📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Kinh nghiệm sống

Nhà Vua

13 trả lời, 964 lượt xem — Trang 1 / 1



Nepal hạ cờ hoàng tộc, chấm dứt chế độ quân chủ



29/05/2008









Quốc vương Gyanendra có 15 ngày để rời khỏi hoàng cungCác giới chức Nepal nói rằng lá cờ của hoàng tộc ở cung điện chính tại thủ đô của Nepal đã bị hạ xuống, sau khi các nhà làm luật xóa bỏ chế độ quân chủ đã tồn tại 239 năm trên đất nước nằm trong dãy Hy Mã Lạp Sơn này.
 
Một giới chức tại cung điện chính rằng giờ đây lá quốc kỳ Nepal đã được giương lên như một phần trong quá trình chuyển đổi sang thể chế cộng hòa.
 
Hôm qua, với 560 phiếu thuận và 4 phiếu chống, các thành viên của qúôc hội lập hiến, do cựu phiến quân Maoít lãnh đạo, đã tuyên bố Nepal là một nứơc theo thể chế cộng hòa.
 
Tuy nhiên, các nhà làm luật đã tranh luận về những giới hạn đối với quyền hành của Tổng thống và Thủ tướng.
 
Hàng ngàn người đã tụ tập tại khắp thủ đô Kathmandu để ăn mừng việc chấm dứt triều đại của vua Gyanendra. Nhiều lễ hội đang được tổ chức trong ngày hôm nay.
 
Các nhà làm luật đã dành cho nhà vua Gyanendra 15 ngày để rời hoàng cung, và nơi này sẽ trở thành một viện bảo tàng.
 
http://www.voanews.com/vietnamese/2008-05-29-voa35.cfm
..........Sáu Tỷ
...
Đăng nhập để trả lời
0





Nepal ra lệnh cho Quốc vương Gyanandra rời khỏi hoàng cung



30/05/2008









Quốc vương Gyanandra phải rời khỏi hoàng cung trong vòng 2 tuầnChính phủ Nepal đã chính thức ra lệnh cho Quốc vương Gyanandra rời khỏi hoàng cung trong vòng 2 tuần lễ tới.
 
Các giới chức cho biết lệnh vừa kể đã được chuyển tới hoàng cung Nepal hôm nay, chỉ 2 ngày sau khi sau khi Quốc hội lập hiến nước này biểu quyết thông qua với số phiếu áp đảo - 560 phiếu thuận và 4 phiếu chống để loại bỏ chế độ quân chủ đã tồn tại 239 năm.
 
An ninh quanh khu vực hoàng cung đã được tăng cường sau khi có ít nhất 5 người bị thương vì đụng độ với cảnh sát trong ngày hôm qua.
 
Cảnh sát đã dùng lựu đạn cay để giải tán một đám đông đòi nhà vua phải rời khỏi hoàng cung ngay tức khắc.
 
Các giới chức chính phủ trước đó đã tới hoàng cung để hạ lá cờ của hoàng gia và thay vào bằng quốc kỳ của Nepal. Các nhà lập pháp Nepal cho biết sẽ biến hoàng cung thành một viện bảo tàng.
 
http://www.voanews.com/vietnamese/2008-05-30-voa30.cfm
 
..........Sáu Tỷ
...
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-05-31 18:30:19Quang Khôi>
Nepal xóa bỏ chế độ quân chủ tồn tại từ mấy trăm năm

29/05/2008


Dân chúng reo mừng sự chấm dứt của chế độ quân chủ
 
Các nhà lập pháp Nepal đã biểu quyết xóa bỏ chế độ quân chủ đã tồn tại từ 239 năm ở quốc gia trong dải Himalaya này.

Các thành viên của Quốc hội Lập hiến mới được bầu lên đã biểu quyết với một đa số áp đảo hôm thứ Tư là 506 trên 4 phiếu, chấp thuận một kiến nghị đổi Nepal sang chế độ công hòa.

Tình trạng tranh chấp chính trị vào những phút cuối đã gây trì hoãn cuộc bỏ phiếu đến gần nửa đêm, vì các nhà lập pháp tranh cãi về mức độ quyền lực của Tổng thống và Thủ tướng.

Quốc hội cho Quốc vương Gyanendra, một người không còn được lòng dân, 15 ngày để rời cung điện. Các nhà lãnh đạo chính trị Nepal đe dọa là nếu cần họ sẽ dùng võ lực để truất phế nhà vua.

Khắp thủ đô Kathmandu, hàng ngàn người tụ họp để mừng sự chấm dứt của triều đại quốc vương Gyanendra.

Trước cuộc biểu quyết, trên một ngàn cảnh sát chống bạo loan được bố trí quanh nơi các nhà lập pháp họp trong thủ đô. Tuy nhiên hai quả bom nhỏ đã nổ, khi các nhà lập pháp qui tựu hồi sáng thứ Tư. Ít nhất có một người bị thương.

http://www.voanews.com/vietnamese/2008-05-29-voa1.cfm
..........Sáu Tỷ
...
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-06-01 21:20:54Quang Khôi>
Chuyện nhà vua
 
Thân thể vua: long thể
khuôn mặt vua: long nhan
áo vua mặc: long bào
nơi vua ngồi: long ngự
nơi vua ngự: long đình
nơi vua nằm: long sàn
xe vua đi: long xa
long mi vua: long mi
đồng hồ vua đeo: Longines
 
.......
 
Đồng hồ Longines
 
 
 
..........Sáu Tỷ
...
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-05-31 18:59:45Quang Khôi>
Bâng khuâng chiều Kathmandu
21:41' 03/04/2004 (GMT+7)


(VietNamNet) - Kathmandu là kinh đô của Vương quốc Nepal, nằm dưới chân Hy Mã Lạp Sơn. Là thành phố của tôn giáo và nghệ thuật, của nghi thức và lễ hội, của cổ kính và hiện đại, của thánh thiện và tâm linh, của suy tư và khát vọng, của du lịch và mộng mơ, của nắng gió và tuyết. Ngày nay, Kathmandu còn là thành phố của thanh bình và chiến tranh.
 
 

Di tích Swayambhunath
 
Nếu chỉ nhìn trên bảng đồ du lịch, người ta dễ có cảm tưởng Kathmandu đền chùa nhiều hơn nhà ở. Nơi đây hai tôn giáo lớn là Ấn Độ giáo và Phật giáo cùng song song tồn tại qua hàng ngàn năm. Cùng góp phần tạo nên bản sắc văn hóa Nepal. Và bằng cách riêng của mình, cùng tưới lên đời sống Nepal suối nguồn đạo hạnh và đức tin. Nepal tự hào là quê hương đã sinh ra Phật Thích Ca. Từ thế kỷ thứ III trước CN, đất nước này đã là một trong những quốc gia Phật giáo. Trong vô số những đền chùa, bảo tháp ở Kathmandu, các công trình sau nổi tiếng hơn cả: Pashupatinath, Bouddhanath, Swayambhunath, Basantapur.
 
Swayambhunath với bảo tháp hình tròn đường kính 20m, cao 10m, nằm trên một ngọn đồi phía Tây thành phố. Dân địa phương gọi là “Chùa khỉ”, bởi đây là trú xứ của mấy vị hậu duệ Tôn Ngộ Không. Nếu không để đảnh lễ chư Phật, quay bánh xe Mani nguyện cầu những điều gan ruột, và ngắm toàn cảnh thành phố, chắc chẳng ai lên đây. Bởi du khách phải leo những 324 bậc cấp mới đến được. Pashupatinath là khu đền Ấn giáo, nằm bên bờ sông Bagmati mà những ngày đầu tháng hai nước cạn khô chỉ còn như một dòng suối. Tại đây người ta tiến hành các nghi thức hỏa táng người chết. Những khuôn mặt sùng kính, tiếng cầu kinh, mùi hương trầm, mùi sáp chảy, mùi thịt cháy, tiếng cồng chiêng rền vang, và những đôi mắt sững sờ của du khách phương Tây, tất cả tạo nên cái cảm giác lạ lùng không nơi nào có được.
 
Bouddhanath là ngôi chùa Tây Tạng. Rất dễ nhận ra bởi bảo tháp hình tròn, bánh xe Mani và rợp trời 5 màu phướng cầu nguyện. Mấy ông sư Tây Tạng cao lớn, đỏ da thắm thịt, khác với đồng bào trên quê hương họ mà tôi có duyên gặp mùa thu năm ngoái. Basantapur nằm bên cạnh quảng trường trung tâm thành phố. Đây là một quần thể đền tháp Ấn giáo và các công trình ngày trước là cung điện với mái ngói trầm tối, lúc nào cũng đông nghịt du khách. Tất cả những đền đài, chùa tháp, cung điện nguy nga tráng lệ hàng ngàn năm tuổi đời ấy đều bằng gỗ, với nghệ thuật chạm trổ khéo léo, tinh vi, kỳ tuyệt đến mức người ta ngờ rằng đó chỉ có thể là công phu của các vị thần. Nghệ thuật ấy chi phối toàn bộ các công trình đô thị khác của thành phố. Ngày nay, đã có vài dấu hiệu thay đổi, hiện đại hơn, văn minh hơn, nhưng tựu trung cái hồn của nó thì vẫn còn nguyên. Nói thế không phải để chê mà chính là để tỏ lòng kính trọng một dân tộc biết gìn giữ nền văn hóa đặc sắc của mình một cách trọn vẹn. 



