuyệt trần. Nhưng mỗi lần nàng giận hờn, cau mặt càng đẹp hơn. Vừa rồi chị cau mặt coi càng đẹp. Em là tiểu sư đệ còn muốn nhìn huống hồ người ngoài... Mọi khi em đùa đến đâu sư tỷ cũng hỷ xả bỏ qua. Không hiểu sao mấy ngày hôm nay bề ngoài thì sư tỷ làm như bình thản, mà trong lòng nóng như lửa đốt. Trong khi tình ý lại dạt dào như sóng bể Thần-phù.
Đào Kỳ đã đánh trúng tâm trạng Thiều Hoa. Từ đêm giao chiến với Nghiêm Sơn đến giờ, nàng thấy người như có gì khác lạ. Mỗi lần nghĩ đến trận chiến đêm đó, mặt nàng lại nóng bừng lên. Nàng cảm thấy lo sợ: Hay là mình đã cảm Nghiêm Sơn? Nghĩ đến cảnh vong quốc hiện tại, nghĩ đến những lời khắt khe của sư phụ khi nói đến Mỵ Châu, nàng càng cảm thấy mình có tội lỗi với tổ tiên, với dân tộc. Nay Đào Kỳ nói câu đó, nàng lại rộn lên:
– Chị chỉ muốn em trả lời câu hỏi của sư bá. Chứ chị không muốn em đùa dỡn. Chúng ta đang đứng trước đền thờ vị anh hùng dân tộc, hơn nữa là tổ sư của võ học nhà mình.
Đào Kỳ thấy sư tỷ giận, nó không dám đùa nữa:
– Chị chém chết sứ giả, rồi quyết chiến một trận, thì chị làm cho giặc sợ, và tỏ được khí phách của mình. Còn chị mỉa mai em là tiểu anh hùng thực lòng chị bồi hồi nên nói cũng sai. Từ ngàn xưa, dù người lên bảy tuổi đánh giặc Ân như Phù-đổng Thiên-vương cũng là anh hùng. Anh hùng là anh hùng, chứ không hề có tiểu anh hùng.
Thiều Hoa thấy mình đấu khẩu với cậu tiểu sư đệ thì chỉ có nước thua. Muôn ngàn lần nàng không phải là đối thủ của y, nên làm mặt giận, không nói năng gì nữa. Sống bên Đào Kỳ từ bé, Thiều Hoa biết tính cậu tiểu sư đệ ưa phá, ưa đùa, nhưng mỗi lần như vậy nàng tỏ ra giận dỗi, thì y ngưng lại liền. Hôm nay Đào Kỳ dồn Thiều hoa vào chỗ bí, nàng lại dở chiêu thức cũ ra. Quả nhiên Đào Kỳ không dám đùa nữa, nó trả lời Phạm Bách:
– Thưa sư bá, nếu cháu là Cao tướng quân thì cháu nhận lời đầu hàng. Khi đầu hàng rồi, sẽ tìm cách khôi phục giang sơn, hơn là tử chiến vô ích.
Phạm Bách ngâm se sẽ:
Anh hùng như thể khúc lươn,
Khi cuộn thì ngắn, khi vươn thì dài.
Cháu quả thật xứng đáng con cháu họ Đào. Nhưng Đại tướng quân Cao Nỗ lại hành động như Thiều Hoa. Ông giết chết sứ giả, hẹn ngày hôm sau quyết chiến. Sáng hôm sau ông dẫn trên 50 đệ tử dàn trận, đấu với ba vạn quân của Triệu Đà. Hầu cỡi ngựa tiến lên trước trận nói:
– Triệu vương! Hôm nay nước Âu-lạc của tôi đã cùng rồi. Chúng tôi liều một trận tử chiến mà thôi. Không biết bên Triệu có ai đủ can đảm đấu với tôi không? Hay là dùng đông người để ăn hiếp ít người?
Triệu Đà bị khích, y nói:
– Tướng quân muốn đấu gì? Gươm, đao, hay quyền cước?
Cao Nỗ nói:
– Tôi muốn đấu cung tên. Tôi một cung, chín mũi tên. Bên Triệu cử một tướng cũng một cung, chín mũi tên. Nếu tôi bại, thì xin cúi đầu cắp gươm theo hầu Đại-vương. Còn nếu bên Triệu bại, thì xin Đại-vương lui quân 100 dậm, sau mười ngày tái đấu.
Bên Triệu, đại tướng Triệu Thắng là một trong những thần tiễn. Y nghe Triệu Đà hàng ngày khen tài thiện xạ của Cao Nỗ mà bực tức trong lòng. Nhân dịp này, y muốn đấu với Cao Nỗ, liền vọt ngựa ra trước trận:
– Ta muốn cùng Cao tướng quân đấu trận này.
Y cởi gươm, cầm cung với chín mũi tên đứng đối diện.
Quân hai bên lùi lại.
Cao Nỗ thúc ngựa chạy trước. Triệu Thắng phi ngựa đuổi theo sau. Thắng lấy cung nạp tên, nhắm đầu Cao Nỗ bắn. Cao Nỗ chờ tên bay sát tới đầu, ông né sang một bên, tay bắt lấy tên bỏ vào túi. Ông vẫn phi ngựa chạy vòng quanh sân. Triệu Thắng đuổi theo, y bắn mũi tên thứ hai nhắm giữa lưng ông. Lần này ông không bắt tên nữa, chờ tên sắp tới lưng, ông cúi xuống chống hai tay vào lưng ngựa, tên bay giữa đầu và hai tay ông. Đợi tên bay qua, ông co hai tay rồi đẩy mạnh lên, người ông lại cỡi trên lưng ngựa, nhưng cỡi ngược, quay mặt về sau.
Quân sĩ hai bên reo hò ầm ĩ. Triệu Thắng bắn liền ba mũi: Hai mũi hai bên, một mũi vào giữa mặt ông. Ông đưa tay bắt hai mũi hai bên. Mũi thứ ba tới trước mặt, ông há miệng cho mũi tên bay vào tới giữa hai hàm răng rồi cắn chặt lấy. Mũi tên còn dư lực chuôi rung rung không ngớt. Một bên bắn, một bên tránh, bắt, nhưng hai ngựa vẫn cách nhau một khoảng đều. Triệu Thắng đã mất năm mũi tên, y hoảng sợ lắm. Y bắn liền ba mũi tên nữa, một mũi hướng ngựa, hai mũi hướng ngực Cao Nỗ.
Bây giờ Cao Nỗ mới nạp tên bắn ngược trở lại ba mũi tên. Tiếng tên xé gió, cắt đôi ba mũi tên của Triệu Thắng thành sáu đoạn.
Hầu cho ngựa phi chậm lại, nạp tên vào cung hô lớn:
– Triệu Thắng, ta bắn trả ngươi đây. Ngươi hãy coi ta bắn trúng mũ của ngươi.
Mũi tên xé gió bay đến trúng vào mũ của Triệu Thắng đến choảng một tiếng. Y hoảng hồn phi ngựa chạy.
Hầu lại hô:
– Ta bắn đứt giây cương ngựa của ngươi đây.
Mũi tên xé gió bay đến bên ngựa Triệu Thắng, phựt một cái, cương ngựa bị đứt. Ngựa Thắng không cương chạy ngược trở về trận Triệu.
Hầu hô lớn:
– Ta bắn trúng ngựa ngươi đây.
Hầu buông một lần ba mũi. Một hướng Triệu Đà, một hướng Trọng Thuỷ, một hướng Triệu Thắng. Triệu Đà, Trọng Thuỷ tuyệt không ngờ hầu lại có thể bắn một lần ba mũi hướng ba vị trí. Đà hoảng hồn lộn người xuống ngựa tránh, nhưng mũi tên cũng trúng bắp đùi y. Còn Triệu Thắng thì cả người lẫn ngựa chết tại trận tiền. Trọng Thuỷ chỉ bị trúng vai trái thôi.
Quân Triệu tràn sang như nước vỡ bờ. Cao đại tướng quân tử chiến đến mũi tên cuối cùng rồi rút kiếm tự tử.
Phạm Bách kể xong, thì Đào Kỳ, Hoàng Thiều Hoa cảm thấy như còn văng vẳng đâu đây tiếng ngựa hí, quân reo, tiếng tên xé gió kêu vi vút. Hoàng Thiều Hoa nước mắt đầm đìa. Còn Đào Kỳ mím môi nghiến răng:
– Khi gặp thời thì anh chàng câu cá như Hàn Tín, anh chàng bán thịt chó như Phàn Khoái cũng thành công. Còn khi thời đã mất thì dù có tài như Sở Bá vương cũng phải tự tận trên bến Ô-giang. Cao đại tướng quân tài trí một thời, giúp Thục An Dương vương dựng nghiệp lớn, chế ra nỏ thần, giết Đồ Thư, đánh Triệu Đà nhiều trận kinh hồn táng đởm. Nhưng đất Âu-lạc người ít, dân thưa, lại bị cái vạ Mỵ Châu làm cho đến nỗi mất nước, phải tự tận. Tiếc thay cho những bậc anh hùng!
Phạm Bách dẫn hai người vào đền thờ, chỉ cho xem tượng tướng quân Cao Nỗ, uy nghiêm như người sống. Bên cạnh tượng dựng một cây côn bằng đồng sáng chói.
Phạm Bách hỏi Đào Kỳ:
– Bác nghe cháu đã được học Cửu-chân trượng pháp và đã luyện đến chỗ tuyệt kỹ. Vậy cháu có thể biểu diễn để bác coi được không?
Đào Kỳ tuân lệnh, đến trước bàn thờ Cao Nỗ qùy xuống khấn:
– Nếu Cao tổ sư có linh thiêng xin chứng cho đệ tử. Đệ tử mạo muội sử dụng đồng côn của ngài, để biểu diễn cho sư bá xem.
Đồng côn của Cao Nỗ không có hình dáng tròn, mà là một cây gậy hình tam cánh đều đặn, dài khoảng gần một trượng. Đào Kỳ những tưởng đồng côn nặng lắm, nhưng khi cầm lên lại thấy vừa. Nó ngạc nhiên vô cùng, tự hỏi:
– Hay là đồng côn rỗng bên trong?
Nó rút kiếm khẽ gõ vào đồng côn, thì thấy tiếng cách, cách, tỏ ra đồng côn đặc chứ không phải rỗng. Nó tự nghĩ:
– Chắc cây côn này chỉ bọc ngoài một lớp đồng, còn bên trong thì bằng chất gì khác nhẹ hơn đồng.
Nó hướng vào Phạm Bách hành lễ:
– Đệ tử xin mạn phép, nếu có gì sai xin sư bá chỉ điểm cho.
Nói xong, nó múa đủ 18 lộ Cửu-chân côn pháp, rồi ngừng lại:
– Xin sư bá chỉ dạy.
Phạm Bách mơ màng nhớ lại hồi còn trẻ, sư phụ có dạy Thục gia trượng pháp cho ông, nhưng vì ông là ngoại đồ, nên chỉ được học có 10 lộ mà thôi. Nay thấy Đào Kỳ đánh đủ 18 lộ, ông mới biết Thục gia trượng pháp có biến hoá phức tạp vô cùng, mỗi lộ bề ngoài coi cục mịch nhưng bao hàm những sát chiêu ghê gớm. Ông được sư phụ giảng rằng côn pháp này do tả tướng Vũ Bảo Trung tức ông Nồi chế ra. Sau đó ông đã dùng nó để đánh quân Tần. Chính Đồ Thư bị giết về lộ côn pháp này. Sư phụ ông còn nhấn mạnh: Côn pháp xuất phát từ Vạn-tín hầu Lý Thân. Khi Vạn-tín hầu tự tận thì đệ tử của ngài là Vũ Bảo Trung mới dựa theo đó mà sửa đổi, thêm những kinh nghiệm vào. Trượng pháp nổi danh ngang với thần tiễn của Cao Nỗ. Nó có đặc điểm là dù người ngu, người già, đàn bà, trẻ con đều học được cả. Khi sử dụng, tuỳ theo công lực. Công lực yếu, thì uy mãnh thường, công lực mạnh thì uy mãnh tuyệt luân.
Ghi chú của thuật giả
Cao Nỗ, trước theo vua Hùng. Khi An-dương vương vây vua Hùng, Ngài mở cửa thành cho An-dương vương vào ngày mùng sáu tháng giêng. Về sau ngày sáu tháng giêng trở thành ngày hội của Cổ-loa. Dân chúng coi như ngày lập quốc thứ nhì. Có câu tục ngữ:
“Chết thì bỏ con, bỏ cháu,
Sống thì không bỏ mùng sáu tháng giêng”
Cao Nỗ là một trong Tứ-trụ đại thần triều Âu-lạc là:
1. Đại-tư mã, Vạn-tín hầu Lý Thân.
2. Đại-tư không, Trung-tín hầu Vũ Bảo Trung.
3. Đại-tư đồ, Cao-cảnh hầu Cao Nỗ (Lỗ).
4. Tể-tướng, Phương-chính hầu Trần Tự-Minh.
Sau khi Vạn-tín hầu Lý Thân tự tận, Cao Nỗ được thay thế lĩnh chức Đại Tư-mã, tương đương với ngày nay là Tổng Tư-lệnh quân đội. Cũng có sách chép ngài lĩnh chức Tả-tướng quân. Vì có chân tài, lại có công, ngài được An-dương vương phong làm Cao Cảnh-hầu, Em Ngài là Cao Tứ được phong là Cao-dương hầu. Ngài là người phát minh ra nỏ thần, bắn một loạt hàng ngàn mũi tên. Sau dân chúng huyền thoại hoá đi rằng vua Thục được thần Kim-quy cho móng rùa làm nẫy nỏ. Trước đây, suốt một dãy bờ biển từ Thanh-hoá đến Hà-nội nơi nào cũng có đền thờ hai Ngài.
Niên hiệu Trùng-hưng thứ 1 (1285) đời vua Trần Nhân-tông, sắc phong ngài là Nghị-vương. Năm Trùng-hưng thứ 4 (1288) gia phong Cương-chính Nghị-vương. Niên hiệu Hưng-long thứ 21 (1313) đời Trần Anh-tông gia phong Uy-huệ Cương-chính Nghị-vương.
Hiện tôi còn tìm ra bốn đền thờ ngài:
1. Đền thứ nhất, ở số 13B phố Đào Duy Từ, Hà-nội,
2. Đền thứ nhì, ở đình Ngũ-đăng, Hàng-bè, Hà-nội. Tại đình Ngũ-đăng có đắp tượng hai ông và con voi cùng tử tiết, với đôi câu đối:
“Tô chử nộ ba đào, nhất phiến tinh trung truyền Thục sử,
Loa thành huyền nhật nguyệt, cửu trùng hoa cổn tại Đinh triều”
Nghĩa là:
Sóng sông Tô-lịch cuồn cuộn sóng căm hờn, tấc dạ trung thành truyền sử Thục.
Thành Cổ-loa treo cao vầng nhật nguyệt, áo hoa phong tặng tự Đinh triều.
Thời nhà Đinh, vua Đinh Tiên-hoàng là đệ tử phái Hoa-lư, hậu duệ của ngài, khi lập được đại nghiệp, phong ngài là Trung dũng đại vương.
(Chi tiết về Cổ-loa, xem hồi 10 trong sách này),
3. Đền thứ ba, tại đình Ái-mộ, tổng Gia-thụy, nay là xã Gia-thụy, huyện Gia-lâm, Hà-nội. Phổ của đình chép ngàigiữ chức Tả-tướng quân triều Âu-lạc. Ngài là người chế ra nỏ thần, gọi là Linh-quang kim trảo thần nỗ. Sau này, thế kỷ thứ tám, viên quan nhà Đường là Cao Biền, sang cai trị nước ta. Y bịa ra rằng được ngài nhập mộng báo cho biết rằng sẽ đem Thần-nỏ cùng âm binh giúp y đánh giặc Nam-chiếu. Y có làm bài thơ nói về giấc mộng này như sau:
Mỹ hỹ Giao-châu địa,
Du du vạn tải lai.
Cổ hiền năng đắc kiến,
Chung bất phụ linh đài.
Tạm dịch:
Giao-châu đất đẹp thay,
Dằng dặc vạn năm nay.
Người hiền xưa nay thấy,
Thực không phụ lòng này.
Tài-liệu chữ Hán:
ĐVSKTT, Ngoại-kỷ.
Bắc-ninh tỉnh thần tích.
4. Đền thứ tư, là Cao-công từ, đền ở bờ sông Đại-than, huyện Gia-bình, tỉnh Bắc-ninh. Nay là xã Cao-đức, huyện Gia-lương, tỉnh Hà Bắc.
Tài liệu chữ Hán Việt-Nam:
Việt điện U-linh.
Lĩnh Nam chích quái.
ĐVSKTT, Ngoại-kỷ.
Thiên-Nam vân lục.
ĐNNTC.
Bắc thành địa dư chí lục.
Đại Viêt địa chí.
Bắc-ninh tỉnh địa dư.
Bắc-ninh phong cảnh tập.
Bắc-ninh toàn tỉnh địa dư chí.
Bắc-ninh toàn tỉnh địa dư chí.
Ngọc phả cổ lục.
Tài liệu Trung-quốc:
Giao-châu ngoại vực ký
Thủy-kinh chú q.14
Thái-bình hoàn vũ ký, phần Nam Viêt ký, q.170
Tục bác vật ký
Nên chú ý là các sách Trung-quốc đều chép tên ngài là Cao Thông. Còn các sách Việt thì chép là Cao Nỗ hay Cao Lỗ.
Ngôi đền mà Đào Kỳ và Thiều Hoa trú ngụ đã bị Trương Phụ phá năm 1407.
Hốt nhiên một phi tiễn xé gió hướng Đào Kỳ bay tới. Nó đưa côn gạt đánh kịch một tiếng. Côn, tiễn đụng nhau toé lửa, cánh tay nó tê chồn. Nó định nhặt mũi tiễn lên xem thì hai mũi khác lại bay đến, một hướng cổ, một hướng ngực.
Không dám chần chờ, nó xuống trung bình tấn đưa côn gạt mũi tên hướng cổ. Lần này kình lực mạnh quá, cây côn sút tay văng ra xa, cả người nó bị rung động. Nó còn đang bàng hoàng thì mũi tên thứ nhì đã đến trước ngực. Nó nghĩ thầm:
– Thôi thế là hết đời.
Hoàng Thiều Hoa thấy sư đệ bị lâm nguy, nàng rút kiếm gạt. Mũi tụ tiễn chạm vào kiếm đánh choảng một cái. Cây tiễn đổi chiều bay xẹt qua tai Đào Kỳ. Còn Hoàng Thiều Hoa suýt văng mất kiếm, cánh tay nàng tê chồn.
Về võ công thì Phạm Bách không bằng các cháu, nhưng ông kinh nghiệm lịch lãm nhiều. Biết đây là đại cao thủ, ông lên tiếng:
– Cao nhân nào, xin xuất hiện. Tại sao lại nấp nấp, ẩn ẩn như tiểu nhân vậy?
Bình một tiếng, cánh cửa mở rộng, hai người bước vào. Đó là một nam lùn tịt để chòm ria môi trên, tuổi trung niên. Một nữ dáng người yểu điệu thanh thoát. Cả hai đeo trường kiếm trên lưng.
Phạm Bách giật mình:
– Thì ra Phong-châu Vũ gia. Thảo nào tụ tiễn có kình lực mạnh đến thế... Chẳng hay nhị vị tới đây có điều chi dạy bảo?
Nguyên hai người này lạ một cặp vợ chồng. Chồng tên Vũ Hỷ, vợ tên Vũ Phương Anh. Họ là sư huynh, sư muội đồng môn, xuất thân từ phái Tản-viên, là đệ nhất danh môn chính phái. Mấy năm gần đây, tự nhiên họ phản sư môn, qua lại tác quái trên giang hồ. Hành vi của họ thường ác độc, ghê tởm, nên người ta tặng cho họ danh hiệu Phong-châu song quái. Tản-viên là phái võ chủ trương phản Hán phục Việt, nhưng Song-quáiï lại đi làm việc cho phủ Tế-tác của Cửu-chân. Võ lâm Lĩnh Nam nghe đến họ không ai mà không táng đởm kinh hồn.
Phạm Bách là đệ tử danh môn, tuổi đã cao, ông không muốn dùng danh từ Song quái nên gọi trật đi là Phong-châu Vũ gia.
Vũ Hỷ hỏi:
– Phạm lão tiên sinh, dám hỏi lão tiên sinh đi đâu đây?
Phạm Bách chột dạ, nhưng vẫn cười dòn:
– Hai vị khéo đùa. Phạm gia chúng tôi làm nghề chế mắm, cất nước mắm đã hơn 40 năm. Từ Nam tới Bắc, ai mà không từng ăn qua, hoặc không thì cũng đã từng ngửi qua. Hôm nay lão tải một số hàng ra Luy– lâu bán. Chẳng hay nhị vị có dắt hàng cho không?
