6. Khám phá
Mí Chứ đã tới góc rừng, nơi cuối con đường mòn có bốn cây lát hoa cổ thụ mọc liền kề nhau. Chiều về, bóng cây đổ dài thành một đường thẳng. Hôm nay hình như có điều gì khác lạ, gió thổi thành từng cơn rung rinh tán lá, bóng cây nơi mặt đất vuông tròn nghiêng ngả. Có lần Mí Chứ đã dừng lại ở đây rất lâu ngắm con đường mòn sáng rực lên dưới nắng.
Từ đây đến chỗ sườn núi của Mí Chứ vẫn còn một đoạn xa.
Bố kể, xưa kia núi Xín Chải nhiều cây lắm, có cây to đến mức đi bộ mất hai ngày mới được một vòng quanh gốc, ấy là lúc trời đất còn ở gần nhau. Chim muông, sư tử, hươu, nai, gấu, khỉ,... rất nhiều, chúng nhảy múa ca hát suốt ngày, rừng núi luôn ồn ào náo động. Những người thợ săn quanh vùng không ai dám lên núi, không ai dám bắn thú rừng trên núi. Trước họ đã có bao người đi qua nơi ấy mà không thấy về, giơ nỏ bắn chim trên núi, về nhà tự nhiên đau ốm rồi không thở được nữa.
Trong vùng có người thợ săn lừng danh tên là Sùng Chá Toả có tài phi lao mười lần trúng một chỗ, có tài bắn nỏ mười mũi tên nối đuôi nhau. Anh đi chu du khắp đó đây, số thú rừng bị anh ta giết hại không làm sao đếm xuể. Một hôm đến chân núi Xín Chải nghe mọi người kể và nghe tiếng đàn nhạc của chim thú vọng vang bước chân bồn chồn muốn được đi ngay lên núi. Anh rủ thêm mấy người bạn nhưng họ đều khéo léo chối từ. Anh nghĩ núi nào mà chẳng là núi, chim muông thú rừng nào cũng như nhau. Anh không tin rằng mũi tên của mình không hạ nổi con chim, con thú trên núi Xín Chải. Anh quyết định sẽ lên núi một mình, chứng minh cho mọi người thấy rằng nơi ấy cũng chỉ là một ngọn núi bình thường như những ngọn núi trong vùng, không có gì khác lạ. Điều mà mọi người truyền tai nhau chỉ là những chuyện thêu dệt, những chuyện hoang đường mang tính huyền thoại. Tiếng chim kêu vượn hót vang vọng khắp núi rừng có những âm thanh trầm ấm vang xa hơn nơi khác là nhờ có vách núi dựng đứng ở bên cạnh, tiếng hót va vào dãy núi rồi dội lại. Tiếng dội lại bao giờ cũng vang hơn tiếng hót ban đầu.
Sùng Chá Toả liền bắt tay ngay vào công việc chuẩn bị những đồ dùng cần thiết để lên núi.
Anh ngồi miệt mài suốt ba tháng mới làm xong một mũi tên. Anh thả mũi tên xuống đất, mũi tên xuyên thủng đoạn gỗ nghiến đang ngồi lên. Anh làm vừa chẵn mười mũi tên. Anh ngồi tiếp bốn tháng nữa mới làm xong một mũi lao. Mũi lao được giơ lên khua vài cái, nắng gãy vụn lả tả rơi xuống chân. Anh làm chẵn mười mũi lao. Anh lại ngồi tiếp sáu tháng làm ra một thanh đoản kiếm. Kiếm vừa giơ lên, gió đang chạy bị cụt mất đuôi không chạy được nữa nằm yên một chỗ.
Vào một hôm trời xanh trong, nắng ửng hồng phía đông, anh khoác toàn bộ các thứ đã chuẩn bị lên người và hướng về phía núi Xín Chải. Vừa đi được mấy bước, con gà trống đứng trên hòn đá lớn đầu ngõ cất tiếng gáy:
- Ò... ó... o...
Này anh Sùng Chá Toả
Đường rừng trăm ngàn ngả
Lối rừng vạn lối đi
Cuộc đời có mấy thì
Anh hùng vạn chốn thi
Cần chi phải lên núi
Xín Chải con đường tối
Đi không có ngày về
Không về, không về!
Sùng Chá Toả không thèm nhìn con gà, dửng dưng đi qua.
Đi ròng rã một tuần anh đến chân núi Xín Chải, đá tai mèo đã cứa rách chín đôi giày cỏ, máu đang ứa ra đôi giày thứ mười, bàn tay và cẳng tay bị cây rừng cào rướm máu. Anh tựa lưng vào tảng đá lớn nghỉ cho lại sức. Tiếng hò hét ca hát đã rất gần. Anh có thể nhận ra tiếng của từng loài động vật. Xen giữa tiếng trong leo lẻo của hoạ mi, khiếu, yểng, là tiếng trầm, đục, khoẻ của sư tử, tiếng rè rè của đàn dê, tiếng choe choé của lũ khỉ,... Anh ngửa mặt nhìn trời, chiều vừa xế bóng, vài giọt nắng còn đọng lại trên đỉnh núi. Bỗng anh nghe thấy tiếng hát của người tiều phu, rất vang, rất rõ:
Chiều, trên vai một ngày
Ta, trên vai ngọn núi
Qua chiều trời sắp tối
Ta vác củi về nhà
Ta hát một bài ca
Biết ơn người giữ lửa
Cho ta vầng than đỏ
Cho ta ấm đêm dài
Cũng thoả chí làm trai
Ta đây cũng như ai
Nhóm cho đời ánh lửa...
Tiếng hát xa xa rồi chìm dần vào trời chiều. Bóng tối xuống thật nhanh, Chá Toả cũng nhanh chóng tạo cho mình một căn lều từ cành cây và lá rừng để ngủ qua đêm. Trời khuya lạnh ngắt, tiếng ồn ào dịu bớt. Chá Toả cũng đã ngủ say từ lúc nào.
Sáng sớm, sương mù giăng trắng xoá, bốn bề yên ắng lạ thường, Chá Toả vươn vai xoay ba vòng, căn lều bị hất tung mỗi nơi một thứ. Chá Toả khoác hành lý lên vai tiếp tục cuộc hành trình. Sương mù ngày một dày hơn, Chá Toả vẫn bước. Sương đặc quánh lại, con mắt không nhìn thấy bàn chân, Chá Toả vẫn đi, bước sau cao hơn bước trước. Đá núi gập ghềnh lởm chởm, bước chân chênh vênh trơn trượt. Chá Toả vẫn dò tìm từng bước một, từng bước một khó nhọc, anh tin chắc rằng bước chân dẫu bị sương mù chắn lối vẫn có thể vượt qua trăm ngàn ngọn núi.
Mặt trời ló rạng, một quầng than hồng tròn trịa treo lơ lửng giữa màu trắng bạc. Sương tan dần, trời quang hơn, chim muông cất tiếng hót, thú rừng cất tiếng ca, bàn chân Chá Toả vẫn đi. Con mắt Chá Toả luôn kiếm tìm, vậy mà vẫn chưa hề gặp một con chim, con thú nào. Cây cối rậm rịt cao chót vót, thảng hoặc mới có một khoảng trống nho nhỏ đủ để Chá Toả nhìn thấy mặt trời.
Ánh nắng xuyên qua kẽ lá rơi lốm đốm xuống mặt đất, từng tia vàng nhảy múa, nô đùa trước mắt Chá Toả. Gió bắt đầu đi dạo, gió xô nhau ầm ào, gió đưa tay véo mũi đá, gió giơ chân đạp vào tán cây rừng làm lá vàng rơi lả tả, có cây bị gió đạp cho nghiêng ngả...