Cung điện xưa ở thủ đô Kathmandu
 
Có thể thưởng thức âm hưởng tuyệt vời ấy, dưới một dạng còn nguyên hơn ở một số thành phố khác trong thung lũng. Ví dụ: Patan. Là thành phố nằm ở phía Tây sông Bagmati, được mệnh danh là “thành phố của ngàn nóc đền vàng”. Tại đây còn lại một số công trình được xây dựng từ thời vua Adục. Ai đã từng lang thang qua Durbar Square và Art Museum chắc sẽ không bao giờ có thể quên được chốn này. Bhaktapur là thành phố cổ nổi tiếng với những kiệt tác bằng gỗ chạm khắc. Kirtipur nằm ở tận cùng Đông Nam thung lũng, trải mình trên các sườn đồi. Không nhiều du khách đến đây. Thành phố lặng lẽ tiếp tục sống với quá khứ vàng son của mình. Tôi may mắn được đi nhiều nơi, từng tiếp cận nhiều nền văn minh cổ cũng như hiện đại, từng rung động trước các công trình nghệ thuật tuyệt tác, nhưng so với các công trình nghệ thuật ở đây thì chỉ có thể nói... chẳng còn chi nói nữa. E.V.Powell, nhà Đông phương học lỗi lạc đã nhận xét thế này về Kathmandu: “Tại thung lũng đáng nhớ này, nghệ thuật, tăng sĩ và thợ thủ công đã cùng nhau làm nên một công trình tuyệt tác. Những kiến trúc sư tài ba của Phật giáo và Ấn độ giáo đã gặp gỡ trong việc tạo nên vẻ nguy nga tráng lệ của những đền đài, tượng đá với chạm khắc vô cùng tinh xảo đến từng chi tiết mà không nơi nào có thể sánh kịp”.
 
Thung lũng Kathmandu được bao bọc bởi rặng Hy Mã Lạp Sơn hùng vĩ phía Đông Bắc, ba bề còn lại núi non ngất trời. Theo truyền thuyết, thuở xa xưa thung lũng là một hồ nước mênh mông, về sau cạn đi do thần Manjushri mài gươm. Còn các nhà địa chất thì cho rằng sau một trận động đất ghê gớm, bờ của hồ bị vở, nước rút hết để lại thung lũng Kathmandu ngày nay. Trong thung lũng, bốn thành phố Patan, Bhaktapur, Kirtipur và Kathmandu đều có vị trí ngang nhau. Chỉ khi Quốc vương Prithvi Narayan Shah thống nhất Nepal năm 1768, Kathmandu mới được chọn là trung tâm chính trị và tôn giáo của cả nước. Kathmandu, không một tòa nhà nào cao quá 10 tầng, khoảng 1 triệu dân, 7 Di sản văn hóa thế giới, ở độ cao 1.500m, được xây dựng từ thế kỷ thứ 8, khí hậu lục địa, nhiệt độ trung bình trong năm thấp do ảnh hưởng của độ cao. Bên kia những khu nhà hiện đại chạy dọc theo New Road là trung tâm thành phố, Quảng trường Durbar.

 
Thung lũng Kathmandu
 
Kathmandu thật sự nằm trên những con đường xuất phát từ quảng trường. Ở mỗi ngả ba ngả bảy đều có các tượng Phật, tượng Thần nghi ngút khói hương. Các con đường xưa trở nên quá nhỏ phải mang vác đủ thứ thập loại chúng sinh: Xe vừa, xe nhỏ, mô tô, xe đạp, xe kéo, xích lô - xích lô bên này gọi là Rickshaw, người đạp ngồi đàng trước; những người đàn ông Nepal với chiếc mũ Topis dáng núi trên đầu, những người đàn bà quấn mình trong chiếc váy Sari, các cháu nhỏ lòn lách qua các đám đông cho kịp đến trường, những người bán hàng lưu niệm, và đủ loại khách du lịch với vẻ mặt ngỡ ngàng đầy hứng thú... thi thoảng một vài con bò thơ thẩn giữa phố phường đông đúc như thử kiếp trước hắn ta là hoàng tử của vương triều. Lạ nhất là, tuy trần gian thế nhưng không hề có chuyện va quẹt, hậm hực, chửi rủa trên đường phố. Hình như đã có những qui ước riêng tồn tại hàng ngàn năm trên những con đường chật hẹp nầy, còn khách nước ngoài thì đã thích nghi ngay với nó từ trên những trang sách hướng dẫn du lịch. Dọc theo các con đường là những ngôi nhà gỗ hàng trăm năm tuổi đời mà ở tầng dưới không cách chi có thể nhận ra dấu thời gian, chỉ vì người ta treo kín đủ thứ hàng hóa đặc sản đến lóa mắt. Hàng hóa ở đây rẻ như bèo. Rẻ đến mức du khách rời Kathmandu chẳng mấy ai còn một xu dính túi. Tôi mua về tặng vợ và con gái mấy xâu chuỗi ngọc thạch mà phải nói láo giá gấp mười lần hơn để đảm bảo giá trị món quà. Từ tầng hai trở lên, người ta dễ dàng nhận ra những cánh cửa sổ bằng gỗ được chạm khắc công phu tuyệt vời. Bên sau các dãy nhà mặt tiền bán buôn chộn rộn là những khu vườn tĩnh lặng, chúng thông thiên với nhau. Hình như đó mới là thế giới thực sự của cư dân Kathmandu.


Nepal là một trong ít nước có nhiều lễ hội nhất thế giới. Có tới 120 ngày lễ trong một năm. Gần như ngày nào Kathmandu cũng tràn đầy âm thanh của một ngày lễ. Lễ Diwali với hàng nghìn ngọn nến, lễ Dasaim với sự hiến sinh, lễ Holi và hàng chục lễ khác. Hôm tôi đến, Kathmandu lễ Shiva Ratri. Dọc hai bên đường, hàng ngàn vạn người sắp hàng một nghiêm trang bước về phía các ngôi đền. Hầu hết đều đàn bà con gái. Ở Nepal phụ nữ ít khi ra đường. Chỉ các ngày lễ họ mới có dịp phô nhan sắc của mình dưới ánh mặt trời - rực rỡ đến mức làm đôi gò má họ hồng lên như các diễn viên tuồng. Và cứ thế, họ lặng lẽ đi, không nôn nao, không chen lấn. Đôi mắt họ toát lên vẻ thành kính, thanh thoát và đạo hạnh. Tôi không biết nếu trong tâm hồn họ còn vươn một chút tội lỗi, thì họ đã giấu nó ở đâu. Trông họ cứ làm tôi nghĩ về những cô gái trên đường phố Lhasa. Mong sao đôi mắt ấy đừng bao giờ ánh lên trước những đồng đô la xanh đỏ. Chỉ qua các ngày lễ hội, người ta mới có thể thấy được một cách tổng quát đời sống nội tâm của con người Nepal vốn bị ẩn dấu sau cái vẻ lặng im của dáng núi. 
 


Tác giả tại khu Basantapur - Kathmandu.
 
Kathmandu cũng có nạn kẹt xe kinh khủng, nhưng kẹt thì kẹt, họ cứ vẫn bình thản, thinh lặng, hoặc chuyện trò nho nhỏ như ở phòng khách sau bữa cơm chiều dù trong những chiếc xe sang trọng có máy lạnh hay trên những chiếc xe cà tàng. Trong nhiều tình huống ngặt nghèo, dân Kathmandu không hề văng tục chửi thề. Có được cái tâm an nhiên tự tại ấy không biết là do đạo nguồn Phật pháp hay do tích lũy được từ dưới bóng dãy tuyết sơn.
 
