📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Tập truyện ngắn Nguyên Bình 🔒

8 trả lời, 1.237 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-09-09 19:53:24Ct.Ly>


Tập truyện ngắn Nguyên Bình





   NGUYÊN BÌNH


Tên thật: NGUYỄN QUANG BÌNH
 
Hội viên Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam
Công tác tại Toà án nhân dân huyện Đồng Văn Tỉnh Hà Giang
 
Điện thoại: Cơ quan: 0219 856120
                   Di động: 0975727506
Email: [email=321nguyenbinh@gmail.com]321nguyenbinh@gmail.com[/email]




CHIA TAY VỚI ĐÁ

Buổi chiều, trong bữa ăn, bố hỏi mẹ:
- Có đợt chuyển nhà xuống vùng thấp, trong xóm nhiều hộ đã đăng ký, mình có chuyển không?
Mẹ im lặng với tay lấy cho Mai bát mèn mén. Mai chẳng hiểu gì hỏi bố:
- Vùng thấp là vùng nào ạ?
Bố chưa kịp trả lời nó đã hỏi tiếp:
- Tại sao nhà mình phải chuyển xuống vùng thấp ạ?
- Mọi người không còn ai ở đây nữa à?...
Tôi đá chân nó một cái, nó hiểu ý không hỏi nữa.
Mẹ đưa bát cho Mai. Nó đón lấy chưa ăn ngay, bưng bát ngóng.
Bao nhiêu hộ đã đăng ký? - Mẹ hỏi bố.
- Khoảng hơn mười hộ xin chuyển ngay. Còn một số nấn ná đợi thu hoạch ngô xong rồi mới chuyển.
- Nơi ở mới thế nào?
- Thuận lợi hơn về nguồn nước và đi lại.
- Còn nhà cửa thế nào?
- Nhà nước làm sẵn, mình chỉ việc đến ở.
- Nhà thì có thể chuyển nhưng còn nương rẫy, đi xa thế làm thế nào được. Mai, ăn đi! - Mẹ giục nó.
- Nghe nói xuống dưới ấy Nhà nước còn cho ruộng để làm...
Tôi không mấy quan tâm đến câu chuyện giữa bố và mẹ nên ăn xong vội buông bát đứng dậy đi tìm thằng Sình để khoe con quay mới. Ra đến cửa thấy trời xâm xẩm tối định không đi nữa nhưng nghĩ ở nhà chẳng có gì vui nên lại đi. Vừa đi tôi vừa ngửa cổ nhìn trời, bao la một màu mờ đục, thảng loặc có cánh chim xập xè về tổ. Màu khói bếp đã không còn rõ nữa. Nhà thằng Sình như đang mờ dần vào màu tím của núi rừng. Đi được nửa đường chợt không còn hứng thú đi tiếp nữa, tôi ngồi xuống tảng đá ngắm mặt trăng đang lên sau dãy núi, một thứ ánh sáng dìu dịu mềm mềm lan toả trong không gian. Tiếng lá rừng vẫy gió rung động. Những chú dế bắt đầu kẽo kẹt từng nốt nhạc dạo đầu. Bàn tay tôi tỳ trên đá chớm lạnh, vậy là sương bắt đầu rơi. Phía dưới kia có cả một vùng u tối và hun hút sâu, những bụi cây mang trên mình hình thù kỳ quái, tôi bất chợt rùng mình khi cơn gió tràn qua. Và sợ, tôi cũng không hiểu mình là sao nữa, tôi sợ bụi cây, tôi sợ tất cả những gì nhìn thấy, chúng giống đàn thú dữ đang chuẩn bị vồ ngấu ngiến con mồi. Phía trên là dãy núi cao lừng lững. Nếu không có đám nương đã được dọn sạch cỏ là yên bình thì những khối đen trên kia đã lăn ào xuống chỗ tôi ngồi. Xung quanh im ắng đến rùng rợn. Căn nhà phía trước mờ ảo trong làn sương khói, ánh lửa bếp lập loè sáng tối như những con ma đói lượn lờ... Chỉ còn có chị Hằng là hiền lành đáng tin cậy nhưng chị ở cao quá, xa quá!... Sự sợ hãi bao trùm không gian, tôi không còn đủ can đảm ngồi đó nữa mà quáng quàng rời khỏi tảng đá chạy về nhà.
Sáng hôm sau tôi ra trường học. Từ ngày cô giáo Hoa chuyển đi không thấy ai về dạy, cái chữ trong xóm ít dần. Vài đứa liều mạng đi bộ vượt qua dãy núi sang bên Xè Pạ mới được thêm vài con chữ ngoằn ngoèo, vài buổi sau không thấy đứa nào vượt núi đi học nữa, con chữ ở xa quá muốn đến gần cũng không dễ gì. Trường học đã từng là nơi đánh yến, đánh cù, đá cầu, nơi tổ chức hội hát giao duyên, ném pao và hội vỗ mông vào dịp tết. Trường học bây giờ mục ruỗng, hoang tàn, tường đất sạt lở toe toét, mái gianh sụp xuống trồi ra mấy cây xà vắt ngang, Sình và Lử đang ngồi vắt vẻo trên đó.
Từ ngày có kế hoạch hạ sơn cái xóm này vắng hẳn, nhiều người đã ra đi. Nơi ở mới thấp hơn, bằng phẳng hơn, giàu có và đỡ nhọc nhằn hơn.
Đã có một thời gian dài nơi này là lãnh địa riêng của chúa đất Sùng Xúa Chư, ông ta thuê thợ bạt đá xếp thành bậc từ con đường mòn lên tận cửa dinh thự. Dinh thự được làm bằng những tảng đá lớn, vuông vức, đục đẽo cẩn thận và to nhất vùng. Ông ta có tới bố bà vợ và gần hai trăm người hầu.
Đất đai khi xưa còn tốt, nhát cuốc bổ xuống cái bụi còn bay lên mù mịt, hạt giống rơi xuống là được quả đem về. Mùa hè ngô xanh lút đầu người. Mùa đông hoa cải vàng trải thảm, hoa tam giác mạch trắng tím kéo dài từ sườn núi bên này sang sườn núi bên kia. Rồi còn sắn, dong giềng, củ mài vô khối.
Bây giờ cái đất ít lắm, nhát cuốc bổ xuống lại nẩy lên vì va vào đá, cái bụi chưa bay lên đã bị gió cuốn đi mất. Tra hạt ngô xuống cái cây ngoi lên èo uột, vàng ệch. Nhiều nhà chưa qua tết đã hết cái ăn, phải xuống tận huyện xin nhà nước cứu đói mới đợi được đến mùa vụ. Khi có dịp ngồi bên nhau mọi người lại ước cái thời ngô sắn đầy nhà lấp cả lối đi, bước chân phải rón rén, giờ đây bước chân được thoải mái nhưng lại thấy nhói đau trong lòng. Hình như đá mỗi ngày một lớn, nó ăn đất để lớn lên thì phải, thành ra cực nhọc cứ ngày càng chồng nặng lên đôi vai con người.
Nắng hôm nay đẹp quá, óng vàng, trong vắt chan hoà khắp nẻo. Lác đác trong xóm vài bóng người đi lại. Số đông đã chuyển đi từ sáng sớm. Sự yên vắng nghe lòng nao nao đến lạ.
- Nhà mày có chuyển đi không, Chơ? - Bất ngờ Sình hỏi.
Tôi chưa trả lời, trèo lên cái xà ngồi cạnh nó.
- Chúng mày có thấy buồn không? - Tôi hỏi hai đứa nó.
- Buồn vì cái gì? - Lử hỏi lại.
- Buồn vì xa nơi này.
- Có gì phải buồn kia chứ, - Lử trả lời. - Ở dưới kia đi học gần hơn, ở nhà đẹp hơn, có nhiều bạn hơn, nhiều trò chơi hơn thì có lý do gì mà phải buồn.
Tôi không nói nữa. Lử cũng im lặng cùng phóng tầm mắt ra xa nơi có vài người đang dọn những đồ đạc cuối cùng của mình để ra đi.
 
*
Mấy ngày sau, bố nói:
- Ta chuẩn bị chuyển nhà. Nơi ở mới đẹp lắm.
- Được chuyển nhà rồi! - em Mai reo lên.
- Bao giờ nhà mình chính thức chuyển đi? - Mẹ hỏi.
- Khoảng vài hôm nữa. - Bố trả lời.
- Nhà ở mới thế nào? - Mẹ hỏi tiếp.
- To hơn, đẹp hơn nhà ta đang ở.
Bố nói rồi vội vã đi ra ngoài. Tự dưng tôi thấy lòng mình như có gì đó trĩu xuống. Vậy là cuối cùng vẫn phải chuyển đi... Dẫu rằng đã đoán trước được ngày này sẽ đến nhưng sao tôi vẫn thấy hụt hẫng, bâng khuâng, ngơ ngẩn. Tôi đến nhà Sình định báo với nó. Nhà nó vắng hoe, trống trơn. Chẳng cần nghĩ nhiều tôi cũng biết gia đình nó đã chuyển đi. Buồn u ám. Tôi lững thững ra ngôi trường cũ, giật mình nhận ra lối đi đã bị cỏ mọc tràn gần kín, đám đất bị bọn chơi giẫm cho nhẵn thín đã thành nhà của vài ổ kiến, ổ mối. Cơn gió đi qua cũng khô khốc lạnh lùng.
Hôm chuyển nhà bố tôi nhờ thêm vài người đến giúp. Đồ đạc được chất lên lưng bốn con ngựa. Tôi chẳng phải làm gì. Bố mẹ đã thu dọn các thứ từ nhiều ngày trước. Bé Mai tự nhiên trầm hẳn, không nói cười đứng thu lu một góc khác hẳn với sự nhảy nhót, quậy phá thường ngày. Mẹ thu nốt vài thứ lặt vặt cho vào quẩy tấu. Căn nhà lạnh dần trong hoang vắng.
- Mai, đi thôi!
Mẹ gọi Mai khi nó cứ đứng lì ở góc hè nhìn mọi người chất các thứ lên lưng ngựa và chuẩn bị ra đi.
- Đi thôi, con!
Mẹ vẫy tay gọi bé Mai một lần nữa nó mới nhấc chân bỏ lại góc hè đi theo mọi người. Đi một quãng xa bé Mai vẫn ngoái đầu nhìn ngôi nhà cũ, cái mái gianh đã bị mưa làm xói lở nhiều chỗ, ở trong nhà còn bắt được cả ánh nắng lọt vào.
Nắng lên. Từng sợi nắng óng vàng trải xuống sườn núi và rừng cây. Tiếng ngựa gõ móng vào đá. Tiếng gió thổi. Tiếng chim hót. Và im lặng từng bước chân người.
Hết con đường đá, tôi nhìn lại, cảnh vật bỗng cô đơn, nắng cũng buồn heo hắt.
 
QUÊ MỚI
Sau khoảng ba giờ đi bộ đến một thung thổ khá bằng phẳng. Đứng trên cao nhìn xuống nó giống như một cái chảo khổng lồ, viền chảo là những dãy núi ghé sát vai nhau cao ngất, lòng chảo có cánh đồng lúa xanh rì, có dòng sông, có con đường lớn đi qua và dãy nhà dọc theo hai bên đường, kéo dài đến tận chân núi là màu óng vàng của những bắp ngô đã bóc bẹ đang khoe mình dưới nắng...
- Đây là quang cảnh nơi chúng ta sẽ ở.
Lời bố làm tôi giật mình, tôi cứ tưởng bố đi tít phía xa không ngờ bố ở ngay sát cạnh phía sau.
- Ôi, đẹp quá! - Bé Mai reo lên khi ánh mặt trời đi ra khỏi đám mây.
- Đẹp thật! - Mẹ nói
Tôi cũng định nói gì đó nhưng đã bị mẹ và em Mai nói mất rồi nên lại đành im lặng.
Mọi người cùng đi vào con đường mòn dốc nghiêng về phía dòng sông. Càng đi xuống cái lòng chảo dường như càng rộng ra. Những bắp ngô phơi nắng toả ra một mùi thơm dìu nhẹ. Chị gió thỉnh thoảng ào qua xô đẩy những cây ngô va vào nhau rào rào.
Bất chợt bố hỏi tôi:
- Con thấy nơi ở mới thế nào?
- Đẹp ạ! - Tôi trả lời.
- Thật không? - Bố hỏi lại.
- Vâng. Có núi có sông, có dải đất bằng, có đường đi lại...
Tôi trả lời bố bằng mấy lời trong câu chuyện mà cô giáo Hoa đã kể cho cả lớp nghe đến tận bây giờ tôi vẫn còn nhớ. Thật không ngờ tôi có thể trả lời bố bằng một câu hoa mĩ đến vậy. Bố nhìn tôi nở một nụ cười. Trong quan niệm của người Mông xa xưa vốn không tồn tại những điều tôi vừa nói. Họ quan niệm nơi nào không có ba thước đất bằng, không có ba ngày sáng mới là chỗ ở của người Mông. Vùng đất bằng là của người Tày, người Kinh.
Nghe bà kể lại thì xa xưa tổ tiên của người Mông là ở vùng Hoa Nam trù phú, đất đai của họ kéo dài tít tắp, một con ngựa tốt chạy ba tháng ròng chưa hết con đường chính đi sang đất khác. Người Mông đã từng trồng lúa nước và ăn cơm trắng. Sau này do những biến cố lịch sử, sự tranh chấp của các dòng tộc, sự cát cứ của người Hán, người Mông bị dạt xuống phía Nam. Vùng đồng bằng phía Nam người Việt đang chiếm giữ. Duy chỉ còn vùng núi cao, thâm u đá núi và rừng cây là vẫn còn bỏ trống. Người Mông liền giữ lấy vùng đất này. Và chính nơi đây đã cho họ sự sống, yên ổn làm ăn. Trong tâm thức người Mông đánh giá nơi núi cao này mới đích thực là đất của người Mông, là quê của người Mông. Trong câu hát truyền lại: "Người Mông cũng có quê, quê người Mông ở Mèo Vạc." Mèo Vạc là một vùng núi non trùng điệp, có tới tám chín phần là đá, đất chỉ đọng lại một chút ở thung sâu và vũng núi.
- Con có thích nơi này không? - Bố hỏi khi đi vượt lên trước tôi.
- Thích ạ! - Tôi trả lời.
Nói vậy thôi chứ thực tình trong lòng tôi lúc ấy vẫn chưa hình dung ra được cuộc sống khi cả gia đình tôi chuyển xuống quê mới sẽ như thế nào, tốt đẹp hơn ra làm sao. Sự thân thiết với xóm cũ làm tôi thấy buồn nhiều hơn vui. Sự lạ lẫm thường làm cho con người ta có cảm giác chơi vơi, trái hẳn với miền bình yên của sự thân thuộc.
Mẹ bỗng bật cười khi quay lại nhìn tôi. Chắc lúc ấy trông tôi phải khôi hài lắm.
Vừa đi tôi vừa suy nghĩ, tưởng tượng xem những ngày tới sẽ làm gì ở quê mới. Tôi tự đặt ra cả trăm tình huống rồi tự tìm cách giải quyết. Tôi cứ miên man nghĩ như vậy từ đi đầu đã bị tụt lại phía sau lúc nào không hay. Mẹ và em Mai giục tôi mấy lần đi nhanh hơn nữa nhưng không hiểu sao chỉ được một đoạn tôi lại bị tụt lại. Sau này mới thấy những điều mình đã nghĩ lúc ấy là vớ vẩn không thực tế.
Phía trước có tới mười mấy ngôi nhà mới chắc chắn, mái lợp phibrôximăng, xung quanh tường được thưng bằng ván gỗ.
- Nhà chúng ta kia kìa! - Bố nói và chỉ vào một ngôi nhà ở giữa, bên cạnh có một khe nước chảy qua.
Nhìn qua bề ngoài đã thấy ngôi nhà mới đẹp hơn rất nhiều so với ngôi nhà cũ ở trên núi. Vách vẫn còn thơm mùi gỗ khác hẳn với mùi ẩm mốc của tường trình đất.
Bố lấy chìa khoá mở cửa. Bé Mai chạy ào vào trong nhà xem xét. Một lúc sau nó chạy ra khoe:
- Nhà mới đẹp lắm!
Bố mẹ và mấy người đang dỡ các thứ từ trên lưng ngựa xuống nhìn nó cười. Mẹ mang chiếc quẩy tấu vào trong nhà, tôi cũng theo vào. Ngôi nhà mới bên trong sáng gần như bên ngoài chứ không tối thui như ngôi nhà cũ. Mẹ bỏ các thứ trong quẩy tấu ra đặt cạnh bếp sưởi. Bố và những người đến giúp khuân đồ đạc vào trong nhà.
Tôi đã nhìn thấy cái giường, không biết bố tôi đã mua nó khi nào, đây là cái giường đầu tiên gia đình tôi có từ ngày tôi biết nhớ, cái giường được đóng cẩn thận, rộng và tuyệt đẹp. Tôi cũng không hiểu sao người Mông khi có tiền mua sắm rất nhiều thứ, nhưng cái giường là nơi để ngủ thì lại được làm rất tạm bợ, thường thì chỉ là những tấm ván kê, nếu nhà nghèo thì dùng tre hoặc nứa kết lại và cũng chỉ hẹp toen hoẻn một người nằm đã chật. Bây giờ gia đình tôi có cái giường đẹp và rộng, tôi thấy lạ.
Một lúc sau có vài người đến thăm, bố tôi lấy rượu ra mời. Tiếng cười nói rộ lên!
Đêm đầu tiên nằm trong căn nhà mới, giường mới, chỗ nằm mới thêm mùi gỗ làm tôi khó ngủ. Tiếng gió thổi ầm ù ngoài vách. Tiếng nước chảy nơi đầu nhà dội lại. Tiếng ô tô nặng nề xiết bánh xuống đường,... Những âm thanh lạ cứ vang vọng trong đầu tôi, phải chăng đây là âm thanh của quê mới?!

 
TÌM BẠN

Tôi tỉnh dậy khi cái nắng đã sải chân khắp nẻo, cảnh vật bừng sáng, hít một hơi rõ dài, vươn vai một cái,...
Đâu đây có tiếng hoạ mi hót, tôi lắng tai nghe.
Một cơn gió tràn tới, tiếng đập nước thì thùm, tiếng hò hét cười nói, tiếng gọi nhau í ới vọng lại. Tôi đoán chắc rằng phía sông lúc này đang đông người. Một ý nghĩ chợt đến, tại sao mình không đi một vòng xem nơi ở mới có những gì nhỉ. Nơi mà tôi quyết định sẽ ghé chân đầu tiên là dòng sông. Nắng sớm trong veo và gió mát. Tôi lâng lâng nhịp bước. Con đường mòn đi vắt qua nương ngô cong queo, õng ẹo, đỏng đảnh, thỉnh thoảng vài anh chàng ngô đổ kềnh ra chắn lấy lối đi. Tôi đi một cách điệu đàng với những bước nhún nhảy rất điệu nghệ vượt qua những cây ngô. Một bé gái hiện ra ngay trước mặt làm tôi giật mình, trên lưng cô bé là gùi nước nặng trĩu, tôi vội vàng nhường đường bước xuống nương ngô, vô tình vấp vào mô đất, may quá mấy anh chàng ngô đã đỡ lấy thân tôi không để lấm quần áo. Cô bé nhìn tôi tủm tỉm cười. Nụ cười ấy đã làm tôi ngơ ngẩn một lúc lâu, cả khi cô bé đã đi khuất trong rừng ngô. Tội nghiệp mấy cây ngô vừa đỡ thân tôi đã không còn đứng thẳng lên như tôi được nữa. Định thần lại tôi đã nhảy lên cao mấy lần để vượt lên những cây ngô xem bóng dáng cô bé có còn gần đó. Nhưng tôi chẳng thấy gì ngoài màu xanh xám của lá ngô bắt đầu khô đi. Tôi đành đưa chân bước tiếp.
Tiếng cười lại rộ lên, bây giờ đã rõ lắm, áng chừng sắp tới dòng sông, tôi thong thả bước và thấy mình người lớn hơn.
Tôi đã nhìn thấy dòng sông, nước chảy có vẻ vội vã, nó cuộn lên, vón lại rồi tan ra, rồi lại cuộn lên vón lại và tan ra,... Dòng sông trong tâm tưởng của tôi khác hẳn, nước êm đềm trôi, xanh trong và dài rộng. Đàn cá tung tăng bơi lội, thỉnh thoảng quẫy đuôi đớp bóng tắc pủm. Hai bên bờ có hàng cây soi bóng... Nay nhìn xuống dòng sông cũng thấy xanh trong nhưng không thấy cá và không thấy hàng cây chỉ thấy những đám ngô lột bẹ đang phơi dưới nắng.
Tôi đi tiếp về phía có tiếng người hò hét. Nơi ấy con sông vồng lên, nước chảy qua những phến đá to rồi đổ xuống ầm ào. Bờ sông có vài người phụ nữ đang giặt áo váy. Cạnh đó lũ trẻ đang hò hét đùa nhau đập nước bắn tung tóe. Tôi đưa chân lên bãi cát, sự mát dịu thấm vào da thịt. Không ai thèm để ý đến tôi. Tôi bước tiếp về phía lũ trẻ.
Bỗng một đứa hét to:
- Thằng mới đến kìa chúng mày.
Tôi nhìn kỹ và phát hiện ra thằng béo nhất vừa hét. Nó có kiểu tóc thật ấn tượng, thoạt nhìn người ta cứ tưởng cái mũ nồi đội lên khúc chuối. Cả bọn dừng hò hét tiến lại phía tôi. Thằng béo khệnh khạng đi lên trước.
- Ê, mới đến hả?
Tôi không nói gì đi thẳng ra mép nước.
- Đứng lại! - Thằng béo quát.
Tôi giả vờ không nghe thấy bước một chân xuống nước rồi thò tay vục nước đưa lên miệng, một vị ngọt thanh thanh tan ra nơi đầu lưỡi.
- Thằng kia, tại sao mày không đứng lại. - Thằng béo quát lên lần nữa.
Tôi vẫn không nói gì đưa nốt chân kia xuống nước, cả hai bàn chân lúc này rười rượi mát. Thằng béo tiến lại gần hơn, nó dịu giọng:
- Tao hỏi sao mày không trả lời?
- Mày hỏi tao à? - Tôi hỏi lại nó.
- Chứ còn ai nữa.
- Vậy hả? Thế mà tao cứ tưởng...
- Mày tưởng gì?
- Tao tưởng mày hỏi đứa nào đó.
- Mày định gây sự hả?
Tôi không nói gì quay mặt đi. Thằng béo tức tím mặt. Cả bọn lúc này đã quây lại. Thằng béo bất ngờ tung một cú đấm thẳng về phía má bên trái của tôi. Tôi xoay người lùi chân phải về phía sau. Thằng béo đấm trượt vấp vào chân trái tôi chới với rồi ngã tòm xuống sông. Nó lóp ngóp bò dậy chạy lại tung tiếp một cú đấp nữa về phía mũi của tôi. Tôi né người, thuận chân đạp vào cái mông quá khổ của nó. Thằng béo ngã úp mặt xuống dòng nước và bị trôi đi một đoạn. Nó đứng dậy vuốt mặt rồi tung một cú xông phi về phía tôi. Tôi tiếp tục tránh né. Thằng béo lại ngã ùm xuống nước. Lần này nó bật dậy tung một cú đá vào giữa ngực tôi, tôi nghiêng người phóng một cước vào chân trụ của nó làm nó đổ xuống như cái cây bị chặt gốc. Thằng béo lần này không dậy nữa mà ngồi dưới nước giơ tay lên.
- Đình chiến! - Nó đề nghị.
Tôi đồng ý. Cả bọn đồng loạt vỗ tay. Tôi không ngờ mấy miếng võ bố nói là của người Hoa, lúc cao hứng ông đã truyền dạy cho tôi lại có giá trị đến vậy. Thằng béo đầu hàng không kèm theo một điều kiện nào. Cả bọn nhìn tôi kính nể.
Tôi thấy mình cũng oai vệ đường hoàng, có đứa còn mau mồm gọi tôi là "chủ tướng" làm tôi sướng rơn. Cả bọn muốn làm bạn với tôi, tôn tôi làm thống lãnh nhưng tôi chả thích mấy, chơi với chúng được một lúc thì chán rồi bỏ về.
Tôi giúp mẹ xếp ngô lên gác bếp.
Em Mai đã tìm được bạn mới, chúng vui vẻ kéo nhau đi chơi.
Một ngày trôi qua bình lặng.
 
*
Hôm sau bất ngờ Sình đến. Nó đến bằng xe đạp do thằng Pao đèo. Lần đầu tiên tôi được nhìn và sờ tay vào xe đạp. Sình khoe Pao là hàng xóm nhà nó. Biết tôi đã chuyển xuống quê mới Sình rủ Pao đi chơi. Đi xe đạp nhanh lắm, nhanh hơn cả đi ngựa,... Tôi cười nghe nó nói. Cái thằng vẫn thế, khi vui nói hết phần người khác, khi buồn cạy răng không được nửa lời. Tôi và Sình huyên thuyên những chuyện cũ mới. Pao không nói gì chỉ cười. Tôi không thích mấy cái tính hay khoe khoang của thằng Sình, nó nói đi nói lại rằng có bộ đồ chơi mới đẹp lắm và khẩn khoản mời tôi đến nhà. Nhà nó cách nhà tôi không xa, chừng mười lăm phút đi xe đạp là tới. Tôi không biết nói gì vì tôi chưa có xe đạp, chưa một lần được ngồi lên xe đạp, vậy mà... Thằng Sình nói hào hứng quá!
Rồi Sình cũng ra về. Đi được một đoạn khá xa nó còn cố nhắc lại lời mời:
- Nhớ đến nhé, hay lắm, tớ sẽ bày cách cho mà chơi, nhớ nhé!
📎 nguyenbinh|Bia 1
0
ĐI HỌC

Hôm nay là buổi đầu tiên đi học ở ngôi trường mới. Tôi dậy từ rất sớm, mặc quần áo đẹp, chải chuốt gọn gàng.
Ngôi trường mới! Nghe thôi đã thấy lòng rạo rực.
- Chơ ơi!
Có tiếng gọi đầu ngõ, tôi vội chạy ra. Thằng béo đang đi vào, nó đến rủ tôi đi học. Thực ra tên nó là Sùng, Giàng Mí Sùng, chắc vì nó béo quá nên đám bạn chẳng thằng nào chịu gọi nó bằng tên mà cứ "béo ơi" mà réo.
Sau lần gặp nhau, được dầm nước sông, tưởng nó sẽ giận hoặc thù tôi, nhưng không, nó đã làm ngược lại khiến tôi bất ngờ. Từ đó tôi và nó trở thành đôi bạn thân.
Sùng mang chiếc cặp khá to, tôi chợt nhận ra những thứ đã chuẩn bị từ hôm trước là hơi ít, nhưng loay hoay mãi với đống đồ dùng học tập mà vẫn chưa biết nên đem thứ gì, để lại thứ gì...
Sùng phải giục mấy lần tôi mới bước được chân ra khỏi nhà sau khi nhét vào cặp cả đống sách vở, giấy, bút mà cô giáo đã phát cô từ hôm trước để chắc chắn rằng đã đem đủ các thứ cần dùng.
Sùng đi nhanh lắm, đôi chân nó phải mang một thân hình quá khổ mà sao vẫn đi được nhanh đến thế kia chứ. "Ngày xưa có một bạn chạy thi với ốc sên,..." - Sùng cười vừa kể một câu chuyện chỉ với từng ấy chữ để ám chỉ đôi chân chậm chạp của tôi. Tôi phải chạy theo mới đuổi kịp Sùng nhưng cũng chỉ một đoạn lại bị tụt phía sau.
Gió thổi vi vu trên đầu. Mặt trời vẫn chưa lên. Con đường trải nhựa buổi sáng thẫm hơn. Sùng đi giật lùi đưa tay vẫy vẫy. Cái thân hình béo ị của nó núng nính làm tôi phì cười.
Ngôi trường mới hai tầng được xây trên khu đất rộng, phía trước là dòng sông, phía sau là dãy núi Pum Cọ, kề bên là khu tập thể giáo viên. Sân trường ồn ào từng tốp học sinh đang quây lại quanh các trò chơi. Đông vui quá, đẹp quá! Bất giác tôi chạnh nghĩ đến ngôi trường ở bên Xà Pia, chúng khác nhau nhiều quá. Ngôi trường cũ bé tẹo có đúng một phòng, hai lớp phải học chung, mái ngói thủng nhìn thấy cả trời, tường đất mưa trôi nham nhở, bàn ghế cái gãy cái xiêu. Học sinh đứng tụm lại chỉ được một dúm, hôm nào mưa gió thì ít lắm, chỉ được vài người là cùng, hai lớp dồn lại vẫn chưa thành một lớp.
Vừa đến nơi Sùng sà ngay vào hội chơi cù bỏ mặc tôi lạc lõng một mình giữa tiếng hò hét ồn ã cười nói. Tôi đứng nhìn một lúc rồi đi về phía lớp. Nhiều lớp quá, tôi ngơ ngác tìm lớp của mình. Một bàn tay vỗ vào vai làm tôi giật mình.
- Bạn học lớp nào?
Tôi quay lại gặp nụ cười thân thiện.
- Tớ học lớp 5B. - Tôi trả lời. - Tớ chưa biết lớp ở chỗ nào.
- Cùng lớp với tớ, ta đi chứ nhỉ.
Tôi theo người bạn mới đi dọc hành lang, leo lên những bậc cầu thang như leo những bậc đá nhà chúa đất Sùng Xúa Chư lên tầng hai. Ở trên cao nhìn xa tận tới bờ sông, có vài người đang kín nước, vài người đang giặt áo váy. Lớp học ở gần cầu thang, mấy cô bé đứng gần đó liếc mắt nhìn tôi rồi tủm tỉm cười. Tôi theo bạn vào trong lớp. Hình như có gì lạ, mọi người vội ngưng câu chuyện nhìn tôi, lát sau lại ồn ào như cũ. Tôi ngồi vào hàng ghế thứ ba từ trên xuống gần chỗ người bạn mới quen.
- Cậu tên gì? - Người bạn mới hỏi tôi.
- Chơ, Vàng Mí Chơ. Thế còn cậu?
- Sá, Sùng Mí Sá. Cậu mới đến học à?
- Ừ.
Tôi và Sá ngồi nói chuyện với nhau đến khi trống báo vào lớp. Mọi người ngồi vào chỗ của mình. Cả trường nhanh chóng lắng đi tiếng ồn ào. Nơi hành lang có tiếng bước chân rồi cô giáo bước vào. Cả lớp đứng dậy chào. Cô giới thiệu bốn học sinh mới của lớp trong đó có tôi. Giọng cô thanh trong, ngọt lịm như mật ong rừng...

