Cuộc sống không có Michael
Tôi đã học được rất nhiều từ Michael Landon. Tôi có được sức mạnh cũng nhờ vào anh. Vài tuần trước khi anh qua đời, anh viết cho tôi vài lời khuyên và kẹp vào trong quyển sách dành cho Ngày Của Mẹ. Dòng chữ ấy rất đặc biệt đối với tôi: ”Sống khoẻ mạnh, cứng rắn. Hãy tận hưởng cuộc sống, biết yêu thương nhau và hạnh phúc.” Michael đã từng nói với tôi: “Đừng sầu khổ quá lâu!” , tôi đang cố gắng làm điều đó nhưng mất một người như Michael thì không gì có thể khoả lấp được cả.
Khi bạn đánh mất người bạn yêu thương nhất, bạn sẽ vật vã với chuyện ấy từng ngày. Trước tiên, con trai năm tuổi của chúng tôi, Sean, luôn nói về cha nó. Thằng bé xem lại những cuộn băng có ghi hình cha và thổ lộ rằng nó nhớ cha nhiều lắm. Sáng nay, nó nói với tôi rằng nó nhớ cha nhiều đến nỗi lòng nó đang đau thắt lên. Jenifer thì tám tuổi, và con bé trầm tính hẳn đi. Cả ba mẹ con chúng tôi nương tựa nhau từng ngày mà sống.
Tôi và bọn trẻ ra nghĩa trang thường xuyên. Chúng tôi đem đến cho Michael những bức thư, kể cho anh nghe chúng tôi đang cảm thấy như thế nào và chuyện gì xảy ra khi không có anh bên cạnh. Nhưng thật sự ở đó tôi không thấy gần gũi anh như ở nhà, nơi tôi có thể thấy hình anh ở bất cứ phòng nào, quần áo của anh vẫn còn trên móc như thể anh vừa mới treo lên và đi đâu đó. Đây là căn nhà nơi tôi và các con đã có quá nhiều kỉ niệm với Michael. Tôi mong được thấy bóng anh ở đâu đó trong nhà. Mỗi khi lên lầu chuẩn bị đi ngủ, tôi mong thấy anh đứng chờ trên đấy và chúng tôi cùng nói chuyện về một ngày đã qua.
Lần đầu tiên gặp Michael khi tôi 19 tuổi, đứng ẩn người trong một căn nhà nhỏ nhìn anh nói chuyện với mọi người, tôi biết mình đã phải lòng anh ngay từ giây phút đó. Hai năm sau, chúng tôi chính thức yêu nhau.
Michael và tôi kết hôn vào ngày lễ tình nhân năm 1983. Anh là người chồng tuyệt vời – mạnh mẽ, quan tâm, hóm hỉnh. Anh là người thích ở nhà bên cạnh vợ con. Mỗi ngày trước khi rời phòng chụp hình, anh điện thoại về nhà hỏi xem chúng tôi có cần thứ gì ngoài siêu thị không. Anh thường xuất hiện với một giỏ bánh kẹo đầy. Anh thích nấu ăn và luôn luôn phụ tôi trong chuyện bếp núc. Anh thích ăn món Ý như mì ống với xúc xích, gà hấp…
Anh là người chồng cũng như người cha tốt. Tôi rất thích đứng nhìn anh đùa giỡn với bọn trẻ, nhất là vào những dịp lễ hội. Ở Hawaii, anh dạy cho bọn trẻ cách nhảy qua những hòn đá trên nước và thích thú khi nhìn thấy bọn chúng tìm được những con sò biển xinh đẹp hay những chú cua con đang lẩn trốn đâu đó. Anh có thể dành hang giờ chơi đùa trên biển với Sean và Jenifer. Mọi thứ trong hôn nhân của chúng tôi dường như không có gì để mà phiền muộn cả. Michael yêu gia đình và công việc. Anh rât khoẻ mạnh và hai chúng tôi mỗi ngày mỗi nhiều tuổi hơn.
Vào tháng 2 năm 1991, anh bỗng bị đau ở vùng bụng. Tôi phải khuyên rất nhiều lần anh mới chịu đi khám. Bác sĩ không tìm thấy gì cả và cho anh uống thuốc giảm đau.
Đầu tháng tư, cơn đau dường như lan toả ra. Bốn ngày sau, anh có kết quả sinh thiết: ung thư vùng tuyến tuỵ và hiện đã di căn qua phổi.
