Giới thiệu về tiền cổ Việt Nam
Từ Hùng Vương đến ngày cởi ách Bắc thuộc.
Vài mươi năm trở về đây, đồng tiền cổ Việt Nam đã trở thành một đối tượng khá quan trọng, thích thú và ích lợi trong nhiều cuộc khảo cứu tìm hiểu về lịch sử nước nhà. Ðồng tiền cổ, không những giúp các nhà khảo cứu hiểu về tình hình kinh tế và thương mãi của thời xa xưa, mà tự thân nó còn phơi bày nếp sống sinh hoạt của tổ tiên chúng ta và cung cấp những dữ kiện thiết yếu cho việc nghiên cứu về lịch sử của Việt Nam thuở trước. Ngày nay, đồng tiền cổ Việt Nam lại là một đối tượng hấp dẫn cho các nhà sưu tập trong nước cũng như ở hải ngoại. Và bộ môn sưu tập tiền cổ trở thành một thú vui tao nhã, chẳng những với những bậc lão thành mà gồm cả những người tuổi trẻ.
Dân tộc Việt bắt đầu xử dụng tiền từ bao giờ và loại tiền gì, sách sử không hề đề cập đến điều này. Tuy nhiên, theo lịch sử tiền tệ thế giới thì thứ tiền xa xưa nhất mà con người xử dụng là tiền vỏ ốc. Dân Việt có xài tiền vỏ ốc hay không, sử Việt cũng không chấp nhận hay chối bỏ việc lưu hành thứ tiền này. Nhưng sự hiện diện của vỏ ốc ở nước Việt, có thể được dùng như tiền tệ hoặc như một vật trân qúy, đã được tìm thấy rất ít trong những di chỉ khảo cổ ở miền Bắc và chỉ được nhắc đến vào năm 179 trước Công nguyên, khi Triệu Ðà tiến cống cho vua Hán Văn Ðế 1 đôi ngọc bích trắng, 1000 bộ lông chim trả, 10 sừng tê và 500 tử bối tức vỏ ốc màu tía (1). Vào lúc này, người Trung Quốc đã biết xử dụng tiền tệ. Ðồng tiền tròn có lỗ vuông ở giữa là kết quả của một quá trình thay đổi khá dài trong lịch sử tiền tệ của Trung Quốc từ nhà Hạ với tiền vỏ ốc, nhà Chu, qua các thời Xuân Thu và Chiến Quốc với đao tiền (tiền hình lưỡI dao), bố tiền (tiền hình thuổng), hoàn tiền (tiền tròn vớI lỗ tròn), tiền mặt quỷ, để đến lúc nhà Tần gồm thâu sáu nước mà thành lập một Trung Quốc thống nhất lần đầu tiên. Vua Tần, theo ý niệm Ngũ Hành tương sinh tương khắc, mà tự cho rằng đã đến thời " thủy trị " nên thắng được nhà Chu thuộc "hoả trị ", mà xưng Thủy Hoàng Ðế lấy chính sách nghiêm trị, không dung tha để trị nước (2) . Tần Thủy Hoàng đã bãi bỏ tất cả các loại tiền dùng trước kia để đúc tiền Bán Lạng, có hình tròn tượng trưng cho Trời và lỗ vuông ở chính giữa tượng trưng cho Ðất. Hình dáng đồng tiền này đã được Trung Quốc xử dụng suốt 2000 năm cho đến đời nhà Thanh sau này, và cũng được các nước láng giềng như Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên phỏng theo để đúc tiền.
Trước thời Bắc thuộc, kể từ mười tám đời vua Hùng Vương cho đến khi Triệu Ðà là tướng của nhà Tần, thôn tính hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân; nước Việt Nam đã trải qua thời ký xã hội cộng đồng rồi tiến đến xã hội nô lệ mà kinh tế chỉ có tính cách đổi chác. Do đó ý niệm về tiền tệ có thể chưa rỏ rệt. Thật sự sử sách cũng không thấy nói đến tiền tệ, dù rằng thời ngoại kỷ Triệu Ðà cùng thời với nhà Tây Hán mà đồng tiền Ngũ Thù đã lưu hành rộng rãi trên đất Trung Quốc. Về sau đến khởi đầu của thời kỳ Bắc thuộc, khi nhà Tây Hán xâm chiếm Nam Việt, đánh bại Thuật Dương Vương của nhà Triệu, đất Việt chỉ được xem là châu quận của nhà Hán mà thôi, rồi trải qua các nhà Ngô, Tấn, Tiền Tống, Tề, Lương, Tùy, Ðường mà cũng chỉ xử dụng tiền Trung Quốc chứ không có tiền riêng. Các loại tiền Ngũ Thù của các triều đại thời Bắc thuộc tìm thấy được khá nhiều trên đất Việt.
