📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Kinh nghiệm sống

Tiền

8 trả lời, 1.066 lượt xem — Trang 1 / 1




Nghiên cứu về việc chuyển tiền của người Việt ở nước ngoài về Việt Nam


19/05/2008

Vấn đề chuyển tiền của người Việt ở nước ngoài về Việt Nam (RA 1.04 MB) - Tải xuống (Real)
Vấn đề chuyển tiền của người Việt ở nước ngoài về Việt Nam (RA 1.04 MB) - Nghe trực tiếp trên mạng (Real)
Vấn đề chuyển tiền của người Việt ở nước ngoài về Việt Nam (MP3 1.57 MB) - Tải xuống (MP3)
Vấn đề chuyển tiền của người Việt ở nước ngoài về Việt Nam (MP3 1.57 MB) - Nghe trực tiếp trên mạng  (MP3)


Mặc dù Việt Nam có tốc độ kinh tế mỗi năm tăng từ 7% đến 8%, người Việt sinh sống bên ngoài Việt Nam vẫn phải gửi tiền về cho thân nhân. Năm ngoái, những người thường được gọi là 'Việt Kiều' này đã gửi về khoảng 6 tỉ 800 triệu đôla, chiếm 11,2 phần trăm GDP của Việt Nam. Không có con số chính xác trên thế giới hiện nay có bao nhiêu Việt Kiều nhưng có lẽ gần phân nửa sống tại Mỹ, gửi về khoảng 2/3 số kiều hối đó.







Ivan SmallIvan Small, sinh viên ban Tiến Sĩ của trường đại học Cornell Hoa Kỳ, là một trong số rất ít người nghiên cứu về tác động kinh tế xã hội của những tờ giấy màu xanh do Việt Kiều Mỹ gửi về cho thân nhân bên Việt Nam. Từ Hà Nội, anh đã trả lời ban Việt ngữ một số câu hỏi. Mời quý vị theo dõi với Huy Phương.
VOA: Lý do nào khiến anh chú ý đến vấn đề chuyển tiền đến độ trở thành một đề tài nghiên cứu của anh?
Ivan: Lần đầu tiên tôi chú ý đến chuyện chuyển tiền khi đến chơi nhà người bạn ở thành phố Hồ Chí Minh cách đây 8 năm. Tôi thấy người đưa tiền chạy xe gắn máy đến giao những tờ một trăm đôla mới tinh cho người nhận. Ngoài tiền còn có thơ và hình ảnh của người gởi tiền từ nước ngoài. Sau đó, mọi người bắt đầu bàn về những người trong hình đang sống ở California, về tình cảm nhớ thương và về cuộc sống ở nước ngoài. Từ đó tôi mới nhận ra rằng chuyển tiền không phải chỉ mang ý nghĩa tài chính mà còn là kỷ niệm, hình ảnh, bản sắc, vân vân. Vì vậy tôi muốn đào sâu hơn về những câu chuyện phong phú bắt nguồn từ chuyện gởi tiền.
VOA: Cuộc nghiên cứu của anh về chuyện chuyển tiền của Việt Kiều Mỹ nhắm vào hướng nào nhiều nhất?
Ivan: Cuộc nghiên cứu của tôi chủ yếu nhắm vào tiềm năng phát triển kinh tế của các vụ chuyển tiền. Hướng này phù hợp với các xu hướng nghiên cứu chính sách toàn cầu khác. Đã có những cuộc nghiên cứu có ý nghĩa về những vụ chuyển tiền của những cộng đồng di dân có đông người tại Mỹ, ví dụ như người di dân gốc Mexico, Ấn Độ hoặc Philippines. Các cuộc nghiên cứu này cho thấy số tiền mà các cộng đồng đó gởi về nước họ, đã đóng góp vào việc phát triển kinh tế tại những nước đó như thế nào. Tại Việt Nam, truy tầm và theo dõi các vụ chuyển tiền khó hơn, bởi vì người ta ưa sử dụng các cơ chế bán chính thức, không qua các ngân hàng. Đây là một hiện tượng phổ biến, nó chiếm ít nhất phân nửa số đôla gởi về. Các phương tiện chuyển tiền không chính thức thì nhanh hơn, rẻ hơn, và không cần để lại nhiều bút tích giấy tờ, giống như phải gởi qua ngân hàng hoặc qua các công ty chuyển tiền của Mỹ như Western Union chẳng hạn. Người gởi tiền cũng tin cậy các phương tiện chuyển tiền không chính thức này.
VOA: Chúng tôi được biết là trong tháng 5, sẽ có hội nghị quốc tế của các tổ chức từ thiện châu Á Thái Bình Dương, gọi tắt là APPC. Hội nghị diễn ra tại Hanoi dưới sự tài trợ của tổ chức Ford của Mỹ, nhằm trao đổi kinh nghiệm giữa các cá nhân và các tổ chức phi chính phủ, để xem số tiền do di dân chuyển về đã làm thay đổi đất nước như thế nào. Hội nghị APPC cũng thảo luận những thách thức và đưa ra những đề xuất, và tại hội nghị này anh sẽ đưa ra một báo cáo, vậy anh có thể tóm tắt đại ý báo cáo đó được không?
Ivan: Báo cáo trước hội nghị APPC nhằm xét đến các mô hình đóng góp tập thể để phục vụ những công tác từ thiện. Chúng tôi cũng so sánh các kiểu làm việc từ thiện mà các công dân tại một số quốc gia châu Á đã thực hiện tại quê hương gốc của mình, để xem những cách đóng góp đó có mang lại những lợi ích mà tôi gọi là 'chiến lược' về lâu về dài hay không; ví dụ như có tiến đến phát triển kinh tế và xã hội dài hạn được không, thay vì chỉ giúp giải quyết những nhu cầu trước mắt.
Tôi được sự hợp tác của chị Diệp Vương ở California trong việc soạn báo cáo khảo sát này. Chị Diệp có quen biết nhiều tổ chức phi chính phủ đang hoạt động tại Việt Nam, do đó chúng tôi tập trung nghiên cứu và quan sát nhiều về các tổ chức này để xem sự đóng góp của các tổ chức đó có thể tạo ra những ảnh hưởng chiến lược nào hay không. Chúng tôi hy vọng báo cáo của chúng tôi đóng góp một số kiến thức và được nhiều người coi trọng về sự can dự ngày càng nhiều của Việt Kiều vào công cuộc phát triển kinh tế của Việt Nam.
Hy vọng là chính phủ Việt Nam có thể dựa vào cuộc nghiên cứu này để nhìn nhận một cách có hệ thống sự đóng góp tiềm năng của Việt Kiều và dùng những mô hình đóng góp của các Việt Kiều Mỹ để áp dụng cho các Việt Kiều ở những nước khác. Mãi cho đến hồi gần đây, chính quyền Việt Nam mới nhìn nhận tiềm năng to lớn và tính cách bền vững của những công tác từ thiện do Việt Kiều Mỹ thực hiện.
VOA: Sau khi đã thấy được những lý do khiến người Việt ở Mỹ gửi tiền về nước, cuộc nghiên cứu của anh đã xác định được xu hướng chuyển tiền đó sẽ như thế nào trong tương lai?
Ivan: Việt Kiều Mỹ trước tiên gởi tiền để giúp thân nhân ruột thịt của họ trước, điều đó phản ánh mạnh mẽ các nghĩa vụ, các bổn phận của gia đình. Có nhiều trường hợp, đó là cách trả ơn cho thân nhân của mình đã giúp đỡ cho mình có cơ hội ra nước ngoài. Trong thập niên 70 hoặc 80, khi kinh tế Việt Nam chưa khá, tiền chuyển về là nguồn quan trọng để sống còn. Trong những thập niên sau đó, tiền chuyển về thường mang ý nghĩa tượng trưng để duy trì quan hệ gia đình, mặc dù không còn cần thiết về mặt kinh tế. Mặc dù số lượng tiền gởi về được báo cáo là tăng trong những năm gần đây, tôi nghĩ một phần là vì đã có những cơ chế theo dõi tốt hơn, một phần là vì số lao động xuất khẩu tăng. Hầu hết những người Việt Nam mà tôi phỏng vấn nói rằng số lượng tiền chuyển về vẫn vậy, hoặc không thường xuyên giống như trước. Cùng lúc đó, chúng ta thấy Việt Kiều Mỹ về thăm Việt Nam ngày càng đông.
Hiện nay đang có xu hướng cho tập thể, nhất là đối với thế hệ Việt Kiều Mỹ thứ nhì. Họ có xu hướng lập ra những nhóm, những tổ chức rồi góp tiền vào đó để đem về Việt Nam làm chuyện từ thiện, thay vì cho tiền với tư cách cá nhân. Xu hướng cho tiền tập thể để phục vụ các mục đích từ thiện, phi chính trị hiện nay khá phổ biến và được nhiều sự ủng hộ. Trong tài liệu nghiên cứu của tôi cũng nói đến sự gia tăng của các tổ chức bác ái, phục vụ các mục tiêu nhân đạo có tính cách chiến lược.
VOA: Điều nào mà anh thấy có ý nghĩa nhất về tác động của việc chuyển tiền của Việt Kiều Mỹ lên gia đình của họ và lên xã hội Việt Nam?
Ivan: Người Việt trong nước nhận tiền và sử dụng tiền nhiều cách, nhưng nói chung họ sử dụng tùy theo ưu tiên của gia đình. Có người dùng tiền nhận được để giải quyết chuyện học hành, tìm kiếm những cơ hội làm ăn, trả tiền cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giúp đỡ người già cả, khỏi cần phải vay mượn chỗ khác. Đó là chuyện gởi tiền của các cá nhân. Còn chuyện gởi tiền của tập thể, của nhóm; thì vì lý do đa số Việt Kiều bỏ nước ra đi với tính cách tỵ nạn cho nên quan hệ của họ đối với đất nước nói chung là khác với di dân những nước khác. Theo tôi, nếu Việt Nam tạo được một xã hội công dân độc lập và mạnh mẽ thì có lẽ chuyện gởi tiền của tập thể, của các nhóm Việt Kiều sẽ nhiều hơn.
(Courtesy of Christine Tran)
 
