📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Khoa Học Huyền Bí

tuyen tap chuyen ve dao

5 trả lời, 598 lượt xem — Trang 1 / 1
ĐƯỜNG LÊN NÚI LINH






Cách thị trấn năm dặm về hướng tây là một cánh rừng rậm bọc quanh một ngọn núi cao ngất. Ngọn núi sừng sững trấn ngự một phương trời như một vị thần cô độc xa lánh trần gian. Dù rằng từ thị trấn đến chân núi chẳng xa là bao, dân trong thị trấn ít khi nào léo hánh đến vùng núi. Họ chỉ nhìn thấy ngọn núi từ xa và mỗi khi nhìn thấy thì trong lòng mỗi người như chỗi dậy một niềm kính tín thiêng liêng.

Không biết từ đời nào, người ta truyền miệng nhau hoặc dạy cho nhau về những linh nghiệm của ngọn núi, khiến cho từ thế hệ này đến thế hệ kia, đều nhìn ngọn núi với cánh rừng bao quanh ấy như là một vùng thánh địa. Muốn cầu nguyện việc gì, người ta không cần phải đến tận vùng thánh địa, cứ việc đứng trong nhà, thắp nhang hướng về núi ấy, van vái. Điều cầu nguyện của mỗi người có được đáp ứng hay không thì chẳng biết; chỉ biết xưa nay người ta cứ gọi núi đó là núi Linh, có người còn kiêng gọi chữ "núi", chỉ dám gọi là "ông": Ông Linh.


Một trong những linh thoại được truyền cho nhau đã trở thành như một sự thật, đó là trên đỉnh núi có một hang động rất lớn. Từ Phật Tổ Thích Ca, Nhị Tổ Ma Ha Ca Diếp, cho đến các vị Thánh tăng nhiều đời, ở khắp nơi, đều tập trung trong hang động đó. Mỗi ngày đức Phật đều thăng tòa thuyết pháp y như lúc còn tại thế. Linh thoại ấy từ nhiều đời, đã khiến cho nhiều người trong thị trấn không ngăn được hiếu kỳ, hoặc không kềm được nỗi khát vọng giải thoát giác ngộ, đã tìm cách băng rừng rồi leo lên ngọn núi ấy. Chẳng biết họ có gặp Phật gặp Tổ hay không. Chỉ thấy có nhiều người đi mà ít có người quay trở lại. Thảng hoặc có người từ núi Linh quay trở về, người ta xúm xít hỏi han thì chỉ được nghe một câu ngắn gọn: "Đâu có đường lên!" hoặc "... chỉ thấy một nhà sư lúc ẩn lúc hiện," hoặc "chỉ thấy mây giăng mù mịt". Những câu trả lời đại loại như thế chỉ làm tăng thêm niềm tin về những linh thoại mà thôi.



Cho đến khi có hai nhà sư trẻ từ thị trấn lên núi Linh học đạo trở về, bức màn huyền bí của hang động Phật Tổ cũng chưa được vén lên. Nài nỉ cách mấy người ta cũng không cạy miệng được hai nhà sư trẻ này. Chỉ nghe họ tiết lộ duy nhất một điều là sư phụ của họ hiện đang ở trên núi ấy. Hỏi sư phụ ấy có phải là Phật, là Tổ không, thì được đáp rằng: "Là sư phụ, là một lão tăng, thế thôi."

Hai vị sư trẻ này chia nhau đi khắp thị trấn để hành đạo. Trông họ có vẻ như đang nỗ lực thực hiện việc truyền bá chánh pháp cho kịp một thời điểm nào đó, và có lẽ họ sẽ trở lại núi Linh với thành tích hành đạo của họ tại thị trấn này.

*

Vị lão tăng có bộ râu bạc phơ dài đến ngực nhưng da mặt ông không nhăn lắm. Đôi mắt ông sáng và trông rất nhân hậu dưới đôi mày cũng dài và bạc theo màu râu tóc. Khi hai nhà sư trẻ mới từ thị trấn đến núi Linh bái thỉnh lão tăng làm thầy để cầu học đạo, họ đã được lão tăng tiết lộ cho biết rằng lão tăng chỉ là "người giữ cửa". Người đệ tử lớn tuổi, được coi là sư huynh và được lão tăng đặt cho đạo hiệu là Tuệ Trí, nhíu mày hỏi:

"Bạch thầy, xin hỏi thầy giữ cửa gì ạ?"

Vị thầy cười nhẹ nói:

"Cửa Không."

"À, à... cửa Không. Nhưng... cửa Không thì đâu cần gì phải giữ, bạch thầy? và cái cửa Không sẽ dẫn đến đâu? có phải là..."

"Dĩ nhiên là nó dẫn đến nơi ấy," vị thầy khoát một cử chỉ mơ hồ hướng về đỉnh núi, "nhưng không phải ai muốn vào cũng được. Ta giữ cửa là giữ theo nghĩa đó, nghĩa là ta có bí quyết, có chìa khóa cho những ai hội đủ điều kiện vượt qua cái cửa Không này."



"Cánh cửa ấy ở đâu vậy, bạch thầy? Có phải chỗ mấy cây tùng..."

"Cửa ấy không có cánh. Và nó bắt đầu ngay từ bước chân của con chứ chẳng ở đâu xa. Có điều, không phải bước chân nào cũng cất lên được một cách hài hòa và phù hợp với chiều kích của cánh cửa ấy."

"Vậy nhiệm vụ giữ cửa của thầy tức là hướng dẫn hành giả phương cách bước vào cái cửa không cánh ấy?"

"Phải," vị thầy ôn tồn đáp.

"Bằng cách nào và bao lâu chúng con mới có thể bước vào cửa ấy?" Tuệ Trí nóng nảy hỏi.

"Không có gì phải gấp gáp như vậy. Cứ ở đây, ta sống sao các con sống vậy, rồi một lúc nào đó, ta sẽ chỉ đường cho các con, hoặc có thể các con sẽ tự thấy con đường và cánh cửa đó mà đi vào. À, này Tuệ Đức, con có điều gì nghi ngờ không, nãy giờ ta không nghe con lên tiếng?"

Tuệ Đức, vị sư đệ trầm lặng, mặt mày không được sáng láng thông minh như Tuệ Trí nhưng phong cách thì chuẩn mực, nghiêm túc, và nét mặt thì nhân hậu, thiết tha, biểu lộ sự chân thành trọn vẹn hướng đến mục tiêu giải thoát. Nghe thầy hỏi, Tuệ Đức cung kính thưa:

"Bạch thầy không ạ."

"Tốt. Thôi, chúng ta cùng đi dạo để các con quen với cảnh mới này."

*

Trải ba năm không rời khỏi núi, cùng ở tu trong mái thảo am dưới sự dẫn dắt của vị thầy già ấy, một hôm, Tuệ Trí và Tuệ Đức được thầy gọi đến dạy:

"Ta nghĩ đã đến lúc để các con đem những kiến văn và sở học của mình ra mà truyền rộng cho nhiều người khác cùng được lợi ích. Vì vậy, hôm nay, hai con hãy lên đường, xuống núi hành đạo."

Tuệ Trí ngạc nhiên hỏi:

"Bạch thầy, thế còn... cách vào cái cửa Không? Chừng nào thầy mới dạy cho?"

"Các con cứ xuống núi hành đạo. Khi nào cảm thấy là mình đã tạo nên được công đức gì đáng kể, đáng gọi là thành tựu, thì quay trở về đây. Các con tưởng rằng một người không có chút công đức hay thành quả nào hết mà có thể qua được cánh cửa ấy sao?"

Tuệ Trí xìu mặt, suy nghĩ: "Tu học ba năm cực nhọc ở đây rồi mà vẫn chưa đủ công đức! Biết bao năm nữa mới gọi là đủ đây?"