- Này anh kia!
Chá Toả giật mình quay lại, một con vẹt có bộ lông ngũ sắc giận dữ nhìn anh.
- Anh xem lại trí khôn của mình có to hơn cái mũi trên mặt, có lớn hơn cái tai trên đầu mà đưa chân tới nơi này. Anh có biết bao kẻ vì kém khôn mà bỏ mạng, vì đần độn mà quên xác, vì ngu si mà hết đời...
Chá Toả khinh thường con vẹt nhãi nhép, chân anh vẫn bước.
Sang ngày thứ tư từ hôm được nghe tiếng hát người tiều phu Chá Toả đã đi được nửa đường lên đỉnh núi Xín Chải. Con vẹt là con vật anh gặp đầu tiên kể từ hôm ấy. Tiếng hát ca của chim muông thú rừng vẫn rộn vang. Chá Toả không ngừng nhịp bước, đôi tai luôn nghe ngóng những tiếng động lạ, nhưng tuyệt nhiên không thấy có tiếng động nào khác ngoài những tiếng đã từng nghe từ lúc đặt chân lên núi. Đôi mắt Chá Toả luôn mở to săn tìm dấu chân hằn in trên đất, nhưng cũng chưa tìm được dấu chân nào. Đá tai mèo sắc nhọn, lá rừng rụng đầy trong hốc, bước chân dẫm lên lào xào. Đi được một quãng xa, tiếng con vẹt không còn nhí nhéo nữa, xung quanh vẫn không có gì thay đổi, chỉ thấy lạnh, chỗ nào cũng lạnh.
Hôm nay âm u mây gió, bước chân Chá Toả không còn mạnh như mấy hôm trước, hai đầu gối bắt đầu run. Chá Toả tựa lưng vào tảng đá, bàn chân không hiểu sao cứ trượt dần về phía trước. Chá Toả chỉnh lại tư thế đứng cho khỏi ngã nhưng bàn chân vẫn cứ trơn trượt, đám lá bị đẩy lên thành đống, bàn chân bỗng gặp một vật gì cồm cộm dầy dầy. Chá Toả ngồi xuống thò tay bới. Một cái đầu lâu đen sì với hai hố mắt sâu hoắm đen ngòm lộ ra. Chá Toả gạt sâu hơn, rộng hơn xuống đám lá, từng đốt xương sống, từng giẻ xương sườn lộ dần.
Ngồi nghỉ một lát rồi Chá Toả đứng dậy. Chá Toả bước tiếp. Chá Toả vẫn đi lên núi. Chá Toả quyết không lùi bước. Những điều cần khám phá vẫn còn ở phía trước. Hội thi ca, vũ, kịch của chim muông thú rừng vẫn còn ở phía trước thì đôi chân Chá Toả không có lý do gì không đi tiếp về hướng ấy.
Tuyết bắt đầu rơi, từng hạt nhỏ như bông gòn bay phấp phới. Chá Toả vẫn bước. Tuyết dày hơn, lá rừng nặng tuyết rơi lộp bộp. Đôi chân Chá Toả vẫn không ngưng nghỉ. Tuyết rơi dày đặc, núi rừng ngập tràn những tuyết, trắng xoá khắp mọi nơi. Cành cây gẫy răng rắc trước sức nặng của tuyết. Chá Toả không còn bước được nữa, anh đã bị một cành cây đầy tuyết gẫy xuống phủ kín cả người. Sùng Chá Toả đã hoá đá từ đấy.
Từ ngày trời đất xa nhau núi Xín Chải bớt lạnh đi nhiều, hoạ hoằn lắm mới thấy một năm có tuyết bay, bay rất mỏng, chỉ lốm đốm trắng trên màu xanh cỏ cây. Và hình như núi Xín Chải cũng thấp hơn ngày xưa thì phải.
Sùng Chá Toả đã đi gần được lên tới đỉnh núi. Nơi sườn phía đông, anh hoá đá khi đôi chân đang ở tư thế bước lên, đôi mắt hướng lên, một tay cầm lao, một tay cầm nỏ. Chỉ tiếc là đến khi chết anh vẫn chưa khám phá ra hội thi ca vũ kịch của chim muông thú rừng.
Hội thi đó đến bây giờ vẫn chưa ai nhìn thấy!
7. Những câu chuyện của bà Cáy
Lũ trẻ trong xóm được nghe bà Cáy kể chuyện hôm trước thì hôm sau thế nào cũng tìm đến đòi bà kể chuyện tiếp. Mí Chứ cũng vậy, mấy hôm đầu ngày nào nó cũng có mặt tại nhà bà Cáy. Lời bà kể nhẹ nhàng dí dỏm làm bọn trẻ thỉnh thoảng lại cười ồ lên sung sướng...
Bà Cáy kể nhiều về những chuyện ngày xưa, ngày bà còn bé đi ở cho tổng giáp, mã phái... Rồi bà kể truyện cổ tích, truyện thần thoại, truyện ngụ ngôn... Bà có cả một kho truyện. Mí Chứ có cảm tưởng bà cứ ngồi đó mà kể chuyện cho mọi người nghe thì có ngồi cả ngày, cả tháng cũng vẫn chưa hết chuyện để kể.
*
Ngày xưa, lúc ấy chưa có buổi chiều, chỉ có sáng, trưa và tối. Trời vừa rửa mặt đã rạng rỡ đến đứng bóng, nắng đang gắt gay thì bị tắt phụt và bóng tối hoành hành. Bóng tối cậy mình có thế lực không ngần ngại quết mực đen lên vạn vật. Cứ sau trưa là bầu trời đã tối, cỏ cây ngày một ít dần màu xanh, con người ngày một gầy yếu, muông thú đi lại chậm chạp. Ngọc Hoàng mấy lần ra lệnh cho thần Bóng Đêm thu bớt tấm màn nhung đen lại. Thần Bóng Đêm không những đã phớt lờ lệnh của Ngọc Hoàng mà còn có ý định may thêm cho tấm màn nhung rộng ra để chiếm luôn cả buổi trưa và buổi sáng. Ngọc Hoàng ra chiếu chỉ, ai làm cho thần Bóng Đêm thu bớt màn lại sẽ được thưởng vương miện và tấm áo choàng đỏ. Đến Ngọc Hoàng còn bất lực nên các thần tiên trên trời không ai có ý kiến gì. Chiếu chỉ của Ngọc Hoàng được ban xuống hạ giới, đợi mãi vẫn không thấy ai lên tiếng. Ngọc Hoàng rất thất vọng, chưa tìm ra cách gì đối phó với thần Bóng Đêm. Trong khi đó thần Bóng Đêm đã may cho màn rộng ra và chiếm mất buổi trưa, lúc này chỉ còn buổi sáng và tối. Ngọc Hoàng buồn ủ rũ bỏ cả triều chính, con mắt các thần nhìn Ngọc Hoàng kém phần kính trọng đi rất nhiều. Đợi mãi rồi cũng có được người lên tiếng, đó là anh em nhà gà. Thấy họ nhỏ bé quá Ngọc Hoàng tỏ ý ái ngại: “Các ngươi có được mấy phần sức lực mà dám đối đầu với thần Bóng Đêm?” Cả hai anh em nhà gà đều cười: “Để biết được ai hơn ai, cúi xin Ngọc Hoàng cứ cho chúng thần thử sức thì mới biết.” Ngọc Hoàng đồng ý cho lập hai cái đài gần nhau theo đề nghị của anh em nhà gà để làm phép. Đến giờ đã định, anh em nhà gà nhảy lên bậc cao nhất của cái đài gáy hai hồi thật dài. Tiếng gáy làm trời đất nghiêng ngả, đất đá chỗ sụt xuống chỗ bồi lên, những người gần đó tai như bị ai chọc, đầu óc quay cuồng đứng không vững. Mọi người vội vàng lấy tay bịt tai lại. Thần Bóng Đêm cũng vội vàng lấy hai tay ấp vào tai, thế là tấm màn nhung đen bị kéo lên thu nhỏ lại. Từ đây đã có thêm buổi chiều. Trời đất có đủ sáng, trưa, chiều, tối. Gà anh có tiếng gáy khoẻ, vang xa hơn. Ngọc Hoàng đội lên đầu gà anh vương miện mào cờ và một tấm áo choàng đỏ. Gà em gáy nhỏ, ít vang hơn. Ngọc Hoàng đội lên đầu gà em vương miện mào sít và một tấm áo choàng đỏ. Khi anh em nhà gà ra về Ngọc Hoàng đã nói nhỏ vào tai anh em họ là nên gáy nho nhỏ thôi để khỏi ảnh hưởng đến trời đất và để nhắc thần Bóng Đêm đừng có bỏ tay ra khỏi tai. Từ đó, lúc thì gà anh, lúc thì gà em, lúc thì cả hai anh em thay nhau gáy suốt cả ngày, thần Bóng Đêm đã không dám rời tay ra khỏi tai. Khi gà anh và gà em đi ngủ, thần Bóng Đêm mới nhẹ nhàng tung tấm màn nhung trùm kín cả trời đất. Khi anh em nhà gà thức dậy, thần Bóng Đêm lại vội vàng đưa tay lên bịt lấy hai lỗ tai. Và cứ thế, ngày lại ngày trôi qua như vậy.