 
ĐÈN ĐIỆN

Tôi đang ngồi học bài thì nghe có tiếng lao xao ngoài ngõ, rồi tiếng Sùng béo í ới gọi:
- Chơ ơi! Nhà mày có người đến.
Tôi vội chạy ra. Hai người mặc quần áo màu vàng đi trước, lũ trẻ con chạy theo sau đang tiến vào sân nhà tôi. Tôi chẳng biết họ là ai, tay cầm kìm cầm dây, cả cái mũ như cái nồi màu vàng úp lên đầu. Sùng béo thì thầm vào tai tôi:
- Thợ điện đấy, họ mắc đèn điện cho nhà mày.
Tôi chẳng biết đèn điện là cái gì và mắc cái đó để làm gì, nói với Sùng:
- Nhà tao có đèn rồi mà.
Sùng nhìn tôi cười nắc nẻ, sặc sụa còn tôi ngơ ngác vẫn chưa hiểu gì.
- Đúng là mày ngố thật đấy, hổ rừng về đồng bằng có khác, đèn điện này thay cho cái đèn dầu tối mù mù của nhà mày đấy, hiểu chưa.
Tôi lắc đầu. Sùng nói tiếp:
- Vẫn chưa hiểu à, tối đến nhà mày có cái đèn điện rồi thì không phải thắp đèn dầu nữa.
- Đèn điện có sáng bằng đèn dầu không? - Tôi hỏi lại Sùng.
- Sáng chứ. Sáng bằng cả nghìn lần cái đèn dầu ấy chứ. Tối nay mày sẽ thấy.
Nói vậy rồi Sùng chạy đi theo mấy đứa đang xúm lại xem chú áo vàng kéo cái dây gì đó như sợi dây rừng loằng ngoằng từ cái cột này sang cái cột khác.
Người Mông từ xa xưa, mùa đông, dù là ban ngày khi mái gianh đọng đầy nước và sương trắng giăng mắc khắp núi rừng thì cái sáng lúc giữa trưa cũng chỉ ánh lên như lúc xế chiều, còn đến chiều trời đã sang tối. Đêm vừa sang, bóng tối đã mịt mùng, ánh đèn mỡ lợn leo lét sáng một vùng nhỏ xíu, con người chỉ còn biết đi ngủ, có tham việc thì cũng mò mẫm không làm nổi. Có cô giáo về xuôi quen mắt đi ngủ sớm bị chê là đi ngủ theo gà. Họ đâu biết vùng cao nó khác... Sau này được thắp ngọn đèn dầu hoả thấy sáng hơn, cuộc đời cũng sáng hơn, vậy là tốt rồi. Còn đèn điện tôi chưa nghe ai nói bao giờ, không biết nó to bằng nào mà thằng Sùng bảo nó có thể sáng bằng cả nghìn lần chiếc đèn dầu. Tôi tò mò đi theo Sùng. Các chú thợ điện kéo cái sợi dây tròn tròn dài dài, trông sao giống sợi dây mơ trên rừng, từ đỉnh cái cột bê tông vào nhà tôi. Chú đóng vào xà nhà một cái ống dài dài màu trắng, đóng vào cột nhà một cái bảng có hai hộp hình vuông và một hộp hình chữ nhật, một hộp hình vuông có cái gạt lên gạt xuống, sau này tôi mới biết đó là cái công tắc. Chú dặn bố tôi điều gì đó, chỉ thấy bố gật gật đầu không nói gì. Các chú ra đi, bọn trẻ lại rồng rắn chạy theo sau. Sùng rủ tôi đi chơi nhưng tôi từ chối, nó vội vã chạy theo bọn trẻ.
Bé Mai không biết từ đâu chạy về, hỏi bố:
- Nhà mình có đèn mới chưa ạ?
- Có rồi! - Bố nói giọng hơi nghiêm.
Bé Mai vào nhà nghiêng ngó quanh cái đèn mới một lát rồi lại chạy đi chơi.
 
*
Trời bắt đầu tối, không gian sậm lại. Đàn gà đi tìm chỗ ngủ cãi nhau chí choé. Gió lạnh thổi ngọt nhạt. Bé Mai hết ở trong nhà lại ra ngoài sân ngó trời. Có lẽ nó mong đêm xuống thật nhanh. Tôi cố làm ra vẻ dửng dưng nhưng câu nói của thằng Sùng rằng cái đèn mới sáng bằng cả nghìn lần cái đèn dầu làm lòng tôi chộn rộn đứng ngồi không yên. Tôi đi ra tận ngoài ngõ rồi đi về. Bố đang bổ củi trước sân, từng thớ gỗ văng ra theo đường búa nhịp nhàng chuẩn xác. Bé Mai sán đến gần bố.
- Đứng xa ra không búa văng vào người. - Bố quát.
Mai xị mặt đứng lùi ra. Một lúc sau nó lại tiến đến gần. Bố dừng tay búa nhìn nó.
- Thắp đèn mới đi, bố. - Mai đề nghị.
- Tí nữa, đợi trời tối hẳn đã, còn sáng thế này thắp làm gì cho tốn điện.
À, hoá ra cái đèn ấy được thắp bằng điện, chắc nó cũng tốn như thắp dầu ấy nhỉ...
- Chơ ơi, hộ mẹ một tí!
Lời mẹ gọi đã làm đứt ngang luồng suy nghĩ của tôi. Mẹ đang làm cơm chiều, tiếng lửa nổ lép bép trong bếp, mùi khói bay ra khen khét.
- Con lấy hộ mẹ ít nước.
Mẹ đưa cho tôi cái xô, tôi ra cái thùng ở khe nước múc đầy xô nước mang vào cho mẹ. Đàn gà lúc này đã im tiếng không còn cãi nhau về chỗ ngủ nữa. Hơi lạnh đang tràn về. Dãy núi trước mặt đã được nhuộm một màu đen. Căn nhà lập loè đầy vơi ngọn lửa, bóng mẹ trùm lên vách, thấp thoáng, lung linh.
- Thắp đèn mới thôi! - Bố nói.
Bé Mai hoạ theo:
- Thắp đèn mới, được thắp đèn mới rồi.
Bố vào trong nhà, tôi và bé Mai đi theo bố. Bố gạt cái công tắc lên trên. Ánh sáng phát ra chói loá. Tôi nhắm mắt lại. Bé Mai reo lên:
- Sáng quá! Đèn mới sáng quá!
Mẹ nhìn nó phì cười. Bố bế nó lên cù vào nách nó, thế là một tràng dài tiếng cười giòn tan được bay ra.
Đèn mới sáng thật! Giờ đây ở chỗ nào trong nhà cũng có thể đọc sách, chỗ nào trong nhà cũng là ban ngày. Bóng đêm bị đuổi hết ra ngoài. Thằng Sùng nói đúng, sáng gấp nghìn lần ngọn đèn đầu.
Bữa cơm đầu tiên dưới ánh sáng của ngọn đèn mới thật đầm ấm vui vẻ.
 
THÁM HIỂM DÒNG SÔNG
Trời vừa sáng thằng Sùng và mấy đứa nữa đã kéo đến. Sùng thì thầm vào tai tôi ra chiều bí mật:
- Đi chơi với bọn này không?
- Đi đâu? - Tôi hỏi lại.
- Bí mật, nhưng mà hay lắm.
Tôi lưỡng lự.
- Đi chứ? Hay lắm! - Sùng nói tiếp.
Tôi vẫn không nói gì. Sùng nói to hẳn chứ không còn thầm thì như trước:
- Có chỗ hay người ta mới rủ đi xem, không đi thì thôi lại còn kênh kiệu.
Sùng toan bỏ đi.
- Đi đâu mà hay? - Tôi hỏi.
- Đi xem Thác Tiên. Chưa ai được biết nơi này.
- Chưa ai biết mà dám nói là hay, có chăng là nói dối.
- Hay thật mà, tao đến rồi, mới đứng ở ngoài nhìn chứ chưa vào trong, đẹp và có nhiều điều lạ lắm.
- Thác Tiên có xa lắm không?
- Không xa lắm, ngay chân núi Pum Cọ.
- Để tao vào xin phép mẹ tao cái đã, chúng mày đứng đợi tao một lát.
Mẹ tôi đồng ý và dặn:
- Về sớm đấy!
- Vâng ạ! - Tôi đáp.
Đi được một đoạn bỗng tôi thấy hoài nghi về cái hay lắm của thằng Sùng, với nó cái gì chẳng hay, chẳng tuyệt nhất trần đời, nhưng lỡ đồng ý đi cùng bây giờ trở lại chắc chắn bọn chúng sẽ cười cho, ngày mai có khi chẳng đứa nào còn thèm làm bạn với tôi nữa.
- Chúng ta đi đâu đây? - Tôi hỏi Sùng.
- Đi về phía thượng nguồn dòng sông. - Sùng nói.
- Sao bảo đi Thác Tiên.
- Đúng là đi Thác Tiên, nhưng tao cũng không chắc lắm, nghe nói ở đó có một bãi đá tuyệt đẹp, ngày xưa là nơi các nàng tiên xuống tắm. Tao đoán là có thác. Hôm nọ đi ngang qua chỉ nhìn thấy bên ngoài, chưa biết bên trong thế nào...
Đúng là cái thằng chỉ giỏi nói khoác, cái gì cũng nhất, cái gì cũng tuyệt vời và trên cả tuyệt vời. Biết thế này không nhận lời đi cùng có phải đỡ mệt không, ở nhà đọc cuốn sách mới mượn có lẽ còn hay hơn nhiều.
- Chúng mày, có đứa nào mang dao theo không? - Sùng hỏi.
- Để làm gì? - Một thằng hỏi lại.
- Để dọn đường chứ làm gì nữa. Không hả, đợi tao một tí.
Sùng chạy đi. Mấy thằng đứng lại đợi.
- Chúng mày có nghe nói đến Thác Tiên bao giờ chưa? - Một thằng hỏi.
- Chưa. - Mấy thằng trả lời.
- Liệu thằng Sùng có lừa chúng mình không nhỉ.
Đúng lúc đó Sùng chạy đến với con dao quắm sáng loáng có tra thêm một đoạn cán gỗ trên tay. Cả bọn lại lục tục kéo đi.
Hết con đường mòn, Sùng nói:
- Ta cứ ngược sông mà đi.
Đường từ đây gập gềnh toàn đá và cây bụi mọc um tùm. Mặt trời ló rạng. Dòng sông lóng lánh ánh bạc. Chim hoạ mi từ khu rừng gần đó đua nhau hót...chíu...chíu... Sùng đi trước, cả bọn theo sau, thỉnh thoảng nó vung dao phát những cây mọc cao chắn lối cho bước chân được dễ dàng hơn. Càng ngày đá càng nhiều, cây càng cao, đường đi càng khó. Bên phải vẫn là dòng sông thao thiết chảy.
Bỗng phía trước hiện ra một dãy núi cao ngất, nhìn lên hoa cả mắt. Chung quanh im ắng đến rợn người. Bước chân đã mỏi nhiều không ai bảo ai đến một khoảng nhỏ bằng bằng đều đột ngột dừng lại.
- Chúng mày sao thế? - Sùng hỏi.
- Nghỉ tí đã. - Mấy đứa cùng nói.
Mỗi đứa ngồi xuống một góc, không ai nói với ai câu nào. Sùng có vẻ sốt ruột hết đứng lên lại ngồi xuống, lại đứng lên. Một lúc sau, Sùng hỏi:
- Đi tiếp chứ?
Đợi mãi không thấy ai trả lời.
- Đi hay về? - Sùng hỏi lại lần nữa.
- Đi. - Một giọng thều thào cất lên.
Con đường từ đây rẽ sang hướng khác không còn nhìn thấy dòng sông nữa. Bước chân chênh vênh trên mũi đá tai mèo sắc nhọn.
- Chúng mày đi cẩn thận đấy. - Sùng nói.
Chẳng đứa nào nói câu gì, sự sợ hãi hiện lên khuôn mặt từng đứa, bước đi dè dặt hơn, gió thổi lạnh ngắt. Tiếng cất cánh của con chim cũng làm ai nấy giật mình.
Đi thêm một đoạn bỗng nghe có tiếng nước róc rách chảy khi xa khi gần, tiếng ầm ù như gió thổi ống bương khi rõ khi thưa. Mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng của mình, sự mệt nhọc đang chuyển dần sang sự sợ hãi.
Tự nhiên thằng Sùng đứng sững lại, mấy thằng đi sau không để ý suýt va người vào nó, phía trước đột ngột hiện ra một cái hang lớn.
- Chà, đẹp quá! - Sèo thốt lên.
Mấy đứa khác cùng nói:
- Đẹp thật!
Phía trên đỉnh hang thạch nhũ ngàn năm rỉ ra vón lại thành những chiếc răng nanh khổng lồ nhọn hoắt. Có vài cái răng dài xuống tận đáy thành những cái cột nâng đỡ vòm hang. Bên cạnh đó có cả trăm nghìn hình thù được thiên nhiên sáng tạo với những kích cỡ to nhỏ khác nhau cho con người những liên tưởng bất ngờ, thú vị. Phía dưới tuôn ra dòng nước trong vắt, có vài con cá đang lượn lờ đùa nghịch. Phía trong là một vùng tối hun hút vọng ra những tiếng ầm ù. Ở góc khuất có hình bốn cô gái đang tắm, tôi nghe như tiếng cười đùa vẫn còn lẩn khuất đâu đây.
- Vào trong chứ? - Sùng hỏi.
- Vào. - Mấy đứa cùng nói.
Cả bọn vào trong hang rờ tay lên những khối thạch nhũ óng ánh, một cảnh giác tê tê nơi đầu ngón tay. Tôi đến gần bốn cô gái. Nghe như vọng trong tiếng gió: "Nhà ngươi đến đây làm gì? Nhà ngươi dám xâm phạm vùng cấm của bọn ta ư? Nhà ngươi còn trố mắt ra nhìn thế à?..." Tôi thấy mặt mình nóng ra giữa lòng hang lạnh buốt.
- Đi tiếp chứ? - Sèo chỉ tay vào trong.
- Tối thế kia đi sao được. - Sùng nói. - Hôm nào cầm đuốc theo, chúng ta vào khám phá xem trong đó có những gì.
Sèo bắc loa tay chõ vào vùng tối hú một hơi dài. Bầy dơi đập cánh vang động làm mọi người thót tim ngơ ngác.
- Ngồi xuống! - Sùng nói.
Tất cả cùng ngồi xuống, đàn dơi như những mũi tên vút ngang ngay trên đầu. Một lúc sau vắng dần, không ai để ý lũ dơi đã bay đi đâu mất.
Trước cửa hang có một bãi đá bằng phẳng nước chảy lấp xấp vây quanh một vũng sâu đang đùn nước lên ở giữa.
- Đây là bãi tắm của các nàng tiên, phải không Sùng? - Sèo hỏi.
Tôi định nói là nàng tiên đang tắm ở trong kia kìa nhưng không sao cất lời lên được.
- Tao đâu có biết, chỉ nghe kể lại thôi mà. - Sùng trả lời.
Sùng thò tay xuống nước nhặt lên một hòn sỏi trắng tròn giống như quả trứng bỏ vào túi. Tôi cũng nhặt một hòn màu xanh ngọc cầm trong tay. Sèo lùa tay bắt cá, nhưng chúng quá khôn, ướt cả áo mà chẳng được con nào...
 
VỀ THĂM XÓM CŨ
Tôi gần như đã quên đi cái xóm nghèo khó, quên đi sự lưu luyến hôm ra đi, quên đi cái bộ mặt thâm xì của đá, quên đi cái lạnh thấu xương tuôn ra tư ruột núi những đêm đông... nói chung là quên đi sự gắn bó thân thương một thời khắc khổ. Bố tôi đã nối sợi dây hoài niệm khi ông rủ: "Đi Xà Pia với bố không?" Không hiểu sao lúc ấy tôi đã lưỡng lự, khi xưa mỗi lần bố rủ đi đâu là tôi đồng ý ngay không để chậm đến một giây. Lúc ấy bố nhìn tôi tủm tỉm cười rồi ông đi lấy cỏ cho bò ăn. Không hiểu sao tôi bỗng thấy sợ leo núi, sợ những bước đi gập gối, sợ con đường mòn ngoằn ngoèo bám vào đá... Nhưng rồi, những kỷ niệm ấu thơ đã thắng thế tất cả, những tình cảm yêu mến còn sót lại trỗi dậy, thôi thúc tôi đi về với quá khứ, kiếm tìm một thời đã qua, một miền "bình yên" lắng đọng đã in dấu chân tôi từ những bước đi chập chững đầu đời.
Mẹ gọi tôi dậy khi bên ngoài còn tối trời, cái rét cuối đông còn ngọt sắc tạo cơ hội cho sự lười nhác lên ngôi. Mẹ phải gọi đến lần thứ ba tôi mới rời được mảnh chăn ấm, khoác cái áo lên người xuýt xoa gần bếp lửa. Bố chất lên lưng ngựa hai sọt cây thông con, cài vào bên cái cuốc rồi giục tôi đi. Tôi co ro cúm rúm theo sau, ra khỏi cửa luồng gió phả vào mặt lạnh ngắt. Con ngựa rùng mình, tiếng lục lạc rung inh ỏi, khua lên một chút náo động giữa yên vắng của đêm. Bầu trời tối đen, tít nơi xa có vài ngôi sao nhấp nháy. Tôi và bố bước đi.
Vừng đông rạng dần. Con đường mòn ánh lên như dải lụa trắng ngoằn ngoèo bám vào lưng núi. Cái lạnh như đã bị lấy đi lưỡi dao nên chỉ còn ve vuốt bên ngoài. Con ngựa đi trước, tôi và bố theo sau, yên lặng. Tiếng bước chân đều đều khoan thai.
Hương vị buổi sáng giữa núi rừng thật trong trẻo, ngọt êm như mật ong đầu mùa, thơm tho như cành mận chín, lành như nước suối đầu xuân. Tôi hít căng lồng ngực, dồn sức vào nhịp bước, một cảm giác lâng lâng như say. Tiếng chim đua nhau hót rộn vang, lảnh lót, mê mải.
- Đi qua dãy núi này là đến Xà Pia.
Bố nói. Tôi nghe không rõ. Chả biết có phải vậy không? Hình như là thế!... Tôi bước theo sau bố mà tâm hồn cứ bay nhảy tận nơi nào. Và rồi cái xóm cũ hiện ra đã kéo tôi về thực tại. Từ xa nhìn lại từng vạt nương như những mảnh khăn được vấn một cách cẩu thả, méo mó chồng lên nhau, màu mè lẫn lộn. Dưới chân núi từng đám sương vón lại, chờ mặt trời là bốc lên cao. Đỉnh núi, mây vẫn còn đang ngủ, mơ màng và mộng ảo.
Trên gò cao căn nhà chúa đất Sùng Xúa Chưa gió lùa vi vút, bức từng đá xám ngắt đang bùi ngùi hoài nhớ cái thời hoàng kim của uy quyền và tiền bạc. Đến bây giờ nó vẫn không ngờ có ngày bị con người phụ bạc, bị ném vào quên lãng, bị gió mưa cào xé... Người ta còn bạc hơn khi dỡ đi cái thằng ngói và bắt nó phải trơ ra dầm mưa dãi nắng...
Ngôi trường cũ, tôi phải sử dụng trí tưởng tượng của mình mới nhận ra những gì thân thương còn sót lại chỉ là khoảng đất bằng và hòn đá bàn cờ chúng tôi vẫn ngồi hóng nắng những ngày trời đông. Hoa bạc hà hé lên từ khe đá một sắc tím nhỏ nhoi, mỏng manh, gầy guộc. Bầy ong vo ve tìm về. Tiếng cô giáo giảng bài như vọng vang từ cõi xa xăm. Tiếng cười của lũ trẻ chúng tôi, tiếng hát giao duyên, tiếng nô nức hội hè như còn đâu đây. Bỗng gió về vít cong cây cỏ, lắc lư hoa bạc hà, bầy ong thấy động vụt bay lên ngơ ngác.
Tôi lang thang thả bộ qua những nơi đã từng in dấu chân, cỏ may bám vào quần áo. Màu thời gian đang phủ lên những gì là của con người, cảnh vật đang trượt dần về hoang sơ. Những gì còn sót lại chỉ là vài nét thân quen. Bức tường đất vững chãi xưa kia hầu như đã bị san phẳng hoặc bị cỏ lấp đầy, cả xóm cũng chỉ còn vài cái tường chưa bị san phẳng trơ ra đỏ quạch. Nhà của tôi đã không còn vết dấu, lũ cỏ đã chiếm lĩnh hoàn toàn, chúng tốt tươi bụ bẫm, vài cánh hoa nhỏ xíu màu tím vươn lên trên đám lá xanh xanh. Cây mận với cái cành bị gãy mang dấu tích một thời nghịch ngợm, nó đã không chịu nổi sức nặng của tôi sau cú nhún từ tảng đá nhảy lên. Tôi đã ngã nhào xuống giữa đám thân lá cây ngô mẹ vừa lấy về lúc chiều. Hôm ấy tôi bị bố cho mấy roi lằn đít. Cái cành bị gãy lìa ra hôm ấy giờ đã liền lại và lớn lên nhiều, vài cái trồi non mới nhú lên từ muôn vàn trơ trụi. Một màu xanh mới đang về. Tôi bỗng thấy lòng mình lâng lâng, nghèn nghẹn.
Hai sọt cây thông được bố hạ xuống đất, đến bây giờ tôi vẫn chưa biết bố đem chúng đi để làm gì.
- Bố đào hố, con trồng cây, xong ta về.
Tôi giật mình khi nghe bố nói, ngơ ngác hỏi lại:
- Trồng cái gì hả, bố?
- Con trồng cây vào các hố bố đào ấy. - Bố trả lời.
- Ở nương nhà mình ạ?
- Ừ, nương nhà mình.
- Vậy chúng ta không trồng ngô nữa à?
- Không trồng ngô ở đây nữa. Xóm dưới được chia ruộng và nương trồng ngô rồi, không cần trồng ở đây nữa.
- Vậy trồng cây này xuống làm gì ạ?
- Bố con mình đang trồng lại rừng, ngày xưa nơi này là rừng già đấy, có nhiều cây gỗ to lắm, con người đã phá rừng để trồng ngô, giờ không trồng ngô nữa thì phải trồng cây để trả cho rừng.
- Con tưởng cứ để thế rồi sau này nó sẽ thành rừng.
- Cũng có thể sau này nơi đây sẽ thành rừng nhưng đến ngày ấy còn lâu lắm, có khi phải mất cả trăm năm. Nếu mưa không mang đất đi thì cây rừng mới lên được, còn khi mưa lấy hết đất thì núi này không có cây lên đâu. Bố con mình trồng cây xuống đây chỉ khoảng mười hai mươi năm nữa là nơi này sẽ thành rừng, chúng ta có củi để đun, có cây làm nhà.
Tôi không hiểu mấy về những lời bố nói, nhìn bố bổ những nhát cuốc thật gọn lật lên những cái hố vuông vắn. Đất tơi và mịn, mát lạnh. Tôi cắm vào đó một cây thông nhỏ xíu, lá rung lên vẫy vẫy. Tôi vụm từng nắm đất bên gốc cây, những cái lá cười lên nắc nẻ như đứa trẻ bị cù vào nách vậy. Cây nào cũng dễ thương, đáng yêu như những chú chó con nằm ngủ giữa sân. Nhiều chỗ cây cỏ to hơn cả cây thông của tôi trồng xuống, tôi dọn luôn một khoảng đất trống rộng rãi để cây có được nhiều ánh sáng mặt trời hơn. Chả bao lâu nữa những cái cây nhỏ bé này sẽ cho một màu xanh ngút ngàn.
Tôi và bố kết thúc công việc khi ánh chiều đã đi qua dãy núi trước mặt. Sương giăng mờ mờ như làn khói bếp mẹ vẫn thả lên trời. Đâu đây mùi cơm chiều ngây ngất, đàn gà dẫm chân lên nơi cây gỗ đầu nhà, ánh lửa sáng bập bùng, đám than hồng lên ấm áp!...
Tôi rùng mình trước cơn gió lạnh. Không bếp lửa, chẳng hơi ấm, bay đi đâu mùi cơm ngất ngây. Bao la quanh tôi một màu xám hoang sơ của đá núi, những quen thân hôm nào đang dần nhạt nhoà trong sương khói. Bố đã đi khuất vào khe núi. Tôi vội đuổi theo sau. Bóng đêm đang lấn dần bước chân.
 
0
MỘT NGÀY CUỐI NĂM


Xuân về!
Những mầm cây cựa mình run rẩy. Gió thổi hiu hiu, dịu dàng, vuốt ve chiều chuộng. Mưa bay rất khẽ, từng hạt bụi sương lướt nhẹ qua đầu. Cây đào trơ trụi suốt mùa đông giá lạnh, cái cành khẳng khiu trồi mấu rồi nhú lên vài mầm xanh bên nụ hoa màu hồng nhỏ xíu. Không gian rộn ràng hơn khi bầy chim về hót. Trên sườn núi áo váy được giặt phơi nhìn giống những cánh bướm sặc sỡ nhiều màu sắc đang xập xoè bay lượn. Vài nhà đã thịt lợn tết, họ mời xóm làng đến ăn một bữa thật vui, số còn lại được treo gác bếp để ăn dần.
Cứ sau mùa vụ, khi những bắp ngô đã về nằm trên gác, công việc nương rẫy đã cạn là lúc người Mông ăn tết. Tết của người Mông mỗi nơi một khác, kéo dài từ đầu tháng chạp đến sau tết. Có nơi ăn tết lần lượt theo họ, có nơi ăn tết lần lượt theo các gia đình trong họ.
Tết của người Mông là một ngày hội, những cuộc chơi, những buổi hẹn hò. Người già nhớ về một thời trai trẻ, hướng về tổ tiên dòng họ. Người trẻ kiếm tìm tương lai, hướng tới một ngày mai tốt đẹp hơn, khát khao một tình yêu lớn, một cuộc sống vẹn nguyên hai chữ hạnh phúc.
Lễ hội năm nay nghe đâu khác hẳn với mọi năm, lần đầu tiên Uỷ ban xã đứng ra tổ chức, các trò chơi như đánh yến, đánh cù, ném pao,... mọi năm chỉ là trò bày ra chơi cho vui năm nay còn có giải thưởng đem về nữa. Các điệu múa, bài khèn, lời hát giao duyên,... là tiết mục để các xóm đua tài với nhau...
Sình rủ tôi đi huyện chơi, nghe nói có đoàn nghệ thuật ở dưới xuôi lên biểu diễn mấy ngày. Bọn thằng Sèo rủ tôi đi khám phá phía trong khoảng tối của Thác Tiên. Thằng nào cũng nói những lời hay lời ngọt để tôi đi cùng. Tôi chưa biết phải từ chối chúng như thế nào. Bố tôi đang ốm nằm trong nhà, mẹ tôi đến giúp bà ngoại tôi dọn sang ngôi nhà mới, tôi không thể đi đâu lúc này.
Bọn chúng ra về với sự thất vọng hiện rõ trên nét mặt, "Sẽ còn rất nhiều dịp khác để cả bọn cùng đi chơi", tôi nói vậy không đứa nào nói thêm nữa, chúng đã hiểu được lý do. Bọn chúng đi rồi tự nhiên nỗi buồn không biết từ đâu kéo đến xâm chiếm lòng tôi.
 
*
Buổi học cuối cùng của năm cũ hơi ồn ào, chẳng có mấy đứa để tâm đến bài vở, chúng đang nghĩ tới những ngày vui sắp tới. Cô giáo hôm nay dễ tính không kỷ luật những đứa lắm lời. Thời gian chậm chạp trôi.
Ra chơi, tôi tha thẩn một mình đi về phía hàng cây cuối sân trường, mùi thơm từ hoa lá thoảng bay nhè nhẹ. Một cơn mưa mỏng chợt đến, chợt đi rất nhanh làm tôi vừa kịp nhận ra đã vội tan biến giữa đất trời. Một cơn gió tràn tới, mùi rượu ngô nhà ai đang cất toả bay ngào ngạt. Thằng Sình vỗ vào vai làm tôi giật mình, đúng lúc đó thằng Sùng ào đến, trống báo vào lớp.
Cô giáo dặn dò cẩn thận lũ học trò trước khi nghỉ tết. Gớm, sao mà chúng nó ngoan thế, đứa nào cũng luôn mồm "vâng ạ!". Và tôi dám chắc rằng những đứa to mồm nhất kia là những đứa chóng quên nhất. Vừa nghe cô nói xong chúng đã quên mất gần nửa, ra đến cửa lớp chúng chẳng còn nhớ gì nữa.
Trống tan trường. Vỡ oà sự náo động, rồi nhanh chóng tan về khắp nẻo, sân trường lại yên vắng một mình. Ngôi trường buồn lặng lẽ. Mưa bụi lất phất bay từng lớp nối đuôi nhau là là trên mặt đất. Tôi lững thững đi về nhà, lòng cô đơn đến lạ. Mưa dày hơn. Gió lạnh nghiêng nghiêng thổi. Con đường loang loáng ướt.
 
*
Chiều.
Trời không mưa nhưng xám ngoét. Gió thổi vẫn đầy hơi lạnh. Cây đào đã bung vài cánh hoa. Cái màu hồng mỏng manh ấy đang run lên trước cơn gió lạnh. Vẫn còn vô khối cành khẳng khiu mới trồi lên những mấu. Còn hai chiếc lá không biết có phải từ xuân trước đang cố bấu víu vào cái cành đã già nua cằn cỗi, mỗi đợt gió thổi lại bạt đi, chỉ mạnh chút xíu nữa thôi sẽ lìa cành. Những chồi non mơn mởn đầy sức sống đang xoè ra ngay cạnh đó.
- Mơ mộng quá!
Tôi quay lại gặp ánh mắt thằng Sùng, cái nhìn của nó có gì là lạ. Tôi chưa kịp hỏi câu nào thì nhìn thấy cô giáo và thằng Sình đang đi vào vào từ đầu ngõ. Tôi vội trở về và mời cô giáo vào nhà. Cô đặt gói quà lên bàn. Bố tôi ngồi nhỏm dậy.
- Cảm ơn cô giáo đã đến nhà, mang quà làm gì, chỉ cần đến chơi thôi...
Cô giáo vội nói:
- Nghe tin anh ốm, em tới thăm. Anh đã đỡ tí nào chưa ạ?
- Đỡ rồi! - Bố nói. - Khỏi đến nơi rồi ấy chứ, cái thuốc của y sĩ Kiên tốt thật đấy.
Mẹ tôi đi lấy rau về thấy cô giáo đến chơi, vui quá bỏ bó ngồng cải ngoài cửa vào nhà ngồi nói chuyện. Câu chuyện kéo dài từ chuyện chồng con của cô giáo đến chuyện làm nương, dựng nhà, lễ hội ,bánh trái, bếp núc, tết nhất,... Không ngờ cô giáo là người Kinh mà lại biết nhiều về phong tục của người Mông đến thế. Bố mẹ tôi nói chuyện với cô giáo nổ giòn như rang ngô trên bếp...
- Chơ ơi, về đây cô bảo.
Bỗng cô giáo gọi tôi lại gần.
- Thấy em thích đọc sách cô cho mượn cuốn này, đọc hay lắm, tri thức nhân loại phần nhiều đến từ sách vở, thích đọc sách là một điều tốt.
- Dạ. Em cám ơn cô ạ!
Tôi đáp rồi đón lấy quyển sách từ tay cô. Lần đầu tiên tôi được cầm trong tay một quyển sách dày và đẹp đến vậy. Sùng và Sình ngồi sát lại bên cạnh. Tôi đặt cuốn sách lên đùi, hàng chữ mạ vàng trên nền bìa màu nâu: "Truyện cổ các dân tộc Việt Nam". Sùng đưa tay rờ lên mặt chữ.
- Đẹp thật đấy! - Nó suýt xoa. - Lúc nẫy thấy cô giáo cầm tao cứ tưởng là hộp bánh, sao nhìn thấy giống thế.
- Mày thì suốt ngày nghĩ đến ăn. - Sình nói.
- Dễ mày không ăn mà sống được chắc. - Sùng cãi lại.
Mẹ bảo chúng tôi đem sách ra ngoài hè, trời sáng dễ xem hơn. Cả ba thằng chạy tót ra sân. Chúng tôi ngồi chụm đầu lại đọc. Một thế giới đầy mầu sắc huyền thoại hiện ra, cái thiện luôn thắng cái ác dù trong cuộc đấu tranh sinh tồn ấy nó luôn phải chịu muôn vàn khổ cực. Cuối cùng cái thiện cũng đến được thiên đường hạnh phúc.
Bất giác tôi thấy câu chuyện vừa đọc có cái gì đó giống với thời tiết lúc này đến thế, mùa đông héo úa dẫu có dài dằng dặc rồi cũng phải đi qua để mùa xuân tràn về, cây cối cằn cỗi rồi cũng đến ngày đâm trồi nảy nở những mầm xanh./.
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-06-25 12:45:22Ct.Ly>


Tập truyện ngắn Hoa tam giác mạch


1. Làm thơ cho buổi chiều


Chiều.

