<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-05-22 07:09:41canary>
Bí Mật Dầu Lửa
Tiểu thuyết mạo hiểm
(một gương kiên nhẫn và hy sinh)
by Robert Gaillard,
dịch bởi Nguyễn Hiến Lê
Phần I
Chương I
Thánh Dược
Dược sư Peter Kier không phải như vô số ông lang băm hồi đó ở Mỹ, trộn đại vài vị thuốc không công phạt gì hết rồi nói rằng thuốc trị được bá chứng mà làm giàu một cách mau chóng.
Không, "thánh dược" của ông, ông phải đích thân đi kiếm năm 1858 ở dãy núi Alleghanis. Ông phải chịu ngàn nỗi nguy hiểm, trốn tránh dân da đỏ Delawares, chống cự với những thú dữ đói khát; nhưng sau, chính Pontiac, vị chúa da đỏ đã ân cần tiếp đón ông và để tỏ tình thân thiện, lại tặng ông một chiếc khăn choàng thêu, một đôi giày da hoẵng (loài hưu con) và cho một bọn hộ tống ông chở vị thuốc đó về Pittsburgh nữa.
Các thân chủ của ông bấy giờ khát khao vị thuốc ấy lắm. Cho nên suốt ngày khách mua nườm nượp trước cửa tiệm nhỏ của ông trong đó ông bán đủ thứ: thuốc uông, đồ chơi, thức ăn. Chưa bao giờ ông buôn bán được phồn thịnh như vậy. Tại phía sau, Sam Smith, một thanh niên giúp việc ông ở Venango cùng về với ông, túi bụi đổ thuốc vào những ve 10 phân lít một.
Chất dầu đen và nặng làm nhờn tay chàng và cái mùi băng phiến của nó làm cho chàng chóng mặt như say rượu, nhưng chàng không sao ngừng tay được vì làm không kịp, người mua đông quá.
Mỗi ve nhỏ bán 2 xu mà thùng đựng tiền của ông Kier đầy nhóc bạc cắc.
Từ mấy ngày nay ông khỏi phải hết hơi khoe như hồi đầu những tánh chất của vị thần dược của người da đỏ đó nữa. Nhiều người đã thấy nó linh nghiệm rồi, khỏi cần phải quảng cáo. Vả lại ông khôn khéo, cho in những tờ báo bạch rồi thuê tụi nghèo đói rách rưới đi phát cùng đường ở châu thành Pittsburgh.
Trong tờ cáo bạch ông tuyên bố: "Bà con có đau bệnh gì, cứ dùng thuốc của tôi thì sẽ mạnh. Dầu của tôi đã nổi danh là trị được bệnh đui, bệnh điếc, bệnh tê liệt. Muốn biết nó thần hiệu ra sao, xin bà con cứ hỏi các người cùi, đau gan, đau mật, hoặc bị chứng phong thấp, bị bệnh thần kinh."
Ở dưới lại in lời cảm tạ của những thân chủ: ông Hawkes ở Boston đau tim chỉ uống 3 ve mà khỏi, bà Childreek ở Savannah dùng thuốc có 3 ngày mà hết tàn nhang ở mặt. Sau cùng một người hói muốn giấu tên, chỉ bôi có nửa tháng mà tóc mọc lên rậm, mềm và tơ hơn hồi trước nhiều.
Đã 6 giờ chiều mà khách hàng còn chen chúc đợi ở trước. Ông Kier bảo họ hôm sau trở lại vì ông sắp đóng cửa tiệm. Rồi ông vào phía sau nói lớn tiếng:
- Sam! thôi nghỉ. Rửa tay đi và có muốn đi chơi thì đi. Nhưng ngày mai rán tới sớm nhé.
Sam đáp: Dạ.
Vài phút sau chàng đóng cửa tiệm, rồi đi dạo trên đại lộ, trong lòng dương dương tự đắc và tràn trề hy vọng vì tự nghĩ mới 17 tuổi đầu được tự do mà mỗi tháng lại để dành được ba mỹ kim lận.
Chàng rảo bước, đút tay túi quần, vừa đi vừa huýt gió và xóc những đồng tiền vàng cho nó kêu keng keng. Vì những đồng tiền ấy mà đêm nào chàng cũng mộng thấy của cải và hạnh phúc.
Thật chàng đã khó khăn mới xin phép được cha để theo ông Kier. Cô em họ xa của chàng, nàng Marjorie King cũng khóc lóc khi chàng lên đường. Chính chàng đã rán lắm mới giữ được khỏi thổn thức, vì chàng không ưa thành thị, chàng thích căn nhà có cha già ở Titusville, thích hồ Erie đầy cá và khu rừng rộng đầy con mồi. Nhưng chàng có tham vọng và chỉ muốn làm giàu. Muốn vậy chỉ có cách là ra thành thị. Chàng tự nhủ: "Ba mỹ kim bắt đầu lên rồi đây. Khi mình về cô ả Marjorie chắc ngạc nhiên lắm, hồi đó nghi ngờ về tương lai của mình và khuyên mình an phận ở nhà theo nề nếp tổ tiên."
Chàng đương khoan khoái nghĩ tới những chiếc bánh tráng bột bắp rất ngon của cô Marjoire, tới thứ rượu bia ba chàng chế và thứ thuốc hút mà ông tẩm rượu và mật thì bỗng thấy có ai chạm vào vai mình. Chàng quay lại. Một người trạc tứ tuần đương ngắm chàng, thân hình cao thẳng và mạnh như cây bá hương đỏ.
Trên gương mặt cương quyết của con người ấy có một thẹo dài nằm ngang má từ tai bên trái tới miệng.
Người đó hỏi:
- Có phải anh làm cho dược sư Kier không?
Sam đáp:
- Phải.
- Và chính anh giúp ông ta bán thuốc?
Sam gật đầu một lần nữa.
- Tôi là đại tá Edwin Drake. Anh còn trẻ, không nhớ được cuộc chiến tranh với Mễ Tây Cơ cho nên anh chưa biết thôi. Không sao, anh đi lại tiệm ăn với tôi, tôi có chuyện muốn nói với anh.
Rồi đại tá nắm tay Sam, dắt lại một quán ồn ào, rất đông khách.
Trong góc quán có một lò lớn để quay gà, vịt và heo sữa. Các công tử và các ông hội đồng thường lại đó uống rượu "rom" trước bữa ăn và sau bữa còn nốc thêm mấy ve bia nữa.
Đại tá Drake bảo Sam ngồi xuống và hỏi:
- Anh có biết dược sư Kier kiếm thứ dầu mà ông khoe là trị được bá chứng ấy ở đâu không?
Sam hơi ngạc nhiên và lấy làm tự đắc được ngồi trong một quán sang trọng, bên cạnh một vị đại tá anh hùng.
Chàng đáp:
- Biết chứ! Ở tại xứ tôi mà! Ở Titusville, gần hồ Erie, trên Suối Dầu và trên mặt hồ.
- Anh biết miền đó không?
- Thưa ông, biết rõ lắm. Tôi sanh tại Venango rồi qua ở Titusville. Tôi đã thấy tất cả các bộ lạc da đỏ từ Michilimakinak tới Ohio. Tôi biết nói các thổ ngữ Sioux, Mandangua, Cherakee, Delaware. Tất cả tụi đó đều là bạn thân của tôi.
- Được lắm. Thôi chúng ta uống rượu đi rồi ăn. Ông Kier trả công anh bao nhiêu?
- Thưa mỗi ngày năm cắc nhưng tôi chắc chắn rằng khi bán hét dầu, ông chủ tôi sẽ dắt tôi theo để đi lấy dầu với ông và lúc đó tôi sẽ được thưởng mười đồng nữa.
Đại tá mỉm cười:
- Ông Kier rộng rãi thật.
- Dạ! Vì tuy khỏi Alleghany, đường có nguy hiểm và khó nhọc thật, nhưng lấy dầu thì không gì dễ bằng. Nó ở ngay trên mặt hồ hoặc suối. Chỉ việc cúi xuống múc từng thùng một! Tụi da đỏ không phản kháng chi hết, chúng biết rằng ông Kier có múc hoài cũng không khi nào hết mà sợ.
- Và anh tin rằng dầu ấy linh nghiệm ư?
Sam nhún vai:
- Tôi thú thật với ông, không bao giờ nghĩ tới điều ấy hết. Tụi da đỏ dùng nó làm thuốc. Tôi nghĩ chỉ những thầy mo của bọn họ mới biết cách chế thứ thuốc ấy thôi. Ông Kier thì múc dầu về rồi bán liền, không chế gì hết. Nếu nó không trị được bệnh thì cũng vô hại.
Đại tá uống một hơi hết ly rượu, kêu một ly khác rồi nhìn thẳng vào mặt người thanh niên bảo:
- Anh Sam nè, tôi thẳng thắn đề nghị với anh như vầy: tôi trả anh mỗi ngày một đồng để dắt tôi lại suối dầu và nếu mọi sự xong xuôi, tôi sẽ thưởng anh hai chục đồng.
Chàng mừng quá, mãi mới ấp a ấp úng được:
- Ông nói thật chứ?
- Thật! Nếu anh bằng lòng thì khoảng tám ngày nữa chúng ta khởi hành. Tôi cho anh hay trước tôi sẽ có ba chiếc xe, mười con la cái, một số lớn dụng cụ và đủ khí giới tốt để cho tụi chó chết da đỏ không dám ngó ngóc bén mảng tới đoàn xe của ta.