http://www.voanews.com/vietnamese/2008-05-16-voa32.cfm
Đăng nhập để trả lời
0







Tiền Việt Nam Ng�y Xưa

Năm 66
Mệnh gi� 50 đồng:


Mệnh gi� 100 đồng:


Mệnh gi� 200 đồng:
[/align]Mệnh gi� 500 đồng
Tiền giả:

Tiền thật:


Năm 64
Mệnh gi� 1 đồng:

M�nh gi� 20 đồng:

Mệnh gi� 500 đồng:


Năm 70
Mệnh gi� 500 đồng:


Năm 72
Mệnh gi� 500 đồng:

Mệnh gi� 1000 đồng:

Năm 75
Mệnh gi� 5000 đồng:

Mệnh gi� 10000 đồng:
[/align][/align][/align]
 
[/align][/align][/align][/align][/align]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-05-20 04:28:21HongYen>
Giới thiệu về tiền cổ Việt Nam
 

Từ Hùng Vương đến ngày cởi ách Bắc thuộc.
 
                Vài mươi năm trở về đây, đồng tiền cổ Việt Nam đã trở thành một đối tượng khá quan trọng, thích thú và ích lợi trong nhiều cuộc khảo cứu tìm hiểu về lịch sử nước nhà. Ðồng tiền cổ, không những giúp các nhà khảo cứu hiểu về tình hình kinh tế và thương mãi của thời xa xưa, mà tự thân nó còn phơi bày nếp sống sinh hoạt của tổ tiên chúng ta và cung cấp những dữ kiện thiết yếu cho việc nghiên cứu về lịch sử của Việt Nam thuở trước. Ngày nay,  đồng tiền cổ Việt Nam lại là một đối tượng hấp dẫn cho các nhà sưu tập trong nước cũng như ở hải ngoại. Và bộ môn sưu tập tiền cổ trở thành một thú vui tao nhã, chẳng những với những bậc lão thành mà gồm cả những người tuổi trẻ.

Dân tộc Việt bắt đầu xử dụng tiền từ bao giờ và loại tiền gì, sách sử   không hề đề cập đến điều này. Tuy nhiên, theo lịch sử tiền tệ thế giới thì thứ tiền xa xưa nhất mà con người xử dụng là tiền vỏ ốc. Dân Việt có xài tiền vỏ ốc hay không, sử Việt cũng không chấp nhận hay chối bỏ việc lưu hành thứ tiền này. Nhưng sự hiện diện của vỏ ốc ở nước Việt, có thể được dùng như tiền tệ hoặc như một vật trân qúy, đã được tìm thấy rất ít trong những di chỉ khảo cổ ở miền Bắc và chỉ được nhắc đến vào năm 179 trước Công nguyên, khi Triệu Ðà tiến cống cho vua Hán Văn Ðế 1 đôi ngọc bích trắng, 1000 bộ lông chim trả, 10 sừng tê và 500 tử bối tức vỏ ốc màu tía (1). Vào lúc này, người Trung Quốc đã biết xử dụng tiền tệ. Ðồng tiền tròn có lỗ vuông ở giữa là kết quả của một quá trình thay đổi khá dài trong lịch sử tiền tệ của Trung Quốc từ nhà Hạ với tiền vỏ ốc, nhà Chu, qua các thời Xuân Thu và Chiến Quốc với đao tiền (tiền hình lưỡI dao), bố tiền (tiền hình thuổng), hoàn tiền (tiền tròn vớI lỗ tròn), tiền mặt quỷ, để đến lúc nhà Tần gồm thâu sáu nước mà thành lập một Trung Quốc thống nhất lần đầu tiên. Vua Tần, theo ý niệm Ngũ Hành tương sinh tương khắc, mà tự cho rằng đã đến thời " thủy trị " nên thắng được nhà Chu thuộc "hoả trị ", mà xưng Thủy Hoàng Ðế lấy   chính sách nghiêm trị, không dung tha   để trị nước (2)   . Tần Thủy Hoàng đã bãi bỏ tất cả các loại tiền dùng trước kia để đúc tiền Bán Lạng, có hình tròn tượng trưng cho Trời và lỗ vuông ở chính giữa tượng trưng cho Ðất. Hình dáng đồng tiền này đã được Trung Quốc xử dụng suốt 2000 năm cho đến đời nhà Thanh sau này, và cũng được các nước láng giềng như Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên phỏng theo để đúc tiền.

Trước thời Bắc thuộc, kể từ mười tám đời vua Hùng Vương cho đến khi Triệu Ðà là tướng của nhà Tần, thôn tính hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân; nước Việt Nam đã trải qua thời ký xã hội cộng đồng rồi tiến đến xã hội nô lệ mà kinh tế chỉ có tính cách đổi chác. Do đó ý niệm về tiền tệ có thể chưa rỏ rệt. Thật sự sử sách cũng không thấy nói đến tiền tệ, dù rằng thời ngoại kỷ Triệu Ðà cùng thời với nhà Tây Hán mà đồng tiền Ngũ Thù đã lưu hành rộng rãi trên đất Trung Quốc. Về sau đến khởi đầu của thời kỳ Bắc thuộc, khi nhà Tây Hán xâm chiếm Nam Việt, đánh bại Thuật Dương Vương của nhà Triệu, đất Việt chỉ được xem là châu quận của nhà Hán mà thôi, rồi trải qua các nhà Ngô, Tấn, Tiền Tống, Tề, Lương, Tùy, Ðường mà cũng chỉ xử dụng tiền Trung Quốc chứ không có tiền riêng. Các loại tiền Ngũ Thù của các triều đại thời Bắc thuộc tìm thấy được khá nhiều trên đất Việt.

Suốt một ngàn năm Bắc thuộc, ý chí độc lập được nung nấu dần và nhiều cuộc nổi dậy được thực hiện bởi dân Việt càng lúc càng mãnh liệt. Năm 938, vua Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Ðằng. Cho dù nhà Ngô không được các sử thần xem như một triều đại chính thống, nhưng họ Ngô vẫn là bậc anh hùng với những bước tiền phong trên con đường độc lập của Việt Nam. Nhà Ngô oai hùng nhưng lại ngắn ngủi, nên phải chờ thêm 30 năm sau, khi vua Ðinh Tiên Hoàng dẹp tan loạn 12 sứ quân, thành lập nhà Ðinh, và tự xưng Ðinh Tiên Hoàng Ðế để mở đầu một kỷ nguyên độc lập cho nước Việt. Nhà Ðinh đúc tiền lần đầu tiên trong lịch sử nước Việt, đó là đồng Thái Bình Hưng Bảo, mặt sau có chữ Ðinh.(hình 1)

Tiền cổ Việt Nam có nhiều loại: tiền đồng, tiền kẽm, tiền chì, tiền vàng, tiền bạc và ngay cả tiền giấy của Hồ Qúy Ly. Trong khuôn khổ giới hạn của bài này, tác giả chỉ trình bày đến thứ tiền cổ bằng kim loại và thông dụng trong dân gian, mà không đề cập đến tiền giấy, tiền vàng, tiền bạc và ngay tiền đồng loại lớn mà triều Hậu Lê và triều Nguyễn thường dùng để ban thưởng cho người có công lao.
 