Vị thầy ruốt chòm râu bạc, đứng dậy, bước đến bên cửa sổ, nhìn ra ngoài. Một lúc lâu, ông quay lại nói:

"Nhưng trước khi các con rời núi, ta muốn nghe các con trình bày vài nét về sự hiểu đạo của các con; . Tuệ Đức, con nói trước đi."

Tuệ Đức liền quỳ xuống chắp tay cung kính thưa:

"Quy y Phật, Pháp, Tăng; hành động, lời nói và ý nghĩ luôn luôn qui thuận và phù hợp với Phật, Pháp, Tăng."

Vị thầy hỏi tiếp:

"Còn gì nữa không?"

"Thưa, chỉ có vậy," Tuệ Đức nhỏ giọng thưa.

Sư huynh Tuệ Trí nghe vậy thì bật cười lên một tràng, thương hại thay cho người sư đệ cục mịch quê mùa, ba năm học tập kinh điển ở đây chưa ra khỏi bước đầu học Phật. Vị thầy cũng nở một nụ cười, tủm tỉm quay trở lại ngồi xuống bồ-đoàn, hỏi Tuệ Trí:

"Đừng cười sư đệ con căn tính trì độn. Biết gì thì nói nấy, có sao đâu. Thế còn con, con xuống núi với tâm nguyện và hành xử nào đây, nói ta nghe và để sư đệ con có cơ hội học hỏi thêm luôn thể?"

Tuệ Trí đang đứng, xoay một vòng, bước ra cửa, ngửa mặt lên trời, vừa đi vừa nói:

"Nhìn mây bay, thấy tóc xanh thuở xưa còn tung xõa

Nghe chim hót, tin tiếng lòng năm cũ mãi âm vang."

Nói rồi Tuệ Trí đi thẳng xuống núi. Vị thầy ngồi im, gật gù bảo Tuệ Đức:

"Hai đứa con mỗi đứa có một căn tính và sở đắc khác nhau. Đều tốt cả. Khi đã nói là phương tiện thiện xảo thì không có vấn đề cao thấp. Khác nhau chăng là chỗ diệu dụng, ý ta muốn nói cái dụng quả, của mỗi phương tiện mà thôi. Con chuẩn bị gói ghém hành lý chi đó rồi lên đường. Mong rằng chuyến đi của các con không làm ta thất vọng. Ta chờ đợi các con đó."

Tuệ Đức lạy thầy ba lạy rồi lui ra.

*

Nơi thị trấn, Tuệ Trí và Tuệ Đức chia nhau hai ngả, du hành khắp nơi để truyền bá chánh pháp. Mỗi người có một lối giảng dạy riêng về Phật Pháp, về Thiền đạo, nhưng cả hai đều thành công, thu phục được nhiều đệ tử, tạo được nhiều uy tín và tiếng vang trong khắp thị trấn ấy, rồi lan dần đến các thị trấn lân cận.

Nhưng tiếng tăm lẫy lừng, nổi bật nhất, vẫn là từ Tuệ Trí, vị sư huynh cao ráo, trắng trẻo, điển trai, nói năng hoạt bát và lôi cuốn, học rộng biết nhiều, lại có cả tài làm thơ viết văn rất tuyệt, chinh phục hầu hết giới trí thức trong nước. Nhờ những thuận lợi về thể chất lẫn kiến thức và tài năng đó mà Tuệ Trí thành công rất nhanh, tự mình tạo nên một tông phái Phật giáo rất mạnh và có ảnh hưởng trong cả nước.


Giáo lý nền tảng của tông phái Tuệ Trí xem ra thì không có gì mới mẻ, vẫn là dựa vào kinh điển Phật để xiển dương; nhưng nhờ kiến văn quảng bác và khả năng xét đoán thời cuộc rất nhạy bén, Tuệ Trí biết nhắm đến hoàn cảnh và nhu cầu tâm lý của con người thời đại, nhờ vậy mà mở ra những sinh hoạt có vẻ mới mẻ, tiến bộ; lôi kéo được nhiều người trí thức từ thôn quê đến thành thị, ùn ùn qui tụ học hỏi. Nhiều người bỏ cả sản nghiệp để dâng cúng cho Tuệ Trí.


(Thực ra, không phải là do những người ít học tham dự vào phong trào đã làm giảm đi phần phẩm chất của tông phái Tuệ Trí—tu học đạo giác ngộ đâu có căn cứ vào chuyện học thức hay thất học!—mà chính sức lớn mạnh quá nhanh của phong trào đã như dòng độc dược giết chết từ trứng nước cái khát vọng hướng đến giải thoát giác ngộ—vốn là điều đòi hỏi nhiều kinh nghiệm tu chứng tâm linh hơn là sinh hoạt và nghi thức kiểu cách rườm rà, rình rang, học đòi, bắt chước, truyền đạt mau chóng từ người này đến người kia—và thay vào đó chỉ là khát vọng được gần gũi tông chủ Tuệ Trí, được tông chủ đặt cho một cái đạo danh và được gắn cho cái huy hiệu riêng của tông phái nơi vai phải, để hãnh diện rằng mình là đệ tử thuộc dòng Tuệ Trí).

Say mê trong hào quang danh vọng của một tông chủ sáng chói đó, Tuệ Trí quên bẵng chuyện quay về núi Linh với sư phụ để được vào cánh cửa Không. Thỉnh thoảng, Tuệ Trí có nghe các đệ tử báo cáo cho biết về tình hình sinh hoạt của sư đệ Tuệ Đức tại một vài nơi hẻo lánh nào đó trong nước. Nghe nhắc Tuệ Đức thì Tuệ Trí nhớ đến núi Linh, nhưng rồi chỉ khoảnh khắc sau đó là chìm ngập vào những công việc khẩn thiết mà các tu viện do mình trực tiếp đảm nhận đòi hỏi, hoặc phải chú tâm nghiên cứu những dự án phát triển tông phái do các môn đồ đề xuất...


Bao nhiêu việc phải làm, phải để tâm đến, chiếm hết cả thời giờ tu tập của Tuệ Trí đến độ mỗi lúc Tuệ Trí đăng đàn thuyết pháp hay hướng dẫn các khóa lễ, các khóa thiền tọa đại chúng, chàng cũng chỉ có mặt như một cái xác không hồn để làm và nói những điều đã quen và thuộc lòng, còn tâm trí thì lúc nào cũng bận bịu với các chương trình, các lễ hội sắp tới...

Một hôm, Tuệ Đức trên đường hoằng hóa ghé ngang tu viện của Tuệ Trí, bèn nẩy ý muốn vào thăm sư huynh, đồng thời muốn trao đổi với sư huynh chút kinh nghiệm tu học và hành đạo.

"Ô, Tuệ Đức đó hả? Vào đi," Tuệ Trí đưa tay ngoắc sư đệ vào, "mấy năm rồi, sư đệ cũng chẳng thay đổi gì hết, nhìn là nhận ra ngay. Này, các con pha trà mời sư chú đi."


"Sư huynh bây giờ thấy khác nhiều, nếu gặp ngoài đường e rằng đệ nhận không ra," Tuệ Đức nói.

"Khác dữ vậy sao? Ha ha. Chắc ta ốm và xanh đi nhiều phải không? Ừ, thì công việc nhiều quá khiến ta như vậy."

"Không, huynh đâu có ốm xanh. Mập trắng ra thì có. Phát tướng đấy. Trông sư huynh bây giờ đường bệ hơn xưa nhiều. Sư huynh có nhớ năm xưa cùng đệ đi tham vấn nhiều nơi, cuối cùng là đến núi Linh... lúc đó sư huynh rõ đúng là một tăng lữ khổ hạnh..."