Đại tá thường có giọng thô lỗ ấy của các quân nhân, Sam nói:
- Ông muốn cạnh tranh với ông Kier. Nếu tôi gúp ông thì bất nghĩa với ông chủ của tôi, ông ấy tốt với tôi lắm.
Đại tá cười rộ:
- Quỉ thần ơi! Ông chủ anh là một đứa con nít. Thứ dầu ấy mà chỉ dùng để chữa bệnh tê bại và bệnh câm thôi ư? Không biết dùng nó vào việc khác thì là đồ tồi. Này em, tôi thề với em rằng hai chúng ta có thể làm xáo trộng cả thế giới. Em có quả quyết theo tôi không?
Sam như bị lòng nhiệt huyết và giọng cương nghị của đại tá thôi miên, nhìn ông một lúc, mắt long lanh ngưỡng mộ rồi hăng hái đáp:
- Dạ có!
Ông Drake chìa bàn tay hộ pháp ra:
- Đập vào đây. Thỏa thuận chứ? Thôi, ăn đi và hẹn tám ngày nữa sẽ gặp nhau.
***
Suốt một tuần lễ, Sam mơ tưởng tới vàng. Chàng tưởng tượng cảnh giàu có. Nhưng nào chỉ có bấy nhiêu? Chàng sẽ còn làm xáo trộn cả thế giới kia! Tên chàng, bằng chữ vàng, sẽ chói lọi trên cẩm thạch như tên các vị danh nhân như Washington, như thị trưởng Bucchanan!
Chàng đã xin ông Kier cho chàng thôi việc, nói rằng xa ông chàng buồn lắm, nhưng một vận may vô cùng đã tới và chàng phải đi để lập một sự nghiệp lớn lao hơn.
Dược sư cho rằng chàng hơi khùng và kiếm được ngay người khác để thay. Ở Pittsburgh có cả trăm thanh niên đương thèm thuồng chỗ đó.
Sau cùng, ngày quan trọng đã tới. Từ hừng sáng, Sam lại chợ Pittsburgh đã thấy đại tá Drake với xe cộ, la cái và hai người đồng hành nữa: Jack Hoggan và George Kent, cả hai đều mạnh mẽ, da mặt rám nắng, chai như da nai. Coi điệu bộ của họ cũng biết ngay họ đã lưu lạc giang hồn, đã cả ngàn lần thoát chết trong những cánh đồng cỏ mênh mông hoặc những khu rừng xanh thăm thẳm.
Những kẻ qua đường thấy họ, không ngạc nhiên chút chi hết, vì thời đó thường có những người khẩn hoang bỏ thành thị, mạo hiểm dấn thân vào những miền xa lạ để làm giàu hoặc chôn xương nơi đất khách.
Sam vừa leo lên một chiếc xe do đại tá đánh thì cả đoàn lữ hành lên đường ngay.
Chương II
Qua đèo qua suối
Lần trước gặp đại tá, Sam chưa có dịp nhận xét được ông kỹ. Lần này ngồi trên xe, bên cạnh ông, chàng thấy ông xấu xí nhất đời: mũi vừa dài vừa to, môi thì dày, nhất là vết thẹo lớn ở má bên trái mới tai hại. Nhưng đi được một quảng, tới chỗ ngừng thứ nhất, cảm tưởng đó tiêu tan mất và chàng chỉ còn nhận thấy ông tràn trề nghị lực về thể chất cũng như về tinh thần. Ông luôn luôn hoạt động, coi sóc đoàn xe, ra lệnh cho người này người khác một cách ngọt ngào, thân mật và không một giây nào là ông không chăm chú dò xét cảnh vật ở chung quanh hoặc nét mặt những người đồng hành. Người chiến sĩ già ấy thử sức bền bĩ của họ, nhưng ông có thể yên tâm vì họ đều là hạng lực sĩ cả.
Một điều làm cho Sam rất ngạc nhiên là đại tá chở theo một số khí cụ vĩ đại. Anh tự nghĩ có muốn làm xáo trộn cả thế giới như đại tá nói thì mang theo vài đồ dùng cũng đủ, hà tất phải chở theo cả đống sắt ấy. Nào là những ống dài vô kể, những ròng rọc, trục kéo, cán quay... các thứ ấy chỉ làm cho hành trình thêm khó khăn vì đường mòn đã khó đi mà lại phải qua đèo, qua đầm, muôn phần nguy hiểm nữa! Mấy trăm chiếc thùng sắt kia chất trên một cỗ xe thì còn được đi, nhưng còn những thứ khí cụ khác ích lợi gì đâu?
Tuy chàng bẩm sinh rất dè dặt, nhưng khi tới chỗ cắm trại thứ nhất, chàng không thể giữ kín nỗi lòng được nữa mà phải hỏi:
- Thưa đại tá, tôi không dám khuyên ông, nhưng ngay từ ngày mai, chúng ta tới một miền rất hoang vu mà có lẽ chưa có một người da trắng nào đặt chân đến hết. Không có đường cái mà có lẽ cũng không có đường mòn xe đi được nữa. Những đồ sắt vô ích này sẽ làm cho hành trình chúng ta khó khăn lắm. Với lại qua sông, qua đầm, nó sẽ sét mất.
Ông Drake đáp giọng hơi gay gắt:
- Này em, tôi không quí gì bằng những đồ sắt ấy và những ý nghĩ trong đầu tôi. Tài sản của tôi đó. Em không muốn tôi bỏ cả tài sản của tôi chứ?
Sam nghĩ tới tiền công một đồng một ngày mà lo lắng. Tài sản của ông ấy chỉ có đống sắt bỏ đi đấy thôi ư? Vậy ông tính trả công mình bằng thứ ấy sao?
Nhưng mệt quá, chàng ngủ li bì và sáng hôm sau đoàn lữ hành lại tiếp tục đi tới Alleghany.
Từ đây là bắt đầu cảnh thiên nhiên hùng vĩ. Toàn là đá, núi như có ai đục, cạnh thật sắc bén. Miền ấy có hỏa sơn, đất vài chỗ nứt ra sâu hõm xuống thành đường dài hàng trăm thước xe đi lọc cọc lắc lư thật khó khăn.
Trước cảnh hùng vĩ ấy, loài người thấy mình rất nhỏ bé.
Mặt trời ở trên đỉnh đầu chang chang chiếu xuống; đoàn xe tiến rất chậm vì la đã mệt mỏi, thỉnh thoảng người phải xuống xe, đẩy tiếp mới qua được những khúc đường gồ ghề.
Không thấy một bóng người. Toàn là chim, phần nhiều là những mãnh cầm như loài thần ưng, loài đại bàng trắng chỉ ở trên những ngọn núi cao chót vót, không ai tới được. Không khí vang động tiếng chim kêu.
Đã quen sống trong miền ấy từ thuở nhỏ, Sam thuộc đường lắm và bẩm sinh chàng có cái giác quan về phương hướng cũng như những người sống giữa cảnh thiên nhiên trong rừng sâu núi cả. Ông Drake để chàng dẫn dường và đôi khi chàng có cảm tưởng rằng chính chàng làm chủ đoàn lữ hành.
Họ đi như vậy hai ngày, ăn những thực phẩm dự trữ mà đại tá đã mua ở Pittsburgh. Nhưng ông nghĩ phải đề phòng sự bất trắc, nhất là trong những cuộc hành trình đầy nguy hiểm như vậy, cho nên ông quyết định rằng khi nào tới miền rừng thì phải săn bắn mà ăn, không được động tới những thực phẩm mang theo.
Ông phân phát khí giới: mỗi người được một khẩu súng sáu và một cây súng trường kiểu mới nhất dùng trong quân đội.
Ông chỉ cách dùng những khí giới đó cho ba người xúm ở chung quanh rồi kết luận:
- Có các súng này, anh em không còn sợ gì nữa; cách năm trăm thước thì phải bách phát bách trúng.
Họ đã định ra khỏi đường sâu hõm thì cắm trại. Phải đốt nhiều lửa cho bớt lạnh và cũng để cho các thú dữ tò mò không dám tới gần. Vậy ai nấy tới chỗ ngừng đều đi kiếm củi khô ngay. Trong khi Sam đương lượm củi, chàng nghe có tiếng đại tá gọi. Chàng chạy lại, thấy đại tá đương cúi xuống đất:
- Anh Sam, lại đây coi đống tro này.
Sam cúi xuống, thục tay vô đống bụi xám rồi thưa:
- Có ai đã cắm trại ở đây rồi. Không phải mới hồi hôm, nhưng cách đây cũng chưa trên hai ngày vì tro đã lạnh nhưng chưa bị gió thổi tản mát đi.
Đại tá đứng thẳng lên, vẻ lo âu, hỏi:
- Tụi nào cắm trại vậy?
- Chắc chắn tụi da đỏ rồi. Người da trắng không cần lựa củi khô, họ đốt cả những cành tươi thành ra khói bốc lên mù mịt, ở xa thấy được. Tụi da đỏ chỉ đốt củi khô, cho không có một sợi khói nào bay lên hết và như vậy ở xa không ai biết rằng có họ.