*
Ở bản nọ có gia đình người thợ rèn chăm chỉ, đến cuối đời tích cóp được một gia tài cũng tạm gọi là khá giả. Vợ chồng họ chỉ có duy nhất một cậu con trai. Cậu ta ỷ lại vào bố mẹ, chẳng chịu làm gì, suốt ngày chỉ ăn rồi rong chơi. Cậu đi hết bản này đến bản khác, núi rừng này đến núi rừng khác, nơi nào có tổ chức lễ hội là cậu tìm đến. Cậu tiêu tiền vào những việc ăn chơi một cách vô tội vạ. Cha cậu buồn lắm, mấy lần ông nhắc cậu phải cố học cho lấy một nghề để sau này còn biết làm mà nuôi thân. Cậu chỉ vào đầu mình nói rằng trong đó có một dự định to lớn đang hình thành, cậu sẽ sống một cuộc đời khác biệt, khác hẳn với mọi người, cậu sẽ học những gì cậu cho là cần thiết. Đi đâu cậu cũng khoe rằng cậu có một dự định to lớn đang hình thành, và sắp có trên thực tế.
Bố mẹ về già, cậu vẫn chẳng chịu làm gì. Bố mẹ qua đời, cậu vẫn không có gì thay đổi. Gia tài dù giàu có, nếu chỉ ăn mà không làm rồi cũng đến ngày cạn kiệt. Của cải được thừa hưởng chẳng cho cậu no đủ được bao lâu. Khi không còn gì để ăn cậu nghĩ ra một cách là tìm đến những nơi quen thân để vay mượn về ăn. Cậu nói dối là đang cần số vốn lớn để thực hiện một dự định lớn. Khi vay được thì cậu hỉ hả cám ơn họ. Ai không cho vay, lần sau cậu lại tìm đến. Lời cậu nói thật khéo, trơn như ống điếu, ngọt như mật ong rừng, nhiều người thấy cậu đến đã tự thề với mình là nhất quyết không cho cậu vay nhưng sau khi nói chuyện với cậu một lúc lại lấy tiền đưa cho cậu. Khi cậu về họ lại tự rủa mình đã không giữ được ý định ban đầu. Những người cho cậu vay, chẳng bao giờ thấy cậu trả lại dù là một đồng lẻ. Nếu ai có ý định đòi nợ thì cậu tránh mặt, nếu không tránh được thì cậu nói dối quanh, nếu ai to tiếng hay đến đòi nhiều lần thì cậu nổi khùng: “Thân xác tôi đấy các người xả ra mà đem bán lấy tiền!” Họ cũng chỉ mắc với cậu một vài lần, tiếp chuyện với cậu một vài lần, sau nữa thành người không quen biết và dĩ nhiên sẽ không bao giờ cậu vay được tiền của họ nữa. Cậu không biết làm gì khác ngoài việc than thân và chửi bới thiên hạ bạc bẽo, đối xử với nhau độc ác, không có tính người... Gặp ai cậu cũng thấy họ giàu có hơn mình, sung sướng hơn mình. "Thiên hạ này rặt một lũ người keo kiệt, không ai có được một chút lòng nhân hậu!" - Câu cửa miệng của cậu là vậy.
Cậu đi khắp nơi, tìm đến những người bạn mà khi xưa, lúc cậu còn giàu có đã từng thân thiết với cậu. Nhiều người quay mặt đi khi nhìn thấy cậu, nhiều người tiếp cậu như một việc làm bất đắc dĩ, lời nói của họ được câu trước, câu sau đã bóng gió đuổi cậu về, chẳng bù cho ngày xưa họ coi cậu là ân nhân, thánh thần, là cha mẹ tái thế...
Cậu lại ra đi, lại lang bạt khắp nơi. Một hôm cậu lạc bước đến cổng một gia đình giàu có. Nhìn cái cổng cậu có thể đoán được gia đình này giàu có đến mức nào, hai cánh cổng bằng gỗ lim rất chắc chắn, mái cổng được lợp bằng ngói vươn dài về phía trước, tường rào được xây bằng đá kiên cố. Cậu đã lả đi vì đói. Cậu ngồi tựa lưng vào cánh cổng để tránh những hạt mưa xuân đang giăng giăng đầy trời. Cậu đã ngồi ở đấy rất lâu. Rồi cánh cổng được mở, một người đàn ông to lớn ăn vận gọn gàng bước ra. Ông ta không nhận ra cậu. Còn cậu nhận ngay ra ông ta, vẫn cái dáng cao lớn, khuôn mặt vuông vuông, nước da bánh mật. Ông ta của mấy năm về trước khác hẳn với cái dáng đi đường bệ bây giờ. Ông ta khi ấy không có một xu trong túi, ăn mặc rách rưới. Ông ta đến nhờ cậu giúp đỡ, cậu đã kênh kiệu nhổ nước bọt vào mặt ông ta và đuổi về.
- Ông Páo, - cậu lên tiếng.
Người đàn ông nhìn cậu kỹ hơn và nhận ra người cũ. Ông ta mời cậu vào nhà và làm cơm mời cậu. Trong bữa ăn ông ta không hề nhắc tới chuyện ngày xưa, còn cậu đã nói rất nhiều tới những ngày bố mẹ cậu còn sống.
- Thiên hạ toàn những người bạc bẽo, - cậu nói hăng quá bắn cả mèn mén ở trong mồm ra ngoài. - Ông thấy tôi nói có đúng không, thiên hạ rặt một phường giả dối, một đống ích kỷ, không có lòng nhân từ, không biết thương người. Từ ngày bỏ hẳn cái lò rèn cũ kỹ ấy, ông là người tốt duy nhất mà tôi gặp, nếu tôi nói sai sẽ bị ngã gãy cổ, bị cây đổ nát xương...