Nhận dạng tiền cổ.

Tất cả tiền cổ của Việt Nam, từ đồng Thái Bình Hưng Bảo của vua Ðinh Tiên Hoàng đến đồng cuối cùng Bảo Ðại Thông Bảo của vua Bảo Ðại, đều có dạng hình tròn với lỗ vuông ở chính giữa. Hầu hết mặt chính của những đồng tiền   có 4 chữ Trung Quốc, hai chữ đầu tiên ( vị trí 1 và 2 ) thường là niên hiệu của nhà vua và hai chữ sau ( vị trí 3 và 4 ) dùng để chỉ loại tiền. Vị trí của 4 chữ này, đôi khi viết theo chiều thuận của kim đồng hồ và đôi khi viết theo kiểu chéo.  

[font=arial][/font]
[font=arial]viết theo kiểu chéo[/font]
[font=arial]                  viết theo chiều thuận[/font][font=arial]              [/font]
[font=arial]                                                
 
Hai chữ sau (vị trí 3 và 4) chỉ loại tiền, đa số là thông bảo (nghĩa là đồng tiền thông dụng), kế đó là nguyên bảo (tiền mới đầu tiên). Tuy nhiên có một số tiền cổ mang hai chữ chỉ thứ loại tiền khá lạ lùng ( hình  2  ). Nhất là tiền đời vua Cảnh Hưng như vĩnh bảo (tiền lưu thông mãi mãi), chí bảo (tiền cao quý nhất), đại bảo (tiền có giá trị lớn), chính bảo  (tiền chính thống), cự bảo (tiền có giá trị to), thuận bảo (tiền kỷ niệm dịp chiếm đóng Thuận Hóa và lấy súng đồng của chúa Nguyễn ở Thuận Hoá mà đúc thành tiền). Ngoài ra còn một số tiền được xếp loại " chưa thể xác định " mang những thứ loại tiền như những đồng Trần Tân công bảo, Thái Bình thánh bảo, Thái Bình pháp bảo...


Tuy rằng nguyên tắc đọc tên tiền có thể theo hai lối đọc chéo và đọc xuôi đã nói trên, nhưng thật tế vẫn có một ít đồng tiền không hiểu đọc theo lối nào cho đúng. Lý do vì loại trừ chữ Bảo luôn luôn ở vị trí thứ 4 ra, còn lại ba chữ và nếu chọn hai đôi chữ 1 và 2 hoặc 1 và 3 mà vẫn không trùng tên với một niên hiệu nào thì mẫu tiền sẽ làm rối trí nhà nghiên cứu. Chính vì thế, mọi người đều có khuynh hướng chọn đôi chữ sao cho trùng với một niên hiệu và biết đâu cách đọc này không đúng ý với chủ nhân đã đúc đồng tiền. Ví dụ mẫu tiền Tường Phù Nguyên Bảo, có thể đọc là Tường Phù Nguyên Bảo hay Tường Nguyên Phù Bảo. Cả hai đôi chữ Tường Nguyên và Tường Phù đều đã có tiền với tên này, như Tường Nguyên Thông Bảo và tiền Tường Phù Thông Bảo (Tống Nhân Tông). Trường hợp này, mọi người đều thấy chữ nguyên bảo binh thường   hơn chữ phù bảo, và cách đọc Tường Phù Nguyên Bảo sẽ được ưa chuộng hơn.

Mặt sau của tiền thường không có chữ, tuy nhiên một số nhỏ có chữ để chỉ  (hình 3)
-          triều đại nhà vua như chữ Ðinh của tiền Thái Bình Hưng Bảo, chữ Lê của tiền Thiên Phúc Trấn Bảo của nhà Tiền Lê, chữ Trần của tiền Thiệu Phong thông bảo của vua Trần Dụ Tông. 
-       hoặc năm phát hành của tiền như Nhâm Tuất của tiền Cảnh Hưng Thông Bảo để chỉ tiền đúc trong năm Nhâm Tuất 1742, như chữ Tỵ của tiền Vĩnh Thịnh Thông Bảo để chỉ năm đúc Qúy Tỵ 1713.
-          hoặc lòng yêu qúy của vua như chữ Càn Vương , để chỉ Càn Vương Lý Nhật Trung là con vua Lý Thái Tông, trên tiền Thiên Cảm Thông Bảo của Lý Thái Tông,
-          hoặc nơi đúc đồng tiền như Hà Nội hoặc Sơn Tây trên tiền Tự Ðức Thông bảo, như chữ Công cho Bộ Công, một trong 6 Bộ, trên tiền Quang Trung Thông Bảo,
-          hoặc một chữ có ý nghĩa tốt đẹp như chữ  Chính, để chỉ đến chính pháp công bằng, trên tiền Quang Trung Thông Bảo,
-          hoặc mang những ký hiệu đặc biệt đánh dấu đợt tiền đúc như 4 hình cong úp vào hay vểnh ra từ lỗ vuông của tiền Quang Trung Thông Bảo, như 1 dấu chấm và 1 dấu hình cong tượng trưng cho 2 chữ Nhật Nguyệt, tức chữ Minh, để tưởng nhớ nhà Minh, trên tiền Thái Bình Thông Bảo do Mạc Thiên Tứ đúc ở Hà Tiên,
-          hoặc ghi trọng lượng của tiền như chữ Thất Phân trên tiền Gia Long Thông Bảo,
-          hoặc ghi trị giá ấn định của tiền như chữ Lục Văn trên tiền Tự Ðức Thông Bảo,
 
        Mặt trước của đồng tiền, viền tròn của rìa tiền và viền vuông của lỗ tiền thường được viền nổi để giảm bớt sự hao mòn của chữ đúc và việc mài dũa mặt tiền để lấy bớt chất đồng của kẻ gian. Mặt sau, không nhất thiết tiền nào cũng được viền nổi, vì có nhiều loại tiền có mặt sau trơn láng.


Ðặc tính vật lý của tiền cổ.


Các đồng tiền cổ có đường kính trung bình từ 22 mm đến 24 mm. Tuy nhiên, cũng có những đồng lớn hơn đến 25 - 26 mm như tiền Thành Thái Thông Bảo và những đồng khá nhỏ chỉ vừa 18 - 20 mm như tiền dập bằng máy Bảo Ðại Thông Bảo, nhất là loại tiền không xác định do dân gian đúc như Thiệu Phong Bình Bảo. Kích thước của lỗ vuông trung bình vào khoảng 5 mm, nhưng cũng có những đồng tiền có lỗ vuông to đến 7 mm như trường hợp tiền ngoại thương Trường Kỳ tiêu dùng ở Hội An  vào thế kỷ 17, vì đường kính của tiền đến 25 -26 mm nên chiều dài lỗ vuông cũng to hơn theo tỷ lệ (3).  Trái lại cũng có những trường hợp vì thiếu thốn đồng mà Mạc Thiên Tứ ở Hà Tiên  đúc những đồng tiền Thái Bình với đường kính nhỏ 20 mm và lỗ vuông to hơn 7 mm. Chiều dầy của tiền cổ thường vào khoảng 0,5 mm, nhưng cũng có những ngoại lệ như tiền Ðoan Khánh thông bảo của Lê Uy Mục dầy đến 1 mm.


Ðường kính và bề dầy là hai yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến trọng lượng của đồng tiền. Vào thế kỷ 19, Phan Huy Chú (4) đã lên tiếng khen tiền Hồng Ðức Thông Bảo, Quang Thuận Thông Bảo của Lê Thánh Tông có trọng lượng vừa đủ, không quá dầy nặng, không quá nhẹ mỏng gây dễ gẫy vỡ.  Ðó là những đồng tiền có trọng lượng khoảng 3,5 - 4 gram. Nhưng tiền cổ Việt Nam cũng có những đồng nhẹ quá do người dân đúc để kiếm lợi, như loại tiền Trị Bình Thánh Bảo mà có đồng chỉ nặng 1,12 gram hoặc thứ tiền Tự Ðức Thông bảo mà Trần Trọng Kim gọi là tiền sềnh  (5), là thứ tiền Tự Ðức rất nhẹ mỏng đúc từ Trung Quốc do Nguyễn Văn Tường nhận hối lộ của người Thanh cho nhập vào Việt Nam, mà các giáo sĩ thời đó đã lợi dụng tuyên truyền xuyên tạc rằng tiền nổI khi thả trên mặt nước để lòng dân không còn tin tưởng vào triều đình. Tuy vậy cũng có những ngoại lệ, đó là trường hợp tiền Ðoan Khánh Thông Bảo của Lê Uy Mục, vừa dầy vừa to, có đồng nặng đến 6,2 gram mà cho đến nay vẫn không tìm được một lý do thích hợp để có thể giải thích.


Về phương diện kim loại dùng đúc tiền, tiền cổ Việt Nam được chia ra làm 4 loại, nếu không kể hai loại vàng và bạc không nằm trong mục đích của bài viết.  (hình 4).


-          Ðồng, là kim loại thông dụng nhất dùng đúc hầu hết tiền cổ của Việt Nam. Ðúng hơn, đây là một hợp kim của đồng gồm thêm  kền, sắt, thiếc mà thành phần rất thay đổi bởi kỹ thuật luyện kim chưa được phát minh trong thời xa xưa đó. Tác giả Tạ Chí Ðại Trường (6) đã trích dẫn một bảng kết quả phân tích thành phần hóa học của tiền Trị Bình Nguyên Bảo do ông Diệp Ðình Hoa thực hiện gồm 63.6 % Ðồng, 21 % Chì, 0,14% Thiếc và 0,27% Sắt. Ðến thời triều Nguyễn, nhờ kiến thức phát triển hơn, đồng dùng đúc tiền chỉ gồm đồng và kẽm theo tỷ lệ 6/4, 7/3 hay 8/2. (7)
-          Kẽm, là kim loại thông dụng kế đồng khi dùng đúc tiền, nhất là từ thế kỷ 17 trở về sau. Như trường hợp đồng, người ta xử dụng những tạp chất có thành phần kẽm khá cao, gọi chung là ô diên mà đúc tiền. Lacroix Désiré dẫn từ Agenda du chimiste của Ad Wurtz cho thấy thứ kẽm tạp này chứa 55% đồng, 23 % kền, 17 % kẽm, 3% sắt và 2% thiếc. (8) Tương tự tiền đồng, triều đình nhà Nguyễn cũng biết tinh luyện kẽm hoặc mua kẽm nguyên chất từ nước ngoài mà đúc tiền.
-          Chì, là kim loại mềm được pha thêm kim loại khác để có một hợp kim đúc tiền. Loại tiền có lượng chì cao khá mềm, đặt nhẹ giữa hai ngón tay, ấn nhẹ là đồng tiền có thể bị bẻ cong. Cho đến nay, hơn 400 mẫu tiền chì Việt Nam đã được nhận diện (9) ,  tuy vậy nguồn gốc của thứ tiền này vẫn còn là một nghi vấn chưa được giải đáp thỏa đáng.
-          Sắt, khi Mạc Ðăng Dung soán đoạt ngôi vua của nhà Hậu Lê, sử thần cho rằng nhà Mạc không được lòng trời nên đúc tiền đồng không thành mà phải đúc tiền sắt để tiêu dùng (10) . Ðó là lần đầu tiên sử thần nhắc đến tiền sắt. Tuy vậy di chỉ khảo cổ hiện đại cho thấy không có tiền sắt Minh Ðức Thông Bảo của họ Mạc, mà chỉ thấy tiền đồng. Và trong tiền cổ Việt Nam có một số mẫu tiền đồng nhưng lại rỉ sét đỏ khá bất thường của sắt, nhất là tiền Hồng Ðức Thông Bảo và Minh Ðức Thông Bảo. Có thể vào lúc đó, hợp kim đồng có chứa nhiều sắt hơn lúc bình thường được sử dụng, vì ngẫu nhiên hoặc vì cho dễ đúc, chứ không có loại tiền sắt ?


Ðơn vị của tiền cổ.
Người yêu dân ca Việt Nam đều nhớ đến bài hát Một quan là sáu trăm đồng, chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi . . cho thấy tiền tệ bao giờ cũng đi sâu vào cuộc sống và ý nghĩ  của  con người. Thật vậy, bài hát đã cho biết đơn vị của tiền cổ từ thời vua Lê Thánh Tông đến đời vua cuối cùng của triều Nguyễn là Bảo Ðại. Thuở xưa, các đơn vị cơ bản của tiền cổ Việt Nam là quan, tiền và đồng, theo đó "đồng"  là đơn vị nhỏ nhất của tiền cổ ở nước ta. Vào thời Hậu Lê, cứ 1 quan là 10 tiền, và 1 tiền là 60 đồng; vậy cứ 600 đồng xu tròn lỗ vuông là 1 quan. Tiền được xâu vào một dây dài, cột hai đầu thành một xâu mà khoác trên vai khi đi mua bán. (hình 5)

Tuy rằng kinh tế có lúc thịnh suy, nhưng trong chế độ quân chủ phong kiến ngày xưa, triều đình ấn định đơn vị tiền tệ ra sao, vô lý hoặc có lý, cứu xét vào tình hình kinh tế hoặc không, người dân đều phải tuân lệnh. Do đó từ đồng Thái Bình Hưng Bảo của nhà Ðinh cho đến đồng Bảo Ðại Thông Bảo, không nhất thiết luôn là 1 quan ăn 600 đồng. Ðời vua Trần Thái Tông, vua xuống chỉ là 1 tiền ăn 69 đồng cho dân gian mua bán với nhau, nhưng đối với việc công thì 1 tiền ăn 70 đồng.  Ðến đời nhà Nguyên, dân Việt mua bán ở biên giới Trung Quốc thì dùng đơn vị 1 tiền ăn 67 đồng. Ðến khi vua Lê Lợi xưng vương, sau 10 năm kháng chiến thắng giặc Minh, vì tiền đồng quá hiếm hoi, Ngài đã ấn định 1 tiền ăn 50 đồng. (11)


Nhưng cuộc sống không lúc nào cũng giản dị, nhất là chuyện tiền bạc. Vào thời Nam Bắc triều, nhà Mạc chiếm giữ Thăng Long, trong khi hai họ Trịnh Nguyễn phò trợ vua Lê mà giữ Ðông Ðô ở Thanh Hóa, chiến tranh đã khiến đồng tiền được đúc nhỏ dần so với những đồng tiền cổ đời trước. Tiền nhỏ bấy giờ gọi là tiền gián , còn tiền cổ to gọi là tiền qúy . Và 1 quan tiền qúy vẫn ăn ngang 600 đồng, nhưng 1 quan tiền gián chỉ ăn 360 đồng. (12) Ðơn vị tiền tệ ở Ðại Việt lại còn phức tạp hơn khi tiền kẽm bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ 18. Lúc ban đầu, mục đích của tiền kẽm là thay thế tiền đồng vì kim loại đồng khá hiếm ở xứ Ðàng Trong. Khi chúa Nguyễn cho phép dân được quyền đúc tiền, mục đích trên đã bị lợi dụng bởi lòng tham cố hữu của con người, đồng tiền kẽm ngày càng được đúc nhỏ dần và mỏng dần đi. Một đồng tiền đồng ăn 3 đồng tiền kẽm mà thời đó người bán vẫn không muốn bán hàng. Loạn tiền kẽm là một trong những nguyên do dẫn đến sự bất an của chế độ chính trị của chúa Nguyễn và sự nổi dậy của anh em nhà Tây Sơn. Ngay đến khi vua Gia Long thành lập nhà Nguyễn sau này, đơn vị tiền tệ vẫn không giản dị như những ngày thanh bình thuở trước. Triều Nguyễn đúc cả hai thứ tiền đồng và tiền kẽm. Cũng như thời Ðàng Trong ngày xưa, giá trị tiền kẽm lúc ban đầu không khác biệt tiền đồng, nhưng dần dần tiền đồng ăn 2 tiền kẽm, rồi 3, rồi 6, cho đến đời vua Thành Thái, tiền Thành Thái Thông Bảo Thập Văn ăn ngang 10 tiền kẽm.


Thư pháp của tiền cổ Việt Nam.
Chữ viết trên tiền cổ Việt Nam đều là chữ Trung Quốc. Ðiều này cũng dễ hiểu vì chữ Quốc Ngữ chỉ được xử dụng từ cuối thế kỷ 19 đến nay. Mặc dù người Pháp đã thúc đẩy việc Quốc ngữ hóa các văn tự của chính quyền Ðông Dương, nhưng các vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn, từ Thành Thái đến Bảo Ðại, vẫn dùng chữ Trung Quốc trên đồng tiền. Tuy vậy, người sưu tập tiền cổ Việt Nam cũng không cần phải làu thông chữ Hán, mà chỉ cần nhớ độ 200 mặt chữ thì việc sưu tập không gặp nhiều trở ngại cho lắm.
Chữ Trung Quốc có nhiều cách viết. Nếu không kể đến các loại chữ cổ như Kim Văn từ trước thế kỷ 12 trước Công nguyên và Giáp Cốt Văn thuộc đầu nhà Thương, thì kế đến là loại chữ Ðại Triện. Loại chữ này được nhà Chu dùng trên công văn để thông tin với các chư hầu vào thế kỷ thứ 8 trước Công Nguyên. Tuy vậy, chữ Ðại Triện khá bất tiện vì nhiều từ ngữ có nhiều lối viết khác nhau, không thống nhất. Phải chờ đến năm 221 trước Công nguyên, khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc, Tể Tướng nhà Tần là Lý Tư sửa đổi chữ viết đại triện cho giản dị hơn, chế ra thứ chữ Tiểu Triện  để thống nhất hóa chữ viết trên toàn cõi Trung Quốc.
 
Ðặc điểm của hai loại triện thư này đều có nét viết thanh, đều đặn nhưng cong lượn, uốn khúc. Qua thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên, vì mất nhiều thì giờ để viết những nét cong lượn của chữ triện, mà nhà Hán sửa đổi nét cong bằng những nét thẳng và góc cạnh và tạo ra lối viết mới, gọi là chữ Lệ. Rồi ngòi bút lông mềm được sáng chế, từ chữ Lệ, người Trung Quốc xử dụng 8 nét cơ bản như nét sổ dọc, ngang, chấm, móc . . để tạo ra loại chữ viết thông dụng ngày nay gọi là chữ Khải. Sau đó, còn có loại chữ Hành  là loại chữ khi người viết cần viết nhanh hơn, và cuối cùng là chữ Thảo, thứ chữ khi thời gian trở nên một yếu tố tối quan trọng cho người viết.


Tiền cổ Việt Nam có khi được viết bằng Triện thư, khi bằng Khải thư, hoặc Hành thư, Thảo thư. Ðôi khi Khải thư và Triện thư, hoặc Khải thư và Thảo thư được phối hợp viết trên một đồng tiền (hình 6).


Phân loại tiền cổ Việt Nam.
Vấn đề phân thứ loại các mẫu tiền cổ là do các nhà sưu tập và nghiên cứu lập ra,  sắp xếp tiền vào từng nhóm theo tiêu chuẩn phân loại để giúp ghi nhớ và khảo sát được dễ dàng và tiện lợi mà thôi. Tiền cổ Việt Nam được chia thành từng nhóm dựa vào các tiêu chuẩn khác nhau như sau:

-          Kim loại :  Ðược chia ra như tiền đồng, tiền kẽm, tiền chì, tiền bạc, tiền vàng. Tiền thiếc và tiền sắt được nhắc đến trong sử sách, nhưng đến nay vẫn không tìm thấy trong những di chỉ khảo cổ nào. Tiền đồng còn có hai loại tiền đồng nhỏ và tiền đồng to dùng trong các dịp vua ban thưởng.
-          Chính thống : Các mẫu tiền do vua đúc được xem là tiền chính thống như các tiền Quang Trung Thông Bảo, Minh Mạng Thông Bảo . . Những mẫu tiền khác được xem là không chính thống, tùy theo vị thế của người đúc đối với lịch sử, mà tiền được xếp vào những loại  khác nhau. Ví dụ tiền đúc bởi nhóm Mạc Thiên Tứ ở Hà Tiên vào thế kỷ 18 như Thái Bình Thông Bảo. Tiền đúc bởi những nhóm nổi loạn chống lại triều đình như Thiên Ứng Thông Bảo và Tuyên Hoà Hựu Bảo của cha con Trần Cảo thời Hậu Lê. Tiền do dân đúc được sử sách xác nhận như Thiên Minh Thông Bảo (13). Tiền không biết nguồn gốc từ đâu đã đúc, hoặc đặt tên như tiền Trung Quốc, hoặc dùng tên của các tiền chính thống, hoặc đặt một tên nào đó chưa hề có trong lịch sử, được xếp vào nhóm tiền không xác định, còn gọi là vô khảo phẩm.[/font]
[font=arial]-          Phong cách của chữ viết :  Cổ tiền gia người Nhật Miura Gosen đã phân loại những tiền Việt Nam thuộc nhóm không xác định  ra làm 40 nhóm, dựa trên phong cách nét chữ viết của tên tiền trong quyển Thủ Loại Tiền Bộ, quyển 2 trong bộ sách An Nam Tuyền Phổ. (14)
-          Ngoài ra còn có những nhóm tiền do một hoàn cảnh đặc biệt cũng đáng được lưu giữ trong bộ sưu tập tiền cổ Việt Nam như tiền Trường Kỳ do người Nhật mang vào Việt Nam vào thế kỷ 17 và 18. Hoặc thứ tiền mà người Trung Quốc thời nhà Thanh đúc lén ở xứ họ để mang vào Việt Nam kiếm lợi, tiền Càn Long An Nam đúc trong thời gian nhà Thanh xâm [/font][font=arial] chiếm Việt Nam. [/font]

[font=arial]Tiêu bản khác nhau của tiền cổ.

                Khi hai mẫu tiền cổ trùng tên nhau, không có nghĩa rằng chúng giống nhau và người sưu tập thường xem xét kỹ để xác định tiêu bản. Lý do vì nguồn gốc mẫu tiền có thể khác nhau hoàn toàn, thời gian chúng được đúc cũng có thể cách nhau đến vài thế kỷ, hoặc ngay cả mục đích đúc tiền. Tiêu bản khác nhau có thể đưa đến trị giá đồng tiền khác nhau trên thị trường sưu tập  hoặc giúp xác định niên đại của đồng tiền khác. Xác định tiêu bản của tiền cổ đòi hỏi nhiều kinh nghiệm và dầy công nghiên cứu từ người sưu tập.[/font]

[font=arial]                Trước hết với những mẫu tiền trùng tên có kích thước, phong cách chữ đúc cũng như kim loại của tiền khá giống nhau, người sưu tập có thể xác định rằng tiền cùng một niên đại và từ một nguồn đúc. Tuy nhiên có thể có mẫu viết bằng chữ Triện, có mẫu viết chữ Thảo, hoặc chữ Khải và như thế  mẫu nào hiếm thấy thì có giá trị cao hơn. Ví dụ trường hợp tiền Ðại Trị Thông bảo của vua Trần Dụ Tông (hình 7 ) , mẫu chữ Triện ít thấy nên có giá trị hơn các mẫu chữ Thảo và nhất là mẫu chữ Khải quá dễ tìm thấy. Hoặc có trường hợp hai mẫu tiền trùng tên và giống cả về phong cách và chữ viết, nhưng vẫn có một vài nét  khác biệt nhỏ, thì mẫu nào ít thấy vẫn có giá trị hơn mẫu thường thấy. Ví dụ trường hợp tiền Diên Ninh Thông Bảo (hình 8 ), chữ Ninh ở vị trí 6 giờ có thêm một gạch ngang dài là loại hiếm thấy. Hoặc có trường hợp lưng tiền có chữ khác nhau, hoặc chữ ở vị trí khác nhau như trường hợp tiền Thái Bình Hưng Bảo của nhà Ðinh. Mặt lưng tiền thường có chữ Ðinh ở vị trí 12 giờ, nếu chữ Ðinh ở vị trí 6 giờ thì lại hiếm hơn và nếu hoàn toàn không có chữ Ðinh lại càng hiếm thấy (hình 1).[/font]

[font=arial]                Ngoài ra nếu hai mẫu tiền trùng tên nhưng  kim loại hoặc dạng tiền, phong cách chữ viết khác nhau thì rõ rệt là hai mẫu tiền có nguồn đúc khác nhau, thậm chí niên đại của mẫu tiền có khi khác nhau rất xa. Sự nhận định này có vẻ dễ dàng nhưng để xác định tiêu bản cũng như niên đại của mẫu tiền vẫn đòi hỏi kiến thức sâu rộng. Ngày xưa, Trung Quốc và Việt Nam không đòi hỏi dân chúng phải xử dụng tiền riêng của mỗi quốc gia. Ðồng tiền Trung Quốc được lưu hành rộng rãi trên đất Việt, cũng như tiền cổ Việt Nam được xử dụng trong việc mua bán ở các tỉnh biên giới của Trung Quốc, vì thế tiền cổ Trung Quốc tìm thấy rất nhiều trên đất Việt. Sự kiện hai đồng tiền trùng tên có rất nhiều lý do, hoặc niên hiệu của hai quốc gia trùng nhau như niên hiệu Thái Bình, hoặc dân gian đúc lén tiền thích chọn một niên hiệu đã có. Ví dụ những mẫu tiền Trị Bình sau đây trong phần phụ lục ( hình 9). Mẫu tiền Trị Bình Nguyên Bảo của Trung Quốc có một phong cách, thư pháp riêng biệt của Trung Quốc. Một mẫu Trị Bình Nguyên Bảo bằng đồng của vua Lý Cao Tông (1176 -1210)  đúc có kích thước bề thế, dầy dặn, khá gần gũi với phong cách và thư pháp của đồng tiền Chính Bình Nguyên Bảo của vua Trần Thái Tông chỉ cách 15 năm sau đó. Và các mẫu Trị Bình Nguyên Bảo, Thánh Bảo khác với kim loại đồng hoặc kẽm nhỏ mỏng, chữ viết nguệch ngoạc trong khoảng trống chật hẹp của một ai đó đúc tiền với mục đích trục lợi. Trong những trường hợp này, mẫu tiền chính thống thì khá dễ xác nhận, cổ tiền gia Trung Quốc lại ghi chép thư mục về tiền tệ của họ khá rõ ràng. Nhưng những mẫu tiền xấu còn lại do ai đúc, vì sao đúc tiền vẫn chỉ là những giả thuyết ước đoán của nhà nghiên cứu tiền cổ cho hợp lý mà thôi.
Trị giá của tiền cổ Việt Nam.[/font]

[font=arial]                Tiền cổ Việt Nam có mẫu rất giá trị vì hiếm, nhưng cũng có mẫu tiền khá thường thấy như tiền Minh Mạng Thông Bảo, Tự Ðức Thông Bảo của triều Nguyễn thì không đáng giá cho lắm. Do đó bộ sưu tập có giá trị là dựa vào những tiêu bản hiếm qúy, chứ không hẳn có vài chục ký lô tiền cổ là xem như người sưu tập nghiêm túc. Cũng không thể dựa vào niên đại trong lịch sử mà đánh giá một đồng tiền. Ví dụ, mẫu tiền Hồng Ðức Thông Bảo của vua Lê Thánh Tông từ năm 1460-1497 vẫn không giá trị bằng mẫu tiền Hàm Nghi Thông Bảo của Vua Hàm Nghi mới năm 1885 đây. Lý do vì tiền Hàm Nghi chưa kịp  lưu hành, vả lại vua chỉ ở trên ngôi được sáu tháng thì Ngài đã phải chạy khỏi Kinh thành để hô hào phong trào Cần Vương chống Pháp, nên tiền Hàm Nghi khó tìm hơn tiền Hồng Ðức.[/font]

[font=arial]                Giá trị đồng tiền cổ ra sao thật khó mà nói. Một đồng tiền cổ sẽ có trị giá cao, khi một nhà sưu tập cần đến nó. Do đó trị giá của đồng tiền cổ lệ thuộc phần lớn vào nhu cầu của mẫu tiền trên thị trường sưu tập, đôi khi trị giá cao thấp khác nhau rất nhiều. Tuy nhiên một vài tác giả viết sách về tiền cổ và đính kèm bậc thang trị giá của đồng tiền vào thời điểm của tác giả đang viết. Như đã nói trên về vấn đề nhu cầu, trị giá trong sách không hẳn là trị giá tiêu chuẩn nhưng khá giúp ích cho người sưu tập có một khái niệm tổng quát để quyết định trong việc trao đổi. Ba quyển sách của các tác giả Nhật là quyển Cổ Tiền Giá Cách Họa Phổ  của  Ogawa Hiroshi, quyển Ðông Á Tiền Chí của Orudaira Masashiro và quyển An Nam Tuyền Phổ của Miura Gosen đều cung cấp bực thang đo lường về sự qúy giá của đồng tiền, kể hạng từ 10 đến 1, rồi đến hạng trân (qúy).
Sách về tiền cổ Việt Nam.[/font]

[font=arial]Ở đây tác giả không có ý định trình bày một thư mục về tiền cổ Việt Nam, mà chỉ giới thiệu những quyển sách có giá trị với những dữ kiện tin cẩn. Ðời xưa hay đời nay, sách đôi khi có những dữ kiện sai lạc nếu người viết không tham khảo kỹ lưỡng. Vấn đề tiền cổ lại mang một tính chất đặc biệt, vì những khám phá mới từ những di chỉ khảo cổ  sẽ có thể đảo lộn một quan niệm đúng từ ngàn xưa.[/font]

[font=arial]Sau đây là những sách tham khảo về tiền cổ Việt Nam mà tác giả thường dùng.

-          An Nam Tuyền Phổ của Miura Gosen. Quyển này gồm có 3 thiên sách, thiên đầu là Thủ Loại Tiền Bộ (Rekidaisen nobu) chuyên về các loại tiền vô khảo phẩm.  Thiên thứ hai là Lịch Ðại Tiền Bộ  (Teruisen nobu) chuyên về tiền cổ chính thống. Thiên thứ ba là Ðại Tiền Ngân Tiền Bộ  (Daisen ginsen nobu) chuyên về đại đồng tiền, kim tiền và ngân tiền, cả tiền thoi lẫn tiền tròn.

-          Annam études numismatiques của Albert Schroeder.
-          Cổ tiền đại tự điển của Ðinh phúc Bảo.
-          Ðông Á Tiền Chí của Orudaira Masashiro
-           Tiền cổ Việt Nam của Ðỗ Văn Ninh.
THƯ MUC
(1)   Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập 1, trang 145, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà NộI 1993.
(2)     Sử Ký của Tư Mã Thiên, Phan Ngọc dịch, trang 37, nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội 1999.
(3)     Bài Tiền Trường Kỳ với sự giao thương Nhật Việt dưới thời Trịnh Nguyễn của Lục Ðức Thuận.
(4)   Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú, chương Quốc Dụng Chí, tập 3, trang 65  .
(5)   Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, Bộ Giáo Dục Sài Gòn 1971, trang 313.
(6)   Tạ Chí Ðại Trường, Những bài Dã Sử Việt, tr.292.
(7)   Ðại Nam Hội Ðiển Sử Lệ, Quốc Sử quán triều Nguyễn, nhà xuất bản Thuận Hóa, 1993. Tập 5, trang 30.
(8)     Lacroix Desire. Annamite Numismatiques, Saigon 1900, trang. 26, tiểu chú 1.
(9)     Tư liệu của anh Lê Hoàn Hưng, Nha Trang, Việt Nam.
(10)  Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập 3, trang 111, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1993.
(11)   Bài Ðơn vị, Trọng lượng và Kim loại của tiền đồng và tiền kẽm Việt Nam của Lục Ðức Thuận. Tập san Thế kỷ 21,
               Số 137 tháng 9/2000, California.
(12)  Vân Ðài Loại Ngữ của Lê qúy Ðôn, nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin, 1995, tập 3, trang 137.
(13)  Phủ Biên Tạp Lục của Lê Qúy Ðôn, Phủ Quốc Vụ Khanh, Sài Gòn 1972, Tập 2, quyển 4, trang 48.
(14)  An Nam Tuyền Phổ của Miura Gosen, Nhật Bản 1965, tập Thủ Loại Tiền Bộ, phần mục lục
 
http://www.vietantique.com/coins/main.htm


[/font]
Đăng nhập để trả lời
0
Chuyện tiền xưa










10 đồng xu hiếm nhất thế giới    ( 14-4-08 )  63 hits











10 đồng xu hiếm nhất thế giới Không lâu sau khi Tuyên ngôn Độc lập, Quốc hội Hợp Chủng quốc Hoa Kỳ khẳng định nền tự do bằng hệ thống tiền tệ đầu tiên của Mỹ.Bố cục của đồng đôla đầu tiên này rất kỳ dị - thường được cho là do Tổng thống Benjamin ...[/align]







Tiền Trường Kỳ   ( 20-1-08 )  54 hits











Cho đến nay, không có một tài liệu nêu rõ ở một thời điểm xác định nào, người Nhật bắt đầu buôn bán với Việt Nam, mà chỉ biết rằng người Nhật đến nước Việt sau người Trung Hoa nhiều trăm năm. Theo hai giáo sư Hasebe Gakuji thuộc Viện Bảo Tàng Quốc Gia .[/align]







Tiền An Pháp   ( 6-1-08 )  57 hits











Từ xưa, sự kiện lịch sử không có sử liệu minh bạch có thể được giải thích theo cách nào cũng được, nhưng phải có những luận cứ kèm theo để hổ trợ cho đường hướng đó. Công luận sẽ dựa trên những luận cứ mà suy xét sự hữu lý của đường lối giãi thích...[/align]







Tiền cổ thời Tây Sơn    ( 28-12-07 )  61 hits











Sau khi Nguyễn Huệ lãnh đạo quân Tây Sơn đánh thong thù trong giặc ngoài, thống nhất toàn bộ lãnh thổ, triều đại Tây Sơn tập trung ngay /vào công việc xây dựng đất nước với những chủ trương táo bạo nhưng đúng đắn về các mặt kinh tế, văn hóa. ..[/align]







Người sở hữu 1,3 tấn tiền cổ    ( 28-12-07 )  56 hits











Gian phòng rộng 30m2 trưng bày các loại tiền cổ. Trong đó có 200 loại đúc bằng đồng và trên 50 loại được đúc bằng kẽm, nếu tính bằng khối lượng tất cả tương đương 1,3 tấn. Người có thú đam mê đó là Lâm Dũ Xênh, ở thị trấn Châu Ổ, huyện Bình Sơn (QN)...[/align]







Tiền tệ trong nền văn minh cổ xưa    ( 28-12-07 )  50 hits











Cách đây hơn 2.000 năm, Aristotles đã nhận xết rằng trước khi dùng tiền đúc, con người đã đem cho đi những thứ của mình có thừa để đổi lấy những thứ mình thiếu. Việc làm đó được gọi là Metadosis. ...[/align]









Next
Last



 





 
http://tienxua.webng.com/index.asp?cat=9
 
Đăng nhập để trả lời
0
http://www.vietantique.com/coins/main.htm

 
Giới thiệu về tiền cổ Việt Nam
 

 + Vietnamese Ancient Coins
      + Images 1
      + Images 2
      + Images 3
      + Images 4
 + An Phap
      + Images 1
      + Images 2
 + Trinh Nguyen
      + Images 1
      + Images 2
      + Images 3
      + Images 4
 + XIX Century Trade
      + Images 1
      + Images 2
      + Images 3
      + Images 4
      + Images 5
 
Đăng nhập để trả lời
0
+ Vietnamese Ancient Coins

+ Images 1 

 




Phần Hình Phụ Lục 1


images





 
 
 
Đăng nhập để trả lời
0




Việt Nam đối mặt 'khủng hoảng tiền tệ'? [/align] [/align]







[/align]

Dự đoán tiền đồng sẽ mất giá tới 39%
Hãng tin kinh doanh Bloomberg trích báo cáo của công ty dịch vụ tài chính Morgan Stanley nói Việt Nam sẽ gặp khủng hoảng tiền tệ như Thái Lan hồi năm 1997. [/align]Một chuyên gia của Morgan Stanley ở Hong Kong được dẫn lời nói rằng các nhà kinh doanh đang đặt cược tiền đồng sẽ mất giá 39% trong một năm tới đây.
Trong số các lý do được đưa ra có ''đồng tiền có giá trị quá cao, một nền kinh tế thiếu cân bằng tới mức nguy hiểm và dự trữ ngoại hối thấp.''
Vào lúc cuối giờ chiều hôm thứ Tư 28/5, một đô la Mỹ đổi được 16.229 đồng Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ cho phép tỷ giá này tăng hay giảm trong biên độ 1% so với tỷ giá do ngân hàng này định ra.
'Phá giá'
Một lãnh đạo của Ngân hàng Nhà nước được trích lời nói rằng họ tin vào khả năng ổn định tỷ giá trong khuôn khổ chính sách hiện nay.
Ông Nguyễn Quang Huy cũng nói chính sách ''tỷ giá ổn định'' như hiện nay sẽ vẫn được tiếp tục bất chấp nhu cầu mua đô la đang tăng vì lạm phát cao tới hàng chục phần trăm.
Trong khi đó chuyên gia của Morgan Stanley được trích lời cho rằng Việt Nam sẽ phải phá giá tiền đồng như Thái Lan phá giá đồng baht 45% hồi năm 1997.
Việc phá giá ở Thái Lan đã kéo theo khủng hoảng ở châu Á khi các quỹ đầu tư rút đi để vào các thị trường ít rủi ro hơn.
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã mất giá khoảng 60% và người ta sợ rằng thị trường nhà đất cũng sẽ 'vỡ' làm cho nợ xấu trong các ngân hàng Việt Nam tăng.
Điều này sẽ tạo sức ép lên tiền đồng và các chuyên gia nói một cuộc khủng hoảng ở Việt Nam cũng sẽ làm cho khu vực bị ảnh hưởng lây.

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/05/080528_viet_money.shtml
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-05-29 15:55:45HongYen>
Kinh tế Việt Nam tuột dốc 


[/align]

Chứng khoán ở Việt Nam sụt giảm hàng chục phần trăm chỉ trong một năm
Tờ Straits Times của Singapore hôm 28/5 có bài viết về tình trạng kinh tế Việt Nam của phóng viên thường trú ở Hà Nội, Roger Mitton, với tựa đề: "Down and out". bbcvietnamese.com xin giới thiệu bài viết này:
[/align] 
[/align]Việc này từng đã xảy ra. Đầu thập niên 90, dư luận tràn đầy phấn khởi khi công cuộc đổi mới của Việt Nam bắt đầu tỏ ra hiệu quả.
Nhiều thập kỷ theo đuổi chủ nghĩa cộng sản gần như đã khiến nước này kiệt quệ, nhưng việc chuyển đổi sang các chính sách kinh tế thị trường tự do hơn đã có tác động to lớn.

Mức sống đã được cải thiện và các nhà đầu tư nước ngoài, với kỳ vọng vào thị trường 80 triệu dân, chen nhau đổ vào Việt Nam.
Nhưng sự phấn khích đã sớm xì hơi. Tệ quan liêu, tham nhũng, tâm lý không ưa người nước ngoài cũng như sự cứng nhắc trong hệ thống công quyền đã khiến nhiều nhà đầu tư bỏ chạy.

Cho tới ngày hôm nay, những yếu tố tương tự cộng thêm với khả năng quản lý kinh tế yếu kém đã làm sút giảm uy tín 'chàng trai vàng' của Đông Nam Á.

Dư luận bất mãn
Tình hình đang ngày càng khó khăn ở Việt Nam. Phần đông người dân cho rằng chính phủ hành động quá yếu và quá muộn.
Tiến sĩ Nguyễn Quang A, Giám đốc Viện Nghiên cứu Phát triển IDS ở Hà Nội, nhận xét: “Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới việc nền kinh tế thụt lùi là do các chính sách quản lý yếu kém và thiếu đồng bộ của chính phủ”.

 Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới việc nền kinh tế thụt lùi là do các chính sách quản lý yếu kém và thiếu đồng bộ của chính phủ.
[/align] 
[/align]Tiến sỹ Nguyễn Quang A
[/align][/align]
Tỷ lệ lạm phát tại Việt Nam hiện nay được coi là cao nhất khu vực Đông Á. Tháng Tư, giá tiêu dùng tăng so với cùng kỳ năm ngoái tới 21,4%.
Thâm hụt mậu dịch năm nay được dự báo sẽ là 25 tỷ đôla, đẩy nước này xuống vị trí cuối bảng trong khu vực.
Tiến sĩ Quang A nói: “Chính phủ lúc nào cũng nói rằng nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu là điều hết sức bình thường. Họ tập trung quá nhiều vào chuyện đạt tỷ lệ tăng trưởng cao mà không chú tâm tới chất lượng của sự phát triển đó”.

Sự thiển cận đó dẫn tới tình trạng thu nhập không đồng đều. Công nhân nhà máy và nông dân tuy kiếm tiền khá hơn trước nhưng mức sống lại giảm. Và một loạt các cuộc đình công nổ ra, vụ sau lớn hơn vụ trước.
Thứ Hai vừa qua, gần bảy nghìn công nhân tại một xí nghiệp sản xuất giầy do Đài Loan làm chủ đã đình công đòi tăng lương và giảm giờ làm.
Một tuần trước đó, ba nghìn công nhân cũng có hành động tương tự tại một nhà máy nhựa của Trung Quốc ở phía bắc Hà Nội. Các khu công nghiệp quanh TP HCM chứng kiến các cuộc đình công gần như hàng tuần.
Các công nhân trung bình thu nhập khoảng 55 đôla một tháng, nhưng họ nói rằng không thể sống bằng đồng lương đó khi giá thực phẩm và xăng dầu tăng hơn 30% .
“Thập tử nhất sinh”
Trong khi đó thị trường chứng khoán Việt Nam, thuộc loại hoạt động yếu kém nhất thế giới, đã sụt tới 63% trong vòng một năm qua.
Ông Phan Hồng Quân, Giám đốc công ty Europe Capital Securities tại Hà Nội, nhận định: "Lý do dẫn tới sự sụt giảm mạnh trên thị trường chứng khoán là do chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ không nhất quán và mang nhiều rủi ro”.

Ông Jonathan Pincus, kinh tế gia cao cấp của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP), nói: “Tình hình Việt Nam xấu hơn so với các nước láng giềng bởi lẽ trong năm 2007 nguyên tắc về tài chính và ngân khố đã thất bại và quá trình khắc phục vấn đề này diễn ra lâu hơn trông đợi”.




[/align]

Nhiều vụ đình công ở Việt Nam do đồng lương không theo kịp giá cả tăng cao
Như báo điềm gở, công ty đánh giá tín dụng quốc tế Standard & Poor's của Mỹ đã giảm mức độ khả tín của Việt Nam từ ổn định xuống tiêu cực do những lo ngại về chính sách kinh tế vĩ mô.

Như nhiều người đoán, các quan ngại nói trên dường như đã làm chính phủ Việt Nam bất ngờ. Vì nói cho cùng, đất nước này cũng đã có một thập niên mà tỷ lệ phát triển hàng năm khoảng 8%.
Giới trẻ hào hứng với tư tưởng “mua trước, trả sau”, đua nhau sắm những mặt hàng xa xỉ như điện thoại di động Nokia, xe máy Piaggio và quần áo hàng hiệu.

Và khó mà có thể đổ lỗi cho họ, vì bản thân chính phủ cũng vung tay quá trán.

Điều đó dĩ nhiên khiến tỷ lệ lạm phát tăng cao, và từ cuối tháng 11 năm ngoái đã lên mức hai con số. Lúc đó, chính phủ nhấn mạnh rằng mọi thứ vẫn trong tầm kiểm soát, và rằng có thể sớm giảm lạm phát trong khi vẫn duy trì mức độ tăng trưởng 8 - 9%.

Hy vọng đó chẳng mấy chốc tan thành mây khói và chính phủ phải giảm chỉ tiêu tăng trưởng xuống còn 7%. Nhưng ít người tin là Việt Nam có thể đạt được mức đó.

Tháng Sáu này, khi các khoản trợ giá xăng dầu và nhu yếu phẩm được bãi bỏ, lạm phát theo dự báo sẽ tăng tới hơn 30%.
Ít người hy vọng rằng thị trường chứng khoán sẽ hồi phục từ mức “thập tử nhất sinh” như hiện nay, hay sự mất cân bằng cán cân thương mại sẽ sớm được khắc phục.

Suy yếu
Kinh tế gia Pincus nhận xét: “Thâm hụt mậu dịch của Việt Nam trong quý đầu 2008 là 11 tỷ đôla. Nếu tính từ cùng kỳ năm ngoái, nó chiếm tới 40% thu nhập quốc dân GDP”.

“Quốc tế quan ngại rằng Việt Nam không thể đối phó với thâm hụt ở mức đó, và kết quả là tiền Đồng sẽ suy yếu”.







 Các thị trường nước ngoài quan ngại rằng Việt Nam không thể đối phó với tình hình lạm phạt ở mức đó, và kết quả là tiền Đồng sẽ suy yếu
[/align] 
[/align]Jonathan Pincus, Kinh tế gia UNDP
[/align][/align]
Chính phủ cộng sản cầm quyền hiện cũng bị suy yếu. Ngày càng có nhiều người cho rằng các chính sách kinh tế không nhất quán và sai lầm đã dẫn tới cuộc khủng hoảng hiện thời.
Các nhà báo địa phương, vốn gần dân hơn là quan chức đảng Cộng sản, bắt đầu đưa tin về sự bất mãn bằng ngôn từ ngày càng mạnh.

Tuần trước, nhật báo có lượng phát hành lớn là Thanh Niên công kích việc các lãnh đạo đảng dường như không có ý tưởng gì trong khi bất ổn kinh tế đang dâng nhanh.
Xã luận của tờ này có đoạn: “Tăng trưởng 8-9% liệu có ý nghĩa gì nếu như cuộc sống người dân ngày càng kém đi và người nghèo ngày càng nghèo hơn?”

Hồi đầu tháng trước, tờ báo vốn tẻ nhạt Vietnam News giật một cái tít gây xôn xao, khiến người ta suy đoán về khả năng tồn tại của chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Bài báo, sau đó được nhiều tờ báo nhà nước đăng lại, loan tin Bộ Chính trị đã đưa ra các khuyến nghị về kinh tế. Và thế là dư luận bắt đầu đồn đoán về ý nghĩa của việc Bộ Chính trị ra lệnh cho ông Dũng và nội các của ông.

Nhận định chung hiện nay là đang có sự chia rẽ trong Bộ Chính trị, giữa những người ủng hộ cách tiếp cận quốc tế của ông Nguyễn Tấn Dũng và những người theo đuổi đường lối dân tộc chủ nghĩa, như Tổng bí thư Nông Đức Mạnh.

Trước khi xảy ra sự xáo động về kinh tế, chiếc ghế của ông thủ tướng dường như khá chắc chắn. Nhưng nay rõ ràng là vị trí của ông sẽ bị ảnh hưởng nếu nền kinh tế ốm yếu của Việt Nam không sớm hồi phục.

Nội dung bài phản ánh quan điểm của tác giả, không phải của BBC. Thư từ góp ý xin quý vị gửi về [email=vietnamese@bbc.co.uk]vietnamese@bbc.co.uk[/email] hoặc sử dụng hộp tiện ích bên tay phải.
 
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/05/080529_vieteconomy_stimes.shtml
Đăng nhập để trả lời
0




IMF cảnh báo về vấn đề lạm phát


17/07/2008








Trụ sở Quĩ tiền tệ Quốc tế (phải) trong thủ đô Washington, đối diện là Ngân hàng Thế giới

Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế nói rằng mặc dù giá lương thực thực phẩm và giá xăng dầu không gây nguy hại nhiều cho tình hình kinh tế toàn cầu giống như nhiều người đã lo ngại trước đây, lạm phát vẫn còn là một vấn đề lớn đối với nhiều quốc gia.

Nhận xét này được đưa ra hôm thứ Năm trong phúc trình về viễn ảnh kinh tế thế giới. Phúc trình dự báo sẽ có tăng trưởng ở mức cao hơn mức đã đưa ra trong tháng Tư.

Ông Simon Johnson, Trưởng Ban Kinh tế của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế nói rằng kinh tế toàn cầu sẽ chậm, nhưng vẫn tăng trưởng ở mức 4% từ giờ đến cuối năm. Tuy nhiên, ông cảnh báo một số quốc gia đang phát triển hoặc mới trỗi dậy, vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Mức lạm phát trung bình của tháng 5 là gần 9% và dự báo lạm phát vẫn ở mức cao cho đến qua sang năm.

Ông Johson nói rằng có lý do để tin rằng kinh tế thế giới sẽ không còn phản ứng tốt đối với những cú sốc lớn, giống như trước đây.

Về tình hình kinh tế Hoa Kỳ, ông nói kinh tế Hoa Kỳ hiện nay gần như đang khựng lại.

Hồi tháng Tư, báo cáo của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế có nói rằng kinh tế thế giới có 25% rủi ro rơi vào thời kỳ khủng hoảng ngắn kỳ.

Trong khi đó, chính phủ Trung Quốc nói rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế của họ trong Quý 2 là 10,3%; so với nhiều nước là cao, nhưng không bằng tốc độ của Trung Quốc cùng kỳ trước đây. Giá thức ăn của Trung Quốc tăng 20% trong 6 tháng đầu năm nay.

Tại Philippines giá gạo tăng gần gấp đôi trong vòng một năm qua, và tỷ lệ lạm phát của nước này ở mức cao nhất trong vòng 14 năm qua.
 
http://www.voanews.com/vietnamese/2008-07-17-voa41.cfm

.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0