Đại tá ngắt lời:
- Tôi biết. Nhưng lành hay dữ?
Sam nhún vai:
- Chúng ta ở trong khu vực của bộ lạc Delaware, nhưng có lẽ là tụi mọi Cherakee đi kiếm miền có nhiều mồi để săn bắn rồi ngừng tại đây. Chúng có thể tưởng lầm rằng mình đuổi theo chúng để tranh mồi với chúng. Cho nên phải đề phòng chúng tấn công mình.
- Vậy phải cho hai bạn kia hay và đề phòng ngay đi.
Họ lựa củi rất kỹ, chỉ đốt những cành thiệt khô và định thay phiên nhau canh gác. Hoggan và Kent canh trước.
Khi lửa cháy rồi, họ ăn qua loa rồi quấn mền sửa soạn ngủ.
Chương III
Săn bắn
Đêm ấy không xảy ra chuyện gì hết.
Mới bình minh, đoàn lữ hành lại tiếp tục đi về phía rừng. Miền này khó qua hơn miền núi vì dây leo chằng chịt và không có đường mòn.
Nhưng mới đầu xe đi hơi nhanh vì mặt trời chưa nóng, la còn khoẻ. Vả lại đường hơi phẳng, trống; nhờ có nhiều đá, cây cối còn thưa.
Khi mặt trời lên đến gần đỉnh đầu, họ bắt đầu tới khu rừng hoang. Một dòng suối đổ xuống như thác, trắng xóa rồi uốn khúc chảy ở gần đó, tiếng ào ào văng vẳng đưa lại.
Đại tá ra lệnh:
- Ngừng tại đây. Hoggan và Kent đi câu còn Sam và tôi đi săn.
Mới đi sâu vào rừng, hai thầy trò có cảm giác như chìm vào một cõi tịch mịch phi thường. Nhưng nếu chú ý nghe thì thấy trong sự tĩnh mịch ấy có vô số tiếng động nho nhỏ gần như nhận không được và bị cây cối sầm uất ở chung quanh làm nghẹt tắt đi.
Hàng trăm sinh vật nhỏ lanh lẹ đương rình họ. Những con sóc ở trên cây bách bạo dạn nhẩy từ cành này qua cành khác hoặc vội vàng chạy qua một khoảng rừng trống. Những con ưng đây đó lượn vòng tròn ở trên không. Nghe tiếng vỗ cánh, tiếng chíp chíp nhè nhẹ, tiếng sột soạt trên lá khô, ta đoán được rằng có những loài cầm thú nhỏ bé, rụt rè, mắt long lanh sợ sệt đương nhìn theo hai người đi săn.
Họ chỉ kiếm mồi lớn thôi. Họ đã đi một giờ trên mặt đất mùn êm như nhung, nhưng đầy cành khô dòn răng rắc, mà không kiếm được con mồi nào hết. Mệt quá, đại tá ngồi phịch xuống một thân cây đổ trên mặt đất, đặt súng trên đùi rồi chấm mồ hôi trên trán.
Ông nói giọng mỉa mai:
- Tên da đỏ nào muốn kiếm mồi ở đây sẽ thất vọng tới bực nào! Không chịu săn hoạ mi và sơn ca thì đành chết đối.
Không thấy Sam đáp, ông quay lại thì ra ông đã nói một mình. Sam không có ở đó. Ông đứng dậy tính kêu chàng thì có một tiếng súng nổ vang ở trong rừng, kế sau có cả ngàn tiếng sột soạt của các con thú vật cuồng loạn chạy trốn trong bụi hoặc trên cành.
Đại tá gọi:
- Sam! Kiếm được gì không?
Một tiéng ở xa vọng lại:
- Dạ.
Một chút sau ông thấy chàng đi lại, vác một con nai dính máu và môi hếch lên trong lúc hấp hối. Nhưng chàng liệng con vật xuống đất rồi nhẩy vội vào trong bụi. Đại tá thấy vậy ngạc nhiên quá, tự nghĩ chắc Sam đã thấy một con mồi khác, rồi ông yên lặng ngắm nghía con nai.
Vài phút sau, chàng thanh niên trở lại, vẻ mặt ưu tư phiền muộn hiện rõ trên mặt.
Ông Drake nhận thấy, hỏi:
- Thấy cái gì không?
- Có. Và tôi tự hỏi không biết có nên bắn phát súng đó không?
- Nhưng có cái gì mà anh lo lắng vậy?
- Thưa đại tá, lúc nãy, khi tôi trở về đây hình như tôi nghe thấy tiếng mái chèo vỗ trên nước. Tiếng đó đặc biệt lắm. Cho nên tôi liệng con nai rồi nhảy vội vô bụi. Tôi đã không lầm. Vì khúc sông ở ngoài kia chảy vô gần đây và tôi thấy trên dòng nước một chiếc thuyền độc mộc của tụi mọi... và tất nhiên là trong thuyền có một tên mọi!
Đại ta cũng đâm lo, hỏi:
- Bộ lạc nào vậy? Thù hay bạn?
- Tôi không biết nó thuộc bộ lạc nào nhưng tôi biết chắc rằng hình sơn trên mình nó là hình của bộ lạc Cherakee. Trong những khu rừng này, khó mà gặp được bạn lắm. Nói chung thì tụi da đỏ luôn luôn là kẻ thù của người da trắng.
- Vậy mà tôi cứ tưởng anh thân với chúng.
- Dạ thân. Nhưng trong bọn chúng mình chỉ có tôi thân với chúng thôi, vả lại tôi không thân hết thảy tụi nó.
Chàng vác con nai rồi lẳng lặng đi về. Tới chỗ cắm trại thì hai người kia đang làm thức ăn. Họ câu chỉ trong một lát mà được rất nhiều cá.
Kent làm cá rồi xiên để nướng còn Hoggan thì kiếm củi với đại tá để đốt.
Sam liệng con nai xuống rồi cùng đi kiếm củi với đại tá. Canh đã sôi, những con cá nhỏ như lá liễu, vàng ánh bốc hơi lên ngào ngạt, làm cho phát thèm.
Bốn người ngồi đối diện nhau cùng ăn và đại tá bắt đầu cho Hoggan và Kent hay chuyện Sam đã thấy tên mọi da đỏ rồi ông kết luận:
- Tôi nghĩ chúng mình đã bị họ rình rồi, tên da đỏ sẽ theo dõi chúng ta. Nó sẽ báo tin cho tụi nó hay. Ngay bây giờ thì chắc chắn là không có chi phải lo hết. Khi nào chúng mình vô tình làm điều gì phật ý chúng thì lúc đó mới nguy hiểm. Chẳng hạn nếu chúng thấy ta ở lâu trên đất này, nguy hại cho chúng, thì tất chúng sẽ không để yên cho ta đâu.
- Còn như nếu chúng ta săn mồi của chúng?
- Chúng biết điều lắm, hiểu rằng chúng ta phải săn mồi để có thức ăn. Nhưng cũng đừng nên phá phách một cách vô ích.
Bữa đó kém vui. Ăn xong, bọn lữ hành lại tiếp tục đi mãi tới sẩm tối, ai nấy đều mệt lả, mới ngừng lại. Cả buổi họ phải dùng gươm đốn cây, chặt dây leo để mở đường, thành thử mất nhiều thì giờ và rất khó nhọc.
Tới chỗ ngừng, Sam cầm rìu phá một khoảng đất hơi rộng để cắm trại, rồi đi kiếm củi khô. Khu đất cây, cành cây bao phủ ở trên đầu, khít như một cửa tò vò và trời mới chiều mà trong đó đã tối như đêm dày, Sam kiếm được một cây khô, lấy tay đẩy và chân đạp, cây gục xuống liền. Ở chỗ gãy vỏ cây banh ra ruột cây đã mục, thành bụi khô như bùi nhùi và bắt lửa nhậy gần bằng thuốc súng. Chàng bốc một nắm, đem về trại đánh một hòn đá lửa và nhóm bếp.
Vỏ cây đó cháy lên, Hoggan nướng một miếng thịt nai lớn.
Họ ăn vội rồi quấn mền ngủ. Lúc đó đương mùa nắng họ khỏi phải dựng trại. Họ phủ càng tươi lên trên cho ngọn lửa cháy âm ỉ vì ban đêm khói có bốc lên cũng không sợ ai thấy, vả lại khói không sao lên khỏi cái tàn lá ở trên đầu họ được.
Hoggan, Kent và đại tá ngủ li bì, Sam quen với cảnh rừng và đồng cỏ, cho nên thức để canh. Được một lúc, chàng thấy thú vật hiện ở chung quanh trại. Chúng tò mò ngón ngọn lửa, mắt sáng như than hồng. Một con cú vọ đậu trên một cây gần đó, buông tiếng kêu thê thảm.
Rừng đầy những sức huyền bí, hư ảo. Như có hàng ngàn vật lạ, đương hăm doạ bọn người da trắng.
Sam chăm chú ngó. Chàng khoan thai nhồi một cối thuốc lấy bùi nhùi châm rồi bình tĩnh hút. Chàng tự hỏi đại tá muốn bắt chàng làm gì đây. Chàng không quen máy móc. Những khí cụ bằng sắt vô ích và cồng kềnh kia làm cho chàng lo lắng. Mặc! Sau này sẽ biết. Chỉ ít bữa nữa thôi, không phải đợi lâu đâu. Chàng nghĩ sắp được gặp Majorie và thấy lòng rung động nhẹ nhàng, êm ái hơn là khi chàng nhớ lại vẻ mặt cứng cỏi nhưng thẳng thắn làm sao, hiền từ làm sao của ông thân chàng.