Tôi ngước nhìn anh, tin chắc rằng Michael đac biết trước khi đi sinh thiết. Ung thư tuyến tuỵ phát triển rất nhanh và theo dự đoán của bác sĩ, anh chỉ có thể sống thêm cao nhất là 5 năm nữa (nhưng tỉ lệ chắc chắn chỉ là 3% mà thôi). Tôi choáng váng và điên tiết lên. Tại sao lại có chuyện này xảy ra? Michael bình tĩnh nhìn vào sự thật như anh đã từng giải quyết tất cả mọi chuyện trong cuộc sống hàng ngày của anh. Kể từ ngày biết được căn bệnh đến ngày chết, anh chưa bao giờ giận dữ. Có lần anh đã nói với tôi: “Chúa không làm điều đó đâu em, chỉ vì căn bệnh thôi. Chúa không mang bệnh ung thư đến cho con người đâu.” Đối với Michael, cái chết không có gì phải sợ hãi nhưng anh không muốn chết. Anh không muốn rời xa những người anh yêu thương nhất.
Chúng tôi lựa lời nói cho 2 đứa con biết căn bệnh của cha chúng, rằng cha đang cố làm mọi cách để được sống lâu hơn với các con nhưng không biết sẽ đến bao giờ. Sean rất trầm tĩnh, tôi không biết thằng bé có hiểu hay không, Jennifer cũng thế, nó cố gắng chịu đựng nhưng chính vì sự đè nén bên trong đó làm cho con bé bị đau đầu, đau bao tử và luôn có cảm giác lo lắng, sợ sệt.
Những giây phút đầu tiên đó giống như một cơn bão lớn, quây quanh lấy chúng tôi thì không lâu sau bác sĩ thông báo căn bệnh của anh đang ở vào giai đoạn cuối. Những tay săn ảnh vây lấy nhà tôi và bệnh viện. Họ leo lên tường và nhìn lén vào nhà chúng tôi. Những tờ báo lá cải đăng nhiều bài viết quái lạ. Mỗi tuần, họ lại cho ra một tin bịa đặt mới. Có khi họ nói rằng Michael chỉ còn sống thêm được bốn tuần nữa. Có lúc họ lại nói căn bệnh đã di căn ra khắp người anh. Không có tin nào đúng cả. Cùng lúc đó, công chúng lại bày tỏ sự chia sẻ của lòng yêu thương. Chúng tôi nhận được rất nhiều thư từ. Michael rất cảm động nói với tôi rằng: “Đây là lần đầu tiên anh cảm thấy mình làm xúc động quá nhiều người như thế.”
Không đầy một tháng sau, căn bệnh quái ác đó phát tác lên dữ dội. Lần đầu tiên, hai chúng tôi phải chấp nhận sự thực rằng Michael sắp rời xa gia đình vĩnh viễn. Buổi chiếu hôm đó, tôi và anh ôm chầm lấy nhau. Tôi dựa đầu vào lòng anh và khóc tức tưởi. Michael vuốt tóc tôi thì thầm: “Anh biết mà, anh biết mà.”
Mặc dù lúc đầu Michael do dự, nhưng sau anh đồng ý đi trị liệu hoá học. Anh không muốn nhưng anh làm điều đó chỉ vì vợ và con. Anh đang cố gắng những giây phút cuối cùng này để cố kéo dài thêm cuộc sống.
Sức khoẻ của Michael ngày càng xấu đi. Ngày của Cha 16 tháng 6 đã đến. Những năm trước đây, mẹ con tôi thường mua cho anh những cây vợt tennis. Năm nay, quà cho anh ấy là một bộ pajama và những tấm thiệp tự tay mẹ con tôi làm lấy. Cả gia đình quây quần lấy anh thật đầm ấm.
Vài ngày sau, Michael nói với tôi rằng anh chỉ còn sống được một tuần nữa thôi. Tuần lễ cuối cùng đó, sức khoẻ của anh càng lúc càng tệ. Sáng Chủ nhật ngày 30 tháng 6, cô y tá nói cho chúng tôi biết rằng giây phút cuối cùng sắp đến, rằng chúng tôi hãy chuẩn bị tinh thần. Tôi gọi các con và những người bạn thân của Michael đến gặp mặt anh lần cuối. Từ khi bác sĩ tăng liều lượng morfin lên, anh bắt đầu lúc tỉnh lúc mê. Suốt ngày hôm đó, mỗi người nói lời tạm biệt với anh dù anh lúc biết lúc không. Ai cũng muốn anh thoát khỏi cơn đau đớn.
