📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Động đình hồ ngoại sử (từ chương 4 trở đi)

3 trả lời, 765 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2004-12-23 02:49:05NuHiepDeThuong>
HỒI THỨ 4

Ai ngờ đôi lứa thiếu niên;
Quan sơn để cách hàn huyên bao đành.


(Chinh phụ ngâm khúc)



Đào Kỳ đã có chủ trương trước, đi đâu chàng cũng thi ân bố đức cho dân, để gây tiếng tăm cho đất Lĩnh-nam. Đạo quân của chàng có 15 vạn, bây giờ thêm quân Thục đầu hàng nữa thành 20 vạn. Chàng tuyển nhân sĩ địa phương có tài có đức bổ làm huyện-úy, huyện-lệnh. Tính từ hôm rời Quế-lâm đến giờ, mới gần một tháng mà chàng đã chiếm được suốt một giải Tây-nam Ích-châu. Nhờ anh em họ Vương, chàng biết hét quân tình đất Thục. Chàng cử Vương Lộc đi với Nguyễn Nhân dò thám tin tức đạo quân Kim-sơn của Đinh Công-Thắng và Triệu Anh-Vũ.

Theo đề nghị của Vương Phúc, chàng dời tổng hành dinh lên Tây-xương, uy hiếp thành Việt-tây. Hôm qua thám mã về báo cho biết: Tại Thành-đô biết tin mất năm quận phía Nam bối rối vô cùng. Công-tôn Thuật ra lệnh cho con rể là Phan Hào giữ vững thành không được giao chiến. Vì vậy các thành Việt-tây, Mỹ-cơ không mở cửa, không biết tình hình bên trong như thế nào.

Hôm sau có tin Nam-hải nữ hiệp di bản doanh tới nơi. Đào Kỳ vội vàng cùng Thiều-Hoa ra ngoài đón. Nam-hải nữ hiệp nhìn chàng cười:
– Ta để hậu cứ cho Lương Hồng-Châu với Lê Ngọc Trinh coi. Ta vào đây trấn thủ phía sau để cháu tiến vào Thành-đô.
Thiều-Hoa giới thiệu anh em họ Vương với Nam-hải nữ hiệp. Bà cầm tay ba người nói:
– Ta không bảo cháu hàng Hán là đi vào con đường tốt. Nhưng ta thấy cháu có con mắt tinh đời giữa trận tiền kết bạn với Đào Kỳ, Thiều-Hoa mới là khí phách đại trượng phu. Ta nghe nói nội công của cháu âm dương điều hòa hơi giống nội công của ta. Vậy cháu thử đánh một chưởng để ta so sánh với võ công Sài-sơn xem thế nào.

Vương Phúc thấy Đào Kỳ cung kính một thiếu phụ trên 50 tuổi, dáng người mảnh khảnh, đẹp đẽ, thì cũng kính cẩn theo. Nhưng chàng không tin võ công bà ta bằng mình. Bà còn bảo chàng phóng chưởng để khảo hạch võ công mình. Lòng tự ái nổi dậy, chàng hít một hơi phóng một chiêu đánh vào người bà. Chàng sợ làm bà bị thương e Đào Kỳ buồn, nên chỉ phát có năm thành công lực. Nam-hải nữ hiệp đưa tay đỡ nhẹ nhàng. Bộp một cái, chưởng của Vương Phúc biến mất tăm mất tích. Hổ thẹn quá, chàng vận đủ mười thành công lực, phóng một chiêu cực kỳ vũ bão. Chưởng phong ào ào chụp vào người bà. Bà nhàn nhã đưa chưởng đỡ. Bộp một cái, chưởng của chàng lại mất tích lần nữa. Bà nói:
– Giỏi lắm! Chưởng của cháu cương nhu gồm đủ. Với tuổi này trên đời ít người bằng được.
Vương Phúc kinh ngạc, tự an ủi:
– Bà ở vai sư bá Đào Kỳ dĩ nhiên võ công phải cao cường rồi.
Đào Kỳ sai đặt tiệc đãi Nam-hải nữ hiệp. Tiệc nữa chừng, bà nói:
– Vùng Đức-xương gồm các thành Đức-xương, Độ-khẩu, Phổ-dịch, Phổ-khách và Tây-xương. Trước do Vương Phúc trấn nhậm, bây giờ ta cử Vương Thọ thống lĩnh. Chức mới của Vương Thọ là Bình-nam đại tướng quân. Cháu được toàn quyền trong vùng. Đợi chiếm xong Việt-tây, ta cử Vương Lộc làm trấn thủ. Còn Vương Phúc trấn thủ Long-xương. Như vậy nửa Ích-châu thuộc anh em Vương-gia quản lĩnh. Bây giờ chúng ta tiến quân đánh Mỹ-cơ trước, để bắt tay với Đinh Công-Thắng.
Vương Phúc thiết kế:
– Thành Mỹ-cơ nằm trên đỉnh núi. Phía trước có mười đồn nhỏ đóng bảo vệ. Các đồn nằm cạnh khe núi địa thế hiểm trở. Tướng giữ thành võ công tầm thường, nhưng mưu trí tuyệt vời, y tên Trần Thanh-Nhiên. Quân mã tổng số độ hơn một vạn. Trong thành lương thực đầy đủ, ăn đến ba năm mới hết. Chúng ta cần cho người lẻn vào làm nội ứng đánh úp thì mới thành công.
Đào Kỳ chắp tay nói:
– Xin Nam-hải sư bá cùng với sư tỷ Thiều-Hoa ở nhà điều khiển ba quân, cháu với Vương Phúc, Giao-long nữ thám thính Mỹ-cơ xem sự thể thế nào đã.
Giao-long nữ thấy việc gì Đào Kỳ cũng gọi mình thì thích lắm bèn lên ngựa cùng đi. Nàng hỏi Vương Phúc:
– Vương đại ca! Hôm trước đại ca kể rằng thân phụ là Nguyên soái của Ngỗi Hiêu. Công-tôn Thuật cử Triệu Khuôn đi cứu rồi chiếm mất đất, rồi đoạt quân binh và giết lão bá. Bây giờ đại ca đầu hàng Lĩnh-nam, chúng tôi sẽ giúp đại ca báo thù.
Vương Phúc chắp tay:
– Đa tạ sư muội trước. Bây giờ tôi đề nghị thế này. Chúng ta giả làm thợ săn đến Mỹ-cơ bắn thú rừng. Đào đại ca và Trần cô nương nói tiếng Tứ-xuyên không được rõ ràng, không cần lên tiếng, để cho tôi lo liệu mọi việc. Trước khi đến Mỹ-cơ phải qua rừng Kê-sơn, chúng ta vào đó săn thú, mang ra chợ bán. Ngựa chúng ta cỡi là chiến mã, dễ bị lộ, chúng ta phải đi bằng ngựa của dân.
Trần Quốc khen ngợi:
– Vương đại-ca quả thực là một tướng giỏi. Giá Công-tôn Thuật không phải là kẻ thù của đại-ca thì chúng tôi khó mà lấy được Độ-khẩu.
Câu nói của nàng đúng với ý nghĩ của Đào Kỳ. Ba người thay quần áo dân, lên ngựa đi. Trời mùa Đông, rừng núi thê lương hiu quạnh. Đến trưa thì tới rừng Kê-sơn. Vương Phúc dẫn hai người vào rừng. Chàng chỉ xuống suối:
– Về mùa này, rừng núi khô, ở đây có con suối thú vật thường đến đây uống nước. Chúng ta chỉ cần đi theo suối là có thú.
Hơn một giờ sau, ba người bắn được nào gà, nào trĩ, nào công hàng chục con. Đi một giờ nữa, thấy bên kia suối có một con nai mẹ đang uống nước với nai con. Trần Quốc giương cung định bắn, thì Vương Phúc cản lại:
– Cô nương, nếu cô nương bắn nai mẹ, thì nai con sẽ sống ra sao? Còn bắn chết con thì nai mẹ sẽ đau đớn mà chết. Thôi ta tha cho chúng.
Nguyên Vương Phúc mồ côi mẹ từ thuở còn thơ. Tuy chàng được một vương-phi của Công-tôn Thuật nuôi dưỡng coi chàng như con đẻ, mà lòng chàng luôn luôn nghĩ đến mẹ. Trí nhớ chàng trở về tuổi lên ba, không giúp chàng hình dung được khuôn mặt của mẹ như thế nào. Một mặt nhớ mẹ thương cha, một mặt chàng giả vờ quên dĩ vãng đi, vì sợ Công-tôn Thuật khám phá ra. Nay thấy mẹ con đôi nai nhởn nhơ uống nước, động tâm linh, chàng cản không cho Trần Quốc bắn chúng.
Trần Quốc cảm động:
– Vương đại-ca quả là người nhân từ hiếm có.
Đào Kỳ cũng nói:
– Đất Lĩnh-nam chúng tôi trọng nhất là người đạo đức, rồi mới tới tài. Bàn về võ công thì sư bá Nam-hải không phải là nhất, nhưng sư bá là người nhân từ, đạo đức nhất. Vì vậy khắp nơi đều kính trọng ngài. Như phái Tản-viên võ công cao nhất là Khất đại-phu, Lê Đạo-Sinh. Thế nhưng đại-phu được kính trọng tuyệt đối vì ngài đạo đức. Dưới ngài có Nhị Trưng, đạo đức, khiêm tốn, nên chúng tôi kính trọng như bậc trên vậy. Sau này gặp đội quân Kinh-châu, đại ca sẽ có dịp biết sư tỷ Trưng Nhị.
Vương Phúc nói:
– Từ hôm gặp Đào đại-ca đến giờ, tôi muốn hỏi một câu mà mãi hôm nay mới dám. Đó là tại sao ở Lĩnh-nam có nhiều phụ nữ giỏi như vậy?
Đào Kỳ nhìn Trần Quốc đáp:
– Phụ nữ ở đâu cũng vẫn là phụ nữ. Họ có đủ tính năng như đàn ông con trai. Tùy theo hoàn cảnh sinh sống, giáo dục, phát triển tài năng của họ. Lĩnh-nam khác Trung-nguyên. Trung-nguyên ảnh hưởng của Nho-giáo, nào là Nam tại ngoại, nữ tại nội, nào là Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô. Coi người phụ nữ như đầy tớ, không cho học hành, không cho làm việc lớn, thành ra họ không có khả năng phát triển. Người phụ nữ sinh ra, đã nghĩ đến phục tùng chồng, nghĩ đến hầu hạ chồng, nghĩ đến việc chui đầu vào, chổng đít ra ở bếp... Thông tuệ mòn đi thật đáng tiếc. Còn người phụ nữ Lĩnh-nam thì ngược lại, khi họ sinh ra đời, họ nghĩ họ cũng làm được những chuyện như đàn ông, tư tưởng phát triển mạnh. Chính phu nhân của tôi hiện là đệ nhất quân sư của Lĩnh-nam vương. Sư tỷ của tôi đường đường là Lĩnh-nam vương phi cao quý biết mấy, nhưng vẫn làm đại tướng xuất trận.
Bỗng Vương Phúc chỉ xuống suối:
– Kìa! Con gấu đen đang bơi. Nếu bắt sống thì bán được nhiều tiền lắm. Vùng này ít ai bẫy được gấu.
Trần Quốc cười khúc khích vẫy tay làm hiệu :
– Để tôi bắt sống !
Nói rồi nàng nhảy ùm xuống suối lặn mất. Con gấu vẫn bơi đằng xa có ngờ đâu Trần Quốc lặn dưới lòng suối bắt nó. Vèo một tiếng, sợi dây từ dưới nước vọt lên không, bay đến chụp vào cổ gấu. Con gấu thụp xuống suối lặn mất, sợi dây chụp vào khoảng không. Một khắc sau, từ dưới đáy suối, sóng cuồn cuộn nổi lên. Suối trong veo biến thành đục ngầu. Rồi Trần Quốc từ dưới nước vọt lên như con cá chép, đáp vào bờ. Tay nàng cầm sợi dây đưa cho Đào Kỳ :
– Anh Kỳ giúp em một tay.
Đào Kỳ cầm lấy sợi dây giật mạnh. Con gấu từ dưới lòng suối bay vọt lên không, từ từ rơi xuống cạnh Vương Phúc. Vương Phúc vung tay thành cầm nã thủ, túm cổ nó đè xuống. Trần Quốc reo lên chạy đến trói lại.
Đào Kỳ chặt cành cây làm đòn gánh, nói :
– Chúng ta khiêng ra chỗ cột ngựa chở đến Mỹ-cơ bán.
Bỗng có tiếng nói :
– Khoan ! Các người giỏi lắm, để con gấu lại, ta muốn mua.
Rồi có hai người phi ngựa đến. Vương Phúc nhận ra đó là Thái-thú Mỹ-cơ Trần Thanh-Nhiên và em y là Trần Thanh-Triết. Hai anh em y không nhận ra Vương Phúc, vì chàng đã hóa trang thành một người già, bôi đất vào mặt, da hóa ra vàng khè. Vương Phúc giả vờ không biết anh em họ Trần, hỏi :
– Chẳng hay các vị định mua con gấu này bao nhiêu tiền ?
Trần Thanh-Nhiên ngắm nghía con gấu đáp :
– Chà lông đẹp quá. Con gấu này già lắm rồi, thọ ít ra trăm tuổi rồi. Các người định bán bao nhiêu tiền ?
Vương Phúc chối :
– Chúng tôi không bán, định mang về lột da làm áo, lấy mật làm thuốc, nhưng nếu các vị trả giá cao tôi cũng bán. Xin các vị cho 20 lượng bạc.
Thực ra con gấu chỉ đáng giá 10 lượng. Vương Phúc đòi quá đi để anh em họ Trần không mua, chàng mới có cớ mang vào thành Mỹ-cơ. Không ngờ Trần Thanh-Triết đồng ý :
– Tôi trả 20 lượng, phiền các vị mang về thành Mỹ-cơ cho tôi.
Trần Thanh-Nhiên chợt nhớ ra điều gì hỏi :
– Vị cô nương này tuổi chưa tới 18 mà bơi lặn giỏi như thế, thật hiếm thấy trên thế gian. Cô lặn dưới suối đánh vật với gấu, cột được cổ nó.
Vương Phúc trả lời thay :
– Biểu muội tôi không tập võ, nhưng chúng tôi sống bằng nghề săn bắn từ nhỏ, tạo thành bản lĩnh bắt gấu dưới nước.
Trần Thanh-Nhiên bảo Vương Phúc :
– Các ngươi mang gấu về Mỹ-cơ, ta trả đủ 20 lương bạc.
Không dừng được Vương Phúc vẫy Đào Kỳ, Trần Quốc đi theo. Chàng cột gấu lên lưng một con ngựa, rồi cỡi chung ngựa với Đào Kỳ đi theo anh em họ Trần.
Ra tới đường, anh em họ Trần có thêm 20 kỵ binh theo hầu. Trần Quốc đi sát Đào Kỳ ra hiệu, ngụ ý hỏi có nên bắt sống anh em Trần Thanh-Nhiên không ? Đào Kỳ lắc đầu, tỏ ý chờ xem đã.

Hơn giờ sau tới thành Mỹ-cơ. Thành nằm trên ngọn đồi thoai thoải, dựa lưng vào dãy núi đá cao chót vót. Thác nước từ trên núi đá rót vào thành tạo thành tiếng kêu ào ào. Nước từ trong chảy ra ngoài thành hai con suối rộng. Nước suối trong xanh, chảy quanh lấy thành như một con rắn uốn khúc. Dọc theo suối 10 đồn binh xây bằng đá, ngoài có hàng rào bằng cọc gỗ. Anh em Trần Thanh-Nhiên đi lên sườn núi, binh sĩ trông thấy y, hành lễ theo quân cách.

Thành Mỹ-cơ không lớn, xây bằng đá, cao hơn mười trượng. Mặt thành rộng, thiết kỵ đi đi lại lại tuần tiễu nghiêm mật. Đào Kỳ thấy địa thế hiểm trở, đưa mắt nhìn Vương Phúc, nghĩ đến lời bàn của Phúc : Nếu không có nội ứng, thì không đánh được.

Đến dinh trấn thủ, Trần Thanh-Nhiên sai lấy bạc trả Vương Phúc. Y cầm bình rượu rót hai ly mời Vương Phúc, Đào Kỳ, nói :
– Duyên may gặp gỡ, trọn đời ta kính phục những tráng sĩ tài ba, nay gặp các vị xin cạn một ly gọi là duyên kỳ ngộ.
Vương Phúc, Đào Kỳ cầm ly uống liền. Đào Kỳ uống vào cảm thấy rượu có mùi vị khác lạ. Chàng nghĩ chưa ra mùi vị gì, thì thấy Vương Phúc loạng choạng, ôm đầu kêu lên :
– Rượu có thuốc độc.
Nội công Đào Kỳ cực thâm hậu, chàng vận khí mửa rượu ra, thì thấy đầu óc quay cuồng. Chàng nghiến răng vận đủ mười thành công lực, hướng Trần Thanh-Nhiên phát chưởng. Thanh-Nhiên kinh hoàng lăn tròn dưới đất tránh. Chưởng trúng vào cái sập gụ giữa nhà, bình một tiếng, cái sập gụ nặng nề bay khỏi phòng, văng ra giữa sân, rơi xuống vỡ làm mấy mảnh.
Trần Quốc quát lên, tấn công Trần Thanh-Triết. Chỉ ba chiêu y phải lùi ra ngoài sân.
Đám vệ sĩ Mỹ-cơ ào ào vây phủ. Trần Quốc đánh liền ba chưởng đẩy lui, rồi hướng ngọn suối ngoài cổng thành chạy ra. Trần Thanh-Triết hô vệ sĩ đuổi theo. Trần Quốc chạy đến cây cầu đứng lại nói lớn :
– Thôi đời ta hết rồi ! Ta tự tận cho xong.
Rồi nàng nhảy ùm xuống sông, lặn đi thật xa. Thấy bụi cây bên đường, nàng chui vào nhô đầu lên thở, hướng mắt nhìn lại cây cầu. Đám vệ sĩ đứng trên cầu một lúc không thấy Trần Quốc, chúng cho rằng nàng chết chìm. Trần Thanh-Nhiên quan sát một lúc lâu y mới nói :
– Dù y thị lặn giỏi đến đâu cũng phải ngóc đầu lên mà thở. Ta chờ một lúc xem sao ?
Y cho vệ sị đi dọc bờ sông trong khoảng trăm trượng, canh chừng xem Trần Quốc có trồi lên thở không.Trong khi đó nàng đã lặn xa đến hàng mấy trăm trượng. Tới khu rừng hoang nàng trồi đầu lên thở. Ngó trước ngó sau không thấy ai, nàng vọt một cái nhảy lên bờ như con cá chép, đứng lại nhìn thành Mỹ-cơ phía xa xa trên đồi. Nàng thầm nghĩ :
– Từ đây tới Tây-sương xa hàng trăm dặm, đồi núi âm u, ta làm thế nào về được? Mà ta không về báo tin, ở nhà không hiểu sự tình ra sao. Hay là ta tìm cách trở lại Mỹ-cơ cứu hai người ra?
Cuối cùng nàng tìm được một lối giải quyết:
– Trần Thanh-Nhiên bắt được hai người, tất thế nào cũng giải về Việt-tây cho Phan Hào phát lạc. Ta đón đường tìm cách cứu ra là ổn thỏa nhất.
Đã có chủ định, nàng tìm bụi cây, chui vào nằm ngủ một giấc. Khi tỉnh dậy trời đã về chiều, trong bụng đói, nàng tìm cành cây vót nhọn ra sông săn cá. Nhảy xuống nước thấy cá bơi từng đàn, nàng dùng cây xiên, mỗi lần xiên là một con. Chỉ lát sau nàng đã được hàng chục con. Đem cá lên tìm hốc đá, đốt củi, nướng ăn. Những con cá suối núi, béo ngậy thơm tho, giúp nàng một bữa ăn ngon miệng. Nàng nhìn về Mỹ-cơ thấy phía trước mấy đồn là con sông. Vương Phúc nói cho nàng biết đó là sông Tây-khê Trong lúc không tìm ra kế cứu Đào Kỳ, nàng nhớ lời Phương-Dung dặn:
– Khi gặp hoàn cảnh khó khăn, cứ đặt mình là quân địch mình sẽ làm gì? Thì tự nhiên ước tính được tình hình. Bây giờ nếu nàng là Trần Thanh-Nhiên, nàng sẽ không giải Đào Kỳ, Vương Phúc bằng đường rừng tới Việt-tây, rất nguy hiểm, có thể sẽ bị quân thành Tây-xương cứu ra. Vậy thì Thanh-Nhiên sẽ ngược sông Tây-khê đến Nga-biên rồi quẹo sang Hán-nguyên. Đến Hán-nguyên là địa phận của Phan Hào.

Nghĩ như thế, nàng quyết định tìm cách về Mỹ-cơ, ẩn náu bên sông, xem chúng giải Đào Kỳ xuống thuyền nào, nàng sẽ tìm cách cứu ra. Nàng chuồn xuống nước trở về Mỹ-cơ, hai tay quay tròn, người trườn trong lòng sông như con Giao-long. Đến Mỹ-cơ nàng núp ở bụi cây bờ sông, nhìn sang đám thủy quân đứng cách đó không xa. Tất cả mười chiến thuyền lớn, hai mươi chiến thuyền nhỏ đậu thành hình chữ nhất rất nghiêm chỉnh.

Chờ đến khuya vẫn không thấy động tĩnh gì, nàng trồi lên bờ đi về phía thành Mỹ-cơ. Nàng men theo các bụi cây quanh thành, tới cửa Bắc thì có một nguồn suối chảy ào ào từ trong thành ra ngoài. Nàng lẩm bẩm:
– Thì ra thế thành này sở dĩ làm trên núi vì phía sau còn ngọn núi cao hơn, có thác nước dẫn vào, làm đường tiếp tế cho quân.
Quan sát kỹ thấy chỗ suối chảy ra có một vọng canh, mấy tên quân nói chuyện với nhau, sự canh phòng không mấy nghiêm mật lắm, nàng cười thầm.
– Nước chảy xiết thế này, thì cần gì phải canh phòng? Ai có thể vào thành bằng lối này được? Nhưng ta thì lại dễ dàng.

Nàng chui xuống suối lội ngược theo thác nước. Nước tuy chảy xiết nhưng nàng bám theo ghềnh đá mà đi. Chỉ lát sau đã vượt qua đoạn dài đến trăm trượng. Trong thành nước chảy êm hơn bên ngoài, nàng lội một quãng nữa chỗi dậy nhìn: Nàng đang ở trong cái hồ trên đỉnh núi. Phía trên hồ là thác nước từ trên cao đổ xuống. Phía dưới hồ là thác nước chảy ra ngoài thành. Vọt lên bờ hồ, đứng nhìn địa thế, nàng tìm ra dinh Thái-thú nơi Đào Kỳ, Vương Phúc bị bắt. Hướng chỗ có ánh sáng chiếu ra, nàng lặn tới. Bên ngoài dinh thự có thiết kỵ đi lại tuần hành nghiêm ngặt. Nàng vòng ra phía sau dinh, lén vào bên trong một căn nhà có khói bốc lên, thì ra đó là nhà bếp. Ngó trước, ngó sau không có ai, nàng vọt qua cửa sổ vào bếp. Trong nhà bếp có hai người thị nữ đang làm việc cùng với ba người đầu bếp. Một thị nữ nói:
– Hôm nay Trần tướng quân bắt được Bình-nam vương và một tên giặc, ngài ăn mừng. Sáng mai sẽ giải về Nga-biên. Hai người này được ngài cho ăn uống tử tế gớm!
Một đầu bếp nói:
– Không hiểu sao Bình-nam vương lại phản hoàng-thượng theo giặc?
Thị nữ ra bộ biết nhiều hơn:
– Tôi nghe thẩm vấn mới biết rằng Bình-nam vương không phải là con đẻ của hoàng-thượng. Trước đây hoàng-thượng là sư huynh của Vương Nguyên. Vương Nguyên theo Ngỗi Hiêu, được phong làm Nguyên-soái. Khi Ngỗi Hiêu bị Hán đánh thua, hoàng-thượng cử Lũng-tây vương Triệu Khuôn đi cứu. Không hiểu sau đó sự thể thế nào, Lũng-tây vương chiếm hết đất của Ngỗi Hiêu. Vương Nguyên bỏ đi mất tích. Lúc Vương Nguyên theo Ngỗi Hiêu thì ba người con bơ vơ, được hoàng-thượng đem về nuôi dưỡng phong tước vương, thế mà lại phản hoàng-thượng.
– Thế còn tên giặc đi theo?
– Bình-nam vương khai rằng y là tên quân hầu, theo dò thám mà thôi. Sáng nay còn một đứa con gái cùng đi theo. Bình-nam vương khai rằng y thị là vợ của ngài. Y thị nhảy xuống sông tự tử rồi.
Trần Quốc nghe vậy mặt nóng bừng lên. Tuy nàng biết Vương Phúc khai láo để đánh lừa Trần Thanh-Nhiên, nhưng nàng cũng cảm thấy ngượng ngập. Nói chuyện một lúc, người tỳ nữ chạy ra ngoài dường như tìm chỗ đi tiểu. Nàng vội theo bén gót, quả nhiên tới gốc cây, y thị ngồi xuống. Trần Quốc nhảy vèo đến bịt miệng, dí dao vào cổ y thị:
– Im mồm! Nếu la một tiếng, tao cắt đầu.
Nàng bắt thị nữ đi vào phòng gần đó, xé vạt áo nhét giẻ vào miệng, lấy dây lưng trói lại, rồi lột quần áo mặc vào. Nàng thản nhiên đi lên sảnh đường, đứng ngoài ghé mắt nhìn vào thấy hai anh em Trần Thanh-Nhiên đang bàn truyện, cùng với một người đàn bà tao nhã, xinh đẹp. Trần Thanh-Nhiên nói:
– Phu nhân, ngày mai tôi sẽ giải Vương Phúc với tên quan binh Hán về Hán-nguyên. Tôi nghe hoàng-thượng bí mật đến duyệt xét quân tình, vậy phu nhân nên đi gặp Hổ-oai đại tướng-quân, nhờ người dọ ý hoàng-thượng xem thế nào đã. Nếu hoàng-thượng nổi giận Vương Phúc thì tôi giải y về. Còn hoàng-thượng vẫn sủng ái y, thì tôi thả y đầu hàng Hán.
Ngừng một lát, y thở dài đáp:
– Bỗng dưng tôi gặp đại nạn. Vương Phúc đến dò thám Mỹ-cơ, tôi biết mà không bắt thì y đánh thành, tất tôi bị giết. Mà bắt y thì không biết giải quyết ra sao. Giao về hoàng-thượng, nếu mà hoàng-thượng giết y, thì tôi khó yên được với thái-hậu. Còn hoàng-thượng tha y, thì tôi cũng khó sống với y. Trăm sự tôi nhờ phu nhân lo liệu giùm, làm sao cho ổn.

Người đàn bà đó là vợ Thanh-Nhiên. Trần Thanh-Nhiên xuất thân võ không cao, văn không giỏi, nhưng nhờ cơ duyên mà trờ thành tướng trấn thủ một vùng. Vợ y là con nhà danh gia. Thị có hai chị em. Người chị lấy Nguyễn Bình, lĩnh Hổ-oai đại tướng quân cho Công-tôn Thuật. Người em lấy Thanh-Nhiên. Nhiên là Vũ-vệ hiệu-úy trong cung không ai biết đến. Vì vợ y xinh đẹp lọt vào mắt Nguyễn Bình. Thế là bề ngoài là vợ Thanh-Nhiên, bề trong là tình nhân của anh rể. Trần Thanh-Nhiên biết thế, y lờ đi, để cho vợ tằng tịu với anh rể hầu mưu cầu danh lợi. Từ một chức hiệu-úy, trở thành huyện-úy, rồi huyện-lệnh. Cuối cùng y leo lên đến chức thái-thú. Nguyễn Bình giữ chức Hổ-oai đại tướng quân, chỉ huy tất cả bọn thị vệ trong cung, y lại là em ruột Hoàng-hậu Công-tôn Thuật. Y có rất nhiều thế lực.
Trần Thanh-Nhiên bảo quân hầu:
– Ngươi dẫn tội nhân ra đây!
Quân hầu đi một lát, thì dẫn Vương Phúc, Đào Kỳ đem tới. Thanh-Nhiên chắp tay vái Vương Phúc:
– Bình-nam vương-gia! Chắc vương-gia đang tự hỏi tại sao tiểu nhân biết vương-gia mà ra tay phải không? Vương-gia ơi! Có gì đâu, tôi quen mặt vương-gia quá rồi, dù vương-gia có hóa trang khác đi đôi chút, nhưng tôi vẫn nhận ra. Vì suốt thành Mỹ-cơ này, những người thợ săn đều phải làm tế-tác cho tôi, tôi biết mặt hết. Nay tự nhiên thấy vương-gia đi cùng với một thiếu niên, một thiếu nữ thì biết là tế-tác Hán. Cho nên vương-gia đòi con gấu 20 lượng bạc, tôi vẫn mua là thế. Tôi biết vương-gia võ công cao cường, không thể dùng võ bắt, mà phải dùng thuốc mê. Tôi mời vương-gia ở đây, ngày mai đưa về Hán-nguyên để hoàng-thượng xử lý. Không biết thái-hậu có cứu được vương-gia hay không?.
Vương Phúc cười gằn:
– Ta khen ngươi tinh tế, xứng đáng là thái-thú. Nếu ta là Phan Hào, ta sẽ ban thưởng cho ngươi.
Trần Thanh-Nhiên cười nhạt:
– Người ta bảo hoàng-thượng có ba người con nuôi anh hùng quả thật không sai. Vương-gia bị ta bắt mà vẫn khẳng khái, đó là Dũng, ta dùng mưu bắt người, không oán còn khen ta, đó là Lược. Biết đầu Hán để giữ địa vị, đó là Mưu. Dù làm Bình-nam vương vẫn không quên thù cha, đó là Hiếu. Nhưng Vương-gia ơi, tại sao Vương-gia lại hàng Hán?
Vương Phúc thở dài:
– Mỗi người một chí, ngươi như con ếch nằm đáy giếng thì biết gì mà hỏi ta. Thôi ngươi mau đem ta chém đi cho rồi. Còn ngươi không dám giết ta, thì liệu mà đầu hàng. Trần Thanh-Nhiên! Ta khuyên ngươi đầu Hán, chức vụ thái-thú chỉ có thăng chứ không có giảm đâu. Ngươi nghe lời ta đi. Còn nay ngươi giải ta cho Thuật, chưa chắc y giết ta. Thái-hậu sẽ che chở cho ta. Ngươi chẳng được công trạng gì đâu ? Còn người hàng Hán, ta hứa sẽ bảo lãnh cho ngươi làm thái-thú Mỹ-cơ, hoặc ngươi có công còn được phong thứ-sử Hán-nguyên không chừng.
Trần Thanh-Nhiên nghe thuyết, biết lời Vương Phúc nói không sai, y hỏi :
– Nếu như tôi đầu hàng sẽ phải làm gì ?
Vương Phúc tiếp :
– Người có ba đường lựa chọn : Một là ngươi bỏ cờ Thục, kéo cờ Hán đem toàn bộ binh mã đầu hàng, vẫn giữ được chức thái-thú Mỹ-cơ. Còn nếu ngươi khá hơn, khi chúng ta kéo quân đánh Việt-tây, ngươi mang quân về cứu rồi bất thần mở cửa thành, cho chúng ta vào thì ngươi được làm thứ-sử. Ngươi là người nhiều mưu trí, quyết định đi, đừng dùng dằng đại nạn đến trước mắt bây giờ !
Thanh-Nhiên nghe Vương Phúc nói, tâm thần rung động, nhìn vợ rồi hỏi :
– Tướng chỉ huy đạo Lĩnh-nam có đủ quyền lực cho tôi làm thứ-sử không ?
Vương Phúc cười :
– Tướng chỉ huy đạo này là một nhân vật lỗi lạc, Lĩnh-nam vương là anh rể của người. Phó tướng đạo Lĩnh-nam chính là vương-phi Lĩnh-nam vương. Chắc ngươi có nghe nói ?
Trần Thanh-Nhiên gật đầu :
– Tôi nghe Nghiêm Sơn lấy một người con gái Việt đẹp hơn Tây Thi, võ công cao cường đấu võ với vương-gia ngang tay. Nghiêm rất kính nể bà vợ này có đúng không ?
Vương Phúc gật đầu :
– Ngươi nói đúng đấy. Đào nguyên-soái không ham công danh. Người chỉ vì tình chị gái giúp Lĩnh-nam vương mà thôi. Ngươi thấy đó, cứ đánh đến đâu Đào nguên soái cử đô-úy, huyện-úy, huyện-lệnh, thái-thú cả thứ-sử nữa. Ta cùng người đấu chưởng hẹn rằng nếu ta thua thì phải đầu hàng. Quả nhiên ta thua, người cùng ta kết nghĩa anh em, bằng hữu rất tương đắc.
Thanh-Nhiên sai người đưa Vương Phúc vào phòng giam, rồi bàn với vợ và em :
– Phu nhân ! Hiền đệ nghĩ thế nào ?.
Thanh-Triết hiện là đô-úy Mỹ-cơ, y biết chức vị của anh là do chị dâu tạo nên, do vậy y nói lảng :
– Đại-ca nên hỏi tẩu tẩu thì hơn.
Vợ Nhiên là người khôn ngoan, thị nghĩ :
– Địa vị của Nhiên là do ta tạo ra, địa vị đó có vững hay không cũng do ta. Bây giờ về hàng Hán, y coi như địa vị đó do y. Y sẽ chẳng ngần ngại gì mà bỏ ta, lấy vợ khác. Ta phải cản trở mới được.
Nghĩ vậy, thị nói :
– Em nghĩ không nên hàng. Tướng quân bắt được Vương Phúc đem giải về cho hoàng-thượng. Hoàng-thượng tất thăng chức cho tướng-quân.Việc gì đi hàng Hán, trong khi tướng quân không có thực tài, họ sẽ không ngần ngại gì mà không giết chết tướng quân.
Trần Thanh-Nhiên bị vợ điều khiển đã quen, y không dám trái ý. Y bàn :
– Bây giờ thế này. Ngày mai phu nhân đến Hán-nguyên triều kiến hoàng-thượng, tâu rằng nếu chúng ta giết được Vương Phúc sẽ được thưởng gì ? Nếu ngài đồng ý giết, ta chặt đầu y đem nộp. Còn ngài chần chừ ta sẽ đầu hàng Hán, như vậy là xong.
Bàn luận một lúc vợ chồng đi ngủ. Trần Quốc chờ cho chúng ngủ say, nàng mới mò đến căn nhà giam Đào Kỳ. Phía ngoài có hai tên quân cầm đao đi đi lại lại canh phòng. Nàng thản nhiên bước tới, tên quân canh cầm đuốc soi, tưởng nàng là tỳ nữ của thái-thú.
– Cô nương ! Cô nương tới đây có việc gì ?
Trần Quốc cố nói theo giọng Thục :
– Phu nhân dặn tôi nói với hai anh coi chững tội nhân tự tử. Nếu tội nhân tự tử hai anh sẽ bị chết chém.
Hai tên quân canh nhìn nhau :
– Ta vào trong xem sao.
Một tên đứng ngoài, một tên đi cùng Trần Quốc mở cửa bước vào nhà giam. Dưới ánh đuốc, Đào Kỳ, Vương Phúc bị trói cả chân lẫn tay nằm đó.
Nàng khép cửa lại bảo tên quân canh :
– Anh coi chừng chúng có cắn lưỡi chết không ?
Đào Kỳ nghe tiếng Trần Quốc mừng lắm, mở mắt nhìn. Tên quân canh cúi xuống kéo môi Vương Phúc coi. Trần Quốc rút dao đâm một nhát trúng tim. Y nghẹo cổ ra sau, nằm trợn mắt, nàng vội chụp lấy bó đuốc, tay cắt dây trói cho Đào Kỳ và Vương Phúc.
Đào Kỳ mừng lắm :
– Sư muội làm thế nào mà người vào được đây ?
Trần Quốc chỉ tay ra ngoài. Hai người mở hé cửa. Nàng lia dao một cái, tên quân canh đã bị giết chết tươi. Vương Phúc nói :
– Chúng ta mau đi uy hiếp Trần Thanh-Nhiên.
Ba người theo lối sau, lén vào phòng ngủ vợ chồng Thanh-Nhiên. Đào Kỳ vận âm kình đẩy mạnh một cái, cánh cửa mở tung ba người đã lọt vào phòng. Trong phòng hãy còn đèn. Vương Phúc nhảy đến dí dao vào cổ Thanh-Nhiên. Trần Quốc dí dao vào cổ vợ y. Đào Kỳ nói:
– Nếu các ngươi la một tiếng, ta giết ngay lập tức.
Trần Quốc đóng cửa lại. Đào Kỳ nói:
– Ta là Nguyên-soái Đào Kỳ đây. Bây giờ nếu người đầu hàng, ta hứa sẽ cho người làm thái-thú như cũ. Người nghĩ sao?
Trần Thanh-Nhiên nhìn vợ rồi nói:
–Tôi xin quy phục.
Đào Kỳ bảo y :
– Bây giờ chúng ta mặc giả làm quân sĩ. Ngươi hãy lấy ngựa đi cùng ta rời khỏi đây 20 dặm, sau đó ta cho người trở về. Khi ta đem quân đến, ngươi phải mở cửa đầu hàng, nếu không thì đừng trách ta.
Thanh-Nhiên sai lấy quần áo lính Thục cho ba người mặc, cùng vợ lên ngựa đi. Qua cổng thành, viên quan giữ cổng hỏi :
– Thái-thú đi đâu giữa đêm khuya vậy ?
Trần Thanh-Nhiên nghiêm nghị :
– Ta đi dọ thám quân tình.
Năm người ra khỏi cổng thành được trên 20 dặm. Đào Kỳ vận sức vào tay, phát chiêu Thiết kình phi chưởng cực kỳ mãnh liệt, đánh vào một cây lớn. Rầm một tiếng cây này đổ xuống. Thanh-Nhiên khủng khiếp đứng run run.
Đào Kỳ nói :
– Trần Thái-thú, ta nói một là một, hai là hai. Ngày mai ta đem quân đánh thành Việt-tây. Người giả bộ đem quân đi cứu viện, rồi thừa dịp vào thành, đêm mở cửa cho chúng ta vào, thì ta để cho người làm thứ-sử Hán-nguyên. Thôi thái-thú về đi.
Ba người phi ngựa trở về tới Tây-xương thì trời vừa sáng. Nam-hải nữ hiệp cùng Thiều-Hoa ra đón vào hỏi :
– Sự thể ra thế nào ?
Đào Kỳ tường thuật mọi việc.
Đào Hiển-Hiệu nói :
– Tam ca, em có lời muốn thưa với Tam-ca.
Đào Kỳ gật đầu :
– Em cứ nói.
– Tam ca được Nghiêm đại ca ủy nhiệm thống lĩnh 30 vạn hùng binh Lĩnh-nam, cầm vận mệnh mấy triệu dân chúng. Trọng trách không nhỏ. Trung-tín hầu Vũ Bão-Trung đã dạy :

« Đạo làm tướng, không làm cái gì. Không cái gì mà không làm được ».