Một bầy chó sói tới, chúng ngồi xổm, nhìn ba người ngủ và một người thức. Chúng no mập và hiền, có vẻ như những con chó tốt, lông cứng. Sam đứng dậy, liệng vài cành vô đống lửa, rồi trở về chỗ, quấn mình trong mền.
Chàng có cảm tưởng không có chi xảy ra hết và chàng thiu thiu rồi ngủ luôn như mấy người kia.
Chàng tỉnh dậy trước hết. Ánh sáng mặt trời chiếu qua vòm lá cao và rậm của khu rừng mờ mờ. Lửa vừa tàn.
Sam nhận thấy rằng đàn chó sói vẫn không nhúc nhích.
Chương IV
Thổ dân và beo
Ròng rã hai ngày nữa, tới một miền đất cứng, rừng thưa, đoàn lữ hành tiến mau hơn được.
Đại tá nói:
- Tôi có cảm tưởng rằng chúng ta gần tới nơi.
Sam đáp:
- Thưa phải. Cầu trời phù hộ, không gặp điều gì cản trở hết.
Đoàn xe càng đi vô sâu, chàng thanh niên đó càng cảm thấy có cái gì không yên. Những người sống lâu trong rừng thường có linh cảm ấy, giác quan thứ sáu kỳ dị ấy.
Bốn người lữ hành không biết gì về tên mọi hết, cũng không thấy một ngọn lửa nào, một dấu vết cắm trại nào, một bóng người nào cả. Nhưng Sam mơ hồ cảm thấy, đoán được rằng ở chung quanh có kẻ nào đương lẩn núp rình mò. Cảnh rừng như mất sự điều hòa. Chàng khó chịu về điều ấy, cho nên thỉnh thoảng chàng thình lình nhảy từ trên xe xuống, ngừng lại, quạu quọ, cánh mũi phồng phồng như một con thú đánh hơi thấy sự nguy hiểm.
Ba người kia thản nhiên, tâm hồn không rối loạn kỳ dị như Sam. Họ có thấy gì đáng lo đâu?
Nhưng một tai nạn sắp xảy tới.
Từ buổi sáng họ theo bờ một dòng sông có thác mà loài cá hương ưa ở. Hoggan tiếc rằng đại tá không cho ngừng lại một chút để câu, chắc chắn là được nhiều cá lắm. Nắng mỗi lúc một gắt. Mấy con la đã mệt nhoài. Ông Drake mồ hôi đầm đìa, phải cho ngừng sớm để nghỉ ngơi, ăn uống.
Họ xuống xe và như thường lệ, ai nấy đi kiếm củi. Sam vẫn có cảm giác bất an đó, nhưng chàng không cho ai hay cả. Chàng rán xua đuổi cảm giác ấy đi, nhưng nó vẫn trở lại. Chàng đương đi sâu vào phía trong, bỗng nghe có tiếng lá sột soạt ở bên rồi một vật gì rớt đánh bịch xuống đất. Chàng tháo cây súng đeo ở vai - chiếc súng ấy không bao giờ rời chàng từ khi chàng thấy tên mọi - và đứng rình một lúc.
Có cái gì xảy ra thật. Tai chàng quen nghe các tiếng động nhỏ, thấy rõ có một sinh vật gì đương đi trên lớp đất mền trong rừng. Chàng đoán không phải tiếng người mà là một con thú vào loại beo đương bước chầm chậm và đều đều.
Rừng rậm quá, chàng không ngó xa được, đứng yên một chỗ, quay đi quay lại ngó chung quanh.
Thấy yên lặng một hồi lâu, chàng vê chỗ nghỉ. Ba người kia, đợi lâu quá không thấy chàng về lấy làm lạ và ăn trước. Sam ăn vội vàng, thỉnh thoảng lại nghe ngóng tiếng động ở trong rừng. Nhưng cảnh vật hoàn toàn tĩnh mịch.
Đại tá hỏi Sam:
- Anh có vẻ lo lắng, có gì vậy?
Chàng đáp:
- Tôi lo lắng thật. Tôi không hiểu vì sao. Có lẽ tôi lầm. Không có gì xác nhận điều tôi lo hết.
Bốn người hút thuốc rồi sửa soạn lên xe. Nhưng khi ông Drake đương buộc la vào xe thì có tiếng kêu như xé không gian.
Sam, súng sẵn trong tay, chạy về phía tiếng kêu. Ba người kia chậm chạp hơn, chạy theo và khi kịp thì Sam đã bắn một phát súng rồi. Trông cảnh tượng ở trước mắt, họ hiểu liền. Một tên da đỏ nằm lăn trên mặt đất, bên cạnh một con beo lớn lông vấy máu, đương giẫy giụa hấp hối.
Sam giảng:
- Con ác thú ấy vồ tên mọi, nhưng tôi tới kịp.
Ôn Drake lăng xăng ở chung quanh tên da đỏ bị beo vồ ở cánh tay: vết thương rộng và sâu, máu chảy như suối. Tên da đỏ vẫn tỉnh không tỏ vẻ sợ sệt gì hết. Nhưng nét mặt lầm lầm của y tỏ rằng y đương đề phòng và bực tức vì đã phải mang ơn người da trắng cứu mạng cho. Đại tá và Hoggan quen cứu thương hồi còn chiến tranh, người thì vội vàng chạy vô xe lấy băng, người thì bó chặt cánh tay cho tên da đỏ.
Khi bó xong, tên da đỏ đứng dậy được. Sam liền hỏi y bằng tiếng Cherakee.
- Bạn tên chi?
Nét mặt tên da đỏ tức thì bớt hung dữ đi một chút và lộ vẻ ngạc nhiên lạ lùng, hắn chậm rãi đáp:
- Bạn nói được tiếng tôi và bạn đã cứu tôi. Cảm ơn bạn. Tôi sẽ có dịp tỏ cho bạn thấy rằng Kaghamisham này không phải là kẻ vô ơn.
Nhưng Kaghamisham muốn lủi đi mà không cảm ơn gì hết.
Sam giữ lại:
- Kaghamisham, tôi biết mấy ngày nay bạn theo rình chúng tôi. Vì lẽ gì vậy? Bạn cho chúng tôi là kẻ thù của bạn chăng?
Tên da đỏ đáp:
- "Mắt đại bàng" - nó đã đặt cho Sam tên đó - còn trẻ và khôn lanh lắm. Kaghamisham không muốn rình rập bạn da trắng nhưng có nhiều lẽ để đề phòng bọn khẩn hoang. Nhưng bây giờ Kaghamisham biết rằng đều là bạn thân cả Kaghamisham sẽ không quên điều ấy.
Sam hỏi nữa:
- Bây giờ bạn đi đâu?
Tên da đỏ đưa tay không bị thương khoác một vòng, đáp:
- Về phía kia.
Sam suy nghĩ một hồi lâu rồi nói, giọng nhỏ nhẹ:
- Bạn da đỏ bị thương mà ở xa bộ lạc. Đường dài và khó đi, ở tít phía kia lận. Bạn muốn cùng đi với chúng tôi không? Ngồi xe tiện hơn là đi bộ hoặc chèo thuyền.
Tên mọi da đỏ cương quyết từ chối:
- Không, vợ Kaghamisham đợi Kaghamisham. Vợ Kaghamisham săn sóc Kaghamisham và nếu cần thì nâng đỡ, dìu dắt Kaghamisham.
Ngừng một lúc lâu rồi y thình lình nói, vẻ thèm thuồng lấp lánh trong cặp mắt.
- Bạn da trắng có một cây gậy sấm đẹp quá!
Y gọi cây súng là cây gậy sấm. Không suy nghĩ gì hết, như có sức gì xô đẩy, Sam đưa liền cây súng cho y.
- Bạn da đỏ của tôi đã thích cây gậy sấm này thì xin nhận lấy nó. Tôi biếu bạn đấy.
Tên da đỏ vô cùng cảm động đưa tay ra đỡ và nói:
- "Mắt đại bàng" sáng suốt và đại lượng, Kaghamsiham không bao giờ quên bạn. Chào các bạn.
Và y lẹ làng nhẩy vô bụi, biến mất.
Bốn người quay mặt vào nhau, đứng một hồi lâu, trân trân, vẻ trầm tư. Đại tá nói trước:
- Tôi không biết anh cho tên da đỏ cây súng quý báu đó là phải hay không phải. Nhưng đã cho rồi thì thôi. Cầu trời cho chúng đừng dùng những viên đạn của ta mà giết ta một ngày kia.
Sam đáp, giọng bình tĩnh:
- Ông đừng lo, tôi biết rõ tụi họ. Tôi chắc chắn rằng bộ lạc của tên đó đã sai y đi rình ta. Trên ba ngày nay, nó đã theo hút ta. Chúng ta đã cứu sống nó, lại tặng nó một vật mà nó thích nhất. Thế nào ta cũng được lòng nó. Sau này có lúc ta phải cần tới nó. Điều chắc chắn là nó về cho bạn bè nó hay rằng chúng ta tốt bụng.