Suốt một ngàn năm Bắc thuộc, ý chí độc lập được nung nấu dần và nhiều cuộc nổi dậy được thực hiện bởi dân Việt càng lúc càng mãnh liệt. Năm 938, vua Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Ðằng. Cho dù nhà Ngô không được các sử thần xem như một triều đại chính thống, nhưng họ Ngô vẫn là bậc anh hùng với những bước tiền phong trên con đường độc lập của Việt Nam. Nhà Ngô oai hùng nhưng lại ngắn ngủi, nên phải chờ thêm 30 năm sau, khi vua Ðinh Tiên Hoàng dẹp tan loạn 12 sứ quân, thành lập nhà Ðinh, và tự xưng Ðinh Tiên Hoàng Ðế để mở đầu một kỷ nguyên độc lập cho nước Việt. Nhà Ðinh đúc tiền lần đầu tiên trong lịch sử nước Việt, đó là đồng Thái Bình Hưng Bảo, mặt sau có chữ Ðinh.(hình 1)
Tiền cổ Việt Nam có nhiều loại: tiền đồng, tiền kẽm, tiền chì, tiền vàng, tiền bạc và ngay cả tiền giấy của Hồ Qúy Ly. Trong khuôn khổ giới hạn của bài này, tác giả chỉ trình bày đến thứ tiền cổ bằng kim loại và thông dụng trong dân gian, mà không đề cập đến tiền giấy, tiền vàng, tiền bạc và ngay tiền đồng loại lớn mà triều Hậu Lê và triều Nguyễn thường dùng để ban thưởng cho người có công lao.
Nhận dạng tiền cổ.
Tất cả tiền cổ của Việt Nam, từ đồng Thái Bình Hưng Bảo của vua Ðinh Tiên Hoàng đến đồng cuối cùng Bảo Ðại Thông Bảo của vua Bảo Ðại, đều có dạng hình tròn với lỗ vuông ở chính giữa. Hầu hết mặt chính của những đồng tiền có 4 chữ Trung Quốc, hai chữ đầu tiên ( vị trí 1 và 2 ) thường là niên hiệu của nhà vua và hai chữ sau ( vị trí 3 và 4 ) dùng để chỉ loại tiền. Vị trí của 4 chữ này, đôi khi viết theo chiều thuận của kim đồng hồ và đôi khi viết theo kiểu chéo.
[font=arial]

[/font]
[font=arial]viết theo kiểu chéo[/font]
[font=arial] viết theo chiều thuận[/font][font=arial] [/font]
[font=arial]
Hai chữ sau (vị trí 3 và 4) chỉ loại tiền, đa số là thông bảo (nghĩa là đồng tiền thông dụng), kế đó là nguyên bảo (tiền mới đầu tiên). Tuy nhiên có một số tiền cổ mang hai chữ chỉ thứ loại tiền khá lạ lùng ( hình 2 ). Nhất là tiền đời vua Cảnh Hưng như vĩnh bảo (tiền lưu thông mãi mãi), chí bảo (tiền cao quý nhất), đại bảo (tiền có giá trị lớn), chính bảo (tiền chính thống), cự bảo (tiền có giá trị to), thuận bảo (tiền kỷ niệm dịp chiếm đóng Thuận Hóa và lấy súng đồng của chúa Nguyễn ở Thuận Hoá mà đúc thành tiền). Ngoài ra còn một số tiền được xếp loại " chưa thể xác định " mang những thứ loại tiền như những đồng Trần Tân công bảo, Thái Bình thánh bảo, Thái Bình pháp bảo...
Tuy rằng nguyên tắc đọc tên tiền có thể theo hai lối đọc chéo và đọc xuôi đã nói trên, nhưng thật tế vẫn có một ít đồng tiền không hiểu đọc theo lối nào cho đúng. Lý do vì loại trừ chữ Bảo luôn luôn ở vị trí thứ 4 ra, còn lại ba chữ và nếu chọn hai đôi chữ 1 và 2 hoặc 1 và 3 mà vẫn không trùng tên với một niên hiệu nào thì mẫu tiền sẽ làm rối trí nhà nghiên cứu. Chính vì thế, mọi người đều có khuynh hướng chọn đôi chữ sao cho trùng với một niên hiệu và biết đâu cách đọc này không đúng ý với chủ nhân đã đúc đồng tiền. Ví dụ mẫu tiền Tường Phù Nguyên Bảo, có thể đọc là Tường Phù Nguyên Bảo hay Tường Nguyên Phù Bảo. Cả hai đôi chữ Tường Nguyên và Tường Phù đều đã có tiền với tên này, như Tường Nguyên Thông Bảo và tiền Tường Phù Thông Bảo (Tống Nhân Tông). Trường hợp này, mọi người đều thấy chữ nguyên bảo binh thường hơn chữ phù bảo, và cách đọc Tường Phù Nguyên Bảo sẽ được ưa chuộng hơn.