Phương Anh cười:
– Nếu thực vậy, thì ra lão gia không có ý gì khác ư? Vì mười ngày qua, tôi thấy đệ tử Phạm gia tải nước mắm hơi nhiều hơn hàng ngày. Lại nữa họ đều là những người võ công cao cường. Võ công của họ là võ công Đào gia, chứ không phải của Phạm gia.
Phạm Bách suy nghĩ:
– Có lẽ hai con quỷ này nó đã khám phá ra kế hoạch của mình rồi chăng?
Song ông vẫn nói lảng:
– Phạm mỗ xuất thân là đệ tử Đào gia, thì võ công Đào gia, Phạm gia có gì khác nhau đâu?
Vũ Hỷ cười gằn:
– Tiên sinh bằng ấy tuổi, mà nói năng còn hồ đồ như con nít vậy. Đừng hòng lấy vải thưa mà che mắt thánh. Tiên sinh là tục gia đệ tử Đào gia, võ công tầm thường thôi. Đằng này trong những người đi theo, đều có võ công tuyệt luân cả. Họ là nội đồ của Đào gia. Ta nghe Đào gia làm phản, Thái-thú Cửu-chân sức giấy đi khắp thiên hạ, ai lấy được đầu Đào Thế Kiệt, Đinh Đại thì được thưởng 1.000 lượng vàng, ai bắt một nội đồ của Đào gia thì được thưởng 500 lượng. Ai bắt được ngoại đồ của Đào gia thì được thưởng 200 lượng. Trong đám người theo lão, ít ra có ba nội đồ, 50 ngoại đồ và khoảng 60 gia đinh.
Đào Kỳ nghe Vũ Hỷ nói, thì mừng lắm. Như vậy bố, mẹ, cậu, mợ, anh chị, suy huynh chưa ai bị bắt. Có lẽ tất cả đang trên đường đào tẩu, nên thái thú mới treo thưởng để bắt.
Phương Anh chỉ Hoàng Thiều Hoa và Đào Kỳ:
– Hai người này có phải là đệ tử Đào gia chăng?
Hoàng Thiều Hoa hiên ngang bước ra nói:
– Đúng, ta là tam đệ tử cuả Đào gia. Nếu hai người có bản lĩnh thì lại đây bắt mà nạp cho người Hán.
Dứt lời nàng rút kiếm phóng một chiêu thần tốc vào mặt Phương Anh. Phương Anh không rút kiếm phản công, thị né người tránh khỏi, rồi dùng tay xỉa vào mặt Thiều Hoa. Thiều Hoa biến chiêu thần tốc, đảo kiếm thích vào mặt thị. Bấy giờ thị mới nhảy lui lại quát:
– Quả đúng là đệ tử Đào gia. Ta nghe trong trận chiến ở Ngọc-đường, ngươi đã đấu ngang tay với Lĩnh Nam công Nghiêm Sơn. Ta không tin, vì ngay sư phụ ngươi cũng không có bản lĩnh đó. Nay mới biết, quả thực ngươi có chút bản sự.
Nói rồi thị rút kiếm nhằm ngực Thiều Hoa xỉa tới.
Hai người đều là đệ tử danh môn chính phái, cũng là nữ lưu, kiếm pháp gần giống nhau. Người này ra chiêu thì người kia đỡ. Ánh kiếm cuộn lấy nhau như hai quả cầu bạc.
Phạm Bách đứng ngoài ngây người ra nhìn, ông tự nhủ:
– Sư đệ Đào Thế Kiệt quả thực là tài giỏi. Một thiếu nữ xinh đẹp thế kia, trông như một công chúa, đầy vẻ nhu mì, thế mà y huấn luyện thành một tay kiếm thuật, cầm cự được với Phong-châu song quái bằng ấy hiệp, kể cũng hiếm có trên thế gian này.
Đào Kỳ chỉ lanh lợi hơn Thiều Hoa, chứ võ công của nó còn kém xa sư tỷ. Đây là lần đầu tiên nó thấy sư tỷ đấu với người ngoài, nên ngây người ra xem. Còn Phương Anh dường như chỉ muốn giảo nghiệm võ công Thiều Hoa chứ thực sự y thị không muốn thắng ngay. Thiều Hoa biết đối phương võ công cao gấp mấy mình, chỉ khảo nghiệm mình, nên nàng không cần phòng vệ mà lo tấn công ráo riết.
Khoảng thời gia tàn nén hương, mồ hôi Thiều Hoa đã vã ra. Nàng đuối sức lui dần đến chân tường.
Đào Kỳ thấy sư tỷ lâm nguy, bất chấp đối phương võ công cao, nó múa trượng xông vào.
Vũ Hỷ lạng người đi một cái, đã nắm được đồng côn của Kỳ, y kẹp vào hai ngón tay, lơ đãng đứng xem cuộc chiến giữa vợ với Hoàng Thiều Hoa. Đào Kỳ dùng hết sức giật đầu côn ra, nhưng côn như đóng chặt vào tường, không nhúc nhích.
Nó nghĩ:
– Ta có cố gắng giằng lấy côn cũng vô ích, chi bằng dùng kế hay hơn.
Nó buông côn, nhảy lui lại quát lớn:
– Ngừng tay!
Thiều Hoa, Phương Anh cùng nhảy lui lại.
Đào Kỳ cười hề hề:
– Hai vị đây là cao nhân đương thời, nói thực ra, đến gia phụ chưa chắc đã thắng được các vị, huống hồ chúng tôi. Các vị là người có danh vọng tại sao lại đi hiếp người dưới, các vị không sợ thiên hạ chê cười sao?
Vũ Hỷ cười:
– Chê cười thì thiên hạ chê cười từ lâu rồi. Ta đâu có thèm lý đến những lời bình luận của người đời. Ta muốn gì thì làm. Ta há sơ ai?
Đào Kỳ cười:
– Tôi nghe cha tôi nói rằng Phong-châu song quái võ công trùm thiên hạ, nhưng có đặc tính là coi lời hứa nặng bằng non. Vậy thì thế này, xin nhị vị cho chúng tôi một cơ hội.
Phương Anh cười nhạt:
– Cứ nói.
– Bây giờ một trong hai vị đấu với tôi. Nếu tôi bại thì mặc quý vị muốn giết, muốn bắt làm trâu, làm ngựa gì cũng được. Còn lỡ mà tôi thắng nửa chiêu thì xin quý vị không được hại sư bá, sư huynh, sư tỷ của tôi.
Vũ Hỷ nói:
– Nếu ngươi chịu được của ta ba chiêu, thì ta sẽ tha cho các người khỏi chết.
Đào Kỳ cười ha hả tiến ra:
– Vậy chúng ta cứ thế mà làm.
Vũ Hỷ không tin rằng thằng nhỏ có thể chịu được ba quyền của y.
Y phóng chiêu quát lớn:
– Chiêu thứ nhất.
Y vừa phát chiêu, kình lực đã bao trùm người Đào Kỳ. Nó vội né người sang bên, nấp vào cột đền. Quyền của Hỷ đánh trúng cột đền kêu đến rầm một cái. Nóc đền rung rinh như muốn đổ.
Y quát:
– Ngươi không dám đỡ, mà tránh né, như vậy chiêu vừa rồi không kể.
Đào Kỳ nói:
– Ngươi nói, tôi chịu được ba quyền. Chữ chịu có nghĩa là gì? Tôi thấy có nghĩa là dùng võ khí chọi nhau, hoặc dùng quyền đỡ lại có đúng không?
Vũ Hỷ nói:
– Đúng.
Kỳ cười:
– Thế cột đền có thể làm vũ khí được không?
Hỷ thấy đứa trẻ này nói có lý, y gật đầu:
– Được, coi như chiêu thứ nhất.
Y phóng hai quyền vào thái dương Đào Kỳ theo thế Chung cổ tề minh. Y muốn đẩy Kỳ vào tường rồi bắt sống. Kỳ biến chiêu, xoè hai bàn tay ra đỡ vào quyền của Hỷ, rồi mượn thế nhảy lùi trở lại. Tuy nó không bị nguy hiểm, nhưng người cũng bị đập vào tường. Nó cố nhịn đau, từ từ đứng dậy, nhưng ngực muốn như nghẹt thở:
– Hai chiêu!
Vũ Hỷ cười:
– Trận chiến ở Ngọc-đường cảng Bắc, đến cậu ngươi là Đinh Đại cũng chỉ chiụ được có năm quyền của ta, suýt mất mạng, huống hồ là ngươi. Anh cả Nghi Sơn của ngươi cũng chỉ chịu được có ba quyền, nay ngươi còn nhỏ, hơi sức được làm bao?
Đào Kỳ đã đứng dậy được, nhăn nhó:
– Còn một quyền nữa. Lần này tôi ra tay trước đây.
Nói xong nó tiến lên, múa quyền đánh vào ngực Hỷ. Vũ Hỷ không coi Đào Kỳ vào đâu. Y ưỡn ngực ra chịu đòn.
Thế quyền của Đào Kỳ rất quái dị, rõ ràng đánh thẳng vào ngực, nhưng đi đến nửa đường thì lại biến thành chỉ chọc vào mặt Vũ Hỷ. Vũ Hỷ hoảng hồn ngửa cổ ra sau tránh, thì Kỳ đã dùng tai tay chụp vào vai y, đồng thời thúc hai đầu gối vào bụng y, nhảy vụt lên cao, bay qua đầu y. Khi còn lơ lững trên không, nó phóng chưởng xuống đỉnh đầu Vũ Hỷ.
Bốp một tiếng, Hỷ loạng choạng lùi lại.
Vũ Hỷ trúng chưởng đau quá, đầu óc choáng váng, y đá Đào Kỳ một cái lăn long lóc, quát lớn:
– Phục ngưu thần chưởng!
Đào Kỳ gượng gạo đứng dậy:
– Phục ngưu thần chưởng thì đã sao! Cái này không phải bố ta dạy ta.
Đào Kỳ gượng gạo đứng dậy:
– Phục ngưu thần chưởng thì đã sao! Cái này không phải bố ta dạy ta.
Vũ Hỷ nói:
– Dĩ nhiên cha ngươi không biết chưởng pháp này. Vậy ai đã dạy mi? Mi phải nói mau? Nếu mi không nói thì ta có biện pháp bắt mi phải nói.
Kỳ bướng bỉnh:
– Ta không nói. Ngươi thua rồi, đại trượng phu nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy, ngươi không được làm khó chúng ta nữa.
Vũ Hỷ nói:
– Ta chỉ hứa tha chết cho các ngươi, chứ không hứa tha bắt các ngươi nộp quan. Ta phải mang ngươi đi theo, cho đến khi nào ngươi chịu khai ra ai đã dạy chưởng pháp này cho ngươi.
Nói xong y chụp lưng áo Đào Kỳ ra hiệu cho vợ, cùng vọt ra cửa.Thiều Hoa thấy tiểu sư đệ bị Vũ Hỷ bắt, nàng biết không phải đối thủ của y, nhưng không lẽ để y bắt tiểu sư đệ đi?
Nàng quát lớn:
– Oài! Oài! Mi bắt sư đệ ta đi đâu?
Miệng nói, tay nàng phóng chưởng. Chưởng của nàng là chiêu Hải triều lãng lãng có năm lớp. Chưởng vừa phát kình lực đã bao trùm Phương Anh. Phương Anh biết chưởng này lợi hại, thử cũng phóng chưởng đỡ. Bốp một tiếng, cả hai lùi lại một bước.
Phương Anh khen:
– Khá lắm, lần đầu tiên trên đời ta, có một ngưởi đàn bà khiến ta phả lùi lại một bước.
Chiêu này có năm lớp, lớp thứ nhất đánh thẳng, lớp thứ nhì chuyển vòng từ dưới lên trên, mạnh gấp đôi lớp thứ nhất. Phương Anh hít một hơi vận khí đở. Bùng một tiếng, thị lùi một bước nữa.
Thị quát lớn:
– Giỏi đấy!
Thiều Hoa phóng lớp thứ ba, lớp này hai tay cùng ra chiêu, một đánh thẳng, một đánh từ trên xuống dưới. Phương Anh biết thế chưởng hung dữ vô cùng, không dám coi thường, chân đứng theo đinh tấn, tay phải đỡ chưởng trên, tay trái đở chưởng dưới, hai tay hợp lại thành một chiêu. Hai chưởng gặp nhau, bùng một tiếng, mụ lui lại một bước. Trong khi Thiều Hoa lùi ba bước, lảo đảo muốn ngã.
Nguyên thức chưởng Hải triều lãng lãng do Thục An Dương vương chế ra trong lúc uất khí chồng chất, công lực không có chỗ phát tiết, nên được dịp phát, mạnh vô cùng. Thành ra người sau muốn sử dụng được năm lớp thì công lực phải thực cao. Thiều Hoa là một thiếu nữ 18 tuổi, công lực chưa được làm bao, phát hai lớp đầu, đã muốn cạn chân khí. Đến lớp thứ ba tuy chưởng có ra thực, nhưng không còn đủ sức phát huy hết uy lực, nên chỉ mạnh bằng lớp thứ nhì mà thôi. Trong khi đó, Phương Anh là một đệ nhất cao nhân đương thời, đã có trên 25 năm công lực, thì Thiều Hoa bị lạc bại là phải.
Phương Anh gật đầu:
– Kể ra với tuổi của ngươi, võ công đến trình độ này cũng gọi là hiếm có trên đời. Ta không giết ngươi đâu.
Vèo một cái Song Quái đã biến vào đêm tối. Thiều Hoa kêu lớn:
– Tiểu sư đệ! Tiểu sư đệ!
...
Ngoài trời mưa Thu rả rích trên mái ngói, tiếng dế rên rỉ đáp lại, không có tiếng người. Hoàng Thiều Hoa khóc rấm rức.
Phạm Bách an ủi:
– Hai quái nhân này, ta e rằng hiện nay không có ai địch nổi chúng nữa. Chúng bắt Đào Kỳ đi theo chỉ với mục đích tra xét võ công, chứ không hại nó đâu, cháu yên tâm.
Hai người xuống nhà bếp để tìm đám đệ tử, thì thấy tất cả đều bị trói nằm la liệt dưới đất. Hai người vội cởi trói, gỡ giẻ nhét ở mồm mọi người ra. Không ai bị thương.
Phạm Bách hỏi:
– Việc gì đã xảy ra?
Một đệ tử Phạm gia nói:
– Chúng con nấu cơm xong chưa kịp ăn, thì có một nam, nữ vào đánh chúng con. Võ công chúng cao quá nên mỗi chiêu đánh ra, một người ngã. Rồi chúng trói chúng con lại. Dường như chúng không có ác ý, nên không giết hoặc hành hạ một ai cả. Sư phụ, chúng là ai lại vậy?
Phạm Bách đáp gọn lỏn:
– Phong-châu song quái.
Mọi người ồ lên một tiếng, lộ vẻ khủng khiếp.
Đám đệ tử Đào gia, ít lui tới giang hồ, nên không biết Phong-châu song quái. Còn đệ tử Phạm gia thì đa số theo sư phụ buôn bán ngược xuôi, nên đã từng nghe danh nhị quái. Chúng thường có hành tung bí mật, mỗi hoạt động đều quái dị. Khó có thể đoán chúng là chính phái hay tà phái. Người ta chỉ biết một điều là chúng làm việc cho người Hán. Chúng qua lại khắp các châu Giao-chỉ, Cửu-chân, Nhật Nam. Nhất là dọc con sông Hồng-hà, sông Đuống, sông Luộc. Đâu đâu chúng cũng nổi danh tàn ác vô cùng, không việc gì mà chúng không dám làm.
Trịnh Quang vẫn còn nằm trên giường hỏi Hoàng Thiều Hoa:
– Sư muội, tiểu sư đệ đâu?
– Bị người ta bắt đi rồi.
Quang ngạc nhiên:
– Là ???
– Phong-châu song quái.
Thiều Hoa mắt ênh ếch những nước. Trong các đệ tử, con cháu của Đào gia thì nàng thương Đào Kỳ nhất. Bởi Đào Kỳ thông minh lanh lợi, ngoan ngoãn dễ dạy. Thiều Hoa thường dẫn Đào Kỳ đi chơi núi, bờ bể, chị em nô đùa bên nhau. Đào Kỳ tính hay đùa nghịch, nhưng mỗi lần nó phá quá, Thiều Hoa liếc mắt tỏ vẻ không bằng lòng là nó lại thôi ngay. Nó học văn, học võ đều giỏi, nhưng hay bày biện lộn xộn. Thiều Hoa phải lo xếp dọn giúp nó. Tiếng rằng sư tỷ, sư đệ, nhưng Thiều Hoa vừa đóng vai bà mẹ, lại kiêm bà chị bên cạnh Đào Kỳ. Nay biến cố xảy ra, nhà tan cửa nát. Sư phụ, sư mẫu, sư huynh không biết phiêu bạt, sống chết ra sao? Còn đứa em duy nhất cũng bị người ta bắt đi mất, cho nên nàng khóc rấm rức.
Trịnh Quang an ủi nàng:
– Sư muội! Hiện thời võ công ta chưa phục hồi, cần phải ẩn náu dưỡng thương ít lâu, sau đó mới có thể lên đường tìm sư phụ, sư mẫu và các sư huynh, sư đệ.
Phạm Bạch dục đệ tử bưng mâm cơm lên cúng Cao Nỗ rồi cùng ngồi ăn với nhau. Bữa ăn yên lặng, buồn thảm.
Ăn xong Thiều Hoa hỏi Trịnh Quang:
– Sư huynh, cuộc chiến ở cảng Bắc ra sao? Tại sao sư huynh lại bị thương đến mê man như vậy?
Trịnh Quang nhắm mắt để tưởng lại cuộc chiến đêm đó, rồi thuật:
“...Ta tuân lời sư phụ, cùng mã phu Nguyễn Ngọc Danh về đón chị và các cháu. Sau khi thu xép hành trang, chúng ta trở lại trang, thì thấy lửa cháy ngụt trời, trong trang không một bóng người, chỉ có xác hai, ba tráng đinh nằm chết ở giữa sân. Ta nghe thấy có tiếng rên trong dàn hoa thiên lý, vội vào tìm kiếm, thì thấy chị Cúc, mình mẩy đầm đìa những máu. Chị bị một mũi tên trúng ngực, nhưng chưa chết. Chị cho biết trong lúc theo sư muội chạy ra biển, chị bị trúng tên, rồi bị quân Hán bắt tra khảo để biết rõ kế hoạch của sư phụ. Chị từ chối rằng chị là phận tôi tớ, chỉ biết hầu hạ, không biết gì cả. Chị cho ta biết, mọi người đang ở trong cảng Bắc. Ta cùng vợ con, mã phu Danh bồng chị chạy lên cảng. Giữa đường, chị chết. Ta đành bỏ xác chị ở ven núi. Ta tới cảng Bắc thì thấy sư phụ,sư mẫu, Nghi Sơn, Biện Sơn, đại sư ca, Đinh sư thúc, Đinh phu nhân và đông đủ cả đã xuống chiến thuyền hải quân. Thuyền rời bến được mươi trượng. Phía sau giặc đang ào tới.
Ta kêu cứu:
– Sư phụ, sư mẫu cứu con với.
Sư phụ vẫy cho đoàn thuyền ra khơi, còn chiếc của người quay lại bờ đón ta. Sư phụ, sư mẫu nhảy lên bờ bồng con ta, còn ta thì bồng vợ, rồi cùng nhảy xuống thuyền. Thuyền vừa quay mũi ra thì ba người từ trên bộ phi thân xuống. Thân pháp của chúng rất kỳ diệu, người còn ở trên không đã phóng chưởng đánh xuống. Sư phụ, sư mẫu, Đinh sư thúc đồng quay lại phóng chưởng đỡ. Ta nghe đến bùng một cái. Sư mẫu loạng choạng ngã ngồi xuống thuyền, sư phụ lảo đảo lùi lại. Đinh sư thúc thì ôm ngực lắc lư, miệng phun ra máu”.
Thiều Hoa ái chà một tiếng. Vì nàng biết sư phụ và sư thúc Đinh Đại nổi tiếng là Cửu-chân song kiệt, võ công cao thâm không biết đâu mà lường, tại sao chỉ một chiêu đã bị lạc bại, điều mà nàng không thể tưởng tượng được. Không ngờ trong hàng ngũ quân Hán lại có ba cao thủ đến dường ấy?
Trịnh Quang thở dài:
– Sư muội ngạc nhiên phải không? Nếu sư muội biết rõ ba người đó là ai, thì sư muội không ngạc nhiên đâu.
– Nó là ???
– Phong-châu song quái và Nghiêm Sơn.
Tất cả mọi người đều “ồ” lên, không ai kinh ngạc nữa.