Một nỗi buồn nho nhỏ lửng lơ trong không trung, một chút vấn vương bay theo gió, một chút nhớ thương hoà trong nắng, một chút tình trải dài với núi sông,... Trong làn khói bếp mờ bay, lòng người da diết nhớ, tìm hơi ấm, tìm lời ru, tìm cảm giác thân quen, tìm con đường đi về,... Và hình như càng tìm càng thấy lạ, càng thấy vắng, càng thấy lẻ loi, càng cô đơn và buồn!
Chiều.
Xóm núi hơi kém nắng, chỉ đủ đọng lại thành vệt óng lên như dải lụa nhuộm sáp ong, vương vào mái nhà, vương vào rặng cây, vương vào vạt nương đang trổ cờ trắng xoá.
Chiều.
Mẹ lảy cái bắp non, sữa ngô ứa ra bàn tay...
Mùi thơm bay ra ngào ngạt nơi đầu ngõ, từng chiếc bánh ngô xinh xắn bọc trong tàu lá chuối, vàng ngầy ngậy, ngọt lịm nơi đầu l­ưỡi...
Dáng mẹ bé nhỏ ẩn hiện giữa rừng ngô, hôm thì hứng nắng, hôm thì hứng mư­a,... Mẹ về nhà, bóng chiều ùa về, con đ­ường nghiêng nắng còn hằn in dấu chân mẹ!
Chiều.
Chị đi lấy chồng, trong câu chuyện bà kể, nước mắt tiễn chân đi. Con đường chị bước, một bên là con đường yêu, con đường thương, có người mong nhớ; một bên là con đường gả bán, con đường gán nợ, con đường khổ ải, con đường trần ai. Chị giận người mối, chị giận người mai, chị giận ông trời đã se sai duyên thắm, đưa chị đến con đường lầm, đưa chị vào con đường tối, dẫn lối chị xuống vực sâu... Chị đi lấy chồng trên con đường dát nắng mà trong lòng tầm tã mưa rơi.

Chiều.
Bố đi nương về, mồ hôi ướt áo, ướt cả bó cỏ bố gùi trên lưng cho con bò có cái ăn buổi tối.
Và đấy, khói bếp lam chiều gieo trên mái nhà, gieo vào hàng cây bên bờ suối, gieo vào núi, gieo vào mây, gieo vào lòng người miền thương nhớ, và tự nhiên trong sâu thẳm tâm hồn đưa ta về với hương thơm đồng nội, với những ký ức ngọt ngào, với nét duyên quê đằm thắm, với làn hơi cơm mới gọi mời...
Chiều.
Nơi xa xôi nào đó, nơi cõi lòng mơ ước, nơi chốn thần tiên, trong câu chuyện bà kể, người với người chan hoà thân thiện, cuộc sống luôn vui tươi đầy ắp tiếng cười...
Và ta, đang mơ khi ngắm chiều, ngắm chiều mà như mơ, để rồi bất chợt nhận ra cái màu hồng tươi đỏ ấy ẩn chứa một điều gì đó khác lắm, lạ lắm so với những cái vẫn gặp hàng ngày.
Khi ráng chiều dần tắt, ở nơi tít tắp xa kia chợt ánh lên một tia sáng rất nhỏ, rất nhỏ, rất nhỏ thôi, làm thế giới quanh ta trở nên mờ mờ ảo ảo, một không gian như thơ như mộng cho ta tưởng nhiều hơn, thấy ít đi...
Và cứ thế, chiều vẫn cứ là chiều mà ta ngắm hoài không chán!
 
2. Hoa tam giác mạch 

Mí Chứ đã không nén nổi nỗi lòng trào dâng niềm thèm khát được thấy buổi chiều rơi nơi sườn núi nhô lên như bờ vai con trâu mộng, nơi sóng đá vỗ thì thùm vào gió, vào nắng, vào bìa rừng xanh xanh...
Bước chân Mí Chứ đã khựng lại khi gặp mùi hương thơm nồng của hoa tam giác mạch thoảng bay. Những đoá hoa li ti mong manh, nếu đứng một mình gió có thổi thì hãy nhè nhẹ hơn một chút, đừng mạnh quá như thế, chỉ hiu hiu thôi kẻo nát cánh hoa.
Đứng trước đoá hoa Mí Chứ có cảm tưởng như đó là báu vật của trần gian, là những gì tượng trưng cho sự mềm mại, là hình mẫu của sự mỏng manh, là chân lý của sự sống... - điều này là của riêng Mí Chứ!
Vậy mà, ngay phía trước kia thôi có cả một rừng hoa kéo dài đến tận chân núi, triệu triệu bông hoa tam giác mạch đan cài với nhau, trắng, hồng, đỏ, tím cùng khoe sắc làm ngợp con mắt nhìn. Nắng, gió và hoa đang đùa vui, chúng hò hét đuổi nhau làm rạp cả cỏ cây gần đó.
Bà kể nàng Tiên Gạo và nàng Tiên Ngô đi gieo hạt nơi hạ giới, mày trấu mày ngô chẳng biết làm gì bèn đổ vào khe núi. Cây ngô, cây lúa lớn lên cho hạt. Người người lấy hạt về ăn. Khi ngô hạt lúa trong nhà đã cạn mà vụ sau vẫn chưa tới, cái đói về u ám bản làng, chiều đã buông dài nơi rừng cây mà vẫn chưa thấy ai nhóm bếp. Một hôm mọi người họp nhau lại rồi chia đi khắp núi rừng để tìm cái ăn. Nhiều ngày trôi qua, nhiều nơi đã đến, nhiều hang cùng góc núi đã lục tìm mà vẫn chưa thấy gì có thể làm no cái bụng. Một hôm, thoảng bay trong gió mùi hương là lạ, từ trước đến giờ chưa ai được ngửi. Mọi người cùng tìm đến khe núi, và ai nấy đều ngỡ ngàng, một rừng hoa li ti trải dài suốt từ núi bên này sang núi bên kia, nhìn kỹ mới thấy những cái lá có hình tam giác ẩn nấp khá kín ở dưới hoa. Khi kết hạt mọi người đem về ăn thử thấy ngon không kém gì ngô và gạo. Cái bụng đã ngủ yên không lóc óc đòi ăn nữa. Khói bếp lại bay lên mỗi chiều. Vì là họ nhà lúa, được nảy lên từ mày lúa mày ngô, nên gọi là mạch, lá có hình tam giác, và thế là nó có tên “tam giác mạch”.
Mí Chứ đi tiếp, qua nương tam giác mạch là đến con đường mòn lên núi. Mí Chứ đã đặt chân lên con đường mòn rồi mà mùi hương nồng nàn kia vẫn còn đuổi theo, như muốn níu lấy bước chân, muốn bầu bí tâm tình lâu hơn chút nữa,... Mí Chứ phải đi thôi, không ở lại được. Nắng đã nghiêng xuống núi rồi, sắp sang buổi chiều rồi. Mí Chứ phải nhanh chân hơn nữa để kịp đến nơi ấy đúng lúc ánh chiều rơi xuống!
 
3. Vật kỳ lạ biết bay

- Mí Chứ ơi!
Tiếng bố gọi làm Mí Chứ giật mình. Mí Chứ đang ngắm con mèo con luyện tập trò ẩn nấp, nhảy, vồ con mồi là cái lá ngô khô rơi ở trái nhà, gần khung dệt vải.
- Dạ!
Mí Chứ vừa mới thưa định chạy vào trong nhà xem bố gọi có việc gì thì bố đã đứng ngay phía sau. Trên lưng bố đã đeo sẵn chiếc quẩy tấu.
- Bố đi đâu đấy ạ? - Mí Chứ hỏi.
- Bố đi lên rừng. Con có muốn theo đi không?
Mí Chứ còn đang ngập ngừng thì bố nói tiếp:
- Con có tờ giấy viết đã không còn sử dụng nữa thì lấy cho bố xin mấy tờ.
- Bố dùng giấy làm gì ạ?
- Bố dùng giấy vào việc bí mật. Con muốn biết thì đi theo bố?
Mí Chứ chạy vào nhà, tìm quyển vở cũ từ năm ngoái, tách lấy mấy tờ giấy ở giữa rồi vội vàng ra đi. Mí chứ thấy bóng bố thấp thoáng nơi đầu ngõ. Mí Chứ chạy theo, tờ giấy đập vào gió kêu lên từng hồi đau đớn.
- Cầm cẩn thận kẻo rách giấy, con!
Mí Chứ cuộn tròn tờ giấy thành một cái ống to bằng cổ tay rồi đưa cho bố. Bố cầm cuộn giấy cho vào trong cái quẩy tấu đeo sau lưng. Hai bố con đi theo con đường mòn lên núi, nắng đang ửng hồng màu đất đỏ. Bầu trời xanh trong thăm thẳm cao, đâu đây vọng lại tiếng chim gọi đàn.
- Con thấy gió hôm nay thế nào? - Bố hỏi.
Mí Chứ nhìn rừng, nhìn đám cây bụi nơi sườn núi trước mặt.
- Gió không mạnh lắm, thổi theo cơn, theo hướng chúng ta đang đi, nhưng sao bố lại hỏi con về gió ạ?
- À, bố định cho con xem một điều kỳ lạ có liên quan đến gió.
Hai bố con đã đi gần đến đám nương của gia đình, bỗng bố rẽ sang hướng khác theo con đường mòn leo lên dãy núi đối diện với núi Xín Chải, ngọn núi này không cao mấy nhưng có nhiều cây to mọc quanh sườn. Đi tiếp một đoạn, bố lại rẽ sang hướng khác bỏ con đường mòn lại phía sau. Qua mấy gốc cây to đến một cái hang như tổ chim treo nơi sườn núi. Bố đi vào trong hang, Mí Chứ theo sau. Hang không rộng, không cao, không sâu và có một khoảng nhỏ bằng phẳng ngay gần cửa. Bố hạ quẩy tấu xuống đất, bỏ con dao lên tảng đá, bỏ tiếp mấy tờ giấy cạnh con dao. Bố leo lên hòn đá phía trong với lên khe đá gần đỉnh hang lấy xuống một vật lạ được làm bằng tre. Vật lạ gần giống với con én xoè cánh bay, chỉ có khác là nó có hai cánh giống như con số tám nằm ngang.
- Con ngồi đợi bố một lát nhé!
Bố dặn Mí Chứ rồi cầm con dao vội vã ra đi.
- Bố đi đâu đấy ạ? - Mí Chứ với hỏi.
- Bố vào rừng, con ngồi đợi một lát bố quay lại ngay ấy mà.
Mí Chứ ra cửa hang đứng. Bố đi nhanh lắm, một loáng đã khuất sau khe núi gần rừng cây. Mí Chứ nhìn ra xa, sau núi Xín Chải là một dải xanh thẫm chạy dài. Mặt trời đang xuống dần nơi bên kia dãy núi. Gần ngay nơi đang đứng là dãy núi thấp cây cỏ mọc chằng chịt. Xen giữa những sườn núi thấp là nương trồng ngô.
- Con đang ngắm gì thế?
Tiếng bố làm Mí Chứ giật mình. Bố đã về, trên tay là cái lá cây cuộn khum lại, phía trong đựng nhựa cây màu trắng. Bố đi vào trong hang, đặt chiếc lá vào khe đá. Bố lấy tờ giấy đặt lên hai cái cánh có hình số tám của con én rồi lấy nhựa bôi vào tờ giấy và dán lại. Tiếp đến phần đuôi con én. Dán xong bố cắt tờ giấy còn lại thành những dải dài, rồi dán dải giấy vào phần đuôi cho lòng thòng xuống dưới. Bố lấy trong quẩy tấu ra một cuộn lanh, buộc hai đầu sợi lanh vào hai mép trong của cái cánh số tám và buộc tiếp một sợi dây vào phần nhỏ nhất của đuôi én, sau nữa buộc đầu dây của cuộn lanh vào đoạn giữa của ba đoạn dây ấy.
- Xong rồi! - Bố nói. - Con thấy có đẹp không?
- Đẹp ạ! Nhưng để làm gì hả, bố? - Mí Chứ lại hỏi.
- Lát nữa con sẽ thấy, bây giờ hai bố con ta phải leo lên đỉnh ngọn núi kia.
Mí Chứ nhìn ra ngọn núi bố vừa chỉ, nó chỉ cao hơn chỗ đang đứng một ít nhưng nằm ở giữa thung lũng, đỉnh núi có một đám đất khá bằng phẳng cỏ mọc xanh rì.
- Lên đỉnh núi ấy làm gì hả, bố?
- Nơi ấy mới có gió, gió thổi theo chiều dọc của thung lũng, tí nữa con sẽ thấy gió có tác dụng gì.
Gần đến nơi Mí Chứ đã cảm nhận được gió ở đây thổi nhiều hơn, thổi miết một chiều chứ không thành cơn và quẩn lại như nơi khác. Bố đưa con én có cánh hình số tám cho Mí Chứ rồi bảo đứng xa ra cuối gió, còn bố đi về đầu gió. Mí Chứ ngắm kỹ hơn con én thấy hai cánh của nó có hai điển mười bài tập toán, phía đuôi có một điểm mười bài tập tiếng việt, nét bút màu đỏ của cô giáo vẫn còn nguyên, cạnh đó nét chữợmc xanh của Mí Chứ đã bị nhoè đi đôi chỗ.
- Được rồi Mí Chứ ơi!
Mí Chứ xoay người lại nhìn bố.
- Con giơ cao lên rồi thả tay ra!
Mí Chứ nâng con én lên, ba cái dải dài ở đuôi con én bị gió thổi vắt ngang vào cổ. Mí Chứ đưa tay gỡ cho nó bay về phía sau. Mí Chứ nâng tiếp con én lên cao quá đầu rồi thả tay. Bố kéo căng sợi dây, con én lao vút lên trên cao. Mí Chứ thấy lạ quá cứ ngửa cổ lên ngắm mãi. Lần đầu tiên nó thấy có cái khác cũng bay được ngoài chim và mây.
- Con lại đây Mí Chứ ơi!
Mí Chứ chạy về phía bố đang đứng. Vừa chạy Mí Chứ vừa ngoái đầu nhìn con én đang bay cao dần.
- Con thấy có đẹp không? - Bố hỏi.
- Đẹp ạ! - Mí Chứ trả lời.
- Con cầm lấy này. - Bố nói và đưa cho Mí Chứ cuộn dây. - Muốn nó bay cao hơn con hãy từ từ nới dây dài ra, còn nếu không thì giữ nguyên hoặc thu dây lại.
- Vâng ạ! - Mí Chứ đáp.
Mí Chứ đưa hai tay cầm cuộn dây khi bố trao. Mí Chứ cầm thật chặt. Một cảm giác là lạ ở nơi bàn tay, sức căng của sợi dây siết lên bàn tay, gió thổi mạnh sợi dây căng hơn con én bay cao hơn. Mí Chứ nới dây ra thêm một đoạn nữa rồi giữ nguyên.
- Con ở đây một mình nhé. - Bố nói với Mí Chứ.
- Bố đi đâu ạ? - Mí Chứ hỏi lại.
- Bố đi lấy củi. Con ở một mình được chứ?
- Được ạ!   
Bố cầm dao đi vào rừng bỏ lại chiếc quẩy tấu ở gần chỗ Mí Chứ đứng. Bố đi khuất sau tán cây, Mí Chứ thấy lòng trống vắng, lẻ loi, một cảm giác chênh vênh như đứng trước vực thẳm. Mí Chứ thấy lạ. Đã bao lần Mí Chứ lên núi và ở một mình nhưng chưa bao giờ nó có cảm giác như vậy. Mí Chứ ngước nhìn lên trời, con én có ba điểm mười đang đứng yên một chỗ. Ánh nắng đã khuất sau dãy núi Xín Chải, khu rừng và nơi Mí Chứ đứng cũng không còn nắng, chỉ có con én bay tít trên cao là vẫn được hứng nắng và đang sáng rực lên.
Bố đã về từ lúc nào mà Mí Chứ không biết. Khi nghe tiếng dao chặt củi Mí Chứ mới quay lại thấy bố đang nhét số củi vừa lấy được vào quẩy tấu, cái nào dài thì chặt cho ngắn bớt đi.
- Thu dây vào chuẩn bị về thôi con ơi!
Mí Chứ cuộn dần dây vào con "cầu tua". Con én thấp xuống dần. Bố đã nhét xong bó củi vào vừa đầy chiếc quẩy tấu. Bố bê ra gần chỗ Mí Chứ đứng.
- Con để bố thu cho.
Bố cầm lấy con "cầu tua" quấn thoăn thoắt, con én thấp xuống trông thấy, chả mấy chốc nó đã xuống đến mặt đất. Bố đưa cho Mí Chứ:
- Ta về thôi!
Mí Chứ giơ con én cao quá đầu tung tăng chạy trước bố.
- Con có thích nó không? - Bố hỏi khi Mí Chứ dừng lại đợi.
- Thích ạ! - Mí Chứ trả lời không do dự.
- Bố tặng con đấy!
Mí Chứ lại chạy lên trước, con én lại cất cánh bay.
Sau này Mí Chứ mới biết nó là cánh diều, lúc ấy thấy lạ quá, vui quá nên quên không hỏi bố xem cái đó gọi là cái gì. Thấy hay hay, Mí Chứ chỉ biết nhìn, biết ngắm, rồi say không còn nghĩ ra được cái gì nữa. Về đến nhà Mí Chứ cất ngay con én lên trên gác không cho ai nhìn thấy.
Tối hôm ấy đến giờ đi ngủ mà Mí Chứ vẫn còn ngồi nói chuyện với bố. Mẹ phải nhắc mấy lần Mí Chứ mới uể oải đứng dậy lên giường nằm. Trên giường Mí Chứ còn cố nhỏm cổ ra ngoài màn nói chuyện với bố. Bố vẫn ngồi ở bếp sưởi cầm ống điếu hút thốc lào. Bố nhắc lại lời mẹ mấy lần Mí Chứ mới chịu nằm yên để ngủ.
Và rồi Mí Chứ cũng ngủ. Mí Chứ đã nằm mơ. Trong mơ Mí Chứ thấy mình có cánh và biết bay. Mí Chứ bay như chim, bay từ ngọn núi này sang ngọn núi kia, từ cánh rừng này sang cánh rừng khác, bay qua những nơi đã biết, đã đặt chân đến, bay qua cả những nơi Mí Chứ chưa biết, chưa đặt chân đến bao giờ...
"Thật là tuyệt vời!" - Mí Chứ đã nói như vậy trong mơ.
 
4. Một cuốn sách cũ

Sau một hồi tìm kiếm trong thư viện của trường Mí Chứ cũng tìm được một cuốn sách có nói về cánh diều. Cuốn sách không dày và cũ, một lớp bụi bay lên khi Mí Chứ động tay vào, trang bìa đã mất, tên sách và tên tác giả cũng không còn. Mí Chứ hỏi mượn, cô thủ thư nhìn qua rồi bảo cứ cầm về, không cần vào sổ.
Về đến nhà Mí Chứ treo chiếc cặp lên vách rồi đem cuốn sách ra đầu nhà ngồi lên khúc gỗ nghiến bố kéo từ rừng về nhâm nhi từng con chữ.
Trang đầu tiên của cuốn sách được bắt đầu từ con số bảy, và chỉ còn nửa cuối của trang, phần đầu đã bị xé mất. Trang tám cũng không khác gì trang bảy. Mí Chứ định bỏ qua phần bị rách nhưng lại tò mò muốn biết ở đó còn lại những gì. Mí Chứ ngần ngừ một lát rồi quyết định đọc:
“...sau buổi chiều, ánh nắng đã yếu đi, sân kho hợp tác thóc được vun lại thành đống cao như mái nhà, từng đống thóc vàng ngồn ngộn như những trái núi nhỏ. Lũ trẻ con chúng tôi bắt đầu đem diều ra thả, diều lá mít, diều lá tre, diều cánh cốc, diều cánh dơi, diều cánh bướm... được tung lên bầu trời, tiếng sáo, tiếng màng mây màng tre hoà quện với nhau thành dàn đồng ca của chiều quê. Làn gió thổi cong những ngọn tre làng, làn gió nâng cánh diều lên cao. Bầu trời xanh trong ngăn ngắt, thảng hoặc có làn mây trắng dạo chơi.
Bọn tôi ngồi quây quần lại với nhau thi xem diều của ai lên cao nhất, diều của ai ít chao nhất, dây của ai ít võng nhất...”
Trang bảy chỉ có vậy. Trang tám còn ít hơn.
"... Chúng tôi lấy que cắm xuống mặt ruộng rồi buộc dây diều vào đó. Những mô rạ trên cánh đồng sau mùa gặt là nơi ẩn nấp chơi trốn tìm của bọn tôi đồng thời là nơi phân chia biên giới lãnh thổ để chơi trò trận giả. Khi tan cuộc thì mô rạ không còn nữa mà bay tứ tung khắp mặt ruộng. Chúng tôi đã từng bị ăn đòn vì trò nghịch ngợm đó nhưng chẳng có thằng nào chịu chừa. Khi có đứa rủ lại ào xuống ruộng, rơm rạ lại bay tứ tung..."
Trang chín không biết đã đi đâu mất, phía sau là trang mười.
Mí Chứ gấp sách lại ngắm nghía, một sự tiếc nuối trào dâng trong lòng.
Mí Chứ đọc tiếp các trang sau, truyện viết về một làng quê của miền xuôi, thanh bình và rất đẹp. Những ngày hội làng, những cuộc thi diều, những trò nghịch ngợm của đám trẻ chăn trâu...
Mí Chứ đã có được một vài kiến thức nho nhỏ về cánh diều, về cuộc thi diều... Những trang sách viết rất sôi động. Mí Chứ đọc mà như được nhìn tận mắt, được cùng tham gia, cuốn hút đến lạ lùng. Có truyện khi đọc xong Mí Chứ phải dừng lại một lúc để nghe tiếng lòng ngân vang. Có truyện khi đọc đã làm Mí Chứ ứa nước mắt.
Mí Chứ thương bé An có một tuổi thơ thật khổ, cha mẹ mất sớm, bé sống với người bác họ, ngày ngày bé phải đi chăn trâu, cắt cỏ, làm việc luôn tay.
Thấy chúng bạn cắp sách đến trường, bé đứng nhìn mà thầm ước sẽ có ngày cũng được như vậy.
Thấy chúng bạn cùng bố mẹ đi chơi, bé nhìn theo họ rất lâu.
Thấy chúng bạn chơi diều, bé cũng hí hoáy làm cho mình một cái. Bé đã giấu cánh diều bé nhỏ ấy ở bụi tre gai đầu xóm, bởi người bác đã cấm rồi mà đem về nhà thế nào cũng bị xé rách, thêm nữa mông và lưng chắc chắn sẽ bị hằn lên những vết tím bỏng rát.
Buổi chiều hôm ấy bé An đã thả cánh diều của mình vào không trung rồi buông dây ra cho cánh diều được bay cao, bay xa mãi mãi...
Cuộc đời của bé Thu cũng rất đặc biệt, bé có cha có mẹ nhưng không ai chịu nuôi bé. Hôm ấy trời mưa, bé nhớ rõ là như thế, mẹ dắt bé đến một ngôi đền nhỏ và giao bé cho ông từ coi đền. Ông từ chẳng có quan hệ họ hàng gì với bé, mọi người bảo thế. Bé đã khóc và đòi theo mẹ nhưng ông từ đã ôm chặt bé vào lòng, bé vùng vẫy mãi nhưng không thoát ra được. Mẹ đi rồi, bé ngồi bệt xuống nền gạch mà khóc. Ông từ dỗ thế nào bé cũng không chịu nín.
Ông từ là một người đặc biệt, ông không lấy vợ, cả cuộc đời gắn bó với ngôi đền.
Chiều chiều khi quét lá đa rụng bé ngóng ra ngoài ngõ rất lâu, bé luôn tưởng tượng ra bóng dáng mẹ đang đi vào sân và giang hai tay ra đón bé.
Chiều nay bé vừa quét xong, đám lá đa được vun gọn vào góc sân, gió lại thổi làm rụng những chiếc lá mới. Bé lại quét, lá vàng lại rơi, và nắng đang tắt dần.
Mí Chứ dừng đọc. Mí Chứ thấy thương các bạn ấy quá. Mí Chứ muốn sẻ chia mơ ước và nỗi buồn với các bạn. Mí Chứ ôm cuốn sách vào lòng, thả tầm nhìn ra nơi rừng cây phía trước. Tất cả chìm vào trong yên lặng, gió cũng lặng yên.
Mí Chứ mở lại cuốn sách. Mí Chứ muốn nhìn lại những trang sách mà mình vừa mới đọc, những trang sách gói ghém biết bao tình cảm đậm đà với quê hương, tình yêu giữa con người với con người...
Cuốn sách được cất đi, Mí Chứ đã đọc từ đầu đến cuối không sót một chữ nào.
Nắng đang vàng lên óng ả khắp núi rừng. Mí Chứ ra khỏi nhà. Mí Chứ đi theo nắng.
Gió ở đâu ùa về làm nghiêng ngả những bóng cây.
 
5.  Một người bạn
Buổi chiều hôm ấy cái xóm nghèo của Mí Chứ đã đón thêm một gia đình mới. Mí Chứ có thêm một người bạn. Tình cờ mà như định mệnh, hai đứa vừa thấy nhau mà như đã quen thân tự thủa nào.
Người bạn ấy có hoàn cảnh thật đặc biệt, mẹ đi lấy chồng từ năm mười hai tuổi, đến năm mười sáu bị chồng đuổi về nhà. Ông ngoại hằm hằm tức giận không nhận con và xua đi như xua con ma ác. Mẹ nó không còn chỗ đi đã quỳ xuống xin ông ngoại cho ở tạm nơi trái nhà mấy ngày. Ông ngoại kiên quyết không cho bước qua khu vực hàng rào đá, ông đẩy ra ngoài và đóng cánh cổng lại. Mẹ nó bám chặt lấy cánh cổng. Ông ngoại giơ chân đạp ngã lăn ra ngoài rồi cài then, và khoá lại. Mẹ nó ngồi nguyên như vậy nhìn vào nhà mà khóc. Mặt trời ló lên rồi đứng bóng, rồi xế sang chiều.
Bà ngoại ở trong nhà thương mẹ nó cũng chỉ biết rấm rứt khóc theo chứ không dám làm trái lời của ông ngoại.
Đến chiều tối bà ngoại lén quẳng cho mẹ nó ít mèn mén, một cái nồi, một cái muôi, một con dao cùn và hai cái bát sứt miệng. Mẹ nó nặng nề lê bước chân ra đi, bóng tối bao trùm lên rừng núi.
 
*
Có một anh chàng mồ côi từ thủa nhỏ, nhà rất nghèo, vì mồ côi và nghèo quá nên anh ta không lấy nổi vợ mặc dù đã qua tuổi hai mươi. Con trai vùng này thường lấy vợ từ lúc mười ba mười bốn tuổi, có người muộn hơn nhưng rất hiếm qua tuổi hai mươi. Nếu có qua tuổi hai mươi thì chí ít cũng đã có chỗ đặt lễ dạm hỏi. Anh ta đã qua hai mươi hai tuổi chưa có chỗ đặt lễ dạm hỏi chắc cũng khó còn cơ hội lấy được vợ. Hôm ấy anh ta lên rừng đào củ đã gặp người con gái sống một mình trong rừng. Từ sự đồng cảnh đến đồng lòng, họ về sống với nhau trong căn nhà gianh xiêu vẹo không cần qua một nghi thức cưới xin nào. Mí Nô đã ra đời sau đó gần một năm.
Họ làm lụng tất bật từ sáng đến tối mịt, ăn uống chi tiêu rất dè sẻn,... Ngô lúa về nhà ngày một nhiều thêm, rồi trâu bò dê lợn cũng về, những thứ mà chỉ mấy năm trước họ có nằm mơ cũng không dám nghĩ tới thì bây giờ đang đầy ăm ắp trong nhà.
Năm Mí Nô bốn tuổi, ngôi nhà gianh được phá đi, dựng trên nền đất cũ là ngôi nhà ngói to nhất nhì xóm.
Năm nó tám tuổi, được theo bố đi chăn bò, con trước đi theo con sau nó đếm được mười chín con, đàn dê chạy phía sau thành một hàng dài.
Năm nó mười một tuổi, bố nó lấy mẹ hai. Bây giờ bố nó là người có của, lấy một chứ ba bốn bà mẹ cũng vẫn có người theo. Mẹ hai của nó mới có mười sáu tuổi. Nhiều người khen mẹ hai nó có nhan sắc.
Về ở cùng nhà với mẹ con nó nhưng mẹ hai nó chẳng chịu làm gì. Mọi công việc lớn nhỏ trong gia đình đều đến tay mẹ nó. Sáng, mẹ nó dậy rất sớm đồ mèn mén cho cả nhà rồi vội vã đi nương. Bố nó và mẹ hai ngủ đến lúc mặt trời làm khô hết sương trên lá cây mới uể oải rời khỏi giường. Mẹ hai bưng bát mèn mén lên và vào miệng, giận dữ đặt cái bát xuống bàn đánh cộp:
- Cứng thế này ăn sao được!
 Bố nó không nói gì. Mẹ hai nó giận dỗi bỏ ra ngoài cửa đứng. Bố nó ra theo dỗ dành một lúc lâu mẹ hai nó mới bớt đi cơn giận dữ. Và đến khi mẹ hai nó chịu nở một nụ cười trên môi thì bố nó vội vã lên rừng xẻ gỗ. Bố nó đi rồi mẹ hai nó vào nhà lấy cái bát rõ to múc đầy mèn mén, gắp rau, chan canh, ngồi ăn ngon lành một lèo hết nhẵn nhụi, thả cái bát vào chậu, ung dung đi chơi quanh xóm. Đến trưa, mẹ hai nó lại về ăn hết một bát mèn mén như thế nữa, lại thả bát vào chậu, lại đi chơi.
Tối, bố mắng mẹ. Mẹ nó không nói gì.
Sáng, mẹ hai vừa đưa bát lên miệng đã giận dỗi đem đổ mèn mén vào chảo cám lợn, quẳng cái bát lăn lông lốc trên nền nhà.
- Nát thế này thì chỉ có lợn ăn được!
Khi bố nó đi làm mẹ hai lại ăn ngon lành hết một bát mèn mén rõ to rồi đi chơi, trưa về cũng ăn hết một bát to rồi lại đi chơi.
Tối, bố nó lại mắng mẹ.
Mẹ nó không hề nói lại một lời.
Mẹ hai còn nói bóng gió bảo mẹ nó là đồ ăn hại và xúi bố nó đuổi ra khỏi nhà, đuổi đi cho khỏi ngứa mắt, cho khỏi bực tức, cho khỏi khó chịu. “Sống cùng nhà với chị ta như thế này tôi thà ăn lá độc để chết còn sướng hơn!” - Mẹ hai nó luôn mồm nói như vậy khi phật ý điều gì.
Bố đã nghĩ mẹ nó cậy là cả bắt nạt mẹ hai nên luôn đứng về phía mẹ hai mắng mẹ nó.
Mẹ nó không hề nói lại một lời.
Một hôm, mẹ nó nhét toàn bộ tư trang vừa gọn trong chiếc quẩy tấu. Mẹ hỏi nó:
- Con có đi với mẹ không?
- Đi đâu ạ? - Nó hỏi lại.
- Đi đến một nơi xa.
Nhìn vào mắt mẹ, nó đọc được nỗi buồn sâu thẳm, thế là nó quyết định, nó theo mẹ.
Nó đến một nơi xa lạ vào lúc chiều tà. Người mà nó gặp đầu tiên là Mí Chứ ở đầu xóm. Mẹ nó hỏi Mí Chứ về một người đàn bà. Mí Chứ biết người ấy, đó là bà Cáy, một người neo đơn của xóm, ở trong ngôi nhà rách nát chỉ nhỉnh hơn cái nhà làm nương một chút. Bà Cáy xưa kia có lấy chồng hai lần và cũng bỏ hai lần chồng vì bà không có con. Người không có con thì phải bỏ chồng để chồng lấy vợ khác, để nhà chồng có thêm con thêm cháu. Về già bà ở một mình trong căn nhà tạm bợ, vào ra một bóng, vắng lặng tiếng nói tiếng cười... 
Mí Chứ hay thấy bà ngồi ở đầu nhà ngắm chiều buông một mình, đôi mắt nhìn vô định. Mí Chứ thương bà lắm và thường đến ngồi nói chuyện với bà, nghe bà kể chuyện, giúp bà vài việc nho nhỏ như gùi nước, lấy củi, nhặt rau, nhóm bếp,... Những lúc ấy bà vui lắm, khuôn mặt rạng ngời, nói cười luôn miệng.
Bà Cáy đã nhận ra Mí Chứ từ rất xa và hầu như dửng dưng với hai người vừa đến. Một lúc sau bà mới nhớ ra đó là người họ hàng. Họ xin bà cho ở cùng. Bà đồng ý ngay không cần hỏi lý do.
Mí Nô theo mẹ cất các thứ vào trong nhà rồi xuống bếp làm cơm chiều. Mí Chứ đã nhóm lửa cháy lên, hai đứa cho nước vào nồi rồi đặt lên bếp. Bà Cáy lấy rau về nhà, bà hỏi chuyện Mí Nô, bà hỏi chuyện Mí Chứ, bà hỏi đủ thứ chuyện, hôm nay bà nói nhiều hơn mọi ngày.