Mặt sau của tiền thường không có chữ, tuy nhiên một số nhỏ có chữ để chỉ (hình 3)
- triều đại nhà vua như chữ Ðinh của tiền Thái Bình Hưng Bảo, chữ Lê của tiền Thiên Phúc Trấn Bảo của nhà Tiền Lê, chữ Trần của tiền Thiệu Phong thông bảo của vua Trần Dụ Tông.
- hoặc năm phát hành của tiền như Nhâm Tuất của tiền Cảnh Hưng Thông Bảo để chỉ tiền đúc trong năm Nhâm Tuất 1742, như chữ Tỵ của tiền Vĩnh Thịnh Thông Bảo để chỉ năm đúc Qúy Tỵ 1713.
- hoặc lòng yêu qúy của vua như chữ Càn Vương , để chỉ Càn Vương Lý Nhật Trung là con vua Lý Thái Tông, trên tiền Thiên Cảm Thông Bảo của Lý Thái Tông,
- hoặc nơi đúc đồng tiền như Hà Nội hoặc Sơn Tây trên tiền Tự Ðức Thông bảo, như chữ Công cho Bộ Công, một trong 6 Bộ, trên tiền Quang Trung Thông Bảo,
- hoặc một chữ có ý nghĩa tốt đẹp như chữ Chính, để chỉ đến chính pháp công bằng, trên tiền Quang Trung Thông Bảo,
- hoặc mang những ký hiệu đặc biệt đánh dấu đợt tiền đúc như 4 hình cong úp vào hay vểnh ra từ lỗ vuông của tiền Quang Trung Thông Bảo, như 1 dấu chấm và 1 dấu hình cong tượng trưng cho 2 chữ Nhật Nguyệt, tức chữ Minh, để tưởng nhớ nhà Minh, trên tiền Thái Bình Thông Bảo do Mạc Thiên Tứ đúc ở Hà Tiên,
- hoặc ghi trọng lượng của tiền như chữ Thất Phân trên tiền Gia Long Thông Bảo,
- hoặc ghi trị giá ấn định của tiền như chữ Lục Văn trên tiền Tự Ðức Thông Bảo,
Mặt trước của đồng tiền, viền tròn của rìa tiền và viền vuông của lỗ tiền thường được viền nổi để giảm bớt sự hao mòn của chữ đúc và việc mài dũa mặt tiền để lấy bớt chất đồng của kẻ gian. Mặt sau, không nhất thiết tiền nào cũng được viền nổi, vì có nhiều loại tiền có mặt sau trơn láng.
Ðặc tính vật lý của tiền cổ.
Các đồng tiền cổ có đường kính trung bình từ 22 mm đến 24 mm. Tuy nhiên, cũng có những đồng lớn hơn đến 25 - 26 mm như tiền Thành Thái Thông Bảo và những đồng khá nhỏ chỉ vừa 18 - 20 mm như tiền dập bằng máy Bảo Ðại Thông Bảo, nhất là loại tiền không xác định do dân gian đúc như Thiệu Phong Bình Bảo. Kích thước của lỗ vuông trung bình vào khoảng 5 mm, nhưng cũng có những đồng tiền có lỗ vuông to đến 7 mm như trường hợp tiền ngoại thương Trường Kỳ tiêu dùng ở Hội An vào thế kỷ 17, vì đường kính của tiền đến 25 -26 mm nên chiều dài lỗ vuông cũng to hơn theo tỷ lệ (3). Trái lại cũng có những trường hợp vì thiếu thốn đồng mà Mạc Thiên Tứ ở Hà Tiên đúc những đồng tiền Thái Bình với đường kính nhỏ 20 mm và lỗ vuông to hơn 7 mm. Chiều dầy của tiền cổ thường vào khoảng 0,5 mm, nhưng cũng có những ngoại lệ như tiền Ðoan Khánh thông bảo của Lê Uy Mục dầy đến 1 mm.
Ðường kính và bề dầy là hai yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến trọng lượng của đồng tiền. Vào thế kỷ 19, Phan Huy Chú (4) đã lên tiếng khen tiền Hồng Ðức Thông Bảo, Quang Thuận Thông Bảo của Lê Thánh Tông có trọng lượng vừa đủ, không quá dầy nặng, không quá nhẹ mỏng gây dễ gẫy vỡ. Ðó là những đồng tiền có trọng lượng khoảng 3,5 - 4 gram. Nhưng tiền cổ Việt Nam cũng có những đồng nhẹ quá do người dân đúc để kiếm lợi, như loại tiền Trị Bình Thánh Bảo mà có đồng chỉ nặng 1,12 gram hoặc thứ tiền Tự Ðức Thông bảo mà Trần Trọng Kim gọi là tiền sềnh (5), là thứ tiền Tự Ðức rất nhẹ mỏng đúc từ Trung Quốc do Nguyễn Văn Tường nhận hối lộ của người Thanh cho nhập vào Việt Nam, mà các giáo sĩ thời đó đã lợi dụng tuyên truyền xuyên tạc rằng tiền nổI khi thả trên mặt nước để lòng dân không còn tin tưởng vào triều đình. Tuy vậy cũng có những ngoại lệ, đó là trường hợp tiền Ðoan Khánh Thông Bảo của Lê Uy Mục, vừa dầy vừa to, có đồng nặng đến 6,2 gram mà cho đến nay vẫn không tìm được một lý do thích hợp để có thể giải thích.