Khí hậu mát lành, không gian kinh kệ và từ nhỏ được tắm mình trong các lễ nghi tôn giáo khiến họ trở thành người chất phát, hiếu hòa. Với những người đàn ông, khuôn mặt có hơi đen đủi xấu trai một chút nhưng tao nhã, tốt bụng, chân thật và nụ cười trên môi - chỉ bán buôn mới nói thách một cây. Nét tính cách nổi bậc ở họ là rất bền chí. Khi một anh chàng bán hàng lưu niệm mời bạn mua cái gì, bạn đừng hòng từ chối. Không phải kiểu đeo bám thô thiển làm bực mình mà cả một nghệ thuật sống, cho đến khi bạn đổi ý vui vẻ chịu mua món hàng như dịp may hiếm có. Một người dân địa phương nói với tôi: “Có những chàng trai sẵn sàng bỏ ra ba chục năm để cưa cho được một cô gái về làm vợ”. Hèn chi nhiều ông chồng đen đủi xấu xí đi bên cạnh bà vợ xinh đẹp như hoa. Người Việt Nam mình có câu “Nhất lì nhì đẹp trai”. Nguyên tắc đó với Nepal đúng một trăm phần trăm. Điều làm tôi ngạc nhiên nhất là con gái ở đây rất đẹp. Rõ ràng có sự đột biến giữa thế hệ bố mẹ và con cái. Mấy cô gái Kathmandu ngày nay da trắng như Tây, má hồng như Lhasa, kiêu sa như quý tộc Ấn Độ, chỉ đôi mắt không giống ai - nó là cái thần của đạo pháp, cái tĩnh tại của núi, cái tinh khôi của tuyết cọng lại. Nhiều cô trông thanh thoát và đẹp như một cành hoa vô ưu. Cũng như Ấn Độ, phụ nữ Nepal mỗi khi ra đường, con gái chấm một nốt son đỏ giữa hai chân mày gọi là làm duyên (không thế cũng duyên rồi), còn phụ nữ có chồng thì kẻ một vạch son từ chân tóc dọc theo đường ngôi, như một lời khẳng định “tôi có chồng rồi và tôi rất yêu chồng tôi”. Không biết có bao nhiêu phần trăm sự thật trong lời thú nhận ấy.
 
Vào những ngày đẹp trời, từ trên ngọn đồi phía Tây nơi có đền Swayambunath với đôi mắt Phật luôn mở to như để canh giữ thành phố. Kathmandu trải dài trước mắt bạn với muôn hồng nghìn tía: Màu xanh của cỏ cây, màu trầm tối của những mái ngói, màu vàng của những luống hoa moutarde, màu đỏ của những ngôi nhà gạch... và lấp lánh ánh dương hồng. Bức tranh ấy nổi hẳn lên giữa nền tuyết trắng của dãy Hy Mã Lạp Sơn. Thiên nhiên Nepal độc đáo và đẹp lạ lùng chực hút hồn những ai có duyên đến. Cùng với các công trình nghệ thuật, giai điệu, con người... núi và tuyết sơn cũng là thứ ngôn ngữ của bài thơ Nepal. Khắp nơi trong thành phố đều có văn phòng tiếp thị các tour leo núi: Hoặc chiêm ngắm dãy tuyết sơn, hoặc chinh phục đỉnh Everest. Nhiều chàng trai cô gái trẻ trung từ bốn phương náo nức đổ về Kathmandu tham gia cuộc thử thách dù biết rằng không dễ gì tới được đỉnh. Không phải trẻ thì tham gia được nhưng muốn tham gia được thì phải trẻ. Tôi qua rồi cái tuổi có thể chinh phục các đỉnh cao. Vả lại tôi không thích khái niệm “chinh phục”. Về phía Dhulikhel, ngay dưới chân Hy Mã Lạp Sơn, trên các đỉnh núi cao khoảng 2.000m, có những ngôi biệt thự dành cho loại du khách thích đắm mình trong không gian cô tịch. Bình minh, mặt trời thắp sáng dãy tuyết sơn. Thế rồi, bức tranh kỳ tuyệt ấy biến hóa theo từng mỗi khoảnh khắc. Đẹp đến bồi hồi. Buổi chiều, lang lang theo những con đường mòn trong núi. Đó đây mấy khóm Full vàng rực gợi nhớ hoàng mai quê nhà. Những đóa Lali màu hồng sẩm đong đưa trên cành, đẹp như nàng công chúa trong truyện cổ tích. Trước khi rời Kathmandu, tôi còn kịp theo Tour Moutain flight bay một vòng quanh dãy tuyết sơn và ngắm ngọn Everest từ trên cao. Biết cách nhìn và biết chiêm ngắm nó bằng cái “tâm vô phân biệt” giúp ta ngộ ra được nhiều điều. Kết thúc chuyến bay, người ta cấp cho mỗi du khách tấm văn bằng có dòng chữ xác nhận: “Tôi không chinh phục Everest mà chỉ mở lòng ra đón nhận nó với tất cả tâm hồn”. Cám ơn ai có ý tưởng tuyệt vời.



Kathmandu - Trẻ em đến trường.Thế đấy, thiên nhiên Nepal không chỉ chực bỏ bùa du khách mà còn là hương liệu của cuộc sống nơi này. Nền văn hóa Nepal mang đậm dấu ấn của tâm thức núi: Các đền thờ nhiều tầng với chóp cao vút nằm rải rác trong thung lũng. Lá quốc kỳ duy nhất trên thế giới hình 2 đỉnh núi có răng cưa ở bên. Dân Nepal với cái nhìn xa vắng và sâu thẳm. Các kiểu mũ có chóp nhọn dáng núi. Những hàng hóa chất theo hình tháp ở chợ hay trong các siêu thị. Giọng nói lên xuống, trầm bổng của ngôn ngữ Nepal. Âm nhạc với chiếc đàn Sarangi hai dây mang âm hưởng của núi đồi sương phủ... Tất cả đều lấy cảm xúc từ rừng núi tuyết sơn.
 
Nepal rất coi trọng giáo dục. Mức sống không cao, đồng lương cực thấp, nhưng con cái họ đến trường thì oách hết chê. Từ cấp một, học sinh đã mặc đồng phục, dày vớ hẳn hoi và thắt cà vạt ngon lành. Không phải chỉ thành phố mà cả những vùng quê xa xôi hẻo lánh cũng thế. Hôm đến thăm Bhaktapur, ngồi dưới mái hiên nhà hàng De Temple Town nhâm nhi cốc cà phê đợi Bảo tàng Trung tâm mở cửa; mấy chú nhóc trường bên tranh thủ giờ nghỉ ra quảng trường đá bóng. Cái cảnh hàng chục học sinh tiểu học chân dày, áo trong quần, vét tông cà vạt, chạy nhảy reo hò tranh nhau quả bóng nhỏ như trái bưởi, trông lạ lùng và đáng yêu làm sao. Không biết các chú có biết quê hương các chú đang có chiến tranh, và những gì đang chờ đợi các chú! Ý nghĩ ấy làm tim tôi thắt lại. Ôi, một dân tộc biết coi trọng cái học, lễ nhạc, tôn giáo đến thế sẽ nguy khốn biết chừng nào giữa thời đại mà bạo quyền thay cho công lý, tiền tài thay cho nhân nghĩa, thù hận thay cho bao dung, chiến tranh thay cho hòa bình... Vậy mà đó là sự thật: Nepal đang trong tình trạng chiến tranh. Người ta có thể ngửi thấy mùi của nó từ các nút chặn trên đường vào thành phố; từ toán lính trận áo quần rằn ri, tay lăm lăm tiểu liên, tuần tiểu ngày đêm dọc theo các con đường lúc nào cũng đầy nhóc du khách. Người ta bảo đó là cuộc nội chiến giữa một bên phe bảo hoàng, bên kia phe du kích Mao-ít. Có một bài học lịch sử dành cho những quốc gia nho nhỏ: Sau nội chiến tất sẽ đến ngoại xâm. Ai cũng biết thế nhưng không ai chịu nương tay. Hình như người Nepal sinh ra không phải để cầm súng. Dưới bóng của dãy tuyết sơn, họ coi sự phóng khoáng và bao dung trọng hơn tất cả. Nhìn anh chàng chiến binh áo quần rằn ri, tay cầm súng, mặt mày phúc hậu, thơ ngây trông hài hước đến quặn lòng. Hiện nay, chiến tranh chỉ mới ở giai đoạn du kích và ám sát quan chức cấp cao. Không biết khi mồi lửa của nó bùng lên đến mức không thể kiểm soát được thì chuyện gì sẽ xảy ra! Những công trình nghệ thuật bằng gỗ hàng nghìn năm, những thành phố cổ kính quyến rũ, giai điệu sâu thẳm tâm linh giúp nhân loại khám phá ra các giá trị tinh thần khác, trẻ em đến trường trong bộ đồng phục đẹp như tiên đồng ngọc nữ... và hàng chục Di sản văn hóa thế giới. Liệu có còn không!
 


Trẻ em Kathmandu ngày nayTôi dành buổi chiều cuối cùng lang thang qua các nẻo đường Kathmandu như một lời tạ từ. Đó là cách của riêng tôi mỗi lần phải chia tay những thành phố mà tôi có duyên dừng bước lãng du dăm ba ngày. Nhưng không hiểu sao với Kathmandu, tôi cứ thấy nao nao trong dạ, y như khi chia tay một người bạn mà mình biết sẽ không bao giờ còn găp lại. Mong sao đó chỉ là cảm tưởng vu vơ của một tâm hồn đa cảm. Mong sao cuộc chiến tranh vô lý kia sớm lụi tàn. Mong sao Kathmandu mãi mãi là “một mảnh thời gian của những năm tháng đã qua”.
 