📎 hoatamgiac
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-06-25 12:29:52Ct.Ly>
6. Khám phá

Mí Chứ đã tới góc rừng, nơi cuối con đường mòn có bốn cây lát hoa cổ thụ mọc liền kề nhau. Chiều về, bóng cây đổ dài thành một đường thẳng. Hôm nay hình như có điều gì khác lạ, gió thổi thành từng cơn rung rinh tán lá, bóng cây nơi mặt đất vuông tròn nghiêng ngả. Có lần Mí Chứ đã dừng lại ở đây rất lâu ngắm con đường mòn sáng rực lên dưới nắng.
Từ đây đến chỗ sườn núi của Mí Chứ vẫn còn một đoạn xa.
Bố kể, xưa kia núi Xín Chải nhiều cây lắm, có cây to đến mức đi bộ mất hai ngày mới được một vòng quanh gốc, ấy là lúc trời đất còn ở gần nhau. Chim muông, sư tử, hươu, nai, gấu, khỉ,... rất nhiều, chúng nhảy múa ca hát suốt ngày, rừng núi luôn ồn ào náo động. Những người thợ săn quanh vùng không ai dám lên núi, không ai dám bắn thú rừng trên núi. Trước họ đã có bao người đi qua nơi ấy mà không thấy về, giơ nỏ bắn chim trên núi, về nhà tự nhiên đau ốm rồi không thở được nữa.
Trong vùng có người thợ săn lừng danh tên là Sùng Chá Toả có tài phi lao mười lần trúng một chỗ, có tài bắn nỏ mười mũi tên nối đuôi nhau. Anh đi chu du khắp đó đây, số thú rừng bị anh ta giết hại không làm sao đếm xuể. Một hôm đến chân núi Xín Chải nghe mọi người kể và nghe tiếng đàn nhạc của chim thú vọng vang bước chân bồn chồn muốn được đi ngay lên núi. Anh rủ thêm mấy người bạn nhưng họ đều khéo léo chối từ. Anh nghĩ núi nào mà chẳng là núi, chim muông thú rừng nào cũng như nhau. Anh không tin rằng mũi tên của mình không hạ nổi con chim, con thú trên núi Xín Chải. Anh quyết định sẽ lên núi một mình, chứng minh cho mọi người thấy rằng nơi ấy cũng chỉ là một ngọn núi bình thường như những ngọn núi trong vùng, không có gì khác lạ. Điều mà mọi người truyền tai nhau chỉ là những chuyện thêu dệt, những chuyện hoang đường mang tính huyền thoại. Tiếng chim kêu vượn hót vang vọng khắp núi rừng có những âm thanh trầm ấm vang xa hơn nơi khác là nhờ có vách núi dựng đứng ở bên cạnh, tiếng hót va vào dãy núi rồi dội lại. Tiếng dội lại bao giờ cũng vang hơn tiếng hót ban đầu.
Sùng Chá Toả liền bắt tay ngay vào công việc chuẩn bị những đồ dùng cần thiết để lên núi.
Anh ngồi miệt mài suốt ba tháng mới làm xong một mũi tên. Anh thả mũi tên xuống đất, mũi tên xuyên thủng đoạn gỗ nghiến đang ngồi lên. Anh làm vừa chẵn mười mũi tên. Anh ngồi tiếp bốn tháng nữa mới làm xong một mũi lao. Mũi lao được giơ lên khua vài cái, nắng gãy vụn lả tả rơi xuống chân. Anh làm chẵn mười mũi lao. Anh lại ngồi tiếp sáu tháng làm ra một thanh đoản kiếm. Kiếm vừa giơ lên, gió đang chạy bị cụt mất đuôi không chạy được nữa nằm yên một chỗ.
Vào một hôm trời xanh trong, nắng ửng hồng phía đông, anh khoác toàn bộ các thứ đã chuẩn bị lên người và hướng về phía núi Xín Chải. Vừa đi được mấy bước, con gà trống đứng trên hòn đá lớn đầu ngõ cất tiếng gáy:

- Ò... ó... o...   
 Này anh Sùng Chá Toả
Đường rừng trăm ngàn ngả
Lối rừng vạn lối đi
Cuộc đời có mấy thì
Anh hùng vạn chốn thi
Cần chi phải lên núi
Xín Chải con đường tối
Đi không có ngày về
Không về, không về!

Sùng Chá Toả không thèm nhìn con gà, dửng dưng đi qua.
Đi ròng rã một tuần anh đến chân núi Xín Chải, đá tai mèo đã cứa rách chín đôi giày cỏ, máu đang ứa ra đôi giày thứ mười, bàn tay và cẳng tay bị cây rừng cào rướm máu. Anh tựa lưng vào tảng đá lớn nghỉ cho lại sức. Tiếng hò hét ca hát đã rất gần. Anh có thể nhận ra tiếng của từng loài động vật. Xen giữa tiếng trong leo lẻo của hoạ mi, khiếu, yểng, là tiếng trầm, đục, khoẻ của sư tử, tiếng rè rè của đàn dê, tiếng choe choé của lũ khỉ,... Anh ngửa mặt nhìn trời, chiều vừa xế bóng, vài giọt nắng còn đọng lại trên đỉnh núi. Bỗng anh nghe thấy tiếng hát của người tiều phu, rất vang, rất rõ:

Chiều, trên vai một ngày
Ta, trên vai ngọn núi
Qua chiều trời sắp tối
Ta vác củi về nhà
Ta hát một bài ca
Biết ơn người giữ lửa
Cho ta vầng than đỏ
Cho ta ấm đêm dài
Cũng thoả chí làm trai
Ta đây cũng như ai
Nhóm cho đời ánh lửa...

Tiếng hát xa xa rồi chìm dần vào trời chiều. Bóng tối xuống thật nhanh, Chá Toả cũng nhanh chóng tạo cho mình một căn lều từ cành cây và lá rừng để ngủ qua đêm. Trời khuya lạnh ngắt, tiếng ồn ào dịu bớt. Chá Toả cũng đã ngủ say từ lúc nào.
Sáng sớm, sương mù giăng trắng xoá, bốn bề yên ắng lạ thường, Chá Toả vươn vai xoay ba vòng, căn lều bị hất tung mỗi nơi một thứ. Chá Toả khoác hành lý lên vai tiếp tục cuộc hành trình. Sương mù ngày một dày hơn, Chá Toả vẫn bước. Sương đặc quánh lại, con mắt không nhìn thấy bàn chân, Chá Toả vẫn đi, bước sau cao hơn bước trước. Đá núi gập ghềnh lởm chởm, bước chân chênh vênh trơn trượt. Chá Toả vẫn dò tìm từng bước một, từng bước một khó nhọc, anh tin chắc rằng bước chân dẫu bị sương mù chắn lối vẫn có thể vượt qua trăm ngàn ngọn núi.

Mặt trời ló rạng, một quầng than hồng tròn trịa treo lơ lửng giữa màu trắng bạc. Sương tan dần, trời quang hơn, chim muông cất tiếng hót, thú rừng cất tiếng ca, bàn chân Chá Toả vẫn đi. Con mắt Chá Toả luôn kiếm tìm, vậy mà vẫn chưa hề gặp một con chim, con thú nào. Cây cối rậm rịt cao chót vót, thảng hoặc mới có một khoảng trống nho nhỏ đủ để Chá Toả nhìn thấy mặt trời.
Ánh nắng xuyên qua kẽ lá rơi lốm đốm xuống mặt đất, từng tia vàng nhảy múa, nô đùa trước mắt Chá Toả. Gió bắt đầu đi dạo, gió xô nhau ầm ào, gió đưa tay véo mũi đá, gió giơ chân đạp vào tán cây rừng làm lá vàng rơi lả tả, có cây bị gió đạp cho nghiêng ngả...
- Này anh kia!
Chá Toả giật mình quay lại, một con vẹt có bộ lông ngũ sắc giận dữ nhìn anh.
- Anh xem lại trí khôn của mình có to hơn cái mũi trên mặt, có lớn hơn cái tai trên đầu mà đưa chân tới nơi này. Anh có biết bao kẻ vì kém khôn mà bỏ mạng, vì đần độn mà quên xác, vì ngu si mà hết đời...
Chá Toả khinh thường con vẹt nhãi nhép, chân anh vẫn bước.
Sang ngày thứ tư từ hôm được nghe tiếng hát người tiều phu Chá Toả đã đi được nửa đường lên đỉnh núi Xín Chải. Con vẹt là con vật anh gặp đầu tiên kể từ hôm ấy. Tiếng hát ca của chim muông thú rừng vẫn rộn vang. Chá Toả không ngừng nhịp bước, đôi tai luôn nghe ngóng những tiếng động lạ, nhưng tuyệt nhiên không thấy có tiếng động nào khác ngoài những tiếng đã từng nghe từ lúc đặt chân lên núi. Đôi mắt Chá Toả luôn mở to săn tìm dấu chân hằn in trên đất, nhưng cũng chưa tìm được dấu chân nào. Đá tai mèo sắc nhọn, lá rừng rụng đầy trong hốc, bước chân dẫm lên lào xào. Đi được một quãng xa, tiếng con vẹt không còn nhí nhéo nữa, xung quanh vẫn không có gì thay đổi, chỉ thấy lạnh, chỗ nào cũng lạnh.
Hôm nay âm u mây gió, bước chân Chá Toả không còn mạnh như mấy hôm trước, hai đầu gối bắt đầu run. Chá Toả tựa lưng vào tảng đá, bàn chân không hiểu sao cứ trượt dần về phía trước. Chá Toả chỉnh lại tư thế đứng cho khỏi ngã nhưng bàn chân vẫn cứ trơn trượt, đám lá bị đẩy lên thành đống, bàn chân bỗng gặp một vật gì cồm cộm dầy dầy. Chá Toả ngồi xuống thò tay bới. Một cái đầu lâu đen sì với hai hố mắt sâu hoắm đen ngòm lộ ra. Chá Toả gạt sâu hơn, rộng hơn xuống đám lá, từng đốt xương sống, từng giẻ xương sườn lộ dần.
Ngồi nghỉ một lát rồi Chá Toả đứng dậy. Chá Toả bước tiếp. Chá Toả vẫn đi lên núi. Chá Toả quyết không lùi bước. Những điều cần khám phá vẫn còn ở phía trước. Hội thi ca, vũ, kịch của chim muông thú rừng vẫn còn ở phía trước thì đôi chân Chá Toả không có lý do gì không đi tiếp về hướng ấy.
Tuyết bắt đầu rơi, từng hạt nhỏ như bông gòn bay phấp phới. Chá Toả vẫn bước. Tuyết dày hơn, lá rừng nặng tuyết rơi lộp bộp. Đôi chân Chá Toả vẫn không ngưng nghỉ. Tuyết rơi dày đặc, núi rừng ngập tràn những tuyết, trắng xoá khắp mọi nơi. Cành cây gẫy răng rắc trước sức nặng của tuyết. Chá Toả không còn bước được nữa, anh đã bị một cành cây đầy tuyết gẫy xuống phủ kín cả người. Sùng Chá Toả đã hoá đá từ đấy.
Từ ngày trời đất xa nhau núi Xín Chải bớt lạnh đi nhiều, hoạ hoằn lắm mới thấy một năm có tuyết bay, bay rất mỏng, chỉ lốm đốm trắng trên màu xanh cỏ cây. Và hình như núi Xín Chải cũng thấp hơn ngày xưa thì phải.
Sùng Chá Toả đã đi gần được lên tới đỉnh núi. Nơi sườn phía đông, anh hoá đá khi đôi chân đang ở tư thế bước lên, đôi mắt hướng lên, một tay cầm lao, một tay cầm nỏ. Chỉ tiếc là đến khi chết anh vẫn chưa khám phá ra hội thi ca vũ kịch của chim muông thú rừng.
Hội thi đó đến bây giờ vẫn chưa ai nhìn thấy!
 
7. Những câu chuyện của bà Cáy
Lũ trẻ trong xóm được nghe bà Cáy kể chuyện hôm trước thì hôm sau thế nào cũng tìm đến đòi bà kể chuyện tiếp. Mí Chứ cũng vậy, mấy hôm đầu ngày nào nó cũng có mặt tại nhà bà Cáy. Lời bà kể nhẹ nhàng dí dỏm làm bọn trẻ thỉnh thoảng lại cười ồ lên sung sướng...
Bà Cáy kể nhiều về những chuyện ngày xưa, ngày bà còn bé đi ở cho tổng giáp, mã phái... Rồi bà kể truyện cổ tích, truyện thần thoại, truyện ngụ ngôn... Bà có cả một kho truyện. Mí Chứ có cảm tưởng bà cứ ngồi đó mà kể chuyện cho mọi người nghe thì có ngồi cả ngày, cả tháng cũng vẫn chưa hết chuyện để kể.
 
*
Ngày xưa, lúc ấy chưa có buổi chiều, chỉ có sáng, trưa và tối. Trời vừa rửa mặt đã rạng rỡ đến đứng bóng, nắng đang gắt gay thì bị tắt phụt và bóng tối hoành hành. Bóng tối cậy mình có thế lực không ngần ngại quết mực đen lên vạn vật. Cứ sau trưa là bầu trời đã tối, cỏ cây ngày một ít dần màu xanh, con người ngày một gầy yếu, muông thú đi lại chậm chạp. Ngọc Hoàng mấy lần ra lệnh cho thần Bóng Đêm thu bớt tấm màn nhung đen lại. Thần Bóng Đêm không những đã phớt lờ lệnh của Ngọc Hoàng mà còn có ý định may thêm cho tấm màn nhung rộng ra để chiếm luôn cả buổi trưa và buổi sáng. Ngọc Hoàng ra chiếu chỉ, ai làm cho thần Bóng Đêm thu bớt màn lại sẽ được thưởng vương miện và tấm áo choàng đỏ. Đến Ngọc Hoàng còn bất lực nên các thần tiên trên trời không ai có ý kiến gì. Chiếu chỉ của Ngọc Hoàng được ban xuống hạ giới, đợi mãi vẫn không thấy ai lên tiếng. Ngọc Hoàng rất thất vọng, chưa tìm ra cách gì đối phó với thần Bóng Đêm. Trong khi đó thần Bóng Đêm đã may cho màn rộng ra và chiếm mất buổi trưa, lúc này chỉ còn buổi sáng và tối. Ngọc Hoàng buồn ủ rũ bỏ cả triều chính, con mắt các thần nhìn Ngọc Hoàng kém phần kính trọng đi rất nhiều. Đợi mãi rồi cũng có được người lên tiếng, đó là anh em nhà gà. Thấy họ nhỏ bé quá Ngọc Hoàng tỏ ý ái ngại: “Các ngươi có được mấy phần sức lực mà dám đối đầu với thần Bóng Đêm?” Cả hai anh em nhà gà đều cười: “Để biết được ai hơn ai, cúi xin Ngọc Hoàng cứ cho chúng thần thử sức thì mới biết.” Ngọc Hoàng đồng ý cho lập hai cái đài gần nhau theo đề nghị của anh em nhà gà để làm phép. Đến giờ đã định, anh em nhà gà nhảy lên bậc cao nhất của cái đài gáy hai hồi thật dài. Tiếng gáy làm trời đất nghiêng ngả, đất đá chỗ sụt xuống chỗ bồi lên, những người gần đó tai như bị ai chọc, đầu óc quay cuồng đứng không vững. Mọi người vội vàng lấy tay bịt tai lại. Thần Bóng Đêm cũng vội vàng lấy hai tay ấp vào tai, thế là tấm màn nhung đen bị kéo lên thu nhỏ lại. Từ đây đã có thêm buổi chiều. Trời đất có đủ sáng, trưa, chiều, tối. Gà anh có tiếng gáy khoẻ, vang xa hơn. Ngọc Hoàng đội lên đầu gà anh vương miện mào cờ và một tấm áo choàng đỏ. Gà em gáy nhỏ, ít vang hơn. Ngọc Hoàng đội lên đầu gà em vương miện mào sít và một tấm áo choàng đỏ. Khi anh em nhà gà ra về Ngọc Hoàng đã nói nhỏ vào tai anh em họ là nên gáy nho nhỏ thôi để khỏi ảnh hưởng đến trời đất và để nhắc thần Bóng Đêm đừng có bỏ tay ra khỏi tai. Từ đó, lúc thì gà anh, lúc thì gà em, lúc thì cả hai anh em thay nhau gáy suốt cả ngày, thần Bóng Đêm đã không dám rời tay ra khỏi tai. Khi gà anh và gà em đi ngủ, thần Bóng Đêm mới nhẹ nhàng tung tấm màn nhung trùm kín cả trời đất. Khi anh em nhà gà thức dậy, thần Bóng Đêm lại vội vàng đưa tay lên bịt lấy hai lỗ tai. Và cứ thế, ngày lại ngày trôi qua như vậy.
 
*
Ở bản nọ có gia đình người thợ rèn chăm chỉ, đến cuối đời tích cóp được một gia tài cũng tạm gọi là khá giả. Vợ chồng họ chỉ có duy nhất một cậu con trai. Cậu ta ỷ lại vào bố mẹ, chẳng chịu làm gì, suốt ngày chỉ ăn rồi rong chơi. Cậu đi hết bản này đến bản khác, núi rừng này đến núi rừng khác, nơi nào có tổ chức lễ hội là cậu tìm đến. Cậu tiêu tiền vào những việc ăn chơi một cách vô tội vạ. Cha cậu buồn lắm, mấy lần ông nhắc cậu phải cố học cho lấy một nghề để sau này còn biết làm mà nuôi thân. Cậu chỉ vào đầu mình nói rằng trong đó có một dự định to lớn đang hình thành, cậu sẽ sống một cuộc đời khác biệt, khác hẳn với mọi người, cậu sẽ học những gì cậu cho là cần thiết. Đi đâu cậu cũng khoe rằng cậu có một dự định to lớn đang hình thành, và sắp có trên thực tế.
Bố mẹ về già, cậu vẫn chẳng chịu làm gì. Bố mẹ qua đời, cậu vẫn không có gì thay đổi. Gia tài dù giàu có, nếu chỉ ăn mà không làm rồi cũng đến ngày cạn kiệt. Của cải được thừa hưởng chẳng cho cậu no đủ được bao lâu. Khi không còn gì để ăn cậu nghĩ ra một cách là tìm đến những nơi quen thân để vay mượn về ăn. Cậu nói dối là đang cần số vốn lớn để thực hiện một dự định lớn. Khi vay được thì cậu hỉ hả cám ơn họ. Ai không cho vay, lần sau cậu lại tìm đến. Lời cậu nói thật khéo, trơn như ống điếu, ngọt như mật ong rừng, nhiều người thấy cậu đến đã tự thề với mình là nhất quyết không cho cậu vay nhưng sau khi nói chuyện với cậu một lúc lại lấy tiền đưa cho cậu. Khi cậu về họ lại tự rủa mình đã không giữ được ý định ban đầu. Những người cho cậu vay, chẳng bao giờ thấy cậu trả lại dù là một đồng lẻ. Nếu ai có ý định đòi nợ thì cậu tránh mặt, nếu không tránh được thì cậu nói dối quanh, nếu ai to tiếng hay đến đòi nhiều lần thì cậu nổi khùng: “Thân xác tôi đấy các người xả ra mà đem bán lấy tiền!” Họ cũng chỉ mắc với cậu một vài lần, tiếp chuyện với cậu một vài lần, sau nữa thành người không quen biết và dĩ nhiên sẽ không bao giờ cậu vay được tiền của họ nữa. Cậu không biết làm gì khác ngoài việc than thân và chửi bới thiên hạ bạc bẽo, đối xử với nhau độc ác, không có tính người... Gặp ai cậu cũng thấy họ giàu có hơn mình, sung sướng hơn mình. "Thiên hạ này rặt một lũ người keo kiệt, không ai có được một chút lòng nhân hậu!" - Câu cửa miệng của cậu là vậy.
Cậu đi khắp nơi, tìm đến những người bạn mà khi xưa, lúc cậu còn giàu có đã từng thân thiết với cậu. Nhiều người quay mặt đi khi nhìn thấy cậu, nhiều người tiếp cậu như một việc làm bất đắc dĩ, lời nói của họ được câu trước, câu sau đã bóng gió đuổi cậu về, chẳng bù cho ngày xưa họ coi cậu là ân nhân, thánh thần, là cha mẹ tái thế... 
Cậu lại ra đi, lại lang bạt khắp nơi. Một hôm cậu lạc bước đến cổng một gia đình giàu có. Nhìn cái cổng cậu có thể đoán được gia đình này giàu có đến mức nào, hai cánh cổng bằng gỗ lim rất chắc chắn, mái cổng được lợp bằng ngói vươn dài về phía trước, tường rào được xây bằng đá kiên cố. Cậu đã lả đi vì đói. Cậu ngồi tựa lưng vào cánh cổng để tránh những hạt mưa xuân đang giăng giăng đầy trời. Cậu đã ngồi ở đấy rất lâu. Rồi cánh cổng được mở, một người đàn ông to lớn ăn vận gọn gàng bước ra. Ông ta không nhận ra cậu. Còn cậu nhận ngay ra ông ta, vẫn cái dáng cao lớn, khuôn mặt vuông vuông, nước da bánh mật. Ông ta của mấy năm về trước khác hẳn với cái dáng đi đường bệ bây giờ. Ông ta khi ấy không có một xu trong túi, ăn mặc rách rưới. Ông ta đến nhờ cậu giúp đỡ, cậu đã kênh kiệu nhổ nước bọt vào mặt ông ta và đuổi về.
- Ông Páo, - cậu lên tiếng.
Người đàn ông nhìn cậu kỹ hơn và nhận ra người cũ. Ông ta mời cậu vào nhà và làm cơm mời cậu. Trong bữa ăn ông ta không hề nhắc tới chuyện ngày xưa, còn cậu đã nói rất nhiều tới những ngày bố mẹ cậu còn sống.
- Thiên hạ toàn những người bạc bẽo, - cậu nói hăng quá bắn cả mèn mén ở trong mồm ra ngoài. - Ông thấy tôi nói có đúng không, thiên hạ rặt một phường giả dối, một đống ích kỷ, không có lòng nhân từ, không biết thương người. Từ ngày bỏ hẳn cái lò rèn cũ kỹ ấy, ông là người tốt duy nhất mà tôi gặp, nếu tôi nói sai sẽ bị ngã gãy cổ, bị cây đổ nát xương...
- Cậu có muốn chấn hưng lại lò rèn của bố cậu không, tôi sẽ giúp cậu một ít tiền. - Ông Páo lên tiếng.
- Ối dào, - cậu gạt phắt. - Báu vào cái lò cũ nát bẩn thỉu ấy, chân tay đen nhẻm suốt ngày mà tiền bạc kiếm được chẳng đáng là bao.
- Bố mẹ cậu đã trở nên giàu có từ cái lò rèn đó thôi! - Ông Páo cắt ngang lời cậu.
- Họ khác, tôi khác, tôi muốn làm việc lớn hơn, tôi có một dự định cực kỳ lớn đang hình thành, tôi cần rất nhiều vốn. Ông có tiền, cho tôi vay một ít, tôi sẽ đầu tư vào nơi xứng đáng, sẽ trả ông đúng hẹn, đủ cả lãi lẫn gốc.
Ông Páo không nói nữa vì biết rằng cậu cũng chẳng muốn nghe.
Khi cậu cáo biệt ra về, ông Páo lấy một ít tiền đưa cho cậu. Ông chỉ đưa, không nói gì. Cậu cầm tiền, cám ơn ông Páo đến mấy lần. Cậu ra đi, ông Páo vội khoá cổng lại.
Cậu lại tiếp tục cuộc hành trình, có tiền thì phải tiêu thôi. Hai ngày sau số tiền ông Páo đưa đã ra đi nhẵn nhụi. Hết tiền, cậu lại vật vờ như cái bóng, sống bằng lòng bố thí của thiên hạ.
Một hôm người ta phát hiện ra cậu nằm co trong hang đá. Cậu không còn thở nữa. Cậu đã chết! Cậu chết rồi mà chưa ai được nhìn thấy dự định lớn lao của cậu hình thành trên trái đất.
 
*
Trên cành đào có bầy kiến nâu làm tổ, cả đàn luôn tất bật suốt ngày. Chúng nhào vôi vữa xây nhà. Chúng tích luỹ lương thực cho đầy ắp các kho. Chúng lao động và lao động, chúng hát vang bài ca lao động. Trong đàn có duy nhất anh em kiến mồ côi được cả đàn cưng chiều, ăn ngủ đẫy giấc nên lớn lên mắc phải chứng lười lao động. Mỗi lần đến phiên mình phải đi kiếm mồi thì luôn tìm mọi cách viện đủ mọi lý do nào chân đau, bụng đau, xương cốt đau để được ở nhà. Khi không còn lý do gì để viện, hai anh em ra đi với bước chân uể oải của kẻ buồn ngủ, tấm thân mệt mỏi của kẻ bị bỏ đói dài ngày. Khi bị nhắc nhở, phê bình, anh em kiến mồ côi chăm chỉ hẳn lên, nhưng cũng chỉ được mấy ngày rồi lại lười như cũ. Phê bình đi, phê bình lại, chán cả phê bình.
Sáng nay, anh em kiến mồ côi phải dậy sớm hơn mọi ngày để đi kiếm mồi. Đàn kiến thợ mừng rỡ khi thấy anh em họ đi làm cùng. Đi được một đoạn kiến anh hỏi viên chỉ huy:
- Chúng ta phải đi đâu, có xa bằng hôm nọ không?
- Chúng ta phải đi xa hơn, đường khó hơn, kiến trinh sát về báo ở nơi ấy có nhiều lương thực lắm. - Kiến chỉ huy trả lời.
Nghe thấy thế anh em kiến mồ côi cố tình đi lùi lại sau rồi tách khỏi đàn sang con đường khác. Đi được một đoạn hai anh em tìm thấy một mấu cây ấm áp bèn ghé vào ngả lưng làm giấc ngủ ngon lành. Khi tỉnh dậy trời đã xế chiều, hai anh em vội đi tìm thức ăn. Khi tìm được thức ăn vừa đủ số lượng để nộp vào kho nhưng do đói quá không làm sao nhấc nổi khối thức ăn để mang về tổ, kiến anh nghĩ ra được một cách là ăn vào bụng một ít cho nhẹ bớt sẽ mang về dễ hơn. Về đến tổ, kiến canh cửa thấy số lượng lương thực anh em kiến mồ côi mang về không đủ bèn ngăn lại. Kiến anh vội nói:
- Đáng lẽ ra anh em tôi đã mang về gấp ba số lương thực này nếu ngang đường không gặp một bác kiến già đói lả đang nằm chờ chết và mẹ con chị kiến đen ôm nhau khóc vì không có cái ăn. Trước cảnh tượng ấy chúng tôi không đành lòng mang thức ăn về mà không giúp đỡ họ, thế là chúng tôi xẻ cho mỗi người một ít thức ăn cho đỡ đói.
Kiến canh cửa thấy anh em kiến mồ côi có lòng thương đồng loại như thế thì không có lý do gì không cho anh em họ vào cửa. Hai anh em kiến mồ côi nhìn nhau tủm tỉm cười.
Lần sau, hai anh em kiến mồ côi vẫn tìm mấu cây ấm áp đánh một giấc say sưa đến tận chiều rồi mới cuống cuồng đi tìm thức ăn, nhưng rủi thay lần này không tìm thấy thứ gì có thể ăn được. Trời tối mịt hai anh em mới tìm về đến tổ, bụng đói, mắt hoa, bước thấp bước cao vẹo và vẹo vọ. Kiến canh cửa ngăn lại, kiến anh nói:
- Đáng lẽ ra anh em tôi đã mang về rất nhiều thức ăn, nhưng trên đường đi về gặp một bác kiến nâu đã già yếu lắm vừa ngồi bên đường vừa khóc. Anh em tôi dừng lại hỏi thăm thì được biết ngôi nhà mà bác ấy đã phải lao động cả một đời vất vả mới dựng được đã bị chiếc lá cây rơi xuống va vào mái nhà, phần nóc bị sạt một mảng lớn, ít thức ăn dự trữ để trên nóc nhà không biết đã văng đi đâu mất. Anh em tôi thấy thương bác ấy quá bèn rủ nhau tình nguyện lợp lại mái nhà cho bác và biếu luôn bác kiến già số thức ăn nặng trịch trên vai. Anh em tôi làm cật lực đến bây giờ mới xong, mệt bã cả người!
Kiến canh cửa thấy anh em kiến mồ côi không những biết thương người mà còn biết giúp đỡ người khác trong cơn hoạn nạn đã rất cảm động thưởng cho hai anh em một bữa ăn thịnh soạn. Kiến mồ côi xúc động vừa ăn vừa khen rối rít kiến canh cửa biết nhìn người, biết trọng việc nghĩa, biết đối đãi tử tế với người tốt. Ăn xong, anh em kiến mồ côi về nhà ngủ một giấc ngon lành.
Anh em kiến mồ côi tự cho mình là những người tài giỏi, chỉ cần uốn ba tấc lưỡi là được ngủ thoải mái, ăn một bữa tuyệt ngon và quan trọng hơn là chẳng tốn mấy sức lực. Hai anh em đắc ý về chiến công của mình, đi đứng có vẻ khệnh khạng oai vệ lắm.
Lần này, hai anh em kiến mồ côi không có lý do gì không tìm một mấu cây ấm áp làm một giấc thật say, khi về chỉ cần bịa ra một câu chuyện có tí cảm động là được ăn uống thoả thích, kiếm mồi làm gì cho nhọc sức mệt người.
Hai anh em tỉnh ngủ khi trời mới xế chiều nhưng chẳng ai thèm dậy, cố nằm đợi trời tối.
Khi bóng đêm buông màn hai anh em mới uể oải đứng dậy ra về. Vừa trông thấy kiến canh cửa, kiến anh đã vội nói:
-  Đáng lẽ ra...
- Không cần phải nói nữa! - Kiến canh cửa cắt ngang lời kiến anh. - Tôi biết anh định kể cho tôi nghe chuyện gì, một câu chuyện có cánh về công việc cứu giúp người gặp hoạn nạn chứ gì. Không cần phải kể nữa. Nơi đây không tiếp nhận những kẻ lười biếng, càng không muốn những kẻ dối trá có mặt. Vậy hai anh hãy đi đi, đến nơi nào thì đến.
Kiến canh cửa khép mạnh cánh cửa bỏ mặc hai anh em kiến mồ côi ngơ ngác nhìn nhau chưa hiểu đã xảy ra chuyện gì.
 