Phạm Bách nói:
– Phong-châu song quái làm việc cho phủ Tế-tác Cửu-chân. Thái thú Cửu-chân Nhâm Diên cầu viện với Lĩnh Nam công là Nghiêm Sơn. Sơn mới đem quân vào đánh Đào, Đinh trang.
Trịnh Quang kể tiếp:
“...Sư phụ hít một hơi dài, chân khí đã phục hồi được đôi chút, chưa biết phản ứng sao thì Vũ Hỷ đã nói:
– Tưởng Cửu-chân song kiệt thế nào, không ngờ chỉ có vậy thôi à?
Sư mẫu nhìn ba đối thủ ngẫm nghĩ một lúc rồi nói:
– Thì ra hai vị đây là Phong-châu song quái, thật là hân hạnh chúng tôi mắt kém nhìn không ra. Còn vị tướng quân đây là...
Người tướng trẻ đó là Nghiêm Sơn, y đấu chưởng với Đinh sư thúc, chỉ một chưởng khiến sư thúc phải phun máu miệng, thì đủ tỏ công lực y không phải tầm thường. Y không trả lời, lùi lại một bước, ánh đao bạc lấp lánh, không rõ y rút đao ra, tra đao vào võ như thế nào, mà người tài công lái đò đầu bị gọt nhẵn bóng, tóc rơi lả tả theo gió.
Sư mẫu la lên:
– Thì ra Lĩnh Nam công, Bình Nam đại tướng quân đây! Thảo nào võ công cái thế. Tôi nghe Nghiêm tướng quân cùng sáu vị huynh đệ được Hán Quang Vũ cử sang Lĩnh Nam để kinh lược. Bọn Thái-thú bỏ Vương Mãng theo Hán. Chỉ với sáu người, Nghiêm tướng quân làm cho các Thái-thú Giao-chỉ, Cửu-chân, Nhật-nam, Quế lâm, Nam-hải, Tượng-quận, cúi đầu quy phục Hán. Không hiểu tướng quân với Thái-thú Cửu-chân, ai là người có quyền hơn?”
Nguyên sau khi Nghiêm Sơn cứu Quang Vũ, khởi binh ở Côn-dương, chiếm được gần hết Trung-nguyên. Khi chiếm được Kinh-châu, Quang Vũ thấy đất này không vững, vì phía sau là sáu quận Lĩnh Nam, còn theo Vương Mãng. Quang Vũ bàn với Nghiêm Sơn, phải cử người kinh lược sáu quận, để có thêm lương thực, vũ khí tranh hùng với Trung-nguyên.
Nghiêm Sơn khẳng khái nhận lời ra đi với Hợp-phố lục hiệp.
Nghiêm Sơn bí mật sang Giao-chỉ dò thám, thì được biết các Thái-thú đang phân vân chờ thời. Y bàn cùng Hợp-phố lục hiệp đến Luy-lâu dò thám tình hình. Tháiù-thú Giao-chỉ là Tích Quang trong cuộc tiếp xúc với Nghiêm Sơn, y biết được sứ mạng của Nghiêm Sơn và Hợp-phố lục hiệp, nên y quy phục Hán. Tuy nhiên Sơn là Lĩnh nam công, Bình nam đại tướng quân, nhưng chàng vẫn là một ông vua không có quân, vì binh quyền địa phương đều thuộc các thái thú cả. Chàng nghĩ được một kế, là đi mời các hào kiệt địa phương ra làm quan, để thu phục lòng người. Chàng nghe đồn tại Cửu-chân có Đào Thế Kiệt, Đinh Đại là hai người trí dũng song toàn. Chàng muốn mời ra làm quan, hầu tổ chức thành phủ Lĩnh Nam công như một triều đình con. Không ngờ thái thú Nhâm Diên lại báo cáo rằng Đào, Đinh là hai đầu trộm đuôi cướp, y xin Nghiêm mang quân tiểu trừ. Chàng vội điều quân từ Giao-chỉ vào Cửu-chân để dẹp giặc.
Nhưng giữa đêm khuya, chàng gặp Thiều Hoa, Đào Kỳ. Chàng là người văn võ kiêm toàn, lại ở địa vị cao, thường mơ màng một bóng giai nhân ôn nhu văn nhã mà phải biết võ thuật. Chàng được mai mối cho không biết bao nhiêu tiểu thư con cháu quan lại trong các phủ Thái-thú. Ngặt một điều người biết võ thì thô kệch, cục súc; người đọc sách ôn nhu thì lại mềm yếu, không thể cùng luận bàn võ công, phi ngựa lên núi, xuống biển, bôn ba giang hồ. Nay bỗng nhiên gặp nhan sắc tuyệt thế của Hoàng Thiều Hoa với vẻ ôn nhu văn nhã, võ côn không kém gì Nghiêm. Trong óc Nghiêm hiện lên mối tình lãng mạn giữa Mỵ Châu, Trọng Thuỷ thuở nào. Cho nên giữa lúc phủ Thái-thú bị đốt phá, Thái-thú hoang mang, nhờ Nghiêm đem quân cứu viện, mà Nghiêm cứ chần chờ.
Nghiêm vờ đấu với Thiều Hoa để biết võ công nàng hơn là đánh thực tình. Cảnh Thiều Hoa e lệ, còn Đào Kỳ thì mồm năm, miệng mười liếng thoắng, gần như ngỏ ý ghép Nghiêm với sư tỷ của y khiến hồn phách Nghiêm như ngây, như dại. Khi từ biệt, Đào Kỳ còn cướp nhánh hoa cúc bằng vàng trên mái tóc Thiều Hoa tặng Nghiêm, khiến Nghiêm lâng lâng như muốn bay bổng lên cao. Nghiêm đeo cành hoa đó trước ngực.
Nay nghe Đào phu nhân hỏi Nghiêm ở địa vị trên hay dưới Thái-thú Cửu-chân thì Nghiêm không biết trả lời sao? Nghiêm biết bà là sư mẫu của Thiều Hoa, vì thần nên nể cây đa. Nghiêm không dám vô lễ.
Nghiêm khiêm tốn đáp:
– Không dám, vãn bối là Lĩnh Nam công, trấn nhậm toàn vùng Lĩnh Nam. Còn Nhâm Diên là chúa tể vùng Cửu-chân.
Đào phu nhân thấy trên ngực Nghiêm cài bông hoa của Thiều Hoa, bà kinh sợ: Không biết Thiều Hoa và Đào Kỳ có mệnh hệ nào không?
Bà run run hỏi:
– Nghiêm tướng quân, chẳng hay tướng quân có gặp tệ đồ Thiều Hoa và khuyển tử Đào Kỳ?
Nghiêm Sơn đáp:
– Trước đây hai giờ, vãn bối có gặp một tiểu anh hùng, võ công cực cao, nghị luận như gươm treo, thực là Hạng Thác tái sinh. Bên cạnh đó là một vị thiên kim tiểu thư, nhan sắc tuyệt thế. Vãn bối có qua lại mấy chiêu với hai vị đó. Được hai vị nhường đường cho đi.
Đào phu nhân tuổi đã ngoài 40, bà cùng chồng dạy dỗ trên trăm đệ tử vừa nam vừa nữ, nên bà rất rành tâm lý tuổi trẻ. Bà thấy Nghiêm Sơn rõ ràng thắng mình, chỉ cần trở tay là bắt được ông bà cùng Đinh Đại. Thế mà y không bắt, cũng không cho Song-quái ra tay. Y còn nói năng lễ độ với bà. Bà biết y có tình ý với Thiều Hoa. Bà biết Thiều Hoa không bị giết, cũng không bị bắt. Nếu nàng bị bắt, thì việc gì Nghiêm Sơn phải mê mẫn đeo bông hoa bên mình?
Bà thấy Nghiêm thực tình, cũng không muốn khách sáo nữa:
– Nghiêm tướng quân bảo tệ đồ và khuyển tử nhường cho ngài ư? Thực ra ngài đã tha cho chúng thì đúng hơn.
Phu nhân ngừng một chút rồi nói một mình:
– Thực là chân tài, lại thêm nhũn nhặn nữa, sự nghiệp tướng quân sau không phải nhỏ.
Bây giờ thuyền đã ra khỏi khá xa, Nghiêm Sơn chắp tay vái ông bà Đào Thế Kiệt, rồi nhảy ùm xuống biển bơi vào bờ. Còn Phong-châu song quái túm lấy Trịnh Quang:
– Ta vì Nghiêm tướng quân, không gây hấn với Đào trang nữa, nhưng tên này phải chèo mủng đưa ta vào bờ.
Trịnh Quang kết luận:
– Trên thuyền hải quân có chiếc mủng nỏ, ta phải chở song quái vào bờ. Tới bờ Vũ Hỷ túm lấy ta, liệng lên không rồi đánh một chưởng. Ta ngất xỉu không biết gì nữa, cho tới lúc sư muội lại cứu.
Kể chuyện xong, Trịnh Quang mệt quá, nằm ngủ thiếp đi. Nhưng Thiều Hoa lại mơ màng, hình ảnh Nghiêm Sơn tuấn mã, uy dũng hiện lên trước mắt nàng.


Đăng nhập để trả lời
0
Hồi 4

Tình trong như đã, mặt ngoài còn e
(Kiều)




Sau đêm kinh hoàng ở đền thờ Cao Nỗ, đoàn người lại tiếp tục lên đường. Phạm Bách chỉ những phong cảnh, những suối, những đèo, những hang đầy hoa thơm cỏ lạ cho Thiều Hoa. Nhưng trong lòng nàng như mơ như tỉnh, đâu có biết ngoại vật là gì.
Đến địa phận núi Tam-thai, Phạm Bách nói:
– Tại đây có đền thờ vua Hùng-vương, trong đền có cái trống đồng bằng ba người ôm. Trống này là lễ vật của Sơn Tinh dâng cho vua để cầu hôn với công chúa Mỵ Nương, nay vẫn còn nguyên. Chúng ta vào đó nghỉ ngơi và lễ tổ.
Ghi chú của thuật giả:
Trống đồng này hồi trước 1950 vẫn còn tại núi Tam-thai, trong vùng núi Lam-sơn, Thanh-hoá. Đi từ thị xã Thanh-hoá về phía Tây Bắc 38 km gặp sông Mã, vượt bến Kiều sang đất Vĩnh-lộc. Gần bến Kiều có núi Xuân-đài, động Hồ-công, trong có nhiều nhũ đá, hang đá, tượng đá rất đẹp. Trong hang có khắc thơ Lê Thánh-tông và các danh sĩ đời xưa. Kế đến là Đan-nê, nằm cạnh núi Tam-thai. Trên núi có miếu Đồng-cổ. Trong miếu còn di tích cái trống đồng. Mặt trống đường kính 1,10 m, cao 0,50 m (Hồi thơ ấu, 8 tuổi, tôi được dẫn qua đây, ước lượng kích thước). Trên mặt trống có chín vòng tròn, giữa trống có rốn, lưng trống có khắc nhiều chữ, nhưng đã mờ, đọc không rõ. Tương truyền trống là di vật của thánh Tản-viên dâng vua Hùng làm sính lễ cầu hôn công chúa Mỵ Nương. Đây là những tài liệu ghi được của trường Viễn-đông Bác-cổ trước 1954. Không biết cho đến nay, biết bao tang thương đã qua, miếu và trống có còn hay không?
Đoàn người tiến vào đền. Trịnh Quang đã chập chững đi được. Phạm Bách chỉ tượng vua Hùng ngồi trên ngai nói:
– Đây là tượng Lạc Long quân.
Thiều Hoa nhìn lên, thì thấy một người ngồi uy nghi trên ngai vàng, nhưng đầu hơi giống đầu rồng.
Nàng nghĩ thầm:
– Thì ra Lạc Long quân là loài rồng. Hèn chi người Việt mình cứ tự hào là con rồng, cháu tiên?
Nàng hỏi Phạm Bách:
– Thưa sư bá, còn mấy ngày nữa thì tới Hoa-lư?
– Độ năm ngày thôi.
– Sư bá nói, gửi chúng cháu tại Cao gia trang. Cao gia đây có phải là giòng dõi của đại tướng Cao Nỗ không?
– Đúng, Cao trang chủ hiện nay tên là Cao Cảnh Sơn, cháu bảy đời Cao Nỗ. Họ Cao thế lực rất lớn, có tới bảy trang khắp vùng núi Hoa-lư, Tam-điệp, Dục-thuý, tổng số người trong trang lên đến mấy vạn. Chúng ta vào đó an trí đám sư đệ này rồi ta với Trịnh Quang và cháu đi tìm sư phụ cháu.
Thiều Hoa mắc chiếc võng lên hai cây đào nằm. Nàng cố dỗ mắt mà không sao nhập được giấc ngủ. Hình ảnh Nghiêm Sơn lại hiện lên, với dáng điệu phong lưu tiêu sái. Rồi trong đầu nàng lại lởn vởn những lời giáo huấn của sư phụ sư mẫu về cái gương Mỵ Châu lấy chồng ngoại tộc, vì nhất tâm với chồng, làm mất nước. Trải 184 năm mà chưa khôi phục được.
Có tiếng người đi nhè nhẹ, nàng lắng tai nghe: Tiếng chân bước rất nhẹ nhàng, và mau, rõ ràng là tiếng chân của một cao thủ.
Nàng tự hỏi: Ai đây?
Nếu là tiếng chân của Phạm Bách thì nặng chịch, và lão không có trình độ võ công cao. Với bước chân này chỉ sư huynh đệ của nàng mới có thể đạt tới. Mà ở đây thì Trịnh Quang bị thương nặng, bước đi muốn không nổi, còn ai đâu? Phản ứng thực nhanh, nàng lộn khỏi võng, nằm sát mặt đất, hướng mặt về phía tiếng đi, thì thấy một bóng đen chạy ra đường cái lui húi vạch mấy vạch vào bên đường rồi trở về.
Nàng tự nhủ:
– Thế thì trong đám đệ tử Đào, Phạm gia không quá mười người này có gian tế. Chúng định làm gì đây? Ta phải theo dõi mới được.
Các biến cố từ khi rời Phạm trang đều lần lượt hiện ra trước mắt nàng: Cái chết của Tường Loan đầy bí mật. Cuộc chuẩn bị của Phạm Bách chỉ người nhà mới biết, mà bị Song-quái biết. Bất cứ đoàn người đi ngả nào, Phong-châu song quái cũng theo kịp. Ta phải tìm cho ra ai là gian tế? Hắn làm gian tế cho ai?
Sáng hôm sau, nàng ra chỗ bóng đen vẽ vạch bên đường thì thấy viết chữ Hoa-lư, Tam-điệp, Dục-thuý. Bên cạnh vẽ một chữ Vạn.
Thiều Hoa tỉnh ngộ:
– Thì ra gian tế báo tin cho đồng bọn biết đường đi của bọn mình. Nhưng chúng báo cho ai đây? Cho quân Hán hay cho Phong-châu song quái?
Nàng lấy đất chà hết các dấu hiệu rồi trở vào đền cùng đoàn người tiếp tục lên đường. Trong khi đi đường, nàng chú ý quan sát cử chỉ, hành động từng người, nhưng tuyệt không có gì đáng nghi.
Chợt nhớ ra điều gì nàng hỏi Phạm Bách:
– Sư bá, hôm trước trong lúc tiểu sư đệ giao chiến với Phong-châu song quái, y có dùng một chiêu thức rất kỳ quái, cháu chưa từng thấy qua. Với chiêu thức đó, y làm cho Vũ Hỷ trúng đòn, rồi Vũ Hỷ kêu lên “Phục ngưu thần chưởng”. Thưa sư bá, chưởng đó là chưởng gì, cháu chưa từng nghe sư phụ, sư mẫu nói qua, thì làm sao tiểu sư đệ biết mà sử dụng. Lại nữa, thế quyền đó bao hàm: Quyền, chỉ, trảo, cước biến hoá vô cùng, những biến hoá đó không nằm trong nguyên lý võ thuật Cửu-chân.
Phạm Bách gật đầu:
– Ta nghĩ cũng không ra. Chúng ta học võ Cửu– chân, gốc ở Vạn-tín hầu Lý Thân, sau truyền đến Trung-tín hầu Vũ Bảo Trung... Dù quyền, cước, chỉ, trảo chăng nữa cũng nằm trên một nguyên lý. Nhưng tiểu sư đệ của cháu sử dụng chiêu thức đó nằm ngoài nguyên tắc Thục gia. Mà chỉ với một chiêu, tiểu sư đệ cháu làm cho Vũ Hỷ kinh hồn, đến nổi bắt mang đi tra hỏi, chắc phải có nguồn gốc ghê gớm lắm. Đợi sau này gặp sư phụ cháu, cháu nên hỏi, may ra biết được.
Ông quay sang Trịnh Quang:
– Cháu có nghe sư phụ, sư mẫu đề cập đến quyền pháp này không?
Trịnh Quang gật đầu:
– Một lần đứng hầu Đinh sư thúc với sư phụ cháu, cháu có nghe lõm về quyền pháp ấy. Đinh sư thúc nói rằng nguồn gốc võ học Lĩnh-nam có hai: Một là Văn– lang, hai là Âu-lạc. Võ công Văn-lang cổ nhất do Phù-đổng Thiên-vương chế ra. Sau khi đánh giặc xong, ngài lên núi Sài-sơn (Sóc-sơn) hưởng nhàn, dạy đệ tử, lập ra phái Sài-sơn còn truyền đến ngày nay. Cuối đời Hồng-bàng, một thiên tài võ học nữa xuất hiện là phò mã Sơn Tinh. Ông sáng chế ra Phục ngưu thần chưởng, gồm 36 chiêu rất cương mãnh. Với chưởng pháp này, ông thắng Thủy Tinh, cưới được Mỵ Nương, rồi lên hưởng hạnh phúc ở núi Tản-viên, lập ra phái Tản-viên còn lưu truyền đến nay. Sư phụ của Phong-châu song quái là người phái Tản-viên.
Chàng ngừng lại, nhăn nhó, tỏ ra còn đau đớn:
– Còn nguồn gốc thứ nhì, phát xuất từ đất Tây-vu, tức quê hương của Thục An Dương vương. Khi An Dương vương dựng nghiệp thì có các võ tướng theo phò tá là Vạn-tín hầu Lý Thân, Cao-cảnh hầu Cao Nỗ, Trung-tín hầu Vũ Bảo Trung tức ông Nồi. Một văn quan làm quân sư là Phương-chính hầu Trần Tự-Minh. Khi đại nghiệp thành, An Dương vương cùng các tướng trao đổi võ công với nhau thành ra võ Âu-lạc. Võ Âu-lạc chia ra Cửu-chân là giòng dõi Trung-tín hầu Vũ Bảo Trung. Phái Long-biên giòng dõi của Vạn-tín hầu Lý Thân. Phái Hoa-lư giòng dõi Cao-cảnh hầu Cao Nỗ.
Thiều Hoa hỏi:
– Sư huynh, thế Phục ngưu thần chưởng là võ công của Văn-lang sao?
Trịnh Quang gật đầu:
– Đúng! Phong-châu song quái là người của phái Tản-viên, mà phái Tản-viên là đời sau của Sơn Tinh.
Phạm Bách hiểu ra giải thích:
– Vậy thì ta hiểu rồi. Phục ngưu thần chưởng là võ học trấn sơn của Văn-lang, nhưng nay đã thất lạc. Song-quái chỉ học được có vài chiêu, nên khi Kỳ sử dụng là chúng biết ngay. Có lẽ chúng bắt Kỳ để tìm hiểu xem có liên hệ gì với phái Tản-viên không, hoặc để tra hỏi tìm lại võ học phái họ đã mất. Cháu yên tâm, Đào Kỳ không gặp nguy hiểm đâu. Có điều lạ lùng là tại sao Kỳ lại biết võ công phái Tản-viên. Này Thiều Hoa!
– Dạ, cháu nghe.
– Ngoài sư phụ, sư mẫu ra, Kỳ có học võ với ai nữa không?
Thiều Hoa nhíu mày ngẫm nghĩ một lúc rồi nói:
– Có! Tiểu sư đệ học văn với Nguyễn Thành Công tiên sinh. Nhưng Trần tiên sinh không biết võ, thì làm sao mà dạy tiểu sư đệ được? Có điều trong tất cả các đệ tử học văn của tiên sinh thì tiểu sư đệ được cưng nhất. Tiên sinh thường dẫn tiểu sư đệ dạo chơi núi Nghi-sơn, Biện-sơn, và nhất là đền thờ An Dương vương với Mỵ Châu. Có lần tiên sinh thấy chiếc áo quàng trên tượng Mỵ Châu cũ quá, tiên sinh về mướn người may một cái áo lông ngỗng mới thay vào, và cất cái áo cũ đi.
Phạm Bách đập tay đánh chát một cái la lớn:
– Có thể là ông ấy!