Huế, 30/3/2004

  • Nguyễn Văn Dũng
    [/align]
http://www.vietnamnet.vn/vanhoa/vandekhac/2004/04/57524/
..........Sáu Tỷ
...
Đăng nhập để trả lời
0




Gyanendra
ज्ञानेन्द्र


Vua Nepal



Trị vì
7 tháng 11 năm 19508 tháng 1 1951
4 tháng 6 200128 tháng 5 năm 2008

Sinh
7 tháng 7, 1947 (60 tuổi)


Kathmandu, Nepal

Tiền nhiệm
vua Tribhuvan
vua Dipendra

Heir-Apparent
Thái tử Paras

Kế nhiệm
vua Tribhuvan

Hôn phối
Hoàng hậu Komal

Con cái
Thái tử Paras
Princess Prerana

Nhà/Hoàng tộc
Nhà Shah

Cha
vua Mahendra

Mẹ
Crown Princess Indra
Nhà vua Gyanendra Bir Bikram Shah Dev của Nepal ((tiếng Nepal: ज्ञानेन्द्र वीर बिक्रम शाहदेव; Jñānendra Vīra Vikrama Śāhadeva) sinh ngày 7 tháng 7, 1947) là nhà vua Nepal từ 4 tháng 7 2001, sau khi em trai ông, Dipendra Bir Bikram Shah, giết bố mẹ và tự sát. Phương châm của ông là: "Kiến thức là sức mạnh, công việc là sự tôn sùng." Ông đã trị vì Nepal từ ngày 4 tháng 6 năm 2001 đến ngày 28 tháng 5 năm 2008 khi chế độ quân chủ bị bãi bỏ.
Tháng 2 năm 2005, vua Gyanendra đã giành quyền kiểm soát chính phủ, giải tán quốc hội do dân bầu. Sau cuộc vận động dân chủ Nepal năm 2006, ông đã bị buộc phải trả lại quyền cho quốc hội vào tháng 5 năm 2006 và quyền lực của vua chỉ còn mang tính lễ nghi.
 
http://vi.wikipedia.org/wiki/Gyanendra_c%E1%BB%A7a_Nepal
..........Sáu Tỷ
...
Đăng nhập để trả lời
0
Vua Nepal không chịu thoái vị lưu vong
Monday, April 21, 2008
 
KATMANDU, Nepal (AFP) - Vua Gyanendra của Nepal hôm Thứ Hai 21 Tháng Tư đã giận dữ bác bỏ các nguồn tin nói rằng ông bằng lòng lưu vong tiếp theo sau chiến thắng của phe cộng sản thân Mao trong các cuộc bầu cử vừa qua.

Một bản thông cáo từ cung điện hoàng gia nói rằng “có những tin tức sai lạc từ giới truyền thông nội địa và ngoại quốc những ngày gần đây về hoàng gia.”
Một nguồn tin từ hoàng cung cho AFP hay rằng: “Có các tin tức cho hay nhà vua sắp đi lưu vong tại Ấn Ðộ. Ngài sẽ không đi nơi nào. Ngài sẽ không rời khỏi đất nước.”
Thành phần cộng sản thân Mao tại Nepal nhiều phần sẽ chiếm thế đa số trong nghị viện quốc gia này, vốn có nhiệm vụ soạn thảo bản hiến pháp mới.
Phía cộng sản thân Mao dự trù sẽ chiếm ít nhất 220 ghế trong tổng số 601 ghế - đưa họ trở thành đảng mạnh nhất nhưng vẫn chưa đủ túc số để có thể thành lập chính phủ mà không cần liên kết với các đảng phái khác.
Thành phần cực tả ở Nepal cho hay họ quyết tâm hủy bỏ hoàng triều đã có 240 năm lịch sử ở quốc gia này và kêu gọi Vua Gyanendra hãy thoái vị một cách êm thấm thay vì để bị đuổi khỏi hoàng cung.
Người lãnh đạo phía cộng sản thân Mao, ông Prachanda, nói rằng ông muốn nói chuyện trực tiếp với nhà vua để thuyết phục ông tự nguyện ra đi.
 
“Lịch sử cho thấy, các hoàng triều thường hay bị chặt đầu và cũng phải bỏ trốn. Hãy đừng để những điều đó tái diễn ở Nepal,” cựu nhà giáo trở thành lãnh tụ phiến quân đã tuyên bố như trên hồi tuần qua.
Phía cộng sản đã cảnh cáo nhà vua là ông có thể bị đem ra xử và bị “trừng phạt nặng nề” nếu không chịu tự ý thoái vị và trở thành một công dân bình thường trong quốc gia được xếp vào hàng những nước nghèo nhất thế giới này. (V.Giang)
 
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=77324&z=5

 
..........Sáu Tỷ
...
Đăng nhập để trả lời
0



Quốc vương Nepal đồng ý rời Hoàng cung



02/06/2008









Quốc Vương vừa bị truất phế của NepalNhà vua bị phế truất của Nepal, ông Gyanendra đã đồng ý rời bỏ hoàng cung sau khi quốc hội Lập hiến của xứ này mới được bầu lên, quyết định phế bỏ chế độ quân chủ.
 
Bộ trưởng Nội vụ Nepal tiếp xúc với nhà vua hôm thứ Hai, cho biết ông này sẽ rời hoàng cung vào ngày 12 tháng Sáu.
 
Vua Gyanendra yêu cầu Chính phủ giúp ông tìm nơi trú ngụ mới.
 
Hoàng cung tọa lạc tại Gorkha, cách thủ đô Katmandu khoảng 80 kilômét về phía Tây.
Quốc vương Gyanendra bị phế truất hôm thứ Tư tuần qua, sau khi quốc hội Lập hiến Nepal với đa số tuyệt đối đã quyết định kết thúc chế độ quân chủ kéo dài 239 năm ở xứ họ.

Hoàng cung sẽ dược biến cải làm viện bảo tàng quốc gia.
 
http://www.voanews.com/vietnamese/2008-06-02-voa23.cfm
..........Sáu Tỷ
...
Đăng nhập để trả lời
0
Bản đồ Nepal
 
 
 
..........Sáu Tỷ
...
Đăng nhập để trả lời
0
Bản đồ Nepal
 
 
 
..........Sáu Tỷ
...
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-06-03 17:10:46Quang Khôi>
[/color]Hành Hương Xứ Phật[/color]
Phạm Kim Khánh
Trung tâm N
ārada, Seattle, Hoa Kỳ
1997
 
  
Mục Lục
Lời Mở Đầu

  1. Katmandu
  2. Bốn Chỗ Động Tâm
  3. Lumbini (Lâm Tỳ Ni)
  4. Bodh Gayā (Bồ đề Đạo tràng)
  5. Sarnath (Lộc Uyển)
  6. Trên Đường Hoằng Pháp
  7. Kinh Niệm Xứ
  8. Kusinārā (Câu Thi Na)
  9. Tam Tạng Kinh
  10. Vua Asoka (A Dục)
  11. Đền Taj Mahal
  12. Chùa Dhamma Mongkol, Bangkok
-ooOoo-



Lời Mở Đầu

Vào cuối tháng 11, năm 1996 chúng tôi được diễm phúc tháp tùng theo đoàn hành hương nơi xứ Phật do Ngài Đại Đức Thiền Sư Khippapañño Kim Triệu hướng dẫn. Đoàn hành hương gồm 32 vị từ các xứ Pháp, Gia Nả Đại và nhiều tiểu bang khác nhau ở Mỹ như Virginia, Washington, D.C., Maryland, Philadelphia, Florida, Texas, State of Washington và California. Được biết Ngài Thiền Sư Khippapañño đã từng du học và hành đạo ở nhiều nơi tại Ấn Độ và Nepal trong 17 năm. Ngài biết nhiều về phong tục và tập quán của người Ấn, nói được tiếng Hindi và rất thông thạo những di tích Phật Giáo tại Ấn Độ.


Đối với người Phật tử, hành hương nơi xứ Phật cũng tựa hồ như trở về quê cha đất tổ, tìm lại cội nguồn nền văn hóa cổ truyền, di sản tinh thần mà mình đã và đang thọ hưởng. Kho tàng quý báu này không phải bỗng nhiên hiện hữu hay được tạo nên trong ngày hôm qua, mà là công trình khám phá vĩ đại của một người đã dày công trong nhiều năm, nhiều kiếp, cả trăm, cả ngàn, nhiều a-tăng-kỳ kiếp, tự trau giồi đức hạnh và phát triển trí tuệ đến mức tuyệt đỉnh. Ngài tự mình khám phá chân lý và từ bi rọi sáng cho thế gian mê muội.


Nhìn lại cảnh điêu tàn của những đền đài đã đổ nát, những đống gạch vụn đã từ lâu năm bị chôn vùi dưới lòng đất và nay được khai quật, chúng tôi chạnh lòng nhớ đến công đức vô lượng của các bậc tiền nhân đã bước theo dấu chân của Đấng Cha Lành, thọ lãnh giáo huấn siêu việt của Bậc Toàn Giác, đã tự trau giồi, tự phát triển và -- xuyên qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, từ thế hệ này sang thế hệ khác trong suốt hai mươi lăm thế kỷ -- trao truyền lại nguyên vẹn cho chúng ta ngày nay những lời vàng ngọc của Đức Bổn Sư.