*
Ngoài kể chuyện bà Cáy còn đọc thơ, một bài thơ đặc biệt, nói đúng ra là một câu chuyện bằng thơ.
 
Buổi sáng trời mát trong
Ngàn cánh hoa đua nở
Thơm nức cả góc rừng
Thơm như từ muôn thuở
 
Ơ kìa chị ong thợ
Đi đâu mà vội vàng
Hoa rừng có cả ngàn
Lo gì không có mật!
 
Cô bướm vàng chân thật
Lời lẽ thật khẽ khàng
Ong thợ đáp nhẹ nhàng:
Tôi xây nhà xây cửa!
 
Bướm vàng buông lời mỉa
Cần chi phải cửa nhà
Ta hãy sống cho ta
Một mình là tất cả...
 
Trời bỗng chuyển gió lạ
Rồi mưa rơi dầm dề
Ong thợ có nhà về
Bướm vàng chẳng có quê
Đi lang thang khắp chốn
 
Bướm vàng lăn ra ốm
Mình một mình co ro
Không có ai bầu bạn
Chẳng có người sẻ chia
 
Bên này chị ong thợ
Vui vầy bên đàn con
Mưa dày trắng núi non
Có dài ngày suốt tháng
Tiếng cười vang như nắng
Như tiếng hội vào xuân
 
Chị bướm vàng tủi thân
Ngôi nhà tàu lá ướt
Bốn bề chan hoà nước
Không một chút ráo khô
 
Không tiếng cười trẻ thơ
Không thức ăn đồ uống...
 
Bao giờ trời mới nắng?
Bướm mới có cái ăn...
 
Bây giờ bướm mới hiểu
Mới ước được như ong
 
Những ngày tháng ruổi rong
Những tháng ngày vô vị
 
Biết rằng mình ngắn nghĩ
Đã già nua kiếp người!...
 
Bài thơ này bà Cáy đọc lại hai lần Mí Chứ đã thuộc. Mí Chứ chưa hiểu hết ý nghĩa sâu xa của bài thơ nhưng ý nghĩa phê phán sự lười nhác, phê phán lối sống ích kỷ chỉ biết mình thì Mí Chứ hiểu. Và đó là lối sống cần được phê phán, cần phải phê phán.
 
         *
Ngày xưa, có tên chúa đất giàu có, đất đai chiếm được bằng cả một huyện bây giờ. Ông ta làm một căn nhà rất to, có hàng rào bao quanh bằng đá rất kiên cố. Gần nhà có một thung lũng bằng phẳng rộng lớn để làm nương trồng ngô. Cả người ở và lính tráng theo hầu ông ta phải đến mấy trăm người. Nhà của ông ta nằm trên con đường thông thương duy nhất của vùng. Ông ta thật khôn ngoan và khéo tính. Hàng hoá thông thương lúc ấy chủ yếu là thuốc phiện, là thứ vàng đen của núi rừng. Ông ta chỉ việc ở nhà nhẹ nhàng mà cất vó những chuyến hàng thuốc phiện đi ngang qua nhà bằng một thứ lệ phí do chính mình đặt ra. Nhờ thế mà của cải nhà ông ta không còn đủ nơi kín để cất giữ, nhiều khi người làm thấy ông ta treo vòng vàng vòng bạc ở cột cái và vách gỗ gần bàn thờ Xử ca. Ông ta tự xưng mình là vua và cai trị một vùng rộng lớn, dân cư đông đúc. Ông ta tự đặt ra các thứ thuế ruộng, thuế nương, thuế chợ... Ông ta ngày càng giàu có. Càng giàu ông ta càng khắt khe với dân ở địa hạt do mình cai quản. Ông ta cho dựng lên một cái cột đá vừa vặn hai người ôm, hai bên có hai cái lỗ xỏ vừa hai bàn tay. Những ai phải chịu hình phạt ông ta bắt ra ôm cột đá không cho ăn uống gì, lả dần đi rồi chết. Ông ta cho đào một cái hố ở cạnh cột đá, người chết chỉ việc hất xuống hố là xong. Có người đã chết rồi nhưng để lâu bị nắng thiêu đốt đến khô cả da thịt. Có người bị mưa trôi đi cả mảng tóc trên đầu để trơ cái xương sọ trắng hếu ra ngoài. Có lần đi săn ông ta bắt gặp hai người một trai một gái cùng lấy củi trong một khu rừng, họ ở cách xa nhau, có cất tiếng gọi họ cũng không nghe thấy lời nhau, ông ta cho rằng hai người kiếm cớ đi lấy củi để tư tình liền cho bắt cả hai người về ôm cột đá cho đến chết. Trong vùng có đôi trai gái nào tự ý đến với nhau mà không có sự đồng ý của cha mẹ, không được sự chấp thuận của dòng họ đều bị ôm cột đá cả đôi cho đến chết. Những người có quan hệ bất chính nếu bị bắt gặp cũng bị ôm cột đá chết cả đôi. Nhân dân trong vùng ai cũng sợ cái cột đá của ông ta, họ gọi là “Cột đá tử thần”. Có lần một người nông dân đi chợ về đã dắt con ngựa ngang qua “Cột đá tử thần”, về đến nhà con ngựa đã không giữ được cái thai trong bụng. Từ đó những người đàn bà có mang không ai dám đi ngang qua “Cột đá tử thần”, nếu có việc phải đi thì họ vòng theo con đường khác, có khi là xa hơn đến ba bốn lần họ vẫn đi để tránh không phải qua nơi ấy...
- Thôi, cũng muộn rồi, Mí Chứ về nhà đi, hôm khác bà sẽ kể tiếp cho hai đứa cùng nghe.
Mí Chứ uể oải đứng dậy ra về lòng vẫn nuối tiếc câu chuyện bà Cáy kể chưa đến hồi kết thúc. Mặc dầu muốn nghe lắm, nhưng Mí Chứ biết tính bà, bà đã bảo về đi là phải về, không kể nữa là không kể nữa, có nài nỉ thế nào bà cũng không kể. Bà chỉ nói đúng một câu: “Trẻ con phải biết nghe lời người lớn!”
Trời đang chuyển gió vào chiều, làn khói bếp đã mờ ảo như màu mây. Mấy con dế bắt đầu lên dây đàn để chuẩn bị cho buổi biểu diễn vĩ cầm vào buổi tối. Mí Chứ bước đi mà trong lòng nảy ra trăm ngàn câu hỏi, không biết tên chúa đất độc ác ấy sau này có bị trừng trị thích đáng không nhỉ, và quan trọng hơn ai là người sẽ đứng ra để trừng trị hắn, cái “Cột đá tử thần” ấy có còn dấu tích đến bây giờ,... Miên man nghĩ mãi, Mí Chứ đã về đến nhà lúc nào không hay. Con chó vàng bỗng dưng nhảy lên tì hai chân trước vào người làm Mí Chứ suýt ngã. Mẹ đã làm xong cơm chiều. Bố vừa đi rừng về cho Mí Chứ một chùm quả chín mọng. Đứa em thấy anh về liền bắt cùng nó chơi đánh yến. Mặc dù chẳng mấy mặn mà nhưng nó vẫn chiều ý thích của em. Bà giục hai đứa đi rửa tay để chuẩn bị ăn cơm. Mí Chứ nghe theo mà bước chân như rất lạ, ý nghĩ vẫn tìm về câu chuyện kể của bà Cáy, vẫn tìm cách và tìm người trừng trị tên chúa đất độc ác.
Một lần nữa Mí Chứ lại giật mình khi con chó vàng cào vào chân. Và đêm đã về.
 
8. Bài ca người gùi đất

Ánh nắng đã bớt đi sắc vàng, chếch nghiêng về phía tây, lác đác cánh chim xập xoè về tổ. Mí Chứ đã đến chân núi Xín Chải, ngước mắt nhìn lên thấy ngọn núi cao vút tận mây xanh, những thân cây xù xì nhô ra như đánh đu vào vách đá. Bước chân từ đây dẫm lên đá, trèo lên đá sắc nhọn. Những hòn đá ông, đá cha, đá con, đá cháu xếp chồng lên nhau, bước chân Mí Chứ đã qua đây nhiều lần, nhưng mỗi lần một khác, mỗi ngày một khác, có hòn đá lớn lên, có hòn đá lùn đi...
Và hôm nay,... cũng khác các lần trước, gió thổi mượt mà như lời ru, như lời hát,... Và đấy, gió đang hát “Bài ca người gùi đất”.
Ta là người chăm làm
Tiền bạc, huầy à, kéo tới
Ta làm nhà to, nhà mới
Ta cưới vợ đẹp, vợ xinh
Ta với ta một mình
Chăm làm là sẽ có
 
Đất xấu cây không nở hoa bụng ta đói
Đất xấu cây không ra quả mẹ ta ốm
 
Nhưng ta là người chăm làm
Tiền bạc trên đá
Ta hát lên bài ca
Gùi đất trồng cây
Cho đời nở hoa.
Ngày xưa, bà vẫn thường hay kể, ngày bà còn nhỏ, nhỏ tuổi hơn Mí Chứ bây giờ, bước chân bà đã phải dẫm lên đá hát “Bài ca người gùi đất”.
Người Mông, từ lâu rất rồi, người già không còn nhớ, người trẻ cũng không biết, cuộc sống đã gắn liền với đá, với núi. Nghe đâu tổ tiên người Mông cũng được ở đồng bằng, nhưng sau nhiều cuộc tranh chấp đất đai, sau nhiều lần thiên di người Mông chỉ còn nơi duy nhất có thể đến chưa có ai chiếm giữ là lên núi. Người Mông thường có câu nói cửa miệng: “Nơi nào không có ba thước đất bằng, không có ba ngày nắng là nơi người Mông ở.” Câu đó cũng đồng nghĩa nói lên sự heo hút nơi chốn nương thân, sự khó khăn muôn vàn của cuộc sống và sự đối đãi nghiệt ngã của thiên nhiên. Cây ngô là cây lương thực chính nuôi sống con người, nhưng nương trồng ngô có tới bảy tám phần là đá, chỉ được hai ba phần là đất, đất đã ít lại bạc màu. Có cái nương năm trước trồng còn tốt, năm sau hạt ngô gieo xuống đã không sống nổi đến ngày ra bắp, năm sau nữa chỉ còn vài hạt đất nhỏ nhoi nằm ủ mình trong hốc đá.
Để trồng được hạt ngô, hạt đậu con người đã nghĩ ra cách phải mang đất về với đá, có đất thì mới có cây. Thế là đất từ chân núi, từ thung lũng được mang ngược lên thả vào các khe đá. Từng bước chân mòn vẹt đá núi, mòn vẹt thời gian, từng cái lưng còng đi vì sức nặng của chiếc quẩy tấu, từng chiếc quẩy tấu ăn no đất, từng hạt đất quý giá được đưa vào hốc đá, từng hốc đá nhẹ nhàng ôm hạt vàng vào lòng, từng hạt vàng nảy lên những mầm xanh nho nhỏ, những mầm xanh lớn dậy thành rừng, rừng ngô bám vào sườn núi, ăn nắng gió rồi trả cho con người nguồn sống...
Từ khi cây ngô nảy mầm đến lúc ra bắp con người vẫn cần mẫn gùi đất từ chân núi lên vun vào gốc. Cây ngô đã xoá dần đi sự trơ trụi của núi, màu xám của đá, niềm hiu hắt của trời chiều, nét phờ phạc trên khuôn mặt con người... Năm sau, qua mấy trận mưa rào đất lại chạy xuống chân núi, để đến mùa vụ con người lại phải làm cái công việc mang đất về với đá. Công việc gùi đất được kéo dài suốt năm này qua năm khác. Bàn chân đã dẫm mòn không biết bao nhiêu là đá mà cái bụng vẫn không được no, cuộc đời vẫn không ra khỏi cái nghèo.
Có lần Mí Chứ đã hỏi bà: 
- Bà ơi, sao bây giờ không còn thấy ai gùi đất nữa, không ai làm cái công việc mang đất về với đá nữa ạ?
Bà cười, nụ cười móm mém, và ánh mắt đưa ra xa.
- Cháu có nhìn thấy cái thung lũng màu mỡ kia không, khi xưa là đất của thổ ty, phìa tạo. Bọn họ độc ác lắm, họ chiếm hết các nương tốt. Nương xấu họ mới bố thí cho người nghèo. Chúng ta muốn có cái ăn phải cải tạo những vạt nương cằn cỗi, những sườn núi bạc màu. Để cây ngô cây lúa nảy được hạt con người phải mất rất nhiều sức, rơi rất nhiều mồ hôi. Nơi sườn núi đá tai mèo từ bao đời làm gì có nhiều đất, vì không có đất con người mới nghĩ ra cách gùi đất từ chân núi lên đổ vào hốc đá và gieo hạt ngô vào đó. Cuộc sống không phụ công người, cây ngô vẫn ra bắp, cây đậu vẫn ra quả. Bắp ngô tuy không to, hạt không mẩy bằng được trồng nơi thung lũng màu mỡ nhưng như vậy cũng đã mở cho người nghèo con đường sống. Và từ đấy năm này qua năm khác con người cần mẫn làm công việc trả đất lại cho đá để đá và đất trả cho con người hạt ngô, hạt đậu, trả cho con người nguồn sống... Còn bây giờ thung lũng kia được chia đều cho tất cả mọi người. Có cái nương tốt, hạt ngô, hạt lúa, hạt đậu có nhiều hơn, cái bụng không bị đói nữa. Khi cái bụng không bị đói thì không ai còn nhọc sức trồng ngô nơi sườn núi đá làm gì. Cháu có thấy mấy cái sườn núi kia không, dốc đứng dựng lên, vậy mà khi xưa toàn bộ nơi đó là nương ngô cả đấy, bây giờ thành rừng cây. Cháu thấy có đẹp không?
- Đẹp ạ! - Mí Chứ nhìn theo tay bà chỉ rồi trả lời. - Nhưng sao không trồng ngô mà lại trồng rừng? Rừng cũng phải trồng hả bà?
- Phải trồng chứ, con người ta xưa kia sống được là nhờ rừng. Khi không có đất con người phá rừng đi trồng ngô, bây giờ không trồng ngô nữa thì phải trồng lại rừng, phải trả lại những gì chúng ta đã lấy đi. Các cháu sau này lớn lên phải giữ cho rừng luôn xanh tốt, rừng có tốt cuộc sống của chúng ta mới bớt nhọc nhằn.
- Vâng ạ!
Mí Chứ không hiểu được hết ý của bà về rừng cây và cuộc sống con người. Mí Chứ rất quý rừng, rất thích rừng, thích màu xanh của rừng, thích bóng mát của rừng, thích tiếng chim hót trong rừng,... thì không có lý do gì không giữ cho rừng xanh tốt.
 
9. Cột đá tử thần

Mí Chứ đang đọc cuốn truyện cô giáo cho mượn thì Mí Nô đến từ phía sau, vỗ đánh bộp vào vai.
- Đang làm gì thế?
- Giật cả mình, đọc sách chứ làm gì, không nhìn thấy à. - Mí Chứ trả lời có vẻ bực.
- Cậu còn nhớ câu chuyện bà tớ kể hôm nọ có nhắc đến “Cột đá tử thần” không?
- Còn. Nhưng sao lại hỏi vậy?
- Cậu có muốn đi xem không?
- Có. Nhưng biết nó ở đâu mà đi xem?
- Không biết thì rủ cậu đi xem làm sao được.
- Cậu biết thật chứ?
- Biết! Mẹ tớ bảo mà. Cậu có thích đi không?
- Đi chứ!
Mí Chứ vội cất quyển sách rồi đi theo Mí Nô. Mí Nô đi trước, Mí Chứ theo sau lên con đường mòn cong cong vòng ra sau núi Xín Chải.
- Cậu có biết tên chúa đất làm ra “Cột đá tử thần” ấy chết như thế nào không? - Mí Chứ hỏi.
- Nghe nói ông ta làm vua được mười năm thì chết, - Mí Nô trả lời. - Một cái chết không lấy gì làm vinh quang cho lắm. Ông ta chết vì hút quá nhiều thuốc phiện. Hút nhiều đến mức khói bốc lên mái nhà mà người ta cứ tưởng trong nhà đang đun bếp. Sau khi ông ta chết toàn bộ gia sản bị con cháu chia nhau mỗi người một ít. Đất đai rộng lớn của ông ta rơi vào tay tên chúa đất khác. “Cột đá tử thần” không còn là nơi hành quyết những người phạm tội nữa. Nó đứng trơ vơ một mình. Đêm về, nhất là đêm trăng tròn, các oan hồn không siêu thoát được kêu khóc ầm ĩ. Khi màn đêm vừa buông đã không ai dám đi ngang qua chỗ ấy. Mọi người đều hoảng sợ, đều lo lắng nhưng không biết làm cách nào cho các oan hồn thôi than khóc. Một hôm, sau khi đã làm hết mọi cách dâng cúng mà không đạt kết quả, đám thanh niên hò nhau ra ẩy đổ “Cột đá tử thần” xuống. Khi ẩy đổ cột đá họ đã tình nguyện nếu có bị những oan hồn kia bắt chết họ cũng cam lòng, chứ nghe tiếng hờ khóc não nuột hàng đêm vọng về họ không chịu được. Nhưng không ngờ từ khi “Cột đá tử thần” đổ xuống không những không ai bị oan hồn bắt chết mà tiếng than khóc nỉ non cũng không còn nữa. Đêm đã trở lại vắng vẻ như xưa, trăng rằm lại dịu hiền trong trẻo, những người yêu nhau lại dắt tay nhau đi dưới trăng, trẻ con lại chơi đùa dưới trăng, và cột đá cũng đang thiêm thiếp nằm ngủ dưới trăng.
- Thế bây giờ cột đá ấy không còn đứng nữa à?
- Tớ cũng không biết nó nằm hay là đứng nữa. Tớ quên không hỏi mẹ. Tí nữa đến nơi là biết ngay thôi mà.
Đi vượt qua khúc cua sau núi Xín Chải đến một thung lũng khá rộng, mùa này cây ngô đã già, một số đã thu bắp, mấy đám đậu tương cũng đã cho quả. Mí Nô đi trước ngang qua mấy đám nương. Mí Chứ đi sau thấy chân mình hơi mỏi.
- Sắp đến chưa? - Mí Chứ hỏi.
- Đi một đoạn nữa. Mẹ tớ bảo ở bên kia sườn núi. Chỗ trụ sở Uỷ ban xã nhìn sang ấy.
Mí Nô đi chậm lại. Mí Chứ vội rảo bước cho kịp bạn. Cả hai đi dọc theo mương dẫn nước đến trụ sở Uỷ ban xã rồi rẽ phải đi tắt qua nương ngô vào chân núi. Mí Chứ thấy xương sống mình gai lạnh, nghe Mí Nô kể về cột đá có ma mà ghê cả người.
- Còn xa không? - Mí Chứ giật giật tà áo bạn hỏi. - Hay là ta về đi!
- Cậu bị sao thế, về là về thế nào? - Mí Nô hỏi lại.
- Nhưng tớ sợ!
- Cậu sợ gì?
- Cột đá có ma đấy!
- Không có đâu, mẹ tớ nói cột đá ở cạnh nương ngô, có nghĩa là họ vẫn làm nương cạnh cột đá, có thể khẳng định rằng cột đá không còn ma đến ở nữa. Với lại ban ngày lũ ma rất sợ ánh sáng không dám ra đâu, trốn hết vào trong núi rồi. Mà cũng sắp đến rồi, hình như chỉ quanh quẩn đâu đây, đã đến thì cứ xem một cái rồi về. Mẹ tớ bảo ở gần con đường mòn lên núi.
Cả hai cùng đi vào con đường mòn đi thẳng vào chân núi. Mí Nô đi trước, Mí Chứ bám sát ngay sau không rời bạn nửa bước. Đi gần đến chân núi, Mí Nô dừng lại tìm kiếm. Mí Nô trèo lên tảng đá khá to chìa ra từ chân núi. Rồi Mí Nô tụt xuống đi dọc theo chân núi về phía đông, Mí Chứ vội bám theo, đường đi phải bước qua những hòn đá nằm lăn lóc khắp nơi. Những cây ngô đã khô thân lá va vào người, va vào nhau rào rào. Mí Chứ luôn có cảm giác đang có người đi theo ở phía sau. Mí Chứ quay lại mấy lần để xem có ai không, nhưng không thấy gì ngoài những cây ngô khô và những hòn đá nằm chỏng chơ trên mặt đất.
- Đây rồi! - Mí Nô reo lên.
Mí Chứ vội lấy một tay bịt mắt mình lại, một tay túm chặt tà áo Mí Nô. Mí Nô quay lại.
- Cậu vẫn sợ à?
Mí Chứ gật đầu.
- Chẳng có gì ghê gớm cả, tớ thấy nó chỉ là một hòn đá được đẽo đục tròn trịa, nằm bẹp gí ở dưới đất...
Mí Chứ từ từ hé ngón tay. Phía trước là một cái cột đá được đẽo gọt khá cẩn thận nằm chềnh ềnh trên mặt đất. Mí Nô tiến lại gần. Mí Chứ cũng tiến lại gần. Hai cái lỗ đã từng xỏ không biết bao nhiêu bàn tay những con người xấu số ở hai bên cột đá như hai hốc mắt trân trối nhìn lên trời. Cột đá nằm xuống đây chắc đã lâu, rêu xanh bám đầy xung quanh trông rất cổ kính. Cột đá cao bằng người lớn, vừa vặn hai người ôm. Giờ nó nằm đấy chỉ là vật vô tri, hiền lành như trăm ngàn hòn đá khác ở trên núi nhưng nó vẫn phải mang tiếng ác, con người đã khoác cho nó tiếng ác.
 
10. Con đường đến trường

Buổi đi học đầu tiên ở ngôi trường mới, Mí Nô dậy sớm lắm. Mí Nô dậy rồi con gà trống mới giật mình cất tiếng gáy. Mí Nô giúp mẹ làm cơm sáng, lửa hồng cháy như reo trong lò.
Mí Chứ hôm nay cũng dậy sớm hơn mọi ngày, chả là nó đã hẹn sang nhà rủ Mí Nô đi học.
Hai đứa tung tăng trên cỏ, con đường thân thuộc của Mí Chứ, nhưng sao hôm nay thấy lòng rộn lên những cảm giác khác lạ. Từng giọt sương đọng trên lá cỏ bắt vào chân tê lạnh, bầy chim rừng đua nhau hót, gió mê mải thổi miết vào tán lá. Mí Nô ngó nghiêng tứ phía, hình như với nó cái gì cũng mới, cái gì cũng lạ, cái gì cũng đáng để nhìn, để xem thì phải. Lúc thì nó chỉ cái này, lúc thì nó chỉ cái kia, có lúc nó chẳng chỉ cái gì, im lặng mà đi khuôn mặt buồn buồn. Tình cảm của Mí Nô thật là lạ, vui thì vui đấy mà cũng buồn ngay được...
-  Dãy núi kia gọi là gì? - Mí Nô đột ngột hỏi.
Mí Chứ giật mình, hỏi lại:
- Cậu vừa hỏi cái gì ấy nhỉ?
- Dãy núi có nhiều ngọn kia là núi gì vậy?
Mí Nô chỉ tay về dãy núi có sáu ngọn xếp liền nhau thành một đường thẳng từ phía đông sang phía tây. Sáu ngọn, không to lớn hơn nhau bao nhiêu, không cao hơn nhau bao nhiêu, chỉ có khác là chúng nằm trên sườn núi lớn hơi dốc về phía đông nên nếu căn theo đường thẳng thì độ cao các đỉnh của sáu ngọn núi có chênh nhau một chút. Núi phía tây cao hơn núi phía đông nửa ngọn. Chúng có vẻ tị nhau về chỗ đứng, bốn ngọn núi ở giữa đều nghiêng về phía tây, chỉ riêng có ngọn núi phía đông vừa thấp nhất lại nghiêng về phía ngược lại.
- Đó là núi Mồng Gà. - Mí Chứ trả lời.
Mí Nô à lên một tiếng nho nhỏ, dừng chân bước hẳn ra vệ đường đứng ngắm dãy núi. Mí Nô như vừa sực nhớ ra điều gì đó, khuôn mặt đăm chiêu suy nghĩ. Mí Chứ đến bên hướng mắt lên dãy núi. Mí Nô nhìn trân trân gần như không chớp mắt một lúc lâu rồi hỏi nhỏ:
- Có phải đây là nơi mà có lần rừng xung quanh bị cháy trụi nhưng riêng dãy núi không hề bén lửa, cây trên núi vẫn xanh tốt, chim chóc vẫn líu lo ca hát?…
- Ừ. - Mí Chứ trả lời. - Sao cậu biết được chuyện đó?
- À, mẹ tớ kể cho nghe từ rất lâu rồi, từ ngày tớ còn bé tí, tớ hỏi núi ấy nằm ở đâu thì mẹ không nói, hoá ra nó lại nằm ở đây, ngay gần con đường chúng ta đến trường.
Núi Mồng Gà, bà kể, ngày xưa tổ tiên của loài gà vốn không có mồng. Nhờ có công đã làm cho thần Bóng Đêm thu bớt tấm màn nhung đen lại mà được Ngọc Hoàng ban thưởng cho cái mồng. Từ đó, con gà nào không có mồng thì không được công nhận là loài gà. Loài gà tự hào về cái mồng của mình lắm, nó giống như tấm huy chương đeo trên ngực người chiến sĩ, nó là thành tích, nó là công sức, nó là danh dự của loài gà. Có con mồng to lấp cả một bên mắt, nhưng chúng không cảm thấy khó chịu tí nào, có lúc chúng còn lúc lắc cái đầu một cách rất kiêu hãnh… Bởi vậy mà khi xưa gà tổ đã không nỡ mang theo cái mồng về nơi vô định. Gà tổ quyết định lưu lại cho hậu thế một biểu tượng, để cho con cháu tự hào, để người đời biết rằng loài gà cũng có một truyền thống liệt oanh, để chứng minh khẳng định rằng loài gà thuộc vào hàng ngũ quý phái... Hôm ấy trời mưa to gió lớn, sấm sét rền vang, mồng gà đã rời khỏi đầu gà tổ bằng một cái lắc mạnh văng xuống thung lũng núi đá. Nó mắc ở đó và ở luôn đấy cho đến ngày nay.
Con đường đến trường ngang qua chân núi Mồng Gà, tiếp đến là rừng thông mới trồng. Từng gốc thông được tỉa cành cẩn thận thẳng tắp vươn lên trời. Gió nhè nhẹ thổi, lá rừng du dương như lời ru, như lời hát, bầy chim líu ríu chuyền cành. Bước chân đi bên nhau im lặng, không ai muốn và cũng không ai nỡ phá vỡ bầu không khí thanh trong tinh khiết đến thế. Tiếng lá rơi nhẹ như làn gió, bước chân trên lá khô dẫu rón rén vẫn phát ra tiếng kêu nho nhỏ. 
Ra khỏi rừng thông, mặt trời cũng vừa hé. Từng tia nắng đầu tiên ngái ngủ trở mình trên tán cây. Mầm xanh bừng tỉnh ngơ ngác. Giọt sương run run chào chị gió.
- Nơi cậu ở đi học có xa hơn nơi này không? - Mí Chứ hỏi.
- Gần hơn một chút, không được đi qua rừng cây. - Mí Nô trả lời. - Đường đi tương đối bằng phẳng, ở nhà có thể nhìn thấy trường. Nơi tớ ở là một thung lũng có núi bao xung quanh, buổi sáng mặt trời dậy rất sớm, mới sáu giờ nắng đã chan hoà, ở đây mãi tận bảy giờ mới thấy mặt trời ló rạng. Mặt trời mọc đúng giữa hai khe núi, buổi sáng ngắm mặt trời tớ cứ ngỡ núi đang đội mặt trời lên. Nhưng rất tiếc buổi chiều nơi tớ ở ngắn lắm, mặt trời bị dãy núi Ba Tiên che khuất nên chỉ khoảng hơn năm giờ một chút là đã không còn được nhìn thấy nắng nữa. Nếu muốn ngắm buổi chiều lâu hơn tớ thường đi qua dãy núi sau nhà lên núi Ha Pia. Đêm về, tớ rất thích những đêm trăng tròn, mặt trăng nhô dần nơi sườn núi mà hàng ngày mặt trời vẫn mọc, có chếch đi một chút. Ánh trăng mờ ảo, núi rừng như có điều gì thần bí, cảnh vật thiêm thiếp ngủ, gió thổi miên man... như lạc vào thế giới khác. Kia có phải ngôi trường của chúng mình không nhỉ? Đi nhanh lên kẻo muộn giờ vào lớp.
Mí Nô đi vượt lên trước. Mí Chứ cũng rảo bước theo sau. Nắng bắt đầu buông những sợi dài óng ả.
 
0
11. Đi Pà Lủng

Gặp nhau ở khe nước Mí Nô hỏi Mí Chứ:
- Sáng nay, cậu có bận làm việc gì không?
- Tớ phải gùi đầy một thùng nước, sau đó đọc cuốn truyện hôm qua mượn của thầy giáo. Nhưng có việc gì mà cậu lại hỏi như vậy?
- Đi Pà Lủng với tớ không?
- Đi Pà Lủng làm gì?
- Tớ nhớ nhà quá, đi không lâu đâu, chỉ cần nhìn thấy ngôi nhà cũ một lát thôi, rồi quay về.
- Cũng được, nhưng cậu có biết đường không?
- Biết chứ!
- Đi có xa không?
- Không xa lắm đâu, cả đi lẫn về khoảng hơn bốn tiếng là cùng. Đi được chứ?
- Được. Nhưng tớ còn phải gùi hai gùi nước nữa mới đầy thùng.
- Tớ gùi giúp!
Mí Nô đỡ bương nước lên vai Mí Chứ, hai đứa phăm phăm bước. Mí Chứ quay lại hỏi Mí Nô:
- Đường đến Pà Lủng có khó đi không?
- Cũng không khó lắm nhưng phải leo núi.
- Có cần mang theo cái gì không?
- Không cần mang theo cái gì, đi không cho dễ bước.
Xóm Pà Lủng, Mí Chứ chưa đến đấy bao giờ. Nghe Mí Nô kể thì xóm Pà Lủng đẹp lắm, nằm gọn giữa một thung lũng, bốn bề là núi bao quanh, có đường ô tô chạy qua, có mương dẫn nước về chảy tràn trên đất. Những đêm trăng sáng, vầng trăng tròn vành vạnh treo ngang lưng trời, thứ ánh sáng màu bạc ấy chan hoà khắp thung lũng, ngô lên cao quá đầu người cõng trên mình những cái bắp non đang ủ sữa, đi dọc đường ô tô nghe ngô rì rào nói chuyện thấy lòng mình mênh mang, mỗi bước chân như đi vào miền cổ tích. Ban ngày, mặt trời dậy từ rất sớm, nhưng có điều đặc biệt là nắng ít khi chan hoà ngay một lúc đầy thung lũng mà chia ô xẻ thửa mang từng sợi óng ánh vàng hoà quện với nhau. Điều đặc biệt nữa là buổi sáng thường có mây và sương mờ giăng giăng trên mái nhà, kéo dài thành dải trong thung lũng, nắng lên một lúc lâu sau sương mới tan hết...
Mí Nô đã đứng ở chỗ đợi từ lúc nào, tay ôm một bọc cơm khá to và một ít quả rừng. Hai đứa cùng đi về dãy núi Giàng Giụa. Mí Nô đi nhanh lắm. Mí Chứ theo sau gần như chạy mà vẫn không kịp. Đi được một đoạn khá xa, Mí Nô dừng lại đợi. Đường đi gập ghềnh, có nhiều hòn đá to chắn lối. Đến chân dãy núi Giàng Giụa, Mí Chứ dừng lại nhìn lên, đúng là một dãy núi cao và dài, tất cả có mười lăm ngọn đứng thành một hàng.
-  Nghỉ một lát thôi! - Mí Nô nói.
- Phải qua dãy núi này à? - Mí Chứ hỏi.
- Ừ, còn xa lắm, phải leo núi hơi nhiều đấy!
Mặt trời lộ ra sau đám mây, làn sương trong thung lũng đang lên cao dần, tiếng chim hót xa xa, không gian chìm trong sự vắng vẻ tinh khiết.
Hai đứa tiếp tục đi, Mí Nô vẫn đi trước, nó đi nhanh quá, cái chân không biết mỏi. Mí Chứ đi sau một đoạn. Mí Chứ đi chậm hơn là do có nhiều cảnh đẹp quá, có nhiều cái lạ quá mà Mí Chứ chưa được nhìn thấy bao giờ. Mí Chứ cũng đã cố gắng đi thật nhanh, cố gắng nhìn thật ít nhưng con mắt không chịu vậy, cứ sục tới mọi nơi, đi săn tìm cái đẹp, và thế là cái chân phải đi chậm lại.
Con đường mòn đưa hai đứa dần lên cao. Nắng đang óng vàng, con mắt nhìn ngày một xa hơn, rộng hơn, có rất nhiều cảnh đẹp làm Mí Chứ chú ý. Cứ đi được một đoạn Mí Chứ lại dừng ngắm cảnh vật xung quanh.
Dưới chân núi là rừng cây, xa hơn nữa là nương ngô xen lẫn với đậu tương. Cây ngô đã già khô hết lá, có đám trơ ra những cái bắp đã bóc bẹ, ánh lên những sắc vàng lộng lẫy. Đậu tương đang xanh cây tốt lá. Từng đợt gió ùa về, đám lá ngô khô rì rào trò chuyện, đám đậu tương cũng hưởng ứng ngoáy tít cái lá xanh.
Mí Chứ đã lên cao lắm rồi! Rừng núi như một tấm thổ cẩm muôn màu sắc được phơi dưới nắng.
Vượt qua đỉnh núi thứ nhất, đến một sườn núi thoai thoải dần đi xuống, từng đám cỏ lau và cây bụi mọc ken dày lấy nhau êm mượt như tấm vải nhung.
Phía trước là một khoảng rộng nằm giữa hai ngọn núi có những tảng đá xếp rất đẹp đứng gần nhau, bên cạnh là con đường mòn. Mí Nô đi bước vào khe giữa của hai tảng đá bỏ lại con đường mòn bên ngoài. Mí Chứ cũng đi theo vào và thấy những tảng đá không chỉ giản đơn đứng cạnh nhau mà còn rất giống nhau và xếp đối nhau như một mê cung.
- Đẹp không? - Mí Nô hỏi.
- Đẹp! - Mí Chứ trả lời gọn lỏn vì còn mải ngắm đá.
Nhìn những tảng đá đều nhau xếp thẳng đứng cao quá đầu người Mí Chứ có chợt nhớ đến những tảng đá được yểm bùa trong câu chuyện cổ, những tảng đá biết đi, biết nói, biết hát, biết khóc, biết cười...
Tự nhiên Mí Chứ thấy hoang mang, bởi bất chợt Mí Chứ nhớ tới cậu bé bị lạc giữa mê cung đá của mụ phù thuỷ. Nhìn đá muôn hòn giống nhau, đường đi không mấy khác nhau, Mí Chứ bỗng thấy gai lạnh sống lưng. Mí Nô không biết đã chạy biến đâu. Mí Chứ cố trấn tĩnh nhìn thật kỹ những tảng đá ở xung quanh cố tìm sự thân quen và khác biệt để tìm lại cái khe vừa bước vào từ đó đi ra con đường mòn nhưng bước đi thế nào bàn chân vẫn trở về chỗ cũ. Mí Chứ lại đi tiếp mấy vòng nữa nhưng bước chân vẫn không ra khỏi chỗ đang đứng. Chân tay Mí Chứ bắt đầu run, một cảm giác sợ hãi bao trùm. Mí Chứ không còn bình tĩnh và kiên nhẫn để đứng yên một chỗ nữa. Mí Chứ lại tìm đường thoát ra nhưng đằng trước đằng sau chỗ nào cũng có đường, chỗ nào cũng có thể đi được và chỗ nào cũng giống nhau, nền đất đỏ lơ thơ vài cây cỏ, đá thâm xì, cao như nhau, to bằng nhau. Mí Chứ định đi lối kia nhưng đôi chân lại bảo đi lối này thành ra vẫn là đứng yên một chỗ. Mí Chứ đang ngơ ngác và chỉ chậm một chút nữa là nước mắt tuôn rơi thì Mí Nô không biết chui từ đâu ra, gọi:
- Đi lối này cơ mà!
Mí Chứ vội lao về phía có Mí Nô, đến gần nơi mới phát hiện ra có một khe đá hơi hẹp, phải lách người mới qua được. Mí Chứ chạy nhanh quá, chưa kịp nghĩ phải làm gì thì tấm thân đã vượt qua khe đá ngã sõng soài ra đất.
- Cậu bị làm sao thế? - Mí Nô hỏi khi đỡ Mí Chứ dậy.
- Không sao. - Mí Chứ trả lời.
- Không sao mà chạy như bị gấu đuổi thế.
Mí Chứ không nói gì đứng lên, vai phải hơi đau.
- Đi thôi! - Mí Chứ giục.
Mí Nô gạt đám cây bụi bước ra, ngay phía dưới là con đường mòn.
Đi tiếp đoạn nữa, qua một thung lũng nhỏ, con đường lại trườn mình lên núi. Mí Nô bẻ một cành cây bên đường đưa cho Mí Chứ.
- Cậu cầm lấy mà chống cho dễ đi.
Có những tảng đá khá to, bước chân Mí Chứ chênh vênh như đi trên mái nhà, bước sau dò bước trước. Mí Nô đi nhanh lắm, thoăn thoắt như chú thỏ rừng. Ở đây không có cây to, chỉ có cây nhỏ và lác đác vài đám cây bụi còi cọc. Bốn bề toàn là đá, những hòn đá to nhỏ lớn bé chen chúc chồng chất lên nhau, đen đủi, trăng trắng, thâm xì...
Đi hết chiều lên của sườn núi, thêm đoạn thoai thoải đi xuống, Mí Nô dừng lại bên cây vải khá to. Mí Nô tựa lưng vào gốc vải.
- Nghỉ tí đã! - Mí Nô nói trong tiếng gió.
Phía trước là một thung lũng khá rộng và đẹp, có đường ô tô ngang qua thung lũng. Thấp thoáng dưới tán cây có những mái nhà lợp ngói xinh xắn. Cạnh đám ngô già đã hái bắp, chỉ còn trơ lại tấm thân khô xác xạc xào va vào nhau, có những đám ngô vụ hai đang vươn những chiếc lá rất dài, xanh mướt ra vẫy gió.
- Sắp đến chưa? - Mí Chứ hỏi.
- Đến rồi, nhà tớ ở dưới cái cây lát hoa trên vách núi kia kìa. - Mí Nô trả lời.
Mí Chứ nhìn theo tay Mí Nô chỉ. Bên vách đá của sườn núi đối diện cheo leo một cây lát mọc trồi ra, thân cây gần giống cái móc câu. Phía dưới có ngôi nhà khá to lợp ngói máng. Mí Nô nhìn chăm chăm về phía ấy.
- Về thôi! - Mí Nô nói giọng nghèn nghẹn.
- Về đâu? - Mí Chứ hỏi lại.
Mí Nô chỉ vào con đường mòn mà hai đứa vừa đi tới. Nói vậy nhưng Mí Nô vẫn tựa lưng vào gốc cây vải mắt hướng về ngôi nhà cũ.
- Đi thôi! - Mí Chứ giục.
Mí Nô cùng Mí Chứ theo con đường mòn xuống thung lũng. Hai đứa, kẻ đi trước, người đi sau không ai nói câu nào. Mặt trời khuất bóng sau đám mây, đường đi dịu mát. Gió thổi mạnh từng cơn. Con đường xuống dốc thoai thoải. Thung lũng càng đi càng thấy rộng. Những cây ngô phơi nắng toả ra một mùi thơm dìu dịu. Đến cổng ngôi nhà gỗ ba gian lợp ngói Mí Nô dừng lại. Mí Nô đứng ngắm con đường vào nhà rất lâu. Con chó vàng chạy ra sủa ông ổng. Mí Nô đi tiếp về phía nó, con chó nhận ra chủ ngoáy tít cái đuôi cộc chạy ra rên ư ử cào cào chân trước xuống đường cào cả vào chân Mí Nô. Mí Nô cúi xuống xoa lên đầu con chó, nó nằm yên dưới đất, miệng vẫn kêu rên ư ử. Một lúc sau con chó đứng dậy chạy vào trong nhà. Mí Nô đi theo vào. Nhà cửa vắng tanh. Trâu bò đi thả hết. Trong chuồng chỉ còn hai con lợn đang lục cục gặm cái máng gỗ. Cửa nhà vẫn mở, Mí Nô đi vào. Trong nhà không có người. Mí Chứ đi theo Mí Nô vào ngồi gần bếp sưởi. Một lúc sau có người đàn ông đi về từ cửa ngách, hai tay bê bó củi, nhìn thấy Mí Chứ và Mí Nô, ông ta đưa ánh mắt về nơi Mí Chứ ngồi, hỏi:
- Cháu đến chơi hả?
Mí Nô ngước mắt lên nhìn không nói gì. Người đàn ông đi về phía bếp, Mí Nô đỡ lấy bó củi, gầy thêm hai thanh vào bếp. Người đàn ông ngồi xuống cạnh Mí Nô, với cái ống điếu thuốc lào vê thuốc thả vào nõ. Ông ta hút liền ba điếu. Hút xong ông ta dựng điếu vào cạnh cái cột nhà.
- Con ở với ai? - Ông ta hỏi Mí Nô.
- Con ở với mẹ. - Mí Nô trả lời.
- Mấy lần cha về bà ngoại tìm nhưng không thấy con ở đó, cha hỏi thêm mấy người họ hàng nhưng không ai biết con và mẹ ở đâu.
Mí Nô ngồi im lấy cái que cời than bếp ra ngoài. Người đàn ông hỏi tiếp:
- Con ở nhà ai?
- Con ở nhà bà Cáy tận bên Xín Chải.
Người đàn ông đi vào trong buồng, lát sau ông ta đi ra dúi vào tay Mí Nô hai tờ giấy bạc một trăm ngàn. Mí Nô không nhận, hai bên đưa đẩy mãi, cuối cùng ông ta để tờ giấy bạc ở cái ghế gỗ ngăn cách giữa hai bố con. Ngồi nói chuyện được một lúc thì thấy có tiếng chân lẹp kẹp đầu ngõ. Ông bố vơ vội tờ giấy bạc nhét vào túi. Lát sau, có một người phụ nữ khá xinh bước vào nhà, mặt chị ta tối lại khi nhìn thấy Mí Nô, chị ta nhìn Mí Chứ với ánh mắt dò xét, không ai nói với ai câu nào. Mí Chứ định cất lời chào mấy lần nhưng khi nhìn khuôn mặt chị ta cái miệng không sao há ra được để nói. Chị ta vào trong buồng một lúc rồi đi ra bể nước ở đầu hồi rửa chân tay. Câu chuyện của hai bố con Mí Nô đột nhiên bị ngắt giữa chừng, không ai còn muốn nói nữa, khuôn mặt tối lại u ám như trời sắp mưa. Người đàn ông cho thêm mấy thanh củi vào bếp cho lửa cháy to lên. Ngoài bể nước bỗng có tiếng: "Xoảng!" làm mọi người giật mình. Cái chậu nhôm rơi xuống nền xi măng lăn lông lốc mấy vòng, lát sau cái nồi cũng ngã theo, rồi cái nồi cái chậu ngã vào nhau. Mí Nô đứng dậy bảo với Mí Chứ:
- Về thôi!
Người đàn ông đi theo ra tận cổng. Ông ta ngó trước ngó sau rồi lại dúi vào tay Mí Nô tờ giấy bạc lúc trước. Mí Nô không nhận. Mí Nô bỏ chạy. Ông ta dúi vào tay Mí Chứ. Mí Chứ cũng bỏ chạy. Ông ta đứng ở cổng nhìn theo bóng hai đứa khuất dần sau nương ngô.
Lên đến gốc cây vải Mí Nô dừng lại đưa mắt nhìn về ngôi nhà cũ của mình một lúc lâu rồi mới đi tiếp.

 
12. Nơi trời nước gặp nhau

- Chiều nay cậu có bận gì không? - Mí Nô hỏi.
- Không, nhưng cậu hỏi làm gì? - Mí Chứ trả lời.
- Đi chơi đi! - Mí Nô rủ.
- Chơi ở đâu? - Mí Chứ hỏi lại.
- Có một chỗ tương đối đẹp, trước kia tớ vẫn thường hay đến đó, cũng lâu rồi chưa có dịp trở lại, tự nhiên thấy nhớ, sang rủ cậu, nếu muốn thì cùng đi...
- Có xa không?
- Không xa lắm, đi ngay bây giờ vẫn còn gặp mây đùn bông vào chiều...
Mí Chứ vội theo Mí Nô. Hai đứa đi nhanh lắm, nhanh tới mức nắng vàng đuổi mãi không kịp.
Nói đến nơi có cảnh đẹp Mí Chứ đã thấy chộn rộn trong lòng. Được đi ngắm nơi có cảnh đẹp không có vui sướng nào bằng. Không có lý do gì giữ Mí Chứ ở nhà trong khi mọi công việc trong ngày đã làm xong. 
Mí Chứ đã vượt qua hai dãy núi, bước chân ngang sườn dãy núi thứ ba. Mí Nô bảo sắp tới nơi. Mí Chứ đang háo hức muốn được thấy ngay cảnh đẹp. Bước chân Mí Chứ không còn là đi nữa mà hình như là chạy, không phải, là bay thì đúng hơn. Mí Nô bị tụt lại tít phía sau. Mí Chứ cứ đi, cách một đoạn xa mới đứng đợi.
Lên gần đến đỉnh núi thì gặp đường ô tô. Cả hai đi trên con đường nhựa phẳng lỳ, nhìn ra xung quanh nhiều ngọn núi còn thấp hơn con đường. Phía trước, nơi tiếp giáp của hai dãy núi bỗng hõm xuống sâu thăm thẳm, một dòng nước trong xanh tít tắp xa trông như sợi chỉ uốn lượn quanh co. Mí Nô bảo đó là sông nhưng sao Mí Chứ thấy nó nhỏ bé đến không thể tin nổi.
- Ngày xưa, nước sông quanh năm trong vắt, - Mí Nô nói, - những đêm cá đớp trăng người ta cứ tưởng là vãi bạc. Bây giờ, vào mùa mưa nước sông ngàu lên mấy ngày rồi lại trong xanh như vốn có.
Bên cạnh có một quả núi khá lớn bị vỡ ra làm đôi, dòng sông đi qua khe vỡ của quả núi.
Mí Nô kể, ngày xưa, ngày mà quả núi vẫn còn vẹn nguyên, nước chạy từ trên núi xuống bị ứ lại bên kia quả núi, nước ứ lại nhiều lắm. Bên này cũng chưa có dòng sông. Đất đá nứt nẻ khô cằn, cây cối trơ trụi, mùa hè rang cháy cả ngọn gió đi qua. Một hôm thần Sông đề nghị thần Núi nằm dịch sang một bên để nước sông chảy qua tưới mát cho dãy núi khô hạn. Thần Núi giả vờ không nghe thấy cứ nằm ì một chỗ. Sau khi bị thần Núi từ chối, thần Sông bèn tâu lên Ngọc Hoàng về ý định của mình. Ngọc Hoàng xuống lệnh cho thần Núi nằm dịch sang một bên. Thần Núi vẫn không nghe thấy. Thần Núi giả vờ ngủ. Thần Núi mà đã ngủ là say lắm, nhất định không nghe thấy gì, dù là lời ỉ eo suốt ngày đêm của dòng sông hay là lệnh của Ngọc Hoàng cũng không khác nhau là mấy. Từ mùa đông đến mùa hè thần Núi vẫn ngủ, từ mùa hè đến mùa đông thần Núi vẫn ngủ... Vào một đêm mưa gió, mưa to lắm, trời tối lắm, sấm sét thi nhau rạch cắt màn đêm, bỗng có một tiếng nổ làm rung chuyển cả đất trời, ánh sáng phát ra chói loà, màn đêm như bị băm nát ra thành nước. Thần Sét rút lưỡi gươm lên. Thần Núi vỡ ra làm đôi. Dòng nước ứ lại lâu ngày xối qua ào ào. Nước chảy thành dòng lớn. Nước chảy thành sông. Nước đi đến đâu cây cỏ xanh tốt đến đấy, những sườn núi cháy khô héo úa qua một đêm đã mướt xanh ngăn ngắt, từng búp non mơn mởn vươn lên trời. Nước cứ đi, đi mãi, đi mãi,...
- Nước đi đến đâu thì dừng lại?
- Tớ cũng không biết nước sẽ đi đến đâu thì dừng lại, nghe cô giáo giảng thì nước từ miền núi qua trung du, qua đồng bằng, nước ra đến biển, vậy thôi.
Hai đứa tiến gần hơn về phía quả núi, nắng hơi chếch, khe núi chỉ còn một ít nắng trên đỉnh, dòng sông nhuốm sương chiều thành một màu xanh xanh, dòng sông vốn đã nhỏ bé giờ càng tít tắp xa.
- Cậu thấy Thần Núi có đáng thương không? - Mí Nô hỏi nhỏ, lời hỏi gần như lời tâm sự. - Cũng chỉ vì ngang quá mà thân bị xẻ làm đôi. Chiều về, nhất là những chiều kém nắng mình thấy Thần Núi buồn lắm, buồn đến phát khóc lên được. Còn những hôm trời mưa Thần Núi buồn ảm đạm, cố thu cái đầu trọc vào lòng mình mà nửa bên kia không làm sao chạm tới được sang nửa bên này, nước mắt lẫn nước mưa chảy xuống hoà vào dòng sông thành màu nâu đỏ...
Vệt nắng nơi đỉnh núi vỡ đôi đang ngắn dần đi, lòng sông nơi chân núi con nước chảy qua đang mờ dần.
- Đi thôi! - Mí Nô giục.
Cả hai cùng rẽ vào con đường mòn để xuống với dòng sông. Đường đi xuống hun hút sâu. Nắng nghiêng hẳn xuống sườn núi. Dòng sông vẫn như dải lụa xanh nép mình dưới khe. Tiếng chim hót xa xa vọng vào vách đá, dội lại nghe khắc khoải như tiếng từ ngàn xưa vọng về.
- Đi cẩn thận kẻo ngã! - Mí Nô dặn.
Cả hai dò dẫm từng bước một, con đường dốc thật dốc. Phía dưới là vực sâu hun hút nhìn xuống chóng cả mặt. Bước đi chênh vênh, vực sâu như đang vươn tay tóm lấy chân người.
- Con sông này chảy từ đâu về? - Mí Chứ hỏi.
- Nó chảy từ Vân Nam, Trung Quốc. - Mí Nô trả lời.
- Nó có chảy ra đến biển không?
- Nó về đến Cao Bằng, hoà với sông Niệm rồi về xuôi. Chắc nước sông cũng ra được tới biển.
- Sao cậu biết rõ thế?
- Cô giáo nói vậy mà.
Cả hai đã đến rất gần với dòng sông, đã nhìn rõ từng gợn nước cuộn chảy. Dòng sông càng đi xuống càng thấy rộng, bờ sông có đoạn là vách đá dựng đứng, có đoạn con nước xô nhau ầm ào, có đoạn êm đềm lững lờ trôi nhìn rõ cả đàn cá nô đùa cắn đuôi nhau dưới đáy nước. Cả hai đi dọc theo bờ sông, đi xuôi với dòng nước chảy, đi ngược với hướng mặt trời lặn.
Chiều đã kém nắng, hơi lạnh nhè nhẹ len lỏi trong cỏ cây, bầy chim dáo dác gọi nhau về tổ. Con đường hai đứa đang đi đã bị núi hứng mất một phần nắng nên có đoạn thì vàng rực, đoạn thì thâm đen, đoạn lại loang lổ từng hạt vàng vung vãi. Mí Chứ giơ tay đón, nắng đậu vào tay, nắng đang ca hát nhảy múa.
Đến một sườn núi nhô ra đẩy dòng sông ăn sâu vào lòng núi đối diện, vách núi dựng đứng cao tít lên mây, không bóng dáng một cành cây ngọn cỏ, loang lổ từng thớ đá đen trắng xếp chồng lên nhau, rêu xanh từ trong ruột núi đùn ra thành những vệt dài.
Mí Nô dừng lại. Ánh nắng đã nghiêng nghiêng trên dòng sông. Mí Nô đi ra tận mép cùng của vách núi, nơi có hòn đá to ngã một nửa xuống dòng sông. Mí Nô chỉ về phía ngược với dòng nước chảy, nơi có hai dãy núi không tiếp giáp được với nhau để lộ ra một khoảng trời thăm thẳm sâu xuống tận mép nước. 
- Chỉ một lát nữa thôi mặt trời sẽ lặn ở chỗ này.
Mí Nô chỉ vào khoảng hẹp giữa hai dãy núi. Mí Chứ nhìn mãi nhưng không thấy mặt trời đâu, trong khi đó nắng vàng dát đầy xuống sườn của dãy núi bên kia sông.
- Mặt trời phải ở chỗ ấy rồi mới lặn được chứ? - Mí Chứ hỏi.
- Đợi một lúc nữa theo quỹ đạo mặt trời sẽ đến chỗ ấy rồi từ từ lặn xuống. - Mí Nô trả lời.
- Quỹ đạo là gì mà mặt trời phải theo nó? - Mí Chứ hỏi.
- Tớ cũng không hiểu rõ quỹ đạo là gì, đại khái như mặt trời buổi sáng lên ở hướng đông, buổi chiều xuống ở hướng tây, cái vòng tròn ấy được lặp lại hết ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác. Ngày ngày tớ thấy mặt trời vượt qua dãy núi kia và lặn đúng cái khe nơi chân trời kéo dài xuống tận mép nước ấy. Từ ngày tớ biết chỗ này và ra đây ngắm chiều, chưa lần nào thấy mặt trời lặn ở chỗ khác.
Mí Chứ không hỏi nữa.
Chiều đang thắm dần, cả hai cùng im lặng hướng tầm nhìn về phía mặt trời lặn.
Gió thổi rạp những cánh hoa cỏ mỏng manh, vách đá vọng ra những tiếng ầm ù. Thảng hoặc xen lẫn tiếng chim gọi nhau về tổ có tiếng bước chân vội vã trên con đường về nhà. Tiếng lửa cháy như reo trong lò. Tiếng nước chảy đều đều nghe như tiếng khèn thổi lấy hơi... Tất cả vọng vào mây, vọng vào trời chiều, vọng vào một không gian đang nhuốm dần màu đỏ, vọng cả vào màn đêm đang ngấp nghé thập thò.
- Cậu nhìn kìa, - lời Mí Nô làm Mí Chứ chú ý hơn. - Tít tịt cuối chân trời, đám mây đang trắng dần lên, đang cao dần lên, chỉ một lúc nữa thôi toàn bộ nơi ấy sẽ ken dày những bông.
Mí Chứ nhìn theo hướng chỉ của Mí Nô. Nơi cuối chân trời mây đang đùn lên từng cuộn bông trắng nõn nà, một cuộn, hai cuộn, ba cuộn, năm cuộn, bảy cuộn,... nhiều lắm, từng cuộn bông đã ken dày thành thảm, Mí Chứ không đếm nổi. Mặt trời đang lộ dần nơi sườn núi. Ánh nắng bừng lên trùm lấy dòng sông. Gợn sóng từ lòng sông lấp lánh như ngàn ánh sao tụ lại. Một dải sáng chạy dài suốt từ khe núi đến tận sườn núi nơi Mí Nô và Mí Chứ đang đứng. Sườn núi cũng nhuộm đầy những nắng. Ánh nắng đặc quánh một màu hồng tươi dát lên sườn núi. Mặt trời không còn chói chang nữa mà chỉ lấp loá lung linh.
Mí Nô nhìn không chớp mắt vào đám mây trắng cuối chân trời, đám mây ấy cũng lạ, ánh lên như phát sáng, càng gần mặt trời độ sáng càng rõ. 
Mặt trời đang xuống thấp dần. Nắng đang nhạt dần. Nắng đang chuyển từ hồng sang đỏ. Trong làn gió thổi, hơi lạnh đã nhiều lên, ngọn cỏ run run khi làn gió tràn qua.
Mặt trời đã lọt vào giữa hai khe núi. Mặt trời như cái bếp đã tắt lửa, chỉ còn than hồng, cơn gió làm lửa than hồng rực lên, sau đó vạc dần đi cho ruột than phơi ra và nhỏ lại.
Quầng lửa đỏ đã gần rơi xuống dòng sông. Cả một góc trời nơi ấy rực lên màu lửa, dòng sông cũng đầy những lửa.
Lần đầu tiên Mí Chứ được thấy cảnh đẹp lạ đến thế, nơi đây có hai buổi chiều, một buổi chiều của trời, một buổi chiều dưới nước, cả hai hợp lại trong một khoảng nhỏ nằm giữa hai sườn núi...
Mặt trời xuống thấp hơn, màu lửa nhạt dần.
Rồi không còn màu lửa nữa, mặt trời chỉ còn là vầng than hồng tròn trịa, mặt sông lúc này cũng hằn in một vệt sáng nhỏ chạy dài lấp lánh.
Mặt trời đang chìm dần xuống sông, vầng than hồng đang tắt dần.
Trời chiều xuộm lại. Và bóng đêm đang về.
 
13. Nơi ngập tràn nắng chiều

Chiều hôm nay có mây, chúng lang thang đi dạo.
Mây đã làm nắng không trải dài mênh mông mà đọng lại thành từng đốm nhỏ, đọng lại thành từng vệt dài. Nắng cũng biết đi, biết chạy...
Phía chân trời, nơi chuyển mây đi, mây chồng chất lên nhau thành đống, mây không trắng mà có màu hơi tối. Từng đám mây bị dát mỏng dần, đi qua mặt trời ánh lên màu trắng sữa, cùng dắt tay nhau chạy về phía đông. 
Và chiều, có hơi kém nắng nhưng vẫn sáng, vẫn yểu điệu óng mượt, vẫn nhẹ nhàng duyên dáng, thướt tha...
Và chiều, vẫn như thơ như mộng, vẫn sáng trong như giọt sương buổi sớm, vẫn tươi lên sắc thắm mặn mà.
Chiều cứ nhẹ nhàng, khiêm nhường như vậy mà sao lòng người không thể dửng dưng, không thể hững hờ, có cái gì như hút lấy tâm hồn, không ồn ào, không náo động mà say mà mê đến quên cả con đường đưa đôi chân về nhà...
Mí Chứ đã đứng trên bờ vai của núi. Gió thổi mạnh lắm, đám cỏ đứng không vững phải rạp mình vào đá. Mặt trời vừa ló mặt khỏi đám mây toả ánh nắng chan hoà xuống rừng núi, một màu vàng đặc sánh như mật ong. Một mùi thơm nhè nhẹ thoảng bay trong gió, mùi hoa bạc hà. Những cánh hoa bạc hà bé nhỏ tim tím nhô lên sau khe đá, chúng như được mọc lên từ đá, ăn đá để ra hoa. Mí Chứ ngắt một bông hoa đưa lên mũi ngửi. Một làn gió thổi mạnh như muốn giật lấy bông hoa của Mí Chứ. Những cánh hoa bạc hà của sườn núi lại rạp xuống khe đá, nép mình vào khe đá. Bầy ong thấy động vụt bay lên nháo nhác. Khi làn gió đi qua bầy ong lại sà vào rừng hoa. Có con ong cứ vo ve bay xung quanh Mí Chứ, chắc nó định săm soi bông hoa trên tay Mí Chứ. Mí Chứ giơ bông hoa về phía nó. Nó giật mình bay đi mất.
Phía xa kia nhiều nơi không có nắng. Một đám mây nữa lại đang tới sắp che khuất mặt trời. Khoảng nắng vừa chùm lên Mí Chứ đang chạy từng bước rất dài về phía đông. Khoảng râm đang chạy đến sắp chùm lên sườn núi Mí Chứ đang đứng.
Mí Chứ bất ngờ khi nhìn thấy Mí Nô đang đứng ở nơi hai đứa đã từng đứng và đang ngắm chiều. Mí Nô đang dán mắt vào buổi chiều, không gì đáng nhìn bằng buổi chiều. Mí Chứ đến bên vỗ mạnh vào vai làm Mí Nô giật mình quay lại. Sau phút ngơ ngác, Mí Nô nở một nụ cười.
- Sao bảo cậu sang bên Lùng Pủng? - Mí Chứ hỏi.
- Ừ, - Mí Nô trả lời. - Tớ vừa về, đi ngang qua đây thấy chiều đẹp quá nên ghé vào.
- Cậu đi một mình à?
- Ừ, tớ về một mình.
- Thế còn mẹ cậu?
- Mẹ tớ phải ở lại, cậu tớ còn yếu lắm. Chiều hôm nay thật đẹp, cậu nhìn nắng kìa, vệt sáng như được đan bằng sợi, từng sợi dài óng mượt như sợi lanh nhuộm sáp ong. Đố cậu biết đám hoa tam giác mạch kia màu gì? Thật khó xác định, xanh, đỏ, tím, vàng, trắng hoà trộn vào nhau. Những hôm trời không nắng, nhìn cả đám hoa ấy chẳng được mấy phần nổi bật, thế mà đến khi bắt nắng thì sáng ghê nhỉ. Lần đầu tiên được nhìn nắng vàng chụm lại soi xuống rừng hoa tớ gần như không còn tin vào mắt mình nữa, không tin màu sắc nổi lên đó là từ những bông hoa cánh nhỏ li ti mà hàng ngày mình vẫn xem thường, chẳng thèm để ý... Cậu nhìn nắng xem, tuyệt vời chưa kìa!...
Mí Chứ nhìn theo tay Mí Nô chỉ, nắng xuyên qua đám mây tạo thành vệt như soi đèn pin vào sương mù, vệt sáng hình phễu chụp thẳng xuống mặt đất. Lâu lắm Mí Chứ mới được gặp hiện tượng lạ như vậy. Vệt nắng soi thẳng xuống sườn núi xa xa, Mí Chứ thấy rõ cả rừng cây, cả vạt nương đất ải bạc màu nâu đỏ.
- Cậu có biết vì sao lại có sườn núi dát đầy nắng kia không? - Mí Nô hỏi bạn.
Chưa đợi trả lời Mí Nô đã tiếp tục.
- Ngày xưa, vào một mùa vụ nàng Tiên Ngô bị ốm. Ông Sí Dì giao cho nàng Tiên Gạo làm cả phần việc của nàng Tiên Ngô. Nàng Tiên Gạo dậy từ rất sớm, nàng đi gieo hạt khắp trần gian, nàng miệt mài làm việc quên cả trưa, quên cả chiều. Trời đã qua chiều sắp tối mà cái gùi trên lưng nàng vẫn còn nặng trĩu. Hai bàn tay mỏi nhừ, nàng vẫn cố gieo cho hết hạt. Nhưng trời ngày càng kém sáng, nàng Tiên Gạo có cơ hồ phải bỏ dở công việc gieo hạt. Mặt trời thương nàng vất vả, thương người chăm chỉ, mặc dầu đã quá giờ đi ngủ nhưng vẫn cố nán lại để nàng Tiên Gạo làm cho xong công việc của mình. Nàng Tiên Gạo dẫu rất cố gắng nhưng vẫn bị bóng tối ngăn trở, nàng gieo nhầm cả hạt lúa vào rừng cây. Bóng tối đã dày lên, nàng không gieo được nữa. Nàng ngửa mặt nhìn trời nước mắt ứa ra. Trong gùi chỉ còn một ít hạt, nàng chưa biết làm cách nào để gieo cho hết được. Mặt trời nghĩ mãi rồi cũng tìm ra cách để giúp nàng Tiên Gạo. Những ánh vàng vung vãi từ ban ngày được gom lại, ánh vàng đó chỉ đủ sáng một khoảng nhỏ. Trời vén mây đổ những ánh vàng vừa gom được xuống nương lúa mà nàng Tiên Gạo đang gieo. Nàng vội vàng vung tay ra hạt. Khắp đất trời chỉ có nơi làm việc của nàng Tiên Gạo là có nắng. Ánh nắng trải xuống nương lúa của nàng nhìn xa giống như được kéo thành sợi. Từng sợi nắng nối liền trời với đất. Và từ khi ấy người ta gọi thứ nắng đó là "nắng nàng tiên".
Mây vẫn bị dát mỏng và chuyển đều đều về phía đông. "Nắng nàng tiên" yếu dần. Mặt trời hiện ra, nắng nhạt hẳn độ sáng. Mặt trời lại khuất sau chòm mây.
- Chắc không còn được nhìn thấy mặt trời nữa đâu nhỉ? - Mí Nô hỏi nhỏ. - Sườn núi chắc cũng không còn được nhuộm nắng nữa nhỉ?
Mí Chứ đang nhìn theo cánh chim bay cắt ngang qua trời chiều.
- Hả?... À... Ừ...
Không còn nắng ở sườn núi Xín Chải nữa, nắng ở tít nơi xa tắp kia. Nắng đang yếu dần và đang tàn đi.
Rồi nắng tắt, bầu trời chuyển chiều vào đêm. Đã đến lúc Mí Chứ và Mí Nô phải quay về.
Ngày mai sẽ có một chiều mới.
Ngày mai, rồi ngày mai. Chiều, rồi lại chiều. Nhưng với ngày mai thì hôm nay là quá khứ. Và chiều nay sẽ không bao giờ còn trở lại.
Mí Nô đã đi được một đoạn. Mí Chứ vẫn đứng đấy nhìn vào nơi mà mới trước đó không lâu vẫn còn có mặt trời, bây giờ đã chuyển sang màu xám đục và đang tối dần. Mí Nô phải giục mấy lần Mí Chứ mới chịu ra về.
Chiều quê đẹp quá, thân thương và thơ mộng quá!... Chân bước đi mà lòng còn lưu luyến mãi.
Mí Chứ đi rồi, nơi ấy đang vào đêm, nơi ấy chỉ còn tiếng gió, nơi ấy đã vắng bóng chiều./.
 
0
Tiếng chim hót sau khe đá
 
Đồng bào vùng cao còn nghèo đói lắm anh ơi, cây ngô gieo vào khe đá, anh nhìn xem cũng lên xanh có thân có lá nhưng ốm o còi cọc quá...
Câu chuyện giữa tôi và Chủ tịch xã Sủng Trái, anh Giàng Sính Hờ trên Cao nguyên đá Đồng Văn được bắt đầu bằng những từ đau lòng xé ruột như vậy khi hai chúng tôi hướng bước chân tới xóm nghèo Pó Sả nằm heo hút trong thung lũng đá tai mèo sắc nhọn. Cây ngô mới lên được ba bốn lá, đúng như lời anh Hờ nói, ốm o còi cọc quá!

 
Vượt qua khe núi nhỏ đến một vùng thung sâu hun hút rộng dài, những ngôi nhà bám vào vách núi như những cây nấm li ti trên thân cây cổ thụ. Hơn mười ngôi nhà nằm lọt thỏm giữa một vùng đá núi bạt ngàn. Một cậu bé chừng ba bốn tuổi mặc độc một cái áo ngắn cũn cỡn chưa đến rốn đứng ở đầu nhà nhìn chúng tôi đi tới với ánh mắt thăm thẳm như còn vương nắng chiều. Ngôi nhà của cậu, thực tình tôi không biết gọi như thế có đúng không bởi nó khác với ngôi nhà mà mọi người vẫn thường nói. Đứng ở bên ngoài có thể nhìn rõ mọi ngóc ngách bên trong, từ những bộ quần áo rách nát, cái chăn cũ kỹ, đám bụi bám trên cái vung nồi nầu rau... Mái nhà lợp gianh đã cũ lắm và lỗ chỗ thủng, tường vách là những cây trúc, cây ngô nẹp lại. Trong nhà ngoài cái chảo và cái chõ đồ mèn mén ra không có gì đáng giá. Chủ tịch Giàng Sính Hờ nói bằng tiếng Mông với đứa bé, nó lùi lại nép vào sau cánh cửa. Anh Hờ như không để ý vẫn nói tiếng Mông với nó, một lúc sau nó mới đáp lại bằng một giọng yếu ớt.

 
Anh Hờ nói với tôi:

 
- Bố mẹ, hai chị gái và hai anh trai của nó đi làm từ sáng sớm, phải đến tối mịt mới về, nhà chỉ có một mình nó.

 
- Ăn uống thế nào?

 
Tôi tò mò hỏi khi thấy cái chõ trên bếp chỉ còn một ít mèn mén bám lại, nền nhà có hai cái bát sứt miệng vứt chỏng chơ.

 
- Chắc là mẹ nó đã làm mèn mén từ sáng cho nó ăn cả ngày, đói thì khắc tự lấy mà ăn.

 
Tôi nhìn nó, bằng tuổi con người ta vẫn còn ẵm bế, khi ăn còn làm nũng bắt bón từng thìa cơm vào miệng...

 
Anh Hờ lại nói tiếng Mông với cậu bé.

 
- Bố mẹ nó không đi nương, theo như đứa bé tả thì hình như họ đi đập đá thuê cho họ để làm đường liên xã.

 
Chúng tôi đi tiếp, ánh nắng đã chếch nghiêng nơi sườn núi, gió nhè nhẹ thổi, một làn sương mỏng thảnh thơi nơi thung lũng.

 
Phía trước có tiếng ồn ào, gần mười đứa trẻ đang tham gia trò chơi đánh chắt, những hòn đá đủ góc cạnh được rải ra trên nền đất đỏ trước cửa một ngôi nhà có vẻ giàu có của xóm, cái hiên khá rộng được xếp bằng những hòn đá khá to để bên trong có một khoảng đất bằng dựng nhà. Cha mẹ lũ trẻ đều không có nhà, người đi làm thuê cho Đội làm đường liên xã, người đi làm ở Bãi khai thác đá, người lên rừng xẻ gỗ, người đi rừng tìm củ, tìm rau...

 
*

 
Tôi trở lại Pó Sả sau đó mấy năm, khắp các sườn núi ngô lên xanh cao vượt đầu người. Cờ ngô bắt đầu khô. Cờ ngô khô là có thể làm bánh ăn được. Thân cây gầy guộc oằn mình cõng từng cái bắp trên lưng. Tôi bước chân vào con đường mòn xuyên qua nương ngô về Pó Sả. Lá ngô rì rào va vào người, va vào cổ, va vào mặt nhằm nhặm. Bản làng không có gì đổi khác so với mấy năm về trước. Vẫn những ngôi nhà gianh lụp xụp trống hơ trống hoác. Quang cảnh vẫn hoang vắng như xưa, chỉ có lũ trẻ ở nhà, người lớn đều đi vắng đến tối mịt mới về.

 
Khi trở ra do sơ ý tôi dẫm trật hòn đá trượt chân nơi đầu dốc, bàn tay bám được vào cây ngô nên trốn ngã. Tôi định thần nhìn lại, khóm ngô gần đó đã bị cái vung tay làm nghiêng ngả tả tơi. Trong tay có cái bắp và lắt lẻo một đoạn thân trên cây ngô đã lìa gốc. Bẹ ngô còn tươi xanh, bắp rất nhẹ. Tôi lật giở từng lớp áo ngô, bên ngoài màu xanh thẫm, bên trong màu xanh non, bên trong nữa là lớp áo mỏng, cuối cùng là phần râu tim tím rồi mới đến hạt. Hạt chỉ đầy được nửa bắp, nửa còn lại trơ phần lõi trắng và lơ thơ vài ba hạt lép. Tôi nhìn vào gốc cây, một dúm đất nhỏ nhoi không đủ ôm kín rễ trơ ra phơi nắng nhuộm sương xanh xao hao gầy. Xung quanh gốc toàn là đá, những hòn đá thâm đen nhô lên như măng mùa sấm động.

 
Một lần đi đường có cậu bé xin đi nhờ, hỏi ra được biết cậu ta chính là anh trai của đứa bé ở Pó Sả mà tôi và anh Hờ đã gặp khi bước chân vào xóm. Cậu ta mười ba tuổi gầy còm ốm yếu như đứa trẻ lên mười. Lần trước khoảng hai giờ chiều là cậu đã đi bộ lên tới bãi đá. Hôm nay trời nắng, cái chân mỏi quá, mặt trời xế rồi mà phía trước vẫn còn một đoạn đường dài. Cậu đánh liều giơ tay vẫy, ai cho đi nhờ thì đi nếu hỏi tiền cậu lại đành đi bộ vì trong túi không có lấy một xu lẻ. Cậu cho biết bố mẹ cũng đi làm nhưng ngày mai mới đi. Cậu lên trước ở với mấy đứa cùng xóm hơn cậu hai ba tuổi. Công việc làm từ sáng sớm đến tối mịt mới được nghỉ...

 
*

 
Lần này theo bạn vào bãi đá tại xóm Thành Minh thị trấn Yên Minh huyện Yên Minh thấy mấy đứa trẻ cùng với người lớn đang khai thác đá bất giác tôi nhớ đến câu chuyện năm cũ.

 
Mua Mí Và cho biết:

 
- Em mười lăm tuổi nhà ở xóm Đổ Khoá xã Sủng Thài huyện Yên Minh. Em đi làm tại bãi đá này đã được hai năm, ở nhà đói lắm, đi làm chỉ là để có cái ăn thôi.

 
- Em không đi học sao? - Tôi hỏi.

 
- Em không đi học. Đi làm còn không đủ ăn, đi học để mà chết đói à.

 
Em bê hòn đá khá to, dáng lặc lè như chú vịt bầu. Hòn đá ấy cho tôi bê chưa chắc đã đi xa được như vậy.

 
- Em đi làm thế này ngày được mấy ngàn?

 
- Năm ngoái mỗi ngày được mười ngàn, năm nay có hơn một ít là mười ba ngàn.

 
- Ăn uống thế nào?

 
- Tiền ăn một ngày hết năm ngàn còn đâu em cầm về nhà.

 
Câu chuyện được tiếp tục với một em bé ở Bãi khai thác đá xã Hữu Vinh huyện Yên Minh.

 
Tôi đến đúng lúc máy xay đá đang làm việc. Tôi nói chuyện với người quản lý Bãi, tiếng máy đã át đi, hai chúng tôi phải lùi ra xa hơn gần năm mươi mét mới nghe được lời nói. Anh cho tôi biết ở Bãi có một người dưới mười lăm tuổi. Em đang đổ đá vào phễu máy xay. Tôi nhìn theo tay anh chỉ, giữa trong đám bụi đá bay mù mịt, bên cạnh ba người lớn, một em bé gầy gò nhuộm bụi trắng từ đầu đến chân. Tôi xin anh cho em nghỉ vài phút để tâm sự đôi ba câu.

 
Em là Giàng Mí Lầu nhà ở xóm Há Đề xã Lũng Thầu huyện Đồng Văn1. Em mười bốn tuổi, em đã đi làm ở bãi đá này được ba năm, công việc lúc thì đập đá, lúc thì gom những hòn đá do khai thác từ trên núi lăn xuống thành đống, lúc thì đổ đá vào phễu máy xay, lúc thì vun đá sau sàng... Chỉ có việc khoan lỗ đá nổ mìn là em chưa làm bao giờ. Nhà em có bảy người, dưới em còn bốn đứa em nữa, có đứa vừa mới ra đời tháng trước.

 
- Ngày công của em được trả bao nhiêu tiền?

 
- Mười lăm ngàn. Trước kia ít hơn, mấy tháng gần đây mới lên mười lăm ngàn.

 
- Tại sao em phải đi xa thế để làm công việc này?

 
- Ở gần hơn không có bãi đá nào. Một hôm có người cùng xóm rủ đi làm thế là em đi. Từ đó em không ở nhà nữa, thỉnh thoảng em mới về, ở nhà đói quá, đi làm cũng chẳng được mấy tiền nhưng còn có cái ăn.

 
- Em có hay về nhà không?

 
- Có lúc hai ba tuần, có lúc một tháng em về nhà một lần.

 
- Nhà xa thế đi về chắc tốn tiền xe lắm nhỉ.

 
- Em làm gì có tiền đi xe, em đi bộ từ sáng sớm đến ba giờ chiều là về tới nhà. Em ở nhà hai ngày lại xuống đi làm...

 
Cách máy xay không xa có một bé gái đang ngồi đập đá, dáng em gầy gò bé nhỏ. Em là Giàng Thị Máy nhà ở xóm Nà Tậu xã Hứu Vinh huyện Yên Minh. Em hơn Giàng Mí Lầu một tuổi. Em mới đi làm được ba tháng, khi cây ngô vừa nảy mầm ra lá. Em cũng chỉ định đi làm đến tháng tám khi ngô được thu hoạch là em nghỉ. Tiền công của em ít hơn của Lầu hai ngàn. Nhà em tuy không đói ăn nhưng vẫn còn nghèo lắm.

 
Câu chuyện được nối dài tới một em bé ở Bãi khai thác đá xã Lũng Phìn huyện Đồng Văn.

 
Em là Thào Mí Sá mười hai tuổi, nhà em ở xóm Tống Chứ Phìn xã Lũng Phìn huyện Đồng Văn. Em đã đi làm hơn hai năm. Lần đầu tiên đi làm là khi bố em ốm, em đi thay. Nếu không đi làm thì ở nhà không có cái ăn, mỗi năm nhà em đói ăn hơn ba tháng. Ngày công của em được mười ngàn đồng.

 
Có lần tôi được ông Mua Xé Cơ trưởng xóm Sủng Trái xã Sủng Trái huyện Đồng Văn đưa đến thăm một nhà nghèo nhất xóm. Sau đó tôi viết thành bài: "Ai làm... tôi... nghèo!" đã được Đài Tiếng nói Việt Nam đọc trong mục "Vui buồn chuyện dân số", với câu mở đầu thế này:

 
"Ai làm cho khói lên trời
          Cho mưa xuống đất cho tôi kiếp nghèo..."


 
Việc gia đình bị nghèo là do anh ta, cái anh Giàng Chừ Sính khốn khổ, mọi người nói anh hay ăn hơn hay làm, có tiền là nghĩ đến ăn... Và còn một nguyên nhân nữa dẫn đến đói nghèo là do anh ta đẻ nhiều, chưa đến bốn mươi tuổi đã có bảy đứa con. Khi con ốm nhà không có tiền anh bán nương trồng ngô lấy tiền mua thuốc. Đến mùa vụ nhà người ta có nương, có ngô mang về, nhà anh chẳng có gì, sống qua ngày bằng việc đi làm thuê làm mướn. Đứa con chưa đầy sáu tuổi anh đã bắt theo gia đình lên bãi đá làm thuê. Không đập được đá thì nó đi gom đá thành đống để đến bữa có được bát cơm cho vào bụng. Đấy là những lúc có việc để làm, bãi đá khai thác theo mùa vụ, khi không có xây dựng thì bãi đá cũng nghỉ. Anh chị cùng mấy đứa con về nhà. Nhiều khi, mấy hôm liền mà bếp nhà anh ta không có lửa bởi chẳng có gì để nấu. Mấy đứa trẻ đi khắp xóm xin ăn.

 
Tôi và ông Cơ đến nhà thấy có hai đứa trẻ gầy gò ốm yếu đang co ro trong tấm chăn cũ ngủ ngon lành trên hai tấm gỗ vẫn còn nguyên đường cưa kê sát vào nhau làm giường. Tôi không biết đó có phải là nhà không bởi nó quá nhỏ, chưa đầy hai mươi mét vuông xiêu vẹo, tường vách là những cành que nẹp lại, mái gianh đã quá cũ rơi ra từng mảng lớn, lỗ chỗ trời thủng, chủ nhà phải lấy một cái bạt chùm lên để che mưa che nắng. Đêm đến, chín con người chất chồng trong một không gian chưa đầy hai mươi mét vuông ấy...

 
Hai đứa trẻ đã dậy đứng sau cánh cửa nhìn tôi và ông Cơ bằng ánh mắt to tròn ngạc nhiên. Ông Cơ nói bằng tiếng Mông với chúng. Một lúc sau ông quay sang tôi:

 
- Bố mẹ và các anh chị nó đều lên Bãi đá xã Lũng Phìn làm thuê, ở nhà chỉ có hai đứa nó. Lũ trẻ nhà này không đứa nào được đi học, chúng còn phải lăn lộn kiếm sống cùng cha mẹ. Lúc đi làm mẹ nó còn địu theo đứa con chưa đầy tháng trên lưng, nắng nôi thế này, - ông Cơ thở dài ái ngại. - Đến tối tất cả mới kéo nhau về nhà.

 
Trong lần nói chuyện với anh Giàng Xìa Páo quản lý Bãi khai thác đá tại xã Lũng Phìn huyện Đồng Văn, anh cười:

 
- Việc thuê trẻ em khai thác đá thú thực chúng tôi cũng không muốn như vậy. Công việc cực nhọc ảnh hưởng nhiều tới sức khoẻ. Nhìn những đứa trẻ đói rách đến xin việc để kiếm miếng ăn chả lẽ lại đuổi đi, tôi cũng là người Mông, người Mông phải có tính cộng đồng, người lạ gặp nhau nếu nhận ra là "người Mông ta" còn được quý như người nhà nữa là... Với lại ngày còn bé tôi cũng đã từng bị đói rách nên thấu hiểu những gì bọn trẻ chịu đựng khủng khiếp đến thế nào. Tôi chẳng nói đâu xa như cái thằng Thào Mí Sá, bố nó ốm không có tiền mua thuốc, ở nhà có cả lũ em trông chờ vào khoản tiền công ít ỏi hàng ngày bố nó đem về. Nếu không cho nó làm thay chỗ của bố nó thì cả gia đình biết lấy gì để sống qua ngày.

 
- Bãi đá của anh có bao nhiêu đứa trẻ thường xuyên làm việc?

 
- Chỉ có một hai đứa dưới mười lăm tuổi, còn lại đều lớn hơn.

 
Khi hỏi đến vấn đề bảo hộ nhân công anh Páo nói nhỏ hẳn xuống:

 
- Thú thực ở bãi đá từ trước tới giờ chưa thấy ai nói tới chuyện phải bảo hộ lao động cho nhân công, khi không đòi hỏi thì trang bị làm gì cho tốn kém.

 
Tôi đã đến nhiều bãi đá trên các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh nhưng không có bãi đá nào có bảo hộ lao động cho nhân công.

 
Những người đập đá thì còn ít độc hại, những người đứng máy xay thì bụi bay mù mịt táp đầy vào mặt trắng xoá cả đầu tóc. Có lần tôi thấy một người đang làm vội chạy ra lấy nước vã lên mặt, thì ra anh ta vừa bị bụi đá bắn vào mắt. Với điều kiện làm việc như thế lâu ngày bệnh tật liên quan đến mắt, liên quan đến phổi như viêm giác mạc, viêm đường hô hấp, lao phổi... sẽ ăn vào người. Rồi tai nạn trong quá trình lao động, có người bị dây côloa máy xay nghiến nát cả bàn tay, có người bẩy đá từ trên núi xuống xảy chân ngã gẫy sống lưng, rồi chuyện xây xước, đá bắn vào người gây thương tích xảy ra thường xuyên.

 
Tôi đã hỏi nhiều người, chưa ai khai thác đá liên tục được trên mười năm, họ chỉ làm một vài năm là nghỉ và chuyển sang công việc khác.

 
Có người làm được tám năm một hôm thấy đau ngực, ho ra máu, hơn một tháng sau thì chết.

 
Rồi tiếng ồn từ cái máy xay đá, tôi đã không chịu nổi khi đứng cách nó năm mét. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì ngưỡng nghe của con người là 0 decibel, nói chuyện bình thường hàng ngày khoảng 50 decibel. Cường độ ồn của búa khoan lỗ đá nổ mìn khoảng 115 decibel. Cường độ ồn của máy xay đá khoảng 130 decibel. Cường độ ồn mà con người có thể chịu đựng được gọi là ngưỡng đau vào khoảng 140 decibel. Nếu độ ồn lớn hơn có thể bị chảy máu tai, máu mũi... Đây là nghiên cứu với người trưởng thành, khoẻ mạnh. Người ốm yếu và trẻ em thì ngưỡng đau sẽ thấp dưới 140 decibel.

 
Khi tiếp xúc gần với tiếng ồn trong một thời gian dài sẽ dẫn đến giảm thính lực và bị điếc.

 
Thế mà vì miếng ăn hàng ngày những đứa trẻ vẫn phải gắn bó bên cạnh máy xay để làm ra bột cho người ta xây dựng các công trình, để được hưởng một khoản tiền công nhỏ nhoi cho hai bữa cơm đạm bạc hàng ngày. Có nhiều người đứng máy sau ba tháng, người khác nói chuyện phải to và gần tai mới nghe thấy...

 
*

 
Trời vừa sáng, những hạt sương đêm còn ngái ngủ nằm trên ngọn lá, làn mây mỏng vẫn ẩn mình dưới khe sâu, sườn núi tít tắp xanh. Tôi chia tay vợ chồng hắn để đi ra huyện.

 
Đến bây giờ tôi vẫn chưa hiểu được cái gì đã làm hắn đổi thay đến vậy. Hắn xưa kia nghèo lắm, xác xơ, rách rưới, nghèo khó. Mới cách đây không lâu hắn còn đi lang thang làm thuê làm mướn kiếm cái ăn qua ngày. Dáng hắn gầy gò ốm yếu đến xin việc ai cũng lắc đầu chối từ. Hắn nhờ tôi. Tôi phải lấy danh nghĩa nhà báo đi xin ông chủ bãi đá mới chịu nhận hắn vào làm. Hắn nắm tay tôi: "Cám ơn cán bộ, cám ơn nhiều nhiều, không có việc làm mấy tháng nay, mình đói ăn mấy tháng nay, cám ơn nhiều..."

 
Gặp hắn trong chuyến đi cơ sở, nghe hắn kể đã làm được nhà, có được vợ, bắt được một đứa con tôi không tin tìm về tận nơi xem thực hư thế nào.

 
Lời hắn nói là đúng, căn nhà gỗ ba gian lợp Phibrôximăng nằm nghễu nghện trên sườn núi, vợ con hắn đang ở nhà.

 
Ngồi với hắn được một lúc, tôi chào ra về. Hắn mời ở lại ăn cơm, đồng thời vợ hắn cũng dọn luôn các thứ lên bàn. Một rá mèn mén, hai đĩa thịt gà luộc, một âu canh nhạt... Đến lúc này mà từ chối lời mời của hắn e không được. Thế là tôi ngồi vào mâm và cũng định chỉ uống với hắn một hai chén rượu rồi ra về. Vợ hắn vẫn còn cặm cụi dưới bếp, một lúc sau bê tiếp lên một bát canh mặn nấu lòng gà với ngọn bí ngô. Vợ hắn thật khéo, khách đến nhà, thịt gà làm cơm thật nhẹ nhàng không có tiếng động. Tôi và hắn đã qua mấy tuần rượu, thêm một hai chén nữa câu chuyện cứ kéo dài mãi. Trời về đêm lúc nào không hay.

 
- Chán lang thang em về nhà xin Xã cái ngô giống mới về trồng, - hắn bắt đầu tâm sự sau hai chén rượu. - Ngô thu về bắp to và nhiều hạt lắm. Sau đó em trồng thêm đậu tương. Rồi vay tiền mua bò mua lợn về nuôi. Rồi làm nhà. Rồi lấy vợ. Rồi...

 
Hắn kể một mạch cứ như là liệt kê. Lời kể nghe có âm hưởng của sự tự hào. Tôi hiểu rằng đằng sau sự tự hào về thành quả ngày hôm nay là biết bao nhiêu mồ hôi và nước mắt đổ xuống. Núi vẫn vậy, đá vẫn vậy nhưng đất đã nghèo hơn xưa rất nhiều, để cây ngô xanh tốt phải có nhiều phân, nhiều đạm... chăm bón phải đúng kỳ để khi thu về cái bắp to hơn, nặng hơn, hạt mẩy đều... nụ cười mới nở trên môi người lao động. Rồi chăn bò nuôi lợn,... Hắn đã khôn khéo chuyển đám nương cằn cỗi sang trồng cỏ Goatêmala. Thế là không phải chạy ngược chạy xuôi lo cái ăn cho con bò nữa.

 
Mới có mấy năm mà hắn làm được nhiều hơn những gì tôi có thể nghĩ ra. Chuồng nhà hắn đã có sáu con bò, tám con lợn. Phân bò, phân lợn hắn đem ủ rồi vãi ra nương, cây ngô năm sau lại tươi tốt xanh cây. Cái ngô về nhà lại nhiều hơn. Có nhiều ngô hắn nấu rượu cho vợ đem bán, bỗng nuôi lợn. Phân lợn hắn lại ủ rồi vãi ra nương. Cái ngô lại về nhiều... Vòng tròn ấy được hắn khéo léo xoay chuyển. Cứ theo đà này sự giàu có sẽ về với hắn.

 
Rồi chúng tôi cũng đi ngủ khi giọt sương đầu cành chĩu nặng nơi ngọn lá rơi xuống đất lộp bộp. Con thú ăn đêm giật mình chạy tuột vào rừng sâu.

 
Sáng. Tôi dậy khá sớm. Thung lũng trước cửa nhà cẫn còn đầy bóng đêm. Tiếng chim hót từ khu rừng sau nhà nghe rất gần. Con chim khiếu treo trước cửa cũng hoạ theo những âm thanh trầm bổng da diết. Con gà nơi chuồng bò cất từng hồi dài tiếng gáy.

 
- Ăn cơm thôi, anh ơi!

 
Hắn thò cái đầu ra cửa gọi tôi rồi vội vàng quay vào. Vợ chồng hắn đã dậy làm cơm từ lúc nào mà tôi không biết. Tôi lại ngồi ăn và có thêm chén rượu. Mùi ngô thơm lừng chạy rần rật trong huyết quản.

 
Rồi tôi và hắn chia tay.

 
Con đường núi ướt sương làm chân tôi lành lạnh. Tiếng chim hót rộn vang nơi rừng cây. Bước chân chênh vênh đi trên đá.

 
Bất chợt nơi khe đá vọng ra tiếng hoạ mi hót. Tôi dừng chân ngạc nhiên. Chim hoạ mi thường hót nơi cành cao thoáng đạt. Khe đá vốn không phải là nơi chim hoạ mi ghé chân thì làm gì có tiếng hót. Những điều lạ hay làm tôi chú ý.

 
Tiếng chim vẫn hót. Tiếng chiu chíu của chim mái, tiếng trầm bổng của chim đực. Rồi tiếng người nói. Phải lắng tai mới nghe rõ.

 
Mấy đứa trẻ đột ngột hiện ra từ khe đá, trên vai chúng là chiếc cặp đựng sách vở, quần áo. Thì ra bọn trẻ đã giả giọng chim mái để con chim đực trong lồng tưởng là bạn tình cất tiếng ngỏ lời yêu.

 
Chúng tôi cùng đi chung một đoạn đường. Tôi nhận ra một đứa trong bọn chính là đứa mà tôi và anh Hờ đã gặp khi vào xóm Pó Sả. Câu chuyện giữa chúng tôi trở nên rôm rả thân mật. Đứa trẻ cho biết các anh chị nó cũng đi học như nó. Cái ngô về nhà nhiều hơn nên không còn phải lo cái ăn nữa. Các nhà khác trong xóm cũng vậy, bọn trẻ đua nhau đến trường. Mấy đứa đi cùng đây là mấy đứa chơi chắt ở hiên nhà hôm ấy, đều học lớp bán trú dân nuôi, chiều thứ sáu về nhà, chiều chủ nhật xuống trường...

 
Đứa trẻ lại giả tiếng chim mái. Con chim đực trong lồng lại cất tiếng hót véo von.

 
NGUYÊN BÌNH
 
 
Chân Trời Tím

0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-06-28 05:24:23CTT>
 Những câu chuyện của bà Cáy
Lũ trẻ trong xóm được nghe bà Cáy kể chuyện hôm trước thì hôm sau thế nào cũng tìm đến đòi bà kể chuyện tiếp. Mí Chứ cũng vậy, mấy hôm đầu ngày nào nó cũng có mặt tại nhà bà Cáy. Lời bà kể nhẹ nhàng dí dỏm làm bọn trẻ thỉnh thoảng lại cười ồ lên sung sướng...

 
Bà Cáy kể nhiều về những chuyện ngày xưa, ngày bà còn bé đi ở cho tổng giáp, mã phái... Rồi bà kể truyện cổ tích, truyện thần thoại, truyện ngụ ngôn... Bà có cả một kho truyện. Mí Chứ có cảm tưởng bà cứ ngồi đó mà kể chuyện cho mọi người nghe thì có ngồi cả ngày, cả tháng cũng vẫn chưa hết chuyện để kể.

 
*

Ngày xưa, lúc ấy chưa có buổi chiều, chỉ có sáng, trưa và tối. Trời vừa rửa mặt đã rạng rỡ đến đứng bóng, nắng đang gắt gay thì bị tắt phụt và bóng tối hoành hành. Bóng tối cậy mình có thế lực không ngần ngại quết mực đen lên vạn vật. Cứ sau trưa là bầu trời đã tối, cỏ cây ngày một ít dần màu xanh, con người ngày một gầy yếu, muông thú đi lại chậm chạp. Ngọc Hoàng mấy lần ra lệnh cho thần Bóng Đêm thu bớt tấm màn nhung đen lại. Thần Bóng Đêm không những đã phớt lờ lệnh của Ngọc Hoàng mà còn có ý định may thêm cho tấm màn nhung rộng ra để chiếm luôn cả buổi trưa và buổi sáng. Ngọc Hoàng ra chiếu chỉ, ai làm cho thần Bóng Đêm thu bớt màn lại sẽ được thưởng vương miện và tấm áo choàng đỏ. Đến Ngọc Hoàng còn bất lực nên các thần tiên trên trời không ai có ý kiến gì. Chiếu chỉ của Ngọc Hoàng được ban xuống hạ giới, đợi mãi vẫn không thấy ai lên tiếng. Ngọc Hoàng rất thất vọng, chưa tìm ra cách gì đối phó với thần Bóng Đêm. Trong khi đó thần Bóng Đêm đã may cho màn rộng ra và chiếm mất buổi trưa, lúc này chỉ còn buổi sáng và tối. Ngọc Hoàng buồn ủ rũ bỏ cả triều chính, con mắt các thần nhìn Ngọc Hoàng kém phần kính trọng đi rất nhiều. Đợi mãi rồi cũng có được người lên tiếng, đó là anh em nhà gà. Thấy họ nhỏ bé quá Ngọc Hoàng tỏ ý ái ngại: “Các ngươi có được mấy phần sức lực mà dám đối đầu với thần Bóng Đêm?” Cả hai anh em nhà gà đều cười: “Để biết được ai hơn ai, cúi xin Ngọc Hoàng cứ cho chúng thần thử sức thì mới biết.” Ngọc Hoàng đồng ý cho lập hai cái đài gần nhau theo đề nghị của anh em nhà gà để làm phép. Đến giờ đã định, anh em nhà gà nhảy lên bậc cao nhất của cái đài gáy hai hồi thật dài. Tiếng gáy làm trời đất nghiêng ngả, đất đá chỗ sụt xuống chỗ bồi lên, những người gần đó tai như bị ai chọc, đầu óc quay cuồng đứng không vững. Mọi người vội vàng lấy tay bịt tai lại. Thần Bóng Đêm cũng vội vàng lấy hai tay ấp vào tai, thế là tấm màn nhung đen bị kéo lên thu nhỏ lại. Từ đây đã có thêm buổi chiều. Trời đất có đủ sáng, trưa, chiều, tối. Gà anh có tiếng gáy khoẻ, vang xa hơn. Ngọc Hoàng đội lên đầu gà anh vương miện mào cờ và một tấm áo choàng đỏ. Gà em gáy nhỏ, ít vang hơn. Ngọc Hoàng đội lên đầu gà em vương miện mào sít và một tấm áo choàng đỏ. Khi anh em nhà gà ra về Ngọc Hoàng đã nói nhỏ vào tai anh em họ là nên gáy nho nhỏ thôi để khỏi ảnh hưởng đến trời đất và để nhắc thần Bóng Đêm đừng có bỏ tay ra khỏi tai. Từ đó, lúc thì gà anh, lúc thì gà em, lúc thì cả hai anh em thay nhau gáy suốt cả ngày, thần Bóng Đêm đã không dám rời tay ra khỏi tai. Khi gà anh và gà em đi ngủ, thần Bóng Đêm mới nhẹ nhàng tung tấm màn nhung trùm kín cả trời đất. Khi anh em nhà gà thức dậy, thần Bóng Đêm lại vội vàng đưa tay lên bịt lấy hai lỗ tai. Và cứ thế, ngày lại ngày trôi qua như vậy.

 
*

 
Ở bản nọ có gia đình người thợ rèn chăm chỉ, đến cuối đời tích cóp được một gia tài cũng tạm gọi là khá giả. Vợ chồng họ chỉ có duy nhất một cậu con trai. Cậu ta ỷ lại vào bố mẹ, chẳng chịu làm gì, suốt ngày chỉ ăn rồi rong chơi. Cậu đi hết bản này đến bản khác, núi rừng này đến núi rừng khác, nơi nào có tổ chức lễ hội là cậu tìm đến. Cậu tiêu tiền vào những việc ăn chơi một cách vô tội vạ. Cha cậu buồn lắm, mấy lần ông nhắc cậu phải cố học cho lấy một nghề để sau này còn biết làm mà nuôi thân. Cậu chỉ vào đầu mình nói rằng trong đó có một dự định to lớn đang hình thành, cậu sẽ sống một cuộc đời khác biệt, khác hẳn với mọi người, cậu sẽ học những gì cậu cho là cần thiết. Đi đâu cậu cũng khoe rằng cậu có một dự định to lớn đang hình thành, và sắp có trên thực tế.

 
Bố mẹ về già, cậu vẫn chẳng chịu làm gì. Bố mẹ qua đời, cậu vẫn không có gì thay đổi. Gia tài dù giàu có, nếu chỉ ăn mà không làm rồi cũng đến ngày cạn kiệt. Của cải được thừa hưởng chẳng cho cậu no đủ được bao lâu. Khi không còn gì để ăn cậu nghĩ ra một cách là tìm đến những nơi quen thân để vay mượn về ăn. Cậu nói dối là đang cần số vốn lớn để thực hiện một dự định lớn. Khi vay được thì cậu hỉ hả cám ơn họ. Ai không cho vay, lần sau cậu lại tìm đến. Lời cậu nói thật khéo, trơn như ống điếu, ngọt như mật ong rừng, nhiều người thấy cậu đến đã tự thề với mình là nhất quyết không cho cậu vay nhưng sau khi nói chuyện với cậu một lúc lại lấy tiền đưa cho cậu. Khi cậu về họ lại tự rủa mình đã không giữ được ý định ban đầu. Những người cho cậu vay, chẳng bao giờ thấy cậu trả lại dù là một đồng lẻ. Nếu ai có ý định đòi nợ thì cậu tránh mặt, nếu không tránh được thì cậu nói dối quanh, nếu ai to tiếng hay đến đòi nhiều lần thì cậu nổi khùng: “Thân xác tôi đấy các người xả ra mà đem bán lấy tiền!” Họ cũng chỉ mắc với cậu một vài lần, tiếp chuyện với cậu một vài lần, sau nữa thành người không quen biết và dĩ nhiên sẽ không bao giờ cậu vay được tiền của họ nữa. Cậu không biết làm gì khác ngoài việc than thân và chửi bới thiên hạ bạc bẽo, đối xử với nhau độc ác, không có tính người... Gặp ai cậu cũng thấy họ giàu có hơn mình, sung sướng hơn mình. "Thiên hạ này rặt một lũ người keo kiệt, không ai có được một chút lòng nhân hậu!" - Câu cửa miệng của cậu là vậy.

 
Cậu đi khắp nơi, tìm đến những người bạn mà khi xưa, lúc cậu còn giàu có đã từng thân thiết với cậu. Nhiều người quay mặt đi khi nhìn thấy cậu, nhiều người tiếp cậu như một việc làm bất đắc dĩ, lời nói của họ được câu trước, câu sau đã bóng gió đuổi cậu về, chẳng bù cho ngày xưa họ coi cậu là ân nhân, thánh thần, là cha mẹ tái thế... 

 
Cậu lại ra đi, lại lang bạt khắp nơi. Một hôm cậu lạc bước đến cổng một gia đình giàu có. Nhìn cái cổng cậu có thể đoán được gia đình này giàu có đến mức nào, hai cánh cổng bằng gỗ lim rất chắc chắn, mái cổng được lợp bằng ngói vươn dài về phía trước, tường rào được xây bằng đá kiên cố. Cậu đã lả đi vì đói. Cậu ngồi tựa lưng vào cánh cổng để tránh những hạt mưa xuân đang giăng giăng đầy trời. Cậu đã ngồi ở đấy rất lâu. Rồi cánh cổng được mở, một người đàn ông to lớn ăn vận gọn gàng bước ra. Ông ta không nhận ra cậu. Còn cậu nhận ngay ra ông ta, vẫn cái dáng cao lớn, khuôn mặt vuông vuông, nước da bánh mật. Ông ta của mấy năm về trước khác hẳn với cái dáng đi đường bệ bây giờ. Ông ta khi ấy không có một xu trong túi, ăn mặc rách rưới. Ông ta đến nhờ cậu giúp đỡ, cậu đã kênh kiệu nhổ nước bọt vào mặt ông ta và đuổi về.

 
- Ông Páo, - cậu lên tiếng.

 
Người đàn ông nhìn cậu kỹ hơn và nhận ra người cũ. Ông ta mời cậu vào nhà và làm cơm mời cậu. Trong bữa ăn ông ta không hề nhắc tới chuyện ngày xưa, còn cậu đã nói rất nhiều tới những ngày bố mẹ cậu còn sống.

 
- Thiên hạ toàn những người bạc bẽo, - cậu nói hăng quá bắn cả mèn mén ở trong mồm ra ngoài. - Ông thấy tôi nói có đúng không, thiên hạ rặt một phường giả dối, một đống ích kỷ, không có lòng nhân từ, không biết thương người. Từ ngày bỏ hẳn cái lò rèn cũ kỹ ấy, ông là người tốt duy nhất mà tôi gặp, nếu tôi nói sai sẽ bị ngã gãy cổ, bị cây đổ nát xương...

 
- Cậu có muốn chấn hưng lại lò rèn của bố cậu không, tôi sẽ giúp cậu một ít tiền. - Ông Páo lên tiếng.

 
- Ối dào, - cậu gạt phắt. - Báu vào cái lò cũ nát bẩn thỉu ấy, chân tay đen nhẻm suốt ngày mà tiền bạc kiếm được chẳng đáng là bao.

 
- Bố mẹ cậu đã trở nên giàu có từ cái lò rèn đó thôi! - Ông Páo cắt ngang lời cậu.

 
- Họ khác, tôi khác, tôi muốn làm việc lớn hơn, tôi có một dự định cực kỳ lớn đang hình thành, tôi cần rất nhiều vốn. Ông có tiền, cho tôi vay một ít, tôi sẽ đầu tư vào nơi xứng đáng, sẽ trả ông đúng hẹn, đủ cả lãi lẫn gốc.

 
Ông Páo không nói nữa vì biết rằng cậu cũng chẳng muốn nghe.

 
Khi cậu cáo biệt ra về, ông Páo lấy một ít tiền đưa cho cậu. Ông chỉ đưa, không nói gì. Cậu cầm tiền, cám ơn ông Páo đến mấy lần. Cậu ra đi, ông Páo vội khoá cổng lại.

 
Cậu lại tiếp tục cuộc hành trình, có tiền thì phải tiêu thôi. Hai ngày sau số tiền ông Páo đưa đã ra đi nhẵn nhụi. Hết tiền, cậu lại vật vờ như cái bóng, sống bằng lòng bố thí của thiên hạ.

 
Một hôm người ta phát hiện ra cậu nằm co trong hang đá. Cậu không còn thở nữa. Cậu đã chết! Cậu chết rồi mà chưa ai được nhìn thấy dự định lớn lao của cậu hình thành trên trái đất.

 
*

 
Trên cành đào có bầy kiến nâu làm tổ, cả đàn luôn tất bật suốt ngày. Chúng nhào vôi vữa xây nhà. Chúng tích luỹ lương thực cho đầy ắp các kho. Chúng lao động và lao động, chúng hát vang bài ca lao động. Trong đàn có duy nhất anh em kiến mồ côi được cả đàn cưng chiều, ăn ngủ đẫy giấc nên lớn lên mắc phải chứng lười lao động. Mỗi lần đến phiên mình phải đi kiếm mồi thì luôn tìm mọi cách viện đủ mọi lý do nào chân đau, bụng đau, xương cốt đau để được ở nhà. Khi không còn lý do gì để viện, hai anh em ra đi với bước chân uể oải của kẻ buồn ngủ, tấm thân mệt mỏi của kẻ bị bỏ đói dài ngày. Khi bị nhắc nhở, phê bình, anh em kiến mồ côi chăm chỉ hẳn lên, nhưng cũng chỉ được mấy ngày rồi lại lười như cũ. Phê bình đi, phê bình lại, chán cả phê bình.

 
Sáng nay, anh em kiến mồ côi phải dậy sớm hơn mọi ngày để đi kiếm mồi. Đàn kiến thợ mừng rỡ khi thấy anh em họ đi làm cùng. Đi được một đoạn kiến anh hỏi viên chỉ huy:

 
- Chúng ta phải đi đâu, có xa bằng hôm nọ không?

 
- Chúng ta phải đi xa hơn, đường khó hơn, kiến trinh sát về báo ở nơi ấy có nhiều lương thực lắm. - Kiến chỉ huy trả lời.

 
Nghe thấy thế anh em kiến mồ côi cố tình đi lùi lại sau rồi tách khỏi đàn sang con đường khác. Đi được một đoạn hai anh em tìm thấy một mấu cây ấm áp bèn ghé vào ngả lưng làm giấc ngủ ngon lành. Khi tỉnh dậy trời đã xế chiều, hai anh em vội đi tìm thức ăn. Khi tìm được thức ăn vừa đủ số lượng để nộp vào kho nhưng do đói quá không làm sao nhấc nổi khối thức ăn để mang về tổ, kiến anh nghĩ ra được một cách là ăn vào bụng một ít cho nhẹ bớt sẽ mang về dễ hơn. Về đến tổ, kiến canh cửa thấy số lượng lương thực anh em kiến mồ côi mang về không đủ bèn ngăn lại. Kiến anh vội nói:

 
- Đáng lẽ ra anh em tôi đã mang về gấp ba số lương thực này nếu ngang đường không gặp một bác kiến già đói lả đang nằm chờ chết và mẹ con chị kiến đen ôm nhau khóc vì không có cái ăn. Trước cảnh tượng ấy chúng tôi không đành lòng mang thức ăn về mà không giúp đỡ họ, thế là chúng tôi xẻ cho mỗi người một ít thức ăn cho đỡ đói.

 
Kiến canh cửa thấy anh em kiến mồ côi có lòng thương đồng loại như thế thì không có lý do gì không cho anh em họ vào cửa. Hai anh em kiến mồ côi nhìn nhau tủm tỉm cười.

 
Lần sau, hai anh em kiến mồ côi vẫn tìm mấu cây ấm áp đánh một giấc say sưa đến tận chiều rồi mới cuống cuồng đi tìm thức ăn, nhưng rủi thay lần này không tìm thấy thứ gì có thể ăn được. Trời tối mịt hai anh em mới tìm về đến tổ, bụng đói, mắt hoa, bước thấp bước cao vẹo và vẹo vọ. Kiến canh cửa ngăn lại, kiến anh nói:

 
- Đáng lẽ ra anh em tôi đã mang về rất nhiều thức ăn, nhưng trên đường đi về gặp một bác kiến nâu đã già yếu lắm vừa ngồi bên đường vừa khóc. Anh em tôi dừng lại hỏi thăm thì được biết ngôi nhà mà bác ấy đã phải lao động cả một đời vất vả mới dựng được đã bị chiếc lá cây rơi xuống va vào mái nhà, phần nóc bị sạt một mảng lớn, ít thức ăn dự trữ để trên nóc nhà không biết đã văng đi đâu mất. Anh em tôi thấy thương bác ấy quá bèn rủ nhau tình nguyện lợp lại mái nhà cho bác và biếu luôn bác kiến già số thức ăn nặng trịch trên vai. Anh em tôi làm cật lực đến bây giờ mới xong, mệt bã cả người!

 
Kiến canh cửa thấy anh em kiến mồ côi không những biết thương người mà còn biết giúp đỡ người khác trong cơn hoạn nạn đã rất cảm động thưởng cho hai anh em một bữa ăn thịnh soạn. Kiến mồ côi xúc động vừa ăn vừa khen rối rít kiến canh cửa biết nhìn người, biết trọng việc nghĩa, biết đối đãi tử tế với người tốt. Ăn xong, anh em kiến mồ côi về nhà ngủ một giấc ngon lành.

 
Anh em kiến mồ côi tự cho mình là những người tài giỏi, chỉ cần uốn ba tấc lưỡi là được ngủ thoải mái, ăn một bữa tuyệt ngon và quan trọng hơn là chẳng tốn mấy sức lực. Hai anh em đắc ý về chiến công của mình, đi đứng có vẻ khệnh khạng oai vệ lắm.

 
Lần này, hai anh em kiến mồ côi không có lý do gì không tìm một mấu cây ấm áp làm một giấc thật say, khi về chỉ cần bịa ra một câu chuyện có tí cảm động là được ăn uống thoả thích, kiếm mồi làm gì cho nhọc sức mệt người.

 
Hai anh em tỉnh ngủ khi trời mới xế chiều nhưng chẳng ai thèm dậy, cố nằm đợi trời tối.

 
Khi bóng đêm buông màn hai anh em mới uể oải đứng dậy ra về. Vừa trông thấy kiến canh cửa, kiến anh đã vội nói:

 
-  Đáng lẽ ra...

 
- Không cần phải nói nữa! - Kiến canh cửa cắt ngang lời kiến anh. - Tôi biết anh định kể cho tôi nghe chuyện gì, một câu chuyện có cánh về công việc cứu giúp người gặp hoạn nạn chứ gì. Không cần phải kể nữa. Nơi đây không tiếp nhận những kẻ lười biếng, càng không muốn những kẻ dối trá có mặt. Vậy hai anh hãy đi đi, đến nơi nào thì đến.

 
Kiến canh cửa khép mạnh cánh cửa bỏ mặc hai anh em kiến mồ côi ngơ ngác nhìn nhau chưa hiểu đã xảy ra chuyện gì.

 
*

 
Ngoài kể chuyện bà Cáy còn đọc thơ, một bài thơ đặc biệt, nói đúng ra là một câu chuyện bằng thơ.

 
Buổi sáng trời mát trong
Ngàn cánh hoa đua nở
Thơm nức cả góc rừng
Thơm như từ muôn thuở
Ơ kìa chị ong thợ
Đi đâu mà vội vàng
Hoa rừng có cả ngàn
Lo gì không có mật!
Cô bướm vàng chân thật
Lời lẽ thật khẽ khàng
Ong thợ đáp nhẹ nhàng:
Tôi xây nhà xây cửa!
Bướm vàng buông lời mỉa
Cần chi phải cửa nhà
Ta hãy sống cho ta
Một mình là tất cả...
Trời bỗng chuyển gió lạ
Rồi mưa rơi dầm dề
Ong thợ có nhà về
Bướm vàng chẳng có quê
Đi lang thang khắp chốn
Bướm vàng lăn ra ốm
Mình một mình co ro
 Không có ai bầu bạn
Chẳng có người sẻ chia
Bên này chị ong thợ
Vui vầy bên đàn con
Mưa dày trắng núi non
Có dài ngày suốt tháng
Tiếng cười vang như nắng
Như tiếng hội vào xuân
Chị bướm vàng tủi thân
Ngôi nhà tàu lá ướt
Bốn bề chan hoà nước
Không một chút ráo khô
Không tiếng cười trẻ thơ
Không thức ăn đồ uống...
Bao giờ trời mới nắng?
Bướm mới có cái ăn...
Bây giờ bướm mới hiểu
Mới ước được như ong
Những ngày tháng ruổi rong
Những tháng ngày vô vị
Biết rằng mình ngắn nghĩ
Đã già nua kiếp người!...
Bài thơ này bà Cáy đọc lại hai lần Mí Chứ đã thuộc. Mí Chứ chưa hiểu hết ý nghĩa sâu xa của bài thơ nhưng ý nghĩa phê phán sự lười nhác, phê phán lối sống ích kỷ chỉ biết mình thì Mí Chứ hiểu. Và đó là lối sống cần được phê phán, cần phải phê phán.

 
         *

 
Ngày xưa, có tên chúa đất giàu có, đất đai chiếm được bằng cả một huyện bây giờ. Ông ta làm một căn nhà rất to, có hàng rào bao quanh bằng đá rất kiên cố. Gần nhà có một thung lũng bằng phẳng rộng lớn để làm nương trồng ngô. Cả người ở và lính tráng theo hầu ông ta phải đến mấy trăm người. Nhà của ông ta nằm trên con đường thông thương duy nhất của vùng. Ông ta thật khôn ngoan và khéo tính. Hàng hoá thông thương lúc ấy chủ yếu là thuốc phiện, là thứ vàng đen của núi rừng. Ông ta chỉ việc ở nhà nhẹ nhàng mà cất vó những chuyến hàng thuốc phiện đi ngang qua nhà bằng một thứ lệ phí do chính mình đặt ra. Nhờ thế mà của cải nhà ông ta không còn đủ nơi kín để cất giữ, nhiều khi người làm thấy ông ta treo vòng vàng vòng bạc ở cột cái và vách gỗ gần bàn thờ Xử ca. Ông ta tự xưng mình là vua và cai trị một vùng rộng lớn, dân cư đông đúc. Ông ta tự đặt ra các thứ thuế ruộng, thuế nương, thuế chợ... Ông ta ngày càng giàu có. Càng giàu ông ta càng khắt khe với dân ở địa hạt do mình cai quản. Ông ta cho dựng lên một cái cột đá vừa vặn hai người ôm, hai bên có hai cái lỗ xỏ vừa hai bàn tay. Những ai phải chịu hình phạt ông ta bắt ra ôm cột đá không cho ăn uống gì, lả dần đi rồi chết. Ông ta cho đào một cái hố ở cạnh cột đá, người chết chỉ việc hất xuống hố là xong. Có người đã chết rồi nhưng để lâu bị nắng thiêu đốt đến khô cả da thịt. Có người bị mưa trôi đi cả mảng tóc trên đầu để trơ cái xương sọ trắng hếu ra ngoài. Có lần đi săn ông ta bắt gặp hai người một trai một gái cùng lấy củi trong một khu rừng, họ ở cách xa nhau, có cất tiếng gọi họ cũng không nghe thấy lời nhau, ông ta cho rằng hai người kiếm cớ đi lấy củi để tư tình liền cho bắt cả hai người về ôm cột đá cho đến chết. Trong vùng có đôi trai gái nào tự ý đến với nhau mà không có sự đồng ý của cha mẹ, không được sự chấp thuận của dòng họ đều bị ôm cột đá cả đôi cho đến chết. Những người có quan hệ bất chính nếu bị bắt gặp cũng bị ôm cột đá chết cả đôi. Nhân dân trong vùng ai cũng sợ cái cột đá của ông ta, họ gọi là “Cột đá tử thần”. Có lần một người nông dân đi chợ về đã dắt con ngựa ngang qua “Cột đá tử thần”, về đến nhà con ngựa đã không giữ được cái thai trong bụng. Từ đó những người đàn bà có mang không ai dám đi ngang qua “Cột đá tử thần”, nếu có việc phải đi thì họ vòng theo con đường khác, có khi là xa hơn đến ba bốn lần họ vẫn đi để tránh không phải qua nơi ấy...

 
- Thôi, cũng muộn rồi, Mí Chứ về nhà đi, hôm khác bà sẽ kể tiếp cho hai đứa cùng nghe.

 
Mí Chứ uể oải đứng dậy ra về lòng vẫn nuối tiếc câu chuyện bà Cáy kể chưa đến hồi kết thúc. Mặc dầu muốn nghe lắm, nhưng Mí Chứ biết tính bà, bà đã bảo về đi là phải về, không kể nữa là không kể nữa, có nài nỉ thế nào bà cũng không kể. Bà chỉ nói đúng một câu: “Trẻ con phải biết nghe lời người lớn!”

 
Trời đang chuyển gió vào chiều, làn khói bếp đã mờ ảo như màu mây. Mấy con dế bắt đầu lên dây đàn để chuẩn bị cho buổi biểu diễn vĩ cầm vào buổi tối. Mí Chứ bước đi mà trong lòng nảy ra trăm ngàn câu hỏi, không biết tên chúa đất độc ác ấy sau này có bị trừng trị thích đáng không nhỉ, và quan trọng hơn ai là người sẽ đứng ra để trừng trị hắn, cái “Cột đá tử thần” ấy có còn dấu tích đến bây giờ,... Miên man nghĩ mãi, Mí Chứ đã về đến nhà lúc nào không hay. Con chó vàng bỗng dưng nhảy lên tì hai chân trước vào người làm Mí Chứ suýt ngã. Mẹ đã làm xong cơm chiều. Bố vừa đi rừng về cho Mí Chứ một chùm quả chín mọng. Đứa em thấy anh về liền bắt cùng nó chơi đánh yến. Mặc dù chẳng mấy mặn mà nhưng nó vẫn chiều ý thích của em. Bà giục hai đứa đi rửa tay để chuẩn bị ăn cơm. Mí Chứ nghe theo mà bước chân như rất lạ, ý nghĩ vẫn tìm về câu chuyện kể của bà Cáy, vẫn tìm cách và tìm người trừng trị tên chúa đất độc ác.

 
Một lần nữa Mí Chứ lại giật mình khi con chó vàng cào vào chân. Và đêm đã về.
Chân Trời Tím

0
Nơi ngập tràn nắng chiều
 
Chiều hôm nay có mây, chúng lang thang đi dạo.

 
Mây đã làm nắng không trải dài mênh mông mà đọng lại thành từng đốm nhỏ, đọng lại thành từng vệt dài. Nắng cũng biết đi, biết chạy...

 
Phía chân trời, nơi chuyển mây đi, mây chồng chất lên nhau thành đống, mây không trắng mà có màu hơi tối. Từng đám mây bị dát mỏng dần, đi qua mặt trời ánh lên màu trắng sữa, cùng dắt tay nhau chạy về phía đông. 

 
Và chiều, có hơi kém nắng nhưng vẫn sáng, vẫn yểu điệu óng mượt, vẫn nhẹ nhàng duyên dáng, thướt tha...

 
Và chiều, vẫn như thơ như mộng, vẫn sáng trong như giọt sương buổi sớm, vẫn tươi lên sắc thắm mặn mà.

 
Chiều cứ nhẹ nhàng, khiêm nhường như vậy mà sao lòng người không thể dửng dưng, không thể hững hờ, có cái gì như hút lấy tâm hồn, không ồn ào, không náo động mà say mà mê đến quên cả con đường đưa đôi chân về nhà...

 
Mí Chứ đã đứng trên bờ vai của núi. Gió thổi mạnh lắm, đám cỏ đứng không vững phải rạp mình vào đá. Mặt trời vừa ló mặt khỏi đám mây toả ánh nắng chan hoà xuống rừng núi, một màu vàng đặc sánh như mật ong. Một mùi thơm nhè nhẹ thoảng bay trong gió, mùi hoa bạc hà. Những cánh hoa bạc hà bé nhỏ tim tím nhô lên sau khe đá, chúng như được mọc lên từ đá, ăn đá để ra hoa. Mí Chứ ngắt một bông hoa đưa lên mũi ngửi. Một làn gió thổi mạnh như muốn giật lấy bông hoa của Mí Chứ. Những cánh hoa bạc hà của sườn núi lại rạp xuống khe đá, nép mình vào khe đá. Bầy ong thấy động vụt bay lên nháo nhác. Khi làn gió đi qua bầy ong lại sà vào rừng hoa. Có con ong cứ vo ve bay xung quanh Mí Chứ, chắc nó định săm soi bông hoa trên tay Mí Chứ. Mí Chứ giơ bông hoa về phía nó. Nó giật mình bay đi mất.

 
Phía xa kia nhiều nơi không có nắng. Một đám mây nữa lại đang tới sắp che khuất mặt trời. Khoảng nắng vừa chùm lên Mí Chứ đang chạy từng bước rất dài về phía đông. Khoảng râm đang chạy đến sắp chùm lên sườn núi Mí Chứ đang đứng.

 
Mí Chứ bất ngờ khi nhìn thấy Mí Nô đang đứng ở nơi hai đứa đã từng đứng và đang ngắm chiều. Mí Nô đang dán mắt vào buổi chiều, không gì đáng nhìn bằng buổi chiều. Mí Chứ đến bên vỗ mạnh vào vai làm Mí Nô giật mình quay lại. Sau phút ngơ ngác, Mí Nô nở một nụ cười.

 
- Sao bảo cậu sang bên Lùng Pủng? - Mí Chứ hỏi.

 
- Ừ, - Mí Nô trả lời. - Tớ vừa về, đi ngang qua đây thấy chiều đẹp quá nên ghé vào.

 
- Cậu đi một mình à?

 
- Ừ, tớ về một mình.

 
- Thế còn mẹ cậu?

 
- Mẹ tớ phải ở lại, cậu tớ còn yếu lắm. Chiều hôm nay thật đẹp, cậu nhìn nắng kìa, vệt sáng như được đan bằng sợi, từng sợi dài óng mượt như sợi lanh nhuộm sáp ong. Đố cậu biết đám hoa tam giác mạch kia màu gì? Thật khó xác định, xanh, đỏ, tím, vàng, trắng hoà trộn vào nhau. Những hôm trời không nắng, nhìn cả đám hoa ấy chẳng được mấy phần nổi bật, thế mà đến khi bắt nắng thì sáng ghê nhỉ. Lần đầu tiên được nhìn nắng vàng chụm lại soi xuống rừng hoa tớ gần như không còn tin vào mắt mình nữa, không tin màu sắc nổi lên đó là từ những bông hoa cánh nhỏ li ti mà hàng ngày mình vẫn xem thường, chẳng thèm để ý... Cậu nhìn nắng xem, tuyệt vời chưa kìa!...

 
Mí Chứ nhìn theo tay Mí Nô chỉ, nắng xuyên qua đám mây tạo thành vệt như soi đèn pin vào sương mù, vệt sáng hình phễu chụp thẳng xuống mặt đất. Lâu lắm Mí Chứ mới được gặp hiện tượng lạ như vậy. Vệt nắng soi thẳng xuống sườn núi xa xa, Mí Chứ thấy rõ cả rừng cây, cả vạt nương đất ải bạc màu nâu đỏ.

 
- Cậu có biết vì sao lại có sườn núi dát đầy nắng kia không? - Mí Nô hỏi bạn.

 
Chưa đợi trả lời Mí Nô đã tiếp tục.

 
- Ngày xưa, vào một mùa vụ nàng Tiên Ngô bị ốm. Ông Sí Dì giao cho nàng Tiên Gạo làm cả phần việc của nàng Tiên Ngô. Nàng Tiên Gạo dậy từ rất sớm, nàng đi gieo hạt khắp trần gian, nàng miệt mài làm việc quên cả trưa, quên cả chiều. Trời đã qua chiều sắp tối mà cái gùi trên lưng nàng vẫn còn nặng trĩu. Hai bàn tay mỏi nhừ, nàng vẫn cố gieo cho hết hạt. Nhưng trời ngày càng kém sáng, nàng Tiên Gạo có cơ hồ phải bỏ dở công việc gieo hạt. Mặt trời thương nàng vất vả, thương người chăm chỉ, mặc dầu đã quá giờ đi ngủ nhưng vẫn cố nán lại để nàng Tiên Gạo làm cho xong công việc của mình. Nàng Tiên Gạo dẫu rất cố gắng nhưng vẫn bị bóng tối ngăn trở, nàng gieo nhầm cả hạt lúa vào rừng cây. Bóng tối đã dày lên, nàng không gieo được nữa. Nàng ngửa mặt nhìn trời nước mắt ứa ra. Trong gùi chỉ còn một ít hạt, nàng chưa biết làm cách nào để gieo cho hết được. Mặt trời nghĩ mãi rồi cũng tìm ra cách để giúp nàng Tiên Gạo. Những ánh vàng vung vãi từ ban ngày được gom lại, ánh vàng đó chỉ đủ sáng một khoảng nhỏ. Trời vén mây đổ những ánh vàng vừa gom được xuống nương lúa mà nàng Tiên Gạo đang gieo. Nàng vội vàng vung tay ra hạt. Khắp đất trời chỉ có nơi làm việc của nàng Tiên Gạo là có nắng. Ánh nắng trải xuống nương lúa của nàng nhìn xa giống như được kéo thành sợi. Từng sợi nắng nối liền trời với đất. Và từ khi ấy người ta gọi thứ nắng đó là "nắng nàng tiên".

 
Mây vẫn bị dát mỏng và chuyển đều đều về phía đông. "Nắng nàng tiên" yếu dần. Mặt trời hiện ra, nắng nhạt hẳn độ sáng. Mặt trời lại khuất sau chòm mây.

 
- Chắc không còn được nhìn thấy mặt trời nữa đâu nhỉ? - Mí Nô hỏi nhỏ. - Sườn núi chắc cũng không còn được nhuộm nắng nữa nhỉ?

 
Mí Chứ đang nhìn theo cánh chim bay cắt ngang qua trời chiều.

 
- Hả?... À... Ừ...

 
Không còn nắng ở sườn núi Xín Chải nữa, nắng ở tít nơi xa tắp kia. Nắng đang yếu dần và đang tàn đi.

 
Rồi nắng tắt, bầu trời chuyển chiều vào đêm. Đã đến lúc Mí Chứ và Mí Nô phải quay về.

 
Ngày mai sẽ có một chiều mới.

 
Ngày mai, rồi ngày mai. Chiều, rồi lại chiều. Nhưng với ngày mai thì hôm nay là quá khứ. Và chiều nay sẽ không bao giờ còn trở lại.

 
Mí Nô đã đi được một đoạn. Mí Chứ vẫn đứng đấy nhìn vào nơi mà mới trước đó không lâu vẫn còn có mặt trời, bây giờ đã chuyển sang màu xám đục và đang tối dần. Mí Nô phải giục mấy lần Mí Chứ mới chịu ra về.

 
Chiều quê đẹp quá, thân thương và thơ mộng quá!... Chân bước đi mà lòng còn lưu luyến mãi.

 
Mí Chứ đi rồi, nơi ấy đang vào đêm, nơi ấy chỉ còn tiếng gió, nơi ấy đã vắng bóng chiều./.

 
Chân Trời Tím

0