- Cậu có muốn chấn hưng lại lò rèn của bố cậu không, tôi sẽ giúp cậu một ít tiền. - Ông Páo lên tiếng.
- Ối dào, - cậu gạt phắt. - Báu vào cái lò cũ nát bẩn thỉu ấy, chân tay đen nhẻm suốt ngày mà tiền bạc kiếm được chẳng đáng là bao.
- Bố mẹ cậu đã trở nên giàu có từ cái lò rèn đó thôi! - Ông Páo cắt ngang lời cậu.
- Họ khác, tôi khác, tôi muốn làm việc lớn hơn, tôi có một dự định cực kỳ lớn đang hình thành, tôi cần rất nhiều vốn. Ông có tiền, cho tôi vay một ít, tôi sẽ đầu tư vào nơi xứng đáng, sẽ trả ông đúng hẹn, đủ cả lãi lẫn gốc.
Ông Páo không nói nữa vì biết rằng cậu cũng chẳng muốn nghe.
Khi cậu cáo biệt ra về, ông Páo lấy một ít tiền đưa cho cậu. Ông chỉ đưa, không nói gì. Cậu cầm tiền, cám ơn ông Páo đến mấy lần. Cậu ra đi, ông Páo vội khoá cổng lại.
Cậu lại tiếp tục cuộc hành trình, có tiền thì phải tiêu thôi. Hai ngày sau số tiền ông Páo đưa đã ra đi nhẵn nhụi. Hết tiền, cậu lại vật vờ như cái bóng, sống bằng lòng bố thí của thiên hạ.
Một hôm người ta phát hiện ra cậu nằm co trong hang đá. Cậu không còn thở nữa. Cậu đã chết! Cậu chết rồi mà chưa ai được nhìn thấy dự định lớn lao của cậu hình thành trên trái đất.
*
Trên cành đào có bầy kiến nâu làm tổ, cả đàn luôn tất bật suốt ngày. Chúng nhào vôi vữa xây nhà. Chúng tích luỹ lương thực cho đầy ắp các kho. Chúng lao động và lao động, chúng hát vang bài ca lao động. Trong đàn có duy nhất anh em kiến mồ côi được cả đàn cưng chiều, ăn ngủ đẫy giấc nên lớn lên mắc phải chứng lười lao động. Mỗi lần đến phiên mình phải đi kiếm mồi thì luôn tìm mọi cách viện đủ mọi lý do nào chân đau, bụng đau, xương cốt đau để được ở nhà. Khi không còn lý do gì để viện, hai anh em ra đi với bước chân uể oải của kẻ buồn ngủ, tấm thân mệt mỏi của kẻ bị bỏ đói dài ngày. Khi bị nhắc nhở, phê bình, anh em kiến mồ côi chăm chỉ hẳn lên, nhưng cũng chỉ được mấy ngày rồi lại lười như cũ. Phê bình đi, phê bình lại, chán cả phê bình.
Sáng nay, anh em kiến mồ côi phải dậy sớm hơn mọi ngày để đi kiếm mồi. Đàn kiến thợ mừng rỡ khi thấy anh em họ đi làm cùng. Đi được một đoạn kiến anh hỏi viên chỉ huy:
- Chúng ta phải đi đâu, có xa bằng hôm nọ không?
- Chúng ta phải đi xa hơn, đường khó hơn, kiến trinh sát về báo ở nơi ấy có nhiều lương thực lắm. - Kiến chỉ huy trả lời.
Nghe thấy thế anh em kiến mồ côi cố tình đi lùi lại sau rồi tách khỏi đàn sang con đường khác. Đi được một đoạn hai anh em tìm thấy một mấu cây ấm áp bèn ghé vào ngả lưng làm giấc ngủ ngon lành. Khi tỉnh dậy trời đã xế chiều, hai anh em vội đi tìm thức ăn. Khi tìm được thức ăn vừa đủ số lượng để nộp vào kho nhưng do đói quá không làm sao nhấc nổi khối thức ăn để mang về tổ, kiến anh nghĩ ra được một cách là ăn vào bụng một ít cho nhẹ bớt sẽ mang về dễ hơn. Về đến tổ, kiến canh cửa thấy số lượng lương thực anh em kiến mồ côi mang về không đủ bèn ngăn lại. Kiến anh vội nói:
- Đáng lẽ ra anh em tôi đã mang về gấp ba số lương thực này nếu ngang đường không gặp một bác kiến già đói lả đang nằm chờ chết và mẹ con chị kiến đen ôm nhau khóc vì không có cái ăn. Trước cảnh tượng ấy chúng tôi không đành lòng mang thức ăn về mà không giúp đỡ họ, thế là chúng tôi xẻ cho mỗi người một ít thức ăn cho đỡ đói.
Kiến canh cửa thấy anh em kiến mồ côi có lòng thương đồng loại như thế thì không có lý do gì không cho anh em họ vào cửa. Hai anh em kiến mồ côi nhìn nhau tủm tỉm cười.
Lần sau, hai anh em kiến mồ côi vẫn tìm mấu cây ấm áp đánh một giấc say sưa đến tận chiều rồi mới cuống cuồng đi tìm thức ăn, nhưng rủi thay lần này không tìm thấy thứ gì có thể ăn được. Trời tối mịt hai anh em mới tìm về đến tổ, bụng đói, mắt hoa, bước thấp bước cao vẹo và vẹo vọ. Kiến canh cửa ngăn lại, kiến anh nói:
- Đáng lẽ ra anh em tôi đã mang về rất nhiều thức ăn, nhưng trên đường đi về gặp một bác kiến nâu đã già yếu lắm vừa ngồi bên đường vừa khóc. Anh em tôi dừng lại hỏi thăm thì được biết ngôi nhà mà bác ấy đã phải lao động cả một đời vất vả mới dựng được đã bị chiếc lá cây rơi xuống va vào mái nhà, phần nóc bị sạt một mảng lớn, ít thức ăn dự trữ để trên nóc nhà không biết đã văng đi đâu mất. Anh em tôi thấy thương bác ấy quá bèn rủ nhau tình nguyện lợp lại mái nhà cho bác và biếu luôn bác kiến già số thức ăn nặng trịch trên vai. Anh em tôi làm cật lực đến bây giờ mới xong, mệt bã cả người!
Kiến canh cửa thấy anh em kiến mồ côi không những biết thương người mà còn biết giúp đỡ người khác trong cơn hoạn nạn đã rất cảm động thưởng cho hai anh em một bữa ăn thịnh soạn. Kiến mồ côi xúc động vừa ăn vừa khen rối rít kiến canh cửa biết nhìn người, biết trọng việc nghĩa, biết đối đãi tử tế với người tốt. Ăn xong, anh em kiến mồ côi về nhà ngủ một giấc ngon lành.
Anh em kiến mồ côi tự cho mình là những người tài giỏi, chỉ cần uốn ba tấc lưỡi là được ngủ thoải mái, ăn một bữa tuyệt ngon và quan trọng hơn là chẳng tốn mấy sức lực. Hai anh em đắc ý về chiến công của mình, đi đứng có vẻ khệnh khạng oai vệ lắm.
Lần này, hai anh em kiến mồ côi không có lý do gì không tìm một mấu cây ấm áp làm một giấc thật say, khi về chỉ cần bịa ra một câu chuyện có tí cảm động là được ăn uống thoả thích, kiếm mồi làm gì cho nhọc sức mệt người.
Hai anh em tỉnh ngủ khi trời mới xế chiều nhưng chẳng ai thèm dậy, cố nằm đợi trời tối.
Khi bóng đêm buông màn hai anh em mới uể oải đứng dậy ra về. Vừa trông thấy kiến canh cửa, kiến anh đã vội nói:
- Đáng lẽ ra...
- Không cần phải nói nữa! - Kiến canh cửa cắt ngang lời kiến anh. - Tôi biết anh định kể cho tôi nghe chuyện gì, một câu chuyện có cánh về công việc cứu giúp người gặp hoạn nạn chứ gì. Không cần phải kể nữa. Nơi đây không tiếp nhận những kẻ lười biếng, càng không muốn những kẻ dối trá có mặt. Vậy hai anh hãy đi đi, đến nơi nào thì đến.
Kiến canh cửa khép mạnh cánh cửa bỏ mặc hai anh em kiến mồ côi ngơ ngác nhìn nhau chưa hiểu đã xảy ra chuyện gì.
*
Ngoài kể chuyện bà Cáy còn đọc thơ, một bài thơ đặc biệt, nói đúng ra là một câu chuyện bằng thơ.
Buổi sáng trời mát trong
Ngàn cánh hoa đua nở
Thơm nức cả góc rừng
Thơm như từ muôn thuở
Ơ kìa chị ong thợ
Đi đâu mà vội vàng
Hoa rừng có cả ngàn
Lo gì không có mật!
Cô bướm vàng chân thật
Lời lẽ thật khẽ khàng
Ong thợ đáp nhẹ nhàng:
Tôi xây nhà xây cửa!
Bướm vàng buông lời mỉa
Cần chi phải cửa nhà
Ta hãy sống cho ta
Một mình là tất cả...
Trời bỗng chuyển gió lạ
Rồi mưa rơi dầm dề
Ong thợ có nhà về
Bướm vàng chẳng có quê
Đi lang thang khắp chốn
Bướm vàng lăn ra ốm
Mình một mình co ro
Không có ai bầu bạn
Chẳng có người sẻ chia
Bên này chị ong thợ
Vui vầy bên đàn con
Mưa dày trắng núi non
Có dài ngày suốt tháng
Tiếng cười vang như nắng
Như tiếng hội vào xuân
Chị bướm vàng tủi thân
Ngôi nhà tàu lá ướt
Bốn bề chan hoà nước
Không một chút ráo khô
Không tiếng cười trẻ thơ
Không thức ăn đồ uống...
Bao giờ trời mới nắng?
Bướm mới có cái ăn...
Bây giờ bướm mới hiểu
Mới ước được như ong
Những ngày tháng ruổi rong
Những tháng ngày vô vị
Biết rằng mình ngắn nghĩ
Đã già nua kiếp người!...
Bài thơ này bà Cáy đọc lại hai lần Mí Chứ đã thuộc. Mí Chứ chưa hiểu hết ý nghĩa sâu xa của bài thơ nhưng ý nghĩa phê phán sự lười nhác, phê phán lối sống ích kỷ chỉ biết mình thì Mí Chứ hiểu. Và đó là lối sống cần được phê phán, cần phải phê phán.
*
Ngày xưa, có tên chúa đất giàu có, đất đai chiếm được bằng cả một huyện bây giờ. Ông ta làm một căn nhà rất to, có hàng rào bao quanh bằng đá rất kiên cố. Gần nhà có một thung lũng bằng phẳng rộng lớn để làm nương trồng ngô. Cả người ở và lính tráng theo hầu ông ta phải đến mấy trăm người. Nhà của ông ta nằm trên con đường thông thương duy nhất của vùng. Ông ta thật khôn ngoan và khéo tính. Hàng hoá thông thương lúc ấy chủ yếu là thuốc phiện, là thứ vàng đen của núi rừng. Ông ta chỉ việc ở nhà nhẹ nhàng mà cất vó những chuyến hàng thuốc phiện đi ngang qua nhà bằng một thứ lệ phí do chính mình đặt ra. Nhờ thế mà của cải nhà ông ta không còn đủ nơi kín để cất giữ, nhiều khi người làm thấy ông ta treo vòng vàng vòng bạc ở cột cái và vách gỗ gần bàn thờ Xử ca. Ông ta tự xưng mình là vua và cai trị một vùng rộng lớn, dân cư đông đúc. Ông ta tự đặt ra các thứ thuế ruộng, thuế nương, thuế chợ... Ông ta ngày càng giàu có. Càng giàu ông ta càng khắt khe với dân ở địa hạt do mình cai quản. Ông ta cho dựng lên một cái cột đá vừa vặn hai người ôm, hai bên có hai cái lỗ xỏ vừa hai bàn tay. Những ai phải chịu hình phạt ông ta bắt ra ôm cột đá không cho ăn uống gì, lả dần đi rồi chết. Ông ta cho đào một cái hố ở cạnh cột đá, người chết chỉ việc hất xuống hố là xong. Có người đã chết rồi nhưng để lâu bị nắng thiêu đốt đến khô cả da thịt. Có người bị mưa trôi đi cả mảng tóc trên đầu để trơ cái xương sọ trắng hếu ra ngoài. Có lần đi săn ông ta bắt gặp hai người một trai một gái cùng lấy củi trong một khu rừng, họ ở cách xa nhau, có cất tiếng gọi họ cũng không nghe thấy lời nhau, ông ta cho rằng hai người kiếm cớ đi lấy củi để tư tình liền cho bắt cả hai người về ôm cột đá cho đến chết. Trong vùng có đôi trai gái nào tự ý đến với nhau mà không có sự đồng ý của cha mẹ, không được sự chấp thuận của dòng họ đều bị ôm cột đá cả đôi cho đến chết. Những người có quan hệ bất chính nếu bị bắt gặp cũng bị ôm cột đá chết cả đôi. Nhân dân trong vùng ai cũng sợ cái cột đá của ông ta, họ gọi là “Cột đá tử thần”. Có lần một người nông dân đi chợ về đã dắt con ngựa ngang qua “Cột đá tử thần”, về đến nhà con ngựa đã không giữ được cái thai trong bụng. Từ đó những người đàn bà có mang không ai dám đi ngang qua “Cột đá tử thần”, nếu có việc phải đi thì họ vòng theo con đường khác, có khi là xa hơn đến ba bốn lần họ vẫn đi để tránh không phải qua nơi ấy...
- Thôi, cũng muộn rồi, Mí Chứ về nhà đi, hôm khác bà sẽ kể tiếp cho hai đứa cùng nghe.
Mí Chứ uể oải đứng dậy ra về lòng vẫn nuối tiếc câu chuyện bà Cáy kể chưa đến hồi kết thúc. Mặc dầu muốn nghe lắm, nhưng Mí Chứ biết tính bà, bà đã bảo về đi là phải về, không kể nữa là không kể nữa, có nài nỉ thế nào bà cũng không kể. Bà chỉ nói đúng một câu: “Trẻ con phải biết nghe lời người lớn!”
Trời đang chuyển gió vào chiều, làn khói bếp đã mờ ảo như màu mây. Mấy con dế bắt đầu lên dây đàn để chuẩn bị cho buổi biểu diễn vĩ cầm vào buổi tối. Mí Chứ bước đi mà trong lòng nảy ra trăm ngàn câu hỏi, không biết tên chúa đất độc ác ấy sau này có bị trừng trị thích đáng không nhỉ, và quan trọng hơn ai là người sẽ đứng ra để trừng trị hắn, cái “Cột đá tử thần” ấy có còn dấu tích đến bây giờ,... Miên man nghĩ mãi, Mí Chứ đã về đến nhà lúc nào không hay. Con chó vàng bỗng dưng nhảy lên tì hai chân trước vào người làm Mí Chứ suýt ngã. Mẹ đã làm xong cơm chiều. Bố vừa đi rừng về cho Mí Chứ một chùm quả chín mọng. Đứa em thấy anh về liền bắt cùng nó chơi đánh yến. Mặc dù chẳng mấy mặn mà nhưng nó vẫn chiều ý thích của em. Bà giục hai đứa đi rửa tay để chuẩn bị ăn cơm. Mí Chứ nghe theo mà bước chân như rất lạ, ý nghĩ vẫn tìm về câu chuyện kể của bà Cáy, vẫn tìm cách và tìm người trừng trị tên chúa đất độc ác.
Một lần nữa Mí Chứ lại giật mình khi con chó vàng cào vào chân. Và đêm đã về.
8. Bài ca người gùi đất
Ánh nắng đã bớt đi sắc vàng, chếch nghiêng về phía tây, lác đác cánh chim xập xoè về tổ. Mí Chứ đã đến chân núi Xín Chải, ngước mắt nhìn lên thấy ngọn núi cao vút tận mây xanh, những thân cây xù xì nhô ra như đánh đu vào vách đá. Bước chân từ đây dẫm lên đá, trèo lên đá sắc nhọn. Những hòn đá ông, đá cha, đá con, đá cháu xếp chồng lên nhau, bước chân Mí Chứ đã qua đây nhiều lần, nhưng mỗi lần một khác, mỗi ngày một khác, có hòn đá lớn lên, có hòn đá lùn đi...
Và hôm nay,... cũng khác các lần trước, gió thổi mượt mà như lời ru, như lời hát,... Và đấy, gió đang hát “Bài ca người gùi đất”.
Ta là người chăm làm
Tiền bạc, huầy à, kéo tới
Ta làm nhà to, nhà mới
Ta cưới vợ đẹp, vợ xinh
Ta với ta một mình
Chăm làm là sẽ có
Đất xấu cây không nở hoa bụng ta đói
Đất xấu cây không ra quả mẹ ta ốm
Nhưng ta là người chăm làm
Tiền bạc trên đá
Ta hát lên bài ca
Gùi đất trồng cây
Cho đời nở hoa.
Ngày xưa, bà vẫn thường hay kể, ngày bà còn nhỏ, nhỏ tuổi hơn Mí Chứ bây giờ, bước chân bà đã phải dẫm lên đá hát “Bài ca người gùi đất”.
Người Mông, từ lâu rất rồi, người già không còn nhớ, người trẻ cũng không biết, cuộc sống đã gắn liền với đá, với núi. Nghe đâu tổ tiên người Mông cũng được ở đồng bằng, nhưng sau nhiều cuộc tranh chấp đất đai, sau nhiều lần thiên di người Mông chỉ còn nơi duy nhất có thể đến chưa có ai chiếm giữ là lên núi. Người Mông thường có câu nói cửa miệng: “Nơi nào không có ba thước đất bằng, không có ba ngày nắng là nơi người Mông ở.” Câu đó cũng đồng nghĩa nói lên sự heo hút nơi chốn nương thân, sự khó khăn muôn vàn của cuộc sống và sự đối đãi nghiệt ngã của thiên nhiên. Cây ngô là cây lương thực chính nuôi sống con người, nhưng nương trồng ngô có tới bảy tám phần là đá, chỉ được hai ba phần là đất, đất đã ít lại bạc màu. Có cái nương năm trước trồng còn tốt, năm sau hạt ngô gieo xuống đã không sống nổi đến ngày ra bắp, năm sau nữa chỉ còn vài hạt đất nhỏ nhoi nằm ủ mình trong hốc đá.
Để trồng được hạt ngô, hạt đậu con người đã nghĩ ra cách phải mang đất về với đá, có đất thì mới có cây. Thế là đất từ chân núi, từ thung lũng được mang ngược lên thả vào các khe đá. Từng bước chân mòn vẹt đá núi, mòn vẹt thời gian, từng cái lưng còng đi vì sức nặng của chiếc quẩy tấu, từng chiếc quẩy tấu ăn no đất, từng hạt đất quý giá được đưa vào hốc đá, từng hốc đá nhẹ nhàng ôm hạt vàng vào lòng, từng hạt vàng nảy lên những mầm xanh nho nhỏ, những mầm xanh lớn dậy thành rừng, rừng ngô bám vào sườn núi, ăn nắng gió rồi trả cho con người nguồn sống...
Từ khi cây ngô nảy mầm đến lúc ra bắp con người vẫn cần mẫn gùi đất từ chân núi lên vun vào gốc. Cây ngô đã xoá dần đi sự trơ trụi của núi, màu xám của đá, niềm hiu hắt của trời chiều, nét phờ phạc trên khuôn mặt con người... Năm sau, qua mấy trận mưa rào đất lại chạy xuống chân núi, để đến mùa vụ con người lại phải làm cái công việc mang đất về với đá. Công việc gùi đất được kéo dài suốt năm này qua năm khác. Bàn chân đã dẫm mòn không biết bao nhiêu là đá mà cái bụng vẫn không được no, cuộc đời vẫn không ra khỏi cái nghèo.
Có lần Mí Chứ đã hỏi bà:
- Bà ơi, sao bây giờ không còn thấy ai gùi đất nữa, không ai làm cái công việc mang đất về với đá nữa ạ?
Bà cười, nụ cười móm mém, và ánh mắt đưa ra xa.
- Cháu có nhìn thấy cái thung lũng màu mỡ kia không, khi xưa là đất của thổ ty, phìa tạo. Bọn họ độc ác lắm, họ chiếm hết các nương tốt. Nương xấu họ mới bố thí cho người nghèo. Chúng ta muốn có cái ăn phải cải tạo những vạt nương cằn cỗi, những sườn núi bạc màu. Để cây ngô cây lúa nảy được hạt con người phải mất rất nhiều sức, rơi rất nhiều mồ hôi. Nơi sườn núi đá tai mèo từ bao đời làm gì có nhiều đất, vì không có đất con người mới nghĩ ra cách gùi đất từ chân núi lên đổ vào hốc đá và gieo hạt ngô vào đó. Cuộc sống không phụ công người, cây ngô vẫn ra bắp, cây đậu vẫn ra quả. Bắp ngô tuy không to, hạt không mẩy bằng được trồng nơi thung lũng màu mỡ nhưng như vậy cũng đã mở cho người nghèo con đường sống. Và từ đấy năm này qua năm khác con người cần mẫn làm công việc trả đất lại cho đá để đá và đất trả cho con người hạt ngô, hạt đậu, trả cho con người nguồn sống... Còn bây giờ thung lũng kia được chia đều cho tất cả mọi người. Có cái nương tốt, hạt ngô, hạt lúa, hạt đậu có nhiều hơn, cái bụng không bị đói nữa. Khi cái bụng không bị đói thì không ai còn nhọc sức trồng ngô nơi sườn núi đá làm gì. Cháu có thấy mấy cái sườn núi kia không, dốc đứng dựng lên, vậy mà khi xưa toàn bộ nơi đó là nương ngô cả đấy, bây giờ thành rừng cây. Cháu thấy có đẹp không?
- Đẹp ạ! - Mí Chứ nhìn theo tay bà chỉ rồi trả lời. - Nhưng sao không trồng ngô mà lại trồng rừng? Rừng cũng phải trồng hả bà?
- Phải trồng chứ, con người ta xưa kia sống được là nhờ rừng. Khi không có đất con người phá rừng đi trồng ngô, bây giờ không trồng ngô nữa thì phải trồng lại rừng, phải trả lại những gì chúng ta đã lấy đi. Các cháu sau này lớn lên phải giữ cho rừng luôn xanh tốt, rừng có tốt cuộc sống của chúng ta mới bớt nhọc nhằn.
- Vâng ạ!
Mí Chứ không hiểu được hết ý của bà về rừng cây và cuộc sống con người. Mí Chứ rất quý rừng, rất thích rừng, thích màu xanh của rừng, thích bóng mát của rừng, thích tiếng chim hót trong rừng,... thì không có lý do gì không giữ cho rừng xanh tốt.
9. Cột đá tử thần
Mí Chứ đang đọc cuốn truyện cô giáo cho mượn thì Mí Nô đến từ phía sau, vỗ đánh bộp vào vai.
- Đang làm gì thế?
- Giật cả mình, đọc sách chứ làm gì, không nhìn thấy à. - Mí Chứ trả lời có vẻ bực.
- Cậu còn nhớ câu chuyện bà tớ kể hôm nọ có nhắc đến “Cột đá tử thần” không?
- Còn. Nhưng sao lại hỏi vậy?
- Cậu có muốn đi xem không?
- Có. Nhưng biết nó ở đâu mà đi xem?
- Không biết thì rủ cậu đi xem làm sao được.
- Cậu biết thật chứ?
- Biết! Mẹ tớ bảo mà. Cậu có thích đi không?
- Đi chứ!
Mí Chứ vội cất quyển sách rồi đi theo Mí Nô. Mí Nô đi trước, Mí Chứ theo sau lên con đường mòn cong cong vòng ra sau núi Xín Chải.
- Cậu có biết tên chúa đất làm ra “Cột đá tử thần” ấy chết như thế nào không? - Mí Chứ hỏi.
- Nghe nói ông ta làm vua được mười năm thì chết, - Mí Nô trả lời. - Một cái chết không lấy gì làm vinh quang cho lắm. Ông ta chết vì hút quá nhiều thuốc phiện. Hút nhiều đến mức khói bốc lên mái nhà mà người ta cứ tưởng trong nhà đang đun bếp. Sau khi ông ta chết toàn bộ gia sản bị con cháu chia nhau mỗi người một ít. Đất đai rộng lớn của ông ta rơi vào tay tên chúa đất khác. “Cột đá tử thần” không còn là nơi hành quyết những người phạm tội nữa. Nó đứng trơ vơ một mình. Đêm về, nhất là đêm trăng tròn, các oan hồn không siêu thoát được kêu khóc ầm ĩ. Khi màn đêm vừa buông đã không ai dám đi ngang qua chỗ ấy. Mọi người đều hoảng sợ, đều lo lắng nhưng không biết làm cách nào cho các oan hồn thôi than khóc. Một hôm, sau khi đã làm hết mọi cách dâng cúng mà không đạt kết quả, đám thanh niên hò nhau ra ẩy đổ “Cột đá tử thần” xuống. Khi ẩy đổ cột đá họ đã tình nguyện nếu có bị những oan hồn kia bắt chết họ cũng cam lòng, chứ nghe tiếng hờ khóc não nuột hàng đêm vọng về họ không chịu được. Nhưng không ngờ từ khi “Cột đá tử thần” đổ xuống không những không ai bị oan hồn bắt chết mà tiếng than khóc nỉ non cũng không còn nữa. Đêm đã trở lại vắng vẻ như xưa, trăng rằm lại dịu hiền trong trẻo, những người yêu nhau lại dắt tay nhau đi dưới trăng, trẻ con lại chơi đùa dưới trăng, và cột đá cũng đang thiêm thiếp nằm ngủ dưới trăng.
- Thế bây giờ cột đá ấy không còn đứng nữa à?
- Tớ cũng không biết nó nằm hay là đứng nữa. Tớ quên không hỏi mẹ. Tí nữa đến nơi là biết ngay thôi mà.
Đi vượt qua khúc cua sau núi Xín Chải đến một thung lũng khá rộng, mùa này cây ngô đã già, một số đã thu bắp, mấy đám đậu tương cũng đã cho quả. Mí Nô đi trước ngang qua mấy đám nương. Mí Chứ đi sau thấy chân mình hơi mỏi.
- Sắp đến chưa? - Mí Chứ hỏi.
- Đi một đoạn nữa. Mẹ tớ bảo ở bên kia sườn núi. Chỗ trụ sở Uỷ ban xã nhìn sang ấy.
Mí Nô đi chậm lại. Mí Chứ vội rảo bước cho kịp bạn. Cả hai đi dọc theo mương dẫn nước đến trụ sở Uỷ ban xã rồi rẽ phải đi tắt qua nương ngô vào chân núi. Mí Chứ thấy xương sống mình gai lạnh, nghe Mí Nô kể về cột đá có ma mà ghê cả người.
- Còn xa không? - Mí Chứ giật giật tà áo bạn hỏi. - Hay là ta về đi!
- Cậu bị sao thế, về là về thế nào? - Mí Nô hỏi lại.
- Nhưng tớ sợ!
- Cậu sợ gì?
- Cột đá có ma đấy!
- Không có đâu, mẹ tớ nói cột đá ở cạnh nương ngô, có nghĩa là họ vẫn làm nương cạnh cột đá, có thể khẳng định rằng cột đá không còn ma đến ở nữa. Với lại ban ngày lũ ma rất sợ ánh sáng không dám ra đâu, trốn hết vào trong núi rồi. Mà cũng sắp đến rồi, hình như chỉ quanh quẩn đâu đây, đã đến thì cứ xem một cái rồi về. Mẹ tớ bảo ở gần con đường mòn lên núi.
Cả hai cùng đi vào con đường mòn đi thẳng vào chân núi. Mí Nô đi trước, Mí Chứ bám sát ngay sau không rời bạn nửa bước. Đi gần đến chân núi, Mí Nô dừng lại tìm kiếm. Mí Nô trèo lên tảng đá khá to chìa ra từ chân núi. Rồi Mí Nô tụt xuống đi dọc theo chân núi về phía đông, Mí Chứ vội bám theo, đường đi phải bước qua những hòn đá nằm lăn lóc khắp nơi. Những cây ngô đã khô thân lá va vào người, va vào nhau rào rào. Mí Chứ luôn có cảm giác đang có người đi theo ở phía sau. Mí Chứ quay lại mấy lần để xem có ai không, nhưng không thấy gì ngoài những cây ngô khô và những hòn đá nằm chỏng chơ trên mặt đất.
- Đây rồi! - Mí Nô reo lên.
Mí Chứ vội lấy một tay bịt mắt mình lại, một tay túm chặt tà áo Mí Nô. Mí Nô quay lại.
- Cậu vẫn sợ à?
Mí Chứ gật đầu.
- Chẳng có gì ghê gớm cả, tớ thấy nó chỉ là một hòn đá được đẽo đục tròn trịa, nằm bẹp gí ở dưới đất...
Mí Chứ từ từ hé ngón tay. Phía trước là một cái cột đá được đẽo gọt khá cẩn thận nằm chềnh ềnh trên mặt đất. Mí Nô tiến lại gần. Mí Chứ cũng tiến lại gần. Hai cái lỗ đã từng xỏ không biết bao nhiêu bàn tay những con người xấu số ở hai bên cột đá như hai hốc mắt trân trối nhìn lên trời. Cột đá nằm xuống đây chắc đã lâu, rêu xanh bám đầy xung quanh trông rất cổ kính. Cột đá cao bằng người lớn, vừa vặn hai người ôm. Giờ nó nằm đấy chỉ là vật vô tri, hiền lành như trăm ngàn hòn đá khác ở trên núi nhưng nó vẫn phải mang tiếng ác, con người đã khoác cho nó tiếng ác.