"Thôi đừng nhắc chuyện cũ nữa. À này, sư đệ tìm ta có việc gì không? Có cần giúp đỡ gì không thì cứ nói thật. Có cần tu bổ hay xây chùa, đúc tượng, in thỉnh kinh sách gì thì cứ nói, ta sẵn sàng chu cấp tất cả những gì đệ cần."

"Không, cám ơn huynh. Đệ đâu có chùa chiền gì đâu mà tu bổ. Chỉ nhân chuyến du hóa vùng này, ghé thăm sư huynh thôi."

"Không có chùa? Nói giỡn sao? Thế... lâu nay đệ trú ở đâu?"

"Dạ thì nơi nào cần thì đệ đến. Thường thường là ở các chùa vùng quê hẻo lánh, nơi mà Phật Pháp suy yếu hoặc chưa được phát triển."

"À, ra thế. Thảo nào trông đệ hãy còn dáng vẻ lam lũ, khổ nhọc như năm xưa. Trà có rồi hả, được rồi, chế ra tách dâng sư chú đi."

Có khoảng sáu nữ đệ tử của Tuệ Trí, xếp hàng hai bước ra, người dâng khay trà, người bưng khay tách, người dâng bánh, người dâng quả, hai người cầm quạt đứng hầu hai thầy. Tuệ Đức cảm nghe có gió mát phía sau lưng, quay lại thấy một nữ nhân đang quạt cho mình thì giật thót người đứng dậy, khoát tay:

"Mô Phật, tôi không dám, xin miễn cho."

Tuệ Trí cười khan:

"Thôi, sư chú các con không quen gió lạnh, vào trong đi."

Cả bọn nữ nhân kéo nhau vào phía trong. Tuệ Đức hãy còn đỏ mặt, lúng túng chẳng biết làm gì. Tuệ Trí nói tiếp:

"Ta cũng định một ngày nào đó trở lên núi Linh. Có lẽ là cuối năm này. Đệ nghĩ sao? Chúng ta cùng đi chứ hả?"

"Vâng, đệ muốn theo sau huynh, đâu dám vô phép lên núi trước. Nhưng cuối năm nay thì hơi sớm đối với đệ. Có lẽ phải cuối năm tới."

"Sao vậy? Đệ không lập chùa mà, có bận bịu gì đâu?"

"Bận bịu thì không rồi, nhưng... đệ cảm thấy là mấy năm nay chưa làm được gì đáng kể, tự nghĩ là chưa đủ công đức để trở lại trình sư phụ."

"À, ra thế. Vậy là từ đây đến cuối năm sau đệ sẽ nỗ lực làm thêm công đức. Ta hiểu rồi. Ừ mà sao đệ không đến đây phụ giúp ta một tay để gầy dựng thêm công đức. Cần gì phải đi đâu xa xôi, bụi bặm.



"Không dám, xin sư huynh miễn thứ cho, đệ còn có những Phật sự phải làm ở vùng quê đã dự tính trước. Đệ chỉ ghé thăm sư huynh để học thêm kinh nghiệm hành đạo của sư huynh mà thôi."

"Kinh nghiệm ư? Ừm, để coi nào. Lâu nay ta chỉ làm, chẳng bao giờ để ý chi cái kinh nghiệm. Nói đại khái thì phải có một thuyết lý gì đó mới lạ để thu phục số đông. Thuyết lý đó cũng cần cái phong cách nổi bật của chính mình để phù trợ nữa. Khi quần chúng đã qui phục rồi, ta muốn gì lại chẳng được... Nhưng, ta và đệ khác nhau lắm, ta e đệ không áp dụng được kinh nghiệm của ta đâu. Cái kinh nghiệm ấn tống một cuốn kinh, đúc một tượng Phật, xây một ngôi chùa, thì có thể chỉ bày cho nhau được, chứ kinh nghiệm sáng tác thơ văn, tư tưởng và biện tài thuyết giáo... nó thuộc về tài năng thiên bẩm, làm sao ta có thể truyền dạy đây?"

"Thưa không, đệ chỉ xin sư huynh một bài kệ, một câu thơ gì đó thôi, cũng đủ làm hành trang cho đệ trên đường chu du rồi."

Tuệ Trí bật cười lên một tràng:

"Thơ, kệ à? Ừm, để coi, lâu nay ta cũng ít sáng tác vì bận quá. À, để ta đọc đệ nghe mấy câu thơ cũ của tiền nhân, được chứ hả? Coi nào, đệ hỏi đột ngột quá, ta chưa kịp nghĩ câu nào có thể thích hợp để đọc cho đệ. Nhớ rồi, bốn câu thơ này của Thiền sư Ngộ Ấn, ta vẫn thường đọc cho các đệ tử nghe:

Diệu tính hư vô bất khả phàn

Hư vô tâm ngộ đắc hà nan

Ngọc phần sơn thượng sắc thường nhuận

Liên phát lô trung thấp vị càn.

Đệ từng nghe bài đó chưa? Hiểu chứ hả? Thôi để ta đọc luôn bản dịch của ta cho đệ:

Diệu tính hư vô khó nghĩ bàn

Một khi liễu ngộ còn khó chi

Ngọc thiêu trên núi màu vẫn sáng

Sen đốt trong lò sắc thêm tươi.

Độc đáo quá hả? Nói thiệt đệ nghe, bài thơ ấy làm cho ta thêm tự tin khi dấn thân vào chốn bụi hồng để hoằng truyền chánh pháp. Sao? Đến giờ hành lễ rồi à? Được rồi, thầy sắp xong rồi. Hay là sư đệ cùng ta hành lễ rồi sau đó đàm đạo tiếp?"

"Thưa không, thỉnh sư huynh đăng đàn, đệ chỉ ghé thăm, được sư huynh cho nghe bốn câu thơ, tưởng cũng đủ lắm rồi, không dám phiền sư huynh nữa. Đệ xin cáo."

*

Cuối năm sau, Tuệ Đức lại ghé đạo tràng của Tuệ Trí để cùng sư huynh lên núi Linh thì nhằm lúc Tuệ Trí đang bận lo buổi lễ kỷ niệm đệ tứ chu niên ngày thành lập tông phái của Tuệ Trí. Đồ chúng tụ tập quá đông, khiến Tuệ Đức phải khó nhọc lắm mới vào đến được phương trượng để gặp sư huynh.


Thấy sư huynh bận rộn với ngày lễ, Tuệ Đức cáo lui, đi bộ hơn một dặm đường mới tìm được chỗ vắng vẻ, có bóng mát, dưới một gốc đại thụ, lánh xa được đám đông ồn ào lễ hội.

Ba ngày sau, Tuệ Đức mới quay trở lại tu viện của Tuệ Trí để mời sư huynh cùng lên núi. Tuệ Trí nói:

"Sau ngày lễ, ta không được khỏe lắm, nhưng ta sẽ đi với đệ. Nhất quyết là phải đi. Tạm thời gác mọi công việc sang một bên cái đã. Giấc mộng của anh em mình xưa nay làm sao nguôi nguây được, phải không?



Vậy là hai huynh đệ lên đường, có sáu đệ tử lẽo đẽo theo sau.

Đường đến núi Linh vào mùa đông hơi lầy lội vì đã có nhiều cơn mưa trước đó. Đến bìa rừng, muỗi vắt ào ào bu đến, đám đệ tử la khóc eo éo. Tuệ Trí phải dừng chân chăm sóc, khuyến dụ. Vậy mà rồi họ vẫn không bỏ ý định đi theo Tuệ Trí đến tận chân núi. Có thêm đoàn tùy tùng này, con đường đến núi Linh đối với Tuệ Đức như dài thêm gấp mười lần vì đi một đoạn đường lại cứ phải cùng sư huynh đứng lại chờ đợi sáu người kia.