Có nghĩa rằng bất cứ cái gì người dưới làm được thì ủy nhiệm họ, hầu họ có dịp lập công. Nhưng cái gì cũng phải biết, phải hiểu, phải trách nhiệm đó là cái gì cũng làm. Đi thám sát Mỹ-cơ, thì Tam-ca sai bất cứ một tham-tướng nào mà không được ? Việc gì Tam-ca phải đem thân vạn thặng vào chỗ nguy hiểm? Nếu không có Giao-long nữ cứu, Tam-ca bị hại, đạo Lĩnh-nam sẽ ra sao ?

Đào Kỳ đứng dậy chắp tạ lỗi :
– Anh biết lỗi, từ nay không mạo hiểm nữa. Cảm ơn em.
Thiều-Hoa nói:
– Chắc Thanh-Nhiên không đầu hàng đâu. Có khi y mưu hại chúng ta cũng nên. Cần phải cẩn thận mới được.
Đào Kỳ nhìn Vương Phúc cười. Vương Phúc nói:
– Vương-phi đừng lo, chúng tôi có kế đánh Việt-tây rồi.
Sáng hôm sau Đào Kỳ thăng trướng truyền lệnh:
– Sư huynh Nguyễn Nhân lĩnh một vạn binh tiến đánh cửa Bắc. Sư huynh Nguyễn Nghĩa dẫn một vạn binh tiến đánh cửa Tây. Sư huynh Nguyễn Lễ lĩnh một vạn binh tiến đánh cửa Nam. Sư tỷ Hoàng Thiều-Hoa lĩnh một vạn binh đánh cửa Đông. Sư bá Nam-hải tổng chỉ huy công thành. Xin sư bá đánh cầm chừng, không cần cố chiếm thành, mục đích nhử cho Trần Thanh-Nhiên đến ứng chiến. Sư tỷ Nguyễn Giao-Chi, sư muội Trần Quốc lĩnh một vạn kỵ binh phục ở rừng Chiêu-giác. Cả hai đặt dưới quyền điều khiển của sư huynh Vương Lộc, án binh tại đây. Nếu thấy binh Mỹ-cơ đến cứu Việt-tây để cho đi qua, rồi tốc thẳng chiếm Mỹ-cơ, tuyệt đường về của chúng. Còn thấy Mỹ-cơ kéo cờ Hán, cứ vào thành an dân. Sư huynh Nguyễn Tín, Nguyễn Nghĩa mỗi người lĩnh một vạn quân phục ở Ly-ty phòng quân Hán-nguyên tiếp cứu Việt-tây.

Sáng hôm sau các đội binh phát pháo đánh Việt-tây. Quân trên thành bắn tên xuống như mưa. Bên dưới bắc thang leo lên. Bên trên lăn gỗ đá xuống. Đánh đến chiều Nam-Hải nữ hiệp cho ngưng chiến nghỉ. Sáng hôm sau lại đánh tiếp. Đánh đến ngày thứ tư, khoảng trưa có thám mã báo:
– Đạo quân Mỹ-cơ kéo cờ Thục đến cứu Việt-tây.
Trên thành phát pháo mở toang bốn cửa ra giáp chiến. Nam-hải cho lệnh lui quân lại dàn trận. Hoàng Thiều-Hoa lui quân về phía cửa Nam. Thế là đạo quân Mỹ-cơ liên lạc được với đạo quân Việt-tây. Hai bên dàn trận dưới chân thành.
Phan Hào đứng trước ngựa, bên trái là Thanh-Nhiên, bên phải là Thanh-Triết, giáp sĩ đao thương sáng ngời.
Phan Hào chỉ roi sang trận Hán:
– Mời Bình-nam vương ra nói chuyện.
Vương Phúc phi ngựa ra đứng trước trận hỏi:
– Phò-mã Phan Hào, ngươi có gì muốn nói với ta?
Phan Hào cầm roi ngựa chỉ Vương Phúc nói:
– Vương Phúc! Khi phụ thân ngươi mất tích, hoàng-thượng thương tình côi cút đem ngươi về nuôi dưỡng, tin dùng, phong cho ngươi đến Bình-nam vương, thế mà ngươi nỡ lòng nào phản hoàng-thượng?
Vương Phúc nói lớn:
– Công-tôn Thuật với phụ thân ta là chỗ sư huynh, sư đệ. Khi phụ thân ta làm đại nguyên-soái cho Ngỗi Hiêu, Công-tôn Thuật cử Triệu Khuôn mang binh sang cứu, thừa cơ đoạt đất, chiếm thành, thân phụ ta bị giết chết. Thù không trả, không được. Vì vậy ta hàng Hán. Ngươi hẳn nghe câu: Kẻ thù của kẻ thù là bạn ta.
Phan Hào vọt ngựa lên hỏi:
– Vương Phúc, ngươi có dám đơn đấu cùng ta không?
Vương Phúc cười:
– Đã là anh hùng trong thiên hạ, ta há sợ ngươi sao?
Nói rồi chàng nhảy xuống đất. Phan Hào cũng nhảy xuống ngựa. Y vẫy tay cho quân lính lui lại, rồi rút kiếm đâm Vương Phúc. Vương Phúc không đỡ né mình tránh khỏi, rồi trả đòn. Đào Kỳ đứng nhìn thấy kiếm pháp hai người cùng môn hộ, cương nhu hợp nhất không có chỗ nào sơ hở. Bất giác chàng nghĩ thầm:
– Đất Thục nhiều nhân tài như thế này, hèn chi Công-tôn Thuật không chống lại Hán-đế. Cũng may y hại cha Vương Phúc, nếu không làm sao mình chiếm được bốn thành nhanh như vậy.
Hai người đấu với nhau trên trăm hiệp không phân thắng bại. Hoàng Thiều-Hoa quan sát rồi nói:
– Về kiếm pháp ta e cả hai người đều hơn ta nhiều, nhưng chưởng pháp thì họ còn kém ta.
Đào Kỳ ghé tai Thiều-Hoa, Nam-hải nữ hiệp nói mấy câu, rồi chàng phất cờ một cái. Quân Hán tràn sang như nước vỡ bờ. Hai bên đánh nhau mù trời, đến chiều thì mới thu quân.
Hoàng Thiều-Hoa bảo Đào Kỳ:
– Ta lượng đâu có sai, Trần Thanh-Nhiên quả không chịu hàng mà.
Đào Kỳ nói:
– Ta đợi hết đêm nay xem sao.
Quả nhiên canh ba, trong thành lửa bốc lên đỏ rực, nhiều tiếng la hét. Bốn cửa thành mở toang. Thanh-Triết, Thanh-Nhiên đứng trên cổng thành vẫy quân Hán vào.
Đào Kỳ cười:
– Thằng Thanh-Nhiên giả hàng, dụ ta vào trong thành, phục cung nỏ hại ta đây. Được ta sẽ tương kế tựu kế cho chúng bây biết tay.
Đào Kỳ đi đầu, dẫn quân vào trong thành. Phía sau là Nam-hải nữ-hiệp, Vương Phúc. Vừa vào trong thành, thì cổng đóng lại. Cung thủ hai bên bắn ra như mưa. Đào Kỳ quát một tiếng, rút kiếm múa như mây bay, như gió cuốn. Nhấp nhô mấy cái chàng cũng bắt được Trần Thanh-Nhiên, Vương Phúc đã bắt được Trần Thành-Triết.

Nam-hải nữ hiệp đánh quật lại cùng Hoàng Thiều-Hoa đẩy lui quân giữ thành, mở tung cửa ải ra, quân Hán tràn vào như nước, hai bên đánh nhau rối loạn trong đêm. Đào Kỳ đang tả xung hữu đột, được tin báo: “Thành Việt-tây mở tung ba cửa, xua quân ra cướp trại Hán. Tình hình rất nguy ngập”.
Đào Kỳ quát:
– Dù gì cũng phải chiếm được thành ai lui thì chém.
Quân Hán không dám lui lăn xả vào đánh. Đi đầu là Đào Kỳ, Thiều-Hoa, Nam-hải nữ hiệp, Vương Phúc. Bốn ngươi đi đến đâu bên giặc giạt ra đến đấy. Phan Hào vung chưởng đánh vào đỉnh đầu Nam-hải nữ hiệp. Bà vung chưởng đánh xéo vào hông y. Y vội đổi hướng vòng tay xuống dưới đỡ chưởng của bà. Hai chưởng gặp nhau, y cảm tưởng như đánh vào bị bông, kình lực mất tăm mất tích. Nam-hải nữ hiệp vỗ lưng ngựa một cái, con ngựa cất hai vó trước chồm đến trước mặt Phan Hào. Phan Hào ngơ ngác tự hỏi:
– Trên đời sao có lối cỡi ngưạ kỳ lạ thế này? Hai bên đấu chưởng mà ngựa cất vó lên có khác nào tự tử không?
Y phát một chiêu mạnh như núi lở, đánh vào bụng ngựa của bà. Nam-hải nữ hiệp là đệ nhất cao nhân của phái Sài-sơn. Tổ sư phái Sài-sơn là Phù-đổng Thiên-vương nổi danh về tài kỵ mã. Cho nên đệ tử phái này đều có thuật kỵ mã siêu việt. Bà đạp chân vọt người lên cao, hai chân biến thành móc câu chụp vào đầu Phan Hào. Y kinh hoàng bật hai tay lên đỡ câu của bà, thì con ngựa của y đã bị ngựa của bà đặt hai chân trước lên vai. Con ngựa của Phan Hào hí lên một tiếng đau đớn, ngã chúi đầu xuống đất. Phan Hào vọt khỏi mình ngựa, đáp xuống, y thấy cổ đau nhói. Biết gặp nguy hiểm, y lộn người ra sao lăn đi một vòng rồi đứng dậy, thì Nam-hải nữ-hiệp đã đứng trước mặt kiếm chỉ vào cổ.
Phan Hào biết đối thủ không muốn giết mình, chứ nếu muốn thì y đã chết rồi. Y buông đao nói:
– Ta giận vì học nghệ không tinh, bị thua ngươi. Ngươi giết ta đi, ta không oán hận gì cả.
Nam-hải nữ hiệp thấy y hào sảng, bà thu kiếm về nói:
– Phan tướng-quân hồi ta bằng tuổi người, võ công ta thua người xa. Thôi ngươi về đi. Người còn trẻ mà tài đã sớm trổ, giết đi thật uổng.
Phan Hào nhặt kiếm, phóng vào đêm tối. Đào Kỳ chiếm được thành, leo lên dịch lâu coi. Doanh trại Hán lửa ngút trời. Trong bốn trại, một trại bị quân Thục tràn ngập. Còn ba trại đang giao chiến ác liệt. Chàng nói với Nam-hải nữ hiệp:
– Xin sư bá ở lại giữ thành. Chúng cháu tiếp cứu trại mình.
Đào Kỳ, Thiều-Hoa, Vương Phúc mở cổng thành dẫn thiết kỵ xung vào trận. Trại đầu tiên do Đào Hiển-Hiệu chỉ huy. Chàng đứng trên cao đốc chiến. Quân Thục đã đến hàng rào thứ nhì mà không tiến được nữa. Tướng Thục thấy Hán có viện binh, thì lui trở lại, hàng ngũ chỉnh tề chạy về phía Đông. Đào Kỳ sang cứu trại thứ nhì, trại này do Nguyễn Nhân chỉ huy mặt Nam, Nguyễn Nghĩa chỉ huy mặt Bắc. Chàng chưa kịp nhảy vào vòng chiến, thì Phan Hào xuất hiện. Y ra lệnh lui quân. Trước khi lên ngựa y hướng về Nam-hải nữ hiệp nói :
– Xin hẹn ngày tái ngộ.
Bây giờ trời đã sáng Vương Phúc bảo Phan Hào :
– Phan phò mã, để ta tiễn người về Hán-nguyên, nếu không phục binh không cho người đi đâu.
Phan Hào điểm lại quân còn không đầy một vạn, phần lớn bị thương. Y dẫn binh đi theo Vương Phúc.
Quả nhiên đến Ly-ty thấy phục binh của Nguyễn Tín, Nguyễn Nghĩa phục ở đây. Vương Phúc chắp tay nói :
– Phan Hào chùng ta là con một nhà, ngươi là rể, ta là con nuôi, mà cũng là kẻ thù của Công-tôn Thuật, vì vậy chúng ta đi hai đường. Hôm nay tiễn ngươi đi hẹn một mai gặp lại.
Đào Kỳ kiểm điểm lại binh mã, thấy hao hết hai vạn, ba sư trưởng và mười bốn lữ trưởng tử thương. Số bị thương gần hai vạn. Chàng lo lắng nói :
– Ta có 15 vạn quân mang từ Lĩnh-nam, trong các trận trước chỉ chết có mấy trăm người, không ngờ trận này mất hai vạn, bị thương hai vạn chỉ còn mười vạn, với bốn vạn hàng binh, làm sao vào Thành-đô được ?
Đào Hiển-Hiệu thấy anh buồn, an ủi :
– Trước khi xuất binh, Trưng Nhị, Phương-Dung, Vĩnh-Hoa cùng Nghiêm Sơn đã tính rằng giặc thủ, ta công, thì giặc mất một ta mất hai. Thế mà từ hôm đánh Độ-khẩu tới giờ, quân anh em Vương Phúc đầu hàng trước sau có năm vạn, quân Phan Hào chết hơn năm vạn nữa, như vậy là họ hao hết 9 vạn. Đàng lẽ ta phải mất 18 vạn, mà nay mới mất có hai vạn là đại thắng rồi. Tam ca mau viết thư về hậu cứ cho sư thúc Lương Hồng-Châu bổ sung kịp thời.
Hoàng Thiều-Hoa cũng nói :
– Nhiệm vụ của chúng ta là chiếm Độ-khẩu, rồi án binh, mục đích làm náo động Ích-châu. Thế mà nay ta chiếm trước sau hơn bảy thành là quá sức rồi. Bây giờ nên án binh giữ quân chờ các đạo kia vào Thành-đô. Nếu chúng ta đánh gấp quá, Công-tôn Thuật đem đại quân đến đây, chúng ta nguy mất. Không biết hiện giờ Đinh Công-Thắng đã tiến đến đâu rồi ? Ta cần chờ tin tức đạo Kim-sơn đã.
Chiều hôm đó có tin Trần Quốc báo về, đã chiếm xong Mỹ-cơ, xin cử người trấn nhậm.
Đào Kỳ nói với Vương Phúc :
– Vương hiền đệ, em ở đây lâu biết người nhiều, vậy em tuyển lấy những người cũ dưới quyền chỉ định thái-thú, huyện-lệnh, huyện-úy, an dân giùm ta.
Vương Phúc cảm động vì Đào Kỳ mới kết nghĩa đã tin tưởng mình. Chàng khẳng khái lên đường đi Mỹ-cơ ngay.

Chiều hôm đó Trần Quốc, Nguyễn Giao-Chi, vương Phúc trở về. Đào Kỳ thấy gương mặt Trần Quốc như có gì khác lạ mà chàng đoán không ra. Tay nàng cầm một khúc gỗ tươi trên có cụm phong lan trắng nở thơm ngát.
Hoàng Thiều-Hoa hỏi :
– Sư muội đi đánh giặc mà cũng có thì giờ cắt lan rừng chơi à ?
Trần Quốc cuối đầu ngượng ngùng. Giao-Chi nói:
– Vương đại-ca cắt tặng Giao-long nữ đấy chứ. Vương đại-ca bảo đó là lan Khương-thị. Hoa chỉ nở vào mùa Đông mà thôi.
Liếc mắt, Thiều-Hoa đoán được cái gì đã xảy ra. Từ hôm đầu hàng tới giờ, gần như lúc nào Vương Phúc, Trần Quốc cũng ở cạnh nhau, khắng khít như đôi chim. Nàng biết mối tình chớm nở trong lòng hai người. Nàng hỏi:
– Vương đệ! Lan Khương-thị là gì vậy?
Vương Phúc kể:
– Nguyên đời Tần Thủy Hoàng xua dân làm Vạn-lý trường-thành, người chết không biết bao nhiêu mà kể. Bấy giờ có một cặp vợ chồng trẻ mới cưới. Chồng bị bắt đi dân công. Vợ là Khương-thị ở nhà chờ đã 5 năm. Nàng bỏ nhà lên ải Bắc tìm chồng. Nàng đi suốt một giải thành tuyết phủ vạn dặm, đi từ trại này sang trại khác, không thấy chồng đâu. Khi đến một hòn núi cao, bão tuyết mịt mù. Nàng bưng mặt khóc như mưa bão, thì núi tuyết rung động mãnh liệt rồi lở xuống. Trong khe núi đầy tuyết không biết bao nhiêu xác chết mà kể. Nàng lật từng xác chết. Xác nào cũng đóng băng cứng như đá. Quá uất hận nàng hát bài Hùng trĩ, giọng điệu thê lương. Tiếng hát dứt thì một xác chết ứa máu ra ở miệng. Nàng đến coi, thì ra là xác chồng. Nàng ôm chồng khóc thê thảm. Uất khí bốc lên, tuyết lại lở xuống. Chôn nàng với chồng trong lòng núi.
Chàng ngừng một lát lại tiếp:
– Từ ngày ấy, về mùa Đông, cứ ngày tuyết lạnh nhất trong năm, thì trên những cành cao, cành nào hướng về phía Bắc đều mọc một thứ phong lan, hoa nở trắng rất đẹp và thơm. Người ta gọi loại phong lan đó là Lan Khương-thị.
Vương Phúc tiếp:
– Tiểu đệ kể chuyện tình Khương-thị đó cho Trần cô nương nghe. Trần cô nương đã sáng tác ngay bản tiêu, tên là Truyện tình Khương-thị.
Nam-hải nữ hiệp là đại sư-bá của Trần Quốc, bà cũng như các Thái-bảo Sài-sơn đều thông âm nhạc, nghe Phúc kệ bà hỏi:
– Trần sư điệt con đưa bản nhạc cho sư-bá coi nào?
Trần Quốc bẽn lẽn, hai tay cung kính đưa bản nhạc lên. Nam-hải nữ hiệp cầm ống tiêu thổi. Tiếng nhạc thì thầm hiu hắt khi bổng khi trầm, khi thủ thỉ như cặp tình nhân mới yêu nhau, khi thê lương ảm đạm như thiếu phụ phòng không, khi thì mịt mờ như Khương-thị đang đứng trước cảnh gió tuyết của Trường-thành.
Khúc nhạc dứt, mà mọi người còn cảm thấy như dư thoang thoảng bên tai. Nam-hải đưa trả khúc nhạc cho Trần Quốc:
– Cháu diễn tả được hết câu chuyện tình Khương-thị, nhưng bản nhạc cũng như câu truyện buồn quá.
Đào Kỳ hỏi:
– Vương hiền đệ! Hiền đệ có biết bản Hùng trĩ mà Khương-thị hát trên đường tìm chồng không?. Bài hát này có liên quan gì đến bài thơ Hùng trĩ trong phần Quốc-phong Kinh-Thi không?
Vương Phúc nhìn Đào Kỳ, suy nghĩ trong lòng:
– Đào đại-ca chỉ hơn ta mấy tuổi là cùng. Võ công vô địch là vì võ công Lĩnh-nam tuyệt thế. Còn Kinh-thi là văn học của Trung-nguyên, sao đại-ca cũng thông thạo như một văn nhân?
Chàng đáp:
– Đúng đấy! Nàng lấy bài Hùng trĩ trong Kinh-thi phổ thành nhạc. Khúc nhạc lưu truyền khắp Trung-nguyên. Tiểu đệ sao lại, giữ bên mình. Nay nhân tiện có sư-bá Nam-hải, mong người không tiếc công chỉ điểm cho.
Đoạn chàng lấy bản nhạc, hai tay cung kính đệ lên trước mặt Nam-hải nữ hiệp. Nam-hải vẫy tay gọi Trần Quốc, Giao-Chi:
– Cháu gái lại đây, cùng coi.
Ba người xuất thần, coi một lượt. Bà nói:
– Khúc hát thật tuyệt, ta e người soạn bản này tài không thua gì Trương Chi, Tiêu Sử, Tư mã Tương-Như. Nào bây giờ tiếng hát Giao-Chi ngọt ngào, êm nhe,ï giọng cao vút, cháu ca lần đầu. Tiếp theo giọng Trần Quốc trầm ấm, cháu ca lần thứ nhì. Ta đánh đàn bầu, Giao-Chi kéo nhị, Trần Quốc đánh sênh. Nguyễn Nhân đánh trống cơm, Nguyễn Nghĩa đánh đàn nguyệt, Nguyễn Lễ đánh đàn kìm, Nguyễn Trí, Nguyễn Tín thổi tiêu. Còn Vương Phúc cháu tấu đàn tỳ-bà được không? Chúng ta thử hòa hợp nhạc khí Lĩnh-nam với Trung-nguyên xem có hay không?
Các tướng là những người cầm gươm lên ngựa, đánh dư trăm trận, bây giữa trướng Chinh-viễn đại-tướng quân bày ra cuộc tấu nhạc. Tự tiền cổ chưa bao giờ họ nghe nói tới.

Trần Quốc đánh sênh, coi như người điều khiển, nàng xuống tay trước. Một loạt các âm thanh đồng cất lên. Tiếng tiêu của Nguyễn Trí cộng Nguyễn Tín, pha lẫn nội lực, bốc lên cao vút, truyền đi rất xa. Tiếng đàn tỳ-bà nỉ non, ai oán, hòa với tiếng đàn Bầu kéo dài, âm thanh rung động không gian, làm não lòng người nghe.Tiếng đàn nguyệt, đàn kìm ngân, hòa tiếng nỉ non của tiếng nhị như khóc như thương.

Âm thanh hòa được một lần thì Giao-Chi cất tiếng hát. Nàng là người có hoa tay, nấu ăn nức tiếng, giọng ca của nàng êm nhẹ, mà cao vút, ai cũng tưởng sẽ tắc, mà nàng lướt qua dễ dàng.

Hùng trĩ vu phi,
Duệ duệ kỳ vũ,
Ngã chi hoài hĩ,
Tự di y trở.



Hùng trĩ vu phi,
Hạ thượng kỳ âm,
Triển hỹ quân tử,
Thực lao ngã tâm.


Lối tấu nhạc thời Lĩnh-nam, cứ sau một khúc thì ngưng hát, nhạc sĩ tiếp tục tấu nhạc thêm ba lần nữa, rồi mới hát khúc tiếp theo. Lợi dụng khoảng trống Đào Kỳ giảng cho Hoàng Thiều-Hoa nghe. Đoạn này ý nói :

Con chim Trĩ trống bay về phương xa,

Đập cánh phành phạch trên cánh đồng,
Em nhớ anh, lòng ẩn ức không nguôi,
Mối sầu càng dập, càng nồng.

Con chim trống bay về phương xa,

Tiếng hót bi thương khi cao, khi thấp,
Lòng em thương nhớ anh dài miên miên vô tận,
Nhớ nhớ, thương thương, lòng quặn đau.


Giao-Chi lại cất tiếng ca:

Chiêm bỉ nhật nguyệt,
Du du ngã tư,
Đạo chi vân viễn,
Yết vận năng lai.
Bách nhĩ quân tử,
Bất tri đức hạnh,
Bất ký bất cầu,
Hà dụng bất tang.


Đào Kỳ lại giảng :

Nhớ anh, em lại nhìn lên mặt trời, mặt trăng,
Ruột đứt từng khúc, máu rướm trong tim,
Nghìn trùng xa cách núi non ngăn trở,
Biết bao giờ anh lại về bên em.
Trên cao bạo chúa cai trị nào hiểu,
Sao không biết tu sửa đức hạnh,
Đau lòng, nhưng ta vẫn không thù, không oán ghét ai,
Sao ngươi không biết thuận với lòng dân.



Ghi chú

Bản dịch của Kim Y Phạm Lệ Oanh.

Trĩ kia bay liệng tung trời,
Cất cao đôi cánh khoan thai nhẹ nhàng.
Hỡi người lòng thiếp vấn vương,
Vì đâu nỡ để Sâm, Thương cách vời.
Kìa trông con trĩ bay hoài,
Bổng trầm cất tiếng khoan thai hữu tình.
Hỡi người quân tử chân thành,
Lòng em gửi gấm bao tình nhớ thương.
Kìa xem ngày tháng ruổi mau,
Lòng ta dằng dặc mối sầu tương tư.
Đường xa thăm thẳm mịt mù,
Bao giờ trở lại quê xưa hởi chàng?
Những người quân tử xưa nay,
Ai không biết giữ thẳng ngay làm đầu?
Chẳng ghen ghét, chẳng tham cầu,
Hẳn là sẽ gặp nhiều câu tốt lành.


(Thi Kinh Quốc Phong, bản dịch của Kim Y Phạm Lệ Oanh, Q1, trg.115-118, Cành-nam Hoa-kỳ xb.)

Giao-Chi ca xong lần đầu, thì Trần Quốc ca lần thứ nhì. Tiếng Trần Quốc trầm ấm, đôi khi lanh lảnh vang đi rất xa. Nàng dứt tiếng hát, thì tiếng tấu nhạc cũng ngừng.

Các tướng sĩ cùng vỗ tay vang dội. Nam-hải nữ hiệp đọc được nét buồn trên mặt Thiều-Hoa, Đào Kỳ, Đào Hiển-Hiệu. Bà biết bọn trẻ từ Lĩnh-nam sang Bắc viện, tuy họ giữ chức đại tướng-quân, võ công cao cường, nhưng bản chất vẫn là thiếu niên. Quan sơn cách trở, hàn huyên không đạt được, họ bị tiếng nhạc, tiếng ca gợi lại nhớ thương. Thiều-Hoa nghĩ lại những buổi chiều cùng Nghiêm Sơn thả thuyền trên sông Hồng-hà ngắm mặt trời lặn. Đào Kỳ nghĩ đến Phương-Dung trên đường từ Lục-hải về Long-biên. Còn Đào Hiển-Hiệu thì nhớ đến nét mặt thanh tú, vẻ đẹp huyền ảo như có như không của Đinh Hồng-Thanh.
Trần Quốc phá tan bầu không khí tịch mịch của ba người. Nàng nói với Vương Phúc :
– Vương đại-ca, đại ca cho phép muội sao bản nhạc này được không ?
Vương Phúc hai tay nâng lên ngang mày :
– Của quý dành tặng quý nhân. Trần cô nương, Vương Phúc tôi kính tặng cô nương, khúc nhạc này.




********

NH bỏ bớt những hàng trống sau mỗi câu đối thoại, để khi mang vào thư viện không bị hàng trống nhiều quá.
Và để màu mè cho nổi. [:D]

Mong CDDLT thông cảm vì đã tự tiện. [;)]

Cảm ơn CDDLT thật nhiều đã đóng góp thêm những tác phẩm có giá trị. [:)]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2004-12-23 03:15:50NuHiepDeThuong>
HỒI THỨ 5

Thục đạo chí nan nan thượng thanh thiên.

(Lý Thái-Bạch, Thục-đạo sơn)

Nghĩa: Đường vào đất Thục khó thay, núi cao tới trời.


Đào Kỳ thấy giữa Trần Quốc, Vương Phúc nảy nở những đóa hoa tình. Chàng nghĩ đến chuyện tác thành cho hai người. Một bên là cô em gái thông minh, tài trí, tính tình ngổ nghịch, mà chí muốn ôm hoàn vũ vào lòng. Một bên là nghĩa đệ sinh ra trong hoàn cảnh éo le, mồ côi cha mẹ, không ưa Hán mà phải đầu Hán, chẳng qua mượn Hán trả thù nhà. Chàng kinh nghiệm qua vụ Nghiêm Sơn và Thiều-Hoa. Hai người có tình ý với nhau, chàng chỉ cần mở một lối, thì tình ý họ sẽ phát triển mau hơn. Nghĩ được một kế chàng cầm lệnh bài nói :
– Ta có việc phải làm. Ta cần một người tài trí, thông thạo đường đất Ích-châu. Lại cần một người bơi lội giỏi. Vì vậy Vương hiền đệ và sư muội Giao-long nữ hãy giúp ta. Hai em phải hành sự thực bí mật mới được, lộ ra thì mất mạng như chơi.
Trần Quốc là cô gái thông minh tuyệt đỉnh, nàng ở bên cạnh Đào Kỳ lâu, gì mà nàng không hiểu ý ông anh. Nàng cúi đầu e thẹn. Còn Vương Phúc thì không hiểu ý Đào Kỳ, chàng nói :
– Tiểu đệ xin chờ lệnh đại ca.
Đào Kỳ chỉ lên bản đồ nói :
– Vương đệ cùng Trần sư muội dùng thuyền đi về phía Giang-an, dò thám tin tức đạo quân vượt Kim-sơn của ta đánh đến đâu rồi? Nhất thiết mọi chuyện, hiền-đệ được thay ta hành sự. Trần muội phải nghe theo lệnh của Vương hiền-đệ.
Nam-hải nữ hiệp liếc mắt một cái, đã hiểu được thâm ý Đào Kỳ, bà nói :
– Giao-long nữ! Con là đệ tử của đệ thất Thái-bảo Sài-sơn. Trận Độ-khẩu vừa qua, con làm rạng danh sư phụ. Đại sư-bá khen con đó. Bây giờ con hãy đi cùng Vương sư huynh, nhớ ít đùa nghịch, chín chắn hơn một chút.
Sáng hôm sau Vương Phúc, Trần Quốc từ tạ Nam-hải nữ hiệp, Đào Kỳ lên đường. Hoàng Thiều-Hoa gọi Trần Quốc lại bên cạnh nắm tay nói :
– Việt cũng thế, Hán cũng vậy, ai tốt thì là bạn ta, ai xấu là kẻ thù của ta. Em đi cùng Vương Phúc nên gắng học hỏi những kinh nghiệm về võ học, hành binh của Thục, sau này còn dùng đến.
Nàng lấy chuỗi ngọc trai đeo trên cổ, quàng vào cổ Trần Quốc, lại lấy chiếc vòng hồng ngọc trên tay đeo vào tay Quốc, rồi tát yêu một cái :
– Chúc em lên đường thành công. Sau khi hoàn tất, sư tỷ hy vọng được nghe em hát bản Đào yêu.
Trong các anh hùng thời Lĩnh-nam, chính sử cũng như huyền sử đều chép rằng Thiều-Hoa là người nhu mì nhất, tình tình rộng rãi, thương yêu sư đệ, sư muội như con đẻ. Điều này đã đúng với Đào Kỳ. Nàng hơn Đào Kỳ có năm tuổi. Khi Đào hầu nhà tan, cửa nát không biết sống chết ra sao. Nàng trông coi Đào Kỳ như mẹ trông coi con. Vì vậy suốt cuộc đời Đào Kỳ, chàng chỉ nghe lời có mấy người. Đứng đầu là cha mẹ, sau đó đến Thiều-Hoa.

Trời sinh ra phụ nữ có tính nhu thuận, lấy đức dạy dỗ trẻ con. Họ được đứa trẻ dành cho tình thương đằm thắm. Trần Quốc là đứa trẻ mồ côi, Trần Quốc-Hương mang về nuôi nấng, dạy dỗ. Chính lòng yêu thương quảng đại của ông làm cho Trần Quốc kính yêu ông vô bờ bến. Từ hôm nàng theo quân đến giờ, bên cạnh có sư bá Nam-hải. Nhưng bà uy nghiêm quá, nàng thấy thiếu thân mật. Còn Hoàng Thiều-Hoa, lúc nào cũng ôn nhu đằm thắm với nàng. Bây giờ Thiều-Hoa lại lấy ngọc đeo trên người tặng cho. Cảm động quá, không biết nói sao, nàng ôm chặt lấy Thiều-Hoa, rơm rớm nước mắt. Hai chị em ôm nhau một lúc rồi nàng buông ra nói :
– Em sẽ nhớ lời sư tỷ mãi mãi.
Hai người chuẩn bị hành trang. Hôm sau lên đường. Trên đường đi nàng hỏi Vương Phúc :
– Vương đại-ca, tôi nghe đại-ca văn võ toàn tài, muốn thỉnh thị đại-ca một việc được không ?
Vương Phúc cảm động nói :
– Xin cô nương cứ nói, tôi sẵn sàng.
– Khi tặng ngọc cho tôi, sư tỷ Thiều-Hoa nói chờ tôi trở về hát bản Đào yêu. Tôi không biết bản này, gặng hỏi ngọn gốc bản nhạc, thì đại sư-bá dạy rằng, trên đường đi hỏi đại-ca. Vậy Đào yêu là gì ? Là Yêu hoa Đào hay Con yêu tinh họ Đào ? Hay Cây Đào thành yêu ?
Vương Phúc cười :
– Không phải đâu! Đào là cây Đào, Yêu là tốt tươi. Đào yêu là bài thơ trữ tình trong thiên Quốc-phong, Kinh-thi. Bài thơ ca tụng đức độ của người con gái, khi về nhà chồng biết thích nghi, hòa hợp với gia đình nhà chồng.
– Bài thơ đó như thế nào ? Xin đại-ca giảng cho tôi nghe.
Vương Phúc đọc:

Đào chi yêu yêu,
Chước chước kỳ hoa,
Chi tử vu quy,
Nghi kỳ thất gia.


Đoạn này ý nói có cây hoa Đào tươi tốt. Có người con gái đi lấy chồng, đối đãi hòa thuận với gia đình nhà chồng. Bài thơ rất phổ thông, vì vậy sau này, khi chúc tụng một cô gái đi lấy chồng, người ta thường đề trên lụa mấy chữ:

Chi tử vu quy.

Hoặc

Nghi gia, nghi thất.

Vừa khen đức độ cô gái, vừa chúc may cho cô. Lối viết chữ trên lụa chúc con gái đi lấy chồng, ý tứ rút trong Kinh-thi. Nó vừa có tính chất bình dân, vừa có tính chất bác học cổ truyền.

Trần Quốc vẫn chưa hiểu, hỏi:
– Bài thơ có bốn câu thôi ư?
– Còn chứ, tất cả là 12 câu. Tám câu sau là:

Đào chi yêu yêu,
Hữu phần kỳ thực,
Chi tử vu quy,
Nghi kỳ gia thất.

Đào chi yêu yêu,
Kỳ điệp chăn chăn,
Chi tử vu quy,
Nghi kỳ gia nhân.



Nghĩa là cây đào tươi tốt, đầy trái mũm mĩm. Người con gái nhà kia đi lấy chồng. Đoạn dưới nói : Cây đào tươi tốt trái cây thơm ngon. Người con gái đi lấy chồng, hòa thuận với cả gia đình nhà chồng.

Ghi chú

Bản dịch của Kim Y Phạm Lệ Oanh:

Cây đào non mơn mởn,
Rực rỡ muôn đóa hoa.
Thiếu nữ vui duyên mới,
Êm hòa đạo thất gia.

Cây đào non mơn, mởn,
Quả núc nỉu đầy cành.
Cô kia vừa xuất các,
Cầm sắt vui duyên lành.

Cây đào non mơn mởn,
Lá óng mượt xanh tươi.
Cô kia về nhà mới,
Gia đình thêm đông vui.


(Thi Kinh Quốc Phong, bản dịch của Kim Y Phạm Lệ Oanh, thủ bút của Trương Cam Khải, Cành-Nam, Hoa-kỳ xb Q1,trg 19-21)

Bây giờ Trần Quốc mới hiểu ý Hoàng Thiều-Hoa, nàng liếc nhìn Vương Phúc mặt đỏ lên. Để đánh trống lảng, nàng hỏi :
– Vương đại-ca có bản nhạc này không ?
Vương Phúc đáp :
– Có chứ. Bản nhạc thường dùng để tấu khi đưa cô dâu về nhà chồng.
Chàng mở bọc, lấy khúc nhạc hai tay đưa cho Trần Quốc. Trần Quốc liếc qua, rồi cầm cây đàn bầu bên cạnh dạo lên, cất tiếng hát.
Vương Phúc lấy ống tiêu trong bọc ra, để lên môi, hòa tấu. Một người là danh gia đệ tử của môn phái có hàng nghìn năm kinh nghiệm âm nhạc. Một người là đấng tài hoa đất Thục. Tiếng tiêu, tiếng đàn bầu hòa lẫn với tiếng hát Trần Quốc. Tài ở chỗ là ngựa vẫn vỗ vó dòn dã trên đường, mà tiếng đàn, tiếng tiêu, tiếng ca không bị ngắt quãng. Ca hết Trần Quốc nói :
– Khúc nhạc này âm điệu vui quá nhỉ?
Hai người phi ngựa đi Mỹ-cơ. Thái-thú Mỹ-cơ tên Trần Ngọc-Thái, trước y là tướng dưới quyền Vương Phúc, mới được Vương Phúc tiến cử với Đào Kỳ. Y ra ngoài thành đón tiếp :
– Không biết đại-nhân với cô nương đến có chuyện gì dạy bảo không ?
Vương Phúc nói :
– Tôi cần một con thuyền buôn thực lớn, ngày mai dùng đường thủy, nhập Kim-sa giang, theo Kim-sa giang đến Giang-an.
Trần Ngọc-Thái nói nhỏ :
– Tiểu nhân nghe tin hôm qua có trận đánh ở Giang-an. Thành Giang-an bị một đạo quân từ trên núi đổ xuống đánh úp. Thái-thú bị bắt phải đầu hàng. Nghe nói ở Long-xương, Trấn-đông đại tướng-quân của Thục tử trận, thành cũng mất rồi, không rõ đạo quân nào ? Từ đâu tới ?
Trần Quốc nghe nói mừng khôn tả, nghĩ thầm :
– Hai ông cụ Triệu Anh-Vũ và Đinh Công-Thắng quả thực là thần nhân. Núi Kim-sơn cao, hiểm trở là thế mà vượt qua được.
Trần Ngọc-Thái là người lớn tuổi, liếc qua y cũng biết tình ý giữa Vương Phúc với Trần Quốc. Y nghĩ thầm :
– Vương đại-nhân là trang thiếu niên anh tài, còn nàng là gái Việt đẹp như tiên nữ, họ có tình ý với nhau là sự thường.
Y lấy một thương thuyền lớn, cho binh sĩ giả làm thủy thủ đi theo Vương Phúc. Để hóa trang, y cho chất lên thuyền nhiều sản phẩm địa phương như : Quế-chi, Mộc-nhĩ, nấm hương, xương hổ, da thú. Y hóa trang cho Vương Phúc thành một lái buôn. Còn Trần Quốc thì hóa trang thành một tiểu thư khuê các.

Thuyền tới Kim-sa giang thì không cần chèo nữa, cứ việc buông mái chèo cho thuyền xuôi về phía Đông. Giao-long nữ ưa đùa cợt, bây giờ ngồi một mình trước Vương Phúc, sinh ra e ngại không nói nên lời.
Vương Phúc là người tinh tế, chàng lấy sách ra, giảng cho nàng về phương pháp đóng chiến thuyền của Trung-nguyên, cùng những phương pháp tác chiến dưới nước. Quả nhiên vì thế mà hai người bớt ngượng ngùng.

Hai ngày sau, thuyền tới trấn Bá-dương. Vương Phúc cho thuyền ghé vào bến. Trấn này nằm trên ngã tư, nơi hội tụ của các dòng sông Kim-sa giang, Trường-giang, Hoành-giang và Dân-giang, rất phồn thịnh. Dân cư đông đúc, thuyền bè đậu san sát trên bến. Trong trấn không thấy có binh lính kiểm soát.

Vương Phúc dẫn Trần Quốc lên bờ dạo chơi. Hai người đi khắp trấn, rồi vào tửu lâu kiếm bàn ngồi. Đối với món ăn Trung-nguyên, Trần Quốc mù tịt, nàng để cho Vương Phúc tùy ý gọi gì thì gọi. Hai người ngồi ăn được một lát, có ca kỹ tới. Ca nhi là một thiếu nữ xinh đẹp, dáng người thanh nhã, da trắng hồng, đôi mắt đen to. Tuổi nàng khoảng 17-18. Cạnh nàng là một nhạc công tuổi khoảng 50. Tay lão cầm lấy ống tiêu bằng trúc dài, màu xanh óng ánh như ngọc.

Thiếu nữ tới trước bàn chắp tay nói :
– Công-tử, tiểu-thư có nghe hát không ? Tiểu nữ xin tấu một vài bản hầu nhị vị.
Trần Quốc là đệ tử phái Sài-sơn, nàng rất thích âm nhạc. Nghe nói tấu nhạc là nàng động lòng rồi. Nàng nhìn Vương Phúc như có ý bảo đồng ý.
Vương Phúc hỏi lão già :
– Tiên sinh lấy mỗi khúc bao nhiêu tiền ?
Lão già nói :
– Cả hát, cả tấu nhạc, xin công-tử cho một chỉ bạc.
Trần Quốc cố uốn giọng giống tiếng Thục:
– Tôi xin tạ tiên sinh và cô nương năm chỉ một bản.
Thời bấy giờ hát và tấu một khúc nhạc mà trả một chỉ tức là thượng hạng rồi, thế mà Trần Quốc trả những năm chỉ, lão già mừng quá:
– Đa tạ tiểu thư rộng lượng. Không biết tiểu thư muốn tấu khúc gì đây?
Trần Quốc đáp:
– Xưa Tư-mã Tương-Như tấu nhạc cho Trác Văn-Quân nghe, khúc đó là Phượng cầu kỳ hoàng, vậy tiên sinh có biết không?
Lão ông thoáng một nét khâm phục:
– Tiểu nhân biết, xin hầu công tử và tiểu thư.
Ông lão lấy ống tiêu thổi. Người thiếu nữ ngồi xếp chân đánh đàn tranh. Tiếng tiêu, tiếng đàn văng vẳng trong không gian. Mây trời như ngừng trôi, hồn người như chìm đắm trong lời ca trữ tình của Tư-mã Tương-Như gửi cho Trác Văn-Quân:

Phượng hề! Phượng hề! Quy cố hương,
Ngao du tứ hải cầu kỳ hoàng,
Hữu nhất diễm nữ tại thử đường,
Thất nhĩ nhân hà độc ngã trường?
Hà do giao tiếp, vi uyên ương.


Trần Quốc tuy giỏi âm nhạc. Nàng nghe sư phụ nói về khúc hát lãng mạn này, mà chưa biết nội dung ra sao, lại càng không biết xuất xứ của nó. Nàng hỏi Vương Phúc, chàng giảng:
– Tư-mã Tương-Như là một đại văn nhân, một đại nhạc-gia thời Tây-Hán. Ông là người đất Thục. Thuở nhỏ học võ không thành, sau bỏ học văn. Một ngày kia ông rời Thục vào Trung-nguyên cầu danh. Khi xe đi qua cây cầu, ông nói:
– Nếu không cỡi xe bốn ngựa, thì không về qua cầu này.
Ông phiêu bạt khắp nơi không được trọng dụng. Một ngày kia, một trong những người phục tài âm nhạc của ông có Trác công đặt tiệc mời ông. Sau tiệc Trác công muốn thưởng thức tài nghệ của ông, ông từ chối. Song liếc mắt, thấy một thiếu nữ kiều diễm tuổi khoảng 17-18 ngồi sau màn, ông đồng ý. Vì theo ông, không thể vì một bữa tiệc mà bắt ông tấu nhạc. Ông tấu nhạc đây chỉ là tấu cho giai nhân nghe mà thôi. Ông vừa tấu nhạc vừa ca bản Phượng cầu kỳ hoàng, nghĩa là chim Phượng đi tìm chim Hoàng.
Trần Quốc thấy câu chuyện diễm tình hỏi:
– Ý nghĩa câu hát ấy thế nào, tôi không hiểu rõ nghĩa cho lắm.
Vương Phúc giảng:
– Năm câu thơ trên nghĩa là:

Chim phượng ơi! Chim phượng ơi! Về quê hương cũ đi,
Người đã đi khắp bốn bể để tìm con chim hoàng,
Mà nay gặp gỡ được người thiếu nữ diễm kiều tại đây,
Ngôi nhà này làm ta đau đớn đứt ruột được,
Làm sao để được tiếp xúc với nàng để thành uyên ương?


Cô gái lại cất tiếng hát đoạn sau:

Phượng hề! Phượng hề! Tùng hoàng tê,
Đắc thác tửø vỹ vĩnh vi phi,
Giao tình thông thể tất hòa hài,
Trung dạ tương phùng biệt hữu thùy?


Vương Phúc lại giảng:

– Bốn câu sau nghĩa là:

Chim phượng ơi! Chim phượng ơi, theo chim hoàng tìm chỗ đậu,
Như vậy người đã được đuôi chim hoàng, được nàng làm vợ,
Từ nay hai người hai mà là một, hòa vui với nhau,
Giữa đêm nay chúng ta sẽ gặp nhau được chăng?


Người con gái xinh đẹp núp sau màn cửa đó là Trác Văn-Quân, nhan sắc tuyệt vời. Đêm đó nàng bỏ nhà, trốn theo Tư-mã Tương-Như.
Trần Quốc hỏi:
– Sau hai người có ở đời với nhau không ?
– Có ! Trác-công thấy con gái bỏ nhà theo trai, giận lắm, không thèm nhìn mặt. Nàng bán áo hồ-cừu lấy tiền mở quán cơm. Nàng nấu bếp, Tương-Như rửa bát. Trác-công thấy vậy xấu hổ quá gọi nàng về chia cho 100 người hầu, vàng bạc mấy trăm cân. Bấy giờ hoàng-hậu của vua Vũ-đế nhà Hán bị vua lãng quên. Bà mời Tư-mã Tương-Như vào cung đãi trà. Tương-Như cảm động làm bài phú diễn tả nỗi cô đơn của bà. Một ngày kia vua Vũ-đế ngồi ngắm trăng với phi tần, chợt nghe một Thái-giám ngâm bài phú của Tương-Như. Nhà vua rung động tâm can, than rằng :
– Tiếc thay tác giả bài phú đã qua đời! Ta không được gặp.

Thái-giám tâu rằng bài phú đó do Tư-mã Tương-Như sáng tác cho hoàng-hậu. Vũ-đế mời Tương-Như yết kiến, phong cho chức Đại-phu.Vũ-Đế lại sủng ái hoàng-hậu như xưa. Bấy giờ giặc Hung-nô phía Bắc thường xâm phạm Trung-nguyên. Vua Vũ-đế sai Tương-Như đi thuyết phục chúng. Tương-Như một xe, một đàn lên sa mạc tấu cho dân chúng Hung-Nô nghe. Vua Hung-Nô mời ông vào cung tấu nhạc. Ông nhân đó khuyên Hung-Nô bãi binh. Vua Hung-Nô vì thương tài Tương-Như, bãi binh, thần phục Vũ-đế. Vũ-đế phong cho Tương-Như tước hầu, ban áo gấm cho về Thục. Tương-Như nhờ vậy nổi danh khắp nơi. Tương-Như gặp một giai nhân trẻ. Ông định bỏ Trác Văn-Quân. Văn-Quân hát lại bài Phượng cầu kỳ hoàng. Tương-Như xúc động không bỏ vợ nữa. Hai người sống bên nhau cho đến chết (2).

Ghi chú

(2) Khúc Phượng cầu kỳ hoàng nghĩa là chim phượng tìm chim hoàng. Phượng là chim trống. Hoàng là chim mái. Khúc này rất nổi tiếng được lưu truyền rộng trong văn học sử và Âm nhạc sử của Trung-quốc. Trong Kiều, đoạn tả Kiều đánh đàn cho Kim-Trọng nghe, có nhắc tới :

Khúc đâu Tư-mã Phượng cầu,
Nghe ra như oán như sầu phải chăng?

Giai thoại về văn chương âm nhạc có thế. Sau này người ta lãng mạn hóa đi thành tiểu thuyết. Đoạn trên đây, chúng tôi thuật theo bộ chính sử Sử ký Tư-mã Thiên, quyển 117, từ trang 2999 đến trang 3074. Do Trung-hoa thư cục, Hương-cảng xuất bản.

Tư Mã Thiên với Tư Mã Tương Như là người sống gần như đồng thời với nhau. Tư Mã Tương Như tự là Trường Khanh. Tư Mã Thiên tự là Tử Trường. Tử Trường thuật chuyện các vua chúa, danh nhân rất ngắn. Thường chỉ trong vòng 20 đến 50 trang. Khi ông thuật đến Tư Mã Tương Như, bút pháp của ông tươi sáng, sống động vô cùng. Ông để ra đến 75 trang (nếu dịch ra Việt ngữ ít ra là 250 trang), thuật về Trường Khanh.

Song các Nho gia đời sau thường không ưa Tương Như, vì việc Trác Văn Quân bỏ nhà theo trai.


Khúc hát hết mà Trần Quốc vẫn còn ngây ngất, vì bài hát có xuất xứ diễm tình. Nàng móc túi lấy ra nén bạc đáng giá năm lượng, hai tay đưa cho lão ông:
– Tiếng rằng mỗi khúc một chỉ. Nhưng tiếng tiêu của tiên sinh không thua gì Tiêu Sử. Tiếng hát và tiếng đàn của cô nương nào có kém gì Lộng Ngọc ngày xưa đâu? Một chỉ đâu xứng đáng với tay tiên. Tôi xin kính cẩn dâng 5 lượng, gọi là duyên may gặp gở.
Người ca kỹ tuyệt không ngờ cô tiểu thư này rộng rãi và lịch sự đến thế. Nàng cầm lấy nén bạc hỏi:
– Chẳng hay tiểu thư muốn tấu khúc nhạc nào nữa không?
Trần Quốc nói:
– Đời vua Văn-đế nhà Hán, có người cung nữ tên là Vương Chiêu-Quân gả cho rợ Hồ. Trên đường cống Hồ nàng khóc lóc thảm thiết, nhớ lại ân sủng của quân vương, nàng làm khúc Chiêu Quân tình khúc, hay còn gọi là Chiêu Quân quá quan. Tiên sinh và cô nương có biết không ? (3)

Chú giải

(3)Chiêu Quân quá quan tên khúc nhạc không biết tác giả là ai. Nguyên đời Văn-Đế nhà Hán (179-157 trước Tây lịch) đem một cung nữ tên Vương Chiêu-Quân gả cho vua Hung Nô. Nhân đó người đời sau lãng mạn hóa đi, trở thành thiên tình sử. Từ đó người ta sáng tác ra khúc nhạc Chiêu Quân quá quan, nghĩa là nàng Chiêu Quân qua quan ải đến vùng Hung Nô. Khúc nhạc âm điệu rất sầu thảm. Trong Kiều, Nguyễn Du tả tiếng đàn Thúy Kiều tấu cho Kim Trọng nghe, có nói đến :

Quá quan này khúc Chiêu Quân,
Nửa phần luyến chúa, nửa phần tư gia.


Thiếu nữ chắp tay đáp :
– Tiện nữ xin tấu để công-tử và tiểu-thư nghe. Từ ngày ra đời kiếm ăn đến giờ, đây là lần đầu tiên chúng tôi gặp tiểu thư hiểu được tiếng đàn.
Nói rồi lão già thổi tiêu, thiếu nữ vừa ca, vừa đánh đàn. Tiếng hát lẫn tiếng nhạc, ai oán não nùng như tiếng Chiêu Quân thương khóc khi phải từ giã vua về đất Hồ. Khúc hát hết, Trần Quốc lại lấy ra nén vàng năm lượng ra tặng cho thiếu nữ. Nàng nói :
– Đa tạ tiên sinh cho chúng tôi được nghe tiếng tiêu thần và giọng oanh vàng. Không biết trên thế gian này, có mấy ai có được tài thần như tiên sinh và cô nương.
Lão ông cảm động nói :
– Kể từ tiểu nhân ra giang hồ kiếm ăn, đây là lần đầu tiên gặp tri âm. Để tiểu nhân dạo một vài khúc mong cô nương chỉ giáo.
Lão ông mặt nhìn trời xa xa :
– Lão mới sáng tác một vài khúc, mong tiểu thư phẩm bình.
Nói rồi ông cầm tiêu thổi. Tiếng tiêu cao vút lên tận mây xanh, khiến mọi người ngồi đó đều ngây ngất thổn thức trong lòng. Dứt khúc nhạc, Trần Quốc nói :
– Tiếng tiêu khi trầm, khi cao vút, điệu nhạc khi dài như tiếng đau thương của cha mất con, khi ngân như tiếng nức nở của đứa trẻ mất mẹ. Khi ngậm ngùi như vợ chồng xa cách. Khi phẫn hận như anh hùng thất thế. Thưa tiên sinh, đó có phải là tâm sự của tiên sinh không ?
Lão ông đứng chắp tay hướng Trần Quốc vái một vái :
– Quả đúng vậy đây là khúc Trường-giang huyết lệ vậy. Nguyên lão có người vợ làm ca kỹ, bị người ta bắt mất, nay không rõ ở đâu. Hai cha con đi hát sống qua ngày, hy vọng tìm lại được. Vì vậy lão đặt khúc nhạc để tiêu sầu.
Trần Quốc thắc mắc :
– Nếu tiên sinh cho rằng chúng tôi là tri kỷ, có thể tỏ cho biết tâm sự hay không ? Biết đâu chúng tôi có thể giúp tiên sinh tìm lại phu nhân ?
Thiếu nữ gật đầu :
– Đã vậy xin phiền lòng tri âm.
Nàng đứng dậy. Trần Quốc trả tiền nhà hàng, cùng Vương Phúc dẫn cha con người ca kỹ theo. Trần Quốc chú ý thấy bước đi của lão già rất vững, gót chân lại hồng mịn, chứng tỏ lão chưa già lắm. Nàng nhìn cổ tay, thấy da chưa nhăn. Nàng chửi thầm :
– Mình chết thực! Thì ra lão cải trang.
Xuống tới thuyền Trần Quốc lấy một cái khăn ướt đưa cho lão già :
– Tiên sinh đã là tri âm, sao còn giấu tướng mạo nhau làm chi ?
Lão già biết rằng mình cải trang đã bị lộ, vội cầm khăn lau, lập tức hiện ra một khuôn mặt trẻ trên 40, rất hùng vĩ.
Lão già nhìn Trần Quốc cười :
– Cô nương dường như người đất Lĩnh-nam thì phải ? Từ Lĩnh-nam đến đây đường xa vạn dặm, chắc phải có lý do quan trọng lắm mới khiến gót ngọc vào đất Ích-châu này ?
Vương Phúc biết lão già không vừa, vội đáp :
– Cô nương này từ Lĩnh-nam đến vùng Kinh-châu học âm nhạc, cô là bạn của em gái tôi, nên cùng đáp thuyền đi cho biết Trường-giang muôn vẻ.
Trần Quốc móc trong túi bản Truyện tình Khương-Thị, nói :
– Tôi mới mua được một bản nhạc phiền tiên sinh với cô nương tấu cho tôi nghe được chăng ?
Lão già cầm bản nhạc liếc qua rồi nói :
– Được chứ ! Được lắm chứ.
Ông cầm ống tiêu thổi, thiếu nữ dạo đàn. Hai người đàn tiêu tấu hợp, khiến cho Vương Phúc ngây ngất. Tấu xong lão nói :
– Khúc nhạc này đoạn đầu tha thiết như đôi lứa yêu nhau, khúc sau thì ly biệt thảm sầu, nhớ thương đằng đẵng. Đoạn cuối rõ ràng là tiếng thiếu phụ khóc chồng.
Vương Phúc gật đầu kính phục lão già :
– Bèo mây gặp gỡ, trước lạ sau quen. Chúng tôi không dám hỏi cao danh quý tính của tiên sinh và cô nương.
Lão già đáp :
– Từ ngày ra đời, dùng tiếng đàn làm vui thiên hạ, tôi chưa hề gặp được khách tri âm như công tử, tiểu thư, đáng lẽ phải mang gan ruột ra tạ lòng tri kỷ. Nhưng vì một lẽ khổ tâm riêng, tôi không thể tiết lộ danh tính. Đối với người khác tôi sẽ dùng danh tính giả, đối với công tử và tiểu thư thì chúng tôi không dám. Người ở trấn Bá-dương thương tài gọi chúng tôi là Vu-Sơn tiêu thần và tiểu nữ là Sa-Giang cầm tiên. Xin hai vị cứ dùng tên đó là được rồi.
Vương Phúc bảo thủy thủ làm cơm, lấy rượu mời Vu Sơn, chàng nói :
– Thưa tiên sinh, tôi họ Vương, nên thường gọi là Vương nhất-lang, còn cô nương đây họ Trần, bơi lội giỏi, có tên là Giao-long. Chúng tôi buôn bán trên sông. Ngày mai sẽ đi Giang-an, rồi theo Trường-giang vào Kinh-sở. Chúng tôi chỉ đi ít ngày rồi trở về trấn. Không biết bấy giờ có được gặp gỡ tiên sinh và cô nương không?
Chàng để ý thấy Sa Giang là một thiếu nữ nhu mì, với vẻ đẹp đầy sầu muộn. Thiếu nữ với Trần Quốc ngang tuổi nhau, chuyện trò tương đắc về âm nhạc. Hai người như quen thân nhau từ thuở nào rồi vậy.
Vu Sơn bảo Vương Phúc :
– Vương công tử phải cẩn thận, đường từ đây sang Kinh-Sở đang có đánh nhau lớn. Hôm qua tôi nghe tin, không biết quân Hán từ đâu kéo đến đánh chiếm Giang-an. Tôi lại nghe dường như quân Hán đã chiếm Việt-tây, Mỹ-cơ. Thủy quân Thục ở trấn Bá-dương có đến hai vạn, mới nhổ neo đêm rồi theo Dân-giang về Đông-sơn. Có lẽ để cứu Thành-đô hoặc Hán-nguyên bị lâm nguy cũng nên.
Vu Sơn lại thở dài :
– Tình hình này thì Ích-châu sẽ thuộc về Hán trong sớm tối mà thôi. Công-tôn Thuật chưa biết sẽ bị bắt, bị giết lúc nào. Có lẽ cha con tôi sẽ đi Thành-đô, để xem sự thay đổi của lớp sóng phế hưng. Ích-châu với một triều đình, nào vua, nào vương, nào hầu, nào quan lại. Rồi hoàng-hậu, phi tần, hoàng-tử, công-chúa, tiểu thư, công-tử... rồi phút chốc trở thành người vong quốc, không nhà, không cửa, không có cả đất mà chôn nữa.

Vương Phúc nghe Vu Sơn khuyên chàng nên tránh chỗ chiến tranh, rồi y lại bảo sẽ về Thành-đô xem chiến tranh, thì dường như y khuyên chàng là thực tâm, còn y về Thành-đô là có chủ ý riêng. Chàng cũng đang có ý đợi chuyến công tác này xong, xin Đào Kỳ cho phép cầm một đội quân đột nhập Thành-đô, giết Công-tôn Thuật trả thù nhà. Nếu được đi với Vu Sơn thì hay biết mấy, chàng nói với lão :
– Tiên sinh, nếu tiên sinh không chê anh em chúng tôi hủ lậu, chúng ta cùng đi Giang-an rồi vào Thành-đô một lượt, như vậy có nên chăng ?
Lão gật đầu đồng ý :
– Tạ lòng công tử chiếu cố, cha con chúng tôi sẽ cùng đi với công tử.
Vương Phúc cho thuyền nhổ neo rời trấn Bá-dương đi Nam-khê. Thuyền xuôi Trường-giang đi rất mau. Sông Trường-giang chảy cuồn cuộn giữa hai vách núi, trông xa xa như một bức tranh hùng vĩ. Trần Quốc là người học âm nhạc, tính lãng mạn, nay đứng trước cảnh đẹp của thiên nhiên, lòng nàng ngây ngất chứa chan. Nàng cầm tiêu thổi bản Động-đình dạ ca của Trương Chi, tiếng tiêu vang trên mặt nước. Vu Sơn và Sa Giang họa đàn và tiêu theo. Vương Phúc nhìn cảnh sông nước nghe tiếng nhạc, chàng có cảm tưởng như mình lọt vào non tiên. Chàng nghĩ :
– Gái nước Việt nhiều tình cảm, lạ yêu nước hơn yêu chồng. Gái Giang-đông chỉ biết có chồng, không biết đến nước... Nay cứ nhìn Trần Quốc đủ rõ. Người nàng mảnh khảnh nhu nhã như bông hoa lan buổi sáng. Thế mà ra tay chọc trời khuấy nước, cầm một vạn kỵ binh, đánh Mỹ-cơ trong một ngày lấy được thành, lấy mười đồn. Có ai ngờ nàng lội qua Độ-khẩu giữa mùa Đông lạnh buốt, nước chảy như thác chăng dây cho quân qua. Có ai ngờ nàng đánh bại thủy quân Độ-khẩu trong chốc lát không ? Bây giờ nàng nhu mì, ủy-mị thả hồn trong tiếng nhạc. Nếu ta có được người vợ như vậy, dù chết đến mấy lần cũng đáng.
Bỗng thuyền trưởng chạy vào khoang nói :
– Thưa chủ nhân phía trước có ba chiếc thương thuyền lớn, dường như trên thuyền người ta đang đánh nhau. Không biết là quan binh hay quân cướp, xin chủ nhân định liệu.
Vương Phúc cùng Trần Quốc ra ngoài khoang nhìn về phía trước, thấy ba chiếc thuyền buôn lớn đậu sát vào nhau. Trên thuyền có cuộc giao tranh. Nhưng cách xa quá nhìn không rõ. Chàng ra lệnh cho thuyền cứ thẳng đường đi tới.
Vu Sơn nói với Trần Quốc :
– Tiểu thư ! Ai đánh nhau mặc ai, chúng ta cứ tấu nhạc được chăng ?
Trần Quốc lấy ống tiêu dồn lực vào thổi bài Tình hận Trương Chi. Tiếng tiêu của nàng hàm chứa nội lực, vọng đi rất xa, hòa lẫn với tiếng sóng Trường-giang, thành một âm điệu như có như không, nửa tiên nửa tục. Sa Giang cũng mang đàn tranh ra tấu. Vương Phúc nhíu mày nhìn ba người :
– Ba người này mê âm nhạc quá rồi ! Phía trước người ta đang chém giết nhau, mà mình thả hồn trong cung nhạc được, thì cũng là một sự hiếm có trên thế gian.

Thuyền càng lại gần, tiếng đao kiếm chạm nhau chan chát càng nổi lên lớn hơn. Trên con thuyền chia làm hai phe, một phe mặc theo lối binh lính Thục. Một phe mặc theo lối dân buôn trên sông. Bên Thục có ba cao thủ, hai nam, một nữ đánh nhau với bên dân gian, cũng có ba người thôi. Ba cao thủ bên Thục, chàng nhận ra lão già dùng đao pháp vùng Hán-trung nội lực rất hùng tráng. Còn hai cao thủ một nam, một nữ xử dụng kiếm pháp rất lạ, chàng không nhận ra. Phía ba cao thủ dân gian thì một nam khoảng 50 tuổi và một đôi thiếu niên nam nữ. Ngoài ra còn một thiếu nữ đứng chống kiếm lược trận. Họ dùng thứ võ công hơi quen quen, song trong lúc nhất thời chàng chưa nhận ra. Võ công phe dân gian, chiêu thức kỳ bí, chiêu nào cũng khắc chế với võ công phái Thiên-sơn của chàng.