Tiểu thuyết mạo hiểm
(một gương kiên nhẫn và hy sinh)
by Robert Gaillard,
dịch bởi Nguyễn Hiến Lê
Phần I
Chương I
Thánh Dược
Dược sư Peter Kier không phải như vô số ông lang băm hồi đó ở Mỹ, trộn đại vài vị thuốc không công phạt gì hết rồi nói rằng thuốc trị được bá chứng mà làm giàu một cách mau chóng.
Không, "thánh dược" của ông, ông phải đích thân đi kiếm năm 1858 ở dãy núi Alleghanis. Ông phải chịu ngàn nỗi nguy hiểm, trốn tránh dân da đỏ Delawares, chống cự với những thú dữ đói khát; nhưng sau, chính Pontiac, vị chúa da đỏ đã ân cần tiếp đón ông và để tỏ tình thân thiện, lại tặng ông một chiếc khăn choàng thêu, một đôi giày da hoẵng (loài hưu con) và cho một bọn hộ tống ông chở vị thuốc đó về Pittsburgh nữa.
Các thân chủ của ông bấy giờ khát khao vị thuốc ấy lắm. Cho nên suốt ngày khách mua nườm nượp trước cửa tiệm nhỏ của ông trong đó ông bán đủ thứ: thuốc uông, đồ chơi, thức ăn. Chưa bao giờ ông buôn bán được phồn thịnh như vậy. Tại phía sau, Sam Smith, một thanh niên giúp việc ông ở Venango cùng về với ông, túi bụi đổ thuốc vào những ve 10 phân lít một.
Chất dầu đen và nặng làm nhờn tay chàng và cái mùi băng phiến của nó làm cho chàng chóng mặt như say rượu, nhưng chàng không sao ngừng tay được vì làm không kịp, người mua đông quá.
Mỗi ve nhỏ bán 2 xu mà thùng đựng tiền của ông Kier đầy nhóc bạc cắc.
Từ mấy ngày nay ông khỏi phải hết hơi khoe như hồi đầu những tánh chất của vị thần dược của người da đỏ đó nữa. Nhiều người đã thấy nó linh nghiệm rồi, khỏi cần phải quảng cáo. Vả lại ông khôn khéo, cho in những tờ báo bạch rồi thuê tụi nghèo đói rách rưới đi phát cùng đường ở châu thành Pittsburgh.
Trong tờ cáo bạch ông tuyên bố: "Bà con có đau bệnh gì, cứ dùng thuốc của tôi thì sẽ mạnh. Dầu của tôi đã nổi danh là trị được bệnh đui, bệnh điếc, bệnh tê liệt. Muốn biết nó thần hiệu ra sao, xin bà con cứ hỏi các người cùi, đau gan, đau mật, hoặc bị chứng phong thấp, bị bệnh thần kinh."
Ở dưới lại in lời cảm tạ của những thân chủ: ông Hawkes ở Boston đau tim chỉ uống 3 ve mà khỏi, bà Childreek ở Savannah dùng thuốc có 3 ngày mà hết tàn nhang ở mặt. Sau cùng một người hói muốn giấu tên, chỉ bôi có nửa tháng mà tóc mọc lên rậm, mềm và tơ hơn hồi trước nhiều.
Đã 6 giờ chiều mà khách hàng còn chen chúc đợi ở trước. Ông Kier bảo họ hôm sau trở lại vì ông sắp đóng cửa tiệm. Rồi ông vào phía sau nói lớn tiếng:
- Sam! thôi nghỉ. Rửa tay đi và có muốn đi chơi thì đi. Nhưng ngày mai rán tới sớm nhé.
Sam đáp: Dạ.
Vài phút sau chàng đóng cửa tiệm, rồi đi dạo trên đại lộ, trong lòng dương dương tự đắc và tràn trề hy vọng vì tự nghĩ mới 17 tuổi đầu được tự do mà mỗi tháng lại để dành được ba mỹ kim lận.
Chàng rảo bước, đút tay túi quần, vừa đi vừa huýt gió và xóc những đồng tiền vàng cho nó kêu keng keng. Vì những đồng tiền ấy mà đêm nào chàng cũng mộng thấy của cải và hạnh phúc.
Thật chàng đã khó khăn mới xin phép được cha để theo ông Kier. Cô em họ xa của chàng, nàng Marjorie King cũng khóc lóc khi chàng lên đường. Chính chàng đã rán lắm mới giữ được khỏi thổn thức, vì chàng không ưa thành thị, chàng thích căn nhà có cha già ở Titusville, thích hồ Erie đầy cá và khu rừng rộng đầy con mồi. Nhưng chàng có tham vọng và chỉ muốn làm giàu. Muốn vậy chỉ có cách là ra thành thị. Chàng tự nhủ: "Ba mỹ kim bắt đầu lên rồi đây. Khi mình về cô ả Marjorie chắc ngạc nhiên lắm, hồi đó nghi ngờ về tương lai của mình và khuyên mình an phận ở nhà theo nề nếp tổ tiên."
Chàng đương khoan khoái nghĩ tới những chiếc bánh tráng bột bắp rất ngon của cô Marjoire, tới thứ rượu bia ba chàng chế và thứ thuốc hút mà ông tẩm rượu và mật thì bỗng thấy có ai chạm vào vai mình. Chàng quay lại. Một người trạc tứ tuần đương ngắm chàng, thân hình cao thẳng và mạnh như cây bá hương đỏ.
Trên gương mặt cương quyết của con người ấy có một thẹo dài nằm ngang má từ tai bên trái tới miệng.
Người đó hỏi:
- Có phải anh làm cho dược sư Kier không?
Sam đáp:
- Phải.
- Và chính anh giúp ông ta bán thuốc?
Sam gật đầu một lần nữa.
- Tôi là đại tá Edwin Drake. Anh còn trẻ, không nhớ được cuộc chiến tranh với Mễ Tây Cơ cho nên anh chưa biết thôi. Không sao, anh đi lại tiệm ăn với tôi, tôi có chuyện muốn nói với anh.
Rồi đại tá nắm tay Sam, dắt lại một quán ồn ào, rất đông khách.
Trong góc quán có một lò lớn để quay gà, vịt và heo sữa. Các công tử và các ông hội đồng thường lại đó uống rượu "rom" trước bữa ăn và sau bữa còn nốc thêm mấy ve bia nữa.
Đại tá Drake bảo Sam ngồi xuống và hỏi:
- Anh có biết dược sư Kier kiếm thứ dầu mà ông khoe là trị được bá chứng ấy ở đâu không?
Sam hơi ngạc nhiên và lấy làm tự đắc được ngồi trong một quán sang trọng, bên cạnh một vị đại tá anh hùng.
Chàng đáp:
- Biết chứ! Ở tại xứ tôi mà! Ở Titusville, gần hồ Erie, trên Suối Dầu và trên mặt hồ.
- Anh biết miền đó không?
- Thưa ông, biết rõ lắm. Tôi sanh tại Venango rồi qua ở Titusville. Tôi đã thấy tất cả các bộ lạc da đỏ từ Michilimakinak tới Ohio. Tôi biết nói các thổ ngữ Sioux, Mandangua, Cherakee, Delaware. Tất cả tụi đó đều là bạn thân của tôi.
- Được lắm. Thôi chúng ta uống rượu đi rồi ăn. Ông Kier trả công anh bao nhiêu?
- Thưa mỗi ngày năm cắc nhưng tôi chắc chắn rằng khi bán hét dầu, ông chủ tôi sẽ dắt tôi theo để đi lấy dầu với ông và lúc đó tôi sẽ được thưởng mười đồng nữa.
Đại tá mỉm cười:
- Ông Kier rộng rãi thật.
- Dạ! Vì tuy khỏi Alleghany, đường có nguy hiểm và khó nhọc thật, nhưng lấy dầu thì không gì dễ bằng. Nó ở ngay trên mặt hồ hoặc suối. Chỉ việc cúi xuống múc từng thùng một! Tụi da đỏ không phản kháng chi hết, chúng biết rằng ông Kier có múc hoài cũng không khi nào hết mà sợ.
- Và anh tin rằng dầu ấy linh nghiệm ư?
Sam nhún vai:
- Tôi thú thật với ông, không bao giờ nghĩ tới điều ấy hết. Tụi da đỏ dùng nó làm thuốc. Tôi nghĩ chỉ những thầy mo của bọn họ mới biết cách chế thứ thuốc ấy thôi. Ông Kier thì múc dầu về rồi bán liền, không chế gì hết. Nếu nó không trị được bệnh thì cũng vô hại.
Đại tá uống một hơi hết ly rượu, kêu một ly khác rồi nhìn thẳng vào mặt người thanh niên bảo:
- Anh Sam nè, tôi thẳng thắn đề nghị với anh như vầy: tôi trả anh mỗi ngày một đồng để dắt tôi lại suối dầu và nếu mọi sự xong xuôi, tôi sẽ thưởng anh hai chục đồng.
Chàng mừng quá, mãi mới ấp a ấp úng được:
- Ông nói thật chứ?
- Thật! Nếu anh bằng lòng thì khoảng tám ngày nữa chúng ta khởi hành. Tôi cho anh hay trước tôi sẽ có ba chiếc xe, mười con la cái, một số lớn dụng cụ và đủ khí giới tốt để cho tụi chó chết da đỏ không dám ngó ngóc bén mảng tới đoàn xe của ta.