Thiều Hoa hỏi:
– Bác muốn nói là ai?
– Ta muốn nói chính ông thầy đồ đó đã dạy chiêu Phục ngưu thần chưởng cho tiểu sư đệ cháu.
Trịnh Quang lắc đầu không phục:
– Sư bá dạy sai rồi, nếu Nguyễn Thành Công tiên sinh là cao nhân phái Tản-viên thì sư phụ cháu đã biết mặt, làm sao ông có thể giả làm thầy đồ được?
Thiều Hoa nói:
– Vừa rồi Song-quái bắt tiểu sư đệ đi, chúng mang cả cây trượng của Cao Cảnh hầu đi rồi.
Phạm Bách gật đầu:
– Cây trượng ấy là của vua Hùng, lúc Cao Nỗ đánh chiếm nước Văn-lang thì lấy được. Sau ngày Cao tướng quân tuẫn quốc, gậy vẫn được để thờ ở đền cho đến nay.
Chiều hôm ấy đoàn người đi đến địa phận Hoa-lư. Đang đi thì gặp bảy kỵ mã, họ trang phục theo lối quan binh người Hán. Nghiêm Sơn dẫn đầu đoàn kỵ đó. Từ đằng xa, thấy Thiều Hoa, chàng đã xuống ngựa đứng bên đường chào:
– Quế-lâm Nghiêm Sơn kính chào Phạm tiên sinh và Hoàng cô nương.
Phạm Bách thấy chàng không có ác ý, còn sáu đồng bọn dừng ngựa đứng xa xa. Oâng yên tâm. Ông kinh ngạc tự nghĩ:
– Tên Hán này là bạn thân của vua Quang Vũ nhà Hán, tước phong tới Lĩnh Nam công Bình-nam đại tướng quân. Uy quyền bao trùm sáu quận Lĩnh-nam. Bình thường ta muốn gặp một viên huyện uý, huyện lệnh cũng còn khó hơn bắc thang lên trời. Mà huyện uý, huyện lệnh đối với Lĩnh-nam công thì như hạt vừng, hạt đậu so với trái núi. Bây giờ y lại khách sáo với ta thế này thì thực là kỳ lạ.
Ông chắp tay hành lễ:
– Tên nhà quê Phạm Bách xin kính cẩn ra mắt Bình-nam đại tướng quân.
Nghiêm Sơn liếc nhìn Hoàng Thiều Hoa, thấy nàng nháy mắt hai lần. Chàng đoán ra Thiều Hoa có điều gì muốn nói riêng với chàng. Chàng hướng vào Phạm Bách:
– Phạm tiên sinh! Tiên sinh cho vãn bối đi cùng đường cho vui được chăng?
Phạm Bách nói:
– Chúng tôi là người làm ăn buôn bán, được Quốc-công đi chung, thì còn gì hân hạnh hơn nữa!
Đoàn người của Nghiêm Sơn xuống ngựa, cùng đi bộ theo Phạm Bách. tới một mỏm núi, thì ngồi lại nghỉ mệt.
Thiều Hoa nói với Nghiêm Sơn:
– Lâu ngày quá tôi không cỡi ngựa. Tướng quân có thể cho tôi mượn ngựa cỡi trong chốc lát được không?
Nghiêm Sơn cảm thấy người lâng lâng như bay lên mây:
– Nếu cô nương muốn, thì tôi xin tặng cô nương con ngựa này.
Chàng dắt con ngựa của mình lại bên Thiều Hoa.
Thiều Hoa e dè:
– Ngựa của tướng quân là tuấn mã, nó chỉ nghe lời chủ thôi, xin tướng quân chỉ cho tôi cách điều khiển, thì tôi mới dám cỡi.
Nghiêm Sơn nói:
– Được, cô nương cứ cỡi nó. Tôi sẽ cỡi con ngựa khác chạy theo cô nương, nếu nó dở chứng, tôi bắt nó phải ngoan ngoãn.
Thiều Hoa nháy mắt hai cái. Nghiêm cho rằng nàng có tình ý với mình, muốn hẹn nhau chỗ vắng tình tự. Người chàng như muốn bay lên mây. Thiều Hoa thét lên một tiếng thảnh thoát, uốn mình phi thân lên ngựa, lưng nàng uốn cong coi rất ngoạn mục. Nàng ra roi cho ngựa chạy vào ven rừng. Nghiêm Sơn phi ngựa theo. Đến một khúc quanh, Thiều Hoa đi chậm lại, Nghiêm Sơn cho ngựa đi song song với nàng.
Thiều Hoa hỏi:
– Nghiêm đại ca, tôi hỏi thực đại ca một điều, trong bọn mười người chúng tôi có ai là người của đại ca gài vào làm gian tế không?
Nghiêm Sơn đáp:
– Không, không có một người nào cả. Nếu có thì là của phủ Tế– tác Cửu-chân hoặc Giao-chỉ.
Thiều Hoa nói:
– Nếu vậy thì tốt quá. Tôi muốn nhờ đại ca một việc, không biết đại ca có dám làm không?
Nghiêm Sơn bị khích, máu nóng nổi dậy, nói:
– Trên đời này chỉ có hoàng đế Đại Hán là tôi nhường bước thôi. Còn tôi há sợ gì ai? Cô nương sai bảo gì tôi xin làm hết sức mình.
Thiều Hoa nói:
– Đại ca biết tiểu sư đệ Đào Kỳ của tôi chứ?
– Có, y thực là dễ thương, tôi muốn hỏi cô nương, y đâu rồi?
– Y bị Phong-châu song quái bắt mấy hôm rồi. Song-quái theo bén gót bọn tôi, không hiểu để làm gì?
Nghiêm Sơn nói:
– Muốn có tin tức tiểu sư đệ của cô nương cũng không khó. Tôi sẽ phát lệnh bài đi tất cả các huyện lệnh, huyện uý, Lạc-hhầu, Lạc-tướng trong vùng nhờ họ cho biết hành tung của Song-quái thì tìm ra ngay. Theo như tôi nghĩ, thì Song-quái hiện ở Đào, Đinh trang để chiêu tập dân chúng. Họ mới được phong làm Lạc-hầu thay thế sư phụ và sư thúc cô nương. Song-quái bắt tiểu sư đệ của cô nương mục đích dẫn dụ cho sư phụ, sư mẫu cô nương xuất hiện, để chúng bắt đấy thôi.
Vừa nói, chàng vừa mân mê cành hoa đào Đào Kỳ lấy trên mái tóc Thiều Hoa tặng cho. Thiều Hoa đỏ mặt, cúi đầu, ra roi cho ngựa chạy trở về.
Nàng xuống ngựa nói với Nghiêm Sơn:
– Đa tạ Đại-tướng quân tặng ngựa. Sẽ có ngày báo đáp.
Hai đoàn người chia tay nhau. Phạm Bách dẫn đệ tử đến Cao gia trang.
Cao gia trang nằm dài từ bờ sông đến triền núi, dài gần 20 dậm. Bên ngoài cổng có gia đinh đứng gác.
Phạm Bách đến trước gia đinh nói:
– Phiền đại huynh báo với trang chủ, có Phạm Bách cầu kiến.
Gia đinh dùng ngựa phi vào trang. Lát sau, có tiếng vó ngựa chạy trở ra. Trên lưng ngựa, một trung niên nam tử, thân thể cực kỳ hùng vĩ, đi tới.
Người đó xuống ngựa, chắp tay thành quyền chào Phạm Bách:
– Vị nào là Phạm lạc tướng? Tại hạ là Cao Cảnh Sơn đây.
Phạm Bách chắp tay vái:
– Phạm Bách ở Dương-xá và đệ tử Đào trang ở Cửu– chân xin bái kiến Cao Cảnh hầu.
– Cách đây hơn tháng, chúng tôi nghe Đào, Đinh hai trang bị nạn, đang buồn không biết tình hình ra sao, may gặp Lạc-tướng đây, thì chắc biết được tin tức Cửu-chân song kiệt. Nào, mời quý vị vào tệ trang.
Đoàn người đi một lát tới đại sảnh đường. Đại sảnh đường là một gian nhà lớn, có thể chứa được vài ngàn người. Bên trong trần thiết cực kỳ nghiêm trang: Giữa sảnh một bàn thờ, trên có tượng Cao Nỗ, Cao Tứ cầm cung uy nghiêm. Hai bên có hai tấm da hổ đã lột ra, nhồi vải trong như hổ còn sống. Trang chủ sai lấy nước, hoa quả mời khách. Những chén nhà họ Cao toàn bằng sành màu gan gà rất lớn.
Trang chủ mời khách:
– Trang chúng tôi uống nước muồng, chứ không uống trà. Hạt muồng phơi khô, rang cháy đi, nấu lẫn với vối tươi, vừa thơm, vừa dễ ngủ.
Phạm Bách giới thiệu đệ tử Thiều Hoa, Trịnh Quang với trang chủ, rồi kể hết mọi sự việc Đào, Đinh trang. Ông tỏ ý muốn nhờ Cao trang chủ cho đệ tử Đào gia ở nhờ, trong khi ông cùng Thiều Hoa, Trịnh Quang đi tìm Đào Thế Kiệt và Đinh Đại.
Cao Cảnh Sơn buồn rầu nói:
– Việc của Đào, Đinh hai nhà cũng là việc của chúng tôi, xin quý vị cứ coi đây như Đào gia trang. Có điều, sau Đào, Đinh, không biết bao giờ Thái-thú tính đến Cao trang đây?
Phạm Bách nói:
– Đây thuộc Giao-chỉ chứ không thuộc Cữu-chân. Thái-thú Giao-chỉ là Tích Quang. Tôi thấy Tích Quang bị Hán đế nghi ngờ, y hiện lo giữ thân còn chưa xong, nên chắc không rảnh thì giờ để hại các trang, các động. Lợi dụng cơ hội này, võ lâm đồng đạo Giao-chỉ nên tích cực thống nhất hành động, nhất tề nổi lên. Trước đánh chiếm Giao-chỉ làm căn bản. Giao-chỉ đã thất thủ, thì Cửu-chân, Nhật nam bị cô lập, chỉ hô một tiếng, dân chúng nổi dậy là thành công. Được Giao-chỉ, Cửu-chân, Nhật Nam, chúng ta tiến lên miền Bắc đánh Quế-lâm, Tượng-quận và Nam Hải, lập lại truyền thống Lĩnh Nam nhà ta cũng không khó.
Cao Cảnh Sơn nói:
– Khó một điều là hai tên thái thú Tích Quang, Nhâm Diên giả nhân, giả nghĩa, nêu cao ngọn cờ Hán-Việt bình đẳng, đem lễ nghĩa Khổng, Mạnh dạy dân. Dân mình gần như bị lôi cuốn vào hào quang đó, quên mất mình là giống giòng Tiên Rồng mất rồi.
Ngừng một lát, ông nói tiếp:
– Trước mắt chúng ta là làm sao tìm được cuốn phả vẽ cách chế nỏ thần của tổ tiên tôi ngày xưa. Chế được nỏ thần, chúng ta cho người đi các nơi thuyết phục hào kiệt, chỉ một trận nổi lên thì 65 thành trì, sẽ trở về Âu-lạc ta.
Phạm Bách nói:
– Giữa Cao trang chủ với chúng tôi thì cùng một đường đi, dựng lại Âu-lạc. Nhưng sợ cái nạn chưa có da cọp, đã tranh dành bán da rồi mới khó. Phái Cửu-chân, Long-biên, Hoa-lư muốn lập lại Âu-lạc. Nhưng phái Tản-viên, Sài-sơn lại muốn lập lại Văn-lang. Ngoài ra còn phái Quế-lâm muốn lập lại giòng dõi Triệu Đà.
Cao Cảnh Sơn dành riêng cho đám đệ tử Đào gia một khu trang trại riêng biệt rất rộng với đầy đủ nhà cửa, giường chiếu, đồ dùng, lương thực, lừa ngựa, xe cộ. Trịnh Quang hiện là người lớn nhất, thay quyền sư phụ cai quản các sư huynh, sư đệ. Mấy ngày sau, tất cả đám sư huynh đệ ở nhờ nhà Phạm Bách đã lục tục đến. Đệ tử Đào gia vốn sống thân mật với nhau đã quen, nên dù thay đổi chỗ ở, họ cũng không cảm thấy cô đơn. Hàng ngày Trịnh Quang luyện võ cho họ. Thiều Hoa thì chán nản trong lòng, không thiết ra ngoài, nàng nằm ì ở trong phòng.
Một đêm tối trời, nàng chập chờn ngủ, thì có tiếng gõ nhè nhẹ ba tiếng. Nàng sẽ ngồi dậy, mở cửa, thấy có bóng đen chạy lên sườn đồi. Là người học võ, nàng biết người này muốn nói gì với nàng đây, nên nàng đuổi bước đuổi theo. Tới đỉnh đồi, bóng đen ngừng lại:
– Hoàng cô nương, tôi tới trễ, cô nương có mong lắm không?
Thì ra Nghiêm Sơn. Nàng hồi hộp hỏi:
– Có tin của tiểu sư đệ không?
Đáp:
– Có thì có rồi đây. Đêm nay chúng ta đi cứu y.
Thiều Hoa mừng quýnh lên:
– Đi, chúng ta đi ngay bây giờ. Tiểu sư đệ bị giam ở đâu?
Nghiêm Sơn nói:
– Song-quái giam nó ở hang Địch-lộng, cách đây không xa .
Ghi chú của thuật giả:
Hang Địch-lộng: Từ Phủ-lý đi về hía Nam 80 km tới Kẽm-trống, băng ngang cầu là hang Địch-lộng. Hang ở trên cao, phải trèo 80 bậc mới tới. Ngoài hang là một ngôi chùa. Đường hang đi thông qua quả núi dài 611 m. Trong hang có nhiều thơ, phú, sấm ký của danh nhân các thời. Hồi 1945, thuật giả được sư phụ dắt lên chùa lễ Phật. Trị sự trưởng là một sư bà. Thuật giả được sư bà thương mến, dắt đi viếng chùa, viếng hang, giảng cho không biết bao nhiêu là những bài thơ, phú, kệ, sấm ký ở trong hang. Lâu ngày qua, thuật giả không còn nhớ được pháp danh của vị sư bà khả kính ấy nữa. Chả biết trải qua bao đổi thay, những thơ, phú, kệ, sấm ký có còn không?
Đi một lát tới ven rừng, Nghiêm Sơn chỉ hai con ngựa cột đó:
– Chúng ta phải lên ngựa đi mới được, từ đây lên Địch-lộng hơi xa, nhưng chúng ta dùng ngựa thì cũng không lâu. Tôi đến đó dùng quyền bắt Song-quái giao tiểu sư đệ đưa về Luy-lâu. Nhưng cần nhất cô nương nên cải nam trang để cùng đi với tôi thì tiện hơn.
Thiều Hoa hỏi:
– Trường hợp Song-quái không chịu giao tiểu sư đệ cho đại ca thì sao?
Nghiêm Sơn cười:
– Cô nương đừng lo. Song-quái được làm Lạc-hầu hai trang Đào, Đinh, chúng đâu dám trái ý tôi? Chúng còn muốn làm huyện úy nữa, nên tôi nói gì Vũ Hỹ cũng phải tuân theo. Nếu y trái lệnh, thì tôi chiếu quân pháp chặt đầu y ngay.
Thiều Hoa hỏi:
– Tôi sợ Song-quái dấu tiểu sư đệ đi một chỗ, rồi chối rằng chúng không bắt nó, thì mới khổ?
Nghiêm Sơn cười:
– Cô nương yên tâm. Trong sào huyệt của Song– quái, tôi cài rất nhiều người nên nhất cử nhất động của chúng, tôi đều biết. Song-quái giam tiểu sư đệ trong một động nhỏ, cho ăn uống tử tế, y không khổ sở đâu. Dường như tiểu sư đệ của cô nương biết sử dụng Phục ngưu thần chưởng, do vậy Song-quái dỗ y khai ra ai đã dạy. Y nhất định không khai. Cô nương, cô là sư tỷ, chắc cô biết chưởng đó.
Thiều Hoa lắc đầu:
– Tôi chỉ nghe qua mà thôi. Chưởng đó không phải của Cửu-chân chúng tôi, mà của phái Tản-viên. Song– quái là đệ tử của Tản-viên, nên muốn tra xét xem tại sao tiểu sư đệ lại biết?
Nghiêm Sơn nói:
– Thần chưởng Phục ngưu lợi hại vô cùng, không biết tiểu sư đệ học được mấy chiêu? Theo tôi biết, chưởng này có 36 chiêu, khi sử dụng biến ra Âm, Dương, thì 36 thành 72. Tuy có 72 chiêu, nhưng mỗi chiêu bao hàm quyền, chưởng, chỉ, trảo, dực, thành ra 360 chiêu. Sư phụ của Song-quái là Nguyễn Thành Công chỉ biết có bảy chiêu. Ông dạy cho Song-quái cả bảy nhưng không dạy biến hoá, nên chúng muốn khảo để tìm đọc cho hết.
Thiều Hoa nói:
– Hôm đó, trong đền thờ Cao Nỗ, tôi thấy tiểu sư đệ sử dụng một chiêu, có đến bốn biến hoá. Tôi không biết võ công gì, sau thấy Song-quái kêu là Phục ngưu thần chưởng thì biết vậy thôi.
Nghiêm Sơn nói:
– Một chiêu biến thành hai, rồi hai biến thành năm lần nữa hoá ra mười chiêu. Dường như hôm đó tiểu sư đệ sử dụng là lần đầu, cho nên không thạo lắm, tuy cũng đánh trúng Vũ Hỷ, nhưng bị nó đá văng ra xa.
Thiều Hoa ủa một tiếng:
– Thì ra hôm đó đại ca cũng nấp ở ngoài nhìn thấy à?
– Đúng, tôi theo Song-quái để biết rõ hành tung của họ. Cô cảm thông cho, vì ở địa vị tôi, cần phải biết rõ y trước khi cho làm huyện úy. Tôi thấy một mặt chúng mơ tưởng quan quyền, một mặt chúng tổ chức rất nhiều sào huyệt cơ sở, nên phải theo để biết. Thì ra Song-quái muốn làm bá chủ võ lâm. Y cũng như sư phụ y và người của phái Tản-viên đua nhau tìm bộ Văn Lang võ kinh, nhưng cho đến nay tất cả chưa ai đạt được. Nếu một trong những người họ đạt được, họ sẽ nắm hết các võ phái thuộc Văn-lang, tức là nắm được phân nửa đất Lĩnh Nam này vậy. Một đàng họ dựa thế của chúng tôi để biết các võ phái thuộc Âu-lạc. Một đàng chúng lo tìm kiếm võ kinh, để làm bá chủ.
Thiều Hoa chua chát:
– Vì vậy, Đào gia chúng tôi mới tan nát như ngày nay.
Nghiêm Sơn thở dài:
– Hoàng cô nương, tôi cần phải nói thực với cô nương một điều. Tôi là người Hán sang đây cai trị người Việt. Người Hán cũng có kẻ ác, người thiện. Như Nhâm Diêm, Tích Quang giả nhân giả nghĩa, làm cho người Việt tin chúng, rồi chúng tỉa dần những người lương thiện. Còn tôi, dầu sao cũng xuất thân nghĩa hiệp, không ham danh lợi. Chỉ vì gặp Kiến Vũ hoàng đế trong cơn nguy khốn, tôi ra tay cứu giúp. Kiến Vũ hoàng đế đối với tôi bằng tình bạn, cử tôi sang kinh lược đất Việt. Tôi mới tới, nghe báo cáo của phủ Tế-tác rằng đất Cửu-chân có chín Lạc-hầu, thì năm là người lương thiện, hai là người chỉ thích văn học, nhàn nhã. Còn hai nhà Đào, Đinh là đầu trộm, đuôi cướp. Tôi tin thực, mang quân vào trợ chiến. Giữa lúc giao chiến thì tôi gặp cô nương và tiểu sư đệ. Trong đêm đánh cảng Bắc, tôi đã cảm thấy mình lầm lẫn. Đào hầu có một người con trai nhỏ tuổi như tiểu sư đệ, văn võ tinh thâm; một nữ đệ tử ôn nhu văn nhã như cô, thì làm sao có thể là trộm cướp được? Tới khi tôi đối chưởng với sư thúc cô, tôi thấy võ công ông rất cao. Tôi đối thoại với sư mẫu cô nương, thì tôi biết mình bị lừa hoàn toàn. Tôi hối hận bao nhiêu, thì giận thái thú Nhâm Diêm bất nhiêu. Bây giờ thì chỉ có cách, tôi tự trở lại với vai trò nghĩa hiệp, trừ Nhâm Diêm, đưa người khác lên thay. Còn Phong-châu song quái, tôi sẽ tìm một chỗ khác cho họ cai trị. Tôi sẽ cùng cô nương đi tìm Đào, Đinh tiên sinh tạ lỗi, rồi mời người trở về trang ấp như cũ... Hà, một đời Nghiêm Sơn nghĩa hiệp, mà nay đi trợ ác đánh người đồng đạo, thì còn gì là “nghĩa” nữa.