Sau một ngày đường vất vả, cuối cùng, đoàn người cũng đến được chân núi. Tuệ Trí dặn dò đám đệ tử:

"Thầy cùng sư chú lên núi. Các con cứ chờ ở đây. Sáng mai nếu không thấy thầy trở xuống thì các con tự động trở về tu viện, tạm thời nương sư cô Diệu Bảo mà tu học. Khi nào xong việc thầy sẽ xuống núi, tiếp tục hướng dẫn các con."

Tuệ Đức đứng chờ sư huynh dặn dò, rồi thêm chuyện đệ tử tác bạch tiễn đưa, thề ước, thưa bẩm, gởi gắm, nhắn nhủ, bịn rịn tình nghĩa thầy trò cũng mất cả nửa giờ. Đến khi mặt trời sắp sửa khuất sau núi Linh rồi, hai huynh đệ mới bắt đầu cất bước.

Sư phụ ngồi trên bồ đoàn, hai huynh đệ sụp lạy. Xong, Tuệ Trí thưa:

"Bạch thầy, năm năm qua con vâng lời thầy xuống núi đã thực hiện nhiều Phật sự, tạo nhiều công đức. Nay xin thầy từ bi hoan hỷ mở cánh cửa cho con bước vào nhà Không của Như Lai."

Tuệ Đức chỉ quỳ chắp tay, lặng thinh.

Sư phụ gật gù hỏi:

"Phật sự của các con làm thầy có biết. Nay thầy chỉ muốn nghe các con trình bày ngắn gọn một câu thôi mà tóm thâu tất cả những gì trong năm năm vừa qua. Tuệ Đức con nói trước đi."

Tuệ Đức cung kính thưa:

"Quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh không rời một khoảnh khắc."

Tuệ Trí nghe vậy cũng muốn bật cười lên, nhưng chưa kịp cười thì sư phụ đã hỏi đến mình.

"Tuệ Trí, con nói đi."

Tuệ Trí phản ứng thật nhanh:

"Trên đầu sợi tóc mỹ nhân, thấy sự mầu nhiệm linh thiêng của thế giới hoa tạng; ngày đêm ăn ngủ nói cười mà vẫn cùng Phật Tổ sánh vai không rời một bước."

"Sở học cao thâm, ngữ khí trượng phu lắm. Nhưng, đối với ái dục thì sao, nói ta nghe, Tuệ Trí?"

"Có vướng cũng không bận," Tuệ Trí tự tin đáp.

Sư phụ quay qua Tuệ Đức:

"Đối với ái dục con thế nào?"

Tuệ Đức thưa:

"Lặng trong không vướng, không bận."

Sư phụ im lặng rời bồ đoàn đứng dậy, bước ra sân. Hai đệ tử cũng bước theo. Sư phụ quay lại nói:

"Cửa Không đã sẵn mở, các con bước vào đi."

Tuệ Đức hốt nhiên đại ngộ, tươi sáng nét mặt, cúi lạy thầy rồi ung dung bước thẳng lên đỉnh núi, thoáng chốc là biến mất trong lớp mây mù. Trong khi đó, Tuệ Trí hãy còn phân vân, nghi ngại; vừa tính dợm chân bước thì thấy nặng trì ở dưới gót chân phải, như đeo phải đá, không sao cất lên nổi.

"Bạch thầy, sao lại có chuyện lạ như vậy? Chân con, không biết sao, kỳ cục quá, không cất lên được..."

Vừa nói đến đó bỗng thấy Tuệ Đức từ trên núi lướt xuống. Thân hình cục mịch nhà quê của Tuệ Đức lúc này trông nhẹ như mây. Lướt ngang chỗ sư phụ và sư huynh, Tuệ Đức chắp tay vái chào rồi bay thẳng xuống núi.

"Tuệ Đức, đi đâu vậy? Bạch thầy, sao Tuệ Đức lại xuống núi, chẳng lẽ trên đó không có gì hết sao?"

"Hoa tạng thế giới của con đâu mà giờ này còn hỏi? Đã cùng với Phật Tổ sánh vai thì cần gì phải tìm Phật tìm Tổ trên núi! Kiến tánh thành Phật rồi thì ra vào tự tại, có cánh cửa nào có thể ngăn ngại được đâu. Cửa Không có bao giờ đóng đâu mà phải cần thầy mở. Kiến tánh rồi thì tự khắc thấy đường đi thôi. Tuệ Đức thong dong được là do lẽ đó."

Tuệ Trí bấy giờ mới thức ngộ, bật khóc. Bao nhiêu danh từ và chương cú hoa mỹ về Phật, về Thiền, về Hoa Nghiêm, về Bát Nhã, về Lăng Già, về Như Lai Tạng Tính... mà lâu nay chàng từng sử dụng, bây giờ mới thấy chỉ là những cụm từ rỗng tuếch, không dính nhập gì đến thực tại tối hậu.

Sư phụ thương cảm, nói lời an ủi:

"Căn tính con thông tuệ, nhạy bén hơn Tuệ Đức rất nhiều. Trí tuệ là khí giới tối hảo để đạt đến đạo quả giác ngộ; nhưng từ nhiều năm nay, con chưa hề tạo được một công đức nhỏ nào cả. Tất cả những gì con làm ở thế gian, đều chỉ là những manh động của dục vọng, làm sao tạo nên được công đức! Phước Đức và Trí Tuệ giống như đôi chân của con vậy, phải đủ cả hai và phải cùng song hành, không thể thiếu một mà có thể bước đi được," vị thầy ngưng một lúc, thở dài nói tiếp "à,

con có nhớ những lời đơn sơ của Tuệ Đức không? Quy y Phật, Pháp, Tăng. Tại sao? Vì quy y Phật là trở về với thể tính thanh tịnh, đoạn trừ tất cả những tham dục, cấu bẩn; quy y Pháp là trở về với trí tính vô biên, đoạn trừ hết những si mê, cố chấp và lòng kiêu ngạo; quy y Tăng là trở về với tự tính hòa hợp bình đẳng, trừ bỏ những lòng hận thù, ganh ghét... Không có trí tuệ siêu việt nào có thể bừng vỡ trên mảnh đất còn tràn ngập những tham, sân, si và các phiền não căn bản. Cho nên, theo ý thầy thì con nên ở lại đây, nỗ lực tu tập thêm một thời gian nữa; hay con muốn tiếp tục trở về với tu viện dưới núi của con thì tùy ý, nhưng dứt khoát là dù ở đâu, cũng phải dẹp hết những thứ phiền não linh tinh từng quấy nhiễu phá rối tâm con thì may ra mới vào được cánh cửa Không ấy."

Tuệ Trí lạy tạ ơn thầy chỉ dạy rồi đứng dậy, phân vân một lúc, nhớ rằng sáu đệ tử của mình đang chờ đợi dưới núi. Tuệ Trí quyết định từ giã thầy, lủi thủi cúi mặt bước xuống núi, nhưng được nửa đường thì đứng lại. Tưởng tượng mấy chục ngôi chùa và hàng trăm đạo tràng với bao nghi lễ rình rang xôm tụ đang chờ đón mình bên dưới, rồi nhớ đến cả lô học giả trí thức bày trò đốn ngộ chứng Thánh, mở miệng là nói thiền ngôn mật ngữ nhưng chưa bao giờ nếm được một giọt nước nhỏ trong đại dương giải thoát, rồi nghĩ đến đám nữ nhi phàm tục dễ sa nước mắt quấn quít nhõng nhẽo đêm ngày...