Về phương diện kim loại dùng đúc tiền, tiền cổ Việt Nam được chia ra làm 4 loại, nếu không kể hai loại vàng và bạc không nằm trong mục đích của bài viết. (hình 4).
- Ðồng, là kim loại thông dụng nhất dùng đúc hầu hết tiền cổ của Việt Nam. Ðúng hơn, đây là một hợp kim của đồng gồm thêm kền, sắt, thiếc mà thành phần rất thay đổi bởi kỹ thuật luyện kim chưa được phát minh trong thời xa xưa đó. Tác giả Tạ Chí Ðại Trường (6) đã trích dẫn một bảng kết quả phân tích thành phần hóa học của tiền Trị Bình Nguyên Bảo do ông Diệp Ðình Hoa thực hiện gồm 63.6 % Ðồng, 21 % Chì, 0,14% Thiếc và 0,27% Sắt. Ðến thời triều Nguyễn, nhờ kiến thức phát triển hơn, đồng dùng đúc tiền chỉ gồm đồng và kẽm theo tỷ lệ 6/4, 7/3 hay 8/2. (7)
- Kẽm, là kim loại thông dụng kế đồng khi dùng đúc tiền, nhất là từ thế kỷ 17 trở về sau. Như trường hợp đồng, người ta xử dụng những tạp chất có thành phần kẽm khá cao, gọi chung là ô diên mà đúc tiền. Lacroix Désiré dẫn từ Agenda du chimiste của Ad Wurtz cho thấy thứ kẽm tạp này chứa 55% đồng, 23 % kền, 17 % kẽm, 3% sắt và 2% thiếc. (8) Tương tự tiền đồng, triều đình nhà Nguyễn cũng biết tinh luyện kẽm hoặc mua kẽm nguyên chất từ nước ngoài mà đúc tiền.
- Chì, là kim loại mềm được pha thêm kim loại khác để có một hợp kim đúc tiền. Loại tiền có lượng chì cao khá mềm, đặt nhẹ giữa hai ngón tay, ấn nhẹ là đồng tiền có thể bị bẻ cong. Cho đến nay, hơn 400 mẫu tiền chì Việt Nam đã được nhận diện (9) , tuy vậy nguồn gốc của thứ tiền này vẫn còn là một nghi vấn chưa được giải đáp thỏa đáng.
- Sắt, khi Mạc Ðăng Dung soán đoạt ngôi vua của nhà Hậu Lê, sử thần cho rằng nhà Mạc không được lòng trời nên đúc tiền đồng không thành mà phải đúc tiền sắt để tiêu dùng (10) . Ðó là lần đầu tiên sử thần nhắc đến tiền sắt. Tuy vậy di chỉ khảo cổ hiện đại cho thấy không có tiền sắt Minh Ðức Thông Bảo của họ Mạc, mà chỉ thấy tiền đồng. Và trong tiền cổ Việt Nam có một số mẫu tiền đồng nhưng lại rỉ sét đỏ khá bất thường của sắt, nhất là tiền Hồng Ðức Thông Bảo và Minh Ðức Thông Bảo. Có thể vào lúc đó, hợp kim đồng có chứa nhiều sắt hơn lúc bình thường được sử dụng, vì ngẫu nhiên hoặc vì cho dễ đúc, chứ không có loại tiền sắt ?
Ðơn vị của tiền cổ.