Thiều Hoa lắc đầu:
– Liệu Kiến Vũ hoàng đế có chịu như vậy không?
Nghiêm Sơn thở dài:
– Với võ công của tôi, trong đêm tối, tôi giết thái thú Nhâm Diêm bí mật, thì ai mà trách được? Ví dầu Kiến Vũ hoàng đế có biết, người cũng phải chịu.
Hai người đang trò chuyện, có tiếng quát:
– Ai?
Nghiêm Sơn đáp:
– Ta đây!
Trong bóng tối, có sáu người nữa bước ra chấp tay hành lễ:
– Chúng tôi đợi Quốc-công đã lâu.
Nghiêm Sơn chỉ sáu người giới thiệu:
– Hoàng cô nương, tôi giới thiệu với cô sáu vị đây nổi danh là Hợp-phố lục hiệp. Các vị cùng sang Lĩnh-Nam với tôi. Sáu vị đều làm việc tại phủ Lĩnh Nam, nên cùng đi chung.
ThiềuHoa cúi đầu chào:
– Thì ra sáu vị đã nổi tiếng về nhân nghĩa ở đất Hiệp-phố. Các vị cùng là người Lĩnh Nam như tôi cả.
Hiệp-phố nhất hiệp Lưu Nhất Phương nói:
– Chúng tôi cũng bị mắc mưu Nhâm Diêm như Quốc-công. Mong cô nương không trách phạt là may.
Nghiêm Sơn phất tay:
– Chúng ta đi.
Tới một sườn núi cao vời vợi, Nghiêm Sơn nhìn lên rồi phất tay, lập tức một người rút trong bọc ra ba mũi tên, châm lửa bắn lên trời.
Sau mấy khắc, trên sườn núi cũng bắn xuống năm mũi tên lửa. Tiếp theo Phong-châu song quái chạy xuống như bay.
Vũ Hỷ chắp tay:
– Tiểu nhân là Vũ Hỷ xin tham kiến Quốc-công.
Nghiêm Sơn nói:
– Tôi có một việc muốn thương lượng với Vũ lạc hầu.
Vũ Hỷ khúm núm mời:
– Xin mời Quốc-công cùng các vị thượng sơn.
Đoàn người theo các bậc đá leo lên núi. Đúng 80 bậc thì tới cửa một cái hang thiên nhiên. Cửa hang bằng gỗ mở rộng, bên trong đèn đuốc sáng choang, trang trí như một đại sảnh lớn.
Song-quái mời Nghiêm Sơn ngồi rồi nói:
– Chúng tôi tiếp được tin Quốc-công cùng các huynh đệ trong phủ Tế-tác quang lâm, nên đã chuẩn bị tiệc sẵn để kính mời, gọi là lấy thảo.
Vũ Hỷ rót rượu vào chén từng người một:
– Đây là rượu chuối, chuối vùng này có tiếng thơm ngon. Hàng năm chúng tôi để cho chuối chín cây, sau đó mới ướp men làm rượu. Men, chuối ướp trong một thùng bằng gỗ rồi bỏ xuống đáy khe suối. Sau sáu tháng hấp thụ thuỷ khí thiên nhiên, lấy lên uống ngon lắm.
Tiệc đã bày ra, Vũ Hỷ mời Nghiêm Sơn vào ngồi chủ toạ, còn thứ đến Thiều Hoa và những người tuỳ tùng. Còn vợ chồng y thì ngồi vào địa vị chủ nhân để bồi tiếp.
Vũ Hỷ rót rượu cho Nghiêm Sơn:
– Đã có rượu chuối, thì phải có đồ nhắm đặc biệt. Vùng núi này nổi tiếng nhiều ong mật. Trứng ong đẻ vào từng lỗ của tổ, khi lớn lên gần đến ngày mọc cánh thì gỡ ra, những con nhộng này vừa béo, vừa thơm, ăn vào có thể chống được nọc độc của sâu bọ, rắn rết. Chỉ cần bỏ nhộng vào chảo với mấy muỗng mỡ, rang lên cho vàng là ngon tuyệt.
Nhộng ong quả nhiên thơm và ngon. Thiều Hoa không biết uống rượu, nàng phải nhân Song-quái nhìn đi, đổi chén với Nghiêm Sơn. Rượu được vài tuần, Vũ Hỷ hỏi:
– Thưa Quốc-công, các vị huynh đệ có thể tin được không?
Nghiêm Sơn gật đầu:
– Họ đều là chân tay của tôi cả. Chúng tôi coi nhau như huynh đệ.
Vũ Hỷ hân hoan nói:
– Theo tiểu nhân biết, thì đất Lĩnh Nam này có hai mối lo. Một là các di tộc của đám tướng sĩ bại trận thời Aâu-lạc, đa số tập trung ở vùng Cửu-chân, Lục-hải, Việt-thường. Trong đó đáng lo nhất là “Cửu-chân cửu gia” tức chín trang. Nhờ tài thao lược của Quốc-công thì năm gia trang đã quy phục với Hán, còn hai gia trang tiểu nhân đã dùng kế khích bên này, bên kia, để năm nhà thù hằn hai nhà còn lại. Cuối cùng hai trang Đào, Đinh quan trọng hơn cả, thì một trận chúng ta đã quét sạch. Vùng Long-biên thì phái Long-biên thế lực cực mạnh. Chưởng môn Nguyễn Trát tuy có danh, mà không có thực tài. Lúc nào y cũng sợ sư bá, sư thúc trở lại kiếm chuyện, dành ngôi. Phái Sài-sơn có tám vị Thái-bảo, chỉ có đức mà không có lực thì cũng chẳng làm gì. Phái Tản-viên của chúng tôi thì Đặng Thi Sách chỉ là con đom đóm bên cạnh mặt trời của thái sư thúc Lục trúc tiên sinh Lê Đạo Sinh. Hoa Lư người đông, thế mạnh, mới thực là điều đáng sợ.
Nghiêm Sơn hỏi:
– Theo ý Vũ tiên sinh thì nên làm gì bây giờ?
– Võ công vùng Giao-chỉ, Cửu-chân, Nhật Nam vốn có hai giòng: Giòng Văn-lang và giòng Âu-lạc. Thục Phán đánh vua Hùng lập ra Âu-lạc. Bây giờ các phái Sài-sơn, Tản-viên thuộc Văn-lang. Phái Long-biên, Cửu– chân, Hoa-lư thuộc Âu-lạc. Cả hai giòng đều muốn phản Hán phục Việt. Chúng ta không cần làm gì hết, chỉ cần đứng giữa khiêu khích cả hai bên chém giết nhau. Chúng ta làm ngư ông thủ lợi.
Nghiêm Sơn gật đầu:
– Nhân huynh thực là người đởm lược, mưu kế viễn lự. Dường như nhân huynh có bắt được con út Đào Thế Kiệt phải không? Ta muốn giải nó về Luy-lâu để dụ cho cha mẹ nó đến cứu, và bắt một thể.
Vũ Hỷ là người thông minh tuyệt đỉnh. Trong trận chiến ở cảng Bắc, y thấy Nghiêm Sơn khách sáo với vợ chồng Đào Thế Kiệt, y không rõ nguyên do. Suốt mấy tháng nay, y cố tìm hiểu mà vẫn không ra manh mối. Sau trận cảng Bắc, y đi một đường, Nghiêm Sơn đi một đường nên y không biết vụ chàng gặp Thiều Hoa, và mối tình đã chớm nở. Với đầu óc đa nghi, y cho rằng có thể vợ chồng Đào Thế Kiệt cùng làm việc cho phủ Tế-tác. Nhưng nếu đã là người của phủ Tế-tác, sao thái thú Cửu-chân còn tấn công Đào trang? Vũ Hỷ là người cơ mưu xảo trá, nhưng nghĩ đến nát óc cũng không hiểu nội vụ:
– Xin đại nhân chờ một chút, tôi sẽ giải nó lên.
Y quay lại người hầu cận:
– Giải thằng nhỏ láu cá lên.
Một lát, có tiếng Đào Kỳ chửi bới:
– Chúng mày uổng danh là đệ tử núi Tản-viên, mà tư cách hèn hạ. Ta nghe người chưởng môn đương thời là Đặng Thi Sách, anh hùng hào sảng, mỗi hành vi đều quang minh lỗi lạc. Thế mà trong môn phái lại nảy ra hai đứa chúng bay vô lại đến thế, ỷ lớn hiếp bé, ỷ chúng hiếp cô. Chúng mày còn mặt mũi nào nhìn đời nữa? Chúng bay muốn học võ của tổ tiên chúng bay thì về Mê-linh mà hỏi Đặng Thi Sách, tại sao lại giam ta để tra vấn?
Tới đại sảnh, nó thấy Thiều Hoa mặc giả trai ngồi đó, nó làm bộ không biết, nhưng khi nhìn thấy Nghiêm Sơn nó cười hì hì:
– Nghiêm đại ca, đại ca là Quế-lâm thần kiếm, nổi danh hiệp nghĩa đất Trung-nguyên. Tiểu đệ nghe nói, đại ca vì bảo vệ thái tử Lưu Tú mà đi ba ngày, ba đêm từ Trường-sa đến Côn-dương, đánh 20 trận với võ sĩ Vương Mãng, bị thương 15 lần. Vì vậy Kiến Vũ thiên tử mới kết huynh đệ với đại ca. Tại sao đại ca lại đi ngồi chung với hai con quái này?
Song-quái bị Đào Kỳ chửi bới, lột mặt mạ, xấu hổ quá, y muốn lên tiếng quát tháo, nhưng thấy Đào Kỳ gọi Nghiêm Sơn là đại ca, y càng hoang mang hơn, không biết liên hệ giữa hai người ra sao.
Y vội đứng dậy cởi trói cho Đào Kỳ. Đào Kỳ nhìn Thiều Hoa, hỏi Nghiêm Sơn:
– Đại ca, không biết mấy tháng nay sư tỷ em ở đâu, đại ca có tin tức gì không? Em nhớ chị ấy quá.
Nghiêm Sơn bảo Kỳ:
– Giữa em và Vũ đại huynh đây có chỗ hiểu lầm đấy thôi. Ta đến đón em về Luy-lâu chơi. Thôi chúng ta lên đường. Còn Hoàng sư tỷ của em, ta cũng không biết ở đâu nữa.
Đào Kỳ bảo Song-quái:
– Đại trượng phu phải quang minh lỗi lạc. Ngươi bắt ta để tìm võ công của môn phái ngươi. Nhưng mấy tháng nay ngươi đã tìm được gì chưa? Tuy ngươi giam ta, nhưng vẫn cho ta ăn uống đầy đủ. Vậy ta cũng có chỗ trả ơn ngươi. Ngươi bắt ta để tra hỏi về Phục ngưu thần chưởng. Ta nói thực: Ta chỉ biết có 18 trong 36 chiêu, cho nên khi giao đấu, chỉ có thể sử dụng từng chiêu một, chứ không thể sử dụng liên miên bất tuyệt từ chiêu này sang chiêu khác. Nguyên tắc võ học Văn-lang là như thế này: Mỗi chiêu gồm ba phần là công, nghinh, thủ; nghĩa là trong chiêu thì có thể tấn công trước, trong cái tấn công phải có phần đỡ đòn đối thủ phản công, và phải có chỗ đề phòng bảo vệ môn hộ cho chắc. Ngươi hiểu chưa?
Phương Anh giật bắn người lên. Khi thị học võ, sư phụ chỉ dạy từng chiêu, mà không giảng khẩu quyết nên y thị sử dụng không đủ uy mãnh, đôi khi còn sơ hở để đối phương phản công. Nay nghe Đào Kỳ giảng, y thị như người mù sáng mắt ra.
Đào Kỳ nói tiếp:
– Ba đoạn công, nghinh, thủ, sử dụng cái nào trước cũng được. Nếu bị người ta ra chiêu trước thì nghinh đi trước và công, thủ đi sau. Còn mình ra tay trước thì công đi trước, còn nghinh, thủ đi sau. Làm sao để từ chiêu này đến chiêu khác liên miên bất tuyệt, đừng để gián đoạn. Muốn đạt tới mức đó phải biết cả 36 chiêu, nhưng ta chỉ biết có 18 chiêu nên mới bị ngươi bắt. Hiểu chưa?
Nó quay lại nói với Nghiêm Sơn:
– Nghiêm đại ca, chúng ta đi thôi.
Nghiêm Sơn đứng dậy dặn Song-quái:
– Bản chức chờ quý vị ở Luy-lâu. Xin quý vị đến càng sớm càng tốt. Chúng ta có nhiều việc để làm.
Đoàn người xuống dưới núi, lên ngựa ra đi. Đào Kỳ không có ngựa, nó nhảy đến vèo một cái lên ngồi phía trước Thiều Hoa:
– Sư tỷ, em nhớ sư tỷ đến chết được.
Chính Thiều Hoa cũng định nói câu đó. Nàng ngẫm ra rằng thường ngày tình yêu cha con, thầy trò, bạn hữu tiết ra đều đặn không có gì để đo được mạnh hay yếu. Chỉ khi người ta xa nhau, mới thấy nhớ nhung, thương tiếc mạnh hơn lên. Dẫu nàng với Đào Kỳ, tình là sư tỷ, sư đệ, nhưng nàng thấy chú bé tiểu sư đệ nàng với nàng tình thâm như biển. Nàng vuốt tóc Kỳ:
– Song-quái bắt em về, chúng có hành hạ em không?
Kỳ cười nắc nẻ:
– Không những không hành hạ mà còn chiều chuộng dỗ dành em, để em khai ra những chiêu thức của Phục ngưu thần quyền.
– Thế em có khai không?
Đào Kỳ cười ha hả:
– Chị thử đoán xem.
Thiều Hoa cốc khẻ vào đầu Kỳ:
– Gì mà chị không hiểu, hồi nãy em chửi Song– quái, thì chị biết em không khai rồi. Thế mà cũng hỏi. Nhưng có điều chị không hiểu là em học Phục ngưu thần chưởng ở đâu? Ai dạy em? Dạy trong trường hợp nào? Hồi nãy chị thấy em giảng yếu quyết võ công cho Song-quái. Yếu quyết đó không phải của nhà ta, vậy thì ở đâu có mà em giảng?
Đào Kỳ cười:
– Song-quái tin rằng em biết Phục ngưu thần chưởng nên em bịa đại ra mà nói cho chúng lầm chơi. Sự thực những bí quyết đó, em nghe bố với cậu nói chuyện về nguyên tắc võ công Văn-lang. Phục ngưu thần chưởng xuất từ Văn-lang, nên em đem ra nói, chúng mới tin là thực.
Đào Kỳ ngưng một lúc tiếp:
– Em có biết Phục ngưu thần chưởng đâu? Em loè Song-quái đấy chứ. Cách đây mấy tháng nhân bố với cậu em bàn luận võ công đều nói rằng Phục ngưu thần chưởng là võ công vô thượng của Văn-lang. Hồi trước An Dương vương thắng được Văn-lang là nhờ có nỏ thần, chứ nếu đấu võ thì thua xa. Chưởng Phục-ngưu hồi đầu do phò mã Sơn Tinh chế ra gồm có 36 chiêu dương cương, uy mãnh cực kỳ mạnh. Sau Vạn-tín hầu đấu với Sơn Tinh, thấy rằng dùng cương đánh với Phục ngưu thần chưởng thì chỉ có thua. Ngài mới nhân mỗi chiêu của dương cương, chế ra một chiêu âm nhu khắc chế, cộng thành 72 chiêu. Tuy gọi là chiêu, song mỗi chiêu rất dài, bao gồm biến hoá quyền, chưởng, chỉ, cước, trảo, dực. Nếu học được 36 chiêu dương hoặc âm thì khi sử dụng chiêu nọ nối chiêu kia, liên miên bất tuyệt. Nếu học được cả dương cương lẫn âm nhu thì khi cương, khi nhu, địch thủ không biết đâu mà lường. Nhưng đến nay phái Tản-viên bị thất truyền hết. Chưởng môn là Thi Sách cũng chỉ biết có bảy chiêu dương cương. Thái sư thúc của ông là Lục-trúc tiên sinh Lê Đạo Sinh thì biết được 12 chiêu. Song-quái cũng học với sư phụ y được bảy chiêu.
Thiều Hoa ngắt lời:
– Thế chiêu em đánh với Vũ Hỷ tại đền thờ của Cao Nỗ chả là Phục ngưu thần chưởng là gì?
Đào Kỳ cười hô hố:
– Chị cũng như Song-quái, thấy chiêu võ quái dị, cho rằng đó là Phục ngưu thần chưởng, chị lầm rồi! Khi em nghe bố với cậu bàn về Phục ngưu thần chưởng, mới nhân đó, kết hợp ba chưởng, chỉ, trảo chế ra một chiêu võ chơi. Không ngờ lúc bí đem sử dụng, Vũ Hỷ tưởng là Phục ngưu thần chưởng.
Khi đến gần Cao gia trang, Nghiêm Sơn nói:
– Thôi Hoàng cô nương, tiểu sư đệ, chúng ta từ biệt ở đây thôi. Cao trang là nơi chống người Hán, tôi không vào được, nếu tôi vào sẽ bất lợi cho cô nương và tiểu sư đệ lắm. Không biết cô nương và tiểu sư đệ có tin tôi không?
Đào Kỳ nói:
– Tin, tôi tin đại ca.
– Cám ơn tiểu sư đệ, nhưng tại sao em tin tôi? Khi tôi là quan người Hán, đối đầu với người Lĩnh Nam, hơn nữa cùng tham dự vào trận đánh phá Đào gia trang.
Đào Kỳ cười:
– Có gì mà không hiểu. Việc đánh phá Đào gia trang là do Nhâm Diêm chủ xướng. Bất quá đại ca và Hợp-phố lục hiệp chỉ đến trợ chiến mà thôi. Từ lúc đại ca gặp chúng tôi thì đại ca đã đổi khác hẳn. Hôm đó có thể bắt chúng tôi mà đại ca để nguyên. Tôi nghe Song-quái nói đại ca có thể bắt gia đình tôi mà không bắt. Tôi biết lý do tại sao đại ca lại hành động như vậy rồi mà tôi không dám nói.
Nghiêm Sơn hỏi:
– Tiểu sư đệ, em thử nói xem có đúng không?
– Nói thì dễ thôi! Nhưng sư tỷ không được đánh người ta.
Thiều Hoa sợ Đào Kỳ nói toẹt tâm sự mình ra thì xấu hổ chết. Nàng dơ tay cốc vào đầu nó một cái, nàng nói để trấn áp mình:
– Không được nói bậy!
Đào Kỳ gật đầu:
– Thì em có nói gì bậy đâu? Em nói đúng mà thôi. Không biết tại sao, khi gặp đại ca trong trận đánh cảng Bắc, em đã đoán ra đại ca không giống như những bọn Hán quan chỉ biết hối lộ, giết người tàn ác. Em hỏi thực đại ca, giả như đại ca khám phá ra âm mưu thâm độc của Nhâm Diêm, liệu đại ca có trợ chiến cho y không? Trường hợp đó, đại ca sẽ hành động thế nào?
Nghiêm Sơn trầm ngâm một lúc rồi trả lởi:
– Ta sẽ mời sư phụ, sư thúc của tiểu sư đệ đến hội kiến. Sau đó ta đích thân đến Đào, Đinh trang chơi. Với con mắt kinh nghiệm của ta, ta biết rằng hai vị không phải là quân trộm cướp. Ta sẽ yêu cầu Nhâm Diêm bãi binh. Trường hợp y không bãi binh, ta đem binh của ta kiềm chế y, chặt đầu y, sau đó dâng biểu về triều. Ta là Bình-nam đại tướng quân, có toàn quyền khắp vùng Lĩnh-nam.
Ngừng một lúc chàng tiếp:
– Từ ngày sang Lĩnh-nam đến giờ, ta đã xử tử không biết bao nhiêu bọn quan liêu người Hán tham ô, hại dân. Ta tuy là Lĩnh-nam công, nhưng lại cầm thanh gươm nghĩa hiệp trong tay, chứ không phải là một thứ quan quyền ác độc như tiểu sư đệ thường thấy.
Đào Kỳ hỏi:
– Bây giờ thì đại ca có truy nã bố, mẹ em nữa không?
– Dĩ nhiên là không, mà phải đi tìm người để tạ lỗi nữa.
Hai người đối đáp mà Thiều Hoa cảm thấy bàng hoàng như đi trên mây.