Ôi, sao mà rỗng tuếch, vô vị, cho dù có thêm triệu năm nữa để đóng kịch và bày trò, cũng chẳng một mảy may nào trong những thứ ấy có thể vói đến được cánh cửa huyền vi của ngọn núi Linh này. Tuệ Trí còn nhớ có một ông lạt-ma Tây Tạng hứa sẽ dạy chàng về pháp đằng vân (cỡi mây) với điều kiện chàng phải xây cho ông ấy một tu viện nguy nga tận xứ Tây Tạng và chàng đã hứa sẽ sắp đặt thời gian rảnh để học phép thuật này. Bây giờ, chàng thấy cũng không cần thiết nữa. Cho dù có học được phép cỡi mây, cỡi gió đi khắp nơi thì cũng chỉ lẩn quẩn trong vòm trời hữu hạn của trần gian, không làm sao lọt vào được cõi Không bát ngát thênh thang mà chàng hằng ôm ấp. Tất cả những thứ kể trên, ngay lúc này, chàng thấy không còn cần thiết nữa. Chàng đứng im một lúc ở lưng núi khi trời đang tối dần.

Trong khi sáu nữ đệ tử của Tuệ Trí từ chân núi nhìn lên thấy núi Linh mây phủ mờ mịt, gợi lên bao huyền thoại kỳ bí xa xăm thì ở lưng núi, Tuệ Trí cũng quay đầu ngước nhìn lên núi cao, trong mắt chàng lúc ấy, mây mù đã tan sạch, đỉnh núi Linh cao vợi lần đầu tiên hiện ra sừng sững giữa trời tây trong vắt. Thực sự là không còn một huyền thoại hay một kho tàng mầu nhiệm nào đáng để tìm cầu khám phá nữa. Chàng bật lên một tràng cười sảng khoái, rồi đi ngược lên núi, tìm sư phụ, bắt đầu cuộc hành trình đi vào cửa Không.
audio
http://www.mediafire.com/?emw4dn0mz9v tam muon te hanh1
http://www.mediafire.com/?smy1jkomxmn tam muon te hanh2
dù có bẩn thế nào đi nữa thì tuyết vẫn mãi mãi màu trắng
Đăng nhập để trả lời
0
có 1 con mèo
--------------------------------------------------------------------------------
Có một con mèo đã một triệu năm rồi mà vẫn chưa chết.
Nó đã từng chết đi một triệu lần, rồi sống lại một triệu lần.
Một con mèo vằn bảnh bao.

Có một triệu người đã yêu thương con mèo ấy, và một triệu người đã khóc khi con mèo ấy chết.
Mèo thì chưa khóc lần nào cả.
Có khi người chủ của mèo là một ông vua. Mèo ghét nhà vua lắm.
Nhà vua giỏi chiến trận, lúc nào cũng bày chuyện đao binh. Và ngài nhốt mèo vào một cái cũi thật sang trọng để đem theo mình khi ra trận.
Một ngày nọ, mèo trúng phải một mũi tên bay tới, lăn ra chết.
Nhà vua đã ôm mèo vào lòng mà khóc giữa trận chiến.
Rồi nhà vua bèn ngưng chiến, quay về thành, chôn mèo trong vườn ngự.
Có khi người chủ của mèo là một thủy thủ. Mèo ghét biển lắm.
Người thủy thủ đã đem mèo theo anh ta đi khắp các đại dương và ghé lại tất cả các hải cảng trên thế giới.
Một hôm, mèo bị rơi từ trên tàu xuống biển. Mèo không biết bơi. Người thủy thủ vội vàng thả lưới vớt mèo lên, nhưng mèo đã chết vì ướt sũng.
Người thủy thủ ôm mèo vào lòng, giờ đây bèo nhèo như chiếc giẻ rách ướt mèm, mà khóc òa lên. Rồi anh ta chôn mèo dưới gốc cây trong công viên nơi một thành phố cảng xa lạ.
Có khi người chủ của mèo là một người làm trò ảo thuật trong gánh xiếc. Mèo ghét gánh xiếc lắm.
Ngày ngày, người làm trò ảo thuật nhốt mèo vào một cái hộp, rồi dùng cưa cưa chiếc hộp ra làm đôi, sau đó lại lấy mèo từ trong hộp ra, vẫn còn nguyên vẹn, và khán giả vỗ tay tán thưởng nhiệt liệt.
Một hôm người làm trò ảo thuật đã lỡ tay cưa mèo đứt làm đôi thật. Ông ta cầm xác mèo đã bị đứt làm đôi, mỗi tay một nửa, mà khóc rống lên.
Không ai vỗ tay cả. Người làm trò ảo thuật đã chôn mèo ở đằng sau rạp xiếc bé như cái chòi .
Có khi người chủ của mèo là một tên kẻ trộm. Mèo ghét tên trộm lắm.
Tên trộm đem mèo theo bên mình khi hắn đi rón rén như mèo vòng quanh những góc phố tối tăm.
Tên trộm chỉ vào những nhà có nuôi chó. Trong lúc chó mải gầm gừ với mèo thì tên trộm cậy tủ sắt.
Một hôm, mèo bị chó cắn chết.
Tên trộm ôm mèo cùng với những viên kim cương mà hắn đã ăn trộm được, vừa khóc vừa lầm lũi đi giữa phố khuya. Rồi hắn về nhà chôn mèo trong khu vườn nhỏ.
Có khi người chủ của mèo là một bà cụ già sống cô độc một mình. Mèo ghét cay ghét đắng bà cụ già .
Bà cụ ngày ngày ôm mèo mà nhìn ra ngoài qua khung cửa sổ nhỏ.
Mèo nằm ngủ suốt ngày trên đùi của bà cụ.
Rồi mèo chết vì già yếu. Bà cụ già lụ khụ đã ngồi khóc suốt một ngày bên xác mèo đã già khụ.
Bà cụ chôn mèo dưới gốc cây trong khu vườn nhỏ.
Có khi người chủ của mèo là một cô bé. Mèo ghét cay ghét đắng cô bé.
Cô bé cõng mèo trên lưng, và ôm mèo thật chặt trong tay khi ngủ. Cô chùi mặt vào lưng mèo mỗi khi khóc.
Một hôm, mèo bị sợi dây của chiếc địu sau lưng cô bé vướng vào cổ mà chết.
Cô bé ôm mèo với cái đầu đã bị thắt gẫy nơi cổ mà khóc suốt một ngày. Rồi cô chôn mèo dưới gốc cây trong vườn.
Mèo đã chết không biết bao lần nhưng chẳng hề chi.
Một lần mèo chẳng phải là của ai cả, mà là mèo hoang.
Đó là lần đầu tiên, mèo được là của chính mình. Mèo yêu chính mình lắm.
Là vì mèo đã trở thành một con mèo vằn bảnh bao.
Mèo cái nào cũng mong được mèo để mắt tới.
Có con đem đến cho mèo một con cá lớn. Có con tặng mèo một con chuột hảo hạng.
Có con đem đến tặng mèo cả quả matatabi quý hiếm mà giống mèo rất thích. Lại có con còn liếm cả những đường lông vằn vện của mèo.
Mèo nói:
-Ta đã từng chết một triệu lần rồi chứ bộ. Đâu phải đợi tới bây giờ. Vớ vẩn !
Là vì mèo chỉ yêu chính mình hơn bất cứ ai khác.
Chỉ có một con mèo duy nhất đã không ngó ngàng tới mèo, một con mèo trắng thật đẹp.
Mèo đến bên mèo trắng, bảo:
-Ta đã từng chết một triệu lần rồi đó nghe.
Mèo trắng chỉ đáp :
-Ờ.
Mèo hơi tức mình. Vì mèo yêu chính mình mà lại.
Ngày hôm sau, rồi hôm sau nữa, mèo tới chỗ mèo trắng, hỏi :
- Chưa sống hết một lần, phải không?
Mèo trắng chỉ đáp :
-Ờ.
Một hôm, mèo đến trước mặt mèo trắng, lộn một lúc ba vòng, rồi bảo :
-Ta đã từng ở với một người làm xiếc.
Mèo trắng chỉ đáp:
-Ờ.
-Ta đã ..một triệu lần..
Mèo ấp úng, rồi đánh tiếng hỏi mèo trắng
-Ở bên cạnh được chứ?
Mèo trắng đáp:
-Vâng.
Thế là mèo ở lại bên cạnh mèo trắng
Mèo trắng sinh được một đàn mèo con xinh xắn.
Mèo cũng không bao giờ còn nói:
-Ta đã ..một triệu lần..
Bây giờ mèo đã yêu mèo trắng và bầy mèo con hơn cả chính mình.
Chẳng bao lâu đàn mèo con lớn lên và đi đâu hết cả, mỗi con một ngả.
Mèo mãn nguyện bảo:
-Lũ chúng nó đã khôn lớn cả rồi.
Mèo trắng đáp :
-Vâng.
và dịu dàng kêu nho nhỏ trong cổ .
Mèo trắng đã hơi có dáng vẻ của một bà cụ. Mèo cũng kêu nho nhỏ trong cổ, ra chiều âu yếm đáp lại.
Mèo chỉ mong sẽ sống lâu, mãi mãi cùng với mèo trắng.
Rồi đến một ngày, mèo trắng nằm yên bất động bên cạnh mèo.
Lần đầu tiên trong đời, mèo khóc. Mèo đã khóc từ sáng đến tối, từ tối đến sáng, rồi lại từ sáng đến tối và rồi lại từ tối đến sáng, cứ thế ..Mèo đã khóc một triệu lần.
Trời sáng, rồi lại tối, mèo cứ khóc mãi, cho đến một hôm mèo không còn khóc nữa.
Mèo đã yên nghỉ bên cạnh mèo trắng.
Mèo không bao giờ còn sống lại một lần nào nữa