Đại tá thường có giọng thô lỗ ấy của các quân nhân, Sam nói:
- Ông muốn cạnh tranh với ông Kier. Nếu tôi gúp ông thì bất nghĩa với ông chủ của tôi, ông ấy tốt với tôi lắm.
Đại tá cười rộ:
- Quỉ thần ơi! Ông chủ anh là một đứa con nít. Thứ dầu ấy mà chỉ dùng để chữa bệnh tê bại và bệnh câm thôi ư? Không biết dùng nó vào việc khác thì là đồ tồi. Này em, tôi thề với em rằng hai chúng ta có thể làm xáo trộng cả thế giới. Em có quả quyết theo tôi không?
Sam như bị lòng nhiệt huyết và giọng cương nghị của đại tá thôi miên, nhìn ông một lúc, mắt long lanh ngưỡng mộ rồi hăng hái đáp:
- Dạ có!
Ông Drake chìa bàn tay hộ pháp ra:
- Đập vào đây. Thỏa thuận chứ? Thôi, ăn đi và hẹn tám ngày nữa sẽ gặp nhau.
***
Suốt một tuần lễ, Sam mơ tưởng tới vàng. Chàng tưởng tượng cảnh giàu có. Nhưng nào chỉ có bấy nhiêu? Chàng sẽ còn làm xáo trộn cả thế giới kia! Tên chàng, bằng chữ vàng, sẽ chói lọi trên cẩm thạch như tên các vị danh nhân như Washington, như thị trưởng Bucchanan!
Chàng đã xin ông Kier cho chàng thôi việc, nói rằng xa ông chàng buồn lắm, nhưng một vận may vô cùng đã tới và chàng phải đi để lập một sự nghiệp lớn lao hơn.
Dược sư cho rằng chàng hơi khùng và kiếm được ngay người khác để thay. Ở Pittsburgh có cả trăm thanh niên đương thèm thuồng chỗ đó.
Sau cùng, ngày quan trọng đã tới. Từ hừng sáng, Sam lại chợ Pittsburgh đã thấy đại tá Drake với xe cộ, la cái và hai người đồng hành nữa: Jack Hoggan và George Kent, cả hai đều mạnh mẽ, da mặt rám nắng, chai như da nai. Coi điệu bộ của họ cũng biết ngay họ đã lưu lạc giang hồn, đã cả ngàn lần thoát chết trong những cánh đồng cỏ mênh mông hoặc những khu rừng xanh thăm thẳm.
Những kẻ qua đường thấy họ, không ngạc nhiên chút chi hết, vì thời đó thường có những người khẩn hoang bỏ thành thị, mạo hiểm dấn thân vào những miền xa lạ để làm giàu hoặc chôn xương nơi đất khách.
Sam vừa leo lên một chiếc xe do đại tá đánh thì cả đoàn lữ hành lên đường ngay.
Chương II
Qua đèo qua suối
Lần trước gặp đại tá, Sam chưa có dịp nhận xét được ông kỹ. Lần này ngồi trên xe, bên cạnh ông, chàng thấy ông xấu xí nhất đời: mũi vừa dài vừa to, môi thì dày, nhất là vết thẹo lớn ở má bên trái mới tai hại. Nhưng đi được một quảng, tới chỗ ngừng thứ nhất, cảm tưởng đó tiêu tan mất và chàng chỉ còn nhận thấy ông tràn trề nghị lực về thể chất cũng như về tinh thần. Ông luôn luôn hoạt động, coi sóc đoàn xe, ra lệnh cho người này người khác một cách ngọt ngào, thân mật và không một giây nào là ông không chăm chú dò xét cảnh vật ở chung quanh hoặc nét mặt những người đồng hành. Người chiến sĩ già ấy thử sức bền bĩ của họ, nhưng ông có thể yên tâm vì họ đều là hạng lực sĩ cả.
Một điều làm cho Sam rất ngạc nhiên là đại tá chở theo một số khí cụ vĩ đại. Anh tự nghĩ có muốn làm xáo trộn cả thế giới như đại tá nói thì mang theo vài đồ dùng cũng đủ, hà tất phải chở theo cả đống sắt ấy. Nào là những ống dài vô kể, những ròng rọc, trục kéo, cán quay... các thứ ấy chỉ làm cho hành trình thêm khó khăn vì đường mòn đã khó đi mà lại phải qua đèo, qua đầm, muôn phần nguy hiểm nữa! Mấy trăm chiếc thùng sắt kia chất trên một cỗ xe thì còn được đi, nhưng còn những thứ khí cụ khác ích lợi gì đâu?
Tuy chàng bẩm sinh rất dè dặt, nhưng khi tới chỗ cắm trại thứ nhất, chàng không thể giữ kín nỗi lòng được nữa mà phải hỏi:
- Thưa đại tá, tôi không dám khuyên ông, nhưng ngay từ ngày mai, chúng ta tới một miền rất hoang vu mà có lẽ chưa có một người da trắng nào đặt chân đến hết. Không có đường cái mà có lẽ cũng không có đường mòn xe đi được nữa. Những đồ sắt vô ích này sẽ làm cho hành trình chúng ta khó khăn lắm. Với lại qua sông, qua đầm, nó sẽ sét mất.
Ông Drake đáp giọng hơi gay gắt:
- Này em, tôi không quí gì bằng những đồ sắt ấy và những ý nghĩ trong đầu tôi. Tài sản của tôi đó. Em không muốn tôi bỏ cả tài sản của tôi chứ?
Sam nghĩ tới tiền công một đồng một ngày mà lo lắng. Tài sản của ông ấy chỉ có đống sắt bỏ đi đấy thôi ư? Vậy ông tính trả công mình bằng thứ ấy sao?
Nhưng mệt quá, chàng ngủ li bì và sáng hôm sau đoàn lữ hành lại tiếp tục đi tới Alleghany.
Từ đây là bắt đầu cảnh thiên nhiên hùng vĩ. Toàn là đá, núi như có ai đục, cạnh thật sắc bén. Miền ấy có hỏa sơn, đất vài chỗ nứt ra sâu hõm xuống thành đường dài hàng trăm thước xe đi lọc cọc lắc lư thật khó khăn.
Trước cảnh hùng vĩ ấy, loài người thấy mình rất nhỏ bé.
Mặt trời ở trên đỉnh đầu chang chang chiếu xuống; đoàn xe tiến rất chậm vì la đã mệt mỏi, thỉnh thoảng người phải xuống xe, đẩy tiếp mới qua được những khúc đường gồ ghề.
Không thấy một bóng người. Toàn là chim, phần nhiều là những mãnh cầm như loài thần ưng, loài đại bàng trắng chỉ ở trên những ngọn núi cao chót vót, không ai tới được. Không khí vang động tiếng chim kêu.
Đã quen sống trong miền ấy từ thuở nhỏ, Sam thuộc đường lắm và bẩm sinh chàng có cái giác quan về phương hướng cũng như những người sống giữa cảnh thiên nhiên trong rừng sâu núi cả. Ông Drake để chàng dẫn dường và đôi khi chàng có cảm tưởng rằng chính chàng làm chủ đoàn lữ hành.
Họ đi như vậy hai ngày, ăn những thực phẩm dự trữ mà đại tá đã mua ở Pittsburgh. Nhưng ông nghĩ phải đề phòng sự bất trắc, nhất là trong những cuộc hành trình đầy nguy hiểm như vậy, cho nên ông quyết định rằng khi nào tới miền rừng thì phải săn bắn mà ăn, không được động tới những thực phẩm mang theo.
Ông phân phát khí giới: mỗi người được một khẩu súng sáu và một cây súng trường kiểu mới nhất dùng trong quân đội.
Ông chỉ cách dùng những khí giới đó cho ba người xúm ở chung quanh rồi kết luận:
- Có các súng này, anh em không còn sợ gì nữa; cách năm trăm thước thì phải bách phát bách trúng.
Họ đã định ra khỏi đường sâu hõm thì cắm trại. Phải đốt nhiều lửa cho bớt lạnh và cũng để cho các thú dữ tò mò không dám tới gần. Vậy ai nấy tới chỗ ngừng đều đi kiếm củi khô ngay. Trong khi Sam đương lượm củi, chàng nghe có tiếng đại tá gọi. Chàng chạy lại, thấy đại tá đương cúi xuống đất:
- Anh Sam, lại đây coi đống tro này.
Sam cúi xuống, thục tay vô đống bụi xám rồi thưa:
- Có ai đã cắm trại ở đây rồi. Không phải mới hồi hôm, nhưng cách đây cũng chưa trên hai ngày vì tro đã lạnh nhưng chưa bị gió thổi tản mát đi.
Đại tá đứng thẳng lên, vẻ lo âu, hỏi:
- Tụi nào cắm trại vậy?
- Chắc chắn tụi da đỏ rồi. Người da trắng không cần lựa củi khô, họ đốt cả những cành tươi thành ra khói bốc lên mù mịt, ở xa thấy được. Tụi da đỏ chỉ đốt củi khô, cho không có một sợi khói nào bay lên hết và như vậy ở xa không ai biết rằng có họ.
Đại tá ngắt lời:
- Tôi biết. Nhưng lành hay dữ?