10. Con đường đến trường
Buổi đi học đầu tiên ở ngôi trường mới, Mí Nô dậy sớm lắm. Mí Nô dậy rồi con gà trống mới giật mình cất tiếng gáy. Mí Nô giúp mẹ làm cơm sáng, lửa hồng cháy như reo trong lò.
Mí Chứ hôm nay cũng dậy sớm hơn mọi ngày, chả là nó đã hẹn sang nhà rủ Mí Nô đi học.
Hai đứa tung tăng trên cỏ, con đường thân thuộc của Mí Chứ, nhưng sao hôm nay thấy lòng rộn lên những cảm giác khác lạ. Từng giọt sương đọng trên lá cỏ bắt vào chân tê lạnh, bầy chim rừng đua nhau hót, gió mê mải thổi miết vào tán lá. Mí Nô ngó nghiêng tứ phía, hình như với nó cái gì cũng mới, cái gì cũng lạ, cái gì cũng đáng để nhìn, để xem thì phải. Lúc thì nó chỉ cái này, lúc thì nó chỉ cái kia, có lúc nó chẳng chỉ cái gì, im lặng mà đi khuôn mặt buồn buồn. Tình cảm của Mí Nô thật là lạ, vui thì vui đấy mà cũng buồn ngay được...
- Dãy núi kia gọi là gì? - Mí Nô đột ngột hỏi.
Mí Chứ giật mình, hỏi lại:
- Cậu vừa hỏi cái gì ấy nhỉ?
- Dãy núi có nhiều ngọn kia là núi gì vậy?
Mí Nô chỉ tay về dãy núi có sáu ngọn xếp liền nhau thành một đường thẳng từ phía đông sang phía tây. Sáu ngọn, không to lớn hơn nhau bao nhiêu, không cao hơn nhau bao nhiêu, chỉ có khác là chúng nằm trên sườn núi lớn hơi dốc về phía đông nên nếu căn theo đường thẳng thì độ cao các đỉnh của sáu ngọn núi có chênh nhau một chút. Núi phía tây cao hơn núi phía đông nửa ngọn. Chúng có vẻ tị nhau về chỗ đứng, bốn ngọn núi ở giữa đều nghiêng về phía tây, chỉ riêng có ngọn núi phía đông vừa thấp nhất lại nghiêng về phía ngược lại.
- Đó là núi Mồng Gà. - Mí Chứ trả lời.
Mí Nô à lên một tiếng nho nhỏ, dừng chân bước hẳn ra vệ đường đứng ngắm dãy núi. Mí Nô như vừa sực nhớ ra điều gì đó, khuôn mặt đăm chiêu suy nghĩ. Mí Chứ đến bên hướng mắt lên dãy núi. Mí Nô nhìn trân trân gần như không chớp mắt một lúc lâu rồi hỏi nhỏ:
- Có phải đây là nơi mà có lần rừng xung quanh bị cháy trụi nhưng riêng dãy núi không hề bén lửa, cây trên núi vẫn xanh tốt, chim chóc vẫn líu lo ca hát?…
- Ừ. - Mí Chứ trả lời. - Sao cậu biết được chuyện đó?
- À, mẹ tớ kể cho nghe từ rất lâu rồi, từ ngày tớ còn bé tí, tớ hỏi núi ấy nằm ở đâu thì mẹ không nói, hoá ra nó lại nằm ở đây, ngay gần con đường chúng ta đến trường.
Núi Mồng Gà, bà kể, ngày xưa tổ tiên của loài gà vốn không có mồng. Nhờ có công đã làm cho thần Bóng Đêm thu bớt tấm màn nhung đen lại mà được Ngọc Hoàng ban thưởng cho cái mồng. Từ đó, con gà nào không có mồng thì không được công nhận là loài gà. Loài gà tự hào về cái mồng của mình lắm, nó giống như tấm huy chương đeo trên ngực người chiến sĩ, nó là thành tích, nó là công sức, nó là danh dự của loài gà. Có con mồng to lấp cả một bên mắt, nhưng chúng không cảm thấy khó chịu tí nào, có lúc chúng còn lúc lắc cái đầu một cách rất kiêu hãnh… Bởi vậy mà khi xưa gà tổ đã không nỡ mang theo cái mồng về nơi vô định. Gà tổ quyết định lưu lại cho hậu thế một biểu tượng, để cho con cháu tự hào, để người đời biết rằng loài gà cũng có một truyền thống liệt oanh, để chứng minh khẳng định rằng loài gà thuộc vào hàng ngũ quý phái... Hôm ấy trời mưa to gió lớn, sấm sét rền vang, mồng gà đã rời khỏi đầu gà tổ bằng một cái lắc mạnh văng xuống thung lũng núi đá. Nó mắc ở đó và ở luôn đấy cho đến ngày nay.
Con đường đến trường ngang qua chân núi Mồng Gà, tiếp đến là rừng thông mới trồng. Từng gốc thông được tỉa cành cẩn thận thẳng tắp vươn lên trời. Gió nhè nhẹ thổi, lá rừng du dương như lời ru, như lời hát, bầy chim líu ríu chuyền cành. Bước chân đi bên nhau im lặng, không ai muốn và cũng không ai nỡ phá vỡ bầu không khí thanh trong tinh khiết đến thế. Tiếng lá rơi nhẹ như làn gió, bước chân trên lá khô dẫu rón rén vẫn phát ra tiếng kêu nho nhỏ.
Ra khỏi rừng thông, mặt trời cũng vừa hé. Từng tia nắng đầu tiên ngái ngủ trở mình trên tán cây. Mầm xanh bừng tỉnh ngơ ngác. Giọt sương run run chào chị gió.
- Nơi cậu ở đi học có xa hơn nơi này không? - Mí Chứ hỏi.
- Gần hơn một chút, không được đi qua rừng cây. - Mí Nô trả lời. - Đường đi tương đối bằng phẳng, ở nhà có thể nhìn thấy trường. Nơi tớ ở là một thung lũng có núi bao xung quanh, buổi sáng mặt trời dậy rất sớm, mới sáu giờ nắng đã chan hoà, ở đây mãi tận bảy giờ mới thấy mặt trời ló rạng. Mặt trời mọc đúng giữa hai khe núi, buổi sáng ngắm mặt trời tớ cứ ngỡ núi đang đội mặt trời lên. Nhưng rất tiếc buổi chiều nơi tớ ở ngắn lắm, mặt trời bị dãy núi Ba Tiên che khuất nên chỉ khoảng hơn năm giờ một chút là đã không còn được nhìn thấy nắng nữa. Nếu muốn ngắm buổi chiều lâu hơn tớ thường đi qua dãy núi sau nhà lên núi Ha Pia. Đêm về, tớ rất thích những đêm trăng tròn, mặt trăng nhô dần nơi sườn núi mà hàng ngày mặt trời vẫn mọc, có chếch đi một chút. Ánh trăng mờ ảo, núi rừng như có điều gì thần bí, cảnh vật thiêm thiếp ngủ, gió thổi miên man... như lạc vào thế giới khác. Kia có phải ngôi trường của chúng mình không nhỉ? Đi nhanh lên kẻo muộn giờ vào lớp.
Mí Nô đi vượt lên trước. Mí Chứ cũng rảo bước theo sau. Nắng bắt đầu buông những sợi dài óng ả.