Sáng hôm sau, Michael trong trạng thái mơ màng. Tôi và hai con ngồi bên cạnh anh suốt. Bỗng anh tỉnh dậy, ngồi lên và nói: “cha yêu các con lắm.” Anh ôm từng đứa một dặn dò đủ thứ. Rồi anh muốn được nói chuyện với riêng mình tôi. Tôi biết anh không muốn các con nhìn thấy anh chết.
Tôi ở lại với Michael, anh yếu dần đi. Có lúc anh hôn mê không còn biết gì nữa. Lúc anh tỉnh lại đối chút, tôi hỏi: “Anh có biết em là ai không?” Anh nhìn tôi trả lời: “Biết.” Tôi vội nói: “Em yêu anh”, anh trả lời: “Anh cũng yêu em nhiều lắm.” Đó là câu nói cuối cùng của anh. Anh ra đi, xa mẹ con tôi vĩnh viễn kể từ giây phút đó.
Tôi muốn thét lên, muốn níu kéo anh trở lại, nhưng cố chịu đựng điều đó trong lòng vì tôi biết anh ra đi rất thanh thản. Tôi ra ngoài báo cho mọi người biết anh đã qua đời. Họ đã tiên lượng được điều đó. Bỗng tôi nghe tiếng thét lớn bên ngoài, Jennifer đã leo lên đỉnh đu quay đang hét tướng lên: “Không phải là cha tôi, tôi không muốn cha tôi chết.” Tôi bảo mọi người cứ để mặc cho con bé tự vượt qua nỗi đau này. Một lúc sau, Jenifer leo xuống và khóc thổn thức trong vòng tay tôi.
Người lo dịch vụ lễ tang đến. Khi họ mang thi thể Michael đi, tôi biết anh sẽ không bao giờ trở lại với chúng tôi nữa.
Tối hôm đó, bọn trẻ ngủ chung với tôi, Jenifer và tôi mặc hai cái áo thun của Michael. Tôi thấy mình cô đơn lạc lõng. Một cảm giác mất mát không gì có thể bù đắp nổi.
Điều tốt nhất nên làm lúc bấy giờ là tôi dẫn hai đứa nhỏ đi xa một thời gian. Chúng tôi đên Haiwaii bốn tuần lễ - nơi mà Michael và chúng tôi vẫn thường đến. Để trốn chạy cảm giác trống trải không phải là chuyện dễ dàng vì nơi ấy chúng tôi cũng không có Michael. Và thậm chí còn tệ hơn khi nghĩ đến cảnh quay về nhà mà không có anh chờ đợi.
Thời gian cũng dần qua và tinh thần chúng tôi cũng tốt hơn trước. Lũ trẻ thỉnh thoảng vẫn ngủ chung với tôi. Chúng muốn được ôm ấp như cha chúng thường làm trước đây. Vài hôm trước, đang trên đường cao tốc, không hiểu vì lí do gì tôi lại quẹo xe đến phòng chụp hình, nơi mà trước đây mẹ con tôi thường đến thăm anh. Michael đã ra đi và bây giờ cuộc sống của chúng tôi có khá nhiều đổi thay.
Trước khi Michael mất, tôi rất sợ cái chết. Tôi luôn lo lắng mỗi khi bệnh hoạn hay mỗi lần ngồi trên máy bay. Bây giờ thì tôi không còn lo sợ nữa. Cuộc đời mình ngắn ngủi lắm. Bạn không biết được khi nào mình chết đâu. Thế thì hãy trân trọng những giây phút mình còn được sống trên cõi đời này.
Khi nghĩ về Michael, điều tôi nhớ nhất về anh là sự trân trọng cuộc sống cũng như tình yêu thương gia đình vô bờ bến. Tất cả những gì còn lại giữa chúng tôi chính là một gia đình hạnh phúc: anh luôn bên cạnh mỗi khi tôi cần và tôi cũng thế. Một lần, sau khi bác sĩ định bệnh cho anh, anh nói rằng mỗi chúng ta đều có thể quyết định được thành công hay thất bại. Anh nói: “Anh đã chọn một cuộc sống như ý muốn, một gia đình hạnh phúc không phải ai muốn cũng có được.” Tôi nhớ Michael từng giây từng phút nhưng tôi biết dù anh đang ở bất cứ nơi nào, anh cũng đang rất hạnh phúc và mãn nguyện. và chắc chắn một ngày không lâu nữa tôi cũng sẽ được gặp lại anh – Michael yêu quý của tôi và các con.
Cindi Landon
with Kathryn Casey
Cung Trăng cắt đất phân lô
Đừng tưởng chỉ đám điên rồ mới mua
Bao người lắm của tiền thừa
Cũng tậu vài thửa dẫu chưa được dùng!
★
★
★
★
★
0