Quả thật là nguồn cảm hứng vi diệu! Hơn bao giờ hết, ta nhận thấy rõ ràng đây quả là di sản vô giá mà ta đã kính cẩn thọ nhận từ tay các bậc tiền bối và nơi đây, trong khung cảnh oai nghiêm hùng vĩ giữa những đền tháp sụp đổ, chúng ta tự nghe lòng thúc giục hãy lập tâm chú nguyện, nhận lãnh trách nhiệm bảo tồn kho tàng Giáo Pháp. Và phương cách tốt đẹp nhất để giữ gìn di sản quý báu này là bước theo dấu chân các Ngài, cố gắng chuyên cần trong pháp học và pháp hành, đúng như lời của ngài cố Đại Đức Nārada: "Trên hai ngàn năm trăm năm xuyên qua lịch sử nhân loại, Phật Giáo là một ảnh hưởng cao quý có tánh cách thống nhất, hoà hợp và nâng đỡ con người. Có những quốc gia nổi lên, rồi suy tàn. Có những đế quốc -- xây dựng trên bạo lực và cường quyền -- đã phồn thạnh cực độ, rồi tan rã. Nhưng vương quốc của Pháp Bảo, kiến tạo bằng từ bi và trí tuệ, đến nay vẫn còn hưng thạnh và sẽ còn tiếp tục thạnh vượng ngày nào mà người Phật tử còn biết giữ gìn những quy tắc đạo lý cao cả của Giáo Pháp."


Đức Phật dạy những gì Ngài làm và làm những gì Ngài dạy. Cuộc đời của Ngài là một bài học giáo lý vĩ đại, vô cùng quý báu. Những gương lành mà Ngài nêu lên cho nhân loại trong khoảng thời gian 80 năm của đời sống thánh thiện là một kho tàng Pháp Bảo trọng đại. Hành hương hẳn không phải là du lịch, chỉ nhằm thỏa mãn tánh hiếu kỳ, hay chỉ học hỏi những khám phá mới mẻ của ngành khảo cổ, mà là cảm kích nhìn tận mắt những di tích lịch sử, lắng nghe bức thông điệp hòa bình đượm nhuần từ bi và trí tuệ của Đức Thế Tôn, và rung động hoà nhịp với những lời vàng ngọc, vẫn còn vang dội từ những bức tường đổ nát và những đống gạch vụn phủ đầy rêu xanh, phảng phất đâu đây, xuyên qua hơn hai ngàn năm trăm năm.


Cuộc hành hương cũng cho thấy rằng Đức Phật chỉ là một con người, không có bất luận liên hệ nào với Thần Linh. Ngài ra đời như một người, trưởng thành, sanh sống như một người, và lìa đời như một người. Là một người, nhưng Ngài là một người siêu phàm, một siêu nhân, một con người phi thường, một chúng sanh duy nhất, toàn thiện, tuyệt luân, tuyệt hảo. Do hạnh kiên trì nỗ lực và kiến thức quảng bá của chính mình, Ngài chứng minh rằng bên trong con người có ngủ ngầm một khả năng vô cùng tận mà con người phải tinh tấn trau giồi và phát triển. Tất cả những gì mà Ngài thành tựu là thành quả của những cố gắng của chính Ngài, của một con người. Do kinh nghiệm của chính bản thân mình Ngài chứng tỏ rằng giác ngộ và giải thoát trọn vẹn nằm trong tầm mức cố gắng của mỗi người. Ngài khuyến khích chúng ta không nên trao gánh nặng cho một nguyên lý ngoại lai mà phải tự mình gia công trau giồi và phát triển những năng lực và phẩm chất bên trong mình.

Cuộc đi bắt đầu từ Los Angeles, Califormia., và tất cả đều gặp nhau tại Bangkok để cùng nhau đáp phi cơ ngày 20 tháng 11 sang Kathmandu, thủ đô xứ Nepal. Lưu tại đây hai đêm ba ngày, chúng tôi được hướng dẫn xem di tích của nhiều thành trì cổ xưa nổi tiếng là xinh đẹp, những khu xóm mới mẻ của người Phật tử Tây Tạng di cư và đền thờ của người Nepal theo Ấn Độ Giáo trên bờ sông Bagmati. Cũng tại nơi đây Hội Phụ Nữ Phật Tử Nepal tổ chức cung thỉnh hơn một trăm năm mươi vị Tăng, Ni trong vùng, tổ chức đọc kinh Mahā Paritta suốt ngày để cầu an cho tất cả chúng sanh và đặc biệt để phúc chúc an lành đến Đại Đức Thiền Sư Khippapañño và đoàn hành hương, chuẩn bị tinh thần cho mọi người sẵn sàng bắt đầu cuộc hành hương nơi bốn chỗ động tâm, chiêm bái các Thánh tích.

Ngày 23 tháng 11 chúng tôi đáp phi cơ đi Lumbini, nơi Bồ Tát Đản Sanh, rồi từ đó đi xe viếng thành Kapilavatthu (nay là Kapilavastu) trên đất Nepal, trước khi vượt biên vào lãnh thổ Ấn, thẳng đến Sāvatthi (ngày nay là Sravasti). Từ Sravasti (Sāvatthi) đi xe đến Kusinārā (nay là Kusinagar), nơi Đức Phật nhập Đại Niết Bàn, rồi đến Benares (nay là Varanasi) gần vườn Lộc Uyển (Isipatana, ngày nay có tên là Sarnath), nơi Đức Phật Chuyển Pháp Luân. Tại Sarnath đoàn hành hương lưu lại hai ngày, đi thuyền trên sông Ganges (sông Hằng) và viếng nhiều Thánh tích, có một thời hưng thạnh mà ngày nay chỉ còn là những bức tường gạch điêu tàn. Sau đó đi Bodh Gaya, nơi Đức Bổn Sư Thành Đạo và Rājagaha (nay là Rajgir), kinh đô vương quốc Magadha của vua Bimbisāra (Bình Sa Vương) và sau đó đến vương quốc của vua Ajātasattu (A Xà Thế), toạ lạc gần đó. Rời Rajgir, đoàn hành hương đến Đại Học Nālandā, một đại học Phật Giáo cổ xưa từ thế kỷ thứ V. Từ Rajgir đến Patna, viếng cổ thành của Đức Vua Asoka, rồi đáp phi cơ đi Delhi, trạm dừng chân cuối cùng trước khi về Bangkok, ngày 12 tháng 12, chấm dứt cuộc hành hương. Về tới Bangkok, vì không có chuyến bay để chuyển về Mỹ trong ngày nên được một ngày nghỉ. Nhân cơ hội Đại Đức Thiền Sư hướng dẫn đi viếng ngôi chùa Dhammamongkol với pho tượng bằng ngọc thạch lớn nhất thế giới.

Trong lời mở đầu này chúng tôi chỉ nêu lên những nơi chánh mà đoàn hành hương đã đến. Từ những nơi này chúng tôi được hướng dẫn đi viếng rất nhiều di tích lịch sử Phật Giáo khác. Bên trong sách chúng tôi sẽ có dịp mô tả đầy đủ hơn với nhiều chi tiết. Một điểm khác là, vì để thuận tiện trên đường đi, lịch trình hành hương không theo thứ tự thời gian như Đản Sanh, Thành Đạo, Chuyển Pháp Luân, Nhập Niết Bàn. Trong sách, chúng tôi xin sắp xếp lại để được hợp lý hơn.

Những chuyện tích được thuật lại nơi đây phần lớn dựa theo Tam Tạng kinh điển Pāli, qua những lời giải thích của Ngài Thiền Sư Khippapañño, sách "Đức Phật và Phật Pháp", chuyển ngữ từ quyển "The Buddha And His Teachings" của Đại Đức Nārada, và sách "Phật Giáo, Nhìn Toàn Diện", phiên dịch nguyên tác "The Spectrum of Buddhism" của tác giả, Đại Đức Piyadassi. Cả hai vị, Đại Đức Nārada và Đại Đức Piyadassi đều là người Tích Lan (Sri Lanka).

Hình ảnh do chúng tôi thâu. Vì ở mỗi nơi chỉ có rất ít thì giờ để chụp ảnh, trong hoàn cảnh hối hả và bận rộn, chúng tôi chỉ có thể ghi lại những kỷ niệm mà không thể tỉ mỉ chọn đúng lúc, đúng góc cạnh và ánh sáng thích nghi để sáng tạo những tác phẩm mỹ thuật. Ước mong quý vị đọc giả rộng lòng thông cảm.
Nơi đây chúng tôi xin có lời cảm tạ Đạo Hữu Hồng Kiến Nam đã đọc lại bản thảo và góp nhiều ý kiến xây dựng. Chúng tôi cũng hết lòng cảm tạ cháu Nguyễn Trọng Hách, đã bỏ ra rất nhiều công phu để bảo trì hệ thống điện toán và huấn luyện chúng tôi xử dụng nhằm đảm trách phần đánh máy và trình bày. Cũng xin Cô Trần Thị Kim Liên và nhà in East West Printing nhận nơi đây lòng biết ơn của chúng tôi. Cô Liên bỏ ra rất nhiều thì giờ để liên lạc và bàn thảo với nhà in về phương diện mỹ thuật. Ông Bà chủ và quý vị nhân viên của East West Printing, nhất là Ông Nguyễn Trọng Danh, tận tình hoàn thành viên mãn phần ấn loát.