dù có bẩn thế nào đi nữa thì tuyết vẫn mãi mãi màu trắng
Đăng nhập để trả lời
0
vu lan lại về với những câu chuyện cảm động của những người con hiếu thảo
dành cho ông bà cha mẹ
Nhưng có những câu chuyện khác ,những mảnh đời khác ,những số phận khác
trong mùa vu lan mà tôi muốn đề cập tới
Và chắc chắn ,sẽ là quá ngây thơ nếu nói chuyện dưới đây chỉ là hư cấu
là không có thật

Con nấu hơi nhạt một tí thì mẹ bảo sao nhạt như nước ốc, bây giờ hơi mặn thì mẹ lại bảo nuốt không vô.Thế mẹ muốn như thế nào?"-Con dâu cằn nhằn.
Thấy con trai vừa đi làm về người mẹ vội vàng và cơm, thức ăn vào miệng cố nuốt.
Cô con dâu giận dữ nhìn chồng.Anh bèn đi lại thử ăn một miếng, vừa đưa vào miệng thì nhổ ra ngay, và nói:
"Anh đã bảo bao nhiêu lần rồi, mẹ bị bệnh không ăn được mặn cơ mà!"
-"Thôi được rồi!Mẹ là mẹ anh, giỏi thì sau này tự mà nấu đi!"Cô vợ giận dữ trở về phòng.
Người chồng chỉ biết than dài buồn bã, ngậm ngùi nói với mẹ rằng:"Mẹ ạ, thôi đừng ăn nữa, để con đi chế bát mì cho mẹ."
-"Tể, có phải con có chuyện gì muốn nói với mẹ phải không?Có thì con cứ nói đừng để trong lòng!"
-"Thưa *** tháng sau công ty con thăng chức cho con rồi, có lẽ công việc sẽ rất bận, với lại vợ con nó muốn đi làm, cho nên..."
Người mẹ liền hiểu ngay ý của con, mẹ bảo:"Tể, đừng đưa mẹ vào Viện Dưỡng Lão nghe con"-giọng mẹ như đang van xin.
Người con trai trầm tư một lúc, đang tìm một lý do khác thích hợp hơn.
-"Mẹ ạ, Viện Dưỡng Lão cũng có gì không tốt đâu, con sợ vợ con nó đi làm rồi sẽ không có thời gian chăm sóc mẹ được.Ở Viện Dưỡng Lão có cái ăn, cái ở lại còn có cả người chăm sóc, như vậy không tốt hơn ở nhà bao nhiêu sao?"
"Nhưng chú A Tài chú ấy..."
Tắm xong, ăn vội bát mì, người con trai liền đi vào phòng đọc sách.Đứng đăm chiêu bên cửa sổ, lòng anh ta lại suy nghĩ miên man.Mẹ từ lúc còn trẻ đã đành cam chịu cảnh góa bụa, ngậm đắng nuốt cay, chèo chống nuôi con khôn lớn, rồi lo cho con ra nước ngoài ăn học.Nhưng mẹ không bao giờ vì vậy mà đặt điều bắt con phải hiếu thảo lại, thế mà ngược lại người vợ lại lấy chuyện hôn nhân ra đặt điều này nọ với chồng! Nên đưa mẹ vào Viện Dưỡng Lão hay không?Người con trai tự hỏi lòng minh và thấy có điếu gì đó hơi bất nhẫn.
-"Sống với anh nửa quãng đời còn lại là vợ anh chứ chẳng lẽ là mẹ anh sao?"-Con trai chú A Tài cứ luôn nhắc anh ta như thế.
-"Mẹ mày già rồi, sống thọ lắm thì cũng chỉ được vài năm nữa thôi, sao không lo mà phụng dưỡng mẹ đi.Đừng để đợi đến lúc cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng, con muôn nuôi mà song thân đã vãng"-Những người thân thích đều khuyên anh ta như vậy.
Người con trai không dám suy nghĩ tiếp nữa vì sợ sẽ thay đổi quyết định ban đầu.
Trời đã về chiều, những tia nắng cuối ngày hắt hiu vàng vọt, mặt trời đã sắp lặn về phía bên kia chân núi.Xa xa bên sườn núi là Viện Dưỡng Lão của hàng quý tộc.
"Đúng vậy, tốn càng nhiều tiền thì càng tốt, người con trai kia mới thấy yên tâm hơn, an ủi hơn.Khi đưa mẹ đến Viện Dưỡng Lão vừa bước vào đại sảnh đập vào mắt đầu tiên là chiếc TV to tướng 42 in đang chiếu một bộ phim vui nhộn, nhưng trên môi mọi người nụ cười dường như đã chết lịm.
Nhìn những cụ già áo quần giống nhau, kiểu tóc giống nhau đang gật gù trên những chiếc ghế so-fa, dáng vẻ buồn bã, hiu quạnh.Có cụ đang lẩm nhẩm điều gì, có cụ đang khó khăn trong động tác cúi mình nhặt những mẩu bánh rơi trên mặt đất lên ăn.Người con trai biết mẹ thích ánh sáng, nên đã chọn cho mẹ một căn phòng có đầy đủ ánh sáng.Từ cửa sổ căn phòng nhìn ra dưới bóng cây là những thảm cỏ xanh tươi.Những y tá đẩy những chiếc xe lăn đưa những người già đi dạo bộ, bốn bề không gian tĩnh lặng đến nao lòng.Nhưng dù cho hoàng hôn có đẹp đến đâu đi chăng nữa thì cũng vẫn là hôn hoàng, anh ta thở dài lòng buồn trĩu u uất.
-"***con...con về đây". Mẹ chỉ biết gật đầu.Lúc anh ta ra về mẹ vẫy vẫy tay, mồm mếu máo không còn một chiếc răng, làn môi trắng nhợt nhạt khô khan run rấy như muốn nói điều gì nhưng rồi lại thôi .Đến lúc này người con trai mới chú ý đến mái tóc đã bạc của *** khoé mắt hằn lên những nép nhăn theo năm tháng.Mẹ đã già rồi!
Ngay lúc đó trong đầu anh lại hiện về một cảnh tượng hồi còn thơ bé.Lúc đó anh ta chỉ mới 6 tuổi, mẹ có chuyện phải về quê không tiện mang theo con, nên gởi anh ta lại cho chú A Tài vài hôm.Lúc ra đi, anh ta hốt hoảng ôm chầm lấy chân mẹ không chịu buông ra, và khóc nức nở van xin mẹ:"Mẹ đừng bỏ con!Mẹ đừng đi"Cuối cùng thì mẹ đành phải mang theo anh ta đi.Anh ta ra khỏi phòng đóng cửa xong mà không dám quay đầu nhìn lại, vì sợ cái ký ức quái ác đó lại trở về.
Vừa về đến nhà đã thấy cảnh tượng vợ và mẹ vợ đang hăm hở vứt những đồ trong phòng mẹ một cách không thương tiếc.Chiếc cúp cao gần 1tấc-giải nhất cuộc thi viết văn hồi cấp 1 giành được với bài 《Mẹ tôi》, cuốn từ điển Hoa-Anh- phần quà sinh nhật đầu tiên mà mẹ dành cái ăn cái tiêu trong một tháng mua cho, và cả chai dầu phong thấp mà mẹ thường hay thoa trước khi đi ngủ nữa, không có con thoa cho *** mang vào Viện Dưỡng Lão thì có ích gì.
-"Đủ rồi, không được vứt nữa" -Người con trai giận dữ quát lớn.
-"Toàn đồ phế liệu rác rưởi này không vứt đi để lại làm gì chiếm chỗ, làm sao để đồ của tau được"-Người mẹ vợ nói không chút ngại ngùng.
-"Đúng đó, anh dọn luôn cái giường cũ kỹ, ọp ẹp kia của mẹ anh ra đi, mai em mua cho mẹ em chiếc mới khác."- Người vợ hùa theo mẹ mình
Trước mắt anh ta là một đống hình chụp hồi anh ta còn nhỏ, những tấm chụp lúc mẹ dẫn anh đi chơi ở sở thú, công viên.
-"Tất cả đều là tài sản của mẹ con không được vứt đi"
-"Thái độ của anh như vậy nghĩa là sao?Nói với mẹ em sao lớn tiếng vậy, anh phải xin lỗi mẹ em ngay!"
-"Vì sao anh cưới em thì phải yêu cả mẹ em, còn em gả cho anh lại không thể yêu được mẹ anh chứ?"
Sau cơn mưa đêm càng lạnh lẽo hơn, không gian càng yên lặng hơn, trên những con đường xơ xác lại càng thêm vắng bóng người và xe cộ lại qua.Chiếc BMW lướt đi như gió, vượt luôn đèn đỏ, băng cả làn đường vùn vụt lao như tên bay về phía sườn núi của Viện Dưỡng Lão.Dừng xe, chạy thẳng lên lầu, mở cửa phòng ra.Anh ta lịm đi một lúc, mẹ ngồi đó nắn bóp đôi chân bị phong thấp, quằn quại với nỗi đau nhức.Khi thấy trên tay người con cầm chai dầu phong thấp của mình, người mẹ như được an ủi phần nào, mẹ liền bảo:-"Mẹ quên mang theo, may mà con nhớ đem đến cho mẹ".Anh ta đến và quỳ xuống bên mẹ.
"Trời đã khuya rồi, mẹ tự mình thoa cũng được, con về đi mai còn phải đi làm nữa."
Anh ta nghẹn ngào nức nở một hồi rồi khóc oà lên nói với mẹ rằng:-"*** con xin lỗi *** mẹ hãy tha thứ cho con! Mẹ hãy về nhà với con đi!"
Tp. Vũ Hán, Ngày 26/6/2007
Sưa tầm dịch
Huệ Niệm
dù có bẩn thế nào đi nữa thì tuyết vẫn mãi mãi màu trắng
Đăng nhập để trả lời
0
Những lời nói ẩn chứa tình thương vô hạn của 1 người mẹ với
các con ,các cháu của mình
Tôi thấy mình thật may mắn khi được đọc nó
Và giờ tôi gửi đến các bạn
Hãy dẹp bỏ mọi tranh cãi sang 1 bên
Hãy dẹp bỏ mọi bất đồng trên con đường tu tập
nhà là nhà chung cơ mà
một mai kia
những người anh em thân yêu của tôi ơi
chúng ta sẽ gặp nhau trong ngôi nhà ấy nhé
còn bây giờ
hãy
lắng lòng
và đọc câu chuyện này
Đạo