Đào Kỳ tiếp:
– Em biết đại ca thực lòng với nhà em, vì cả những chuyện quốc gia đại sự, đại ca cũng bàn trước mặt chúng em. Đại ca coi Song-quái như tôi tớ, còn em như ruột thịt, không lẽ đến như vậy mà em không tin đại ca nữa sao? Bây giờ thế này: Sư tỷ về Cao gia trang, còn em thì đi với Nghiêm đại ca để tìm bố mẹ.
Thiều Hoa thấy Kỳ sắp xếp sự việc đâu ra đấy, đồng ý ngay:
– Được! Thì em đi với Nghiêm đại ca. Khi gặp sư phụ, sư mẫu rồi thì em nói với người, và thông tin cho chị biết liền. Chị ở Cao gia trang, trông tin em từng ngày từng giờ đấy.
Đào Kỳ cười hì hì:
– Chị thực là vô tình, hay chị nói có một nửa câu? Em sợ chị trông em từng ngày từng giờ. Còn chị trông tin người khác từng khắc từng giây. Em nhớ Kinh thi có bài hát nói về người con gái và người con trai xa nhau, mỗi ngày không gặp nhau, thấy dài bằng ba mùa thu:
Nhất nhật bất kiến như tam thu hề.
Đào Kỳ xoáy thẳng vào tâm tư Thiều Hoa, làm nàng đỏ mặt, không nói được câu nào. Nàng tát sẽ lên má nó hai cái:
– Bẻm mép!
Nói rồi nàng ôm đầu nó vào ngực, xoa đầu nó, nhảy xuống ngựa. Thiều Hoa vỗ mông ngựa một cái, con ngựa phi nước đại. Nghiêm Sơn liếc ngang, nhìn nàng, thở dài, rồi phi ngựa theo Đào Kỳ:
– Hoàng cô nương, hẹn ngày tái ngộ.


Đăng nhập để trả lời
0
Hồi 5

Tiếc thay nước đục bụi trong
(Bùi Kỷ, Truy điệu Tiên-điền)




Thiều Hoa về đến trang trại thì mặt trời đã lên cao. Trời tháng chín bắt đầu lạnh. Hơi thu theo gió heo may len lỏi trong không gian, lá úa màu rơi lả tả. Nàng ngước mặt nhìn những đám mây trắng trôi lang thang trên sườn núi ngả màu đỏ mà lòng se lại:
– Ta mồ côi từ nhỏ. Chú ta thương ta, nhưng thím ta tàn nhẫn, đày đoạ ta chăn trâu khổ sở. Ta mải chơi, để trâu ăn lúa, thím ta đuổi ta đi, còn đánh ta tàn nhẫn. Ta lang thang tứ cố vô thân, thì gặp sư phụ. Người đem ta về nuôi ta, dạy ta, thương yêu ta như con đẻ. Sư phụ ta là người nghiêm khắc, hay trách phạt con cái người. Tiểu sư đệ là con út, thông minh, khôi ngô, hiếu thảo, mà còn bị người mắng là thường. Còn ta thì người thương yêu, lúc nào cũng ngọt ngào với ta. Suốt bảy năm ở với sư phụ, sư mẫu, ta chưa bị quở trách bao giờ. Ta là nữ đệ tử, người tin ta, đi đâu cũng mang theo. Ta nghĩ, nếu cha mẹ ta còn sống thì cũng chỉ thương ta đến thế là cùng. Ta sống hạnh phúc bên cạnh sư phụ, sư mẫu, sư huynh, sư đệ, thì xảy ra biến cố. Không biết nay sư phụ, sư mẫu ở đâu? Mấy tháng nay ta nhớ người, đêm ta thường khóc. So sánh nỗi buồn xa sư phụ, sư mẫu, với nỗi buồn cha mẹ chết, ta thấy cũng giống nhau. Nhưng... sư phụ ta thuộc dòng giống Âu-lạc, thù hằn người Hán. Người lại hay nhắc nhở truyện Mỵ Châu, lấy chồng ngoại tộc, làm mất nước. Trong trận chiến cảng Bắc, ta gặp Nghiêm Sơn, y là người có địa vị cao bậc nhất Lĩnh-nam, nếu y muốn, thì thiếu gì mỹ nữ, hầu xinh. Nhưng y đối với ta bằng cả một mối nhu tình. Ta phải làm sao bây giờ? Ta nghĩ lại mà thấy bất hiếu với sư phụ, sư mẫu. Trong lúc nhà tan, cửa nát, ta cứ nhờ y tìm sư phụ, sư mẫu, đưa người trở về Cửu-chân, rồi ta thú tội với người. Người tha tội thì thôi. Còn người không tha tội, ta đành tìm cái chết để đền đáp mối tình của Nghiêm Sơn.
Nàng trở về phòng nằm nghỉ, lơ đãng nhìn cảnh đẹp trời chiều, nông dân đốt rẫy, khói bay lên bầu trời trắng xanh. Nắng chiếu xuyên qua khói, rọi xuống đất thành màu tím. Nàng riu riu ngủ được một giấc, thì tiếng gõ cửa làm nàng tỉnh dậy. Nàng hỏi:
– Ai đây?
Tiếng nữ đệ tử ngoại đồ Phi Vân nói:
– Sư tỷ! Tất cả đệ tử, tráng đinh họp, mời sư tỷ ra dự.
Thiều Hoa mệt nhoài nói:
– Em nói với nhị sư huynh rằng ta mệt, không dự được.
Phi Vân ra một lúc rồi lại vào:
– Sư tỷ! Nhị sư huynh mời sư tỷ phải ra họp ngay.
Thiều Hoa nghĩ thầm:
– Tại sao sư huynh lại bắt ta phải ra họp? Chắc có tin tức gì về sư phụ, sư mẫu đây.
Nàng theo Phi Vân đến chỗ họp, thì không phải là đại sảnh, mà là ngọn đồi phía sau trang trại. Gần 100 anh em Đào trang ngồi thành vòng tròn, vũ khí bên cạnh. Người nào mặt cũng sát khí đằng đằng. Họ nhìn Thiều Hoa với con mắt thiếu thiện cảm.
Nàng hỏi Phi Vân:
– Có biến cố gì sao?
Phi Vân nhìn nàng với vẻ lạnh lùng đáp:
– Sư tỷ chờ một lát sẽ biết.
Mọi người đều dồn con mắt nhìn nàng, như muốn gây sự.
Thiều Hoa hoảng:
– Cái gì đã xảy ra?
Trịnh Quang đứng lên trịnh trọng nói:
– Các vị sư đệ, sư muội, hôm nay ta mời tất cả quý vị tới đây để giải quyết một vấn đề, đó là vấn đề sống còn của sư môn và chúng ta. Từ hôm xảy ra biến cố đến giờ, không hiểu sư phụ, sư mẫu ở đâu? Các vị sư huynh, sư đệ ra sao? Thứ nữa đến cái chết của sư muội Tường Loan. Hôm đó sư huynh đau mê man, khắp người không cử động được, nên không thể nào tra xét cho ra manh mối. Tuy vậy ta vẫn có mối nghi ngờ rằng trong chúng ta, có kẻ gian tế trà trộn để hại ngầm. Từ hôm qua đến giờ, ta đã tìm ra manh mối, biết được tung tích kẻ thù.
Đám sư huynh, sư đệ nhao nhao lên:
– Xin sư ca nói cho chúng tôi rõ.
Trịnh Quang liếc nhìn Thiều Hoa rồi hỏi:
– Sư muội! Sư muội là người biết hết tất cả. Sư muội có thể cho chúng ta biết được chăng? Sư môn chúng ta nhà tan cửa nát, kẻ chết người bị thương, gia đình ly tán. Chính bản thân ta, giờ này không hiểu vợ con còn sống hay chết? Điều đó không quan trọng lắm. Điều quan trọng nhất là sư môn chúng ta có kẻ gian ẩn náu, bán chúng ta cho giặc Hán.
Thiều Hoa nhìn thẳng vào mặt Trịnh Quang, tự nghĩ:
– Tại sao sư huynh lại cật vấn ta? Không lẽ sư huynh nghi cho ta giết Tường Loan hay sao? Có lý nào lại đa nghi, hại người chết đuối trên cạn được?
Nàng vốn là người thuần hậu, nhu nhã, nên trả lời:
– Có gì mà không hiểu? Sư muội Tường Loan bị kẻ gian ám hại, chứ không phải ngã. Bởi với võ công Tường Loan, tại sao sư muội có thể chết vì ngã ở một triền núi thoai thoải? Hôm đó tôi đã khám thi thể, thấy miệng ứa máu, ngực có vết âm kình khá nặng. Tôi không hiểu đó là võ công của môn phái nào, và ai đã ra tay. Suốt vùng Cửu-chân, không có môn phái nào lại luyện thứ võ âm nhu ấy? Sư phụ và Đinh sư thúc đã bàn rằng: Võ công Văn-lang có một thứ gọi là Phục ngưu thần chưởng, cứ một chiêu dương lại một chiêu âm, độc địa vô cùng. Hiện võ công âm nhu đã thất truyền. Ngay chưởng môn là Đặng Thi Sách cũng không sử dụng được. Không lẽ... không lẽ sư muội Tường Loan bị giết bằng võ công âm độc đó? Tôi thấy kẻ ra tay học chưa đến nơi đến chốn, nên sư muội vẫn có vết thương tím ở ngực. Chứ nếu thật là Phục ngưu thần chưởng thì người không một vết trầy, mà tạng phủ nát ra mà chết ngay.
Mọi người kêu ồ lên:
– Phong-châu song quái.
Thiều Hoa nói:
– Hôm tiểu sư đệ đánh nhau với Song-quái ở Cao miếu, có sử dụng một thứ võ công hết sức quái dị. Chính Song-quái cũng kêu lên là Phục ngưu thần chưởng, rồi bắt tiểu sư đệ đi. Tôi gần tiểu sư đệ từ lâu, chưa từng thấy y sử dụng võ công âm nhu bao giờ. Dù tiểu sư đệ có biết sử dụng chăng nữa, thì quyết không giết Tường Loan. Vậy trong chúng ta có gian tế của phái Tản-viên, đã ra tay giết Tường Loan. Phái Cửu-chân chúng ta không thù, không oán với phái Tản-viên, không lẽ họ lại gây hấn với chúng ta? Giữa chưởng môn phái Tản-viên Đặng Thi Sách với sư phụ là chỗ giao tình thâm trọng, quyết... phái Tản-viên không giết Tường Loan. Sư huynh là người kinh nghiệm nhiều, có cao kiến gì không?
Trịnh Quang cười khẩy:
– Được! Sư muội đã nói như thế thì ta phải tìm cho ra hung thủ. Sư phụ vắng mặt, ta là người lớn nhất ở đây, ta phải tìm cho ra và giết nó trả thù cho Tường Loan.
Thiều Hoa thở dài nói:
– Hôm ở Cao miếu, tôi ngủ trên chiếc võng ngoài sân, nửa đêm thấy một bóng đen chạy ra đường. Tôi theo dõi, thì thấy bóng đen đó vẽ lên tảng đá ven đường mấy dấu hiệu. Ngặt vì đêm tối, tôi không biết đó là dấu hiệu gì. Sáng hôm sau tôi ra xem thì thấy là chữ Vạn, dưới ghi địa danh chúng ta sắp đi qua. Tôi biết gian tế chỉ đường cho đồng bọn theo dõi chúng ta nên tôi xoá đi hết.
Trịnh Quang cười nhạt:
– Sư muội thật là người tinh tế. Những việc như vậy sao sư muội không cho ta biết? Sư phụ vắng mặt, ta là người có vai vế cao nhất ở đây mà?
Thiều Hoa luống cuống cau mày:
– Hôm ấy sư huynh đau chưa khỏi. Tôi có nói với sư huynh cũng vô ích.
Trịnh Quang đứng ra giữa sân, nói lớn:
– Sư muội! Đến giờ phút này mà ngươi còn muốn che dấu ư? Đêm đại chiến ở trong rừng, sư muội đã cùng một người Hán đấu kiếm, sư muội liếc mắt đưa tình với nó. Các vị huynh muội ở đây đều thấy. Tên Hán quan đó là Nghiêm Sơn, võ công rất cao cường. Chính mắt ta đã trông thấy y đấu chưởng với sư thúc. Chỉ một chưởng, sư thúc bị bại, ngã trên ván thuyền. Thế mà hôm đó y lại thua sư muội, cám ơn sư muội cho y mượn đường. Thực tế hắn chỉ dơ tay một cái là bắt được sư muội. Phất tay một cái là bắt hết chúng ta. Tại sao lại kỳ lạ như vậy?
Thiều Hoa nghe nhắc đến chuyện này, mặt nàng nóng bừng lên:
– Tôi... Tôi... cũng không biết nữa.
Trịnh Quang quát lên:
– Có gì mà không hiểu? Chỉ nhìn sư muội với nó liếc qua, liếc lại với nhau, thì đủ biết rồi. Theo sư muội nói, kẻ nào đó để dấu lại, cho nên Song-quái, Nghiêm Sơn mới biết đường chúng ta đi. Cũng vì thế Nghiêm Sơn mới đón đường gặp sư muội. Chúng ta đều nhìn tận mặt sư muội với nó nhìn nhau đắm đuối. Hắn lại tặng cho sư muội con ngựa chiến nữa. Giữa thanh thiên bạch nhật, trước mặt chúng ta, sư muội cùng hắn ruổi ngựa vào rừng tâm tình. Sư muội làm như thế mà đòi che mắt chúng ta sao? Nếu ta có đui mù, ngu si, thì hằng mấy trăm con mắt ở đây đâu có để sư muội mang voi mà bảo rằng thỏ được?
Trịnh Quang nói với mọi người:
_ Nước Âu-lạc ta hùng mạnh và lớn hơn nước Nam-việt của Triệu Đà. Võ công Âu-lạc ta bỏ xa Triệu Đà. Nỏ thần của ta bắn một phát cả ngàn mũi tên, quân Triệu Đà tan nát. Nhưng tại sao Âu-lạc bị bại? Chỉ vì Mỵ Châu bị gian tế Trọng Thuỷ đưa vào tròng tình ái, hại nước, hại cha, hại dân, rồi bản thân cũng chết. Đó là mối di hận của Âu-lạc chúng ta trải qua 184 năm. Cái hoạ Mỵ Châu trước chưa hết, thì cái hoạ Mỵ Châu thứ nhì đang tái diễn. Sư muội ơi, thế từ qua đến giờ, ngươi đi đâu vậy?
Thiều Hoa giận run người lên:
– Tôi... Tôi... đi cứu tiểu sư đệ.
Trịnh Quang hỏi:
– À thì ra thế. Ta thấy sư muội vượt đồi phía sau đi với một người, ta vội theo dõi. Sư muội, ta thấy hết rồi, ngươi cùng Nghiêm Sơn tình tự suốt đêm, sáng mới về.
Thiều Hoa uất người lên:
– Ta không có đi tình tự với Nghiêm Sơn, ta đi cứu tiểu sư đệ.
Trịnh Quang nói:
– Cứu tiểu sư đệ! Phong-châu song quái bắt tiểu sư đệ đi, võ công chúng còn cao hơn sư phụ, sư mẫu. Với bản lãnh sư muội thì làm sao mà cứu tiểu sư đệ?
Thiều Hoa hỏi vặn lại:
– Sư huynh bảo theo ta, thế thì phải biết rõ chuyện ta cứu tiểu sư đệ chứ? Tiểu sư đệ được ta cứu xong liền đi với Nghiêm đại ca, tìm sư phụ, sư mẫu.
Trịnh Quang thở dài:
– Đào trang tan nát vì quân Hán. Quân Hán muốn trừ diệt hết chúng ta, thế mà bảo tên quốc công dẫn sư đệ đi tìm sư phụ, sư mẫu thì con nít cũng không tin được. Nghiêm đại ca của sư muội tử tế nhỉ? Tại sao y lại tử tế với sư muội như vậy?
Thiều Hoa chảy nước mắt:
– Tôi cũng không biết nữa.
Trịnh Quang cười ha hả:
– Có gì mà không biết! Hắn muốn tìm một Mỵ Châu thứ nhì cho hắn mà thôi. Sư muội, Đào trang vì ngươi mà tan nát, Tường Loan vì ngươi mà bị giết, tiểu sư đệ vì ngươi mà mất tích. Hôm nay ta vì Âu-lạc mà giết một Mỵ Châu, vì Đào trang, Tường Loan mà đòi nợ sư muội. Ngươi rút kiếm ra đi.
Ghi chú của thuật giả:
Trong lịch sử các dân tộc trên thế giới, không một dân tộc nào mà lại có tính kỳ thị chủng tộc về phương diện hôn nhân như dân tộc Việt Nam. Nguyên do khởi từ Mỵ Châu lấy chồng ngoại tộc, rồi vì nhất tâm nhất chí với chồng, làm mất nước. Từ khi Thục bị diệt vong, dân Lĩnh-nam thường rất căm thù cái hận Mỵ Châu, nên giáo dục con cái thành kẻ thù, khinh ghét những người con gái Việt lấy chồng Trung Hoa. Sau này dù Trưng-vương đã dành được độc lập, nhưng tinh thần đó vẫn kéo đài trong lịch sử cho đến nay. Tiếp theo người Pháp, người Mỹ đến Việt Nam, các gia đình Việt Nam lại giáo dục con cái khinh ghét những người con gái Việt có chồng Pháp, Mỹ. Hiện nay cái di sản tinh thần này vẫn còn, dù chúng ta sống ở hải ngoại, dù người chồng Pháp, Mỹ rất lịch sự, tử tế với vợ Việt.
Trịnh Quang hô lớn:
– Sư đệ, sư muội, bao vây lấy nó. Đừng để nó chạy thoát.
Lập tức tiếng vũ khí loảng xoảng, trên 100 người bao vây kín xung quanh Thiều Hoa.
Thiều Hoa suy nghĩ:
– Tiểu sư đệ không có ở đây. Hôm nay ta khó mà đối chất được với sư huynh. Nhưng ta muốn thoát thân, thực là thiên nan vạn nan.
Nàng rút kiếm ra nói:
– Sư huynh, tôi xin thề trước đất trời là tôi không giết sư muội, không làm gian tế cho người Hán.
Trịnh Quang cười gằn:
– Sư muội tưởng chúng ta ngây thơ như trẻ con hẳn? Ta không thể tin lời thề của sư muội được nữa.
Thiều Hoa khóc:
– Khi tôi 11 tuổi, mồ côi cha mẹ, đi ở cho người chú, làm nghề chăn trâu. Chẳng may để trâu ăn hết một đám lúa, bị thím đánh đập tàn nhẫn rồi đuổi đi. Tôi đi ở với người ta, bị hiếp đáp trăm bề cay đắng May gặp sư phụ cứu về, nhận làm đệ tử, dạy dỗ cho đến ngày nay. Tôi làm sao mà phản sư môn được.
Có tiếng một sư muội nói:
– Mỵ Châu được An Dương vương cưng chiều biết là bao? Chỉ vì mù quáng trước bã tình yêu, mà đem bí quyết chế nỏ thần cho Trọng Thuỷ. Thị còn rắc lông ngỗng đưa đường cho giặc. Chúng ta mất nước vì Mỵ Châu. Bọn Hán cai trị chúng ta, coi chúng ta như thú vật. Tên Nghiêm Sơn của Hán, thân cầm quân đánh Đào trang tan nát. Thế mà sư tỷ, đội ơn sư phụ như sơn, lại nháy mắt đưa tình, kêu kẻ thù là đại ca. Tình đấy nhỉ? Ngươi chỉ vì tình mà làm chúng ta khốn khổ đến thế này, mà còn chối được ư?
Thiều Hoa rút kiếm ngẫm nghĩ:
– Ta không phản sư môn. Cũng không hại sư muội Tường Loan, ta không để dấu hiệu cho giặc. Trong lòng ta trong sáng, nhưng sự thể như thế này, ta đành chết để tạ ơn sư phụ, sư mẫu.
Nàng đưa kiếm lên cổ tự vẫn. Vèo, một ánh thép sáng loáng bay tới đánh choảng một tiếng, hất tung lưỡi kiếm của Thiều Hoa ra ngoài. Một người từ trên cây gần đó nhảy xuống, y nhô lên thụp xuống mấy cái đã cắp Thiều Hoa vào nách trái. Tay phải đâm ba thế kiếm xoẹt... xoẹt... xoẹt... gạt kiếm của Trịnh Quang và mấy sư đệ ra ngoài, rồi phóng lên ngọn đồi.
Trịnh Quang hô lớn:
– Nghiêm Sơn, để sư muội lại. Các vị sư đệ, sư muội, chúng ta mau đuổi theo tên quan Hán, cứu sư muội.
Đám đệ tử, sư muội reo hò đuổi theo. Nhưng Nghiêm Sơn và Thiều Hoa đã mất hút ở chân đồi xa xa.
Nghiêm Sơn cắp Thiều Hoa chạy một lát, tới khe suối thì ngừng lại, để nàng xuống, an ủi:
– Cô nương, cô nương có sao không?