Nhưng sách cũng không thể ra đời nếu không có phần của toàn thể quý liệt vị đã từ mười năm qua đóng góp vào quỷ ấn tống của Trung Tâm Nārada. Sách này sẽ ra mắt quý vị nhân kỷ niệm mười năm sinh hoạt của Trung Tâm.

Đây là công đức chung của tất cả chúng ta.


Ngưỡng nguyện tất cả đều an vui hạnh phúc trong chánh pháp.
 
Sunanda Phạm Kim Khánh
Trung Tâm Nārada, Seattle, Hoa Kỳ
1997
 
 Ðầu trang | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 | 08 | 09 | 387 | 390 | 393 | Mục lục




Chân thành cám ơn Bác Phạm Kim Khánh đã gửi tặng bản vi tính
(Bình Anson, 09-2004)
 
..........Sáu Tỷ
...
Đăng nhập để trả lời
0
 
-01-
KATHMANDU
Trạm dừng chân đầu tiên của đoàn hành hương là Kathmandu, kinh đô xứ Nepal. Trong dòng lịch sử, biên giới xứ Nepal đã có lần thâu hẹp, chỉ bao gồm vùng Kathmandu, và đôi khi cũng mở rộng về cả hai phía, Đông và Tây. Vào thế kỷ thứ XVII vùng Thung Lủng Kathmandu có ba vương quốc độc lập. Đến năm 1768 một trong các vì vua của ba quốc gia nhỏ ấy gồm thâu và trị vì luôn cả ba nước. Vào năm 1817, người Anh xâm chiếm, và đến năm 1858 thì trả nền độc lập lại cho Nepal. Trong khi hầu hết các quốc gia nhỏ trong vùng Á Châu và Phi Châu đều bị chiếm làm thuộc địa thì xứ Nepal đã khéo xoay trở để bảo tồn tình trạng độc lập của mình, trở thành một thành viên của Liên Hiệp Quốc, và năm 1955 được bầu vào Hội Đồng Bảo An trong hai năm.

Mặc dầu Ấn Độ Giáo là tôn giáo chánh thức của xứ này, một số lớn người Nepal -- có thể lối một phần ba -- là Phật tử. Phật Giáo lần đầu tiên được Hoàng Đế Asoka (A Dục) từ Ấn Độ đưa vào Thung Lủng Kathmandu khoảng năm 250 trước Dương Lịch. Sau đó có một số đông người Tây Tạng, di cư và lập nghiệp tại đây. Dầu sao Phật Giáo được người Nepal xem là một triết học và một hệ thống luân lý, hơn là như một tôn giáo, nên có sự pha trộn rất phức tạp giữa Ấn Độ Giáo và Phật Giáo. Trong vùng Thung Lủng có rất nhiều đền thờ Ấn Độ Giáo xây cất kế cận các chùa hay các tháp Phật Giáo. Nhiều đền đài cổ xưa của hoàng cung nằm lẫn lộn với những kiến trúc tân thời ngay trong vùng Durbar Square của thành phố. Patan là thành phố lớn thứ nhì trong vùng thung lủng, tọa lạc ngay bên cạnh Kathmandu. Thành phố này có một ngôi chùa Phật Giáo xinh đẹp, được xây cất vào thế kỷ thứ XII do những thương gia Tây Tạng, lúc bấy giờ qua lại buôn bán. Bên trong chùa có nhiều hình ảnh và tượng Phật đẹp đẻ nguy nga và nhiều hình vẽ rực rỡ.
Trên đỉnh đồi nằm vào phía Đông thành phố có ngôi cổ tự Swayambhunath rộng lớn và nổi tiếng là một trong tám thắng cảnh đẹp nhất của xứ Nepal. Từ đồi nhìn bao quát về thành phố Kathmandu là một bức tranh tuyệt đẹp, nhất là về lúc trời sẩm tối khi đèn điện thành phố vừa bật sáng lên. Tháp Swayambhunath, cổ kính nhất của xứ Nepal, được xây dựng vào khoảng 2,000 năm nay.

Bảo tháp khác, Bodhnath, được xem là một trong những tháp to lớn nhất trên thế giới. Tháp này được kiến tạo cách nay độ khoảng năm thế kỷ, nằm gần phi trường, cách xa thành phố độ 8 cây số về phía Bắc. Bodhnath là trung tâm văn hóa Tây Tạng trong xứ Nepal, và là nơi có nhiều người Tây Tạng sinh sống. Ngoài bảo tháp còn có sáu ngôi chùa Phật Giáo, tất cả đều mới được xây cất gần đây, sau phong trào di cư của người Tây Tạng vào những thập niên năm mươi và sáu mươi.
Trong khắp đó đây trong vùng ta cũng thấy nhiều pho tượng thờ theo truyền thống Ấn Độ Giáo như Thần Brahma, vị tạo hóa, Thần Vishnu (vị Thần có nhiều tay), thần bảo tồn và duy trì, và Thần Shiva, vị thần tiêu diệt và tái tạo. Ngoài ra có những pho tượng như của thần Kalo Bhairab, tìm ra người nói láo (người ta tin rằng người nói láo mà thề trước mặt Ngài là phải chết ngay), thần chữa bệnh trái trời v.v...
-ooOoo-
 

ĐỌC TỤNG KINH MAHĀA PARITTA SUỐT NGÀY

Trước khi sang Mỹ Ngài Thiền Sư Khippapañño đã có hành đạo tại Nepal bảy tháng và quen biết một số huynh đệ tại đây. Khi hay tin Ngài hướng dẫn đoàn hành hương ghé ngang qua thì "Hội Phụ Nữ Phật Tử Nepal" có nhã ý cung thỉnh hơn một trăm năm mươi vị Tăng và Ni, tổ chức đọc kinh Mahā Paritta trong suốt ngày tại chùa Nagar Mandap Srikirti Vihar, Kathmandu, để phúc chúc an lành cho Ngài và phái đoàn. Danh từ Pāli "Paritta" (Sanscrit là Paritrana) có nghĩa chánh là "bảo vệ". Danh từ này mô tả những bài kinh do Đức Phật thuyết giảng, được xem là có tánh cách bảo vệ và giúp thoát khỏi những ảnh hưởng xấu. Nghi thức đọc tụng và lắng nghe những bài kinh bảo vệ (Paritta sutta) bắt đầu từ quá khứ xa xưa trong lịch sử Phật Giáo. Chắc chắn rằng đọc những bài kinh này có tạo trạng thái tâm an lành cho những ai lắng nghe một cách hiểu biết và tin tưởng nơi chân lý của Phật ngôn. Tâm trạng an lành như vậy có thể giúp một người bệnh sớm phục hồi và cũng có thể giúp đưa đến thái độ tinh thần an lạc, hạnh phúc. Vào thời xưa, tại Ấn Độ những người nghe chính Đức Phật nói lên bài kinh Paritta, hiểu biết ý nghĩa của lời kinh, thì có rất nhiều linh nghiệm. Chính Đức Phật cũng được người khác đọc kinh Paritta cho Ngài và có khi Ngài cũng yêu cầu người khác đọc cho các đệ tử của Ngài, khi các vị này lâm bệnh. Nghi thức này vẫn còn thạnh hành trong các quốc gia Phật Giáo.
Đức Phật và chư vị A La Hán có thể gom tâm vào những bài kinh Paritta mà không cần ai giúp. Tuy nhiên, khi đau ốm bệnh hoạn, các Ngài nghe người khác đọc rồi trụ tâm vào Giáo Pháp chứa đựng trong kinh thì dễ dàng hơn là chính các Ngài suy niệm Giáo Pháp. Trong những trường hợp như bệnh nặng, tâm trí mệt mỏi, nếu có ai gợi lên cho ta ý nghĩ hướng về Giáo Pháp thì dễ có nhiều linh hiệu hơn là chính ta tự kỷ ám thị.
Phật Giáo không phải là một lối sống tuyệt đối trí thức hay hoàn toàn duy lý, cũng không phải chỉ thiên về những nghi thức lễ bái tụng niệm, mà bao gồm cả hai sắc thái, trí thức và xúc cảm, của đời sống con người. Thái độ của Đức Phật đối với cuộc sống không phải chỉ là trí thức suông mà thực dụng. Lối sống của người Phật tử không tùy thuộc suông nơi sự hiểu biết trên lý thuyết hay thuần túy trí thức, mà trên một giáo lý dẫn đến thực hành, và chính sự phối hợp giữa lý thuyết và thực hành đã hướng dẫn người tín đồ đến giác ngộ và giải thoát cùng tột.
Theo Phật Giáo, tâm dính liền với thân, mật thiết đến độ những trạng thái tâm có thể ảnh hưởng đến sức khỏe và tình trạng an lành của cơ thể vật chất. Có vài bác sĩ cũng nói rằng không có chi thuần túy là bệnh cơ thể. Như vậy ta có thể sửa đổi để làm cho sức khỏe tâm linh và tình trạng an lạc của thân có thể theo đó mà cải thiện. Rung động của những âm thanh mà kinh Paritta tạo nên làm êm dịu thần kinh và đưa đến trạng thái tâm thanh bình an lạc, hòa điệu với toàn thể hệ thống.
Bằng cách nào đọc kinh Paritta có thể đối trị những ảnh hưởng xấu của các chúng sanh bất thiện? -- Chúng ta biết rằng ảnh hưởng xấu ấy là kết quả của những suy tư bất thiện. Như vậy có thể đối trị nó bằng cách dùng trạng thái tâm thiện thay thế các tư tưởng bất thiện. Những trạng thái tâm tốt này sanh khởi do sự lắng nghe những lời dạy của kinh Paritta một cách hiểu biết và với niềm tin vững chắc. Chăm chú lắng nghe giúp gom tâm. Tâm an trụ nhiệt thành theo dõi chân lý của lời Phật dạy sẽ tiêu trừ những tư tưởng bất thiện.
Kinh là lời dạy của Phật. Lời kinh tự nó có một oai lực vô cùng hùng mạnh. Nhưng nếu để yên, không ai đọc tụng hay nghĩ đến thì kinh chỉ có một oai lực "tịnh", không "động". Thành tâm tụng lên câu kinh một cách hiểu biết, hay chú tâm suy niệm ý nghĩa của kinh cũng tựa hồ như thổi vào lời kinh một luồng sống, hay nói cách khác, là khơi động sự sống, khơi động oai lực của kinh. Đức hạnh càng thanh cao và trong sạch, sự chú tâm càng dễ dàng và thâm sâu. Tâm an trụ càng vững chắc, tâm lực càng dũng mãnh. Tâm lực càng dũng mãnh sức khơi động lời kinh càng mạnh, và do đó oai lực của lời kinh càng vững vàng, và lời kinh càng linh nghiệm. Chư Tăng là những vị đã nghiêm trì Cụ Túc Giới. Nhiều vị Tăng cùng hợp lại đọc kinh suốt ngày, những rung động của lời kinh quả thật là nhiệm mầu và sắc bén. Nếu đoàn hành hương chúng tôi thành tâm gắn bó theo dõi lời kinh một cách hiểu biết, trong niềm tin vững chắc, thì thời kinh ắt sẽ mang lại nhiều thành quả tốt đẹp, và trước hết lời kinh sẽ là oai lực "bảo vệ' cho chúng tôi trong cuộc hành trình. Và cũng vì lẽ ấy mà trong suốt cuộc đi, mỗi lần có chút thì giờ rảnh là Ngài Thiền Sư đều có đọc kinh Paritta.
Kinh Paritta có đem lại kết quả mong mỏi mỗi lần đọc tụng hay không? Trả lời một câu hỏi tương tợ của Vua Milinda, "Tại sao trong mọi trường hợp kinh Paritta không bảo vệ ta khỏi chết?" Đại Đức Nagasena nói có ba nguyên nhân làm cho kinh Paritta có thể không linh nghiệm: 1) chướng ngại của nghiệp. Nếu nghiệp của đương sự là phải chết, ắt không thể tránh; 2) chướng ngại của những ô nhiễm trong lòng đương sự. Nếu nghe kinh mà lòng đầy tham ái, sân hận, si mê thì lời kinh sẽ không linh nghiệm; và 3) đương sự không đủ niềm tin.