Người yêu dân ca Việt Nam đều nhớ đến bài hát Một quan là sáu trăm đồng, chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi . . cho thấy tiền tệ bao giờ cũng đi sâu vào cuộc sống và ý nghĩ của con người. Thật vậy, bài hát đã cho biết đơn vị của tiền cổ từ thời vua Lê Thánh Tông đến đời vua cuối cùng của triều Nguyễn là Bảo Ðại. Thuở xưa, các đơn vị cơ bản của tiền cổ Việt Nam là quan, tiền và đồng, theo đó "đồng" là đơn vị nhỏ nhất của tiền cổ ở nước ta. Vào thời Hậu Lê, cứ 1 quan là 10 tiền, và 1 tiền là 60 đồng; vậy cứ 600 đồng xu tròn lỗ vuông là 1 quan. Tiền được xâu vào một dây dài, cột hai đầu thành một xâu mà khoác trên vai khi đi mua bán. (hình 5)
Tuy rằng kinh tế có lúc thịnh suy, nhưng trong chế độ quân chủ phong kiến ngày xưa, triều đình ấn định đơn vị tiền tệ ra sao, vô lý hoặc có lý, cứu xét vào tình hình kinh tế hoặc không, người dân đều phải tuân lệnh. Do đó từ đồng Thái Bình Hưng Bảo của nhà Ðinh cho đến đồng Bảo Ðại Thông Bảo, không nhất thiết luôn là 1 quan ăn 600 đồng. Ðời vua Trần Thái Tông, vua xuống chỉ là 1 tiền ăn 69 đồng cho dân gian mua bán với nhau, nhưng đối với việc công thì 1 tiền ăn 70 đồng. Ðến đời nhà Nguyên, dân Việt mua bán ở biên giới Trung Quốc thì dùng đơn vị 1 tiền ăn 67 đồng. Ðến khi vua Lê Lợi xưng vương, sau 10 năm kháng chiến thắng giặc Minh, vì tiền đồng quá hiếm hoi, Ngài đã ấn định 1 tiền ăn 50 đồng. (11)
Nhưng cuộc sống không lúc nào cũng giản dị, nhất là chuyện tiền bạc. Vào thời Nam Bắc triều, nhà Mạc chiếm giữ Thăng Long, trong khi hai họ Trịnh Nguyễn phò trợ vua Lê mà giữ Ðông Ðô ở Thanh Hóa, chiến tranh đã khiến đồng tiền được đúc nhỏ dần so với những đồng tiền cổ đời trước. Tiền nhỏ bấy giờ gọi là tiền gián , còn tiền cổ to gọi là tiền qúy . Và 1 quan tiền qúy vẫn ăn ngang 600 đồng, nhưng 1 quan tiền gián chỉ ăn 360 đồng. (12) Ðơn vị tiền tệ ở Ðại Việt lại còn phức tạp hơn khi tiền kẽm bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ 18. Lúc ban đầu, mục đích của tiền kẽm là thay thế tiền đồng vì kim loại đồng khá hiếm ở xứ Ðàng Trong. Khi chúa Nguyễn cho phép dân được quyền đúc tiền, mục đích trên đã bị lợi dụng bởi lòng tham cố hữu của con người, đồng tiền kẽm ngày càng được đúc nhỏ dần và mỏng dần đi. Một đồng tiền đồng ăn 3 đồng tiền kẽm mà thời đó người bán vẫn không muốn bán hàng. Loạn tiền kẽm là một trong những nguyên do dẫn đến sự bất an của chế độ chính trị của chúa Nguyễn và sự nổi dậy của anh em nhà Tây Sơn. Ngay đến khi vua Gia Long thành lập nhà Nguyễn sau này, đơn vị tiền tệ vẫn không giản dị như những ngày thanh bình thuở trước. Triều Nguyễn đúc cả hai thứ tiền đồng và tiền kẽm. Cũng như thời Ðàng Trong ngày xưa, giá trị tiền kẽm lúc ban đầu không khác biệt tiền đồng, nhưng dần dần tiền đồng ăn 2 tiền kẽm, rồi 3, rồi 6, cho đến đời vua Thành Thái, tiền Thành Thái Thông Bảo Thập Văn ăn ngang 10 tiền kẽm.
Thư pháp của tiền cổ Việt Nam.
Chữ viết trên tiền cổ Việt Nam đều là chữ Trung Quốc. Ðiều này cũng dễ hiểu vì chữ Quốc Ngữ chỉ được xử dụng từ cuối thế kỷ 19 đến nay. Mặc dù người Pháp đã thúc đẩy việc Quốc ngữ hóa các văn tự của chính quyền Ðông Dương, nhưng các vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn, từ Thành Thái đến Bảo Ðại, vẫn dùng chữ Trung Quốc trên đồng tiền. Tuy vậy, người sưu tập tiền cổ Việt Nam cũng không cần phải làu thông chữ Hán, mà chỉ cần nhớ độ 200 mặt chữ thì việc sưu tập không gặp nhiều trở ngại cho lắm.
Chữ Trung Quốc có nhiều cách viết. Nếu không kể đến các loại chữ cổ như Kim Văn từ trước thế kỷ 12 trước Công nguyên và Giáp Cốt Văn thuộc đầu nhà Thương, thì kế đến là loại chữ Ðại Triện. Loại chữ này được nhà Chu dùng trên công văn để thông tin với các chư hầu vào thế kỷ thứ 8 trước Công Nguyên. Tuy vậy, chữ Ðại Triện khá bất tiện vì nhiều từ ngữ có nhiều lối viết khác nhau, không thống nhất. Phải chờ đến năm 221 trước Công nguyên, khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc, Tể Tướng nhà Tần là Lý Tư sửa đổi chữ viết đại triện cho giản dị hơn, chế ra thứ chữ Tiểu Triện để thống nhất hóa chữ viết trên toàn cõi Trung Quốc.
Ðặc điểm của hai loại triện thư này đều có nét viết thanh, đều đặn nhưng cong lượn, uốn khúc. Qua thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên, vì mất nhiều thì giờ để viết những nét cong lượn của chữ triện, mà nhà Hán sửa đổi nét cong bằng những nét thẳng và góc cạnh và tạo ra lối viết mới, gọi là chữ Lệ. Rồi ngòi bút lông mềm được sáng chế, từ chữ Lệ, người Trung Quốc xử dụng 8 nét cơ bản như nét sổ dọc, ngang, chấm, móc . . để tạo ra loại chữ viết thông dụng ngày nay gọi là chữ Khải. Sau đó, còn có loại chữ Hành là loại chữ khi người viết cần viết nhanh hơn, và cuối cùng là chữ Thảo, thứ chữ khi thời gian trở nên một yếu tố tối quan trọng cho người viết.
Tiền cổ Việt Nam có khi được viết bằng Triện thư, khi bằng Khải thư, hoặc Hành thư, Thảo thư. Ðôi khi Khải thư và Triện thư, hoặc Khải thư và Thảo thư được phối hợp viết trên một đồng tiền (hình 6).
Phân loại tiền cổ Việt Nam.
Vấn đề phân thứ loại các mẫu tiền cổ là do các nhà sưu tập và nghiên cứu lập ra, sắp xếp tiền vào từng nhóm theo tiêu chuẩn phân loại để giúp ghi nhớ và khảo sát được dễ dàng và tiện lợi mà thôi. Tiền cổ Việt Nam được chia thành từng nhóm dựa vào các tiêu chuẩn khác nhau như sau:
- Kim loại : Ðược chia ra như tiền đồng, tiền kẽm, tiền chì, tiền bạc, tiền vàng. Tiền thiếc và tiền sắt được nhắc đến trong sử sách, nhưng đến nay vẫn không tìm thấy trong những di chỉ khảo cổ nào. Tiền đồng còn có hai loại tiền đồng nhỏ và tiền đồng to dùng trong các dịp vua ban thưởng.
- Chính thống : Các mẫu tiền do vua đúc được xem là tiền chính thống như các tiền Quang Trung Thông Bảo, Minh Mạng Thông Bảo . . Những mẫu tiền khác được xem là không chính thống, tùy theo vị thế của người đúc đối với lịch sử, mà tiền được xếp vào những loại khác nhau. Ví dụ tiền đúc bởi nhóm Mạc Thiên Tứ ở Hà Tiên vào thế kỷ 18 như Thái Bình Thông Bảo. Tiền đúc bởi những nhóm nổi loạn chống lại triều đình như Thiên Ứng Thông Bảo và Tuyên Hoà Hựu Bảo của cha con Trần Cảo thời Hậu Lê. Tiền do dân đúc được sử sách xác nhận như Thiên Minh Thông Bảo (13). Tiền không biết nguồn gốc từ đâu đã đúc, hoặc đặt tên như tiền Trung Quốc, hoặc dùng tên của các tiền chính thống, hoặc đặt một tên nào đó chưa hề có trong lịch sử, được xếp vào nhóm tiền không xác định, còn gọi là vô khảo phẩm.[/font]
[font=arial]- Phong cách của chữ viết : Cổ tiền gia người Nhật Miura Gosen đã phân loại những tiền Việt Nam thuộc nhóm không xác định ra làm 40 nhóm, dựa trên phong cách nét chữ viết của tên tiền trong quyển Thủ Loại Tiền Bộ, quyển 2 trong bộ sách An Nam Tuyền Phổ. (14)
- Ngoài ra còn có những nhóm tiền do một hoàn cảnh đặc biệt cũng đáng được lưu giữ trong bộ sưu tập tiền cổ Việt Nam như tiền Trường Kỳ do người Nhật mang vào Việt Nam vào thế kỷ 17 và 18. Hoặc thứ tiền mà người Trung Quốc thời nhà Thanh đúc lén ở xứ họ để mang vào Việt Nam kiếm lợi, tiền Càn Long An Nam đúc trong thời gian nhà Thanh xâm [/font][font=arial] chiếm Việt Nam. [/font]
[font=arial]Tiêu bản khác nhau của tiền cổ.