Má trở về với sự yên tĩnh
- Lữ -
 
Một mai, khi má trút hơi thở cuối cùng, thì các con đừng cảm thấy mất mát. Ngay khi còn sống với các con đây, má đã hiểu thế nào là yên tĩnh. Má sẽ trở về với sự yên tĩnh đó. Nhờ có sự yên tĩnh trong lòng cho nên má thấy cuộc đời này thật đẹp. Các con của má cũng thật đẹp. Má đã sống và đã thương các con bằng trọn trái tim của mình. Suốt đời, má đã sống cho các con nhiều hơn là sống cho chính mình. Và má không có điều gì phải ân hận hay tiếc nuối ở trong lòng cả.
Trong các con, có ai còn đang giận hờn con cháu của mình thì noi tấm gương của má: thương yêu và tha thứ. Người trẻ thì lúc nào cũng non dại, mình đừng đòi hỏi nhiều nơi con cháu mình. Các con cứ việc thương yêu con cháu mình cho hết lòng thì thế nào chúng nó cũng lớn lên. Một trái cây phải đi từ xanh tới chín muồi, chứ không thể nào ngược lại được. Vậy thì các con phải lo lắng cái gì? Càng lo sợ, mình càng làm hư chuyện. Các con hãy tin tưởng nơi con cháu mình như là má đã thương yêu và tin tưởng các con vậy.
Không còn má, đôi khi các con sẽ cảm thấy bơ vơ. Có khi, các con hỏi: “Má mình đang ở đâu?” Các con đừng tìm má ở một nơi chốn xa xôi nào cả; khi nào có sự yên tĩnh trong lòng thì các con gặp lại má. Má trở về với sự yên tĩnh. Má đã trở về nơi đó trong khi má đang còn thở, còn đi, còn biết ngắm cảnh mặt trời mọc thật đẹp. Sự yên tĩnh đó cũng đang có mặt trong mỗi chúng con. Trong đời sống, các con nên bớt bận rộn để tập quay trở về với sự yên tĩnh ở nơi mình. Nơi đó, sự sống không hề vắng mặt. Chính sự bận rộn mới làm cho chúng ta quên sống.
Má không mất đâu hết. Má là sự yên tĩnh trong mỗi chúng con. Khi nào trở về được với sự yên tĩnh, là con lại thấy má. Mình sẽ cùng nhau đặt những bước chân thật bình an ở trên một con đường làng nhiều hoa thơm cỏ lạ. Mình sẽ hướng đôi mắt về những áng mây tím, vàng, hồng, đỏ khi mặt trời sắp lặn mà cảm thấy thật là hạnh phúc. Má sẽ không bao giờ xa cách chúng con cả.
Phải có thời giờ các con ạ. Thời giờ của các con, cũng sẽ là thời giờ của má. Và đó cũng là thời giờ của sự sống. Thời gian không phải là một cái gì riêng tư như chúng ta vẫn thường lầm tưởng. Khi má có thời gian cho má, thì cũng có nghĩa là má có thời gian cho con. Má đã dành thật nhiều cơ hội để sống, hạnh phúc và nhất để khổ đau với chúng con. Má đau khổ với từng đứa con một. Từ khi còn nhỏ, các con dễ thương nhưng cũng đã mang lại cho má nhiều ưu phiền. Nhưng rồi má tìm ra một khoảng không gian yên tĩnh ở trong lòng mình. Chính nhờ không gian đó mà má ôm được tất cả các con thân yêu của má.
Má nhận ra là khi sống cho các con thì má rất hạnh phúc. Thật ra thì không hề có khoảng cách giữa má và các con đâu. Khi nào các con hạnh phúc thì má hạnh phúc. Ngày nào má cũng nghĩ đến các con và ôm từng đứa một vào lòng. Má hiểu khổ đau là gì, nên từ lâu má không muốn giận các con nữa. Thỉnh thoảng, các con có giận má, thì má cũng không buồn. Các con sẽ lớn lên từ khổ đau của mình. Má có kiên nhẫn và lòng tin đối với các con. Thương con, người mẹ nào mà không muốn cho các con của mình có đầy đủ tiện nghi và sung sướng. Nhưng má đã sáng ra một điều: con người chỉ có thể hạnh phúc thật sự khi hiểu được một cách sâu sắc khổ đau là gì.
Các con có thể mong mỏi, sau khi chết, mẹ của mình sẽ được lên thiên đàng, hay là về cực lạc. Nhưng má sẽ không đến những nơi đó đâu con. Má ở lại đây với các con. Các con ở nơi đâu thì má ở nơi đó. Từ lâu, tâm của má không còn hướng về thiên đàng hay cực lạc nữa. Với má, thiên đàng chỉ có thể được sanh ra từ khổ đau của con người. Khi nào mình nhìn thấy khổ đau của mình và của người, biết chăm sóc và thương yêu mình và những người khác thì mình đang ở trong thiên đàng. Nếu các con thông cảm và thương yêu nhau, thì thiên đàng nằm ngay trong gia đình của mình. Lúc đó, má sẽ mỉm cười. Vậy các con muốn cho má siêu thoát, thì chỉ cần hiểu khổ đau của nhau, đùm bọc lẫn nhau. Các con sống như vậy thì thế nào tâm của má cũng được nhẹ nhàng.