Kinh Paritta gồm hai mươi ba bài do Đức Phật thuyết giảng và được ghi chép đó đây trong năm bộ A Hàm, hợp chung thành Tạng Kinh (Sutta Pitaka). Trong hai mươi ba bài kinh này thường chỉ đọc ba bài chánh là Mangala Sutta (Hạnh Phúc Kinh), Ratana Sutta (Tam Bảo Kinh) và Mettā Sutta (Từ Bi Kinh). Ngoài ra còn có những bài quan trọng khác như Dhammacakkapavattana Sutta (Kinh Chuyển Pháp Luân), bài Paticca Samuppāda (Kinh Tùy Thuộc Phát Sanh, hay Thập Nhị Nhân Duyên), Saccavibhanga Sutta (Kinh Phân Giải Bốn Chân Lý) hoặc bài Bojjhanga Sutta (Kinh Thất Giác Chi, hay Thất Bồ Đề Phần). Tại Kathmandu, chư Tăng, Ni đọc tụng không những ba bài kinh chánh mà một số lớn trong hai mươi ba bài, nên gọi là Mahā Paritta.

Dưới đây xin kể lại một vài mẫu chuyện xảy diễn trong thời Đức Phật cho thấy sự linh nghiệm của kinh Paritta. Mẫu chuyện sau đây được ghi lại trong Bản Chú Giải kinh Pháp Cú:

Chúng tôi có nghe rằng tại thành Sāvatthi (Xá Vệ) có năm trăm vị tỳ khưu, sau khi được nghe Đức Phật dạy về những đề mục hành thiền có thể dẫn đến Đạo Quả A La Hán thì quyết định cố gắng thực hành. Các Ngài đi đến một làng nọ cách xa lối trăm dặm và chọn một địa điểm thích hợp tại khu rừng cách xóm làng không xa, có thể đi trì bình dễ dàng nhưng không bị tiếng ồn trong làng làm xao lảng.
Tại khu rừng có những vị thọ thần sống trên cây, khi thấy chư Tăng đến thì xuống ngồi dưới đất và bàn thảo với nhau, "Có những vị tỳ khưu vừa mới đến. Nếu các Ngài ở luôn nơi đây thì rất là bất tiện, tất cả chúng ta sẽ phải dời xuống, vì các Ngài ở dưới đất mà chúng ta ở trên thì không phải lẽ. Nhưng chắc các Ngài chỉ ở tạm một đôi ngày rồi sẽ đi." Luận như vậy chư thọ thần ngồi dưới đất chờ. Chờ mãi đến mười lăm ngày mà chư Tăng vẫn còn lưu lại trong khu rừng.
Chừng ấy chư thọ thần nghĩ, "Chắc chắn là những vị tỳ khưu này còn ở lại lâu dài. Chúng ta phải có cách gì làm cho các Ngài rời khỏi chỗ này." Theo chiều hướng của ý nghĩ ấy các vị tạo ra những hình bóng ma, có đầu không mình, hoặc có mình không đầu, ngày đêm rên rỉ la hét. Cùng lúc ấy các vị sư bị nhảy mũi, ho, và nhiều chứng bệnh lắt nhắt khác, tuy không nghiêm trọng nhưng vô cùng khó chịu. Chư Tăng bàn với nhau hãy trở về bạch với Đức Phật tìm cách rời khỏi chốn này.
Khi về đến nơi, vào đảnh lễ Ngài và ngồi lại một bên thì Đức Thế Tôn hỏi, "Có phải là các con không thể ở nơi đó không?"

-- Bạch Hóa Đức Thế Tôn, khi ở đó chúng con thấy nhiều điều đáng kinh sợ nên phải rời bỏ, trở về đây với Ngài.
-- Này chư tỳ khưu, vì lúc ra đi các con không mang theo khí giới. Lần này đi, các con phải nhớ đem theo khí giới.

-- Bạch hóa Đức Thế Tôn, chúng con phải đem theo loại khí giới nào?
-- Như Lai sẽ cho chúng con một loại khí giới để đem theo phòng thân.
Rồi Đức Phật đọc trọn bài kinh về tâm Từ (Mettā Sutta), bắt đầu bằng những câu "karaniyam atthakusalena, yam tam santam padam abhisamecca." có nghĩa là: Người có tài trong việc mưu tìm lợi ích cho mình và có ước nguyện thành đạt trạng thái vắng lặng, nên hành động (như thế này:-) ..."
Khi đọc xong bài kinh về tâm Từ (Mettā Sutta) Đức Phật dạy các vị tỳ khưu nên trở về nơi cũ, và đọc kinh này khi vào rừng. Chư vị tỳ khưu đảnh lễ, bái từ Đức Bổn Sư rồi lên đường trở lại khu rừng. Đến nơi, trước khi vào rừng các Ngài đọc bài kinh về tâm Từ (Mettā Sutta). Lúc ấy các vị thọ thần ở khắp nơi trong rừng cảm nghe nhẹ nhàng thoải mái và kỉnh mộ chư Tăng, cùng nhau đến đón mừng, chia nhau canh gát quanh khu rừng và cùng sống chung với các Ngài.
Kể từ đó chư vị tỳ khưu không còn bị khuấy nhiễu, cuộc sống trở nên an tĩnh, ngày đêm tận lực cố gắng trau giồi và phát triển tuệ minh sát.
Một câu chuyện khác thuật rằng vào một lúc nọ dân chúng trong thị trấn Vesāli trù phú mắc phải ba thiên tai -- nạn chết đói, nạn bị ma quỉ phá rầy và nạn dịch hạch. Trước tiên, vì mùa màng thất thoát, nhiều người nghèo không đủ ăn, phải chết đói. Xác chết nằm la liệt, mùi hôi thúi thu hút cảnh âm bất thiện và sau cùng gây nên bệnh dịch hạch truyền nhiễm rất tai hại.
Trước những tai trời ách nước vô cùng nguy hiểm này, trong lúc dân chúng đang xôn xao bấn loạn thì bỗng nhiên họ nảy sanh ra ý nghĩ cung thỉnh Đức Phật, lúc ấy đang lưu ngụ tại thành Rājagaha gần đó.