Chàng giật mình nghĩ :
– Nếu người nào học võ công này, chỉ cần một cao thủ bậc trung cũng đủ hạ một cao thủ bậc nhất của phái Thiên-sơn nhà mình.
Trong phép đấu võ, cứ mỗi chiêu đánh ra, ta phải tìm hiểu chiêu thức của mình để phá địch. Trong khi những chiêu thức đó, chiêu nào cũng hàm chứa thế phá võ công phái Thiên-sơn, nên Vương Phúc mới lo sợ. Người đàn ông dân gian lớn tuổi, quát lên phóng ra một chưởng dũng mãnh, ào ào chụp xuống. Người đàn ông có râu mép bên Thục, phản công lại bằng một chưởng rất hùng hậu. Cả hai đều nhảy lui lại vận khí. Vương Phúc nhận ra chưởng của người lớn tuổi dân dã, giống chưởng của Hoàng Thiều-Hoa đã đấu với chàng hôm trước. Chàng quay lại định hỏi Trần Quốc, thì nghe Vu Sơn nói với Sa Giang :
– Lão già bên Thục kia võ công không phải tầm thường, đôi nam nữ đi với hắn dùng võ công Lĩnh-nam. Ta nghe Kiến-Vũ sai Lĩnh-nam vương Nghiêm Sơn mang đạo quân Lĩnh-nam đi đánh Thục. Nghiêm vương gia ở Lĩnh-nam một thời gian, người mời được rất nhiều hào kiệt vùng cực nam theo giúp. Đám quân Thục này là bọn Tế-tác. Còn đám Lĩnh-nam kia chắc cũng là quân Hán. Chúng ta hãy ngồi quan sát xem sao đã.
Vương Phúc Trần Quốc nghe nói, bấy giờ mới biết cha con Vu Sơn là người có võ công tuyệt vời. Hai người nháy nhau, ý nói phải cẩn thận, lòng người nham hiểm khó đo.

Vương Phúc thấy lão già bên Thục xử dụng võ công Thiên-sơn, thuộc loại đại cao thủ, mà chàng không nhận ra lão là ai. Với nội lực, chưởng lực như lão ít ra cũng thuộc vào hàng sư phụ, sư thúc của chàng, người như thế đất Thục được mấy.
Trần Quốc nhìn qua, nàng nhận ra đôi nam nữ mặc theo lối binh lính Thục là Phong-châu song quái. Còn phía dân gian, nàng nhận ra họ là người thuộc phái Cửu-chân. Người lớn tuổi và đôi thiếu niên trẻ tuổi nàng chưa gặp bao giờ. Còn thiếu nữ xinh đẹp đứng lược trận chính là người mà nàng kính trọng ngang sư phụ, đó là Trưng Trắc. Thái độ Trưng Trắc uy nghiêm, phiêu hốt coi thường mọi chuyện.

Về phía Vũ Hỷ, y đấu với người đàn ông phái Cửu chân được ít hiệp thì yếu thế dần. Phương-Anh đấu với thiếu nữ trẻ tuổi, y thị có vẻ thắng thế hơn. Trần Quốc kinh ngạc tự hỏi :
– Ngày nọ Phong-châu song quái tới trang Thiên-trường gây sự với sư phụ mình, chỉ với mười chưởng, Phương-Anh đánh sư phụ mình lạc bại, mà sao thiếu nữ này đấu với y thị hơn trăm hiệp mà vẫn còn cầm cự được? Bản lãnh của nàng có phần ngang với Hoàng Thiều-Hoa là ít.
Còn thanh niên trẻ đấu với lão già bên Thục ngang tay. Công lực lão già hùng hậu, đao pháp tinh vi, mỗi chiêu đánh ra vèo vèo, thế mà vẫn không đàn áp được thanh niên, vì chàng sử dụng võ công Cửu-chân khắc chế võ công Trung-nguyên.
Thuyền của Vương Phúc sắp lại gần trận chiến, một người của phe Thục lớn tiếng :
– Ở đây đang có chiến tranh. Đao kiếm vốn vô tình, thuyền buôn nào đó xin tránh ra chỗ khác.

Biết người quan binh Thục bảo mình tránh ra xa để khỏi phiền phức. Tính ngang tàng nổi dậy, Trần Quốc ra hiệu cho thuyền thẳng tới. Nàng cầm ống tiêu thổi lên một bài, âm hưởng vang dội, nhu hòa mà hùng tráng. Nàng dùng nội lực chuyển tiếng tiêu đi rất xa. Bản nhạc nàng tấu đó là bản Động đình ca của Trương Chi, sau được Nguyễn Tam-Trinh nhuận sắc lại. Âm hưởng vui tươi như muôn ngàn tiếng chim hót buổi sáng mùa xuân, vừa hùng tráng như quân reo, ngựa hí.

Vũ Hỷ nghe tiếng tiêu, biết thuyền mới đến có người Lĩnh-nam, y hô lớn :
– Ngừng tay !
Hai bên cùng ngừng tay lui lại. Người đàn ông Lĩnh-nam lớn tuổi lên tiếng :
– Tiếng tiêu cử bài Động đình ca là biểu hiệu của phái Sài-sơn. Vậy không hiểu vị Thái bảo nào ở bên đó, xin xuất hiện để tương kiến.
Trần Quốc bỏ ống tiêu nói vọng sang :
– Trần Quốc, đệ tử đệ thất Thái-bảo Trần tiên sinh ở tại đây. Không biết vị cao nhân nào của phái Cửu-chân ở bên đó ?
Người đàn ông phái Cửu-chân nói lớn :
– Đinh Đại thuộc phái Cửu-chân, đệ tử là Quách Lãng cùng con gái là Đinh Bạch-Nương. Trần sư điệt, sao cháu lại ở đây ? Sư phụ cháu đâu ? Người vẫn mạnh chứ ? Lâu ngày quá ta không gặp người.
Nguyên Đinh Đại với Trần Quốc-Hương sư phụ của Trần Quốc là đôi bạn tương đắc.
Thuyền của Trần Quốc ghé sát vào với ba chiếc thuyền kia. Nàng cầm ống tiêu nhảy sang hướng Đinh Đại hành lễ :
– Tiểu nữ Trần Quốc xin tham kiến sư bá.
Nàng quay lại Trưng Trắc :
– Sư tỷ ! Tấm thân cao quý vạn thặng của sư tỷ sao cũng ở đây ? Đặng đại ca đâu rồi, đại ca có đi cùng với sư tỷ không ?
Trưng Trắc chỉ Song-quái :
– Chúng ta từ Lĩnh-nam sang đây trợ chiến cho Đinh tiên sinh, không ngờ gặp bọn Song-quái. Chúng giúp Công-tôn Thuật. Giữa đường hai bên gặp nhau gây cuộc ác đấu.
Thình lình Sa Giang nhảy vèo đến, dùng trảo tấn công lão già mặc binh phục Thục. Lão già lạng người đi tránh khỏi rồi phản công. Sa Giang là một ca kỹ xinh đẹp, nàng mặc quần áo lụa mỏng phất phơ trước gió. Nàng tấn công lão già Thục liên tiếp không ngừng. Nhưng chỉ được có mấy hiệp, nàng có vẻ yếu thế. Vu Sơn thấy vậy cầm ống tiêu đâm xéo vào lão già nói :
– Công-tôn Khôi, ngươi có nhận được ta không ? Ngươi đường đường là Bắc-bình vương lĩnh chức Tả tướng-quân, tại sao ngươi lại giả trang thành một tên lính già ? Dù ngươi có cháy thành than, ta cũng nhận được ngươi.
Lão già tức Công-tôn Khôi không trả lời, rút kiếm ra trả đòn. Thế là hai người đấu với nhau trên sàn thuyền. Võ công của Vu Sơn với Công-tôn Khôi cùng một môn phái. Có điều Vu Sơn thì nhẹ nhàng, phiêu hốt, còn Công-tôn Khôi thì nặng nề trầm mãnh.
Vương Phúc nghe Vu Sơn nói chàng mới giật mình :
– Thì ra lão già này là Công-tôn Khôi, tước phong Bắc-bình vương, lĩnh chức Tả tướng-quân của Thục. Y là em ruột Công-tôn Thuật, anh Công-tôn Thiệu, quyền lực y chỉ thua Công-tôn Thuật mà thôi. Y là vai sư thúc mình. Còn Vu Sơn là ai mà có thù với Công-tôn Khôi ? Võ công Vu Sơn cao hơn Khôi, vậy lão là ai ?
Công-tôn Khôi vừa đánh, vừa cười :
– Vương sư đệ, đã lâu lắm ta không được tin tức gì của sư đệ, không ngờ hôm nay gặp gỡ ở đây. Tại sao sư huynh, sư đệ gặp nhau, sư đệ không cùng ta hàn huyên chuyện cũ, lại muốn giết ta ?
Vu Sơn không trả lời, dùng vũ khí liên tiếp tấn công. Chiêu số của y cực kỳ thần tốc, ác liệt. Tiếng tiêu phát ra vi vu nghe rất êm tai. Người y phiêu phiêu hốt hốt, chiêu số lại kỳ diệu không biết đâu mà lường. Còn Công-tôn Khôi công lực mạnh như vũ bão, mỗi chiêu kiếm phát ra đều có tiếng xé gió, rít lên rùng rợn.
Trần Quốc hỏi khẽ Vương Phúc :
– Công-tôn Khôi cùng môn phái với đại ca phải không ?
Vương Phúc gật đầu :
– Y vào hàng sư thúc của tôi. Y là em ruột Công-tôn Thuật đấy. Trước đây, võ công y cao hơn tôi nhiều, nhưng gần đây, vì tửu sắc quá độ, công lực y giảm đi rất mau. Y hiện là Bắc-bình vương, lĩnh Tả tướng quân, một tay điều khiển binh mã miền này. Trọng trách ngang với tôi trước đây và hơn Trường-sa vương Công-tôn Thiệu.
Trần Quốc hỏi Sa Giang :
– Cô nương, dường như cô nương và lão bá có mối thù với Công-tôn Khôi phải không ?
Sa Giang rớt nước mắt nói :
– Đúng đó, chính y làm cho gia đình em tan nát. Em mất mẹ từ thuở mới có hai tháng. Ba người anh và mẹ em bị giết. Cha con em phiêu bạt giang hồ cũng vì y. Nếu chị có cách gì giúp em trả mối thù này thì muôn đời em không quên ơn.
Vu Sơn dồn Công-tôn Khôi tới đầu thuyền. Công lực Khôi giảm dần, chỉ còn lo chống đỡ. Y thở hổn hển, nhưng chiêu số phát ra vẫn mạnh như thường. Bỗng Vu Sơn kêu lớn lên :
– Công-tôn Khôi, không ngờ ngày hôm mi bị chết dưới tay ta, trên dòng sông Trường-giang này.
Dứt lời y đâm ba chiêu vào mắt Khôi. Công-tôn Khôi hoảng hốt lui lại thì chân đạp vào khoảng không. Y nhắm mắt chờ chết. Vũ Hỷ thấy vậy vung chưởng đánh vào sau lưng Vu Sơn cứu viện. Chưởng của y là Phục ngưu thần chưởng, ào ào chụp xuống. Chưởng chưa tới, mà Vu Sơn cảm thấy muốn bể lồng ngực.

Chúng ta nên nhớ cách đây hơn mười năm, y chỉ đánh một chưởng khiến Đào Thế-Kiệt phun máu miệng. Hơn mười năm nay theo Lê Đạo-Sinh, y luyện tập không ngừng, công lực ngày nay của y không kém gì Lê.
Trưng Trắc thấy thế, lách mình một cái đến sau Vũ Hỷ, tay nàng khoằm khoằm phát ra một chiêu Long-hổ trảo chụp vào cổ y. Vũ Hỷ hoảng hốt, thu chưởng về biến thành quyền đánh vào vai nàng. Trưng Trắc biến thành cầm nã, nắm lấy bàn tay y giật mạnh một cái, y loạng choạng chúi về phía trước. Nàng nhảy lui lại nói :
– Sư đệ ! Hai người đánh một không phải là đạo lý của phái Tản-viên.
Từ cách lách mình, phát chiêu, lui về của Trưng Trắc oai nghiêm như một người trên dạy người dưới. Vũ Hỷ giận cành hông phóng chưởng đánh Trưng Trắc. Trưng Trắc lắc đầu vẫy tay :
– Sư đệ ! Ta không muốn dính vào những việc dơ bẩn. Ngươi đừng ép ta.
Miệng nói nàng vung chưởng đỡ. Bùng một tiếng. Vũ Hỷ cảm thấy cánh tay tê chồn, nội lực Trưng Trắc vừa nhu hòa, vừa cương mãnh. Y nghĩ đến một truyện, toát mồ hôi :

Ngày nọ trong đại hội hồ Tây, Khất đại-phu dùng nội lực cương nhu hợp nhất đánh bại Lê Đạo-Sinh. Có lẽ Khất đại-phu đã truyền lại cho Trưng Trắc chăng ? Y khôn ngoan, kinh nghiệm chiến đấu. Thấy mình bất lợi giả bộ cười :
– Sư tỷ không muốn dây dưa thì thôi.
Chỉ một chiêu của Vũ Hỷ can thiệp làm Vu Sơn phân tâm một chút. Công-tôn Khôi lấy lại được tư thế. Y nhảy vọt lên cao đá gió, người đã ở giữa thuyền. Nhưng Vu Sơn theo y như bóng với hình. Y hoảng hốt, vừa lui, vừa đỡ. Phương-Anh thấy y lâm nguy, rút kiếm đỡ ống tiêu của Vu Sơn. Nhưng kiếm chưa ra hết, Đinh Đại đã quát lên một tiếng. Ông xử dụng kiếm pháp Cửu-chân tấn công vào ngực y thị. Y thị kinh hoàng thu kiếm về đỡ. Đinh Đại đã tra kiếm vào vỏ :
– Phương-Anh! Không nên can thiệp vào truyện người khác.

Phương-Anh nổi giận chém liền năm chiêu vèo vèo vào Đinh Đại. Ông nhảy lui lại trả đòn. Vu Sơn đã dồn Công-tôn Khôi đến gần ngộp thở, thì Vũ Hỷ lại nhảy vào. Lần này Trưng Trắc không can thiệp nữa.

Vương Phúc đứng ngoài lược trận. Thình lình chàng rút kiếm tấn công Vũ Hỷ năm chiêu. Mỗi chiêu biến thành bảy tám bao trùm lấy y. Từ lúc hai thuyền kế nhau. Vũ Hỷ đã chú ý đến Vương Phúc, vì chàng hóa trang, y cho rằng chàng là một lái buôn. Bây giờ thấy chàng ra chiêu cùng một thứ võ công Thiên-sơn của Công-tôn Khôi, kình lực không kém gì Khôi. Y vừa đỡ vừa lui lai. Y dùng kiếm pháp Tản-viên.

Một bên nổi tiếng Phong-châu song quái kinh nghiệm lâu năm, gian manh nhất thiên hạ. Một bên trí dũng kiêm toàn, tư thái đường đường chính chính của bậc vương giả. Hai người diễn ra trận đấu trên sàn thuyền. Thế là trên sàn thuyền diễn ra ba cặp song đấu kịch liệt. Vu Sơn dùng một tuyệt chiêu đánh rơi kiếm của Công-tôn Khôi, rồi dí tiêu vào cổ y. Ông cười gằn :
– Sư huynh, hôm nay ngươi phải chết dưới tay ta.
Bỗng có tiếng quát :
– Ngừng tay, bằng không chúng ta buông tên.
Mọi người đều nhảy lùi lại, thì ra trong lúc hai bên mê trận, ba chiến thuyền Thục đã tới hồi nào. Trên thuyền thủy thủ đều cầm tên, dương cung chĩa sang. Viên chỉ huy nói :
– Các ngươi để cho Vương-gia của chúng ta về bên này, ta để cho các ngươi đi.
Trưng Trắc thấy tình thế nguy ngập, nàng nói với Vu Sơn :
– Tiêu thần tiên sinh ! Xin tiên sinh cứ tha cho Công-tôn vương-gia. Vương-gia làm ác, ngày đền tội sẽ không xa đâu.
Vu Sơn không biết Trưng Trắc là ai. Song thấy tư thái nàng vừa uy nghiêm, vừa nhu nhã tỏ ra một đại tôn sư đương thời. Võ công của nàng tuyệt cao, thì tin tưởng lời nói của nàng không phải là quá đáng. Ông nói :
– Công-tôn Khôi, hôm nay ta tha cho ngươi, nhưng ngươi đã bại dưới tay ta rồi, một ngày kia ta sẽ xẻo thịt ngươi cũng chưa muộn.
Đinh Đại nói với Trưng Trắc :
– Đặng phu nhân phải cẩn thận. Phong-châu song quái tráo trở không ngừng. Chúng ta tha chúng về, chúng trở mặt bắn tên sang thì nguy.
Trưng Trắc mỉm cười :
– Đinh hầu đừng e ngại, tôi có cách đối phó. Song quái là người của Tản-viên, họ có làm gì chăng nữa, cũng không qua khỏi sự ước tính của tôi.
Mọi người thấy thái độ bình tĩnh uy nghi của Trưng Trắc, thêm tin tưởng. Trước đây nàng ra tay tấn công Vũ Hỷ rồi lên tiếng dạy dỗ y, làm y không nói được lời nào. Bây giờ nàng lại ung dung xử lý vấn đề, tự coi Song quái như nằm trong tay nàng vậy.
Nàng nói với Trần Quốc :
– Phiền sư muội giúp cho một tay, đưa Công-tôn vương gia về thuyền giùm.
Nàng ghé tai Trần Quốc nói mấy câu. Trần Quốc toét miệng cười như nắc nẻ. Nàng cầm dao dí vào cổ Công-tôn Khôi cùng hắn đi sang thuyền Thục. Nàng nói :
– Bắc-bình vương-gia ! Vương-gia là Tả tướng quân của Thục, chắc Vương-gia thông hiểu đại cuộc. Nếu người của Vương-gia trở mặt buông tên, hoặc có hành vi gì định hại tôi, con dao này sẽ xuyên qua ngực Vương-gia đấy. Tôi nói được là làm được.

Công-tôn Khôi thấy Trần Quốc mảnh mai xinh đẹp, thân pháp nhẹ nhàng thì biết là người có võ công không tầm thường. Y tím mặt đi theo nàng. Trần Quốc theo Công-tôn Khôi sang thuyền y. Song quái cũng về thuyền chúng. Bốn chiến thuyền của Thục rời xa dần, còn lại hai chiến thuyền của Vương Phúc dàn thành hàng dài. Bảy chiếc thuyền chia làm hai toán rời xa nhau. Mọi người không biết Trưng Trắc dự tính giải quyết thế nào, khi Trần Quốc phải sang thuyền của Công-tôn Khôi.
Hai đoàn thuyền của hai phe xa nhau hơn một lằn tên, bọn thuộc hạ của Công-tôn Khôi bảo Trần Quốc :
– Bỏ đao xuống nếu không mất mạng.
Trần Quốc cười :
– Ta đang định bỏ, nhưng các ngươi quát bảo ta bỏ, ta không bỏ đấy ! Các ngươi làm gì ta ?
Bốn thanh kiếm từ bốn phía hướng nàng đâm xéo tới. Trần Quốc biết thế nguy, nàng nhún chân nhảy vọt lên cao túm lấy cột buồm, nhìn xuống cười :
– Các ngươi có giỏi lên đây bắt ta.
Một thiếu nữ tuổi khoảng 18-19 chạy đến bên Công-tôn Khôi hỏi :
– Gia gia ơi ! Gia gia có sao không ?
Công-tôn Khôi lắc đầu. Bảo thuộc hạ :
– Các ngươi bắt con nhỏ đó cho ta.
Nói rồi y vào khoang thuyền. Trần Quốc nghĩ được một kế nói:
– Thôi các ngươi lui ra, ta xuống cho mà bắt.
Nàng buông tay đáp xuống như chim. Vừa xuống sàn thuyền, nàng ôm lấy con gái Công-tôn Khôi, lăn ùm xuống nước. Bọn thủy thủ trên thuyền la hoảng lên.
Công-tôn Khôi hô lớn:
– Các ngươi phải cứu Quận-chúa cho mau.
Bọn thủy thủ nhìn xuống sông, song không thấy Trần Quốc và Quận-chúa đâu cả. Chúng ngó ra xa xem có thấy hai người nổi lên không, nhưng cũng biệt tăm. Vũ Hỷ nhảy sang thuyền Công-tôn Khôi quan sát. Y nói:
– Có lẽ chết chìm cả hai rồi. Nước chảy xiết thế này, lại đang rét mùa Đông, công lực nào chịu cho thấu?
Công-tôn Khôi ra lệnh cho thủy thủ thả mủng xuống, chèo dọc sông tìm kiếm.
Nguyên do lúc còn ở trên thuyền. Trưng Trắc dặn Trần Quốc rằng, sau khi tới thuyền Công-tôn Khôi, nàng nhảy xuống nước trở về thuyền mình. Trưng Trắc sẽ cho thuyền xuôi theo dòng sông để Trần Quốc lên.

Bản tính Trần Quốc thông minh, được sư phụ cưng chiều, ngỗ nghịch đã quen. Tuy tuân lệnh Trưng Trắc, nhưng nàng thuận tay bắt sống quận chúa Thục mang theo. Nàng cặp quận chúa lặn thẳng tới mạn bên kia thuyền mới trồi lên. Đứng bên này thuyền Trưng Trắc nhìn thấy hết. Tính nàng không giống Trưng Nhị. Trưng Nhị vui vẻ, hồn nhiên. Nàng thì nghiêm trang ít đùa. Nhưng thấy Trần Quốc phá phách có ích, nàng cũng bật cười. Nàng nói một mình:
– Bố ta nói rằng tám vị Thái-bảo Sài-sơn là những bậc thầy giỏi nhất Lĩnh-nam. Cứ thấy một cô bé ngây thơ như Trần Quốc, mà có hành động mẫn tiệp như vậy, đủ rõ cách dạy người của sư bá Trần Quốc-Hương như thế nào.
Trần Quốc cặp quận chúa Thục nổi lên mé bên kia thuyền, trên thuyền Thục không nhìn thấy. Nàng vọt một cái, người bay lên cao như một con cá chép, đáp xuống mạn thuyền. Đinh Bạch-Nương đỡ quận-chúa Thục vào khoang, dốc ngược chân cho nước chảy ra. Nàng để tay lên ngực quận-chúa, dồn chân khí vào, một lát quận chúa mở mắt, thở như thường. Nàng thấy toàn người lạ, tu lên khóc. Trưng Trắc bảo nàng:
– Quận-chúa đừng sợ. Chúng ta là người nghĩa hiệp, quyết không làm nhục, cũng không làm hại nàng đâu.

Người Hán vốn coi thường phụ nữ, cho nên Vu Sơn tiêu thần cũng cùng một quan niệm. Nhưng từ lúc xuống thuyền Vương Phúc đến giờ. Ông thấy nào là Trần Quốc, nào là Đinh Bạch-Nương, nào Phương-Anh, nào Trưng Trắc đều là những phụ nữ trẻ tuổi xinh đẹp, có hành động xuất chúng. Ông ngạc nhiên như đi vào thế giới mới lạ. Trưng Trắc đọc được tư tưởng của ông, nàng tủm tỉm cười. Trần Quốc giới thiệu mọi người với Vương Phúc.
Trưng Trắc hỏi Vu Sơn:
– Thần tiêu tiên sinh ! Nếu tiên sinh coi chúng tôi như người nhà. Tiên sinh có thể cho chúng tôi rõ mối thù giữa tiên sinh với Công-tôn Khôi không ? Bởi lát nữa tôi sẽ bắt y giao cho tiên sinh, để tiên sinh trả thù. Vì vậy hành vi của chúng ta phải quang minh chính đại, cần biết rõ nguồn gốc, tội trạng y. Mong tiên sinh miễn cho cái tội tò mò.
Vu Sơn mơ màng nhìn về phía chân trời xa xăm, như để nhớ lại những kỷ niệm hai mươi năm về trước. Ông nói :
– Với Đặng phu nhân, tôi không thổ lộ tâm sự thì thổ lộ với ai bây giờ ?
Bất thình lình ông vùng dậy, đâm ống tiêu vào giữa mắt Vương Phúc. Bị tấn công như chớp, nhưng chàng là người kinh nghiệm chiến đấu đã quen, né người tránh kịp. Vu Sơn biến thế đâm thành thế móc đánh vào cổ chàng. Chàng bật ngón trỏ ra, nếu Vu Sơn tiếp tục đánh, tay ông tự đập vào ngón trỏ của chàng. Vu Sơn rút ống tiêu về, đâm vào giữa ngực của chàng. Chàng chụp tay như móc câu bắt lấy tay ông. Ông vội buông tiêu gạt. Bốp một tiếng, cả hai người đều lùi lại, xương cốt kêu răng rắc.
Vương Phúc lên tiếng :
– Vu Sơn tiên sinh ! Tiểu bối biết tiên sinh muốn trắc nghiệm võ công, mới phải chống đỡ. Xin tiên sinh lượng thứ cho.
Trưng Trắc, Đinh Đại thấy Vương Phúc còn trẻ mà có bản lĩnh cùng kinh nghiệm chiến đấu như thế thì lấy làm ngạc nhiên vô cùng. Cả hai đều nghĩ :
– Đất Lĩnh-nam có lẽ chỉ có Đào Kỳ là so sánh được với chàng mà thôi.
Đinh Đại thấy tướng mạo Vương tiêu sái, nói năng lễ độ biết chàng cũng là người đọc sách. Ban nãy Trần Quốc giới thiệu giản dị rằng Vương đại ca, Trưng Trắc tưởng một tướng nào của Hán theo công tác mà thôi. Bây giờ mới chú ý đến. Trưng Trắc thấy Vu Sơn tấn công chàng, những tưởng rằng họ muốn thử nghiệm võ công. Nhưng bây giờ thấy vẻ mặt ông cùng với Sa-Giang đầy vẻ khủng khiếp, thì ngẩn người ra.
Vu Sơn thở dài :
– Thì ra Bình-nam vương-gia đây ! Kẻ hèn này có mắt như mù, ngồi thuyền cạnh Vương-gia mà không biết Vương-gia. Thảo nào võ công tuyệt vời.
Ông quay lại giới thiệu với Trưng Trắc :
– Người này con của Công-tôn Thuật tên Công-tôn Phúc tước phong Bình-nam vương, điều khiển toàn bộ binh mã Thục ở miền Nam Ích-châu.
Trần Quốc biết Vu Sơn hiểu lầm, xen vào :
– Lão gia ! Lão gia lầm rồi, trước đây Vương đại-ca là Bình-nam vương. Vương đại-ca là con nuôi Công-tôn Thuật chứ không phải con đẻ. Hai mươi năm trước, thân phụ đại ca bị Công-tôn Thuật hại, bắt Vương đại ca nuôi làm con. Cho nên trong trận đánh Độ-khẩu, Vương đại-ca đấu võ với nguyên soái đạo Lĩnh-nam là Đào Kỳ, rồi kết bạn giữa trận tiền. Đạo quân Lĩnh-nam chiếm được 7 thành Nam Ích-châu là nhờ công của Vương đại-ca. Vương đại-ca họ Vương chứ không phải họ Công-tôn.
Vu Sơn thu chiêu, ông giật bắn người lên hỏi :
– Công tử họ Vương ? Tại sao Công-tử biết mình họ Vương ?
Vương Phúc điềm nhiên nói :
– Nhũ mẫu của tôi nói cho biết như vậy. Nhũ mẫu thuật rằng Công-tôn Khôi vì mê sắc đẹp của mẫu thân tôi mà hại cha tôi. Công-tôn Thuật lúc đầu nghe lời Khôi. Sau khám phá ra cha tôi bị hàm oan, mới đem anh em chúng tôi về phủ nuôi nhận làm con đẻ.
Vu Sơn mắt mờ đi, lệ chảy tuôn xuống má, hỏi :
– Có phải năm nay công tử được hai mươi ba tuổi không ? Công tử sinh tháng ba, giờ Dần, ngày mồng chín.
Vương Phúc giật mình :
– Sao tiên sinh biết rõ thế ?
Vu Sơn nói tiếp :
– Em kế nhỏ hơn công tử 18 tháng, y sinh tháng chín giờ Thìn, ngày 12. Em thứ ba công tử nhỏ hơn anh 20 tháng, sinh tháng năm, giờ Thìn. Có đúng thế không ? Nhũ mẫu công tử là A Ninh, năm nay 45 tuổi.
Vương Phúc đáp :
– Đúng ! Không sai chút nào. Tại sao tiên sinh lại biết như vậy ?
Vu Sơn không trả lời Vưng Phúc, ông nói với Trưng Trắc :
– Tôi xin thuật truyện cho Đặng phu nhân nghe. Tôi xuất thân từ phái Thiên-sơn, sư phụ tôi thu tất cả bảy đệ tử. Anh em chúng tôi đều được sư phụ huấn luyện trở thành văn võ toàn tài. Chúng tôi được đời tặng cho danh hiệu Thiên-sơn thất hùng.
Trần Quốc xen vào :
– Trước khi tiến quân vào đất Thục, Lĩnh-nam vương kể cho cháu nghe rằng Thiên-sơn thất hùng tài năng quán chúng. Người nào cũng văn võ toàn tài, đởm lược hơn người. Vì vậy họ mới xưng đế đất Thục, dám chống lại Hán triều. Dù họ là đế, là vương, là dân dã, họ vẫn gọi nhau bằng sư huynh, sư đệ ăn cùng mâm ngủ cùng giường. Họ đối với thuộc hạ coi như chân tay gan ruột, sĩ tốt một lòng sống chết với họ. Tài ba như Đặng Vũ, Ngô Hán, Sầm Bành mà cũng bị đánh bại. Vì thế Kiến-Vũ thiên tử mới thỉnh Lĩnh-nam vương ra quân.
Vu Sơn gật đầu :
– Tiểu cô nương tri kỷ của ta ơi, kiến thức của cô nương rộng đấy. Đúng như cô nương nói. Trong Thiên-sơn thất hùng ta được sư mẫu thương yêu nhất, dốc túi truyền âm nhạc. Ta thích làm quan, đi thi đậu Hiếu liêm, có bản lĩnh khá cao vì thế không thiếu gì nơi rắp ranh gả con gái. Hiềm vì bản tính ta thích âm nhạc, chỉ chăm chú học tiêu, học đàn. Rồi một hôm ta ra chợ huyện, thấy cô ca kỹ đang ngồi ôm xác cha khóc lóc thảm thiết. Ta hỏi tới sự tình, cô gái kể rằng nàng mới 15 tuổi, theo cha đi hát rong kiếm tiền. Đêm qua chẳng may cha chết, nàng không tiền chôn cha. Ta thương tình, bỏ tiền ra chôn cất cha nàng rất tử tế. Nàng cảm nghĩa, nguyện suốt đời làm nô tỳ cho ta. Ta thấy nàng xinh đẹp tuyệt trần, lại thấy tài cầm ca của nàng mà không nghĩ đến thân phận nghèo hèn. Vì vậy ta tuyển nàng làm cơ thiếp. Tin này đến tai cha ta. Bấy giờ người đang làm Thứ-sử Kinh-châu. Người đùng đùng nổi giận bắt ta phải trở về cưới vợ. Ta tuân lời cưới con gái Thứ-sử Tây-xuyên làm chính thất. Thế là ta có chính thất, thứ thiếp. Cuộc sống rất đầm ấm. Bấy giờ các sư huynh, sư đệ của ta đều xuống núi lập nghiệp. Công-tôn Thuật, Công-tôn Khôi, Công-tôn Thiệu đều làm huyện-lệnh, thái-thú. Đặng phu nhân thử tưởng tượng xem, chúng ta bốn sư huynh, sư đệ làm thái-thú bốn quận liên tiếp nhau, thế lực mạnh như thế nào ?
Ông thở dài tiếp :
– Trong thất hùng chúng ta còn ba người chưa xuất thân. Đó là Điền Sầm, Tạ Phong và Triệu Khuôn. Chúng ta nâng đỡ cử họ làm đô-úy thuộc quyền. Thế là Thiên-sơn thất hùng chiếm lĩnh 6 quận liên tiếp, thế lực hùng hậu vô cùng. Kịp đến khi Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán. Anh em chúng ta chiếm lĩnh Đông-xuyên, Tây-xuyên, Ích-châu, Kinh-châu, dựng thành nước Thục, mộng chiếm Trung-nguyên. Không ngờ Công-tôn Khôi lòng lang dạ thú. Y thấy chính thê của ta xinh đẹp, khi ta vắng nhà y đột nhập vào trêu ghẹo, nàng không chịu, y hãm hiếp rồi phóng chưởng giết chết. Thuận tay y đốt nhà ta quăng tất cả con cái, đầy tớ vào đống lửa, rồi vu cho ta tội phản bội Công-tôn Thuật. Công-tôn Thuật cho lệnh tầm nã ta. Ta bôn ba giang hồ trốn tránh. Cũng may ta gửi đứa con gái của chính thất cho ngoại nó nuôi, nên mới còn sống sót, là con bé này đây.
Ông chỉ vào Sa Giang, rồi tiếp :
– Ta bỏ trốn đến vùng Lũng-hữu, đần quân với Ngỗi Hiêu. Ngỗi Hiêu phong ta làm Đại-tư-mã. Quang-Vũ mang quân đánh Ngỗi Hiêu. Ta chống trả làm các tướng Sầm Bành, Đặng Vũ đều bị bại. Ngỗi Hiên chết, con Ngỗi Hiêu là Thuần kế nghiệp. Giữa lúc đó Quang-Vũ đem đại quân đến đánh. Công-tôn Thuật phong cho người em thứ bảy trong Thiên-sơn thất hùng là Triệu Khuôn làm Lũng-tây vương, mang quân cứu viện ta.

Khi ta gặp sư đệ Triệu Khuôn, y cho biết Công-tôn Khôi được phong Bắc-bình vương lĩnh chức Tả tướng-quân. Y không hề giết vợ con ta mà chỉ cướp tỳ thiếp của ta mà thôi. Công-tôn Thuật điều tra ra dã tâm của Công-tôn Khôi, bắt y trấn thủ vùng Kim-sơn không cho về triều nữa. Ta hối hận ngờ oan Công-tôn Thuật, nhân lúc Ngỗi Thuần hàng Hán. Ta giao tất cả quân tướng các châu, huyện cho Thuật, rồi tuyệt tích giang hồ, tìm Công-tôn Khôi trả thù.
Trưng Trắc thở dài :
– Thế mà người ta bảo Công-tôn Thuật sai Triệu Khuôn vờ cứu tiên sinh, rồi nhân đó cướp thành trì, binh tướng. Oan cho Công-tôn Thuật quá.
Đinh Đại tiếp:
– Thì ra tiên sinh là Vương Nguyên nức tiếng Trung-nguyên đấy.
Tất cả mọi người ngồi trên thuyền đều kêu lên tiếng úi chà. Vì Vương Nguyên là tướng đại tài phò Ngỗi Hiêu chiếm Lũng-hữu, đánh Quang-Vũ nhiều trận kinh hồn táng đởm. Những đại tướng như Đặng Vũ, Ngô Hán, Sầm Bành, Mã Viện đều thua chạy. Tài dùng binh của y đã giỏi, võ công lại rất cao cường.
Vương Phúc đến trước mặt Vu Sơn lạy tám lạy:
– Con bất hiếu là Vương Phúc xin ra mắt phụ thân.
Vương Nguyên chỉ Sa Giang:
– Em con đây.
Trưng Trắc để cha con họ Vương khóc một lúc, rồi mới nói:
– Bây giờ chúng ta bắt Công-tôn Khôi để Vương tiên sinh báo thù.
Nàng gọi ba thuyền trưởng lại dặn dò chi tiết, rồi ghé tai Trần Quốc nói nhỏ mấy câu. Trần Quốc cười khúc khích gật đầu tuân lệnh. Nàng nói với Vương Phúc:
– Vương đại-ca! Trước đây tôi hứa bắt Công-tôn Khôi cho đại-ca trả thù. Hôm nay tôi thực hiện lời hứa đây.
Bấy giờ ba thuyền của Lĩnh-nam đã tới gần ba thuyền của Thục. Thủy thủ Thục thấy vậy đều dương cung, cầm tên chuẩn bị tác chiến. Song thuyền Lĩnh-nam cứ đi song song theo thuyền Thục, cách một lằn tên.

Phía bên Thục vì muốn tìm xác quận chúa, họ tưởng thuyền Lĩnh-nam đang tìm xác Trần Quốc như họ, không chú ý. Hai dãy thuyền đi đi lại lại được một lúc, bất thình lình một thuyền bên Thục bị thủng đáy, nước chảy vào ào ào. Thủy thủ la hét tìm cách đút nút lỗ thủng. Nhưng lỗ bằng cái mâm, nước ào vào như thác đổ. Thuyền trưởng cho thủy thủ chèo thật mau, áp vào thuyền khác. Thủy thủ vừa sang hết, con thuyến từ từ chìm xuống.
Vũ Hỷ là người khôn ngoan y nói với Công-tôn Khôi:
– Vương gia! Dường như bên Lĩnh-nam cho người đục thuyền ta thì phải?
Thuyền trưởng nhìn Vũ Hỷ cười khinh bỉ:
– Vũ tiên sinh nói lạ. Nước sông Trường-giang chảy xiết thế này, trời đang tiết Đông-chí, lạnh thấu tim gan, hỏi ai có bản lĩnh nhảy xuống nước mấy phút mà không bị nước cuốn đi? Dù nước không cuốn đi thì máu cũng đông lại mà chết, làm sao đục thuyền được. Thuyền của ta là chiến thuyền đáy chìm sâu hơn một trượng. Ai dám lặn xuống mà đục được một lỗ to như vậy? Họa chăng là Giao-long!
Vũ Hỷ thấy thuyền trưởng nói có lý nhưng y vẫn nghi ngờ. Lát sau thủy thủ ở ba chiến thuyền khác cũng kêu lên những tiếng kinh hoàng. Vì ba con thuyền đều bị thủng đáy, lỗ to tròn như cái mâm.
Công-tôn Khôi ra lệnh:
– Thả mủng xuống!
Trên mỗi con thuyền đều có hai cái mủng cấp cứu. Mủng được thả xuống nước. Công-tôn Khôi, Vũ Hỷ cùng nhảy xuống một cái với vợ. Còn mấy cái khác thì các tướng nhảy xuống. Còn lại quân sĩ la hoảng, nhảy ùm xuống sông bơi vào bờ. Thuyền ở giữa sông nước chảy xiết, trời tháng chạp lạnh thấu xương, nên chúng vừa bơi kêu cứu.

Trưng Trắc cho ba chiếc thuyền Lĩnh-nam đến gần, thả dây xuống cho chúng bám, lôi lên sàn thuyền trói lại. Tuy nàng cứu kịp thời, nhưng số thủy thủ Thục chỉ sống sót có một nửa, còn hầu hết bị nước cuốn đi mất. Nàng cho thuyền đuổi theo chiếc mủng chở Công-tôn Khôi, Vũ Hỷ đang chèo ở cuối dòng nước.

Bất thình lình, chiếc mủng lại cũng bị thủng một lỗ, nước tràn vào. Vũ Hỷ cùng vợ bỏ Công-tôn Khôi, nhảy xuống nứơc bơi vào bờ. Công-tôn Khôi đang chới với giữa chiếc mủng thủng, thì một con cá cực lớn nhảy vọt lên cao, đáp giữa mủng. Y nhìn ra là Trần Quốc. Y kinh hoảng chụp lấy vai nàng. Trần Quốc không tránh, còn ôm lấy y lặn xuống nước. Mấy khắc sau, người ta thấy Trần Quốc nổi lên, tay túm tóc Công-tôn Khôi, y bị ngất xỉu vì ngộp nước. Đinh Bạch-Nương tung sợi dây xuống cuốn lấy Trần Quốc, nàng giật mạnh một cái, Trần Quốc, Công-tôn Khôi vọt lên sàn thuyền. Vương Nguyên nhìn Trần Quốc bằng con mắt khâm phục.


Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ 6

Tây-vu Lục-hầu tướng



Trưng Trắc lệnh cho thuyền xuôi giòng sông. Nàng kể cho Vương Phúc, Trần Quốc nghe: Nguyên sau khi Nghiêm Sơn, Đào Kỳ xuất chinh, thì ở nhà Phong Châu Song-quái vượt ngục. Vũ Trinh Thục là người cầm đầu hệ thống Tế-tác Lĩnh Nam, được tin chính Lê Đạo Sinh cứu Song-quái, rồi cùng các đệ tử như Đức Hiệp, Hoàng Đức lên đường đi Trung Nguyên. Vũ Trinh Thục không biết bọn họ đi Trung Nguyên làm gì. Trưng Trắc viết thư thông báo cho các lộ anh hùng Lĩnh Nam biết. Đặng Thi Sách ước tính Lê Đạo Sinh đi Trung Nguyên sẽ bất lợi cho Nghiêm Sơn.

Giữa lúc đó Đặng Thi Sách được thư của Tây Vu Thiên ưng lục tướng tức Lục Sún hỏi về lời cam kết giữa Thi Sách với Công Tôn Thiệu trên núi Kim Sơn cách đây hơn mười năm. Thi Sách chưa kịp trả lời, lại được thư của Phùng Vĩnh Hoa với các anh hùng Lĩnh Nam đạo Hán Trung, cũng hỏi về chuyện đó. Đặng Thi Sách, Trưng Trắc không dám quyết định, hội ý với Đào Thế Kiệt, để cùng đi Trung Nguyên quan sát tình hình. Hai người viết thư trả lời Phùng Vĩnh Hoa phải "cẩn thận". Giữa lúc chuẩn bị lên đường thì Đào Thế Kiệt lâm bịnh nặng. Ông sai sư đệ Đinh Đại, mang theo đệ tử Quách Lãng với con gái là Đinh Bạch Nương lên đường. Mục đích chuyến đi, báo cho anh hùng Lĩnh Nam biết vụ Lê Đạo Sinh để đề phòng. Mục đích thứ nhì, quan sát tình hình Trung Nguyên, hầu đưa ra quyết định kịp thời.

Trưng Trắc tới Phiên Ngung, thì bản doanh của Nam Hải nữ hiệp đã dời vào đất Thục. Trưng Trắc gặp Lương Hồng Châu, Lê Ngọc Trinh trấn giữ hậu quân, tiếp tế cho đạo binh của Đinh Công Thắng và Triệu Anh Vũ.

Trần Quốc tường thuật tỉ mỉ từ ngày tiến quân sang Trung Nguyên đến giờ. Nhất là những gì đạo quân Lĩnh Nam đã làm. Nhiệm vụ của nàng với Vương Phúc là liên lạc với đạo quân Đinh Công Thắng. Trên đường đi, gặp Vương Nguyên, rồi gặp Trưng Trắc. Trong khi đó chính Trưng Trắc đang trên đường liên lạc với đạo quân Đào Kỳ.

Vương Phúc là Bình Nam Vương, trấn thủ mặt Nam Ích Châu. Chàng nổi tiếng có tài dùng binh. Nghe Trưng Trắc kể, chàng thắc mắc:

– Núi Kim Sơn cao đến hai ngàn trượng (4000 mét ngày nay), muốn đi từ Tượng Quận vào thục phải băng qua đến hai mươi ngọn núi. Núi cao trùng trùng điệp điệp. Trên đỉnh núi quanh năm có tuyết. Đến con chim bay qua còn khó khăn thay, làm thế nào đưa một đạo quân vào?

Trưng Trắc tường thuật.

Đoạn này thuật cuộc tiến quân của đạo binh
Đinh Công Thắng và Triệu Anh Vũ vượt núi Thiên-sơn

Đinh Công Thắng với Triệu Anh Vũ mang đội quân Thần Hầu của Hồ Đề hơn vạn người đến Xích Thủy. Cả hai người đều tuổi Trung niên trên 40, võ công cao, kinh nghiệm nhiều, văn võ kiêm toàn. Họ ở vai sư thúc Nghiêm Sơn, danh dự, địa vị đáng tôn kính, cho nên dù giá nào, họ cũng phải vượt Kim Sơn vào Thục.

Triệu Anh Vũ đề nghị:

– Đinh Công huynh là chủ tướng, chỉ huy phía sau, tôi là phó tướng phải lên trước. Nếu tôi lên xong, đổ núi, thì Đinh Công huynh hãy lên thì vừa.

Đinh Công Thắng không chịu:

– Tôi là chủ tướng, tôi đi trước, Triệu huynh đi sau.

Hai người thâm trầm, họ không cãi nhau, mà đề nghị rút thăm. Khi rút thăm thì Triệu Anh Vũ được đi trước. Đinh Công Thắng dặn:

– Triệu huynh lên đầu tiên, nhớ cẩn thận, vì phía bên kia núi, Công Tôn Thuận đóng một đội tiễn thủ trên trăm người. Hãy đợi chúng ta lên đông đủ rồi cùng đánh xuống một thể.

Điều khiển đội Thần hầu là Tây Vu lục hầu tướng. Tuổi chúng từ 13 đến 17. Ông chỉ huy là Trung Quân hầu tướng, tuổi lớn nhất là 17. Người Tây Vu sống với núi rừng thiên nhiên. Họ bắt khỉ nuôi, dạy như người để sai vặt. Khi Hồ Đề được bầu làm Thống Lĩnh, nàng hợp những người nuôi khỉ, dạy khỉ lại gom góp kinh nghiệm. Từ đó nàng đưa ra phương pháp nuôi, dạy khỉ. Nàng cho lệnh bắt khỉ, chia thành từng trăm con, nuôi chúng bằng rau, đậu, trái cây có tẩm nước muối. Chỉ ít lâu sau chúng trở thành ghiền. Đuổi chúng cũng không đi. Nàng huấn luyện chúng như một đội quân.

Đội Thần hầu lên đến mấy ngàn con. Nàng chia chúng thành một Ngũ 5 con. Một Lượng 25 con. Một tốt 100 con. Một Lữ 500 con. Nàng có tất cả 5 Lữ cộng chung tới 2500 con. Khi quyết định Bắc viện, nàng tuyên bố chọn một Lữ 500 con theo. Các Lữ trưởng tranh nhau đòi đi. Cuối cùng nàng cho thi leo cây, băng núi. Nếu tướng sĩ chỉ huy Lữ nào giỏi hơn hết thì được tùng chinh. Sau cuộc thi, TâyVu lục hầu tướng thắng.Nàng quyết định mang cả Lữ của Lục hầu tướng lên đường. Nàng còn đem theo đội dã nhân, tức Hầu quân hầu tướng 100 con nữa.

Tây Vu lục hầu tướng là 6 đứa trẻ. Cha mẹ nó bị người Hán giết chết, hoặc bị bắt đi lao binh. Chúng bơ vơ côi cut, nàng đem về nuôi dạy. Chúng sống chung với khỉ, leo trèo mãi thành quen. Suốt ngày chúng đu từ cây nọ sang cây kia. Chúng chỉ huy đàn Thần hầu rất giỏi.

Triệu Anh Vũ hỏi Trung quân hầu tướng là Hoàng hầu;

– Bây giờ cháu cho đội nào xuất trận đầu tiên?

Hoàng Hầu hỏi:

– Sư bá định kế hoạch như thế nào, để cháu còn điều khiển "ba quân".

Triệu Anh Vũ thấy thằng bé chưa tới 18 tuổi, mà nói năng như người lớn thì mừng lắm:

– Ta muốn chăng giây lên đỉnh Kim Sơn, cho quân bám giây leo tiếp, chăng từ đỉnh xuống chân núi phía trong. Từ chân núi phía trong, lại chăng lên đỉnh thứ nhì. Chúng ta cần vượt trước sau 9 đỉnh núi cao và 6 đỉnh núi thấp.

Hoàng Hầu rút cờ lệnh mầu đen nói:

– Trần Bắc tướng quân, Hắc hầu tướng nghe lệnh.

Hắc hầu đứng dậy uy nghi như người lớn:

– Có tiểu tướng đây.

Hoàng Hầu nói:

– Ngươi cho Thần hầu leo lên đỉnh núi thứ nhất rồi trấn ở đó. Nếu có địch tới tấn công, lập tức chống trả, dù chết cũng không được lùi, chỉ cần ngươi chống được khoảng mấy khắc, thì dưới này trên một trăm quân sẽ lên trợ chiến với ngươi.

Trấn bắc hầu tướng ra sân hú lên một tiếng dài liên miên bất tuyệt, lập tức trăm con khỉ lông đen tập hợp ở sân. Nó méo miệng, nhăn mặt làm hiệu, khọt khẹt nói với Thần hầu. Đám Thần hầu mỗi con đeo một thanh đao nhỏ ở lưng, ôm sợi dây lên đường.

Hoàng hầu tướng gọi:

– Chinh Đông hầu tướng nghe lệnh.

Thanh hầu tướng bước ra oai vệ, ưỡn ngực:

– Có tiểu tướng đây.

Triệu Anh Vũ suýt bật cười, nhưng ông vội bụm miệng lại giả vờ ho.

Hoàng hầu tướng nói:

– Ngươi dẫn Thần hầu, mỗi hầu đeo trên người một quả bầu đựng nước. Lưng đeo thực nhiều trái cây, tiếp tế cho các đạo Thần hầu. Sau khi Trấn Bắc tướng quân và đạo Hắc hầu lên đỉnh thứ nhất, thì ngươi cho Thần hầu đeo mỗi hầu một sợi day vào lưng, bám day leo lên, tiếp tế cho đội Hắc hầu. Vì sau khi leo núi sẽ khát nước và đói lắm.

Thanh hầu tướng hỏi:

– Chúng tôi tiếp tế sao còn phải đeo ở lưng một sợi dây chi cho nặng nữa?

Hoàng hầu tướng oai vệ:

– Ngươi biết một mà không biết hai. Phàm phép dùng binh phải lấy mau làm căn bản. Tại sao phải chia ra Hắc hầu chăng dây mà Thanh hầu không chăng dây được? Lợi dụng leo lên tiếp tế, một công đôi việc, ngươi cho mang theo lên 100 sợi dây rồi cột một đầu vào cây hay đá, thả xuống, như vậy là ta có tới 200 sợi. Ngươi hiểu không?

Thanh hầu tướng vâng lệnh, ra ngoài hú lên tập họp thần hầu.

Triệu Anh Vũn ngẩn người ra về phép ước tính điều quân của cậu bé Hoàng hầu tướng. Ông có biết đâu, khi còn ở Tây Vu, Hồ Đề đã cho luyện tập hành quân hàng trăm lần, bọn hcúng điều khiển đã quan, nhiều kinh nghiệm.

Hoàng hầu tướng lại gọi:

– Bình-nam hầu tướng nghe lệnh.

– Ngươi dẫn Thần-hầu, mỗi hầu mang theo hai cuộn dây. Đợi cho Thanh hầu tướng lên đỉnh, thì ngươi lên sau. Ngươi cho Thần-hầu bám vách núi leo lên đỉnh núi thứ nhì. Lên tới, cột dây vào đá, vào cây, rồi thả xuống dưới. Ngươi trấn thủ tại đây, đề phòng giặc tới cắt dây. Nếu giặc tới phải chiến đấu tới cùng bảo vệ đầu cầu. Trên đỉnh núi thứ nhì có tuyết, ngươi phải mang theo 200 viên thuốc chống lạnh, bắt mỗi Thần-hầu uống một viên, nếu không thì không chịu nổi.

Hoàng hầu tướng lại gọi:

– Trấn-tây hầu tướng nghe lệnh.

Bạch hầu bước vào hô lớn:

– Tiểu tướng nghe lệnh.

– Ngươi là tướng tiên phong, phải đi trước. Ngươi đợi Xích hầu tướng lên đỉnh thứ nhì rồi, thì ngươi lên theo. Mỗi hầu mang theo hai sợi dây dài. Ngươi leo lên đỉnh cao nhất của Kim-sơn, trấn thủ tại đây. Nhớ quan sát xem có địch không. Sau đó ngươi cho cột dây, thòng xuống dưới, cho đoàn quân leo lên. Nhớ mang theo thuốc chống lạnh. Đây là đỉnh cao nhất của Kim-sơn, bên kia là thung lũng, thuộc đất Thục, phải cẩn thận để giặc khỏi thấy ta.

Hậu-quân hầu tướng thấy không sai đến mình, nó bứt rứt hỏi:

– Tại sao tôi không được đánh trận này?

Hoàng hầu tướng nói:

– Ngươi lĩnh nhiệm vụ quan trọng hơn hết. Ngươi cho Thần-hầu chuẩn bị vồ với cọc, mang theo dây. Ngươi lên đỉnh cao nhất Kim-sơn, cho dã nhân dò theo dốc núi, gỡ tuyết ra đóng cọc chăng dây xuống thung lũng. Vì dã nhân của ngươi to lớn, khỏe mạnh, ngươi xuống núi nếu gặp địch còn chiến đấu.

Thế rồi suốt gần hai tháng trời, đoàn quân của Triệu Anh Vũ mới vượt qua Kim-sơn. Đến đỉnh Kim-sơn, Triệu Anh Vũ cùng Đinh Công Thắng đứng trên cao nhìn xuống nói:

– Kia là Giang-an, phía xa là Vĩnh-xuyên. Giang-an ở dưới chân núi nầy. Kia là đồn Trường-đình.

Sau hai tháng, hơn vạn người đã lên đến đỉnh núi. Đoàn khỉ tiếp tục được Tây-vu lục hầu tướng chỉ huy mang lương thảo từ dưới lên. Trong khi đó, Triệu Anh Vũ, Đinh Công Thắng thả dây bắt đầu xuống dưới chân núi Kim-sơn. Sau khi đến ngọn thứ ba thì hiện ra một đồn binh khá rộng lớn. Triệu Anh Vũ bàn với Đinh Công Thắng:

– Chúng ta làm thế nào chiếm đồn này, không cho một tên chạy thoát mới đánh úp được Giang-an. Mùa Đông tuyết phủ, chúng trốn trong đồn Trường-đình ngủ vùi, chứ không tuần tiễu đâu. Vậy chúng ta chờ đêm bất thần tấn công, chúng trở tay không kịp.

Bỗng Triệu Anh Vũ chú ý đến nhiều vết chân người đi trên tuyết, ông chỉ cho Đinh Công Thắng:

– Sư đệ nhìn kìa, vết chân người mới đi. Còn in hẳn lên tuyết. Nếu đi lâu rồi, thì bị tuyết rơi phủ mất.

Hai người sợ hãi đến tê dại người nói:

– Ai mà có thể lên đỉnh núi này? Người này võ công chắc cao hơn bọn ta. Nếu họ ra tay thì liệu chúng ta còn sống được không?

Hai người đến mỏm đá cao nhất, thấy có vết dao khắc vào đá:

Anh hùng Lĩnh Nam,
Lập chí phục quốc,
Hữu mục vô minh,
Hữu nhĩ bất văn,
Trợ ác, phù bạo.
Diệt thiện đồng đạo.

(Anh hùng Lĩnh Nam,
Lập chí phục quốc,
Có mắt như mù,
Có tai như điếc,
Giúp kẻ bạo tàn,
Đánh người đồng đạo".

Đinh Công Thắng nói:

– Vị cao nhân này cảnh cáo chúng ta vì phục quốc, mà giúp Hán bạo tàn, đánh Thục nhân nghĩa. Không biết người này là ai?

Anh Vũ đứng suy nghĩ một lúc, rồi quyết định chờ đêm đánh đồn dưới chân núi.

Đinh Công Thắng đồng ý, hai người chờ đến đêm, Triệu Anh Vũ dẫn 3000 quân chận các ngả, sợ quân trong đồn thoái ra còn bắt. Chính bản thân ông điều khiển quân, âm thầm bao vây. Nhưng khi ông tiến sát đồn, vẫn không thấy bóng người. Ông lệnh cho sĩ tốt phục ở ngoài, rồi vọt lên cao nhảy vào hàng rào quan sát, chỉ thấy bốn dẫy nhà. Trong nhà leo lét có ánh lửa củi đốt sưởi, khói bốc lên. Ông tự chửi thầm mình:

– Mình quá cẩn thận! Đám binh lính trấn đóng đâu có đề phòng giặc, mà chỉ để giữ trộm cướp, chúng ngủ hết rồi.

Ông nhảy ra, cho lệnh quân sĩ mở cổng đồn tràn vào. Binh sĩ trong đồn giật mình tỉnh giấc, tưởng là cấp trên tuần tra. Chúng chắp tay lạy xin tha tội.

Nguyên đồn Trường-đình thuộc quyền kiểm soát của Thái thú Giang-an, quân sĩ đa số già lão, mục đích đề phòng trộm cướp mà thôi. Biết đồn trưởng lầm mình với thượng cấp của y. Triệu Anh Vũ nói giọng Ích-châu rất thạo, ông bàn với Đinh Công Thắng:

– Bây giờ tôi giả làm một chức quan Thục, bắt tên đồn trưởng dẫn về Giang-an. Chúng ta đến Giang-an trong đêm, thình lình bắt Thái-thú chiếm thành.

Hai người bàn định rồi, Triệu Anh Vũ cho gọi đồn trưởng vào:

– Ngươi tên là gì?

– Tiểu nhân tên Hoàng Thông.

– Ngươi có biết ta là ai không?

– Dạ tiểu nhân không biết.

– Ta là Biệt kị hiệu úy, lĩnh chức Nội giám thống lĩnh cấm quân của đức Hoàng-đế. Ta được lệnh đem quân đề phòng giặc. Không ngờ ngươi ăn cơm triều đình, mà lười biếng, bỏ đồn để ngủ. Đáng lẽ tội chết chém. Nhưng ta thương tình tha cho. Vậy lệnh cho ngươi mang quân mã dẫn đường, ta đến Giang-an thanh sát Thái-thú. Thái-thú Giang-an tên là gì? Y là người như thế nào?

Hoàng Thông lạy tạ đáp:

– Thái-thú Giang-an họ Tôn tên Minh, là người lớn tuổi, làm Thái-thú từ đời Hán đến giờ. Tại Giang-an có một Lữ trấn đóng. Thủy quân thì đóng ở Nam-khê, có 10 chiến thuyền, khoảng một Lữ.

Từ Trường-đình đến Giang-an khoảng 30 dặm. Triệu Anh Vũ bàn với Đinh Công Thắng:

– Bây giờ Đinh huynh mang quân đi tắt đường núi đến phục sẵn ở Nam-khê. Còn tôi dẫn quân giả làm Việt kị hiệu úy bắt Thái-thú Tôn Minh gọi thủy quân Nam-khê về Giang-an. Thủy quân đi rồi, đại ca đánh úp Nam-khê.

Triệu Anh Vũ cùng Hoàng Thông lên đường đi Giang-an Đến nơi đã về khuya. Trời tháng chạp lạnh buốt tới xương, trên thành có mấy tên quân co ro đứng canh. Hoàng Thông tới gọi cửa. Tên Tốt trưởng giữ cửa thành lên vọng lầu thấy Hoàng Thông thì hỏi:

– Hoàng tốt trưởng, ngươi về đây giữa đêm có chuyện gì vậy?

Hoàng Thông chỉ phía sau người ngựa, cờ xí:

– Hoàng-thượng được tin quân Hán đánh Việt-tây, Bạch-đế, sợ Đông-nam có gì sơ xảy, sai Việt kị hiệu úy đại tướng quân, kiêm Nội-giám thống lĩnh cấm quân tới tuần tra. Ngươi mau mở cửa thành.

Tên Tốt trưởng mở cửa thành. Triệu Anh Vũ xua quân tràn vào. Tên Tốt-trưởng thấy quân sĩ mặc khác với quân Thục có hơi ngạc nhiên. Nhưng y nghĩ rằng có lẽ Cấm quân khác với quân thường. Quân của Triệu Anh Vũ vào thành chia nhau trấn giữ các cửa.

Triệu Anh Vũ cùng một số võ sĩ tới phủ Thái-thú. Quân giữ phủ loan báo cho Tôn Minh. Tôn Minh giật mình, mặc quần áo ra công đường. Triệu Anh Vũ truyền trói lại. Tôn Minh làm Thái-thú Giang-an đã lâu, y lớn tuổi, nhiều kinh lịch, hỏi lại:

– Không biết Đại tướng quân giữ chức gì? Tới đây sao không loan báo cho tiểu nhân đón tiếp? Tiểu nhân phạm tội gì mà bị trói thế này?

Triệu Anh Vũ cười:

– Ta là Chinh-di Đại tướng quân nhà Hán, Triệu Anh Vũ. Ta đem quân vượt Kim-sơn phạt Thục. Thành đã bị ta chiếm.

Đồn trưởng Trường-đình Hoàng Thông nghe Triệu Anh Vũ nói thì ngớ người ra. Bấy giờ y mới biết mình bị lừa. Tôn Minh nói:

– Tôi nguyên là Thái-thú của triều Hán. Khi Vương Mãng phản nghịch tôi thế cô không đủ lực chống, phải đầu hàng. Công-tôn Thuật chiếm đánh châu quận, tôi nhắm mắt đưa chân theo y. Nay đại quân Hán đã đến. Tiểu nhân xin nguyện đầu thú, lập công chuộc tội.

Triệu Anh Vũ hỏi:

– Binh lương ở đây được bao nhiêu?

Tôn Minh đáp:

– Tất cả lương thảo tiếp tế cho Bá-dương trấn, Nam-khê, Long-xương đều chứa ở đây. Lương thực có thể nuôi 5 vạn quân trong ba năm. Lừa ngựa hơn hai vạn. Thủy quân có 210 chiến thuyền ở Giang-an, với một Lữ. Nhưng tiểu nhân được tin Bắc-bình vương. Tả tướng quân Công-tôn Khôi hiện có mặt ở Long-xương. Khôi là em ruột Thục đế. Không biết y tới Long-xương làm gì.

Triệu Anh Vũ nói:

– Ngươi lấy binh phù, cho ngựa chạy đến Nam-khê gọi Lữ trưởng thủy quân, dẫn quân đến đây gấp. Nói rằng có lệnh của Tả tướng quân Công-tôn Khôi trưng tập. Lữ trưởng thủy quân tên là gì?

– Y tên là Thanh Châu, tuổi khoảng 30, tính rất quật cường, là chân tay thân tín của Thứ-sử Long-xương. Tôi chắc y không chịu đầu hàng.

Tôn Minh lấy binh phù cho người thân tín đi Nam-khê, sáng hôm sau khoảng giờ Tỵ thì quân báo rằng chiến thuyền từ Nam-khê đã tới, neo ở cảng Giang-an. Triệu Anh Vũ cho người ra cảng đón Lữ trưởng, Lữ phó thủy quân nhập thành. Y vừa vào tới sảnh đường thì bị võ sĩ bắt lại. Triệu Anh Vũ hỏi:

– Nếu chịu đầu hàng, thì vẫn giữ nguyên phẩm trật cũ. Còn không ta chém đầu tức khắc.

Lữ trưởng Thanh Châu tỏ ý quật cường:

– Ta bị Thái-thú đánh lừa mà bị bắt, ta không phục, ta không đầu hàng, ngươi muốn giết thì cứ giết.

Triệu Anh Vũ dầu sao cũng là người hiệp sĩ giang hồ, mà đạo lý giang hồ Lĩnh-Nam, vốn trọng nghĩa khí. Ông thấy Thanh Châu khẳng khái, coi cái chết như không, thì có cảm tình nói:

– Người đất Thục quả nhiên nhiều nghĩa khí. Theo ý ngươi phải thế nào ngươi mới phục?

Thanh Châu nói:

– Nếu người dùng võ công thắng được ta, thì ta đầu hàng người.

Triệu Anh Vũ càng thấy cảm tình:

– Đấu võ có nhiều thứ, ngươi muốn đấu kiếm, đấu quyền hay đấu khinh công?

Thanh Châu đáp:

– Ta nghe nói đứa trẻ con ở Lĩnh Nam cũng biết võ, ngươi từ Lĩnh Nam lên đây, chắc võ công phải cao. Ngươi là người Việt thì giỏi kiếm, vậy ta không đấu kiếm với ngươi. Ta theo thủy quân, mà thủy quân phải leo dây giỏi. Vậy ta muốn đấu leo dây, bây giờ hãy dùng sợi dây treo lên 1 cành cây thực cao, rồi ngươi với ta thi, nếu ai leo được nhiều lần thì người ấy thắng.

Triệu Anh Vũ võ công cực cao, nhưng người ông to béo, bắt ông leo dây kiểu đó giỏi lắm ông leo được 40 trượng là cùng. Ông nhìn Thanh Châu, thấy người y gầy, chân tay cứng cáp, ông phân vân, chưa biết tính sao.

Trấn-tây tướng quân Bạch Hầu nói:

–Này Thanh Châu tướng quân! Tướng quân có biết chúng tôi tới đây bằng đường nào không? Thưa vượt núi Kim-sơn đấy. Đất Lĩnh Nam nổi tiếng về võ học, mà sư bá tôi được chỉ định vượt Kim Sơn, ắt người phải leo núi giỏi. Người là chúa tướng mà lại đi đấu với tướng quân, thì mang tiếng ỷ lớn hiếp nhỏ. Người Lĩnh Nam không bao giờ làm. Vậy tướng quân với tôi thi. Nếu tôi thắng thì tướng quân đầu hàng, chúng mình là anh em một nhà. Còn tướng quân thắng, thì sư bá sẽ thả tướng quân về. Tướng quân nghĩ sao?

Thanh Châu nhìn Bạch Hầu, thấy đó là một thằng bé mặt mũi khôi ngô, nhưng vừa qua hai tháng vượt núi, da mặt cháy nám. Hai con mắt chiếu ánh sáng long lanh, chứng tỏ là một đứa trẻ thông minh. Y đáp:

– Được, tôi với chú em thi leo dây.

Triệu Anh Vũ biết Tây-vu lục hầu là những chúa tướng loài khỉ, đừng nói leo dây một lúc, mà leo dây mấy ngày chúng cũng làm được. Ông đồng ý:

– Thôi, sư bá để cháu đấu với Thanh tướng quân.

Các tướng sĩ đều theo Thanh Châu và Bạch hầu ra trước sân, giữa sân có một cây gạo cao chót vót. Bạch Hầu lấy một sợi dây lớn, rồi hú lên mấy tiếng thảnh thót. Lập tức một 1 con vượn trắng to lớn, từ xa vừa hú vừa đến trước mặt nó, cúi đầu kính cẩn hành lễ, Bạch Hầu chí chóe với con vượn trắng mấy câu. Con vượn lấy dây cột vào lưng, thoăn thoắt leo lên cành cây cao chót vót. Nó cầm dây cột vào đầu cành thả xuống, Bạch hầu nói:

– Từ trên cành kia xuống đến đây là 15 trượng, chúng ta leo dây thi xem ai leo được nhiều hay leo nhanh?

Thanh Châu đáp:

– Tôi muốn thi xem ai leo được nhiều.

Bạch Hầu nói:

– Tướng quân là khách, tôi là chủ. Tướng quân leo trước đi.

Thanh Châu lại nắm lấy dây rồi thoăn thoắt leo lên, chốc lát đã tới cành cây. Y vỗ tay vào cành rồi tụt xuống, sắp chạm đất rồi leo lần thứ nhì.

Triệu Anh Vũ khâm phục:

– Nếu mình thi với hắn chắc là thua, không biết Bạch hầu có địch lại hắn không?

Thanh Châu leo được hai lần rưỡi, ngưng lại tuột xuống nói:

– Bây giờ tới chú em, chú leo đi.

Y tin rằng Bạch hầu không thể nào bằng. Bạch hầu khọt khẹt mấy tiếng, rồi bám lấy dây leo thoăn thoắt. Tới ngọn cây, nó lộn ngược đầu xuống đất, rồi thoăn thoắt tụt xuống. Cứ như thế nó leo lần thứ nhì, lần thứ ba. Thanh Châu kinh hồn, thì nó leo lần thứ tư, lần thứ năm. Tới lần thứ năm nó nói:

– Thanh Châu đại ca, tôi có thể leo cả ngày, nhưng đói quá rồi, nghỉ vậy.

Nó tụt xuống đất, vỗ vai Thanh Châu nói:

– Bây giờ đại ca là người nhà rồi, chúng ta lập môn phái, gọi là phái Hầu công hay khỉ đột công đi

Thanh Châu thấy thái độ mọi người vui tươi, không hống hách, ác ý. Y sụp xuống đất lạy Triệu Vũ Anh:

– Tiểu nhân xin tâm phục, khẩu phục đầu hàng, mong đại tướng quân thâu nhận cho.

Triệu Anh Vũ đỡ y dậy nói:

– Ta được Thanh Châu là được thêm một sư điệt nữa, cháu cứ gọi ta là sư bá như Tây-vu lục hầu. Người Lĩnh Nam chúng ta vốn nhiều tình cảm, dù trong quân ngũ, cũng coi nhau như ruột thịt. Về việc nước cháu vẫn suất lĩnh thủ quân cho ta.