Khi hai mẫu tiền cổ trùng tên nhau, không có nghĩa rằng chúng giống nhau và người sưu tập thường xem xét kỹ để xác định tiêu bản. Lý do vì nguồn gốc mẫu tiền có thể khác nhau hoàn toàn, thời gian chúng được đúc cũng có thể cách nhau đến vài thế kỷ, hoặc ngay cả mục đích đúc tiền. Tiêu bản khác nhau có thể đưa đến trị giá đồng tiền khác nhau trên thị trường sưu tập hoặc giúp xác định niên đại của đồng tiền khác. Xác định tiêu bản của tiền cổ đòi hỏi nhiều kinh nghiệm và dầy công nghiên cứu từ người sưu tập.[/font]
[font=arial] Trước hết với những mẫu tiền trùng tên có kích thước, phong cách chữ đúc cũng như kim loại của tiền khá giống nhau, người sưu tập có thể xác định rằng tiền cùng một niên đại và từ một nguồn đúc. Tuy nhiên có thể có mẫu viết bằng chữ Triện, có mẫu viết chữ Thảo, hoặc chữ Khải và như thế mẫu nào hiếm thấy thì có giá trị cao hơn. Ví dụ trường hợp tiền Ðại Trị Thông bảo của vua Trần Dụ Tông (hình 7 ) , mẫu chữ Triện ít thấy nên có giá trị hơn các mẫu chữ Thảo và nhất là mẫu chữ Khải quá dễ tìm thấy. Hoặc có trường hợp hai mẫu tiền trùng tên và giống cả về phong cách và chữ viết, nhưng vẫn có một vài nét khác biệt nhỏ, thì mẫu nào ít thấy vẫn có giá trị hơn mẫu thường thấy. Ví dụ trường hợp tiền Diên Ninh Thông Bảo (hình 8 ), chữ Ninh ở vị trí 6 giờ có thêm một gạch ngang dài là loại hiếm thấy. Hoặc có trường hợp lưng tiền có chữ khác nhau, hoặc chữ ở vị trí khác nhau như trường hợp tiền Thái Bình Hưng Bảo của nhà Ðinh. Mặt lưng tiền thường có chữ Ðinh ở vị trí 12 giờ, nếu chữ Ðinh ở vị trí 6 giờ thì lại hiếm hơn và nếu hoàn toàn không có chữ Ðinh lại càng hiếm thấy (hình 1).[/font]
[font=arial] Ngoài ra nếu hai mẫu tiền trùng tên nhưng kim loại hoặc dạng tiền, phong cách chữ viết khác nhau thì rõ rệt là hai mẫu tiền có nguồn đúc khác nhau, thậm chí niên đại của mẫu tiền có khi khác nhau rất xa. Sự nhận định này có vẻ dễ dàng nhưng để xác định tiêu bản cũng như niên đại của mẫu tiền vẫn đòi hỏi kiến thức sâu rộng. Ngày xưa, Trung Quốc và Việt Nam không đòi hỏi dân chúng phải xử dụng tiền riêng của mỗi quốc gia. Ðồng tiền Trung Quốc được lưu hành rộng rãi trên đất Việt, cũng như tiền cổ Việt Nam được xử dụng trong việc mua bán ở các tỉnh biên giới của Trung Quốc, vì thế tiền cổ Trung Quốc tìm thấy rất nhiều trên đất Việt. Sự kiện hai đồng tiền trùng tên có rất nhiều lý do, hoặc niên hiệu của hai quốc gia trùng nhau như niên hiệu Thái Bình, hoặc dân gian đúc lén tiền thích chọn một niên hiệu đã có. Ví dụ những mẫu tiền Trị Bình sau đây trong phần phụ lục ( hình 9). Mẫu tiền Trị Bình Nguyên Bảo của Trung Quốc có một phong cách, thư pháp riêng biệt của Trung Quốc. Một mẫu Trị Bình Nguyên Bảo bằng đồng của vua Lý Cao Tông (1176 -1210) đúc có kích thước bề thế, dầy dặn, khá gần gũi với phong cách và thư pháp của đồng tiền Chính Bình Nguyên Bảo của vua Trần Thái Tông chỉ cách 15 năm sau đó. Và các mẫu Trị Bình Nguyên Bảo, Thánh Bảo khác với kim loại đồng hoặc kẽm nhỏ mỏng, chữ viết nguệch ngoạc trong khoảng trống chật hẹp của một ai đó đúc tiền với mục đích trục lợi. Trong những trường hợp này, mẫu tiền chính thống thì khá dễ xác nhận, cổ tiền gia Trung Quốc lại ghi chép thư mục về tiền tệ của họ khá rõ ràng. Nhưng những mẫu tiền xấu còn lại do ai đúc, vì sao đúc tiền vẫn chỉ là những giả thuyết ước đoán của nhà nghiên cứu tiền cổ cho hợp lý mà thôi.