Hai vị quý tộc dòng Licchavi dẫn đầu một phái đoàn hùng hậu liền lên đường sang Rājagaha, hầu Phật và thuật lại tình trạng đau thương vô cùng tuyệt vọng của họ. Đức Tôn Sư chấp nhận lời thỉnh cầu và cùng Đại Đức Ānanda và đông đảo chư Tăng rời Rājagaha, qua sông Ganges, đến Vesāli.
Khi Đức Phật vừa đến thành Vesāli thì một trận mưa to tầm tã ào xuống, quét sạch thành phố và thanh lọc ô nhiễm trong không khí. Khi ấy Đức Phật giảng bài kinh Ratana Sutta (Tam Bảo Kinh) cho Ngài Ānanda rồi dạy Ngài cùng với chư Tăng và đông đảo dân chúng vừa đi khắp thị trấn vừa đọc kinh này. Ngài Ānanda ôm theo bình bát của chính Đức Phật, đựng nước trong đó và rải nước có đọc kinh cùng khắp. Bản Chú Giải nói rằng khi chư Tăng vừa đi vừa đọc kinh thì các chúng sanh bất thiện trong cõi âm hoảng sợ rút lui. Bệnh dịch hạch cũng tan biến dần. Sau khi chư Tăng đọc kinh để bảo vệ dân chúng trong thành phố xong thì trở về Hội Trường, có Đức Phật chờ ở đó. Nhân cơ hội Đức Phật giảng giải kinh Ratana Sutta cho đám đông. Dân trong làng dâng lễ vật cúng dường để tạo phước và hồi hướng công đức ấy đến chư Thiên và tất cả chúng sanh, mong cầu âm siêu dương khởi.
Một mẫu chuyện khác kể lại rằng ngày nọ, trong lúc đi trì bình, tỳ khưu Angulimāla (Vô Não) nghe tiếng kêu la rên siết bên đàng và được biết rằng đó là một người phụ nữ lâm bồn đang gặp khó khăn. Động lòng bi mẫn, Ngài đem câu chuyện đau thương ấy bạch lại với Đức Phật. Đức Bổn Sư khuyên Ngài quày trở lại đọc những lời xác nhận sau đây:

"Này đạo hữu, từ ngày được sanh vào Thánh tộc tôi chưa hề cố ý tiêu diệt đời sống của một sanh vật nào. Do lời chân thật này, ước mong cô được mẹ tròn con vuông."
Những câu kinh đọc để bảo vệ này được lưu truyền đến ngày nay dưới tên là Angulimāla Paritta. Ngài Angulimāla học thuộc lòng bài kinh Paritta này rồi đi đến nơi, ngồi cách người phụ nữ một bức màn, đọc lại. Người mẹ đau khổ liền sanh được dễ dàng. Đến nay bài kinh này vẫn còn linh nghiệm.
Trên đây là một vài mẫu chuyện cho thấy sự mầu nhiệm của kinh bảo vệ (Paritta).
Trước khi bắt đầu cuộc hành hương đến bốn chỗ động tâm, chiêm bái các Thánh tích, đoàn hành hương được hằng trăm rưởi Tăng, Ni, đọc kinh Paritta suốt ngày thì quả thật là hữu phúc. Lại nữa, đây cũng là cơ hội hy hữu để tạo phước. Mỗi người trong đoàn có thể dâng cúng tứ vật dụng và lễ vật đến các Ngài. Chúng tôi xin có lời thành kính đa tạ tất cả quý vị trong Hội Phụ Nữ Phật Tử Nepal đã tổ chức cuộc tụng kinh Mahā Paritta long trọng này.
Được biết hội phụ nữ này được thành lập vào năm 1981 nhằm mục đích:
1. Giúp người Phật tử Nepal thông hiểu Giáo Pháp của Đức Phật;
2. Tích cực tham gia vào những công trình bảo tồn văn hóa và nghệ thuật Phật Giáo tại Nepal;
3. Giúp cải thiện hoàn cảnh người phụ nữ Nepal và giúp họ tự trau giồi và phát triển về mặt giáo dục, xã hội và kinh tế; và
4. Nhằm củng cố sự giao dịch tốt đẹp với những hội đoàn quốc gia và quốc tế cùng có chung một chí hướng.
Hình ảnh: Chư Tăng tụng kinh Mahā Paritta









 
http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-hhxp/01.htm
..........Sáu Tỷ
...
Đăng nhập để trả lời
0
Lumbini, Nepal
📎 alumbini
..........Sáu Tỷ
...
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-06-17 09:11:09Quang Khôi>
‘Hoàng đế cuối cùng’ của Nepal dọn khỏi hoàng cung
Thứ năm, 12/6/2008, 07:53 GMT+7


Hôm qua, cựu vương Nepal vừa bị phế truất Gyanendra cùng vợ rời cung điện giữa thủ đô Kathmandu, nơi hoàng tộc sinh sống suốt hơn một thế kỷ qua, để chuyển đến nơi ở mới phía ngoại ô.

&gt; Nepal không còn vua





Cựu vương Gyanendra và vợ trên xe rời khỏi hoàng cung. Ảnh: AP.

Hai vợ chồng Gyanendra rời hoàng cung trên một chiếc xe hiệu Mercedes màu đen sang trọng, trong khi hàng trăm cảnh sát chống bạo động được triển khai gác khu vực cổng chính. Trước đó, ông cho biết đã giao lại cây quyền trượng hoàng gia và chiếc mũ miện vô giá cho chính phủ bảo quản, đồng thời cam kết sẽ làm việc vì một nước cộng hoà Nepal.

Cựu vương Nepal tuyên bố: “Tôi tôn trọng quyết định của nhân dân”. Ông cũng khẳng định sẽ không rời bỏ đất nước để đi sống lưu vong, đồng thời tái phủ nhận mọi dính líu tới vụ thảm sát trong hoàng gia năm 2001 như tin đồn. Ông dẫn chứng việc vợ mình cũng bị trúng một số viên đạn, khi thái tử Dipendra bắn chết vua cha Birendea và 8 người khác trong hoàng gia rồi tự sát năm đó.

Sự sụp đổ của nền quân chủ Nepal

Tháng 11/1991: Nepal lập chế độ quân chủ lập hiến dưới sự lãnh đạo của Quốc vương Birendra.
Tháng 6/2001: Thái tử Dipendra bắn chết 9 người trong hoàng gia gồm cả vua cha Birendra rồi tự sát. Gyanendra thừa kế ngai vàng.
Tháng 2/2005: Gyanendra giải tán chính phủ và giành lại quyền lực tối cao trong việc điều hành đất nước.
Tháng 4/2006: Những cuộc biểu tình rầm rộ buộc Nepal tái lập quốc hội và Gyanendra bị tước hầu hết quyền lực.
Tháng 4/2008: Khối chính trị Maoist giành đa số ghế trong cuộc tổng tuyển cử quốc hội.
Tháng 5/2008: Nepal tuyên bố thiết lập nền cộng hoà, chấm dứt 240 năm chế độ quân chủ.
Tháng 6/2008: Cựu vương Gyanendra dọn khỏi hoàng cung ở Kathmandu.
Gia đình Gyanendra chuyển đến sống tạm thời tại một khu nhà ở Nagarjun, ngoại ô Kathmandu, còn cung điện cũ sẽ trở thành bảo tàng. Nơi ở mới của vợ chồng cựu vương khá rộng rãi và tiện nghi, nhưng có vẻ ngoài giống như mọi ngôi nhà khác. Đây là việc đã được lên kế hoạch sau hi quốc hội Nepal do khối Maoist kiểm soát bỏ phiếu phê chuẩn việc xoá bỏ chế độ quân chủ, hồi tháng trước.

Cựu vương Gyanendra cho biết, ông lên cầm quyền vào năm 2005 với hy vọng sẽ mang lại sự hoà giải và ổn định cho Nepal, nhưng ông thừa nhận mọi việc sau đó đã diễn ra không như kế hoạch. Sự kiện vợ chồng Gyanendra dọn khỏi hoàng cung đã đánh dấu sự sụp đổ của triều đại Shah, vốn có công trong việc thống nhất vương quốc Nepal hơn hai thế kỷ trước.

Chính phủ của nhà nước cộng hòa Nepal mới dự kiến sẽ nằm dưới sự lãnh đạo của đảng chiếm đa số trong quốc hội thuộc phe Maoist. Phong trào này mới hạ vũ khí và bắt đầu tham gia các tiến trình chính trị từ năm 2006, sau khi ký thỏa thuận hòa bình chấm dứt cuộc nổi dậy kéo dài hàng thập kỷ.
..........Sáu Tỷ
...
Đăng nhập để trả lời
0