Sam nhún vai:
- Chúng ta ở trong khu vực của bộ lạc Delaware, nhưng có lẽ là tụi mọi Cherakee đi kiếm miền có nhiều mồi để săn bắn rồi ngừng tại đây. Chúng có thể tưởng lầm rằng mình đuổi theo chúng để tranh mồi với chúng. Cho nên phải đề phòng chúng tấn công mình.
- Vậy phải cho hai bạn kia hay và đề phòng ngay đi.
Họ lựa củi rất kỹ, chỉ đốt những cành thiệt khô và định thay phiên nhau canh gác. Hoggan và Kent canh trước.
Khi lửa cháy rồi, họ ăn qua loa rồi quấn mền sửa soạn ngủ.
Chương III
Săn bắn
Đêm ấy không xảy ra chuyện gì hết.
Mới bình minh, đoàn lữ hành lại tiếp tục đi về phía rừng. Miền này khó qua hơn miền núi vì dây leo chằng chịt và không có đường mòn.
Nhưng mới đầu xe đi hơi nhanh vì mặt trời chưa nóng, la còn khoẻ. Vả lại đường hơi phẳng, trống; nhờ có nhiều đá, cây cối còn thưa.
Khi mặt trời lên đến gần đỉnh đầu, họ bắt đầu tới khu rừng hoang. Một dòng suối đổ xuống như thác, trắng xóa rồi uốn khúc chảy ở gần đó, tiếng ào ào văng vẳng đưa lại.
Đại tá ra lệnh:
- Ngừng tại đây. Hoggan và Kent đi câu còn Sam và tôi đi săn.
Mới đi sâu vào rừng, hai thầy trò có cảm giác như chìm vào một cõi tịch mịch phi thường. Nhưng nếu chú ý nghe thì thấy trong sự tĩnh mịch ấy có vô số tiếng động nho nhỏ gần như nhận không được và bị cây cối sầm uất ở chung quanh làm nghẹt tắt đi.
Hàng trăm sinh vật nhỏ lanh lẹ đương rình họ. Những con sóc ở trên cây bách bạo dạn nhẩy từ cành này qua cành khác hoặc vội vàng chạy qua một khoảng rừng trống. Những con ưng đây đó lượn vòng tròn ở trên không. Nghe tiếng vỗ cánh, tiếng chíp chíp nhè nhẹ, tiếng sột soạt trên lá khô, ta đoán được rằng có những loài cầm thú nhỏ bé, rụt rè, mắt long lanh sợ sệt đương nhìn theo hai người đi săn.
Họ chỉ kiếm mồi lớn thôi. Họ đã đi một giờ trên mặt đất mùn êm như nhung, nhưng đầy cành khô dòn răng rắc, mà không kiếm được con mồi nào hết. Mệt quá, đại tá ngồi phịch xuống một thân cây đổ trên mặt đất, đặt súng trên đùi rồi chấm mồ hôi trên trán.
Ông nói giọng mỉa mai:
- Tên da đỏ nào muốn kiếm mồi ở đây sẽ thất vọng tới bực nào! Không chịu săn hoạ mi và sơn ca thì đành chết đối.
Không thấy Sam đáp, ông quay lại thì ra ông đã nói một mình. Sam không có ở đó. Ông đứng dậy tính kêu chàng thì có một tiếng súng nổ vang ở trong rừng, kế sau có cả ngàn tiếng sột soạt của các con thú vật cuồng loạn chạy trốn trong bụi hoặc trên cành.
Đại tá gọi:
- Sam! Kiếm được gì không?
Một tiéng ở xa vọng lại:
- Dạ.
Một chút sau ông thấy chàng đi lại, vác một con nai dính máu và môi hếch lên trong lúc hấp hối. Nhưng chàng liệng con vật xuống đất rồi nhẩy vội vào trong bụi. Đại tá thấy vậy ngạc nhiên quá, tự nghĩ chắc Sam đã thấy một con mồi khác, rồi ông yên lặng ngắm nghía con nai.
Vài phút sau, chàng thanh niên trở lại, vẻ mặt ưu tư phiền muộn hiện rõ trên mặt.
Ông Drake nhận thấy, hỏi:
- Thấy cái gì không?
- Có. Và tôi tự hỏi không biết có nên bắn phát súng đó không?
- Nhưng có cái gì mà anh lo lắng vậy?
- Thưa đại tá, lúc nãy, khi tôi trở về đây hình như tôi nghe thấy tiếng mái chèo vỗ trên nước. Tiếng đó đặc biệt lắm. Cho nên tôi liệng con nai rồi nhảy vội vô bụi. Tôi đã không lầm. Vì khúc sông ở ngoài kia chảy vô gần đây và tôi thấy trên dòng nước một chiếc thuyền độc mộc của tụi mọi... và tất nhiên là trong thuyền có một tên mọi!
Đại ta cũng đâm lo, hỏi:
- Bộ lạc nào vậy? Thù hay bạn?
- Tôi không biết nó thuộc bộ lạc nào nhưng tôi biết chắc rằng hình sơn trên mình nó là hình của bộ lạc Cherakee. Trong những khu rừng này, khó mà gặp được bạn lắm. Nói chung thì tụi da đỏ luôn luôn là kẻ thù của người da trắng.
- Vậy mà tôi cứ tưởng anh thân với chúng.
- Dạ thân. Nhưng trong bọn chúng mình chỉ có tôi thân với chúng thôi, vả lại tôi không thân hết thảy tụi nó.
Chàng vác con nai rồi lẳng lặng đi về. Tới chỗ cắm trại thì hai người kia đang làm thức ăn. Họ câu chỉ trong một lát mà được rất nhiều cá.
Kent làm cá rồi xiên để nướng còn Hoggan thì kiếm củi với đại tá để đốt.
Sam liệng con nai xuống rồi cùng đi kiếm củi với đại tá. Canh đã sôi, những con cá nhỏ như lá liễu, vàng ánh bốc hơi lên ngào ngạt, làm cho phát thèm.
Bốn người ngồi đối diện nhau cùng ăn và đại tá bắt đầu cho Hoggan và Kent hay chuyện Sam đã thấy tên mọi da đỏ rồi ông kết luận:
- Tôi nghĩ chúng mình đã bị họ rình rồi, tên da đỏ sẽ theo dõi chúng ta. Nó sẽ báo tin cho tụi nó hay. Ngay bây giờ thì chắc chắn là không có chi phải lo hết. Khi nào chúng mình vô tình làm điều gì phật ý chúng thì lúc đó mới nguy hiểm. Chẳng hạn nếu chúng thấy ta ở lâu trên đất này, nguy hại cho chúng, thì tất chúng sẽ không để yên cho ta đâu.
- Còn như nếu chúng ta săn mồi của chúng?
- Chúng biết điều lắm, hiểu rằng chúng ta phải săn mồi để có thức ăn. Nhưng cũng đừng nên phá phách một cách vô ích.
Bữa đó kém vui. Ăn xong, bọn lữ hành lại tiếp tục đi mãi tới sẩm tối, ai nấy đều mệt lả, mới ngừng lại. Cả buổi họ phải dùng gươm đốn cây, chặt dây leo để mở đường, thành thử mất nhiều thì giờ và rất khó nhọc.
Tới chỗ ngừng, Sam cầm rìu phá một khoảng đất hơi rộng để cắm trại, rồi đi kiếm củi khô. Khu đất cây, cành cây bao phủ ở trên đầu, khít như một cửa tò vò và trời mới chiều mà trong đó đã tối như đêm dày, Sam kiếm được một cây khô, lấy tay đẩy và chân đạp, cây gục xuống liền. Ở chỗ gãy vỏ cây banh ra ruột cây đã mục, thành bụi khô như bùi nhùi và bắt lửa nhậy gần bằng thuốc súng. Chàng bốc một nắm, đem về trại đánh một hòn đá lửa và nhóm bếp.
Vỏ cây đó cháy lên, Hoggan nướng một miếng thịt nai lớn.
Họ ăn vội rồi quấn mền ngủ. Lúc đó đương mùa nắng họ khỏi phải dựng trại. Họ phủ càng tươi lên trên cho ngọn lửa cháy âm ỉ vì ban đêm khói có bốc lên cũng không sợ ai thấy, vả lại khói không sao lên khỏi cái tàn lá ở trên đầu họ được.
Hoggan, Kent và đại tá ngủ li bì, Sam quen với cảnh rừng và đồng cỏ, cho nên thức để canh. Được một lúc, chàng thấy thú vật hiện ở chung quanh trại. Chúng tò mò ngón ngọn lửa, mắt sáng như than hồng. Một con cú vọ đậu trên một cây gần đó, buông tiếng kêu thê thảm.
Rừng đầy những sức huyền bí, hư ảo. Như có hàng ngàn vật lạ, đương hăm doạ bọn người da trắng.
Sam chăm chú ngó. Chàng khoan thai nhồi một cối thuốc lấy bùi nhùi châm rồi bình tĩnh hút. Chàng tự hỏi đại tá muốn bắt chàng làm gì đây. Chàng không quen máy móc. Những khí cụ bằng sắt vô ích và cồng kềnh kia làm cho chàng lo lắng. Mặc! Sau này sẽ biết. Chỉ ít bữa nữa thôi, không phải đợi lâu đâu. Chàng nghĩ sắp được gặp Majorie và thấy lòng rung động nhẹ nhàng, êm ái hơn là khi chàng nhớ lại vẻ mặt cứng cỏi nhưng thẳng thắn làm sao, hiền từ làm sao của ông thân chàng.