Đinh Công Thắng bàn với Triệu Anh Vũ:

– Chúng ta đã chiếm được Nam-khê, thì nên tiến đánh Long-xương hay không? Theo Thanh Châu nói, hiện Công-tôn Khôi ở Long-xương, nếu chúng ta tiến quân, y sẽ điều động toàn bộ nhân mã Đông-nam đánh chúng ta.

Đinh Công Thắng là người cẩn thận, ông nói:

– Mục đích của đạo quân Đào Kỳ và mục đích của chúng ta là làm náo loạn phía nam Ích-châu, chia bớt lực lượng của giặc, cho hai đạo Kinh-châu và Hán-trung. Vậy chúng ta chỉ cần lọt vào đây là đủ, còn đánh thì quân ta bất quá, được một vạn người, không đủ chiếm bất cứ một thành nào khác nữa. Chúng ta hãy đợi liên lạc được với đạo Kinh-âu hoặc Độ Khẩu rồi sẽ tính.

Đinh Công Thắng đề nghị Triệu Anh Vũ đóng ở Nam-khê, còn ông đóng ở Giang-an làm thế ỷ dốc. Tây-vu lục hầu, dẫn Thần-hầu, lên núi Kim-sơn để bảo vệ mặt sau Giang-an.

Triệu Anh Vũ khẳng khái lên đường đến Nam-khê, tìm cách liên lạc với Đào Kỳ. Ông ủy lạo dân chúng địa phương, truyền bỏ tất cả những thứ thuế do Công-tôn Thuật đặt ra, ông đặt một tiệc lớn mời các tướng sĩ để mừng chiến thắng.

Tiệc tan, ông về dinh, chưa kịp ngủ thì có tiếng kêu thích khách. Ông vội đeo kiếm nhảy ra ngoài, thì thấy một người lùn, bịt mặt, đang tấn công Thanh Châu. Y chỉ đánh 2 hai chưởng, Thanh Châu phun máu miệng. Quân sĩ bao vây thích khách, chật cứng như nêm. Ông nhảy nhót mấy cái tới nơi. Người lùn vung chưởng tấn công ông, ông nhận ra đối thủ, dùng một thứ chưởng dương cương, nội công chính đại quang minh. Ông thấy hơi quen, nhưng chưa nhận ra, ông vận hết sức đánh lại một chưởng, ông cùng người lùn giao đấu dưới ánh đuốc. Bên cạnh người lùn còn một phụ nữ, cũng bịt mặt, chống kiếm đứng lược trận. Hai bên đấu trên trăm chiêu, ông nhận thấy muốn thắng đối phương thực khó. Những người có võ công như vậy, trên giang hồ rất hiếm, ông nhảy lui lại nói:

– Tôn giá là ai? Coi thân thủ vào hạng hiếm có trên giang hồ. Xin cho biết danh tánh được không?

Người lùn không nói gì, hú lên một tiếng, cùng người đàn bà nhảy lên nóc nhà định chạy. Nhưng khi y còn lơ lửng trên không, thì bị mấy người đứng trên nóc nhà bao vây, một người vung chưởng đánh người lùn, một người đánh người đàn bà. Tuy bị bất ngờ, cả hai vận sức đỡ. Bùng một tiếng, cả hai bật trở xuống đất. Bóng người trên mái nhà nhảy xuống, hai người tấn công hai thích khách, bằng những chiêu cực kỳ dũng mãnh. Bấy giờ, Triệu Anh Vũ mới nhận ra, đám mới tới gồm bốn người, một nam một nữ trẻ, đứng ngoài lược trận. Còn hai người đánh thích khách, thì người nữ rất đẹp, dáng điệu uy nghi, người nam tuổi khoảng 50.

Triệu Anh Vũ thấy bốn người võ công đều ngang với ông, ông phục tài hô lớn:

– Ngừng tay!

Bốn người nhảy lui lại. Ông nhận ra người nữ mới tới giúp ông là Trưng Trắc, còn ba người kia ông không nhận ra. Trưng Trắc chỉ mặt hai thích khách:

– Phong-châu song quái, sư đệ, sư muội, lâu nay vẫn mạnh khỏe chứ?

Hai người bịt mặt mới mở khăn ra. Trưng Trắc giới thiệu với Triệu Anh Vũ:

– Đây là Vũ Hỷ và Vũ Phương Anh, cả hai đều là người phái Tản Viên nhà tôi, nhưng việc làm của họ thì ác độc nhất Lĩnh Nam.

Nàng chỉ ba người cùng đi, rồi giới thiệu:

– Đây là Đinh-hầu ở Cửu-chân, một trong Cửu-chân song kiệt. Còn đây là Quách Lãng, đệ tử của Đinh-hầu, và đây là Đinh Bạch Nương, ái nữ của Đinh-hầu.

Triệu Anh Vũ từng nghe danh Phong Châu song quái, với Cửu-chân song kiệt, ông chấp tay nói:

– Hân hạnh.

Ông hỏi Vũ Hỷ:

–Chẳng hay Vũ tiên sinh và phu nhân, giá lâm thành Nam Khê này có điều gì dạy bảo?

Vũ Hỷ cười:

– Chả có gì cả!

Rồi y vung tay đánh ba chưởng, cùng vợ vọt lên mái nhà, chạy vào đêm tối mất hút. Trưng Trắc nói với Triệu Anh Vũ:

– Chúng tôi từ Lĩnh Nam đến đây trợ chiến với sư bá. Khi đến Giang-an thì gặp vợ chồng Song-quái, chúng tôi theo bén gót, dò la động tĩnh.

Triệu Anh Vũ mời Đinh Đại, Trưng Trắc vào sảnh đường. Đinh Đại nói:

– Chúng tôi được tin Lê Đạo Sinh cùng Song Quái, Hoàng Đức, Đức Hiệp sang Trung nguyên, phải báo cho quí vị biết, không ngờ gặp chúng ở đây

Trưng Trắc hỏi tình hình trận chiến, Triệu Vũ Anh tường trình chi tiết. Ông muốn nhờ Trưng Trắc, Đinh Đại, liên lạc với Đào Kỳ dùm, Trưng Trắc nhận lời. Ông lấy hai thuyền buôn của dân rất lớn, cho thủy thủ giả làm thường dân, đưa Trưng Trắc, Đinh Đại đi Mỹ-cơ. Giữa đường gặp một dân thuyền chở Song Quái và Công-tôn Khôi, hai bên thấy nhau là lăn vào giao chiến. Trưng Trắc chỉ biết song quái, không biết Công-tôn Khôi, nên không đề phòng thủy quân Thục. Có ngờ đâu Công-tôn Khôi tuy đi dân thuyền, nhưng vẫn có chiến thuyền đi xa xa để hộ vệ.

Trưng Trắc thuật xong nàng hỏi Vương Nguyên:

– Vương đại hiệp, tôi bắt sư huynh Công-tôn Khôi cho đại hiệp. Vậy phải điều kiện nào, người mới tha tội cho sư huynh?

Vương Nguyên bị tan nhà nát cửa, vì sư huynh Công-tôn Khôi. Bây giờ thấy cha con y bị trói, quần áo ướt lạnh run lập cập, bao nhiêu kỷ niệm cũ những ngày còn ở Thiên-sơn theo học với sư phụ hiện ra. Ông ngẫm nghĩ 1 lúc rồi nói

– Xin hãy cứ giam y lại, tôi suy nghĩ ít ngày đã.

Trưng Trắc sai một chiến thuyền, trở về Nam-khê báo tình hình mặt trận Độ-khẩu cho Đinh Công Thắng, Triệu Anh Vũ biết. Còn nàng cùng Trần Quốc, Vương Phúc trở lại Việt-tây.

Nam-hải nữ hiệp, Đào Kỳ nghe tin Trưng Trắc, Đinh Đại đến thì mừng lắm, ra đón vào thành. Trà nước yên vị xong, Đào Kỳ hỏi Đinh Đại:

– Thưa cậu, bố mẹ cháu, chú thím, mợ và các em vẫn mạnh khỏe chứ?

Đinh Đại móc túi đưa ra bức thư nói:

– Vì Lĩnh Nam có biến cố mới, Lê Đạo Sinh cứu Song Quái, dẫn đệ tử sang Trung Nguyên không biết có múu đồ gì. Quần hùng yêu cầu tỷ phu với Trưng Trắc, là người chủ tọa cuộc họp ở Tây-hồ, lên đường sang Trung-nguyên quan sát tình hình, đưa ra đường lối hành động. Ngặt vì tỷ phu bị cảm nặng, ủy cho ta đi. Đây tỷ phu viết cho cháu.

Đào Kỳ ngồi ngay ngắn, sửa y phục đàng hoàng, lấy khăn lau tay sạch sẽ, rồi mới dám bóc thư ra đọc:

Đào Hầu, Chưởng Môn phái Cửu Chân, thư cho con út là Đào Kỳ.

Mọi việc ở Lĩnh Nam vẫn tốt đẹp. Tô Định, Lê Đạo Sinh chưa có hành động gì khả dĩ đáng lo ngại. Ta cùng mẹ con với cậu đã hợp được 9 nhà ở đất Cửu Chân làm một. Thái-thú Tiết Bảo, đại sư ca Trần Dương Đức, đại ca Nghi Sơn đều đồng tâm nhất trí. Ba mà là một, một mà là ba. Phu nhân của cố trang chủ Thiên-bản Mai Tiến, cùng bốn con đang cai quản năm trang ấp. Ngặt một điều, các huyện lệnh và quan lại, người Hán vẫn còn vọng tưởng như hồi Nhâm Diên.

Tuần trước các Lạc-hầu, Lạc-tướng, Động-chủ, Trang-chủ họp ở Ngọc-đường, bầu ta làm thống lĩnh vùng Cửu-chân, ta cử con làm phó, Trưng Trắc với ta là người đồng chủ toạ cuộc hội trên Tây-hồ, quyết định đường lối phục hồi Lĩnh Nam. Bây giờ hoàn cảnh đã đổi khác, sắp có sự thay đổi lớn lao.

Lời giáo huấn này con phải ghi nhớ trong lòng.

Đào Thế Kiệt cẩn bút.

Đào Kỳ đưa thư cho Hoàng Thiều Hoa nói:

– Bố em dặn sư tỷ ít điều, sư tỷ đọc đi.

Hoàng Thiều Hoa sửa lại quần áo, ngồi nghiêm chỉnh, cầm thư đọc.

Nàng đọc xong, hướng vào Trưng Trắc nói:

– Trưng sư tỷ! Trong thư sư phụ em dặn nhất nhất phải tuân theo lệnh sư tỷ, vậy sư tỷ có gì dậy, em và tiểu sư đệ sẵn sàng tuân theo như tuân theo sư phụ

Trưng Trắc ngồi nghiêm chỉnh, nói với Thiều Hoa:

– Kể về võ công, nhân số thì phái Tản-viên của ta gấp mười phái Cửu-chân. Song người phái Cửu-chân võ công không cao, người không nhiều, dù bao nhiêu người vẫn là một, vì vậy thế lực hùng hậu. Ta được Đào-hầu ủy nhiệm việc lớn, phải cố gắng làm. Nội trong mấy ngày nữa, ta sẽ nói phải làm những gì cho sư muội với tiểu đệ biết.

Giao Long Nữ ngắt lời:

– Trưng sư tỷ! Em muốn thưa một điều.

Trưng Trắc gật đầu:

– Sư muội cứ nói! Sư muội là Đô-đốc thủy quân, lời của sư muội chắc cũng không tầm thường.

Giao Long Nữ tiếp:

– Bàn về tuổi, thì Đào đại ca đã hai mươi ba, bàn về địa vị thì là Chinh viễn đại tướng quân, cầm 30 vạn nhân mã trong tay. Bàn về võ công, còn muốn hơn Khất đại-phu. Bàn về cơ thể, thì to lớn hơn Phù Đổng Thiên Vương đánh giặc Ân. Thế mà sư tỷ cứ gọi là tiểu sư đệ, nghe không thuận tí nào cả.

Trưng Trắc gật đầu:

– Đa tạ sư muội nhắc nhở. Ta biết lỗi, vì quen miệng.

Trưng Trắc móc trong túi ra một bức thư, nàng vẫy Đào Hiển Hiệu:

– Có một người con gái sắc đẹp như người trong tranh, gửi thư cho sư đệ. Nếu sư đệ đoán đúng thì trao thư cho.

Đào Hiển Hiệu đỏ mặt, chàng sẽ đáp:

– Chắc là Đinh Hồng Thanh.

Trưng Trắc lắc đầu:

– Sai rồi sư đệ ơi, ta thông cảm với đệ, ngươi với Hồng Thanh là chỗ sư huynh sư đệ đồng môn, là bạn thanh mai trúc nhã, vì sự nghiệp Lĩnh Nam phải xa nhau cũng tội. Vì vậy lúc nào ngươi cũng nghĩ đến Hồng Thanh. Song người gửi thư cho Đào sư đệ là Đào Phương Dung.

Đào Hiển Hiệu, bẽn lẽn cầm lấy bao thư xé ra, bên trong có đến ba bức thư khác nhau. Chàng lui lại một góc, lần lượt mở ra đọc, đọc xong chàng gấp lại bỏ vào túi.

Giao Long Nữ hỏi:

– Đào đại ca, có tin gì lạ không?

Đào Hiển Hiệu đáp:

– Cũng bình thường thôi.

Giao Long Nữ cười:

– Trong bao có ba bức thư, một bức của bá phụ, một bức của chị Đào Phương Dung, một bức của chị Hồng Thanh.

Hiển Hiệu hỏi:

– Sư muội có mắt thần hay sao mà biết rõ như thế?

Giao Lưng Nữ nheo mắt làm xấu:

– Có gì mà đoán không ra, bức thư thứ nhất của chị Đào Phương Dung, viết cho đại ca. Trong thư anh em với nhau, chắc có lời đùa vui, vì đại ca vừa đọc vừa cười tủm tỉm. Bức thư thứ nhì của chị Hồng Thanh, vì nét mắt đại ca, khi thì hiện ra bẽn lẽn, khi thì hiện ra vẻ tươi hồng, nhu mì, khi thì hiện ra vẻ ngơ ngác, nhớ nhung. Trên đời này làm gì có người thứ nhì, viết thư khiến cho đại ca, hiện ra nhiều vẻ đặc biệt như vậy, ngoại trừ chị Hồng Thanh? Còn bức thư thứ ba là của lão bá, cho nên đại ca mở ra, không dám đọc ngay. Đại ca ngừng lại sửa y phục nghiêm chỉnh, đứng thẳng người rồi cung cung kính kính đọc. Đúng không? Đại ca chịu chưa?

Đào Hiển Hiệu cười:

– Sư muội lợi hại thực, liếc mắt một cái mà biết được hết sự thực.

Đào Kỳ tổ chức buổi họp, xem phải làm những gì. Vương Phúc nói:

– Bây giờ chúng ta cử các tướng đi an dân tại những vùng mới chiếm được. Tổ chức lại hệ thống cai trị cho có bộ mặt mới. Tôi đề nghị cứ một tướng Lĩnh Nam được một hàng tướng Thục dẫn đường, đi đến các vùng chung quanh an dân, vỗ về họ. Nhất thiết các Huyện lệnh, Huyện úy đều giữ nguyên, để họ an lòng.Về lương bỗng của nhà Hán cao hơn nhà Thục, vì vậy cũng nhắc các nơi trả lương cho tướng sĩ theo thể chế nhà Hán. Những người trước nay vì trung thành với Hán mà bị Công-tôn Thuật giết, phải truy tìm con cháu, ban tiền tử tuất, tìm xác chôn cất và truy phong cho họ lên hai cấp so với cấp lúc bị giết. Những tên Huyện lệnh, Huyện úy ác đức, phải giết cho dân chúng hả lòng. Đất đai của chúng cùng tài sản thì sung công hoặc ban cho những gia đình tuẫn quốc. Thuế khóa của Thục thì nhẹ hơn Hán, xin giữ nguyên chế độ thuế khóa, đừng thu theo Hán… công việc này cần những người uy tín, có toàn quyền. Xin đại ca định liệu. Tôi thì xin đại ca cho đi liên lạc với Ngô Hán, và cầm đầu một đội Tế-tác nhập Thành-đô, bắt Công-tôn Thuật. Vì Thuật là người khôn ngoan vô cùng, lúc đại quân tiến vào, y có thể trốn mất, không biết đâu mà tìm.

Đào Kỳ nói :

– Vương đệ ! Tôi biết Vương đệ nóng lòng về Thành-đô giết Công-tôn Thuật báo thù, và cũng để tìm cách cứu nhũ mẫu ra khỏi cung. Vì hiền đệ sợ quân Hán đến, trong loạn quân, nhũ mẫu khó bảo toàn phải không ?

Vương Phúc gật đầu.

Đào Kỳ nói tiếp :

– Chúng ta có nhiều vấn đề phải làm ngay. Thứ nhất đi các nơi an dân. Việc này cần có người minh mẫn, đạo cao đức trọng, vậy thì không có ai bằng đại sư bá Nam-hải. Xin đại sư bá cùng với Vương nhị lang, an dân từ Độ-khẩu tới Việt-tây. Còn từ Việt-tây đến Cửu-long, Nhã-giang xin Hoàng sư tỷ đi với Vương tam lang. Còn từ đây đến Giang-an, sư bá Triệu Anh Vũ sẽ đi cùng với Vương sư bá và Sa Giang. Thứ nhì là liên lạc với hai đạo quân kia. Từ đây đi Kinh-châu bằng đường thủy dễ dàng nhất. Chúng ta bắt Công-tôn Khôi, chiếm được Giang-an thì đạo Kinh-châu chỉ việc thẳng đường tới Thành-đô. Nhưng đường Kinh-châu vào Thành Đô phải qua ngã Trường Giang. Vậy tôi nhờ chính Vương hiền đệ dẫn Trần sư muội, Giao Chi sư tỷ và năm sư huynh Nhân, Nghiã, Lễ, Trí, Tín đem theo các sư huynh, đệ trong đội Giao Long binh giúp sư tỷ Trưng Nhị tiến quân mau hơn.

Vương Phúc hỏi :

– Bọn tiểu đệ tám người đi Kinh-châu, thì đại ca… không còn người trợ giúp. Có nguy hiểm lắm không ?

Đào Kỳ thấy nhiều lần Vương Phúc luôn lo lắng cho mình, dự liệu việc đều tỷ mỷ, cẩn thận, chàng cảm động nói :

– Hiền đệ đừng lo! Ta nói cho hiền đệ biết ta có thêm bốn vị khách mới tới, các vị cũng có thể là tướng giúp ta, việc đánh Thành-đô ta nắm trong tay. Còn việc bắt Công-tôn Thuật ta không có mưu kế. Binh pháp nói rằng biết mình biết người trăm đánh trăm thắng. Ta tự biết ta võ công cao, dùng binh tạm được còn mưu kế tuyệt vời thì phải nhờ đến sư tỷ Trưng Nhị, Vĩnh Hoa. Biết Công Tôn Thuật là hiền đệ, biết mình là Vĩnh Hoa. Vị sư tỷ ấy muốn bắt y, chẳng khác gì chúng ta móc tay vào túi lấy món đồ. Vậy sau khi hiền đệ giúp Trung Nhị đánh đến Long-xương, Đồng-nam, thì xin phép sang đạo Hán-trung cùng Phùng sư tỷ thiết kế bắt Công-tôn Thuật.

Trưng Trắc phất tay hỏi :

– Khoan ! Xin qúi vị khoan lên đường đã !

Nàng hỏi Đào Kỳ :

– Đào sư đệ ! Chúng ta sẽ còn phải tiến quân vào sâu đất địch nhiều ! Sư đệ hứa rằng những binh sĩ đầu hàng, ai muốn ở lại thì cho ở lại, điều đó đã thực hiện rồi. Còn những ai muốn về quê làm ăn thì cho họ về. Điều này chưa thực hiện. Hhiện có khoảng hơn vạn binh lính Thục bị bắt, hiền đệ nên cho họ về quê làm ăn, để họ được gần gia đình.

Đào Kỳ chắp tay hướng Trưng Trắc hành lễ :

– Người ta nói Tản-viên song phượng thì Trung Trắc nhân từ, Trung Nhị mưu trí tuyệt vời quả đúng. Đa tạ sư tỷ dạy dỗ.

Chàng ra lệnh chu cấp lương tiền, quần áo cho những tù binh Thục, đưa về quê quán làm ăn. Chàng còn cấp cho mỗi người một giấy, chỉ thị cho Huyện lệnh, Huyện úy không được truy cứu tội lỗi cũ của họ. Hơn vạn binh Thục mừng đến chảy nước mắt, lên đường về quê, lòng hân hoan biết ơn Đào Kỳ.

Trần Quốc hỏi :

– Trước khi đánh Việt-tây, đại ca hứa với Thái-thú Mỹ-cơ Trần Nhiên rằng nếu y thực tâm đầu hàng, sẽ cho giữ chức Thái-thú như cũ. Còn như y giúp đại ca lấy được Việt-tây, đại ca sẽ cho y làm Thú-sử Việt-tây. Nhưng y trá hàng, còn bày mưu làm kế không thành cho Phan Hào, khiến chúng thiệt hơn vạn binh, dù chúng ta thắng trận. Bây giờ đại ca xử trí với y như thế nào ?

Đinh Đại là sư thúc, lại là cậu Đào Kỳ, ông biết cháu mình nhiều tình cảm, khó có thể giết người, nên ông xen vào :

– Cháu Kỳ, lòng nhân không thể lúc nào cũng áp dụng được, cháu phải chém đầu y làm hiệu lịnh mới hả lòng quân.

Vương Nguyên đứng dậy chắp tay xá Đinh Đại :

– Đinh-hầu, tôi nghĩ chúng ta không nên giết y làm gì. Cái thứ tồi tệ đến độ dâng vợ cho giặc kiếm chút công danh, giết chi cho bẩn gươm. Tôi xin hiến một kế, mượn tay Công-tôn Thuật giết y. Bây giờ Đào nguyên soái cứ giả vờ không truy cứu tội, thả lỏng y trong thành. Khi đi thăm dân, mang y đi theo. Ít lâu sau tất y trốn về Thành-đô. Công-tôn Thuật là đứa đa nghi, sẽ giết anh em y.

Đào Kỳ cảm tạ Vương Nguyên, nghĩ trong lòng :

– Ông này, văn thì đỗ Hiếu-liêm, làm quan nhà Hán, đàn giỏi, tiêu hay, võ công không thua ta mà mưu trí sâu xa không kém gì Vĩnh Hoa. Chỉ tiếc rằng ông đào hoa quá, có nhiều vợ đẹp mà thành ra tan nhà nát cửa. Cũng may ông ta có ba con trai, một gái đều thông minh, văn võ song toàn.

Cha con Vương Nguyên gặp Nam-hải nữ hiệp, như người quen nhau từ lúc nào. Họ luôn luôn bên cạnh nhau, bàn âm nhạc, hoà nhạc với nhau. Trưng Trắc thấy vậy nói :

– Đào sư đệ, ngươi hãy nhờ Nam-hải sư bá cùng với Vương tiên sinh, Sa Giang tổ chức những cuộc trình diễn âm nhạc cho tướng sĩ nghe, để họ giải trí, được chăng?

Sa Giang vui vẻ đáp:

– Sư tỷ dạy đúng đấy, em nghĩ nên làm như thế. Cứ mỗi ngày chúng ta trình diễn cho một Lữ coi. Có điều phải dùng những điệu nhạc dân gian hùng tráng, để quân sĩ không nhớ nhà.

Hôm ấy ngày 15 tháng Chạp, Đào Kỳ ngồi trong trướng bàn việc tiến quân vào Thành-đô, thì quân canh báo:

– Có sứ giả của Lĩnh-nam vương tới.

Đào Kỳ vội vàng tiếp, sứ giả là một viên võ quan, đi cùng với Quỳnh Hoa. Quỳnh Hoa thấy Đào Kỳ, chạy lại nắm tay chàng:

– Đào đại ca! Đại ca mạnh khỏe chứ? Đại ca giỏi quá, đánh đến đây rồi à?

Mỗi lần Đào Kỳ gặp cô em gái này, lòng chàng lại rộn lên niềm vui ấm áp. Chàng nắm tay Quỳnh Hoa:

– Mạnh khỏe thì vẫn mạnh khỏe, nhưng không có ổi có mận mà ăn, nhất là không có hoa Quỳnh, hoa Quế mà ngắm.

Quỳnh Hoa móc trong bọc ra một phong thư đưa cho Đào Kỳ:

– Đây là thư của Nghiêm đại ca.

Đào Kỳ móc ra đọc, được biết Nghiêm Sơn đã cho một đạo quân nữa từ Tử-dương tiến chiếm Vạn-nguyên, Thành-khẩu, Thông-giang, Ba-trung, nối liền hai đạo Kinh-châu với Hán-trung. Nghiêm Sơn muốn chàng tiến đánh Hán-nguyên, Đông-sơn, Mi-sơn và Thành-đô.

Đợi Đào Kỳ đọc thơ Nghiêm Sơn xong, Quỳnh Hoa móc trong túi ra một cái hộp rất đẹp để lên bàn:

– Còn hộp này, đố đại ca biết trong đựng gì?

Đào Kỳ ngắm nghía, suy nghĩ, song chàng đoán không ra, lắc đầu:

– Sư muội, anh đoán không ra.

Quỳnh Hoa mở lớp lụa bọc ngoài, bên trong là cái hộp sơn son thiếp vàng, trên vẽ một cây đào đầy trái. Tim chàng đập mạnh, vì nhận ra là nét vẽ của Phương Dung. Chàng cầm lấy trịnh trọng mở nắp hộp, bất giác ngẩn người ra, đỏ mặt lên. Vì bên trong có chiếc khăn quàng cổ của Phương Dung mầu xanh lợt. Chiếc khăn này nàng choàng trong ngày cưới ở đảo. Cạnh chiếc khăn là một cái áo gối thêu rất công phu: Đóa hoa đào bên cạnh hai con chim uyên ương.

Trong còn có bức thư, chàng không kiên nhẫn chờ đợi, mở ra đọc liền. Thì không phải thư mà là một tập nhật ký, Phương Dung ghi từng ngày một, những nỗi niềm nhớ nhung của nàng. Thấy chung quanh đông người, không tiện đọc, chàng cất đi.

Quỳnh Hoa đưa cho Hoàng Thiều Hoa một hộp lớn hơn. Thiều Hoa mở lớp lụa bên ngoài ra, bên trong là một hộp gấm. Nàng mở hộp, trong có nhiều thứ. Vật đầu tiên đập vào mắt là bông cúc bằng vàng, chạm trổ tinh vi. Cành và lá bằng ngọc bích xanh lóng lánh.

Thiều Hoa ngắm nghía một lúc rồi đeo vào tóc.

Vương Nguyên là người lãng mạn, thích âm nhạc, ông trọng phụ nữ có sắc đẹp. Tư hôm gặp Hoàng Thiều Hoa, sắc đẹp ôn nhu, văn nhã, như có một cái gì bí hiểm thu hút người nhìn. Lòng ông lại hồi tưởng đến hai người vợ quốc sắc thiên hương, đến nỗi Công-tôn Khôi, sư huynh của ông hại ông để chiếm. Đem so sánh vợ với Hoàng Thiều Hoa, thì sắc đẹp của vợ ví như hông hoa Lan hoa Huệ. Thanh tao có thanh tao, ông tìm ra một nét mà chỉ Thiều-Hoa mới có, là phong tư rạng trỡ, hồng hào tươi mát của người tập võ.

Ông là người trọng sắc đẹp, thấy sắc đẹp như thấy bông hoa tươi thắm. Ngắm nhìn chỉ để ngắm nhìn, lưng dạ vẫn giữ đạo chính nhân quân tử. Ông nổi tiếng là tiêu thần, vì vậy ông cầm ống tiêu thổi một bài ca tụng sắc đẹp của Thiều Hoa. Tiếng tiêu nhu hòa, như mây trôi phiêu lãng, róc rách như suối chảy, có khi thoang thoảng như tiên nga nhảy múa trên đồi đầy hoa.

Khúc tiêu dứt, mọi người đều ngơ ngẩn xuất thần, như mơ màng ở thế giới thần tiên.

Thời bấy giờ, luân lý Khổng, Mạnh rất khắt khe. Việc Vương Nguyên vừa thổi tiêu vừa ngắm nhìn Thiều Hoa là điều vô lễ không tha thứ được. Song Thiều Hoa được giáo huấn cách nhận xét, cách biết người. Gặp Vương Nguyên, nàng xếp ông vào loại dị nhân, võ công cực cao, có tài vương bá như Nghiêm Sơn, con mắt của ông chiếu ra nét đa tình hiếm thấy. Người đa tình thường là người đa tài, không phải kẻ tham dâm hiếu sắc.

Hoàng Thiều Hoa biết ông sáng tác bản tiêu, ca tụng sắc đẹp của mình. Nàng đứng lên:

– Đa tạ tiên sinh quá khen tặng.

Nàng mở lớp giấy ở đáy hộp lên thấy bốn bộ quần áo lụa bốn màu: Xanh lá cây, vàng cánh kiến, hồng tươi và trắng. Trên mỗi bộ quần áo thêu rất công phu. Nàng lật xuống dưới còn bốn cái khăn, bốn cái dây lưng và một bức thư.

Quỳnh Hoa xòe tay:

– Lĩnh-nam vương gửi quà cho Vương-phi, rồi Chinh-tây quân sư gửi quà cho phu quân, thế mà chả ai thưởng cho con bé mang thư cái gì cả.

Thiều Hoa tát yêu vào má Quỳnh Hoa, rồi lấy trong bọc ra một chuỗi ngọc trai dài, quấn vào cổ Quỳnh Hoa đến ba vòng mới hết, nói:

– Không cần sư muội mang quà cho ta, ta cũng thưởng cho sư muội.

Nam-hải nữ hiệp nghĩ thầm:

– Đúng ra với tuổi của Thiều Hoa, Phương Dung lúc nào cũng bên cạnh chồng, sớm tối có nhau. Vì quốc sự, họ phải xa nhau, thực cũng tội.

Đào Kỳ hỏi thăm Quỳnh Hoa về trận đánh Hán-trung. Chàng biết đây là mặt trận lớn nhất, người điều khiển mặt trận này là con trưởng Công-tôn Thuật, với 20 vạn quân, mấy ngàn dũng tướng. Mưu lược tuyệt vời như Ngô Hán, võ công cao cường như Phùng Dị, Lai Háp trợ giúp còn bị thua mấy trận nghiêng ngả. Chàng biết Ngô Hán có "trí" như Phương Dung, Trưng Nhị, có tài dùng người như Vĩnh Hoa và có tài xung phong hãm trận như Nghiêm Sơn với chàng. Phùng Dị võ công tuy cao nhưng so với bên Thục thì thua xa, vì vậy Nghiêm Sơn mới tăng viện thêm Khất đại phu, Cao Cảnh Minh theo giúp.

Quỳnh Hoa đáp:

– Đạo quân Hán-trung không gặp may mắn như đạo Kinh-châu, Lĩnh-nam. Trước sau hai bên đánh trăm trận. Ông ngoại em bị thương. Sư bá Cao Cảnh Minh súyt mất mạng, con trai út Ngô Hán tử thương. Nghiêm đại ca, sư tỷ Phương Dung phải thân tới điều động quân mã. Trận đánh nào cũng thần sầu quỉ khốc. Bên Thục tướng sĩ một lòng, mỗi người là một dũng sĩ. Họ đã quyết chiến, dù chết cũng không lùi. Mãi tới hai ngày trước, mới chiếm được Võ-đô, Nam-bình, Dương-bình quan, Kiếm-các, Giang-du. Công-tôn Thuật rất khôn, y đoán được ý định của ta đánh Độ-khẩu với mục đích làm náo loạn Thành-đô. Còn mặt Kinh-châu quá xa, thủy quân Thục rất mạnh, khó vào được. Y dồn cầm chân quân Thục ở mặt Giang-du, cho đạo Kinh-châu và Lĩnh-nam tiến vào Thành-đô trước.

Hoàng Thiều Hoa hỏi:

– Nghiêm đại ca hiện đóng ở đâu?

Quỳnh Hoa cười:

– Lĩnh-nam vương phi hỏi Lĩnh-nam vương chinh tiễu nơi đâu hay sư tỷ Thiều Hoa hỏi Nghiêm đại ca?

Thiều Hoa vỗ lưng Quỳnh Hoa:

– Chị hỏi nghiêm đại ca.

Quỳnh Hoa không trả lời, nàng cất tiếng ngâm Sa-mạc:

Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ,
Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai?
Nhớ ai dạ những bồi hồi,
Như đứng đống lửa, như ngồi đống rơm.

Ngâm xong nàng mới nói:

– Sư tỷ xưa nay là người thông minh, linh mẫn bậc nhất Lĩnh Nam, mà sao hôm nay lại lẩn thẩn quá. Lúc đến đây em nói, em từ Kiếm-các tới. Thế thì Nghiêm đại-ca phải ở Kiếm-các mới gửi quà cho sư tỷ được chứ.

Hoàng Thiều Hoa đỏ mặt lên, nàng nói lảng:

– Bao giờ sư muội trở về Kiếm-các?

Quỳnh Hoa không dám đùa nữa:

– Em phải trở về ngay, để săn sóc ông ngoại em.


Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2004-12-29 01:46:41NuHiepDeThuong>
HỒI THỨ 7

Màn mưa tưởng tuyết xông pha
Nghĩ thôi lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài

(Chinh phụ ngâm khúc)



Đoạn này thuật cuộc chiến của đạo binh Ngô Hán,
mà Phùng Vĩnh Hoa làm quân sư.

Sau khi rời bản doanh của Nghiêm Sơn, Ngô Hán cùng các anh hùng Lĩnh Nam lên đường trở về Hán-trung. Mấy năm qua y lĩnh chức Xa kị đại tướng quân, thống lĩnh binh mã Hán-trung, Tây-lương, Trường-an cùng với Đại tư mã Đặng Vũ đánh Thục. Y gặp phải tướng cầm quân Thục là Thái tử Công-tôn Tư, văn võ kiêm toàn. Cạnh Tư có nhiều cao thủ phái Thiên-sơn. Tướng sĩ hết lòng cố thủ trong thành Dương-bình quan hiểm trở, y bị thất bại mấy trận.

Lần hội quân với Nghiêm Sơn, với con mắt nhận xét của y, Thục tất bị chiếm trong vòng một hai tháng là cùng. Quân sư Phương Dung, Trưng Nhị, Vĩnh Hoa hứa giúp y vào Thành-đô trước, thì cái mộng làm chúa Ích-châu trở thành sự thật.

Y từng ở dưới trướng Nghiêm Sơn mấy năm. Y biết Nghiêm Sơn có tài vương bá, khéo thu phục lòng người. Chả vậy mà đám anh hùng Lĩnh Nam cảm nghĩa Nghiêm Sơn, theo giúp hết lòng. Phùng Vĩnh Hoa, y chưa biết tài nàng cho lắm, còn Khất đại phu, Cao Cảnh Minh, y biết đó là những cao thủ bậc nhất thiên hạ. Vĩnh Hoa mang theo đội Thần-báo, Thần-hổ, mỗi đội 300 con, chuyên chở trên hơn 600 cỗ xe. Nếu hai bên đang giao tranh, mà xua đội Thần-báo, Thần-hổ vào tấn công địch, phần thắng dễ dàng như không. Y là người đọc sách, đã được đọc tài liệu nói về Nỏ-thần Âu Lạc đặt trên xe, bắn một lúc hàng ngàn mũi tên, tầm xa gấp đôi tên thường. Dọc đường, y còn nhận thấy đám anh hùng Lĩnh Nam tính tình giản dị. Họ đối xử với nhau như anh em trong nhà. Y cũng xin Khất đại-phu cho phép gọi ông là Thái sư-thúc như Phùng Vĩnh Hoa.

Phải mất đến hơn mười ngày mới về tới Hán-trung. Lập tức y cho mời hết các quan văn võ, giới thiệu anh hùng Lĩnh Nam cùng mưu sự.

Từ ngoài vào bản doanh phải qua nhiều trại quân. Giáp sĩ đi đứng uy nghiêm hùng tráng, binh sĩ kỷ luật. Trần-gia tam nương là đệ tử của Thiên-thủ Viên-hầu Lại Thế Cường, từng thao luyện tráng đinh, hùng cứ một vùng chống Tô Định. Ba nàng thấy quân phong, quân khí Ngô Hán, nói nhỏ vào tai Phùng Vĩnh Hoa:

– Trưng sư tỷ dự tính giúp Ngô Hán chiếm Ích-châu, để sau này không còn sợ y cầm quân đánh nhau với Lĩnh Nam cũng phải. Xem quân khí thế này, y chỉ thua có Nghiêm đại ca mà thôi.

Hồng Nương cất tiếng khen:

– Ngô đại tướng quân, tôi thấy các đạo quân Lĩnh Nam, Kinh-châu, Hán-trung. So sánh chung, quân khí đạo Lĩnh Nam hơn hết. So về quân phong thì đạo Hán-trung là đệ nhất. Hèn gì trên đường từ Lĩnh Nam sang đây, Lĩnh-nam vương không tiếc lời ca ngợi tướng quân.

Ngô Hán là một loại anh hùng, y nói:

– Đa tạ cô nương khen ngợi. Trước tôi chỉ là một tên nhà quê, cắp gươm theo hầu Lĩnh-nam vương, được Vương gia chỉ dạy cho rất nhiều.

Ngô Hán truyền đánh trống, tụ hội tướng sĩ nghe lệnh. Các tướng tề tựu đông đủ. Ngô Hán chỉ từng người một giới thiệu:

– Đây là Vũ-oai đại tướng quân Lưu Thương.

Cao Cảnh Minh buột miệng:

– Tại hạ ở Lĩnh Nam đã từng nghe danh. Mới đây được Lĩnh-nam vương nhắc nhở: Lưu tướng quân tiễn lực, tiễn thuật đệ nhất Trung-nguyên.

Lưu Thương nghe trong đạo Lĩnh Nam có Thần-nỏ Âu Lạc, đều là đệ tử, cháu của Cao Cảnh Minh. Cao Cảnh Minh là đệ nhất cao thủ tiễn thuật đời nay. Do đó, tuy đắc chí, nhưng y khiêm nhượng nói:

– Không dám, tiểu tướng hy vọng được Trường-yên đại hiệp chỉ dậy thêm.

Ngô Hán tiếp:

– Đây là Chinh-tây đại tướng quân Phùng Dị.

Phùng Vĩnh Hoa kêu lên:

– Lĩnh-nam vương thường nhắc nhở: đến võ lâm trung nguyên mà không được gặp Sầm-Phùng-Mã thì coi như chưa biết gì về võ công. Không biết các vị Sầm Bành, Mã Vũ có ở đây không?

Phùng Dị đáp:

– Hai vị đó ở đạo Kinh-châu.

Phùng Vĩnh Hoa nhìn các tướng Hán, nàng đọc được trong con mắt họ những vẻ nghi ngờ về khả năng của nàng. Nàng lờ đi, tự nhủ:

– Những người này, một đời đọc binh thư, ngồi trên mình ngựa, mạng sống của họ nay còn mai mất, họ thấy mình còn trẻ, nghi ngờ là phải. Chưa chắc mình đã bằng họ. Sư phụ mình thường bảo: Ngoài bầu trời này có bầu trời khác. Trung Nguyên đất rộng người nhiều, là nơi phát tích văn minh lâu đời, chính những sách mình đọc đều của người Hán. Mình chẳng nên coi thường thiên hạ.

Tham quan Vương Hữu Bằng trình bày:

– Nguyên soái đi mấy ngày, chúng tôi tiếp được lệnh chỉ của Lĩnh-nam vương Tả tướng quân, bắt các Thái-thú Lũng-thượng, Đông-xuyên, Trường-an đem tinh binh bổ sung. Chúng ta hiện có đủ tinh binh. Còn thêm mấy vạn mới đến đóng ở Nam Trịnh, chờ lệnh Nguyên-soái. Lương thảo gia nạp đủ, thừa nuôi quân trong ba năm. Lừa ngựa khí giới hùng tráng, cho nên tinh thần các tướng sĩ rất hứng khởi. Chờ Nguyên-soái về là tiến quân.

Ngô Hán gật đầu:

– Lĩnh-nam vương gia dùng ba quân sư đều là nữ, mỗi đạo một người. Các nữ quân sư có võ công cao. Ba nữ quân sư đã thiết kế bổ xung binh sĩ bằng cách chọn lấy những người khỏe mạnh, kinh nghiệm chiến đấu gửi cho mặt trận, chứ không lấy tân binh. Các địa phương phải tuyển tân binh bổ xung chỗ thiếu hụt.

Các tướng sĩ nhìn Vĩnh Hoa với con mắt thán phục đôi chút. Vĩnh Hoa hỏi:

– Muốn thắng giặc phải biết mình trước, xin Tham-quân cho tôi biết chi tiết về quân số, đồn trú hai bên.

Vương Hữu Bằng đem ra tấm bản đồ lớn chỉ lên:

– Quân Hán có 25 vạn bộ, 5 vạn kị, 3 vạn thủy binh, đây là lực lượng cơ động đánh giặc. Bên giặc có 15 vạn bộ, 5 vạn kị, 5 vạn thủy tất cả đều cơ động. Về ý đồ của giặc thì chỉ muốn giữ lấy Ích-châu. Biệt lập như một nước, đợi thời kéo ra đánh Trung-nguyên. Như trước đây đức Cao Tổ nhà Hán đã dùng để đánh Sở Bá Vương Hạng Võ. Nhờ vậy mà chúng ta chiếm được ưu thế. Trong các thành Võ-đô, Hồng-nguyên, Tùng-khê, Bình-võ, Nam-bình, Bà-trung, Thông-giang mỗi thành có hơn hai vạn, vừa kị, vừa bộ, vừa thủy. Tổng cộng 20 vạn nữa, lực lượng cơ động đóng Dương-bình-quan và Kiếm-các. Tính chung thì lực lượng cơ động của ta là 33 vạn, rất tinh nhuệ, đa số thuộc đất Thục, một số thuộc các bộ lạc ở phía Tây đưa về.

Vĩnh Hoa hỏi tiếp:

– Còn các tướng của giặc như thế nào?

– Tổng chỉ huy toàn miền Bắc Ích-châu, là con trưởng Công-tôn Thuật, tức Thái-tử Công-tôn Tư, năm nay 30 tuổi. Y học kiêm Bách-gia, Chu Tử, Lục-thao, Tam-lược, tính tình lại ôn hòa, biết trọng hiền tài, thương sĩ tốt, đối với dân chúng coi như con đẻ. Y được Công-tôn Thuật tin yêu, định nhường ngôi vua cho. Về võ công y đứng vào bậc nhì Ích-châu, chỉ thua có sư phụ, sư thúc mà thôi.

Vĩnh Hoa nhìn Ngô Hán:

– Khi đi đường đàm luận với Ngô tướng quân, tôi thấy Ngô tướng quân lược thao gồm tài, mà bị thua mấy trận, đã đoán giặc có nhiều ưu thế đặc biệt. Xin Tham-quân tiếp cho.

– Quân sư bên giặc là Tào Mạnh, tước Trung-lang tướng, thầy dạy Văn cho Công-tôn Tư. Thục còn có 8 tướng nữa, hầu hết văn võ kiêm toàn. Đứng đầu là Lũng-tây vương Triệu Khuôn, sư phụ Công-tôn Tư, sau đó là Phiêu-kị đại tướng quân Nhiệm Mãng, tước phong Vũ-dương hầu. Dưới quyền Công-tôn Tư, còn 7 người sư huynh, sư đệ của y, đều võ công kinh thế.

Phùng Vĩnh Hoa hỏi kỹ về địa thế rồi nói:

– Trước đây chúng ta đã đánh những trận nào?

Ngô Hán chỉ lên bản đồ:

– Lần đầu tiên chúng tôi tiến đánh Nam-bình, Võ-đô và Dương-bình-quan, hạ được Nam-bình, thì giặc tiến công chiếm mất Tử-dương, chúng cũng lấy lại Nam-bình, trận này coi như hòa. Lần thứ nhì chúng tôi dẫn quân đánh Dương-bình quan, thắng giặc ba trận, đến trận thứ tư bị bại vì Thiên Sơn thất hùng bất thần xuất trận, các tướng Hán không ai địch lại, chúng tôi bị thua. Trận cuối cùng chúng tôi đánh Võ-đô, giặc xuất raở Dương-bình quan, đánh cắt đường tiếp tế, chúng tôi lui về Hán-trung. Trận này tôi bị bại nặng, Kiến-võ hoàng-đế thân chinh ra tra xét, thấy giặc quá mạnh mới ủy Lĩnh-nam vương, Tả tướng-quân từ Lĩnh Nam về chinh tiễu. Chính ngài phán rằng, đất Lĩnh Nam nhiều đại tôn sư võ học, có thể giúp Hán thành công.

Các tướng sĩ ngồi nhìn Vĩnh Hoa, xem nàng giải quyết ra sao, Vĩnh Hoa thản nhiên nói:

– Tham-quân vừa nêu ra 5 ưu điểm của giặc, Lĩnh-nam vương Tả-tướng, với chúng tôi đã biết những điều đó, dự trù cách phá rồi. Lợi thế thứ nhất của giặc là đông hơn ta. Nay đã bị mất, vì ta thêm đạo Kinh-châu cả thủy, bộ, kỵ lên tới 30 vạn. Cộng chung ta có số quân cơ động, đông gấp đôi giặc. Lợi thế thứ nhì là địa thế giặc cũng mất, vì ta chia ra 3 mặt tiến đánh. Bây giờ lợi thế thứ nhì của giặc hóa ra lợi thế cho ta. Lợi thế thứ ba của giặc là tướng sĩ đồng lòng, nay ta có Lĩnh-nam vương Tả-tướng ở trên, thống lĩnh ba đạo, lợi thế thứ ba ta cũng có, coi như ngang với giặc. Lợi thế thứ tư của giặc là được lòng dân, thì Lĩnh-nam vương ra truyền hịch cho dân chúng biết, làm cho lòng quân, tướng giặc xôn xao, thì thế này của giặc cũng bị tê liệt. Lợi thế thứ năm là tướng giặc võ công cao hơn ta, nay ta hơn giặc gấp bội. Đất Lĩnh Nam về võ công, anh hùng hào kiệt nhiều không biết bao nhiêu mà kể. Theo Lĩnh-nam vương, có gần trăm đại cao thủ, ta không sợ giặc nữa.

Ngừng một lát Vĩnh Hoa tiếp:

– Đạo quân Kinh-châu có kế hoạch sẵn, chỉ trong ba ngày phải đánh Công-tôn Thiệu một trận, để y mất nhuệ khí về dùng binh giỏi. Đánh bại Công-tôn Thiệu, Vũ Chu cho Thục mất uy thế võ công. Sau đó chiếm Xuyên-hẩu, kế hoạch phải thực hiện trong 10 ngày, giờ này quân Hán đã vào Xuyên Khẩu, đang đánh thành Bạch Đế.

Các tướng sĩ nhìn nhau, họ bắt đầu nhìn Vĩnh Hoa bằng con mắt khâm phục, Vĩnh Hòa tiếp:

– Giặc tin tưởng vào dãy núi Kim-sơn cao 2000 trượng, tuyết phủ quanh năm, không đề phòng mặt Giang-an, tin tưởng địa thế Độ-khẩu, họ không có nhiều quân ở Độ-khẩu, Đức-xương. Nhưng Công-tôn Thuật quên mất rằng đất Lĩnh Nam toàn đồng lầy, sông ngòi. Anh hùng hiệp sĩ vùng này lội nước như cá. Ta đã có kế hoạch vượt sông Nhã-giang, Định-hà, tung kị binh đánh Độ-khẩu, Mễ-dịch, Đức-xương, Phổ-khách, Tây-xương, Việt-tây. Giặc thấy miền Nam thất thủ, tất kéo quân về đây phòng thủ, ta chỉ đánh một trận là lấy được Dương-bình quan, Kiếm-các.

Các tướng sĩ nghe Phùng Vĩnh Hoa phân tích tình hình mới tỉnh ngộ, Phùng Vĩnh Hoa nhìn xuống các tướng, thấy một tướng trẻ là Đỗ Mạo, nàng nói:

– Phiền tướng quân mang theo 10 quân kị dẫn đường, tôi quan sát Dương-bình quan một chuyến.

Hoành-giã tướng quân Vương Thường nói:

– Xin cô nương cẩn thận mang theo nhiều binh sĩ một chút, vì sợ bên giặc đổ ra bất thần.

Phùng Vĩnh Hoa cười:

– Tôi tuy võ công không cao, nhưng thanh kiếm này không dở.

Nàng rút kiếm đánh ra 10 chiêu, ánh thép lóe lên, kiếm chiêu bao trùm một vùng, rồi tra kiếm vào vỏ đến cách một, tiếng, các tướng Hán giật mình, không ngờ một thiếu nữ xinh đẹp, nho nhã như thế mà kiếm pháp lại hiểm ác, bao hàm sát thủ khủng khiếp.

Quế Hoa, Quỳnh Hoa đều nói:

– Sư tỷ cho em đi với!

Vĩnh Hoa gật đầu đồng ý.

Đoàn người lên ngựa hướng Dương-bình quan, dọc đường Vĩnh Hoa quan sát địa thế rất kỹ càng. Tới chân thành, nàng nhìn lên: Trên mặt thành binh tướng đi lại tuần phòng hùng tráng. Bất thình lình cửa thành mở toang, một đội thiết kị, khoảng 500 người, tiến về phía Vĩnh Hoa, khi còn cách khoảng một dặm thì chia làm ba, ý định bao vây Vĩnh Hoa, Đỗ Mạo nói:

– Xin cô nương cẩn thận, giặc tới rồi, chạy ngay đi không nguy lắm.

Vĩnh Hoa gò ngựa đứng nhìn, nàng bảo Quế Hoa, Quỳnh Hoa:

– Hai em thử với giặc ít chiêu cho chị xem nào?

Quế Hoa, Quỳnh Hoa vọt ngựa ra, đám kị binh Thục thấy hai cô gái phi ngựa tới trước, thì ngừng lại.

Đỗ Mạo nói:

– Người đi đầu là Hổ-oai tướng quân Hầu Đơn, y là sư đệ của Công-tôn Tư, y giỏi về quyền cước, mà dở về kiếm thuật.

Hầu Đơn gò ngựa hỏi:

– Này, các ngươi định tới đây dò thám hả? Bộ hết muốn sống rồi chăng?

Phùng Vĩnh Hoa phi ngựa đến sau lưng Quế Hoa, Quỳnh Hoa chắp tay vái:

– Tiện nữ Phùng Vĩnh Hoa, đất Lĩnh Nam xin tham kiến, Hổ-oai đại tướng quân Cảnh-dương hầu, Hầu tướng quân.

Hầu Đơn đang tuần hành trên thành, thấy dưới thành có khoảng 20 người đang chỉ chỉ chỏ chỏ, nghi rằng đó là thám mã của Hán, y điểm 500 kị binh xuống bắt. Y tưởng bọn thám mã sẽ phải bỏ chạy, không ngờ khi đến gần thì thấy Đỗ Mạo, với 10 kị binh đứng sau, còn phía trước có ba cô gái khoảng 19, 20, ôn nhu, văn nhã, xinh đẹp chưa từng thấy. Nhất là Vĩnh Hoa lại chào hỏi lễ phép, y cũng chắp tay đáp lễ:

– Tiểu tướng mắt kém, không biết các vị cô nương tới đây làm gì?

Vĩnh Hoa giả bộ ngây thơ:

– Chúng tôi từ Lĩnh Nam tới, nghe Dương-bình quan đang có chiến tranh, muốn ra đây xem cho biết. Không biết tướng quân có thể cho tôi vào thành chơi, hoặc dạo quanh thành không?

Hầu Đơn đáp:

– Nếu ba vị cô nương thích thăm thành thì được, nhưng Thục và Hán đang có chiến tranh, mà cô nương lại đi với quân Hán, e không được. Thôi để ta bắt mấy quân Hán kia, rồi đưa cô nương vào thành.

Vĩnh Hoa lắc đầu:

– Tôi muốn để tướng quân bắt mấy tên Hán này, nhưng có có người không đồng ý, đó là hai cô sư muội của tôi, chúng bảo võ công tướng quân không đáng cho chúng nể phục, vậy xin tướng quân dạy cho chúng vài chiêu được chăng?

Hầu Đơn là đệ tử phái Thiên-sơn, văn võ toàn tài, tính tình phong nhã, y thấy ba cô gái nhu nhã xinh đẹp muốn đấu võ với mình, thì ngẩn người ra một lúc rồi chắp nói:

– Không biết vị cô nương nào dạy bảo chúng tôi đây?

Quế Hoa từ mình ngựa vọt lên cao. Còn lơ lửng trên không nàng đãõ phóng một chuởng chụp xuống đầu Hầu Đơn. Hầu Đơn là một cao thủ đất Thục, kinh nghiệm chiến đấu, thấy thế chưởng kỳ lạ,hùng mạnh đánh vào đỉnh đầu, vội xuống tấn lùi lại tránh. Không ngờ Quế Hoa còn ở trên không, đá gió một cái, người nàng vọt theo, chưởng lực đánh xéo vào sườn. Y trầm người, đẩy xéo tay lên đỡ. Bùng một tiếng. Quế Hoa vọt lên cao, lộn đi hai vòng,trông rất đẹp mắt, tay nàng biến thành trảo chụp xuống đầu Hầu Đơn.

Hầu Đơn vừa đấu chưởng với Quế Hoa, y thấy chưởng lực đối phương rất tinh diệu, kỳ ảo, như có như không, công lực dương cương, cánh tay tê dại. Y chưa kịp định thần thì chảo đã chụp tới, y vung tay gạt, đánh trả một quyền, Quế Hoa đổi chảo thành chỉ, đâm vào ngực y đánh bốp một cái, y đau điếng người lùi lại mặt tái mét.

Quế Hoa là cháu của Khất đại-phu Trần Đại Sinh, nàng ở với ông từ thuở nhỏ, được luyện tập rất tinh vi, võ công của nàng ngang với Hoàng Thiều Hoa, hơn Lê Chân, Vĩnh Hoa một bậc, vì vậy Hầu Đơn mới bị thất bại trong vài chiêu.

Quế Hoa tiến lên ra chưởng nữa, chưởng phong ào ào chụp tới, vì đó là chiêu Ác ngưu nan độ, trong Phục ngưu thần chưởng, Hầu Đơn hít hơi vận đủ 10 thành công lực đỡ, người y lảo đảo lùi lại.

Từ nhỏ, Quế Hoa chỉ biết luyện tập, đấu với em là Quỳnh Hoa, chứ chưa xuất trận bao giờ. Đây là lần đầu tiên đấu với người ngoài, nàng như con nghé tơ, thấy đối thủ là húc, không cần biết đối thủ lợi hại hay không lợi hại. Nàng vận tay thành chỉ, đưa chân khí ra Thủ tam dương kinh, rồi truyền tới huyệt Thương-dương ở ngón trỏ, đó là một chiêu trong Lĩnh-nam chỉ, mà Khất đại-phu với Đào Kỳ mới chế ra, chỉ phong phát ra veo véo.

Phùng Vĩnh Hoa thấy Hầu Đơn là người có khí phách, không muốn giết y, vội hô:

– Ngừng tay!

Nhưng đã trễ, chỉ phát ra rồi, không thu lại được, Quế Hoa vội đổi chiêu, véo một tiếng chỉ trúng chân trước ngựa Hầu Đơn, chân ngựa bị tiện đứt. Con ngựa đau quá, hí lên một tiếng thê thảm, ngã lộn xuống đất.

Quế Hoa vọt người lên cao, đáp xuống lưng ngựa mình.

Phùng Vĩnh Hoa nói với Hầu Đơn:

– Hầu tướng quân, như vậy đủ rồi, tướng quân về đi, phiền tướng quân nói với Thái-tử Công-tôn Tư, rằng hai hôm nữa, tiểu nữ muốn được bái kiến ngài dưới thành, thưa chút việc.

Nàng vẫy mọi người lên ngựa trở về, Hầu Đơn ngẩn người nhìn theo, vì y thấy nàng xinh đẹp, ôn nhu văn nhã, nói năng khách khí lịch sự. Dù trước trận tiền, gươm đao choang choảng mà nàng thản nhiên như đi ngắm cảnh. Không biết Vĩnh Hoa là ai, y đoán chừng ít ra nàng phải là Quận-chúa, hay phu nhân một nhân vật lớn ở Lĩnh Nam, mới có hai thiếu nữ trẻ đẹp, võ công cao đi hầu cận.

Vĩnh Hoa trở về doanh trại, Đỗ Mạo đem truyện kể cho các tướng nghe, bấy giờ mọi người mới tin rằng, võ công Lĩnh Nam vô địch thiên hạ.

Hôm sau Phùng Vĩnh Hoa nói với Ngô Hán:

– Hôm qua tôi cùng Hậu-quân Hiệu-úy, Đỗ tướng-quân thám thính thành Dương-bình quan, tôi dùng lời lẽ nhu nhã nói truyện, còn Quế Hoa đấu chưởng, họ thua, hiện bên giặc đang thắc mắc về chúng tôi. Có như vậy Công-tôn Tư mới nghi hoặc, đã nghi hoặc thì thế nào cũng tìm hiểu, tôi lại đưa lời mời y ra nói truyện, hai ngày nữa xuất thành. Trong khi y với tôi đối trận, ta đánh úp Võ-đô trước. Tôi đã kế hoạch đánh Võ-đô, ta chiếm Võ-đô thì sườn phải không sợ uy hiếp, bấy giờ ta mới đánh Dương-bình quan.

Ngô Hán là người đọc sách làm quan võ, y có tài nhận xét người. Thoáng qua y đã nhận thấy chân tài của Vĩnh Hoa, qua việc thám thính, Ngô bưng ấn kiếm trao cho Vĩnh Hoa, các tướng tuy không nghe Quế Hoa đánh Hầu Đơn, nhưng vẫn chưa tin tưởng lắm, lục tục vào trướng nghe lệnh.

Phùng Vĩnh Hoa nói:

– Hiện ở Võ-đô giặc có ba vạn bộ, một vạn kị và và vạn thủy, cộng chung là năm vạn. Ta đánh Võ-đô trước, tướng trấn thủ Võ-đô là Phiêu-kỵ Đại tướng-quân Nhiệm Mãng, y là sư thúc của Công-tôn Tư, phụ trấn với y còn có hai đệ tử Điền Nhung, Nhiệm Đăng. Từ trước đến nay đánh Võ-đô, là Chinh-tây Đại tướng quân Phùng Dị, Hoành giã đại tướng quân Vương Thường. Vậy bây giờ mỗi vị mang một vạn quân tới bày trận. Quế Hoa giúp Phùng tướng quân, Quỳnh Hoa giúp Vương tướng quân Khi giặc mang quân bộ ra đánh, hai tướng giao tranh lấy lệ, rồi chia thành hai ngả tả hữu lùi mấy dặm. Chờ khi thấy hậu quân giặc rối loạn, thì Quế Hoa, Quỳnh Hoa mới xuất trận, phải đánh bại Điền Nhung và Nhiệm Đăng Khi giặc bỏ chạy phải đuổi theo gấp, không cho chúng vào thành, chúng sẽ chạy về Lâm-giang, đồn Lâm-giang ở trên ngọn đồi, chỉ có hơn ngàn quân trấn đóng, tức chúng không dám xuất đồn cứu viện. Lập tức án ngữ tại đây, không cho chúng về Võ-đô, trái lệnh thì xử trảm.

Quế Hoa chưa thuộc cách dụng binh hỏi:

– Đánh bại hai tướng giặc thì không khó, ngặt vì quân Thục tinh nhuệ, nếu chúng tử chiến rút về thành, trường hợp này lỗi của hai tướng Phùng, Vương hay lỗi ở bọn em?

Vĩnh Hoa giảng:

– Giặc bị thua nhuệ khí đã mất, chị dùng hai em không phải hai đại tướng quân Phùng, Vương thiếu tài, mà mục đích gây hoài nghi cho giặc. Giặc thấy hai em là cô gái nhỏ tuổi, không biết dùng binh, chúng khinh thường, rồi bị hai tướng Phùng, Vương đánh bại.

Vĩnh Hoa tiếp :

– Sư bá Cao Cảnh Minh dẫn theo Trung lang tướng Lai Háp, Tiền-quân Hiệu-úy Chu Á Dũng phục ở Vọng-tử quan. Khi thấy giặc đuổi theo Phùng, Vương,thì tiến lên đánh vào hậu quân giặc. Sau khi giặc bỏ chạy về Lâm-giang, phải kéo tới chiếm Lưỡng-hà khẩu.

Nàng đứng lên chắp tay hướng Khất đại-phu :

– Thái sư-thúc, xin Thái sư-thúc cùng cháu đi lấy Võ-đô, chúng ta chỉ cần mấy ngàn quân là đủ vào thành.

Nàng nói với Ngô Hán :

– Từ Dương-bình quan tới Võ-đô không có đường bộ, phải theo sông Gia-lực xuôi đến Quảng-nguyên rồi ngược sông Bạch-long. Dù đi cách nào cũng mất hai ngày. Chúng ta đánh Võ-đô bất thình lình, khi Võ-đô thất thủ, ít ra hai ngày Công-tôn Tư mới biết. Tuy vậy cũng phải đề phòng. Tôi chỉ có thể cầm chân Công-tôn Tư tại đây một buổi mà thôi.

Ngô Hán hỏi Vĩnh Hoa làm cách nào chiếm được Võ-đô với vài ngàn người. Nàng ghé tai nói nhỏ mấy câu. Ngô Hán gật đầu khen :

– Tuyệt diệu !

Hai hôm sau Ngô Hán truyền lịnh kéo quân tới Dương-bình quan, dàn ra trước ải truyền loa gọi Công-tôn Tư ra đánh nhau. Trong thành phát pháo, bốn cửa mở toang, quân tướng, xe, ngựa, nghiêm chỉnh xuất thành, dàn ra đối diện với quân Hán. Vĩnh Hoa thấy lối bày trận thầm khen quân Thục được huấn luyện tinh nhuệ.

Công-tôn Tư cầm roi ngựa chỉ Ngô Hán :

– Tên hủ nho kia, ngươi trói gà không chặt, đánh nhau với ta trên mười trận, quân sĩ chết năm sáu vạn rồi, ngươi chưa biết sợ ư? Ta nghe Lưu Tú vừa cho triệu em kết nghĩa là Nghiêm Sơn trấn thủ Lĩnh Nam về đánh chúng ta. Vậy Nghiêm Sơn đâu, bảo y ra đây nói chuyện với ta.

Cửa trận Hán mở, ba hồi trống trận đánh vang lừng. Phùng Vĩnh Hoa giục ngựa thủng thẳng bước ra trận, nàng hướng về Công-tôn Tư :

– Người con gái Lĩnh Nam là Phùng Vĩnh Hoa xin bái kiến Công-tôn Thái-tử. Tiểu nữ ở Lĩnh Nam nghe tiếng Thái-tử phẩm chất tuấn nhã, văn võ song tài, nhã lượng, cao trí, khiến quần hùng Trung-nguyên dù văn, dù võ đều khâm phục. Cho nên cách đây hai hôm, tiểu nữ nhắn với Hầu tướng quân, xin được bái kiến Thái-tử. Quả nhiên hôm nay ngài giá lâm, thực là hân hạnh.

Nàng chắp tay vái liền bốn vái.

Công-tôn Tư nghe nói, đạo quân Lĩnh Nam có nhiều phụ nữ xinh đẹp, võ công cao cường. Hôm trước sư đệ của y là Hầu Đơn bị bại về tay một thiếu nữ trẻ, y không tin. Hôm nay thấy Vĩnh Hoa ẻo lả, không mặc giáp sắt như mọi người, mà mặc quần áo lụa trắng mỏng, khăn choàng cổ màu đỏ sậm, dây lưng hồng bay phất phơ trước gió như một vị tiên nga, lại nói năng lễ phép.

Trong lịch sử chiến tranh Trung-nguyên, khi hai bên đối diện thường người ta đem những lời tục tằn, dơ bẩn nhục mạ nhau. Mỗi đạo binh đều có toán mạ binh tức lính chửi nhau. Chúng dùng loa chửi bên địch đủ mọi lời dơ bẩn nhất chứ chưa từng có hai tướng đối trận lai khen nhau bao giờ. Công-tôn Tư là Thái-tử, tương lai lên kế vị cha làm vua. Y thống lãnh binh quyền trong tay, thiếu gì người tưng bốc nịnh nọt. Nhưng nay đứng trước trận, một thiếu nữ xinh đẹp, phiêu hốt đưa lời ca tụng rất đúng, chứ không ca tụng quá mức. Như phẩm chất tuấn nhã thời bấy giờ chỉ có nam giới nói với nhau, chứ có bao giờ nữ giới lại dám ca tụng nam giới như vậy đâu ? Lần thứ nhất Công-tôn Tư được một thiếu nữ xinh đẹp ca tụng. Lại nữa thiếu nữ đó là quân sư, là kẻ thù. Nàng còn khen y nhã lượng, cao trí, văn võ song toàn, là những điều có thực. Y sinh cảm tình với nàng, vội vàng đáp lễ :

– Không dám! Chẳng hay cô nương quí tính phương danh là gì ? Cô nương đẹp thế kia, mà ra trước trận tiền, gươm giáo vốn vô tình, lỡ phạm vào cô nương, chẳng ân hận lắm ư ?

Vĩnh Hoa đáp :

– Phàm làm vua phải biết lòng trời, làm tướng phải biết ta biết người. Vua thì lo giữ nước, quan thì lo giữ chức, nhà giàu thì lo giữ của. Nay Thái-tử tài kiêm văn võ, mưu lược hơn đời, nắm trọn binh mã trong tay, quyền nghiêng thiên hạ. Thái-tử mang quân đánh ở ngoài, thắng thì địa vị cũng chẳng hơn, còn bị ghen ghét. Mà bại thì ngôi Thái-tử e khó giữ được. Thái tử là người đọc sách, mà không nhớ tích Thái-tử Lịch Sanh bị cha là Tấn Linh Công giết chết ư? Hiện giờ ở trong, các em đang ngấm ngầm vận động tranh ngôi Thái-tử. Các bà phi tần của vua cha chỉ biết vàng bạc, thương yêu những người cúi đầu tuân phục. Còn Thái-tử, mẹ qua đời, lo chinh chiến mà không được lòng các phi tần. Vì vậy đại họa không biết lúc nào sẽ tới.Tôi vì Thái-tử mà ra đây nói vài lời phải trái. Nghe hay không là quyền của Thái-tử.

Công-tôn Tư quả đang lo những điều Vĩnh Hoa nói. Mẹ của y đã qua đời. Công-tôn Thuật đặt một phi tần khác lên làm hoàng-hậu, cực kỳ sủng ái. Thuật còn nuôi ba con trai của Vương Nguyên làm con, tước phong tới Bình-nam vương, trấn thủ phía nam Ích-châu. Ngoài ra y lại không được lòng hai người chú là Công-tôn Thiệu, Công-tôn Khôi đang trấn thủ Đông và Đông-nam. Bây giờ trước trận Phùng Vĩnh Hoa nói toẹt mối lo ngại cuả y ra. Y biết là đúng, song vẫn thản nhiên :

– Phùng cô nương dạy quả đúng như hoàn cảnh của ta. Nhưng đạo làm tôi phải trung với chúa, đạo làm con phải hiếu với cha mẹ. Thái tử Lịch Sanh tuy chết oan, nhưng danh còn với thiên cổ. Ta được vua cha ủy thác trấn nhậm biên thùy, phải cố giữ cho nước yên, dân được sung sướng thì đã toại nguyện. Còn làm vua hay làm tôi ta không cần nghĩ tới. Cám ơn cô nương đã dạy dỗ. Xin cô nương lui về, để ta cùng Ngô Hán đấu với nhau một trận long trời lỡ đất.

Y lại nói với Ngô Hán :

– Ngô Hán, chúng ta đánh nhau mãi chết quân sĩ nhiều quá, vậy người có dám đấu với ta chăng ? Dù đấu văn, đấu võ môn gì ta cũng nhận.

Phùng Vĩnh Hoa nói ;

– Không biết Thái-tử có thể thù tiếp tôi được chăng ? Tôi xin đấu văn với Thái-tử. Xin Thái-tử ra đầu đề trước đi.

Công Tôn Tư nói :

– Nếu là cô nương, tôi xin nhường cô nương ra đầu đề. Chúng ta đấu ba cuộc, ai thắng hai thì coi như được. Không biết cô nương nghĩ sao? Cô nương thắng, tôi nguyện lui binh, dẫn đường mời cô nương du lịch thắng cảnh Dương-bình quan hay cả đất Ích-châu như cô nương đã nói với sư-đệ tôi hôm qua. Còn nếu tôi thắng, xin cô nương bảo Ngô Hán lui quân về, để tướng sĩ được nghỉ một tháng. Không biết cô nương có chấp thuận không ?

Phùng Vĩnh Hoa nghiêng mình đáp lễ :

– Tôi xin tuân lịnh Thái-tử. Môn thi đầu tiên của tôi là âm nhạc. Tôi tấu một vài khúc, xin Thái-tử đánh nhịp cho.

Vĩnh Hoa là đệ tử phái Sài-sơn, nàng rất giỏi âm nhạc. Nàng vẫy tay về sau, một nữ binh theo hầu dâng lên cây đàn bầu. Nàng để cây đàn trên mình ngựa, dạo khúc Dương Xuân Bạch Tuyết. Nàng dùng nội lực chuyển vào cây đàn, âm thanh đi rất xa. Tướng sĩ hai bên trước nay đã cùng nhau đánh hàng trăm trận, sống chết có thừa. Nay bỗng dưng được thấy một thiếu nữ xinh đẹp, ra trước trận tấu nhạc bằng thứ đàn chỉ có một giây. Tiếng đàn đầm ấm, thanh cao, u nhã, khiến hồn họ như lâng lâng bay bổng lên cao.

Bên trận Thục, Công-tôn Tư rút kiếm ra đánh nhịp theo điệu đàn của nàng, hợp thành một khúc nhạc tuyệt vời. Khúc nhạc dứt, quân sĩ hai bên vỗ tay hoan hô rúng động trời đất.

Phùng Vĩnh Hoa nói:

– Trời sắp vào Xuân, hai bên đánh nhau mãi chán lắm rồi, chi bằng chúng ta cùng nhau tấu nhạc cho tướng sĩ nghe chẳng thú lắm sao. Từ ngày rời Lĩnh Nam đến giờ, nay là lần đầu tiên tiện nữ được gặp tri âm. Đời này tri âm được mấy người, có phải không Thái-tử? Nào tiểu nữ lại thổi một khúc tiêu, mong nhã lượng quân tử dạy cho.

Phùng Vĩnh Hoa được trời phú cho giọng nói thanh tao. Đến sư phụ, cha mẹ nghe nàng nói mà còn thương, huống hồ đứng trước trận tiền nói với Công-tôn Tư. Câu nào cũng êm đềm văn hoa.

Ngô Hán nghĩ thầm:

– Tại sao đất Lĩnh Nam nhiều nhân tài đến thế nhỉ? Nếu nàng không là người bên mình, mình cũng bị mắc mưu. Có ai ngờ, hiện giờ binh tướng của mình đã kéo đến Võ-đô, đánh úp thành mất rồi. Có ai ngờ thiếu nữ trẻ thế kia mà võ công cao, mưu thần chước thánh như vậy.

Nàng vọt người lên cao, con ngựa của nàng phi như bay trước trận. Nàng đứng trên lưng ngựa, cầm ống tiêu thổi bài Động Đình dạ khúc. Nghe thổi tiêu, thì tướng sĩ hai bên cũng từng nghe qua. Đây là nàng đứng trên lưng ngựa, ngựa phi như bay, nàng vẫn giữ được nguồn âm thanh liên miên bất tuyệt là điều không ai tưởng tượng nổi.

Nguồn gốc của phái Sài-sơn bắt đầu từ Phù-đổng Thiên-vương, nghệ thuật cỡi ngựa thần sầu quỉ khốc. Có điều Vĩnh Hoa hợp nghệ thuật cỡi ngựa với âm nhạc được. Ngựa cứ phi bụi mù, tiếng sáo vẫn véo von, khi lên cao vút từng mây, khi nỉ non như tiếng sóng Động-đình. Y phục màu trắng, dây lưng khăn hồng bay phất phới trước gió, tiếng tiêu bay bổng trên không gian. Khúc tiêu hết, quân sĩ hai bên vỗ tay vang dội.

Phùng Vĩnh Hoa vọt người lên cao, đáp xuống, ngồi ngang trên lưng ngựa, chắp tay hướng Công-tôn Tư:

– Xin Thái-tử dạy cho ít lời.

Công-tôn Tư thở dài:

– Tôi thua cô nương cuộc này. Còn cuộc thứ ba, xin cô nương tiếp cho.

Phùng Vĩnh Hoa phi ngựa tới trước trận:

– Tôi xin Thái-tử vừa tấu nhạc, vừa dạy cho mấy thế võ.

Nói rồi nàng cầm ống tiêu đâm liền. Y vội rút kiếm đỡ. Thì Vĩnh Hoa đã thu chiêu trở về. Tiếng gió lọt vào ống tiêu kêu lên những tiếng vi vu. Thế là Vĩnh Hoa dùng tiêu đấu với kiếm của Công-tôn Tư, nhưng tiếng tiêu vẫn phát ra bài Động Đình dã ca nghe rất êm tai. Nếu người nào nhắm mắt tưởng nàng tấu nhạc, có ngờ đâu đó là những chiêu kiếm phổ vào tiêu đầy sát thủ. Đánh được gần trăm hiệp, bài Động Đình dã ca dứt, nàng lui lại:

– Xin thái tử dạy cho ít lời.

Công-tôn Tư nhìn nàng phiêu hốt như có như không, phất phơ trước gió giải lụa trên cổ màu hồng trông như tiên nữ. Y ngất ngây đáp:

– Trong ba cuộc đấu, tôi thua cô nương hai cuộc. Vậy ngoài những điều tôi đã hứa, cô nương muốn thế nào tôi cũng xin chiều lòng tri âm.

Vĩnh Hoa mỉm cười:

– Mai này, Thái-tử với tôi lên đồi Định-cường, chúng mình đánh cờ, gảy đàn, thổi tiêu, uống rượu tiêu dao ngày tháng, chẳng hơn dùng gươm dao giết nhau ư?

Công-tôn Tư trấn nhậm phía Bắc Ích Châu chống với Hán, mục đích của y là trấn thủ chứ không có tham vọng chiếm Trung-nguyên. Y phải xuất thành vì quân Hán tấn công, chứ y không ham chiến. Bây giờ Vĩnh Hoa thắng, lại đề nghị bãi chiến, tấu nhạc, đánh cờ, là điều y cầu mà không được.

Công-tôn Tư ngây người đáp:

– Tôi sẽ hầu tiếp cô nương, tôi mời cô nương ngắm thắng cảnh Định-cường.

Vĩnh Hoa tiếp:

– Đây gần Dương-bình quan hơn, Thái-tử là chủ, tôi là khách, nhất thiết rượu, hoa quả do Thái-tử đem tới. Giờ Mùi ngày mai chúng ta gặp nhau.

Nàng vái dài một vái rồi phi ngựa về trận. Ngô Hán cho lui quân. Y không hiểu kế của Vĩnh Hoa hỏi:

– Mai là ngày chúng ta đánh Võ Đô, cô nương làm sao đánh cờ, tấu nhạc với Công-tôn Tư được?

Vĩnh Hoa ghé tai Ngô Hán nói nhỏ mấy câu, Ngô Hán gật đầu nói:

– Đêm nay quân sư Tào Mạnh cùng Công-tôn Tư nghĩ nát đầu cũng không ra chủ ý của cô nương. Có điều, chúng ta chuyển quân, sợ Tế-tác của giặc khám phá ra nguy hiểm vô cùng.

Phùng Vĩnh Hoa cười:

– Khi rời Phiên-ngung về đây, tôi có giới thiệu với Tướng quân một lão tướng của chúng tôi tên Vi Đại Khê. Vị lão tướng chỉ huy 100 chó Ngao. Tôi đã bí mật cho chó Ngao phục trong các hẻm núi, dọc đường đến Võ-đô. Nếu Tế tác giặc ẩn núp, sẽ bị phát hiện, giết chết liền.

Bỗng Hổ-nha đại tướng Cáp Diên bước vào thưa:

– Trình Nguyên-soái và quân sư, Ngao-sơn Vi Đại Khê bắt được 37 tên Tế Tác, xin Nguyên-soái định liệu.

Vĩnh Hoa cười:

– Giam chúng lại, cho ăn uống tử tế, giờ Mùi ngày mai thả chúng ra.

Nàng nói với Ngô Hán:

– Ngày mai, giờ Mùi tôi hội với Công-tôn Tư, bấy giờ thả chúng ra, chúng có về báo cáo thì đã trễ.

Vĩnh Hoa cùng Khất đại-phu đợi trời tối, âm thầm sai 2000 quân, nay 300 cỗ xe bí mật lên đường. Mỗi cỗ xe chở hai Hổ hoặc hai Báo. Trời vừa sáng thì vượt sông Hán-thủy. Phùng Vĩnh Hoa chỉ phía tòa thành xa xa nói:

– Kia là Võ-đô, chúng ta phải lấy thành trước giờ Ngọ.

Nàng cho gọi Tây-vu tam hổ tướng, tam báo tướng tới họp. Hồ Đề phong chúng là đại tướng quân cho oai, chứ thực sự chúng đều là những thiếu niên, tuổi chưa tới 18. Song chúng chỉ huy, huấn luyện Hổ, Báo đã lâu. Bọn Hổ, Báo nghe tiếng tù-và, tiếng hú hoặc điệu phất cờ mà tiến, thoái, bao vây, tấn công địch như một đạo quân tinh nhuệ.

Vĩnh Hoa ra lệnh cho Hắc Hổ:

– Sư đệ phục đội Hổ binh ở đây. Đợi lệnh tôi thì xua hổ tấn công vào thành. Sư-đệ định tấn công cách nào?

Hắc Hổ nói:

– Em chỉ huy bằng cờ. Em chỉ huy đội Hắc-hổ làm trừ bị phía sau. Còn Hoàng chỉ huy bằng tù và, Bạch thì chỉ huy bằng thanh la. Chúng em liên lạc với nhau bằng cờ. Như vậy, Hoàng, Bạch chia hổ thành 10 đội, mỗi đội 10 con dàn làm hai hàng. Khi xung phong vào đội hình địch, mỗi đội 10 con dàn làm hai hàng. Khi xung phong vào đội hình địch, thì hàng thứ nhất cắt đứt đội hình địch, rồi chia làm hai quẹo sang phải, trái tấn công. Hàng thứ nhì chọc thẳng vào trung ương. Đội hắc hổ của em tùy nghi tiếp viện, đề phòng địch đánh tập hậu.

Phùng Vĩnh Hoa vỗ vai Hắc Hổ:

– Các em đúng là đại tướng.

Nàng gọi Hắc Báo ra lệnh:

– Sư đệ dẫn đội báo phục kích ở giữa đường từ Lưỡng-hà khẩu về Võ-đô, đợi khi Võ-đô lâm nguy, ắt thủy quân từ Lưỡng-hà khẩu về cứu viện. Thái sư thúc Cao Cảnh Minh lập tức xua quân chiếm khẩu. Sư đệ có bổn phận ngăn không cho địch quân trở về.

Phùng Vĩnh Hoa cùng Khất đại phu leo lên ngọn cây cao nhìn về Võ-đô quan sát trận địa. Trước thành Võ-đô, Chinh-tây tướng quân Phùng Dị, cạnh Quế Hoa. Hoành-giả tướng quân Vương Thường cạnh Quỳnh Hoa. Phía sau quân sĩ dàn thành trận nghiêm chỉnh.

Trên thành Võ-đô phát pháo lệnh, quân sĩ từ hai cửa thành ra ngoài. Rồi cũng dàn thành trận trước quân Hán. Mỗi cửa thành vẫn còn khoảng vài trăm quân thiết kị trấn giữ.

Hai tướng xuất trận bên Thục là Điền Nhung và Nhiệm Đăng, dàn trận xong, Nhiệm Đăng phi ngựa ra trước hỏi:

– Phùng Dị, Vương Thường các ngươi là bại tướng, còn đến đây làm gì? Hãy về đi để khỏi uổng mạng.

Y chỉ tay một cái, đại quân Thục tràn sang như nước vỡ bờ. Võ công Phùng Dị, Vương Thường cao hơn Nhiệm Đăng và Điền Nhung. Hai người đứng đốc chiến cho quân sĩ xung sát.

Đánh được một lát, trong thành Võ-đô nổ ba tiếng pháo, hai đạo quân nữa đổ ra tiếp ứng.

Phùng Dị, Vương Thường cho lệnh đổi tiền quân làm hậu quân, lui binh. Thục binh chia làm hai đuổi theo. Bấy giờ ở Vọng-tử quan, Cao Cảnh Minh đốt pháo lệnh đánh vào hậu quân hai đội Thục binh. Quân Thục thấy quân Hán xuất hiện đánh vào hậu quân thì nao núng, gần như rối loạn. Hai tướng Điền Nhung, Nhiệm Đăng bình tĩnh chia quân ra làm hai cự địch. Một mặt đốt pháo hiệu báo về thành cho biết họ bị lâm nguy.

Quế Hoa vọt ngựa lên phóng chưởng đánh Nhiệm Đăng. Nhiệm Đăng thấy một thiếu nữ trẻ tuổi, không mặc áo giáp trụ, phóng chưởng đánh mình, thì gác vũ khí giơ quyền đỡ. Binh một tiếng, y bật người khỏi ngựa. Cũng may võ công cao, y lộn một vòng đứng xuống đất, tay tê chồn. Y cho rằng vừa rồi mình khinh xuất, y lại vung chưởng đáng một chiêu cực kỳ thần tốc. Quế Hoa hít hơi phát chiêu trong Phục-ngưu thần chưởng, chiêu Lưỡng Ngưu Tranh Phong. Bùng một tiếng nữa, lần này nàng mới thấy ê tay, phải lui lại một bước. Bên kia Nhiệm Đăng cũng lùi hai bước. Hai người lại đấu với nhau, chiêu nọ kế tiếp chiêu kia, uy lực gấp bội. Chỉ 20 hiệp, Nhiệm Đăng đã luống cuống tay chân, bị nàng đá trúng sườn. Y vọt lên cao bỏ chạy vào trận, thế là trận thế y rối loạn, bị vây hai đầu.

Phía bên kia Quỳnh Hoa đánh với Điền Nhung. Điền Nhung thấy nữ tướng thì biết rằng phải là người có tài mới dám ra trận. Y cẩn thận vận đủ mười thành công lực đánh ra. Bùng một tiếng, Quỳnh Hoa cảm thấy cánh tay tê dại. Nàng biết gặp kình địch, vội dùng Phục-ngưu thần chưởng chống lại. Nhưng dầu sao nàng cũng chỉ là một thiếu nữ 19-20 tuổi, công lực chưa làm bao, mà Điền Nhung thì lớn tuổi hơn Nhiệm Đăng nhiều, công lực của y mạnh không thể tưởng tượng được. Đấu với nhau được 12 chưởng, Quỳnh Hoa đã thấy mắt hoa đầu váng. Tuy nhiên vì tự hào Gái Việt đất Lĩnh Nam lại là cháu Khất đại phu, nàng quyết dù chết cũng không lùi lại một bước. Điền Nhung thấy vậy khen cho cô gái nhỏ tuổi mà can đảm.

Y hít một hơi đầy, rồi vận khí phóng ra một chưởng mong kết liễu tính mệnh Quế Hoa, nàng quyết không lùi. Đầu óc hoang mang, nàng hít hơi phát bừa một chưởng. Chưởng đó là chiêu Kình Ngư Xuyên Dương trong Thiết-kình phi chưởng của phái Cửu Chân, mà Đào Kỳ đã dạy nàng. Hai chưởng chạm nhau, Điền Nhung bật lui trở lại đến ba bước. Quỳnh Hoa ngạc nhiên đến ngẩn người ra. Nàng phát chiêu Thiết-kình phi chưởng nữa đánh tới. Điền Nhung vận đủ mười thành công lực đỡ. Bùng một tiếng nữa, người y bắn về phía sau, loạng choạng muốn ngã, y oẹ một tiếng, thổ ra búng máu tươi.

Điền Nhung cảm thấy trong hai chiêu cuối cùng của Quỳnh Hoa tuy bao hàm phong lôi vũ bão thực, nhưng kém mãnh liệt tinh diệu hơn các chiêu trước nhiều, mà lại thắng. Y còn thấy rõ hai chiêu sau khắc chế với võ công của y.

Quỳnh Hoa tuyệt không ngờ Thiết-kình phi chưởng lại có uy lực hơn Phục-ngưu thần chưởng. Nàng nghĩ:

– Ông ngoại dậy rằng, Phục-ngưu thần chưởng là chưởng lực mạnh nhất Lĩnh Nam. Thế sao lại không bằng Thiết-kình phi chưởng?

Sự thực nếu dùng Thiết-kình phi chưởng đấu với Phục-ngưu thần chưởng chắc chắn sẽ bị thua. Bởi vì Phục-ngưu thần chưởng do Sơn Tinh chế ra, rất tinh diệu với võ công Lĩnh Nam. Còn Thiết-kình phi chưởng do Vũ Bảo Trung chế ra, trong nguyên tắc khắc chế võ công của tướng Tần, tức khắc võ công Trung-nguyên. Quỳnh Hoa dùng nó đánh Điền Nhung, y bị bại ngay.

Điền Nhung hỏi Quỳnh Hoa:

– Cô bé kia! Ngươi tên họ là gì? Ta xem dường như võ công của ngươi không thuộc bất cứ môn phái nào ở Trung-nguyên, vậy sư phụ ngươi là ai?

Quỳnh Hoa được Vĩnh Hoa dặn phải lễ độ, nhu nhã, nàng nghiêng mình thi lễ:.

– Tiểu nữ họ Trần tên Quỳnh Hoa, gái Việt đất Lĩnh Nam. Tiểu nữ không có sư phụ. Tiểu nữ thụ nghiệp với ngoại tổ. Ngoại tổ họ Trần húy là Đại Sinh, thường được đời tôn là Thánh y Khất đại phu. Tướng-quân! Người rút quân đi thôi. Tiểu nữ với người vì quốc sự mà phái đối chiêu. Tiểu nữ làm người bị thương, trong lòng rất áy náy. Thôi người đi đi, tiểu nữ không đuổi theo đâu.

Điền Nhung thấy một thiếu nữ xinh đẹp, không mặc giáp trụ, xuất trận đã lấy làm lạ. Nàng dùng chưởng lực thắng mình là hai điều lạ. Thắng mình rồi, nàng còn nói năng nhu nhã, tỏ ý hối hận làm mình bị thương, càng ngạc nhiên và cảm động. Y thấy phía Đông có quân vây, mà ở nay có đồn Lâm-giang. Y cho quân chạy về phía đó. Y chạy được một quãng thì gặp Nhiệm Đăng. Nhiệm kể chuyện bị một thiếu nữ khác là Trần Quế Hoa đánh bại. Hai người cho quân lên đồi Lâm-giang đồn trú, chờ quân trong thành cứu viện.

Vĩnh Hoa thấy thành mở cửa, rồi một đội kị binh xuất thành, đánh về phía hậu quân của Phùng Dị, Vương Thường biết Nhiệm Mãng xuất binh cứu viện, thành bỏ trống. Nàng cười với Khất đại phu:

– Thái sư thúc, Nhiệm Mãng bị trúng kế cháu rồi. Chúng ta chiếm thành đi thôi.

Nàng rút tù và ra thổi một hồi, lệnh cho Hắc Hổ. Hắc hổ hú lên một tiếng dài, mười hổ tướng đồng hú lên, các đội hổ binh gầm gừ hướng Võ-đô lao tới. Tại bốn cửa thành Võ-đô, đều có thiết kỵ gác phía ngoài. Bỗng những tiếng gầm gừ, rồi một đoàn cọp vàng, trắng, đen, vằn bốn mầu khác nhau tấn công vào bốn cửa thành. Binh Thục là những võ sĩ can đảm, dùng vũ khí chống lại. Nhưng ngựa của chúng thấy cọp sợ quá lăn kềnh ra, bỏ chạy mất. Đàn cọp tràn vào bốn cửa thành. Vĩnh Hoa cùng Khất đại phu vào thành, hạ cờ Thục xuống, treo cờ Hán lên, sai đốt cỏ báo hiệu cho Quỳnh Hoa, Quế Hoa biết rằng đã chiếm được thành.

Điền Nhung, Nhiệm Đăng bị vây ở chân núi Lâm-giang, được tín hiệu báo rằng sư phụ Nhiệm Mãng từ trong thành đem thiết kị ra cứu ứng. Hai tướng dẫn quân quay lại đánh. Phùng Dị, Vương Thường vội dàn quân rút lên núi lập thế cố thủ. Nhiệm Mãng và hai đệ tử gặp nhau. Nhiệm Đăng hỏi:

– Sư phụ! Không biết ở Lĩnh Nam có phái võ nào khắc chế với võ công phái Thiên-sơn không? Hôm nay bọn sư huynh đệ chúng con gặp hai thiếu nữ rất trẻ, xinh đẹp đánh bị thương.

Nhiệm Mãng chau mày bắt Nhiệm Đăng thuật lại những chiêu thức đã đấu. Nhìn đệ tử diễn lại, mắt ông lộ ra những tia khủng khiếp, ông nói không ra lời. Nhiệm Đăng theo học với Nhiệm Mãng từ lâu, y biết sư phụ mình là đệ tử cao nhân đương thời, không ai địch nổi quá hai chưởng của ông, thế mà không hiểu sao nghe thấy hai cô gái xuất hiện, mắt lại lo sợ như vậy.

Nhiệm Mãng thở dài:

– Điều mà sư phụ lo nghĩ bấy lâu, nay đã thành sự thật. Để sư phụ kể cho con nghe. Nguyên hai trăm năm trước đây, đất Lĩnh Nam được cai trị bởi một vị vua gọi là An Dương Vương. Tên nước là Thục. Bấy giờ Tần Thủy Hoàng thống nhất thiên hạ, muốn mang quân đánh Lĩnh Nam. Triều Thần can gián không nên, vì đường đất xa xôi, lam sơn chướng khí, nhân vật Lĩnh Nam không phải tầm thường.

Tần Thủy Hoàng không tin, muốn dò thám nhân vật Lĩnh Nam, mới cho sứ đòi vua An Dương Vương cống mấy võ sĩ. Vua An Dương gửi sang một võ sư cùng với đoàn đệ tử. Võ sư này tên là Lý Thân. Thầy trò Lý Thân dùng võ công đấu với võ sĩ Tần trước sân rồng, thắng hết tất cả võ quan, vệ sĩ. Tần Thủy Hoàng phong cho Lý Thân là Tư-lệ hiệu-úy mang quân đánh Hung-nô. Lý Thân đến đâu là Hung-nô bỏ chạy. Hung-nô yên, Tần Thủy Hoàng phong Lý Thân tước Vạn-tín hầu, cho về quê Lĩnh Nam thăm nhà. Mấy năm sau Hung-nô lại sang đánh, tướng Tần không sao địch nổi. Tần Thủy Hoàng lại cho người sang triệu Lý Thân. Nhưng Lý Thân đã qua đời. Tần Thủy Hoàng sai làm một tượng giống hệt Lý Thân, để trên cổng thành Hàm-dương. Trong bụng có đủ máy móc, binh lính vào trong đó giật dây, thì tượng cử động như người sống. Quân Hung-nô tưởng Lý Thân còn sống, không dám sang đánh nữa.

Tần Thủy Hoàng tưởng Lý Thân chết rồi, sai Đồ Thư mang 500 ngàn quân sang đánh An Dương Vương, tin rằng chiếm được nước Thục dễ dàng. Nào ngờ thất bại. Y quên mất một điều, mỗi khi đấu với một võ sư Trung-nguyên, Lý Thân thường giả vờ chống đỡ, dò biết hết chiêu thức. Lộ số võ công của địch, rồi đem về nghiên cứu ra cách khắc chế. Hôm sau y chỉ phản công mấy chiêu là thắng được. Khi về nước, y tập trung hết tất cả võ công Trung-nguyên tìm ra nguyên lý, ưu điểm, khuyết điểm, rồi chế ra một thứ nội công, quyền, cước, kiếm, trượng phá võ công chúng ta.

Nhiệm Đăng hiểu ra:

– Khi chúng ta giao đấu với địch thủ, phải cố gắng tìm ra những sơ hở của đối phương, rồi mới tìm chiêu thức của mình khắc chết được mà phản công. Còn hậu duệ của Lý Thân đấu với chúng ta, chỉ cần đánh bừa đi, từ chiêu số đến nội công, đều đã bao hàm khắc tinh với chúng ta. Thế thì hồi ấy chắc Đồ Thư bị bại!

Nhiệm Mãng thở dài:

– Bại thì còn khá. Dân số Lĩnh Nam hồi đó bất quá vài triệu người, quân lính bất quá trăm ngàn, thế mà Đồ Thư mang tới 500 ngàn quân sang đánh, toàn quân bị diệt, y bỏ xác tại Lĩnh Nam. Từ đó võ lâm Trung-nguyên khi đụng chạm với võ lâm Lĩnh Nam thường bị bại dễ dàng. Hai thiếu nữ mà các ngươi gặp, tuổi bất quá 19-20, thời gian luyện tập chưa lâu, mà đã như vậy. Nếu sư phụ y xuất hiện, ta e rằng đến sư huynh ta là Triệu Khuôn cũng lạc bại.

Nhiệm Đăng nhớ ra điều gì:

– Con nghe nói rằng Hán Quang Vũ bị ta đánh thua, y cho gọi người em kết nghĩa trấn thủ Lĩnh Nam là Nghiêm Sơn về, giao cho toàn quyền điều động binh mã đánh Ích-châu. Nghiêm Sơn lấy vợ Việt, khéo thu phục võ lâm nhân sĩ Lĩnh nam, họ theo giúp rất đông. Hai cô gái hôm nay chắc thuộc đám người đó.

Nhiệm Mãng chỉ lên núi:

– Bây giờ quân của ta đông hơn, địch ở trên núi. Chỉ cần vây nửa buổi là chúng chết khát. Ta cần đấu chưởng với hai cô gái Việt, để biết rõ nội công, chiêu số chúng như thế nào.

Bỗng binh sĩ la hét náo loạn. Nhiệm Mãng hỏi sao, họ chỉ về phía trước: Khói trong thành Võ-đô bốc lên mịt mù.

Nhiệm Mãng kinh hoàng:

– Chúng ta không cần vây bọn này nữa. Hãy trở về Võ-đô xem sao đã.

Nhiệm Mãng cùng Điền Nhung dẫn quân trở về. Đi một lát gặp một đám tàn quân chạy tới. Chúng quỳ rạp xuống đường mà khóc:

– Không biết cọp ở đâu nhiều quá, đến mấy trăm con tràn vào thành với quân Hán. Thành đã bị chiếm mất rồi. Tất cả vợ con, thân thuộc chúng tôi bị hãm trong tay giặc, không chừng bị cọp ăn thịt hết cũng nên. Xin tướng quân kíp trở lại chiếm thành.

Nhiệm Mãng lòng nóng như lửa đốt:

– Các ngươi đã đốt lửa gọi quân ở Lưỡng-hà khẩu về chưa?

– Thưa có, thủy quân Lưỡng-hà khẩu về đến giữa đường bị một đạo Hán quân khác chiếm Lưỡng-hà khẩu. Bao nhiêu chiến thuyền bị địch bắt hết. Thủy quân quay trở lại thì bị một đội báo mấy trăm con tấn công. Binh lính bị báo cắn chết quá nửa, số còn lại bị bắt.

Nhiệm Mãng thúc quân đi cho mau, nhưng phía hậu quân của Nhiệm Đăng náo loạn lên. Nguyên Phùng Dị, Vương Thường thấy quân Thục từ thành đổ ra đánh vào sau mình, theo kế Vĩnh Hoa, chạy lên núi lập trận. Được một lát thấy khói bốc lên tại Võ-đô. Hai tướng biết quân Hán đã vào Võ-đô. Tiếp theo thấy binh Thục chia làm hai, một cản hậu, một hối hả trở về, biết rằng chúng đang náo loạn. Hai tướng cho quân đuổi theo rất gấp.

Dẫn đầu binh Hán là Quỳnh Hoa, Quế Hoa khiến Nhiệm Đăng càng uất lên. Cạnh hai nàng còn Phùng Dị, Vương Thường võ công cao ngang với sư phụ y. Nhiệm Đăng là tướng tài bên Thục, can đảm có thừa, y thúc quân cương quyết chặn hậu. Cho nên Phùng Dị, Vương Thường tả xung hữu đột cũng không chọc thủng được tuyến quân Thục.

Nhiệm Mãng là Phiêu-kị đại tướng quân của Thục, võ công, trí dũng tuyệt vời, y không tỏ vẻ nao núng, hạ lệnh cho binh sĩ lùi về Vọng-tử quan, đóng quân ven núi.

Vĩnh Hoa truyền lệnh thu quân. Các tướng Hán vào thành. Bấy giờ họ mới phục Phùng Vĩnh Hoa, lạy rạp xuống đất mà chúc tụng.

Chu Á Dũng đứng lên hiến kế:

– Giặc mất thành, lương thực không có, muốn vượt sông thì không có thuyền bè. Đóng ở Vọng-tử quan thì lương thảo không có. Xin quân sư cho đánh một trận để bắt Nhiệm Mãng.

Phùng Vĩnh Hoa cười:

– Chu tướng quân ước tính tình hình như vậy cũng tạm gọi là có mưu lược. Nhưng không phải là kế tốt nhất. Tướng quân thử nghĩ coi, Nhiệm Mãng là Phiêu-kị đại tướng quân Thục, trấn nhậm Võ-đô với một vạn thủy quân, một vạn kị binh, ba vạn bộ binh. Thế mà bị ta đánh một trận thành mất, cửa ngõ vào Thành-đô bị mở. Thủy quân bị giết hơn ba ngàn, còn lại đầu hàng. Chiến thuyền, khí giới mất hết. Ba vạn bộ binh hao mất một. Một vạn kị binh mất trên năm ngàn. Bây giờ chỉ còn hai vạn bộ binh với năm nghìn kị binh đóng ở Vọng-tử quan, lương thực không có. Không biết chiều nay sẽ lấy gì ăn. Bất cứ giá nào y cũng phải liều một trận tìm đường thoát thân. Trong các đường thoát thân, chắc chắn y sẽ rút về phía Bích-khẩu, vượt sông Dương-bình quan. Vậy ta phục quân ở đó chắc chắn bắt được y.

Các tướng hớn hở, muốn đi đánh liền. Vĩnh Hoa nói:

– Giặc cùng chớ đuổi. Bây giờ tôi phải làm cho Nhiệm Mãng mất tinh thần đã, sau mới làm tan quân của y được. Vậy Chinh-tây Phùng tướng quân thủ ở Lưỡng-hà khẩu thay cho sư bá Cao Cảnh Minh. Tại đây có một vạn bộ binh Hán và hơn năm ngàn hàng binh thủy quân Thục. Phùng tướng quân cho chiến thuyền tuần tiễu dọc từ Lưỡng-hà khẩu tới Lâm-giang, ngăn đường giặc qua sông. Tuyệt đối không được lên bờ giao chiến.

Phùng Dị lên đường liền. Vĩnh Hoa tiếp:

– Hoành-giả Vương tướng quân lĩnh một vạn quân bộ, năm ngàn quân kị ra đóng ở đồn Lâm-giang, không cho giặc trở về Dương-bình quan. Tuyệt đối không rời khỏi trại.

Vương Thường lãnh lệnh lên đường. Vĩnh Hoa tiếp:

– Trung-lang tướng Lai Háp trấn thủ Võ-đô, giữ vững thành. Tôi để lại cho một vạn quân, như vậy đủ không?

Lai Háp gật đầu:

– Nếu trong một tháng tôi giữ được. Quá một tháng thì không nổi.

Vĩnh Hoa gật đầu:

– Tôi chỉ cần một ngày thôi.

Nàng tiếp:

– Tiền-quân hiệu-úy Chu Á Dũng dẫn một vạn quân bộ, phục ở phía Nam sông Hán-thủy. Thấy Nhiệm Mãng đến đó thì đổ ra đánh ngay trước mặt, không cho chúng về Dương-bình quan. Xin Cao Cảnh Minh sư bá đi cùng với Chu tướng quân. Vì e Nhiệm Mãng xuất hiện, Chu tướng quân không phải địch thủ của y.

Nàng đứng lên nói với Khất đại-phu:

– Thái sư thúc cùng Quế Hoa, Quỳnh Hoa và cháu đi bắt Nhiệm Mãng.

Nàng gọi Hắc Hổ và Hắc Báo tướng lại dặn nhỏ mấy câu. Hai người vâng dạ, gật đầu đi liền.

Vĩnh Hoa cùng Khất đại-phu đi thẳng đến Vọng-tử quan. Binh Thục đang trên đường đến Hán-thủy. Nhiệm Mãng đi đầu, thấy Vĩnh Hoa chỉ có bốn người với mười quân kị, y cho quân dừng lại. Điền Nhung chỉ Quế Hoa, Quỳnh Hoa cho Nhiệm Mãng biết.

Quế Hoa, Quỳnh Hoa phi ngựa lên trước. Quỳnh Hoa nghiêng mình thi lễ:

– Tiểu nữ là Trần Quỳnh Hoa, gái Việt đất Lĩnh Nam xin vấn an Phiêu-kị đại tướng quân, Kiến-oai đại tướng quân, Xa-kị đại tướng quân. Hôm nay ra trận, vì việc nước chúng tôi phải qua lại mấy chiêu với các vị, thực rất lấy làm áy náy. Tuy được các vị nhẹ tay cho, tôi thấy các vị có khí phách anh hùng, vì vậy đến đây tạ lỗi.


************************

Truyện đã đưa vào thư quán.

Xin chân thành cảm ơn CDDLT đã góp sức.

Chúc vui. [:)]

Đăng nhập để trả lời
0