Trị giá của tiền cổ Việt Nam.[/font]
[font=arial] Tiền cổ Việt Nam có mẫu rất giá trị vì hiếm, nhưng cũng có mẫu tiền khá thường thấy như tiền Minh Mạng Thông Bảo, Tự Ðức Thông Bảo của triều Nguyễn thì không đáng giá cho lắm. Do đó bộ sưu tập có giá trị là dựa vào những tiêu bản hiếm qúy, chứ không hẳn có vài chục ký lô tiền cổ là xem như người sưu tập nghiêm túc. Cũng không thể dựa vào niên đại trong lịch sử mà đánh giá một đồng tiền. Ví dụ, mẫu tiền Hồng Ðức Thông Bảo của vua Lê Thánh Tông từ năm 1460-1497 vẫn không giá trị bằng mẫu tiền Hàm Nghi Thông Bảo của Vua Hàm Nghi mới năm 1885 đây. Lý do vì tiền Hàm Nghi chưa kịp lưu hành, vả lại vua chỉ ở trên ngôi được sáu tháng thì Ngài đã phải chạy khỏi Kinh thành để hô hào phong trào Cần Vương chống Pháp, nên tiền Hàm Nghi khó tìm hơn tiền Hồng Ðức.[/font]
[font=arial] Giá trị đồng tiền cổ ra sao thật khó mà nói. Một đồng tiền cổ sẽ có trị giá cao, khi một nhà sưu tập cần đến nó. Do đó trị giá của đồng tiền cổ lệ thuộc phần lớn vào nhu cầu của mẫu tiền trên thị trường sưu tập, đôi khi trị giá cao thấp khác nhau rất nhiều. Tuy nhiên một vài tác giả viết sách về tiền cổ và đính kèm bậc thang trị giá của đồng tiền vào thời điểm của tác giả đang viết. Như đã nói trên về vấn đề nhu cầu, trị giá trong sách không hẳn là trị giá tiêu chuẩn nhưng khá giúp ích cho người sưu tập có một khái niệm tổng quát để quyết định trong việc trao đổi. Ba quyển sách của các tác giả Nhật là quyển Cổ Tiền Giá Cách Họa Phổ của Ogawa Hiroshi, quyển Ðông Á Tiền Chí của Orudaira Masashiro và quyển An Nam Tuyền Phổ của Miura Gosen đều cung cấp bực thang đo lường về sự qúy giá của đồng tiền, kể hạng từ 10 đến 1, rồi đến hạng trân (qúy).
Sách về tiền cổ Việt Nam.[/font]
[font=arial]Ở đây tác giả không có ý định trình bày một thư mục về tiền cổ Việt Nam, mà chỉ giới thiệu những quyển sách có giá trị với những dữ kiện tin cẩn. Ðời xưa hay đời nay, sách đôi khi có những dữ kiện sai lạc nếu người viết không tham khảo kỹ lưỡng. Vấn đề tiền cổ lại mang một tính chất đặc biệt, vì những khám phá mới từ những di chỉ khảo cổ sẽ có thể đảo lộn một quan niệm đúng từ ngàn xưa.[/font]
[font=arial]Sau đây là những sách tham khảo về tiền cổ Việt Nam mà tác giả thường dùng.
- An Nam Tuyền Phổ của Miura Gosen. Quyển này gồm có 3 thiên sách, thiên đầu là Thủ Loại Tiền Bộ (Rekidaisen nobu) chuyên về các loại tiền vô khảo phẩm. Thiên thứ hai là Lịch Ðại Tiền Bộ (Teruisen nobu) chuyên về tiền cổ chính thống. Thiên thứ ba là Ðại Tiền Ngân Tiền Bộ (Daisen ginsen nobu) chuyên về đại đồng tiền, kim tiền và ngân tiền, cả tiền thoi lẫn tiền tròn.
- Annam études numismatiques của Albert Schroeder.
- Cổ tiền đại tự điển của Ðinh phúc Bảo.
- Ðông Á Tiền Chí của Orudaira Masashiro
- Tiền cổ Việt Nam của Ðỗ Văn Ninh.
THƯ MUC
(1) Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập 1, trang 145, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà NộI 1993.
(2) Sử Ký của Tư Mã Thiên, Phan Ngọc dịch, trang 37, nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội 1999.
(3) Bài Tiền Trường Kỳ với sự giao thương Nhật Việt dưới thời Trịnh Nguyễn của Lục Ðức Thuận.
(4) Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú, chương Quốc Dụng Chí, tập 3, trang 65 .
(5) Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, Bộ Giáo Dục Sài Gòn 1971, trang 313.
(6) Tạ Chí Ðại Trường, Những bài Dã Sử Việt, tr.292.
(7) Ðại Nam Hội Ðiển Sử Lệ, Quốc Sử quán triều Nguyễn, nhà xuất bản Thuận Hóa, 1993. Tập 5, trang 30.
(8) Lacroix Desire. Annamite Numismatiques, Saigon 1900, trang. 26, tiểu chú 1.
(9) Tư liệu của anh Lê Hoàn Hưng, Nha Trang, Việt Nam.
(10) Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập 3, trang 111, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1993.
(11) Bài Ðơn vị, Trọng lượng và Kim loại của tiền đồng và tiền kẽm Việt Nam của Lục Ðức Thuận. Tập san Thế kỷ 21,
Số 137 tháng 9/2000, California.
(12) Vân Ðài Loại Ngữ của Lê qúy Ðôn, nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin, 1995, tập 3, trang 137.
(13) Phủ Biên Tạp Lục của Lê Qúy Ðôn, Phủ Quốc Vụ Khanh, Sài Gòn 1972, Tập 2, quyển 4, trang 48.
(14) An Nam Tuyền Phổ của Miura Gosen, Nhật Bản 1965, tập Thủ Loại Tiền Bộ, phần mục lục
http://www.vietantique.com/coins/main.htm
[/font]