Một bầy chó sói tới, chúng ngồi xổm, nhìn ba người ngủ và một người thức. Chúng no mập và hiền, có vẻ như những con chó tốt, lông cứng. Sam đứng dậy, liệng vài cành vô đống lửa, rồi trở về chỗ, quấn mình trong mền.
Chàng có cảm tưởng không có chi xảy ra hết và chàng thiu thiu rồi ngủ luôn như mấy người kia.
Chàng tỉnh dậy trước hết. Ánh sáng mặt trời chiếu qua vòm lá cao và rậm của khu rừng mờ mờ. Lửa vừa tàn.
Sam nhận thấy rằng đàn chó sói vẫn không nhúc nhích.
Chương IV
Thổ dân và beo
Ròng rã hai ngày nữa, tới một miền đất cứng, rừng thưa, đoàn lữ hành tiến mau hơn được.
Đại tá nói:
- Tôi có cảm tưởng rằng chúng ta gần tới nơi.
Sam đáp:
- Thưa phải. Cầu trời phù hộ, không gặp điều gì cản trở hết.
Đoàn xe càng đi vô sâu, chàng thanh niên đó càng cảm thấy có cái gì không yên. Những người sống lâu trong rừng thường có linh cảm ấy, giác quan thứ sáu kỳ dị ấy.
Bốn người lữ hành không biết gì về tên mọi hết, cũng không thấy một ngọn lửa nào, một dấu vết cắm trại nào, một bóng người nào cả. Nhưng Sam mơ hồ cảm thấy, đoán được rằng ở chung quanh có kẻ nào đương lẩn núp rình mò. Cảnh rừng như mất sự điều hòa. Chàng khó chịu về điều ấy, cho nên thỉnh thoảng chàng thình lình nhảy từ trên xe xuống, ngừng lại, quạu quọ, cánh mũi phồng phồng như một con thú đánh hơi thấy sự nguy hiểm.
Ba người kia thản nhiên, tâm hồn không rối loạn kỳ dị như Sam. Họ có thấy gì đáng lo đâu?
Nhưng một tai nạn sắp xảy tới.
Từ buổi sáng họ theo bờ một dòng sông có thác mà loài cá hương ưa ở. Hoggan tiếc rằng đại tá không cho ngừng lại một chút để câu, chắc chắn là được nhiều cá lắm. Nắng mỗi lúc một gắt. Mấy con la đã mệt nhoài. Ông Drake mồ hôi đầm đìa, phải cho ngừng sớm để nghỉ ngơi, ăn uống.
Họ xuống xe và như thường lệ, ai nấy đi kiếm củi. Sam vẫn có cảm giác bất an đó, nhưng chàng không cho ai hay cả. Chàng rán xua đuổi cảm giác ấy đi, nhưng nó vẫn trở lại. Chàng đương đi sâu vào phía trong, bỗng nghe có tiếng lá sột soạt ở bên rồi một vật gì rớt đánh bịch xuống đất. Chàng tháo cây súng đeo ở vai - chiếc súng ấy không bao giờ rời chàng từ khi chàng thấy tên mọi - và đứng rình một lúc.
Có cái gì xảy ra thật. Tai chàng quen nghe các tiếng động nhỏ, thấy rõ có một sinh vật gì đương đi trên lớp đất mền trong rừng. Chàng đoán không phải tiếng người mà là một con thú vào loại beo đương bước chầm chậm và đều đều.
Rừng rậm quá, chàng không ngó xa được, đứng yên một chỗ, quay đi quay lại ngó chung quanh.
Thấy yên lặng một hồi lâu, chàng vê chỗ nghỉ. Ba người kia, đợi lâu quá không thấy chàng về lấy làm lạ và ăn trước. Sam ăn vội vàng, thỉnh thoảng lại nghe ngóng tiếng động ở trong rừng. Nhưng cảnh vật hoàn toàn tĩnh mịch.
Đại tá hỏi Sam:
- Anh có vẻ lo lắng, có gì vậy?
Chàng đáp:
- Tôi lo lắng thật. Tôi không hiểu vì sao. Có lẽ tôi lầm. Không có gì xác nhận điều tôi lo hết.
Bốn người hút thuốc rồi sửa soạn lên xe. Nhưng khi ông Drake đương buộc la vào xe thì có tiếng kêu như xé không gian.
Sam, súng sẵn trong tay, chạy về phía tiếng kêu. Ba người kia chậm chạp hơn, chạy theo và khi kịp thì Sam đã bắn một phát súng rồi. Trông cảnh tượng ở trước mắt, họ hiểu liền. Một tên da đỏ nằm lăn trên mặt đất, bên cạnh một con beo lớn lông vấy máu, đương giẫy giụa hấp hối.
Sam giảng:
- Con ác thú ấy vồ tên mọi, nhưng tôi tới kịp.
Ôn Drake lăng xăng ở chung quanh tên da đỏ bị beo vồ ở cánh tay: vết thương rộng và sâu, máu chảy như suối. Tên da đỏ vẫn tỉnh không tỏ vẻ sợ sệt gì hết. Nhưng nét mặt lầm lầm của y tỏ rằng y đương đề phòng và bực tức vì đã phải mang ơn người da trắng cứu mạng cho. Đại tá và Hoggan quen cứu thương hồi còn chiến tranh, người thì vội vàng chạy vô xe lấy băng, người thì bó chặt cánh tay cho tên da đỏ.
Khi bó xong, tên da đỏ đứng dậy được. Sam liền hỏi y bằng tiếng Cherakee.
- Bạn tên chi?
Nét mặt tên da đỏ tức thì bớt hung dữ đi một chút và lộ vẻ ngạc nhiên lạ lùng, hắn chậm rãi đáp:
- Bạn nói được tiếng tôi và bạn đã cứu tôi. Cảm ơn bạn. Tôi sẽ có dịp tỏ cho bạn thấy rằng Kaghamisham này không phải là kẻ vô ơn.
Nhưng Kaghamisham muốn lủi đi mà không cảm ơn gì hết.
Sam giữ lại:
- Kaghamisham, tôi biết mấy ngày nay bạn theo rình chúng tôi. Vì lẽ gì vậy? Bạn cho chúng tôi là kẻ thù của bạn chăng?
Tên da đỏ đáp:
- "Mắt đại bàng" - nó đã đặt cho Sam tên đó - còn trẻ và khôn lanh lắm. Kaghamisham không muốn rình rập bạn da trắng nhưng có nhiều lẽ để đề phòng bọn khẩn hoang. Nhưng bây giờ Kaghamisham biết rằng đều là bạn thân cả Kaghamisham sẽ không quên điều ấy.
Sam hỏi nữa:
- Bây giờ bạn đi đâu?
Tên da đỏ đưa tay không bị thương khoác một vòng, đáp:
- Về phía kia.
Sam suy nghĩ một hồi lâu rồi nói, giọng nhỏ nhẹ:
- Bạn da đỏ bị thương mà ở xa bộ lạc. Đường dài và khó đi, ở tít phía kia lận. Bạn muốn cùng đi với chúng tôi không? Ngồi xe tiện hơn là đi bộ hoặc chèo thuyền.
Tên mọi da đỏ cương quyết từ chối:
- Không, vợ Kaghamisham đợi Kaghamisham. Vợ Kaghamisham săn sóc Kaghamisham và nếu cần thì nâng đỡ, dìu dắt Kaghamisham.
Ngừng một lúc lâu rồi y thình lình nói, vẻ thèm thuồng lấp lánh trong cặp mắt.
- Bạn da trắng có một cây gậy sấm đẹp quá!
Y gọi cây súng là cây gậy sấm. Không suy nghĩ gì hết, như có sức gì xô đẩy, Sam đưa liền cây súng cho y.
- Bạn da đỏ của tôi đã thích cây gậy sấm này thì xin nhận lấy nó. Tôi biếu bạn đấy.
Tên da đỏ vô cùng cảm động đưa tay ra đỡ và nói:
- "Mắt đại bàng" sáng suốt và đại lượng, Kaghamsiham không bao giờ quên bạn. Chào các bạn.
Và y lẹ làng nhẩy vô bụi, biến mất.
Bốn người quay mặt vào nhau, đứng một hồi lâu, trân trân, vẻ trầm tư. Đại tá nói trước:
- Tôi không biết anh cho tên da đỏ cây súng quý báu đó là phải hay không phải. Nhưng đã cho rồi thì thôi. Cầu trời cho chúng đừng dùng những viên đạn của ta mà giết ta một ngày kia.
Sam đáp, giọng bình tĩnh:
- Ông đừng lo, tôi biết rõ tụi họ. Tôi chắc chắn rằng bộ lạc của tên đó đã sai y đi rình ta. Trên ba ngày nay, nó đã theo hút ta. Chúng ta đã cứu sống nó, lại tặng nó một vật mà nó thích nhất. Thế nào ta cũng được lòng nó. Sau này có lúc ta phải cần tới nó. Điều chắc chắn là nó về cho bạn bè nó hay rằng chúng ta tốt bụng.
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary