Giấc mơ có phải là phản ánh của ẩn ức không?_Những điều ly kì về giấc mơ
Từ vài ngàn năm trước, đa số nhân loại đã coi một số giấc mơ như những phương tiện mà Thần Thánh muốn thông tin đến con người. ( Nói “đa số” vì không ai tìm thấy những lý giải khác trong văn hóa sử của nhân loại, trong khi phần lớn các dân tộc không có chữ viết.) Trong Cựu Ước, ông Joseph, người Do Thái, đã giải được một số mộng mà Thiên Chúa muốn báo động cho đất Ai Cập biết trước vận nước trong tương lai: 7 năm no đủ, rồi 7 năm đói kém. Nhờ đó, mà ông Joseph đã cứu được hàng vạn người, trong đó có cả gia đình Do Thái của ông. Trong một số chuyện cổ Hy Lạp, Trung Hoa, hay La Mã, người ta vẫn thấy Thần Thánh xuất hiện trong giấc mơ để trò chuyện, dậy bảo con người, hoặc bắt con người phục vụ Thần Thánh trong một cách nào đó, tốt đẹp hay xấu xa với con người thì tùy theo từng loại thần. Vài vị thần bắt phải giết người để làm thần vui lòng. Một số Thần khác chỉ đích danh một người nào mà Thần muốn giết.
Lại có một vị Thần nữ thích sắc dục, hiện đến trong giấc mơ của vua để bắt xây một đền thờ Thần, rồi ra lệnh cho mọi người làm tình với nhau để Thần ngắm. Ngược lại, cũng có Thần dễ thương, giúp người ta yêu nhau, đánh thức một chàng trai dậy để gặp người yêu của mình đang đi tới... Như vậy, giấc mơ, vào thời cổ đại, hoàn toàn lệ thuộc Thần Thánh một cách mê muội. Người ta không giải đáp được câu hỏi tại sao lại có giấc mơ, mà chỉ nêu lên những lời kể lại theo giấc mơ của một người có quyền uy nào đó.
Cho đến vài thế kỷ trước Tây Lịch, nhiều nhà nghiên cứu mới bắt đầu cho “giấc mơ” vào dạng cần nghiên cứu. Tuy nhiên, kết quả vẫn còn mơ hồ. Như Sir John Lubbock (Lord Avebury), Hebert Spencer, E. B.Tylor...cho rằng “giấc mơ liên hệ đến một thế giới siêu nhiên, và đã được gợi hứng từ Thần Thánh và ma quỷ. Giấc mơ được thành lập để phục vụ một số mục đích của Thần Thánh hay Ma quỷ, và để tiên đoán tương lai.” Trong khi đó, chỉ có Aristotle (384-322 trước Tây Lịch) cho rằng “giấc mơ kiến tạo bởi một vấn đề tâm lý”, hay “một hoạt động tâm lý trong khi ngủ”. Oâng cho rằng “giấc mơ biến đổi những cảm giác nhẹ nhàng thành những cảm giác cô đọng, như khi mơ thấy đi trên lửa là vì lúc đó thân thể đang quá ấm..” Sau ông, nhiều người hợp theo quan niệm này và kết luận rằng những trẻ em hoặc thanh thiếu niên tiểu ra quần là vì đã mơ thấy mình đang làm công việc đó một cách thoải mái.
Cùng suy luận theo chiều hướng này, một triết gia khác, Gruppe, lại phân loại hai hình thức mơ. Một loại bị ảnh hường bởi hiện tại hay quá khứ, và không quan trọng đến tương lai; chẳng hạn như những thèm khát dục vọng và những mơ tưởng đến những điều đẹp đẽ. Loại giấc mơ kia liên hệ đến những điềm báo trước về tương lai. Lý thuyết này đã tồn tại nhiều thế kỷ. Sau đó, những triết gia khác như M. Foster, Gotthard của Aâu Châu; và Amoli, Amram, Lowinger của Do Thái; Miura và Iwaya của Nhật.. cũng lần lượt đưa ra những nhận định về giấc mơ, nhưng tựu trung vẫn chưa hình thành được một hệ thống nào ngoài việc cho rằng giấc mơ là hình ảnh của Quá Khứ, Hiện Tại, và một phần Tương Lai. Triết gia Weygandt biện luận “giấc mơ dẫn chúng ta trở lại hiện thực, chứ không rời xa nó.” Nói chung, giấc mơ là những điều mà chúng ta đã thấy, đã nói, đã mong muốn, hoặc đã làm.
Cũng có nhiều triết gia tin rằng giấc mơ báo trước những gì sẽ xẩy ra trong tương lai, như Delboeuf, ông đã mơ thấy một vườn hoa, trong đó có một loại cây thảo tên là “Asplenium ruta muralis”. Tỉnh dậy, ông đã viết chữ này xuống và sưu tầm tài liệu, thì quả nhiên, có một loại cây tên là “Asplenium ruat muralis!” Mười sáu năm sau, trong một cơ hội ngẫu nhiên, ông đã đã đến nhà một người bạn và khám phá thấy những hình ảnh thảo mộc trong giấc mơ của ông chính là hình ảnh của những cây trong vườn bạn của mình.
Triết gia Maury lại thấy ngược lại. Một số lần ban ngày, ông đã nghe thấy tiếng “Mussidan” nhưng không biết đó là gì. Trong giấc mơ, ông thấy một người bạn đến nói với ông rằng: “Mussidan là một thành phố của Pháp, trong quận Dordogne”. Khi tỉnh dậy, ông tra cứu tự điển và thấy đúng là thành phố Mussidan ở chỗ mà người trong giấc mơ chỉ cho ông.
Đôi khi, giấc mơ là những mách bảo hoặc phàn nàn. Nhà nghiên cứu Sacliger, viết một bài thơ về những người danh tiếng ở Verona. Trong một cơn mơ, ông thấy một người tên Brugnolus đến phàn nàn với ông rằng ông đã thiếu sót tên của người này. Sáng dậy, ông sai con trai ông đi truy lục, và quả có một nhà phê bình tên là Brugnolus trong thành phố Verona.
Những yếu tố huyền bí của giấc mơ như thế, rất tiếc, lại không đưa ra được những giải thích khoa học. Mãi đến Hildebrantdt, ông cho rằng: “giấc mơ đôi khi mang trở lại trong trí óc, những sức mạnh của sự tái chế, xa cách, và ngay cả những kinh nghiệm mà người ta có từ những thời trước của một con người.” Nhưng, tất cả những nghiên cứu về giấc mơ của các triết gia đó, vẫn chỉ là những nghiên cứu rời rạc, chưa hình thành một hệ thống, theo Sigmund Freud, một triết gia về cuối thế kỷ 19 sang giữa thế kỷ 20 ( 1856-1939). Freud đã phân tích rất tỉ mỉ về những sinh hoạt tâm lý của con người và cho rằng, sinh hoạt tâm lý của con người gồm có 3 giai đoạn: id hay bản năng từ thuở bé, ego hay bản ngã được hình thành khi đã lớn khôn, và super ego là phần chứa đựng lương tâm. Ông lại chia ra ba cấp độ hoạt động của trí tuệ con người: Vô thức, Tiềm thức, và Ý thức. Với ông, giấc mơ chỉ là những sinh hoạt thuộc về phương diện “vô thức” là những sinh hoạt tâm lý không do trí thức, hay sự mong muốn của con người tạo ra. Trong sinh hoạt “vô thức” này, những ẩn ức của đời sống hàng ngày, những đòi hỏi được thỏa mãn về tính dục, về đồ ăn, về hoàn cảnh.. lởn vởn xuất hiện, lúc nhiều, lúc ít, khi có, khi không. Ngược lại, “ý thức” là những sinh hoạt có tính toán, điều khiển bởi trí tuệ,được cấu tạo từ ngay khi còn thơ, qua giáo dục và qua kinh nghiệm. Đến khi lớn lên, nhận thức nhiều hơn, con người sẽ tạo thành một bản ngã vững vàng, và trong bản ngã đó, giấc mơ lâu lâu lại gợi nhớ lại những thèm khát của mình mà trong đời sống hàng ngày con người không thực hiện được.
Tất cả những biện luận, dẫn chứng, hệ luận, lý giải trên; thật ra, vẫn chưa hình thành được một hệ thống nghiên cứu vững vàng , và không thể bắt người ta tin theo một cách tuyệt đối, vì vẫn còn nhiều sơ hở và thiếu sót về khoa học lý luận hay khoa học thực nghiệm. Riêng với người viết, không phải là một nhà lý luận, chỉ với kinh nghiệm thô thiển bản thân hơn hai mươi năm ghi nhớ lại những giấc mơ mình đã trải qua, đồng thời phân tích những lời kể của người khác, nhận định rằng: Giấc mơ là tổng hợp tất cả những gì mà các triết gia từ xưa đến nay đã phân tích. Giấc mơ là phản ánh của ẩn ức và dục vọng, là một sinh hoạt vô thức, là sự tái chế lại những khoảng đời quá khứ, là hoạt động tâm lý trong khi ngủ, là điềm báo trước tương lai gần, và cũng là lời nhắn của Thượng Đế.
Từ vài ngàn năm trước, đa số nhân loại đã coi một số giấc mơ như những phương tiện mà Thần Thánh muốn thông tin đến con người. ( Nói “đa số” vì không ai tìm thấy những lý giải khác trong văn hóa sử của nhân loại, trong khi phần lớn các dân tộc không có chữ viết.) Trong Cựu Ước, ông Joseph, người Do Thái, đã giải được một số mộng mà Thiên Chúa muốn báo động cho đất Ai Cập biết trước vận nước trong tương lai: 7 năm no đủ, rồi 7 năm đói kém. Nhờ đó, mà ông Joseph đã cứu được hàng vạn người, trong đó có cả gia đình Do Thái của ông. Trong một số chuyện cổ Hy Lạp, Trung Hoa, hay La Mã, người ta vẫn thấy Thần Thánh xuất hiện trong giấc mơ để trò chuyện, dậy bảo con người, hoặc bắt con người phục vụ Thần Thánh trong một cách nào đó, tốt đẹp hay xấu xa với con người thì tùy theo từng loại thần. Vài vị thần bắt phải giết người để làm thần vui lòng. Một số Thần khác chỉ đích danh một người nào mà Thần muốn giết.
Lại có một vị Thần nữ thích sắc dục, hiện đến trong giấc mơ của vua để bắt xây một đền thờ Thần, rồi ra lệnh cho mọi người làm tình với nhau để Thần ngắm. Ngược lại, cũng có Thần dễ thương, giúp người ta yêu nhau, đánh thức một chàng trai dậy để gặp người yêu của mình đang đi tới... Như vậy, giấc mơ, vào thời cổ đại, hoàn toàn lệ thuộc Thần Thánh một cách mê muội. Người ta không giải đáp được câu hỏi tại sao lại có giấc mơ, mà chỉ nêu lên những lời kể lại theo giấc mơ của một người có quyền uy nào đó.
Cho đến vài thế kỷ trước Tây Lịch, nhiều nhà nghiên cứu mới bắt đầu cho “giấc mơ” vào dạng cần nghiên cứu. Tuy nhiên, kết quả vẫn còn mơ hồ. Như Sir John Lubbock (Lord Avebury), Hebert Spencer, E. B.Tylor...cho rằng “giấc mơ liên hệ đến một thế giới siêu nhiên, và đã được gợi hứng từ Thần Thánh và ma quỷ. Giấc mơ được thành lập để phục vụ một số mục đích của Thần Thánh hay Ma quỷ, và để tiên đoán tương lai.” Trong khi đó, chỉ có Aristotle (384-322 trước Tây Lịch) cho rằng “giấc mơ kiến tạo bởi một vấn đề tâm lý”, hay “một hoạt động tâm lý trong khi ngủ”. Oâng cho rằng “giấc mơ biến đổi những cảm giác nhẹ nhàng thành những cảm giác cô đọng, như khi mơ thấy đi trên lửa là vì lúc đó thân thể đang quá ấm..” Sau ông, nhiều người hợp theo quan niệm này và kết luận rằng những trẻ em hoặc thanh thiếu niên tiểu ra quần là vì đã mơ thấy mình đang làm công việc đó một cách thoải mái.
Cùng suy luận theo chiều hướng này, một triết gia khác, Gruppe, lại phân loại hai hình thức mơ. Một loại bị ảnh hường bởi hiện tại hay quá khứ, và không quan trọng đến tương lai; chẳng hạn như những thèm khát dục vọng và những mơ tưởng đến những điều đẹp đẽ. Loại giấc mơ kia liên hệ đến những điềm báo trước về tương lai. Lý thuyết này đã tồn tại nhiều thế kỷ. Sau đó, những triết gia khác như M. Foster, Gotthard của Aâu Châu; và Amoli, Amram, Lowinger của Do Thái; Miura và Iwaya của Nhật.. cũng lần lượt đưa ra những nhận định về giấc mơ, nhưng tựu trung vẫn chưa hình thành được một hệ thống nào ngoài việc cho rằng giấc mơ là hình ảnh của Quá Khứ, Hiện Tại, và một phần Tương Lai. Triết gia Weygandt biện luận “giấc mơ dẫn chúng ta trở lại hiện thực, chứ không rời xa nó.” Nói chung, giấc mơ là những điều mà chúng ta đã thấy, đã nói, đã mong muốn, hoặc đã làm.
Cũng có nhiều triết gia tin rằng giấc mơ báo trước những gì sẽ xẩy ra trong tương lai, như Delboeuf, ông đã mơ thấy một vườn hoa, trong đó có một loại cây thảo tên là “Asplenium ruta muralis”. Tỉnh dậy, ông đã viết chữ này xuống và sưu tầm tài liệu, thì quả nhiên, có một loại cây tên là “Asplenium ruat muralis!” Mười sáu năm sau, trong một cơ hội ngẫu nhiên, ông đã đã đến nhà một người bạn và khám phá thấy những hình ảnh thảo mộc trong giấc mơ của ông chính là hình ảnh của những cây trong vườn bạn của mình.
Triết gia Maury lại thấy ngược lại. Một số lần ban ngày, ông đã nghe thấy tiếng “Mussidan” nhưng không biết đó là gì. Trong giấc mơ, ông thấy một người bạn đến nói với ông rằng: “Mussidan là một thành phố của Pháp, trong quận Dordogne”. Khi tỉnh dậy, ông tra cứu tự điển và thấy đúng là thành phố Mussidan ở chỗ mà người trong giấc mơ chỉ cho ông.
Đôi khi, giấc mơ là những mách bảo hoặc phàn nàn. Nhà nghiên cứu Sacliger, viết một bài thơ về những người danh tiếng ở Verona. Trong một cơn mơ, ông thấy một người tên Brugnolus đến phàn nàn với ông rằng ông đã thiếu sót tên của người này. Sáng dậy, ông sai con trai ông đi truy lục, và quả có một nhà phê bình tên là Brugnolus trong thành phố Verona.
Những yếu tố huyền bí của giấc mơ như thế, rất tiếc, lại không đưa ra được những giải thích khoa học. Mãi đến Hildebrantdt, ông cho rằng: “giấc mơ đôi khi mang trở lại trong trí óc, những sức mạnh của sự tái chế, xa cách, và ngay cả những kinh nghiệm mà người ta có từ những thời trước của một con người.” Nhưng, tất cả những nghiên cứu về giấc mơ của các triết gia đó, vẫn chỉ là những nghiên cứu rời rạc, chưa hình thành một hệ thống, theo Sigmund Freud, một triết gia về cuối thế kỷ 19 sang giữa thế kỷ 20 ( 1856-1939). Freud đã phân tích rất tỉ mỉ về những sinh hoạt tâm lý của con người và cho rằng, sinh hoạt tâm lý của con người gồm có 3 giai đoạn: id hay bản năng từ thuở bé, ego hay bản ngã được hình thành khi đã lớn khôn, và super ego là phần chứa đựng lương tâm. Ông lại chia ra ba cấp độ hoạt động của trí tuệ con người: Vô thức, Tiềm thức, và Ý thức. Với ông, giấc mơ chỉ là những sinh hoạt thuộc về phương diện “vô thức” là những sinh hoạt tâm lý không do trí thức, hay sự mong muốn của con người tạo ra. Trong sinh hoạt “vô thức” này, những ẩn ức của đời sống hàng ngày, những đòi hỏi được thỏa mãn về tính dục, về đồ ăn, về hoàn cảnh.. lởn vởn xuất hiện, lúc nhiều, lúc ít, khi có, khi không. Ngược lại, “ý thức” là những sinh hoạt có tính toán, điều khiển bởi trí tuệ,được cấu tạo từ ngay khi còn thơ, qua giáo dục và qua kinh nghiệm. Đến khi lớn lên, nhận thức nhiều hơn, con người sẽ tạo thành một bản ngã vững vàng, và trong bản ngã đó, giấc mơ lâu lâu lại gợi nhớ lại những thèm khát của mình mà trong đời sống hàng ngày con người không thực hiện được.
Tất cả những biện luận, dẫn chứng, hệ luận, lý giải trên; thật ra, vẫn chưa hình thành được một hệ thống nghiên cứu vững vàng , và không thể bắt người ta tin theo một cách tuyệt đối, vì vẫn còn nhiều sơ hở và thiếu sót về khoa học lý luận hay khoa học thực nghiệm. Riêng với người viết, không phải là một nhà lý luận, chỉ với kinh nghiệm thô thiển bản thân hơn hai mươi năm ghi nhớ lại những giấc mơ mình đã trải qua, đồng thời phân tích những lời kể của người khác, nhận định rằng: Giấc mơ là tổng hợp tất cả những gì mà các triết gia từ xưa đến nay đã phân tích. Giấc mơ là phản ánh của ẩn ức và dục vọng, là một sinh hoạt vô thức, là sự tái chế lại những khoảng đời quá khứ, là hoạt động tâm lý trong khi ngủ, là điềm báo trước tương lai gần, và cũng là lời nhắn của Thượng Đế.