Cuộc đời của một con người đi qua mau thật. Mới ngày nào đó, má còn là một cô bé nhỏ, vui chơi cùng các chị ở trong nhà của ông ngoại. Má và các dì hay nghịch ngợm, nên ông ngoại la rầy và thỉnh thoảng còn cầm roi để đánh. Má và các dì cứ chạy vòng quanh cột nhà để né những đường roi của ông ngoại. Ông ngoại vừa la, vừa đánh nhưng chỉ đánh vào cái cột nhà mà thôi. Tấm lòng thương con của người cha, bây giờ nghĩ lại mà thấy cảm động. Tình thương đó, má truyền xuống cho các con. Trong tình thương, lúc nào cũng có một ít khổ đau. Má đã hiểu điều này nên không còn trách móc các con chuyện gì nữa cả. Khi các con khổ đau vì con cái của mình thì đừng vội trách móc. Trên trần gian này, các con sẽ không tìm ra cha mẹ nào mà không khổ đau vì con cái. Các con sẽ thấy bình an hơn khi nhận ra khổ đau, và biết cách chăm sóc khổ đau của chính mình và của những người trong gia đình mình. Thương chứ đừng trách móc nha con.
Má không phải là một nhà văn, mà là một bà mẹ. Những lời của má quê mùa, mộc mạc. Khi nào rảnh, các con đem thư này ra đọc. Và như vậy, các con cũng thấy má đang ở bên các con. Nhìn những đứa cháu còn nhỏ dại, mong manh, má thấy thương không bút nào tả được. Nhưng má phải ra đi, vì không ai có thể sống hoài. Má không muốn các con khóc lóc trong giờ má hấp hối. Sự bấn loạn của các con sẽ không làm cho tâm má yên tĩnh hơn. Hay nhất là các con ngồi quanh má, nắm tay nhau và cùng niệm danh hiệu của đức Bồ tát Quán Thế Âm. Má thích nghe danh hiệu của Ngài lắm. Đó là vị Bồ tát của đức lắng nghe và lòng thương yêu. Má thương các con mãi mãi.
 
                                                                                                               Pháp, 11-7-2008


dù có bẩn thế nào đi nữa thì tuyết vẫn mãi mãi màu trắng
Đăng nhập để trả lời
0
Sau nhiều sự cân nhắc do thay đổi lịch trình và bận một số việc, nay BTC đã quyết định mở khoá tu tại chùa Đình Quán.
 
1. TẠI SAO PHẢI MỞ KHOÁ TU?
 
Ngoài việc thông hiểu giáo pháp, còn phần không thể thiếu được là sự thực tập. Ở khoá tu, sự thực tập sẽ là trong suốt quá trình kể cả ăn, ngủ nghỉ. Hơn nữa, ở đó có tăng thân (các bạn đồng tu) sẽ làm cho sự thực tập có kết quả hơn khi thực tập một mình (năng lượng). Từ đó, kêt quả chuyển biến tốt hơn. Khoá tu lần này tổ chức tại chùa Đình Quán với quy mô vừa phải cũng nhằm mục đích cho việc thực tập được sâu sát, thiết thực hơn.
 
2. Độ tuổi: 14-35 (Tạm thời như vậy). Mặt khác đây là một nơi thực tập nên các bậc phụ huynh không nhất thiết đến kèm con em mình (sẽ có khoá tu cho người lớn tuổi sau đó).
 
3. Thời gian: từ ngày 30/8/2008 đến 02/9/2008 (thứ Bảy đến thứ Hai).
 
4. Địa điểm: Chùa Đình Quán- xã Phú Diễn- Từ Liêm. ĐT: 04-8349903 (các thiền sinh nên lưu lại chùa để có thể thực tập hết các nội dung).
 
5. Đăng ký: Từ ngày 19/8/2008 Tại chùa Đình Quán (bàn ghi công đức phía thư viện) hoặc gửi mail đến [email=toanc7@yahoo.com]toanc7@yahoo.com[/email]. Phần đăng ký cần ghi đầy đủ:
 
- Tên...................Giới tính:..............
- Pháp danh(nếu có):....................(3 quy/ 5 giới/ ...)
- Ngày tháng năm sinh.............................................. .
- Địa chỉ nơi ở hiện nay:..............................................
- Điện thoại liên hệ:.......................E-mail:..................
- Năng khiếu- sở trường:........................................ ....
- Đăng ký nghỉ qua đêm tại chùa:.............................
 
6. Nội dung thực tập:
 
- Thiền hành, thiền ngồi, ăn chính niệm, chấp tác nhẹ, các trò chơi và bài hát tập thể, tụng kinh, phương pháp làm mới, pháp thoại với nội dung dự kiến " Tác dụng của Đạo Phật trong việc nâng cao hiệu quả công việc"...
- Nội dung và thời gian cụ thể sẽ niêm yết tại chùa trước khi khai mạc khoá tu .
 
BAN TỔ CHỨC KHOÁ TU.


dù có bẩn thế nào đi nữa thì tuyết vẫn mãi mãi màu trắng
Đăng nhập để trả lời
0
Bạn wonbin88 !
Lần trước bạn đã đăng bài với nội dung quảng cáo cho các lớp học , lần này bạn lại quảng cáo cho 1 lớp....tu học. Bạn nên tự xóa và chuyển dời đăng bài này tới trang quảng cáo của diễn đàn nha.
Đã quyết Đạo Đời hai nẻo bước song đôi
Tâm Không luôn giữ, chẳng phút lơi
Gìn lòng trong sạch, không Danh, Lợi
Đạo trưởng, Nghệ thông để giúp đời.
Đăng nhập để trả lời
0