Thiều Hoa nước mắt đầm đìa, lắc đầu:
– Không sao cả. Nghiêm đại ca, sao đại ca biết tôi bị nạn mà đến cứu?
Nghiêm Sơn thở dài:
– Trên đường đi tìm sư phụ, sư mẫu cô nương, tôi cùng tiểu sư đệ của cô đàm luận. Tôi suy ra rằng trong đám người Đào trang có kẻ gian tế. Tiểu sư đệ cật vấn tôi kẻ gian tế đó là ai. Tôi phải thề với y rằng tôi không cài một người nào vào làm gian tế trong Đào trang. Y tin tôi. Từ cái chết của Tường Loan, và việc Song-quái theo sát đoàn người của cô, tôi đoán gian tế đó là của Song-quái. Tôi để tiểu sư đệ đi trước với người của tôi. Tôi trở lại dò tìm xem gian tế đó là ai. Nhưng chưa dò ra được thì gặp việc cô nương bị nạn, tôi ra tay cứu.
Thiều Hoa nước mắt ênh ếch:
– Nhị sư huynh bảo tôi là Mỵ Châu, tôi chưa rửa được tiếng oan, thì đại ca cứu tôi, thế là tôi trở thành Mỵ Châu thực sự với mọi người. Từ nay tôi không còn đất sống nữa.
Nghiêm Sơn là người khẳng khái, võ công chàng cao cường, đầy tinh thần nghĩa hiệp. Tuy là đại quan người Hán, song y nhìn người Hán, người Việt đều giống nhau. Trong cách đối xử, chàng không phân biệt. Đi đến đâu gặp bọn quan người Hán tàn ác, lập tức chàng ra lệnh xử tử. Vì vậy từ ngày chàng sang Lĩnh-nam, dân chúng được tự do, bớt cơ cực rất nhiều.
Hồi nhỏ chàng đọc sách của Khương Thái-công, của Tôn Ngô, Khổng Mạnh. Chàng mơ màng một ngày kia mang ra áp dụng. Chàng sang Lĩnh-nam, với uy quyền lớn, lòng tràn đầy thiện cảm với người Việt. nhưng... sự việc xảy ra không như chàng muốn.
Chàng nghe lời báo cáo của Thái-thú Nhâm Diên, rằng đất Cửu-chân có hai ổ cướp tụ tập trong Đào, Đinh trang, chàng bàn cùng thái thú Tích Quang, mang quân vào trợ chiến. Không ngờ sau trận chiến, chàng được biết Đào, Đinh chính là đất của anh hùng nghĩa hiệp.
Chàng khẳng khái nói với Thiều Hoa:
– Cô nương hãy gạt bỏ sầu muộn. Tôi không phải là kẻ ngu đần như Trọng Thuỷ. Cô nương cũng không phải là Mỵ châu. Việc chúng ta, chúng ta cứ làm, ai hiểu thì hiểu. Ai không hiểu thì mặc. Thời gian sẽ trả lời.
Mặt trời đã đứng bóng. Thiều Hoa hỏi:
– Đại ca đói không, để tiểu muội kiếm cái gì ăn đã.
Nghiêm Sơn hỏi:
– Giữa rừng núi bao la thế này, kiếm đâu ra thực vật bây giờ?
Thiều Hoa chỉ xuống suối nói:
– Đại ca không thấy sao? Kìa dưới suối đầy cá đang nhởn nhơ bơi lội, bắt lên nướng ăn, cũng đỡ đói.
Thiều Hoa sống ở vùng rừng núi, ven biển, quanh năm đầy cá, nên nàng rất thạo cách bắt cá. Nàng rút kiếm cắt một cây trúc ven suối, chặt lá, cành đi rồi vót nhọn. Nàng đứng trên mỏm đá giữa suối, nhìn đàn cá bơi lội qua, rồi phóng cành trúc xuống suối. Cứ mỗi lần phóng lại được một con cá. Nhìn dáng điệu thanh tú, tươi như hoa của nàng, Nghiêm Sơn nhủ thầm trong lòng:
– Ta có người vợ như Thiều Hoa thì dù chết đến mấy lần cũng cam tâm. Nhưng ta lại là người Hán. Người Hán tàn ác, coi người Việt như súc vật. Mới đây sư môn của nàng tan nát vì người Hán. Chính ta là người chỉ huy quân đánh phá. Thành ra giữa ta với nàng có cả mấy ngọn đồi ngăn cách.
Chàng ôn lại trong trí nhớ:
“Năm nay ta đã 26 tuổi rồi. Kể từ khi giúp nghĩa huynh Lưu Tú trung hưng nhà Hán, đến giờ đã 9 năm trời. Nghĩa huynh xưng Quang Vũ hoàng đế, lấy niên hiệu là Kiến Vũ. Có thể nói, ta là đệ nhất công thần nhà Hán. Kể từ khi khởi nghiệp, ta vào sinh ra tử, đánh dư trăm trận, đã chiếm được Trung-nguyên, ta chỉ huy các đại tướng Sầm Bành, Đặng Vũ chiếm chín quận thuộc Kinh-châu. Nhưng Kinh-châu thì phía Tây có Ích-châu, phía Nam có Lĩnh-nam đều không phục tùng nhà Hán. Ta đề nghị với nghĩa huynh, cần phải đánh chiếm Lĩnh-nam hầu có một cơ sở vững chắc. Từ đó mới tiếp tục đánh Liêu-đông, Ký-bắc, Lũng-tây được. Nghĩa huynh đồng ý, cầm gươm cắt đất thề rằng sau khi được thiên hạ, thì anh em sẽ chia nhau giang sơn, hưởng phú quý. Nhưng ta khẳng khái nói rằng: “Ta là người nghĩa hiệp. Giúp nghĩa huynh cũng chỉ vì nghĩa hiệp. Sau khi đại nghiệp thành, ta sẽ một người, một ngựa, tiêu dao sơn thuỷ giúp khốn phò nguy.” Nghĩa huynh đề nghị ta đánh Lĩnh-nam. Ta đưa ra ý kiến rằng Lĩnh-nam là đất xa xôi với Trung-nguyên, không cần mang quân đánh. Ta xin đem Hợp-phố lục hiệp theo, để kinh lược. Nghĩa huynh phong ta làm Lĩnh-nam công, lĩnh Bình-nam đại tướng quân, coi như cho ta làm vua Lĩnh-nam.
Ta âm thầm đến Lĩnh-nam. Ta cùng Hợp-phố lục hiệp thuyết phục các thái thú Nam-hải, Tượng-quận, và Quế-lâm đầu Hán. Hai thái thú Nam-hải, Tượng-quận theo gió mà quy phục, nên ta để nguyên cho họ ở ngôi vị cũ. Thái thú Quế-lâm chống lại, ta giết chết y và cử sư thúc của ta thay thế.
Ta tiếp tục tiến xuống Nam. Thái thú Giao-chỉ là Tích Quang, Thái-thú Cửu-chân là Nhâm Diên khoanh tay quy phục. Thái-thú Nhật nam chống lại, ta cũng giết chết, và cử một người thân tín thay thế. Vì vậy... trên thực tế, ta chỉ được có hai quận Quế-lâm, Nhật Nam. Còn bốn quận, thì Thái-thú vẫn nắm binh quyền, cắt cử các quan văn võ, luôn luôn trái ý ta. Nếu ta cử quân đánh chúng, thì hoá ra rối loạn, khiến cho Trung-nguyên lâm nguy. Bây giờ, ta cần thu phục anh tài Lĩnh-nam, đề cử họ vào những chức vụ quan trọng. Khi cơ sở đã vững chắc, ta mới có thể dùng quyền với bọn thái thú, hầu cải cách cho dân chúng được hưởng hạnh phúc. Trước mắt ta, Hán cũng vậy, Việt cũng thế, nếu ta tạo được hạnh phúc cho họ, thì mới đáng gọi là người nghĩa hiệp. Nhưng ngoài Hợp-phố lục hiệp ra, không ai hiểu được ta. Người Hán thù hằn ta tại sao lại đi bênh vực dân Việt. Người Việt coi là “con chó Ngô”, là bọn “Tàu phù kinh tởm.” Không ngờ trong lúc đánh Đào, Đinh trang, ta được một chú bé Đào Kỳ hiểu ta. Y không thù oán ta làm cho y nhà tan cửa nát, mà lại có ý tác thành vị sư tỷ sắc nước hương trời cho ta”.
Thiều Hoa trở lại với một xâu cá. Nàng chặt củi khô, đốt lên, nướng. Mỡ cá gặp lửa cháy xèo xèo thơm nức, làm Nghiêm Sơn nuốt nước miếng không ngừng.
Nàng nướng xong một xâu, giơ tay vẫy Nghiêm Sơn:
– Xin mời Bình-nam đại tướng quân lại xơi cá nướng.
Tuy là câu nói đùa, nhưng nó cũng như nhát búa đập vào ngực Nghiêm Sơn, chàng bước tới cạnh Thiều Hoa cầm lấy con cá nướng, mỡ cháy béo ngậy bóng loáng.
Thiều Hoa vẫn đùa:
– Đại nhân đã xơi cá rô ở đất Nam-man bao giờ chưa?
Nghiêm Sơn nghiêm nét mặt lại;
– Cô nương! Tôi là thằng con trai thô kệch, tên võ phu, được cô nương nhìn mặt đã là quý rồi. Huống chi cô nương không coi tôi là cừu thù, cùng tôi nói chuyện bên suối hoang này. Dù tôi có chết đến hai lần cũng không uổng cuộc đời. Huống hồ cô nương còn nướng cá cho ăn. Xin cô nương đừng gọi tôi là đại nhân, đại quan nữa. Giữa chúng ta, phải xoá bỏ tất cả những gì là Nam-man, ác Hán đi, có phải là đẹp biết bao không?
Thiều Hoa rung động toàn người, nàng không dám đùa nữa:
– Tôi đùa vậy thôi, đại ca đừng trách làm gì? Tôi còn bé nhỏ mà.
Câu “tôi còn bé nhỏ mà” thốt ra từ khuôn mặt đẹp như ngọc, với đôi mắt thành khẩn, làm Nghiêm Sơn ngây ngất. Chàng thấy trong ánh mắt trong đen trên khuôn mặt nhu nhã của nàng có hình ảnh mình. Chàng tự nhủ:
– Ta thực vô dụng. Nếu ta là Khuất Nguyên, ta sẽ làm một bài Sở từ để ca tụng nàng:
Nàng cùng ta bên bờ suối hề,
Bốn mắt đắm đuối nhìn nhau hề,
Ta thả hồn hề! Bơi lội trong lòng mắt nàng hề.
Chỉ có tình yêu là không cách biệt hề, thù hận mà chi.
Hán mà chi, Việt mà chi hề, ta nguyện yêu nàng.
Ta ước được quỳ dưới chân nàng hề, để tỏ yêu thương.
Nếu ta được ôm chân nàng hề, rồi chết cũng can tâm.
Thiều Hoa thấy Nghiêm Sơn đăm đăm nhìn mình, vội cúi đầu quay đi phương khác. Hai người ngồi im ăn cá nướng.
Trên đời Nghiêm Sơn, đã từng thưởng thức không biết bao nhiêu sơn hào hải vị, đây là lần đầu tiên chàng được ăn một bữa ăn giữa rừng, uống say rượu tình. Hồn phách chàng bay theo áng mây trắng trôi trên đồi xa xa.
Ăn xong Thiều Hoa nói:
– Nghiêm đại ca, bây giờ tôi không thể trở về với sư huynh, sư đệ của tôi nữa. Tôi đi tìm tiểu sư đệ của tôi, rồi cùng đi tìm sư phụ, sư mẫu. Còn đại ca! Đại ca về đâu?
Nghiêm Sơn thấy nàng như không muốn đi cùng mình, thoáng vẻ buồn ra nét mặt:
– Làm cho Đào, Đinh nhị trang bị tan nhà nát cửa là Nhâm Diên. Nhưng đại trượng phu phải quang minh lỗi lạc, tôi nhận mình có phần lỗi ở trong đó. Vậy tôi xin cùng cô nương và tiểu sư đệ của cô đi tìm sư phụ, sư mẫu cô. Người Đào, Đinh đông như vậy, mà thủ hạ của tôi cũng nhiều, tìm đâu khó?
Hai người lên đường, quẹo qua hốc núi, thì thấy Hợp-phố lục hiệp đang ngồi chờ ở đó. Nhất hiệp cung kính:
– Quốc công, chúng tôi tìm người suốt từ sáng đến giờ mà không gặp. Nay Quốc-công trở về thực may quá. Thôi chúng ta lên đường đi Long-biên.
Thiều Hoa hỏi Nghiêm Sơn:
– Đại ca! Đại ca là người kinh nghiệm nhiều, thử đoán xem ai là thù phạm giết Tường Loan, và họ ẩn nấp ở Đào trang để làm gì?
Nghiêm Sơn biết Thiều Hoa hỏi câu đó thì đã hết nghi ngờ chàng là thủ phạm gài người vào Đào trang, nên vui vẻ đáp:
– Tôi nghĩ chưa ra. Trong đám huynh đệ của cô, thì chỉ có cô với Trịnh Quang là có khả năng đánh một chiêu kết liễu tính mạng Tường Loan. Võ công nhà cô thiên về dương cương thì nhiều, mà âm nhu thì ít. Nhưng chiêu thức mà Tường Loan bị giết hoàn toàn âm nhu. Nội công âm nhu ấy tôi nghĩ không phải của Đào trang, mà là của phái Tản-viên. Hơn nữa muốn có âm kình đến trình độ đó, thì phải trải qua ít nhất là bảy, tám năm luyện nội công. Cô nương, cô nương đến Đào trang được mấy năm rồi?
Thiều Hoa đáp:
– Tôi là đứa trẻ mồ côi, tứ cố vô thân, bị người đời làm nhục, được sư phụ cứu về nuôi dạy từ năm 11 tuổi, đến nay là bảy năm. Còn nhị sư huynh là con người tỳ nữ của sư phụ tôi, đến Đào trang từ năm 13 tuổi, đến nay là 12 năm. Lúc đầu tôi nghĩ Trịnh Quang giết Tường Loan. Nhưng sau tôi thấy không phải vì hôm ấy Trịnh Quang bị thương rất nặng, không ra tay được. Còn trong đám sư muội, sư đệ của tôi võ công đều ngang Tường Loan, không ai đủ công lực giết nàng. Cuối cùng tôi nghĩ, có lẽ người của phái Tản-viên ẩn náu đâu đó giết Tường Loan. Bây giờ thì các sư huynh, sư đệ của tôi kết tội tôi giết sư muội... Ha! Thực là “Nước đục bụi trong là thế đó.”
Thiều Hoa thở dài nhắc lại:
– Dù tôi là nước bị tiếng là đục. Mà kẻ sát nhân lại được tiếng là trong. Đời chán quá nhỉ? Người ta đổ cho tôi giết sư muội, làm gian tế cho người Hán, và là... và là... Mỵ Châu.
Nghiêm Sơn an ủi:
– Cô cần tỉnh trí, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hung thủ, giết y trả thù cho sư muội cô, rửa tiếng oan cho cô. Còn cô không làm gian tế cho người Hán thì là đương nhiên rồi. Còn bảo cô là Mỵ Châu ư, cái đó... cái đó...
Thình lình có tiếng cười khúc khích:
– Mỵ Châu là Mỵ Châu! Thiều Hoa là Thiều Hoa! Mỵ Châu là một cô gái ngu xuẩn, khác với Thiều Hoa là một cô gái khôn ngoan. Trọng Thuỷ là anh chàng chung tình, sang làm phò mã Âu-lạc để mưu cướp nước. Còn Nghiêm đại ca sang đây với hoài bão diệt bọn Hán, Việt tham ô nhũng lạm. Muôn ngàn lần khác nhau. Trong con mắt tiểu đệ thì Nghiêm đại ca là một đại hiệp.
Thiều Hoa nhận ra tiếng tiểu sư đệ Đào Kỳ, mừng quá nàng reo lên:
– Tiểu sư đệ!
Đào Kỳ từ trên cây nhảy xuống. Nó múa cây côn đồng lấy ở đền thờ Cao Nỗ nói:
– Sư tỷ, chúng ta trở lại trang Cao hầu để tiểu đệ rửa tiếng oan cho sư tỷ. Tiểu đệ chắc không ai làm khó dễ sư tỷ đâu. Liệu nhị sư huynh dám giết tiểu đệ sao?
Nghiêm Sơn bảo Kỳ:
– Không được! Hoàn toàn không được! Chúng ta hiện chưa biết gian tế là ai. Sư đệ trở lại, có khi bị hại là khác. Thôi chúng ta đi Long-biên rồi đến Cổ-loa tìm người của Đào, Đinh trang đã.
Nghiêm Sơn bảo Hợp-phố lục hiệp:
– Lục vị sư huynh, sư đệ! Khi chúng ta khởi hành đi Lĩnh-nam, đã có lời hứa với nhau là làm sao ta cho dân chúng sáu quận được hạnh phúc. Hiện chúng ta mới nắm được hai quận. Còn bốn quận, quyền bính vẫn nằm trong tay bọn tham ô. Bây giờ nếu chúng ta bắt chúng cải cách, thì chúng sẽ trở mặt làm phản. Vậy tôi đề nghị thế này: Chúng ta áp dụng lối tằm ăn dâu, cải cách từ quận một.
Hợp-phố nhị hiệp Lư Dương hỏi:
– Theo ý sư đệ, thì bây giờ chúng ta kinh lược quận nào trước?
Nghiêm Sơn đáp:
– Giao-chỉ thì thế lực của Tích Quang quá lớn, chưa thể ra tay được. Cửu-chân thì qua trận đánh Đào, Đinh trang, bộ mặt giả nhân giả nghĩa của Nhâm Diên đã bị lộ. Trong chín thế lực Cửu-chân, có đến bảy, tám khinh ghét y. Trận đánh vừa qua, Đào hầu, Đinh hầu tuy người ít, thế cô, mà đốt phá phủ thái thú, giết vợ, con, mẹ già của y. Y hiện kinh hồn táng đởm. Trong trận đánh, hai sư trưởng thân tín của y bị đại đệ tử của Đinh hầu là Quách Lãng giết chết. Một bị trưởng nam của Đào hầu là Đào Nghi Sơn giết chết. Đệ nhân đó, cắt cử hai người thân tín thay thế. Sẵn giữa lúc y kinh sợ, tiểu đệ lên tiếng trách cứ y giữa các quan văn, vũ về tội “cáo gian.” Hiện binh quyền đệ đã nắm được. Y bị cô thế.
Hợp-phố tam hiệp Hà Thiên hỏi:
– Quan trọng nhất là phủ Đô-sát. Vậy hiền đệ phải cách chức Chu Khải. Rồi một trong anh em chúng ta nắm lấy.
Nghiêm Sơn cười:
– Không được. Đô-sát là chức vụ cần nhiều chân tay. Nếu bây giờ chúng ta giết Chu Khải, rồi nhảy vào thay thế thì hệ thống Tế-tác sẽ bị tê liệt. Tốt hơn hết tiểu đệ sẽ cử Vũ Hỷ vào chức vụ đó.
Hà Thiên ngạc nhiên:
– Chúng ta dùng tên ma đầu đó ư? Như vậy chúng ta sẽ tàn hại nhân dân không ít.
Nghiêm Sơn tủm tỉm cười:
– Tam ca ơi! Tam ca chưa quen dùng người. Đệ đã từng cắt cử trăm vạn người ở Trung-nguyên, nên rất thạo. Song-quái tàn ác, ta cử chúng vào chức vụ Đô-sát, chúng sẽ thẳng tay trừ khử bọn tay chân của Nhâm Diên, đưa người của chúng vào. Thế là hai phe Nhâm Diên, Song-quái chống nhau. Ta ở giữa thấy người của phe nào có tài, có khí tiết, thì thu phục lấy mà dùng. Sau khi Song-quái cầm quyền ít lâu, tính ác đã quen, y tàn hại dân chúng, ta dùng quân pháp chặt đầu y rồi anh em ta nắm lấy toà Đô-sát, thế thì mọi chuyện mới yên. Vậy... bây giờ các vị sư huynh âm thầm dùng binh phù của tiểu đệ, kinh lược Cửu-chân. Gặp Huyện-úy, Huyện-lệnh nào ác đức thì bí mật giết chết. Tiểu đệ sẽ cử người khác thay thế. Như vậy chỉ cần mấy tháng, ta sẽ nắm được đất Cửu-chân.
Lục-hiệp đi rồi, Nghiêm Sơn, Thiều Hoa, Đào Kỳ lên đường. Phải mất hai ngày mới tới Long-biên. Long-biên là vùng đất phì nhiêu, bờ xôi, giếng mật, cây cỏ tốt tươi. Trời đang tiết thu, lá vàng rơi vụng khắp nơi. Cây cỏ tiêu sơ, gió heo may hiu hiu đem cái lạnh len lỏi vào không gian.
Trưa hôm đó thì tới một con sông.
Đào Kỳ hỏi:
– Sông này là sông gì vậy?
Nghiêm Sơn nói:
– Đó là sông Hồng-hà. Sông Hồng-hà chẻ một nhánh đổ vào một cái hồ rất lớn, đó là Dâm-đàm, phong cảnh rất đẹp, chúng ta nên qua đó chơi cho biết. Có điều chúng ta phải cải trang thành người Việt để không bị chú ý.
Nghiêm Sơn lấy trong bọc ra bộ quần áo Việt mặc vào.
Chàng bàn với Đào Kỳ:
– Chúng ta đi tìm thân phụ của đệ thì cần tránh con mắt tò mò của mọi người. Ta giả xưng là Lạc tướng, còn Thiều Hoa với đệ giả làm em ta.
Thiều Hoa thấy Nghiêm Sơn bảo mình với sư đệ là em, có điều không ổn, vì hình dáng ba người quá khác nhau. Nhưng tính tình nàng vốn nhu thuận, nên không phản đối. Đoàn người tới bến đò.
Đào Kỳ nói:
– Nghiêm đại ca, nước ở đây chảy xiết quá, thuyền đi muốn không được. Hồi ở Cửu-chân, tiểu đệ thích lội lắm, có lần tiểu đệ bơi từ bờ đến đảo Nghi-sơn. Đại ca có biết lội không? Chúng ta nhảy xuống lội sang bờ bên kia đi.
Nghiêm Sơn sống ở vùng rừng núi, có khi quanh năm không nhìn thấy sông, chàng lội rất dở. Chàng thấy sông Hồng mênh mông chảy siết thì trong lòng đã sợ rồi, thì còn nói gì đến bơi sang bờ bên kia nữa.
Chàng lắc đầu:
– Ta bơi rất dở. Và dù có bơi giỏi đến mấy chăng nữa, nước sông chảy siết như thế này, làm sao bơi qua được.
Thiều Hoa cười khanh khách:
– Đại ca không biết đâu. Nó là con rái cá đất Cửu-chân đấy. Trong tất cả sư huynh muội trong nhà, nó là người lội giỏi nhất. Bọn chúng “em” chỉ luyện võ trên đất mà thôi, chứ tiểu sư đệ chuyên nhảy xuống nước luyện võ. Đánh nhau trên cạn thì “em” hơn nó, chứ đánh nhau dưới nước thì không lại nó đâu.
Vô tình nàng xưng “em” với Nghiêm Sơn, chợt nghĩ lại mặt nàng đỏ như gấc.
Thời bấy giờ, tại mỗi bến đò, đều có người chở thuê. Bến đò sông Hồng vùng Long-biên là nơi khách qua lại suốt ngày, trên bờ có mấy quán nước, bán hoa quả, bánh trái. Nhà đò có năm, sáu nhóm khác nhau. Đò ở đây lớn như thuyền đinh. Bến đò có năm cái thuyền lớn đậu sẵn. Phu đò thấy một người đàn ông, một thiếu nữ và một đứa trẻ, cưỡi ngựa, trang phục theo người Việt. Họ đoán đây là một Lạc-hầu, Lạc-tướng, nên lễ phép hỏi:
– Chẳng hay Lạc-hầu cần dùng mấy đò?
Thiều Hoa đã dặn Nghiêm Sơn không nên nói nhiều, sợ bị lộ hình tích, mọi sự do nàng và Đào Kỳ xếp đặt:
– Chúng tôi có ba người và ba ngựa, thì cần mấy đò? Giá chở bao nhiêu tiền?
Người chủ đò nói:
– Thưa cô nương, cần một đò cho ngựa, và một đò cho người. Xin cô nương cho một trăm đồng.
Sự thực giá thuê một đò qua sông như vậy giá có 20 đồng. Nhà đò đòi gấp năm lần, mà Thiều Hoa vẫn vui vẻ:
– Được, tôi trả cho ông 150 đồng. Thôi, dắt ngựa xuống đò đi.
Đò bắt đầu rời bến, nước sông đỏ như màu máu, dập dềnh chảy siết. Lần đầu tiên Đào Kỳ được đi đò trên con sông chảy siết như thế này, nó thích lắm.
Thiều Hoa là người tinh tế, nàng chú ý đến đám nhà đò. Con thuyền lớn như vậy mà chỉ có một người lái, hai người chèo. Mỗi lần người chèo kéo mái, con thuyền vọt lên trước như cưỡi trên sóng.
Nàng nghĩ thầm:
– Có lẽ họ chèo đò lâu rồi thành quen như mình luyện nội công vậy chăng? Hay là họ có võ công cao cường? Khó mà biết được.
Đò đã đến giữa sông.
Đào Kỳ hỏi người chèo đò:
– Này anh, anh cho tôi chèo một tí được không?
Người chèo đò hỏi:
– Tiểu công tử, công tử đã chèo đò bao giờ chưa? Nếu chưa thì đừng chèo, lỡ ra thuyền bị lật úp thì chết hết.
Đào Kỳ nói:
– Tôi đã chèo thuyền trên biển nhiều lần, nhưng chưa chèo trên sông bao giờ. Bởi vậy mới xin anh cho chèo thử.
Con đò tự nhiên đổi hướng, trôi theo giòng, chứ không sang ngang nữa.
Thiều Hoa bảo người lái đò:
– Này ông lái, chúng tôi muốn sang ngang sông, chứ không muốn đi xa, xin ông quay lại cho.
Người lái đò không trả lời, cất tiếng hát, giọng rất cao:
Ba mươi tết, tết lại ba mươi,
Vợ thằng Ngô đốt vàng cho chú Khách.
Đây là bài hát của dân gian. Thời bấy giờ Việt bị Trung Hoa cai trị đã 184 năm, mối uất hận không nơi phát tiết, họ thường đặt ra những câu ca dao để châm biếm những người Việt xu phụ người Hán. Mục tiêu đầu tiên của họ là những người con gái Việt lấy chồng Hán. Họ gọi người Hán là “Thằng Ngô,” là “Chú Khách.” Ngô nguyên là một nước nhỏ ở cạnh nước Việt hồi Chiến– quốc, sau bị Tần đồng hoá, một số người Ngô chạy sang tỵ nạn ở nước Việt. Người Việt gọi họ là “Thằng Ngô.”
Thiều Hoa nghe câu hát chột dạ:
– Không lẽ người lái đò đã biết Nghiêm đại ca là người Hán, nên hát câu này để chửi xéo ta?
Người lái đò vẫn cho đò xuôi giòng nói:
– Cô nương không biết đấy thôi, nước chảy thì mạnh, mà sức người có hạn, nên phải cho chạy xuôi giòng, mũi hơi hướng sang bên kia bờ.
Ông dùng chân kẹp tay lái, mắt mơ màng nhìn về hạ lưu mịt mờ xa xa tận chân trời, rồi rút ra ở sau lưng một ống tiêu bằng trúc, đưa lên miệng thổi. Tiếng tiêu bay ra xa, dội vào sóng nước, vang trở lại hợp với tiếng tiêu thành một âm điệu kéo dài, sầu thảm dằng dặc. Khi thì bay bổng lên cao tản ra bầu trời xanh biếc mùa thu.
Đào Kỳ nói với ông lái:
– Này bác ơi! Tôi thấy ở mỗi con đò ngang, có người kéo nhị, có người đánh đàn, mà chưa bao giờ thấy người thổi tiêu. Bác lái ơi, bác vừa lái vừa thổi tiêu mà tiếng tiêu khi thì như khóc, như than của mối hờn vong quốc. Khi thì sầu thảm của người anh hùng không gặp thời. Có lúc lại đổi giọng hùng tráng như Hạng Võ từ Sở vượt sông đánh Tần. Khúc này tôi chưa từng nghe qua bao giờ.
Người lái đò:
– Tiểu công tử. Tôi nghe công tử nói tiếng hơi nặng, dường như ở miền Cửu-chân mới ra. Công tử còn nhỏ, mà đã nhận được tiếng tiêu mang giọng sầu thảm vô tận của người anh hùng, quả thực công tử là người tài tử vậy. Công tử có biết bài tiêu vừa rồi tên gì không?
Đào Kỳ nói:
– Tôi không biết âm nhạc, vả lại khúc tiêu vừa rồi tôi nghe lần đầu, nên không biết tên. Cứ nhìn nét mặt say sưa của bác, tôi biết bác là người soạn ra khúc nhạc này vậy.
Người lái đò chắp tay vái Đào Kỳ:
__ Thực là tri âm hạnh ngộ. Khúc đó tên là Cổ-loa di hận vậy. Đây là tiếng của những anh hùng khi qua Cổ-loa, nhìn bia tàn cây cỗi, nghe tiếng quốc kêu, như dục đã, như bồi hồi nhớ lại thời An-dương vương thủa xưa anh hùng là vậy, mà nay thì đâu? Để tôi thổi một khúc nữa, nhờ tiểu công tử phẩm bình.
Ghi chú của thuật giả:
Khúc Cổ-loa di hận được lưu truyền cho đến nay. Hồi thơ ấu, thuật giả thường được nhũ mẫu tấu đàn tranh và hát cho nghe khúc này nhiều lần dù bà là người... Trung-quốc. Tương truyền, tác giả là anh hùng dân tộc Nguyễn Tam Trinh sáng tác ra. Nguyễn Tam Trinh cũng là tổ của môn vật tộc Việt.
Người lái đò lại thổi một khúc khác, lần này tiếng tiêu nồng nàn, nhưng buồn man nác, đầy vẻ yêu đương. Tiếng tiêu dứt, mà Nghiêm Sơn, Thiều Hoa vẫn còn ngồi ngơ ngẩn xuất hồn.
Người lái đò hỏi Đào Kỳ:
– Xin công tử dạy cho ít lời.
Đào Kỳ nói:
– Khúc này khác khúc trước. Khi thì đầm ấm như tình yêu đôi lứa trên sông. Khi thì nỉ non như thiếu nữ phòng khuê một mình nhớ tình quân. Khi thì nức nở như đôi trai gái yêu nhau mà tình chẳng tròn. Này ông lái, đó là khúc gì vậy?
Người lái đò chắp tay vái một lần nữa:
– Tiểu công tử thực thông tuệ khác thường, đúng là tri kỷ của ta. Từ ngày ta soạn khúc này đến giờ, chưa một ai hiểu ta. Người hiểu ta đầu tiên là công tử đó. Khúc nhạc này có tên Trường hận Trương Chi. Công tử, công tử có thể cho ta biết quý danh được không?
Ghi chú của thuật giả:
Khúc Trường-hận Trương Chi tương truyền do Trương Chi sáng tác. Sau được anh hùng Nguyễn Tam Trinh sửa đổi, gọi là Trường-hận Trương Chi. Nay thất truyền.
Đào Kỳ vỗ tay khen:
– Thì ra là khúc Trường-hận Trương Chi. Tôi nghe nói thời Hùng vương có một người đánh cá tên Trương Chi. Người chàng thực xấu, nhưng tiếng tiêu, tiếng hát của chàng thì thực hay. Một ngày kia chàng đánh cá trong đêm trăng, thả đò giữa sông, thổi khúc tiêu vào với mây nước. Khúc tiêu bay đến phòng Mỵ Nương, con quan thừa tướng. Nàng Mỵ Nương yêu thương người nghệ sĩ, mà không thấy mặt. Rồi có thời, Trương Chi bị bệnh không đánh cá đêm, tiếng tiêu không còn đưa tới lầu Mỵ Nương. Nàng tưởng nhớ tiếng tiêu, tiếng hát mà thành bệnh. Các thầy thuốc đều không tìm ra bệnh Mỵ Nương, tưởng rằng nàng phải chết. Không ngờ đêm trăng sáng, Trương Chi lại chèo đò đánh cá, thổi tiêu. Mỵ Nương nghe tiếng tiêu của chàng trăm bệnh đều khỏi. Quan thừa tướng tìm ra cội rễ bệnh của con, người cho gọi Trương Chi đến để coi mặt. Khi Trương Chi bước vào, Mỵ Nương thấy mặt chàng xấu xí thì đuổi ra. Trương Chi bị đuổi, cảm thấy nhục nhã, nhảy xuống sông mà chết. Từ đó đêm đêm, hồn chàng hiện về, thổi tiêu, hát vang vang bên sông. Mỵ Nương thấy chàng chết, hối hận, đêm núp bên bụi trúc bên sông, để nghe tiếng tiêu của chàng. Nước mắt nàng nhỏ vào bụi trúc, nên ngày nay trúc đều có vằn như giọt lệ.
Người lái đò gật đầu:
– Công tử nhỏ tuổi, mà đã biết được những kỳ tích của thời Hùng vương. Công tử vẫn chưa cho tôi được biết cao danh, quý tánh?
Đào Kỳ nói:
– Cao danh thì không có đâu. Tôi họ Đào, tên Kỳ.
Ông lái đò giật mình:
– Chẳng hay công tử với Lạc-hầu Đào Thế Kiệt, nổi danh là Cửu-chân song kiệt có liên hệ gì?
Thiều Hoa liếc mắt chờ Đào Kỳ, nó hiểu ý sư tỷ, đáp:
– Cửu-chân có tới năm trang họ Đào, gia phụ tuy họ Đào, nhưng không phải là Cửu-chân song kiệt.
Người lái đò nói:
– Tôi hằng ngưỡng mộ danh tiếng Đào hầu từ lâu. Nghe ngài là người võ công bậc nhất vùng Cửu-chân. Dường như mới đây Đào trang bị quân Hán đánh phá, không hiểu ngài có còn tại thế không?
Đào Kỳ hỏi:
– Thì ra ông cũng là người có tâm huyết với đất nước. Chúng tôi cả gan dám thỉnh quý tính đại danh?
Đáp:
– Tôi họ Nguyễn, tên Tam Trinh.
Thiều Hoa, Nghiêm Sơn cùng úi cha lên một lúc. Còn Đào Kỳ nói:
– Thì ra là Đệ-tứ thái-bảo Sài-sơn, Nguyễn tiên sinh, sấng tổ về môn vật. Chúng tôi có mắt không ngươi, thực là khiếm lễ.
Đào Kỳ, Thiều Hoa đồng chắp tay hành lễ.
Ông lái đò chắp tay đáp lễ:
– Không dám! Không dám! Chẳng hay nhị vị đến Long-biên có chuyện gì? Đường Cửu-chân đến Long-biên xa diệu vợi, đất Long-biên là nơi rồng nằm hổ phục, phải cẩn thận.
Thiều Hoa nói:
– Cảm tạ lão bá có lời dạy dỗ, chị em chúng tôi xin ghi lòng tạc dạ.
Tam Trinh nói:
– Các anh hùng Lĩnh-nam đều tụ ở đất Long-biên. Bọn chó săn tai mắt người Hán cũng không ít. Chư vị phải cẩn thận. Chư vị cải trang như thế này, che mắt dân chúng thì được, chứ che mắt những hào kiệt thì không được đâu, họ nhìn sơ là biết liền.
Đào Kỳ lễ phép hơn, nó tự xưng là cháu, không dám xưng tôi nữa:
– Lão bá, chẳng hay chúng cháu hoá trang có chỗ nào sơ hở?
Tam Trinh cười:
– Công tử cùng sư tỷ thì không có chỗ nào sơ hở cả. Nhưng vị đại nhân đây thì sơ hở nhiều. Thứ nhất là ba con ngựa đều là giống ở phương Bắc, không phải ngựa của Âu-lạc, Văn-lang. Kiếm của hai vị đúng là kiếm Âu– lạc, dài mà nhỏ. Còn kiếm của vị đại nhân đây là kiếm của vùng Hợp-phố. Ha... ha... các phái võ ở Cửu-chân đều chống giặc Hán. Hai vị là đệ tử danh gia, cớ sao lại nhẹ thể đi cùng với tên quan Hán này?
Thình lình, Tam Trinh đứng dậy phát chưởng hướng Nghiêm Sơn đánh liền. Nghiêm Sơn tuyệt không đề phòng, vì Tam Trinh đang nói, không có dấu hiệu, triệu chứng gì cả. Chiêu phát như vũ bão. Nghiêm Sơn xuất chưởng đỡ.
Bình một tiếng cả hai lảo đảo lùi lại. Nghiêm Sơn bị thuyền lắc lư đứng không vững.
Tam Trinh kêu lên:
– Giỏi! Thì ra một cao thủ người Hán. Tiếp một chưởng nữa của ta.
Ông lão phóng chưởng ra. Nghiêm Sơn vận đủ mười thành công lực đánh lại. Bùng một tiếng, con đò nghiêng đi. Nghiêm Sơn nhảy lên để khỏi bị ngã. Tam Trinh quét một cước ngang chân y. Trong khi đó, hai người chèo thuyền cũng cầm chèo làm vũ khí giao chiến với Thiều Hoa và Đào Kỳ.
Con đò không người lái, quay tròn giữa sông, rồi lật úp. Cả bọn chìm xuống sông. Đào Kỳ lặn ra xa, rồi trồi lên. Nó thấy Nghiêm Sơn đã bị bắt.
Thiều Hoa còn đang chống trả.
Đào Kỳ kêu lớn:
– Mai-động lão bá, đừng hiểu lầm, người nhà cả mà.
Còn con thuyền chở ngựa đã chèo đến, vớt bọn Tam Trinh cùng hai người chèo đò. Họ lôi Nghiêm Sơn, Thiều Hoa lên.
Tam Trinh gọi Đào Kỳ:
– Đào công tử, nhảy lên thôi!
Đào Kỳ nhảy vọt lên thuyền đáp xuống bên sư tỷ, thì thuyền đã cập vào một thôn bên sông.
Tam Trinh hỏi Thiều Hoa:
– Xin cô nương cho biết quý tính phương danh?
Đào Kỳ đáp:
– Sư tỷ của cháu họ Hoàng, tên Thiều Hoa.
Tam Trinh nói:
– Đào tiểu công tử là tri kỷ của ta. Ta không làm khó dễ công tử cùng sư tỷ đâu. Bèo mây gặp nhau, xin ghé thôn trang để cùng uống trà nên chăng?
Đào Kỳ thấy Tam Trinh võ công cao cường. Bắt người mà vẫn nói năng nho nhã, từ tốn, khiến nó tự nhủ thầm:
– Cha ta thường nói, phái Sài-sơn là đời sau của Phù-đổng Thiên-vương. Hiện phái này có tám vị Thái-bảo, võ công đạo hạnh khó ai sánh kịp. Họ là người tập võ, nhưng tiêu dao, phơi phới như tiên. Vị này là vị thứ tư, hèn chi nói năng nhẹ nhàng, hành động lịch sự.
Nó nói:
– Được cao nhân cho nghe nhạc, lại chở qua sông, ở đời dễ mấy khi có duyên kỳ ngộ. Nhưng còn vị đại ca của chúng tôi, tiên sinh định đối phó như thế nào đây?
Nguyễn Tam Trinh cười:
– Tôi cần biết y là ai đã? Dù là ai chăng nữa, thì cũng phải nộp trâu, bò để chuộc mạng theo thể lệ Lĩnh-nam. Nhưng y là quan Hán, thả ra thì dễ, lỡ ra y mang quân đến trả thù thì sao?


Đăng nhập để trả lời
0
[sm=welcome.gif] CDDLT đến với thư quán.

Xin chân thành cảm ơn bạn đã đóng góp cho thư quán.

Nhưng NH thấy truyện nầy MS đã mang vào thư viện rồi.

http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nnn4n2nnn31n343tq83a3q3m3237nvn

Chắc bạn quên đọc Thông Báo [8D][:D]. CDDLT nên duyệt qua ở mục Sách Truyện - theo tên tác giả, tên truyện... trước khi gõ bài... để bạn khỏi phải mất công gõ / hay đăng truyện đã có rồi.

Vậy đi nha. Bạn khỏi gõ tiếp... Nếu như bạn có phần tiếp tục mà Thư viện VNTQ không có thì phiền bạn giúp cho.

Cảm ơn bạn thật nhiều và chúc bạn tìm thấy những giây phút thoải mái ở VNTQ.

Chúc CDDLT vui vẻ, an lành.[:)]
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
Cảm ơn NHDT nhắc nhở, tôi đã xem lại và thấy truyện này có rồi, vậy thì tôi sẽ gửi phần còn thiếu của bộ Động đình hồ ngoại sử (từ chương 4 trở đi) và các bộ khác của YTCS Trần Đại Sỹ : Anh Hùng Tiêu Sơn, Thuận Thiên di sử, Anh hùng Bắc cương, Anh linh thần võ tộc Việt, Nam Quốc sơn hà...
Đăng nhập để trả lời
0